tiểu đường thai kỳ (ĐTĐTK) là tình trạng bất dung nạp đường huyết khởi phát hoặc phát hiện lần đầu tiên trong suốt thai kỳ. Định nghĩa này không loại trừ khả năng bất dung nạp đường huyết không được phát hiện có thể xảy ra sớm hơn hoặc đồng thời với thai kỳ.
Tỉ lệ mới mắc từ 1 đến 14% trường hợp mang thai, # nhau theo từng nơi và các test chẩn đoán được áp dụng.

1. PHáT HIệN Và CHẩN ĐOáN

Đánh giá nguy cơ ĐTĐTK nên được thực hành ngay từ lần theo dõi trước sinh đầu tiên. Phụ nữ với đặc điểm lâm sàng có nguy cơ cao ĐTĐTK (béo phì; tiền sử bản thân bị ĐTĐTK; glucose niệu; hoặc tiền sử gia đình mắc ĐTĐ) nên được sàng lọc càng sớm càng tốt. Nếu không phát hiện ĐTĐTK trong lần sàng lọc đầu tiên, sản phụ nên được sàng lọc lại vào tuần 24-28 của thai kỳ. Những trường hợp không có yếu tố nguy cơ không cần sàng lọc nhưng chỉ giới hạn ở những phụ nữ đáp ứng tất cả các tiêu chí:
- Tuổi thai phụ < 25 tuổi;
- Cân nặng trước mang thai bình thường;
- Không có tiền sử gia đình mắc ĐTĐ;
- Không có tiền sử bất thường dung nạp đường huyết;
- Không có tiền sử sản khoa
Theo khuyến cáo ADA 2003, thai phụ có:
- Đường máu lúc đói > 126mg/dl (7.0 mmol/l) hoặc đường máu bất kỳ >200mg/dl (11.1 mmol/l) không cần làm xét nghiệm sàng lọc vì đã đủ tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ.
Ngoài những đối tượng này, những thai phụ nguy cơ vừa và cao nên được tầm soát ĐTĐ thai kỳ qua hai cách:
• Sàng lọc bước 1: thực hiện nghiệm pháp 75gr đường ngay (nghiệm pháp dung nạp đường huyết), có hiệu quả kinh tế cao đối với những bệnh nhân hoặc cộng đồng có nguy cơ cao.
• Sàng lọc bước 2: thực hiện nghiệm pháp 50gr đường, thai phụ có ngưỡng đường huyết 1 giờ ≥ 140mg/dl (7,8mmol/l) sẽ được tiến hành sàng lọc bước 2 là nghiệm pháp dung nạp 100 gr đường (3 giờ) hoặc nghiệm pháp dung nạp 75 gr đường (2 giờ).
Theo dõi trong quá trình mang thai:
Tăng đường huyết lúc đói (105mg/dl hay >5.8 mmol/l) có thể dẫn tới tăng nguy cơ thai chết lưu trong suốt 4-8 tuần cuối của thai kỳ. Mặc dù ĐTĐTK không biến chứng với đường huyết lúc đói ít tăng hơn, không làm tăng tỉ lệ tử vong trước sinh, nhưng làm tăng nguy cơ sinh con quá cân. Hạ đường huyết sơ sinh, vàng da, bệnh tăng hồng cầu, và hạ canxi máu làm nặng ĐTĐ. ĐTĐTK đi kèm với rối loạn tăng huyết áp ở mẹ cần phải tiến hành mổ đẻ. Những biến chứng muộn hơn có thể do thai nhi chậm phát triển trong tử cung hoặc do những thay đổi trong xử trí sản khoa do mẹ bị ĐTĐTK.
Theo dõi lâu dài
Những sản phụ bị ĐTĐTK có nguy cơ bị ĐTĐ, thường là ĐTĐ typII sau khi mang thai. Béo phì và những yếu tố khác nhau làm tăng sự kháng insulin làm tăng nguy cơ ĐTĐ typII sau ĐTĐTK, sự xuất hiện kháng thể kháng tế bào tiểu đảo tụy tăng nguy cơ ĐTĐ typI. Con của những bà mẹ ĐTĐTK có nguy cơ cao bị béo phì, giảm dung nạp đường huyết, và ĐTĐ khi lớn và trưởng thành.

2. Điều trị tiểu đường thai kỳ

Theo dõi:
• Theo dõi đường huyết của mẹ, tốt hơn nên tự kiểm tra đường máu hàng ngày, để đạt mức đường huyết trong giới hạn, giảm nguy cơ cho thai nhi.
• Theo dõi đường niệu không có giá trị trong ĐTĐTK.
• Theo dõi thai phụ gồm kiểm tra huyết áp, xét nghiệm protein niệu nhằm phát hiện rối loạn tăng huyết áp.
• Chú ý theo dõi những thai phụ có ngưỡng đường huyết lúc đói > 105mg/dl (5,8mmol/l) do nguy cơ thai nhi tử vong.
• Đánh giá sự phát triển của thai nhi qua siêu âm, đặc biệt trong ba tháng cuối, siêu âm cũng có thể cho thấy những lợi ích của phương pháp điều trị bằng insulin.
Xử trí:
• Tất cả sản phụ ĐTĐTK nên được tư vấn về dinh dưỡng bởi các chuyên gia. Chế độ ăn thay đổi tùy từng bệnh nhân sao cho cung cấp đủ calo và dinh dưỡng nhằm đáp ứng nhu cầu của thai phụ và đạt nồng độ đường huyết mong muốn. Các chất làm ngọt cũng có thể được sử dụng ở mức độ vừa phải.
• Đối với những phụ nữ béo phì (BMI>30kg/m2), hạn chế 30-33% calo làm giảm tình trạng tăng đường huyết và triglyceride máu, không làm tăng ceto niệu. Hạn chế carbohydrate tới 35 - 40% hay lượng làm giảm đường huyết ở mẹ và có lợi cho cả mẹ và con.
• Insulin và phương pháp điều trị thích hợp nhất, đi kèm với chế độ dinh dưỡng cho thấy làm giảm bệnh tật ở thai nhi. Chỉ định điều trị insulin dựa vào đường huyết của mẹ có thể kèm hoặc không kèm theo những đặc điểm phát triển của thai nhi. Insulin được khuyến cáo sử dụng khi điều chỉnh chế độ dinh dưỡng thất bại trong việc kiểm soát đường huyết đạt:
o Đường máu toàn phần lúc đói ≤ 95 mg/dl (5,3mmol/l)
Glucose huyết tương lúc đói ≤ 105 mg/dl (5,8mmol/l)
o Hoặc đường máu toàn phần 1h sau ăn ≤140 mg/dl (7,8mmol/l)
Glucose huyết tương sau ăn 1h ≤ 155mg/dl (8,6 mmol/l)
o Hoặc đường máu toàn phần 2h sau ăn ≤ 120mg/dl (6,7mmol/l)
Glucose huyết tương sau ăn 2h ≤ 130mg/dl (7,2mmol/l)
• Đo chu vi bụng thai nhi sớm 3 tháng cuối có thể xác định phần to của thai khi không có nguy cơ quá lớn về thai to ở những phụ nữ không điều trị insulin. Phương pháp này được làm chủ yếu ở những phụ nữ có nồng độ glucose huyết tương lúc đói <105 mg/l (5,8 mmol/l).
• Nên sử dụng human insulin
• Các thuốc hạ đường máu uống không được khuyên dùng trong quá trình mang thai.
• Chương trình tập thể dục mức độ hợp lí được chứng minh làm giảm nồng độ glucose máu ở phụ nữ ĐTĐTK
• Bản thân ĐTĐTK không phải là một chi định mổ lấy thai hay đẻ trước 38 tuần. Việc kéo dài thai kỳ qua 38 tuần làm tăng nguy cơ thai to, không làm giảm tỉ lệ mổ lấy thai, vì vậy khuyến cáo nên đẻ trong tuần 38 trừ khi có những vấn đề sản khoa khác.
• Nên cho trẻ bú sữa mẹ.

Nguồn: http://cachchuabenhtieuduong.com/