Page 1 of 2 12 LastLast
Results 1 to 20 of 39

Thread: Nên Đọc Cho Biết

  
  1. #1
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Nên Đọc Cho Biết

    Kẻ Thù của Người Trung Quốc lại là Người Trung Quốc - Bá Dương

    June 10, 20140 Bình Luận



    Trên thế giới không có nước nào có lịch sử lâu đời như Trung Quốc, không có nước nào có một nền văn hóa không đứt đoạn như Trung Quốc, mà cái văn hóa đó lại đã từng đạt đến một nền văn minh cao độ. Người Hy-Lạp thời nay với người Hy-Lạp ngày xưa chẳng liên quan gì với nhau. Người Ai-Cập cũng vậy. Nhưng người Trung Quốc hôm nay thì đúng là hậu duệ của người Trung Quốc cổ đại. Tại sao một nước khổng lồ như vậy, một dân tộc to lớn như vậy ngày nay lại ra nông nỗi xấu xa ấy? Chẳng những bị người nước ngoài ức hiếp mà còn bị ngay dân mình ức hiếp. Nào là vua bạo ngược, quan bạo nguợc, mà cả dân (quần chúng) cũng bạo ngược.

    Thế kỷ thứ XIX, quần đảo Nam Dương – thời nay tức là Đông Nam Á, còn là thuộc địa của Anh và Hà Lan, có một chuyên viên Anh đóng ở Malaysia nói rằng: “Làm người Trung Quốc ở thế kỷ thứ XIX là một tai họa”. Bởi vì ông này đã thấy cộng đồng người Hoa sống ở quần đảo Nam Dương giống một lũ lợn, vô tri vô thức, tự sinh tự diệt, tùy thời còn có thể bị sát hại hàng loạt. Thế mà tôi thấy người Hoa ở thế kỷ XX so với người Hoa ở thế kỷ XIX tai họa của họ còn lớn hơn.

    Điều làm chúng ta đau khổ nhất là bao mong đợi của người Hoa từ một trăm năm nay cơ hồ như đã bị tiêu tan toàn bộ. Cứ mỗi lần có một mong chờ trở lại, hứa hẹn nước nhà một tương lai sáng sủa hơn, thì kết quả lại càng làm cho chúng ta thất vọng và tình hình lại càng trở nên tệ hại hơn. Một mong chờ khác lại đến, để rồi lại đem về những ảo vọng, thất vọng, những tồi tệ liên miên vô tận.

    Dân tộc cố nhiên là trường tồn, sinh mệnh của cá nhân là hữu hạn. Một đời người có được bao ước vọng lớn? Có được bao lý tưởng lớn, chịu được mấy lần tan vỡ ? Con đường trước mặt sáng sủa thế nào? Hay lại đen tối? Thật khó nói cho hết!

    Bốn năm trước, lúc tôi diễn giảng tại New York, đến đoạn “chối tai”, có một người đứng dậy nói: “Ông từ Đài Loan đến, ông phải nói cho chúng tôi nghe về những hy vọng, phải cổ võ nhân tâm. Sao lại đi đả kích chúng tôi?” Con người đương nhiên cần được khích lệ, vấn đề là khích lệ rồi sau đó làm gì nữa? Tôi từ nhỏ cũng từng được khích lệ rồi. Lúc 5, 6 tuổi, tôi được người lớn nói với tôi: “Tiền đồ của Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các cháu đấy!” Tôi cho rằng trách nhiệm của tôi lớn quá, chắc không thể nào đảm đương nổi. Sau đó tôi lại nói với con tôi: “Tiền đồ của Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các con đấy!” Bây giờ con tôi lại nói với cháu tôi: “Tiền đồ Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các con đấy!”

    Một đời, rồi một đời, biết bao nhiêu lần một đời ? Đến đời nào thì mới thật khá lên được ? Tại Trung Quốc đại lục rộng lớn, sau thời Phản hữu (Phong trào chống phe hữu năm 1958), tiếp theo lại là Đại Cách Mạng Văn Hóa long trời lở đất. Từ ngày loài người có lịch sử đến nay chưa bao giờ thấy được một tai họa do con người làm ra to lớn đến như vậy. Chẳng nói đến tổn thất sinh mạng, cái tổn thương lớn lao nhất là sự chà đạp nhân tính, dầy xéo lên phẩm hạnh cao quý. Con người nếu rời bỏ nhân tính và những đức hạnh cao quý thì sánh với cầm thú

    Bây giờ người ta nói nhiều về Hương Cảng [Hồng-Kông]. Bất cứ nước nào, nếu có đất đai bị nước ngoài chiếm cứ đều cảm thấy tủi nhục. Chờ cho đến lúc lấy được về chẳng khác nào lòng mẹ bị mất con. Ai cũng nhớ chuyện nước Pháp lúc phải cắt hai tỉnh Alsace và Lorraine giao cho Đức đã đau khổ như thế nào, lúc lấy lại được về đã sung sướng ra sao.

    Nhưng Hương Cảng của chúng ta chỉ cần nghe đến việc trả về tổ quốc là lập tức hồn bay phách lạc. Chuyện gì mà lạ thế?

    Còn nói về Đài Loan, hiện nay nhiều thanh niên người tỉnh này hoặc người nơi khác ở đây đều chủ trương Đài Loan độc lập. Tôi nhớ lại 30 năm trước đây, lúc Nhật Bản trả lại Đài Loan cho Trung Quốc (1945), mọi người sung sướng như si cuồng chẳng khác nào đứa con lạc mẹ lại tìm được đường về nhà. Cái gì đã xảy ra sau 30 năm đó để cho đứa con kia lại muốn bỏ nhà ra đi?

    Ở nước ngoài, có lúc tôi dừng lại trong công viên, nhìn trẻ con ngoại quốc, thấy sao chúng sung sướng thế. Trong lòng tôi lúc ấy tự nhiên cảm thấy thèm thuồng quá. Chúng không phải mang gánh nặng, con đường chúng đi bằng phẳng, rộng rãi quá, tâm lý khỏe mạnh, sung mãn, sảng khoái. Con trẻ Đài Loan chúng ta đến trường học, đeo kính cận, mặt khó đăm đăm vì phải đối phó với áp lực bài vở. Mẹ ngất ngã xuống đất, con đến đỡ mẹ dậy, mẹ kêu rống lên:

    Mẹ có chết cũng chẳng sao, việc gì đến con! Con đi học bài đi ! Đi học bài đi ! ”

    Vợ tôi lúc dạy học ở Đài Loan, thỉnh thoảng cứ đề cập đến đạo đức làm người, tức thì sinh viên nhao nhao phản đối: “Chúng tôi không cần học làm người, chỉ cần học để ứng phó với việc thi cử”. Lại nhìn về trẻ con ở Trung Quốc lục địa, từ nhỏ đã phải học đánh đấu nhau, lừa dối bịp bợm nhau, lại luyện tập cách lừa bạn, phản đồng chí, lại phải học cách bốc phét, bịa đặt. Một nền giáo dục đáng sợ thay! Một thế hệ nữa những đứa trẻ này lớn lên sẽ như thế nào?

    Người ta thường nói: “Mình nắm tương lai mình trong tay mình”. Lúc đã luống tuổi, tôi thấy câu này không ổn; sự thực, có lẽ chỉ nắm được một nửa trong tay mình, còn một nửa lại ở trong tay của kẻ khác.

    Kiếp người trên đời này giống như một cục sỏi trong một máy nhào xi-măng, sau khi bị nhào trộn, thân chẳng tự chủ được. Điều ấy khiến tôi cảm thấy đó không phải là một vấn đề của riêng một cá nhân nào, nhưng là một vấn đề xã hội, văn hóa.

    Lúc chết, Chúa Giê-Su (Jesus) bảo: “Hãy tha thứ cho họ, họ đã làm những điều mà họ không hề hiểu”. Lúc trẻ, đọc câu này tôi cho rằng nó chỉ là một câu tầm thường. Lớn lên rồi lại vẫn thấy nó không có gì ghê gớm cả, nhưng đến cái tuổi này rồi tôi mới phát hiện rằng nó rất thâm thúy, thật đau lòng thay! Có khác nào người Trung Quốc sở dĩ trở thành xấu xí như ngày nay bởi chính vì họ không hề biết rằng mình xấu xí.

    Chúng ta có đủ tư cách làm chuyện đó và chúng ta có lý do tin rằng Trung Quốc có thể trở thành một nước rất tốt đẹp. Chúng ta không cần cứ phải muốn có một quốc gia hùng mạnh. Quốc gia không hùng mạnh thì có can hệ gì ? Chỉ cần sao cho nhân dân hạnh phúc rồi thì đi tìm quốc gia hùng mạnh cũng chưa muộn.

    Tôi nghĩ người Trung Quốc chúng ta có phẩm chất cao quý. Nhưng tại sao cả trăm năm rồi, cái phẩm chất ấy thủy chung vẫn không làm cho người Trung Quốc thoát khỏi khổ nạn?

    Nguyên do vì sao?

    Tôi muốn mạo muội đề xuất một câu trả lời có tính cách tổng hợp: Đó là vì văn hóa truyền thống Trung Quốc có một loại siêu vi trùng, truyền nhiễm, làm cho con cháu chúng ta từ đời này sang đời nọ không khỏi được bệnh.

    Có người sẽ bảo: “Tự mình không xứng đáng, lại đi trách tổ tiên!”. Xét cho kỹ câu nói này có một sơ hở lớn. Trong vở kịch nổi tiếng “Quần ma” (Những con ma) của Ibsen (íp-sen) có kể chuyện hai vợ chồng mắc bệnh giang mai sinh ra một đứa con cũng bị bệnh di truyền. Mỗi lần phát bệnh nó lại phải uống thuốc. Có lần tức quá nó kêu lên: “Con không uống thuốc này đâu! Con thà chết đi thôi! Bố mẹ đã cho con cái thân thể như thế này à ? ” Trường hợp này thì nên trách đứa bé hay trách bố mẹ nó? Chúng ta không phải trách bố mẹ, cũng không phải trách tổ tiên chúng ta, nhưng nhất quyết phải trách cái thứ văn hóa họ đã truyền lại cho chúng ta.

    Một nước rộng ngần đó, một dân tộc lớn ngần đó, chiếm đến một phần tư dân số toàn cầu, lại là một vùng cát chảy của sự đói nghèo, ngu muội, đấu tố, tắm máu mà không tự thoát được. Tôi nhìn cách cư xử giữa con người với nhau ở những nước khác mà lại càng thèm. Cái văn hóa truyền thống kiểu nào để sinh ra hiện tượng này? Nó đã khiến cho người Trung Quốc chúng ta mang sẵn trong mình nhiều đặc tính rất đáng sợ!

    Một trong những đặc tính rõ nhất là dơ bẩn, hỗn loạn, ồn ào. Đài Loan đã từng có một dạo phải chống bẩn và chống hỗn loạn, nhưng chỉ được mấy ngày. Cái bếp của chúng ta vừa bẩn vừa lộn xộn. Nhà cửa chúng ta cũng vậy. Có nhiều nơi hễ người Trung Quốc đến ở là những người khác phải dọn đi. Tôi có một cô bạn trẻ tốt nghiệp đại học chính trị. Cô này lấy một người Pháp rồi sang Pa-ri sinh sống. Rất nhiều bạn bè đi du lịch Âu châu đều ghé nhà cô trú chân. Cô ta bảo với tôi: “Trong tòa nhà tôi ở, người Pháp đều dọn đi cả, bây giờ toàn người Á đông nhảy vào!” (Người Á đông có khi chỉ người châu Á nói chung, có khi lại chỉ người Trung Quốc). Tôi nghe nói vậy rất buồn, nhưng khi đi xem xét tận mắt mới thấy là chỗ nào cũng đầy giấy kem, vỏ hộp, giầy dép bừa bãi, trẻ con chạy lung tung, vẽ bậy lên tường, không khí trong khu bốc lên một mùi ẩm mốc. Tôi hỏi: “Các người không thể tổ chức quét dọn được hay sao?” Cô ta đáp: “Làm sao nổi!”

    Không những người nước ngoài thấy chúng ta là bẩn, loạn, mà qua những điều họ nhắc nhở chúng ta cũng tự thấy mình là bẩn, loạn.

    Còn như nói đến ồn ào, cái mồm người Trung Quốc thì to không ai bì kịp, và trong lĩnh vực này người Quảng Đông phải chiếm giải quán quân. Ở bên Mỹ có một câu chuyện tiếu lâm như sau: Có hai người Quảng Đông lặng lẽ nói chuyện với nhau, người Mỹ lại tưởng họ đánh nhau, bèn gọi điện báo cảnh sát. Khi cảnh sát tới, hỏi họ đang làm gì, họ bảo: ” Chúng tôi đang thì thầm với nhau”.

    Tại sao tiếng nói người Trung Quốc lại to? Bởi tâm không yên ổn. Cứ tưởng lên cao giọng, to tiếng là lý lẽ mình mạnh. Cho nên lúc nào cũng chỉ cốt nói to, lên giọng, mong lý lẽ đến với mình. Nếu không, tại sao họ cứ phải gân cổ lên như thế?

    Tôi nghĩ những điểm này cũng đủ để làm cho hình ảnh của người Trung Quốc bị tàn phá và làm cho nội tâm mình không yên ổn. Vì ồn ào, dơ bẩn, hỗn loạn dĩ nhiên có thể ảnh hưởng tới nội tâm, cũng như sáng sủa, sạch sẽ với lộn xộn, dơ bẩn là hai thế giới hoàn toàn khác xa nhau.

    Còn về việc xâu xé nhau thì mọi người đều cho đó là một đặc tính nổi bật của người Trung Quốc. Một người Nhật đơn độc trông chẳng khác nào một con lợn, nhưng ba người Nhật hợp lại lại thành một con rồng. Tinh thần đoàn kết của người Nhật làm cho họ trở thành vô địch.

    Bởi vậy trong lĩnh vực quân sự cũng như thương mại người Trung Quốc không thể nào qua mặt được người Nhật. Ngay tại Đài Loan, ba người Nhật cùng buôn bán thì lần này phiên anh, lần sau đến lượt tôi. Người Trung Quốc mà buôn bán thì tính cách xấu xa tức thì lộ ra bên ngoài theo kiểu: Nếu anh bán 50 tôi sẽ bán 40. Anh bán 30 tôi chỉ bán 20.

    Cho nên, có thể nói, mỗi người Trung Quốc đều là một con rồng, nói năng vanh vách, cứ như là ở bên trên thì chỉ cần thổi một cái là tắt được mặt trời, ở dưới thì tài trị quốc bình thiên hạ có dư. Người Trung Quốc ở một vị trí đơn độc như trong phòng nghiên cứu, trong trường thi – nơi không cần quan hệ với người khác – thì lại có thể phát triển tốt. Nhưng nếu ba người Trung Quốc họp lại với nhau, ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con giòi, hoặc thậm chí không bằng cả một con giòi nữa. Bởi vì người Trung Quốc có biệt tài đấu đá lẫn nhau.

    Chỗ nào có người Trung Quốc là có đấu đá, người Trung Quốc vĩnh viễn không đoàn kết được, tựa hồ trên thân thể họ có những tế bào thiếu đoàn kết. Vì vậy khi người nước ngoài phê phán người Trung Quốc không biết đoàn kết thì tôi chỉ xin thưa: “Anh có biết người Trung Quốc vì sao không đoàn kết không? Vì Thượng đế muốn thế. Bởi vì nếu một tỷ người Hoa đoàn kết lại, vạn người một lòng, anh có chịu nổi không? Chính ra Thượng Đế thương các anh nên mới dạy cho người Hoa mất đoàn kết!” Tôi tuy nói thế nhưng rất đau lòng.

    Người Trung Quốc không chỉ không đoàn kết, mà mỗi người lại còn có đầy đủ lý do để có thể viết một quyển sách nói tại sao họ lại không đoàn kết. Cái điều này thấy rõ nhất tại nước Mỹ với những hình mẫu ngay trước mắt. Bất cứ một xã hội người Hoa nào ít nhất cũng phải có 365 phe phái tìm cách tiêu diệt lẫn nhau.

    Ở Trung Quốc có câu: “Một hòa thượng gánh nước uống, hai hòa thượng khiêng nước uống, ba hòa thượng không có nước uống”. Người đông thì dùng để làm gì? Người Trung Quốc trong thâm tâm căn bản chưa biết được tầm quan trọng của sự hợp tác. Nhưng nếu anh bảo họ chưa biết, họ lại có thể viết ngay cho anh xem một quyển sách nói tại sao cần phải đoàn kết.

    Lần trước (năm 1981) tôi sang Mỹ ở tại nhà một người bạn làm giáo sư đại học – anh này nói chuyện thì đâu ra đấy; thiên văn, địa lý; nào là làm sao để cứu nước… – Ngày hôm sau tôi bảo:

    Tôi phải đi đến đằng anh A một tý!”. Vừa nghe đến tên anh A kia, anh bạn tôi trừng mắt giận dữ. Tôi lại bảo: “Anh đưa tôi đi một lát nhé!”. Anh ta bảo: “Tôi không đưa, anh tự đi cũng được rồi!”.
    Họ cùng dạy học tại Mỹ, lại cùng quê với nhau mà tại sao không thể cùng đội trời chung? Có thể nào nói như vậy là hợp lý được? Bởi vậy việc người Hoa cắn xé nhau là một đặc trưng nghiêm trọng.

    Những người sống tại Mỹ đều thấy rõ điều này: đối xử với người Trung Quốc tệ hại nhất không phải là người nước ngoài, mà chính lại là người Trung Quốc với nhau. Bán rẻ người Trung Quốc, hăm dọa người Trung Quốc lại cũng không phải là người Mỹ mà là người Hoa. Tại Ma-lai-xi-a có một chuyện thế này. Một ông bạn tôi làm nghề khai thác mỏ khoáng sản. Anh ta bỗng nhiên bị tố cáo một chuyện rất nghiêm trọng. Sau khi tìm hiểu mới biết rằng người tố cáo mình lại là một bạn thân của anh ta, một người cùng quê, cùng đến Ma-lai-xi-a tha phương cầu thực với nhau. Người bạn tôi chất vấn anh kia: “Tại sao anh lại đi làm cái việc đê tiện đó?”. Người kia bảo: “Cùng đi xây dựng cơ đồ, bây giờ anh giàu có, tôi vẫn hai tay trắng. Tôi không tố cáo anh thì tố ai bây giờ?”

    Cho nên kẻ thù của người Trung Quốc lại là người Trung Quốc.

    Không hiểu vì sao người ta lại so sánh người Trung Quốc với người Do Thái được? Tôi thường nghe nói “người Trung Quốc và người Do Thái giống nhau ở chỗ cần cù”. Điều này phải chia làm hai phần:

    Phần thứ nhất: cái đức tính cần cù từ mấy nghìn năm nay cũng chẳng còn tồn tại nữa, nó đã bị thời kỳ “Tứ nhân bang” (bè lũ bốn tên) phá tan tại lục địa rồi.

    Phần thứ hai: chúng ta còn gì để có thể đem so sánh với người Do Thái được? Báo chí Trung Quốc thường đăng: “Quốc hội Do Thái (Knesset) tranh luận mãnh liệt, ba đại biểu là ba ý kiến trái ngược nhau”, nhưng cố ý bỏ sót một sự kiện quan trọng là sau khi họ đã quyết định với nhau thì hình thành một phương hướng chung. Tuy bên trong quốc hội tranh cãi tơi bời, bên ngoài đang giao chiến, bốn phía địch bao vây, nhưng I-xra-en vẫn tổ chức bầu cử.
    Ai cũng biết cái ý nghĩa của bầu cử là vì có đảng đối lập. Không có đảng đối lập thì bầu cử chỉ là một trò hề rẻ tiền.

    Tại Trung Quốc chúng ta, hễ có ba người sẽ cũng có ba ý kiến, nhưng cái khác nhau là: sau khi đã quyết định xong, ba người đó vẫn làm theo ba phương hướng khác nhau. Giống như nói hôm nay có người đề nghị đi New York, người đề nghị đi San Francisco. Biểu quyết, quyết định đi New York, nếu ở I-xra-en cả hai người sẽ cùng đi New York, nhưng ở Trung Quốc thì một người sẽ bảo: “Anh đi New York đi, tôi có tự do của tôi, tôi đi San Francisco!”

    Người Trung Quốc không thể đoàn kết, hay cắn xé nhau, những thói xấu đó đã thâm căn cố đế. Không phải vì phẩm chất của họ không đủ tốt. Nhưng vì con siêu vi trùng trong văn hóa Trung Quốc ấy làm cho chúng ta không thể đè nén, khống chế hành vi của chúng ta được. Biết rõ rành rành là xâu xé nhau, nhưng vẫn xâu xé nhau. Nếu nồi vỡ thì chẳng ai có ăn, nhưng nếu trời sụp thì người nào cao hơn người đó phải chống đỡ.

    Cái loại triết học xâu xé nhau đó lại đẻ ra nơi chúng ta một hành vi đặc thù khác: “Chết cũng không chịu nhận lỗi”. Có ai nghe thấy người Trung Quốc nhận lỗi bao giờ chưa? Giả sử anh nghe một người Trung Quốc nói: “Việc này tôi đã sai lầm rồi!” Lúc đó anh phải vì chúng tôi mà uống rượu chúc mừng.

    Con gái tôi hồi bé có một lần bị tôi đánh, nhưng cuối cùng hóa ra là nó bị oan. Nó khóc rất dữ, còn tâm can tôi thì đau đớn. Tôi biết rằng đứa con thơ dại và vô tội của tôi chỉ biết trông cậy vào bố mẹ, mà bố mẹ bỗng nhiên trở mặt thì nó phải sợ hãi biết nhường nào. Tôi ôm con vào lòng rồi nói với nó: “Bố xin lỗi con. Bố không đúng. Bố làm sai. Bố hứa lần sau bố không làm như vậy nữa. Con gái ngoan của bố, con tha thứ cho bố nhé!” Nó khóc mãi không thôi. Cái sự việc này qua rồi mà lòng tôi vẫn còn đau khổ. Nhưng đồng thời tôi lại cảm thấy vô cùng kiêu hãnh bởi tôi đã dám tự nhận lỗi của mình đối với nó.

    Người Trung Quốc không quen nhận lỗi và có thể đưa ra hàng vạn lý do để che dấu cái sai trái của mình. Có một câu tục ngữ: “Đóng cửa suy gẫm lỗi lầm” (Bế môn tư quá). Nghĩ về lỗi của ai ? Dĩ nhiên của đối phương.

    Lúc tôi đi dạy học, học sinh hàng tuần phải viết tuần ký để kiểm thảo hành vi trong tuần. Kết quả kiểm thảo thường là: “Hôm nay tôi bị người này người nọ lừa tôi. Cái người lừa tôi ấy đã được tôi đối xử mới tốt làm sao, cũng bởi vì tôi quá trung hậu!”. Lúc đọc đến kiểm thảo của đối phương, lại cũng thấy anh học trò kia nói mình quá trung hậu. Mỗi người trong kiểm thảo của mình đều là người quá trung hậu. Thế còn ai là người không trung hậu?

    Người Trung Quốc không thể nhận lỗi, nhưng cái lỗi vẫn còn đó, đâu phải vì không nhận mà nó biến mất. Để che đậy một lỗi của mình người Trung Quốc không nề hà sức lực tạo nên càng nhiều lỗi khác hòng chứng minh rằng cái đầu tiên không phải là lỗi. Cho nên có thể nói người Trung Quốc thích nói khoác, nói suông, nói dối, nói láo, nói những lời độc địa.

    Họ liên miên khoa trương về dân Trung Quốc, về tộc Đại Hán, huyên thuyên về truyền thống văn hóa Trung Quốc, nào là có thể khuếch trương thế giới,v.v…Nhưng bởi vì không thể đưa ra chứng cớ thực tế nào nên tất cả chỉ toàn là những điều bốc phét.

    Tôi chẳng cần nêu ví dụ về chuyện nói khoác, láo toét làm gì. Nhưng về chuyện nói độc của người Trung Quốc thì không thể không nói được. Ngay như chuyện phòng the, người phương Tây vốn rất khác chúng ta, họ thường trìu mến gọi nhau kiểu “Em yêu, em cưng” [Bá Dương dùng chữ "đường mật" và "ta linh" để dịch chữ Honey, Darling của tiếng Anh -ND] thì người Trung Quốc gọi nhau là “kẻ đáng băm vằm làm trăm khúc” (sát thiên đao đích).
    Hễ cứ có dính đến lập trường chính trị hoặc tranh quyền đoạt lợi là những lời nói độc địa sẽ được tuôn ra vô hạn định, khiến cho ai nấy nghe thấy cũng phải tự hỏi: “Tại sao người Trung Quốc lại độc ác và hạ lưu đến thế?”

    Lại nói ví dụ về chuyện tuyển cử. Nếu là người phương Tây thì tác phong như sau: “Tôi cảm thấy tôi có khả năng giữ chức vụ đó, xin mọi người hãy bầu cho tôi!”. Còn người Trung Quốc sẽ xử sự như Gia Cát Lượng lúc Lưu Bị tới cầu hiền (tam cố thảo lư). Nghĩa là nếu được mời, anh ta sẽ năm lần bảy lượt từ chối, nào là “Không được đâu! Tôi làm gì có đủ tư cách!” Kỳ thực, nếu anh tưởng thật mà đi mời người khác thì anh ta sẽ hận anh suốt đời.

    Chẳng khác nào nếu anh mời tôi diễn giảng, tôi sẽ nói: “Không được đâu, tôi chẳng quen nói chuyện trước công chúng!” Nhưng nếu anh thật sự không mời tôi nữa, sau này nếu nhỡ lại gặp nhau ở Đài Bắc, có thể tôi sẽ phang cho anh một cục gạch vào đầu.

    Một dân tộc hành xử theo kiểu này không biết đến bao giờ mới có thể sửa đổi được lầm lỗi của mình; sẽ còn phải dùng mười cái lỗi khác để khỏa lấp cái lỗi đầu tiên, rồi lại dùng thêm trăm cái khác để che đậy mười cái kia thôi.

    Trung Quốc diện tích rộng thế, văn hóa lâu đời thế, đường đường là một nước lớn. Thế mà, thay vì có một tấm lòng bao la, người Trung Quốc lại có một tâm địa thật hẹp hòi.

    Cái tấm lòng bao la đáng lẽ chúng ta phải có ấy chỉ đọc thấy được trong sách vở, nhìn thấy được trên màn ảnh. Có ai bao giờ thấy một người Trung Quốc có lòng dạ, chí khí sánh ngang được với tầm vóc nước Trung Quốc không? Nếu chỉ cần bị ai lườm một cái là đã có thể rút dao ra rồi, thử hỏi nếu có người không đồng ý với mình thì sự thể sẽ ra sao?

    Người Tây phương có thể đánh nhau vỡ đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Trung Quốc đã đánh nhau rồi thì cừu hận một đời, thậm chí có khi báo thù đến ba đời cũng chưa hết.

    Mọi người Trung Quốc đều sợ sệt đến độ không còn biết quyền lợi mình là gì thì làm sao còn biết đấu tranh, gìn giữ nó được? Mỗi khi gặp một chuyện gì xảy ra y nhiên lại nói: “Bỏ qua cho rồi!”

    Mấy chữ “bỏ qua cho rồi” này đã giết hại không biết bao nhiêu người Trung Quốc và đã biến dân tộc Trung Quốc thành một dân tộc hèn mọn.

    Giả sử tôi là một người nước ngoài hoặc một bạo chúa, đối với loại dân tộc như thế, nếu tôi không ngược đãi nó thì trời cũng không dung tôi.

    Cái não trạng hãi sợ này đã nuôi dưỡng bao nhiêu bạo chúa, làm tổ ấm cho bao nhiêu bạo quan. Vì vậy bạo chúa bạo quan ở Trung Quốc không bao giờ bị tiêu diệt.

    Trong truyền thống văn hóa Trung Quốc, các vị có thể xem ở “Tư trị thông giám” (Một pho sử của Tư Mã Quang tóm hết chuyện hơn 2.000 năm để làm gương cho người đời sau), cái việc bo bo giữ mình đã được xem là kim chỉ nam và nhấn mạnh năm lần bảy lượt. Bạo chúa, bạo quan cũng chỉ cần dân chúng cứ bo bo giữ mình là được, cho nên người Trung Quốc mới càng ngày càng khốn đốn đến như thế.

    Nơi nào người Trung Quốc đã đặt chân đến thì không thể có chỗ nào là không bẩn. Có hơn một tỷ người Trung Quốc trên thế giới này, làm sao mà không chật chội được? Ngoài ồn, chật, bẩn, loạn, lại còn thêm cái tật “thích xem” (người khác đau khổ), hoặc “chỉ quét tuyết trước nhà mình mà không động tý gì đến sương trên mái ngói nhà người khác”.

    Họ luôn mồm “nhân nghĩa” mà tâm địa ích kỷ, tham lam. Một đằng hô to khẩu hiệu: “Phải tử tế với người và súc vật!”, trong khi đó ngày ngày không ngừng xâu xé lẫn nhau.

    Tóm lại, người Trung Quốc đúng là một dân tộc vĩ đại, vĩ đại đến độ làm cho người đời nay không có cách nào hiểu nổi tại sao họ có thể tồn tại được trên quả địa cầu này những 5.000 năm?

    Bá Dương
    (Bài do một trí thức Trung quốc viết)
    www.vietthuc.org

    Được đăng bởi Việt Dương Nhân

    Lannguyen xin chân thành cảm ơn và http://vietduongnhan.blogspot.com/20...uoi-trung.html
    Lannguyen

  2. #2
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Nên Đọc Cho Biết

    NGUỜI NHẬT THẬT SỰ NHÌN NGUỜI VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO ***
    - Người Việt các anh sẽ muôn đời khổ - Awake Phamtt

    Muốn biết người Nhật thật sự đánh giá thế nào về Việt Nam thì phải nghe những câu chuyện của những người lao động trực tiếp. Còn các nhà nghiên cứu, giáo sư, tiến sỹ, chính trị gia, các nhà ngoại giao, doanh nhân Việt Nam thường chỉ nghe được những lời lẽ ngoại giao từ những người đồng nhiệm với họ phía Nhật Bản nên chưa chắc đã biết được người Nhật thực bụng nhìn vào Việt Nam thế nào.
    Chẳng hạn như thế này, một công nhân làm cho một công ty Nhật ở Việt Nam kể lại khi một kỹ sư Nhật về nước ông ấy không ngại ngần nói với người công nhân Việt Nam:“Người Việt các anh sẽ muôn đời khổ. Đấy là vì các anh chỉ biết nghĩ đến những cái lợi lộc nhỏ của cá nhân mà không biết nghĩ đến cái lợi lớn của chung” Rồi viên kỹ sư minh hoạ: “Một cái vít chúng tôi phải mang từ Nhật sang giá 40.000đ mà rơi xuống đất thì công nhân Việt Nam các anh thản nhiên dẫm lên hoặc đá lăn đi mất vì nó không phải của các anh.
    Nhưng các anh đánh rơi điếu thuốc lá đang hút dở giá 1.000đ thì các anh sẵn sàng nhặt lên và hút tiếp cho dù nó bị bẩn chỉ vì nó là của các anh. Hay như cuộn cáp điện chúng tôi nhập về giá 5tr/m, nhưng các anh cắt trộm bán được có vài trăm nghìn/m. Tất cả những việc làm đó mang lại chút lợi lộc cho các anh nhưng gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp vì chúng tôi phải nhập bổ sung hoăc nhập thừa so với cần thiết”.
    Còn lái xe của viên kỹ sư đó thì được nghe ông ấy tặng quà có giá trị và được nghe ông ấy “tâm sự” như sau: “Tôi rất cảm ơn anh lái xe an toàn cho tôi suốt 5 năm qua. Vì anh là người bảo đảm mạng sống của tôi nên anh làm gì tôi cũng chiều nhưng anh đừng tưởng anh làm gì sai mà tôi không biết. Anh đưa đón tôi ra sân bay quãng đường chỉ hơn 30km anh khai là hơn 100km tôi cũng ký, anh khai tăng việc mua xăng, thay dầu tôi cũng ký là vì tôi cần anh vui vẻ lái xe để tôi được an toàn. Nhưng anh và các công nhân Việt Nam đừng tưởng là các anh vặt được người Nhật.
    Các anh nên biết rằng lẽ ra chúng tôi có thể trả lương cao hơn hoặc tăng lương nhiều hơn cho các anh. Nhưng đáng phải tăng lương cho các anh 500.000 thì chúng tôi chỉ tăng 200.000. Còn 300.000 chúng tôi phải giữ lại để chi trả bù đắp cho những trò vụn vặt hay phá hoại của các anh. Cuối cùng là tự các anh hại các anh thôi. Còn chúng tôi cũng chỉ là lấy của người Việt cho người Việt chứ chúng tôi không mất gì cả”.





    Lannguyen xin chân thành cảm ơn http://vietduongnhan.blogspot.com/20...-viet-nam.html
    Lannguyen

  3. #3
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Nên Đọc Cho Biết

    (Bài cần đọc cho biết) Làm Gián Điệp Cho Trung Cộng: Bằng cách nào Trung Cộng lấy được những bí mật kỹ thuật của Mỹ?

    Khi gửi những tài liệu này đi, ông Chung còn viết một lá thư rất cảm động như sau: “Tôi không biết mình có thể đóng góp được gì cho tổ quốc. Tôi lấy làm hãnh diện về những thành quả nhân dân ta đã làm được cho Quê Mẹ. Tôi lấy làm ân hận mình đã không đóng góp được gì nhiều.”.

    Cali Today News - Ngày 1 tháng Hai năm 2003, khi phi thuyền con thoi Columbia rơi trên không trung, ông Greg Chung đang ngồi ở nhà. Con trai của ông gọi điện thoại báo tin cho bố biết về tai nạn này. Chiếc phi thuyền bị vỡ tung trên đường trở về Trái đất, và bảy phi hành gia trên phi thuyền bị chết hết. Ông Chung mắng đứa con trai: “Đây không phải là chuyện đùa. Con đừng có báo tin bậy.”. Ông Chung là một công dân Mỹ sinh đẻ ở Trung Hoa. Ông đang sống với vợ, bà Ling, trong một khu gia cư khá xinh đẹp, ở thành phố Orange, tiểu bang California. Ông mới về hưu được chừng vài tháng. Trước khi về hưu, ông làm việc cho NASA, cơ quan phụ trách Chương Trình Không Gian của Hoa Kỳ. Ông từng đóng góp vào việc thiết kế phòng lái cho phi hành đoàn trong chiếc phi thuyền Columbia, chưa kể là ông đã làm nhiều việc khác đóng góp cho chuyến bay của phi thuyền. Khi biết rõ cậu con trai, Jeffrey, báo tin là đúng. Ông cúp điện thoại, và ngồi ôm mặt khóc một mình.


    Hồi năm 1972, cơ quan NASA giao việc thiết kế, và thực hiện phi thuyền con thoi cho công ty tư Rockwell làm. Công ty này sau đó đã bị công ty Boeing mua lại. Trong hơn 30 năm, ông Chung là kỹ sư của công ty Boeing, làm việc trong nhóm “stress-analysis”, thử sức chịu đựng của vật dụng thiết kế. Việc làm của ông hết sức tỉ mỉ, và đòi hỏi nhiều kiên nhẫn, thử đi thử lại không biết là bao nhiêu lần. Nhưng đó lại là việc làm sở trường của ông Chung. Ông làm việc miệt mài, ít khi nào bỏ sở ra về, thậm chí ông cũng ít khi nghỉ giải lao. Ông cứ ngồi miết ở máy vi tính, thử đi thử lại đủ mọi loại mô hình, xem coi chất liệu nào thích hợp để làm vỏ phi thuyền, chịu đựng nổi độ nóng, và áp suất va chạm vào phi thuyền.


    Sau khi phi thuyền Columbia bị nổ tung trên không trung, cơ quan NASA yêu cầu hãng Boeing thiết kế một phi thuyền con thoi khác. Ông Chung là nhà thiết kế giỏi nhất trong nhóm. Xếp cũ của ông Chung điện thoại yêu cầu công ty ký hợp đồng nên mướn ông Chung làm công việc này. Mặc dù ông đã ở tuổi 70, song ông hoãn nghỉ hưu, và tiếp tục đi làm. Thế là ông lại quanh trở về thói quen siêng năng cũ, về nhà trễ ăn cơm tối, sau đó lại ngồi vào bàn làm việc cho đến khuya. Ông làm việc say sưa không phải vì người ta hứa thăng chức, hay tăng lương cho ông, mà chỉ vì cái thú làm việc có sẵn trong người của ông Chung. Vợ ông, bà Ling, kể lại về thói quen say mê làm việc của ông. Ông khoe ông đã giúp hãng Boeing tiết kiệm được bao nhiêu tiền. Ông nói nhiều về việc làm của ông đến nỗi bà Long phải bực mình, và nói: “Suốt ngày cứ nói mãi về công ty Boeing của ông. Bộ ông không còn chuyện gì khác để nói với tôi hay sao?”.




    Tháng Tư năm 2006, nhân viên FBI đến gặp ông Chung tại nhà riêng của ông ở thành phố Orange. Chính tay ông Chung là người thiết kế căn nhà ông đang ở. Căn nhà có một hàng ba để ông và bà Ling ngồi nhìn ra vườn hoa lớn phía trước. Ông Chung trồng cây chanh, và cà chua. Hàng ngày ông hay dùng nước tái dụng để tưới hoa, tưới cây. Hai ông bà có hai người con trai đã trưởng thành là Shane, cậu con lớn, và Jeffrey, cậu con nhỏ. Hai cậu con cũng sống ở gần cha mẹ.

    Ông Chung dáng người cao, gầy, với khuôn mặt trầm tĩnh, mở cửa mời khách bước vào trong nhà. Họ mở đầu câu chuyện bằng cách hỏi thăm ông Chung về một người tên là Chi Mak, bạn của ông Chung. Ông này đã bị bắt trước đó vài tháng. Chi Mak là người Hoa gốc Hong Kong đến California định cư vào thập niên 1970, và làm kỹ sư cho công ty Power Paragon, một công ty xây cất hệ thống phân phối điện lực cho Hải Quân. Từ nhiều năm nay, Trung quốc cố tìm cách canh tân hạm đội hải quân của họ. Cơ quan FBI nghi ngờ rằng Mak đã được tình báo Trung quốc huấn luyện, gửi sang Hoa Kỳ để làm gián điệp.

    Sau hơn một năm điều tra, đưa đến việc bắt giữ Chi Mak, cơ quan FBI nghe lén điện thoại của Chi Mak, và bám sát y để theo dõi những giao du hàng ngày của Chi Mak. Có một lần trong lúc Chi Mak và vợ đi nghỉ mát ở Alaska, thám tử Mỹ lẻn vào nhà lục soát suốt đêm. Họ cố gắng không để lại một dấu vết nào, thậm chí màng nhện ở phòng khách họ cũng cố tình giữ nguyên. Vào trong nhà, họ chụp hình hàng trăm tài liệu liên quan đến hoạt động của Chi Mak. Trong đó, có cuốn sổ ghi điạ chỉ, số điện thoại người quen của Chi Mak, vài người là kỹ sư Mỹ gốc Hoa. Một trong những người này là Greg D. Chung.

    Ông Chung tên viết theo tiếng Hoa là Dougfan Chung, sang Hoa Kỳ định cư từ hơn 40 năm trước. Ông Chung cho FBI biết ông và bà Ling vợ ông thỉnh thoảng có đi ăn cơm Tàu chung với Chi Mak. Vì Chi Mak là kỹ sư ngành điện, còn ông Chung là kỹ sư ngành cấu trúc, nên hai người ít khi bàn chuyện công việc làm với nhau. Nhân viên FBI cám ơn ông Chung rồi ra về. Họ tìm được vài tin tức hữu ích, song không có tin gì quan trọng, hay ông Chung không làm điều gì sai trái cả.

    Vài tuần sau, nhân viên FBI lại lục soát nhà của Chi Mak lần nữa. Kỳ này họ bắt gặp một lá thư viết bằng tiếng Hoa trong mớ giấy báo cáo hàng tháng của ngân hàng. Lá thơ mang nhãn hiệu một khách sạn ở Bắc Kinh, do Gu Wei Hao viết. Ông Gu Wei Hao là một quan chức cao cấp trong Bộ Hàng Không của Trung Quốc. Lá thư đó không phải gửi cho Chi Mak, mà là gửi cho Lingjia và Dongfan Chung.

    .ads-center{margin:0 0 0 8px;float: right;}

    Trong lá thư, và sau này còn thêm một số thư khác, viên chức cao cấp họ Gu nhờ ông Chung thu thập tài liệu để giúp Trung quốc thực hiện chương trình không gian của họ. Chính phủ Trung quốc mới bắt đầu kế hoạch xây dựng trạm không gian đặt trên qũi đạo trái đất, và Gu đang tìm cách thu thập tin tức kỹ thuật để giúp thực hiện kế hoạch này. Lá thư của Gu viết cho ông Chung nói rõ: “Tất cả chi phí thu thập, hay cần phải mua tin tức, chúng tôi sẽ cử người đích thân trả bằng tiền mặt, và ông có quyền đem tiền ra khỏi nước một cách an toàn.”. Gu còn mời ông Chung sang Quảng Châu, và tổ chức buổi họp mặt “trong khung cảnh giới hạn, ít người”, “rất an toàn” để có thể cùng bàn luận về những vấn đề kỹ thuật. Vì ông Chung là công dân Mỹ, nên Gu đề nghị ông nên làm đơn xin chiếu khán du lịch, với lý do là đi thăm bà con ở Trung quốc. Gu kết luận ở phần cuối lá thư: “Đây là niềm vinh dự và may mắn cho Trung quốc khi ông nhận thức rằng ông nên đem tài năng, trí tuệ của ông phục vụ đất nước.”.

    TỪ NAY ÔNG CHUNG LÀ KẺ BỊ TÌNH NGHI LÀM GIÁN ĐIỆP CHO TRUNG QUỐC. Cơ quan FBI bắt đầu mở cuộc điều tra, đặt dưới sự điều động của một thám tử tên là Kevin Moberly. Người thám tử có dáng dấp thể thao, mạnh khoẻ, khoảng trên 40, tóc điểm vài sợi bạc, dưới cằm để một chòm râu được chăm sóc khá kỹ. Khoảng 2 giờ sáng một đêm trong tháng Tám năm 2006, ông Moberly ngồi bật dậy, thay quần áo ra khỏi nhà. Ông cùng một thám tử khác tên là Bill Baoerjin lái xe đến thành phố Orange. Họ đậu xe trên đường Grovewood Lane, cách nhà ông Chung chưa đầy 100 yards. Họ ngồi yên trong xe khoảng chừng 20 phút, quan sát khu xóm xung quanh, và để cho đôi mắt quen dần với bóng tối. Sau đó họ dùng đèm bấm có dụng cụ đặc biệt che bớt ánh sáng, đến lục tìm tòi trong hai thùng rác trước cửa nhà ông Chung. Họ thấy một chồng báo Hoa văn. Họ ôm hết cả chồng báo đem về văn phòng.

    Kẹp vào giữa chồng báo là những tài liệu kỹ thuật của công ty Rockwell và Boeing. Thám tử Moberly trước đây đã từng làm sĩ quan tình báo bên Không quân, vì thế ông nhận ra ngay những chữ viết tắt như “O.V”, tức Orbital Vehicle, và “S.T.S” hay Shuttle Transportation System đều là những tài liệu kỹ thuật liên quan đến phi thuyền không gian. Không có bằng chứng nào cho thấy ông Chung muốn trao những tài liệu kỹ thuật này một cách bí mật. Việc ông làm chỉ mang hình thức vứt bỏ những tài liệu kỹ thuật cũ có sẵn trong nhà, vì ông sợ bị vạ lây sau khi vụ bắt giam Chi Mak được loan tin từ vài tháng nay.

    Một tuần sau, thám tử Moberly và Baoerjin quanh trở lại lần nữa để tìm kiếm. Lần này một người hàng xóm tình cờ lái xe đi ngang, khiến cho hai điệp viên phải ngồi thụp xuống, núp sau hai thùng rác cao. Ông Moberly thấy việc lục lọi thùng rác coi bộ rủi ro nhiều quá, ông quyết định nhờ công ty xe rác hợp tác. Trên đường lái xe rác đến trung tâm chế biến rác, xe vận tải sẽ ngưng ở một điểm hẹn để nhóm FBI hốt hết rác nhà ông Chung đem về nghiên cứu.

    Trong tuần lễ kế tiếp, ông Chung đẩy thùng rác ra trước cửa nhà vào lúc trời vừa hừng sáng. Ông đẩy thùng rác nằm kẹt giữa hai thùng “recycle” mà ông đã kéo ra từ đêm hôm trước. Sau đó, ông đứng núp sau bụi cây quan sát một lúc, trước khi ông bước vào trong nhà. Khi nhân viên FBI thu hồi được vật liệu trong thùng rác nhà ông Chung, họ tìm thấy khoảng 600 trang tài liệu kỹ thuật của công ty Boeing, với đầy đủ hình ảnh rõ ràng. Lâu lâu trên trang giấy còn đóng con dấu: “tài sản riêng của công ty” hay “tài liệu mật, cấm trao đổi.”.

    Tháng Chín, ông Moberly đến nhà ông Chung cùng với một đồng nghiệp tên là Gunnar Newquist. Ông này là điều tra viên hình sự của Hải Quân. Hai người đến đây để thực hiện một cuộc phỏng vấn. Hai thám tử ngồi ở ghế sofa màu trắng, còn ông Chung ngồi ở bàn uống cà phê đối diện. Ông Moberley mở đầu câu chuyện bằng việc hỏi thăm tin tức liên quan đến Chi Mak. Sau một giờ chuyện vãn, ông tìm cách hướng câu chuyện liên quan đến vị quan chức Gu Wei Hao làm việc ở bộ hàng không Trung quốc. Ông Chung cho biết qủa thực ông có gặp vị quan chức này trong chuyến đi thăm Trung quốc năm 1985, và sau đó một vài lần vào đầu thập niên 1990’s.

    Ông Moberly đặt câu hỏi: “Ông Gu có bao giờ nhờ ông làm việc gì hay không?”

    Ông Chung trả lời: “Không.”.

    Ông Chung đứng dậy, đi vào nhà bếp lấy một ly nước để uống. Khi ngồi xuống ghế, ông Moberly lôi ra lá thư của ông Gu đặt lên bàn uống cà phê. Ông yêu cầu ông Chung đọc to lá thư đó lên. Ông Chung dịch lại lá thư với giọng nói lạc thần, mất bình tĩnh.

    Moberly đặt câu hỏi: “Trong nhà của ông có còn một tài liệu nào khác lẽ ra ông không được cất giữ hay không?” Sau đó, ông ta đưa cho ông Chung tờ giấy để ký tên cho phép nhân viên FBI lục xét nhà.

    Ông Moberly gọi ngay một toán thám tử đứng chờ phía trước, xông vào thực hiện công việc lục soát nhà của ông Chung. Bà Ling lúc đó vừa về đến nhà, dắt theo đứa cháu trai. Cả ba đứng lặng yên xem hàng chục thám tử lục lọi từng khe ngách nhỏ của căn nhà, trên khoảng đất rộng gần một mẫu tây.

    Ở dưới bao lơn phía sau căn nhà, một thám tử tìm thấy một cánh cửa nhỏ. Cánh cửa được chắn ngang bằng một thanh gỗ. Ông mở cánh cửa ra, và bước xuống vài bậc thềm, ông khám phá ra một ngõ ngách nhỏ, đủ để lách mình đi vào, chạy dọc theo chiều dài của căn nhà. Khúc đầu, ngõ ngách này chỉ đủ cho một người khom lưng đi vào. Sau đó, mặt đất thoai thoải dốc, và người bước vào có thể đi đứng dễ dàng. Từ trong nhà không có lối đi vào ngã ngách này. Khoảng đất trông như một basement, hầm nhà trơ trụi, và chỉ có bóng đèn soi đường. Ở một bên phòng trống này chồng chất mấy cái nệm giường cũ, xe đạp ba bánh cũ, hay vài miếng gỗ tạp. Đi tiến thêm về phía trước của căn nhà, đằng sau tấm ván ngăn sơ sài, là một căn phòng nhỏ, sàn gỗ thô sơ, với nhiều kệ sách. Trên kệ sách có rất nhiều binder, bìa cứng, đựng hồ sơ.

    Người nhân viên dẫn ông Moberly đi xuyên vào ngõ hẹp để cho ông thấy những binder này. Trong những binders đó chứa rất nhiều tài liệu qúi liên quan đến việc chế tạo các loại máy bay quân sự của Hoa Kỳ như oanh tạc cơ B-1, máy bay chở hàng C-17, chiến đấu cơ F-15, và trực thăng vận tải Chinook 47 và 48. Ông Moberly nói với tôi về cảm nghĩ của ông khi bước vào kho tài liệu này: “Tôi có cảm tưởng như mình vừa đi lạc vào bãi mìn của vua Solomon ngày xưa.”. Không rõ ông Chung có vi phạm luật nào hay không, nhưng chắc chắn là ông Chung đã vượt quá lằn ranh của một người sưu tầm tài liệu kỹ thuật.

    Ông Moberly cầm đại một binder, chạy vội lên lầu, đặt lên bàn cà phê cho ông Chung xem. Ông gằn giọng: “Tại sao ông không nói cho chúng tôi biết ông có những tài liệu này?”. Ông Chung không trả lời, quay mặt đi chỗ khác.

    Ngay lúc đó điện thoại reo, và ông Chung bước sang phòng ăn để trả lời điện thoại. Ông Moberly có đem theo một cộng sự viên duy nhất hiểu được tiếng Quan Thoại, đó là Jessie Murray. Jesse Murray đứng nghe lóm câu chuyện thì hiểu là ông Chung đang nói chuyện với cậu con trai lớn, cậu Shane, bằng tiếng Quan Thoại. “Họ sẽ đến nói chuyện với con đó. Họ sẽ hỏi con về chuyến đi Bắc Kinh của trường con.”. Chuyến đi đó xảy ra vào năm 1985, và ông Chung đã gặp Gu Wei Hao, viên chức cao cấp của Bộ Hàng Không. Ông Chung dặn con: “Con cứ nói với họ là con quên hết rồi. Chỉ nói vắn tắt là con không biết.”. Nghe đến đây, ông Murray giật điện thoại khỏi tay ông Chung và cúp máy ngay, cảnh cáo ông Chung rằng ông ta có thể can tội cản trở công lý, một tội rất nặng.

    Cuộc lục soát nhà ông Chung tiếp tục, kéo dài suốt một ngày. Điều tra viên tìm thấy một số tài liệu đã bị đốt, và nhiều hồ sơ khác còn để trong phòng làm việc của ông Chung ở trên lầu. Đến chiều tối, họ khuân đi hơn 150 thùng tài liệu. Trước khi rời khỏi nhà ông Chung, ông Moberly gặp cậu con cả Shane ở lề đường trước cửa nhà xe. Cậu ấy than: “Bố tôi còn nặng lòng với cố quốc quá. Ông cụ cần phải suy nghĩ lại về lòng trung thành với Trung quốc.”.

    ÔNG CHUNG SINH RA TRONG MỘT NGÔI LÀNG NHỎ ở tỉnh Laoning, một tỉnh nhỏ vùng đông bắc Trung quốc. Khi còn nhỏ ông là một cậu bé nhút nhát, chỉ thích sưu tầm đồ chơi nho nhỏ: tem cổ, đá lạ, hay nắp hộp kem đánh răng. Cha mẹ của cậu là Phật tử thuần thành. Ông bà dạy con phải quí trọng thiên nhiên, cây cỏ. Cậu bé tỏ ra say mê tìm hiểu về hoa cỏ, cây cối, và cậu rất bất bình khi thấy những đưá trẻ cùng lứa tuổi bóp chết hàng đàn kiến nhỏ.

    Trong thời Thế Chiến Thứ Hai, khi đoàn quân Nhật đang tiến vào các tỉnh phía đông, gia đình họ Chung phải bỏ làng mạc, cùng với hàng triệu người Hoa khác, đi lánh nạn. Trên đường chạy về phương nam, họ phải tạm dừng chân vì có cuộc giao tranh bằng súng lớn. Gia đình họ Chung phải trốn trong ruộng bắp. Một nông dân tử tế giúp họ Chung cho vào nhà tá túc, và nấu cháo bắp cho ăn. Gia đình đó không nhận tiền đền đáp của họ Chung. Lúc đó cậu bé Chung mới được tám tuổi, và cậu vẫn nhớ mãi nghĩa cử cao đẹp của gia đình nông dân này.

    Cha của ông Chung là một kỹ sư công chánh, làm việc trong bộ hoả xa. Ông là người theo phe Trung Hoa Dân Quốc. Năm 1946, khi phe Mao Trạch Đông dành được quyền kiểm soát toàn thể lục điạ Trung Hoa, gia đình họ Chung phải bỏ chạy sang Đài Loan. Tại đây phe nước Trung Hoa Dân Quốc, hay phe Quốc Dân Đảng thành lập chính phủ lưu vong. Kể từ đó có hai nước Trung Hoa - Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, do Đảng Cộng Sản cai trị, và Trung Hoa Dân Quốc ở Đài Loan. cả hai đều tự nhận mình mới là người đại diện cho quyền lợi của dân Trung Hoa. Thống chế Tưởng Giới Thạch, nhà độc tài quân sự của Đài Loan tung ra rất nhiều kế hoạch tuyên truyền, nhồi sọ trẻ nhỏ ở Đài Loan. Giống như các học sinh nhỏ tuổi khác, Chung đã được dạy phải phỉ nhổ vào chế độ của Mao Trạch Đông. Nhưng ở sâu trong tâm khảm, chú bé vẫn tự hào mình là người Trung Hoa, và qúi mến văn hoá Trung quốc.

    Khi còn học trung học, Chung phải theo học những khoá huấn luyện quân sự bắt buộc. Sau này, cậu có đăng lính vào Lực Lượng Hải Quân của Đài Loan, với mục đích sẽ giải phóng Hoa Lục thoát khỏi sự cai trị của Mao. Một người anh em của Chung kể lại rằng chính cha của cậu Chung khuyên con đi học ngành kỹ sư. Do đó, Chung xin học trường Đại Học Quốc Gia Đài Loan, một đại học danh tiếng. Sau khi ra trường, câu Chung được bổ đi làm tại một đập ngăn nước ở phía bắc Đài Loan. Tại đây, cậu gặp người đẹp Lingjia Wang, một hoạ sĩ, đang làm cô giáo dạy trong trường mẫu giáo gần đó. Ít lâu sau hai người thành hôn.

    Chung rất say mê ngành kỹ sư, cậu là sinh viên giỏi nhất trong lớp. Nhưng triển vọng tương lai nghề nghiệp của cậu sẽ không đi xa nếu cứ lại Đài Loan. Vì thế, giống như nhiều kỹ sư đồng lứa, cậu mơ một ngày nào đó sẽ sang được Hoa Kỳ học tiếp lên cao. Trong lúc làm việc tại dập nước, cậu chịu khó học tiếng Anh do bà vợ ông cố vấn Mỹ dạy.

    Năm 1962, cậu xin được vào học tại trường đại học Minnesota. Cậu lấy bằng cao học về kỹ sư công chánh, và được tuyển vào làm cho hãng Boeing ở Philadelphia. Cậu là một chuyên gia thử nghiệm “stress” trong Vertical Takeoff and Landing Division, phụ trách về sức chịu của thân máy bay trong giai đoạn cất cánh và hạ cánh. Bà Ling học thêm về Hội hoạ. Vào thời điểm đó, nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, hay Trung Cộng không cho người dân xuất ngoại. Gia đình họ Chung chỉ có vài người bạn thân là người Hoa, đa số là dân Đài Loan sang Hoa Kỳ định cư. Thú vui của họ là đi thăm bảo tàng viện ở New York, đi nghỉ mát ngoài bờ biển tiểu bang Delaware, và bắt cua về ăn chung với nhau.

    Một trong những người bạn thân từ thuở nhỏ của ông Chung là Thomas Xie. Anh ta lúc đó đang là sinh viên ở trường New Mexico State University. Anh thường liên lạc với Chung qua thư từ. Có lần anh cho biết anh được nhận vào trường University of Chicago, nhưng thiếu tiền ghi danh. Hai vợ chồng Chung gửi cho anh Xie hai ngàn đô la, không thắc mắc gì cả. Anh Xie nói với tôi về ông Chung như sau: “Greg lúc nào cũng tử tế, sẵn lòng giúp đỡ người khác.”.

    Bà Ling thì thuộc loại người quảng giao, ưa xã giao hơn ông Chung. Bà muốn có nhiều bạn bè thân quen để giao tiếp. Hai vợ chồng cùng gia nhập Hiệp Hội Người Đài Loan ở điạ phương. Trong những lần họp mặt với nhau, hai vợ chồng Chung ủng hộ ý kiến thống nhất hai nước Trung Hoa: Đài Loan và Hoa Lục nên kết hợp lại làm một. Họ phản đối ý kiến phân chia ranh giới giữa hai khu vực. Bà Ling còn nói thêm: “Chúng tôi nghĩ rằng cả thế giới nên sống hoà hợp với nhau. Mọi cuộc xung đột đều vô nghĩa đối với chúng tôi.”. Quan điểm của hai vợ chồng ông Chung làm cho một số người trong Hội Đài Loan không ưa, bởi vì họ nghĩ rằng vợ chồng nhà Chung không còn trung thành với Đài Loan như xưa.

    Năm 1972, ông Chung làm việc cho công ty Rockwell. Công ty vừa nhận được hợp đồng chế tạo phi thuyền con thoi đầu tiên cho cơ quan NASA. Ông Chung dọn sang sống ở miền Nam California. Khi đó, ông Chung và bà Ling đã trở thành công dân Mỹ. Con đường công danh, nghề nghiệp của ông Chung thăng tiến rất mau. Trong khi đó bà Ling cũng khá thành công về mặt xã hội, và hội hoạ. Hai vợ chồng dự tính sẽ mãi mãi sinh sống tại Hoa Kỳ. Giống như nhiều người di dân khác, họ cảm thấy thoải mái, hài lòng với ba dạng tịch khác nhau: Người Hoa, người Đài Loan và người Mỹ.

    TRONG SUỐT THỜI GIAN CUỐI THẬP NIÊN 1970’s, nước Trung Hoa Cộng Sản trải qua nhiều cuộc cải cách to lớn về chính trị, và kinh tế. Thái độ thù nghịch chế độ cộng sản của hai ông bà Chung giảm bớt đi rất nhiều. Bà Ling nói với tôi: “Bỗng dưng, cánh cửa mở ra cho chúng ta có dịp giao tiếp với Trung quốc. Chúng tôi nao nức, tò mò, muốn tìm hiểu về cội nguồn của mình.”. Họ nhận thấy rằng chế độ Trung Hoa Dân Quốc cũng chẳng lấy gì gọi là dân chủ hơn chế độ cộng sản. Ông Ching Wang, bạn thân của ông Chung từ hồi trung học, hiện là giáo sư Hoá học của đại học UC San Francisco, nói với chúng tôi rằng có sự chuyển hướng trong nếp suy nghĩ của người Đài Loan. Điều này cũng dễ hiểu đối với những người đã định cư từ lâu ở nước ngoài, và không có nghĩa là chúng tôi không còn trung thành với Đài Loan. Ông Wang phân tích: “Chúng tôi bắt đầu có những tư tưởng nổi loạn. Chúng tôi không còn tin vào những điều đã được tuyên truyền nhồi sọ vào đầu óc chúng tôi trước đây.”. Truyền thông Đài Loan lúc nào cũng mô tả Trung Cộng như một xã hội chậm tiến, mọi rợ. Nhưng khi xem truyền hình tổng thống Richard Nixon đi thăm Bắc Kinh, chúng tôi thấy thành phố này cũng khá sạch sẽ, và thịnh vượng.

    Thấm nhuần triết lý Phật Giáo, chủ trương “buông xả” giúp ông Chung dễ dàng tha thứ cho những điều xấu xa mà chế độ của Mao Trạch Đông từng gây ra. Một người em của ông Chung nói: “Trong bà con của chúng tôi có người đã bị Cộng Sản giết. Nhưng nghĩ cho cùng thì đó là thế hệ cũ. Chúng ta không thể tiếp tục giữ mãi mối hận thù trong đầu. Anh Greg của chúng tôi cũng cảm thấy như vậy.”.

    Khi họ đến tuổi gần bốn mươi, họ cảm thấy cần phải truy nguyên về nguồn gốc Trung Hoa trong máu huyết của họ. Bà Ling mạnh dạn nói: “Phải trở về nguồn mới được. Nếu không chúng ta sẽ giống như trái bí rợ. Cái đít thì to mà trong lòng chẳng còn trái tim.”.

    Năm 1976, sau khi đi xem hai nhạc sĩ Trung Hoa đến biểu diễn ở Los Angeles, ông Chung bèn đi tìm mua một đàn bầu hai giây của Trung Hoa đem về nhà tập gẩy đàn. Ông Chung và bà Ling bắt đầu sưu tầm những truyền đơn, tài liệu của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa. Kể cả những tài liệu về Cách Mạng Văn Hoá, và những bài viết tiếc thương Mao Trạch Đông sau khi Mao chết. Ông Chung đọc rất kỹ, ghi chép bên lề từng bài viết. Kể từ thập niên 1950’s, đa số người Hoa ở Hoa Lục đều viết Hoa Văn theo kiểu giản đơn của Mao Trạch Đông. Phần lớn người Hoa ở Đài Loan vẫn còn viết Hoa văn theo lối cũ. Ông Chung và bà Ling sẵn sàng tiếp thu lối viết kiểu mới.

    Năm 1976, sau khi Mao chết, đó cũng là thời điểm kết thúc Cuộc Cách Mạng Văn Hoá, và khởi đầu giai đoạn canh tân của Đặng Tiểu Bình. Trung quốc gửi rất nhiều phái đoàn khoa học gia và kỹ sư sang các nước Tây phương. Trí thức Trung Hoa luôn luôn tâm niệm phải “phải dùng khoa học để cứu Trung Quốc.”. Ông Chung theo dõi mọi tiến bộ về khoa học của Trung quốc với niềm tự hào, hãnh diện. Ông cắt dán, lưu trữ những bài báo, hình ảnh liên quan đến việc Trung quốc phóng vệ tinh. Và ông cũng bắt đầu đi dự những buổi nói chuyện của các nhóm học giả, nhà ngoại giao Trung quốc khi họ sang thăm Hoa Kỳ. Trong một buổi hội thảo năm 1979, ông Chung gặp Chen Len Ku, Giáo sư công nghệ của Viện Kỹ Thuật Harbin. Ông Chen này đang đi tìm những tài liệu giảng dạy về “stress analysis”, phân tích sức chịu đựng của vật liệu. Đề tài này là phạm vi chuyên môn của ông Chung. Ông Chung về nhà làm photocopy những bản ghi chép hồi còn học ở University of Minnesota, gửi sang cho ông Chen theo đường biển.

    Khi gửi những tài liệu này đi, ông Chung còn viết một lá thư rất cảm động như sau: “Tôi không biết mình có thể đóng góp được gì cho tổ quốc. Tôi lấy làm hãnh diện về những thành quả nhân dân ta đã làm được cho Quê Mẹ. Tôi lấy làm ân hận mình đã không đóng góp được gì nhiều.”.

    GIÁO SƯ CHEN ĐEM LÁ THƯ VỀ khoe với đồng nghiệp ở Harbin. Hẳn là các quan chức cao cấp Trung cộng cũng nghe nói đến chuyện này. Qua năm sau, ông Chung được mời đến họp tại một khách sạn ở Los Angeles. Diễn giả chính trong buổi họp này là Gu Wei Hao, quan chức của Công Ty Kỹ Nghệ Hàng Không Trung quốc. Đây là một công ty quốc doanh thành lập từ thời thập niên 1950’s với sự trợ giúp của Nga Xô Viết. Công ty này gần như biến mất khi quan hệ Trung Xô bị gẫy đổ, bây giờ người ta đang định canh tân lại công ty. Gu Wei Hao khẳng định Trung quốc cương quyết sẽ học hỏi tìm tòi những kỹ thuật tân tiến, nhất là trong lãnh vực không gian. Sau khi nghe bài diễn thuyết, ông Chung nói chuyện khá lâu với Gu. Trung quốc cần phải cải tiến việc thiết kế khung máy bay, phi thuyền, và đó là lãnh vực chuyên môn mà ông Chung là chuyên gia, biết rất rõ. Sau buổi họp này, ông Chung cũng gặp Chi Mak. Tay này đã bắt đầu sưu tầm tài liệu kỹ thuật cho Trung quốc từ lâu, thế mà ông Chung không hay biết.

    Vào thập niên 1950’s, Đảng Cộng Sản Trung quốc đưa ra chiến lược qui mô thu thập tin tức. Viện Khoa Học Thông Tin Kỹ Thuật, thành lập năm 1958, lấy được hàng ngàn tài liệu nước ngoài, đem về dịch sang tiếng Hoa. Các quan chức cao cấp, học giả Trung Hoa đi Âu Châu và Hoa Kỳ dự hội nghị khoa học chịu khó ghi chép rất kỹ, nghe ngóng, nghe lén, và thỉnh thoảng còn ăn cắp cả những tài liệu chưa được xuất bản. Vào khoảng giữa thập niên 1960’s, chính phủ có khoảng 11,000 tạp chí ngoại quốc, năm triệu bằng khoán trí tuệ, và vài trăm ngàn phúc trình nghiên cứu kỹ thuật, kể cả biên bản hội nghị, hay những đề tài trình luận án tiến sĩ.

    Chính quyền của Mao Trạch Đông chú trọng vào việc sưu tầm những tin tức có thể ứng dụng cho lãnh vực quân sự. Sau khi Mao chết, Trung quốc mở rộng phạm vi sưu tầm. Đến tháng ba năm 1986, Đặng Tiểu Bình thành lập Chương Trình Nghiên Cứu & Phát Minh Kỹ Thuật Cao Cấp, lấy bí số là 863. Chương trình này đặt ra chỉ tiêu làm việc từng năm, từng tháng, và nhấn mạnh những điạ hạt phải chú trọng gồm có: không gian, sinh học, kỹ thuật laser, kỹ thuật tin học, năng lượng, và nguyên vật liệu mới. Chính phủ đỡ đầu cho các hoạt động nghiên cứu, và lập ra những công ty quốc doanh để chế tạo, hay nhập cảng những kỹ thuật cần thiết.
    Khi nào có thể làm được, những công ty này phải cố tìm ra sản phẩm của công ty Tây phương bằng cách mua lại tài sản trí tuệ, hay đánh tráo, ăn cắp cho bằng được. Sau khi tất cả những thủ đoạn này làm không xong, chính phủ sẽ đứng ra yểm trợ cho hoạt động gián điệp. Bộ An Ninh Nhà nước và cơ quan tình báo quân sự sẽ huấn luyện điệp viên để gửi sang Hoa Kỳ và các nước Âu châu. Họ cũng tuyển mộ những khoa học gia, kỹ sư, và chuyên gia sinh đẻ ở Trung quốc hiện đang sống ở hải ngoại, nhất là những người có lý lịch an ninh trong sạch được làm trong những cơ sở bí mật. Có khi những khoa học gia này được yêu cầu phải lấy cắp một loại tin tức bí mật nào đó. Song cũng có khi chính quyền Trung quốc áp dụng chiến thuật “thu thập hàng ngàn hạt cát” ráp chúng lại thành sản phẩm mong muốn.

    Lấy ví dụ trường hợp ông Wang. Ông là giáo sư danh dự về ngành hoá học dược phẩm. Ông phụ trách nghiên cứu cho công ty dược phẩm Merck hồi thập niên 1970. Sau khi nghiên cứu về microbes có ở trong đất nhiều năm, ông Wang và các đồng nghiệp phát minh loại thuốc chống ký sinh trùng lấy tên là ivermectin. Chỉ ít lâu sau, tin tức về sự thành công của ông Wang được đăng tải, ông nhận được điện thoại của nhân viên làm cho công ty dược phẩm quốc doanh ở Mãn Châu mời ông Wang đi sang thăm Trung Hoa, dặn ông đem theo mẫu microbe dùng để chế ra dược phẩm. Ông Wang nói rằng có lẽ người gọi điện thoại mời ông đi Trung quốc không hiểu việc họ làm là một điều hỗn láo, rất xấu. Thậm chí họ còn khinh thường ông bằng cách yếu cầu ông bỏ tiền túi ra mua vé máy bay mà đi. Ông Wang giận lắm, cúp điện thoại, không thèm trả lời.

    Ông Chung thì ngược lại, có thái độ khác hẳn với ông Wang. Ông Chung hăm hở muốn giúp đỡ Trung quốc. Nói về phương tiện tài chánh, vợ chồng ông Chung tương đối rất khá giả. Họ có chung cư cho thuê ở thành phố Alhambra, và một xưởng sửa xe hơi kh áphát đạt ở Long Beach. Đấy là chưa kể hai vợ chống sống rất tằn tiện. Họ cắt tóc cho nhau để đỡ tốn tiềm. Năm 1984, khi Thế Vận Hội Muà Hè tổ chức ở Los Angles đang diễn ta, vợ chồng ông Chung là một trong những Hoa Kiều hải ngoại được mời dự yến tiệc cùng với các lực sĩ Trung quốc. Có đôi lần, theo l72i yêu cầu của Lạnh Sự Quán Trung quốc ở San Francisco, vợ chồng ông Chung nhận lời bảo trợ, đỡ đầu cho người Hoa mới đến định cư ở California. Ông bà dẫn họ đi mua sắm những món đồ cần thiết cho cuộc sống, và chở họ đi chợ trong vài tháng đầu mới định cư.

    Tháng Hai năm1985, ông Chung nhận được thư của quan chức tên là Chen Qi-Nan mời ông đi Trung quốc dự hội nghị “trao đổi kỹ thuật”. Ông Chen đề nghị ông Chung soạn sẵn tài liệu liên quan đến những vấn đề kỹ thuật. Trong đó có việc thử sức chịu đựng của khung máy bay sau khi sử dụng nhiều lần.

    Ông Chung trả lời thư mời răằng đến tháng Bảy sắp tới là thời gian thuận tiện để ông đi Trung quốc nhân dịp nghỉ hè vài tuần, để ông có dịp chính mắt mính đi thăm phong cảnh của Quê Mẹ. Ông xin công ty Rockwell cho ông nghỉ phép bảy tuần lễ để đi chơi.

    Ông Chung vẫn còn giữ lá thư mời, cũng như bản nháp thư trả lời của ông. Đọc cả hai lá thư, không biết là Trung quốc mang ơn ông, hay là ông mang ơn Trung quốc. Trong một lá thư gửi cho bạn đồng lieu của Chen Qi Nan, ông Chung viết: “Thật là một vinh hạnh lớn cho tôi, và tôi lấy làm phấn khởi khi có dịp đóng góp vào kế hoạch canh tân Quê Mẹ.”. Động lực đầu tiên xúi ông tiếp tay cho Trung quốc là “nghĩa vụ của một con dân”. Bà Ling phải thú nhận: “Nhà tôi rất trung thành với tổ quốc. Ông ấy có một tấm lòng yêu nước rất lớn.”.

    Chen và Chung tiếp tục trao đổi thư từ với nhau nhiều lần. Chen hỏi ông Chung về các loại máy bay, và cách thiết kế trực thăng, và có lẽ ông Chung muốn khoe khoang kiến thức của mình, lại bàn luôn sang chương trình phi thuyền con thoi. Chen phải nhắc nhở ông Chung: “Tôi vẫn mong được ông chỉ trình bầy về các loại máy bay qui ước thôi.”. Sau đó để tránh khiến ông Chung bị giảm bớt lòng hăng say, Chen hứa việc trình bầy về phi thuyền con thoi cũng sẽ được đưa vào nghị trình.

    CUỐI THÁNG SÁU NẮM 1985, ông Chung, bà Ling bay đi Trung quốc cùng với hai cậu con trai ở tuổi teenager. Trong lúc cậu Shane và Jeffrey theo học lớp dạy Hoa Văn ở Bắc Kinh, ông Chung và bà Ling đi thăm khoảng hơn một chục thành phố khác nhau cùng với các đoàn du lịch. Họ ghé thăm nhiều nơí chế tạo máy bay ở tỉnh Nanchang, Chengdu và Xi’an. Bộ hàng không sắp xếp, và trả hết phi cho những chuyến đi này. Ông Chung còn là diễn giả trình bầy những vấn đề kỹ thuật cho mọi người nghe. Chương trình diễn thuyết của ông được các đại học lớn, và cơ xưởng kỹ nghệ đài thọ. Ông Chung dùng phim ảnh, tài liệu mang từ Mỹ sang để trình bầy về cách thiết kế phi thuyền của Cơ Quan Không Gian Hoa Kỳ (NASA), làm cách nào để đưa phi thuyền con thoi trở về trái đất an toàn. Ông Chung nhận thấy những kỷ thuật ở Bắc Kinh quá lỗi thời, có từ thập niên 1950’s và chưa được canh tân, cập nhật.

    Chuyến đi thăm Trung quốc lần này là chuyến đi đầu tiên trong đời ông Chung ở tuổi chững chạc. Nó để lại trong tâm khảm ông rất nhiều dư âm quan trọng cả về mặt chuyên môn, cũng như tình cảm cá nhân. Xen vào giữa những buổi diễn thuyết ở các xí nghiệp, ông Chung còn được Bộ Hàng Không sắp xếp cho đi thăm nhiều thắng cảnh đẹp của đát nước Trung Hoa. Đó là những nơi khi còn nhỏ, cậu bé Chung hằng ước mơ được đi thăm. Ví dụ như Tượng Phật vĩ đại xây trên núi Leshan, và Chuà Dyan ở thành phố Xi’an. Trong lúc lái xe đi qua nhiều làng mạc, ông Chung trông thấy dân quê Trung quốc hái sen từ vũng sình lầy. Bà Ling kể lại cho tôi rằng khi ông Chung ngồi toạ thiền, ông đã hồi tưởng và thấy được cuộc đời của ông ở kiếp trước, đó là cuộc đời của một nhà sư trong ngôi chùa Trung Hoa.

    Vào cuối mùa hè, ông Chung đem về Mỹ những món quà lưu niệm nhỏ: chiếc kim cài lên cà vạt do hãng chế tạo máy bay tặng, một vật trang sức cho cà vạt khác do Trung quốc Học Viện Công Nghệ làm riêng cho ông, kèm theo một bảng vấn lục dài tám trang. Đó là danh sách những điểm kỹ thuật mà các kỹ sư hàng không ở Nanchang muốn tìm hiểu. Ông Chung để ra vài tháng nghiên cứu sách vở để trả lời những câu hỏi mà các kỹ sư yêu cầu. Đến tháng 12, đích thân ông Chung lái xe lên Lãnh sự quán Trung quốc ở San Francisco để gửi tài liệu đi Nanchang qua thể thức gửi hàng của giới noại giao. Những thứ ông Chung gửi đi, nếu giới chức Hoa Kỳ biết được chắc hẳn họ phải kinh hoàng. Toàn là những tài liệu mật có giá trị dầy khoảng bảy cuốn sách cẩm nang về kỹ thuật từ tài liệu công nghệ của công ty Rockwell cho đến cách thiết kế oanh tạc cơ B-1.
    Ông Moberly nói với tôi: “Tài liệu ông Chung gửi đi chính là Toa Thuốc Thánh giúp cho công ty sản xuất máy bay Trung quốc có thể làm được những gì Hoa Kỳ đang làm.”. Ông Chung đã đem cho đi những kiến thức kỹ thuật mà công ty Rockwell phải mất hàng chục triệu đô la, và nhiều năm mới sáng chế ra được kỹ thuật đó. Bà Ling thì cho rằng chẳng có gì đáng kể, bạn bè giúp nhau là chuyện thường. Bà nói với tôi: “Toàn bộ quan hệ này chỉ mang tính chất hữu nghị. Ở Trung quốc, mọi người đều sẵn lòng giúp đỡ nhau. Nếu bạn là kỹ sư, thì bạn nên làm những gì bạn có thể làm được để giúp cho tổ quốc của bạn.” .

    Trong khoảng thời gian một năm rưỡi sau, gia đình họ Chung mua thêm nhiều tài sản điạ ốc. Tháng 10 năm 1986, họ mua một căn nhà ở vùng Cypress, California. Năm tháng sau, họ trả bằng tiền mặt khoảng 600,000 để mua một căn nhà rộng một mẫu đất ở Orange, và còn có dư tiền để xây lại căn nhà từ đầu. Đặc biệt là gia đình này không thích xe xua, đi xe đắt tiền hay áo quần sang trọng. Vì thế hàng xóm không ai để ý đến sự giầu có của gia đình này.

    Gu Wei Hao thỉnh thoảng ghé thăm gia đình, và hai vợ chồng ông Chung đưa quan chức này đi chơi nhiều nơi, như Disneyland, hay ra biển hóng mát. Phụ cấp công tác ngoại giao của Gu bèo lắm, chỉ được có $4 đô la một ngày. Vì thế phần lớn vợ chồng ông Chung trả hết chi phí đi chơi cho Gu. Nếu không hẳn là Gu phải có một qũi đen nào đó để cho y tiêu dùng.

    Gia đình ông Chung dọn về căn nhà mới vào năm 1989. Chiều tối, nôg Chung có cái thú tiêu khiển lấy ống viễn vọng kính nghiên cứu vì sao trên trời. Ông thích nghiên cứu bản đồ thiên văn học của Trung Hoa ngày xưa, xác định các chùm sao tinh tú trên trời. Bà Ling là người ưa thích mỹ thuật, hội hoạ. Bà lấy thêm văn bằng cao học mỹ thuật của trường California State University, Long Beach. Bà biến cái garage nhà bà thành một studio cho bà vẽ tranh. Bà cũng nhận dạy hội hoạ cho trường đại học cộng đồng ở điạ phương. Bà thích dạy về trường phái tân ấn tượng, trừu tượng, và tĩnh vật thịnh hành ở Hoa Kỳ và Âu châu vào cuối thập niên1970’s. Một đồng nghiệp trong trường nói với chúng tôi: “Bà có một số môn đệ rất thích theo học với bà, họ mê say lối dạy của bà.”.

    Vào năm 1998, tức là hai năm sau khi hãng Boeing mua lại hãng Rockwell, ban quản trị mới quyết định rời văn phòng đi nơi khác. Nhân viên được chỉ thị phải chuẩn bị thu dọn đồ đạc. Những tài liệu tham khảo cần giữ được tập trung vào các thùng để sẵn, và công ty vận chuyển sẽ đem đi. Những thứ nào cần vứt đi, cứ bỏ vào bao rác, sẽ có người đến đem đi đốt bỏ. Trong vòng vài tuần lễ sau đó, ông Chung đem về nhà hàng chục thùng tài liệu. Ông dấu những thùng tài liệu này trên những kệ sách trong căn hầm sau nhà. Những người quen ông ở Trung quốc nhờ ông thu thập bất cứ tài liệu kỹ thuật nào hữu ích. Bây giờ thì ông có thể có đủ tài liệu để cung cấp cho họ trong nhiều năm chưa hết.

    Năm 2002, khi ông Chung sắp đến tuổi về hưu. Ông vào sở liên tục in rất nhiều tài liệu gốc của công ty Boeing ra. Trên mỗi bản in ra, ông ta phải mừng chất keo mầu trắng để xoá lời cảnh cáo, cấm không được chia sẻ tin tức trong tài liệu với người ngoài công ty. Ông cũng cẩn thận ghi lại ngày tháng sao chụp, và xoá bỏ tên nhân viên chụp bản sao. Ông làm photocopy những tài liệu này, bản chính do ông giữ, bản chụp hình ông gửi sang Trung quốc. Khối lượng tài liệu in và sao chụp rất lớn, ông Moberly nói với tôi: “Ông Chung chắc phải dùng hàng trăm bình nước tẩy xoá máu trắng.”.

    NĂM 2007, TRONG PHIÊN TOÀ LIÊN BANG KÉO DÀI 6 TUẦN LỄ, tại Santa Ana, California, công tố viên trình bầy lý luận truy tố Chi Mak là một tên gián điệp làm việc cho chính quyền Trung quốc. Họ tố cáo những tài liệu do Chi Mak thu thập đã giúp Trung quốc làm được hệ thống radar Aegis. Hệ thống đó giúp bảo vệ các tầu chiến Trung quốc. Bồi thẩm đoàn quyết định kết án Mak về tội làm gián điệp cho chính phủ nước ngoài, và hắn bị tuyên án 24 năm tù, trong nhà tù liên bang. Đây là một bản án nặng nhất dành cho một tên gián điệp cho Trung cộng làm việc tại Hoa Kỳ.

    Một người em trai của Mak, cùng bà vợ của y, bị cảnh sát phi trường quốc tế Los Angeles bắt giữ cùng với một cuốn CD chứa đựng số tài liệu mật. Tuy nhiên, trong trường hợp của ông Chung, các điều tra viên gặp phải điểm khó khăn khi truy tố. Trong nhiều tháng, thám tử của FBI nghiên cứu hơn ba trăm ngàn trang giấy tịch thu ở nhà ông Chung, nhưng không có một tài liệu nào được gọi là tài liệu mật. Ông Chung không thể bị kết án là đã tiết lộ bí mật quốc gia cho nước ngoài. Khi biện lý cuộc chứng minh ông Chung đã chia sẻ tài liệu mật với viên chức cao cấp Trung quốc vào thập niên 1980, đến nay đã quá hạn kỳ truy tố 5 năm, nên những vi phạm nếu có xảy ra cũng không còn đầy đủ hiệu lực dùng để kết án. Ông Moberly nói: “Rõ rệt là ông Chung đã làm điều sai quấy. Nhưng chúng tôi phải tìm ra luật lệ nào mà ông Chung đã vi phạm, để truy tố ông ta.”.

    Trong lúc xem xét qua những luật lệ liên bang, ông Moberly bắt gặp một đoạn văn mang tựa đề: “Economic Espionage” (Làm Gián Điệp Kinh Tế) đã được Quốc Hội thông qua và làm thành luật Economic Espionage Act năm 1996. Ông Moberly nhớ là mình đã học qua lớp học dài khoảng 30 phút trong chương trình huấn luyện phản gián. Lớp học ngắn quá, và ít có ai bị truy tố về tội làm gián điệp kinh tế, nên không ai để ý đến đạo luật này.

    Nội dung của đạo luật nói rằng kẻ làm gián điệp kinh tế là người đã “lấy đi, mang theo, cất dấu” hay “sử dụng không đúng cách” những bí mật mậu dịch với chủ đích trợ giúp chính quyền nước ngoài. Đối với trường hợp của ông Chung, công tố viên không cần phải chứng minh ông Chung chuyển giao tài liệu sang Trung Hoa trong năm năm qua. Chỉ riêng việc ông cất dấu bí mật mậu dịch trong căn hầm đủ để kết tội ông.
    Năm 2009, vụ án liên quan đến ông Chung được đem ra xét xử. Chánh án kỳ này cũng chính là thẩm phán Cormac J. Carney, người từng xử Chi Mak trước đây. Trong phần lấy lời khai, chuyên viên tình báo FBI, Ronald Guerin, trình bầy kỹ thuật ngành tình báo Trung quốc tuyển người làm gián điệp cho họ. Ông Guerin phân tích: “Tình báo Trung quốc cố tình khai thác khía cạnh Trung Hoa nơi người làm mật báo viên. Họ dụ dỗ những người này bảo rằng họ cứ chịu khó làm gián điệp cho Trung quốc đi, nó chẳng hại gì Hoa Kỳ cả, chỉ giúp cho Trung quốc thôi.”., “Bạn chỉ cần vỗ vai người Hoa, và bảo anh ta rằng anh cần giúp đỡ cho Quê Mẹ, cho đất nước của anh.. Và sau đó, anh cho người mật báo bằng khen, bằng tưởng lục…, hay cho người ấy một số tiền.”. Trong trường hợp của ông Chung, rõ rệt là ngành tình báo Trung quốc đã dùng nghệ thuật ngon ngọt nói nịnh ông Chung, và đem lại hiệu quả tốt. Việc truy tố ông Chung không hề có bằng cớ về số tiền trao đổi để lấy tin tức.

    Phe bào chữa cho ông Chung lý luận rằng quả thực ông Chung đã làm một số việc “ngu dại trong quá khứ”, nhưng từ chối không nhận tội chia sẻ tin tức mật. Ông ta chỉ là một kẻ tàng trữ tin tức vào hàng tép riu. Ngay lập tức, ông Greg Staples, công tố viên trưởng, phản bác liền: “Hắn không phải là loại tép riu. Hắn là tên tàng trữ tin tức khổng lồ, ghê gớm, và đáng sợ.”.

    Ông Chung trở thành người Mỹ đầu tiên bị kết tội làm gián điệp kinh tế. Ông bị kết án 15 năm 9 tháng tù. Từ sau vụ này, còn có bốn người khác bị công tố viên liên bang truy tố về tội làm gián điệp kinh tế. Tổng cộng có năm người bị kết án với tội danh này.

    Sau này, ông Moberley kể cho biết trong thời gian vụ xử tiếp diễn, có lần ông Chung xác nhận ông trao tài liệu mật, và được nhận tiền thưởng. Để bảo vệ bí mật cho cơ quan FBI, ông Chung không dám công khai nói trước toà về trường hợp ông được trả tiền. Những lời cáo buộc trùng hợp với nội dung lá thư mà Gu Wei Hao viết cho ông Chung, hứa sẽ trả bằng tiền mặt cho ông Chung. Ngoài ra, trương mục ngân hàng của ông Chung tương đối không có nhiều tiền, và đồng lương của ông ở Rockwell không quá lớn, khoảng $60,000 một năm. Vậy mà không hiểu nhờ đâu mà ông Chung có thể làm chủ một garage sửa xe, một chung cư ba căn apartment cho thuê, và làm chủ hai căn nhà cùng một lúc. Ông Moberly vẫn nói với tôi rằng: “Tôi không bao giờ tin ông Chung làm chuyện này để lấy tiền.”. Rất có thể chính quyền Trung quốc cho ông Chung vài chục ngàn như là một số tiền tưởng thưởng, khích lệ mà thôi.

    ÔNG CHUNG KHÔNG BAO GIỜ CHO PHÉP TÔI VÀO THĂM ÔNG TRONG NHÀ TÙ, nhưng bà Ling thì miễn cưỡng trả lời điện thoại của tôi. Bà không bị truy tố về tội hình. Một buổi chiều, tôi đậu xe ở cuối đường Grovewood Lane, đi bộ lại căn nhà ông bà Chung có cổng sắt. Chuông bấm ở cổng đầy máng nhện bám, ám chỉ rất hiếm khi họ có khách đến nhà. Sân cỏ trước nhà mọc đầy cỏ dại, cái xe cút kít để hốt lá cây khô, nằm chỏng gọng ở một góc, không có ai dùng đến nó từ nhiều năm nay.

    Khi tôi bấm chuông cửa, bà Ling Chung bước ra, dơ tay vẫy từ bực thềm trước nhà. Bà mặc bộ quần áo ở nhà mầu xanh lá cây, tóc bà bơ phờ, không trang điểm. Bà mời tôi ngồi ở ghế sa lông mầu trắng trong phòng khách. Nắng chiều lọt vào khe cửa làm loé lên vài đường nắng sáng trên nền thảm.

    Bà Ling rót ra một ly nước, mời tôi, và ngồi đối diện với tôi. Với nụ cười chán nản trên môi, bà kể cho tôi kỷ niệm hồi hai vợ chồng bà xin vào quốc tịch Mỹ. Trong mục câu hỏi “Liệu ông có sẵn sàng cầm súng bảo vệ Hoa Kỳ hay không?”. Ông Chung bỏ trống, không trả lời. Người phỏng vấn hỏi ông Chung: “Ông có sẵn sàng chiến đấu chống lại Trung quốc trong trường hợp xảy ra chiến tranh hay không?”. Bà Ling nhớ rõ câu trả lời của ông Chung là: “Nếu việc này xảy ra, tôi sẽ lấy khẩu súng tự bắn vào mình trước.”.

    Chúng tôi bước bên nhau, đi từ phòng khách sang xưởng vẽ của bà. Phòng vẽ tranh trông ra sân trước. Một bức tranh trừu tượng khổ lớn đang để trên nền nhà, tưạ vào tường. Bà Ling nói với tôi rằng từ nhiều năm nay, bà tiếp tục vẽ tranh. Bà chỉ tay về phía một bức tranh trông như thập tự giá mầu violet, trên một chân trời tím. Bà nói tựa đề bức tranh này là “45436-112”. Đó là con số tù của chồng bà đang đeo khi thụ án tại một nhà tù liên bang, không bị kiểm soát chặt chẽ. Nhà tù này ở thành phố Butner, tiểu bang North Carolina. Vài tháng bà đi thăm ông một lần.

    Nước mắt ứa trên khoé mắt của bà. Bà tâm sự với tôi: “Ngày đầu tiên chúng tôi gặp nhau, là chúng tôi quyết định sẽ lấy nhau. Vợ chồng chúng tôi sống rất hoà thuận, hạnh phúc. Ngay cả khi chúng tôi trên 60, bạn bè thường nói chúng tôi trông như cặp tình nhân ở thuở sinh viên.”. Khi ông Chung còn làm cho hãng Boeing, thỉnh thoảng ông ngủ trưa trong hãng, ông choàng tỉnh dậy vì nằm mơ thấy bà Ling đứng cạnh hát cho ông nghe. Ông hay cằn nhằn: “Tôi đã nói với bà nhiều lần, đừng đứng cạnh tôi mà hát, tôi ngủ không được.”. Trong đầu ông lúc nào cũng nghĩ rằng tôi đang hát.

    Tôi hỏi bà Ling liệu ông Chung có thuỷ chung với nước Trung Hoa nhiều như ông chung thủy với bà? Phải chăng các quan chức Trung quốc đã lợi dụng tấm lòng chung thủy của ông Chung? Bà lặng thinh, không trả lời. Tôi hỏi thêm theo bà nghĩ ông Chung có vô tội không?. Bà nói: “Tôi không thể trả lời câu hỏi này được.”

    Bà cho rằng các công tố viên đã suy nghĩ nông cạn, khi tìm hiểu động lực nào đã khiến ông Chung làm chuyện này. Theo bà: “Những công tố viên này chỉ nghĩ một cách phiến diện, lướt qua trên bề mặt của vấn đề.”. Sau đó, bà phân tích kỹ hơn cho tôi nghe: Chủ đích của ông Chung là giúp Trung quốc, và không có ý định làm hại Hoa Kỳ. Bà nói thêm: “Khi ông kết bạn với một người, người ấy nhờ ông giúp đỡ, nếu ông là kỹ sư, hay hoạ sĩ. Ông biết gì thì giúp bạn ông trong khả năng của mình. Chỉ có thế thôi.”.

    Trước khi ra về, bà Ling cho tôi xem một tấm giấy dài, dán trên tường, ngay cửa bước vào phòng vẽ tranh. Trên tấm giấy viết những hàng chữ Tầu rất đẹp: Đó là một số điều người Phật Tử nên làm. Chính ông Chung đã chép tay những điều này cho bà Ling. Tôi thắc mắc không hiểu những điều Đức Phật dạy có giúp gì cho ông Chung trong việc giải quyết xung đột giữa hai chọn lựa ông nên trung thành với Hoa Kỳ hay với Trung quốc. Tôi hỏi bà Ling xem bà có thể cùng một lúc duy trì thái độ của hai con người, với hai quốc tịch. Mắt bà sáng hẳn lên, bà nói: “Tôi là một người Hoa, Tôi cũng là một người Mỹ. Điều này thật là đẹp. Việc gì cứ phải biến nó thành hai thực thể kình chống nhau?”.

    Bài phóng sự điều tra của Yudhijist Bhattacharjee trên The New Yorker 5/5/14

    Nguyễn Minh Tâm dịch


    ====


    "Những loạt bài như trên cộng với những gì chúng ta biết về thủ đoạn làm giàu bất chính của các công ty sản xuất thực phẩm người Tàu Hán trên khắp thế giới nhất là ở VN cho ta bài học gì : cái luân lý Khổng Mạnh của người tàu chỉ là trò lừa bịp thiên hạ, còn những gì con cháu họ hấp thụ được nếu không để thục hiện giấc mộng bành trướng xâm lăng, trong đó có việc tiếp tay dưới hình thức đánh cắp tài liệu quốc phòng, thủ đoạn gọi là "ăn cháo, đái bát" với quốc gia đã cưu mang mình khi rời bỏ "nước mẹ vĩ đại", ... thì cũng để ăn cắp thông tin, chế hàng nhá hàng giả, đầu độc người tiêu dùng nhằm hưởng lợi, và một nền văn hóa vô cùng trụy lạc vô đạo đức !

    Người Việt còn muốn tôn sùng văn hóa Khổng Mạnh ? Còn muốn ăn mừng tết Nguyên Đán ? Còn muốn sống theo nếp sống của sao tàu, trang trí theo kiểu mẫu tàu, đặt tên con theo âm tàu ...? Nếu muốn mất nước sớm hơn thì cứ thế mà làm !"


    http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=29071

    Được đăng bởi Việt Dương Nhân
    Lannguyen xin chân thành cảm ơn
    Việt Dương Nhân http://vietduongnhan.blogspot.com/20...bang-cach.html
    Lannguyen

  4. #4
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Nên Đọc Cho Biết

    Bảo Đại: Tối cao cố vấn của ông Hồ – Phong Uyên


    Posted by Nguyễn Tuấn on Tháng Sáu 15, 2014 in Phong Uyên, Tài liệu |
    Sau 25 năm im hơi lặng tiếng, đầu năm 1980, cựu hoàng Bảo Đại cho xuất bản cuốn hồi ký viết bằng tiếng Pháp Le Dragon d’Annam (Rồng Nam), kể lại cuộc đời mình từ khi sinh ra ở Huế cho đến năm 1956, khi bị ông Diệm truất phế. Phần đặc sắc nhất trong cuốn sách là phần kể lại thời gian ông Bảo Đại được ông Hồ phong làm cố vấn tối cao, sống ở Hà Nội sau khi thoái vị cho đến khi theo một phái đoàn của ông Hồ qua Tàu rồi đi Hồng Kông. Những sự kiện liên quan đến ông Hồ được ông Bảo Đại kể lại trong phần này chứng tỏ Bảo Đại cũng như hầu hết người dân Việt thời đó, đều bị ông Hồ mê hoặc khi ông hô hai câu thần chú “Độc Lập”, “Thống Nhất”.
    Tôi xin trích dịch những đoạn chính trong phần này và tiếp theo, xin đưa ra một vài bình luận.
    Cuộc Cách Mạng Việt Minh
    “…. Phụ tá tổng trưởng bộ Thanh niên (Phan Anh, trong chính phủ Trần Trọng Kim) Tạ Quang Bửu, là người cho tôi biết có một nhóm kháng chiến được thành lập ở miền thượng du, vùng Cao Bằng có tên là ” Liên đoàn Việt Minh “. Linh hồn nhóm này là Võ Nguyên Giáp, được Tạ Quang Bửu nói đến với đầy nhiệt tình. Sau những cuộc hành quân du kích chống Nhật, “Việt Minh” bắt liên lạc được với đồng minh Trung Hoa và Mỹ đồng thời với cả Pháp và ngay cả với Khâm sai của tôi ở Bắc bộ là Phan Kế Toại. Nhưng tôi cũng không liên lạc được với Phan Kế Toại nên không có sự khẳng định cùa ông ấy (tr 113)
    “… Có rất nhiều tin xấu đến tai tôi. Nguyễn Văn Sâm, người đại diện của tôi ở Sài Gòn chưa thấy tới nhiệm sở. Nghe đồn ông ấy bị ám sát sau khi rời khỏi Huế. Ai đã giết ông ấy? … Ở Hà Nội cũng đang xẩy ra những biến cố rất quan trọng. Ngay sau khi Nhật đầu hàng, có những toán xung phong dưới quyền Võ Nguyên Giáp đột nhập vào thành phố và mở cửa nhà tù dưới cặp mắt thản nhiên của Nhật Bản. Ngày 17-8, dưới sự xúi giục của những toán này, có cuộc biểu tình tụ tập 20 ngàn người trước Nhà Hát Lớn. Mọi người đều hô to “Độc lập” và trương cờ mới màu đỏ sao vàng, mà có người nói là do Kampetai (Mật vụ Nhật) đặt ra… Cờ Đế quốc Việt Nam bị giựt xuống…
    ” Ngày hôm sau, khâm sai của tôi, phải bỏ nhiệm sở và được thay thế bằng một Ủy Ban chỉ đạo lâm thời… vô danh. Ngày 19, toán xung phong “Việt Minh” được tăng cường bởi một đám đông vừa đi vừa la hét, chiếm đóng các công thự : tòa Thống sứ, Tòa án, Kho bạc, trường Đại học và các trường trung học… không những quân đội Nhật có phận sự duy trì kỷ luật, không có phản ứng mà còn mở kho súng phân phát cho lính vệ binh Đông Dương (Lính Khố đỏ);
    ” Những tin tức đó bị ít nhiều xuyên tạc khi đến tai tôi. Về tình hình Nam Kỳ thì còn thiếu chính xác hơn nữa. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, thủ lãnh “Thanh niên Tiền phong “, hình như từ ngày 15-8 đã đứng đầu một Mặt trận Quốc gia trước khi thành lập một Ủy ban hành pháp lâm thời đặt trụ sở tại dinh Thống đốc dưới sự chủ tọa của một người tên là Trần Văn Giầu mà theo Tạ Quang Bửu, người thông tin cho tôi, là người thuộc về Việt Minh. Cũng như ở Hà Nội, Nhật cũng không có phản ứng gì ở Sài Gòn…
    ” Cái quan trọng hơn hết cả là ở chỗ nào cũng có những cuộc ám sát và sự mất tích, đặc biệt là những nhân vật quốc gia.
    ” Ngay ở Huế cũng có những truyền đơn được phân phát. Và có những nhóm không biết nghe lệnh từ đâu, tụ họp và di chuyển trong thành phố, tới tận sát Thành nội.

    ” Ngày 22-8, đại tá chỉ huy quân đội Nhật ở Huế tới xin triều kiến và nói với tôi là theo lệnh của Chỉ huy Đồng Minh, quân đội Nhật đã bố trí xong hệ thống bảo vệ an ninh thành nội và mọi người trong Thành. Đường từ cầu Tràng Tiền ra cũng như tất cả những lối vào Thành đã bị chắn. Tôi cực lực phản đối quyết định này và nói : “tôi tuyệt đối khước từ sự bảo vệ của ông. Tôi ra lệnh cho ông bãi bỏ hệ thống phòng vệ vì tôi không muốn một quân đội ngoại quốc làm đổ máu dân tộc tôi. (tr 117)
    ” Để chắc chắn là lệnh của tôi được thi hành, tôi trao cho ông ta một công hàm có dấu ấn của tôi, trút cho ông trách nhiệm phải duy trì trật tự quanh Thành nội.Tôi ghi thêm là phải mở lại tất cả mọi cửa vào Thành để mọi người tự do ra vào như thường lệ.
    ” Sau đó ít lâu, giám đốc Bưu điện Huế xin được gặp tôi . Ông ta đưa cho tôi một điện tín nhận được từ Hà Nội. Nội dung bức điện tín : ” Trước lòng quyết tâm của toàn thể dân tộc sẵn sàng hy sinh để bảo vệ nền độc lập quốc gia, chúng tôi kính cẩn xin Hoàng thương làm một cử chỉ lịch sừ là trao quyền lại “. Điện tín này được ký bởi ” Ủy ban Nhân dân Cứu quốc đại diện mọi đảng phái và mọi tầng lớp nhân dân “. Nhưng không có tên ai.
    “… Sáng ngày 23 chung quanh tôi đều trống không. Từ ông Trần Trọng Kim tới mọi tổng trưởng, chả ông nào có mặt. Chỉ còn người em họ là hoàng thân Vĩnh Cẩn ở cạnh tôi.
    ” Những lời tâm sự của Tạ Quang Bửu trở lại trong trí tôi : Cái Mặt trận Việt Nam Độc Lập Đồng minh Hội” là cái gì để có thể động viên quần chúng, thực hiện những ước vọng của đám đông và bây giờ lại bảo tôi phải làm gì?
    “Tôi không biết ai là những thủ lãnh. Vậy mà những người này lại có những tiếp xúc với Đồng Minh Trung Hoa, Mỹ, Pháp, khi mà những lời kêu gọi tôi gửi cho Tổng thống Truman, Thống chế Tưởng Giới Thạch, Anh hoàng và tướng de Gaulle đều không được trả lời… Những lãnh tụ này có súng ống, có phương tiện, nắm được chính quyền dễ dàng trong khi tôi sống trơ trọi trong một kinh thành đã chết. Sự thành công dễ dàng của các lãnh tụ này phải chăng là đó là dấu hiệu họ đã nhận được mệnh trời? Quần chúng có một bản năng rất là chắc chắn. Bản năng này, trong những giờ phút lịch sử, luôn luôn đưa họ tới những người đã nhận được sứ mệnh phải dẫn dắt họ. Đã đến lúc tôi phải có một sự lựa chọn để dung hòa số phận của tôi với số phận của dân tộc tôi… là tôi phải ra đi.
    “Nhưng ai là người tiếp nhận sự ra đi của tôi?
    “Tôi bảo người em họ Vĩnh Cẩn và Ngự tiền văn phòng Phạm Khắc Hòe ra ngoài thành Nội hỏi tin tức về Việt Minh. Cả hai trở về chả biết chi cả. Tôi đành đánh đại một bức điện tín gửi trống không ” Ủy ban Nhân dân Cứu quốc ” ở Hà Nội. Tôi viết :
    “Để trả lời kêu gọi của Ủy ban, tôi sẵn sàng tự rút lui. Trong giờ phút quyết định của lịch sử đất nước, đoàn kết là sống, chia rẽ là chết. Tôi sẵn sàng hy sinh hết mọi sự để có thể thực hiện được sự hợp quần. Tôi xin những người cầm đầu Ủy ban mau vào Huế để tôi trao lại quyền hành”.
    “Ngay trong đêm hôm đó, với sự giúp đỡ của Vĩnh Cẩn, tôi thảo bản chiếu Thoái vị.
    “Sáng ngày 25-8, có hai đặc phái viên, đại diện “Việt Nam Độc lập Đồng minh” từ Hà Nội vào : Trần Huy Liệu, trưởng phái đoàn, là phó chủ tịch Ủy ban. Một người gầy gò trông rất thảm hại, đeo kính đen để giấu cặp mắt lé. Người đi cùng là Cù Huy Cận, trông cũng quá tầm thường. Tôi hơi thất vọng.
    “Trần Huy Liệu đưa cho tôi một giấy Ủy quyền có mang chữ ký không rõ là của ai. Ông tuyên bố một cách rất long trọng:
    – Nhân danh nhân dân Việt Nam, cụ Hồ Chí Minh, chủ tịch Ủy ban Giải phóng, cho chúng tôi cái danh dự đến Ngài để tiếp nhận quyền hành.
    ” Đó là lần đầu tiên tôi nghe đến tên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi đưa bản chiếu thoái vị. Trần Huy Liệu đọc bản chiếu cùng với Cù Huy Cận rồi 2 người nói riêng với nhau trước khi quay lại nói:
    – Thưa Ngài, nhân danh nhân dân Việt Nam chúng tôi chấp nhận hoàn toàn bản chiếu này. Nhưng chúng tôi cũng xin đề nghị với Ngài là nên tổ chức một nghi lễ vắn tắt để trong buổi lễ Ngài đọc bản chiếu trước công chúng.
    – Ngay buổi chiều hôm đó, trước vài ngàn người mặc triều phục được tụ tập vội vã trước cửa Ngọ Môn, tôi đọc bản chiếu cuối cùng của triều Nguyễn đề ngày 25-8-1945.

    Vua Bảo Đại (bên phải)

    “Bản chiếu bắt đầu bằng:
    Để toàn dân Việt Nam có hạnh phúc!
    Để Việt Nam có được độc lập!
    Trẫm tuyên bố sẵn sàng hi sinh mọi sự…
    ” Và kết luận bằng:
    “Trẫm thích được làm công dân một nước độc lập hơn làm vua một nước bị trị ”
    Hoan hô Việt Nam độc lập!
    Hoan hô nước Cộng hòa Dân chủ!
    “… Trong một bầu không khí ngượng ngập, tôi đưa chiếc ấn tượng trưng quyền hành cho Trần Huy Liệu.
    “… Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận tiễn tôi ra khỏi cửa. Trước khi chia tay, người đại diện Ủy ban Giải phóng nói với tôi :
    – Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn mời ngài ra Hà Nội để cùng thiết lập những thể chế cộng hòa.

    – Tôi trả lời : Thưa ông trưởng phái đoàn, tôi xin ông cho tôi gửi lời cám ơn Hồ chủ tịch và sẽ không quên ra Hà Nội theo lời mời của Chủ tịch.
    “… Trở thành công dân Vĩnh Thụy từ khi thoái vị, tôi không có việc chi làm ở Huế. Tôi quyết định theo lời mời của Hồ Chí Minh ra Hà Nội. (tr 121)
    Cố vấn Tối cao của Chính phủ
    ” ngày 6-9 tôi tới Hà Nội. Tôi được ở căn nhà của thị trưởng Hà Nội cũ, đường Gambetta ( Hoàng Diệu? ). Sau khi tắm rửa, tôi đi đến Bắc bộ Phủ (dinh Thống sứ cũ) để dự bữa ăn buổi tối được tổ chức để đãi tôi.
    ” Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng bộ Nội vụ đón tiếp tôi và khi ra ngồi bàn, đưa tôi tới trình diện Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa mới tới. Ông bắt tay tôi một cách thân mật, cám ơn tôi đã tự rút lui và nói thêm:
    – Chúng ta sẽ cùng nhau làm việc cho nền độc lập của đất nước.
    ” Ngày hôm sau 11 giờ tôi gặp lại Hồ Chí Minh và nói chuyện riêng với nhau. Thái độ của ông khác hẳn với ngày hôm qua; Ông đối với tôi có vẻ kính trọng và xưng hô với tôi như ở trong cung điện khi dùng chữ Ngài tương đương với chữ Sire trong tiếng Pháp, gần như thiếu một điều là xin lỗi đã lên nắm quyền:
    – Thưa Ngài, chúng tôi không có liên quan gì đến bức điện mà ngài nhận được ở Huế đòi ngài phải thoái vị. Riêng về phần tôi, như khi tôi đã nói ngày 22-8, tôi muốn ngài vẫn đứng đầu nước và cử tôi làm thủ tướng chính phủ mới. Tôi không tán thành những kẻ đã làm áp lực với ngài để ngài phải thoái vị.
    – Tôi cũng trả lời với cùng một lễ độ khi dùng danh từ tôn kính là Cụ (Vénérable) và cam đoan là tôi chỉ muốn làm một người công dân thường để chung sức xây dựng một nước Việt Nam mới, thống nhất và độc lập.
    “Hồ Chí Minh có vẻ yên tâm và đưa ra một bức tranh đầy phấn khởi, khác hẳn với sự dè dặt trong những câu nói lần trước:
    – Tất cả những giấc mơ của ta đang được thực hiện cùng một lúc. Không những thống nhất và độc lập sắp được Đồng Minh chính thức công nhận mà chiến tranh kết liễu, Nhật bản đầu hàng cũng cho phép chúng ta tiến tới một chế độ được toàn dân ủng hộ muôn người như một. Trong chế độ này mỗi người chúng ta đều có một tương lai kỳ diệu. Độc Lập, trở thành một Từ ngữ biểu tượng của đất nước , mãnh liệt như làn sóng thủy triều dâng lên từ đáy biển cả, khiến không có công cuộc nào mà chúng ta không thực hiện được…
    “Trong cái áo varơ cổ cao đã sờn rách, với đôi giày săng đan thô lỗ và bộ râu lơ thơ, Hồ Chí Minh giống một nhà tu khổ hạnh đồng thời cũng giống một nhà nho Việt Nam thời xưa được đào tạo trong nền văn hóa Trung Hoa, thiên về thi tứ, văn chương triết học hơn là về hoạt động chính trị.
    “Có sự ngược lại là từ thân hình mảnh khảnh, yếu ớt và từ cặp mắt sáng ngời như đang lên cơn sốt, thoát ra một niềm tin truyền cảm rất khắc phục, đồng thời cũng tỏa ra một sự thanh thản rất ấn tượng. Những câu nói của ông Hồ đều có dấu ấn của một ý nghĩa sâu xa về con người, của một sự chối bỏ mọi bạo động. Ông Hồ hoàn toàn có ý thức về những thực tại và nhưng tất yếu của Việt Nam. Ông cũng biết chiều hướng biến chuyển lịch sử dựa vào sự tự học và sự hiểu biết tất nhiên về thế giới Âu Tây cũng như thế giới Trung Hoa và thế giới Nga (tr129).
    “Sau hơn một giờ nói chuyện, ông Hồ kết luận:
    – Tôi yêu cầu ngài tham dự những buổi họp của hội đồng các bộ trưởng và nhận chức vụ Cố vấn tối cao của chính phủ.
    “Yêu cầu này làm tôi bất ngờ. Tôi thật không bao giờ nghĩ sự góp phần kiến tạo một nước Việt Nam mới của tôi dưới hình thức này. Nhưng khi nghe ông nói, không thể chối cãi được ông Hồ là người muốn độc lập và thống nhất một cách cuồng nhiệt, nên tôi nhận lời (tr 130).

    ” Hội đồng bộ trưởng họp mỗi tuần một lần. Ngày 8-9 tôi dự phiên họp lần đầu tiên..
    “… Thật ra hội đồng gồm 3 nhóm.
    Nhóm cố cựu gồm những người theo chủ tịch Hồ Chí Minh từ thuở ban đầu như Trần Huy Liệu. Những người này sống lâu năm ở Nga, ở Trung Quốc hay biết nhau trong tù. Những người này chống Pháp kịch liệt.
    Nhóm thứ hai gồm những người gọi là giáo sư trường Thăng Long, một trường tư về Luật (thật ra chỉ là một trường trung học) ở Hà Nội mà những nhân vật trong ban giảng huấn đều thuộc thành phần đại trí thức rất hiểu biết về chính trị.
    Trong số những người này có Võ Nguyên Giáp. Cũng có những người là cựu cán bộ của đảng Cộng sản được hợp pháp hóa khi Mặt trận Bình Dân lên nắm quyền ở Pháp như Phạm Văn Đồng. Những người này đều có văn hóa Pháp, thông minh và có óc cởi mở. Tuy chống đối kịch liệt chủ nghĩa thực dân, tranh đấu hăng say cho nền độc lập, những người này không muốn đoạn tuyệt với nước Pháp.
    Sau cùng là những người gọi là những người “ngả theo”, như Dương Đức Hiền, cựu chủ tịch Tổng hội sinh viên Hà Nội, hay Nguyễn Mạnh Hà, cầm đầu Thanh niên hoạt động Công giáo. Đa số những người này đều là kỹ thuật viên xuất thân từ những Trường Lớn của Pháp nhưng không được (Pháp) dùng đúng với bằng cấp và khả năng của mình.
    “Hồ Chí Minh ngồi ở một đầu bàn và tôi được ngồi đối diện ở đầu kia.
    “… Tôi cũng lần lần khám phá ra bộ mặt thật của Hồ Chí Minh:
    Có một ngày, trong buổi họp Hội đồng có cuộc bàn cãi khá sôi nổi giữa Hồ chủ tịch và Vũ Trọng Khánh, bộ trưởng bộ Tư pháp ngồi bên phải cạnh tôi. Sau buổi họp Vũ Trọng Khánh đưa cho tôi một cuốn sách nhỏ và nói với tôi:
    – Ngài có vẻ ngạc nhiên về phản ứng của vị chủ tịch chúng ta. Đọc cuốn sách này ngài sẽ hiểu rõ hơn.
    Tôi nhìn cái tít “Cuộc đời Nguyễn Ái Quốc” do A. Marty, trùm mật thám của Phủ Toàn quyền thảo.
    – Ai là Nguyễn Ái Quốc?
    Khánh nhìn tôi rồi đưa đầu về phía Hồ chủ tịch đúng vào lúc ông đi gần chúng tôi để ra khỏi phòng họp. Ngạc nhiên vì điệu bộ chúng tôi, ông lướt mắt nhìn cuốn sách rồi nhún vai, nhếch mép cười một cách hóm hỉnh, bước ra khỏi phòng họp không nói một lời.
    ” Về đến nhà, tôi vội vã đọc cuốn sách. Nguyễn Ái Quốc chỉ là một tên trong số cả mấy chục tên khác trong cuộc đời phiêu bạt trước khi trở thành Hồ Chí Minh… Cuốn sách của Marty ngưng lại ở đoạn này. Giáp là người kể tiếp cho tôi từ khi ông Hồ trở về nước năm 1941 và thành lập Việt Minh ngày 19-5 ở Cao Bằng.
    “… Sự giao thiệp của tôi với các “đồng sự” rất là tốt đẹp. Nếu tôi gọi là các anh thì họ đều gọi tôi với cái tít Ngài. Hồ Chí Minh muốn mọi người phải xưng hô như vậy. Tôi đặc biệt gắn bó với Vũ Trọng Khánh. Ông ta có vẻ trơ trọi vì không nằm trong đảng…
    ” … Tôi nhận được tin Phạm Quỳnh, cựu thủ tướng của tôi, bị bắt, cũng như Ngô Đình Khôi, anh của Ngô Đình Diệm và người con là Ngô Đình Huân, thư ký riêng của đại sứ Yokoyama. Tôi can thiệp với Hồ Chí Minh:
    – Thưa cụ, ai cũng muốn giúp cụ mà tôi là người đầu tiên. Xin cụ rộng lượng. Khi cụ mới cầm quyền cụ thả hết mọi người tù. Xin cụ ra lệnh thả những người bị bắt từ khi đó.
    – Thưa ngài, không thể được, dân sẽ không hiểu.
    – Ít ra cụ cũng thả những người cộng sự của tôi. Họ không có trách nhiệm gì cả.
    – Tôi hứa với ngài tôi sẽ lo chuyện đó.
    Thật ra cả hai, Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi bị giết ngay từ đầu mà ông Hồ không biết. (tr 134)
    ” … Giữa chúng tôi ( Bảo Đại và ông Hồ ) hoàn toàn có sự thông cảm. Trong những buổi đàm đạo, không bao giờ đả động gì đến những vấn đề về hệ tư tưởng. Chúng tôi cùng đi với nhau đến gặp Sainteny, người thay Messmer làm ủy viên Cộng hòa Pháp ở Bắc bộ. Chúng tôi cũng đi gặp người Mỹ và những phái viên của họ : Lansdale và thiếu tá Patti và sau này là tướng Gallagher. Tôi thấy Hồ Chí Minh nói tiếng Anh khá được.
    “… Trong những cuộc đi gặp như vậy tôi luôn luôn được đẩy đi trước, khiến tôi phải nói: thưa chủ tịch tôi chỉ là cố vấn. Trái lại trong những buổi họp và biểu tình, tôi chỉ được ngồi bên phải. Sau tôi mới hiểu đó chỉ là những thủ đoạn. Chính phủ được chấp nhận nhưng không được công nhận bởi Đồng Minh. Sự có mặt của tôi cho chính phủ có bộ mặt hợp pháp hơn và tôi chỉ là bảo lãnh. (tr 135)
    Trung Quốc xâm nhập
    “… Toán lính đầu tiên tới Hà Nội ngày 9-9-45. Sau đó là tràn ngập lính Tàu. Tất cả là 3 quân đoàn chừng 80 ngàn người, không kể bọn tùy tùng và bầu đoàn thê tử nhào xuống Bắc Việt như những đám cào cào châu chấu. Tới với danh nghĩa bảo vệ độc lập cho Việt Nam, tụi lính Tàu này cư xử như những kẻ xâm lược. Đối với đám quân này, gồm những lính Vân Nam và Quảng Đông, Bắc Việt là một xứ thần tiên.
    ” Ngay khi tới Hà Nội ngày 18-9, tướng Lư Hán, chỉ huy trưởng, đã chiếm tòa nhà Puginier làm chỗ ở, đuổi phái bộ Sainteny ra ngoài. Lư Hán đòi tôi cho tiếp kiến, chứng tỏ Trung Quốc cố ý không biết Hồ Chí Minh. Tôi trả lời là tôi sẽ tới chào nhưng cuộc viếng thăm phải theo đúng nghi thức và chủ tịch chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh là người tiếp kiến. Đồng thời tôi cũng báo cho ông Hồ. Một thỏa thuận được tìm thấy nhanh chóng : Hồ Chí Minh tiếp tướng Lư Hán với sự hiện diện của tôi trong một biệt thự được trưng dụng. Như vậy cuộc thăm viếng không có tính cách chính thức.
    ” … Cùng đi theo đoàn quân Tàu là một đám các nhà chính trị thuộc các đảng phái quốc gia trốn từ trước qua Tàu được Quốc Dân Đảng cho tị nạn. Các lãnh tụ VNQDD và Đồng Minh Hội nhất quyết lấy lại ưu thế.. Được che chở bởi các tướng lãnh và những cơ quan tình báo Trung Hoa dưới quyền tướng Tiêu Văn, những người quốc gia này vội vã tước súng ống và thay thế những ủy ban nhân dân (Việt Minh) được Hồ Chí Minh thiết lập ở các tỉnh. (tr 138)
    ” Tình thế mỗi ngày một trở nên khó khăn với Hồ Chí Minh.. Biết đời sống bị đe dọa, mỗi đêm ông ngủ một chỗ khác. Ông vẫn tin tôi nên chỉ mình tôi biết ông ngủ đêm nào ở đâu…
    ” Chủ tịch cũng có vẻ bận tâm về sức khỏe của tôi và những quan hệ bạn bè của tôi. Biết là tôi hay được các bạn bè mời ăn tối, ông khuyên tôi như một người cha là phải coi chừng khi giao thiệp với đàn bà gặp ở những bữa ăn đó
    “… Tôi không dễ bị mắc lừa về thái độ (của ông Hồ) đối với tôi. Nhưng hồi đó tôi không thấy ông biểu lộ một con người cứng rắn, khắc nghiệt, như sau này.
    ” Đối với tôi, ông (Hồ) là người rất gắn bó với nền độc lập nước nhà; Những điều ông nói tôi đều thấy hợp với nhãn quan của tôi. Không cần biết quá khứ và phương pháp hành động của ông, với tất cả sự trung trực của tôi, tôi ủng hộ ông.
    ” Nói cho thật, tôi thích tư thế của ông (Hồ) hơn những lãnh tụ quốc gia, thật sự chỉ là bù nhìn của bọn Tàu. Trong sự hỗn độn tôi thấy Hồ chí Minh vẫn giữ được trầm tĩnh.

    – Một buổi chiều Hồ chí Minh nói với tôi : Ngài thấy không, tôi rất thất vọng về thái độ của Đồng Minh : Tôi tưởng được Nga ưu đãi. Rút cục họ chả làm gì cho chúng ta cả. Họ cũng chả thèm gửi qua đây một quan sát viên. Họ hoàn toàn lãnh đạm với vấn đề Đông Dương. Còn người Anh thì chả cần nói, chỉ cần nhìn thái độ của họ ở miền Nam Việt Nam. Họ đã thiên về Pháp và giúp Pháp tiêu diệt đồng bào ta đang tranh đấu giành độc lập. Còn người Mỹ thì ngài đã cùng tôi gặp họ. Khi tôi rời Trung Quốc, đại diện của họ có hứa hẹn với tôi và cam đoan với tôi. Để làm vui lòng họ, tôi để trong Lời nói đầu của Hiến Pháp tuyên ngôn độc lập hệt như tuyên ngôn của Jefferson năm 1776. Chúng ta được những gì? một con số không… Họ chỉ lo thay thế người Pháp và vì vậy họ cạnh tranh với Tàu. Gallagher đã nhận lời làm trung gian giữa chúng ta và bộ Ngoại giao Mỹ và đưa ra những đòi hỏi của chúng ta. Nhưng để đổi lại, ông ta đòi được tự do tổ chức lại nền kinh tế của ta, thật ra chỉ muốn nền kinh tế của ta phụ thuộc họ. Đó là những nhà tư bản, có tư bản trong máu rồi ! đối với họ chỉ có business… Bữa nọ chúng ta khám phá ra là ban điều tra của họ tới hỏi cung những tù binh Nhật, không phải để biết những tội ác chiến tranh của Kampetai mà để biết những cơ sở của cửa khẩu Hải Phòng. Về phần bọn Tàu, thì ngài thấy…cả nước Tàu là một cái bụng đói ! Quốc Dân Đảng chỉ là những tên trộm bợm, những đám diều hâu. Chỉ một người mà ta có thể dùng được, đó là Tiêu Văn (Siao Wen). Đó là một đứa vô lại rất tốn tiền cho chúng ta, nhưng biết được thứ chúng ta muốn và những “combin” của hắn có thể sài được; Nhưng tôi cũng nghi ngờ hắn có thể trở mặt lúc nào không hay. Khi mới tới đây hắn chơi lá bài VNQDĐ, bây giờ hắn gật đầu mỉm cười với ta. Mai mốt biết hắn cười với ai ?… Nghĩ đi nghĩ lại, chắc chỉ còn có Pháp… (tr 140)
    ” Tôi không thể nén được ngạc nhiên trước cái kết luận như vậy nhưng nó hoàn toàn lô gíc.
    “Hồ Chí Minh cho tôi thấy một lần nữa cái tài biết che giấu của ông. Ở Việt Nam công giáo chỉ là một thiểu số nhưng là một lực lượng năng động. 2 triệu tín đồ dính chặc với linh mục của họ. Ngay từ khởi đầu, Hồ Chí Minh đã tìm cách được lòng họ. Không thể không có ẩn ý khi chọn ngày 2-9 lễ Thánh Tử đạo Annam làm ngày Quốc khánh. Ông cũng đưa vào chính phủ Nguyễn Mạnh Hà khi học ở Paris là một thủ lãnh thanh niên Công giáo hoạt động xã hội và là con rể Georges Maranne, thượng nghị sĩ cộng sản quận Seine.
    “Ngày 23-9 Nguyễn Mạnh Hà tổ chức một míting lớn ở Hà Nội tụ tập nhiều ngàn giáo dân để biểu lộ tinh thần ái quốc và sự tin tưởng vào chủ tịch Hồ Chí Minh.
    ” Cũng trong bầu không khí đó, lễ tấn phong Giám mục Lê Hữu Từ được sủa soạn ở Phát Diệm. Hồ Chí Minh yêu cầu tôi thay mặt ông dự lễ vì bị mắt kẹt ở Hà Nội ngày 28-9, tướng Lư Hán đến để chính thức tiếp nhận sự đầu hàng của quân đội Nhật.
    “Nhưng ngày hôm trước, chủ tịch nói với tôi:
    – Thưa Ngài, quân đội Pháp đã gần như dẹp yên kháng chiến Nam bộ. Sớm muộn gì bọn chúng cũng sẽ đổ bộ ở đây. Cần phải tránh không rơi vào tay chúng. Ngài là biểu tượng của nền độc lập Việt Nam. Ngài nên lợi dụng đi Phát Diệm để lánh xa Hà Nội.
    – Tôi hỏi thế cụ thì sao?
    – Ồ ! với tôi đường lối đã vạch sẵn.
    ” Bữa sau tôi đi Phát Diệm cùng với Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng bộ Nội vụ. Giám mục Lê Hữu Từ thuộc dòng tu kín (trappiste) là một nhân vật rất lạ lùng. Người bé nhỏ gầy đét trong bộ áo trắng dòng tu rộng thùng thình, cặp mắt sáng ngời lại sáng hơn nữa vì 2 lưỡng quyền nhô cao. Ông nổi tiếng trong dòng tu vì tài điều động công việc và rất biết rõ những mưu mẹo thương thuyết mặc cả.. Buổi lễ dưới quyền chủ tọa của giám mục Hà Nội là Nguyễn Bá Tòng. Giáp được Hồ Chí Minh ủy thác là mời tân giám mục Lê Hữu Từ làm cố vấn tôn giáo cho chính phủ. Đức cha Lê Hữu Từ nhận lời ngay tức khắc. (tr 141)
    ” Sau buổi lễ Giáp trở lại Hà Nội còn tôi đi Sầm Sơn, một bãi biẻn nghỉ mát ở gần Thanh Hóa.
    “… Vào khoảng giữa tháng 12, một đại biểu Ủy ban tỉnh Thanh hóa đến gặp tôi và nhân danh chính phủ mời tôi ra ứng cử đại biểu Quốc hội. Tôi nhận lời về mặt nguyên tắc và nhắc lại là tôi muốn trở về Hà Nội. Ông này hỏi tôi:
    – Thưa ngài; ngài muốn ra ứng cử dưới danh hiệu nào?
    – Dưới danh hiệu đảng Cộng sản. Tôi trả lời với chút châm biếm trước một câu hỏi như vậy.
    – Không thể được thưa ngài, ông ta trả lời một cách rất nghiêm túc : Đảng Cộng sản Đông Dương đã được giải tán theo quyết định của Ủy ban Trung ương ngày 11-11.
    Tôi làm sao biết được những gì xẩy ra ở Hà Nội từ ngày tôi đi khỏi.
    – Vậy thi ghi tên tôi là một người cộng hòa.
    ” Trong 3 tuần tôi không nhận được tin tức gì. Đúng ngày 7-1 có một phái đoàn đến báo tin tôi đã trúng cử vào Quốc hội và cuộc bầu cử đã diễn ra ngày hôm qua. Tôi được bầu đại biểu tỉnh Thanh Hóa với 92% số phiếu. Mọi người đều chúc tụng tôi. Còn tôi thì không biết ngày bầu cử và tất nhiên là tôi cũng chưa đi bầu. (tr 145)
    ” Nhưng bây giờ tôi đã là đại biểu Quốc hội. Tôi nhờ phái đoàn nói với Ủy ban Thanh Hóa là tôi muốn trở về Hà Nội càng sớm càng hay và xin cung cấp săng cho xe tôi. 8 ngày sau, mọi chuyện đều xếp đặt xong xuôi và tôi rời bỏ Sầm Sơn trở về Hà Nội, lòng nhẹ nhõm.”

    Hồ Chí Minh và Bảo Đại http://www.qdnd.vn

    Đại biểu Quốc Hội Lập Hiến
    “Ngay chiều hôm ấy, tôi trở về chỗ ở của tôi , đại lộ Hoàng Diệu Hà Nội. Từ khi tôi đi khỏi Hà Nội cách đây 3 thấng, tình hình biến chuyển rất nhiều. Ngày 19-11 Tiêu Văn triệu tập các đảng phái bắt phải thỏa thuận với nhau và quân đội của 3 đảng phải xáp nhập với nhau để chỉ còn 1 quân đội duy nhất.
    “Trước những thủ đoạn chính trị của Tàu, Hồ Chí Minh chỉ còn mối bận tâm duy nhất là làm sao vứt bỏ được sự hiện diện của Tàu ở Bắc Việt. Ông sẵn sàng thân thiện lại với người Pháp. Ông biết đầu tháng 1 Pháp có cử đặc phái viên tới Trùng Khánh điều đình với Tưởng Giới Thạch để quân đội Pháp thay thế quân đội Trung Hoa. Ông đợi đúng ngày bầu cử Quốc hội 6-1, làm một bản tuyên bố được báo chí Pháp đăng lại, trong đó ông nói : ” Chúng tôi không thù hận gì với nước Pháp và dân tộc Pháp mà chúng tôi khâm phục. Chúng tôi không muốn cắt đứt những mối giây liên lạc đã gắn chặt hai dân tộc chúng ta… ”
    “… Tháng 11-45 Cao Ủy Pháp ở Sài Gòn đưa ra sắc lệnh rút hết những tờ giấy bạc 500 được in dưới thời Nhật Bản chiếm đóng. Nhưng quân đội Tàu ngay khi mới tới đã thâu cướp được rất nhiều giấy bạc 500 nên đã thương lượng được với Pháp là sắc lệnh này không có hiệu lực ở phía Bắc vĩ tuyến thứ 16… Khi từ Sầm Sơn trở về, tôi không có một đồng xu dính túi vì tuy được nuôi ăn cho ở nhưng không có một đồng lương nào. Tôi viết thư xin mẹ tôi chút tiền thì mẹ tôi hồi âm bằng 2 tờ giấy 500 trứ danh đó. Tôi đưa cho Phạm Văn Đồng, bộ trưởng bộ tài chánh nhờ ông đổi giùm. Ngày hôm sau người ta đem lại cho tôi một phong bì trong đó có 2000 đồng. Tôi tưởng là đưa lộn nên đi tới bộ Tài Chính để trả lại Phạm Văn Đồng. PVĐ nói với tôi:
    – Không có lộn đâu
    – Sao! Tôi đưa một ngàn đồng mà được đưa lại tới 2000 đồng. Ông làm tài chính như vậy thì còn lâu Việt Nam mới lấy lại được thăng bằng kinh tế.
    – Nét mặt không chút xao động, Phạm Văn Đồng trả lời tôi: Tôi biết rõ tình trạng tài chính của ngài. Đây là một đặc ân tôi làm cho ngài.
    “Một buổi tối, Hồ Chí Minh chìa cho tôi một tờ giấy và nói với tôi:
    – Thưa ngài, trong thời gian ngài vắng mặt (ở Sầm Sơn),tôi có nhân danh ngài gửi cho Pháp một thông điệp. Tôi đọc :
    ” Thông điệp của Hoàng thân Vĩnh Thụy, cựu Hoàng đế Việt Nam, gửi nước Pháp….

    Ký tên : Hoàng thân Vĩnh Thụy cựu Hoàng đế Bảo Đại, cố vấn chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. (tr148)
    “… Chính phủ cử Giáp đi thanh tra các tỉnh cho đến tận biên giới Nam bộ với tư cách bộ trưởng bộ Nội vụ. Tôi xin đi cùng nhưng không được chấp thuận. Giáp nói với tôi:

    – Một tuần nữa tôi trở về tôi sẽ báo cáo với ngài những gì tôi thấy được.
    “Một tuần sau khi tôi đang ăn trưa thì Giáp tới và nói:
    – Tôi vừa về sau cuộc tuần tra.
    – Mời anh ngồi cùng ăn, tôi nói.
    Giáp có vẻ tư lự cúi đầu ăn không nhìn tôi. Giáp thường ngày đã ít cởi mở nhưng bữa nay bộ mặt còn có vẻ rầu rĩ hơn. Tôi để cho ông ta ngồi ăn không nói câu gì. Sau bữa ăn tôi mới hỏi:
    – Thế nào?
    – Phải thực tế, mặt vẫn cúi gầm.
    – Anh muốn nói gì?
    – Cái tôi muốn nói, là mình phải thích nghi với thằng Pháp.
    – Không lẽ nào mình lại trở về với cuộc bảo hộ.
    – Có thể chứ, nếu cần thiết.
    – Tôi không hiểu nổi các anh nữa. Tôi chấp nhận độc lập với thằng Nhật. Tôi thoái vị. Tôi ra đi để nhường chỗ cho các anh, nay các anh lại muốn quay trở về với quá khứ.
    – Mình biết làm thế nào bây giờ? Ở miền Nam tụi Pháp nó đã phá tan bộ máy của chúng ta phải mất bao công mới xây dựng được. Nó đã lấy lại hết. Chả bao lâu nữa nó sẽ đổ bộ ở đây. Chúng ta làm thế nào để chống lại được? Chúng ta có quân đội nhưng không có đạn dược…
    “Được thỏa tấm lòng, Giáp kể lại cuộc hành trình… (tr 149)
    “Vài ngày sau, tôi mới hiểu sự bối rối của Hồ Chí Minh và ê kíp của ông. Tôi biết giữa Chủ tịch đi cùng với Giáp và Sainteny có một cuộc hội đàm lâu dài về vấn đề sự trở lại của người Pháp và vấn đề phân chia chủ quyền. ” Độc Lập ” còn có nghĩa gì nữa không ? Mặc dầu còn giũ được uy quyền, sự thay đổi thái độ của ông Hồ gặp một sự chống đối mạnh mẽ. Sự chống đối này được sự hỗ trợ của Tàu và của những đảng mà Tàu thao túng : Đại Việt, VNQDD, Đồng Minh… Tất cả đều đồng thanh đòi ” chính phủ Việt gian” phải ra đi vì đã bán rẻ nền độc lập. Tôi biết các đảng phái này có bàn bạc với nhau về tôi.
    “Ngày 27-1, 7 giờ sáng, điện thoại reo trong căn hộ tôi đường Hoàng Diệu. Hồ Chí Minh kêu tôi:
    – Tôi có thể tới thăm ngài ngay tức khắc được không?
    Tôi trả lời được và ngay phút sau ông đã tới. Ông có vẻ rất xuống tinh thần và ốm yếu hơn thường lệ. Ngay khi vào, ông nói ngay:
    – Thưa ngài, tôi không biết làm sao nữa. Tình hình quá nguy kịch. Tôi biết rõ người Pháp sẽ không thương thuyết với tôi. Tôi không được lòng tin cậy của Đồng Minh. Tất cả đều thấy tôi ” đỏ ” quá. Tôi xin ngài hi sinh lần thứ hai : lấy lại quyền hành.
    – Tôi trả lời: tôi đã bỏ quyền hành và không có ý lấy lại nó. Cụ biết, tôi không có tham vọng chính trị và tôi đã tự đặt mình trong cái nhiệm vụ phải phục vụ một cách trung trực chính phủ Cộng hòa.
    –Tôi để lại chỗ cho ngài, ông nhấn mạnh một lần nữa, tôi sẽ là cố vấn của ngài.
    – Nhưng ai sẽ trao quyền cho tôi?
    – Ngài sẽ được Quốc hội tấn phong như trong mọi chế độ dân chủ.
    – Tôi có được thành lập chính phủ như tôi muốn hay tôi phải lấy lại những bạn hữu của cụ?
    – Ngài được tự do hoàn toàn, muốn lấy ai thì lấy.
    – Nếu cụ thấy quyền lợi và độc lập của đất nước đòi hỏi như vậy thì tôi sẽ không lẩn tránh. Nhưng tôi xin cụ một chút thời gian để suy nghĩ và hỏi ý kiến các bạn bè của tôi. (tr 150)
    ” Ngay tức khắc tôi điện thoại cho Nguyễn Xuân Hà ( Nguyễn Xuân Chữ? ) và Trần Trọng Kim và tôi nói:
    – Tôi có một đề nghị quan trọng muốn đưa ra bàn với các ông. Nhờ 2 ông triệu tập bạn bè, tôi sẽ đến gặp.
    ” Đúng 8 giờ 30, tôi tới. Tôi kể với họ về cuộc gặp gỡ với Hồ Chí Minh và đề nghị của ông Hồ. Tôi hỏi họ:
    – Các ông có nghĩ đó là cái bẫy không?
    ” Mọi người đều không tin và Trần Trọng Kim nói rõ thêm:
    – Ai cũng biết là Việt Minh có liên lạc thường xuyên với Sainteny và một thỏa ước với Pháp đang được sửa soạn. Nếu Hồ Chí Minh không thiết tha ký nó thì đề nghị của ông Hồ là thành thực. Theo tôi ngài nên nhận lời.
    “Khoảng lúc 10 giờ, Hồ Chí Minh lại gọi tôi nữa và hối thúc tôi nhận lời.
    – Ngài đã gặp bạn hữu của ngài chưa ? Xin ngài đừng mất thì giờ và đến Quốc Hội càng sớm càng hay.
    “Đúng 12 giờ trưa, tôi gọi điện thoại ông Hồ và nói tôi nhận lời.
    “Trước đó tôi biết là một người thân tôi có tiếp xúc với thiếu tá Buckley, người của Tình báo Mỹ OSS. Ông này không ngạc nhiên về đề nghị của Chủ tịch và hứa hẹn người Mỹ sẽ đứng trung lập vì là chuyện nội bộ của Việt Nam.
    “Điện thoại lại reo đúng 13 giờ. Hồ Chí Minh yêu cầu tôi tới gặp. Khi tới, tôi thấy rõ ràng ông đã thay đổi thái độ. Ông có vẻ đã trấn tĩnh lại, nói hơi ngượng ngùng:
    – Thưa ngài, xin ngài quên đi chuyện buổi sáng nay. Tôi không có quyền từ bỏ nhiệm vụ vì tình thế khó khăn. Trao lại quyền hành cho ngài bây giờ là tôi phản bội. Tôi xin lỗi đã biểu lộ sự yếu đuối vì đã nghĩ trong những hoàn cảnh khó khăn này lại muốn trút mọi trách nhiệm lên ngài. Sở dĩ tôi nghĩ ra đi là vì các đảng quốc gia chống đối thỏa ước mà chúng tôi đang sửa soạn với người Pháp.
    “Chuyện gì đã xẩy ra giữa 10 giờ và 13 giờ?
    “Tôi không nghĩ sự quay ngoặt của ông Hồ là do được Moscou cam đoan hỗ trợ qua phái đoàn Ba Lan, đại diện Liên Xô ở Hà Nội. Đúng hơn là vì tướng Tiêu Văn, bị thuyết phục bởi những ” lí lẽ (vàng) kêu lẻng xẻng “(dịch chữ Pháp arguments sonnants et trébuchants) được Việt Minh tung ra, nên đã nhờ chủ tướng của mình là Lư Hán làm áp lực xuống những người quốc gia – đặc biệt là VNQDD – để những người này chịu tham gia chính phủ. Như vậy nhũng người này phải chia trách nhiệm ký thỏa ước với Pháp và Việt Minh không phải chỉ một mình vác gánh trước công luận. (tr 151)
    “Bắt đầu từ đó, Hồ Chí Minh yêu cầu tôi cùng làm việc để thảo bản thỏa ước trứ danh đó (Hiệp định Sơ bộ 6-3). Chúng tôi gặp nhau mỗi buổi tối trong một tuần. Theo ông Hồ, nhờ thỏa thuận với Pháp, sẽ tống khứ được bọn Tàu. Đó là mục tiêu chính của ông Hồ : loại Tàu ra để Pháp vào thay thế. Nhưng đồng thời cũng thao túng Tàu để Pháp chậm đến và đòi Pháp phải đưa ra tối đa những bảo đảm.
    Thời gian ở Trung Quốc và Hồng Kông năm 1946
    “… Hồ Chí Minh, vừa mới được sự thỏa thuận của tất cả các đảng phái cho Pháp trở lại, không muốn để sơ sót một thứ gì nên quyết định gửi một phái đoàn đi gặp thống chế Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh. Ông gọi tôi đến và yêu cầu tôi, với tư cách là cố vấn tối cao của chính phủ, dẫn đầu phái đoàn này mà thành phần là đủ mọi xu hướng. Ông có cảm tưởng là những tướng lãnh Trung Hoa đã phản ông nên hi vọng với sự hiện diện của tôi, và trong phái đoàn có nhiều thành phần, sẽ làm thống chế có thiện cảm với chính phủ lâm thời hơn. Nhưng Trùng Khánh vừa mới thỏa thuận cho Pháp đổ bộ – Người báo tin này cho Hồ Chí Minh là Sainteny – Và hơn nữa, Tưởng Giới Thạch vẫn chưa công nhận chính phủ của chúng ta. Trong điều kiện này tôi thấy không nên nhận nhiệm vụ. Tôi giảng giải với Hồ Chủ tịch:
    – Chuyện này hơi bất trắc. Căn cứ vào chuyện vừa mới có sự thỏa thuận giữa Trùng Khánh và Pháp, nếu Tưởng Giới Thạch không tiếp tôi thì cụ với tôi đều mất mặt.
    ” Hồ Chí Minh cũng thấy đúng; nhưng vẫn giữ ý định gửi một phái đoàn gặp Tưởng Giới Thạch mà không có tôi.
    ” Hôm sau, tôi vừa mới ra khỏi nhà thì gặp một tướng Trung Hoa ở cạnh nhà tôi cùng đường Hoàng Diệu. Ông ta có vẻ biết đề nghị của Hồ Chí Minh với tôi nên đột ngột hỏi:

    – Thưa ngài, ngài không muốn qua Trung Quốc? Thật là đáng tiếc, ngài nên lợi dụng cơ hội này, dù chỉ là để đi du lịch nước tôi…
    Rồi ông ta nói , nửa bỡn cợt, nửa nghiêm trang:
    – Với lũ điên , không biết cái chi có thể xẩy đến!
    “Cái câu cuối cùng này khiến tôi nghĩ không phải ông ta gặp tôi tình cờ mà là có ý đưa cho tôi lời mời của Tưởng Giới Thạch.
    “… Hôm sau tôi đến Phủ Thủ tướng (Bắc bộ phủ) gặp Hồ Chí Minh và nói:
    “Cụ không cần tôi ở đây? Đã có Giáp và Đồng. Cho tôi đi qua Trung Quốc du lịch.
    – Ngài có thể đi thanh thản, ông Hồ trả lời với vẻ bằng lòng. Ngài đừng lo ngại gì cả.
    “… Tôi đi cùng với phái đoàn gồm 6 người : 4 đại diện Việt Minh, 2 VNQDD. (tr 153)
    ” Ngày 16-3-46, tôi rời Hà Nội. Chiếc máy bay DC-3 cho chúng tôi đi theo có chừng một tá sĩ quan Tàu và chở đầy những hòm lớn, chắc là đồ ăn cắp. Tụi nhà binh này này ngồi chỗ tốt nhất trong khi phái đoàn tôi bị đẩy xuống ngồi phía dưới gần những thùng hàng. Tôi không quen biết người nào trong số những người cùng đi với tôi, trừ một người tôi trông mặt hơi quen quen. Tất cả đều đi máy bay lần đầu nên không giấu được sự lo sợ… Sau 3 giờ bay, máy bay hạ cánh xuống phi trường Côn Minh nằm ở độ cao 2000 mét. Máy bay của chúng tôi không đi xa hơn được nữa. Chúng tôi phải đợi một tuần sau mới có máy bay đi Trùng Khánh nên ngày 23 mới tới. Chúng tôi ở khách sạn ” Bốn mùa ” lớn nhất thành phố. Tôi được ở một phòng rộng rãi còn 6 người đồng hành phải chia nhau 3 phòng tồi tàn.
    ” Hai ngày hôm sau, tổng thư ký của Quốc Dân Đảng đưa cho tôi giấy mời dự bữa ăn tối. Giấy chỉ mời hoàng đế Bảo Đại mà không đả động gì đến phái đoàn. Một xe đến đón tôi ở khách sạn. Chan, thư ký QDD tới đón tôi. Ông này là cựu sinh viên trường Dòng Tên Rạng Đông Thượng Hải nên nói rất giỏi tiếng Pháp.
    “… Tưởng Giới Thạch rất lịch thiệp. Suốt bữa ăn ông tỏ ra rất am tường về tình hình Việt Nam. Chan làm thông ngôn cho tôi.
    ” Trong suốt thời gian đó, phái đoàn phải chờ hoài mà không được tiếp. Người trưởng đoàn nhờ tôi can thiệp để được Tưởng Giới Thạch cho tiếp kiến. Tôi cố thuyết phục Chan, thư ký Quốc Dân Đảng:
    – Sự đoàn kết quốc gia đã được thực hiện ở Việt Nam. Phái đoàn đi cùng với tôi gồm những người đại diện 2 đảng lớn đang nắm quyền. Tất cả đều là những người bạn của Trung Quốc.
    – Thưa ngài, Chan trả lời tôi, trong phái đoàn có những người cộng sản và những người cộng sản không thể nào là bạn của Trung Quốc được…
    ” út cục, sau nhiều ngày chờ đợi phái đoàn cũng được tiếp. Nhưng để không có tính cách chính thức, phái đoàn được tiếp trong một ngôi chùa cổ ở ngoài thành phố.
    “Phái đoàn trở về hoàn toàn thất vọng. Tưởng Giới Thạch chỉ để đủ thời giờ cho phái đoàn đọc thông điệp của chủ tịch Hồ Chí Minh. Rồi, sau lời cám ơn cụt ngủn, Tưởng Giới Thạch tuyên bố là Trung Quốc, nhờ góp phần vào sự chiến thắng của Đồng Minh, đã có một chỗ ngồi giữa ” Tứ cường “, muốn quanh biên giới chỉ có những nước bạn.
    “Vài ngày sau, tướng Marshall, thay thế tướng Hurley, muốn gặp tôi. Tôi tới gặp ông ở văn phòng. Ông rất chú ý đến Việt Nam và muốn chính tôi kể lại cuộc cách mạng đã xẩy ra như sao khiến Việt Minh nắm được quyền hành.. Tôi nhắc lại những biến cố xẩy ra hồi tháng Tám và tháng Chín năm ngoái và nhấn mạnh vào điểm là không có những xung đột và không có khó khăn gì trong sự thay đổi quyền hành ở Hà Nội. Tôi cũng nói là tôi đã tự rút lui để không có đổ máu. Tôi cũng nhấn mạnh vào sự hòa hợp trong tân chính phủ do Hồ Chí Minh thành lập và sự ông quyết tâm thực hiện độc lập và thống nhất, hai khát vọng mà cả dân tộc Việt Nam cùng chia sẻ.
    ” Tướng Marshall có nhiệm vụ hòa giải Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông, đặt tôi câu hỏi:
    – Ngài nghĩ thế nào về Quốc Dân Đảng?
    – Thưa Đại tướng, tôi biết rất ít và không rõ nhiều để có thể có một phán đoán có giá trị. Nhưng tôi thấy những thủ đoạn, những mưu toan của các tướng lãnh và của những người của họ ở Bắc Việt ngay khi họ mới tới, thì tôi thấy chả có gì là sáng láng. Tôi sợ cả Trung Quốc đều như vậy.
    “Chúng tôi chia tay nhau sau câu nói này.
    “Nhiệm vụ thất bại, phái đoàn sửa soạn trở về Hà Nội. Tôi quyết định cùng trở về. Ngày 15-4, máy bay xuống Côn Minh. May mắn hơn khi đi, chúng tôi có ngay máy bay đi Hà Nội.
    Khi chúng tôi sắp lên máy bay thì có người đưa cho tôi tin nhắn của Hồ Chí Minh:
    ” Thưa ngài, mọi sự ở đây đều tốt đẹp, xin ngài cứ thư thả ở lại. Vả lại, sự hiện diện của ngài ở Trung Quốc rất hữu ích cho chúng ta. Đừng ngại ngùng gì cả. Khi nào tôi thấy là ngài cần về, tôi sẽ báo. Xin ngài nghỉ ngơi cho khỏe để còn làm nhiều nhiệm vụ đang chờ đợi chúng ta. Ôm hôn thân ái. Ký : Hồ Chí Minh. (tr 156)
    ” Chủ tịch không muốn tôi trở về. Tôi chào từ biệt phái đoàn. Khi máy bay chỉ còn là một chấm nhỏ ở chân trời, tôi đứng một mình trong căn cứ cũ của không quân Mỹ. Ngồi trên bậc cầu thang của phi trường, tôi điểm lại tình hình : không những tôi trơ trọi một thân một mình mà còn hoàn toàn cùng quẫn, không có một đồng xu dính túi. Vali của tôi nằm trong hầm để đồ của máy bay, khiến tôi không có quần áo để thay và cũng không có giấy tờ hay hộ chiếu… Tôi đọc lại câu ” Ôm hôn thân ái ” của Hồ Chí Minh mà không thể không mỉm cười : Thật là một đại kịch gia ! Khi thì săn sóc như một người cha, khi thì đầy trìu mến, ân cần, biết lợi dụng cái giáng điệu mảnh dẻ yếu ớt của mình, khi thì tỏ ra đầy uy quyền. Thật là không thiếu trào phúng… Tất cả ai gần ông lúc ban đầu đều bị nhầm, bị lừa … Người Mỹ, Sainteny, và chính tôi đây… Thật ra sự hiện diện của tôi làm ông vướng víu. Đó là lí do tôi phải đi Sầm Sơn và bây giờ là tôi phải lưu vong.
    “Khi tôi đang trầm mình trong suy nghĩ thì có người tiến lại gần tôi. Một người Trung Hoa mặc âu phục bằng trạc tuổi tôi. Ông ta cười và hỏi tôi:
    – Ông biết nói tiếng Pháp?
    – Rất mừng có người nói chuyện, tôi trả lời: Biết chứ.
    – Tôi tên là Yu, cựu luật sư ở Paris.
    –Tôi cũng học ở Pháp, tên tôi là Vĩnh, sinh ở Việt Nam. Tôi đi du lịch qua đây bị lỡ máy bay.
    – Ông ở đâu ?
    Thấy tôi lúng túng, ông ta hiểu tình trạng của tôi và không ngần ngừ đề nghị:
    Ông đến ở nhà tôi. Tôi là con cựu thị trưởng thành phố này. Cha tôi mới mất cách đây ít lâu, vì vậy tôi phải về. Nhà tôi khá rộng, ông ở thoải mái.
    ” … Nhờ sự rộng lượng của chủ nhà, tôi sắm được quần áo trong một cửa hàng bán quần áo cũ của quân đội Mỹ. Tôi liền thay bộ đồ mới mua được. Tôi ngạc nhiên trên đường về thấy lính tráng Tàu chào tôi. Khi về đến nhà tôi mới hiểu là tôi mặc quân phục của đại tá không quân Mỹ. Cả nhà đều cười ran và chúc mừng tôi đã lên chức.
    ” Có một bữa chúng tôi vào ăn ở một quán thì thấy một thanh niên vòng tay kính cẩn chào:
    – Thưa Hoàng thượng, ngài còn sống?
    ” Đó là một thanh niên Việt Nam thuộc Đoàn Thanh niên của Phan Anh nên có dịp thấy tôi khi đi theo Phan Anh vào thành nội. Trước sự ngạc nhiên của Yu tôi phải giảng nghĩa vì sao tôi phải giấu tên. Không những Yu không bực mình mà còn mời Bùi Minh (Bùi Tường Minh?) ăn cùng. Minh nói phải trốn khỏi Hà Nội vì hoạt động trong đảng Đại Việt…
    “… Với 2 người con của tướng Long Vân, thống đốc tỉnh Vân Nam, cả 2 đều tốt nghiệp Saint Cyr, tôi cũng cho biết tung tích của tôi và chúng tôi họp thành một nhóm bạn hữu rất vui vẻ.
    “… Tôi không nhận được tin tức gì ở Hà Nội mặc đầu tôi có cho Hồ Chí Minh biết chỗ tôi cư ngụ. Bây giờ tôi biết chắc chắn là ông Hồ không muốn có sự hiện diện của tôi ở Việt Nam.
    “… Tháng 9 tôi nhận được lời mời của Chan, Tổng thư ký Quốc Dân Đảng tới Trùng Khánh.. Lạ thay Yu cũng nhận được lời mời tương tự. Yu không tỏ vẻ ngạc nhiên vì cùng học với Chan ở trường Rạng Đông Thượng Hải và thỉnh thoảng cũng được gọi về thủ đô. Yu xin đi cùng, tôi nhận lời và 2 ngày sau chúng tôi lấy máy bay đi Trùng Khánh.
    ” Chan muốn mời tôi đến nhà ở, tôi cám ơn và nói thích trở lại khách sạn “Bốn Mùa” hơn. Tôi lợi dụng sự rảnh rỗi để tiếp tục đọc về Trung Quốc và đi đánh quần vợt lại.
    ” Đầu tháng Tám, Quốc Dân Đảng báo cho tôi là có một người đồng hương sắp tới. Hơi ngạc nhiên tôi tơi phi trường đón. Anh ta chừng 30 tuổi, hình dạng không phải là một người Việt thuần túy.
    “Khi ngồi trong xe anh ta nói:
    – Tôi là đại tá tình báo của quân đội Thiên hoàng, tôi có phận sự theo dõi những hành vi của Quốc Dân Đảng. Tôi sinh ở Nhật, cha Nhật mẹ Việt. Tôi được gửi tới ngài với danh nghĩa là thư ký của ngài;
    Chuyện khá tức cười, tôi không nín được đặt câu hỏi:
    – Tôi tưởng là những sĩ quan cao cấp Nhật đều tự sát theo truyền thống võ sĩ đạo. Tại sao ông không làm?
    – Thưa ngài, những sĩ quan tình báo nhận được lệnh cấm làm hara-kiri. Họ phải tiếp tục sống và làm việc cho tương lai của Đế quốc Mặt trời. Khi tôi làm song phận sự, tôi sẽ trở về Sài Gòn theo ngả Manille và đầu hàng quân đội Anh.
    Bắt đầu từ ngày đó, anh ta không rời tôi nửa bước.
    “Chan, tôi gặp luôn luôn, nói với tôi là Tưởng Thống chế sắp rời đô xuống Nam Kinh, rất hân hạnh mời tôi tới Nam Kinh.
    “Cuối tháng Tám Tưởng Giới Thạch xuống Nam kinh. Người thư ký ” trung thành ” của tôi cũng biến mất sau khi làm xong phận sự. Yu cũng theo chính phủ bỏ Trùng Khánh và nài nỉ tôi đi cùng. Tôi không muốn chút nào đi Nam kinh vì ngán thấu cổ cái bẩn thỉu của nước Tàu và thật sụ là sợ cô độc. Tôi kiếm một nơi ẩn trú đồng thời cũng là trung tâm. Tại sao không là Hồng Kông ? Yu đề nghị cùng đi với tôi vài ngày.
    “8 ngày sau, ngày 15-9 chúng tôi bay đến Hồng Kông. (tr 161)
    “.. Chúng tôi giữ 2 phòng ở một khách sạn hạng thường bên Cửu Long. Sau 2 tuần du lịch, Yu trở về Nam Kinh, hơi thất vọng vì tôi không đi cùng, nhưng cam đoan với tôi là sẽ được Tưởng Giới Thạch đón tiếp nếu tôi đổi ý.
    “…Tôi lại sống cô độc với chút đô la HK trong túi Yu đưa cho tôi. Chỉ ít lâu sau tiền hết, tôi phải tìm cách sinh sống. Trong khi chờ đợi tôi đi dạo. Phần nhiều là đi bộ, hay đi xe buýt. Nhưng tôi cảm thấy hoàn toàn tự do. Lần đầu tiên trong đời tôi có cảm giác như vậy. Trong một bữa đi tản bộ, tình cờ tôi thấy trước một tòa nhà có bản đề “Ngân Hàng Đông Dương”.
    ” Sau một chút ngần ngừ và cũng không biết tại sao tôi bước vào. Thật tôi đúng vào ngày gặp may ! Khi vào đại sảnh, tôi thấy ông Gany, Tổng giám đốc Ngân hàng Đông Nam Á. Ông nhận ra tôi tức khắc, rất ngạc nhiên và nói ông mới tới Hồng Kông thanh tra và hỏi thăm tình cảnh tôi. Nói vắn tắt tôi kể cho ông trường hợp nào tôi tới Hồng Kông và tôi không có tiền. Tôi muốn ông ấy ứng ra cho tôi một chút. Ngay tức khắc ông ấy đưa cho tôi chừng 2000 đô la HK. Vài ngày sau, cũng tình cờ tôi được biết hội Truyền đạo Công giáo Pháp ở Nước ngoài. Hội này bằng lòng cho tôi vay một số tiền được bảo đảm bằng tài sản của hoàng gia. Tôi không còn phải lo thiếu tiền nữa và tôi dọn tới khách sạn Gloucester ở trên đường Queen’s Road…
    “… Cũng ở khách sạn này, vào khoảng giữa tháng 11, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch tới gặp tôi. Ông là giấm đốc những đoàn thanh niên Nam bộ dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim, rồi làm bộ trưởng không bộ nào của chính phủ Lâm thời tháng Tâm năm 1945 và bây giờ ông là đổng lý văn phòng của Hồ Chí Minh.
    – Thưa ngài, tôi từ Quảng Châu tới. Tôi được cụ Chủ tịch sai tôi đưa tin và gửi lời chào thân ái, đồng thời cũng xin ngài nhận vật này: Từ trong cập ông lấy ra một cái tráp trong đó có nhiều nén vàng. Với số vàng này tôi có thể sống được 2 tháng.
    – Nhờ ông cám ơn Hồ chủ tịch. Nhưng cho tôi biết hành trình qua Pháp của Hồ Chủ tịch.
    – Hồ Chủ tịch tới Pháp ngày 21-10… Một chính phủ mới “Đoàn kết quốc gia” được thành lập. Hồ Chủ tịch vẫn kiêm nhiệm bộ trưởng bộ Ngoại giao. Giáp là bộ trưởng bộ Quốc phòng và Phạm Văn Đồng vẫn giữ bộ kinh tế… Và chủ tịch vẫn muốn ngài làm cố vấn tối cao cho chính phủ.
    – Xin ông cám ơn giùm tôi về sự tin cậy của chủ tịch. Kể cho tôi những gì đã xẩy ra từ khi tôi đi Trung Quốc.
    – Ngài đã biết là, để thi hành Thỏa ước 6-3, người Pháp đã trở lại…. Chủ tịch đã gặp tướng Leclerc ở Hà Nội và Leclerc đã ưng thuận chính phủ chúng ta đi Paris để cụ thể hóa nền độc lập và sự thống nhất nước nhà.. Một buổi hội đàm đã diễn ra tại Đà Lạt ngày 17-4 để sửa soạn cuộc hành trình. Nguyễn Tường Tam sẽ dẫn đầu phái đoàn , chung quanh có Giáp, Vũ Trọng Khánh, Hoàng Xuân Hãn, Cù Huy Cận… Cũng có những người đại diện miền Nam. Rất mau chóng, các đại biểu ta thấy ngay là người Pháp không thành thật. Những gì là sự thật ở Hà Nội không còn như vậy ở Sài Gòn … Cuộc bàn cãi ở Đà Lạt kéo dài đến tận ngày 11-5. Mặc dầu người Pháp không thật lòng, Chủ tịch đã đi Pháp ngày 31-5, hi vọng vào sự gặp gỡ với chính phủ Pháp. Nhưng khi tới Pháp thì chính phủ đổ, Pháp không còn chính phủ nữa. ! Nghiêm trọng hơn hết là ngay sau ngày Chủ tịch đi Pháp, hôm 1-6, người Pháp thành lập ở Sài Gòn một chính phủ lâm thời Nam Kỳ với bác sĩ Thinh đứng đầu. Đó là chứng cớ sự gian dối của người Pháp…. Sau một tháng rưỡi chờ đợi, Hồ chủ tịch quyết định trở về nước. Tuy vậy, để chứng minh lòng thành thật và sự rộng lượng của dân tộc Việt Nam, trước khi rời Pháp Chủ tịch đã ưng thuận ký với tổng trưởng Marius Moutet một bản đồng tuyên ngôn thiết lập giữa Việt Nam và Pháp, một Modus vivendi (Tạm ước).
    “… Tôi cám ơn bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã thuyết trình và nói:
    – Tôi thấy bản Tạm ước trù liệu có thể đến tháng 1- 47 sẽ tiếp tục lại những cuộc bàn cãi đã bị bỏ dở ở Hội nghị Fontainebleau. Bởi vậy tôi muốn ông nói lại với Hồ chủ tịch là tôi muốn trở về Hà Nội vào lúc đó.
    – Thưa ngài, tôi nghĩ là Chủ tịch muốn ngài ở lại Hồng Kông trong thời gian đó, vì Hồng Kông là địa điểm quan sát tốt nhất. Dầu sao chăng nữa, Chủ tịch dặn ngài phải coi chừng bọn Pháp và những tụi Việt gian đựợc Pháp dùng để thi hành những thủ đoạn của nó.(tr 166)
    ” Đối với tôi, chuyện đã rõ ràng, Hồ Chí Minh không muốn tôi : Ông đã đẩy tôi đi khi người Pháp trở lại và giữ tôi ở xa trong khi có Hội nghị Đà Lạt và Fontainebleau. Ông không muốn có sự hiện diện của tôi ở Hà Nội nếu cuộc thương thuyết với người Pháp bắt đầu lại.
    ” Vài ngày sau, gần như cả một phái đoàn tới khách sạn Gloucester xin được tôi tiếp kiến. Từ Quảng Châu tới là 3 thủ lãnh quốc gia, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam: VNQDD. Nguyễn Hải Thần: Đồng Minh Hội. Những người này đã trốn khỏi Hà Nội từ tháng 7 để tránh bị Giáp truy hại trong lúc Hồ Chí Minh vắng mặt. Nối tiếp sau đó là Trần Trọng Kim, cũng từ Quảng Châu tới. Trần Trọng Kim hỏi tôi:
    – Thưa ngài, ngài tính thế nào?
    – Tôi đợi Hồ Chí Minh gọi tôi về.
    – Xin ngài đừng về Hà Nội, nguy hiểm lắm. Tại sao ngài không đi Nam Kinh với Quốc Dân Đảng theo lời mời của Tưởng Giới Thạch?
    – Không, tôi không đi Nam Kinh. Quốc Dân Đảng coi như là sắp tiêu tan rồi. Tưởng Giới Thạch không chống lại được áp lực của cộng sản đâu và chẳng chóng thì chày, Mao Trạch Đông sẽ toàn thắng…
    “… Tôi được giấy triệu tập của An ninh Anh. Gặp Cảnh sát trưởng người Anh, tôi hỏi lí do. Ông ta nói : Từ ngày ngài tới Hồng Kông tháng Mười năm ngoái, ngài thay đổi nhiều khách sạn. Chúng tôi biết ngài là ai ngay từ đầu. Tôi nhận được lệnh phải bảo đảm an ninh cho ngài. Chúng tôi dành cho ngài một cái biệt thự ở Repulsion Bay. Hai cảnh sát Trung Hoa mặc thường phục sẽ túc trực bên ngài.
    “… Từ khi tôi đến ở Repulssion Bay trên đảo Victoria, biệt thự của tôi trở thành một cục nam châm thu hút khách viếng thăm. Có những khách tới để đặt trước chỗ ngồi, có những khách tới để dò dẫm cho Pháp hay cho nước ngoài khác… Tôi không có ảo tưởng gì khi bỗng nhiên nhận được sự quan tâm của nhiều người : bác sĩ Phan Huy Đán, luật sư Đinh Xuân Quảng, cả 2 thuộc đảng Xã hội, VNQDD có Trần Văn Tuyên, rồi bác sĩ Lê Văn Hoạch, phó thủ tướng chính phủ Nam Kỳ, rồi Ngô Đình Diệm mà tôi nghi là con mắt của Mỹ…(tr 171)
    “… Ngày Toàn quốc Kháng chiến 19-12 đã đẩy Việt Minh vào một cuộc chiến tranh du kích. Theo tôi đó là cái lầm lớn nhất. Nhưng ai là người chịu trách nhiệm?
    ” Giáp chắc chắn là có một phần khi sửa soạn cuộc Tổng tấn công. Nhưng hình như phút cuối cùng Giáp hủy lệnh đánh. Cuộc tổng tấn công đã phá hoại đường lối chính trị được ấn định từ trước và đã đưa đến một cuộc chiến tranh quá lâu dài.
    “Nếu không có ngày 19-12-1946 thì gì đã có thể xẩy ra ở Việt Nam? (tr 172)

    Vài bình luận về những sự kiện kể trong những đoạn dịch
    1) Bảo Đại cũng như hầu hết mọi người thời ấy, chỉ nghe đồn chứ không biết Việt Minh là gì, Hồ Chí Minh là ai.
    Người biết nhiều về Việt Minh nhất là Tạ Quang Bửu khi nói với Bảo Đại về Võ Nguyên Giáp ở Hà Nội và Trần Văn Giầu ở Sài Gòn. Nhưng ở Huế là ai? Ông Phạm khắc Hòe, ngự tiền văn phòng của Bảo Đại, được sai ra ngoài Thành Nội hỏi tin tức ai là người của Việt Minh, trở về tay không. Dễ hiểu : Việt Minh chánh cống còn ở Hà Nội, chưa kịp vào Huế. Người Việt Minh chánh cống đầu tiên vào Huế là Trần Huy Liệu mà nếu xét kỹ lí lịch thì cũng chỉ là cựu VNQDD trở cờ. Cù Huy Cận chỉ là kẻ theo đuôi.

    2) Bảo Đại dù tây học, nhưng cũng như đa số người dân hồi ấy, vẫn còn mê tín, tin là ông Hồ có được mệnh trời.
    Hai câu sấm Trạng Trình “Bao giờ sen mọc biển Đông (Nhật), cha con nhà Nguyễn bế bồng nhau đi”, được giảng là nhằm triều đại nhà Nguyễn và “Đụn sơn phân giới… Nam đàn sinh thánh”, được cho là ứng vào Hồ Chí Minh. Những đồn đại về cụ Hồ mắt sáng như sao, có 2 con ngươi… đã áp đảo tinh thần ông Bảo Đại, khiến ông tự thấy phải thoái vị để theo đúng mệnh trời. (tr119)

    3) Ngay khi mới gặp ông Hồ ở Hà Nội, Bảo Đại đã bị ông Hồ mê hoặc như cả triệu người dân Việt thời ấy.
    Gặp ông Hồ lần đầu tiên, Bảo Đại đã có ấn tượng tốt vì phong độ nửa đạo sĩ nửa nhà nho của ông Hồ. Nhưng cũng như 99% dân chúng Việt Nam thời đó, Bảo Đại đã bị ông Hồ mê hoặc vì 2 chữ Độc Lập và Thống Nhất. Ai cũng như ai đều cho Độc Lập là Tất cả: là thoát khỏi vòng bị trị, là tự do, là thống nhất, là Bác Hồ, là Nguyễn Ái Quốc, là kháng chiến theo con đường cộng sản. Cả triệu người Việt Nam nghe theo tiếng hô Độc lập của Bác để bị dẫn vào con đường này rồi đi lần lần tới cộng sản.
    4) Bảo Đại không có thiện cảm với những người quốc gia
    Được mục kích những cảnh hỗn loạn ở Hà Nội gây ra bởi những đám quân Tàu, Bảo Đại ghét lây những người quốc gia vì những người này đã theo quân đội Tàu trở về Việt Nam, mặc dù trong số những người này có người muốn tôn ông làm minh chủ để đối lại với Hồ Chí Minh.
    5) Bảo Đại chỉ là phát ngôn viên của ông Hồ
    Mang tiếng là cố vấn tối cao, không thấy Bảo Đại đưa ra ý kiến nào trong suốt thời gian làm cố vấn. Trái lại, những thông điệp gửi cho các lãnh đạo nước ngoài, tuy mang tên Bảo Đại, nhưng đều do ông Hồ tự thảo. Và khi đi cùng với ông Hồ gặp đại diện các nước Đồng Minh, những lời tuyên bố của ông Bảo Đại cũng chỉ là những lời đã được ông Hồ mướm trước. Ông Hồ chỉ dùng Bảo Đại như một phát ngôn viên và như một nhân chứng để khẳng định với Đồng Minh là Bảo Đại đã tự trao quyền hành chứ không có sự cướp đoạt quyền hành. Tuy vậy ông Hồ vẫn luôn luôn nghi ngờ Bảo Đại nên không bao giờ để cho đi một mình. Bảo Đại trái lại vẫn luôn luôn tin tưởng vào ông Hồ, luôn luôn tỏ ra trung trực với ông Hồ, ngay cả khi đã biết chắc mình đã bị bỏ rơi. Chứng cớ là khi Phạm Ngọc Thạch tới Hồng Kông đưa cho mấy nén vàng, vẫn một mực hỏi khi nào được ông Hồ gọi về. Thế mới biết sức hấp dẫn của ông Hồ mạnh đến chừng nào!
    6) Đề nghị Bảo Đại thay mình là một mánh khóe của ông Hồ khi bị chống đối về dự định ký với Pháp cho Pháp trở lại Việt Nam
    Đề nghị này được Bảo Đại kể lại trong cuốn ” Rồng Nam ” (tr 150 ). Tôi không thấy có tài liệu nào nói đến. Có nhiều người cho là ông Bảo Đại bịa ra. Tôi, ngược lại, tin là có thật vì lí do sau đây:
    Để nắm trọn quyền hành trong tay, ông Hồ phải tìm cách gạt những đảng phái quốc gia ra ngoài. Muốn vậy, phải làm sao đuổi được bọn Tàu ra khỏi nước, khiến các lãnh tụ quốc gia từ trước tới nay vẫn dựa vào Tàu, nếu không muốn bị thủ tiêu, chỉ còn cách bám theo Tàu, trốn khỏi Việt Nam. Vấn đề là quân đội Tàu lấy danh nghĩa là được lệnh Đồng Minh vào Bắc Việt để giải giới quân đội Nhật, sẽ ở ỳ không bao giờ chịu về. Muốn đuổi Tàu ra khỏi nước, chỉ có cách là điều đình với Pháp, đem Pháp vào thay thế Tàu. Nhưng làm như vậy ông Hồ sẽ mất mặt với toàn dân và Việt Minh sẽ mất chính nghĩa giành độc lập. Các đảng phái Quốc gia, vì sự sống còn của mình, sẽ nhao nhao chống đối, sẽ giành được chính nghĩa, huy động toàn dân đánh Pháp với súng ống của quân Tàu giải giới Nhật để lại. Lực lượng Việt Minh hồi ấy thật ra cũng chả mạnh hơn gì các đảng phái quốc gia tuy được phóng đại vì khéo tuyên truyền, sẽ chỉ còn cách chạy ra khỏi nước. Nhưng đi đâu ? Tàu Mao thì còn quá xa ! Không có lẽ lại trốn qua Pháp, nương tựa vào đảng Cộng sản Pháp ?
    Ông Hồ thấy chỉ còn một giải pháp là đưa Bảo Đại lên thay mình. Tất nhiên là Bảo Đại sẽ chỉ là chủ tịch bù nhìn với một nội các bù nhìn, còn mọi quyền hành thật sự vẫn nằm trong tay “Cố vấn” Hồ Chí Minh. Trách nhiệm về chuyện ký với Tây, đem Tây trở lại sẽ đổ lên đầu ông Bảo Đại hết ! Ngoài ra, một khi ông Bảo Đại đã dính với ông Hồ, các đảng phái quốc gia cũng không còn có thể tôn ông làm minh chủ thay thế ông Hồ trước mặt toàn dân được..

    Ông Bảo Đại mãi về sau mới hiểu lí do vì sao có sự thay đổi của ông Hồ : Với vàng bạc của “Tuần lễ vàng”, ông Hồ đã đút lót tướng Tiêu Văn để viên tướng này nói với chủ tướng của mình là tướng Lư Hán làm áp lực với các lãnh tụ quốc gia, đặc biệt là VNQDD, tham gia chính phủ Hồ Chí Minh và cùng ký thỏa ước với Pháp. Không biết các lãnh tụ này được Tiêu Văn thí cho bao nhiêu cây vàng. Nhưng đã tự đào hố chôn mình. Và ông Hồ thấy “Giải pháp Bảo Đại ” của mình không cần thiết nữa!
    Nhưng ông Bảo Đại vẫn bị ông Hồ gài vào cái bẫy ” Thỏa ước 6-3 ” khi được ông Hồ cho cái hân hạnh mỗi tối cùng ông thảo cái bản thỏa ước này. Lịch sử khó mà kết tội ông Hồ đã đem Tây vào vì tự ông Bảo Đại đưa ra chứng cớ là đã cùng ông Hồ thảo bản Thỏa ước và các đảng Quốc gia cũng há miệng mắc quai vì bản Thỏa ước có chữ ký của Vũ Hồng Khanh.
    7) Còn một nghi vấn nữa: Bảo Đại, sau khi tham dự phái đoàn đi gặp Tưởng Giới Thạch, đã cố ý ở lại hay bị ông Hồ bỏ rơi?
    Có nhiều người cho là Bảo Đại đã lợi dụng tham gia phái đoàn qua Tàu, trốn ở lại.

    Tôi thì nghĩ ông Bảo Đại đã bị ông Hồ vắt chanh bỏ vỏ:
    - Nếu thật sự ông Bảo Đại muốn ở lại thì ngay khi gặp Tưởng Giới Thạch đã xin ở lại, đã không can thiệp để phái đoàn của ông Hồ được Tưởng Giới Thạch tiếp. Và nhất là khi gặp tướng Marshall, đã không khẳng định chính phủ Hồ Chí Minh là chính phủ đoàn kết quốc gia được Hồ Chí Minh thành lập với ý chí thực hiện độc lập và thống nhất, hai khát vọng của dân tộc Việt Nam và đã không nói xấu chế độ Quốc dân đảng Tàu.
    - Nếu thật sự muốn ở lại thì sao sau hơn 3 tuần ở Trùng Khánh (Từ 23-3 đến 15-4 ), lại theo phái đoàn đi Côn Minh để đổi máy bay trở về Hà Nội
    - Chuyện sắp lên máy bay trở về Hà Nội thì nhận được tin nhắn của ông Hồ nói ở lại, cũng khả tín. Chắc chắn là tin nhắn này đã được ông Hồ viết từ trước và đưa cho một người thân tín trong phái đoàn để phút cuối cùng mới đưa cho ông Bảo Đại, gây bất ngờ để ông Bảo Đại không kịp phản ứng, không kịp nghĩ đến vợ con còn ở Việt Nam, quần áo không có, một xu dính túi cũng không.
    Chẳng qua là ông Hồ, sau khi đã lợi dụng đến tận cùng ông Bảo Đại để làm lá chắn cho mình trước mặt Đồng Minh và đã ký được thỏa ước đem quân Pháp vào thay thế quân Tàu, thì thấy đã đến lúc vứt vỏ vì đã vắt hết chanh.
    Kết luận
    Ông Hồ đã 2 lần lầm lỡ:
    Lần thứ Nhất: Ngay từ đầu năm 1946, để đuổi Tàu Quốc, ông Hồ đã đề nghị Bảo Đại thay mình làm chủ tịch nước, điều đình với Pháp để Pháp thay thế Tàu rồi lại trở mặt! Hậu quả : 8 năm chiến tranh chống Pháp cho Tàu và đất nước bị chia đôi.
    Lần thứ Hai nặng hơn nhiều: Đẩy Bảo Đại ra khỏi nước. Nếu còn giữ Bảo Đại trong nước thì năm 1950 khi Mao chiến thắng tới sát biên giới, để tránh phải phụ thuộc Tàu Cộng, ông Hồ đã có thể lấy lại cái “giải pháp Bảo Đại” năm 1946 của mình. Không những đã rút ngắn chiến tranh Việt Pháp được 4 năm, mà cái quan trọng hơn hết là sẽ không có cuộc nội chiến kéo dài thêm 20 năm với 4 triệu người chết, với hậu quả là đất nước ngày nay thuộc quỹ đạo Tàu không biết bao giờ mới thoát khỏi! Đó là cái tội lớn nhất của ông Hồ đối với lịch sử.
    Phong Uyên

    Lannguyen xin chân thành cảm ơn Phong Uyênhttp://vantuyen.net/2014/06/15/bao-dai-toi-cao-co-van-cua-ong-ho-phong-uyen/
    Lannguyen

  5. #5
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Nên Đọc Cho Biết

    Bằng cách nào Trung Cộng lấy được những bí mật kỹ thuật của Mỹ - phần 1
    Bài phóng sự điều tra của Yudhijist Bhattacharjee trên The New Yorker 5/5/14
    Nguyễn Minh Tâm dịch


    Ngày 1 tháng Hai năm 2003, khi phi thuyền con thoi Columbia rơi trên không trung, ông Greg Chung đang ngồi ở nhà. Con trai của ông gọi điện thoại báo tin cho bố biết về tai nạn này. Chiếc phi thuyền bị vỡ tung trên đường trở về Trái đất, và bảy phi hành gia trên phi thuyền bị chết hết. Ông Chung mắng đứa con trai: “Đây không phải là chuyện đùa. Con đừng có báo tin bậy.” Ông Chung là một công dân Mỹ gốc Hoa. Ông đang sống với vợ, bà Ling, trong một khu gia cư khá xinh đẹp, ở thành phố Orange, tiểu bang California. Ông mới về hưu được chừng vài tháng. Trước khi về hưu, ông làm việc cho NASA, cơ quan phụ trách Chương Trình Không Gian của Hoa Kỳ. Ông từng đóng góp vào việc thiết kế phòng lái cho phi hành đoàn trong chiếc phi thuyền Columbia, chưa kể là ông đã làm nhiều việc khác đóng góp cho chuyến bay của phi thuyền. Khi biết rõ cậu con trai, Jeffrey, báo tin là đúng. Ông cúp điện thoại, và ngồi ôm mặt khóc một mình.

    Năm 1972, cơ quan NASA giao việc thiết kế, và thực hiện phi thuyền con thoi cho công ty tư Rockwell làm. Công ty này sau đó đã bị công ty Boeing mua lại. Trong hơn 30 năm, ông Chung là kỹ sư của công ty Boeing, làm việc trong nhóm “stress-analysis”, thử sức chịu đựng của vật dụng thiết kế. Việc làm của ông hết sức tỉ mỉ, và đòi hỏi nhiều kiên nhẫn, thử đi thử lại không biết là bao nhiêu lần. Nhưng đó lại là việc làm sở trường của ông Chung. Ông làm việc miệt mài, ít khi nào bỏ sở ra về, thậm chí ông cũng ít khi nghỉ giải lao. Ông cứ ngồi miết ở máy vi tính, thử đi thử lại đủ mọi loại mô hình, xem coi chất liệu nào thích hợp để làm vỏ phi thuyền, chịu đựng nổi độ nóng, và áp suất va chạm vào phi thuyền.

    Sau khi phi thuyền Columbia bị nổ tung trên không trung, cơ quan NASA yêu cầu hãng Boeing thiết kế một phi thuyền con thoi khác. Ông Chung là nhà thiết kế giỏi nhất trong nhóm. Xếp cũ của ông Chung điện thoại yêu cầu công ty ký hợp đồng nên mướn ông Chung làm công việc này. Mặc dù ông đã ở tuổi 70, song ông hoãn nghỉ hưu, và tiếp tục đi làm. Thế là ông lại quanh trở về thói quen siêng năng cũ, về nhà trễ ăn cơm tối, sau đó lại ngồi vào bàn làm việc cho đến khuya. Ông làm việc say sưa không phải vì người ta hứa thăng chức, hay tăng lương cho ông, mà chỉ vì cái thú làm việc có sẵn trong người của ông Chung. Vợ ông, bà Ling, kể lại về thói quen say mê làm việc của ông. Ông khoe ông đã giúp hãng Boeing tiết kiệm được bao nhiêu tiền. Ông nói nhiều về việc làm của ông đến nỗi bà Ling phải bực mình, và nói: “Suốt ngày cứ nói mãi về công ty Boeing của ông. Bộ ông không còn chuyện gì khác để nói với tôi hay sao?”

    Tháng Tư năm 2006, nhân viên FBI đến gặp ông Chung tại nhà riêng của ông ở thành phố Orange. Chính tay ông Chung là người thiết kế căn nhà ông đang ở. Căn nhà có một hàng ba để ông và bà Ling ngồi nhìn ra vườn hoa lớn phía trước. Ông Chung trồng cây chanh, và cà chua. Hàng ngày ông hay dùng nước tái dụng để tưới hoa, tưới cây. Hai ông bà có hai người con trai đã trưởng thành là Shane, cậu con lớn, và Jeffrey, cậu con nhỏ. Hai cậu con cũng sống ở gần cha mẹ.

    Ông Chung dáng người cao, gầy, với khuôn mặt trầm tĩnh, mở cửa mời khách bước vào trong nhà. Họ mở đầu câu chuyện bằng cách hỏi thăm ông Chung về một người tên là Chi Mak, bạn của ông Chung. Ông này đã bị bắt trước đó vài tháng. Chi Mak là người Hoa gốc Hong Kong đến California định cư vào thập niên 1970, và làm kỹ sư cho công ty Power Paragon, một công ty xây cất hệ thống phân phối điện lực cho Hải Quân. Từ nhiều năm nay, Trung cộng cố tìm cách canh tân hạm đội hải quân của họ. Cơ quan FBI nghi ngờ rằng Mak đã được tình báo Trung cộng huấn luyện, gửi sang Hoa Kỳ để làm gián điệp.

    Sau hơn một năm điều tra, đưa đến việc bắt giữ Chi Mak, cơ quan FBI nghe lén điện thoại của Chi Mak, và bám sát y để theo dõi những giao du hàng ngày của Chi Mak. Có một lần trong lúc Chi Mak và vợ đi nghỉ mát ở Alaska, thám tử Mỹ lẻn vào nhà lục soát suốt đêm. Họ cố gắng không để lại một dấu vết nào, thậm chí màng nhện ở phòng khách họ cũng cố tình giữ nguyên. Vào trong nhà, họ chụp hình hàng trăm tài liệu liên quan đến hoạt động của Chi Mak. Trong đó, có cuốn sổ ghi điạ chỉ, số điện thoại người quen của Chi Mak, vài người là kỹ sư Mỹ gốc Hoa. Một trong những người này là Greg D. Chung.

    Ông Chung tên viết theo tiếng Hoa là Dougfan Chung, sang Hoa Kỳ định cư từ hơn 40 năm trước. Ông Chung cho FBI biết ông và bà Ling vợ ông thỉnh thoảng có đi ăn cơm Tàu chung với Chi Mak. Vì Chi Mak là kỹ sư ngành điện, còn ông Chung là kỹ sư ngành cấu trúc, nên hai người ít khi bàn chuyện công việc làm với nhau. Nhân viên FBI cám ơn ông Chung rồi ra về. Họ tìm được vài tin tức hữu ích, song không có tin gì quan trọng, hay ông Chung không làm điều gì sai trái cả.

    Vài tuần sau, nhân viên FBI lại lục soát nhà của Chi Mak lần nữa. Kỳ này họ bắt gặp một lá thư viết bằng tiếng Hoa trong mớ giấy báo cáo hàng tháng của ngân hàng. Lá thơ mang nhãn hiệu một khách sạn ở Bắc Kinh, do Gu Wei Hao viết. Ông Gu Wei Hao là một quan chức cao cấp trong Bộ Hàng Không của Trung cộng. Lá thư đó không phải gửi cho Chi Mak, mà là gửi cho Lingjia và Dongfan Chung.

    Trong lá thư, và sau này còn thêm một số thư khác, viên chức cao cấp họ Gu nhờ ông Chung thu thập tài liệu để giúp Trung cộng thực hiện chương trình không gian của họ. Chính phủ Trung cộng mới bắt đầu kế hoạch xây dựng trạm không gian đặt trên qũi đạo trái đất, và Gu đang tìm cách thu thập tin tức kỹ thuật để giúp thực hiện kế hoạch này. Lá thư của Gu viết cho ông Chung nói rõ: “Tất cả chi phí thu thập, hay cần phải mua tin tức, chúng tôi sẽ cử người đích thân trả bằng tiền mặt, và ông có quyền đem tiền ra khỏi nước một cách an toàn.” Gu còn mời ông Chung sang Quảng Châu, và tổ chức buổi họp mặt “trong khung cảnh giới hạn, ít người”, “rất an toàn” để có thể cùng bàn luận về những vấn đề kỹ thuật. Vì ông Chung là công dân Mỹ, nên Gu đề nghị ông nên làm đơn xin chiếu khán du lịch, với lý do là đi thăm bà con ở Trung quốc. Gu kết luận ở phần cuối lá thư: “Đây là niềm vinh dự và may mắn cho Trung quốc khi ông nhận thức rằng ông nên đem tài năng, trí tuệ của ông phục vụ đất nước.”

    TỪ NAY ÔNG CHUNG LÀ KẺ BỊ TÌNH NGHI LÀM GIÁN ĐIỆP CHO TRUNG QUỐC

    Cơ quan FBI bắt đầu mở cuộc điều tra, đặt dưới sự điều động của một thám tử tên là Kevin Moberly. Người thám tử có dáng dấp thể thao, mạnh khoẻ, khoảng trên 40, tóc điểm vài sợi bạc, dưới cằm để một chòm râu được chăm sóc khá kỹ. Khoảng 2 giờ sáng một đêm trong tháng Tám năm 2006, ông Moberly ngồi bật dậy, thay quần áo ra khỏi nhà. Ông cùng một thám tử khác tên là Bill Baoerjin lái xe đến thành phố Orange. Họ đậu xe trên đường Grovewood Lane, cách nhà ông Chung chưa đầy 100 yards. Họ ngồi yên trong xe khoảng chừng 20 phút, quan sát khu xóm xung quanh, và để cho đôi mắt quen dần với bóng tối. Sau đó họ dùng đèm bấm có dụng cụ đặc biệt che bớt ánh sáng, đến lục tìm tòi trong hai thùng rác trước cửa nhà ông Chung. Họ thấy một chồng báo Hoa văn. Họ ôm hết cả chồng báo đem về văn phòng.

    Kẹp vào giữa chồng báo là những tài liệu kỹ thuật của công ty Rockwell và Boeing. Thám tử Moberly trước đây đã từng làm sĩ quan tình báo bên Không quân, vì thế ông nhận ra ngay những chữ viết tắt như “O.V”, tức Orbital Vehicle, và “S.T.S” hay Shuttle Transportation System đều là những tài liệu kỹ thuật liên quan đến phi thuyền không gian. Không có bằng chứng nào cho thấy ông Chung muốn trao những tài liệu kỹ thuật này một cách bí mật. Việc ông làm chỉ mang hình thức vứt bỏ những tài liệu kỹ thuật cũ có sẵn trong nhà, vì ông sợ bị vạ lây sau khi vụ bắt giam Chi Mak được loan tin từ vài tháng trước.

    Một tuần sau, thám tử Moberly và Baoerjin quanh trở lại lần nữa để tìm kiếm. Lần này một người hàng xóm tình cờ lái xe đi ngang, khiến cho hai điệp viên phải ngồi thụp xuống, núp sau hai thùng rác cao. Ông Moberly thấy việc lục lọi thùng rác coi bộ rủi ro nhiều quá, ông quyết định nhờ công ty xe rác hợp tác. Trên đường lái xe rác đến trung tâm chế biến rác, xe vận tải sẽ ngưng ở một điểm hẹn để nhóm FBI hốt hết rác nhà ông Chung đem về nghiên cứu.

    Trong tuần lễ kế tiếp, ông Chung đẩy thùng rác ra trước cửa nhà vào lúc trời vừa hừng sáng. Ông đẩy thùng rác nằm kẹt giữa hai thùng “recycle” mà ông đã kéo ra từ đêm hôm trước. Sau đó, ông đứng núp sau bụi cây quan sát một lúc, trước khi ông bước vào trong nhà. Khi nhân viên FBI thu hồi được vật liệu trong thùng rác nhà ông Chung, họ tìm thấy khoảng 600 trang tài liệu kỹ thuật của công ty Boeing, với đầy đủ hình ảnh rõ ràng. Lâu lâu trên trang giấy còn đóng con dấu: “tài sản riêng của công ty” hay “tài liệu mật, cấm trao đổi.”
    Tháng Chín, ông Moberly đến nhà ông Chung cùng với một đồng nghiệp tên là Gunnar Newquist. Ông này là điều tra viên hình sự của Hải Quân. Hai người đến đây để thực hiện một cuộc phỏng vấn. Hai thám tử ngồi ở ghế sofa màu trắng, còn ông Chung ngồi ở bàn uống cà phê đối diện. Ông Moberley mở đầu câu chuyện bằng việc hỏi thăm tin tức liên quan đến Chi Mak. Sau một giờ chuyện vãn, ông tìm cách hướng câu chuyện liên quan đến vị quan chức Gu Wei Hao làm việc ở bộ hàng không Trung cộng. Ông Chung cho biết qủa thực ông có gặp vị quan chức này trong chuyến đi thăm Trung quốc năm 1985, và sau đó một vài lần vào đầu thập niên 1990’s.
    Ông Moberly đặt câu hỏi: “Ông Gu có bao giờ nhờ ông làm việc gì hay không?”
    Ông Chung trả lời: “Không.”
    Ông Chung đứng dậy, đi vào nhà bếp lấy một ly nước để uống. Khi ngồi xuống ghế, ông Moberly lôi ra lá thư của ông Gu đặt lên bàn uống cà phê. Ông yêu cầu ông Chung đọc to lá thư đó lên. Ông Chung dịch lại lá thư với giọng nói lạc thần, mất bình tĩnh.
    Moberly đặt câu hỏi: “Trong nhà của ông có còn một tài liệu nào khác lẽ ra ông không được cất giữ hay không?” Sau đó, ông ta đưa cho ông Chung tờ giấy để ký tên cho phép nhân viên FBI lục xét nhà.
    Ông Moberly gọi ngay một toán thám tử đứng chờ phía trước, xông vào thực hiện công việc lục soát nhà của ông Chung. Bà Ling lúc đó vừa về đến nhà, dắt theo đứa cháu trai. Cả ba đứng lặng yên xem hàng chục thám tử lục lọi từng khe ngách nhỏ của căn nhà, trên khoảng đất rộng gần một mẫu tây.
    Ở dưới bao lơn phía sau căn nhà, một thám tử tìm thấy một cánh cửa nhỏ. Cánh cửa được chắn ngang bằng một thanh gỗ. Ông mở cánh cửa ra, và bước xuống vài bậc thềm, ông khám phá ra một ngõ ngách nhỏ, đủ để lách mình đi vào, chạy dọc theo chiều dài của căn nhà. Khúc đầu, ngõ ngách này chỉ đủ cho một người khom lưng đi vào. Sau đó, mặt đất thoai thoải dốc, và người bước vào có thể đi đứng dễ dàng. Từ trong nhà không có lối đi vào ngã ngách này. Khoảng đất trông như một basement, hầm nhà trơ trụi, và chỉ có bóng đèn soi đường. Ở một bên phòng trống này chồng chất mấy cái nệm giường cũ, xe đạp ba bánh cũ, hay vài miếng gỗ tạp. Đi tiến thêm về phía trước của căn nhà, đằng sau tấm ván ngăn sơ sài, là một căn phòng nhỏ, sàn gỗ thô sơ, với nhiều kệ sách. Trên kệ sách có rất nhiều binder, bìa cứng, đựng hồ sơ.
    Người nhân viên dẫn ông Moberly đi xuyên vào ngõ hẹp để cho ông thấy những binder này. Trong những binders đó chứa rất nhiều tài liệu qúi liên quan đến việc chế tạo các loại máy bay quân sự của Hoa Kỳ như oanh tạc cơ B-1, máy bay chở hàng C-17, chiến đấu cơ F-15, và trực thăng vận tải Chinook 47 và 48. Ông Moberly nói với tôi về cảm nghĩ của ông khi bước vào kho tài liệu này: “Tôi có cảm tưởng như mình vừa đi lạc vào bãi mìn của vua Solomon ngày xưa.” Không rõ ông Chung có vi phạm luật nào hay không, nhưng chắc chắn là ông Chung đã vượt quá lằn ranh của một người sưu tầm tài liệu kỹ thuật.
    Ông Moberly cầm đại một binder, chạy vội lên lầu, đặt lên bàn cà phê cho ông Chung xem. Ông gằn giọng: “Tại sao ông không nói cho chúng tôi biết ông có những tài liệu này?”. Ông Chung không trả lời, quay mặt đi chỗ khác.
    Ngay lúc đó điện thoại reo, và ông Chung bước sang phòng ăn để trả lời điện thoại. Ông Moberly có đem theo một cộng sự viên duy nhất hiểu được tiếng Quan Thoại, đó là Jessie Murray. Jesse Murray đứng nghe lóm câu chuyện thì hiểu là ông Chung đang nói chuyện với cậu con trai lớn, cậu Shane, bằng tiếng Quan Thoại. “Họ sẽ đến nói chuyện với con đó. Họ sẽ hỏi con về chuyến đi Bắc Kinh của trường con.” Chuyến đi đó xảy ra vào năm 1985, và ông Chung đã gặp Gu Wei Hao, viên chức cao cấp của Bộ Hàng Không. Ông Chung dặn con: “Con cứ nói với họ là con quên hết rồi. Chỉ nói vắn tắt là con không biết.” Nghe đến đây, ông Murray giật điện thoại khỏi tay ông Chung và cúp máy ngay, cảnh cáo ông Chung rằng ông ta có thể can tội cản trở công lý, một tội rất nặng.

    Cuộc lục soát nhà ông Chung tiếp tục, kéo dài suốt một ngày. Điều tra viên tìm thấy một số tài liệu đã bị đốt, và nhiều hồ sơ khác còn để trong phòng làm việc của ông Chung ở trên lầu. Đến chiều tối, họ khuân đi hơn 150 thùng tài liệu. Trước khi rời khỏi nhà ông Chung, ông Moberly gặp cậu con cả Shane ở lề đường trước cửa nhà xe. Cậu ấy than: “Bố tôi còn nặng lòng với cố quốc quá. Ông cụ cần phải suy nghĩ lại về lòng trung thành với Trung quốc.”
    oOo
    Ông Chung sinh ra tại một ngôi làng nhỏ ở tỉnh Laoning, một tỉnh nhỏ vùng đông bắc Trung quốc vào năm 1936. Khi còn nhỏ ông là một cậu bé nhút nhát, chỉ thích sưu tầm đồ chơi nho nhỏ: tem cổ, đá lạ, hay nắp hộp kem đánh răng. Cha mẹ của cậu là Phật tử thuần thành. Ông bà dạy con phải quí trọng thiên nhiên, cây cỏ. Cậu bé tỏ ra say mê tìm hiểu về hoa cỏ, cây cối, và cậu rất bất bình khi thấy những đưá trẻ cùng lứa tuổi bóp chết hàng đàn kiến nhỏ.
    Trong thời Thế Chiến Thứ Hai, khi đoàn quân Nhật đang tiến vào các tỉnh phía đông, gia đình họ Chung phải bỏ làng mạc, cùng với hàng triệu người Hoa khác, đi lánh nạn. Trên đường chạy về phương nam, họ phải tạm dừng chân vì có cuộc giao tranh bằng súng lớn. Gia đình họ Chung phải trốn trong ruộng bắp. Một nông dân tử tế giúp họ Chung cho vào nhà tá túc, và nấu cháo bắp cho ăn. Gia đình đó không nhận tiền đền đáp của họ Chung. Lúc đó cậu bé Chung mới được tám tuổi, và cậu vẫn nhớ mãi nghĩa cử cao đẹp của gia đình nông dân này.
    Cha của ông Chung là một kỹ sư công chánh, làm việc trong bộ hoả xa. Ông là người theo phe Trung Hoa Dân Quốc. Năm 1946, khi phe Mao Trạch Đông giành được quyền kiểm soát toàn thể lục điạ Trung Hoa, gia đình họ Chung phải bỏ chạy sang Đài Loan. Tại đây phe nước Trung Hoa Dân Quốc, hay phe Quốc Dân Đảng thành lập chính phủ lưu vong. Kể từ đó có hai nước Trung Hoa - Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa do Đảng Cộng Sản cai trị, và Trung Hoa Dân Quốc ở Đài Loan, cả hai đều tự nhận mình mới là người đại diện cho quyền lợi của dân Trung Hoa. Thống chế Tưởng Giới Thạch, nhà độc tài quân sự của Đài Loan tung ra rất nhiều kế hoạch tuyên truyền, nhồi sọ trẻ nhỏ ở Đài Loan. Giống như các học sinh nhỏ tuổi khác, Chung đã được dạy phải phỉ nhổ vào chế độ của Mao Trạch Đông. Nhưng ở sâu trong tâm khảm, chú bé vẫn tự hào mình là người Trung Hoa, và qúi mến văn hoá Trung quốc.
    Khi còn học trung học, Chung phải theo học những khoá huấn luyện quân sự bắt buộc. Sau này, cậu có đăng lính vào Lực Lượng Hải Quân của Đài Loan, với mục đích sẽ giải phóng Hoa Lục thoát khỏi sự cai trị của Mao. Một người anh em của Chung kể lại rằng chính cha của cậu Chung khuyên con đi học ngành kỹ sư. Do đó, Chung xin học trường Đại Học Quốc Gia Đài Loan, một đại học danh tiếng. Sau khi ra trường, câu Chung được bổ đi làm tại một đập ngăn nước ở phía bắc Đài Loan. Tại đây, cậu gặp người đẹp Lingjia Wang, một hoạ sĩ, đang làm cô giáo dạy trong trường mẫu giáo gần đó. Ít lâu sau hai người thành hôn.
    Chung rất say mê ngành kỹ sư, cậu là sinh viên giỏi nhất trong lớp. Nhưng triển vọng tương lai nghề nghiệp của cậu sẽ không đi xa nếu cứ ở lại Đài Loan. Vì thế, giống như nhiều kỹ sư đồng lứa, cậu mơ một ngày nào đó sẽ sang được Hoa Kỳ học tiếp lên cao. Trong lúc làm việc tại dập nước, cậu chịu khó học tiếng Anh do bà vợ ông cố vấn Mỹ dạy.
    Năm 1962, cậu xin được vào học tại trường đại học Minnesota. Cậu lấy bằng cao học về kỹ sư công chánh, và được tuyển vào làm cho hãng Boeing ở Philadelphia. Cậu là một chuyên gia thử nghiệm “stress” trong Vertical Takeoff and Landing Division, phụ trách về sức chịu của thân máy bay trong giai đoạn cất cánh và hạ cánh. Bà Ling học thêm về Hội hoạ. Vào thời điểm đó, nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, hay Trung Cộng không cho người dân xuất ngoại. Gia đình họ Chung chỉ có vài người bạn thân là người Hoa, đa số là dân Đài Loan sang Hoa Kỳ định cư. Thú vui của họ là đi thăm bảo tàng viện ở New York, đi nghỉ mát ngoài bờ biển tiểu bang Delaware, và bắt cua về ăn chung với nhau.
    Một trong những người bạn thân từ thuở nhỏ của ông Chung là Thomas Xie. Anh ta lúc đó đang là sinh viên ở trường New Mexico State University. Anh thường liên lạc với Chung qua thư từ. Có lần anh cho biết anh được nhận vào trường University of Chicago, nhưng thiếu tiền ghi danh. Hai vợ chồng Chung gửi cho anh Xie hai ngàn đô la, không thắc mắc gì cả. Anh Xie nói với tôi về ông Chung như sau: “Greg lúc nào cũng tử tế, sẵn lòng giúp đỡ người khác.”

    Bà Ling thì thuộc loại người quảng giao, ưa xã giao hơn ông Chung. Bà muốn có nhiều bạn bè thân quen để giao tiếp. Hai vợ chồng cùng gia nhập Hiệp Hội Người Đài Loan ở điạ phương. Trong những lần họp mặt với nhau, hai vợ chồng Chung ủng hộ ý kiến thống nhất hai nước Trung Hoa: Đài Loan và Hoa Lục nên kết hợp lại làm một. Họ phản đối ý kiến phân chia ranh giới giữa hai khu vực. Bà Ling còn nói thêm: “Chúng tôi nghĩ rằng cả thế giới nên sống hoà hợp với nhau. Mọi cuộc xung đột đều vô nghĩa đối với chúng tôi.” Quan điểm của hai vợ chồng ông Chung làm cho một số người trong Hội Đài Loan không ưa, bởi vì họ nghĩ rằng vợ chồng nhà Chung không còn trung thành với Đài Loan như xưa.
    Năm 1972, ông Chung làm việc cho công ty Rockwell. Công ty vừa nhận được hợp đồng chế tạo phi thuyền con thoi đầu tiên cho cơ quan NASA. Ông Chung dọn sang sống ở miền Nam California. Khi đó, ông Chung và bà Ling đã trở thành công dân Mỹ. Con đường công danh, nghề nghiệp của ông Chung thăng tiến rất mau. Trong khi đó bà Ling cũng khá thành công về mặt xã hội, và hội hoạ. Hai vợ chồng dự tính sẽ mãi mãi sinh sống tại Hoa Kỳ. Giống như nhiều người di dân khác, họ cảm thấy thoải mái, hài lòng với ba dạng tịch khác nhau: Người Hoa, người Đài Loan và người Mỹ.
    Trong suốt thời gian cuối thấp niên 1970’s, nước Trung Hoa Cộng Sản trải qua nhiều cuộc cải cách to lớn về chính trị, và kinh tế. Thái độ thù nghịch chế độ cộng sản của hai ông bà Chung giảm bớt đi rất nhiều. Bà Ling nói với tôi: “Bỗng dưng, cánh cửa mở ra cho chúng ta có dịp giao tiếp với Trung quốc. Chúng tôi nao nức, tò mò, muốn tìm hiểu về cội nguồn của mình.” Họ nhận thấy rằng chế độ Trung Hoa Dân Quốc cũng chẳng lấy gì gọi là dân chủ hơn chế độ cộng sản. Ông Ching Wang, bạn thân của ông Chung từ hồi trung học, hiện là giáo sư Hoá học của đại học UC San Francisco, nói với chúng tôi rằng có sự chuyển hướng trong nếp suy nghĩ của người Đài Loan. Điều này cũng dễ hiểu đối với những người đã định cư từ lâu ở nước ngoài, và không có nghĩa là chúng tôi không còn trung thành với Đài Loan. Ông Wang phân tích: “Chúng tôi bắt đầu có những tư tưởng nổi loạn. Chúng tôi không còn tin vào những điều đã được tuyên truyền nhồi sọ vào đầu óc chúng tôi trước đây.” Truyền thông Đài Loan lúc nào cũng mô tả Trung Cộng như một xã hội chậm tiến, mọi rợ. Nhưng khi xem truyền hình tổng thống Richard Nixon đi thăm Bắc Kinh, chúng tôi thấy thành phố này cũng khá sạch sẽ, và thịnh vượng.
    Thấm nhuần triết lý Phật Giáo, chủ trương “buông xả” giúp ông Chung dễ dàng tha thứ cho những điều xấu xa mà chế độ của Mao Trạch Đông từng gây ra. Một người em của ông Chung nói: “Trong bà con của chúng tôi có người đã bị Cộng Sản giết. Nhưng nghĩ cho cùng thì đó là thế hệ cũ. Chúng ta không thể tiếp tục giữ mãi mối hận thù trong đầu. Anh Greg của chúng tôi cũng cảm thấy như vậy.”
    Khi họ đến tuổi gần bốn mươi, họ cảm thấy cần phải truy nguyên về nguồn gốc Trung Hoa trong máu huyết của họ. Bà Ling mạnh dạn nói: “Phải trở về nguồn mới được. Nếu không chúng ta sẽ giống như trái bí rợ. Cái đít thì to mà trong lòng chẳng còn trái tim.”
    Năm 1976, sau khi đi xem hai nhạc sĩ Trung Hoa đến biểu diễn ở Los Angeles, ông Chung bèn đi tìm mua một đàn bầu hai giây của Trung Hoa đem về nhà tập gẩy đàn. Ông Chung và bà Ling bắt đầu sưu tầm những truyền đơn, tài liệu của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa. Kể cả những tài liệu về Cách Mạng Văn Hoá, và những bài viết tiếc thương Mao Trạch Đông sau khi Mao chết. Ông Chung đọc rất kỹ, ghi chép bên lề từng bài viết. Kể từ thập niên 1950’s, đa số người Hoa ở Hoa Lục đều viết Hoa Văn theo kiểu giản đơn của Mao Trạch Đông. Phần lớn người Hoa ở Đài Loan vẫn còn viết Hoa văn theo lối cũ. Ông Chung và bà Ling sẵn sàng tiếp thu lối viết kiểu mới.
    Năm 1976, sau khi Mao chết, đó cũng là thời điểm kết thúc Cuộc Cách Mạng Văn Hoá, và khởi đầu giai đoạn canh tân của Đặng Tiểu Bình. Trung cộng gửi rất nhiều phái đoàn khoa học gia và kỹ sư sang các nước Tây phương. Trí thức Trung Hoa luôn luôn tâm niệm phải “phải dùng khoa học để cứu Trung Quốc.” Ông Chung theo dõi mọi tiến bộ về khoa học của Trung cộng với niềm tự hào, hãnh diện. Ông cắt dán, lưu trữ những bài báo, hình ảnh liên quan đến việc Trung cộng phóng vệ tinh. Và ông cũng bắt đầu đi dự những buổi nói chuyện của các nhóm học giả, nhà ngoại giao Trung cộng khi họ sang thăm Hoa Kỳ. Trong một buổi hội thảo năm 1979, ông Chung gặp Chen Len Ku, Giáo sư công nghệ của Viện Kỹ Thuật Harbin. Ông Chen này đang đi tìm những tài liệu giảng dạy về “stress analysis”, phân tích sức chịu đựng của vật liệu. Đề tài này là phạm vi chuyên môn của ông Chung. Ông Chung về nhà làm photocopy những bản ghi chép hồi còn học ở University of Minnesota, gửi sang cho ông Chen theo đường biển.

    Khi gửi những tài liệu này đi, ông Chung còn viết một lá thư rất cảm động như sau: “Tôi không biết mình có thể đóng góp được gì cho tổ quốc. Tôi lấy làm hãnh diện về những thành quả nhân dân ta đã làm được cho Quê Mẹ. Tôi lấy làm ân hận mình đã không đóng góp được gì nhiều.”.

    Giáo sư Chen đem lá thư về khoe với đồng nghiệp ở Harbin. Hẳn là các quan chức cao cấp Trung cộng cũng nghe nói đến chuyện này. Qua năm sau, ông Chung được mời đến họp tại một khách sạn ở Los Angeles. Diễn giả chính trong buổi họp này là Gu Wei Hao, quan chức của Công Ty Kỹ Nghệ Hàng Không Trung quốc. Đây là một công ty quốc doanh thành lập từ thời thập niên 1950’s với sự trợ giúp của Liên Xô. Công ty này gần như biến mất khi quan hệ Trung - Xô bị gẫy đổ, bây giờ người ta đang định canh tân lại công ty. Gu Wei Hao khẳng định Trung quốc cương quyết sẽ học hỏi tìm tòi những kỹ thuật tân tiến, nhất là trong lãnh vực không gian. Sau khi nghe bài diễn thuyết, ông Chung nói chuyện khá lâu với Gu. Trung quốc cần phải cải tiến việc thiết kế khung máy bay, phi thuyền, và đó là lãnh vực chuyên môn mà ông Chung là chuyên gia, biết rất rõ. Sau buổi họp này, ông Chung cũng gặp Chi Mak. Tay này đã bắt đầu sưu tầm tài liệu kỹ thuật cho Trung quốc từ lâu, thế mà ông Chung không hay biết.

    Vào thập niên 1950’s, Đảng Cộng Sản Trung quốc đưa ra chiến lược qui mô thu thập tin tức. Viện Khoa Học Thông Tin Kỹ Thuật, thành lập năm 1958, lấy được hàng ngàn tài liệu nước ngoài, đem về dịch sang tiếng Hoa. Các quan chức cao cấp, học giả Trung Hoa đi Âu Châu và Hoa Kỳ dự hội nghị khoa học chịu khó ghi chép rất kỹ, nghe ngóng, nghe lén, và thỉnh thoảng còn ăn cắp cả những tài liệu chưa được xuất bản. Vào khoảng giữa thập niên 1960’s, chính phủ có khoảng 11,000 tạp chí ngoại quốc, năm triệu bằng khoán trí tuệ, và vài trăm ngàn phúc trình nghiên cứu kỹ thuật, kể cả biên bản hội nghị, hay những đề tài trình luận án tiến sĩ.

    Chính quyền của Mao Trạch Đông chú trọng vào việc sưu tầm những tin tức có thể ứng dụng cho lãnh vực quân sự. Sau khi Mao chết, Trung quốc mở rộng phạm vi sưu tầm. Đến tháng ba năm 1986, Đặng Tiểu Bình thành lập Chương Trình Nghiên Cứu & Phát Minh Kỹ Thuật Cao Cấp, lấy bí số là 863. Chương trình này đặt ra chỉ tiêu làm việc từng năm, từng tháng, và nhấn mạnh những điạ hạt phải chú trọng gồm có: không gian, sinh học, kỹ thuật laser, kỹ thuật tin học, năng lượng, và nguyên vật liệu mới. Chính phủ đỡ đầu cho các hoạt động nghiên cứu, và lập ra những công ty quốc doanh để chế tạo, hay nhập cảng những kỹ thuật cần thiết.

    Khi nào có thể làm được, những công ty này phải cố tìm ra sản phẩm của công ty Tây phương bằng cách mua lại tài sản trí tuệ, hay đánh tráo, ăn cắp cho bằng được. Sau khi tất cả những thủ đoạn này làm không xong, chính phủ sẽ đứng ra yểm trợ cho hoạt động gián điệp. Bộ An Ninh Nhà nước và cơ quan tình báo quân sự sẽ huấn luyện điệp viên để gửi sang Hoa Kỳ và các nước Âu châu. Họ cũng tuyển mộ những khoa học gia, kỹ sư, và chuyên gia sinh đẻ ở Trung quốc hiện đang sống ở hải ngoại, nhất là những người có lý lịch an ninh trong sạch được làm trong những cơ sở bí mật. Có khi những khoa học gia này được yêu cầu phải lấy cắp một loại tin tức bí mật nào đó. Song cũng có khi chính quyền Trung quốc áp dụng chiến thuật “thu thập hàng ngàn hạt cát” ráp chúng lại thành sản phẩm mong muốn.

    Lấy ví dụ trường hợp ông Wang. Ông là giáo sư danh dự về ngành hoá học dược phẩm. Ông phụ trách nghiên cứu cho công ty dược phẩm Merck hồi thập niên 1970. Sau khi nghiên cứu về microbes có ở trong đất nhiều năm, ông Wang và các đồng nghiệp phát minh loại thuốc chống ký sinh trùng lấy tên là ivermectin. Chỉ ít lâu sau, tin tức về sự thành công của ông Wang được đăng tải, ông nhận được điện thoại của nhân viên làm cho công ty dược phẩm quốc doanh ở Mãn Châu mời ông Wang đi sang thăm Trung Hoa, dặn ông đem theo mẫu microbe dùng để chế ra dược phẩm. Ông Wang nói rằng có lẽ người gọi điện thoại mời ông đi Trung quốc không hiểu việc họ làm là một điều hỗn láo, rất xấu. Thậm chí họ còn khinh thường ông bằng cách yếu cầu ông bỏ tiền túi ra mua vé máy bay mà đi. Ông Wang giận lắm, cúp điện thoại, không thèm trả lời.

    Ông Chung thì ngược lại, có thái độ khác hẳn với ông Wang. Ông Chung hăm hở muốn giúp đỡ Trung quốc. Nói về phương tiện tài chánh, vợ chồng ông Chung tương đối rất khá giả. Họ có chung cư cho thuê ở thành phố Alhambra, và một xưởng sửa xe hơi khá phát đạt ở Long Beach. Đấy là chưa kể hai vợ chống sống rất tằn tiện. Họ cắt tóc cho nhau để đỡ tốn tiền. Năm 1984, khi Thế Vận Hội Muà Hè tổ chức ở Los Angles đang diễn ta, vợ chồng ông Chung là một trong những Hoa Kiều hải ngoại được mời dự yến tiệc cùng với các lực sĩ Trung quốc. Có đôi lần, theo lời yêu cầu của Lãnh Sự Quán Trung quốc ở San Francisco, vợ chồng ông Chung nhận lời bảo trợ, đỡ đầu cho người Hoa mới đến định cư ở California. Ông bà dẫn họ đi mua sắm những món đồ cần thiết cho cuộc sống, và chở họ đi chợ trong vài tháng đầu mới định cư.

    Tháng Hai năm 1985, ông Chung nhận được thư của quan chức tên là Chen Qi-Nan mời ông đi Trung quốc dự hội nghị “trao đổi kỹ thuật”. Ông Chen đề nghị ông Chung soạn sẵn tài liệu liên quan đến những vấn đề kỹ thuật. Trong đó có việc thử sức chịu đựng của khung máy bay sau khi sử dụng nhiều lần.

    Ông Chung trả lời thư mời rằng đến tháng Bảy sắp tới là thời gian thuận tiện để ông đi Trung quốc nhân dịp nghỉ hè vài tuần, để ông có dịp chính mắt mính đi thăm phong cảnh của quê Mẹ. Ông xin công ty Rockwell cho ông nghỉ phép bảy tuần lễ để đi chơi.

    Ông Chung vẫn còn giữ lá thư mời, cũng như bản nháp thư trả lời của ông. Đọc cả hai lá thư, không biết là Trung quốc mang ơn ông, hay là ông mang ơn Trung quốc. Trong một lá thư gửi cho bạn đồng liêu của Chen Qi Nan, ông Chung viết: “Thật là một vinh hạnh lớn cho tôi, và tôi lấy làm phấn khởi khi có dịp đóng góp vào kế hoạch canh tân Quê Mẹ.”. Động lực đầu tiên xúi ông tiếp tay cho Trung quốc là “nghĩa vụ của một con dân”. Bà Ling phải thú nhận: “Nhà tôi rất trung thành với tổ quốc. Ông ấy có một tấm lòng yêu nước rất lớn.”

    Chen và Chung tiếp tục trao đổi thư từ với nhau nhiều lần. Chen hỏi ông Chung về các loại máy bay, và cách thiết kế trực thăng, và có lẽ ông Chung muốn khoe khoang kiến thức của mình, lại bàn luôn sang chương trình phi thuyền con thoi. Chen phải nhắc nhở ông Chung: “Tôi vẫn mong được ông chỉ trình bầy về các loại máy bay qui ước thôi.”. Sau đó để tránh khiến ông Chung bị giảm bớt lòng hăng say, Chen hứa việc trình bầy về phi thuyền con thoi cũng sẽ được đưa vào nghị trình.

    Cối tháng sáu năm 1985, ông Chung, bà Ling bay đi Trung quốc cùng với hai cậu con trai ở tuổi teenager. Trong lúc cậu Shane và Jeffrey theo học lớp dạy Hoa Văn ở Bắc Kinh, ông Chung và bà Ling đi thăm khoảng hơn một chục thành phố khác nhau cùng với các đoàn du lịch. Họ ghé thăm nhiều nơí chế tạo máy bay ở tỉnh Nanchang, Chengdu và Xi’an. Bộ hàng không sắp xếp, và trả hết phi tổn cho những chuyến đi này. Ông Chung còn là diễn giả trình bầy những vấn đề kỹ thuật cho mọi người nghe. Chương trình diễn thuyết của ông được các đại học lớn, và cơ xưởng kỹ nghệ đài thọ. Ông Chung dùng phim ảnh, tài liệu mang từ Mỹ sang để trình bầy về cách thiết kế phi thuyền của Cơ Quan Không Gian Hoa Kỳ (NASA), làm cách nào để đưa phi thuyền con thoi trở về trái đất an toàn. Ông Chung nhận thấy những kỷ thuật ở Bắc Kinh quá lỗi thời, có từ thập niên 1950’s và chưa được canh tân, cập nhật.

    Chuyến đi thăm Trung quốc lần này là chuyến đi đầu tiên trong đời ông Chung ở tuổi chững chạc. Nó để lại trong tâm khảm ông rất nhiều dư âm quan trọng cả về mặt chuyên môn, cũng như tình cảm cá nhân. Xen vào giữa những buổi diễn thuyết ở các xí nghiệp, ông Chung còn được Bộ Hàng Không sắp xếp cho đi thăm nhiều thắng cảnh đẹp của đất nước Trung Hoa. Đó là những nơi khi còn nhỏ, cậu bé Chung hằng ước mơ được đi thăm. Ví dụ như Tượng Phật vĩ đại xây trên núi Leshan, và Chuà Dyan ở thành phố Xi’an. Trong lúc lái xe đi qua nhiều làng mạc, ông Chung trông thấy dân quê Trung quốc hái sen từ vũng sình lầy. Bà Ling kể lại cho tôi rằng khi ông Chung ngồi toạ thiền, ông đã hồi tưởng và thấy được cuộc đời của ông ở kiếp trước, đó là cuộc đời của một nhà sư trong ngôi chùa Trung Hoa.

    (còn tiếp 1 kỳ)


    Lannguyen xin chân thành cảm ơn và http://www.tapchithegioimoi.com/tm.php?recordID=5212
    Lannguyen

  6. #6
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Nên Đọc Cho Biết

    Bằng cách nào Trung Cộng lấy được những bí mật kỹ thuật của Mỹ - phần cuối
    Bài phóng sự điều tra của Yudhijist Bhattacharjee trên The New Yorker 5/5/14
    Nguyễn Minh Tâm dịch




    Vào cuối mùa hè, ông Chung đem về Mỹ những món quà lưu niệm nhỏ: chiếc kim cài lên cà vạt do hãng chế tạo máy bay tặng, một vật trang sức cho cà vạt khác do Trung quốc Học Viện Công Nghệ làm riêng cho ông, kèm theo một bảng vấn lục dài tám trang. Đó là danh sách những điểm kỹ thuật mà các kỹ sư hàng không ở Nanchang muốn tìm hiểu. Ông Chung để ra vài tháng nghiên cứu sách vở để trả lời những câu hỏi mà các kỹ sư yêu cầu. Đến tháng 12, đích thân ông Chung lái xe lên Lãnh sự quán Trung quốc ở San Francisco để gửi tài liệu đi Nanchang qua thể thức gửi hàng của giới ngoại giao. Những thứ ông Chung gửi đi, nếu giới chức Hoa Kỳ biết được chắc hẳn họ phải kinh hoàng. Toàn là những tài liệu mật có giá trị dầy khoảng bảy cuốn sách cẩm nang về kỹ thuật từ tài liệu công nghệ của công ty Rockwell cho đến cách thiết kế oanh tạc cơ B-1.

    Ông Moberly nói với tôi: “Tài liệu ông Chung gửi đi chính là Toa Thuốc Thánh giúp cho công ty sản xuất máy bay Trung quốc có thể làm được những gì Hoa Kỳ đang làm.” Ông Chung đã đem cho đi những kiến thức kỹ thuật mà công ty Rockwell phải mất hàng chục triệu đô la, và nhiều năm mới sáng chế ra được kỹ thuật đó. Bà Ling thì cho rằng chẳng có gì đáng kể, bạn bè giúp nhau là chuyện thường. Bà nói với tôi: “Toàn bộ quan hệ này chỉ mang tính chất hữu nghị. Ở Trung quốc, mọi người đều sẵn lòng giúp đỡ nhau. Nếu bạn là kỹ sư, thì bạn nên làm những gì bạn có thể làm được để giúp cho tổ quốc của bạn.”

    Trong khoảng thời gian một năm rưỡi sau, gia đình họ Chung mua thêm nhiều tài sản điạ ốc. Tháng 10 năm 1986, họ mua một căn nhà ở vùng Cypress, California. Năm tháng sau, họ trả bằng tiền mặt khoảng 600,000 để mua một căn nhà rộng một mẫu đất ở Orange, và còn có dư tiền để xây lại căn nhà từ đầu. Đặc biệt là gia đình này không thích xe xua, đi xe đắt tiền hay áo quần sang trọng. Vì thế hàng xóm không ai để ý đến sự giầu có của gia đình này.

    Gu Wei Hao thỉnh thoảng ghé thăm gia đình, và hai vợ chồng ông Chung đưa quan chức này đi chơi nhiều nơi, như Disneyland, hay ra biển hóng mát. Phụ cấp công tác ngoại giao của Gu bèo lắm, chỉ được có $4 đô la một ngày. Vì thế phần lớn vợ chồng ông Chung trả hết chi phí đi chơi cho Gu. Nếu không hẳn là Gu phải có một qũy đen nào đó để cho y tiêu dùng.

    Gia đình ông Chung dọn về căn nhà mới vào năm 1989. Chiều tối, ông Chung có cái thú tiêu khiển là lấy ống viễn vọng kính nghiên cứu vì sao trên trời. Ông thích nghiên cứu bản đồ thiên văn học của Trung Hoa ngày xưa, xác định các chùm sao tinh tú trên trời. Bà Ling là người ưa thích mỹ thuật, hội hoạ. Bà lấy thêm văn bằng cao học mỹ thuật của trường California State University, Long Beach. Bà biến cái garage nhà bà thành một studio cho bà vẽ tranh. Bà cũng nhận dạy hội hoạ cho trường đại học cộng đồng ở điạ phương. Bà thích dạy về trường phái tân ấn tượng, trừu tượng, và tĩnh vật thịnh hành ở Hoa Kỳ và Âu châu vào cuối thập niên1970’s. Một đồng nghiệp trong trường nói với chúng tôi: “Bà có một số môn đệ rất thích theo học với bà, họ mê say lối dạy của bà.”

    Vào năm 1998, tức là hai năm sau khi hãng Boeing mua lại hãng Rockwell, ban quản trị mới quyết định dời văn phòng đi nơi khác. Nhân viên được chỉ thị phải chuẩn bị thu dọn đồ đạc. Những tài liệu tham khảo cần giữ được tập trung vào các thùng để sẵn, và công ty vận chuyển sẽ đem đi. Những thứ nào cần vứt đi, cứ bỏ vào bao rác, sẽ có người đến đem đi đốt bỏ. Trong vòng vài tuần lễ sau đó, ông Chung đem về nhà hàng chục thùng tài liệu. Ông giấu những thùng tài liệu này trên những kệ sách trong căn hầm sau nhà. Những người quen ông ở Trung quốc nhờ ông thu thập bất cứ tài liệu kỹ thuật nào hữu ích. Bây giờ thì ông có thể có đủ tài liệu để cung cấp cho họ trong nhiều năm chưa hết.

    Năm 2002, khi ông Chung sắp đến tuổi về hưu. Ông vào sở liên tục in rất nhiều tài liệu gốc của công ty Boeing ra. Trên mỗi bản in ra, ông ta phải dùng chất keo mầu trắng để xoá lời cảnh cáo, cấm không được chia sẻ tin tức trong tài liệu với người ngoài công ty. Ông cũng cẩn thận ghi lại ngày tháng sao chụp, và xoá bỏ tên nhân viên chụp bản sao. Ông làm photocopy những tài liệu này, bản chính do ông giữ, bản chụp hình ông gửi sang Trung quốc. Khối lượng tài liệu in và sao chụp rất lớn, ông Moberly nói với tôi: “Ông Chung chắc phải dùng hàng trăm bình nước tẩy xoá màu trắng.”

    Năm 2007 trong phiên toà liên bang kéo dài 6 tuần lễ, tại Santa Ana, California, công tố viên trình bầy lý luận truy tố Chi Mak là một tên gián điệp làm việc cho chính quyền Trung quốc. Họ tố cáo những tài liệu do Chi Mak thu thập đã giúp Trung quốc làm được hệ thống radar Aegis. Hệ thống đó giúp bảo vệ các tầu chiến Trung quốc. Bồi thẩm đoàn quyết định kết án Mak về tội làm gián điệp cho chính phủ nước ngoài, và hắn bị tuyên án 24 năm tù, trong nhà tù liên bang. Đây là một bản án nặng nhất dành cho một tên gián điệp Trung cộng làm việc tại Hoa Kỳ.

    Một người em trai của Mak, cùng bà vợ của y, bị cảnh sát phi trường quốc tế Los Angeles bắt giữ cùng với một cuốn CD chứa đựng số tài liệu mật. Tuy nhiên, trong trường hợp của ông Chung, các điều tra viên gặp phải điểm khó khăn khi truy tố. Trong nhiều tháng, thám tử của FBI nghiên cứu hơn ba trăm ngàn trang giấy tịch thu ở nhà ông Chung, nhưng không có một tài liệu nào được gọi là tài liệu mật. Ông Chung không thể bị kết án là đã tiết lộ bí mật quốc gia cho nước ngoài. Khi biện lý cuộc chứng minh ông Chung đã chia sẻ tài liệu mật với viên chức cao cấp Trung quốc vào thập niên 1980, đến nay đã quá hạn kỳ truy tố 5 năm, nên những hành vi nếu có xảy ra cũng không còn đầy đủ hiệu lực dùng để kết án. Ông Moberly nói: “Rõ rệt là ông Chung đã làm điều sai quấy. Nhưng chúng tôi phải tìm ra luật lệ nào mà ông Chung đã vi phạm, để truy tố ông ta.”

    Trong lúc xem xét qua những luật lệ liên bang, ông Moberly bắt gặp một đoạn văn mang tựa đề: “Economic Espionage” (Làm Gián Điệp Kinh Tế) đã được Quốc Hội thông qua và làm thành luật Economic Espionage Act năm 1996. Ông Moberly nhớ là mình đã học qua lớp học dài khoảng 30 phút trong chương trình huấn luyện phản gián. Lớp học ngắn quá, và ít có ai bị truy tố về tội làm gián điệp kinh tế, nên không ai để ý đến đạo luật này.

    Nội dung của đạo luật nói rằng kẻ làm gián điệp kinh tế là người đã “lấy đi, mang theo, cất giấu” hay “sử dụng không đúng cách” những bí mật mậu dịch với chủ đích trợ giúp chính quyền nước ngoài. Đối với trường hợp của ông Chung, công tố viên không cần phải chứng minh ông Chung chuyển giao tài liệu sang Trung Hoa trong năm năm qua. Chỉ riêng việc ông cất giấu bí mật mậu dịch trong căn hầm đủ để kết tội ông.

    Năm 2009, vụ án liên quan đến ông Chung được đem ra xét xử. Chánh án kỳ này cũng chính là thẩm phán Cormac J. Carney, người từng xử Chi Mak trước đây. Trong phần lấy lời khai, chuyên viên tình báo FBI, Ronald Guerin, trình bầy kỹ thuật ngành tình báo Trung quốc tuyển người làm gián điệp cho họ. Ông Guerin phân tích: “Tình báo Trung quốc cố tình khai thác khía cạnh Trung Hoa nơi người làm mật báo viên. Họ dụ dỗ những người này bảo rằng họ cứ chịu khó làm gián điệp cho Trung quốc đi, nó chẳng hại gì Hoa Kỳ cả, chỉ giúp cho Trung quốc thôi.”, “Bạn chỉ cần vỗ vai người Hoa, và bảo anh ta rằng anh cần giúp đỡ cho Quê Mẹ, cho đất nước của anh.. Và sau đó, anh cho người mật báo bằng khen, bằng tưởng lục…, hay cho người ấy một số tiền.” Trong trường hợp của ông Chung, rõ rệt là ngành tình báo Trung quốc đã dùng nghệ thuật ngon ngọt nói nịnh ông Chung, và đem lại hiệu quả tốt. Việc truy tố ông Chung không hề có bằng cớ về số tiền trao đổi để lấy tin tức.

    Phe bào chữa cho ông Chung lý luận rằng quả thực ông Chung đã làm một số việc “ngu dại trong quá khứ”, nhưng từ chối không nhận tội chia sẻ tin tức mật. Ông ta chỉ là một kẻ tàng trữ tin tức vào hàng tép riu. Ngay lập tức, ông Greg Staples, công tố viên trưởng, phản bác liền: “Hắn không phải là loại tép riu. Hắn là tên tàng trữ tin tức khổng lồ, ghê gớm, và đáng sợ.”

    Ông Chung trở thành người Mỹ đầu tiên bị kết tội làm gián điệp kinh tế. Ông bị kết án 15 năm 9 tháng tù. Từ sau vụ này, còn có bốn người khác bị công tố viên liên bang truy tố về tội làm gián điệp kinh tế. Tổng cộng có năm người bị kết án với tội danh này.

    Sau này, ông Moberley kể cho biết trong thời gian vụ xử tiếp diễn, có lần ông Chung xác nhận ông trao tài liệu mật, và được nhận tiền thưởng. Để bảo vệ bí mật cho cơ quan FBI, ông Chung không dám công khai nói trước toà về trường hợp ông được trả tiền. Những lời cáo buộc trùng hợp với nội dung lá thư mà Gu Wei Hao viết cho ông Chung, hứa sẽ trả bằng tiền mặt cho ông Chung. Ngoài ra, trương mục ngân hàng của ông Chung tương đối không có nhiều tiền, và đồng lương của ông ở Rockwell không quá lớn, khoảng $60,000 một năm. Vậy mà không hiểu nhờ đâu mà ông Chung có thể làm chủ một garage sửa xe, một chung cư ba căn apartment cho thuê, và làm chủ hai căn nhà cùng một lúc. Ông Moberly vẫn nói với tôi rằng: “Tôi không bao giờ tin ông Chung làm chuyện này để lấy tiền.”. Rất có thể chính quyền Trung quốc cho ông Chung vài chục ngàn như là một số tiền tưởng thưởng, khích lệ mà thôi.



    Ông Chung không bao giờ cho phép tôi vào thăm ông trong nhà tù, nhưng bà Ling thì miễn cưỡng trả lời điện thoại của tôi. Bà không bị truy tố về tội hình. Một buổi chiều, tôi đậu xe ở cuối đường Grovewood Lane, đi bộ lại căn nhà ông bà Chung có cổng sắt. Chuông bấm ở cổng đầy máng nhện bám, ám chỉ rất hiếm khi họ có khách đến nhà. Sân cỏ trước nhà mọc đầy cỏ dại, cái xe cút kít để hốt lá cây khô, nằm chỏng gọng ở một góc, không có ai dùng đến nó từ nhiều năm nay.

    Khi tôi bấm chuông cửa, bà Ling Chung bước ra, giơ tay vẫy từ bực thềm trước nhà. Bà mặc bộ quần áo ở nhà mầu xanh lá cây, tóc bà bơ phờ, không trang điểm. Bà mời tôi ngồi ở ghế sa lông mầu trắng trong phòng khách. Nắng chiều lọt vào khe cửa làm loé lên vài đường nắng sáng trên nền thảm.

    Bà Ling rót ra một ly nước, mời tôi, và ngồi đối diện với tôi. Với nụ cười chán nản trên môi, bà kể cho tôi kỷ niệm hồi hai vợ chồng bà xin vào quốc tịch Mỹ. Trong mục câu hỏi “Liệu ông có sẵn sàng cầm súng bảo vệ Hoa Kỳ hay không?”, Ông Chung bỏ trống, không trả lời. Người phỏng vấn hỏi ông Chung: “Ông có sẵn sàng chiến đấu chống lại Trung quốc trong trường hợp xảy ra chiến tranh hay không?” Bà Ling nhớ rõ câu trả lời của ông Chung là: “Nếu việc này xảy ra, tôi sẽ lấy khẩu súng tự bắn vào mình trước.”

    Chúng tôi bước bên nhau, đi từ phòng khách sang xưởng vẽ của bà. Phòng vẽ tranh trông ra sân trước. Một bức tranh trừu tượng khổ lớn đang để trên nền nhà, tưạ vào tường. Bà Ling nói với tôi rằng từ nhiều năm nay, bà tiếp tục vẽ tranh. Bà chỉ tay về phía một bức tranh trông như thập tự giá mầu violet, trên một chân trời tím. Bà nói tựa đề bức tranh này là “45436-112”. Đó là con số tù của chồng bà đang đeo khi thụ án tại một nhà tù liên bang, không bị kiểm soát chặt chẽ. Nhà tù này ở thành phố Butner, tiểu bang North Carolina. Vài tháng bà đi thăm ông một lần.

    Nước mắt ứa trên khoé mắt của bà. Bà tâm sự với tôi: “Ngày đầu tiên chúng tôi gặp nhau, là chúng tôi quyết định sẽ lấy nhau. Vợ chồng chúng tôi sống rất hoà thuận, hạnh phúc. Ngay cả khi chúng tôi trên 60, bạn bè thường nói chúng tôi trông như cặp tình nhân ở thuở sinh viên.”. Khi ông Chung còn làm cho hãng Boeing, thỉnh thoảng ông ngủ trưa trong hãng, ông choàng tỉnh dậy vì nằm mơ thấy bà Ling đứng cạnh hát cho ông nghe. Ông hay cằn nhằn: “Tôi đã nói với bà nhiều lần, đừng đứng cạnh tôi mà hát, tôi ngủ không được.” Trong đầu ông lúc nào cũng nghĩ rằng tôi đang hát.

    Tôi hỏi bà Ling liệu ông Chung có thuỷ chung với nước Trung Hoa nhiều như ông chung thủy với bà? Phải chăng các quan chức Trung quốc đã lợi dụng tấm lòng chung thủy của ông Chung? Bà lặng thinh, không trả lời. Tôi hỏi thêm, theo bà nghĩ ông Chung có vô tội không? Bà nói: “Tôi không thể trả lời câu hỏi này được.”

    Bà cho rằng các công tố viên đã suy nghĩ nông cạn, khi tìm hiểu động lực nào đã khiến ông Chung làm chuyện này. Theo bà: “Những công tố viên này chỉ nghĩ một cách phiến diện, lướt qua trên bề mặt của vấn đề.” Sau đó, bà phân tích kỹ hơn cho tôi nghe: Chủ đích của ông Chung là giúp Trung quốc, và không có ý định làm hại Hoa Kỳ. Bà nói thêm: “Khi ông kết bạn với một người, người ấy nhờ ông giúp đỡ, nếu ông là kỹ sư, hay hoạ sĩ, ông biết gì thì giúp bạn ông trong khả năng của mình. Chỉ có thế thôi.”

    Trước khi ra về, bà Ling cho tôi xem một tấm giấy dài, dán trên tường, ngay cửa bước vào phòng vẽ tranh. Trên tấm giấy viết những hàng chữ Tầu rất đẹp: Đó là một số điều người Phật Tử nên làm. Chính ông Chung đã chép tay những điều này cho bà Ling. Tôi thắc mắc không hiểu những điều Đức Phật dạy có giúp gì cho ông Chung trong việc giải quyết xung đột giữa hai chọn lựa ông nên trung thành với Hoa Kỳ hay với Trung quốc. Tôi hỏi bà Ling xem bà có thể cùng một lúc duy trì thái độ của hai con người, với hai quốc tịch. Mắt bà sáng hẳn lên, bà nói: “Tôi là một người Hoa, tôi cũng là một người Mỹ. Điều này thật là đẹp. Việc gì cứ phải biến nó thành hai thực thể kình chống nhau?”

    Bài phóng sự điều tra của Yudhijist Bhattacharjee trên The New Yorker 5/5/14

    Nguyễn Minh Tâm dịch

    Lannguyen xin chân thành cảm ơn Nguyễn Minh Tâm và http://www.tapchithegioimoi.com/tm.php?recordID=5224



    Lannguyen

  7. #7
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Nên Đọc Cho Biết

    TRẢ LẠI TÊN CHO TÔI ...

    Phuong Mai Nguyen
    21-6-2014




    Định không u ơ gì về ngày 21-6, lờ tịt đi, vì thấy mình không liên quan, nhưng từ hôm qua nhận được nhiều lời chúc mừng quá nên thấy cần phải đáp lễ và nhân tiện thanh minh.

    Tôi gắn bó với báo chí từ bé. Ba tôi mở cửa hàng bán sách báo từ khi tôi còn nhỏ xíu. Bài viết đầu tiên của tôi đăng trên báo năm 15 tuổi, cơ quan đầu tiên trả lương hàng tháng cho tôi là một tòa soạn báo, những bạn bè thân yêu nhất, những kỷ niệm trong sáng nhất, những ngày làm việc căng thẳng và hồ hởi nhất trong thời gian ở Việt Nam đều gắn bó với nghề báo. Như mọi người cầm bút ở đây, không ai dạy nhưng tôi tự biết cái gì được viết và cái gì không bao giờ được viết. Khi trở thành Thư ký tòa soạn thì tự động biết cái gì được duyệt và cái gì không bao giờ được duyệt. Cái sự biết ấy tự nhiên như thể sinh ra là đã có, như một bản năng, không cần ai dạy dỗ.

    Sau này, mãi sau này, tôi mới gọi tên được nó: đó là nỗi sợ hãi.

    Khủng khiếp hơn, nỗi sợ hãi mà tôi có chỉ là sự tiếp nối của tinh thần phản kháng bị thất bại của thế hệ đi trước. Những bậc cha chú làm báo đã bị trày xước vì phạm húy, tàn tật vì viết những điều phạm thượng, trả giá quá đắt vì dám mở cửa căn phòng bí mật thứ 7 mà con yêu râu xanh không cho phép. Bị cưỡng hiếp cho đến thân tàn ma dại mà không được chết, họ lê lết thân xác trọng thương đến hết chặng đường còn lại của nghề báo, và truyền lại sự đớn đau bại trận ấy cho những kẻ tiếp nối. Bị đô hộ bởi nỗi sợ hãi, tôi và rất nhiều người thế hệ kế tiếp không hề còn tồn tại ý nghĩ phải đấu tranh nữa, mà tự động kiểm duyệt chính mình, tự động trở thành một con yêu râu xanh cưỡng hiếp những khát khao của chính mình.

    Từ lâu tôi đã không còn tự hào về ngày 21-6 nữa. Đó là ngày ba tôi mất, trước khi mất, ông nói: “Trên đời chỉ có hai nghề cao quý, nghề thầy thuốc và nghề nhà giáo”. Cả hai nghề tôi không theo, mà theo một cái nghề ba ghét cay ghét đắng, ghét đến nỗi kể cả khi tôi đã thành một cô sếp con con ở tòa soạn, mỗi lần tổng biên tập và phó tổng sang cửa hàng của ba mua sách đều bị ba gắt gỏng, kêu là các anh làm hỏng con tôi. Giờ thì tôi hiểu, nghề thầy thuốc có thể cứu mạng, nghề nhà giáo có thể cứu tâm hồn, còn nghề nhà báo ở VN chỉ tự cứu lòng tự trọng nghề nghiệp của chính mình thôi cũng đủ kiệt sức.

    Từ lâu tôi không còn tự hào về ngày 21-6 nữa. Đó là ngày báo chí CÁCH MẠNG, là ngày mà nhà báo được vinh danh như những CÔNG CỤ của chính quyền chứ không phải những nhà báo chân chính.

    Tôi cho rằng ngày 21-6 là một sự xúc phạm đến tư cách nghề nghiệp của các nhà báo chân chính, đánh tráo khái niệm, cưỡng bức danh tính của hàng triệu người vẫn đang cố gắng cầm bút vì chân lý, sự thật và khách quan.

    Tôi đề nghị trả lại tên cho ngày 21-6, trả lại tên cho tôi và các đồng nghiệp. Chúng tôi là nhà báo chứ không phải nô lệ cao cấp của một chế độ cầm quyền.

    1. Trên bậc thang tự do báo chí, Việt Nam xếp thứ 174/177
    2. Ngày 21.6.2000, nhân kỉ niệm 75 năm Ngày báo chí Việt Nam, theo đề nghị của Hội Nhà báo Việt Nam, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đồng ý đổi tên Ngày báo chí Việt Nam thành Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam
    3. Gần 700 cơ quan báo chí ở VN có chung 1 Tổng Biên Tập, chịu sự chỉ đạo chung của Ban Tư Tưởng Văn hóa Trung Ương . Mỗi tuần các Tổng Biên Tập đều có cuộc họp chung với Ban Tư Tưởng để thống nhất về đường lối tuyên truyền.

    Nguồn: Phuong Mai Nguyen, FB

    Trí Nhân Media

    Posted by Trí NhânMedia

    Lannguyen xin chân thành cảm ơn Phuong Mai Nguyen, FB http://www.trinhanmedia.com/2014/06/...n-cho-toi.html
    Lannguyen

  8. #8
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Nên Đọc Cho Biết

    Bãi bỏ điều khoản buộc người Việt hải ngoại ghi danh giữ quốc tịch Việt Nam

    Posted on June 25, 2014 by HNSG

    SBTN_
    Theo báo Quân đội Nhân dân, sáng ngày 24 tháng 6, Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi đã được kỳ họp của quốc hội Cộng sản Việt Nam thông qua với đa số tuyệt đối, 95.98%.
    Luật Quốc tịch vừa được thông qua lần này không có điều khoản buộc người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải ghi danh giữ quốc tịch Việt Nam để không bị mất quốc tịch Việt Nam. Nội dung Luật này xác định rằng, quốc tịch là một quyền dân sự, đã được pháp luật ghi nhận, cho nên luật không buộc một người bị mất quốc tịch nếu không ghi danh giữ quốc tịch như luật hiện hành.

    Cũng theo Luật này, việc buộc người Việt Nam hải ngoại ghi danh giữ quốc tịch sẽ làm phát sinh thêm thủ tục hành chính, gây phiền hà…
    Theo luật Quốc tịch hiện hành được ban hành năm 2008, người Việt ở hải ngoại bị buộc phải ghi danh giữ quốc tịch trước ngày 1 tháng 7, 2014. Sau đó, thời hạn này được kéo dài thêm 5 năm nữa, tức là 1 tháng 7, 2019 là hạn cuối để người Việt Nam hải ngoại ghi danh giữ quốc tịch Việt Nam. Thống kê của Bộ Tư pháp Cộng sản Việt Nam thừa nhận rằng hiện nay chỉ có khoảng 6,000 trong tổng số gần 4.5 triệu người Việt Nam định cư ở ngoại quốc ghi danh giữ quốc tịch Việt Nam, chiếm tỉ lệ khoảng 0.13% mà thôi. Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam nhìn nhận rằng các con số này cho thấy, sẽ có hơn 4 triệu người từ chối quốc tịch Việt Nam sau ngày 1 tháng 7, 2014. Tỉ lệ chắc chắn sẽ không thay đổi cho đến sau ngày 1 tháng 7, 2019 vì người Việt Nam định cư ở ngoại quốc không tha thiết đến việc xin giữ quốc tịch Việt Nam, vì giữ hay không giữ, có hay không có quốc tịch Việt Nam cũng chẳng có gì khác biệt. Hiện nay, “quyền lợi trước mắt” của người Việt Nam hải ngoại có quốc tịch Việt Nam là được làm sổ thông hành, để khi trở về Việt Nam thăm quê không bị mất tiền xin chiếu khán nhập cảnh. Giấy chứng nhận quốc tịch Việt Nam, không khác một tờ giấy lộn, theo nhận định của hầu hết người Việt Nam ở hải ngoại. (S. Châu)

    Tam Pham says: June 25, 2014 at 12:29 am Đám bưng bô việt gian mau mau ghi tên giữ quốc tịch khỉ trường sơn không kẻo muộn hết chỗ….loài khỉ tu 1000 năm có thể thành người còn loài người muốn thành khỉ khỏi phải tu chỉ càn nhập tịt vịt nem thì thành khỉ ngay….

    Lannguyen xin chân thành cảm ơn http://www.hennhausaigon2015.com/2014/06/25/46388/
    Lannguyen

  9. #9
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Nên Đọc Cho Biết

    MỘT QUỐC GIA ĐANG TỰ SÁT?! – Võ Thị Hảo


    By Nguyễn Tuấn on Tháng Sáu 27, 2014



    Trước họa xâm lăng đang chẹn cổ, nếu VN chậm cải cách thể chế nghĩa là tự sát.
    Một quốc gia gần trăm triệu dân mà tự sát trong thời đại đầy những cơ hội cứu dân cứu nước và cường thịnh này thật khốn nạn thảm khốc biết chừng nào!
    Ta nghe, nay dường như trong không trung, trong bầu trời VN, trong sự đớn hèn và đồng lõa đã thoảng mùi tự hoại từ tấm thân vô giá của đất nước. Nếu cứ đà này, một mai thôi, khi nhìn đến, nước Việt đâu chẳng thấy, chỉ còn là mảnh hồn oan. Hồn oan nước Việt dật dờ ngàn đời oán khí chẳng tan.
    Kể từ khi Trung quốc đưa giàn khoan vào cắm chốt ở lãnh hải Việt Nam, ngày một tăng thêm những hành động xâm lấn, lòng dân một mặt sục sôi căm hận hành động của TQ, một mặt lại phẫn nộ vì nhà cầm quyền VN đã chưa quan tâm đúng mức đến việc bảo vệ đất nước, thậm chí còn cấm đoán, đàn áp dân xuống đường bày tỏ lòng yêu nước. Nhiều câu hỏi đặt ra: Đất nước này đang thuộc về ai?
    Trách nhiệm cứu nước đang dồn lên vai mọi công dân VN. Con đường nay đã khác. Muốn thoát họa xâm lăng thì phải “thoát Trung”. Muốn “thoát Trung”, trước hết phải thoát ý thức hệ lạc hậu, phản tự nhiên, nền tảng của chính thể độc tài để cải cách thể chế. Đó chính là thực hiện cuộc Cách mạng Nhung Việt Nam, vừa cứu nước, vừa tránh được thương đau cho muôn dân.
    Thời cơ Cách mạng Nhung VN đã đến, nhưng thời cơ không đợi những kẻ chần chừ. Chần chừ trước họng súng Trung quốc là tự sát.
    Người có lý trí không khỏi sửng sốt tại sao lãnh hải VN bị TQ xâm phạm trắng trợn, nhiều nước trên thế giới còn phải phẫn nộ lên tiếng; đất nước VN đang trôi dần vào cổ họng tham lam của bành trướng bá quyền Trung quốc, trước bao nhiêu giục giã của người trong và ngoài nước mà nhà cầm quyền VN đến giờ này vẫn không có hành động tự vệ tối thiểu nhất là khởi kiện Trung quốc ra tòa án quốc tế.
    Nguyên nhân, như mọi khi, vẫn nằm ở thể chế chính trị. Thể chế nào hành xử ấy. Trong thể chế độc tài, quyền lợi của nhiều nhà cầm quyền tách rời, đi ngược lại quyền lợi của toàn dân. Đó cũng chính là “gót chân A sin”, để đến một ngày, không những dân VN bị nước mất nhà tan mà sớm muộn quyền lợi của nhà cầm quyền cũng mất.
    Một thể chế thiếu minh bạch, dân chủ và tự do chính là nơi dung dưỡng loài đỉa- người tham nhũng. Loài đỉa – người chỉ biết ăn bám, không bao giờ bảo vệ cơ thể mà chúng đang hút máu, để đến một ngày, cơ thể ấy khô kiệt, thì chúng cũng bị hoại tử.
    Nhân dịp này, mời bạn bè đọc bài “Loài đỉa - người và Hiến pháp”. (Bài này đã đăng một phần trên BBC.Vietnamese với tên gọi do Tòa soạn đặt là “Ngày tang khốc cho dân tộc VN”).
    Xin giới thiệu nguyên văn bài viết cùng bạn đọc trong dịp vấn đề cải cách thể chế và Hiến pháp để cứu nước càng trở nên cấp bách như hiện nay.

    LOÀI ĐỈA – NGƯỜI VÀ HIẾN PHÁP

    Võ Thị Hảo
    Thể chế phản tự nhiên dẫn tới thảm họa đỉa-người. Những lỗ hổng trong thể chế ấy tạo ra và che chở cho hàng ngàn, thậm chí cả triệu con đỉa – người kếch xù đeo bám trên cổ và “hút máu” người dân VN…

    * Ngày tang khốc cho tự do và nhân quyền VN


    28/11/2013, ngày mà QH khóa VI thông qua bản Hiến pháp sửa đổi (HP), với tỉ lệ tán thành gần tuyệt đối 97, 59% đã tiếp nối bữa tiệc mừng kéo dài của một nhóm quyền lợi gần như vô giới hạn, nhưng lại là một ngày tang khốc cho tự do và nhân quyền của người dân VN.
    Tại điều 4 tại HP này quy định đặc quyền cho đảng cộng sản VN là lực lượng lãnh đạo xã hội, với chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế thì đó là một sự thụt lùi hoàn toàn về dân chủ so với HP 1946 cách đây đã gần một thế kỷ bởi chính điều này sẽ biến tất cả những quy định khác về tự do và nhân quyền của người dân VN ghi trong HP và các bộ luật khác trở thành giả hiệu.
    Trong lời nói đầu của HP ghi rằng”nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này”. Điều đó có đáng tin?
    Ông Uông Chu lưu, Phó chủ tịch QH đã trả lời PV báo Tuổi trẻ(ngày ( 29/11/2013): “… quá trình tham gia, quá trình chỉ đạo sửa đổi Hiến pháp thì có thể nói rằng đây là một quá trình thể chế hóa cương lĩnh, cụ thể hóa những điểm lớn, những mục tiêu lớn mà Đảng đã đề ra”.
    Thực tế là người dân có góp ý về dự thảo HP, nhưng đây là HP của QH, dưới chỉ thị trực tiếp của đảng, và HP đã gạt ra ngoài những điều cơ bản nhất để bảo vệ cho quyền lợi nhân dân, chẳng hạn như quyền sở hữu về đất đai, và quy định đảng CS là lực lượng lãnh đạo xã hội VN như trên. Trong các chương quy định về quyền tự do và quyền con người, nghe có vẻ kêu, nhưng lại chốt đuôi một “thòng lọng” khiến tiếp nối tình trạng lạm dụng và vô hiệu hóa các quyền đó như đã xẩy ra lâu nay : “ công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.
    Người dân VN đã quá cay đắng khổ ải với câu “Theo quy định của pháp luật” này. Nghĩa là, sẽ tiếp tục thảm trạng muôn thuở tạo điều kiện cho nhà cầm quyền ban hành vô số luật và văn bản dưới luật trái HP để hạn chế quyền của người dân, tạo lợi ích cục bộ và kẽ hở cho tham nhũng, tiếp tục ưu tiên những tập đoàn, doanh nghiệp độc quyền thụt két nhà nước hàng tỷ USD, đẩy VN tới bên bờ vực của sự vỡ nợ khốn đốn khi nợ công đến nay đã vượt 95% GDP, có người cho rằng là 105%, ( ngưỡng an toàn là dưới 60%) nếu tính cả phần nhà nước bảo lãnh cho Vinashin như thực tế đã diễn ra ngày một trầm trọng nhưng trong HP vẫn quy định “doanh nghiệp nhà nước là lực lượng chủ đạo…”.
    Chủ nhiệm UB Pháp luật của QH Phan Trung Lý nhận định, việc ban hành các văn bản hướng dẫn không đảm bảo nhiều yếu tố về thời hạn, tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật, quy trình, thủ tục ban hành văn bản cũng bị vi phạm. Việc này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, làm giảm hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, làm mất ý nghĩa thực tiễn của các văn bản pháp luật. Không chỉ ban hành chậm, trong số 1.761 văn bản của Bộ trường, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, đã có 223 văn bản có dấu hiệu vi phạm…, không đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật…Trong một số trường hợp là do lợi ích cục bộ của bộ, ngành((theo Đầu tư và chứng khoán, 22/10/2013).
    Tình trạng vi hiến của các Bộ ngành và vô số tổ chức, cá nhân nắm quyền lực khác đã diễn ra kể từ khi có mặt thể chế độc tài, ngày càng nghiêm trọng và không thể khắc phục được, dù ở các bộ ngành đều có những bộ phận phụ trách pháp chế.
    Vi hiến là một tội rất nặng, mang tính bất tuân luật pháp và phá hoại đất nước, nhưng những người soạn và ban hành những văn bản vi hiến, phạm luật lại không hề hấn gì, vẫn ngang nhiên tồn tại, vi hiến và thăng tiến tiếp. Biết tình trạng đó, nhưng HP này vẫn bỏ ra ngoài đề xuất về cơ chế bảo hiến, chẳng hạn như Tòa án HP, nghĩa là các tổ chức và cá nhân có quyền lực cứ tiếp tục vi phạm khi họ muốn.
    Thực tế đã chứng minh, môi trường thể chế ấy đã sinh ra và dung dưỡng vô số những kẻ lạm dụng – tham nhũng. Đó là loài “đỉa – người” đang hút kiệt xương máu của nhân dân.
    Theo báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, việc xử lý hành vi tham nhũng vẫn còn tình trạng lạm dụng để xử lý kỷ luật hành chính, không khởi tố vụ án, đình chỉ vụ án. Tham nhũng trong các cơ quan tư pháp cũng diễn ra nghiêm trọng, chiếm 10% các vụ án tham nhũng đã phát hiện trong toàn quốc(kể từ 1/10/2010 đến 30/4/2013) .
    Theo một khảo sát quốc tế trong năm 2011, người lao động thu nhập thấp (dưới 2 đôla/ngày) chiếm 18,2% dân số VN (16,1 triệu người), người lao động thu nhập 5 đôla/ngày chiếm đến 70,4% dân số (63,1 triệu người). Tổng số khoảng 79,2 triệu người so với khoảng 89,2 triệu dân tại Việt Nam(theo TBKTSG Online). Số dân nghèo ấy cho đến năm 2013 thì càng kiệt quệ thêm do khủng hoảng kinh tế, do lạm phát phi mã, cao nhất Châu á(?), do hàng chục ngàn doanh nghiệp phá sản, ngừng kinh doanh mỗi năm và do thất nghiệp, đặc biệt do lũ lụt gây ra bởi thiên tai và thủy điện xả lũ “hủy diệt” nhiều mạng người và tài sản, môi trường sống của người dân. Trong khi đó, giá của các mặt hàng độc quyền như điện, xăng dầu, giáo dục, y tế, dịch vụ, các loại phí, lệ phí đều tăng phi mã.
    Đã thế trên đầu mỗi người dân, tỉ lệ nợ công cũng tăng vọt. Tính đến ngày 24/11/2013, mỗi người dân VN, kể cả đứa trẻ mới sinh ra, cũng phải gánh trên vai mình hơn 18.000.000đ nợ cho một chính phủ hoạt động kém hiệu quả và để tham nhũng tràn lan, ở mức một trong những nước đứng đầu thế giới về chỉ số tham nhũng.
    Theo TS Vũ Quang Việt- nguyên Vụ trưởng vụ Tài khoản Quốc gia của cơ quan thống kê Liên hiệp quốc, thì nợ công VN lên tới 105% GDP, vượt xa so với con số báo cáo của CP và vượt xa ngưỡng an toàn(65%) cho một nền kinh tế. (TBKTSG Online).
    Cứ 3 tháng, người dân VN, thông qua ngân sách quốc gia, lại oằn lưng trả khoảng 1 tỉ USD tiền nợ công thay cho những kẻ “hút máu” của đất nước. Trong đó, khối doanh nghiệp nhà nước, được ưu đãi mọi cơ hội từ cơ chế, sự độc quyền, vốn…đã đem lại những khoản nợ khổng lồ.
    Báo cáo của nhóm chuyên gia trong Ủy ban kinh tế của QH kết luật rằng khu vực DNNN “có quy mô lớn nhưng hoạt động kém hiệu quả đã góp phần kéo dài giai đoạn suy thoái kinh tế của Việt Nam hiện nay”.
    Thế nhưng những con nợ kếch xù ấy vẫn được QH ưu đãi tiếp trong HP “DN nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.

    * Sự “cài đặt” từ thành phần QH


    Tỉ lệ tán thành thông qua HP gần như tuyệt đối ấy không đáng ngạc nhiên. Nó đã được “cài đặt” từ trong thành phần của QH, khi hơn 90% ĐBQH là đảng viên cộng sản, và hầu hết đều đang nằm trong hoặc dính dáng tới hệ thống quyền lợi của bộ máy thể chế hiện tại. Họ chọn bỏ phiếu ưu tiên cho quyền lợi mình và nhóm mình.
    Có thể thấy rõ, HP độc đảng là bấu víu sống còn của hệ thống tham nhũng VN. Để tha hồ tham lam, cấu kết bằng mọi giá để thu lợi riêng, để không phải chịu trách nhiệm về bất cứ việc gì, họ phải có được một HP hỗ trợ cho thể chế khiếm khuyết. Những tiếng nói trung chính trong QH cực kỳ hiếm hoi và bị át đi bởi dàn đồng ca rầm rộ cho quyền lợi riêng, quyền lợi nhóm mà đi ngược lại quyền lợi của nhân dân và đất nước.
    Khi HP ấy được thông qua, đó là lúc tiếng kèn xung trận của đám tham nhũng, dối trá, vô trách nhiệm, bán nước, tàn hại đất nước cũng vang lên chói tai, cố tình át tiếng khóc và tiếng kêu của hàng chục triệu dân lương thiện.
    Khi đó sẽ tiếp tục là tháng năm dằng dặc của những người nông dân bị cướp đất, là những đêm đen quan – cướp lộng hành, tiếp tục những doanh nghiệp nhà nước độc quyền bóp chết các doanh nhiệp tư nhân, tiếp tục sự tăng giá vô tội vạ nhằm vét máu mỡ của dân để chi tiêu vô độ, những dự án ma, những kẻ rút ruột hàng ngàn hàng ngàn tỉ, của nạn nhà chức trách kết hợp côn đồ ăn hiếp dân lành, là nạn suy đồi đạo đức và văn hóa, là nạn bằng giả tràn lan, vô số người hành nghề y tế đợi dân ốm đau để xâu vào moi móc tiền bạc như giống diều quạ ăn trên xác chết… .
    Đó sẽ là bản trường ca như nhiều người đã nhận định: cả VN chỉ có một Tổng biên tập là Ban tuyên giáo trung ương” nên sự thật lại tiếp tục bị bưng bít, tiếp tục vô số vụ oan án vì bức cung ép cung , chạy án và án bỏ túi. Và những “trái bom nước” thủy điện sẽ tiếp tục nổ trên đầu người dân, mà những kẻ vận hành điềm nhiên một tay tận diệt rừng quốc gia, một tay bỏ tiền vào túi riêng, một tay “bấm nút bom nước nổ” giết hàng loạt dân và tận diệt tài sản, môi trường sống của họ mà không thèm báo trước để họ chạy tìm đường sống nhưng vẫn được nhà chức trách bảo kê bằng câu “xả lũ đúng quy trình”.
    Không phải không tiên liệu trước điều này, nhưng những ai còn chưa vô cảm, còn quan tâm đến tương lai đất nước vẫn không thể không thêm một lần chít chiếc khăn tang khốc cho tự do và nhân quyền của người VN.


    • Loài đỉa – người và thể chế




    Làm sao có thể không buồn đau khi chính HP này đã khước từ thời cơ tránh cho VN họa ngoại xâm, nguy cơ nội loạn, diệt trừ được loài đỉa – người tham nhũng đang đeo bám hút máu trên cổ người dân VN để làm lành mạnh thể chế?!
    Làm sao không là tang khốc cho đất nước, trước việc kéo dài những “lỗi hệ thống, lỗi thể chế” dẫn tới hàng trăm hàng ngàn con đỉa – người kếch xù đeo bám hút máu trên cổ người dân?!
    Loài đỉa thật chỉ hút máu no thì tự rơi xuống, chúng chỉ kiếm máu đủ nuôi bản thân chúng mà thôi.
    Nguy hại hơn, những con đỉa – người đó hút máu không biết thế nào là no chán, chúng không ngơi tích trữ hàng kho máu, hồ máu, sông máu cho lũ con cháu nhiều đời sau.
    Chúng hút máu no kễnh mà không rụng xuống, vì chúng đã biến thành “ma cà rồng” và được nâng đỡ bảo vệ bởi những khiếm khuyết thể chế.
    Và ngay cả so sánh những kẻ đó với ma cà rồng cũng là xúc phạm cả ma cà rồng, vì ma cà rồng dù ác nhưng cũng chỉ hút máu đủ no nuôi thân chúng trong vài ngày rồi đến lúc đói lại mới lại đi hút máu tiếp.

    * Kiên trì cho một QH “sạch” của những người yêu nước…


    Điều gây phẫn nộ đối với người VN là có cơ sở từ công lý đương nhiên.
    HP không có quyền loại trừ sự tồn tại của Đảng Cộng sản hoặc ép buộc một nhóm người nào đó từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lê nin, nhưng tuyệt đối không được phép quy định quyền lãnh đạo độc tôn của đảng Cộng sản hay bất kỳ đảng phái nào khác. , vì HP không được tước đoạt quyền bình đẳng của hơn 90% người VN còn lại.
    Hơn 90% người VN này hiện đang chưa chọn là đảng viên Cộng sản, không lựa chọn chủ nghĩa Mác – Lê nin làm nền tảng, vì thế, không có lý do gì lại chấp nhận sự lãnh đạo độc tôn của đảng Cộng sản. Nhiều người trong số họ có thể không biết đến HP, nhưng họ biết thực tế nhỡn tiền rằng, ngay cả những nước vốn là cái nôi kếch xù của cộng sản như Đông Đức, Liên Xô và khối Đông Âu, sau khi theo đuổi chủ nghĩa này trong hơn nửa thế kỷ, cũng đã phải ghê sợ từ bỏ ngay từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước.
    Bởi vậy mới càng đau xót rằng, người VN dù đã đổ bao xương máu để dựng lên và nuôi dưỡng thể chế này, nhưng chưa bao giờ có được một thành phần QH đủ khách quan và công bằng. Muốn có một QH “sạch” như vậy, ngoài việc được ứng cử và bầu cử một cách tự do và dân chủ không giả hiệu, họ phải khước từ mọi chức vụ trong các cơ quan công quyền…. Đây là điều tối thiểu phải có đối với một QH – nghị viện đúng nghĩa, mà HP Mỹ và nhiều nước phát triển trên thế giới đã quy định và bảo vệ như con ngươi của mắt mình:
    “Không một Thượng nghị sĩ nào hoặc một Hạ nghị sĩ nào trong suốt nhiệm kì của mình, có quyền được bổ nhiệm giữ một chức vụ hành chính nào thuộc thẩm quyền Hiệp Chúng Quốc sẽ được thành lập sau này, và có một số lương bổng sẽ được gia tăng trong nhiệm kì đó; và không một người nào đã giữ bất cứ một chức vụ nào trong chính phủ Hiệp Chúng Quốc có quyền được là một nhân viên của bất cứ viện nào trong hai viện, trong khi hãy còn giữ chức vụ trong chính phủ.(Phụ bản 1: Hiến pháp của Hợp chủng quốc Hoa kỳ ngày 4/3/1789).
    Tu chính án Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cũng quy định:
    “Nghị viện sẽ không thảo một đạo luật nào để thiết lập một tôn giáo hoặc để cấm đoán tự do tôn giáo; để hạn chế tự do ngôn luận hoặc tự do báo chí; hoặc để hạn chế quyền của dân chúng được hội họp ôn hòa và đưa lên chính phủ các điều thỉnh cầu bày tỏ những nỗi bất bình của họ”.

    Từ ngày lập quốc đến nay, VN đã luôn bỏ qua điều kiện tối thiểu này nên dẫn tới một QH mà theo đánh giá của nhiều chuyên gia là sau khi thông qua HP 2013 đã “có tội với người dân và đất nước VN”.


    Những quy định được nhiều người bất bình cho là “cưỡng đoạt” quyền lợi của nhân dân” trong HP mới đã ngay lập tức gây ra một làn sóng phản đối mạnh mẽ trên mạng truyền thông xã hội trong và ngoài nước, dù còn nằm trong đe dọa của Nghị định 72 và Nghị định 174/2013/NĐ-CP – hai Nghị định được ban hành dồn dập gần đây mà nhiều luật gia và Tổ chức nhân quyền, Hội Văn bút quốc tế …và nhiều nước cho là vi hiến, ngược lại những cam kết quốc tế về tự do ngôn luận và quyền con người.
    Bên cạnh đó, một “Hội những người phản đối HP mới” đã được thành lập và ngay lập tức có tới hơn 1.000 thành viên được công bố công khai trên mạng Internet.
    Nhiều nhân sĩ trí thức và những người ủng hộ cũng đã đưa ra “Bản tuyên bố phản đối HP mới”::
    “…Như vậy, Quốc hội khóa XIII đã tự chứng tỏ không đại diện cho nhân dân và phải chịu trách nhiệm trước lịch sử và dân tộc; hiến pháp này không thật sự là hiến pháp của nhân dân và người dân có thể sử dụng quyền bất tuân dân sự của mình…”.
    Bản tuyên bố này yêu cầu Đảng, CP và QH tôn trọng quyền tự do dân chủ của nhân dân, không để cho những quy định dưới HP vô hiệu hóa những quyền này và làm mọi việc để sắp tới có một cuộc bầu cử QH trung thực, đồng thời kêu gọi những người có lương tri trong giới cầm quyền cùng nhân dân cả nước, kiều bào nước ngoài”tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước kiên cường, đoàn kết và hợp sức đấu tranh bằng các phương thức ôn hòa để thực hiện các quyền con người và quyền công dân của mình, để thúc đẩy tiến trình cải cách chính trị nhằm đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng và lạc hậu, phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia”.

    Đương nhiên lịch sử sẽ ghi nhớ và phán xét về trách nhiệm của QH trước Tổ quốc, trước nhân dân vì đã chối bỏ mệnh lệnh của thời đại, tiếp tục tước đoạt thời cơ cho nhân dân VN có được một thể chế lành mạnh hợp tự nhiên, đã được quy định ngay trong Tuyên ngôn độc lập và HP 1946. Bằng việc đặt cho mình vị trí độc tôn, qua HP này, đảng cộng sản VN cũng đã tự triệt tiêu mọi cơ hội cho chính đảng này tự cắt bỏ những khối ung thư trong cơ thể mình để thoát khỏi tình trạng nguy ngập toàn diện hiện nay và để có năng lực cạnh tranh. Nên nhớ, gươm súng là một sức mạnh, nhưng lịch sử loài người đã chứng tỏ lòng dân cuối cùng bao giờ cũng mạnh hơn gươm súng.


    Người VN biết 28/11/2013 là ngày tang khốc cho tự do và nhân quyền VN, nhưng là để lương tri người người tiếp tục tỉnh thức, để không ngã lòng và tiếp tục kiên trì cho lẽ sống cùng chung tay phấn đấu cho công lý và bình đẳng cho mọi người VN.


    Lannguyen xin chân thành cảm ơn Nguyễn Tuấnhttp://baotoquoc.com/2014/06/27/mot-...at-vo-thi-hao/
    Lannguyen

  10. #10
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Nên Đọc Cho Biết

    ĐOÀN KẾT THEO ĐẢNG ĐỂ CHỐNG GIẶC , chứ theo Đảng để ĐẦU HÀNG GIẶC, thì ai theo ?

    MrLecongnhan.

    (( Nếu coi đảng cao hơn độc lập dân tộc, THÌ SINH MẠNG CỦA ĐẢNG HÃY COI CHỪNG ! ...Đảng Cộng sản tự hào rằng, « nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của đảng hoặc theo đảng để làm cách mạng », nhưng thực sự theo đảng làm cách mạng, bởi vì đảng yêu nước kia, đảng đánh ngoại xâm kia, đảng giành độc lập kia, còn đảng cúi đầu thì ai theo ? Cho nên, nếu đảng Cộng sản Việt Nam mà không giữ ngọn cờ yêu nước, ngọn cờ bất khuất, thì liệu cái tính chính danh của đảng có còn hay không ?))... ( Đó là lời của Luật sư Trần Quốc Thuận, đảng viên 44 năm tuổi đảng và từng 14 năm làm Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội nước CHXHCNVN )

    Giặc ( Tàu ) đã chiếm trọn HS ,một phần TS , Ải Nam quan , một phần thác Bản Giốc, núi Lão Sơn ... Nay ngang ngược đặt giàn khoan khủng 981 khoan dầu trong vùng đặc quyền kinh tế của VN và dùng bản đồ "Lưỡi bò" để liếm sạch Biển Đông ...một lần nữa TQ khẳng định dã tâm thôn tính VN , đã từ lâu TQ đã và đang xâm lược VN bởi một cuộc chiến tranh không tuyên bố .

    Điều TQ muốn là xâm lược nước ta, chiếm dần dần kiểu tăm ăn dâu, mà không cần chiến tranh, mưu sâu của giặc là 1 mặt dùng sức mạnh tàu bè để áp đảo ngoài khơi, mặt khác
    TQ hối thúc Trần Đại Quang trấn áp biểu tình! . Hay nói cách khác : Lợi dụng sự ươn hèn của ĐCSVN, TQ đã và đang xâm lược VN bởi 1 cuộc chiến không tuyên bố và không có tiếng súng, và chúng đã đạt được điều đó.

    Trong lúc Giặc đến xâm lược.
    Nội bộ ĐCSVN trở nên lục đục, mạnh ai nấy nói .
    Thủ tướng VN Nguyễn Tấn Dũng tỉnh cơn mê muốn rũ bỏ nợ đựng "16 chữ vàng" và" 4 tốt" tuyên bố "Không đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông"; đồng thời kêu "kêu gọi Liên Hiệp Quốc và Hoa Kỳ tiếp tục lên tiếng để phản đối việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan ở Biển Đông".

    Như để đả lại tuyên bố " VN Không đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông, lệ thuộc " của Nguyễn Tấn Dũng, Việt gian Phùng Quang Thanh một mặt cho quân đội trốn biệt tăm, mặt khác tiếp tục tâng nịnh Tàu khựa với tuyên bố mới nhất ((
    Việt gian Phùng Quang Thanh khẳng định "Quan hệ VN và nước bạn TQ vẫn tốt đẹp"(!?) )) (!)

    Tuyên bố phản quốc của Phùng Quang Thanh đã 1 dáng đòn chí mạng lên tuyên bố của Nguyễn Tấn Dũng, đồng thời phủ đầu Nhật bản và ngáng họng Mỹ khi họ lên tiếng bênh vực VN.
    Phùng Quang Thanh đã tạo cơ hội cho TQ phản đòn: lên án Mỹ-Nhật "khiêu khích" .

    Còn Nguyễn phú Trọng ươn hèn im như hến, đề nghị một cuộc gặp cấp cao giữa Tổng bí thư Đảng Cộng sản Nguyễn Phú Trọng và lãnh đạo Trung Quốc, để Phú trọng được sang chầu Bắc Kinh, và mở đường dây nóng ...
    "Tuy vậy Trung Quốc đã khước từ tất cả các tiếp cận đó, và đối thoại giữa hai bên vẫn hết sức lạnh nhạt," ông Carl Thayer nói.

    TQ xua đuổi tàu Cảnh Sát Biển VN gần giàn khoan HD 981
    Cảnh sát biến chỉ làm hề :
    Tên Việt gian Phan Duy Cường trợ lý tác chiến bộ tư lệnh cảnh sát biển VN do không nhận thức được kẻ thù nên hắn đã gọi giặc TQ xâm lược là "bạn". Hắn nói (( Lực lượng của BẠN (Trung Quốc) bung ra rất đông ...))
    Xem
    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/multimedia/2014/05/140514_tau_vietnam_tren_bien_dong.shtml

    TQ hối thúc Trần Đại Quang trấn áp biểu tình! Công an ra sức đàn áp dân để thỏa lòng giặc :
    ĐCSVN thẳng tay trấn áp biểu tình! VN còn hay đã mất ?

    Có lẽ bọn tình báo Hoa Nam đã chui sâu leo cao trong ĐCSVN _ Tao đã chiếm biển đảo của chúng mày rồi, thì chúng mày cứ im đi, thế là tốt , chứ động binh là chúng mày chết ngay ! Chúng đã thực hiện được mưu đồ xâm lược mà không tốn 1 viên đạn
    ______________________
    Chế độ XHCN và ĐCS do HCM để lại_ sai lầm từ lý luận đến thực tiễn.Về mặt đạo đức không tạo dựng mà chỉ phá hủy các giá trị đạo đức văn hóa cổ truyền . Về kinh tế: thủ tiêu tính cạnh tranh và sáng tạo trong sản xuất,là nguyên nhân dẫn đến quốc nạn tham nhũng,nghèo đói, tụt hậu.Về chính trị là chính thể độc tài,thối nát. Ý thức hệ đấu tranh g/c một mất một còn, là nguyên nhân gây ra nội chiến,phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, làm suy yếu đất nước, dẫn đến nguy cơ mất nước


    Lannguyen xin chân thành cảm ơn MrLecongnhan.http://wwwvietnamquehuong.blogspot.c...theo.html#more
    Lannguyen

  11. #11
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Nên Đọc Cho Biết

    RFI: Kế hoạch chiếm Biển Đông đã được Bắc Kinh tiến hành từ 60 năm nay

    Thứ năm 26 Tháng Sáu 2014




    Đường lưỡi bò Trung Quốc (đỏ) và đòi hỏi chủ quyền của các quốc gia ven Biển Đông.
    Source : US defense department
    Tú Anh / Lưu Tường Quang
    Trung Quốc tiếp tục leo thang gây căng thẳng tại Biển Đông : Phát hành bản đồ « đường 10 đoạn » nuốt gọn 80% biển Đông Nam Á, đưa thêm 4 giàn khoan dầu vào khu vực, sử dụng hàng trăm tàu thuộc lực lượng tuần duyên trấn áp cảnh sát biển Việt Nam. Bắc Kinh thật sự tính toán gì ?
    Qua diễn văn đọc tại Thượng Hải hồi đầu tháng 5, lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình không che dấu mục tiêu chiến lược đẩy Hoa Kỳ ra khỏi khu vực.
    Theo nhà phân tích Lưu Tường Quang thì chiến lược xuyên suốt này đã được đảng Cộng sản Trung Quốc, từng bước tiến hành từ thập niên 1950 đến nay và khai thác từng cơ hội như qua hòa đàm Genève 1954, chiến tranh Việt Nam, Mỹ triệt thoái năm 1973.
    Nhưng vì sao Bắc Kinh lại chọn thời điểm 2014 này để khiêu khích Nhật ở Hoa Đông và lấn sâu vào vùng biển Việt Nam, triển khai lực lượng theo chiến thuật "quả cầu tuyết" càng ngày càng hùng hậu ?
    Một công đôi việc, Trung Quốc đặt Nhật Bản vào thế phải tái võ trang hầu làm rạn nứt quan hệ Hàn-Nhật trong trục Washington-Tokyo-Seoul ở Châu Á.
    Phải chăng Bắc Kinh khai thác thời cơ Mỹ thiếu lãnh đạo cứng rắn và quyết đoán để phá vỡ nguyên trạng tại Biển Đông trước khi Nhà Trắng có chủ nhân mới vào năm 2016?
    Trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng này đâu là giải pháp khả thi cho Việt Nam ? Yếu hơn Trung Quốc nhưng Việt Nam dường như không thiếu lá chủ bài. Vấn đề là phải khai thác như thế nào ?
    Từ Sydney, nhà phân tích Lưu Tường Quang tìm cách trả lời các câu hỏi này.
    « Ngoài mục đích bình thường hóa những hoạt động để xác quyết chủ quyền, Bắc Kinh còn có ý đồ sâu xa hơn là thách đố Hoa Kỳ để xem Hoa Kỳ có chứng minh lời nói có đi theo cùng chiều với việc làm hay không. Nếu Hoa Kỳ không có hành động theo lời nói thì sẽ đánh mất lòng tin các nước nhỏ ở Châu Á và như thế sẽ khó thực hiện thành công chính sách định vị.
    Trung Quốc lợi dụng thời cơ Hoa Kỳ gặp vấn đề tại Châu Âu và Trung Đông cũng như Tổng thống Obama gặp khó khăn tại quốc nội. Trung Quốc ra tay trước theo một chiến lược đã có từ 60 năm.
    Từ nay đến 2016, trước khi Hoa Kỳ có Tổng thống mới, có lẽ Trung Quốc sẽ tiếp tục chính sách hung hăng này….. »
    TỪ KHÓA : Châu Á - Tạp chí - Trung Quốc -



    Được đăng bởi Việt Dương Nhân


    Lannguyen xin chân thành cảm ơn Việt Dương Nhân http://vietduongnhan.blogspot.com/20...g-uoc-bac.html
    Lannguyen

  12. #12
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Nên Đọc Cho Biết

    Nhật ký dân đen 05: Đứng ngoài chính trị

    Đào Hiếu


    Tôi có thể đứng ngoài một căn phòng (vì nó dơ dáy), hoặc đứng ngoài một trận đá bóng (vì tôi không thích) nhưng tôi không thể đứng ngoài chính trị. Chính trị xâm nhập vào cuộc sống của tôi từng giây, từng phút, từng ngày: miếng cơm tôi ăn, cái áo tôi mặc, chiếc xe tôi đang chạy, chương trình TV tôi đang xem… tất cả đều thấm đẫm chính trị, thể hiện qua giá lương thực, thực phẩm, giá xăng dầu, giá điện nước.Thể hiện qua thuế VAT, thuế cầu đường, thể hiện qua nội dung các chương trình TV.

    Cả con cái tôi nữa, chính trị cũng chui vào cặp sách của nó, nằm chình ình trong nội dung sách giáo khoa, trong sinh hoạt Đoàn, Đội..trong giáo án, trong cách giảng dạy của thầy cô… Mỗi sáng, khi nhìn đứa cháu tám tuổi mang chiếc cặp nặng trĩu oằn vai, tôi cứ thấy cái bóng ma chính trị đang nằm vắt vẻo một cách thô bạo và trơ trẽn trên đôi vai gầy yếu tội nghiệp của nó. Nó bé bỏng, mong manh như thế mà cũng không thoát khỏi nanh vuốt của chính trị. Vậy thì bạn? Bạn nghĩ mình đã thoát ra khỏi nó và đứng ngoài cuộc sao? Im lặng hay phản kháng đều là chính trị. Ngay cả khi bạn không làm chính trị, chính trị sẽ đến với bạn.” (Aung San Suu Kyi). Cho nên vấn đề quan trọng không phải là tìm cách đứng ngoài chính trị (vì bạn không thể làm được điều đó) mà là chọn lựa một thái độ, một chỗ đứng. Trong từ điển Hán- Việt thì “chỗ đứng” tức là “lập trường”. Vậy lập trường của bạn là gì?

    ĐÀO HIẾU

    Lannguyen xin chân thành cảm ơn ĐÀO HIẾU và
    http://tuxtini.com/2013/04/17/dung-n...tri/#more-1276
    Lannguyen

  13. #13
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Nên Đọc Cho Biết



    Hoàng Lan Chi – Suy nghĩ về một bài viết vạch cộng rất hay. Nên cẩn thận với những kẻ từng nằm vùng như Đoàn văn Toại

    Posted on June 11, 2014 by hoanglanchi
    Viết ngắn

    Suy nghĩ về một bài viết vạch cộng rất hay.


    Lại phải cảm ơn net nhất là google.
    Chuyện là vầy: tôi nhận mail từ anh bạn A. Trong đó là Anh A trả lời cho anh B. Anh B là người giới thiệu bài “Thổn thức cho Việt Nam” của Đoàn Văn Toại.
    Anh A kể là khi anh đến Mỹ, đã nghe và biết về Toại.Toại rất thiên tả và bị bắn vào miệng.
    Bài “Thổn thức cho VN” thì ..lại quá hay.
    Tôi bị bối rối.
    Tôi viết cho A “Hello, anh đến Mỹ khoảng 78, nếu Qg nhớ không lầm. Anh nói, anh đã nghe Toại thiên tả ở Nam CA. Khoảng 1989 Toại bị người quốc gia chống cộng bắn cảnh cáo. Còn bài Thổn Thức thì hắn nói hắn bị VC bắt khoảng 1976 vì hắn chống đối cs. Kỳ vậy? Bài hắn viết hồi nào mà quá hay, vạch trần thủ đoạn cộng sản quá tuyệt. Có khi nào, Toại được lệnh viết, để làm “cò mồi” dụ khị người trong nước không? Nghĩa là những đồng chí cũ của Toại, thấy Toại “tỉnh ngộ”, họ tiếp tay chuyền bài viết của Toại. Và như thế bọn công an sẽ dễ dàng tóm gọn những kẻ đang bất mãn với chúng? Bởi vì theo như anh viết, khoảng 80, Toại ở CA và hô hào cho vc nên mới bị bắn vào miệng năm 89?”
    Sau khi mail cho bạn A, tôi google.
    Tuyệt.

    Đây là kết quả:

    1-Trang web của Cao Trào Nhân Bản, mà tôi còn nhớ là của nhóm BS Nguyễn Quốc Quân ( anh ruột BS Nguyễn Đan Quế), cùng GS Nguyễn Ngọc Bích ( Nghị Hội) đã đăng bài “Thổn Thức cho VN” của Toại vào năm 2009. Điều này có nghĩa là Toại bị lột mặt nạ, bị bắn từ 1989 nhưng trang web này “có vẻ” không biết gì cả, vẫn “hồn nhiên” đăng bài của Toại và điều này đã làm anh B bị hớp hồn lộn, gửi ra rồi Anh A gửi cho nhóm, trong đó có tôi.
    Đây, Cao Trào Nhân Bản:

    Thổn thức cho Việt Nam –
    ĐoànVănToại

    Đây là LGT của trang web của Cao Trào Nhân Bản: Đoàn Văn Toại là một trong một số người trong Ban Chấp Hành của Tổng Hội Sinh Viên Sài gòn vào những năm cuối thập niên 1960-1970. Mê muội tin vào những lời tuyên truyền của Cộng sản, ông Toại gia nhập làm cán bộ nằm vùng, hoạt động cho họ. Lợi dụng sinh hoạt dân chủ của chánh quyền VNCH, tuân theo lệnh của CS, ông hô hào, phát động những cuộc xuống đường, biểu tình chống đối chánh quyền đương thời. Đến khi chiếm xong Miền Nam, bộ mặt thật, bản chất thật của CSBV đã lộ thật rõ: tàn ác, dã man, gian trá, cướp bóc đã làm cho ông và những người đồng chí của ông vỡ mộng. Chính ông và những đồng chí của ông khám phá thêm bản chất vô lương cùng thành tích giết, và sẵn sàng giết với chủ trương "giết lầm hơn bỏ sót" của CS. May cho ông và một một số đồng chí của ông đã đạt được ước nguyện thoát thân. So với những người trong nhóm, sau khi đến bến bờ tự do, ông Toại còn chút lương tri của con người, đã can đảm lên tiếng thú nhận sự ngây thơ, mù quáng và bài học kinh nghiệm CS của mình. Tuy lời trần tình sám hối nầy được viết và đăng trên New York Time khá lâu, nhưng nhân đại Hội Việt Kiều được CS Hà Nội vừa tổ chức năm 2009, lời mật ngọt, ma mánh của chúng vẫn còn mê hoặc được một số người nên chúng tôi xin đăng lại bài học ê chề của một người trong cuộc. Bản chất thật của CS không bao giờ thay đổi, "con tắc kè" có thể thay đổi màu nhưng bản chất xù xì của nó vẫn còn nguyên vẹn. (CTNB)

    2-Trang web của Một Góc Trời: bài viết của Nguyễn Thiếu Nhẫn, vạch trần Đoàn Văn Toại.

    Xem tại đây:

    TỪ ĐOÀN VĂN TOẠI ĐẾN VÕ VĂN ÁI – Motgoctroi
    Xin cảm ơn ô Nguyễn Thiếu Nhẫn.
    3-Trang web Tinparis, LS Nguyễn Văn Chức, trong bài viết về Nguyễn Chí Thiện, có đoạn viết về Toại như sau:
    http://www.tinparis.net/vietnamhaingoai/1206NguyenchiThien_NguyenvanChuc.html

    Trích LS Nguyễn Văn Chức
    : Cách đây 28 năm, năm 1978, Đoàn văn Toại ra hải ngoại, và đã được đồng bào Tỵ Nạn tiếp đón nồng nhiệt. Đoàn văn Toại phổ biến «Bản Tuyên Ngôn Của Những Việt Nam Khốn Cùng» và bản «Chúc Thư Của Những Người Tù Yêu Nước», trong đó có những tên tuổi như Phạm Biểu Tâm, Nguyễn Quý Anh,v,v. Tháng 9 năm 1978, trước mặt đồng bào tỵ nạn tại Paris, Đoàn văn Toại nói trong nước mắt: « Điều quan yếu hơn cả là lúc nào cũng tâm niệm trước khi đi ngủ như một câu kinh, như một lời thề: cộng sản là kẻ thù; đừng nên làm bất cứ điều gì có thể gây sức mạnh cho kẻ thù» (Việt Nam Hải Ngoại của LS Đinh Thạch Bích, số 32 ngày 15/9/1978, trang 31, 32). Đòan văn Toại đã được Người Việt Tỵ Nạn nhiều nơi mời diễn thuyết., tại Mỹ, và tại Âu Châu. Đến đâu, y cũng nói trong nước măét: CSVN là kẻ thù của dân tộc VN, chúng ta phải chiến đấu chống CSVN đến hơi thở cuối cùng.
    Rồi y được những người Mỹ Don Luce móc nối. Rồi y thành lập «Viện Đấu Tranh Cho Dân Chủ Việt Nam» (tiếng Mỹ là: Institute for Democracy in Vietnam.) . Tháng 9 năm 1988, trên cương vị chủ tịch I. D. V., và với sư tiếp tay của người Mỹ phản chiến, y tổ chức cuộc hội thảo về bang giao Hoa Kỳ với Việt Nam ( U.S RElATIONS WITH VIETNAM, Policy Objectives , Options And Strategies) trong khuôn viên quốc hội Hoa Kỳ tại Hoa Thịnh Đốn . Với nghị sĩ McCain và dân biểu Gringrich trong đoàn chủ tịch danh dự. Hiện tôi còn giữ tài liệu. Sau cái I D V đó, Đoàn văn Toại trở thành chiến sĩ hòa giải hòa hợp dân tộc, và tay sai của Hà Nội.
    Ngày 19/8/1989, y bị bắn, nhưng không chết. Nghe nói: người bắn là một cựu quân nhân Việt Nam đã từng bị đánh đập trong ngục tù cộng sản.

    Một quyển sách Việt Cộng mang tên «Về Người Việt Nam Định Cư Tại Nước Ngoài» xuất bản tại Hà Nội năm 1990, nơi trang 66, có tường thuật vụ này, và lên án « bọn phản động lưu vong Người Việt tại nước ngoài». Nơi trang 68, quyển sách cũng in lại lời tuyên bố của Đoàn Văn Toại. Chúng ta hãy nghe : : « Tôi là một người Việt Nam, do đó tôi phải bảo vệ quyền dân tộc Việt Nam, và theo cái vinh cái nhục của đất nước Việt Nam. Tôi lại sinh sống tại Mỹ, tôi phải tôn trọng luật lệ ở xứ này [...] Đối với tôi, 11 năm sống lưu vong, 11 năm bị trừng phạt lưu đầy. Tôi muón sống và chét trên đất nước tôi, giữa ruộng vườn nơi chôn rau cắt rún của tôi. Cây có cội, nước có nguồn». Ai cũng biết, Đoàn văn Toại đã không về Việt Nam, và đang sống tại My. Ờ trên, tôi có nói đến cái tổ chức I.D.V. của Đoàn Văn Toại.
    Thằng bạn tôi già nua dốt nát, đọc là Im Đi Vẹm.”

    (hết trích bài của LS Chức-trên web TinParis)

    Kết Luận: vì tôi ra hải ngoại muộn, có nhiều điều không biết. Nếu không nhờ google, nếu không có tài liệu lưu trữ từ Một Góc Trời, từ Tin Paris, thì tôi đã bị hớp hồn bởi bài viết “Thổn thức cho VN” quá hay của Đoàn Văn Toại. (Chưa kể, google cho biết Toại là bố chồng của cô ca sĩ gốc Vc Trần Thu Hà. Toại có vợ bé, rất trẻ, chỉ hơn Trần Thu Hà có 6 tuổi). Xem ra, những gì chúng tôi viết hay lưu trữ ở blog Chúng Tôi Muốn Tự Do, có lẽ cũng sẽ giúp ích cho rất nhiều người tương tự như các trang web khác đã giúp ích cho tôi vậy.

    Hoàng Lan Chi
    6/2014

    Lannguyen xin chân thành cảm ơn Hoàng Lan Chi http://chungtoimuontudo2.wordpress.com/2014/06/11/hoang-lan-chi-suy-nghi-ve-mot-bai-viet-vach-cong-rat-hay-nen-can-than-voi-nhung-ke-tung-nam-vung-nhu-doan-van-toai/



    Lannguyen

  14. #14
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Nên Đọc Cho Biết



    Nguyễn-Xuân Nghĩa -Khi nhà cháy, Tổng thống Mỹ gọt bút chì hay g ài chất nổ?

    Posted on June 19, 2014 by hoanglanchi

    Nguyễn-Xuân Nghĩa – Việt Báo Ngày 140613

    Khi nhà cháy, Tổng thống Mỹ gọt bút chì hay gài chất nổ?


    Đầu năm 2009, trước khi qua Á Châu thăm viếng Trung Quốc, Ngoại trưởng Hillary Clinton của Chính quyền Barack Obama vừa nhậm chức đã có một lời phát biểu phản ảnh trình độ thấp hèn của người thi hành chánh sách ngoại giao của chính quyền mới. Hillary bắn tiếng cho Bắc Kinh, rằng 1) Hoa Kỳ không để vấn đề nhân quyền chi phối quan hệ giữa hai nước, và 2) Trung Quốc nên tiếp tục mua Công khố phiếu của Mỹ.

    Nhiều người có thể thông cảm với thái độ cầu tài đó vì Hoa Kỳ vừa bị một vụ khủng hoảng tài chánh và kinh tế đang bị suy trầm. Thế thì vì sao lại bảo rằng lời phát biểu ấy là thấp hèn?

    Thấp là vì Hillary chẳng hiểu gì về tài chánh quốc tế. Nếu Bắc Kinh không mua tài sản Mỹ thì đầu tư vào đâu cho an toàn mà có lời? Quả nhiên là sau đó có một năm, một viên chức tài chánh Bắc Kinh hậm hực như sau: "Ghét Mỹ lắm, mà chẳng làm sao khác được!" Tức là tiếp tục châm tiền vào thị trường Hoa Kỳ. Vả lại, trong khoản công trái quá lớn của chính quyền Mỹ, Trung Quốc chỉ làm chủ chưa tới 10% và sẽ còn lỗ nặng nếu muốn bán tháo để bỏ chạy, hay để trả đòn.
    Hillary hèn là vì công khai quỵ lụy một chế độ độc tài và phủ nhận những giá trị tinh thần mà Hoa Kỳ vẫn đề cao. Nhưng hai nhược điểm ấy không là độc quyền của người đang nghé cái ghế Tổng thống vào năm 2016 này.
    Đấy là thuộc tính của Chính quyền Obama.

    Nhớ lại như vậy thì ta không thất vọng về chiến lược "chuyển trục" tại Đông Á mà Hillary đã viết và Obama đã nói từ mùa Thu 2011. Cũng chẳng nên ngạc nhiên khi Bắc Kinh ngày nay ra vẻ hung hăng ngoài Đông hải. Họ không đánh giá cao khả năng trả đũa của Chính quyền Obama.

    Cũng đầu năm 2009, khi vừa nhậm chức, Chính quyền Obama và Ngoại trưởng Hillary Clinton sớm nói đến việc cải thiện quan hệ với Liên bang Nga (chuyện "reset the button" mà Phó Tổng thống Joe Biden nói sai và Bộ Ngoại giao dịch ẩu!) Rồi đầu năm 2012, Obama còn nhắn thầm với lãnh tụ Vladimir Putin (qua Tổng thống đương nhiệm của Nga là Dmitry Medvedev), rằng năm nay là cuộc tranh cử cuối cùng, nếu đắc cử, Obama sẽ có chính sách linh động hơn với Nga.

    Nhớ lại như vậy, chẳng ai nên ngạc nhiên về vụ khủng hoảng tại Ukraine vào đầu năm nay!

    Với hai quốc gia có thế lực nhất và thường hỗ trợ các chế độ hung đồ chống Mỹ và có thể đe dọa quyền lợi của Hoa Kỳ và an ninh của nhiều nước đồng minh, Hoa Kỳ dưới sự lãnh đạo của Obama đã phô bày những yếu kém đầy sức cám dỗ. Nghĩa là nguy hiểm. Các lực lượng khủng bố Hồi giáo đều hiểu như vậy, từ al-Qeada cốt lõi, tới al Qeda tại Iraq, tại vùng Mahgreb (AQIM), tại Vịnh Ba Tư (AQAP) hay Boko Haram tại Tây Phi….
    Nhìn rộng ra ngoài thì ta còn thấy ra nhiều đám cháy….
    ***
    Về chánh sách đối ngoại của mình, trên chuyến Air Force One bay qua Châu Á vào tháng trước, Obama nói thầm với thuộc hạ rằng "đừng làm trò ngu" (tạm dịch từ câu "don’t do stupid sh*t").
    Diễn giải "chủ thuyết đối ngoại Obama" kiểu đó cho dễ hiểu là đừng chơi dại mà dính vô chuyện thiên hạ. Có thể thông cảm được. Nhưng điều ấy không có nghĩa là ngây ngô bán cái và ú té bỏ chạy sau khi kiên trì chứng tỏ sự nhu nhược của mình!

    Đầu năm 2011, khi sóng gió nổi lên tại Bắc Phi mà nhiều người tưởng lầm là "Mùa Xuân Á Rập" của trào lưu dân chủ, Obama đạt thành tích lạ là gây mâu thuẫn với mọi phe.

    Tại Ai Cập, đồng minh chiến lược là Hosni Mubarak bị hy sinh, phe cách mạng được Obama ve vuốt là Lực lượng Huynh đệ Hồi giáo lại xoay ra chống Mỹ và dự tính thiết lập chế độ Hồi giáo toàn trị, rồi bị quân đội lật đổ. Hoa Kỳ bần thần đứng giữa mà chẳng biết tính sao – là chuyện ngày nay.
    Tại Libya, một lãnh tụ đã tìm thế hòa giải với Mỹ là Muammar Gaddafi cũng bị Hoa Kỳ tiếp tay lật đổ trong cuộc nội chiến, để rồi Libya là đất không người, nơi xảy ra vụ tàn sát tại Benghazi vào ngày 11 Tháng Chín năm 2012, mà mọi cấp của Chính quyền Obama, từ Hillary trở xuống, đều cố ém nhẹm để cho qua ngày bầu cử. Đến nay, Chính quyền Obama vẫn còn chối và Hillary vẫn biện bạch trong cuốn hồi ký viết ra để tranh cử!

    Khi nội chiến bùng nổ tại Syria, từ Tháng Tám năm 2011, Obama tuyên bố là lãnh tụ Bashar al-Assad "phải đi", rồi vẽ ngang dọc nhiều lằn đỏ cấm vượt mà lại xoá, và chẳng làm gì sau khi bán cái cho Putin giải quyết. Kết cuộc thì thường dân Syria chết thảm, các nhóm nổi dậy thân Tây phương và chống al-Assad không được yểm trợ trong khi lực lượng Sunni có quan hệ với khủng bố al-Qeada lại được thể tung hoành.

    Và từ Syria họ tiến qua Iraq, thắng lớn tại miền Bắc và hiện đang uy hiếp thủ đô Baghdad.
    Trước khi nhậm chức, Obama quyết định triệt thoái khỏi Iraq và làm đúng lời. Mẫn cán và triệt để dến độ không lưu lại một lực lượng phòng thủ. Lý do là vì đòi Chính quyền Baghdad phải đưa Quốc hội thông qua hiệp định giữa đôi bên. Hậu quả là ngày nay.
    Trong hai ngày qua, một lực lượng dân quân thuộc hệ phái Sunni xưng danh "Quốc gia Hồi giáo tại Iraq và Syria" (ISIS, Islamic State in Iraq and Syria, hay ISIL, Islamic State in Iraq and the Levant) đã chiếm hai tỉnh chiến lược là Mosul và Tikrit với tham vọng dựng cờ khủng bố của al-Qeada trên phân nửa lãnh thổ Iraq. Khu vực này có dầu hỏa, lại tiếp cận với vùng sinh hoạt của dân Kurd tại Turkey và dân Shia thân Iran, cho nên nội chiến tại Iraq sẽ là động đất tại Trung Đông. Còn nguy kịch hơn những gì vừa xảy ra tại Ukraine và Đông Âu!

    Thế giới này vốn hình tròn, cho nên ngần ấy chuyện cứ lòng vòng dây dưa!

    Trung Đông mà có loạn là dầu thô lên giá, điều có lợi cho chế độ Putin vốn dĩ sống về nghề bán năng lượng và phân nửa thu nhập là nhờ dầu khí. Khi vụ khủng hoảng Ukraine bùng nổ thì Chính quyền Obama có một cách trả đòn hữu hiệu là giải toả chế độ xuất cảng năng lượng để vừa giải vây Ukraine và Âu Châu vừa gây khó cho Putin. Chuyện ấy không thành vì sức ép của các lực lượng bảo vệ môi sinh ở nhà. Cũng do áp lực từ thành phần đắc lực này cho Obama, dự án Keystone XL dẫn dầu từ Canada về Mỹ vẫn bị hoãn và gây mâu thuẫn với xứ láng giềng.
    Giữa những bế tắc đến rối bù lại có chuyện giải phóng năm tay trùm khủng bố của Taliban để chuộc lại một tù binh của Mỹ. Hẳn là Obama rất đắc ý với đòn trao đổi hy hữu ấy nên mới biểu diễn ngay tại Vườn Hồng trong toà Bạch Cung.
    Nào ngờ là dư luận lại chưng hửng vì lai lịch của người tù binh, một trung sĩ đã rời đơn vị đi vào đất địch tại Afghanistan vì lý do gì thì chưa ai rõ! Và khi biết rõ năm người được thả từ trại tù Gitmo là những ai thì thiên hạ mới tá hoả! Chuyện anh lính bất thường Bowe Bergdhal gây bất ngờ cho Chính quyền Obama vì phản ứng chống đối từ hai đảng lẫn công chúng và các đơn vị quân đội!
    Đâm ra, màn trình diễn việc giải cứu tù binh tưởng là mưu cao để khỏa lấp vụ khủng hoảng của Bộ Cựu Chiến Binh lại dẫn tới một vụ khủng hoảng khác!
    ***
    Khi cột lại ngần ấy chuyện thì mỗi địa danh lại là một đám cháy.
    Đó là Đông Á và Trung Quốc ngoài Đông hải; là Đông Âu và Putin tại Crimea cùng Ukraine; là Bắc Phi và Trung Đông nghi ngút khói với Libya, Syria, Iraq, Iran và các nhóm khủng bố al-Qeada tự phát; là tại Trung Á và Nam Á khi đặc công Taliban đánh thẳng vào trung tâm Karachi của xứ Pakistan, trong khi Obama còn báo trước – cho Taliban – là sẽ rút hết mọi đơn vị ra khỏi Afghanistan vào năm 2016, khi ông ta mãn nhiệm.
    Nếu có đếm thì cũng là một chục vụ khủng hoảng cực kỳ bất lợi cho Hoa Kỳ.


    Chuyện khôi hài là giữa ngần ấy đám cháy ở bên ngoài, người ta thấy Obama đứng gọt bút chì ở bên trong!

    Đấy là phản ứng tâm thần của người bị tê liệt, không biết là phải cứu bàn thờ hay két bạc, hay ôm đàn bà con trẻ ra khỏi căn nhà bị hỏa hoạn. Vì bần thần nên mới đứng gọt bút chì trong căn nhà cháy. Mà căn nhà đó không phải là ngôi làng tại Trung Đông hay quần đảo ngoài cõi Đông hải xa xôi. Căn nhà đó là nước Mỹ:
    Thành tích lẫy lừng nhất của Barack Obama, đạo luật cải tổ chế độ bảo dưỡng y tế (ACA hay ObamaCare), là liều thuốc đổ bệnh. Việc sở thuế liên bang IRS lại làm công cụ triệt hạ các đối thủ chính trị của Obama là một sự lạm dụng công quyền còn tệ hơn Tổng thống gian hùng nhất là Richard Nixon. Rồi những tai tiếng khác trong Bộ Tư Pháp, Bộ Cựu Chiến Binh, trong bộ máy tình báo điện tử NSA, v.v… đã vượt quá khả năng bảo vệ của truyền thông cánh tả mà đẩy Obama vào đáy vực. Tỷ lệ tin tưởng Tổng thống Mỹ tuột dốc thê thảm.
    Vì ngần ấy chuyện bên trong và bên ngoài, chúng ta có thể kết luận rằng Barack Obama là một Tổng thống bất tài. Nhiều người Mỹ, kể cả các nhà bình luận thuộc cánh tả xưa nay vẫn mắc chứng Obamê, đều có thể đồng ý như vậy – mà trật lấc!
    ***
    Là người xuất thân bên ngoài xã hội thâm sâu của nước Mỹ, lại do hoàn cảnh khác thường của cha lẫn mẹ, Barack Hussein Obama có lối suy nghĩ khác với đa số dân Mỹ bên cánh tả.
    Đó là lối suy nghĩ lệch lạc khi cho Hoa Kỳ là nguyên nhân của mọi vấn đề trên thế giới như đám trí thức cực tả hoặc thân cộng vẫn lý luận. Obama học được điều ấy và còn viết lại trong hồi ký. Nhưng lý luận sai lệch này còn biến chứng thành tinh thần thù ghét nước Mỹ. Mục sư Jeremiah Wright là nhân vật tiêu biểu cho tinh thần bệnh hoạn ấy. Bà mẹ của Obama đã dẫn con vào đó nghe thuyết giảng trong hai chục năm liền! Từ đó mới có hiện tượng Obama.

    Chúng ta phải kết luận lại:

    Obama không phải là người dốt, tức là thiếu hiểu biết. Cũng chẳng là người ngu nên mới "nhận giặc làm cha". Đấy là người thông minh, có tài hùng biện và đạt thành tích là đắc cử Tổng thống Mỹ sau khi làm Nghị sĩ có hơn một năm và chưa hề có kinh nghiệm nào về quản trị. Và sau một năm làm suy yếu các định chế bảo vệ nước Mỹ, ông còn đạt một thành tích ghê gớm hơn nữa, là lại tái đắc cử.
    Để hoàn thành lời tâm nguyện là làm cho nước Mỹ tan hoang. Đó là chuyện ngày nay.
    Bảo rằng Obama bất tài là vẫn đánh giá sai mọi chuyện vì đặt lệch tiêu chuẩn khi tưởng ông ta muốn phục vụ nước Mỹ mà không thành công. Obama đã thành công và thật ra đang ngầm đặt thêm chất nổ giữa một đám cháy. Từ năm 2010, trên cột báo này, người viết đã gọi Barack Obama là Tổng thống chống Mỹ.
    Nhưng luận như vậy vẫn là chưa tới! Vì sao dân Mỹ lại có thể bị lóa mắt vì ấn tượng và ảo tưởng mà bầu cho một nhân vật như vậy? Mà không chỉ bỏ phiếu một lần!

    Lannguyen xin chân thành cảm ơn Nguyễn-Xuân Nghĩahttp://chungtoimuontudo2.wordpress.c...-g-ai-chat-no/
    Lannguyen

  15. #15
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Nên Đọc Cho Biết

    Vũ Linh-Câu Chuyện Trao Đổi Tù ( Obama đã thả tù nguy hiểm-tựa d o Hoàng Ngọc An thêm vào)


    Posted on June 10, 2014 by hoanglanchi
    Câu Chuyện Trao Đổi Tù

    Vũ Linh, 10/06/2014
    … giá phải trả quá đắt, tạo tiền lệ cho quân khủng bố hung hăng hơn…

    Tuần qua, một quân nhân Mỹ bị quân Taliban giam giữ từ 5 năm qua đã được trả tự do, đổi lấy việc chính quyền Obama thả 5 tù Guantanamo. Câu chuyện trao đổi tù này đã gây chấn động dư luận Mỹ và đã tạo ra không biết bao nhiêu tranh cãi.
    Trung sĩ (sergeant) Bowe Bergdahl bị quân Taliban bắt giữ từ tháng Sáu, 2009 tại Afghanistan. Một buổi sáng sau phiên gác của anh, người ta không thấy anh đâu hết, Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ bủa đi tìm kiếm, lùng vào khu của quân Taliban, đụng độ mạnh khiến sáu quân nhân Mỹ bị chết, mà không có kết quả gì. Một tháng sau, anh xuất hiện trên truyền hình như là tù binh của Taliban.

    Trong suốt 5 năm qua, chính quyền Mỹ qua nhiều trung gian, đã điều đình với Taliban để chuộc lại anh Bergdahl, nhưng không có kết quả gì vì Taliban yêu sách đòi thả những lãnh tụ cao cấp nhất của họ. Rồi bất thình lình chính quyền Obama công bố đã có thoả thuận và phải thi hành khẩn cấp. Anh Bergdahl được Taliban trao lại cho một toán LLĐB, trong khi 5 tên khủng bố được chở máy bay từ Guantanamo qua Qatar trao cho chính phủ tại đây. Theo điều kiện của Mỹ, 5 người này được tạm sống tại Qatar, một tiểu vương quốc vùng vịnh Ả Rập, nhưng không được ra khỏi xứ này trong một năm.
    Câu chuyện mới nghe thì không thể nào không thấy phấn khởi. Cứu được một quân nhân Mỹ khỏi tay bọn khủng bố phải là ưu tiên hàng đầu, không cần biết phải đổi lấy gì. Ai cần giữ vài tên khủng bố vớ vẩn làm gì.
    Nhưng coi vậy mà không phải vậy chút nào. Câu chuyện đã lại trở thành một khủng hoảng mới trong cái chính quyền gọi là đụng đâu đổ đấy.

    Trước hết, chính quyền Obama đã vi phạm nguyên tắc cơ bản là không bao giờ điều đình với khủng bố. Không phải vì lý do những tổ chức khủng bố không chính danh, không có tư cách nói chuyện, đòi hỏi hay yêu sách gì với chính phủ Mỹ, mà vì nguyên tắc nói chuyện và chấp nhận điều kiện của khủng bố chỉ khuyến khích họ xào nấu lại chiến thuật khủng bố. Quân khủng bố khắp nơi trên thế giới có thể sẽ tìm cách bắt cóc lính hay công dân Mỹ, kể cả khách du lịch, đòi trao đổi với tù binh khủng bố.
    Điều thứ nhì, cuộc mặc cả thương lượng đã đưa đến tình trạng chính quyền Obama trả một cái giá cực kỳ đắt. Khi mới loan tin trao đổi tù binh, chính quyền Obama cho biết anh trung sĩ Bergdahl sẽ được trao đổi với 5 tù trước đây là các “viên chức trung cấp” (mid-level officials) của Taliban. Sự thật hoàn toàn khác xa.
    Năm người này không phải là “viên chức trung cấp” gì mà trái lại là những lãnh tụ cao cấp nhất của Taliban mà quân đội Mỹ đã bắt được trong những ngày đầu đánh Afghanistan. Ở đây quý độc giả không có nhu cầu biết đến mấy cái tên Ả Rập rắc rối làm gì, chỉ cần biết:

    Số 1: Bộ Trưởng Nội Vụ Taliban, người chịu trách nhiệm chính sách độc tài sắt máu tàn bạo nhất của Taliban, đồng chí thân cận của Bin Laden.
    Số 2: Tham Mưu Trưởng quân đội Taliban, đang bị Liên Hiệp Quốc truy tố về tội ác chống nhân loại vì đã giết cả ngàn dân thuộc bộ tộc Shiites tại Afghanistan.
    Số 3: Thứ Trưởng Tình Báo Taliban, cũng là người phụ trách tình báo cho Al Qaeda.
    Số 4: Thống Đốc tỉnh Balkh, chỉ huy quân Taliban chống lực lượng Northern Alliance là đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến tại Afghanistan; ông này vừa tới Qatar đã tuyên bố sẽ trở về Afghanistan tiếp tục cuộc chiến chống Mỹ.
    Số 5: Thứ Trưởng Thông Tin của Taliban.

    Nhìn vào danh sách trên, không ai có thể nói những bộ trưởng, thứ trưởng, và tham mưu trưởng quân đội lại có thể là “viên chức trung cấp” được. Cả năm người này đều nằm trong danh sách “nguy hiểm nhất”, và họ cũng đã ở trong danh sách xin được chuộc lại bằng mọi giá của quân Taliban từ cả chục năm qua.
    Rất nhiều quan sát viên đã không dấu được ngạc nhiên khi nghe được cuộc trao đổi tù này. Cái giá mà chính quyền Obama trả cho việc lấy lại anh Bergdahl thật sự là quá cao, cao đến mức… khủng khiếp nếu ta nghĩ đến những chuyện những lãnh tụ khủng bố này có thể sẽ làm sau khi liên lạc được với các đồng chí. Tất cả đều là những loại sát thủ nặng ký với khả năng rõ ràng đã được chứng minh qua địa vị của họ trong chính quyền Taliban. TNS John McCain, trước đây ủng hộ ý kiến trao đổi tù, đã phải lắc đầu, không hiểu sao TT Obama có thể chấp nhận cái giá quá lớn như vậy.
    Đối với quân khủng bố, đây là một cuộc thương thảo lời quá to: một trung sĩ đổi lấy năm ông mà một vị tướng trong Ngũ Giác Đài đã gọi là “5 ông tướng 4 sao của Taliban”. Chỉ cần bắt cóc chừng hai ba chục lính hay du khách Mỹ là tất cả các tù khủng bố Guantanamo, các lãnh tụ Taliban, Al Qaeda sẽ trở lại chiến trường được hết. Một bài toán học sinh tiểu học cũng biết làm, nhưng không biết chính quyền Obama có tính ra không. Hay ông đã tính ra đó là cách hay nhất để đóng cửa trại Guantanamo như đã hứa hẹn?

    Phát ngôn viên Toà Bạch Ốc khẳng định những tù được thả ra là những thành phần không nguy hiểm. Nhưng chỉ một ngày sau, TT Obama tại Ba Lan nhìn nhận những tên này quả là những mối đe dọa có thể trở lại chiến trường giết lính Mỹ. Trống đánh xuôi kèn thổi ngược. Trong hai người tất có một người nói láo.
    TT Obama cũng tuyên bố những tên khủng bố sẽ bị kiểm soát kỹ. Nhưng ngay sau đó, một viên chức cao cấp Qatar đã cải chính, nói những tù được thả về Qatar sẽ được hoàn toàn tự do, chỉ không được ra khỏi xứ trong một năm thôi. Lại trống đánh xuôi kèn thổi ngược, và trong hai người lại có một người nói láo.
    Cho dù không được ra khỏi xứ thì đây cũng là chuyện vô nghiã. Họ chẳng có nhu cầu ra khỏi Qatar làm gì. Họ sẽ không trở về Afghanistan được vì sẽ bị chính quyền Afghanistan bắt ngay. Do đó, phải ở nước khác, thành ra ở Qatar hay bất cứ xứ Ả Rập nào khác cũng vậy thôi. Điều quan trọng là họ được tự do đi lại, liên lạc lại với các đồng chí khủng bố, tha hồ điều khiển tổ chức những cuộc tấn công khủng bố tại Mỹ hay tại bất cứ đâu khác.
    Anh Bergdahl là ai, tại sao bị bắt, cũng là một câu hỏi lớn.
    Bà Cố Vấn An Ninh Susan Rice, người đã từng được đưa ra lãnh đạn trong vụ đại sứ Mỹ bị giết tại Benghazi, đã lại một lần nữa bị mang ra làm con thiêu thân, giải thích cho thiên hạ. Bà ca tụng anh Bergdahl là một quân nhân gương mẫu đã phục vụ trong danh dự và với thành tích đặc biệt (served with honor and distinction), và xứng đáng với sự quan tâm của chính quyền Obama và cái giá phải trả.

    Ngay sau khi bà Rice lên tiếng thì một số quân nhân trước đây cùng đơn vị với anh Bergdahl đã lên tiếng tiếp theo ngay.
    Họ kể lại sáng hôm đó, khi điểm danh không thấy anh Bergdahl đâu, chỉ thấy quân phục được xếp ngay ngắn cùng đầy đủ súng ống, mũ sắt, áo giáp nơi giường của anh. Có nghiã là anh Bergdahl đã tự ý đi ra để bị bắt một cách yên ổn, không chống cự, không đánh nhau bắn nhau gì hết.
    Theo các đồng ngũ thì anh Bergdahl trước đó một thời gian đã công khai lên tiếng chống lại cuộc chiến Afghanistan, đã than “tôi lấy làm hổ thẹn là công dân Mỹ”. Theo họ thì anh Bergdahl thật sự đã đào ngũ, đi qua hàng ngũ Taliban, nhưng rồi không được họ chấp nhận. Việc đào ngũ của anh đã được Ngũ Giác Đài mạc nhiên chấp nhận khi việc truy tìm anh được đình chỉ sau vài tuần và kh tất cả các đồng ngũ của anh Bergdahl bị bắt ký giấy cam kết không tiết lộ chuyện anh Bergdahl đào ngũ. Đi xa hơn nữa, các quân nhân đồng ngũ còn đặt vấn đề anh Bergdahl đã phạm tội phản nghịch (treason) và đáng bị ra tòa án quân sự.

    Họ cho rằng vì sự phản phúc của anh Bergdahl mà ít nhất sáu quân nhân LLĐB đã bị thiệt mạng khi họ phải đi tìm anh. Gia đình các quân nhân bị thiệt mạng này đã lên tiếng yêu cầu TT Obama giải thích tại sao con em họ phải chết để đi cứu một tên phản nghịch, và tại sao bây giờ phải thả năm tên khủng bố nguy hiểm nhất để mang anh phản nghịch này về, lại còn được bà Rice tôn vinh như một anh hùng? Các con em bị chết của họ sao không được nhắc đến và tôn vinh? Tại sao TT Obama lại mời đón bố mẹ anh Bergdahl vào Toà Bạch Ốc như đón bố mẹ của một người hùng? Hình ảnh TT Obama tại Tòa Bạch Ốc bên cạnh bố của anh Bergdahl, râu ria xồm xoàm kiểu Taliban không lấy gì gọi là tạo cảm tình cho lắm.
    Sau khi mấy anh đồng ngũ lên tiếng, báo đối lập làm rùm beng, Bộ Quốc Phòng đành công bố tài liệu điều tra trước đây, cho thấy anh Bergdahl đã thực sự đào ngũ trước khi bị Taliban bắt.
    B
    áo New York Times cũng loan tin anh Bergdahl trước khi biến mất, đã để thư nhắn lại là anh “bỏ đi để làm lại cuộc đời mới” (leaving to start a new life).

    Foxnews cho biết nắm được tài liệu anh Bergdahl trong khi bị bắt đã đổi qua đạo Hồi và tình nguyện trở thành một chíến sĩ cho Hồi giáo (mujahid), được Taliban cấp súng cho nữa.
    Những chuyện này hoàn toàn đi ngược lại những ca tụng của bà Rice. Chỉ tội cho bà Rice này, suốt ngày bị lôi ra bắt phải nói láo trước thiên hạ, ca tụng một anh đào ngũ là đã “phục vụ trong danh dự”, chỉ khiến giới quân nhân phẫn nộ. Một nhà báo đã nhận định có lẽ đối với bà Rice và ê-kíp Obama, đào ngũ cũng chỉ như học trò trốn học thôi, có gì ghê gớm đâu?

    Bây giờ ta bàn đến chuyện hệ trọng hơn cả.
    Về mặt pháp luật, TT Obama đã vi phạm luật do quốc hội biểu quyết và chính tổng thống đã ký ban hành. Đó là điều luật bắt buộc Hành Pháp phải “thông báo” cho Lập Pháp trước 30 ngày về mọi cuộc di chuyển tù khủng bố tại Guantanamo. Trong cuộc trao đổi tù này, quốc hội đã chỉ được thông báo khi anh Bergdahl đã ngồi trên trực thăng Mỹ và năm tên khủng bố đã ngồi trên phi cơ bay đi Qatar. Không tới một ngày chứ đừng nói 30 ngày.
    Bộ trưởng Quốc Phòng Chuck Hagel giải thích vì nhu cầu cấp bách, tình trạng sức khỏe của anh Bergdahl bị nguy hiểm nên không có thời gian 30 ngày để thông báo. Giải thích này khó nghe vì anh Bergdahl đã bị bắt giữ 5 năm rồi, và cuộc thương thảo lai rai đã kéo dài từ hồi đó tới giờ, không có lý do gì bất thình lình tính mạng của anh Bergdahl bị đe dọa khẩn cấp như vậy. Tin mới nhất từ bệnh viện quân y Mỹ tại Đức cho biết anh Bergdahl đã được kiểm tra, mạnh khoẻ, không có gì đáng lo.

    Lời giải thích này nghe không lọt tai, nên chính quyền Obama đã đổi lại. Hôm Thứ Sáu vừa qua đưa lý do mới là không thông báo quốc hội được vì Taliban dọa sẽ giết anh Bergdahl ngay nếu chính quyền để lộ tin này ra công chúng. Lại một giải thích vô lý. Thông báo cho quốc hội không phải là thông báo cho công chúng. Cho dù lời giải thích này đúng sự thật thì có nghiã là chính quyền Obama đã hoàn toàn bị Taliban sỏ mũi đặt điều kiện mà không dám hó hé gì khác, đến độ phải vi phạm luật luôn. Đại cường?
    Chính quyền Obama bất ngờ thay đổi thái độ, chấp nhận trao đổi sau khi cò cưa cả mấy năm trời, rồi hấp tấp thi hành, “không kịp” thông báo quốc hội. Tại sao? Câu trả lời dễ dàng và rõ ràng là tất cả đều là chuyện… chính trị. Tất cả mọi hành động, mọi quyết định của chính quyền Obama từ những ngày đầu đến giờ, đều hoàn toàn bị yếu tố chính trị, lợi thế cá nhân của tổng thống chi phối. Chuyện trao đổi tù này cũng không khác gì.

    TT Obama bị vướng vào xì-căng-đan của Bộ Cựu Chiến Binh, bị tố là không giữ lời hứa cải thiện bộ này, để cả mấy chục cựu quân nhân Mỹ chết. Rõ ràng lơ là, không ngó ngàng đến các quân nhân Mỹ. Một thăm dò của báo phe ta Washington Post cho thấy 97% (!) dân Mỹ cho việc đối xử với cựu quân nhân là chuyện “đáng quan ngại”, 81% cho là TT Obama có trách nhiệm không nhiều thì ít, chỉ có 19% cho là TT Obama không có trách nhiệm gì trong vụ xì-căng-đan.

    Trước dư luận này, TT Obama bắt buộc phải làm một cái gì khẩn cấp để cứu vớt tiếng tăm, để chứng tỏ mình thực sự quan tâm đến các quân nhân, lái dư luận ra khỏi chuyện bối rối vừa qua. Ông mau mắn bất ngờ nhẩy lên tàu bay đi thăm lính Mỹ tại Afghanistan. Nhưng gặp thất bại lớn vì xì-căng-đan tên của ông trùm CIA bị tiết lộ, che lấp mất tin thăm lính. Phải nghĩ cách khác. Và đó là lý do tại sao chính quyền Obama thay đổi thái độ, chịu ngã giá với Taliban, vội vã trao đổi Bergdahl với năm tên khủng bố mà Taliban đã đòi hỏi từ cả chục năm nay. Để rồi có dịp khoe đã thi hành nhiệm vụ thiêng liêng, đặc biệt quan tâm đến các quân nhân, bằng mọi giá, kể cả vi phạm luật.

    Một vài nhà báo phe ta đã bênh vực quyết định của TT Obama, viện dẫn chuyện ông đã ký luật này với sự phản kháng. Theo thủ tục Hiến Pháp Mỹ, tổng thống nếu không đồng ý với một điều luật do quốc hội biểu quyết, mà không thể phủ quyết được, vẫn phải ký ban hành luật nhưng được ghi chú là tổng thống không đồng ý. Nhưng đây chỉ là một thủ tục giúp cho tổng thống có quyền lên tiếng bày tỏ quan điểm cá nhân thôi. Theo Hiến Pháp, tổng thống vẫn phải chấp hành luật.
    Ông Lanny Davis, cựu cố vấn pháp luật của TT Clinton, đã nhận định TT Obama đã phạm luật và cần phải giải thích cho rõ việc này.

    Một chuyên gia luật pháp của đài truyền hình phe ta CNN là ông Jeffrey Toobin, đã công khai nói thẳng trên đài là TT Obama đã vi phạm luật, cho dù nhìn bất cứ dưới khiá cạnh nào. Có thể đó là một hành động có tính nhân đạo khẩn cấp như Bộ Trưởng Hagel giải thích, nhưng không phải vì vậy mà trở thành hợp pháp. Vấn đề là tổng thống vi phạm luật thì chuyện gì sẽ xẩy ra? Ai truy tố tổng thống ra tòa? Chắc chắn không phải là ông Bộ Trưởng Tư Pháp, một thành viên của nội các Obama. Cũng chắc chắn không phải Thượng Viện khi phe ta nắm đa số. Thành ra mặc dù TT Obama vi phạm luật, nhưng có nhiều hy vọng sẽ bình chân như vại.

    Tại sao TT Obama lại vi phạm luật, qua mặt quốc hội? Tin mới nhất, Chủ Tịch Hạ Viện, dân biểu Cộng Hoà John Boehner cho biết cách đây hai năm, TT Obama có báo cáo cho quốc hội về chuyện điều đình với Taliban rồi, nhưng quốc hội đã không hưởng ứng ý kiến này. Bây giờ TT Obama vì cần giải pháp này nên đã bất chấp quốc hội để tự cứu mình.
    “Vấn đề lớn nhất mà chúng ta gặp phải hiện nay là George Bush càng ngày càng tìm cách dành quyền cho Hành Pháp, qua mặt quốc hội. Đó là điều tôi sẽ lật ngược lại nếu tôi là tổng thống”. Đó là nguyên văn lời tuyên bố của ứng viên Obama, ngày 31/3/2008. Bây giờ ta đã thấy TT Obama “lật ngược” như thế nào. Ông lật ngược lời hứa của mình chứ không phải lật ngược hành động của TT Bush.

    “Khi tổng thống làm một chuyện gì thì chuyện đó là hợp pháp”. Đó là lời biện minh của TT Nixon trong vụ án Watergate cách đây đúng 40 năm, trước khi bị ép từ chức. Giáo sư Jonathan Turley của Đại Học George Washington đã nhận định TT Obama chính là hình ảnh một tổng thống quyền thế mà Nixon mơ mộng nhưng không đạt được.
    Những biến chuyển gần đây cho thấy một tình trạng lạ lùng. Chưa có một chính quyền nào lại phải trải qua một giai đoạn thê thảm như chính quyền Obama hiện nay. Hết khủng hoảng này đến xì-căng-đan khác, đỡ không kịp, suốt ngày lo “kềm hãm tác hại” mà báo Mỹ gọi là “damage control”. Ngay cả hành động nhân đạo thật đáng hoan nghênh vì ai cũng đồng ý anh Bergdahl cần phải được cứu về, có thể đoàn kết dân Mỹ sau lưng tổng thống, tăng uy tín cho tổng thống, cuối cùng cũng trở thành một khủng hoảng, mà lại là khủng hoảng lớn nhất, vì cái giá phải trả quá đắt, tạo tiền lệ cho quân khủng bố hung hăng hơn, đe dọa đến an ninh của lính và dân Mỹ khắp thế giới, và đưa tổng thống vào việc làm chuyện phạm pháp. Tất cả để cứu một người chưa biết chắc có đáng cứu hay không.

    Càng ngày thì chính quyền Obama càng chứng tỏ là một chính quyền vừa thiếu khả năng vừa thiếu lương thiện, làm sai rồi lo nói dối quanh, tìm cách khỏa lấp, để rồi sai lầm lớn hơn nữa, rồi lại nói láo quanh. Vòng xoáy đưa tới… đàn hạch?

    Vũ Linh (08-06-14)

    Lannguyen xin chân thành cảm ơn Vũ Linhhttp://chungtoimuontudo2.wordpress.c...c-an-them-vao/
    Lannguyen

  16. #16
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Nên Đọc Cho Biết

    238 năm Độc Lập của Hoa Kỳ
    Andy Nguyen







    Quý vị có bao giờ nghĩ đến những bất trắc đã xảy đến cho 56 người ký tên vào Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 238 năm về trước?

    Năm người bị bắt bởi quân lính Anh quốc vì tội danh phản bội và bị tra tấn trước khi bị giết. Gia cư của mười hai người bị lục soát và đốt cháy rụi. Hai người có con bị tử thương khi phục vụ trong Quân Đội Cách Mạng, và một người khác có hai người con trai bị bắt thành tù nhân chiến tranh.

    Chín trong 56 người đã chiến đấu và tử thương trong Cuộc Chiến Cách Mạng chống lại Đế Quốc Anh để dành độc lập cho Hoa Kỳ. Họ đã ký vào bản Tuyên Ngôn Độc Lập, dâng hiến mạng sống, gia sản, và danh dự của họ. Họ là ai?

    24 người là luật sư hoặc là những chuyên gia về luật. Mười một người là thương gia, chín người là nông dân và chủ đồn điền. Họ là những người giàu có với trình độ học vấn cao, nhưng họ đã ký vào Bản Tuyên Ngôn Độc Lập mặc dù họ biết làm vậy là tự mang án tử hình vào mình nếu họ bị bắt.

    Ông Carter Braxton thuộc tiểu bang Virginia, một thương gia giàu có, đã chứng kiến tàu bè của ông bị hải quân Anh hủy diệt. Ông đã bán đi nhà cửa và tài sản để trả nợ và rốt cuộc chết trong sự nghèo nàn.

    Ông Thomas McKean bị ruồng bắt bởi quân đội Anh, và để tránh né, ông đã phải luôn di chuyển gia đình của ông. Ông đã phục vụ trong Quốc Hội Hoa Kỳ không lương, và gia đình của ông đã phải luôn trốn tránh bị bắt bớ. Mọi tài sản của ông đã bị tịch thu, và nghèo khổ là món quà cuối đời của ông.

    Gia cư và tài sản của các ông Dillery, Hall, Clymer, Walton, Gwinnett, Heyward, Rutledge, và Middleton đã bị lính Anh và kẻ cướp tước đoạt.

    Tại trận chiến ở Yorktown, ông Thomas Nelson, Jr. biết rằng nhà của ông đã bị Tướng Cornwallis của Anh Quốc chiếm đóng làm Trung Tâm Chỉ Huy. Vậy mà ông đã âm thầm khuyến khích Tướng George Washington nên khai hỏa. Nhà của ông đã bị hủy diệt, và rốt cuộc ông Nelson đã chết trong sự vỡ nợ.

    Gia cư và tài sản của ông Francis Lewis đã bị hủy diệt. Kẻ thù đã bắt bỏ tù vợ của ông, và bà ta đã chết vài tháng sau đó.

    Ông John Hart đã không thể kề cận bên người vợ dấu yêu khi bà ta trút hơi thở cuối cùng. 13 người con của ông ta đã phải bỏ trốn tìm đường sống. Ruộng vườn và đất đai phải bị bỏ hoang. Ông ta đã phải sống trong rừng rú và hang hốc hơn một năm trời, và khi trở về, vợ ông đã chết và con cái đã biệt tăm.

    Kính thưa quý đồng hương:

    Xin hãy dành ít phút trong ngày mừng lễ Độc Lập để cám ơn những nhà ái quốc này. Tôi nghĩ đây không phải là một đề nghị quá đáng khi chúng ta nhận chân được cái giá mà họ đã phải trả cho sự độc lập, tự do và phồn thịnh mà chúng ta đang thụ hưởng ngày hôm nay.

    Xin hãy luôn ghi nhớ: freedom is never free, tự do không phải là cho không biếu không! Là người Việt tị nạn Cộng Sản, hơn ai hết, chúng ta hiểu rõ giá trị của sự tự do. Nhân ngày lễ Độc Lập, chúng ta hãy ghi nhận ơn nghĩa của nhiều nhà ái quốc Việt cũng như Hoa Kỳ; nhờ họ, chúng ta mới có được sự sung túc của ngày hôm nay.

    Kính chúc quý vị một ngày lễ Độc Lâp và môt cuối tuần an vui, nhiều ý nghĩa!

    Andy Nguyen
    Commissioner
    Tarrant County, Precinct 2




    Lannguyen xin chân thành cảm ơn Andy Nguyen và http://www.tapchithegioimoi.com/tm.php?recordID=5287
    Lannguyen

  17. #17
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Nên Đọc Cho Biết

    HÃY CẢNH GIÁC: MẠNG XÃ HỘI VÀ NHỮNG TIỂU XẢO LÔI KÉO, ẢNH HƯỞNG NGƯỜI ĐỌC


    Ngọc Nhi Nguyễn

    30-6-2014




    Facebook vừa công bố kết quả 1 cuộc thí nghiệm khoa học trên FB . Họ đã âm thầm thay đổi thông tin mà 1 số nicks được chọn có thể đọc trong vòng nhiều ngày , sau đó theo dõi xem những thông tin đó có ảnh hưởng gì đến tư tưởng của những nicks đó qua những thứ họ đọc được không .


    Câu trả lời là CÓ ẢNH HƯỞNG RẤT LỚN !

    Ví dụ 1 người bị chắt lọc thông tin , trong nhiều ngày chỉ được đọc tin buồn thì trong những ngày sau đó người đó cũng viết stt buồn . Ngược lại người được cho đọc toàn thông tin vui thì trong những ngày kế tiếp cũng viết nhiều stt vui hơn .

    Chỉ " nhồi sọ " 1 người 1 cách âm thầm như vậy trong vòng vài ngày mà còn đem đến kết quả như vậy thì thử tưởng tượng 1 chính quyền , 1 xã hội có những chính sách nhồi sọ dân , bưng bít thông tin , chỉ cho nghe tin 1 chiều từ lúc mới sanh ra , suốt cả đời , từ thế hệ này qua thế hệ khác thì kết quả sẽ như thế nào ?

    Nhưng đây là sự vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất , vì nó ảnh hưởng đến tư duy suy nghĩ não bộ tâm tư tình cảm của con người , là những gì riêng tư và thiêng liêng nhất , khiến con người khác hơn con vật .

    Ngay trên FB này chúng ta nếu để ý cũng sẽ thấy nhiều FB cá nhân và cả các trang nhóm , sử dụng những chiêu thức nhồi sọ ngầm này .

    Họ sẽ sử dụng những tiểu xảo như dùng hình sexy , hình lạ , hình độc để dụ người vào đọc , sau đó nhiễu loạn thông tin bằng cách tung tin giả , tin không chính xác , tin giật gân ... Họ cho người đọc ăn bánh vẽ và những hy vọng , những niềm vui không thật , rồi kéo vào nhóm riêng tha hồ nhồi sọ những thứ khác mà họ muốn .

    Người VN vốn nhẹ dạ , cả tin , ít khi tìm tòi kiểm chứng suy nghĩ sâu xa , nên rất dễ bị lôi kéo và nhồi sọ kiểu này .

    Nhưng lập lại lần nữa đây là hành động vi phạm nhân quyền nghiêm trọng và đáng bị lên án . Người nào , tổ chức nào , đảng phái nào sử dụng những chiêu trò , tiểu xảo này đều không coi nhân quyền ra gì , và nếu họ mà có quyền lực trong tay thì cũng sẽ ác độc không thua gì CS .

    Ai muốn là người thay vì là cừu thì nên cảnh giác , và biết làm sao nhận ra những thủ đoạn lôi kéo
    , nhồi sọ này để không bị ảnh hưởng .

    http://www.avclub.com/article/facebook-tinkered-users-feeds-massive-psychology-e-206324


    Trí Nhân Media

    Lannguyen xin chân thành cảm ơn Ngọc Nhi Nguyễnhttp://www.trinhanmedia.com/2014/07/...hung-tieu.html
    Lannguyen

  18. #18
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Nên Đọc Cho Biết

    Vài ý kiến về việc nick [email protected] đòi xây tượng đài Việt Dzũng?

    Posted on June 14, 2014 by hoanglanchi
    Tự dưng một nick là "Thanh Nien Viet Khang thanhnien.vietkhang gửi bài viết lên net đề nghị xây dựng tượng đài Việt Dzũng. Nick này còn “láo lếu” ở chỗ dám ghi một số đoàn thể tổ chức vào với dòng chữ “sẽ tham gia”. Đây là một hình thức lừơng gạt những người đọc nhanh. Những người này sẽ ngộ nhận về các tổ chức trên.
    Tôi đang tự hỏi nick này dính líu gì với VT, với SBTN ( Trúc Hồ?)?
    Trả lời cho nick này có ông Bút Xuân, MT 68, Tâm Minh, LS Lê Duy San.
    Tôi hoàn toàn đồng ý với các vị trên về điều sau đây: Việt Dzũng là người chống cộng bằng khoảng 10 bài hát (?? tôi không nhớ rõ) và công trạng chưa đủ, chưa lớn so với nhiều người khác. Hãy để VD yên. Đừng ai lợi dụng cho ý đồ nào khác.
    Hãy lưu ý những nicks kiểu này.
    Hoàng Ngọc An
    *****************************************

    4-Ý kiến Lê Duy San
    Làm một bài HÁT chống Cộng cũng không khác gì viết một bài VIẾT chống Cộng. Có khác là nó được phổ biến rộng rãi hơn một bài viết.
    Việt Dũng đã làm nhiều bài HÁT chống cộng. Anh rất đáng VINH DANH.
    Nhưng VINH DANH anh bằng cách XÂY TƯỢNG ĐÀI VIỆT DZŨNG thì qủa thật đó là việc làm hết sức ngu xuẩn, nhất là lại bằng tiền thuế của dân chúng hay bằng tiền đóng góp của đồng bào. Bộ hết người để chúng ta xây tượng đài để vinh danh rồi hay sao? TRẦN VĂN BÁ, HÒANG CƠ MINH, Thiếu Tá Nguyễn Văn Viên, Trần Học Hiệu nguyên hiệu Trưởng trường trung Học Nguyễn Bá Tòng Saigon v.v…đã bị Việt Cộng lên án tửu hình vì đã dám dùng vũ lực chống đối chúng sau ngày 30/4/75. Tôi đồng ý với cụ Bút Xuân Trần Đình Ngọc, ở xứ tự do này, ai muốn làm gì thì làm, miễn không vi phạm luật pháp nhưng …


    Ý kiến MT68

    XÂY TƯỢNG VIỆT DZŨNG TRONG NHÀ KHÔNG SAO – CỨ XÂY =

    NHƯNG QUYÊN GÓP TIỀN TỴ NẠN ĐỂ XÂY THÌ LÀ 1 CÔNG VIỆC XỎ LÁ- NẾU VẬY SAU NẦY PHẢI XÂY TƯỢNG TRÚC HỒ, NAM LỘC, NGUYỄN NGỌC NGẠN, KỲ DUYÊN , DŨNG LỌ NỒI … VÔ LÝ NHƯNG KẺ NGU CỨ GÓP TIỀN THÌ CỨ XÂY … THÀNH MỘT LÀNG ĐỘI QUẦN TỴ NẠN CHO VUI./- Mt68

    2-Ý kiến Tâm Minh

    VIỆT DZŨNG hiến trọn cuộc đời tranh đấu cho quê huơng ,điều đó đáng vinh danh nhưng nếu xây tượng đài mà còn phải xin trợ cấp của chánh phủ thì có quá đáng không?
    Đối với dân Việt , 39 năm qua có rất nhiều người hy sinh cả tính mạng hoặc một phần đời trong lao tù , cũng đáng được vinh danh như Việt Dzũng.Không lẽ chúng ta xây tượng đài cho Việt Dzũng mà quên người khác .

    Đối với dân Mỹ , 39 năm qua cũng có biết bao chiến sĩ hy sinh chống khủng bố , chống độc tài khắp thế giới .Người Mỹ sẽ đặt câu hỏi nầy nọ hay không khi họ nhìn thấy tượng đài và tìm hiểu ra kết quả đạt được của Việt Dũng còn khá khiêm nhường ?
    Sao không đổi công trình xây tượng đài thành một trung tâm bảo tồn văn hóa Việt ,có thể đặt tên VIỆT DZŨNG cho trung tâm nầy hay là chúng ta có thể dành 1 phòng trong trung tâm đó để trưng bày thành tích đấu tranh của Việt Dzũng trong đó.
    Để có tiền trang trải cho việc bảo tồn trung tâm văn hóa , ban quản lý có thể cho thuê phòng hợp để các hội đoàn mướn chổ sinh hoạt : Ra mắt sách , thuyết trình , hợp mặt đồng huơng các tỉnh , sinh hoạt ái hữu binh chủng , huấn luyện võ thuật , tập văn nghệ….

    Thưa ,đây chỉ là ý kiến cá nhân. Miễn tranh luận.

    Lannguyen xin chân thành cảm ơn hoanglanchihttp://chungtoimuontudo2.wordpress.com/page/2/

    Tẩm bảng tên đường cho Việt Dzũng không đúng-Nam Lộc Trúc Hồ cũn g không đúng trong thông cáo mới gửi

    Posted on June 19, 2014 by hoanglanchi

    Xin gửi quý bạn coi mail từ GS Huỳnh Chiếu Đẳng:

    1-Cái bảng tên đường Việt Dzũng chưa hề có. Bàn tay lông lá nào đã làm chuyện này? người rảnh rỗi? VT? Cảm tình viên của SBTN?
    2-Thông cáo ký chung của Nam Lộc-Trúc Hồ cũng sai. 2 ông này báo cáo là dự luật đã thông qua. Trên thực tế, chưa thông. Hai người này làm truyền thông, có luật sư mà sao hành động như vậy? Nhằm mục đích gì?
    Xin tất cả lưu ý: mỗi khi có việc gì, hãy cẩn thận:
    -không tin vội. Nghĩa là không tiếp tay "hồ hởi, phấn khởi": quyên tiền góp bạc cho bọn đầu nậu hay bọn chuyên lường gạt người quốc gia khi lợi dụng lăn ranh quốc cộng cho mưu đồ cá nhân.
    -không chửi bới vội vì có khi bàn tay lông lá đã cố tình làm thế để người quốc gia đọc nhanh, hiểu sai, hiểu lộn rồi chửi chiến hữu phe ta.
    -luôn coi chừng photoshop biến đổi mọi thứ.
    Xin cảm ơn GS Huỳnh Chiếu Đẳng. Nhờ có những người như giáo sư mà các ông cựu quân nhân yêu nước, các bà vợ quân nhân không tiếp tục bị những "kẻ nào đó" gạt tiền, che dấu dưới cái dù "chống cộng".
    Hoàng Lan Chi

    *****************************************
    From Huỳnh Chiếu Đẳng:

    Kính thưa quí bạn

    Tôi không thích bàn những chuyện liên hệ tới chánh trị chỗ đông người, nhưng vi thấy chuyện có một chút xíu mà nói gà nói vịt, tôi cắt cánh hai ba "con vịt chánh trị" một hơi luôn trong cái email nầy. Nếu sau nầy thiên hạ sửa tới sửa lui (edit thêm bớt) email của tôi thì các bạn đọc bản PDF kèm đây để thấy nguyên bản tôi viết thế nào (đâu nhân đây các bạn edit thử cái PDF attached coi sao). Tôi muốn nói chuyện về Cố Nghệ sĩ Việt Dzũng. Qua hệ thống email và webpage có hai chuyện không thật trong vụ nầy: Về tấm ảnh tên đường và về thông báo của SBTN (cả hai có chuyện không đúng).

    Chuyện thứ nhất: Tấm ảnh tên đường là do ai đó dùng Photoshop hay software vẽ theo ý mình theo ý đồ. Mới nhìn tôi thấy ngay, sai tiêu chuẩn. Vậy mà nhiều (nhiều) vị cứ cải rằng đó là bảng thật. Do vậy tôi tìm ra tấm ảnh thật để thấy người ta edit từ đó. (Nói riêng vối tác giả làm ra tấm bảng giả: "Nè bạn, tui nói bạn nghe, lần sau có làm giả thì bạn nên học một chút xíu về tiêu chuẩn của Mỹ đi nghe. Bạn thiếu kiến thức phổ thông mà bày chuyện gạt người. Bạn tưởng bạn dùng Photoshop giỏi làm ra hình như thật gạt được người sao?".
    Bảng giả: Sai tiêu chuẩn Mỹ, thấy biết liền ngay dưới đây:





    Và nó sinh ra từ tấm trên nầy.
    Và tấm nguyên thủy chụp ở Fresno, các bạn so mây trên trời, giây điện và hình dáng các gợn mây trắng, biết liền ba tấm chụp cùng lúc không xê xích một giây:


    Chụp ở Fresno County.

    Hẳn chắc các bạn cũng phải khen tôi một câu, làm sao mà truy được tấm hình gốc phải không:
    Có rồi đây:
    From: Hien Tran [mailto:hienmuszyaan]

    Sent: Thursday, June 19, 2014 9:31 AM
    To: huy017
    Subject: Re: [quanvenduong] Tam bang goi lai day du (neu truc tiep khong thay hinh thi xem attachment Ms Word
    Mặc dầu hơi thừa nhưng vẫn xin gửi đến Giáo Sư lời cảm phục vì những sụ truy tập dữ kiên này cho số Đông những người nhẹ da thương hay dễ tin, thiếu nhân xét, va đồng thời xin lên án những người ăn không ngồi dồi làm những chuyện phá hoại Cộng đồng để cho lũ CS nó cười chứ chẳng ích lợi gì.
    Một lần nữa cám ơn Giáo Sư.
    Tnh
    ====
    2. Chuyện thứ hai là đài SBTN ra thông báo không đúng sự thật.
    Đài nầy nói là
    đã thông qua Đạo Luật SCR#85, thưa quí liệt vị. Chưa thông qua đâu. Bạn tôi vừa gọi phone tới văn phòng thượng nghị sĩ Lou Correa, và được trả lời như dưới đây, qua email của bạn tôi:
    (bắt đầu trích — >)
    From: thuc trinh [mailto:xgathngocthuc]
    Sent: Thursday, June 19, 2014 10:46 AM
    To: Nhom Ban Dxxxx
    Subject: Không đoán mò : Tin chính xác về bảng hiệu tên đường Việt Dũng.
    Tôi vừa nói chuyên với cô Quyên Trần văn phòng thượng nghị sĩ Lou Correa ,người bảo trợ dự luật ,và 1 số bạn đã và đang hoạt đông cho dự luật này:
    1) Dự luật mới được thông qua tại Thượng viện nhưng Hạ viện chưa thông qua, nên như tôi đã nói : vẫn chỉ là là dự luật.
    2) Tuy rằng bảng hiệu không tốn qúa nhiều tiền nhưng là 1 vấn đề lớn nên cá nhân hay một nhóm không được thưc hiện ,người thực hiện bảng hiện mà phải là Caltrans.
    3) Vì là vấn đề lớn nên khi treo bảng phải làm lễ treo bảng dự đoán rất đông người Việt tham dự chứ không dấm dúi treo nên. Xin thông báo đến anh chị tin chính xác này. (< — hết trích)

    HCD: Các bạn thấy cái chi không? Chuyện cái bảng lại thiếu kiến thức, nào là quyên góp nào là bạn bè Việt Dzũng chung góp không gọi tới người ngoài, sai hết trơn, đọc câu số 2.
    Còn câu thứ ba quá đúng, nhà nước làm lễ tưng bừng không âm thầm rời chụp hình gởi qua email. Vả lại không chỉ mo565t tấm duy nhất mà sẽ có rất nhiều tấm do nhiều người gởi đi.

    Khổ quá bắt vịt thuốc men và kiến thức phổ thông hoài đã mõi tay, nay bắt "con vịt chánh trị" nầy càng mệt hon nữa vì có nhiều người ghét.
    Và đây bàn tay lông lá của ai đây???


    ==========
    Và đây là thông báo của SBTN, có chỗ chưa đúng là nói được thông qua, so với cuộc gọi phone sang nay của bạn tôi nói chuyện trực tiếp với văn phòng thượng nghị sĩ Lou Correa (gọi sáng nay 19-Jun-2014):
    SBTN sai chỗ nầy (bắt đầu trích — >) Thượng Nghị Viện Tiểu Bang California với số phiếu tuyệt đối, đã chấp thuận đạo luật SCR#85 (< — hết trích)

    Thưa chưa thông qua theo cuộc nói chuyện qua phone


    Trích nguyên văn thông báo của SBTN qua email như sau:

    (bắt đầu trích — >)

    Thông Cáo Báo Chí Của Đài Truyền Hình SBTN và Gia Đình Cố Nhạc Sĩ Việt Dzũng

    16/06/201414:35:00(Xem: 409)
    Ngày 01 tháng 05 năm 2014 vừa qua, Thượng Nghị Viện Tiểu Bang California với số phiếu tuyệt đối, đã chấp thuận đạo luật SCR#85 đặt tên cho một đọan của đại lộ Beach (State Highway Route 39 ), nằm trong quận hạt Orange County (California) là “Việt Dzũng Human Rights Memorial Highway”.

    Các nghị sĩ tiểu bang California xác định Đạo Luật SCR#85 là nhằm vinh danh và ghi nhận những đóng góp cho cộng đồng, ngành truyền thông cùng các nỗ lực tranh đấu bảo vệ nhân quyền, đặc biệt cho Việt Nam, của cố nhạc sỹ Việt Dzũng.

    Nhưng ngay sau đó đã có những thong tin sai lạc được phát tán trong cộng đồng và trên một số diễn đàn kêu gọi đóng góp tài chánh để xây dựng cái được gọi là “Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Dzũng”
    Để tránh mọi xuyên tạc cùng sự hiểu lầm, đồng thời để bảo vệ danh dự cho cố nhạc sĩ Việt Dzũng, chúng tôi xin được trình bầy và minh xác một số điểm sau đây:

    1. Đạo luật SCR#85: “Việt Dzũng Human Rights Memorial Highway” được đề nghị và chấp thuận là do nhã ý của một số quý vị dân cử tiểu bang California đã có những sinh họat gần gũi với nhạc sĩ Việt Dzũng trong lãnh vực truyền thông, bảo vệ lý tưởng Tự Do, Dân Chủ, Quyền Con Người và các cuộc vận động lập pháp. Không có hoạt động nào của các tổ chức người Việt, cá nhân hay gia đình nhạc sĩ Việt Dzũng đã tranh đấu họăc vận động cho dự luật này.
    2. Theo truyền thống vinh danh của Thượng Viện Tiểu Bang California, khi một công dân có thành tích phục vụ cộng đồng nhận được vinh dự này thì “mọi phí tổn của công trình dựng bảng tên đường sẽ do tư nhân bảo trợ chứ không cần phải sử dụng đến ngân sách của tiểu bang để hòan thành”.
    Đài truyền hình SBTN cùng với Radio Bolsa và một số thân hữu của cố nhạc sĩ Việt Dzũng đã hãnh diện và tình nguyện đóng góp cho tòan bộ chi phí của dự án “Việt Dzũng Human Rights Memorial Highway”. Chúng tôi không tổ chức bất cứ cuộc gây qũy nào và gia đình cố nhạc sĩ Việt Dzũng cũng không phải trả một khỏan chi phí nào cho kế họach này.
    3. Gia đình cố nhạc sĩ Việt Dzũng và đài truyền hình SBTN HÒAN TÒAN KHÔNG ĐƯỢC HỎI Ý KIẾN CŨNG NHƯ KHÔNG BIẾT GÌ VỀ CUỘC VẬN ĐỘNG GÂY QŨY XÂY DỰNG “TƯỢNG ĐÀI CHIẾN SĨ VIỆT DZŨNG” như thông tin đã được phát tán của nhóm người lấy tên là “Thanh Niên Việt Khang” (xin xem email đính kèm bên dưới).
    Chúng tôi khẳng định “không biết họ là ai và cũng không liên hệ đến bất cứ quyết định nào, nếu có, của 26 đòan thể và tổ chức cộng đồng” được nhóm này nêu tên ở Thông Báo của họ.
    4. Gia đình cố nhạc sĩ Việt Dzũng và đài truyền hình SBTN xác quyết: KHÔNG HỀ CÓ Ý ĐỊNH XÂY DỰNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM NHẠC SĨ VIỆT DZŨNG. Ngòai ra, từ ngày 26 tháng 12 năm 2013 văn phòng Luật Sư Đỗ Hiếu Liêm, đại diện cho Bà Quả Phụ Việt Dzũng, nhũ danh Bebe Vũ Hòang Anh, đã có thông báo đính kèm minh thị:

    “Mọi quyên góp về tiền bạc trực tiếp hay gián tiếp ở mọi nơi chốn, địa điểm điểm qua bất cứ cá nhân hay đoàn thể dưới mọi danh nghĩa, lý do liên hệ đến chồng tôi ĐỀU KHÔNG ĐƯỢC SỰ ĐỒNG Ý và CHẤP THUẬN của chúng tôi. Khi còn sống, anh hết lòng hy sinh cho Chính nghĩa Quốc gia, Dân tộc. Khi chết anh cũng không muốn nhận bất cứ đóng góp gì của bất cứ ai.”

    5. Đài truyền hình SBTN và cá nhân chúng tôi là Trúc Hồ đều không biết tổ chức “Thanh Niên Việt Khang” là ai.

    Chúng tôi CỰC LỰC LÊN ÁN VÀ TỐ CÁO TRƯỚC DƯ LUẬN VIỆC LÀM BẤT CHÍNH CỦA NHÓM NGƯỜI VẬN ĐỘNG GÂY QŨY XÂY “TƯỢNG ĐÀI CHIẾN SĨ VIỆT DZŨNG” ĐÃ GHÉP NHẠC PHẨM “ĐÁP LỜI SÔNG NÚI” DO CHÚNG TÔI SÁNG TÁC VÀO HÌNH ẢNH CỜ ĐỎ SAO VÀNG, HỒ CHÍ MINH VÀ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN ĐỂ XUYÊN TẠC VÀ TUYÊN TRUYỀN CHO CHẾ ĐỘ CSVN.


    Chúng tôi kêu gọi đồng hương hãy cảnh giác, đề phòng và ngăn chặn mọi âm mưu gây hoang mang, lợi dụng và chia rẽ cộng đồng người Việt hải ngọai trong giai đọan hiện nay.

    Chúng tôi cũng đã nhờ luật pháp can thiệp để chấm dứt các hành động phi pháp nói trên.

    Làm tại Orange County , California , ngày 15 tháng 6, 2014
    Nhạc sĩ Trúc Hồ ………………………………………… ……Bebe Vũ Hòang Anh
    Tổng Giám Đốc ………………………………………… ……..Qủa phụ cố nhạc sĩ Việt Dzũng
    Đài Truyền Hình S.B.T.N.

    Q.V&K.L.
    (< — hết trích)

    Tui thấy sao nói vậy người ui!!!, còn chuyện ntra81ng đen chờ hạ hồi phân giải.
    Nếu buồn thì vào kho Quán Ven Đường rinh thực phẩm về ăn uống trà, còn muốn đừng bị "vịt ta vịt tây vịt tàu" và "thầy lang vit" gạt, có khi mất mạng, thì vào đây mà xem nguyên bầy vịt
    HCD (19-Jun-2014)


    Nhà Kho

    Quán Ven Đường

    Xin quí bạn hiểu cho rằng bằng hữu tin cậy mà hỏi, tôi biết chi nói nấy, cũng giống như
    ngày xưa ngồi trước bàn cà phê lề đường tán chuyện trên trời dưới đất cùng bằng hữu.

    ***
    Lannguyen xin chân thành cảm ơn hoanglanchi , Nhà Kho
    Quán Ven Đườnghttp://chungtoimuontudo2.wordpress.com/09/07/2014
    Lannguyen

  19. #19
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Nên Đọc Cho Biết

    Người Việt hải ngoại làm gì cho dân tộc?

    Phạm Chí Dũng
    Tiền không là tất cả

    Người Việt hải ngoại có thể làm gì cho dân tộc?

    Một câu hỏi quá khó nhưng lại quá dễ để dẫn dụ. Những quan chức với khuôn mặt mỡ màng như Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Nguyễn Thanh Sơn, trong vài lần xuất cảnh ra hải ngoại làm công tác “kiều vận,” đã không bao giờ lãng quên năng khiếu dẫn độ hơn một chục tỷ đô la kiều hối hàng năm từ 4 triệu rưỡi “kiều bào ta.”
    Nhưng lại vẫn là nỗi đau đáu ngày càng tha thiết của phần lớn trong số 4 triệu rưỡi con người trên: “Chúng ta có thể làm gì để cứu nguy hiện tình đất nước?” Với nhiều người trong số họ và hoàn toàn dị biệt với nhãn quan của giới lãnh đạo Hà Nội, tiền không phải là tất cả.

    Tiền không là tất cả, cho dù chính tiền mới là ưu thế mạnh mẽ nhất của cộng động người Việt phủ khắp các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Canada, Úc, Ðức, Pháp và cả Ðông Âu, Bắc Âu..., so với tình cảnh nghèo rớt mùng tơi của đại đa số thành viên thuộc phong trào đấu tranh lớn lao đòi dân chủ và nhân quyền quốc nội.

    Vậy là cùng với làn sóng kiều hối và đầu tư về nước, bà con Việt kiều cũng bằng nhiều cách chuyển tiền cho những hoàn cảnh khó khăn của anh em dân chủ quốc nội. Hoạt động này chủ yếu mang tính tương thân tương ái chứ không nhằm mục tiêu “lật đổ chế độ” như chính quyền Việt Nam vẫn thường nghi ngờ một cách quá thiên về cảm tính.

    Nhưng có lẽ chỉ sau thời điểm năm 2007, khi Việt Nam chính thức được chấp tham gia vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) và mối quan hệ Việt-Mỹ bắt đầu khái thác chiều sâu, sự hỗ trợ về tài chính của người Việt hải ngoại mới chuyển hóa hơn cho các nhóm dân sự độc lập đang manh nha hình thành trong nước. Một trong những tiêu điểm của xã hội dân sự vào thời gian đó là Khối 8406.

    Quy luật tăng trưởng xã hội dân sự đã kéo theo gia tốc ủng hộ của người Việt hải ngoại. Ðặc biệt từ đầu năm 2013 khi một phong trào dân sự chưa từng thấy ở Việt Nam là “Kiến Nghị 72” phát lộ, các nhóm hoạt động dân chủ và nhân quyền ở hải ngoại đã như bừng tỉnh. Cùng với xu hướng tái lập quan hệ Việt-Mỹ, mỗi tháng người ta đều nhận ra rằng tình thế chính trị đang dần chuyển biến. Thậm chí những người Việt hải ngoại lạc quan nhất còn cho rằng đang và sẽ là một vận hội mới cho dân tộc.

    Trở lại với sứ mệnh “kiều hối” và “hòa hợp” của Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Thanh Sơn và một số quan chức Việt Nam. Sau những chuyến kiều vận chính thức lẫn không chính thức của họ ở hải ngoại, một số Việt kiều nằm trong “danh sách đen” bỗng dưng được nhà nước Việt Nam chấp thuận cho về thăm quê hương. Tuy vẫn bị giám sát khá chặt chẽ bởi các cơ quan an ninh từ cấp trung ương đến địa phương, những Việt kiều bất đồng chính kiến nhưng có vẻ may mắn như thế đã không còn cảm nhận bầu không khí quá tù túng như trước đây. Và nếu Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế lần đầu tiên từ năm 1975 được chấp thuận đặt chân đến lãnh thổ Việt Nam vào đầu năm 2013, thậm chí còn được đặc cách thăm hỏi một số tù nhân lương tâm, hẳn người ta có thể hình dung ra một ít cơ hội đang hé mở.

    Lẽ đương nhiên, cơ hội và vận hội càng lớn thì tiền chuyển về càng nhiều và càng có mục đích hữu dụng hơn. Tuy nhiên như đã đề cập, tiền không phải là tất cả. Kể từ Tháng Bảy, 2013 khi diễn ra sự kiện ông Trương Tấn Sang - chủ tịch nước - mang cả một bản sao lá thư của ông Hồ Chí Minh gửi Tổng Thống Mỹ Harry Truman vào năm 1946 để trao cho Tổng Thống hiện hữu Barak Obama, không khí giao thoa ngoài-trong càng xáo động. Giới hoạt động dân chủ và nhân quyền hải ngoại càng có dịp để nghiền ngẫm một cách sâu sắc hơn về việc đã đến lúc cần làm một số việc nào đó để khích lệ cho phong trào dân chủ quốc nội, hơn là chỉ có tiền.

    Ðối thoại và tranh biện

    Quả thật, quy luật phát triển ảnh hưởng của xã hội dân sự bằng hiệu ứng truyền thông trên thế giới vẫn luôn có thể áp dụng cho Việt Nam. Nếu 2011 có thể được coi là thời điểm truyền thông xã hội, hay còn gọi nôm na là “lề trái,” bắt đầu phát triển ở Việt Nam, cho đến nay hệ thống truyền thông này đã nghiễm nhiên trở thành phương tiện chủ công chuyển tải thông tin từ trong nước ra quốc tế. Những điểm đến thường xuyên của thông tin dân chủ và nhân quyền trong nước vẫn là các đài Việt ngữ quốc tế như BBC, VOA, RFA, RFI. Và tuy cho tới nay hệ thống báo chí người Việt hải ngoại chưa thực sự đóng một vai trò đủ lớn trong mối quan hệ với truyền thông xã hội trong nước, nhưng một số tiền đề liên kế thông tin cũng đã được khởi động.

    Trên cả phương thức biểu tình, hoạt động nối kết truyền thông có lẽ mới mang lại một tinh thần mặc khải có sức lan tỏa hữu hiệu nhất. Hình thúc hội luận, trao đổi giữa hải ngoại và trong nước ngày càng phổ biến hơn. Tháng Sáu, 2014, lần đầu tiên một giáo sư có uy tín của Học Viện Quốc Phòng Úc là Carl Thayer đã nhận lời tham gia chương trình hội luận với một nhân vật bất đồng chính kiến trong nước và với một đài người Việt hải ngoại là SBTN Úc Châu. Lẽ đương nhiên, sự xuất hiện đồng thời và có thể đồng cảm giữa giới học giả tên tuổi quốc tế với những nhân vật đấu tranh có tính tư tưởng của quốc nội sẽ dần mang lại một tư thế đồng đẳng cho phong trào dân chủ trong nước với chính thể Hà Nội.

    Lồng trong xu hướng một số diễn đàn tự do ngôn luận trong nước đang chuyển từ online sang offline theo cách “đưa nghị quyết vào đời sống,” những cuộc tọa đàm và hội luận của người Việt ở các nước với giới dân chủ quốc nội có lẽ là hình thức thích hợp nhất mà giới truyền thông hải ngoại có thể chung tay. Còn hơn cả thế, trong một xã hội dân sự ngày càng mở rộng và ranh giới giữa “lề phải” và “lề dân” càng lúc càng phải mờ nhạt, đã dần xuất hiện một số nhân vật trí thức và thậm chí cả chính khách đương chức trong giới cầm quyền Việt Nam tỏ ra muốn “đối thoại” với truyền thông quốc tế và có thể cả truyền thông hải ngoại. Dĩ nhiên, đây chính là một cơ hội không chỉ về mặt thông tin mà còn nhằm xúc tác cho mục tiêu “xích lại gần nhau” trên tinh thần đối thoại và tranh biện thật sự.


    Và đương nhiên, chính những hoạt động tạo tranh luận về thông tin trên sẽ hỗ trợ đắc lực hơn cho hành động điều trần do các nhóm người Việt hải ngoại liên tiếp tổ chức ở các nghị viện Hoa Kỳ, Canada, Úc và Châu Âu. Ai cũng biết rằng chính sách quốc tế vận sẽ không thể đạt hiệu ứng trọn vẹn nếu giới vận đông quốc tế không chủ động tạo ra không khí đối thoại và đặc biệt hướng tới đối thoại với giới quan chức nhà nước - những người có thể chiếm khoảng 50% trong giới chức điều hành đang ít nhiều đảo mắt tìm kế sinh lộ nơi phương Tây.

    Cũng bởi chính trị Việt Nam có thể thay đổi, thậm chí đảo lộn chỉ trong vài ba năm nữa...

    P.C.D.
    Nguồn: nguoi-viet.com
    Được đăng bởi bauxitevn

    Lannguyen xin chân thành cảm ơn Phạm Chí Dũnghttp://boxitvn.blogspot.com/2014/07/...-toc.html#more
    Lannguyen

  20. #20
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Nên Đọc Cho Biết

    Mùa hè ở những quốc gia Tự Do và Dân Chủ (Hoa Mai Nguyen)

    Hoa Mai Nguyen








    "...Đất nước của họ là một quốc gia tự do và dân chủ, xã hội văn minh và lịch sự, mức sống cao, con người được hưởng tất cả những điều cơ bản của một con người. Nhìn thấy đất nước họ phát triển vững mạnh và bền vững mà tôi chạnh lòng nghĩ tới quê hương tôi..."






    Vào mùa hè, tất cả mọi người ở những quốc gia tự do và dân chủ trên thế giới nói chung, và nước Đức nói riêng là mùa đi du lịch ở đây đó, để con người biết thêm thế giới bên ngoài. Mùa này cũng là dịp du khách đến các nơi vui chơi giải trí, khách sạn, và siêu thị ở các thành phố lớn trên thế giới có thêm phần thu nhập không nhỏ. Cũng lúc này đây, ở nước Đức, nơi tôi đang sinh sống và làm việc, hễ đi đâu, hay bất cứ đến nơi nào gặp được người quen đồng hương hay người bản xứ, người ta đều hỏi han với nhau rằng: “Hè này đi du lịch ở đâu, hoặc là đi du lịch nước nào. Gia đình tôi đang định cư ở nước Đức, nên cũng hưởng được những điều đó. Đất nước của họ là một quốc gia tự do và dân chủ, xã hội văn minh và lịch sự, mức sống cao, con người được hưởng tất cả những điều cơ bản của một con người. Nhìn thấy đất nước họ phát triển vững mạnh và bền vững mà tôi chạnh lòng nghĩ tới quê hương tôi.


    Quê hương tôi đã bao năm qua, vẫn là một đất nước với chế độ độc tài và đảng trị, chẳng đổi thay gì cả. Cái đói, cái nghèo khổ và lạc hậu vẫn bám chặt vào người dân trên quê hương tôi. Và ngày đêm vẫn phải gồng mình lên để sống, dưới một chế độ cộng sản nghèo nàn
    Quê hương tôi, vẫn còn đói nghèo lắm bạn ơi.
    Bát cơm manh áo, vẫn xoay quanh tháng ngày.
    Du lịch đâu có, đi đâu.
    Tiền ăn chẳng đủ, huống gì đi chơi
    Xăng, nhà, điện ,nước, tăng cao.
    Bao nhiêu thứ tiền đó, đã muốn nổ tung cái đầu.
    Vì đâu có cảnh nghèo nàn?
    Nhà thì sơ xác chẳng ra cái nhà
    Trẻ em đói rách lang lang.
    Lang thang đường phố kiếm ăn hàng ngày
    Người già ốm yếu quanh năm.
    Quanh năm bệnh tật, ốm đau trên giường.
    Thanh niên trai tráng quê tôi.
    Học xong bằng nọ, bằng kia.
    Nay bằng vứt xó, đi làm xe ôm
    Có Anh to khỏe, béo bền.
    Đi làm xây dựng, xây lên thiên đường.
    Thiên đường chủ nghĩa quê tôi.
    Với nhiều chính sách toàn là hại dân
    Chị em phụ nữ vùng quê.
    Ruộng nương bị mất, kéo nhau lên thành đô kiếm tiền
    Nghề nghiệp chẳng có, học hành chẳng cao.
    nhiều cô không đẹp không xinh.
    Làm nghề rửa bát, quét nhà, lao công.
    Có cô có ngực, có mông.
    Làm nghề trị liệu mát xa kiếm tiền
    Mát xa làm cả cave.
    Làm cả hai việc đó, mới đủ tiền nuôi người nhà ở quê


    Trước tình hình đất nước ta, với chế độ độc tài, độc đảng, làm cho đất nước ta vẫn đi lùi bước về phía sau, đã có một khoảng cách quá xa với những quốc gia dân chủ trên thế giới nói chung, và một số nước Đông Nam Á nói riêng, chúng ta là những người Việt, chúng ta nghĩ gì? Và có trách nhiệm gì với quê hương và tổ quốc?


    Theo cá nhân tôi nghĩ không có lúc nào, bằng lúc này đây, mọi người chúng ta hãy chung tay, góp sức và xây dựng lại quê nhà. Xin đừng ích kỷ với bản thân, và vô cảm với chính quê hương và dân tộc mình.

    Tôi vẫn nhớ câu của Tổng Thống Kennedy: đừng bao giờ đòi hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta, mà chính chúng ta phải hỏi lại bản thân mình đã là được gì cho quê hương và tổ quốc.


    Vì tương lai con em chúng ta, và để ngày mai quê hương chúng ta được tươi sáng, con người được ấm no và hạnh phúc, xã hội công bằng và văn minh, chúng ta hãy đoàn kết một lòng, cùng đứng chung trên con đường đấu tranh để xóa bỏ chế độ độc tài đảng trị, thay thế vào đó là một chế độ tự do và dân chủ, xã hội công bằng và văn minh
    Ngày 25/7/2014
    Hoa Mai Nguyen

    Lannguyen xin chân thành cảm ơn Hoa Mai Nguyenhttp://www.ethongluan.org/index.php?...=70&Itemid=301
    Lannguyen

Page 1 of 2 12 LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •