Page 3 of 5 FirstFirst 12345 LastLast
Results 41 to 60 of 96

Thread: Đôi điều về Phong Thủy

  
  1. #41
    Join Date
    Jun 2005
    Location
    Valley of Love
    Posts
    870
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phong thủy và sức khỏe

    DƯƠNG TRẠCH TAM YẾU
    (KIẾN TRÚC HỌC PHƯƠNG ĐÔNG)
    Triệu Cửu Phong

    d) BẢN ĐỒ TÍNH MỆNH CUNG CHO NỮ NHÂN


    Hạ nguyên
    Khởi 1, 10, 19
    Ly - KHÔN
    Trung nguyên
    28, 37, 46, 55 CẤN (H) Khởi 1, 10, 19
    Đoài Kiền Chấn

    Thượng nguyên:
    Tốn
    Khởi 1, 10, 19
    28, 37, 46, 55 CẤN

    Trong bản hình thiết lập trên có 4 điều nên chú ý:
    1- Trong 9 cung có tới 2 cung Cấn: cung CẤN (T) và cung Cấn (H). Ba cung CẤN CẤN KHÔN chữ lớn đều có gạch dưới đều là 3 chỗ khởi của tam nguyên.
    2- Từ chỗ khởi, đếm tới theo hướng mũi tên chỉ, tức là đếm kế tiếp theo thứ tự: Cấn, Kiền, Đoài, Cấn, Ly, Khảm, Khôn, Chấn, Tốn, rồi lại Cấn, Kiền… Đếm cho tới số thứ tự của Tuổi thì ngừng và ngừng đúng vào cung nào thì chính thị cung đó là Mệnh cung của nữ nhân.
    3- Nữ nhân sanh ở Thượng nguyên khởi đếm từ cung CẤN (T), sanh ở Trung nguyên khởi đếm từ cung KHÔN, sanh ở Hạ nguyên khởi đếm từ cung CẤN (H). Mỗi chỗ khởi đếm đều có ghi số 1, 10,19, 28, 37, 46, 55 là đã tính sẵn rồi để đếm cho mau. Thí dụ người tuổi Nhâm Tuất ắt số thứ tự là 59 (xem ở phần b). Như khởi điếm từ 55 lên tới 59 thì mau đến. Bắng khởi từ 1 đếm lần tới 59 thì phải 11 lần lâu hơn.
    4- Có thể suy theo bản hình 9 cung thiết lập trên để áp dụng vào ba ngón tay bên tay trái ngón trỏ dùng 4 cung Cấn Kiền Đoài Cấn, ngón giữa thì chỉ dùng một cung Ly trên đầu ngón, và ngón áp út dùng 4 cung Khảm Khôn Chấn Tốn.
    Kính thưa quí vị quan tâm.
    Đoạn này có thể do người đánh máy thiếu sót. Tôi không hiểu nội dung nói về cái gì? Khi đưa lên web thì bố cục lại càng rối. Nếu có vị cao nhân nào biết xin được chỉ dẫn để anh em cùng tham khoả học hỏi. Riêng tôi nếu tìm được bản gốc và xem hiểu đựơc sẽ tường lại với quí vị và anh em.


    DẪN GIẢI CÁCH TÍNH
    - Phàm nữ nhân ở Thượng nguyên thì khởi 1 tại Cấn (T) rồi đếm lần tới số thứ tự của Tuổi, hề nhằm vào cung nào thì gọi cung đó là Mệnh cung. Thí dụ nữ nhân sanh ở Thượng nguyên tuổi Giáp Thân tất số thứ tự là 21. Vậy khởi 1 tại Cấn (T) rồi đếm tới 2 tại Kiền, 3 tại Đoài, 4 tại Cấn (H), 5 tại Ly, 6 tại Khảm… đếm mãi cho tới 21 (số thứ tự) ắt trúng vào cung Đoài. Vậy ĐOÀI là Mệnh cung của nữ nhân tuổi Giáp thân sanh trong Thượng nguyên. Nhưng khởi từ 1 đếm tới như vậy thì lâu lắm. Muốn mau hơn nên khởi từ 19 rồi đếm tới thì 20 tại Kiền và 21 tại Đoài là Mệnh cung.
    - Phàm nữ nhân sanh ở Trung nguyên thì khởi 1 tại KHÔN rồi đếm lần tới số thứ tự cùa Tuổi, hễ trúng vào cung nào thì gọi cung đó là Mệnh cung. Thí dụ nữ nhân sanh nhằm Trung nguyên tuổi Quý Sửu tất số thứ tự là 50. Vậy khởi 1 tại KHÔN rồi đếm lần tới thì 2 tại Chấn, 3 tại Tốn, 4 tại Cấn (T)… đếm mãi cho tới 50 là số thứ tự thì gặp Kiền. Vậy Kiền là Mệnh cung của nữ nhân tuổi Quý Sửu sanh trong Trung nguyên. Nhưng khởi từ 1 đếm lần lần tới 50 thì lâu lắm, chi bằng khởi từ 46 đếm lần tới 50 ắt đặng mau hơn chín lần mà cũng vẫn gặp Mệnh cung Kiền.
    - Phàm nữ nhân sanh ở Hạ nguyên thì phải khởi 1 tại Cấn (H) rồi đếm lần lần tới số thứ tự của Tuổi thì ngừng, hễ trúng vào cung nào thì gọi đó là Mệnh cung. Thí dụ nữ nhân sanh nhằm Hạ nguyên tuổi Quý Hợi tất số thứ tự là 60. Vậy khởi 1 tại Cân (H) rồi đếm lần lần tới thì 2 tại Ly, 3 tại Khảm, 4 tại Khôn, 5 tại Chấn, 6 tại Tốn, 7 tại Cấn (T), 8 tại Kiền… đếm mãi cho tới 60 là số thứ tự thì gặp TỐN là Mệnh cung. Nhưng khởi từ 1 mà đếm lần lần tới như vậy cho tới 60 thì lâu lắm, chi bằng khởi 55 đếm lần tới 60 cũng gặp Tốn song được mau hơn nhiều lắm, khởi đếm đi đếm lại trải qua tới những năm vòng.
    Cách tính theo Tam nguyên và cách đếm theo bản hình thiết lập trên, lời dẫn giải tuy dài dòng, song khi hiểu rồi ắt tính Mệnh cung cũng mau lẹ vậy thôi. Nhưng nếu không muốn tính đếm theo cách đó, vì đôi khi cũng có thể lầm lẫn, thì phải lập thành tức là tính sẵn và biên sẵn như sau:
    Nữ nhân
    Thượng nguyên....................Trung nguyên.....Hạ nguyên
    - Tuổi Giáp Tí 1864 cung Cấn; 1924 cung Khôn; 1984 cung Cấn
    - Tuổi Ất Sửu 1865 cung Kiền; 1925 cung Chấn; 1985 cung Ly
    - Tuổi Bính Dần 1866 cung Đoài; 1926 cung Tốn; 1986 cung Khảm
    - Tuổi Đinh Mẹo 1867 cung Cấn; 1927 cung Cấn; 1987 cung Khôn
    - Tuổi Mậu Thìn 1868 cung Ly; 1928 cung Kiền; 1988 cung Chấn
    - Tuổi Kỷ Tỵ 1869 cung Khảm; 1929 cung Đoài; 1989 cung Tốn
    - Tuổi Canh Ngọ 1870 cung Khôn; 1930 cung Cấn; 1990 cung Cấn
    - Tuổi Tân Mùi 1871 cung Chấn; 1931 cung Ly; 1991 cung Kiền
    - Tuổi Nhâm Thân 1872 cung Tốn; 1932 cung Khảm; 1992 cung Đoài
    - Tuổi Quý Dậu 1873 cung Cấn; 1933 cung Khôn; 1993 cung Cấn
    - Tuổi Giáp Tuất 1874 cung Kiền; 1934 cung Chấn; 1994 cung Ly
    - Tuổi Ất Hợi 1875 cung Đoài; 1935 cung Tốn; 1995 cung Khảm
    - Tuổi Bính Tí 1876 cung Cấn; 1936 cung Cấn; 1996 cung Khôn
    - Tuổi Đinh Sửu 1877 cung Ly; 1937 cung Kiền; 1997 cung Chấn
    - Tuổi Mậu Dần 1878 cung Khảm; 1938 cung Đoài; 1998 cung Tốn
    - Tuổi Kỷ Mẹo 1879 cung Khôn; 1939 cung Cấn; 1999 cung Cấn
    - Tuổi Canh Thìn 1880 cung Chấn; 1940 cung Ly; 2000 cung Kiền
    - Tuổi Tân Tỵ 1881 cung Tốn; 1941 cung Khảm; 2001 cung Đoài
    - Tuổi Nhâm Ngọ 1882 cung Cấn; 1942 cung Khôn; 2002 cung Cấn
    - Tuổi Quí Mùi 1883 cung Kiền; 1943 cung Chấn; 2003 cung Ly.
    Cây cao thì gió càng lay
    Càng cao danh vọng càng đầy gian nan

  2. #42
    Join Date
    Jun 2005
    Location
    Valley of Love
    Posts
    870
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phong thủy và sức khỏe

    DƯƠNG TRẠCH TAM YẾU
    (KIẾN TRÚC HỌC PHƯƠNG ĐÔNG)
    Triệu Cửu Phong

    BÀI 23:
    MỆNH CUNG ẢNH HƯỞNG VỚI NHÀ VÀ BẾP
    Mệnh cung có ảnh hưởng với nhà và Bếp một phần khá lớn. Nhưng trước khi luận giải nên hiểu qua các danh từ sau đây để dễ dàng nhận định, và cũng nên xem lại Bài 2 cho rõ ràng thêm.
    + Đông tứ cung là nói gồm 4 cung Khảm Ly Chấn Tốn. Phàm các danh từ cổ chủ động đều không ngoài 4 cung này, như Đông Mệnh, Đông tứ trạch, Đông trù…
    + Tây tứ cung là nói gồm 4 cung Kiền Khôn Cấn Đoài. Phàm danh từ có chữ Tây là không ngoài 4 cung này, như Tây Mệnh, Tây tứ trạch, Tây trù…
    + Mệnh cung là cung của chủ nhà tính theo năm sanh ra đời (xem bài 22). Mệnh cung thuộc về Đông tứ cung gọi là Đông Mệnh. Mệnh cung thuộc về Tây tứ cung gọi là Tây Mệnh.
    Nhà là nói Đông tứ trạch hay Tây tứ trạch.
    + Đông tứ trạch là Nhà có Cửa cái và Chủ phòng hay Sơn chủ, hai chỗ đều đặt tại Đông tứ cung (trong 4 cung Khảm Ly Chấn Tốn).
    + Tây tứ trạch là Nhà có Cử cái, Chủ phòng hay Sơn chủ hai chỗ đều đặt tại Tây tứ cung (trong 4 cung Kiền Khôn Cấn Đoài). Phàm Tịnh trạch thì dùng Chủ phòng, còn Động trạch hay Biến hoá trạch thì dùng Sơn chủ. Ở Đông tứ trạch hay Tây tứ trạch cũng vậy.
    + Bếp là nói Đông trù hay Tây trù.
    + Đông trù là Bếp đặt tại Đông tứ cung (trong 4 cung Khảm Ly Chấn Tốn).
    + Tây trù là Bếp đặt tại tây tứ cung (trong 4 cung Kiền Khôn Cấn Đoài).
    + Hướng Bếp là chỗ cung miệng Bếp ngó về. Chú ý: Bếp và Hướng bếp khác nhau. Thí dụ Bếp đặt tại cung Ly nhưng miệng Bếp có thể cho ngó về Khảm, ngó về Chấn hay Đoài…
    + Giường ngủ với Đầu giường cũng như Bếp với hướng Bếp, nghĩa là khác nhau. Thí dụ giường ngủ đặt tại Chấn nhưng có thể cho Đầu giường chĩa về hướng Đoài, hướng Ly hay hướng Khảm…
    Trong bài 23 này có 5 trường hợp kể ra như sau:
    1. Phàm Đông tứ trạch dùng Đông trù là Nhà với Bếp đã được trăm phần tốt. Nếu tuổi chủ nhà thuộc Đông Mệnh nữa là thêm 30% tốt. Đó là vì Nhà, Bếp và Người cả ba đều hiệp nhau, không ngoài Khảm Ly Chấn Tốn.
    2. Phàm Tây tứ trạch dùng Tây trù là Nhà với Bếp đã được trăm phần tốt. Nếu tuổi chủ nhà thuộc Tây Mệnh nữa là thêm 30% tốt. Đó là vì Nhà, Bếp và Người cả ba đều hiệp nhau, không ngoài Kiền Khôn Cấn Đoài.
    3. Phàm Đông tứ trạch mà dùng Tây trù hay Tây tứ trạch mà dùng Đông trù là Nhà với Bếp nghịch phe nhau, vì Đông Mộc với Tây Kim tương khắc. Đó là loại nhà ở rất bất lợi. Dù chủ nhà Đông Mệnh hay Tây Mệnh vẫn không đổi được tình thế suy vi, vì hễ Mệnh cung hiệp với Nhà thì nghịch với Bếp, bằng hiệp với Bếp thì nghịch với nhà.
    4. Phàm Đông tứ trạch dùng Đông trù là Nhà với Bếp hiệp nhau, ở tất thịnh vượng. Nhưng nếu chủ nhà Tây Mệnh thì Nhà với Bếp tuy hiệp nhau mà đồng không hiệp với Người. Không hiệp vì Đông với Tây tương khắc. Gặp trường hợp này phải dùng cách hoá giải sự tương khắc đó mới thật là diệu kế, mới khỏi bị mất 30% thêm tốt.
    5. Phàm Tây tứ trạch dùng Tây trù là Nhà và Bếp hiệp nhau, ở tất sẽ thịnh vượng. Nhưng nếu chủ nhà Đông Mệnh thì Nhà với Bếp tuy hiệp nhau mà đồng không hiệp với Người. Không hiệp vì Tây với Đông tương khắc. Gặp trường hợp này phải dùng cách hoá giải sự tương khắc đó mới thật là diệu kế, mới khỏi bị mất 30% thêm tốt.

    CÁCH HOÁ GIẢI SỰ TƯƠNG KHẮC
    - Theo trường hợp số 4 trên là Đông tứ trạch dùng Đông trù, nhưng cửa nhà Tây Mệnh thì hoá giải bằng cách đặt Hướng bếp, Giường ngủ và Đầu giường vào những cung hướng Kiền Khôn Cấn Đoài cho hiệp với Tây Mệnh. Thí dụ Cửa cái tại Khảm và Chủ phòng hay Sơn chủ tại Ly là Đông tứ trạch, Bếp tại Chấn là Đông trù, nhưng chủ nhà Mệnh cung Cấn là Tây Mệnh. Vậy phải đặt Hướng bếp, Giường ngủ và Đầu giường vào những cung hướng Kiền Khôn Cấn Đoài. Như đặt Giường ngủ tại Kiền, Đầu giường chĩa về Khôn, Hướng bếp ngó về Đoài…
    Theo trường hợp số 5 trên là Tây tứ trạch dùng Tây trù, nhưng chủ nhà Đông Mệnh thì phải hoá giải bằng cách đặt Hướng bếp, Giường ngủ và Đầu giường vào những cung hướng Khảm Ly Chấn Tốn cho hiệp với Đông Mệnh. Thí dụ Cửa cái đặt tại cung Kiền và Chủ phòng hay Sơn chủ tại Cấn là Tây tứ trạch, Bếp tại Kiền là Tây trù, nhưng chủ nhà Mệnh cung Tốn là Đông Mệnh. Vậy phải đặt Giường ngủ, Đầu giường và Hướng bếp vào những cung hướng Khảm Ly Chấn Tốn cho hiệp với Đông Mệnh, như đặt Giường ngủ tại Khảm, Đầu giường chĩa về hướng Ly, Hướng bếp ngó về hướng Chấn tức miệng lò ngó về cung Chấn…
    Nhưng tại sao lại dùng Giường ngủ, Đầu giường và Hướng bếp để hoá giải được sự tương khắc giữa Nhà cùng Bếp đối với Mệnh cung vì những lẽ như sau:
    a) Nhà là chỗ để ở, tất Giường ngủ là nơi thiết dụng nhiều nhất cùa sự ở để nằm, ngồi, ngủ, nghỉ… Cho nên Nhà với Mệnh cung tương khắc thì phải xoay trở cách nào cho Giường ngủ hay Đầu giường hiệp với Mệnh cung để giải hoà, ví như hai quốc gia nghịch nhau, nay vua này đem con mình cho sang qua làm con nuôi hay con tin bên nước vua kia tất sẽ hoà nhau mà không sanh ra chiến tranh. Giường ngủ và Đầu giường có tác dụng tương đương, nếu chỉ có một hiệp với Mệnh cung cũng đỡ đần được, bằng cả hai đều hiệp với Mệnh cung thì thật là hoàn hảo trong sự giải hoá tương khắc.
    b) Bếp là chỗ nấu ăn thì Hướng Bếp là mạch lạc của Bếp, là đường lối nấu ăn. Tuy chỗ nấu ăn không hợp với chủ nhà, nhưng đường lối nấu ăn tức như cách thức nấu ăn lại thích hợp với chủ nhà tất có thể ưng thuận. Cùng một ý – lý do, tuy Bếp không hợp với Mệnh cung chủ nhà, nhưng Hướng bếp lại hiệp với Mệnh cung thì có thể hoà hảo được vậy. Lại như hai gia đình thù nghịch nhau, nay bên này đem con gái gả về bên kia tất hai bên thành sui gia mà hoà thuận nhau, ít nhất cũng không còn gây hấn với nhau nữa. Đó là Bếp ví như mẹ, Hướng bếp ví như con gái, Mệnh cung ví như gia đình thù nghịch với gia đình Bếp. Hướng bếp quan trọng hơn Giường ngủ và Đầu giường.
    * Kết luận: Không phải chỉ ở hai trường hợp số 4 và 5 trên, dù cho Nhà và Bếp ở trường hợp nào cũng vậy, cũng nên đặt Giường ngủ, Đầu giường và Hướng bếp hiệp với Mệnh cung chủ nhà. Đó là điều rất hữu ích.
    st
    Cây cao thì gió càng lay
    Càng cao danh vọng càng đầy gian nan

  3. #43
    Join Date
    Jun 2005
    Location
    Valley of Love
    Posts
    870
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phong thủy và sức khỏe

    DƯƠNG TRẠCH TAM YẾU
    (KIẾN TRÚC HỌC PHƯƠNG ĐÔNG)
    Triệu Cửu Phong

    BÀI 24:
    NHỮNG KIỂU NHÀ VÀ CẢNH VẬT CÓ ẢNH HƯỞNG
    Nơi bài này, ngoài các kiểu nhà tốt xấu được chỉ dẫn nơi sách, còn có thêm góp nhặt những điều hiểu biết của người Á Đông từ ngàn xưa đã kinh nghiệm chắc chắn, chúng ta rất nên chú ý.
    1) Xét theo chu vi nhà, trước hẹp mà sau rộng là nhà giàu sang tựa núi (phú quí như sơn), đã giàu có lớn lại sang trọng tột đỉnh.
    2) Xét về chu vi nhà, trước rộng sau hẹp là nhà rất tai hại: làm quan bị cách chức rồi chạy trốn (thất ấn, đào tẩu), nghèo khổ, đường cùng, tài năng suy thoái (hết thời), không con nối dòng.
    3) Luận xét về nền nhà, trước thấp mà sau cao là nhà sanh xuất bậc anh hùng, hào kiệt trên thế gian (thế xuất anh hào). Trái lại nền nhà ở trước cao mà sau thấp là nhà không có nhân vật xuất chúng.
    4) Ở Động trạch và Biến hoá trạch là các loại nhà nhiều ngăn, như ngăn đầu được vuông vức, chu vi bốn bề bằng nhau là tốt lắm. Nếu không đas8ng5 vuông vức thì thôi, chẳng có hại chi.
    5) Nói về Bếp: Chẳng nên đặt miệng lò bếp ngó về hướng có buồng tắm, cầu tiêu, chuồng nuôi lục súc. Trang thờ Thần Táo cũng vậy.
    6) Buồng tắm, cầu tiêu, chuồng lục súc nên đặt tại các cung thừa hung du niên để trấn áp hung khí.
    7) Sách bảo: chớ chụm củi dơ bẩn hoặc lấy guốc chẻ làm củi chụm vì chụm sẽ bay lên mùi uế trược. Chớ lấy củi hay đũa gõ lên bếp, lò, cà ràng, bởi làm như vậy là vô lễ. Nên biết mùi uế trược và sự vô lễ, dù con người hay thánh thần cũng đều không ưng chịu.
    8) Như nhà có mở cửa sau thì nên mở tại cung thừa hung du niên, vì cửa sau là cửa đi ra. Đi ra thì phải cho ra cái xấu. Nếu mở cung thừa kiết du niên là nó đem ra bớt cái tốt của mình. Cửa hông cũng như cửa sau. Trái lại, Cửa cái là cửa từ ngoài bước vào nhà, vào nhà thì phải cho vào cái tốt. Vì vậy Cửa cái phải đặt tại cung thừa kiết du niên. Đó là cái lý đương nhiên phải cho vào cái tốt mà cho ra cái xấu. Tuy nhiên, nếu cửa sau hay cửa hông đặt tại cung tốt thì chỉ bớt tốt chứ không có tai hại chi.
    9) Như hai bên hông nhà có chừa đất rộng, và như muốn làm đường đi thì nên làm bên hông tay phải, còn bên hông tay trái nên trồng cây nuôi kiểng. Bởi sách địa lý có nói: Tả Thanh long, hữu Bạch hổ. Thanh long thuộc Mộc nên trồng cây bên tả, còn Bạch hổ thuộc Kim chủ sự đạo lộ cho nên phải làm đường đi bên hữu (tay phải). Phài đứng trong nhà ngó ra Cửa cái mà quyết định tả hữu.
    10) Nhà gần đường lộ thì trổ Cửa cái ra lộ, gần sông nên trổ Cửa cái ra sông, gần núi thì mé sau nhà, tức là mặt hậu nhà phải tựa vào núi. (Dựa vào núi là ngó về hướng có núi)
    11) Mồ mả ở trước nhà rất tốt rất thịnh vượng thứ nhất cho hàng chức tước. Trái lại, mồ mả ở sau nhà là tán gia bại sản.
    12) Đướng mương, ao, hố, rãnh nước, đường thoát nước chặn ngang trước nhà ở hay trù phòng (nhà bếp) là tối kỵ, khiến suy sụp, băng hoại. Nhà ở khiến cho chủ nhà: nhân khẩu thất bại, quan thự khiến cho nhân dân trong vùng cùng khổ, am tự khiến cho suy đồi về đạo đồ phản phúc, hãng xưởng khiến cho cơ nghiệp tiêu tan…
    13) Nhà cất bên cạnh chùa, am, miếu có bên tốt bên xấu. Nhà bên cạnh phải thì hiền lương đạo đức và thịnh vượng. Nhà bên cạnh trái thì không thuận lý ắt phải suy vi và hay làm việc trái đạo. Lấy hai chữ phải và trái mà luận cũng y cái lý như vậy: Phải là phải thế phải đạo, trái là trái thế trái đạo. Trong chùa có ông Thiện và ông Aùc đứng hai bên là như vậy.
    14) Mặt tiền nhà chớ nên đối diện với cửa chùa, am, miếu, đền thần. Cũng chẳng nên đối diện với hình tượng lộ thiên (dựng ngoài trời) như tượng thần thánh, bồ tát…
    15) Nhà cất nhằm phương hướng có đường lộ hay đường hẻm chĩa ngay vào mặt tiền nhà, dù cách con đường hay con sông chắn ngang cũng vậy, là nhà không thịnh phát được, sự ăn mặc lúc thiếu lúc đủ không chừng, mệnh vận gian truân.
    16) Đối diện nhà mình, thấy có đòn dông của nhà khác đâm chỉa vào mặt tiền nhà mình, dù có con đường hay con sông chắn ngang cũng phải suy lụn, thiếu thốn, dù có tiền nhiều cũng không giữ được, lắm khi bị hình pháp nhiễu nhương. Đòn dông hay con lương cũng vậy. Ở thôn quê thường cất nhà theo kiểu bánh ích mới có con lương, đòn dông. Còn ở thành thị đa số là nhà nóc bằng nên không có đòn dông, con lươn.
    17) Nhà chẳng nên đặt Cửa cái nhằm một khoảng gồm 2 cung, nghĩa là phân nửa cửa thuộc về cung bên này và phân nửa cửa thuộc về cung kia. Nhà có cửa hai cung tất phải hỗn loạn, sự việc bất nhất, mưu động nghi nan. Nếu hai cung này đồng thuộc Tây tứ cung hay đồng thuộc Đông tứ cung thì ít hại, vì du sao hai cung hỗ biến ra kiết du niên. Bằng hai cung này khác phe nhau, một bên là Đông tứ cung và một bên là Tây tứ cung là một cái cửa tai hại vô cùng vì hai cung này hỗ biến ra hung du niên – đem vào nhà những đổ vỡ, chủ nhà khó mà làm nên một công nghiệp khả quan, mỗi khởi động là mỗi thấy khó khăn. Xem như sau:
    (hình vẽ)
    Theo hình số 1 trên thì Cửa cái chia ra phân nửa ở Khảm và phân nửa ở Cấn. Hai cung Khảm với Cấn hỗ biến ra Ngũ quỷ là du niên rất hung hại.
    Theo hình số 2 trên thì Cửa cái chia ra phân nửa ở Ly thuộc Đông tứ cung và phân nửa ở Khôn. Hai cung Ly Khôn hỗ biến ra Lục sát cũng là một hung du niên. Cửa hung hại như vậy đã đành, lại còn thêm một điều khó khăn nữa là một cửa gồm hai cung thì biết ấy cung nào để tính du niên cho Bếp và Chủ phòng hay Sơn chủ: Nếu lấy cả hai cung để tính càng thêm hỗn loạn vì trong 7 chỗ, chỗ nào cũng có tới hai du niên. Nếu cung bên nhiều bên ít thì tạm lấy cung bên nhiều để tính, song cũng là điều bất ổn. Trường hợp này tất phải dời Cửa cái đến ở trọn vào một cung nào cho chính xác. Nếu không được ở trọn thì ít nhất cũng choán tới hai phần ba trong một cung.
    18) Nhà đặt đúng hướng ắt có lợi có lợi hơn đặt lệch hướng, còn nhà hai hướng rất bất lợi. Hãy lấy điểm hướng và cung tại hướng mà phân biệt ba loại nhà này:
    - Nhà đúng hướng: Khi đặt la bàn xong mà thấy điểm hướng ở ngay chính giữa cung tại hướng, đó là nhà thật đúng hướng xem hình số 3. Nhà thậ đúng hướng, tính du niên và phiên tinh cũng thật chính xác, không có chỗ nghi ngờ.
    - Nhà lệch hướng: khi đặt la bàn mà thấy điểm hướng tuy cũng còn ở trong khoảng cung tại hướng, nhưng lệch ở một bên chớ không thật ngay chính giữa thì gọi là lệch hướng. Nhà lệch hướng tất sự ứng nghiệm không trọn tốt nếu là kiết trạch, không trọn xấu nếu là hung trạch.
    - Nhà hai hướng: Khi đặt la bàn mà thấy điểm hướng ở nhằm chỗ phân giáp hai cung (tức là ở điểm chính giữa hai cung giáp giới nhau) thì gọi là nhà hai hướng. Nhà hai hướng, nếu là Tịnh trạch còn có thể đặt cửa một bên (thiên môn) để phân định Tam yếu hay lục xứ, còn ở Động trạch hay Biến hoá trạch thì thật là bất ổn, vì đặt cửa giữa (chính môn) hay đặt cửa một bên (thiên môn) cũng không có cách tính du niên cho ngăn đầu để phiên tinh. Mà phiên tinh là việc tối cần thiết để có thể tạo nên một cái nhà đại thịnh đại vượng. (Xem thiên III và thiên IV)
    Sau đây là hình số 3 chỉ ngôi nhà đúng hướng, hình số 4 chỉ ngôi nhà lệch hướng, hình số 5 chỉ ngôi nhà hai hướng.
    (hình vẽ)
    - Theo hình số 3 thì A là điểm hướng được chính giữa cung Cấn là cung tại hướng; đó là nhà đúng hướng vì hướng nhà rất trung chính.
    - Theo hình số 4 thì B là điểm hướng cũng còn ở trong khoảng cung Cấn là cung tại hướng, nhưng ở lệch một bên chứ không được ở chính giữa, đó là nhà lệch hướng.
    - Theo hình số 5 thì C là điểm hướng ở chỗ giáp nhau của hai cung Cấn và Chấn, đó là hai hướng (như hình số 1).


    (*Thiếu hình dẫn chứng)


    St
    Cây cao thì gió càng lay
    Càng cao danh vọng càng đầy gian nan

  4. #44
    Join Date
    Jun 2005
    Location
    Valley of Love
    Posts
    870
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phong thủy và sức khỏe

    DƯƠNG TRẠCH TAM YẾU
    (KIẾN TRÚC HỌC PHƯƠNG ĐÔNG)
    Triệu Cửu Phong

    BÀI 25:
    DÙNG LA BÀN PHÂN CUNG ĐIỂM HƯỚNG
    Muốn phân cung điểm hướng cho các chỗ cửa, phòng, bếp, tất phải dùng một la bàn có cây kim linh động ở giữa. Cây kim này được chế tạo bằng nhiều hình thức, đại khái như cây kim có cái chuôi (cái cán) thì chuôi nó luôn luôn chỉ vào chính giữa hướng Bắc và mũi nhọn nó chỉ vào chính giữa huướng Nam. Hoặc cây kim có hai đầu bằng nhau thì đầu đen chỉ vào chính giữa hướng Bắc và đầu trắng chỉ vào chính giữa hướng Nam. Hoặc cây kim cây kim có hai đầu bằng nhau thì đầu có lân tinh màu xanh chỉ vào chính giữa hướng Bắc và đầu kia không có lân tinh chỉ vào chính giữa hướng Nam… La bàn cũng gọi là địa bàn vậy.
    Trên mặt vòng tròn la bàn nào cũng có ghi những điểm chính giữa của 8 hướng bằng những chữ tắt như sau: N thế chữ North là hướng Bắc, S thế chữ South là hướng Nam, E thế chữ East là hướng Đông, W thế chữ West là hướng Tây; SE thế chữ South-East là hướng Đông nam, NE thế chữ North-East là hướng Đông bắc, SW thế chữ South-West là hướng Tây nam, NW thế chữ North-West là hướng Tây bắc.
    Vòng tròn trên mặt la bàn gồm 360 độ chia đều cho 8 cung hướng, tất mỗi cung hướng được 45 độ. Vậy trung tâm của mỗi cung hướng là mỗi điểm chính giữa của 45 độ.
    Như muốn phân cung điểm hướng cho cửa, phòng, bếp thì dùng một cái la bàn đặt tại trung tâm của khu có làm cửa, làm phòng hay làm bếp. Khu đây là một căn nhà, một ngăn nhà, một cái buồng, một cái sân, một khoảng đất có ranh giới… Khi đặt la bàn đúng tại trung tâm một khu nào rồi thì xoay tròn cái la bàn cho đến khi thấy chữ N ở ngay một chuôi kim, hay ở ngay đầu kim màu đen, hay ở đầu kim có lân tinh, đó là tuỳ theo ba loại kim đã đã đề cập trên. Khi đầu kim này ở ngay chữ N là hướng Bắc, tất nhiên đầu kim kia chỉ ngay chữ S là hướng Nam. Khi đã phân hướng Nam và hướng Bắc cũng như vậy, rồi thì 6 hướng kia tất cũng đúng theo vị trí của chúng nó. Chừng đó mới nhắm theo 8 hướng trên mặt la bàn mà biết cửa, phòng, bếp ở nhằm vào cung hướng nào. Phân cung điểm hướng là như vậy.
    Như muốn lấy thật đúng trung tâm (tức điểm chính giữa) của một khu đất hay một căn nhà chẳng hạn thì nên giăng dây chữ THẬP. Phải phân đồng bốn bề chu vi căn nhà rồi dùng 2 sợi dây giăng thẳng thành hình chữ thập (+) mà bốn đầu dây đều ở tại 4 điểm phân đều. Khi giăng xong như vậy rồi thì chỗ hai đường dây gặp nhau giữa căn nhà chính là trung tâm vậy. Hãy đặt la bàn tại trung tâm mà phân cung điểm hướng. Thí dụ có căn nhà bề ngang 3 mét và bề dài 4 mét thì mình giăng dây chữ Thập như hình sau đây:
    (hình vẽ)
    Bề ngang 3 mét thì phân đồng mỗi bên 1,50m. Bề dài 4 mét phân đều mỗi bên 2,00m. A là chỗ hai đường dây gặp nhau là trung tâm chu vi của căn nhà. Vậy phải đặt la bàn tại A này mà phân cung điểm hướng.

    Sau đây là lược đồ một la bàn đã xoay kim chỉ đúng hướng:


    Đông nam (TỐN) SE----NAM (LY) S-----Tây nam (KHÔN)SW

    ĐÔNG (CHẤN) E ----------o--------------TÂY (ĐOÀI)W
    (tay trái)--------------------------------(tay phải)

    Đông bắc (CẤN)NE-----BẮC (KHẢM)N---Tây bắc(CÀN)NW

    Quan sát hình la bàn trên đã phân định 8 cung hướng như sau:
    - Trung tâm cung hướng Bắc tại điểm có chữ N thuộc cung Khảm
    - Nam S Ly
    - Đông E Chấn
    - Tây W Đoài
    - Đông nam SE Tốn
    - Đông bắc NE Cấn
    - Tây nam SW Khôn
    - Tây bắc NW Kiền
    Ngoài ra còn có một loại la bàn chỉ ghi các chữ tắt mà không có cây kim, rất tiện dụng vì bất cứ đặt nơi đâu, không cần xoay trở chi cả mà 8 cung hướng ghi trên mặt la bàn vẫn đúng theo vị trí thực tại trên quả địa cầu. Nghĩa là vẫn đúng như khi mình sử dụng đúng cái la bàn có kim.


    st
    Cây cao thì gió càng lay
    Càng cao danh vọng càng đầy gian nan

  5. #45
    Join Date
    Jun 2005
    Location
    Valley of Love
    Posts
    870
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phong thủy và sức khỏe

    DƯƠNG TRẠCH TAM YẾU
    (KIẾN TRÚC HỌC PHƯƠNG ĐÔNG)
    Triệu Cửu Phong

    CHẾ TẠO MỘT LA BÀN PHƯƠNG TIỆN
    Muốn được dễ dàng và khỏi nhận lầm trong việc phân cung điểm hưởng thì mình nên chế tạo một cái la bàn phương tiện như vầy: Dùng một miếng gỗ tròn đầy trục kính một tấc rưỡi hoặc lớn nhỏ tuỳ ý; khoét một lỗ tròn tại đúng trung tâm miếng gỗ vừa đặt lọt vào một là bàn nhỏ. Trên mặt gỗ trên phân chia làm 8 phần bằng nhau, dùng mực làm giáp giới từ ngoài gạch thẳng vào chính giữa. Trên 8 phần bằng nhau biên đủ 8 cung Kiền, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Trong mỗi cung có ghi đủ âm dương ngũ hành và phương hướng của nó. Điều chú ý là khi gắn la bàn vào lỗ tròn miếng gỗ phải để chữ S trên mặt la bàn đúng ngay chính giữa phần cung LY trên miếng gỗ. Vì sao? – Vì chữ S tức là Sud phương Nam tất phải để cho ăn khớp với cung LY cũng thuộc phương Nam. Hễ một cung trên miếng gỗ ăn khớp với một chữ trên la bàn đồng thuộc một cung và đồng thuộc một phương hướng. Thay vì dùng miếng gỗ mình có thể dùng bìa giấy cứng bồi cho dày dễ chế tạo.
    - Xem hình dưới đây là một la bàn nhỏ gắn giữa miếng gỗ tròn trên có phấn vẽ đủ 8 cung bằng nhau, mỗi cung có ghi âm dương và phương hướng.
    (hình vẽ)
    Chú ý về hình vẽ trên: La bàn gắn giữa tấm gỗ. Vòng tròn và những chữ viết tắt dùng cây kim của nó đều được vẽ bằng mực đỏ. Chung quanh la bàn, trên mặt tấm gỗ được phân chia 8 phần tức là 8 cung bằng nhau. Bốn cung Kiền, Khôn, Cấn, Đoài được sơn bằng ròng một màu xanh để biết là cùng một loại Tây tứ cung, một phe phía với nhau, và vì vậy hễ gặp nhau thì biến sanh toàn là kiết du niên. Bốn cung Khảm, Ly, Chấn, Tốn được sơn ròng một màu đỏ để biết là cùng một loại Đông tứ cung, và vì vậy hễ g8p5 nhau thì biến sanh toàn là kiết du niên. Lại cũng nên biết cung màu xanh gặp cung màu đỏ khác phe khác loại tất biến sanh hung du niên.
    - Để làm phương tiện chỉ dẫn, sau đây là một trạch đồ, ở trước nhà có sân có Cửa ngõ, toạ lạc tại Khôn - hướng Cấn – cung:

    ------------------Khôn/Hướng (Tấy Nam)
    Ly (Nam)-----------------------[Cừa ngõ] Đoài (Tây)
    Tốn (Đông Nam)-------------------------------[Phòng chủ]Kiền (Tây Bắc)
    Chấn (Đông)[Bếp/ Hướng Khôn]----------------------------Khảm (Bắc)
    ------------------Cấn/Toạ (Đông Bắc)


    Theo hình trên thì la bàn đặt tại trung tâm cái sân đã được xoay cho chuôi kim chỉa ngay vào chữ N là hướng Bắc và đầu kim chỉa ngay vào chữ 8 là hướng Nam. Như vậy 8 hướng ghi trên mặt la bàn đều đúng theo vị trí của chúng nó. Và nhắm theo đó thì mình thấy Cửa ngỏ một đường thẳng với chữ W là hướng Tây thuộc cung Đoài.
    Cái la bàn đặt tại trung tâm nhà cũng vậy, đã xoay đầu kim lân tinh chỉa ngay chữ N là hướng Bắc và đầu kim không có lân tinh chỉa vào S là hướng Namvà nhắm theo la bàn thì Cửa cái ở một đường thẳng với chữ SW là hướng Tây nam cung Khôn, thì Phòng chủ ở một đường thẳng với NW là hướng Tây bắc cung Kiền, và Bếp ở một đường thẳng với chữ E là hướng Đông cung Chấn. Tuy Bếp tại Chấn Đông nhưng hướng Bếp lại ngó về Tây nam cung Khôn, vì nếu mình đặt la bàn tại trung tâm khuôn bếp tất miệng lò ngó về Khôn là hướng Tây nam.


    st
    Cây cao thì gió càng lay
    Càng cao danh vọng càng đầy gian nan

  6. #46
    Join Date
    Jun 2005
    Location
    Valley of Love
    Posts
    870
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phong thủy và sức khỏe

    DƯƠNG TRẠCH TAM YẾU
    (KIẾN TRÚC HỌC PHƯƠNG ĐÔNG)
    Triệu Cửu Phong

    THIÊN II
    TỊNH TRẠCH
    Tịnh trạch là loại nhà từ mặt tiền tới mặt hậu không có phân chia làm nhiều ngăn bởi tường vách. Nó khác với Động trạch và Biến hoá trạch là loại nhà có nhiều ngăn. Từ hai ngăn sấp lên gọi là nhiều ngăn.Những tủ và bình phong chắn ngang nhà không gọi là tường vách.
    Trong thiên Tịnh trạch này có 4 việc phải làm cần thật rành:
    1) An 8 cung và 8 du niên cho Tịnh trạch (chu vi nhà).
    2) Phân cung điểm hướng cho 7 chỗ quan hệ.
    3) Luận đoán tốt xấu cho Tịnh trạch.
    4) Những Tịnh trạch đồ làm mẫu.
    1) AN 8 CUNG VÀ 8 DU NIÊN CHO TỊNH TRẠCH
    - An 8 cung là biên tên 8 cung: Kiền, Khảm, Cấn,… đúng theo vị trí chu vi ngôi nhà. Đặt đúng la bàn tại chu vi ngôi nhà để coi theo chỉ hướng 8 cung của la bàn mà an 8 cung theo chu vi. Đặt đúng la bàn là đặt cách nào cho chuôi kim chỉ ngay vào chữ N là phương Bắc và tất nhiên mũi kim chỉa ngay vào chữ S là phương Nam (xem thiên I, bài 23).
    - An 8 du niên là biên tên 8 du niên theo 8 cung, mỗi du niên theo mỗi cung do cách Bát biến du niên hay cách lập thành (Xem thiên I, bài 8).
    Ngoài ra, còn phải ghi phương hướng, âm dương của ngũ hành cho mỗi cung và mỗi du niên để dễ phân định, suy cứu hầu chọn nơi tốt đặt Bếp và đặt Chủ phòng.
    Thí dụ: Có một ngôi nhà đặt Cửa cái tại Đoài bên hữu mặt tiền. Khi đã an 8 cung và 8 du niên xong thì ngôi nhà sẽ y như trạch đồ sau đây:

    -----------------------000 Thiên y (Thổ)
    Ngũ quỷ (Hoả)-------- Tây nam KHÔN (âm thổ)
    Chánh Nam LY-----------------------------------ĐOÀI chánh Tây
    ------------------------------------------------CỬA CÁI (Âm Kim)
    -------------------------CHỦ PHÒNG


    Lục sát (Thuỷ)--------------------------------------- Sinh khí (Mộc)
    Đông nam-TỐN----------------------------------------KIỀN Tây Bắc
    (âm Mộc) -----------------------------------------------(Dương Kim)




    ------------------------------BẾP

    Tuyệt mệnh (Kim)---------------------------------------Hoạ hại (Thổ)
    Chánh Đông CHẤNo------------------------------------KHẢM chánh Bắc
    (Dương Mộc)------Đông Bắc CẤN (Dương Thổ)----------(Dương Thuỷ)
    00 Diên niên (Kim)





    - An 8 cung:
    Xem hình trên thấy chuôi kim chỉa ngay chữ N là đúng phương Bắc và mũi kim chỉa ngay chữ S là đúng phương Nam, như vậy gọi là đặt đúng la bàn. Đặt đúng la bàn tại trung tâm chu vi thì tất cả 8 cung, cung nào cũng ở đúng vị trí của nó.
    - An 8 du niên:
    Theo cách Bát biến du niên hoặc cách lập thành du niên ở thiên I bài 8 thì Phục vị tại Đoài (vì Cửa cái tại Đoài), Sinh khí tại Kiền, Hoạ hại tại Khảm, Diên niên tại Cấn, Tuyệt mệnh tại Chấn, Lục sát tại Tốn, Ngũ quỷ tại Ly và Thiên y tại Khôn. Phàm Cửa cái tại đâu thì Phục vị tại đó, không cấn phải an vào.
    - Khi đã an xong 8 cung và 8 du niên tất thấy rõ có 3 chỗ tốt:
    Tại Khôn có Thiên y là kiết du niên đăng diện có ghi ba vòng khuyên 000 tốt bậc nhất, tại Cấn có Diên niên là kiết du niên đặc vị có hai vòng khuyên 00 tốt bậc nhì và tại Kiền có Sinh khí thất vị có ghi một vòng khuyên 0 tốt bậc ba. (Phàm đăng diện thì được ghi 000, đắc vịđược ghi 00, thất vị được ghi 0. Tính đăng diện, đặc vị và thất vị: xem thiên I, bài 3 và 10).
    - Việc làm thứ nhất này là an 8 cung và 8 du niên để dùng vào 3 trường hợp:
    Một là khi nhà đã cất rồi, hai là sắp cất nhà, ba là sắp mua nhà. Như nhà đã cất rồi, thì cứ theo phương hướng của nhà mà làm việc thứ nhất này để coi Chủ phòng và Bếp, nếu đã đặt nhằm cung tốt thì thôi, bằng ở nhằm cung xấu tất phải dời lại cung có thừa Sinh khí, Diên niên, Thiên y.
    Như nhà sắp cất trên một khu đất nào thì mình căn cứ theo phương hướng của khu đất đó mà làm việc, thứ nhất này để liệu định trước nên đặt Cửa cái tại cung nào, bên tả, bên hữu hay chính giữa cho thuận tiện phương hướng, để liệu định trước những chỗ đáng đặt Chủ phòng và Bếp. Có khi phải làm cái việc này tới đôi ba lần rồi mới tìm ra được phương hướng cất một cái nhà thuận tiện.
    Nếu mình sắp mua thì cũng cần làm cái việc thứ này để coi ngôi nhà mình sắp mua đó tốt hay không, hoặc để coi có sửa chữa trở nên một cái nhà tốt hãy mua. Ở thiên VI có lập thành đủ 24 Tịnh trạch đồ, bất cứ nhà đặt nhằm phương hướng nào, Cửa cái day về đâu cũng có một trạch đồ an sẵn 8 cung và 8 du niên. Tìm xem theo đó để sử dụng.).

    st
    Cây cao thì gió càng lay
    Càng cao danh vọng càng đầy gian nan

  7. #47
    Join Date
    Jun 2005
    Location
    Valley of Love
    Posts
    870
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phong thủy và sức khỏe

    [QUOTE=thinkofme277]DƯƠNG TRẠCH TAM YẾU
    (KIẾN TRÚC HỌC PHƯƠNG ĐÔNG)
    Triệu Cửu Phong

    2) PHÂN CUNG ĐIỂM HƯỚNG CHO 7 CHỖ
    - Tịnh trạch có 7 chỗ quan hệ, có ảnh hưởng tốt xấu. Phải dùng một cái la bàn để phân cung điểm hướng cho chính xác coi mỗi chỗ ở nhằm vào cung nào. (Xem cách dùng đúng la bàn ở Thiên I, bài 25). Xem việc làm trong phần thứ nhất cũng đã ý thức về việc phân cung điểm hướng. Nhưng trong việc làm thứ nhì này cần phải chú ý và đọc qua niều lượt mới có thể phân định để khỏi sai lầm, có hại.
    1) Cửa ngõ là cửa từ ngoài bước vào sân. Cũng gọi nó là cửa rào cửa giậu. Nhà không có nó thì thôi, khỏi phải tạo tác.
    Phải đặt la bàn tại điểm chính giữa chu vi cái sân, rồi từ trung tâm la bàn nhìn thẳng tới hoặc lấy dây giăng thẳng tới điểm giữa cửa ngõ. Và nhắm hay nhìn theo phương hướng la bàn, hễ thấy điểm giữa Cửa ngõ ở vào khoảng cung nào của la bàn thì gọi cung ấy là cung Cửa ngõ. (Xem Thiên I, bài 5).
    Như nhà xây cất trên một khu đất có sân trước nhà mà xung quanh nhà hoặc sau nhà có đất dư thì phải đặt la bàn tại điểm chính giữa chu vi của trọn khu đất mà phân cung điểm hướng cho Cửa ngõ, vì Cửa ngõ này là Cửa của trọn khu đất, chứ không phải Cửa của cái sân như vừa chỉ dẫn ở đoạn trên.
    2) Cửa cái: là cửa làm ở mặt tiền nhà liền với nhà, là cửa từ ngoài bước vào nhà. Dù lớn nhỏ bao nhiêu cũng gọi là Cửa cái. Về Tịnh trạch, phân cung điểm hướng cho Cửa cái có ba trường hợp. Một là chu vi nền nhà hình vuông vức, bốn bề thước tấc bằng nhau. Hai là chu vi nền nhà hình vuông dài mà chiều dọc dài hơn chiều ngang. Ba là chu vi nền nhà hình vuông dài nhưng chiều ngang dài hơn chiều dọc.
    Như chu vi nền nhà hình vuông vức thì phải đặt đúng la bàn tại điểm chính giữa chu vi, rồi từ trung tâm la bàn nhìn thẳng tới điểm giữa Cửa cái. Và nhắm theo phương hướng la bàn, hễ thấy điểm giữa Cửa cái. Như ở vào cung Kiền thì nói là Cửa Kiền, ở vào cung Ly nói ở Cửa Ly.
    Như chu vi nền nhà hình vuông dài, chiều dọc dài hơn chiều ngang, hoặc chiều ngang dài hơn chiều dọc cũng thế, thì phải làm như sau: kể từ chiều ngang mặt tiền nhà trở vào, lấy thước đo và lấy phấn gạch thành một hình vuông vức, bốn bề thước tấc bằng nhau, bằng với thước tấc chiều ngang của mặt tiền nền nhà. Thí dụ chiều ngang của mặt tiền nền nhà là 3 thước thì ba bề kia mỗi bề cũng đều 3 thước. Xong rồi mới đặt đúng la bàn tai trung tâm của hình vuông vức này (chứ không phải tại trung tâm của nền nhà) mà so cung điểm hướng cho Cửa cái như đã chỉ trên.
    Thí dụ nền nhà chiều dài 5 thước dài hơn chiều ngang chỉ được 3 thước:
    ---------------------Mặt tiền 3 thước
    Ao-----------------------------------------oCửa Cáio---B
    --------------------------- T
    ------------------------(đặt la bàn)


    5 thước --------- --N (trung tâm nền nhà)
    C ------------------------------------------------------D

    ---------------------(mặt hậu ngôi nhà)
    E o---------------------------------------------------o G



    Coi theo hình trên thì A, B, E, G là chu vi trọn cái nền nhà: chiều dọc 5 thước dài hơn chiều ngang chỉ có 3 thước, trung tâm của nó tại N. Còn A, B, C, D là chu vi của hình vuông vức bốn bề bằng nhau, bề nào cũng 3 thước bằng với chiều ngang của mặt tiền, trung tâm của nó ở tại T. Vậy phải đặt la bàn tại trung tâm T mà so cung điểm hướng cho Cửa cái, chớ đặt la bàn tại N là trung tâm của nền nhà.

    3) Chủ phòng:
    Là cái phòng chúa, là trụ cột ngôi nhà. Vì vậy dùng trên du niên tại Chủ phòng mà đặt tên cho ngôi nhà. Như trong nhà có dựng nhiều phòng thì lấy cái phòng nào cao lớn nhất gọi nó là Chủ phòng. Còn các phòng thấp nhỏ hơn, dù là cái phòng của người chủ nhà cũng chẳng luận. Nếu chỉ có một cái phòng duy nhất thì dù lớn nhỏ cũng gọi nó là Chủ phòng. Nên chọn nơi cung có thừa kiết du niên để dựng Chủ phòng. Chỗ đặt giường để ngủ nghỉ mà không dược che bằng tường vách thì chưa đáng gọi là Chủ phòng.
    Phải đặt đúng la bàn tại chính giữa chu vi ngôi nhà, rồi từ trung tâm la bàn nhìn thẳng tới Chủ phòng. Vậy nhắm theo phương hướng la bàn, hễ thấy Chủ phòng ở vào khoảng cung nào của la bàn thì gọi cung ấy là cung của Chủ phòng.
    4) Cửa phòng:
    Là cửa của Chủ phòng, là Cửa cái của phòng cao lớn nhất trong nhà nếu trong nhà có nhiều phòng.
    Phải đặt đúng la bàn tại chính giữa chu vi Chủ phòng, rồi từ trung tâm la bàn nhìn thẳng tới giữa cửa Chủ phòng. Và nhắm theo phương hướng la bàn, hễ thấy điểm giữa cửa ở vào khoàng cung nào của la bàn thì gọi cung ấy là cung của Cửa phòng.

    5) Bếp là chỗ có đặt lò hoặc cà ràng để nấu ăn. Thướng thường người ta đặt lò và cà ràng trên một cái khuôn lót gạch hay tráng xi măng. Thuy nhiên, không có khuôn bếp mà chỉ đặt lò, cà ràng trên mặt đất thì cũng gọi chỗ đó là Bếp. Nếu có nhà bấp riêng cũng vậy, nơi chỗ đặt lò, cà ràng gọi là Bếp.
    Phải đặt la bàn tại chính giữa chu vi ngôi nhà, rồi từ trung tâm la bàn nhìn thẳng tới khoảng giữa khuôn bếp hay nơi có đặt lò, cà ràng và nhắm theo phương hướng la bàn, hễ thấy khoảng giữa đó ở vào khoảng cung nào của la bàn thì gọi cung đó là cung của Bếp. Nếu có nhà bếp riêng (không phải ở trong một ngôi nhà) thì phải đặt đúng la bàn tại chính giữa chu vi nhà bếp để phân cung điểm hướng cho Bếp.
    6) Cửa Bếp:
    Như Bếp để trong thì thôi, không luận Cửa Bếp, bằng có đựng buồng che thì cái cửa bước vào buồng che gọi là Cửa Bếp. Như có nhà bếp riêng thì cửa của nhà này gọi là Cửa Bếp.
    Phải đặt la bàn tại chính giữa chu vi cái buồng che, rồi từ trung tâm la bàn, hễ thấy điểm giữa cửa buồng ở vào khoàng cung nào của la bàn thì gọi cung đó là cung của Cửa Bếp. Hoặc đặt tại chính giữa chu vi nhà Bếp rồi từ trung tâm la bàn nhìn thẳng tới giữa cửa nhà bếp. Và nhắm theo phương hướng la bàn, hễ thấy đfiểm giữa của nhà bếp ở vào khoảng cung nào của la bàn thì gọi cung ấy là cung Bếp. Nói rõ lại: Cửa bếp là cửa của cái buồng, của cái phòng hay của cái nhà bếp có đặt bếp nấu ăn.
    7) Hướng bếp:
    Là nơi hướng miệng bếp ngó về, chứ không phải tại nơi cung có đặt lò, cà ràng. Nghĩa là Bếp đặt tại cung này nhưng miệng bếp ngó về cung hướng khác. Như cái bếp đặt tại cung Ly nhưng miệng bếp ngó về hướng Khảm hay hướng Khôn chẳng hạn.- Miệng bếp, ta thường gọi theo tiếng chữ Nho là Táo khẩu. Chớ lấm miệng bép với miệng cái lò (hay miệng cà ràng). Có thể miệng bếp ngó về hướng này, nhưng mình đặt miệng lò ngó về hướng khác. Mình phải tính du niên cho Hướng bếp chứ không tính du niên cho hướng miệng lò ngó về. Nhưng chẳng hạn đặt miệng lò ngó về các nơi có uế khí như cầu tiêu, chuồng súc vật… Đừng đặt giường ngủ nghỉ ngay Hướng bếp.
    (Rất cần chú ý: Trong 7 đoạn trên đếu có dặn: Phải đặt đúng la bàn. Là phải xoay cái la bàn cách nào cho mũi kim chỉ ngay chữ S là phương Nam và chuôi kim ngay chữ N là phương Bắc).


    St
    Cây cao thì gió càng lay
    Càng cao danh vọng càng đầy gian nan

  8. #48
    Join Date
    Jun 2005
    Location
    Valley of Love
    Posts
    870
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phong thủy và sức khỏe

    DƯƠNG TRẠCH TAM YẾU
    (KIẾN TRÚC HỌC PHƯƠNG ĐÔNG)
    Triệu Cửu Phong

    3) LUẬN ĐOÁN TỐT XẤU CHO TỊNH TRẠCH

    Những chỗ có quan hệ nơi Tịnh trạch được phân biệt 3 chỗ chính yếu và 3 chỗ thứ yếu. Ba chỗ chính yếu có ảnh hưởng trọng đại là: Cửa cái, Chủ phòng và Bếp. Ba chỗ thứ yếu có tính cách phụ thuộc là: Hướng bếp, Cửa bếp và Cửa phòng, nhưng Hướng bếp được quan trọng hơn 2 chỗ kia. Không kể Cửa ngõ, vì nó khộng hệ thuộc vào ngôi nhà.
    Phàm 3 chỗ chính yếu ở tại 3 cung tương sanh hay tỷ hoà và Chủ phòng với Bếp đều thừa kiết du niên thì kể chắc là một ngôi nhà ở tốt, phát đạt. Dầu cho 3 chỗ thứ yếu hay phụ thuộc kia, tất cả đều hung hại (tương khắc, thừa hung du niên) cũng không đáng ngại.
    Phàm 3 chỗ chính yếu ở tại 3 cung tương khắc và Chủ phòng cùng Bếp đều thừa hung du niên thì quyết định là một ngôi nhà bất lợi, suy vi. Dù hết thảy 3 chỗ thứ yếu kia đều tốt cũng không thể phát đạt.

    Chú ý: Có vài trường hợp hai cung tương sanh nhưng hỗ biến ra Lục sát hay Hoạ hại là hung du niên thì vẫn kể là xấu. Hoặc 2 cung tương khắc nhưng hỗ biến được Diên niên là kiết du niên vẫn kể là tốt.
    Phàm 3 chỗ chính yếu là 3 cung hỗ biến với nhau có đủ Sinh khí, Diên niên và Thiên y thì gọi là nhà ba tốt tức vì nhà có 3 du niên tốt. Được ở Nhà ba tốt ắt có nhiều may mắn kết tụ.
    Chủ phòng và Bếp đều thừa kiết du niên nhất định là tốt, nhưng kiết du niên đăng diện hay đắc vị mới quí, mới phát đạt lớn. Bằng kiết du niên thất vị thì không quí, phát đạt ít. Trái lại Chủ phòng và Bếp đều thừa hung du niên, dù đăng diện hay đắc vị cũng vẫn hung hại, suy vi huống chi là thất vị.
    Ở Chủ phòng và Bếp có kiết du niên sanh trạch là thêm phần phát, tốt (như Thiên y thuộc Thổ sanh Tây tứ trạch Kim). Có kiết du niên vượng trạch tức là tỷ hoà với trạch càng thịnh vượng hơn (như Sinh khí Mộc tỷ hoà với Đông tứ trạch cũng Mộc, hoặc như Diên niên Kim tỷ hoà với Tây tứ trạch cũng Kim). Trái lại, kiết du niên với trạch tương khắc là nhà bớt tốt (như Diên niên Kim hay Thiên y Thổ đối với Đông tứ trạch đều tương khắc, vì Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ).
    Chủ nhà thuộc Đông mệnh ở Đông tứ trạch hoặc chủ nhà thuộc Tây mệnh ở Tây tứ trạch, đó là Mệnh cung hiệp trạch, chủ nhà với nhà hiệp nhau ắt thêm 30% tốt. Trái lại chủ nhà là Đông mệnh lại ở Tây tứ trạch hoặc chủ nhà là tây mệnh lại ở Đông tứ trạch là tương khắc, là Mệnh cung chẳng hiệp trạch, là nhà với chủ chẳng hiệp nhau, ắt là phải mất 30% tốt. Mất đây có nghĩa là không thêm được 30% tốt, chứ không phải bị bớt 30% tốt.
    Gặp trường hợp này thì phải sắp đặt làm sao cho Hướng bếp, Giường ngủ và Đầu giường đều thuộc về các cung hướng hiệp với Mệnh cung chủ nhà mới khỏi bị mất nhiều phần tốt. (Xem nơi Thiên I bài 23 có chỉ dẫn rõ hơn).
    Cần biết: Muốn tường tận những sự việc ứng nghiệm thịnh suy của mỗi ngôi nhà, mỗi ngôi Bếp, thỉnh xem nơi Thiên VII có luận đoán đầy đủ).

    st
    Cây cao thì gió càng lay
    Càng cao danh vọng càng đầy gian nan

  9. #49
    Join Date
    Jun 2005
    Location
    Valley of Love
    Posts
    870
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phong thủy và sức khỏe

    MÔN-CHỦ-TÁO


    Khái luận về dương trạch:

    Xét về dương trạch tức là phải xét 3 chủ điểm mới, có thể quyết định được cát hung, ba chủ điểm đó là Môn - Chủ - Táo.

    - Môn là cổng chính để ra vào, ở thôn quê đất rộng người thưa thường nhà ở và cổng ngõ riêng biệt.

    - Chủ là căn nhà tọa lạc: là nơi mình ăn ở sinh sống hàng ngày.

    - Táo là bếp nước, nơi sửa soạn thức ăn, thức uống.

    Cả 3 điểm nêu trên đều có mối tương quan mật thiết không thể tách rời. Phương pháp khảo sát phải theo một quá trình nhất định:

    Trước hết phải xem cổng lớn (đại môn), kế đến là chủ phòng, sau hết là bếp. Nhà thường có một cổng chính ra vào: một bếp để nấu nướng, việc khảo sát có phần dễ dàng. Những nhà ở có nhiều căn nhiều phòng, tất phải chọn một nơi làm chuẩn. Vậy phải chọn căn hoặc phòng nào cao lớn nhất làm chủ vị.

    Theo lý thuyết âm dương và ngũ hành thời Môn và chủ tương sinh là cát, tương khắc là hung. Nói về bếp nước, nơi đây là nguồn gốc nuôi dưỡng con người, không thể coi thường. Do đó, bếp cần được tương sinh với Môn, sau là tương sinh với Chủ. Tuy nhiên, nếu chỉ quan sát bếp nước mà bỏ qua Môn và Chủ thời đó lại là điều sai lầm đáng tiếc. Vậy thì Môn - Chủ - Táo phải được tương sinh theo thể liên hoàn và rất kỵ tương khắc. Ngoài ra, rất cần hợp với Mạng nguyên của Trạch chú, nếu hội đủ những điều kiện trên thời nhà thịnh vượng, phúc thọ song toàn.

    Vậy muốn nắm vững được bí quyết, cần phải hiểu rõ sinh khắc của ngũ hành, sự phối hợp về âm dương, thuộc lòng bài ca Du Niên. Được vậy là đã nắm được những yếu tố cơ bản của môn Bát trạch, kế đó cần tham khảo thêm những tài liệu sau đây:

    Vô cực đồ - Thái cực đồ - Lưỡng nghi đồ - Thứ tự bát quái của Vua Văn Vương – Hà Đồ - Lạc thư.

    Bát quái với Ngũ hành:

    - Càn là cha – Phương Tây Bắc - thuộc Kim.

    - Khôn là mẹ - Phương Tây Nam - thuộc Thổ.

    - Cấn là Thiếu nam – Phương Đông Bắc - thuộc Thổ.

    - Đoài - Thiếu nữ - Phương Chính Tây - thuộc Kim.

    - Khảm – Trung nam – Phương Chính Bắc - thuộc Thủy.

    - Ly – Trung nữ - Phương Chính Nam - thuộc Hỏa.

    - Chấn - Trưởng Nam – Phương Chính Đông - thuộc Mộc.

    - Tốn - Trưởng Nữ - Phương Đông Nam - thuộc Mộc.

    Bát quái tương phối:

    - Càn phối Khôn

    - Cấn phối Đoài

    - Khảm phối Ly

    - Tốn phối Chấn

    Ngũ hành tương sinh về tương khắc:

    - Kim sinh Thủy ® Mộc ® Hỏa ® Thổ ® Kim

    - Kim khắc Mộc ® Thổ ® Thủy ® Hỏa ® Kim

    Tây tứ trạch và Đông tứ trạch:

    - Tây tứ trạch : Càn – Khôn - Cấn – Đoài

    - Đông tứ trạch : Khảm – Ly - Chấn - Tốn

    Đông Tây tứ trạch rất kỵ hỗn loạn:

    Đông Tây tứ trạch cần phải phân biệt rõ ràng, không được hỗn loạn. Ví dụ: Môn và Táo thuộc Tây tứ trạch mà Chủ lại thuộc Đông tứ trạch. Khi đã có sự hỗn loạn thời đương nhiên có sự tương khắc, nếu không gặp Kim khắc Mộc thời Mộc khắc Thổ, xét về sau, nếu không phạm Lục Sát, Họa hại thời, gặp Ngũ quỷ tuyệt mạng, đó đều là hung triệu. Theo kinh nghiệm của soạn giả, những nhà phú quý lâu dài không bao giờ phạm vào sự hỗn loạn kể trên.

    Bài ca Đại Du Niên:

    Bài ca này rất quan trọng, cần phải học thuộc lòng thời mới sao dược ô cung, do đó mới xác định được cát hung.

    - Càn Lục Thiên Ngũ Họa Tuyệt Diên Sinh.

    - Khảm Ngũ Thiên Sinh Diên tuyệt Họa Lục.

    - Cấn Lục Tuyệt Họa Sinh Diên Thiên Ngũ

    - Chấn Diên Sinh Họa Tuyệt Ngũ Thiên Lục

    - Tốn Thiên Ngũ Lục Học sinh Tuyệt Diễn

    - Ly lục Ngũ tuyệt Diên Họa sinh Thiên

    - Khôn Thiên Diên Tuyệt sinh họa Ngũ lục

    - Loài sinh Họa Diên Tuyệt Lục Ngũ Thiền.

    Trên đây là tên của các sao, sẽ nói rõ ở phần dưới. Sau đây là cách thức an sao vào tám quẻ. Ví dụ, quẻ càn, thời tìm phương vị của quẻ càn trong Bát quái in chữ càn (hay Phục vị) vào cung đó rồi đi thuận theo thứ tự Lục, Thiên, Ngũ, Họa, Tuyệt, Diên, Sinh.

    - Càn là Phục vị, tức là hai sao Phụ Bật đều thuộc tính cách cát hung tùy thuộc vào Chủ tinh, Chủ hung thời chúng cũng hung. Vì thế, có tên là Phụ Bật.

    - Lục là Lục sát tức là sao Văn khúc, thuộc Thủy hung tinh.

    - Thiên là thiên y, tức là sao Cự môn, thuộc Thổ, cát tinh.

    - Ngũ là ngũ quỷ, là sao Liêm Trinh - Hỏa – Hung tinh.

    - Họa là Họa hại, là sao Lộc Tồn - Thổ - Hung tinh.

    - Tuyệt là tuyệt mạng, là sao Phá Quân – Kim, Hung tinh.

    - Diên là Diên Niên, là sao Vũ Khúc – Kim, Cát tinh.

    - Sinh là sinh khí, là sao Tham Lang - Mộc, Cát tinh.

    Đặc tính cát hung của Cửu tinh:

    - Cặp sao Tham Lang, gia đạo hanh thông, sinh 5 con thông minh, có văn tài, tinh thông bách nghệ.

    - Gặp sao Cự môn – Dương thổ - gia đạo hanh thông, công danh hiển đạt, giỏi về y bốc.

    - Gặp sao Lộc Tồn – Âm thổ - gia đạo suy tàn, con cái bất lợi, ngành út lụn bại, ngành nhì khá.

    - Gặp sao Văn Khúc - Giảm hạ Thủy – hay sinh chứng bệnh điên cuồng, người trong nhà ngỗ nghịch, ly tổ phá gia.

    - Gặp sao Liêm Trinh - Hỏa – sinh được 2 con làm bại hoại cửa nhà, hung ác, làm quân lính hầu.

    - Gặp sao Vũ Khúc – Dương Kim – sinh con hào tuấn phát ngành giữa, hiếu thảo, tinh thông bách nghệ.

    - Gặp sao Phá Quân – Kim hay gặp chứng bệnh phù thủng vàng da, con cái yểu mạng, con gái bệnh hoạn yểu vong.

    - Phụ Bật là Mộc tinh – tùy theo Chủ tinh, cát thời cát, hung thời hung.

    Sự tương khắc giữa cung và Sao

    - Sao Hỏa mà đóng cung Càn, Càn kim bị khắc, tổn thương ông già, các vị tôn trưởng, phụ mẫu.

    - Sao Thổ mà đóng ở cung Khảm, Thủy bị khắc, có tổn thương cho trung nam và con trẻ.

    - Sao Mộc đóng ở cung Cấn, Cấn Thổ bị khắc, tổn thương cho thiếu nam.

    - Sao Kim đóng ở cung Chấn, Chấn Mộc bị khắc, tổn thương trưởng nam.

    - Sao Kim đóng ở cung Tốn, Tốn mộc bị khắc, tổn thương trưởng nữ,

    - Sao Thủy đóng ở cung Ly, Ly hỏa bị khắc, tổn thương trung nữ,

    - Sao Mộc đóng ở cung Khôn, Khôn Thổ bị khắc, tổn thương lão mẫu, thiếu phụ.

    - Sao Hỏa vào cung Đoài, Đoài Kim bị khắc, tổn thương thiếu nữ, ấu phụ.

    Ảnh hưởng tốt xấu của cửu tinh với các ngành:

    - Sao Tham Lang thời vượng con trưởng. Sao Cự môn vượng con giữa. Sao Vũ Khúc vượng con út. Sao Văn Khúc bại ngành giữa. Sao Lộc Tồn bại ngành út. Sao Phá Quân bại con trưởng.

    - Xét về thời kỳ hưng bại thời dựa theo các số: Thủy: 1, Hòa: 2, Mộc: 3, Kim: 4, Thổ: 5, con số này tính theo năm, như ảnh hưởng xuất hiện trong vòng 1, 2, 3… năm.

    Ảnh hưởng của các sao đối với số lượng con cái:

    Sao Tham Lang vượng được 5 con, Cự môn 3, Vũ khúc 4, Liêm Trinh 2, Phụ Bật chỉ được 1 gái. Văn Khúc 1, Phá Quân tuyệt tự, Lộc Tồn thời tuổi thọ cao nhưng cô đơn.

    Ảnh hưởng về âm dương:

    Nếu thuần âm thời hay tật bệnh, thuần dương thời tài vượng, nhưng hiếm con cháu. Trong mà khắc ngoài thời trộm giặc không thể xâm nhập. Ngoài khắc trong thời thân thể bị tổn thương, âm mà đến cung dương thời sinh con gái trước, Dương đến cung âm thời sinh con trai (xem phần giải thích ở ngay dưới).

    Cát tinh thuộc Đông Tây tứ trạch:

    Âm dương hay phu phụ chính phối đều là Diên Niên (Vũ Khúc) như Càn phối Khôn, Cấn phối Đoài… Thuần âm thuần dương đều thuộc Thiên Ất (tức Thiên y Cự môn), một âm một dương đều thuộc sinh khí (Tham Lang) như Chấn gặp Tốn, Ly, Đoài.

    Cát hung tinh thuộc Đông Tây tứ trạch:

    Thuần âm thuần dương tương khắc là Ngũ quỷ (như Càn Kim khắc Chấn Mộc, Đoài Kim khắc Tốn Mộc) Dương khắc Âm, Âm khắc Dương, hoặc thuần dương tương sinh, thuần âm tương sinh, nếu không là tuyệt mạng tức là Lục sát.

    Trên đây là cách xem Đông Tây tương hỗn.

    Ảnh hưởng của Ngũ quỷ - Liêm trinh với các cung:

    Sao Liêm Trinh đóng tại các cung Càn, Đoài tổn thương cho con trẻ đến 5 mạng, trong nhà không được yên lành. Đóng tại cung Khảm con thứ gặp tai ương, con trưởng và con nít yểu tử, trong nhà bệnh tật triền miên. Đóng tại cung Tốn, hay bị trộm giặc cướp bóc, tiền tài hao tán, con cái bị hỏa ách. Đóng tại cung Hỏa, những năm đầu thời ngành thứ khá giả, trưởng nam nắm giữ quyền hành, sau đó tán tài, tai họa đến. Đóng tại các cung Cấn Khôn, tổn hại lục súc, cung Khốn thời tổn thương 5 mạng, cung Cấn tổn thương 3 mạng.



    Ảnh hưởng vào các năm của Sao:

    - Sinh khí ảnh hưởng tốt cho những năm Hợi Mão Mùi.

    - Diên niên ảnh hưởng tốt cho những năm Tỵ Dậu Sửu.

    - Thiên Ất ảnh hưởng tốt cho những năm Dần Ngọ Tuất.

    - Phụ Bật ảnh hưởng tốt cho những năm Hợi Mão Mùi.

    - Tuyệt Mạng ảnh hưởng xấu cho những năm Tỵ Dậu Sửu.

    - Lộc Tồn ảnh hưởng xấu cho những năm Dần Ngọ Tuất

    - Ngũ Quỹ ảnh hưởng xấu cho những năm Dần Ngọ Tuất

    - Lục Sát ảnh hưởng xấu cho những năm Thân Tý Thìn

    Động trạch nhiên tinh và Ngũ hành

    - Động trạch là nhà có nhiều phòng, nhiều ngăn, phải dùng phép ngũ hành tương sinh làm sao cho chủ phòng gặp được cát tinh như sinh khí, Thiên Ất và tránh cát hung tinh như Ngũ quỹ, Tuyệt mạng…

    - Động trạch nếu không quá số lượng 5 phòng, 5 căn hoặc 5 viện thời chỉ dùng Ngũ hành của Ngũ tinh như Cự môn sinh Vũ khúc, Vũ khúc sinh Văn khúc, Văn khúc sinh Tham Lang, Tham Lang sinh Liêm Trinh, và Liêm Trinh sinh cho Cự môn… Cát tinh có thể sinh hung tinh và ngược lại.

    - Biến trạch thường phải dùng hai Kim, hai Mộc hoặc hai Thổ, vì biến trạch số lượng phòng, căn, viên vượt quá 5, đến 10, vì thế cách phiên tinh của biến trạch khác động trạch. Do đó phải dùng hai Kim, hai Mộc hoặc hai Thổ. Ví dụ, phòng trước tiên là Tham Lang (Mộc), phòng thứ hai là Phụ Bật (Mộc) kế đó mới tới Liêm Trinh (Phòng 3) (Hỏa), phòng thứ tư là Lộc Tồn (Thổ), theo nguyên tắc thời trước dùng Lộc Tồn sau dùng Thiên Ất (Thổ), kế đến là Vũ Khúc (Kim) trước dùng Vũ Khúc, sau dùng Phá Quân (Kim), Phá Quân sinh Văn Khúc (Thủy), Văn Khúc sinh Phụ Bật (Mộc) trước dùng Phụ Bật, sau mới dùng Tham Lang, Cát không sinh hung, hung không sinh Cát. Nếu Biến trạch chỉ có 6 phòng thời phải trùng dụng 1 lần, 7 phòng thời phải trùng dụng 2 hai lần, 8 phòng thời trùng dụng 3 lần (Mộc, Kim hoặc Thổ) còn các phòng thứ 9, thứ 10 thời cứ việc sao này sinh sao khác như thường lệ.

    - Hóa trạch là nhà gồm 11 phòng đến 15 phòng, việc khảo sát cũng giống như động trạch. Ba hành Mộc Thổ Kim đều được trùng dụng, riêng hai hành Thủy Hỏa thời đơn dụng. Vì lẽ Ngũ hành của Bát quái đều có hai Mộc, hai Thổ và hai Kim, nhưng chỉ có 1 Thủy, 1 Hỏa.

    Sự ứng nghiệm của 4 hung tinh:

    Văn Khúc chủ tà dâm, tự ái, Liêm Trinh chủ hỏa ách đau tim. Lộc Tồn chủ cô quả, lòa mắt. Phá Quân chủ về quan tài.

    Luận về Ngũ hành và các chứng bệnh:

    Muốn biết rõ chứng bệnh gì thời phải xét theo ngũ hành Kim thời là bệnh ho suyễn, lo sợ, khí huyết, máu mủ, gân cốt đau nhức. Mộc thời tứ chi suy nhược, bệnh phong, gan mật, hai bên tay chân đau đớn, co rút, mắt miệng méo lệch. Hỏa thời nhức đầu hỏa vượng, tam tiễn nóng, miệng khô ráo, hay nói sảng, thuộc về dương chủng dương hàn, đau bụng, nhọc độc, ác tật. Thủy thời hay mắc chứng hàn di tinh, bạch đới, đau lưng đau thận, thổ tả. Thổ thời liên quan đến tỳ vị, bụng chướng, phù thủng vàng da, và các chứng bệnh ôn dịch, thời khí.

    - Kim Mộc tương khắc thời bị điên cuồng, hung tử

    - Thủy Thổ tương khắc thời trong hay bất hòa.

    - Mộc Thổ tương khắc thời tổn thương tỳ vị.

    - Thủy Hỏa tương khắc thời bị lao trùng.

    Phép xem Tĩnh trạch:

    Khi xem tĩnh trạch thời đặt La Bàn ở giữa sân, và căng giấy chữ thập theo hướng Nam Bắc, Đông Tây, sau đó định rõ hướng của 24 sơn xem Chủ đóng ở cung nào, thuộc chữ nào, Môn thuộc cung nào, chữ nào và bếp thuộc cung nào (Nhìn vào La bàn để biết rõ cung và chữ) sau đó phối hợp Đông Tây tứ trạch mà đoán cát hung.

    ST
    Cây cao thì gió càng lay
    Càng cao danh vọng càng đầy gian nan

  10. #50
    Join Date
    Jun 2005
    Location
    Valley of Love
    Posts
    870
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phong thủy và sức khỏe

    MÔN-CHỦ-TÁO


    Phép xem Đông trạch, Biến trạch và Hóa trạch:

    Khi xem các trạch trên, trước hết đặt La bàn ở trong đại môn và ngoài nhà, dùng thân tự tuyên để xem Đại môn thuộc cung nào, chữ nào, thuộc Đông hay Tây Tứ trạch. Kế đến xem xét các phòng hoặc các căn nhà, lấy căn nào cao nhất làm chuẩn đặt La Bàn tại giữa và căng thập tự tuyến và xem nhà này thuộc cung nào và chữ nào. Sau hết, đến giữa bếp lại hạ La bàn, căng thập tự tuyên như trên. Như vậy là có thể xác định được phương hướng của Môn - Chủ - Táo, kết hợp cả 3 cần được tương sinh, kỵ tương khắc, Đông Tây không được hỗn loạn.

    Việc khảo sát công sở ở tỉnh, phủ, huyện… hoặc đền thờ miếu vũ, hàng quán làm ăn, cũng đều dựa vào sự khảo sát trên như Tĩnh trạch, Động trạch… nhưng hơi khác đôi chút với nhà cửa dân gian, Phủ thự, nha sở phải lấy Lộc làm chủ.

    Ví dụ: Nha thự thuộc Tốn sơn, càn hướng, mở chính môn, thời ở trong chính viện đặt La Bàn, phân chia tấm quẻ 24 sơn xem Môn, Chủ, Táo thuộc cung nào, chữ nào theo bài ca Đại Du Niên tính thuận để xét về sinh khắc chế hóa mà định cát hung.

    Thái cực pháp về Môn - Chủ - Táo

    Tuy có sự phân chia làm 24 sơn nhưng cũng nằm trong phạm vi Bát quái, mỗi quẻ bao gồm 3 sơn, Ví dụ 3 chữ Càn Tuất Hợi đều thuộc quả Càn, Nhâm Tý Quý đều thuộc quẻ Khảm. Vì thế khi xem xét, bất luận là 1 hay 2, 3, 4, 5 đều 10 viện, cũng bất luận là phòng chính, phòng phụ, cũng bất luận là viện trước viện sau, trái hay phải, chỉ cần lấy phòng viện nào cao lớn nhất làm chuẩn, chiều cao thời căn cứ vào cái nóc. Tại nơi được chọn lựa ngay giữa nhà hạ La bàn xem thuộc chữ nào và cung nào của Bát quái. Môn là cổng ra đường đi, chữ không cần phân biệt lớn, nhỏ, muốn biết cát hung phải xem cổng này. Xét về bếp thời xét hướng của nhà bếp, tức là cửa ra vào bếp, chứ không phải là cửa bếp lò, cả 3 nơi này đều đặt La bàn để xác định phương hướng, rồi tổng hợp cả 3 để khảo sát theo ngũ hành sinh khắc mà định cát hung.

    Cách phân biệt Tĩnh trạch, Động trạch, Biến trạch, Hóa trạch:

    Dương trạch gồm có 4 loại là Động Tĩnh Biến Hóa:

    - Nếu nhà đó chỉ có đơn thuần 1 viên, 1 phòng thời gọi là Tĩnh trạch. Việc khảo sát chỉ cần xét nơi cửa an các sao theo Du Niên.

    - Nếu nhà đó gồm có 2, 3, 4 đến 5 viện thời gọi là Động trạch, đúng phép xảo phiên Bát quái. Tại sao Động trạch lại chỉ giới hạn có 5 phòng, vì chỉ có 5 hành Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ. Từ 6 phòng đến 10 phòng, gọi là Biến trạch. Điều này có thể lý giải là: Thiên nhất sinh Thủy, Địa lục Thành Chi… Từ Nhất, Lục, Nhị, Thất, Tam Bát, Tử Cửu và Ngũ Thập, số 10 là số cuối cùng và là thành số. Quá số 10 lại trở về số 1, vì thế gọi là Biến trạch. Cách khảo sát phải cùng song Kim, song Mộc, song Thổ, đó lập hướng pháp Xảo phiên Bát quái nói trên. Sau hết là nhà có từ 11 phòng trở lên đến 15 thời được gọi là Hóa trạch, Thổ thuộc số 5, muôn vật đều do Thổ mà ra.

    Phép giải hung của bếp:

    Đây là nguồn gốc nuôi dưỡng con người, bệnh tật cũng do ăn uống mà sinh ra. Do đó bếp phải an theo hướng có sinh khí. Thiên Ất hay Diên Niên, đó là 3 kiết phương, điều tối kỵ là làm bếp ở hung phương như Ngũ quỷ và Lục sát. Nếu phạm vào cát hung phương này thời hại người hại của, hay sinh bệnh hoạn. Muốn giải trừ hung họa, thời dọn dẹp hết tro bụi trên bếp cũ, cúng nước sạch quét rửa cho sạch sẽ. Sau đó đem tro bụi ra đổ ở sông hoặc hoặc ở vùng đồng trống. Mua những vật liệu mới xây cất theo cát phương Thiên y như vậy có thể giải quyết được hung tai, điều này rất ứng nghiệm, nếu bếp thuộc phương Mộc sẽ ứng nghiệm trong vòng 30 ngày, bếp thuộc phương Thổ ứng trong vòng 50 ngày, bếp thuộc phương Kim, ứng nghiệm trong vòng 40 ngày, bếp thuộc Hỏa ứng trong vòng 20 ngày, cuối cùng bếp thuộc phương Thủy sẽ ứng trong vòng 60 ngày. Nếu chủ cũng được cát phương thời bệnh mau khỏi, thêm con thêm của, và công danh hoạn lộ thường ứng trong vòng 3 năm.

    Ngoài ra những đồ thiết khí hay vật cứng, trang bị cho bếp cũ, vì e hung khí chưa tan, nên để ý nơi trống trải, đúng 100 ngày có thể dùng lại mà vô hại. Riêng những vật dụng thường dùng như chén bát, đũa, muỗng… đều không kỵ. Trái lại chỉ kỵ đồ dùng bằng sắt, sau 5 ngày mang đi bỏ ở nơi xa, đúng 5 ngày là lấy theo ý nghĩa phá Ngũ quỷ.

    Cách phân biệt rõ các táo

    Khi thấy trong nhà có những hiện tượng như ốm đau, trẻ con khó nuôi, tuổi già cô độc không con cái bệnh hoạn lâu không khỏi, hôn nhân trắc trở, cần đặt lại bếp vào phượng Thiên y (Thiên Ất hay Cự môn) và chiếu theo mạng nguyên của Trạch chủ mà an giường nằm, bếp nước sẽ được đại cát.

    Học hành mãi mà thi cử không đậu, hoặc trong nhà gặp cảnh cùng khốn, thời nên đặt bếp vào phương sinh khí, cổng lớn theo phương sinh khí, ngoài sinh trong tức là Môn sinh chủ sẽ có hiệu quả rất mau. Nếu cầu tài, trong vòng 100 ngày sẽ hiệu nghiệm.

    Con trai con gái trong nhà thường bị yểu mạng đó là hung triệu, gặp trường hợp này nên đặt bếp vào phương Diên Niên sẽ được tặng tuổi thọ. Đặt cổng lớn theo phương Diên Niên và Chủ an theo Thiên y phương rất tốt.

    Các phương sinh khí, Thiên y và Diên Niên kể trên cần được hợp với Mạng Nguyên của Trạch chủ. Nếu không được sự tương hợp thời an giường và táo khẩu (miệng lò lửa) hợp với phương hướng của Trạch chủ cũng rất tốt, tuy vậy không bằng trường hợp trên. Tóm lại, muốn được toàn mỹ cần được 5 điều: Môn, Chủ, Táo, giường nằm và táo khẩu đều hợp với bản mệnh của Trạch chủ.

    Hiệu quả tốt của 3 cát tinh:

    - Gặp được cát phương Tham Lang (tức sinh khí) thời sinh được 5 con, công danh hiển đạt, mau giàu có, tăng nhân khẩu, may mắn dồn dập đến, trong 30 ngày có hiệu quả.

    - Gặp được cát phương Thiên Ất (tức Cự môn) thời vợ chồng hòa thuận, sinh được 3 con hiền, làm ăn giàu có, ít bệnh tật, nhân khẩu, gia súc đều tăng tiến hưng vượng, nó hiệu quả trong vòng 50 ngày.

    - Gặp được cát phương Vũ khúc (tức Diên Niên) sinh được 4 con hiền, giàu vào hàng trung phú nhưng thượng thọ, vượng tài, vợ chồng hòa thuận, hôn nhân tốt đẹp, ruộng vườn mở mang, nhân khẩu và lục súc đều thịnh, thường có tin mừng.

    - Gặp được Phục vị (tức hai sao Phụ Bật) thời được Tiểu Phú trung thọ, nhiều gái ít trai (Sao này có tính cách phụ họa).

    Hiệu quả xấu của 4 hung tinh:

    - Tuyệt mạng (Phá Quân) thuộc Kim đóng tại cung Ly ví như con thú cùng đường quay đầu lại cắn, đóng tại cung Tốn, giống như kẻ bạo tàn đắc chí, tàn hại kẻ trung lương, đóng tại 2 cung Cấn Khôn, ví như chứa lương để nuôi giặc, dưỡng hồ di họa, đóng tại cung Khảm như dồn cọp xuống hổ, gầm thét vang trời, đóng tại hai cung Càn Đoài giống như lang sói, sẽ có lúc cắn lại.

    - Ngũ quỷ (Liêm Trinh) đóng tại hai cung Chấn Tốn là mộc sinh hỏa, cháy chóc khắp nơi, đóng tại hai cung Càn Đoài như lửa mặt trời, tan vàng nát đá, đóng tại hai cung Cấn Khôn, như lửa rực của Hỏa Diệm sơn ngọc đá đều tan, đóng tại cung Khảm giống những vị thuộc bào chế (Dã cát và ô dâu), đóng tại cung lạ như tưới dầu vào lửa, mọi vật tiêu tan.

    - Họa hại (Lộc Tồn) đóng tại 2 cung Chấn Tốn như bọn nô tỳ gian ác, dù sau này bị chế phục, sau này sẽ phản chủ, đóng tại 2 cung Cấn Đoài như quân cướp bóc tạm thời đều hàng, nhưng sau sẽ phản phúc. Đóng tại cung Ly như nhận giặc làm con nuôi, sau sẽ bị chúng cướp đoạt gia tài, đóng tại cung Khảm như kẻ gian rình mò trong đêm tối tự tung tự tác, đóng tại hai cung Cấn Khôn như kết liên gian đang, sẽ bị họa diệt tộc.

    - Lục sát (Văn khúc) đóng tại hai cung Càn Đoài giống như kẻ phỉnh nịnh, gian ác, đào tường khoét vách. Đóng tại cung Cấn giống như đôi vợ chồng xấu xa bệnh hoạn. Đóng tại 2 cung Chấn Tốn giống như cô trinh nữ mà thất tiết, tấm thân ô uế, đóng tại cung Khảm giống như phường trên bậc trong đầu. Đóng tại cung Ly giống như ở cùng với mụ vợ ghen tuông, suốt ngày la hét.

    Luận về sự khác biệt giữa sơn cốc và thành thị:

    Xét về dương trạch phải phân biệt rõ là nơi đó thuộc thôn quê có núi non sông nước hay thành thị đất chật người đông. Nếu ở nơi sơn cốc, thời lấy núi non làm chủ và nhà phải theo pháp long, chân khí hùng tráng, núi non nước bọc như vậy tất được đại phát. Còn ở thành thị phải theo trạch pháp, nghĩa lại cổng mở theo các phương chủ và táo đều cần hướng hợp, được như vậy sẽ hiệu nghiệm nhãn tiên chí trong vòng 3 năm được cát lợi.

    Phương vị của Cửu tinh sinh vượng:

    - Tham Lang cư bắc chủ vinh xương (Tham Lang ở Khảm tốt)

    - Cự môn đáo Hỏa tử tôn cưỡng (Cự Môn ở cung Ly tốt)

    - Vũ khúc tới nghi lâm Thổ vị (Vũ Khúc ở Cấn Khôn tốt).

    - Các cứ bản vị diệc sinh tưởng (mỗi sao đóng ở phương vị, thuộc hành của mình cũng rất tốt, như Vũ Khúc tại Càn).

    - Duy hữu Lục Sát Văn khúc Thủy (chỉ có sao Văn Khúc thủy).

    - Trung ương thụ chế bất vi ương (đóng tại cung Thổ như Khôn Cấn không gây tai họa).

    Ảnh hưởng Cát hung của Cửu tinh:

    - Phục vị và Thiên Ất không gây tai họa.

    - Diên Niên và Sinh khí đều là điều lành.

    - Ngũ quỷ là Liêm Trinh nếu gặp phải thời tổn thương nhân khẩu và nhiều tai họa.

    - Lục sát là Văn khúc thuộc Nhâm Quý Thủy, gây tổn thương gia súc và nhiều nổi kinh hoàng.

    - Tuyệt mạng gây tổn thương nhân khẩu.

    - Họa hại cũng gây những sự chẳng lành.

    - Tham Lang tức sinh khí có lợi cho quan lộc.

    - Vũ Khúc tức Diên Niên, tuổi thọ cao.

    - Phụ Bật tức Phục vệ, mọi sự đều tốt.

    - Cự Môn tức Thiên Ất, có lợi cho tài lộc.

    - Liêm Trinh tức Ngũ quỷ, hay bệnh tật.

    - Phá Quân tức Tuyệt mạng, nhiều tai ương.

    - Lộc Tồn tức Họa hại, tổn thương nhân khẩu.

    - Văn Khúc tức Lục Sát, nữ nhân bị tổn thương.

    - Sao Tham Lang thuộc Mộc đóng tại các cung Khảm Ly Chấn Tốn là đắc vị, phát phúc bền lâu. Đóng tại các cung Càn Đoài là nội khắc, tại các cung Khốn Cấn là Ngoại chiến.

    - Sao Diên Niên thuộc Kim, đóng tại 2 cung Càn Đoài là đắc vị, tại cung Khôn Cấn là được sinh khí, tại cung Ly là Nội khắc, tại 2 cung Chấn Tốn là Ngoại khiến.

    Ở sơn cốc thời phương hướng là riêng mình, còn ở thành thị là của chung của nhiều người.

    Miếu tinh phương vị:

    Miếu tinh tức là Thiên tinh. Vậy Thiên tinh là gì? Trên thì ứng với tinh tú trên trời dưới ứng với họa phúc trong cõi nhân gian, Miếu tinh gặp phương tinh thời hung, ở phương cát thời cát, Cát phương là gì? Tức là Tam cát, Lục tú. Các phương Hợi, Chấn Canh là Tam cát, Các phương Càn Bính Tốn Tân Đoài Đinh là Lục Tú. Tam cát là phương tài lộc, Lục tú là phương Văn học thi cử, Khi Miếu vũ dành chừa đặt đúng phương Tam cát hay Lục tú thời phần an vật thịnh. Tại đế thánh thời lấy đại dương làm chuẩn. Ngoài ra, như các miếu vũ tên tuổi Đông Nhạc, Văn Xương, Tam Quan, Nhị Lang đều cát, không hung. Đặc biệt ở những ngã tư đường không nên xây cất đền miếu. Nếu phạm vào Mậu Kỷ Sát, tất bất lợi.

    Phương vị của tháp bút:

    Nói chung những nơi đô thành tỉnh thị, phủ huyện mà trong vùng ít người đậu đạt, thi cử khó khăn chật vật, thời nên chọn 4 phương vị Giáp, Tốn, Bính, Đinh trên đó xây những ngọn tháp gọi là văn bút phong, cần cao hơn các sơn khác. Như vậy vùng đó sẽ phát khoa bảng. Ngoài ra có thể cất tháp ở trên ngọn núi, hoặc ở núi đất phẳng thời xây tháp thật cao, văn học sẽ phát.

    Bát phương miếu tinh:
    Nhất hạch hữu thiện tinh, điên cuồng to dâm loạn sinh - Nhị hắc hữu Thiên tinh, phú quý vượng nhân đinh, Tam bích hữu Thiên tinh, phát khoa tại trạch trung. Tứ lục hữu thiên tinh, gia phú quý tử sinh. Lục bạch hữu thiên tinh, phú hào khoa giáp đăng. Thất xích hữu Thiện tinh, trạch trung vô lỗ công, tuy nhiên phát khoa giáp, dản khủng vô nhân đinh. Bát bạch hữu Thiên tinh, hào tuấn xuất kỳ anh, phú quý thùy kham địch, hộ hộ tung thống bình, Cửu tửu tử hữu Thiên tinh, hoạc mục hựu tuyệt ông, tây phương nhược vô bộ, đồng biến khuyết nhân đinh. Nhất bạch dâm dục tiểu cát tường, nhị hắc vô tây hể đông xương, tam bích đăng khoa phục thọ trường, tứ lục kim bảng hề phú cườn, lục bạch Thiên tứ phú quý hương, chất xích tú lệ hể cô sương, bát bạch phúc lộc thọ phân phương, cửu tử nhãn tật hể tử vong, cánh hưữ ngũ hoàng mầu kỳ phương, Thiên tinh như lâm hề tai ương, thử trung âm dương nguyên diệu tàng, tham bát thấu hề danh hề dương.

    St
    Cây cao thì gió càng lay
    Càng cao danh vọng càng đầy gian nan

  11. #51
    Join Date
    Jun 2005
    Location
    Valley of Love
    Posts
    870
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phong thủy và sức khỏe

    MÔN-CHỦ-TÁO


    Tam nguyên Mệnh Quyết

    Chủ yếu của bài quyết này nói về mối tương quan giữa mạng nguyên của Trạch chủ và Bát quái phương vị, tức là Đông tứ trạch và Tây tứ trạch, Mạng nguyên thời căn cứ vào năm sinh như sinh năm Giáp Tý, Ất Sửu. Đặc biệt, xem về dương trạch, không phải chỉ đích thuần xét người đó thuộc tuổi nào mà còn phải biết tuổi đó thuộc Thượng Nguyên, Trung Nguyên hay Hạ Nguyên. Mỗi nguyên được ấn định là 60 năm.

    Ví dụ: Thượng Nguyên Giáp Tý gồm những người sinh từ năm 1864 đến 1923 tức là năm Quý Hợi.

    - Trung Nguyên Giáp Tý gồm người sinh từ năm 1924 đến 1983 tức là năm Quý Hợi.

    - Hạ Nguyên Giáp Tý gồm những người sinh từ năm 1984 đến 2043 tức là năm Quý Hợi.

    Trong nguyên bản có ghi là năm Giáp Tý thuộc năm Khang Hy thứ 23, là thời xa xưa, do đó dịch giả căn cứ vào dương lịch để độc giả tiện tham khảo. Nhưng cũng phải lưu ý, Tết dương lịch thường đến trước Tết âm lịch khoảng hơn một tháng, nên mặc dù sinh vào tháng 1/1924 nhưng vẫn thuộc tuổi Quý Hợi của Thượng Nguyên.

    Bài Tam nguyên Mệnh Quyết là một bài thơ gồm 28 chữ, nguyên văn như sau:

    - Thượng Nguyên Giáp Tý Nhất cung Khảm.

    - Trung Nguyên khởi Tốn, Hạ đoài gian.

    - Thượng Ngũ, Trung Nhị, Hạ Bát Nữ.

    - Nam nghịch nữ thuận khởi căn nguyên.

    Bài quyết này được coi như một công thức để tính Mạng nguyên của trạch chủ đối với phương vị của Bát quái, có thể giảng diễn như sau:

    Các tuổi thuộc Thượng Nguyên Giáp Tý thời khởi từ cung Khảm thuộc số 1. Các tuổi thuộc Trung Nguyên Giáp Tý khởi từ cung Tốn tức số 4, các tuổi Hạ nguyên Giáp Tý khởi sự cung Đoài tức số 7, cách tính đi lần lượt Tý Sửu Dần Mão, tuổi gặp cung nào tức là mạng Nguyên nằm tại cung đó. Đặc biệt những con số biểu tượng trên khác hẳn với các số của tiền thiên bát quái, sau đây là biểu đồ trên bàn tay.


    Khảm : số 1 cung Dần

    Khôn : số 2 cung Mão

    Chấn : số 3 cung Thìn

    Tốn : số 4 cung Tỵ

    (1) : số 5 cung Ngọ

    Càn : số 6 cung Thân

    Đoài : số 7 cung Dậu

    Cấn : số 8 cung Tuất

    Ly : số 9 cung Hợi.


    (1) số 5 tuy có cung nhưng không thuộc quẻ nào.

    Việc tính mạng nguyên thời căn cứ theo các số đã chỉ định ở trên để khởi cung, Nam thời đi nghịch, Nữ đi thuận. Sau đây là các ví dụ:

    Nam: - Tuổi Giáp Tý, sinh năm 1864, khởi từ cung Khảm (tức cung Dần) chữ Tý năm ngay tại cung Khảm, vậy Mạng nguyên số này hợp với cung Khảm tức là thuộc Đông tứ trạch.

    - Tuổi Ất Sửu, sinh năm 1865, tính nghịch (bỏ hai cung Sửu Tý) tính nghịch chuyển sang cung Hợi thuộc quẻ Ly, số 9, vậy tuổi Ất Sửu nằm tại cung Ly cũng thuộc Đông Tứ trạch.

    Trên đây đểu thuộc nam mạng, Thượng nguyên.

    Nữ: - Tuổi Giáp Tý, sinh năm 1864, khởi ở số 5 (có cung nhưng không có quẻ), (sẽ giải thích sau).

    - Tuổi Ất Sửu, sinh năm 1865, khởi số 5 đi thuận tiếng sang số 6 tức cung Càn, vậy mạng nguyên này nằm ở cung Càn thuộc Tây Tứ trạch.

    Trên đây đều thuộc Nữ mạng - Thượng nguyên - Kế đến sẽ xét các tuổi nam nữ thuộc Trung Nguyên:

    Nam: - Tuổi Giáp Tý sinh năm 1924, khởi tự cung Tốn tức số 4 (tại cung Tỵ), chữ Tý nằm ngay tại cung đó, vậy tuổi này hợp với cung Tốn thuộc Đông tứ trạch.

    - Tuổi Ất Sửu, sinh năm 1925, khởi tự cung Tốn đi nghịch về cung Thìn thuộc cung Chấn số 3. Mạng này hợp với cung Chấn.

    Nữ: - Tuổi Giáp Tý, sinh năm 1924, khởi tự cung Khôn, tức số 2 chữ Tý đóng tại cung này, vậy mạng nguyên hợp với cung Khôn thuộc Tây tứ trạch.

    - Tuổi Ất Sửu, sinh năm 1925, khởi tự cung Khôn đi thuận, đến cung Thìn thuộc quẻ Chấn số 3.

    Trên đây là nữ mạng, thuộc Trung Nguyên. Kế đến là các tuổi Hạ Nguyên nam và nữ.

    Nam: - Tuổi Giáp Tý sinh năm 1984, khởi tự cung Đoài, số 7, chữ Tý nằm ngay tại đây, vậy mạng này hợp với cung Đoài thuộc Tây tứ trạch.

    - Tuổi Ất Sửu, sinh năm 1985, khởi tự cung Đoài đi nghịch về số 6 tức cung Dần.

    Nữ: - Tuổi Giáp Tý sinh năm 1984, khởi tự cung Cấn tức số 8, chữ Tý nằm ngay tại cung Cấn, vậy mạng này hợp với cung Càn thuộc Đông Tứ trạch.

    Đây là biến cố Cửu cung, Bát quái, tất cả có 9 cung nhưng chỉ có 8 quẻ, do đó khuyết một quẻ là số 5, vậy khi tính thuận nghịch mà đến đường số 5, thời đàn ông lấy số 2, đàn bà lấy số 8 để thay thế. Đó là áp dụng câu thơ: Nam Ngũ Ký Nhị, Nữ ký Bát.

    Tam nguyên mệnh quyết đã được trình bày như trên để tìm mạng nguyên của trạch chủ hợp với phương hướng. Nhưng cách này hơi chậm vì gặp những tuổi Nhâm Tuất hay Quý Hợi thời phải đi hết 5 vòng là 60 tuổi mới tới, dễ bị lầm lẫn và mất thì giờ. Vậy có một biện pháp (phép tính nhanh) để tính cho mau và đỡ sai lầm. Căn bản của phép này dựa vào Lục giáp: xin lấy Trung nguyên Giáp Tý làm ví dụ, vì Trung Nguyên thường gặp hơn là Thượng nguyên và Hạ nguyên so với thế hệ của ta hiện nay.

    - Con nhà Giáp Tý khởi tại Tốn đi nghịch đến tuổi Quý Dậu – tính chữ Tý tại cung Tốn - đến năm sinh.

    - Con nhà Giáp Tuất khởi tại cung Chấn đến tuổi Quý Mùi – tính chữ Tuất tại cung Chấn đến năm sinh.

    … vẫn theo nguyên tắc nam nghịch nữ thuận như bài quyết đã nói rõ.

    Ví dụ tuổi Quý Mùi thuộc con nhà Giáp Tuất, lấy chữ Tuất để vào cung Chấn (Thìn) chữ Hợi để vào cung Khôn (Mão) và sẽ đến chữ Mùi tức là mạng đến cung Chấn số 3 (khi đếm đến cung Dần thời nhớ bỏ qua 2 cung Sửu, Tý, tiến ngay sang cung Hợi. Cách tính tương đối phức tạp. Dịch giả sẽ làm một bản lập thành bổ túc ở phần cuối cùng).

    Phương pháp khảo sát về Nha thự:

    Nha thự và công đường là nơi công sớ để giải quyết mọi việc cho dân, thi hành chính lệnh và pháp lệnh, do đó cần có phương hướng thích hợp, sáng sủa không sai phạm vào các lỗi lầm như Đông Tây, hỗn loạn, Môn chủ tượng khác… thời việc thi hành pháp lệnh mới được dễ dàng, dân chúng thuận tòng.

    Xét về Nha Thự, công sớ thời phải lấy đại đường làm chủ, nơi này cần nhất là được cao ráo sáng sủa, khoáng đạt. Về phương vị, cần gặp các cát tinh như Tham Lang, Diên Niên, Thiên Ất. Được vậy thời vị chỉ huy sẽ giải quyết mọi việc sáng suốt, phân xử công minh. Thứ đến là phải xét đến đại môn tức là cổng ra vào nơi công đường, cần nhất phương vị phải tương sinh với đại đường. Được vậy, dân chúng trong vùng hiền hòa, đôn hậu, sống lượng thiện, biết tôn trọng pháp luật và những viên chức đại diện cho chính quyền. Xét về Nha thự, tất phải xét đến bếp trước, vì nơi đây được coi là Lộc vị. Nếu bếp được hướng tốt, thời công danh mau tiến. Bếp gặp hung sát thời hay sinh mọi chuyện rắc rối phiền phức. Tóm lại, muốn được công danh thuận lợi phải được cả 3 trọng điểm Môn - Chủ - Táo ở phương vị tốt và tương sinh hoặc tỵ hòa mới coi là đại cát.

    Sau đây là những đặc điểm cần chú ý khi khảo sát:

    - Nếu viện được coi là Tĩnh trạch thời cứ việc áp dụng bài ca Du niên mà tìm phương vị tốt xấu. Nếu là Đông trạch gồm 2, 3, 4 đến 5 phòng, nên áp dụng theo Đông trạch, dùng đơn kim đơn mộc, xảo phiên bát quái. Nếu thuộc về Biến trạch, có từ 6 đến 10 phòng phải dùng song kim song mộc hoặc song thổ vẫn ứng dụng xảo phiền Bát quái, Hóa trạch có từ 11 đến 15 phòng cũng áp dụng theo cách đó.

    - Đại đường hay công đường cần phải xây cất trên nền cao, ngay thẳng, rộng lớn, sáng sủa. Như vậy, người chỉ huy sẽ sáng suốt, làm việc theo lương tâm, xử đoán công minh. Rất kỵ ở hai bên hông mở cửa thông ra ngoài, cách này gọi là “Tứ thú trương khẩu”, trong vùng thường xảy ra án mạng, nhiều chuyện vu cáo lôi thôi. Ngoài ra, hai phía trước và sau không nên xây cất thêm phòng nhỏ, cách này gọi là “Nhị quỷ đài kiện”, người chỉ huy hay bị chuyện dèm pha màng lụy, kẻ phục địch thời phản trắc.

    - Ở các nơi đại môn, Nghi môn (qua đại môn tới nghi môn kể từ ngoài đi vào) và nơi hoãn cách (nghỉ ngơi) rất kỵ dựng bia đá, vì hay gặp khẩu thiệt thị phi, kiện tụng, kháng tỗ… Vì dựng bia đá hai bên khi nhìn giống như hai răng nanh của hổ.

    Trái lại, trước công đường, dựng bia ở hai bên, đối lập với nhau thời đó lại là điều tốt, ví như tay trái, tay phải đều cầm, hốt ngà, biểu tượng sự trung nghĩa và cầm quyền lớn. Nếu đặt bia ở 2 bên đầu cổng vào ở 2 phía đông tây cũng rất tốt, thường có những bậc danh nho, cao sĩ trị dân, trên dưới hòa mục. Ở nơi Nghi môn, nếu dựng bia, thời sinh ra những kẻ sĩ điên ác.

    - Phía trước đại đường nên rộng rãi vuông vắn thuộc hình thổ hay kim, thời dân gian no ấm, kẻ sĩ thuần lương. Nếu có những đống đá gạch hoặc cây cối um tùm che khuất, ngăn trở, thời hay sinh những kẻ xúi dục, kiện tụng, mọi việc không tốt. Nếu trước công đường mà có khoảng đất vừa hẹp vừa dài giống như đầu rắn cổ vịt, thời nhân dân cũng khổ. Ngoài cửa Nghi môn cũng cần được rộng rãi, vuông vắn, không nên nhỏ hẹp như đầu rắn, cổ vịt.

    - Có 3 nơi biểu tượng uy quyền là Đại đường, Nghi môn và Đại môn, nơi đây xuất pháp chính lệnh, cần nhất phải oai nghiêm, sáng sủa, đẹp đẽ, vuông vắn. Nếu một trong 3 trọng điểm trên bị lệch lạch, phá khuyết thời làm quan phải phá tài, làm dân thời cùng khổ.

    - Trước đại môn cũng cần được rộng rãi, khoáng đạt, thời vị quan tướng mới được công danh thuận lợi, và những kẻ phục dịch thuộc cấp mới hết lòng làm việc. Nếu thấp nhỏ, méo lệch, phá khuyết thời nha dịch cùng khổ hay làm bậy, dân chúng nghèo đói hoang tàn.

    - Trước công đường cho đến đầu cổng, ở phương Đoài, không nên đặt Hỏa lò, đá mài và các vật dụng có hình thức dữ dằn. Phòng ốc không nên để vỡ nát, nghiêng lệch hoặc có đường đi trực xạ. Ngoài ra cũng rất kỵ những nhà cửa của dân gian xây cất quá cao án ngữ ngay đại môn.

    - Trước đại môn, hai bên có thư phòng của Nha lại làm việc cũng cần ngay ngắn, cửa lớn cửa nhỏ đều phải chỉnh tề. Về kiểu mẫu tổng quát, trước công đường cần khá rộng, như vậy sẽ có những bực trung thần nghĩa sĩ, dân chúng hiền lương, cuộc sống phú túc.

    - Tại Nghi môn cũng cần trước hẹp sau rộng giống thế hình, tường cao ráo. Nha dịch giỏi, có khả năng.

    - Sau đại đường là Nhị đường, tam đường, Nội viên… đều cần trước hẹp sau rộng mới đúng cách. Hai bên là thư viện phòng khách cũng cần trước hẹp sau rộng đều chủ phát phúc lâu dài. Nếu đặt bếp trà (nơi pha trà) ở các phương vị gặp Tham Lang Diên Niên hay Thiên Ất cũng ít tốt, sinh con hiền cháu thảo. Nếu an tại các phương, Ngũ quỷ thời kẻ tôi tớ hầu hạ sinh ra gian trá, trộm cắp, bỏ trốn.

    - Phòng khách cần sáng sủa, ngay thẳng, cửa mở theo chính diện tốt. Nếu mở cửa thông hai bên hoặc ở góc gọi là “Tứ thú trương khẩu”, thời hay gặp những vụ án tìm không ranh manh mối, dân chúng kháng cáo, khẩu thiệt thị phi.

    - Nhị đường, tam đường cũng phải ngay ngắn, sáng sủa, bếp phải đặt ở phường sinh khí, Diên Niên hoặc Thiên Ất mới có lộc, vợ nội trợ đảm đang. Nếu trong viện có gạch ngói chồng chất bừa bải thời trong nhà hay có người đau mắt, chết trẻ gỗ thời hay sinh khẩu thiệt.

    - Tại Nha thự, đại môn và Nghi môn, nếu có tường hai bên phải ngang với cổng, không nên quá thấp. Nếu quá thấp gọi là “Lậu kiên” quan dân nha địch đều cùng khổ, nếu méo lệch, thời hay bất hòa với cấp trên, nha dịch tác tệ, hay xảy án mạng.

    - Chuồng ngựa ở trong Nha thự (văn thự hay võ thự) cũng phải an ở các phương Sinh khí, Diên Niên, Thiên Ất thời ngựa mới khỏe mạnh, mập mạp, đó là cách “Dịch mã thôi quan”, thăng chức mau chóng. Nếu đặt ở phương ngũ quỷ thời ngựa ốm yểu chết chóc, hoặc thất lạc. Công văn cũng hay thất thoát.

    - Địa thế của Nhạ Sớ cũng cần ngay thẳng rộng rãi, trước hẹp sau rộng. Đó là cách “khẩu khẩu nha thự” vào nhiều mà ra ít, quan dân đều phú túc.

    - Nha thự được xây cất Tý Sơn Ngọ hướng, Nhâm Sơn Bính hướng, Quý Sơn Đinh hướng, thời không nên đặt bếp ở phía đông bắc (Cấn Thổ) như vậy người giúp việc thường hay trộm cắp hay đào tẩu, tỳ thiếp hay làm chuyện dâm bôn, Quan hay sợ vợ, dân thời ưa kiện cáo, những chuyện này xảy ra là do lỗi lầm cách khai môn và an táo. Nha thự nằm phương khảm, cửa mở phương ly, đặt bếp tại cung cấn, thời thiếp bất phục thế, phụ nữ gây chuyện ồn ào. Nếu Nha thự ở phương Khảm, bếp đặt ở phương Tốn, đối nội, vợ hiền đức, tỳ thiếp đúng đắn. Đối ngoại, Nha dịch trung thành, thượng cấp vui vẻ.

    st
    Cây cao thì gió càng lay
    Càng cao danh vọng càng đầy gian nan

  12. #52
    Join Date
    Jun 2005
    Location
    Valley of Love
    Posts
    870
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phong thủy và sức khỏe

    MÔN-CHỦ-TÁO


    ............1. Lớp ngoài cùng là Phá Quân Kim.

    2. Lớp thứ nhì là Văn Khúc Thủy.

    3. Lớp thứ 3 là Sinh khí Mộc, cao lớn.

    4. Lớp 4 là Ngũ quỷ, Hỏa, thấp.

    5. Lớp 5, Cự Môn, Thổ.





    Nếu luận về Môn, Chủ, Táo thời thự này không tốt. Nếu luận về tứ chính phiên Kim, thời lớp thứ 5 là Cự môn thổ đến cung Đoài được cung và sao tương sinh, như vậy là cát tinh, đắc vị, hung sát phải thoái phục, lại được chủ táo tương sinh, chủ về sơ vận, thăng quan tiến chức. Nhưng để lâu thời Môn, Chủ, Táo khắc chế lẫn nhau nên trong nhà vợ chồng con cái hay bất hòa, hay sinh chứng đau bụng, ăn không tiêu… Như vậy phải mở cửa theo hướng Càn mới được yên lành. Nói chung, Nha thự phạm vào Áp sát thời tiền cát hậu hung nên cẩn thận.




    Luận về cát hung các Văn, Vũ miễu

    Lý thuyết âm dương đã được phân chia, nếu âm dương không hòa hợp là hung triệu. Nha thự cần hợp quy cách thời văn miếu cũng phải xây cất trên cát địa, tức là Tam cát, Lục tú (đã nói ở trên). Khi xét phương vị, nên đặt La Kinh trước Đại đường. Đến miếu nên đặt ở trên 3 chữ Cấn, Giáp, Tốn. Bên phải cần cao ráo, giống như ngọn bút, cây thương. Bên trái cần trống trải, thoáng đãng, liếc mắt là thấy rõ văn cát khuê lâu ở trên thành. Như vậy sẽ phát về khoa giáp. Tại các phương Tốn, Bính, Đinh có tháp Bút thời phát khoa bảng đại thần. Nói về vũ miếu thời nên đặt trên 3 phương Hợi, Canh, Đinh là đắc địa. Nếu ở các phương Bính, Đinh thời phải tọa Nam hướng Bắc. Như vậy được âm dương chính phối, thuộc quẻ Thủy Hỏa ký tế, phát về võ tướng trung thần.

    Khi xây cất văn, võ miếu tối kỵ ở sát ngã tư đường, gần sát Nha thự. Khi lập miếu Thổ địa rất kỵ ở gần Ngã tư, gọi là cách “Mậu Kỷ sát thổ áp trung ương”, khiến dân chúng nghèo khổ, trong vùng hay sinh người lùn, cụt chân tay, mù lòa, bệnh ung thư, câm điếc. Trai gái dâm đảng, thông gian trong nhà. Nếu đặt ở cung Khảm, càng bất lợi. Khảm thuộc Thủy, tương khắc với Thổ, chú về sự yểu vong, góa bụa, chột mắt, tai họa liên miên…

    Luận về phương vị cát hung của Cửu tinh:

    Sau gặp nơi đắc địa, phú quý và đa đinh, nếu gặp Long chân, khí tráng, thời chỉ trong 3 năm là đại phát. Còn phúc lớn hay nhỏ là tùy theo Long mạch lớn nhỏ.

    - Sinh khí Mộc đóng tại Chấn, Tốn, Khảm, Ly Xà đắc vị, phú quý sinh 5 con, tốt những năm Hợi, Mão, Mùi, ngành trưởng đại lợi.

    - Thiện y, Thổ đóng tại các cung Khôn, Cấn, Đoài là đắc vị, phúc lộc sinh 3 con hiếu thảo, ứng với những năm Dậu, Kỷ, Thìn,Tuất, Sửu, Mùi, ngành giữa lợi.

    - Diên Niên, Kim, tại các cung Càn, Khôn, Cấn, Đoài là đắc vị, tốt, chủ binh quyền sinh 4 con, phát vào năm Canh, Tân, Tỵ, Dậu, Sửu ngành út lợi.

    - Ngũ quỷ, Hỏa đại hung, chủ về ma quỷ, kiện tụng, khẩu thiệt hỏa, đạo, sinh 2 con, tai họa vào những năm Bính, Đinh, Dần, Ngọ, Tuất, trưởng phòng bất lợi.

    - Họa hại, Thổ, chủ câm điếc, mù lòa, cùng khổ, góa bụa, tiếu phòng bất lợi.

    - Văn khúc, Thủy, dâm đãng, tự ải, sinh 1 con.

    - Tuyệt mạng, Kim, hay gặp ác tật, yếu chiết, cô quả, phá sản.

    Bốn loại hung tinh này nếu Môn Chủ Táo phạm vào rất nguy hiểm, dù Long chân khí tráng cũng không phát.

    Tổng luận về Dương trạch

    - Tại Kinh độ thời lấy Hoàng điện nội thành làm chủ.

    - Tỉnh thành thời lấy 3 ty, Nha thự làm chủ.

    - Châu huyện lấy công đường làm chủ.

    - Nho học lấy văn miếu làm chủ.

    - Chùa chiền, am viện lấy chính điện làm chủ.

    - Kẻ thân sĩ, dân chúng lấy căn nào cao nhất làm chủ.

    - Một nhà có nhiều hộ ở chung, lấy bếp làm chủ.

    st
    Cây cao thì gió càng lay
    Càng cao danh vọng càng đầy gian nan

  13. #53
    Join Date
    Jun 2005
    Location
    Valley of Love
    Posts
    870
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phong thủy và sức khỏe

    MÔN-CHỦ-TÁO


    Mục này nói về Tây tứ trạch gồm 32 môn, 32 chủ, 32 táo. Một Chủ, một môn phối hợp với 8 táo. Về Tây tứ trạch, Môn, Chủ, Táo gặp Diên Niên là Thượng cát, Thổ Kim tương sinh, phu phụ chính phối, Môn, Chủ, Táo thuộc Thiên Ất là trung cát, dù được tương sinh, ty hòa, nhưng gặp thuần âm thuần dương, nên chỉ được trung cát. Môn, chủ, táo thuộc sinh khí là thứ cát. Nói chung, nếu thuộc Tây tứ trạch thời chỉ có cát mà không có hung, nếu được phối hợp với Tây tứ cung và hợp với Mạng nguyên của trạch chủ thời gia đình thịnh vượng, vợ chồng con cái hòa thuận, tuổi thọ cao. Nếu đã qua một thời gian lâu mà không ứng nghiệm, thời có thể đã ứng nghiệm về quá khứ 3, 4 chục năm về trước.

    I. CÀN

    1). Bàn môn đàn chú: càn càn thuần dương thương phụ nữ, cách này đều thuộc thuần dương Phục vị, sơ vận phát phúc, nhưng thuần dương, bất hóa, dương thịnh âm suy, nếu để lâu phụ nữ yểu vong, cô quả, tuyệt tự.

    Môn chủ phối bát táo:

    Khảm táo, kim bị tiết khí, lúc đầu được tương sinh tốt, lâu thời tán tài, cờ bạc, dâm đãng, tổn thương thê tử, ho suyễn.

    Cấn là Thiên Ất Táo Thổ, tương sinh với Kim, lúc đầu phú quý song toàn, sinh 3 con, lâu năm thời tổn thương phụ nữ, ít con, phải cưới thiếp, vì phạm thuần dương.

    Chấn táo phạm Ngũ quỷ, bất lợi con trưởng, hay bị kiện cáo, hại người hại của, hung tứ, trộm cắp.

    Tốn táo thuộc Lộc tồn Thổ tinh, tương khắc với Môn, tương sinh với Cung, lúc đầu tiểu cát, sau thời phụ nữ đoản thọ, đau lưng, đùi, bụng

    Ly Táo là Hỏa Kim tương khắc, âm thịnh dương suy, nhiều gái ít trai của con không vượng, lâu dần hay có quả phụ. Đau mắt, nhức đầu, ác tật, đàn bà lăng loàn không con.

    Khôn Táo là Diên Niên, Thổ Kim tương sinh, phu phụ chính phối, sinh 4 con, phúc lộc thọ hoàn toàn.

    Đoài Táo tức sinh khí, tỵ hòa với Môn và Chủ, lúc đầu phát tài phát định, lâu ngày phải trùng phú thê thiếp, đàn bà góa bụa, thuộc hạng thứ cát.

    Càn táo cùng tụ hòa với Môn chủ, tam dương đồng cư, sơ vận phát phúc, lâu thời hình thê khắc tử.

    2). Càn Môn Khảm chủ: Thiên Môn lạc thủy xuất dâm cuồng:

    Cách này có tên là Lục Sát, Hung, sơ vận dù có phát tài sau sẽ hình thê khắc tử, góa bụa không con, bại sản.

    Môn chủ phối bát táo:

    Khảm táo thuộc Thủy, Kim bị tiết khí, Chủ về tán tài tuyệt tự.

    Cấn táo tương sinh với Môn là Thiên y, sinh được 3 con nhưng lại tương khắc với chủ, phạm vào Ngũ quỷ khó nuôi con, trai giữa đoản thọ, tuyệt tự, hay mắc các bệnh đau bụng, khí trướng, sưng lá lách.

    Chấn táo đối với Chú là Thiên Y, đối với Môn là Ngũ quỷ, lại thuộc dương, sơ vận khá, nhưng sau đại hung.

    Tốn táo đối với Môn là Họa hại, với chủ là sinh khí, sơ vận Đinh tài đều phát, sau hay mang bệnh đau nhức gân xương, phụ nữ đoản thọ.

    Ly táo là Hỏa kim tương khắc, nam nữ đoản thọ, nữa kiết nữa hung.

    Khôn táo, Đinh tài đều vượng, nhưng Khảm chủ bị khắc, tổn thương trung nam, góa bụa, ngành thứ tuyệt tự.

    Đoài Táo, đông con, đàn bà yểu mạng, lâu ngày sinh ra góa bụa, dâm đãng.

    Càn Táo tỵ hòa với Môn, đối với chủ là Lục sát, đoán theo cách Thiên Môn lạc thủy nói trên.



    3). Càn Môn Cấn chú: Thiên lâm sơn thượng gia phú quý:

    Cách này gọi là Thiên Ất trạch, là phúc thần sinh 3 con nhiều ruộng đất, trong nhà trọng tín ngưỡng, sơ niên giàu có, đông con nhiều của, trai gái hiền lương, nhưng thuần dương bất hóa, lâu năm sẽ khắc vợ hại con, cô quả.

    Môn chủ phối bát táo:

    Khảm táo, thổ khắc thủy, kim bị tiết khí, hay đau bụng, lá lách, hư lao, trẻ con khó nuôi, nam nữ yểu vong, trùng hôn, ma quỷ quấy phá.

    Cấn táo tương sinh với Môn, tỵ hòa với Chủ, điền sản hưng vượng, nhưng tổn thương con gái, hiếm con vì thuần dương.

    Chấn táo phạm Ngũ quỷ tương khắc với Môn và Chủ, tuyệt tự, mắc bệnh phù thủng vàng da, bệnh tỳ, đại hung.

    Tốn táo, Kim, Mộc, Thổ cả 3 tương khắc, đau gân cốt, khắc vợ hại con, bệnh về sinh sản, bệnh phong.

    Ly táo đàn bà hung dữ, chồng sợ vợ, tuyệt tự, bệnh mắt.

    Khốn táo là Diên Niên sinh khí, đại cát.

    Đoài táo tỵ hòa với Môn, tương sinh với chủ, đại cát.

    Càn táo tỵ hòa với Môn, tương sinh với Chủ, sơ niên phát phúc, sau thương thê khắc tử, tuyệt tự, góa bụa, vì là cách thuần dương.

    4). Càn môn chấn chủ: Quỷ nhập Lôi môn thương trưởng tử:

    Cách này gọi là Ngũ quỷ trạch, ngoài khắc trong tai họa mau chóng, kiện tụng khẩu thiệt, hỏa tai, đạo tặc, thường ứng vào số 4, 5, ma quỷ quấy phá, nam nữ yểu chiết, đau bụng, điền sản hao tán, lục súc tổn thương, cha con bất hòa, ngành trưởng tuyệt tự sau đến các ngành khác, đại hung.

    Môn chủ phối bát táo:

    Khảm táo, sơ niên tốt, lâu thời hao người tốn của.

    Cấn táo phát tài không phát định, con nít hay đau ốm.

    Chấn táo là tam dương đồng cự, phạm vào Ngũ quỷ đại hung

    Tốn táo phụ nữ đoản thọ, đau nhức gân cốt, truỵ thai, chết về thai sản.

    Ly táo Hỏa kim tương khắc, đàn ông yểu thọ.

    Khôn táo tương sinh với Môn, tương khắc với Chủ, nữa kiết nữa hung.

    Đoài táo tỵ hỏa với Môn, tương khắc với Chủ.

    Càn táo là tam dương đồng cư, hai Kim khắc Mộc tất là tuyệt diệt, đại hung.

    5). Càn môn Tốn chủ: Càn tốn sản vong tâm thoái thống:

    Cách này gọi là Họa Hại Trạch, sơ niên may mắn được phát tài nhưng sau đàn bà chết sớm, hay bị trộm giặc, kiện tụng.

    Môn chủ phối bát táo:

    Khảm táo không khắc với môn và chủ, sơ niên phát tài Đinh, về lâu không được vượng.

    Cấn táo tương sinh với Môn, tương khắc với Chủ, tuyệt tự, không tốt.

    Chấn táo có tên là Ngũ quỷ, đại hung.

    Tốn táo thời phụ nữ đoản thọ.

    Ly táo phụ nữ chuyên quyền, đàn ông đoản thọ.

    Khôn táo lão mẫu bị yểu vong.

    Đoài thọ nam nữ đều đoản thọ.

    Càn táo tỵ hòa với Môn tương khắc với Chủ, thương thê khắc tử.

    6). Càn Môn Ly Chủ: Càn Ly của cư sinh nhân tật:

    Cách này gọi là Tuyệt mạng Trạch, ông già bị lao tật, đoản thọ, hoa mắt nhức đầu, xung độc, tán tài, trộm giặc, góa bụa, tuyệt tự.

    Môn chủ phối bát táo:

    Khảm táo tán tài, khắc thê, dâm đãng.

    Cấn táo, con cháu hiền lương, phụ nữ hung dữ.

    Chấn là Ngũ quỷ táo, đại hung.

    Tốn là Họa hại táo, vợ lớn bị khắc, trụy thai, chết yểu vì thai sản.

    Ly táo tương khắc với Môn, hung.

    Chấn táo tương sinh với Môn, nữa cát nữa hung.

    Đoài táo tụ hòa với Môn, tương khắc với Chủ, hung.

    Càn táo tỵ hòa với Môn, tương khắc với chủ, không tốt.

    7). Càn môn Khôn chủ: Thiên môn đáo địa chủ vinh hoa:

    Cách này gọi là Diên Niên trạch, Thổ kim tương sinh, phu phụ chính phối, sao và cung tương sinh, được 4 con, cả nhà hòa mỹ, con thảo cháu hiền, phú quý, sống lâu, Vì Diên Niên đắc vị nên gặp phúc hỷ.

    Môn chủ phối bát táo:

    Khảm táo bị khó khăn, trung nam đoản mạng, đau bụng không tốt.

    Cấn táo tương sinh với Môn, nam nữ hiền lương, đại cát.

    Chấn táo tương khắc với Môn và Chủ, đại hung.

    Tốn táo tương khắc với Môn (Kim khắc Mộc) và tương khắc với chủ (Mộc khắc Thổ), những bậc lão mẫu, trương phụ bị tổn thọ.

    Ly táo Hỏa, Kim tương khắc, hung.

    Khôn táo đại cát.

    Đoài táo đối với Mộc là sinh khí, với Chủ là Thiên Ất, đại cát.

    Càn táo tương sinh với Môn và Chủ, đại cát.

    8). Càn Môn Đoài chủ: Thiên trạch tài vương đa dâm loạn:

    Cách này gọi là sinh khí trạch. Lão ông và thiếu nữ tương phối, sơ niên phát phú phát quý, có con và sống lâu. Lâu ngày sẽ trùng thú thê thiếp, đàn bà góa coi nhà, thứ cát.

    Môn chủ phối bát táo:

    Khảm táo, thủy tiết kim khí, tuy sinh mà không sinh, tán tài, tuyệt tự, khắc thê, dâm đãng.

    Cấn là Thiên Ất táo, đại cát.

    Chấn là Ngũ quỷ táo, đại hung.

    Tốn táo là họa hại, phụ nữ sản vong, đau nhức xương cốt.

    Ly táo là Hỏa kim tương khắc, trai gái đoản thọ, tán tài, đại hung.

    Khôn táo đại hung

    Đoài táo tỵ hòa với môn, đại cát.

    Càn táo dương nhiều âm ít, phụ nữ yểu vong, ở góa, dâm đãng thứ cát.

    St
    Cây cao thì gió càng lay
    Càng cao danh vọng càng đầy gian nan

  14. #54
    Join Date
    Jun 2005
    Location
    Valley of Love
    Posts
    870
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phong thủy và sức khỏe

    MÔN-CHỦ-TÁO


    II. KHÔN:

    1). Khôn môn Khôn chủ: Trùng địa có quá chướng gia viên:

    Cách này gọi là Phục vị trạch 2 chủ cùng chung một thửa ruộng làm giàu, ruộng vườn nhiều, sơ niên tiến phát, lâu thời hại con trai, tuyệt tự, phụ nữ làm chủ nhà cửa, bổ khuyết cung càn hay hoặc cung cấn thời tốt.

    Môn chủ phối bát táo:

    Đoài táo với Môn chủ là Thiên Ất, cửa nhà an khang, hiền lành, phát phú quý, lâu thời góa bụa, tuyệt tự, thường phải nuôi con rễ, con nuôi.

    Càn táo là Diên Niên táo đại cát.

    Khảm táo tất bị bại tuyệt, đau bụng, hư hao, tích khối.

    Cấn táo là sinh khí tốt.

    Chấn táo, Mộc thổ tương khắc, hung.

    Tốn táo khắc chủ khắc Môn, nam nữ yểu thọ, đại hung.

    Ly táo là Lục sát, không tốt.

    Khôn táo là tam thổ tỵ hòa, phát tài nhưng hiếm con, góa bụa, nuôi con nuôi.

    2). Khôn môn Đoài chủ: Địa trạch tiến tài tuyệt hậu tự:

    Cách này gọi là Thiên y trạch, đàn bà con gái lương thiện, sơ niên phát phúc, hiền vì âm thịnh dương suy, để lâu thời đàn ông yểu mạng, con trẻ khó nuôi, đàn bà góa cai quản nhà cửa, nuôi con nuôi, quý mến con rể, trong nhà cửa không được trong sạch.

    Môn chủ phối bát táo:

    Đoài táo tỵ hòa với Môn và Chủ và tương sinh, đại cát. Nhưng chủ về tuyệt âm, không có con trai.

    Càn táo là Diên Niên, nhân tài đều vượng, sống lâu vinh hiển.

    Khảm táo với Môn Thổ tương khắc, hung.

    Cấn táo tỵ hòa với Môn, tương sinh với Chủ, đại cát.

    Chấn táo tương khắc với Môn và Chủ, đại hung.

    Tốn ???

    3). Khôn môn Càn chủ: Địa khởi Thiên môn phú quý xương:

    Cách này gọi là Diên Niên trạch, sao và cung tương sinh, Ngoại thổ sinh Nội kim, trai gái cao sang, vợ chồng hài hòa, con cháu đông đúc và hiếu thảo, đại cát.

    Môn chủ phối bát táo:

    Đoài Táo là sinh khí Thiên Ất, mệnh danh là “Tam cát Táo”, đại cát.

    Càn táo tương sinh với Môn, tỵ hòa với Chủ, đại cát.

    Khảm táo tương khắc với Môn Chủ cung.

    Cấn táo là Thiên Ất, sinh khí táo tận thiện tận mỹ.

    Chấn táo tương khắc với Môn chủ, đại hung.

    Tốn táo phạm vào Môn thượng Ngũ quỷ, đại hung.

    Ly táo, họa khắc Cấn Kim, hung

    Khôn táo tỵ hòa với Môn, tương sinh với Chủ, là “Tam cát táo”, đại cát.

    4). Khôn môn Khảm chủ: Khôn khảm trung nam, mệnh bất tổn:

    Cách này gọi là Tuyệt mạng trạch, Thủy bị Thổ khắc đau bụng, tích khối, phù thủng vàng da, trung nam đoản thọ, góa bụa, điền sản phá bại, trộm giặc, điên cuồng, kiện tụng, nghành nhì bị tuyệt tự trước, rồi đến các ngành khác.

    Môn chủ phối bát táo:

    Khảm táo tương khắc với Môn, Hung.

    Cấn táo khắc chủ, nhân đinh không vượng, hung.

    Khảm táo tương khắc với Môn, hung.

    Cấn táo, khắc chủ, nhân định không vượng, hung.

    Chấn táo, mộc thổ tương khắc, hung.

    Tốn táo với Môn phạm Ngũ quỷ, hung.

    Ly táo với Chủ, Chính phối, với cửa sinh mà không sinh, nữa cát nữa hung.

    Khôn táo tỵ hòa với Môn tương khắc với Chủ, xấu.

    Đoài táo, nam nữ đoản thọ.

    Càn táo sơ niên hơi tốt, lâu thời dâm đãng, bại tuyệt.

    5). Khôn môn càn chủ: Địa môn thổ trong điền sản túc:

    Cách này gọi là Sinh khí trạch hai thổ tỵ hòa, chung ruộng làm giàu, lục súc nhiều, con cái sống lâu và đông đúc, hiếu thảo, lâu năm thời hay gặp tai họa, thứ cát.

    Môn chú phối bát táo:

    Khảm táo tương khắc với Môn chủ, đại hung.

    Cấn táo tỵ hòa với Môn và Chủ, tốt.

    Chấn táo, Mộc thổ tương khắc, hay bị chứng vàng da phù thủng, tỳ vị yếu, nam nữ yểu thọ, tuyệt tự không tốt.

    Tốn táo phạm vào Ngũ quỷ, lão mẫu đa tai, bị bệnh hoàng thủng, da vàng phù thủng, chết vì thai sản, bệnh hoạn, trộm giặc, âm thịnh dương suy, phụ nữ nắm quyền.

    Ly táo phạm vào đông tây hỗn loạn, bất tương sinh, Hỏa nóng thời Thổ khô, phụ nữ điêu ác, kinh nguyệt không đều, trẻ con khó nuôi.

    Khôn táo tỵ hòa với Môn chủ đại cát.

    Đoài táo tương sinh với Môn và Chủ, chính phối đại lợi.

    Càn táo là Diên Niên, nhị thổ sinh nhất kim, thọ như Bành Tổ, đại cát.

    6). Khôn môn Chấn chủ: Nhân lâm long vị mẫu sản vong:

    Cách này gọi là Họa hại trạch, Mộc Thổ tương khắc, Mẹ con bất hòa, trước hại của sau hại người, bị bệnh hoàng thủng tỳ vị. Có của không con, có con không của, cả hai không được lưỡng toàn.

    Môn chủ phối bát táo:

    Khảm táo là tuyệt mạng, trong bụng tích khối, trung nam yểu vong.

    Chấn táo tỵ hòa với Chủ tương khắc với Môn, không tốt.

    Tốn táo với Mộc phạm Ngũ quỷ, đại hung.

    Ly táo, nữa cát nữa hung.

    Khôn táo tỵ hòa với Chủ, tương khắc với Môn, không tốt.

    Đoài táo, Kim mộc tương khắc, nam nữ đoản thọ.

    Càn táo với Môn thời tốt với chủ xấu, nữa tốt nữa xấu.

    Cấn táo tỵ hòa với Môn, tương khắc với Chủ, nam nữ bất lợi, khó nuôi con.

    7). Khôn môn Tốn chủ: Nhân lý địa hộ, lão mẫu tử:

    Cách này là Ngũ quỷ trạch, mộc thể tương khắc, lão mẫu yểu vong, phụ nữ bất lợi, thuần âm, ham nhân đoán mạng, bị chứng hoàng thủng, yếu tỳ vị, quan tai khẩu thiệt, dâm loạn, cờ bạc, bại sản vong gia, lúc đầu sinh hai con, sau tuyệt tự, phải nuôi con nuôi.

    Môn chủ phối bát táo:

    Khảm táo tương khắc với Môn, tương sinh với Chủ, nữa cát nữa hung.

    Cấn táo tỵ hòa với Môn, tương khắc với Chủ, hay bị cảnh góa bụa, tuyệt tự, phụ nữ cầm quyền.

    Chấn táo, mộc thổ tương khắc, phụ nữ bất lợi.

    Tốn táo phạm Ngũ quỷ, hai Mộc khắc một thổ, nam nữ yểu thọ, đại hung.

    Ly táo được gọi là Giai thần táo, tham sinh vong khắc, nữa cát nữa hung.

    Khôn táo tỵ hòa với Môn, tương khắc với chủ, hung.

    Đoài táo là tam âm, Kim mộc tương khắc, nam nữ yểu vong.

    Càn táo là Diên Niên, tương khắc với Chủ, phụ nữ đoản thọ.

    8). Khôn môn Ly chủ: Nhân môn kiến họa đa quả mãn:

    Cách này gọi là Lục sát tiết khí trạch, sinh mà không sinh, phụ nữ cầm quyền, nam nhân đoản thọ, trong nhà rối loạn, lâu thời tuyệt tự.

    Môn chủ phối bát táo:

    Khảm táo tương khắc với Môn, không tốt.

    Cấn tạo phát tài, phụ nữ điêu ác.

    Chấn táo khắc Môn sinh chủ, nữa cát nữa hung.

    Tốn táo phạm Ngũ quỷ, không tốt.

    Ly táo, sơ niên phát tài, về sau ít người.

    Khốn Táo tự hòa với Môn, nữa cát nữa hung.

    Đoài Táo với Ly là Ngũ quỷ, đại hung.

    Càn táo tương khắc với Chủ, đàn ông đoản thọ và ở giá.

    st
    Cây cao thì gió càng lay
    Càng cao danh vọng càng đầy gian nan

  15. #55
    Join Date
    Jun 2005
    Location
    Valley of Love
    Posts
    870
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phong thủy và sức khỏe

    MÔN-CHỦ-TÁO


    III. CẤN

    1). Cấn môn cấn chủ: Trùng trùng điệp điệp thê tử thương

    Cách này gọi là Phục vị trạch, hai thổ gặp nhau, nhiều ruộng đất, sơ niên phát tài thuận lợi, lâu thời khắc vợ hại con, người ít, vì thuần dương bất hóa.

    Môn chủ phối bát táo:

    Khảm táo phạm Ngũ quỷ, mọi việc bất lợi, đại hung.

    Cấn táo tỵ hòa với Môn và Chủ, có của mà hiểm người.

    Chấn táo, Mộc thổ tương khắc, thuần dương, khắc vợ, tuyệt tự.

    Tốn táo, ở góa, tuyệt tử, phụ nữ coi nhà, trẻ con bị hoàng thủng tỳ vị suy nhược.

    Ly táo, sơ niên phát phúc, về sau đàn bà hung dữ, gây rối trong nhà.

    Khôn táo tỵ hòa với Môn chủ, tốt.

    Đoài táo là chính phối Diên Niên, thổ kim tương sinh, đại cát.

    Càn táo là Thiên Ất, cha con hiền hòa, nhưng thuần dương thời khắc vợ, tiểu nhi bất lợi, sơ niên tuy phát, phú quý, nhưng về sau tuyệt tự, không tốt.

    2). Cấn môn chấn chủ: Sơn Lôi tương kiến, tiểu nhi tử:

    Cách này gọi là Lục Sát nhập trạch môn, cả 3 cung và sao tương khắc, nội ngoại giao chiến, giả gạo không yên, tán tài, tuyệt tự, bị bệnh hoàng thủng, tỳ vị, sơ niên cùng khổ, có con, nhưng sau khắc vợ, bại tuyệt.

    Môn chủ phối bát táo:

    Chấn táo tương khắc với môn, tán tài bất lợi.

    Tốn táo Mộc khắc Thổ, góa bụa, tuyệt tự, bị phong tật, hoàng thủng, yếu tỳ vị.

    Ly táo, đối với Môn là tiết khí đối với Chủ được sinh khí, cát hung lẫn lộn.

    Khôn táo tỵ hòa với Môn, tương khắc với Chủ, không tốt.

    Đoài táo phát tài, khắc con trai, đàn bà góa cai quan nhà.

    Càn táo với chủ phạm Ngũ quỷ, hung.

    Khảm táo với Môn phạm Ngũ quỷ, đại hung.

    Cấn táo tỵ hòa với Môn, tương khắc với Chủ, không tốt.

    3). Cấn môn Tốn chủ: Sơn lâm địa bộ quá mãn tuyệt.

    Cách này gọi là Tuyệt mạng Trạch, thổ bị Mộc khắc, khó nuôi con trẻ, bệnh tỳ vị, hoàng thủng, phong tật, mẹ góa, con nuôi, nô bộc trốn tránh.

    Môn chủ phối bát táo:

    Chấn táo thổ mộc tương khắc, khó nuôi con trẻ, tuyệt tự.

    Tốn táo, mẹ góa con côi, phải nuôi con nuôi.

    Ly táo phụ nữ chuyên quyền, kinh nguyệt không đều, về sau hay bị bệnh băng huyết.

    Khôn táo tương khắc với Môn, chủ bất lợi cho con trai, đàn bà..

    Đoài táo, kim khắc mộc, phụ nữ yểu vong

    Càn táo, Mộc bị Kim thương, sản vong truỵ thai, gân cốt, đau nhức.

    Khảm táo, với Môn là Ngũ quỷ, hung.

    Cấn táo tỵ hòa với Môn, tương khắc với Chủ, không tốt.

    4). Cấn môn ly chủ: Quý lâm địa hộ phụ nữ cương.

    Cách này là Họa hại trạch, Hỏa mạnh, Thổ khó, âm thịnh dương suy, đàn ông nhu nhược, vợ dữ làm loạn, gia đạo bất hòa, hoặc vợ lẽ đố kỵ, lâu năm tuyệt tự, kinh nguyệt bất đều, băng huyết.

    Môn chủ phối bát táo:

    Cần táo tỵ hòa với Môn, sơ niên phát tài, khá tốt.

    Chấn táo, thổ mộc tương khắc, tuyệt tự không tốt.

    Tốn táo, mộc khắc cấn thổ, ở góa tuyệt tự.

    Ly táo, vợ đoạt quyền chồng và cai quản gia đình.

    Khôn táo tỵ hòa với Môn phát tài.

    Đoài táo, tương khắc với chủ, tuyệt tự, bất lợi, đàn bà chết vì bạo bệnh.

    Càn táo, ly hỏa khắc càn kim, ông già đoản thọ.

    Khảm táo phạm Ngũ quỷ đại hung.

    5). Cấn môn khôn chủ: Sơn địa điền sản đa tiến ích

    Cách này gọi là sinh khí trạch, hai thổ ở chung, chung ruộng làm giàu, gia đạo hanh thông, công danh hiển đạt, con thảo cháu hiền, vợ chồng trường thọ, phú quý vinh xương. Lâu năm thời cung và sao tương khắc, sinh nở khó khăn, bệnh tỳ vị, nhưng nếu vượng Đinh thời vô hại, trạch này thứ cát.

    Môn chủ phối bát táo:

    Chấn táo khắc môn khắc chủ, nam nữ yểu vong, nuôi con khó khăn, kiện tụng khẩu thiệt, gia đạo bất hòa, vì táo khắc ngoài khắc trong.

    Tốn táo, mộc thổ tương khắc, tuyệt tự không tốt.

    Ly táo tuy sinh môn, sinh chủ, nhưng bị tiết khí, đàn bà hung dữ, không tốt.

    Khôn táo tỵ hòa với Môn, Chủ tốt.

    Cấn táo, tỵ hòa với Môn chủ tốt.

    Đoài táo tương sinh với Môn, Chủ, đại lợi.

    Càn táo là Thiên Ất, đại cát.

    Khảm táo đại hung.

    6). Cấn môn Đoài chủ: Sơn trạch, nhân vượng ra phú quý

    Cách này là Diên Niên đắc vị, kim tinh đăng điện. Thổ Kim tương sinh, phu phụ chính phối, niên thiếu đăng khoa, ngoài sinh trọng, phát hoạnh tài, gia súc hưng vượng, ruộng đất nhiều, vợ chồng hài hòa, con thảo cháu hiền, đàn bà đảm đang tuổi thọ cao. Sinh được 4 con, ngành út rất thịnh vượng, cung và sao tỵ hòa, đối với Tây tứ trạch là tốt hạng nhất. Cam La ngày xưa, 12 tuổi làm Tể tướng, sinh trưởng ở nhà như vậy, nếu nhà có 4, 5 lớp thuộc động trạch, cần lớp 4 và 5 cao lớn, phối với Càn táo, đại cát.

    Môn chủ phối bát táo:

    Chấn táo tương khắc với Môn và Chủ hung.

    Tốn táo, phụ nữ đoản thọ, tuyệt tự, không tốt.

    Ly táo tương khắc với Chủ, phụ nữ hung dữ.

    Khôn táo sinh 3 đến 5 con trọn hưởng phúc lộc thọ, mọi việc đều tốt.

    Đoài táo thổ kim tương sinh, vợ hiền nội trợ, sinh con gái thông minh, vì Đoài Kim đắc vị.

    Càn táo là Thiên Ất sinh khí được gọi là Tam cát táo, tương sinh với Môn, tỵ hòa với Chủ, phát phú quý, tuổi thọ cao, đại cát.

    Khảm táo, đối với Môn là Ngũ quỷ, đại hung.

    Cấn táo tỵ hòa với Môn, đại cát.

    7). Cấn môn càn chủ: Sơn khởi Thiên trung tứ quý hiền.

    Cách này gọi là Thiên Ất trạch. Ngoại thổ sinh nội Kim, toàn gia lương thiện, sinh 3 con, phát phú quý, đàn ông sống lâu, tuy nhiên lâu ngày thời thuần dương bất hóa, khắc vợ hại con, cô quả, nuôi con nuôi, thứ cát.

    Môn chủ phối bát táo:

    Chấn táo, Kim khắc Mộc, phạm Ngũ quỷ, Lục sát, đại hung.

    Tốn táo, Mộc Thổ Kim cả 3 đều khắc nam nữ yểu thọ, không tốt.

    Ly táo, Hỏa khắc Càn Kim, góa bụa, tán tài, tuyệt tự đau mắt, ung nhọt.

    Khôn táo tỵ hòa với môn, tương sinh với chủ, đại lợi.

    Đoài táo được Thổ Kim tương sinh, tốt.

    Càn táo tỵ hòa với Chủ, tương sinh với Môn, nhưng thuần dương vô âm, tam dương đồng cụ khắc thê, hiếm con. Khảm táo, với Môn phạm Ngũ quỷ, tiểu nhi yểu mạng.

    Cấn táo tương sinh với Môn và Chủ, thứ cát.

    8). Cấn Môn khảm táo: Quý ngộ uông dương lạc thủy thương

    Cách này là Ngũ quỷ trạch, đầu hà hoặc tự ải, quan tụng khẩu thiệt, trộm giặc hỏa tai, vong gia bại sản, cha con anh em bất hòa, khắc vợ hại con, ngỗ nghịch bất hiếu, trong bụng tích khối đau đớn.

    Môn chủ phối bát táo:

    Chấn táo tương khắc với Môn, bất lợi.

    Tốn táo hay mắc bệnh hoàng thủng, góa bụa không tốt

    Ly táo, ác phụ làm loạn nhà.

    Khôn táo thời trung nam đoản thọ.

    Đoài táo bình yên vô sự.

    Càn táo khắc vợ hại con, tán tài, cờ bạc, dâm đãng.

    Khảm táo tương khắc với Môn, họa từ trên trời giáng xuống, ngoài khắc trong, đại hung.

    Cấn táo tỵ hòa với Môn, tương khắc với Chủ, hung.

    st
    Cây cao thì gió càng lay
    Càng cao danh vọng càng đầy gian nan

  16. #56
    Join Date
    Jun 2005
    Location
    Valley of Love
    Posts
    870
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phong thủy và sức khỏe

    MÔN-CHỦ-TÁO


    IV. ĐOÀI

    1). Đoài môn Đoài chủ: Trạch trong thiếu phụ chướng binh quyền:

    Cách này gọi là Phục vị trạch. Hai kim tỵ hòa, sơ niên phát tài, về sau thuần âm, đàn ông đoản thọ, hiếm người, mẹ góa con côi thứ cát.

    Môn chủ phối bát táo:

    Càn táo là sinh khí, tốt.

    Khảm táo bị tiết khí, tán tài, khắc vợ.

    Cấn táo, phu phụ chính phối, thổ kim tương sinh, đại cát.

    Tốn táo, âm khắc âm, phụ nữ làm loạn, yểu vong, tuyệt tự.

    Ly táo Hỏa khắc Đoài Kim, ma quái vào nhà, đại hung.

    Khôn táo thuần âm, 3 gái ở chung, âm thịnh dương suy, nam nữ đoản thọ, tuyệt tự không tốt.

    Đoài táo tỵ hòa với Môn, có của không con.

    2). Đoài môn càn chủ: Trạch thiên quả mẫu chương tài nguyên

    Cách này gọi là sinh khí trạch, hai kim tỵ hòa, ruộng đất nhiều, người hưng vượng, phụ nữ đoản thọ, trùng thú, thê thiếp sau này hay góa bụa.

    Môn chủ phối bát táo:

    Càn táo là tỵ hòa tốt.

    Khảm táo bị tiết khí tán tài, nam nữ yểu vong.

    Càn táo tương sinh với Môn và Chủ, đại lợi.

    Chấn táo phạm vào ngũ quỷ, kim khắc mộc, yểu vong, góa bụa, hung.

    Tốn táo, Kim mộc hình chiếu, phụ nữ đoản thọ, bất lợi cho vợ lớn, con trai lớn.

    Ly táo khắc môn, khắc chủ, đại hung

    Khôn táo đối với Môn, Chủ là Thiên Ất, Diên Niên, đại lợi.

    Đoài táo, kỵ hòa với Môn, Chủ, tốt.

    3). Đoài Môn khảm chủ: Bạch Hổ đẩu giang lục súc thương

    Cách này gọi là Họa hại tiết khí trạch, sản nghiệp tiêu tan, thiếu phụ chết trẻ, cờ bạc, dâm đãng, ở lâu thời bại hoại tuyệt tự.

    Môn chủ phối bát táo:

    Càn táo tán tài, hại người, không tốt.

    Khảm táo phụ nữ đoản thọ.

    Cấn táo, tiểu nhi yểu vong, tuyệt tự, bất lợi.

    Chấn táo tương khắc với Môn bất lợi.

    Tốn táo, Mộc bị kim khắc, phụ nữ bất lợi.

    Ly táo với Môn phạm Ngũ quỷ, đại hung.

    Khôn táo tương khắc với Chủ, trung nam yểu thọ, góa bụa, hiếm con.

    Đoài táo, phụ nữ đoản mạng, bất lợi.

    4). Đoàn môn Cấn chủ: Trạch sơn tăng phúc, tiểu phòng vinh:

    Cách này gọi là Diên Niên trạch, được cung và sao tương sinh, trai tài gái sắc, trung hiếu hiền lương, gia đạo hòa thuận, phú quý vinh xương, thóc gạo đầy nhà, phát khoa bảng, ngành út rất phát đạt, trai gái đều thọ, trong vòng 4 hoặc 9 năm phát phúc, những năm Tỵ, Dậu, Sửu phát đạt, trong tứ trạch, trạch này tốt nhất.

    Môn chủ phối bát táo:

    Càn táo, sinh khí Thiên Ất đại cát.

    Khảm táo tiết khí của Môn, lại phạm Ngũ quỷ, đại hung.

    Khôn táo là Thiên Ất, sinh khí, đại cát.

    Đoài táo tỵ hòa với Môn, tương sinh với Chủ tốt.

    Cấn táo thổ Kim tương sinh với tỵ hòa tốt.

    Chấn táo tương khắc với Môn và Chủ, hung.

    Ly táo, với Môn, phạm Ngũ quỷ, đại hung.

    5). Đoài môn chấn chủ: Hổ nhập long oa lao trùng khuông:

    Cách này gọi là Tuyệt mạng trạch, mộc vị kim khắc, góa bụa tuyệt tự, trưởng nam trưởng nữ yểu vong, lòng dạ đau đớn, nhức đùi nhức vế, hại chồng khắc con, gia đạo bất hòa, điền sản tiêu tan.

    Môn chủ phối bát táo:

    Càn táo tỵ hòa với Môn, với chủ phạm vào Ngũ quỷ, đại hung.

    Khảm táo chủ thường nam tổn tử, khắc vợ, hung.

    Cấn táo, Mộc thổ kim tương khắc lẫn nhau, bất lợi.

    Chấn táo tương khắc với Đoài, hung.

    Tốn táo, Kim khắc mộc, đàn bà yểu vong, hung.

    Ly táo với Môn, phạm Ngũ quỷ, đại hung.

    Khôn táo tương sinh với Môn, tương khắc với Chủ, bất lợi.

    Đoài táo tỵ hòa với Môn, tương khắc với chủ, hung.

    6). Đoài môn tốn chủ: Hổ phùng hạn địa diệc âm dương

    Cách này được gọi là Lục sát trạch, Mộc bị Kim khắc, như nữ đồng cư, âm thịnh dương suy, khắc chồng hại con, nhân tài bại tuyệt, hay sinh bệnh đau nhức.

    Môn chủ phối bát táo:

    Càn táo Mộc kim tương khắc, phụ nữ đoản thọ, hung.

    Khảm táo tiết khí của Môn, bất lợi.

    Cấn táo tương khắc với Chủ, tiểu nhi bất lợi, góa bụa, hiếm con.

    Chấn táo tương khắc với Môn, nam nữ yểu vong, không tốt.

    Tốn táo là Tam âm đồng cư, tương khắc bất hòa, không vượng Đinh, sơ niên hoặc có phát tài, phải lấy 3 đời vợ mà không con, hung.

    Ly táo phạm Ngũ quỷ, đại hung.

    Khôn táo, với Môn phạm Ngũ quỷ, hung.

    Đoài táo tỵ hòa với Môn, tương khắc với Chủ, bất lợi.

    7). Đoài Môn Ly chủ: Hổ nhập viêm chung thiếu nữ vong

    Cách này gọi là Ngũ quỷ Trạch, âm hỏa khắc âm kim, phụ nữ làm loạn, vợ đoạt quyền chồng, nam nhân đoản thọ, phụ nữ yểu vong, hiếm người, hung tứ, bạn sản tuyệt tự, bệnh ho suyễn, phế lao, nhiều tật bệnh tai ương ma quỷ quấy phá, đại hung.

    Môn chủ phối bát táo:

    Khảm táo tiết khí của Đoài kim, nam nữ yểu thọ, không tốt.

    Cấn táo được bình yên, nữa cát nữa hung.

    Chấn táo kim khắc Mộc, không tốt.

    Tốn táo, Kim Mộc hình thương, bất lợi.

    Ly táo, với Môn là Ngũ quỷ, đại hung.

    Khôn táo, nữa cát nữa hung.

    Đoài táo, với Chủ là Ngũ quỷ, đại hung.

    Càn táo, hỏa kim tương khắc, nam nữ đoản thọ, hung.

    8). Đoài Môn khôn chủ: Trạch địa tài long, di tích cự.

    Cách này gọi là Thiên Ất trạch, Thiên Ất là phúc thần gia đạo hưng long, trong nhà gồm những người hiền lương, trong tín ngưỡng, ưa niệm kinh, âm vượng dương suy, gai nhiều, trai ít, mẹ và con gái hiền lành, yêu gái và rễ, có khi tuyệt tự phải nuôi con nuôi, tiền cát hậu hung.

    Môn chủ Đoài phối bát táo:

    Càn táo là sinh khí, Diên Niên đại cát.

    Khảm táo, nam nữ đoản thọ, hung.

    Cấn táo tương sinh với Môn, tụ hòa với Chủ, mọi sự thuận lợi.

    Chấn táo tương khắc với Môn và Chủ, hung.

    Tốn táo, cả 3 Kim, Mộc, Thổ khắc lẫn nhau, đại hung.

    Ly táo, với Môn là Ngũ quỷ, đại hung.

    Khôn táo tuy tốt nhưng vì thuần âm, có của mà không còn, về sau tuyệt tự.

    Đoài táo, tỵ hòa với Môn, nhưng thuần âm, thương phu khắc tử.

    Phần trên đây thuộc về Tây tứ trạch gồm 32 môn, đều theo Môn mà khởi Du niên, cần xem Chủ phòng cát hay hung. Môn, Chủ, Táo cả ba cần được tương sinh mới gọi là toàn cát, nếu cả ba tương khắc là đại hung, và xem hung cát của táo ra sao, Càn, Khôn, Cấn, Đoài là Tây tứ trạch, nếu Môn, Chủ, Táo đều thuộc Tây tứ trạch, như vậy được gọi là “Tam cát trạch, phát phúc lâu dài”.

    st
    Cây cao thì gió càng lay
    Càng cao danh vọng càng đầy gian nan

  17. #57
    Join Date
    Jun 2005
    Location
    Valley of Love
    Posts
    870
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phong thủy và sức khỏe

    MÔN-CHỦ-TÁO


    Phép xem Đông trạch, Môn khác với hướng Nhà

    Đông trạch đặt môn tại bốn góc Càn khôn Cấn Đoài gọi là tứ hung, thời dùng xảo phiêu bát quái. Từ Chủ phòng qua tọa sơn khởi Du Niên, đến hướng nào và gặp sao nào tức là sao đó. Từ cửa mà tiến các sao theo ngũ hành tương sinh.

    Trường hợp Môn đặt thiên sang một bên, thời phải từ vị, trí của Môn mà khởi Du Niên, tính thuần cho đến chính hướng của Chủ, rồi từ đó tiếp tục phiên tinh, bất luận có phòng hay không, cứ gặp tường hay vách kê là một sao. Ví dụ: Đông trạch, Đoài chủ, Cấn môn. Như vậy, bắt đầu từ cung Cấn khởi Du niên, đến cung Chấn là chính hướng gặp Lục sát, vậy lớp ngoài cùng coi như gặp Lục sát là thủy tinh, lớp thứ nhì, thủy sinh Mộc, tức sinh khí cứ lần lượt theo phép tương sinh mà an sơ. Đó là cách phiên tinh khi cửa đặt thiên sang một bên.

    Cách khởi Du Niên của Tây tứ trạch càn khôn cấn đoài
    Image link is broken

    Bốn biểu đồ trên đều thuộc tây tứ trạch, xét kỹ Môn, Chủ, Táo, táo khẩu, Mệnh cung, đều có thể áp dụng theo bài ca Du Niên đi thuận, để định cát hung. Nếu Ngũ hàanh phối hợp, là nhà nước toàn cát, phúc thọ song toàn. Nếu có một phương vị không hợp, tất nhiên không được tốt. Nếu phối hợp được cả Nam mạng và Nữ mạng thời càng thêm chính xác.

    Sau đây là ba biểu đồ Diên Niên, Thiên Ất, Sinh Khí trạch.

    1. Tốn Sơn càn hướng 2. Cấn Sơn khôn hướng 3. Mão sơn đậu hướng

    Càn Môn, Khôn Chủ, Cấn Khôn Môn, Cấn chủ, càn Đoài Môn, Cấn chủ khôn

    Táo – Diên Niên trạch táo, Sinh khí trạch táo, Diên Niên trạch
    Image link is broken

    1. Càn môn, Khôn chủ, Cấn táo là Diên Niên trạch, Thiên Ất táo, hai thổ sinh càn Kim, nam nữ đều thọ, vợ hiền con thảo, phú quý vinh xương, vượng người vượng của, ngành út rất phát đạt, sinh 4 con, đây là Tam cát trạch.

    2. Khôn, môn, cấn chủ, càn táo, là cánh tứ đầu mẫu hoài, một nhà hòa thuận, hai thổ đồng cư, tài bạch dồi dào. Lão âm và thiếu dương sinh cho càn kim, tuổi thọ cao, công danh hiển đạt, vợ chồng hòa hài, cha hiền con thảo, đây là sinh khí tam cát trạch.

    3. Đông phòng gồm 5 gian, phía bắc có 3 gian cao lớp, phía nam có 2 gian thấp nhỏ, dùng phép Trái cực mà khảo sát ở chính giữa viện phân bổ bát quái ở 3 phòng cao lớn, thiên về phía đông bắc là cung Cấn, vậy nhà này là Cấn chủ, đoài môn, Khôn táo, được gọi là “Ngũ phúc tề toàn tam cát trạch”.

    Tý, Sơn, ngọ hướng, Tốn biến khôn môn, khảo sát bằng địa bàn 3 nơi: Khôn Môn, Khảm chủ, Đoài táo.

    Image link is broken

    1. Đại đường

    2. Nhị môn.

    3. Nơi hạ La bàn xem cửa (Môn)

    4. Hạ La bàn xem Chủ và Táo

    5. Táo phòng.

    6. Hạ La bàn xem Táo

    7. Chủ phòng cao hơn cả.

    Khi phải khảo sát kiểu nhà như trên phải áp dụng Thái cực pháp, nghĩa là ngay phía trong đại môn đặt La bàn xem phương vị của Môn nếu hơi thiên về phía Tây là Khôn Môn. Kế đó hạ La bàn tại Hậu viên xem chủ, nếu là Khảm chủ càn táo, thời lấy cấn táo mà luận. Hai thổ đều khắc Khảm Thủy, như vậy trung nam đoản thọ, nếu bếp đặt ở phía đông viện, như vậy Đoài táo bị tiết khí, phụ nữ yểu vong, cả hai đều không tốt. Nếu không dùng phép đặt La bàn ở 3 nơi, thời nhiều người lầm tưởng rằng khảm chủ tốn môn, sai một ly, đi một dặm.

    Trạch này thuộc Tý Sơn Ngọ hướng đặt thành 3 viện Khôn biến thành Tốn, khảo sát theo phép Thái cực.

    Image link is broken

    1. Đại đường.

    2. Nhị môn

    3. Đặt La bàn nơi này.

    4. Viện này không cần đặt La bàn.

    5. Đặt La bàn nơi này.

    6. Bếp

    7. Phòng này cao lớn hơn cả lấy làm Chủ vị.

    Nhà này tọa bắc hướng Nam, gồm 3 viện, nếu không rành phép xem Thái cực, thời phần lớn cho rằng khảm, chủ, khôn, môn càn táo – mà không biết là bên phải có Tây viện, có nam phòng, đồng thời bắc phòng, không có Tây phòng thời Môn thiên về hía Đông và là Tốn môn, Tốn táo. Nếu thiên đồng là Cấn táo. Chính giữa viện có Tây phòng không có đông phòng, thời phòng trên thiên về phía tây là Càn chủ. Như vậy các viện này đều căn cứ vào chính giữa mà định môn, định chủ, định táo, rồi giới định được cát hung. Nhiều người xem không đúng vì sai lầm ở điểm đó. Vậy phải vẽ hai biểu đồ, để khảo nghiệm.

    Đoài chú cấn môn Tây tứ trạch, nhà thuộc đông trạch 5 lớp, Diên Niên đáo vị, đại cát.

    1. Lục sát thủy, Đại môn Cấn

    2. Sinh khí Mộc.

    3. Liêm trinh Hỏa

    4.Thiên y Thổ

    5. Diên Niên Kim tinh cao lớn làm chủ vị.

    6. Táo.

    Trạch này là Đoài chú, Cấn Môn, Càn táo, thiếu nam thiếu nữ chính phối. Lớp thứ 5 gặp (Động trạch) là Diên Niên đặc vị, đại cát.

    Image link is broken

    Trạch này lớp thứ 5 cao lớn hơn cả nằm tại cung Đoài là “Kim tinh phát diệu, cung và sao tỵ hòa, lại được cấn thổ tương sinh, phát phúc rất mau, thi đỗ, như Càn là 12 tuổi làm tể tướng, phú quý cực phần, thọ hơn 80 tuổi đông con cháu, cả nhà đều nhân nghĩa, ngành út năng phát đạt, vì thiếu nam thiếu nữ đắc vị, sinh con gái thông minh, hiền đức. Theo kinh nghiệm của tôi, kiểu nhà này rất ứng nghiệm kiểu tốt nhất của Tây tứ trạch là kiểu này, ứng vào những năm Tỵ, Dậu, Sửu.

    Những kiểu nhà trên có tính cách lý tưởng, lớp thứ 5 cao lớn gọi Diên Niên đắc vị là tốt nhất. Nhưng nhiều khi vì địa thế không thể kiến trúc như vậy, do đó có một số kiểu sau đây để thực hiện.

    Image link is broken

    Kiểu mẫu số 1: Dậu sơn, Mão hướng, Cấn môn, Đoài chú, Càn táo là Diên Niên trạch

    Trạch này cung và sao tương sinh, ngoài sinh trong phát phúc rất may, gọi là “kim tinh đăng diện”, sinh được 4 con, trước phát ngành út, sau phát các ngành khác, đàn bà đảm đang, phối với càn táo, công danh hiển đạt, con cháu đầy nhà, phúc thọ song toàn, những năm Tỵ Dậu Sửu đại cát, đây thuộc loại Tây tứ trạch tĩnh trạch tốt hạng nhất vậy.

    Kiểu mẫu số 2: Mão sơn, Dậu hướng, càn môn, khôn chủ, cấn táo, Thiên Ất trạch

    1. Đại môn

    2. Tây chủ cao lớn

    3. Đông bếp.

    Trạch này nhà tọa ở phương đông, môn mở cửa hướng tây, phòng ở phía Tây cao lớn, còn 3 nơi khác là đông, nam, bắc thấp nhỏ. Lấy Tây phòng làm khôn chủ, càn môn, cấn táo, tam cát trạch, đại lợi.

    Kiểu mẫu số 3: Mão sơn, Dậu hướng, Càn môn, Cấn chủ, Khôn táo, Thiên Ất trạch

    Nhà này, đường đi theo hướng Nam Bắc, tọa đông hướng tây, phía đông, địa thế cao, phía bắc, phòng cao lớn, là Càn môn, Cấn chủ, Khôn táo, tam cát trạch, đặt la bàn ở giữa viện phân bố bát quái.

    Trên đây đã trình bày 6 biểu đồ, đều thuộc về Tây tứ trạch Diên Niên, sinh khí Thiên Ất, tam cát trạch. Nếu lại hợp với mạng cung của Trạch chủ thời càng tăng thêm sự tốt đẹp. Nếu không hợp cũng vô hại, vì tam cát trạch thuộc Đông tứ mạng hoặc Tây tứ mạng, người trạch chủ vẫn được cát lợi, chẳng qua hợp thời phát lớn, không hợp thì phát nhỏ.

    Luận về trích lê phòng

    Trước thềm đại phòng, nơi nước chảy xuống, nếu cất thêm một phòng nhỏ hoặc cửa nhỏ, gọi là Trích lộ phòng, có câu lý đoán như sau: Đại phòng trích tiểu phòng, nhi tôn khốc đoạn trường. Chủ về việc tiểu nhi yểu mạng, bệnh hoạn khó nuôi, nếu phòng này lại phạm vào Ngũ quỷ, ắt tổn thương đện tiểu nhi, hiếm người, nhà kiểu này rất kỵ.

    Sau đây là một kiểu mẫu tốt về biến trạch, nhà gồm 7 lớp, Cấn chủ, Khôn môn, Càn táo, lớp thứ 6 cao lớn, đây là nhà thuộc biến trạch, có 7 lớp, phải dùng xảo phiên bát quái, song mộc song thổ.

    Trạch này Cấn chủ, Khôn môn, Càn táo, lớp thứ 6 gặp Diên niên, đến cung Cấn, cung và sao tương sinh, Diên Niên đắc vị, trạch chủ đại phát, phú quý, đông người, nam nữ sống lâu, các nhà thuộc biến trạch nên phỏng theo mà xây cất.

    1. Lớp này là đại môn, sinh khí Mộc tinh.

    2. Lớp thứ hai gặp Tả phụ, Mộc tinh.

    3. Lớp thứ ba gặp Liêm trinh hỏa

    4. Lớp 4, họa hại, Thổ tinh.

    5. Lớp 5, Thiên Ất thổ tinh.

    6. Lớp 6, Diên Niên, Kim tinh, cần cao hơn các lớp khác.

    7. Lớp 7, Văn khúc, Thủy tinh môn thấp.

    st
    Cây cao thì gió càng lay
    Càng cao danh vọng càng đầy gian nan

  18. #58
    Join Date
    Jun 2005
    Location
    Valley of Love
    Posts
    870
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phong thủy và sức khỏe

    MÔN-CHỦ-TÁO


    Nhà kiểu B: Trạch này là Khôn chủ, Cấn Môn, Càn táo, nhà biến trạch 8 lớp, dùng phép xảo phiến bát quái song mộc, song thổ, song kim.

    Nhà này, phía sau tọa tại Cung Khôn, nơi đây khởi Du Niên đến Cấn cung là sinh khí Mộc. Lớp đầu tiên là sinh khí Mộc, lớp 2 Phụ Bật mộc, lớp 3 Liêm trinh hỏa, lớp 4 là Họa hại Thổ, lớp 5 Cự môn thổ, lớp 6 Diên Niên kim, cần cao lớn. Lớp 7 gặp Phá Quân kim. Lớp 8 gặp Văn Khúc thủy. Riêng lớp thứ 6 gặp Diên Niên, Kim tinh cần được cao lớn hơn cả, đóng tại cung Khôn, sao và cung tương sinh, đắc địa ngũ phúc tề toàn, đây là kiểu nhà đại cát, nhưng cần phải được phối hợp với càn táo mới chuẩn xác.

    1. Lớp đầu, đại môn sinh khí Mộc tinh.

    2. Lớp 2, tả phụ Mộc tinh.

    3. Lớp 3, Liêm trinh Hỏa.

    4. Lớp 4, Họa hại thổ.

    5. Lớp 5, Thái Ất thổ.

    6. Lớp 6, Diên Niên kim tinh cao lớn hơn cả

    7. Lớp 7, Phá Quân, Kim.

    8. Lớp 8, Văn khúc, Thủy.

    Image link is broken

    Nhà kiểu 4 lớp C: Đoài chủ, Cấn môn, Càn táo lớp thứ 4 cao lớn, có tính cách cứu bàn phát đinh, là một kiểu nhà thượng cát, đồ hình như sau:

    Đoài chủ, cấn môn, Tây tứ trạch, lớp thứ tư cao lớn, cung và sao tương sinh, kiểu này thượng cát.

    1. Ngoài nhất là lớp đầu gặp Luc sát thủy, đại môn.

    2. Lớp 2, sinh khí Mộc.

    2’. Nhà gặp khó khăn có thể xây bức tường cũng được.

    3. Lớp thứ 3, Liêm trinh hỏa.

    3’. Có thể xây bức tường.

    4. Lớp thứ tư cao lớn, coi là chủ phòng, gặp cự môn.

    Image link is broken

    Nhà này lấy lớp thứ tư cao lớn làm chủ vị, từ cửa khởi Du Niên đến hướng tức Chấn cung là Lục sát Văn khúc Thủy, như vậy kể từ cung Chấn Áp dụng xảo phiến bát quái theo từng lớp dựa trên Ngũ hành tương sinh, phiên tinh đến lớp thứ 4 gặp Thiên Ất cự môn Thổ lấy Môn chủ mà luận. Trên Đoài là Diên Niên Kim tinh, tức là Kim tinh đăng điện. Nếu luận theo phiên tinh, Đoài thuộc Kim, đến lớp thứ tư gặp Thiên Ất thổ, thổ tinh kim, tức là sao sinh chung. Nếu chiếu theo biểu đồ này mà sửa sang, châm chước cho đúng kiểu mẫu thời trong vòng 40, 50 ngày sẽ có sự ứng nghiệm tốt lành nhỏ. Trong khoảng 90, 100 ngày tất có sự vui mừng ngoài ý muốn. Trong khoảng 40 đến 90 năm, 100 năm, lúc đó 2 hành kim thổ đều xung mãn khí chất, sẽ phát đạt lớn, phú quý song toàn. Người nối dõi ở nhà này sẽ được 4 con, như vậy có nghĩa là “Vũ khúc kim tinh tứ tứ cường”.

    Về việc xem các kiểu nhà 4, 5 lớp đối với các nhà giàu sang, thời việc sửa sang cho đúng kiểu cách có phần dễ dàng, trái lại đối với những nhà nghèo khổ, tất nhiên gặp nhiều khó khăn. Do đó tôi cũng nghĩ ra một phương cách giản dụ hơn. Ví dụ gặp hoàn cảnh nhà nghèo, chỉ cần 2 điểm cốt yếu là Chủ và Môn phải đúng theo tọa hướng, phương vị của biểu đồ. Ngoài ra từ đại môn trở vào phía trong, chỉ cần đắp hoặc xây 1, 2 bức tường đất hay gạch, nhằm dời đổi thành nhà 4 lớp, chiếu theo biểu đồ mà đặt Môn, Chủ, Táo (Bếp đặt ở phương Càn), như vậy cũng được tiểu phú, tiểu quý, lâu ngày sẽ được đại phú đại quý, đông người, sống lâu, phụ nữ thông minh. Đây thực là cách quý bần thuộc Tây tứ trạch được coi như tốt nhất vậy.

    st
    Cây cao thì gió càng lay
    Càng cao danh vọng càng đầy gian nan

  19. #59
    Join Date
    Jun 2005
    Location
    Valley of Love
    Posts
    870
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phong thủy và sức khỏe

    MÔN-CHỦ-TÁO III

    Trọng tâm của mục này nói về Đông tứ trạch gồm 32 Môn, 32 Chủ, một môn một chủ phối, với bát táo, có sẵn lời giải đoán cát hung họa phúc, Môn Chủ, Táo của Đông tứ trạch lấy sinh khí làm Thượng kiết, thủy mộc tương sinh, mộc hóa thông minh. Tuy không phải là phu phụ chính phối, nhưng có âm có dương, lại được điểm là cung và sao tương sinh. Vì thế, Đông tứ trạch mới coi sinh khí là thu thượng, đại cát. Kế đó Môn Chủ táo Diên Niên được coi là trung cát, mặc dù được phu phụ chính phối, nhưng lại có sự tương khắc giữa kim và mộc, Thủy hỏa đốt nhau, cung và sao tương khắc vì thế chỉ được coi là Trung cát, sau hết lấy Môn Chủ Táo Thiên Ất là thứ cát, vì nếu không là tuyệt âm thời là tuyệt dương, vì vậy chỉ được xếp vào thứ cát. Những loại Đông tứ trạch vừa nói trên đều hữu cát vô hung. Nếu là có sự ứng hợp với Mạng Nguyên của Trạch chủ, thời lại tăng thêm sự tốt đẹp: con cháu đầy nhà, trai thông minh, gái tuấn tú, phát phúc lâu bền. Tuy nhiên, sau một thời gian lâu, tất cát hung lẫn lộn. Nếu không tin, các bạn thử kiểm nghiệm lại những kiểu nhà vừa nói mà đã sống trong đó khoảng từ 30 đến 60 năm, rất là chuẩn xác và đúng như những điều tôi nói.

    Sau đây là những cách cát hung của Môn, Chủ, táo thuộc Đông tứ trạch;

    I. KHẢM:

    1). Khảm môn khảm chủ: thủy nhược trùng phùng thê tử ly.

    Thạch này thuộc cách: “Phục vụ chủ thuần dương”, sơ niên đại phát, nhưng theo lý âm dương thời thuần dương bất hóa, để lâu ngày tất khắc tử thương thêm góa bụa, hiếm con. Hai Khảm gặp nhau là cách “Nhị nam đồng cư”, thiếu thê và thiếp, vì vậy cuộc sống thường cô đơn góa bụa.

    Môn chủ phối bát táo:

    Chủ táo, phạm Ngũ quỷ, thủy thổ tương khắc, trung nam bất lợi, con nít hay bị yểu vong, đại hung.

    Chấn táo là Thiên Ất, sơ niên phát phúc, hiếu thiện, ở lâu thời khắc vợ hại con, vì lẽ Môn chủ táo đều thuần dương.

    Tốn táo được coi là sinh khí, phúc lộc thọ kiêm toàn, thường sinh được 5 con phát khoa bảng, đại cát đại lợi.

    Ty táo là Diên Niên, sinh 4 con thứ cát.

    Khôn táo là tuyệt mạng, thủy thổ tương khắc, trung nam bất lợi.

    Đoài táo là họa hại, kim thủy tương sinh, gọi là tiết khí, phụ nữ yểu vong.

    Càn táo là Lục sát thuần dương khắc vợ hại con, phạm vào cách.

    Thiên môn lạc thủy, thường xảy ra những chuyện cuồng dâm.

    Khảm táo được coi là phục vị táo, tam dương đồng cư, sơ niên đại phát, phú quý song toàn, cửa nhà thịnh vượng, nhiều người, nhưng sống một thời gian lâu, thời khắc vợ hiếm con, vì lẽ Môn, Chủ táo đều thuộc dương.

    2). Khảm môn cấn chủ:Thủy ngộ sơn khắc tu thập tự.

    Cách này gọi là Ngũ quỷ trạch, phạm vào Khảm cấn, bất lợi cho con trẻ, hay xảy ra chuyện đàn bà hoặc tự ái, kiện tụng, khẩu thiệt, thị phi trộm giặc, bại sản vong gia, yêu ma quỷ quái, tật bệnh tai họa, mọi sự đều bất lợi.

    Môn chủ phối bát táo:

    Chấn táo là Thiên Ất, tương sinh với Môn, tương khắc với Chủ, nữa cát nữa hung.

    Cấn táo tương khắc với Môn, hung.

    Tốn táo, với Môn là sinh khí, đại cát, với chủ là tuyệt mạng, bất lợi cho tiểu nhi.

    Ly táo với Môn là Diên Niên, tốt đối với chủ cũng được tương sinh, tốt nhưng vì hoa quả nóng tật thổ bị khô ráo, phụ nữ quá cương cường, khó dạy bất lợi cho tiểu nhi.

    Khôn táo đối với Môn, thổ thủy tương khắc, trung nam và tiểu nhi bất lợi, hay sinh chứng bệnh hoàng thủng tích khối trong bụng và đau đớn, với chủ tỵ hòa với tương đối tốt.

    Đoài táo là thứ cát, nhưng bất lợi cho phụ nữ.

    Càn táo là thứ cát, nhưng là cách thuần dương, ở lâu sẽ khắc vợ, hiếm con.

    Khảm táo, với chủ là Ngũ quỷ, với chủ tỵ hòa, hại người hại của, đoản thọ, hiếm con, không tốt.

    3). Khảm môn chấn chủ: Thủy lôi phát phúc cửu tuyệt tự.

    Cách này gọi là Thiên Ất trạch là cách tốt nhất để cứu bần, lúc đầu sinh nhiều con, công danh hiển đạt, khoa giáp liền niên, cả nhà đều gặp phúc lành, ưa việc làm phúc cứu người. Nhưng qua thời gian lâu hay gặp cảnh cô độc, góa bụa, hiếm con. Phụ nữ nắm quyền trong nhà, vì lẽ cách này thuần dương.

    Môn chủ phối bát táo:

    Cấn táo phạm vào Ngũ quỷ, tương khắc với Môn và Chủ, đại hung, mọi việc đều bất lợi.

    Chấn táo là Thiên Ất, tương sinh và tỵ hòa với Môn và Chủ, lúc đầu đại cát, đại lợi, về sau suy vi bất lợi.

    Tốn táo là sinh khí, đây là cách tốt nhất, phúc lộc thọ kiêm toàn.

    Ly táo là Diên Niên, nhân định đại vượng, phú quý song toàn.

    Khôn táo là Tuyệt mạng, khắc âm khắc dương không tốt.

    Đoài táo là họa hại, tương khắc với chủ, kim mộc hình khắc, nam nữ bất lợi, tuy tương sinh với Môn mà lại không phải là sinh vì bị tiết khí, bất lợi.

    Càn táo là Lục sát với Chủ, phạm vào Ngũ quỷ, đặt bếp phương càn là đại hung, mọi việc đều bất lợi, đối với Môn là phạm vào cách dâm cuồng, tam dương đồng cư, lâu ngày sẽ tuyệt tự.

    Khảm táo coi như Phục vị táo, Thiên Ất táo, tỵ hòa với Môn và Chủ, sơ niên đại phát, phúc lộc thọ kiêm toàn, nhưng lâu về sẽ hiếm con, góa bụa, vì lẽ thuần dương, vô âm.

    4). Khảm môn Tốn chủ: Thủy mộc vinh hoa phát nữ tú.

    Cách này gọi là sinh khí trạch, sinh 5 con được đỗ đạt, vì đây là cách “Tham lang đắc vị”, trai tài gái sắc, con thảo cháu hiền, ruộng vườn tăng tiến, lục súc hưng vượng, công danh hiển đạt, nhân định đại vượng, phú quý song toàn, đây là trạch tốt nhất. Nếu là đông trạch, lớp thứ ba cần cao lớn, rất tốt, ở lâu thêm thịnh vượng, cả nhà đều học thức khoa bảng. Ngoại thủy sinh nội Mộc, phát đạt rất mau và lâu dài.

    Môn chủ phối bát táo:

    Cấn táo tương khắc với Môn và Chủ, hay sinh kiện cáo, khẩu thiệt thị phi, con nít khó nuôi, hiếm con góa bụa, hay bị bệnh phong, tỳ vị, đau bụng, các chứng đau nhức.

    Chấn táo tương sinh và tỵ họa với Môn và Chủ, đại cát, đây là kiểu tốt nhất của Đông tứ trạch, có nghĩa là Đông trù tứ mệnh (Bếp ở phía đông coi vận mạng), gồm đủ tam đa ngũ phúc, đều quy tụ nơi nhà này.

    Ly táo được coi là Diên Niên, phát phúc phát quý, sinh 4, 5 con.

    Khôn táo là Mộc, Thổ, Thủy tương khắc, đại hung. Trai gái đều yểu mạng, trung nam tuyệt tự.

    Đoài táo tương sinh với Môn, tương khắc với Chủ, không lợi cho phụ nữ, ngoài ra đều tốt.

    Càn táo với Môn, phạm vào Lục Sát, với Chủ phạm vào họa hại, bất lợi cho phụ nữ lớn tuổi, hay bị đau bụng, nguy vì thai sản.

    Khảm táo được mệnh danh là “Phục vị táo”, hai Thủy sinh một Mộc, đại lợi.

    Tốn táo được coi là sinh khí táo, tỵ hòa với chủ, đại cát đại lợi.







    5). Khảm môn Ly chủ: Thủy hỏa ký tế đại cát hung

    Cách này gọi là Diên Niên trạch, “Vũ khúc kim tinh tứ tứ cường”, phu phụ chính phối, vừa giàu vừa sang, ruộng vườn, gia súc đều thịnh vượng, mọi sự đều hay, nhưng ở lâu, sau này sẽ khắc vợ, bị bệnh đau bụng hoặc đau mắt.

    Môn chủ phối bát táo:

    Cấn táo tương sinh với Chủ, tương khắc với Môn, phạm vào Ngũ quỷ, tiểu nhi bất lợi, phụ nữ điêu ác, thường phải trùng thú thê thiếp.

    Chấn táo là Môn, Chủ táo đều được tương sinh, Môn sinh táo, táo sinh chủ, đây là Tam cát trạch, đại cát đại lợi, mọi việc thông thái, sinh được 3 con hiếu thảo.

    Tốn táo là sinh khí, Thiên Ất, đó là một trong những kiểu bếp rất tốt, trai thông minh, gái tài sắc, đàn bà hiền đức, vượng người vượng của, đỗ đạt khoa bảng.

    Ly táo với Môn là phu phụ chính phối, đại cát với Chủ là tỵ hòa, cũng rất tốt.

    Khôn táo, tương sinh với Chủ, tuy sinh mà không phải là sinh vì chủ bị tiết khí, với Môn phạm vào tuyệt mạng, trai gái đều bị hình khắc, kém tuổi thọ, hiếm con cái, không tốt.

    Đoài táo, tương khắc với chủ, thiếu phụ yểu vong, phụ nữ gây rối.

    Càn táo tương khắc với chủ, tổn thương ông già, sinh nhọt độc, đau mắt, góa bụa, nam nữ đoản thọ không tốt.

    Khảm táo tỵ hòa với Môn, chính phối với Chủ, cát lợi.

    6). Khảm môn khôn chủ: Thủy thổ tương khắc trung nam tử.

    Cách này gọi là tuyệt mệnh trạch, thủy bị thổ khắc, phạm vào Khôn khảm, trung nam đoản thọ, hay có quả phụ, nhị môn gặp Tuyệt, hay bị đau bụng, tích khối, bệnh hoàng thủng, nhọt độc, nam nữ yểu vong.

    Môn chú phối bát táo:

    Cấn táo tương khắc với Môn, tỵ hòa với chủ, tiểu nhi bất lợi, trung nam yểu vong.

    Chấn táo, Mộc khắc Khôn thổ, lão mẫu bất lợi, điền sản suy đồi, bị cáo chứng hoàng thủng có tật, ung nhọt.

    Tốn táo, với Chủ phạm vào Ngũ quỷ, tốn đến cung Khôn, mẹ lìa cha, phụ nữ yểu vong, không tốt.

    Khôn táo, với Môn là thủy thổ tương khắc, hai thổ khắc, một thủy, trung nam cản thọ, hiếm con, tán tài bất lợi.

    Đoài táo, với Chủ là Thiên Ất, với Môn là họa hại, nữa cát nữa hung.

    Càn táo, với Chủ là Diên Niên với Môn là Lục sát, nữa cát nữa hung.

    Khảm táo tỵ hòa với Môn, tương khắc với Chủ, không tốt.

    Ly táo với Chủ là lục sát, với Môn là Diên Niên, nữa cát nữa hung.

    7). Khảm môn Đoài chủ: Trạch ngộ thủy tích thiếu nữ vong.

    Cách này gọi là Họa hại trạch, Chủ tán tài phá gia, trùng thú thê thiếp, phụ nữ chết trẻ, hay mắc các bệnh ho suyễn, ho lao, ác tật, ung thư.

    Môn chủ phối bát táo:

    Cấn táo, với Môn, phạm Ngũ quỷ, đau bụng, với chủ là Diên Niên, đại cát. Về điềm hung, bất lợi cho tiểu nhi, về điềm cát, phú quý vinh xương, cách này nửa xấu, nửa tốt.

    Chấn táo, với Môn là Thiên Ất, với Chủ, Kim mộc tương khắc, nam nữ yểu vong.

    Tốn táo, tương sinh với Môn, tương khắc với Chủ, phụ nữ bất lợi.

    Ly táo, hỏa kim tương khắc, phụ nữ bất lợi, tổn thương vợ hiền, hay bị chứng ung nhọt, hung tứ.

    Khôn táo, tương khắc với Môn, bất lợi; với chủ là Thiên Ất, phát tài, nửa cát, nửa hung.

    Càn táo, nửa cát nửa hung, trai gái đoản thọ.

    Hai táo Khảm và Đoài đều bất lợi.



    8). Khảm Môn càn chủ: Thủy tiết càn khí dâm bại tuyệt.

    Cách này gọi là Lục sát trạch, chủ phạm cách “Thiên môn Lạc thủy xuất dâm cuồng” tán tài, hiếm con, khắc vợ hại con, lúc đầu cũng tương đối phát tài, nhưng sau 10 năm thời suy bại, vì lẽ đây là cách thuần dương.

    Môn chủ phối bát táo:

    “Cấn táo, với Chủ là Thiên Ất, với Môn là Ngũ quỷ, nửa cát, nửa hung.

    Chấn táo với Môn là Thiên Ất, với Chủ là Ngũ quỷ, cát hung lẫn lộn.

    Tốn táo với Môn là sinh khí, với Chủ là họa hại, tổn thương hiền phu, nhân đinh cùng vượng, nhưng tán tài lao khổ.

    Ly táo, với Môn là Diên Niên, với Chủ là tuyệt mạng, chủ về lão ông đoản thọ, khắc vợ.

    Khôn táo với Môn thổ thủy tương khắc, bất lợi cho trung nam, với Chủ, thổ kim tương sinh, nửa cát nửa hung.

    Đoài táo, với Môn bị tiết khí, với Chủ là sinh khí, nửa cát nửa hung.

    Càn táo, với Môn là Lục sát, với chủ là tỵ hòa, cách thuần, dương, ít người khắc thê, tán tài.

    Khảm táo, thủy tiết sinh khí của Kim, không tốt, tán tài hiếm con, khắc thổ thương tử.

    st
    Cây cao thì gió càng lay
    Càng cao danh vọng càng đầy gian nan

  20. #60
    Join Date
    Feb 2006
    Posts
    1
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Wink Re: Đôi điều về Phong Thủy

    Ôi, Ngài Đạo Tá đúng là Dị nhân, không phải người phàm. Ông viết những điều này chắc hẳn tốn nhiều công sức biên soạn và nghiên cứu lắm đây.

    Cảm tạ Ngài Đại Tá. Những thứ này đều là những điều tôi tân binh tôi đang quan tâm đây.. hà hà.. cũng may mắn sao lại cầu gì có nấy trong năm mới đây rồi.

    Chúc Ngài nhiều sức khoẻ, trường sinh bất lão.

Page 3 of 5 FirstFirst 12345 LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Replies: 29
    Last Post: 03-09-2013, 01:14 AM
  2. Tạ Phong Tần người con yêu của Chúa
    By hoatrinhnu18 in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 1
    Last Post: 04-27-2010, 03:25 PM
  3. Tác Phong Của Thằng Bán Nước
    By Thái Hà in forum Khoa Học Chính Trị ( Political Science )
    Replies: 1
    Last Post: 03-09-2009, 12:18 PM
  4. Lại là phong cảnh
    By triphoto in forum CLB Hội Họa & Nhiếp Ảnh
    Replies: 9
    Last Post: 06-16-2008, 08:38 PM
  5. Vài hình phong cảnh
    By hxny007 in forum CLB Hội Họa & Nhiếp Ảnh
    Replies: 2
    Last Post: 04-12-2008, 01:37 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •