Page 2 of 2 FirstFirst 12
Results 21 to 32 of 32

Thread: Con Sóng Dữ - Phạm Thắng Vũ

  
  1. #21
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 39 Times in 30 Posts

    Default Re: Con Sóng Dữ - Phạm Thắng Vũ

    (tiếp theo)

    Như đã kể ở các phần trước, tại Galang ngoài chuyện lấy cắp vặt quần áo phơi ngoài dây, cắt trộm bầu bí trên giàn thì hầu như không có vụ nhập nha nên nhiều căn nhà và thậm chí ngay cả ở các tiệm, quán bán hàng dù cửa nẻo gia chủ chỉ khóa sơ sài nhưng vẫn yên ổn. Một đời sống tương đối an bình trong khung cảnh thiếu thốn làm tôi ngạc nhiên. Chưa biết sau này khung cảnh sống trong trại Galang sẽ ra sao nhưng hiện tại được như vậy cũng là điều đáng mừng trong một khối tập thể người Việt tứ xứ sống tập trung xô bồ ở đây. Ai cũng nghĩ nếu người nào mà làm bậy để police bắt được thì sẽ ảnh hưởng đến hồ sơ định cư và chính nhờ vậy nên đã chùn tay đám người xấu. Quán cà phê của bác sĩ Luân cũng thế, ông bận làm việc tại nhà thương nên đành khóa trái bỏ mặc khi vắng nhà trong suốt buổi sáng. Không lo chuyện trộm cắp nhưng dẫu sao có anh Khảm đến mượn quán làm chỗ dạy học vẫn hơn là để không người coi nên ông Luân gật đầu liền. Có điều tuy ông Luân không nói nhưng anh Khảm cũng biết là phải có trách nhiệm đến sớm để dọn dẹp căn phòng chính của tiệm để có chỗ dạy học. Ly, tách khách bỏ lại cùng vụn tàn thuốc vương vãi trên mặt bàn và sàn phòng đều phải được dọn dẹp thật nhanh rồi anh còn phải sắp xếp kê lại bàn ghế, đặt tấm bảng đen sao trông cho ra một cái lớp trước khi các học trò đến. Dạy xong buổi học rồi thì anh Khảm còn phải dọn dẹp, kê trả các bàn ghế vào chỗ cũ nữa. May cái 3 cô gái cùng Đỉnh đã phụ giúp anh Khảm làm các việc này và đổi lại, anh sẽ dạy học miễn phí cho cả đám 4 người họ.

    Lớp Anh ngữ của anh Khảm đã bắt đầu mở ở quán cà phê Dạ Lý trong các ngày thứ Hai, Tư và Sáu từ đầu tháng và anh chỉ dạy mỗi buổi từ 9:00 cho đến 10:30 là tan. Hồi còn bên quê nhà, tôi biết anh Khảm chưa lần nào dạy học vậy mà ở đây, vì việc mưu sinh khi tạm dung và chiều theo nhu cầu cần biết Anh ngữ của người tị nạn nên anh đã trở thành một teacher dễ dàng từ khả năng English của bản thân.

    - Em biết đó, anh làm thầy giáo bao giờ đâu vậy mà thử dạy Anh ngữ một thời gian ngắn thì lớp anh đã có khá đông người theo học. Chính cái thời gian tu nghiệp tại Mỹ đã khiến anh dạy đàm thoại dễ dàng và thực sự anh chỉ có khả năng đến thế thôi. Anh chỉ nói khái quát chút văn phạm nhưng chú ý nhiều về đàm thoại vậy mà người ta lại thích. Có lẽ, người theo học nơi lớp của anh chỉ mong sao trong thời gian ngắn thì họ có thể đàm thoại những câu ngăn ngắn là đủ, anh Khảm thố lộ với riêng tôi.

    Một buổi sáng ngày thứ Sáu, tôi theo chân 3 cô gái cùng Đỉnh đến lớp Anh ngữ của anh Khảm xem cho biết. Cái phòng mà khách mỗi tối đến ngồi quán uống cà phê, xem TV giờ được anh Khảm dùng làm lớp dạy Anh ngữ trông cũng ổn. Bàn ghế được vần thêm từ ngoài sân vào mới đủ chỗ và anh chia lớp học thành từng nhóm ngồi riêng các bàn tùy theo trình độ từng người để họ vừa học vừa kèm cặp lẫn nhau. Người theo học trong lớp anh Khảm nếu gọi chung bằng hai chữ học trò thì thật ngại miệng vì ngoài những số tre trẻ như Đào, Bẩy hay Yến... thì có những người chỉ nhìn mặt không, cũng biết tuổi họ còn phải lớn hơn cả anh Khảm nữa. Coi như xí xóa chuyện xưng hô trong lớp học vì ai cũng hiểu đến được trại tị nạn thì chuyện phải lo trước mắt là chuyện thanh lọc rồi trang bị kiến thức để chuẩn bị bước vào sống trong một xã hội khác ở nước thứ ba nào đó và biết tiếng Anh là một trong những điều họ cần phải có. Mối quan hệ với nhau, nếu có thì khi chia tay đi định cư rồi cũng sẽ phôi pha theo thời gian. Anh Khảm cũng hiểu chuyện anh dạy họ học Anh ngữ như là việc người đã biết chỉ dẫn cho người chưa biết biết nên ai gọi anh bằng chữ thầy hay chỉ là anh, anh chẳng quan tâm.

    Ở đảo tị nạn Galang qua tới tháng thứ hai thì phòng P3V gọi barrack chúng tôi đi chụp hình để làm thẻ ID tạm dung. Trừ con nít đi với cha mẹ thì tất cả người trong ghe đều có thẻ mang số thứ tự theo vần ABC. Ghe chúng tôi mang số CL 135 và là ghe thứ 366 đến trại tị nạn Galang. Thời gian sống ở bên Malaysia thì phòng P3V ở đây không tính đến. Họ chỉ tính khi ghe cập vào một chỗ nào đó như đảo hay cảng và tiếp xúc được với chính quyền địa phương Indonesia nước họ. Vì vậy, dù ghe 233 người đến Malaysia sau nhưng vì họ cập vào cầu tàu Tanjung Pinang trước chúng tôi nên họ đã mang số thứ tự 365. Cứ ghe nào đến trước thì Cao Ủy sẽ thanh lọc trước và như vậy, ghe 233 người sẽ nằm trong danh sách thanh lọc trước ghe CL 135 chúng tôi. Hàng số CL 135 in trên thẻ ID mang nghĩa là ghe khởi hành từ Cửu Long và chở tổng cộng 135 người. Ghe 233 người mang số VT 233 vì họ ra đi từ bãi biển Vũng Tàu. Cái thẻ ID của những người đến sau ngày Cao Ủy tuyên bố đóng cửa chỉ khác với thẻ của thuyền nhân đến trước ngày đó ở hàng chữ Asylum Seeker (người tìm nơi tạm trú) thay cho Refugee (người tị nạn). Có thẻ tạm dung rồi thì người trong ghe chúng tôi mới có thể viết thư gửi đi cho thân nhân và nhận thư đến trại. Dù là chiếc thẻ mỏng manh nhưng cầm nó trên tay, ai nấy trong barrack đều mừng vì đã qua được một khúc ngắn của đoạn đường tị nạn còn dài thăm thẳm trước mặt. Nhưng cũng có người khi thấy con số thứ tự trên thẻ đã than:

    - Ghe mình mang số 366 thì không biết đến khi nào mới gặp được Cao Ủy phỏng vấn đây. Trời hỡi!.

    Ông Thăng và Tám Kiệt thì an ủi nói là đừng để ý đến thời gian thì sẽ thấy nó qua rất mau.



    Thẻ ID Tạm Dung của Phạm Thắng Vũ khi sống tại trai tị nạn Galang.

    Đỉnh và 3 cô gái học Anh ngữ rất chăm, khi rảnh rỗi thì họ đều lấy bài ra học và có nhiều bữa vì lo làm bài tập để nộp nên đã bỏ hẳn chuyện đi ra quán ngồi bù khú như trước. Theo lời giới thiệu từ 3 cô gái, trong barrack đã có thêm ít người đến học Anh ngữ của lớp anh Khảm. Khung cảnh trong barrack thật vui khi nghe tiếng hỏi thăm bài vở mới học được của nhau và chỉ duy nhất một người muốn cắp sách đi học Anh ngữ nhưng lại không thể. Đó là Thuận, tài công của ghe.

    Chàng ngư phủ trẻ tuổi nầy chỉ nói nhưng lại không thể đọc cũng như viết tiếng mẹ đẻ vì thời gian ở bên quê nhà, Thuận chỉ biết đến biển. Thật tội! Đành phải chờ Cao Ủy xây xong khu giáo dục cho người tạm dung thì khi đó Thuận mới có thể bắt đầu khởi sự việc học tiếng... Việt chung với các trẻ em trước rồi sau đó anh chàng mới nghĩ đến chuyện học Anh ngữ sau.

    Một buổi tối khi cùng anh Khảm vào quán cà phê Sài Gòn thì có một người đàn ông ngồi sẵn ở cái bàn lộ thiên gần bờ rào vẫy tay và cất tiếng gọi hai chúng tôi. Anh Khảm kéo tôi đến bàn của người đàn ông đó. Ông ta, nhìn mặt, tôi đoán tuổi đã ngoài sáu mươi nhưng trông còn nhanh nhẹn, có vẻ chịu chơi qua bộ dạng và y phục quần soọc ngắn với áo thun bó, đi giầy cùng vớ dài. Da ông ta xạm đen, khuôn mặt khắc khổ, đầu hơi hói nhưng tóc lại để dài nên trông có vẻ kỳ quái. Ông ta mỉm cười, thân mật nói giọng miền Bắc với anh Khảm:

    - Lúc này thế nào? Nghe nói anh mới mở thêm lớp ở chỗ anh Luân phải không? Dạy nhiều như vậy tiền sao tiêu hết? Tiếp máu cho anh em với chứ!

    - Cũng vẫn như thường thôi, mở lớp mới chỗ anh Luân thì tôi lại bỏ mấy chỗ cũ ngoài Galang 2. Dạy nhiều sao mà lết mà soạn bài được hả anh, còn phải giữ sức gìn sức khỏe nữa chứ. Anh Khảm trả lời.

    Anh Khảm giới thiệu với tôi người đàn ông đó tên là Bửu, cùng binh chủng không quân với anh và sau đó cả hai người họ xoắn lấy nhau trò chuyện về các tin thời sự đang nghe trong trại. Tôi ngồi yên nhìn ra phía bên ngoài quán nơi người Việt kéo nhau đi lên đi xuống thành từng nhóm dạo mát. Chợt tôi thấy một người đàn ông khá lớn tuổi cùng đi với một cô gái trẻ tóc dài ngang lưng lướt qua trước mắt. Trông hai người họ có vẻ quen quen, dường như tôi đã gặp mặt ở lần nào đó. Người đàn ông miệng hút thuốc lá còn cô gái cầm một gói đồ trong tay như vừa từ một tiệm tạp hoá nào đó đi ra. Anh Khảm và ông Bửu cũng thấy hai người này khi cả hai bỏ dở câu chuyện đang nói. Đang cố lục lọi ký ức thì tôi nghe tiếng ông Bửu:

    - Lúc vào thanh lọc anh gặp lão phải không?.

    Anh Khảm gật đầu xác nhận rồi hỏi lại:

    - Sao lão nói sõi tiếng Việt quá vậy hả anh Bửu?.

    Ồ! Tôi đã nhận ra hai người họ rồi, papa Phước và cô gái tên Hướng đây mà.

    - Anh biết tại sao lão lại nói tiếng Việt sõi như vậy không?, ông Bửu trả lời rồi ngừng lại chốc lát để hớp một ngụm cà phê sữa nóng và kéo thêm một hơi thuốc lá trước khi kể tiếp sau làn khói trắng.

    - Lão nói sõi tiếng Việt là vì đã từng ở Việt Nam khá lâu anh à. Đúng ra, lão bị Việt Cộng giam tới 7 năm trời đó anh. Chính vì đã bị tù lâu như vậy nên lão rất rành về dân mình, nước mình.

    Bị Việt Cộng bỏ tù 7 năm trời, tai tôi có nghe lầm không. Papa Phước là sĩ quan Indo nhưng sao lại bị Việt Cộng bỏ tù. Nguyên do và sự việc đó xẩy ra khi nào? Giọng ông Bửu khàn khàn nói quá nhỏ so với tiếng ồn của dàn máy nhạc trong quán nước làm tôi phải kéo ghế ngồi sát lại để nghe cho rõ. Anh Khảm cũng ngồi im chờ nghe chuyện ông Bửu sắp kể.

    - Tôi bắt đầu bằng cái gì về lão papa Phước nầy đây?

    Ông Bửu khẽ nhắm mắt như đang hồi tưởng lại câu chuyện và ngay sau đó ông mở mắt ra nhìn hai chúng tôi rồi kể bằng cái giọng đều đều:

    - A! Chúng ta phải trở lại thời điểm của tháng Giêng năm 1973 khi mà hoà ước Paris về ngưng chiến tại miền Nam VNCH ra đời trước đã. Có một điều khoản hay chương gì đó trong bản hoà ước quy định phải thành lập ngay một ủy ban quốc tế nhằm kiểm soát và giám sát việc thi hành của các phía chính quyền liên quan. Hình như là Chương 6, nếu tôi nhớ không lầm. Có 4 nước là đại diện cho cái ủy ban quốc tế nầy gồm 2 nước thuộc phe CS là Ba Lan, Hung Ga Ri và 2 nước bên phe tự do là Canada, Indonesia. Lão papa Phước nầy đã đến Việt Nam trong thời gian đó và tên thật của lão là Suriahdy chứ không phải cái tên Phước như chúng ta thường nghe gọi ở đây. Các anh còn nhớ các xe hơi và máy bay trực thăng UH với các vạch sơn mầu cam hoặc hàng chữ ICCS bên thân trong thời kỳ đó không?

    Ông Bửu ngừng nói trong giây lát rồi không đợi chúng tôi trả lời câu hỏi mà lại kể ngay:

    - Đó... đó! Ký hiệu dành riêng cho các xe hơi, máy bay mà cái ủy ban quốc tế nầy sử dụng trong các chuyến đi kiểm tra cùng giám sát việc thi hành các điều của bản hoà ước. Họ sơn các vạch mầu cốt để phân biệt với xe cùng máy bay của chính quyền miền Nam VNCH.

    Ông hắng giọng, nói liền một hơi:

    - Theo lời kể của lão papa Phước thì một trực thăng UH chở toán nhân viên ICCS trong chuyến bay con thoi từ thủ đô Sài Gòn đến thành phố Lộc Ninh công tác đã bị trục trặc máy móc và phải đáp khẩn cấp xuống một cánh rừng. Lộc Ninh, chỗ này trước đây thuộc tỉnh Bình Long và rất gần biên giới Việt-Kampuchia, thì đã thành thủ đô của đám Việt Cộng sau khi chúng chiếm được vào năm 1972. Máy bay vửa đáp xuống đất thì đám Việt Cộng trong rừng xồ ra bắt hết cả từ phi công cho đến các nhân viên trong đoàn công tác. Lão Phước là nhân viên của phái đoàn Indo trong chiếc trực thăng đó.
    Khi còn ở bên Indo thì lão đã biết bập bẹ chút tiếng Việt nên mới được chính quyền Jakarta tuyển làm nhân viên cho phái đoàn nhưng có ngờ đâu đó cũng là nguyên do khiến lão bị Việt Cộng bắt tù oan uổng. Khi đám Việt Cộng xuất hiện, ỷ mình là nhân viên của Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên nên lão đã xổ tiếng Việt với bọn khỉ. Đoàn nhân viên ICCS bị áp giải vô rừng được vài ngày thì Việt Cộng phải trả tự do cho toàn bộ người đi trong chiếc trực thăng nhưng chỉ giữ lại riêng mình lão. Bọn khỉ khăng khăng quả quyết lão là sĩ quan miền Nam VNCH giả dạng nhân viên Indo để hoạt động gián điệp. Dù hết hơi thanh minh bằng tiếng Việt rồi cả với tiếng Bahasa (ngôn ngữ Indo) nhưng bọn Việt Cộng vẫn không tin lời lão nói. Chúng đã tống lão vô tuốt hậu cứ nằm sâu trong rừng rồi sau đó, chuyển lão ra ngoài miền Bắc luôn.

    - Chuyện kỳ vậy! Bộ phái đoàn Indo không biết Việt Cộng bắt lầm người của họ sao? Họ có phản kháng không? Anh Khảm nóng nẩy hỏi.

    - Chắc chắn phải có chứ!

    Ông Bửu chậm rãi tiếp:

    - Tôi cũng hỏi lão Phước câu nầy. Ừ... ừm...

    Rồi sau đó ông Bửu hắng giọng lấy hơi:

    - Lão kể sau khi được bọn Việt Cộng trao trả tự do, về tới thủ đô Jakarta rồi thì mới biết rõ mọi chuyện. Đó là khi đám nhân viên quốc tế trong chiếc trực thăng UH được bọn Việt Cộng thả về Sài Gòn, phái đoàn Indo không thấy mặt lão đã phản kháng ngay với đám Cộng Sản Bắc Việt cùng Việt Cộng ở trại Davis trú đóng trong phi trường Tân Sơn Nhứt về vụ bắt giữ phi pháp nhân viên họ. Lúc đầu bọn khỉ đại diện trong trại Davis chối biến nói là không có lão trong chuyến bay đó rồi thấy phái đoàn Indo làm dữ thì chúng liền đánh bài vờ, nói sẽ cho điều tra các đơn vị Việt Cộng đóng quân trong vùng và trả lời sau. Thế rồi các chuyển biến của thời cuộc miền Nam VNCH đến quá nhanh trước các vi phạm của bọn Cộng Sản Bắc Việt, Việt Cộng miền Nam cũng như sự làm ngơ đồng loã của 2 thành viên phái đoàn Ba Lan, Hung Ga Ri nên đã vô hiệu hóa công việc của Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên và họ phải giải tán vào ngày 30-4-1975. Thế giới lưu tâm đến các việc mới và rồi ngay cả chính phủ Indo cũng... quên luôn chuyện mất tích của lão Phước. Thế mới đau! Lão thực sự thành một tù nhân gián điệp của miền Nam VNCH với cái tên Phước do chúng gán cho.

    - Trời! Thật không ngờ. Tiếng anh Khảm đột ngột thốt ra cắt lời kể của ông Bửu.

    - Bị tù y như các sĩ quan miền Nam VNCH khác sau ngày phe Việt Cộng chiếm được thủ đô Sài Gòn, lão Phước bị Việt Cộng chuyển qua nhiều trại giam cho đến khi tình cờ kết bạn được với một thẩm sát viên cảnh sát chế độ cũ trong tù. Rồi viên cảnh sát được thả tù và sau đó, ông ta liền vội gửi ngay một lá thư cho tòa đại sứ Indo ở Hà Nội biết về câu chuyện của lão Phước. Toà đại sứ Indo nhận được thư, liền báo tin cho Bộ Ngoại Giao nước họ biết và rồi sau các trao đổi giữa hai quốc gia, chuyện ngồi tù của lão papa coi như kết thúc. Xe của Bộ Nội Vụ CS Việt Nam đến tận trại giam đó gọi lão ra rồi chở lão về lại Hà Nội để gặp mặt các nhân viên tòa đại sứ Indo trước khi đáp máy bay hồi cố quốc.

    Kể đến đây, ông Bửu im bặt rồi đảo mắt nhìn chăm chú khá lâu ở phía bên ngoài quán, thấy vậy, tôi cùng anh Khảm liền nhìn theo và kìa, papa Phước cùng cô gái trẻ tóc dài ngang lưng đang rảo qua trước mắt. Họ đi ngược với chiều đường ban nãy, chắc cả hai vừa ghé vào đâu đó rồi bây giờ quay về. Papa Phước và cô gái tay trong tay bên nhau, vừa đi vừa trò chuyện trông rất tình dù tuổi tác cả hai thật chênh lệch. Ông Bửu quay lại nhìn hai chúng tôi, khẽ cười mỉm rồi hỏi:

    - Không biết lúc nằm trong trại giam Việt Cộng, có khi nào lão ta nghĩ ngày nào đó sẽ vớ được một em bé xinh như mộng, thơm như mít này không? Đã thế, lão lại vừa có quyền vừa có chức nữa chứ! Thật tình, cuộc đời không ai có thể ngờ trước được.

    Dứt câu, ông Bửu châm thuốc lá hút, ngả dựa lưng vào thành ghế và ngước mặt nhìn lên bầu trời. Tôi và anh Khảm nhìn nhau, mỗi người theo đuổi các ý nghĩ riêng trong đầu về câu chuyện của lão papa Phước vừa mới nghe được. Đột nhiên anh Khảm lên tiếng:

    - Anh nói sao chứ tôi thấy không lẽ cả một thời gian dài như vậy mà Jakarta lại để yên. Anh kể hồi Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên còn hoạt động thì phái đoàn Indo họ cũng đã phản kháng mà... , nhưng anh chưa nói dứt câu thì ông Bửu đã khoát tay ra cử chỉ chận lại không cho tiếp nữa rồi ông ta ngồi thẳng dậy, nhìn anh Khảm và nói:

    - Thật ra chuyện papa Phước kể nó không ngắn ngủi như vậy. Khi vừa gặp mặt các viên chức trong tòa Đại sứ Indo ở Hà Nội thì lão ta đã nộ khí xung thiên làm dữ vì nghĩ họ đã không chịu dùng quyền ngoại giao để can thiệp và kéo lão ra khỏi trại giam. Phải ở trong tình cảnh bị giam giữ vô cớ lâu năm, ta mới thấu nỗi niềm khi lão nổi cơn giận dỗi đó. Nhưng thật không ngờ, các viên chức trong tòa đại sứ không ai biết chút mảy may gì về chuyện lão bị Việt Cộng bắt giữ trong ngần ấy năm trời nếu như không có lá thư do viên sĩ quan cảnh sát thông báo. Khi lê tấm thân về được thủ đô Jakarta, papa Phước quyết tìm cho ra lẽ tại sao chính phủ Indo lại bỏ mặc lão trong trại giam Việt Cộng. Lão đã tìm đến bộ Quốc Phòng rồi cả bộ Ngoại Giao để gặp mặt những người liên can và lục xem các phúc trình cùng tài liệu thì lão mới biết được sự thật trong câu chuyện bản thân đã bị Việt Cộng bắt giam năm xưa. Thì ra phái đoàn Indo trong Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên cũng như chính quyền Jakarta đã gặp một bối rối trong việc phản kháng với phe Việt Cộng về chuyện bắt giữ phi pháp lão papa.

    - Sao kỳ vậy! Nhân viên của mình trong nhiệm vụ được cộng đồng quốc tế ủy thác kiểm sát và giám sát việc thi hành hiệp định lại bị Việt Cộng bắt giam phi pháp, rõ ràng chính phe Việt Cộng đã vi phạm hiệp định ngay cả với nhân viên của phái đoàn quốc tế. Phản kháng là chuyện đương nhiên mà sao họ lại bối rối? Anh Khảm hỏi lại.

    - Ậy! Vậy mới có chuyện. Ông Bửu ngừng kể để vất bỏ mẩu tàn thuốc lá và mồi ngay một điếu mới thay thế.

    (còn tiếp)

  2. #22
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 39 Times in 30 Posts

    Default Re: Con Sóng Dữ - Phạm Thắng Vũ

    (tiếp theo)

    Nhìn ông Bửu rít thuốc rồi thả khói thành một vòng tròn thật đẹp, tôi thầm nghĩ ông ta đã khá lớn tuổi nhưng nếu cứ cái kiểu hút thuốc liên tục như vầy thì sẽ làm hại đến sức khỏe không ít. Ông có lo lắng đến điều đó không hay biết mà không thể bỏ được?

    Ông Bửu quay lại nhìn anh Khảm và tiếp:

    - Bọn Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam tức cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng gì gì đó... tuy 2 nhưng thực sự chúng là một. Cái này, người Việt mình đến đứa con nít cũng biết nhưng cộng đồng thế giới thì lại khác. Một thời gian dài trước đây, cộng đồng thế giới cứ nghĩ Cộng Sản Bắc Việt và bọn Mặt Trận Giải Phóng là 2 thực thể chính trị không hề có can hệ gì với nhau. Họ bị lừa... bị lừa dài dài như vậy chỉ cho đến vài năm sau ngày phe Việt Cộng bức tử miền Nam VNCH thì mới tỉnh ngộ nhưng lúc đó thì cục diện đã rồi. Phái đoàn Indo năm đó cũng thế, dù đã phản kháng với các gã đại diện phe Việt Cộng là Hoàng Anh Tuấn và Võ Đông Giang tại các buổi họp ở trại Davis nhưng họ lại không rõ thực sự phe nào của Việt Cộng đã bắt giữ lão papa Phước. Cộng Sản Bắc Việt hay Việt Cộng miền Nam? Khi nghe phái đoàn Indo phản kháng chuyện bắt giữ phi pháp nhân viên mình trong các buổi họp thì phe Việt Cộng nào cũng lẩn tránh trách nhiệm, đánh bài vờ làm như không phải do binh lính thuộc quyền đã hành động. Papa Phước bị mất tích trong vùng lãnh thổ thuộc miền Nam Việt Nam nên phái đoàn Indo không thể ra kháng thư với Cộng Sản Bắc Việt được dù chính phủ nước họ đã có quan hệ ngoại giao cấp đại sứ từ năm 1964. Sự việc cứ dậm chân tại chỗ cho đến khi chính quyền miền Nam VNCH bị bức tử trong ngày 30-4-1975. Thời điểm tiếp theo thì Jakarta vẫn chưa thể phản kháng theo thông lệ quốc tế vì họ vẫn chưa có mối quan hệ ngoại giao với cái gọi là chính phủ Cộng Hòa miền Nam Việt Nam khi đó. Anh biết cái bọn gọi là chính phủ Cộng Hòa miền Nam Việt Nam chỉ được có số ít các nước trong khối Cộng Sản quốc tế thừa nhận thôi và thực sự thì Jakarta không thèm biết đến bọn này. Rồi, cái chính phủ Việt Cộng miền Nam đó lại biến mất ngay sau thời gian cầm quyền ngắn ngủi vì bọn đầu lãnh Cộng Sản Hà Nội thấy không còn cần đến bọn tay sai này để làm bình phong che mắt thiên hạ như trước nữa. Trong nước Việt, không ai lạ chuyện hạ màn đột ngột này nhưng thế giới vẫn còn trong màn hỏa mù. Họ không hiểu và chính quyền Jakarta cũng vậy khi tự đặt câu hỏi chủ nhân thật sự của nước Việt là ai? Chính phủ Indo bối rối và có lúc họ cũng đã tin về một phúc trình cho rằng papa Phước không có mặt trong chuyến trực thăng UH năm đó nên đành xếp hồ sơ của lão papa lại cho đến khi có tin báo về từ tòa đại sứ nước họ ở Hà Nội.

    - Kể ra cha papa Phước tốt số đã gặp được người bạn tù có tình chứ nếu không có lá thư báo tin thì tòa đại sứ Indo làm sao biết mà can thiệp. Anh Khảm chen vào.

    - Đúng! Papa Phước nói với tôi rằng suốt đời lão không bao giờ quên người bạn tù đó và rất mong có ngày sẽ gặp lại. Ông Bửu trả lời.

    - Ồ! Không biết lão ta có bị bọn Việt Cộng bắt làm... tự khai hay bản kiểm điểm nhận tội như cánh sĩ quan VNCH mình không anh? Anh Khảm thắc mắc.

    - Không hề!

    Ông Bửu lắc đầu, trả lời cộc lốc rồi sau đó tiếp:

    -Như vậy, rõ ràng bọn Việt Cộng biết lão Phước là nhân viên Indo tuy lão kể ở những buổi đầu tiên, bọn Việt Cộng khăng khăng cho lão thuộc sắc dân Chàm hay người Việt gốc Khmer mà thực sự mình nhìn vẻ bề ngoài thì lão trông cũng giông giống thật. Mà này! Không thể ngờ chuyện của lão papa đã xảy ra phải không các anh? Ngay tôi, nếu không được nghe chính miệng lão Phước kể ra thì cũng chẳng tin. Lão hỏi tôi tại sao phái đoàn Indo đã phản kháng rồi phe Việt Cộng cũng biết nhân thân thực của lão mà sao họ vẫn không thả tự do? Thời điểm đó, phái đoàn Indo trong cung cách ngoại giao thì vẫn cho việc cầm giữ papa Phước là một sự hiểu lầm và nghĩ cách giải quyết sự vụ rất đơn giản nhưng phe Việt Cộng vẫn không làm. Theo anh, anh trả lời thế nào?.

    - Tụi nó nghi là bắt, lỡ bắt rồi biết lầm nhưng không thả... Có bao giờ bọn Việt Cộng nhận trách nhiệm chúng làm đâu. Anh Khảm lập cập đáp.

    - Đúng! Nhưng không đơn giản như anh nghĩ vậy đâu.

    Ông Bửu trả lời rồi tiếp:

    -Cộng Sản Bắc Việt hay Việt Cộng miền Nam thì thằng nào khi làm cái gì cũng sa sả cái mồm là vì nước vì nhân dân mà thực ra chỉ vì đảng vì bác hoặc vì các toan tính điên cuồng của chúng thôi. Trong chuyện của lão papa Phước, nếu đúng thật lão là gián điệp miền Nam VNCH giả dạng nhân viên phái đoàn Indo để hoạt động thì khi bắt được, thằng Việt Cộng nào cũng to họng để tranh công nhưng khi biết đã bắt lầm nhân viên phái đoàn quốc tế rồi thì tên nào tên nấy đều lẩn tránh trách nhiệm và đó cũng là cái may cho lão Phước. Không nhận trách nhiệm đã gây ra, cả hai phe Cộng Sản Bắc Việt lẫn Việt Cộng miền Nam đã cố tình để mặc lão sống trong tù, coi như không có lão trên đời. Chúng nghĩ rồi thời gian sẽ giết lão nhanh chóng và như thế là xong của nợ. Tôi thấy bản thân mình hay cả như anh mà bị Việt Cộng bắt giam như tình cảnh của lão Phước thì sẽ phát điên là cái chắc.

    - Đúng! Mà ở tù lâu như vậy, hèn chi lão papa nói tiếng Việt sõi quá. Anh Khảm gục gặc cái đầu, thừa nhận.

    - Thì vậy! Anh biết là người mình mỗi khi vào thanh lọc gặp được papa Phước thì đâu có cần phải có mặt cha Ô Ma hay thằng Sari Mun thông dịch cho đâu. Lão phỏng vấn thẳng bằng tiếng Việt. Mà nầy, tôi có nhận xét là papa Phước hình như có vẻ thiện cảm với người vượt biên mình nhất là với những ai từng bị Việt Cộng bỏ tù cải tạo. Tôi nhớ anh nói đã gặp lão papa hôm thanh lọc phải không? Vậy hồ sơ anh ngon rồi, hy vọng tràn trề. Ông Bửu mỉm cười sau câu nói.

    - Anh biết lúc tôi vào gặp lão papa như thế nào không?

    Anh Khảm nói với ông Bửu nhưng đảo mắt nhìn sang cả phía tôi rồi tiếp lời:

    - Cứ nghĩ lão sẽ hỏi mình các chuyện hồi còn ở trong tù cải tạo như bị quản giáo bắt lao động ra sao? Phải nộp bao nhiêu cây tre mỗi ngày? Hoặc lão sẽ hỏi về chuyện ăn uống, thuốc men... như mình đã nghĩ đã chuẩn bị trước câu trả lời trong đầu. Ngờ đâu, chẳng hề có như vậy. Khi đám thiện nguyện viên trật tự gọi tên rồi dắt vào phòng thì đã thấy lão papa ngồi sẵn tại bàn đang đọc bản khai của tôi. Lão xem tới xem lui các trang giấy khá lâu rồi đưa mắt nhìn tôi và bảo cứ tự thân kể chuyện bị tù cải tạo ra cho lão nghe. Lúc đó, tôi rất ngạc nhiên vì không ngờ lão ta nói rất sõi tiếng Việt, y như người mình. Tôi từ từ kể lại những giai đoạn bị tù cải tạo và lão ngồi yên lặng nghe mà chỉ đôi lúc gật gù đầu. Cuối buổi thanh lọc thì lão papa chỉ nói tôi phải giữ gìn sức khoẻ khi sống ở đây đã làm tôi mỗi lần nhớ lại mà vẫn có lúc lo lắng vì thái độ của lão. Nay được nghe anh kể chuyện về lão papa, tự dưng đã làm làm tôi bớt lo.

    Ông Bửu đột nhiên nhìn chằm chằm vào tôi và anh Khảm rồi nói:

    - Thực ra bọn Việt Cộng ngoài việc tránh né trách nhiệm khi lỡ tay bắt lầm lão Phước thì còn một lý do khiến chúng đã không thủ tiêu lão cho xong chuyện, các anh biết tại sao không?.

    Anh Khảm, tuy là một quân nhân miền Nam VNCH nhưng khi nghe câu ông Bửu hỏi mà vẫn bí nên đành ngồi thừ tại chỗ. Còn tôi, tất cả lời ông Bửu đã kể liên quan đến chuyện về papa Phước như bản Hiệp Định Paris, Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên rồi trại Davis... đều lạ lẫm vì trong thời điểm quá khứ đó, tôi chỉ là một thiếu niên nào biết gì khác ngoài việc học hành. Tôi luống cuống và đành giương mắt ếch ngồi yên chờ nghe. Thấy hai chúng tôi im lặng, ông Bửu cười thỏa mãn rồi tiếp:

    - Bọn Việt Cộng, nhất là cái đám đầu lãnh ở Hà Nội thì đều một lũ kiêu căng, ngạo mạn dù thực lực của chúng cũng chỉ dựa vào bọn Cộng Sản đàn anh là Nga Xô và Tàu Cộng. Tuy thế, trí não chúng vẫn coi các nước lân bang như Malaysia, Thái Lan, Nam Dương... chẳng ra cái thớ gì. Chúng có cái tham vọng là sẽ thôn tính toàn thể khu vực Đông Nam Á trong chiến lược nhuộm đỏ toàn cầu của khối Cộng Sản quốc tế. Giấc mơ Liên Bang Đông Dương dưới quyền cai quản của Cộng Sản Hà Nội là một ví dụ. Rêu rao nói các nước phương Tây và Mỹ là bọn đế quốc nhưng bọn Cộng Sản lại có tham vọng trở thành đế quốc. Bọn Việt Cộng nước mình cũng thế. Sau ngày chiếm được miền Nam VNCH thì đám đầu lãnh ở Hà Nội cho là đã đánh bại được Hoa Kỳ và tự chúng xếp hạng đứng hàng thứ 3 trên thế giới chỉ có sau Nga Xô và Tàu Cộng. Vì coi thường các nước lân bang nên chúng đã bỏ mặc các phản kháng của phái đoàn Indo trong Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên cũng như không thèm ngó tới số phận của papa Phước và đó là điều may cho lão. Nhờ vậy mà papa Phước đã không bị chúng thủ tiêu rồi như một cái cây mọc ở chỗ còi cọc, lão trụ được trong nhà giam và may mắn lại gặp được người bạn tù có lòng.




    Nhân viên Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên (gồm Ba Lan, Hung Ga Ri và Indonesia)
    tại một địa điểm giám sát. Phía sau là một sĩ quan miền Nam VNCH.

    Thật vậy, nếu không nhờ lá thư của viên sĩ quan cảnh sát báo tin thì rồi về lâu về dài, papa Phước cũng sẽ chết rũ tù và chắc đó là lý do khiến lão có mối thiện cảm với người Việt vượt biên. Chợt anh Khảm bực tức, nói:

    - Thiện cảm với người Việt mà lão lại đi cặp bồ với đứa con gái đáng tuổi cháu như anh vừa thấy đó. Phải chi lão cặp với dân Indo thì không nói làm gì, đằng này lại với dân tị nạn người Việt mình. Khác gì hành động... trả thù dân tộc.

    - Gái Indo bản xứ thì có đứa nào thèm lão, chỉ dân Việt mình thôi. Nhưng ở đâu cũng vậy, thiên hạ hễ gặp ông già đi với gái trẻ lại nhiếc móc nói lớn tuổi còn bày trò... chơi trống bỏi mà đâu biết ông già đó phải có cái gì khiến cho gái trẻ lao đầu vào. Đây cũng thế, con bé vừa rồi phải biết papa Phước có quyền đảo ngược quyết định bên phía sơ vấn Cao Ủy nên tự nó chủ động bắt bồ trước với lão ta đấy. Ông Bửu trả lời chung với vẻ mặt nhấm nhẳn.

    Đảo ngược quyết định bên phía Cao Ủy, điều ông Bửu nói ra nó có nghĩa một hồ sơ thuyền nhân nào đó mà bị Cao Ủy bác bỏ tư cách tị nạn thì bên phía nước chủ nhà lại có thể đảo ngược quyết định đó. Đó là quyền của nước chủ nhà dành cho thuyền nhân tạm dung. Khi đảo ngược quyết định, thuyền nhân đó sẽ thành người tị nạn, thơ thới chờ ngày đi định cư nước thứ 3 và không còn mối lo bị cưỡng bức hồi hương về lại quê nhà nữa. Kể ra, cô gái tóc dài tên Hướng đó cũng lém lỉnh chẳng vừa, tôi nói ra điều mình vừa nghĩ thì ông Bửu cười nhạt, trả lời:

    - Con bé làm gì có cặp mắt xanh mà biết nhìn người, tất cả dàn dựng đều một tay của bà mẹ thôi.

    Nói đến đây chợt ông Bửu đột ngột đứng dậy, thái độ hoảng hốt:

    - Chết! Tôi phải gặp ông Thụy bên workshop để nhờ mai chở hộ cái xe máy ra ngoài Galang 2 xem coi nó bị hỏng hóc cái gì mà chiều nay đạp hoài vẫn không nổ. Không biết giờ này thì ông ấy còn thức hay đã ngủ rồi? Thôi! Hai anh ngồi lại về sau nha.

    Chờ ông Bửu đi khuất tôi thắc mắc hỏi anh Khảm:

    - Ông này làm cái gì ở trong trại mà có xe máy ngon vậy và sao ông ta lại có dịp được papa Phước kể chuyện đời cho nghe hả anh?

    Anh Khảm liền đáp:

    - Ồ! Quên chưa cho em biết về ông Bửu, ông ta là thông dịch viên cả bên sơ vấn Cao Ủy lẫn bên thanh lọc Indo đó em. Ông là người Việt duy nhất trong trại được phòng P3V cấp riêng cho một xe gắn máy đó.

    Rồi anh Khảm cho biết thêm là ông Bửu gốc người Bắc di cư năm 1954 và đã vài lần đi tu nghiệp tại Mỹ từ những năm đầu trong thập niên 1960. Tuy đến trại Galang cuối năm ngoái nhưng nhờ thông thạo Anh ngữ nên ông đã được Cao Ủy tuyển dụng vào làm việc. Dù phòng thanh lọc Indo cùng Cao Ủy chưa thông báo kết quả thanh lọc thuyền nhân nhưng ai trong trại cũng kháo nhau là ông Bửu chắc chắn sẽ đoạt giấy tị nạn vì thực sự Cao Ủy hay chính quyền Indo chẳng thiệt gì khi làm như vậy. Nếu ông không giúp việc thông dịch thì Cao Ủy sẽ phải tuyển người Việt từ hải ngoại về và phải tốn thêm tiền trả lương. Gần kề với các luật sư Cao Ủy cùng sĩ quan thanh lọc Indo nên ông Bửu biết rất nhiều chuyện đã xẩy ra trên đảo và thường kể lại cho anh Khảm nghe.

    Chợt anh Khảm nhìn tôi, khẽ hỏi:

    - Ban nãy em để ý thấy ông ta có vẻ bực bội khi nói về chuyện bồ nhí của papa Phước không? Thấy tôi lắc đầu, anh Khảm cười cười, tiếp:

    - Ông Bửu nói vậy vì hiện thời ông đang cặp bồ với một cô gái trẻ mà tuổi thì cũng trạc cỡ con ông ta đó em.

    - Trời! Có chuyện đó sao.

    Tôi nói khẽ rồi hỏi lại anh Khảm:

    - Tuổi trạc cỡ con ông ta... mà... cô ấy có đẹp gái không anh, tên gì vậy?.

    Anh Khảm nhìn tôi mỉm cười, khẽ gật đầu rồi nói:

    - Cô ta tên là Hòa, thỉnh thoảng thì vẫn ngồi chung trên xế nổ lượn phố ngoài Galang 2 hoặc sát nút đi với lão Bửu trong mấy quán ở đây nè. Ai cũng thấy rõ hai người họ cặp kè với nhau nhưng lão ta thì cứ chối đây đẩy.

    Anh Khảm đã dùng chữ lão để gọi ông Bửu và rồi anh cho biết thêm ngoài papa Phước thì hầu như bất kỳ một nhân viên Indo nào làm việc trong trại cũng đều bắt bồ với người Việt. Mức độ thân mật thì có người ra mặt công khai kè kè đi bên nhau, người thì vẫn cái màn lén lén lút lút không muốn ai biết rõ.

    Rồi anh tiếp:

    - Cái phong hóa của nước mình cứ cho đàn bà-con gái mà lấy người ngoại quốc thì đều xuất thân từ một gia đình không ra gì. Khách quan mà nói ngoài tình cảm ra thì chuyện nam nữ đến với nhau trong tình dục chính là bản năng của giống loài. Thượng Đế khiến vậy để giống người mới tiếp nối sinh tồn được. Nam nữ như thỏi nam châm khác chiều mà đặc biệt, việc dị chủng lại cuốn hút nhau dữ lắm Vũ. Đừng nhìn papa Phước là một người Indo mà giả dụ lão ta là một người Việt đi thì chuyện một người đàn ông khỏe mạnh và có chức có quyền sẽ cuốn hút đám đàn bà-con gái như thể nào. Khi bỏ nước vượt biên, đâu phải ai cũng có người thân thuộc bên cạnh rồi sống một mình trong hoàn cảnh thiếu thốn vật chất cùng không gian hạn hẹp của trại tị nạn nên họ mới dễ dàng... tìm đến với nhau để mà sống để mà tồn tại trong quãng thời gian dài tạm dung xứ người. Người mình đã vậy, đám nhân viên Indo làm việc ở đây có mấy ai mang theo gia đình. Nếu gần gần, nhà họ cũng nằm đâu đó bên đảo Tanjung Pinang, còn ở xa như papa Phước thì tuốt Jakarta lận.

    Dứt câu, anh Khảm ngồi yên hút thuốc rồi thừ người trên ghế như suy nghĩ về một mối gút mắc trong lòng. Thái độ của anh Khảm giống hệt như ở lần đã phân trần về việc sống chung với chị Phượng khi hỏi thăm tôi về chuyện vợ con anh còn bên quê nhà. Lần đó, tôi đã hỏi sao anh không cu ky một mình cho khỏe mà còn đèo bòng thêm chị Phượng làm gì để giờ phải than van, kêu khổ. Anh nói cố tránh nhưng thoát không được rồi đổ thừa vì hoàn cảnh đã khiến anh và chị Phượng cứ gặp mặt thường xuyên mãi nhất là trong những lần hai người họ bên nhau. Tránh không được thì đành phải đến với nhau cho xong chuyện. Bộc bạch tâm sự riêng của mình, anh Khảm không dùng chữ cặp bồ khi nói về quan hệ giữa anh và chị Phượng mà lại nói tránh đi bằng ba tiếng đến với nhau. Tôi buột cười vì nói theo kiểu anh Khảm thì tôi và Yến hiện cũng đang... đến với nhau nếu kể từ sự tình cờ khởi đầu trong cái khoang hầm chật hẹp của ghe vượt biên rồi ra vào đụng mặt nhau hàng ngày khi sống tận bên Malaysia cho đến bây giờ. Mới tháng trước, cả đoàn người trong barrack đi Galang 2 làm thẻ ID tạm dung và khi xong việc thì trời đã quá trưa, 5 đứa chúng tôi kéo nhau đi ăn ở một quán sau đó lại ghé vào một tiệm cà phê để tránh cơn nắng gắt. Rồi Đào, Bẩy và Đỉnh phải quay trở về Galang 1 ngay vì buổi tối cùng ngày thì 3 người họ có cái hẹn đi chùa Quan Âm với những đồng đạo mới quen trong zone. Ngồi tiếp lại trong quán cho đến lúc thấy trời đã dịu nắng, tôi đã nói với Yến:

    - Em chịu khó về một mình nha, anh đi đằng nầy chút xíu để mượn ít tờ báo về xem chứ ngồi không cả ngày ở barrack buồn lắm.

    - Không! Em muốn đi với anh rồi cùng về luôn. Yến trả lời.

    Tôi định bụng khi gần tối thì sẽ về lại Galang 1 nhưng một hai Yến nói muốn đi cùng cho vui vì trời vẫn còn sớm lắm. Thực ra, chủ tâm đi một mình để ngoài chuyện tìm thư viện cộng đồng mượn báo xem thì tôi còn muốn la cà trọn buổi chiều trong Galang 2 để biết thêm các chỗ. Nghe Yến nói, tôi rất vui dù chưa biết cả hai sẽ đi đâu vì không lẽ cứ cặp kè lòng vòng trên đường nhưng nếu chỉ có một mình tôi thì khác. Khi ra khỏi tiệm cà phê, đột nhiên trời nắng trở lại chiếu những tia nóng chói chang lên người làm Yến phải bật cây dù ra che. Suốt buổi sáng trời ui ui không một chút nắng rồi lúc gần trưa thì mây kéo xám xịt tưởng sẽ mưa nhưng lại không vì mây từ từ loãng dần và tan mất. Bật dù che nắng cho cả hai, việc Yến làm khiến cõi lòng tôi nở hoa và cơn nóng nực ngoài trời tự nhiên đã biến mất. Đi song song bên nhau qua nhiều khu phố nhỏ rồi chợt nhìn xuống bóng nắng trên mặt đường, tôi thấy Yến che dù chỉ cho một mình tôi, riêng nàng vẫn đi ngoài nắng. Tôi liền bảo:

    -Yến đưa anh cầm dù chứ để người ta thấy con gái che dù cho con trai, trông kỳ lắm.

    Nàng liền đưa cây dù và tôi có lý do để đi sát bên cạnh nàng hơn. Ngang qua vài hàng quán, tiếng ai đó rất quen từ bên trong gọi vọng ra tên hai đứa nhưng dù cố nhìn vào, mắt tôi chỉ thấy bàn ghế lờ mờ chung một khối đen hù. Tôi và Yến vẫn bước đều bên nhau. Tôi muốn nói một chuyện gì đó với nàng nhưng lại thôi vì sợ vì ngại hay vì điều gì tôi cũng không biết. Chợt nhìn xuống mặt đường lộ, thấy chỉ mình tôi trong bóng tròn của cây dù còn Yến vẫn đi ngoài nắng như ban nãy. Tôi liền đứng lại, đưa cây dù cho nàng và nói:

    - Thôi em che dù lấy đi. Anh đi đầu trần được rồi.

    - Tại sao? Yến tròn xoe mắt nhìn tôi, hỏi.

    - Mình đi chung một cây dù mà em thì cứ ở ngoài nắng, anh che cho có mình anh không hà. Người ta trông vào thì họ sẽ nghĩ anh như thế nào đây? Kỳ lắm. Em nói anh đừng mua dù, mình xài chung với nhau cho đỡ tốn tiền mà em cứ như vậy thì thà để anh vào tiệm mua cho anh một cây khác. Của ai nấy xài, khỏi mất công che chung.
    (còn tiếp)

  3. #23
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 39 Times in 30 Posts

    Default Re: Con Sóng Dữ - Phạm Thắng Vũ

    (tiếp theo)

    Tôi nói một hơi và đưa cây dù cho nàng nhưng Yến không cầm. Thay vào đó, nàng ép sát lại bên tôi, nhìn tôi trong một khoảng khắc im lặng rồi cả hai đứa đi tiếp. Hành động của Yến làm tôi buột miệng cười, thấy thế, nàng lên tiếng:

    - Anh cười cái gì? Nhạo em phải không?

    - Không. Em có gì đâu mà anh phải cười nhạo. Tôi trả lời.

    - Nhưng sao anh lại cười. Phải có lý do chứ? Yến hỏi dồn.

    - Trời ơi! Có lúc cảm thấy vui vui thì mình cười. Ai mà chả vậy... mà... mà...

    Tôi luống cuống rồi ngập ngừng khi Yến đưa mắt nhìn sang. Tôi định nói không vui sao được khi có em đi bên cạnh nhưng lại ấp úng. Hình như gã con trai nào cũng đều nhút nhát vụng về như tôi khi muốn tỏ bày mối tình cảm thực đang dào dạt trong lòng với đứa con gái ở lần đầu gặp gỡ. Câu tán tỉnh ngắn gọn như vậy nhưng sao tôi cứ ú ớ nói không nên lời. May mắn là Yến chỉ im lặng, khẽ bước đều từng bước. Có lẽ nàng không biết sự rụt rè vừa rồi trong tôi, tự nhiên tôi lại mong nó như vậy. Khẽ liếc mắt nhìn lén Yến, gò má nàng hây hẩy hồng làm tôi nhớ lại câu nói của Đỉnh và tấm hình trái đào khi nó đưa cho xem hồi còn ở bên Malaysia. Vài đôi tình nhân đi ngược chiều với hai đứa tôi, họ cũng tay trong tay bên nhau với một cây dù che chung trên đầu. Có thể nhiều bạn đọc sẽ ngạc nhiên là tại sao chúng tôi còn trẻ, đi với nhau ngoài đường mà lại cầm dù? Thực tế ở trại tị nạn Galang khi đó là như vậy, ai đi đâu thì cũng phải kè kè cây dù bên tay để phòng mưa nắng. Indonesia nằm ngay đường xích đạo nên ở Galang mỗi khi trời nắng rất nóng. Đôi tình nhân nào trông cũng rất đẹp và tự nhiên làm như họ đã bồ bịch với nhau từ lâu lắm. Khi đụng mặt nhau, chắc họ đã nghĩ về Yến và tôi cũng tương tự. Nghĩ vậy nên tôi buột miệng cười lần nữa vì vui, vì hoa đời đang nở trong lòng. Tôi cười lớn cố ý cho Yến biết và nghĩ nàng sẽ lại hỏi lý do tại sao cười như lần vừa rồi. Nhưng không, Yến lại nói:

    - Mình chỉ là bạn của nhau... mà cũng không phải là bạn. Không phải là bạn. Em coi anh như anh trai của em.

    Chỉ là bạn của nhau! Nàng coi tôi như người anh trai! Có thật như vậy không hay Yến đã đọc được tình cảm riêng trong hồn tôi nên mới nói vậy. Nếu điều đó đúng thì thật đáng sợ cái trực giác của phái nữ.

    - Lão chối đây đẩy, nói chỉ coi con bé như con cháu trong nhà. Có lúc lại úp úp mở mở làm như đã xong hàng rồi nên cũng khó đoán nhưng qua cách ăn mặc của lão thì rõ ràng ai trong trại cũng biết lão Bửu có tình ý với cô gái.

    Lời anh Khảm đã kéo tôi về với câu chuyện đang nói dở tại bàn. Tôi ngồi ngay ngắn lại khi nghe anh Khảm tiếp:

    - Từ hồi có cô gái đó cặp kè bên cạnh, lão Bửu đã thay đổi cách phục sức của mình. Can nãy em có để ý thấy lão ta mặc quần sọoc áo thun bó cùng giầy vớ láng cóong không? Già cúp bình thiếc rồi không lẽ diện bộ cánh đó vào thì trông sẽ trẻ hơn nhưng cũng có thể lão lại nghĩ như vậy. Ai mà lỡ miệng nói đùa về chuyện se sua quần áo vì có bồ nhí, lão chửi đổng cho nghe đấy.

    - Cái cô Hòa mà anh kể đó, thực ra cô ta có tình ý gì với ông Bửu không? Tôi thắc mắc.

    - Làm sao mà biết em.

    Anh Khảm lắc đầu khi nói rồi tiếp:

    - Anh nghĩ, có khi cô ta tính toán thấy phải cần đến lão Bửu trong thời buổi thanh lọc này nên mới xáp vào. Chứ cứ lấy lý mà suy thì gái trẻ đời nào nó chịu dính không với ông già. Tre trẻ thì tìm đến tre trẻ, sồn sồn thì tìm đến sồn sồn. Có cô đơn có lạnh lẽo trong đêm trường, cần một vòng tay ấm thì người ta cũng phải tìm đúng đối tượng để ôm chứ. Luật tự nhiên là vậy như em và cái Yến đấy.

    Người trong cùng barrack đều nghĩ tôi và Yến đã có gì với nhau và giờ đây qua câu nói của anh Khảm thì thấy anh cũng nghĩ y chang khiến tôi lại cười thầm. Tôi cười là vì đã có một lần Yến dám... ôm chặt lấy tôi nhưng tiếc là khi tôi biết đến niềm hạnh phúc đột nhiên có bất ngờ đó thì nó chỉ kéo dài trong khoảnh khắc ngắn ngủi.

    Hôm đó, một buổi tối Yến rủ tôi đến chỗ anh chị Khảm-Phượng để hỏi về một bài học của buổi học trong một ngày ở tuần lễ trước khi nàng vắng mặt vì bị cảm không đến lớp được. Hai đứa tôi tìm đến barrack nhưng không gặp, nghĩ anh chị Khảm-Phượng lại đến quán cà phê nào đó và định sẽ tìm. Vừa lúc, một người đàn ông trong barrack thấy chúng tôi liền bảo anh chị Khảm-Phượng dặn nếu có ai tìm thì nói cứ đến quán Cam Ly thì sẽ gặp. Tôi và Yến liền đi trở lại con đường chính của Galang 1 rồi đi thẳng đến ngã ba đường về hướng quán cà phê Cam Ly. Quán này nằm ở hướng đi về Galang 2 gần một khúc quanh đường. Đoạn đường nầy có vài căn nhà nhỏ của người Indo cư ngụ vì họ buôn bán trong trại. Ngang qua một hàng cây khá lớn dọc theo đường thì đột nhiên tôi và Yến nghe các tiếng sủa lớn rồi một con chó từ đâu chạy xồ lại gần bên. Yến hoảng hốt, thét lên và ôm lấy tôi thật chặt. Nàng rúc đầu vào ngực tôi, thân hình run lẩy bẩy trong lúc tôi cũng đang cơn sợ vì chưa biết phải làm gì thì con chó đã lủi nhanh vào một bụi cây gần đó. Hai thiếu niên dân địa phương đuổi theo con chó, miệng hai đứa xì xồ vài câu lạ. Trong tay cậu bé đứng gần tôi thủ gậy gỗ dài còn cậu kia thì đang săm soi các bụi rậm bên đường bằng một đèn pin nhỏ. Hai đứa bé đi rảo dọc theo con đường, thỉnh thoảng nhặt các viên đá rồi ném vào các bụi cây, gò đất để cố tìm lại con chó nhưng nó đã chạy mất dạng. Mãi đến lúc đó, Yến mới buông tôi ra, nói lí nhí:

    - Em sợ quá. Nó mà cắn trúng mình thì chết.

    Tôi cũng sợ như nàng vì rủi bị nó cắn và là chó dại thì thật khốn. Có lẽ đây là chó nuôi của gia đình người Indo nào đó và vì đã bị hai đứa bé đuổi đánh nên mới sủa rồi chạy hoảng như vậy. Khoảnh khắc vừa qua tan đi chóng vánh. Cơn sợ lan tỏa chung với niềm thích chí vì được Yến ôm chặt. Tóc nàng ngay sát mặt và mặt nàng đã gục vào ngực tôi. Tôi thở nhẹ, người ta khi yêu nhau, có đắm đuối có ôm ấp cũng chỉ đến vậy. Niềm vui đến bất ngờ và đi thật nhanh làm tôi... tiếc và khiến tôi bật cười vì thích. Yến vuốt lại mái tóc, sửa qua quần áo, thấy tôi cười nên hỏi:

    - Anh Vũ cười cái gì vậy?, tôi đã trả lời nàng là cười cái con chó vừa rồi làm nàng ngạc nhiên, hỏi tiếp:

    - Nó làm em sợ muốn chết mà anh lại cười được. Anh Vũ hay nhỉ!

    - Anh cười vì nghĩ phải chi lâu lâu đi với em rồi gặp một con chó nào đó lại chạy xồ đến và sủa y như vậy, để em...

    Tôi bỏ lửng câu khi nghe Yến lập lại câu đã nói:

    - Em sợ muốn chết mà anh chỉ nghĩ bậy không hà!, rồi nàng cũng tủm tỉm cười với tôi.

    Nghĩ tới đây, tôi lại cười một mình và anh Khảm thấy vậy cũng cười theo rồi nói:

    - Em và Yến đến với nhau trông được lắm chứ. Còn Đỉnh thì với ai trong 2 cô Đào và Bẩy vậy?.

    Tôi kể vắn tắt cho anh Khảm nghe về gia cảnh của Đỉnh và quả quyết nó chẳng chút tình ý nào với 2 cô gái sống chung trong nhóm. Nói vậy nhưng thực lòng, tôi cũng khó đoán được tâm tư của Đỉnh dù chuyện gái gú thì nó đã từng. Anh Khảm lại tiếp:

    - Cái Yến trông kháu lắm, anh biết nó là đứa có tâm hồn và anh mừng cho em đã gặp được. Đàn bà-con gái dù người xinh đẹp đến đâu mà không có tâm hồn thì cũng là hạng bỏ đi. Mà thôi mình về chứ, cũng sắp tới giờ giới nghiêm rồi.

    - Tâm hồn! Anh nói nhưng em thật không hiểu rõ nghĩa. Tôi hỏi lại vì câu anh Khảm nói ra đã khiến tôi thắc mắc.

    Anh Khảm không trả lời ngay mà lại đứng lên và kéo tôi ra khỏi quán khi người hầu bàn lăng xăng đến dọn ly-tách cùng xếp các chiếc ghế cho gọn. Ra tới bên ngoài, nhìn đường phố vắng ngắt thì mới biết vì mải chuyện nên hai chúng tôi đã ngồi quán lâu hơn mọi bận. Sắp tới giờ giới nghiêm thật rồi, vài người hớt hải bước nhanh trên đường như cố chạy đua với chút thời gian còn sót lại. Chúng tôi rảo vội chân qua các khúc đường có nhà dân tối thui dọc theo hai bên con lộ dẫn về hướng các barack của zone 3. Chân bước nhưng lòng tôi vẫn thắc mắc vì câu nói vừa rồi của anh Khảm nên liền hỏi anh thêm lần nữa nhưng anh chưa kịp trả lời thì một bóng người quen quen từ xa chạy sầm đến trước mặt, kèm theo tiếng nói:

    - Anh Vũ! Khuya quá rồi mà em không thấy về nên...

    Thì ra người đó là Yến. Nàng bỏ lửng câu nói khi thấy có mặt anh Khảm gần bên, tôi hiểu ý nên lí nhí chống chế:

    - Ồ! Mải nói chuyện với anh Khảm mà anh quên cả giờ giấc... nhưng về barrack vẫn còn kịp mà.

    - Quên cả giờ giấc để đến nỗi em gái phải lo lắng cho như vậy... Ha ha! Sống với nhau chứ chưa bao giờ chị Phượng đi kiếm anh đâu nhé. Thấy anh nói đúng không hở Vũ?

    Anh Khảm nói lớn tiếng rồi khẽ dùng khuỷu tay huých nhẹ vào be sườn tôi, ngầm cho biết điều anh đã nói về Yến khi còn ở quán. Tôi khẽ gật đầu còn Yến thì giương mắt nhìn vì không hiểu chuyện. Trời khuya thật rồi, cứ còn ở trong quán dưới các ngọn đèn thì nào để ý đến giờ giấc. Cả 3 chúng tôi im lặng, vội chân bước cho đến chỗ đường vào zone 3 thì anh Khảm chia tay.

    Anh Khảm vừa khuất dạng sau con ngõ vào zone, Yến hỏi liền:

    - Anh Khảm nói cái gì về em vậy?.

    Tôi im lặng, thả trí về câu nói của anh Khảm. Khoảnh khắc vụt qua đi, Yến hỏi thêm lần nữa. Tôi biết trả lời nàng sao bây giờ nên đành nói thật:

    - Anh ấy nói mừng cho anh là đã gặp được một người như em, vừa có tâm hồn lại... đẹp... dễ gì gặp.

    Tôi đã nói thêm chút xíu và không ngờ, Yến im lặng không nói một lời và chỉ cười cười khi liếc mắt nhìn tôi. Nàng đang vui vì các lời nói đó nhưng với tôi, Yến là người có tâm hồn... nghĩa là sao, hở anh Khảm? Là Yến biết nghĩ, biết lo lắng cho an nguy của người khác hơn cho bản thân nàng? Không lẽ chỉ đơn giản như vậy. Im lặng đi bên Yến mà trí tôi vẫn thắc mắc về câu nói đó của anh Khảm. Đường phố vắng ngắt trong cảnh im lìm chỗ sáng chỗ tối cùng vài cơn gió nhẹ thổi tốc những mẫu giấy nằm vương vãi trên mặt lộ. Chợt Yến thông báo:

    - Chú Thăng hồi tối kiếm anh không gặp, dặn em nói lại ngày mai anh có tên trong danh sách mà zone cần người đi sửa lại ao nước tắm. Nghe chú ấy nói có thể anh sẽ phải đi vào rừng nữa đó, em chờ anh về để nói lại mãi mà không thấy.

    Ở trại tị nạn Galang thì cứ mỗi sáng thứ Bẩy hàng tuần đều có vụ làm tổng vệ sinh toàn trại. Người ở trong bất cứ barrack nào trong ngày này cũng phải dọn dẹp rác rưởi cùng thông sạch sẽ cống rãnh chung quanh. Trước mặt nhà, hàng quán cũng phải dọn cho sạch vì trọn buổi sáng, đám police của phòng P3V đi kiểm tra mà thấy dơ bẩn thì chủ gia sẽ mệt với bọn chúng. Có gã police cắc cớ đi luồn lách qua từng barrack kiểm tra nên người tị nạn khó mà thấy được y ta ngay. Có người vừa làm vệ sinh xong, mới rửa tay ngồi hút thuốc lá thì bất ngờ gã police đó ở đâu đi đến. Ngôn ngữ bất đồng, tưởng người đó làm biếng ngồi không và thế là đã bị gã police bợp tai, đá đít thẳng tay. Thường thì vào buổi sáng thứ Bẩy, văn phòng của zone cần một số người đi làm các công việc chung và họ lên danh sách để gọi người làm việc thiện nguyện theo thứ tự thay phiên. Có những việc khá nặng như đi vào rừng, chặt các thân cây to về làm các cổng chào dựng trên đường mừng ngày lễ quốc gia Indonesia hoặc ban một khu đất cho phẳng để làm cái sân đá banh. Lần này, việc văn phòng zone cần người làm thiện nguyện là để sửa lại cái ao tắm tập thể cho rộng thêm. Việc này cần làm vì trại Galang đã nhận thêm nhiều người nên cái ao cũ đã không đủ lượng nước cho việc tắm và giặt rũ quần áo. Ngoài chuyện có cái ao nước thì hàng ngày trong trại cũng có nguồn nước sạch khác được bơm đến từng zone chia cho mỗi đầu người nhưng chỉ độ 20 lít. Vì quá ít nên hầu như ai cũng cần thêm nguồn nước khác như từ ao của suối hoặc từ giếng đào lấy gần nhà. Từ trước khi có làn sóng người tị nạn Việt đổ vào trại thì dân địa phương đã ngăn phần trũng giữa hai con đồi để tạo thành một vũm nước khá rộng gọi là sông Gông. Vũm nước này nằm gần đường đi giữa Galang 1 và Galang 2 và phòng an ninh P3V đặt biển cấm thuyền nhân lai vãng gần. Họ muốn giữ nguồn nước trong vũm luôn sạch rồi sau đó, chờ khi nước trong thì bơm thẳng lên chứa vào các bồn sắt lớn được đặt cố định trên các đỉnh đồi cao. Từ các bồn sắt lớn đó, nước sạch được truyền xuống từng zone và các khu vực của Cao Ủy cùng các phòng ban trong trại theo nguyên lý bình thông nhau. Tuy có sông Gông nhưng vào mùa nắng thì trại giới hạn phân phối nước cho thuyền nhân và chỉ dành ưu tiên cho Cao Ủy cùng các phòng ban khác của toàn trại. Nói chung thì nguồn nước sạch cũng tạm đủ cho nhu cầu nếu thuyền nhân khéo tiện tặn.

    Đã vài lần cùng Đỉnh đi vào rừng để chặt cây khi sửa chữa căn phòng chung cho cả bọn nên tôi không ngại khi nghe Yến nói có tên trong danh sách thiện nguyện đi sửa cái ao tắm tập thể. Vả lại, núi rừng từ trước tới giờ vẫn là nơi bí hiểm, kích thích sự khám phá trong con người tôi. Khi còn ở bên quê nhà thì tôi đã từng phải ở trên vùng kinh tế mới vùng Vĩnh Cửu-Trị An vài năm. Nên, tôi nghĩ mình sẽ xung phong vào toán người đi vào rừng để chặt cây hoặc khơi nguồn của con suối. Nói ra điều đó với Yến thì nàng dặn dò phải cẩn thận phòng rắn rít, cây đổ khi tôi vào làm việc trong rừng. Hồi còn ở trên vùng kinh tế mới, tôi vẫn thường vẩn vơ cạnh một con suối, ngồi trên bờ đá hay đứng yên trước những hàng cây bên lối mòn trong rừng. Có lẽ, rừng rậm là một trong số ít cảnh vật hiếm hoi còn giữ được vẻ nguyên sơ ban đầu. Rừng ở Galang cũng vậy. Vẫn còn vẻ nguyên sơ chưa dấu vết người khai phá mà lại còn rất nhiều muông thú như heo rừng, kỳ đà, chồn, thỏ, sóc, khỉ, rắn... Khỉ nhiều và dạn dĩ đến mức chúng dám mò ra sát bên cạnh các barrack cùng nhà dân tị nạn để kiếm món ăn lạ. Thỉnh thoảng có người còn bắt gặp kỳ đà, cheo chạy vút băng ngang qua đường. Đó là thú, ngoài ra trong rừng còn có các loại cây cho trái ăn được như thanh trà, bứa và xà lắc... Thanh trà là một loại xoài rừng, trái nhỏ chỉ bằng ngón chân cái nhưng có vị rất ngọt. Bứa thì giống như quả măng cụt nhưng vỏ có khía màu vàng cam và ruột rất chua. Hai loại trái cây này, rừng bên quê nhà cũng có riêng loại trái xà lắc thì không. Cây xà lắc trông tương tự một thân cau ăn trầu cùng quày trái chi chít. Trái xà lắc thì lớn bằng hột gà cùng vỏ gai cứng bọc bên ngoài nhưng bên trong có ruột tương tự như trái nhãn với cơm trắng bao hạt nhân cứng ăn rất ngọt. Rừng ở Galang còn có loại chuối hoang cho quày như chuối nhà thông thường tuy mùi rất thơm nhưng trái nào ruột cũng đầy hột bên trong. Có người hiếu kỳ đã chặt mang về barrack cả quầy chuối hoang này nhưng sau phải vất bỏ vì không ăn được.

    Sau lần sửa lại cái ao tắm đó thì tôi nghĩ mình cần phải kiếm một việc làm thiện nguyện nào đó như ở trong văn phòng zone hoặc ban đại diện trại cho vui cho dãn gân cốt, thay vì ngồi không một chỗ hoài rất chán. Nói ra điều đó với anh Khảm, anh đồng ý ngay nhưng bảo tôi nên kiếm một chân thiện nguyện của phòng an ninh P3V hoặc làm cho văn phòng Cao Ủy sẽ tốt hơn khi nói:

    - Em không hề lính tráng mà cũng không thuộc thành phần phản cách mạngbe6n quê nhà thì nên cần phải làm thiện nguyện để có điểm khi vào thanh lọc. Càng ở đây lâu, anh nghĩ việc thanh lọc không dễ dàng như những gì mình đã tưởng ở các ngày đầu khi mới nhập trại. Làm một nhân viên cho phòng an ninh P3V hay cho Cao Ủy, chắc chắn họ sẽ nương tay khi phỏng vấn em. Túng thì phải tính, Vũ ạ.

    Nghe anh Khảm nói nhưng thực sự khó mà kiếm được một chân thiện nguyện trong ban Đại diện trại vì người thì đông trong khi việc làm chỉ có giới hạn. Dò hỏi thêm nơi ông Thăng thì tôi được biết ở zone cũng như tại ban Đại diện trại, nhân số đều dư và họ không nhận thêm người mới nữa. Vậy mà anh còn bảo tôi cố sức kiếm việc trong phòng an ninh P3V hoặc với Cao Ủy, những nơi mà ai cũng muốn đầu quân vào làm và tất nhiên, chẳng còn chỗ trống.

    Tìm không ra chỗ làm thiện nguyện cho đến một buổi tối khi ngồi ở quán cà phê Sài Gòn thì bất ngờ tôi và anh Khảm gặp lại ông Bửu. Lần này thì ông đi cùng với một cô gái trẻ, da trắng và khá đẹp. Cố gái, vì cột tóc thành chùm đuôi gà nên làm khuôn mặt trông có vẻ khỏe khoắn nhưng bướng bỉnh. Anh Khảm nhìn thấy cả 2 từ ngoài hướng cổng quán, liền quay sang nói nhỏ với tôi:

    - Cô đó tên Hòa đấy! Nay gặp ông Bửu thì mới nhớ đến chuyện của em, anh thật dở!, rồi anh đứng lên, mời cô gái và ông Bửu ngồi vào chung bàn.

    Như lần trước, hôm nay ông Bửu diện bộ quần short áo thun cùng giày-vớ cẩn thận trông như người vừa đi chơi tennis về. Ngồi chung bàn chưa được lâu thì cô gái tên Hòa đó xin đi vào bên trong quán để xem tiếp phim bộ chiếu trên TV, nhân đó anh Khảm mới nói với ông Bửu về chuyện làm thiện nguyện của tôi.

    - Vũ, em tôi đây... anh đã gặp rồi. Ở Galang anh quen biết nhiều, xem coi có phòng ban nào cần người làm thiện nguyện thì giúp cho Vũ nó một chỗ. May ra, có thể nhờ đó mà em tôi lọt lưới thanh lọc chứ tôi thấy tình hình càng lúc càng khó anh.

    Ông Bửu nhìn anh Khảm rồi gục gặc cái đầu làm tôi mừng thầm nhưng không, ông ta rút thuốc lá ra hút rồi nói:

    - Phòng ban nào bây giờ cũng nghẹt người làm. Anh biết, thằng Niên lái xe cho phòng an ninh P3V chưa rời trại đi định cư thì đã có tới 8 cái đơn từ ban Đại diện trại, hội Cựu quân nhân, bên Tin Lành... nộp để xin thế chỗ làm của nó đấy. Ông Nasir xếp phòng tiếp liệu của bên an ninh P3V cũng chẳng biết sẽ nhận ai, phải bỏ ai vì... tờ đơn nào cũng kèm theo một bản sao bằng lái quân xa cùng giấy giới thiệu gửi gấm. Mật ít-ruồi nhiều, thật khổ cho người tị nạn mình bây giờ, việc đã không lương lại còn phải giành giật nhau từng chỗ một.

    Ông Bửu rít thêm hơi thuốc lá rồi ngần ngừ đôi chút, nói tiếp:

    - Cũng vì có vụ thanh lọc chứ theo lời kể của đám tị nạn đến trại trước ngày Cao Ủy tuyên bố đóng cửa thì thời của họ, có bói cũng không ra một mống chịu làm thiện nguyện.

    Lời ông Bửu nói đã gây một thất vọng và làm cho tôi buồn. Cả ông Bửu lẫn anh Khảm tỏ vẻ ái ngại và thông cảm khi nhìn vẻ mặt tôi nên hai người họ không ai nói với ai một lời. Được một lúc, như vừa nghĩ ra một điều gì thì ông Bửu hỏi tôi:

    - Anh Vũ trước giờ học hành ra sao? Có biết English không?

    Thấy tôi gật đầu, ông Bửu liền lôi từ trong cái túi xách tay ra một quyển sách, dùng ngón trỏ lật vài trang xem qua rồi đưa nó cho tôi và nói:

    - Đâu! Anh dịch thử đoạn in này cho tôi nghe xem nào.

    Đón quyển sách từ tay ông, tôi liếc qua trang báo viết về bất đồng chủng tộc giữa các sắc dân Serb, Croat và Bosnia của liên bang Nam Tư cũ bên trời Đông Âu. Đây là quyển Reader's Digest, một tạp chí nhỏ giống quyển Phổ Thông, Tân Học hay Kiến Thức Ngày Nay... như bên quê nhà. Tôi đọc đoạn tin và từ từ dịch lại được hơn nửa trang thì ông Bửu giơ tay ra dấu ngưng lại rồi nói:

    - Đủ rồi! Cậu vào làm trong phòng Dịch thuật của tôi nha.

    Nghe những lời ông Bửu vừa nói, anh Khảm nhìn tôi với ánh mắt thật phấn khởi. Ông Bửu đã thân mật hơn khi gọi tôi bằng cậu thay vì bằng anh như vừa trước đó. Nghe ông nói, tôi rất mừng vì kiếm được việc làm thiện nguyện thật bất ngờ nhưng liền đó, một mối lo trong tôi khiến muốn nói ra lại sợ có thể vì đó mà ông Bửu sẽ... rút lời, không nhận nữa. Tôi phân vân, ngồi im nhưng nhìn vẻ mặt tôi, ông Bửu đoán biết khi ướm lời:

    - Cậu Vũ hình như đang lo lắng cái gì đó phải không, chuyện gì vậy?

    Tôi cho ông Bửu cùng anh Khảm biết là bản thân mình thì có thể đọc sách báo tiếng Anh để hiểu để dịch như vừa rồi nhưng khả năng chỉ đến thế. Còn dịch thuật từ tiếng Việt sang Anh ngữ, đâu phải là việc từng làm nhưng ông Bửu khi nghe tôi nói xong, mỉm cười và trấn an:

    - Cậu đừng lo. Vào làm việc chung sẽ gặp các anh em khác trong phòng, có gì khó thì cứ hỏi, họ sẽ giúp. Với lại, nghề sẽ dạy nghề.

    Anh Khảm cũng nói vài câu khuyến khích mong tôi yên tâm đi làm. Vừa lúc, cô gái tên Hòa ở bên trong đi ra đến ngồi chung gần bên, ông Bửu lấy tay chỉ vào tôi và nói với cô ta:

    - Cậu Vũ này sẽ làm việc trong phòng Dịch thuật, thấy cậu ta biết lo cho bản thân không. Còn Hòa, tôi nói hoài mà Hòa không chịu làm thiện nguyện thì trước sau gì cũng bị rớt thanh lọc rồi có ngày sẽ phải về lại Việt Nam đó.

    Dứt câu, ông Bửu nheo nheo cặp mắt và cười vui với cả bọn.

    - Thầy cứ nói vậy mà em thì biết làm thiện nguyện việc gì. Ở đâu? Cô Hòa nhỏ nhẹ trả lời.

    - Ở phòng Dịch thuật... tôi nói nhiều lần rồi mà Hòa còn cứ hỏi.

    - Em có biết tiếng Anh nhiều nhặn gì mà dám vào làm trong đó. Người ta cười chết... Thầy cứ chọc.

    - Ôi dào! Vào làm mỗi cái việc nhận-trả hồ sơ thôi. Dịch! Thì để các anh em khác người ta lo. Hòa vào làm nhá... nhá. Ông Bửu nài nỉ cô gái trẻ.

    Lời ông Bửu nói với cô Hòa khiến tôi nghĩ tới Yến rồi Đỉnh cùng 2 cô Đào, Bẩy đang sống chung trong nhóm. Đỉnh đã nói không lo cái chuyện thanh lọc vì nó ỷ có giấy bảo lãnh của gia đình bên Mỹ và quả quyết sẽ vượt qua cái ải thanh lọc này dễ dàng. Đào và Bẩy nói nếu người ta ra sao thì 2 cô cũng sẽ như vậy, kể cả chuyện phải hồi hương về lại bên quê nhà. Còn Yến nói có anh ruột sống bên Úc và đã lập hồ sơ bảo lãnh xong cả rồi nên nếu bị rớt thanh lọt, nàng sẽ hồi hương ngay. Về Việt Nam rồi thì Yến sẽ chờ đi định cư tại Úc. Kể ra, như vậy thì 4 người sống chung với tôi cũng ổn. Trước khi cùng cô gái tên Hòa đó bỏ ra về, ông Bửu dặn tôi đến nhận việc vào buổi sáng ngày thứ Hai tuần tới. Kiếm được việc làm thiện nguyện, tôi vui nhưng thêm nỗi lo sẽ phải sắm thêm quần áo cùng giầy-vớ mới. Tiền Rupiat mà tôi mới đổi vừa rồi, sau lần mua sắm nầy thì sẽ chẳng còn được bao nhiêu trong tay.

    Khi thấy tôi được nhận vào làm thiện nguyện ở phòng Dịch thuật cách dễ dàng thì anh Khảm rất vui vì khởi đầu khi hỏi chuyện, anh chỉ mong ông Bửu biết có phòng ban nào đó trong trại trống chỗ thì xin hộ cho. Nào ngờ diễn biến lại quá tốt, anh nói:

    - Thiện nguyện viên ở các nơi đặc biệt như phòng định cư, IOM, phòng JVA, P3V hay Dịch thuật... đụng mặt với các luật sư bên Cao Ủy và bên chính quyền Indo hàng ngày thì thể nào họ cũng giúp khi vào thanh lọc. Mình giúp công việc cho họ thì họ phải giúp lại mình chứ.
    (còn tiếp)

  4. #24
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 39 Times in 30 Posts

    Default Re: Con Sóng Dữ - Phạm Thắng Vũ

    (tiếp theo)

    Anh Khảm cho biết phòng Dịch thuật là căn nhà nhỏ nằm ở đầu trong dãy nhà của khu thanh lọc thuộc bộ Nội vụ Indo. Thông thường, phòng P3V sẽ sắp xếp danh sách thuyền nhân theo thứ tự từng chuyến ghe đến trại cho Cao Ủy sơ vấn trước rồi sau đó thì họ sẽ chuyển hồ sơ sang cho sĩ quan bộ Nội vụ Indo thanh lọc. Khu vực thanh lọc nằm biệt lập trên một triền đồi, có cắm bảng giới hạn người vào ngoại trừ vì công việc hoặc có giấy mời và nó cách xa với zone 3 của Galang 1. Tôi đến khu vực này theo lời dặn của ông Bửu vào buổi sáng ngày thứ Hai đầu tuần. Vào đến nơi mới thấy những dãy nhà sơn trắng, cửa sổ gắn kiếng nằm im lìm dưới bóng mát của các cây tràm bông vàng, phi lao cao to. Trong những băng ghế dài, một số người Việt quần áo chỉnh tề đang ngồi chờ được nhân viên trật tự gọi tên vào thanh lọc. Thấy tôi, một nhân viên trật tự trẻ tuổi tiến đến hỏi và sau khi nghe tôi nói về chuyện làm việc với ông Bửu thì anh ta lấy tay chỉ về căn phòng ở đầu của dãy nhà. Nơi đó, một xe mô tô hai bánh dựng cạnh bên tấm bảng kẻ hàng chữ Eligibility Unit không xa thân cây kiểng lạ như dừa nhưng có các tàu lá lớn tương tợ lá chuối xòe đều ra hai bên giống hệt cái quạt khổng lồ. Xe mô tô của ông Bửu, tôi nghĩ vậy. Đến trước cửa phòng Dịch thuật thì may mắn ông Bửu đứng bên trong nhìn ra thấy liền ngoắc tay gọi tôi vào và giới thiệu với các thiện nguyện viên khác gồm các anh Đinh Vinh, Đặng Phúc Nhân, Nguyễn Thanh Danh, Tám Miễu cùng các cô Triệu Lệ Lan, Lê Anh Hà... Thật không ngờ cái phòng Dịch thuật nhỏ xíu mà lại có khá đông người làm thiện nguyện như vậy.

    - Mỗi ngày cả mấy chục thuyền nhân vừa sơ vấn bên Cao Ủy lẫn thanh lọc bên Indo mà ai nấy đều mang theo cả xấp giấy tờ để chứng minh cho lời khai của họ. Giấy tờ nào thì phòng mình cũng phải phiên dịch ra Anh ngữ hết... Nay có thêm anh đến góp sức nữa thì càng tốt. Anh Đinh Vinh nói.

    Ông Bửu chỉ cho tôi thấy các tệp hồ sơ nằm trong kệ và ở cả trên mặt các bàn giấy gần các quyển tự điển dầy cộm rồi nói cho chúng tôi nghe:

    - Cậu Vũ hỏi cô Lan hay cô Hà đưa cho vài hồ sơ ngăn ngắn gì đó để dịch thử. Những buổi đầu cứ làm vậy đi, nếu cần giúp đỡ gì khi dịch các văn bản thì cậu cứ hỏi tôi hoặc các anh em trong phòng. Đừng ngại!

    Căn phòng quá nhỏ so với số nhân viên ngồi làm việc trong các bàn kê cạnh nhau cộng thêm người ra vào để nhận hồ sơ cũ hoặc gửi giấy tờ mới nhờ dịch. Có lẽ đây là một trong các phòng làm việc bận rộn nhất trong trại tị nạn Galang. Tiếng máy chữ gõ lách cách tạm ngưng khi chúng tôi thấy ông Bửu khoát tay ra dấu muốn nói thêm điều gì đó.

    - Nghe đây, dịch giấy tờ thì mình cốt làm sao để luật sư Cao Ủy hay bên phía Indo người ta hiểu được đúng nội dung và không sai văn phạm là được. Câu dịch có dài hay ngắn không thành vấn đề.

    Ông Bửu dứt lời, đưa trả lại một bản dịch vừa duyệt xong cho cô thư ký ngồi gần đó rồi dặn dò thêm:

    - Các cô cậu làm việc chung vui vẻ nha, bây giờ thì tôi phải chạy vào Galang 2 vì có hẹn với ông Peter.

    Xong, ông ta rời khỏi căn phòng, đến bên xe mô tô, đạp nổ máy rồi rú ga vọt nhanh về hướng dẫn ra bên ngoài đường.

    Làm việc được hơn một tuần lễ thì tôi đã quen với các sinh hoạt chung trong phòng Dịch thuật. Hai cô thư ký tên Lan và Hà lo việc quản lý giấy tờ của thuyền nhân gửi tại phòng và đả tự các bản viết tay của nhóm nam giới chúng tôi mỗi khi vừa được dịch xong. Có lúc cần gấp giấy tờ cho thuyền nhân nào đó đang chờ bên ngoài phòng thì đám nam giới chúng tôi cũng phải tự tay đánh máy bản viết mình vừa dịch xong. Riêng cô Lan là người Việt gốc Hoa lại có kỹ năng nói và nghe thành thạo nhiều phương ngữ nước Tàu như Tiều Châu, Quảng, Phổ Thông, Phước Kiến... Thật là một cô gái hiếm có, có được tài năng như vậy mà lại trông rất dễ thương. Thỉnh thoảng, các sĩ quan bộ Nội vụ Indo gọi cô vào để phiên dịch cho thuyền nhân Việt gốc Tàu vì người đó chỉ bập bẹ chút ít tiếng Việt khi vào thanh lọc. Trong tuần từ thứ Hai đến thứ Sáu thì phòng Dịch thuật làm việc từ sáng cho đến chiều và chỉ ngưng khoảng 2 tiếng đồng hồ giấc trưa để đám nhân viên chúng tôi về lại barrack cơm nước. Chúng tôi làm việc thiện nguyện không lương và chỉ thỉnh thoảng được một thuyền nhân nào đó hào phóng mời đi uống cà phê, hút điếu thuốc lá cho vui như một sự trả công và chỉ có vậy. Riêng chỉ có mình ông Bửu là đã qua các thủ tục sơ vấn cùng thanh lọc còn tất cả nhân viên cũ-mới trong phòng đều chưa ai đến lượt dự buổi sơ vấn của Cao Ủy.

    Cùng thời gian này thì Tám Kiệt và ông Phát đã được nhà thầu Titan nhận vào làm việc có trả lương theo kiểu công nhật. Công việc của Tám Kiệt là dựa vào khối vật liệu cơ bản do nhà thầu cung cấp như cây, ván gỗ, lưới sắt... mà vẽ thành các họa đồ blue print cho những dãy nhà khá lớn sẽ được dựng ở một bãi đất trống dưới chân đồi của nhà thờ Công giáo Galang 1. Những dãy nhà gỗ nầy sẽ là khu Consortitum mà Cao Ủy sử dụng để huấn nghệ cho thuyền nhân trước khi rời khỏi trại tị nạn Galang. Là một chuyên viên về đồ hoạ nên việc làm nầy đối với Tám Kiệt không khó. Còn ông Phát thì thành thông dịch viên vì có khá đông thuyền nhân được tuyển vào làm việc xây dựng các dãy nhà.

    Không hiểu trước ngày Cao Ủy đóng cửa trại tị nạn thì thuyền nhân thời đó cần các giấy tờ gì để chứng minh cho lời khai của bản thân? Còn bây giờ, tôi thấy có nhiều loại giấy do thuyền nhân ký gửi nơi phòng để nhờ dịch. Ngoài các giấy của thời miền Nam VNCH như Khai sinh, văn bằng, thẻ Lãnh lương, Chứng chỉ tại ngũ... thì còn có các loại giấy tờ khác như Giấy ra trại do chính quyền Việt Cộng cấp cho một sĩ quan quân đội miền Nam VNCH sau khi người này được thả từ một trại tù học tập cải tạo cho đến Lệnh tha của các chiến sĩ phục quốc hoặc thành phần phản cách mạng (chống lại Việt Cộng). Có những giấy mang cái tên lạ hoắc như Quyết định hủy bỏ biện pháp ngăn chận của nạn nhân sau khi bị công an Việt Cộng bắt nhốt một thời gian khá dài. Giấy tịch thu nhà-xưởng, xe hoặc tàu-thuyền... của dân lành trong các đợt chính quyền Cộng Sản chiếm đoạt của cải. Giấy mời người nào đó đến văn phòng công an địa phương để rồi họ lọt bẫy, bị bắt giữ và phải chịu cảnh tù đày. Lệnh tạm tha của một thuyền nhân kèm theo quyển sổ nhỏ buộc người này phải đến trụ sở công an để trình diện hàng ngày với những con dấu mực dầu đỏ chói đóng chi chít trong các trang giấy. Con dấu đỏ nào của chế độ Việt Cộng cũng đều một kiểu ngôi sao năm cánh nằm chính giữa mà có trang giấy vì dấu đóng quá đậm mực nên nhoè làm cho ngôi sao trông giống như hình cái đầu lâu người với hai khúc xương bắt chéo. Có tờ thì các con dấu vì đóng liền sát nhau bên cạnh chữ ký cá nhân cán bộ cấp giấy dài loằng ngoằng nên trông như một còng số 8 cùng đoạn dây xích nhỏ. Qua những tờ giấy của thuyền nhân gửi dịch, tôi biết chúng gắn liền với chủ nhân một quãng đời tươi vui xưa cũ đã bị cướp mất hoặc ghi lại đoạn ngắn buồn thảm vừa qua ở bên quê nhà. Đủ loại giấy tờ mà nhiều nhất vẫn là các giấy do chế độ Việt Cộng cấp và có lẽ chúng xuất hiện nhiều như vậy tại miền Nam VNCH chỉ không lâu sau khi thủ đô Sài Gòn bị bọn người này chiếm đoạt.

    Đặc biệt, trong số giấy tờ ký gửi chờ dịch thì tôi đã tận mắt thấy các bản sao Giấy ra trại của vài viên tướng miền Nam VNCH như Trần Bá Di, Nguyễn Thanh Sằn và Hồ Trung Hậu... do các thuyền nhân mang đến mà nơi mục can tội, quản giáo Việt Cộng chỉ ghi vỏn vẹn hàng chữ đánh máy là Chuẩn tướng hay Trung tướng Ngụy quyền.

    - Trên thế giới, xã hội Cộng Sản của nước nào thì cũng đều giống nhau ở chỗ người dân là một tù nhân dự bị và chỉ chờ có dịp là họ bị bọn công an bắt giam. Anh không nhớ tên của người đã phát ngôn ra câu nầy nhưng nghĩ nó thật đúng.

    Lời anh Khảm nói sau khi nghe tôi kể về chuyện giấy tờ của thuyền nhân mang theo gửi trong phòng Dịch thuật và anh tiếp:

    - Anh đọc sách thấy nói ở bên Liên Xô hay Đông Đức gì đó thì nhiều người dân mỗi tối trước khi đi ngủ đều phòng sẵn một túi nhỏ có đựng bàn chải, kem đánh răng, thuốc trị bệnh, xà phòng... để nếu giữa khuya họ bị công an ập vào bắt bất ngờ thì sẽ có cái dùng trong nhà tù. Anh em mình sống nơi đây tuy chưa biết số phận sẽ như thể nào trong thời buổi thanh lọc nhưng dẫu sao, vẫn may mắn hơn những người còn kẹt ở bên quê nhà.



    Phạm Thắng Vũ cùng các bạn thiện nguyện viên của phòng Dịch Thuật
    trong một chầu cà phê-bánh ngọt tại quán nước ở Galang 1.

    Một hôm, cô Hà thư ký của phòng đã mời cả nhóm anh em chúng tôi đến nhà riêng để ăn giỗ người cha chồng nên anh Đinh Vinh quyết định cho đóng cửa nghỉ làm sớm lúc gần trưa. Chúng tôi cùng kéo nhau đi ra đường lộ chính rồi băng ngang qua khu công trường Consortitum đang được xây dựng dở dang. Cây ván, cỏ tranh đánh thành từng tấm lá để lợp mái, gạch, cát và các cuộn lưới sắt... bỏ nằm ngổn ngang trên mặt đất. Nhân công chia thành từng tốp nhỏ đang hì hục dọn bỏ cây cối, khuân gạch-đá hoặc ban cho bằng phẳng các chỗ gồ lồi và hố đất trũng.

    Căn nhà nhỏ của vợ chồng cô Hà nằm ở cuối vùng đất công trường dọc theo một lối đi khác ở cạnh chân đồi. Đám nhân viên chúng tôi hùn tiền với nhau mua một thùng bia lon Foster và hai chai rượu trắng hiệu Arak có hình ông già chống gậy để làm quà ăn giỗ. Đến nơi thì ai cũng cảm thấy đói bụng khi mùi thơm món ăn bay ngào ngạt và rồi vì chờ mãi mà không gặp ông Bửu cùng cô Hòa nên cả bọn chúng tôi đành quây quần thành một vòng tròn trên nền nhà. Cả đám ngồi vây chặt các tô cà ri gà, dĩa cá chiên xù vẩy, bát khổ qua nhồi thịt, thố kiểm, thố chè đậu trắng cùng các khay bún sợi và bánh mì xắt thành lát mỏng... Bữa giỗ thật quá ngon và thịnh soạn trong khung cảnh thiếu thốn của trại tị nạn.

    Ngồi ăn một lúc, vì không uống được rượu-bia nên tôi xin kiếu vợ chồng cô Hà cùng các nhân viên khác để ra về trước. Khi quay ngược lối cũ thì tôi gặp Tám Kiệt và ông Phát đang ngồi nghỉ dưới bóng một cây thấp trong khu vực công trường. Thấy tôi, Tám Kiệt giơ tay vẫy và nói:

    - Cậu Vũ đi đâu vào tuốt trong này vậy? Công việc làm trên phòng Dịch thuật đó chắc bận dữ ha. Có gấp gáp gì không, ngồi chơi uống trà với tụi nầy cho vui.

    Nghe vậy, tôi liền ghé lại ngồi với hai ông. Không như lúc còn ở trại trong rừng bên Malaysia, từ hồi nhập vào Galang tới giờ thì tôi cũng ít có dịp ngồi trò chuyện với Tám Kiệt. Ông Phát rót một ly nước trà còn nóng mời tôi uống và nở miệng cười, xuề xòa:

    - Cậu làm ở phòng Dịch thuật tuy không lương nhưng thấy vậy mà có tương lai hơn tụi tui nhiều. Biết chuyện gì là lạ... liên quan tới thanh lọc xin cậu làm ơn nói cho tụi tui biết với nha. Mai mốt khi gần ngày sơ vấn chắc phải nhờ đến cậu dịch hộ cho các giấy tờ tui mang theo đó.

    Trong barrack thì ai cũng biết tôi làm thiện nguyện ở phòng Dịch thuật và họ nói coi như tôi không phải lo lắng gì về chuyện thanh lọc nữa. Cao Ủy cũng như bên thanh lọc Indo sẽ giúp nhân viên của phòng Dịch thuật vì thực tế, chúng tôi đã phụ giúp công việc của họ. Ngay ông Bửu thì cũng nhiều bận quả quyết với đám nhân viên chúng tôi y vậy. Còn chúng tôi, ai nghe các điều này cũng thấy ngon ơ.

    Công trường bề bộn vật liệu nằm vương vãi đây đó trong một khu vực khá rộng và theo như Tám Kiệt nói thì nhà thầu Titan sẽ cất 9 dãy nhà ván gỗ lợp tranh thật lớn mà họ dành để huấn nghệ cho thuyền nhân trong trại. Cao Ủy bỏ tiền dựng khu Consortitum và họ để cho hai người Mỹ da trắng quản lý.

    - Chừng xây xong, Cao Ủy họ sẽ dạy người mình những nghề gì vậy hả anh Tám? Tôi hỏi thăm.

    - Ô! Sửa xe gắn máy, thợ điện, thợ nề, thợ mộc, may cắt quần áo, hớt tóc, đánh máy chữ và buôn bán nhỏ... nè. Tui nghe nói vậy đó. Tám Kiệt trả lời.

    Nghề mà Cao Ủy huấn nghiệp cho thuyền nhân như vậy không phải dành cho người sắp đi định cư ở nước thứ 3. Nói với Tám Kiệt và ông Phát về suy nghĩ của riêng tôi thì cả hai người họ gật đầu.

    - Cậu nói đúng! Ông Bob quản lý có nói với tụi tui là dạy các nghề này cho thuyền nhân trước khi họ hồi hương về lại Việt Nam. Chính vì nghe vậy nên tụi tui mới lo mới rầu nè. Ông Phát chậm rãi trả lời trong làn khói thuốc.

    Một ngôi trường với 9 dãy nhà quá rộng như diện tích hiện có thì Cao Ủy sẽ huấn nghệ được rất đông người cùng một lúc và chỉ trong thời gian ngắn là hoàn tất khoá học. Điều ông Phát lo lắng rất đúng vì rõ ràng Cao Ủy đã chuẩn bị các phần việc họ sắp làm trong ý định hồi hương thuyền nhân về lại quê nhà. Ở đây có trường dạy nghề thì các trại tị nạn khác bên Thái Lan, Malaysia, Phi, Hồng Kông... chắc cũng tương tự.

    Tám Kiệt ngồi yên lặng hút thuốc lá và dù vẫn luôn cười niềm nở thân mật nhưng khuôn mặt y đã lộ vẻ lo âu. Không như ông Phát là một cựu thông dịch viên cho quân đội Mỹ trước đây thì tôi nghe kể thời miền Nam VNCH, Tám Kiệt chưa hề đi lính hoặc là nhân viên trong guồng máy hành chánh công quyền. Tám Kiệt chỉ là dân buôn bán bình thường như nhiều người khác. Những điều vừa trò chuyện với nhau, tự dưng làm cả 3 người chúng tôi đâm lo về một tương lai dữ nhiều-lành ít đang chờ trước mắt. Khi còn ở dưới ghe, người nào cũng nghĩ một khi đến được trại tị nạn thì chỉ còn chờ ngày thơ thới định cư ở nước thứ 3 nào đó như Úc, Mỹ hoặc Canada... Nghĩ vậy nhưng chỉ cần một thời gian ngắn sống trong trại thì nhiều người đã tan biến mọi hy vọng sau khi dò hỏi tin tức từ những thuyền nhân đến trước đó. Người phải lo lắng cùng ít có hy vọng về cuộc thanh lọc là những thuyền nhân mà bản thân không hề dính líu chút nào với chính quyền miền Nam VNCH trước đây. Có làm việc thiện nguyện thông thường như ở zone hoặc ở ban Đại diện người Việt thì cũng chưa chắc. Ai cũng nói phải làm việc cho phòng An ninh P3V hay phòng thanh lọc Indo hoặc bên phía Cao Ủy... như phòng Dịch thuật tôi đang làm thì mới có hy vọng.

    Ngồi trò chuyện với Tám Kiệt và ông Phát, tự nhiên tôi thắc mắc không biết cái phòng Dịch thuật nơi mình đang làm thiện nguyện, thực sự nó có trực thuộc bên Cao Ủy hay bên phía thanh lọc Indo như lời đã nghe? Và, ông Peter Cao Ủy trưởng cũng như các sĩ quan bộ Nội vụ Indo thực có biết chúng tôi giúp sức hàng ngày cho công việc của họ hay không? Chắc tôi phải dò hỏi điều này với các bạn đồng sự trong phòng xem sao.

    Nhìn lại vẻ mặt gầy gò, hốc hác, mệt mỏi pha lẫn lo lắng của Tám Kiệt trước mắt, tôi phân vân không biết chuyện tình ái giữa y cùng Ánh Diễm nay ra sao rồi? Hai người họ vẫn lén lút với nhau như hồi còn ở trại trong rừng bên Malaysia hay giờ đây, vì lo lắng chuyện thanh lọc nên cũng chẳng thiết đến nhau nữa.

    Những lần trò chuyện qua lại với nhau trong barrack cũng như khi cả đoàn ghe đi khai báo lý lịch cá nhân, tôi biết thời còn miền Nam VNCH, Tám Kiệt từng dạy hoạ kỹ thuật tại trường cơ khí Cao Thắng và có lúc từng làm chủ một garage sửa xe hơi cho đến khi Việt Cộng tràn vào Sài Gòn thì y xoay qua buôn bán. Những năm gần đây thì y tổ chức vượt biên và đã đánh nhiều chuyến thành công. Tám Kiệt sống rất thoải mái trong trại và thực sự gia đình y chẳng phải thiếu thốn gì đến nỗi phải đi làm cho nhà thầu Titan để nhận lương công nhật hàng ngày. Đệ tử rồi người ơn trong các chuyến vượt biên năm xưa đã gửi tiền đến trại tiếp tế cho gia đình y đều đều. Điều mà Tám Kiệt lo âu giống như mọi thuyền nhân khác trong trại Galang là chuyện thanh lọc. Tám Kiệt bây giờ trông khác hẳn một Tám Kiệt khi ở trại trong rừng bên Malaysia dù lúc nào y cũng vẻ mặt niềm nở khi tiếp chuyện với bất kỳ ai. Tôi không ngạc nhiên khi nhìn Tám Kiệt gầy gò, hốc hác trước mặt rồi nhớ lại có lần nghe y than với người trong barrack rằng có lúc ăn uống không vô.

    Còn Ánh Diễm? Như đã kể ở trên, Ánh Diễm đi vượt biên một mình và khi nhập trại Galang đã sống chung với 2 phụ nữ cùng con nhỏ của họ sát bên cạnh chỗ ở của nhóm chúng tôi. Sáng nào cũng vậy, nhiệm vụ của tôi và Đỉnh là dậy thật sớm để quẩy đôi thùng xuống suối gánh nước về barrack cho cả nhóm 5 người dùng trong ngày. Yến, Đào và Bẩy không còn phải xuống tắm dưới suối nữa. Khi trời mới tang tảng sáng thì suối mới có nước trong. Không lâu sau, Đỉnh nhận gánh nước thuê cho riêng mình Ánh Diễm rồi sau đó cũng chính nó đã dẫn Ánh Diễm ra mắt anh Khảm để xin học Anh ngữ. Có những buổi trưa, Đỉnh và Ánh Diễm ngồi với nhau tại cái bàn cây cạnh barrack để ôn bài cũ vừa học. Một lần tình cờ khi vừa từ phòng Dịch thuật về barrack ăn cơm trưa thì tôi đã thấy Tám Kiệt đứng nấp sau thân cây Tràm bông vàng gần đó và đang dõi mắt quan sát hai người họ. Kể lại cho Đỉnh nghe và mong biết để phòng nhưng nó chỉ cười cười mà không nói gì với tôi.

    Một sáng Chủ Nhật, nhóm chúng tôi làm một chuyến pinic đi tắm biển Galang theo lời hẹn với anh chị Khảm-Phượng. Đây là lần đi tắm biển đầu tiên của nhóm chúng tôi. Thấy Đỉnh loay hoay bên các món ăn-thức uống mang theo, tôi hỏi thì nó cho biết vì có thêm cả Ánh Diễm đi cùng. Gặp nhau ngay trước quán cà phê Dạ Lý của bác sĩ Luân, nhóm chúng tôi cùng anh chị Khảm-Phượng đi qua kho trữ dầu hôi của Cao Ủy rồi men theo con đường đất đỏ quanh co bên các hàng cây rừng xanh rậm cùng bờ đất đồi thoai thoải chạy dài gần cả cây số thì mới ra được bãi biển. Đây rồi, làn nước xanh dương bên bờ cát trắng quen thuộc như mọi bãi biển đang trải dài trước mắt chúng tôi. Một làn gió mát từ hướng biển thổi vào làm cả đám chúng tôi khoan khoái vì thấy nỗi mệt phải cuốc bộ đoạn đường khá dài đã tan mất hẳn. Dọc theo bờ cát trắng, dưới các tán lá rộng của các bụi cây ven đường đã có từng nhóm người khác trong trại xí chỗ từ lúc nào rồi nên nhóm chúng tôi đành phải đi tiếp vào sâu hơn để mong tìm được nơi nghỉ chân. Ở đảo tị nạn Galang vì phòng an ninh P3V cho phép thuyền nhân đi tắm biển chỉ nội trong ngày Chủ Nhật nên vào ngày này, lúc nào bãi biển cũng đông người. Tiếng í ới gọi giúp nhau căng các tấm bạt che nắng gần các bụi cây cùng tiếng đệm đàn Guitar vang vang từ một nhóm trẻ nam nữ đang đùa cười nắc nẻ với nhau trong một lùm mát. Vài trẻ nít chạy tới chạy lui chơi trò cút bắt hoặc khoe cho nhau xem những con còng nhỏ xíu mà chúng vừa bắt được. Gió biển thổi mát lạnh nhưng ánh nắng đã bắt đầu chói chang làm cả nhóm chúng tôi rảo nhanh chân kiếm chỗ nhưng vì đi trễ nên khó tìm được một nơi ngon lành.

    - Mình đành phải đi sâu vào phía trong thôi, anh Khảm bảo.

    Như hình ảnh thường thấy ở các đảo hoang, bãi biển Galang thật đẹp vì nó vẫn còn nguyên những cảnh của thiên nhiên. Nước biển xanh lơ cùng bãi cát trắng phẳng chạy thật xa mới đến mép nước y như bãi biển ở Long Hải gần Vũng Tàu. Sát bờ là các bụi cây nhỏ như Ô rô, Cóc kèn hoặc các cây nhơ nhỡ như Mù u, Đước, Trâm biển... Trên bờ, cạnh bên đường đi là các bụi cây thấp mọc nối nhau từng vạt tiếp giáp liền với rừng rậm. Đi mãi đến khúc bờ thưa người thì cả nhóm mới chọn được một chỗ vừa ý ở dưới bóng hai bụi cây Mù u thấp để làm nơi nghỉ chân. Trải tấm nylon khá rộng trên nền cát, đám chúng tôi ngồi nghỉ ngơi, dõi mắt nhìn chung quanh. Người người kéo nhau xuống tắm xa xa nơi mép nước của biển đang cơn triều cường. Tôi, Đỉnh và anh Khảm lấy các tấm võng nhựa căng dưới những cành thấp của bụi cây trong lúc chị Phượng kéo cả bọn Yến, Đào, Bẩy cùng Ánh Diễm vào trong rừng để thay quần áo tắm. 3 người nam giới chúng tôi chỉ trần xì với một quần short và tuy chưa xuống nước mà đã cảm thấy lạnh. Có lẽ vì chúng tôi ngồi trong bóng cây mát lại có gió biển. Anh Khảm cũng rùng mình nhưng khích lệ nói là cứ xuống nước tắm một lát thì sẽ thấy ấm thấy quen ngay.

    Khi các cô gái trong nhóm từ rừng ra tới nơi thì anh Khảm bảo cả bọn ai muốn tắm thì tắm nhưng nên để một người ở lại trông chừng đồ đạc và sẽ ăn uống chung một lượt cho tiện vào lúc trời trưa. Nhìn chung quanh, không hiểu sao nữ giới ở trại tị nạn Galang lại không mặc bikini như ở các bãi biển bên quê nhà mà thay vào đó là bộ quần short-áo thun y như với nam giới chúng tôi. Đỉnh hỏi thì anh Khảm trả lời:

    - Cũng chẳng hiểu tại sao nữa em, thực ra Cao Ủy và phòng an ninh P3V đâu có cấm nhưng người mình ở đây khi tắm biển thì anh chưa thấy ai mặc bikini. Có lẽ vì đang ở nước Hồi giáo nên người tị nạn mình e dè.

    Vừa lúc, có hai cặp nam nữ ghé vào một bụi cây bên cạnh chỗ chúng tôi. Anh Khảm thấy họ thì hỏi nhỏ với tôi và Đỉnh.

    - Các em biết hai cha nội đó không vậy?

    Nhìn hai người đàn ông một cao một thấp đang lúi húi sắp xếp các túi đồ đạc, tôi và Đỉnh lắc đầu. Anh Khảm tiếp.

    - Thạc và Văn đó. Lát nữa có dịp thì anh sẽ kể cho tụi em nghe chuyện về họ. Giờ mình đi tắm trước đã.

    Thạc, Văn! Ra là hai người nầy. Đến trại mới có vài tuần lễ thì chúng tôi đã nghe các chuyện kể về họ. Hai người tị nạn mà không một phái đoàn của nước thứ 3 nào dám nhận cho định cư vì câu chuyện vượt biên của họ. Nhưng chỉ là các câu chuyện vụn vặt được nghe mà không rõ ràng làm tôi háo hức muốn anh Khảm kể liền nhưng anh đã xua tay ngầm bảo đi tắm ngay. Tôi và Đỉnh kéo nhau xuống bãi cát mà giờ đây ngấn nước triều lên đã gần với bờ hơn trước. Chân tôi dẵm lên những viên tròn nhỏ nằm dầy chi chít trên mặt bãi cát mịn do bầy Dã tràng vừa se để lại mà chỉ chốc lát nữa thôi thì nước biển sẽ làm mất đi công trình của chúng. Gần đó, vài người đi lòng vòng lật các hòn đá khá lớn để mong bắt được các con ốc biển hoặc ghẹ bị mắc kẹt khi nước rút. Bãi biển ở đây khá đẹp vì có bãi cát trắng mịn trải dài song song với rừng cây trên bờ và khi lội ra thật xa nhưng vẫn chỉ ngập tới phần bụng. Tôi gặp lại Ánh Diễm, chị Phượng rồi thấy cả Bẩy, Đào và Yến nữa đang vùng vẫy trong nước giữa đám đông người tắm biển.

    Tiếng ai đó trong bọn họ gọi lớn hai đứa tôi:

    - Anh Đỉnh, anh Vũ ơi! Lại đây với tụi em cho vui.

    Tôi và Đỉnh từ từ tiến lại chỗ họ. Trong làn nước trong vắt ngập gần tới ngực, các cô gái nầy thật đẹp. Làn da trắng hồng, các lọn tóc đen trên cổ trên bờ vai của họ. Nước biển đã dán y phục sát vào người họ cho thấy lờ mờ nhưng rõ ràng là các bờ ngực căng tròn với các núm nho nhỏ. Nước trong vắt có thể thấy cả phần bụng của họ với lỗ rốn sâu cùng cặp đùi đứng trên mặt cát. Tôi và Đỉnh nhìn họ mà ngơ ngẩn. Đó là họ mặc quần short-áo thun chứ nếu mà là bikini thì còn đẹp còn quyến rũ tới đâu nữa. Thấy tôi và Đỉnh cứ nhìn xăm soi lại cười tủm tỉm nên các cô gái đã lộ vẻ mắc cỡ trên khuôn mặt đỏ hồng. Kể cũng lạ, không muốn hai đứa tôi ngắm thì mấy cô gọi đến để làm gì. Đã thế lại mặc quần áo mỏng nữa, ai bảo!

    - Phải chi mình giữ lại các áo phao thì có nó mặc vào mới dám lội ra ngoài xa. Ánh Diễm lên tiếng.

    - Tụi em lội dở ẹt à. Anh Vũ, anh Đỉnh chắc lội giỏi lắm ha? Đào góp lời.

    Đỉnh mỉm cười, nói:

    - Không biết anh Vũ sao chứ tui lội thì dở nhưng lặn lại rất giỏi... tới 3 ngày mới nổi đó.

    - Đang tắm biển mà Đỉnh nói nghe thấy ghê vậy. Chị Phượng hấp tấp cắt lời.

    Ngoại trừ Đào và Bẩy là dân vùng sông nước nên bơi lội dễ dàng chỉ có chị Phượng, Ánh Diễm và Yến là không biết bơi thật. Rồi đám chúng tôi lần lượt tản ra nhập chung với những người khác đang ngụp lặn đây đó. Tắm, đùa nghịch cho đến khi chị Phượng và Đào đến gần bảo cả đám lên bờ nghỉ. Đỉnh và Ánh Diễm đang gần bên nhau trong một chỗ khá xa, tôi vòng tay làm loa gọi to nhưng cả hai vẫn không nghe.

    Lên bờ đến chỗ dừng chân thì thấy anh Khảm đã làm xong các ổ bánh mì kẹp thịt hộp pate cùng dưa leo, muối tiêu sẵn sàng cho cả bọn rồi lại có cả xôi vò, chuối và cả nước ngọt Pepsi nữa. Thấy người anh Khảm vẫn khô rang, tôi hối anh đi tắm đi thì chị Phượng cười, nói:

    - Trời ơi! Ổng làm như dân nghiện thuốc phiện đó em, ra biển toàn ngồi hóng gió hoặc đi lòng vòng trên bờ không hà.

    Tôi cũng ít tắm biển vì cái cảm giác khó chịu khi nước mặn nó dính vào người sau mỗi lần tắm. Biển ở Galang không có vụ tắm lại bằng nước ngọt để xả chất mặn như bên quê nhà nên tôi đành phải lấy khăn lông ra cố lau cho khô người rồi ngồi xuống lấy nước và cùng ăn uống chung với cả bọn.
    (còn tiếp)

  5. #25
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 39 Times in 30 Posts

    Default Re: Con Sóng Dữ - Phạm Thắng Vũ

    (tiếp theo)

    Bữa ăn dã chiến qua thật nhanh mà chưa thấy Đỉnh và Ánh Diễm lên bờ nghỉ. Tôi đảo mắt nhìn tìm mà không thấy hai người họ ở đâu trong số đông đang tắm lố nhố tuốt đằng xa. Chị Phượng cùng 3 cô Đào, Bẩy và Yến kéo nhau đi dạo trên bờ cho biết đây đó. Thấy đám 4 người của nhóm Thạc, Văn đi tắm biển chưa về, tôi liền hỏi anh Khảm về câu chuyện của họ. Ngồi lại gần bên tôi, anh Khảm kể:

    - Vũ biết là hai người họ đến trại trước ngày Cao Ủy tuyên bố Cut Off Day đóng cửa chỉ bằng một chiếc ca nô nhỏ. Galang cách nước mình bao xa thì Vũ cũng biết rồi mà họ dám khai là vượt biên thẳng từ Việt Nam sang đây bằng chiếc ca nô đấy. Khai vậy nhưng khi các nhân viên phòng an ninh P3V xuống kiểm tra dưới ca nô thì lại thấy có y phục của nữ giới gồm cả áo ngực, quần lót mà kích cỡ to nhỏ khác nhau. Thêm vào đó họ cũng thấy có cả vàng lá và tiền Đô cả cọc nữa mới chết.

    - Đi vượt biên từ Việt Nam sang Galang bằng ca nô! Làm sao có đủ xăng dầu mà chạy máy? Tôi hỏi anh Khảm dù đã nghe kể về chuyện vượt biên bằng ca nô của họ từ trước đó rồi.

    - Thì vậy! Thêm cái vụ y phục phụ nữ còn sót lại trong ca nô nữa lại càng làm cho Cao Ủy và phòng an ninh P3V nghi ngờ về câu chuyện của họ đã khai.

    - Rồi sao nữa hả anh.

    - Ca nô nhỏ như vậy thì ai cũng biết không thể nào làm một chuyến hải hành tuốt từ bên quê nhà để đến đây được. Không có mặt nữ giới trên ca nô vậy thì quần lót, xú chiêng đó là của ai? Hai người nầy khai là anh em ruột mà Vũ thấy họ thì một cao một lùn, một trắng một đen. Anh em ruột, thực ra cũng có thể có như vậy nhưng so khuôn mặt cả hai lại khác hẳn nhau và đặc biệt là một người nói giọng Bắc, một người nói giọng miền Nam. Chính vì vậy mà Cao Ủy và phòng an ninh P3V đã nghi ngờ về nhân thân của hai người nầy nên chẳng có phái đoàn nước thứ 3 nào chịu nhận cho họ đi định cư hết. Đến Galang lâu lắm rồi mà cả 2 anh em họ vẫn cứ phải ở lỳ trong trại. Có lẽ, luật sư phỏng vấn của phái đoàn các nước thứ 3 cũng sợ đưa lầm tội phạm vào nước họ nên mới từ chối chứ em. Anh Khảm lắc đầu sau khi ngừng kể.

    Ngồi yên lặng suy nghĩ về câu chuyện của Thạc, Văn trong chốc lát. Tôi quay lại hỏi anh Khảm:

    - Phòng an ninh P3V rồi cả trật tự của ban Đại diện người Việt mình có điều tra gì thêm về họ không hả anh?

    - Ôi! Anh cũng chẳng biết rõ nhưng nghĩ hơi sức nào mà họ làm chuyện ruồi bu. Người tị nạn nào mà có vấn đề khúc mắc về lý lịch thì họ sẽ bị kẹt ở trại rất lâu thôi. Như hai người nầy vậy đó. Kể ra thì cũng nhờ vậy mà trong trại ít nhiều mới có an ninh, chứ không thì dễ gì dân mình mà sống yên ổn với đám du côn du đảng trà trộn trong số thuyền nhân được hả em. Thực ra chuyện của hai người nầy thì anh đã nghe bác sĩ Luân kể rằng tụi Indo làm ở bệnh viện cho ông ta biết là phòng an ninh P3V nghi ngờ cái ca nô đã được thả xuống từ một tàu hàng viễn duyên nào đó ở gần Singapore. Tất nhiên là có cả vài phụ nữ đi chung với hai tay Thạc, Văn nầy và hai gã đã vất mấy người nầy xuống biển trước khi chạy ca nô vào Galang. Đại loại câu chuyện là vậy.

    - Họ đã vất phụ nữ cùng đi chung trên ca nô xuống biển? Tôi trợn mắt, hỏi.

    - Phải! Nếu căn cứ vào số y phục đó và thực sự là hai gã này đã không trả lời được về những câu hỏi nghi ngờ của phòng an ninh P3V.

    Trời bây giờ đã quá trưa, mặt trời vén mây giáng xuống những tia nắng nóng cháy da. Ngồi trong bóng mát của bụi cây rậm mà hai mắt tôi muốn loá vì ánh nắng sáng chói. Trời càng nắng thì càng thêm người kéo nhau nhào xuống đẫm mình trong làn nước biển mát lạnh. Được một lát thì anh Khảm lên nằm đung đưa người trên chiếc võng và rồi sau đó anh nhắm mắt như ngủ. Ngồi một mình cũng chán nên trùm chiếc khăn trên đầu che nắng, tôi rời khỏi lùm cây và đi tản bộ không chủ định trên con đường sát bờ. Có quá đông người đi tắm biển trong ngày Chủ Nhật hôm nay. Mùi thịt nướng thơm lừng bốc ra từ một cái bếp dã chiến của một nhóm người đóng trại dưới các tàng cây lớn. Tiếng mời nhau cụng ly uống bia của bọn 5 người mặt đỏ lừng ngay tại bụi cây rậm gần bờ cạnh bên con đường. Tiếng lốp cốp đập đá cục của chị phụ nữ ở cái bàn nhỏ bán hàng giải khát hòa với tiếng đàn Guitar từ tay một thanh niên đang ngồi trên một cành cây cong khá lớn sát bờ chung với tiếng hát nho nhỏ của 2 cô gái ngồi gần bên. Một nhân viên của phòng an ninh P3V trong bộ đồng phục đi tuần ngang qua, khoát tay chào và nở miệng cười với bọn người Việt chúng tôi. Tiếng động, hình ảnh của cảnh vật thật quá êm ả và an bình trong trại tị nạn.

    Cảnh vật êm ả và an bình trước mắt nhưng chính vì vậy lại gây cho tôi một xáo trộn trong lòng khi tôi thấy lại bản thân mình đang đi dọc theo bờ biển của đảo hoang trong chuyến vượt biên không thành vừa rồi. Cũng những bụi cây sát biển mang bóng mát cho đám người vượt biên chúng tôi khi phải đổ bộ lên hòn đảo vì chiếc ghe bị hỏng máy đây mà. Tôi đi... đi yên lặng mà dòng ký ức đang tuôn chảy trong trí. Ánh Phương, Mỹ An bây giờ đang ở đâu và ra sao rồi? Nắng lọt qua các cành cây soi ánh sáng lỗ chỗ xuống nền cát làm tôi đứng lại và khẽ lấy tay mình chao qua đảo lại như giỡn với tia nắng quái. Tia nắng in trên bàn tay làm tôi nhớ cũng tia nắng như thế này đã đọng lại trên cánh tay trần trắng đẹp của Ánh Phương trong buổi trưa ngày hôm đó. Tôi từ từ ngồi xuống, quay mặt ra hướng biển mà mường tượng như đang ngồi với Ánh Phương trong chung một tâm trạng lo âu với nàng về chuyến đi đột nhiên bị trục trặc bất ngờ. Anh, anh đây... còn em... Ánh Phương ơi! Em đâu rồi? Tôi gọi thầm trong gió.



    Bãi biển Galang nơi tôi đi... đi tiếp trong nỗi buồn
    vì các hoài niệm cũ dạt dào tuôn chảy trong lòng.

    Tôi đứng lên rồi lại bước đi tiếp trong nỗi buồn vì các hoài niệm cũ dạt dào tuôn chảy trong lòng. Kia rồi, các gò đá dưới các bóng cây sát biển y như nơi mà anh Tấn, thằng Minh cùng với Dũng và tôi từng ngồi lúp xúp bên nhau để tránh cơn mưa đến bất ngờ. Tôi lại nhìn ra hướng biển lần nữa như muốn tìm lại hình bóng của con tàu hải tặc đã mang Ánh Phương đi mất. Nhưng biển vắng lặng tuy vẫn màu xanh lơ cùng các dợn nước cuồn cuộn từ xa nối nhau tiến vào bờ làm thành các lượn sóng trắng xóa. Tôi bước từng bước đến gần mép nước hơn. Biển chỗ này không còn là bãi cát trắng dài phẳng lì nữa, thay vào đó là một hõm nước đọng cùng các bờ đá nhấp nhô. Các tảng đá lớn nhỏ nằm chìm hoặc nổi đây đó trong làn nước ngầu bọt chung với rác lá cùng từng chùm rong biển nổi vật vờ. Không một người nào ở bên cạnh, tôi biết mình đã đi xa khỏi chỗ người tắm biển. Đến một bóng cây gần nhất, tôi ngồi xuống trên một cành la đà sát với mặt cát trắng. Sóng biển vỗ vào bờ từng đợt kêu ùm à và nghe như lời rì rào từ các chỗ xa xa vọng lại. Tiếng sóng như tiếng thì thào của những người thân quen với tôi trong chuyến ghe gặp nạn. Cũng một thời điểm êm ả và an bình như ở đây bây giờ nhưng có ai biết ghe chúng tôi khi đó đang trong tay hải tặc tại một vùng biển giữa trời trưa nắng. Tôi nhắm mắt và thoáng thấy bóng dáng của Ánh Phương dọc con đường mình vừa đi qua. Ánh mắt Ánh Phương cùng nụ cười tươi chỉ hiển hiện trong có một giây như tôi vừa thấy nàng đâu đó ở bãi biển này. Phải rồi! Dáng ngồi cùng mái tóc dài, Ánh Phương là một trong hai cô gái ngồi hát chung với tiếng đệm đàn Guitar của anh thanh niên trong bóng cây mát. Tôi nhủ lòng khi quay trở lại thì sẽ phải xem mặt cô gái đó cho thật rõ.

    Tiếng chân người bước khẽ đến gần sau lưng và một bàn tay đặt nhẹ lên vai cùng với tiếng nói đã chận ngang luồng suy tưởng của tôi.

    - Anh Vũ làm gì mà đi ra tuốt tận ngoài đây vậy?

    Yến! Phải. Chính là Yến. Tôi đứng lên nhìn thẳng vào khuôn mặt nàng mà không nói một lời. Dòng ký ức cũ vẫn còn vướng vất trong tâm trí khiến tôi chân bước song song bên Yến nhưng vẫn giữ yên lặng.

    - Em có làm gì khiến anh giận thì cho em xin. Anh... anh.

    Yến ấp úng khi dứt câu. Tôi đứng lại, nắm lấy bàn tay của nàng và khẽ lắc đầu. Yến để yên tay nàng trong tay tôi và cũng nhìn tôi, miệng nàng thì thào:

    - Nhìn mặt anh kìa! Tự dưng sao anh lại buồn quá vậy. Em có lỡ lời gì với anh không?

    Tôi lắc đầu lần nữa và từ từ kể vắn tắt cho Yến nghe chuyến ghe mình gặp hải tặc nhưng không đả động một chút gì về chuyện Ánh Phương. " Khung cảnh ở bãi biển Galang này tự nhiên đã làm anh nhớ đến tấn thảm kịch của ngày hôm đó. Nếu không gặp em thì chắc giờ này anh vẫn còn ngồi nguyên một chỗ đấy ", rồi chấm dứt câu chuyện.

    - Anh vẫn dặn em đừng đi vào rừng hoặc ngồi ở chỗ vắng có một mình rủi gặp rắn độc cắn hay trúng gió không ai biết thì chết mà anh lại dám làm như vậy. Nói người ta được còn mình thì không. Yến trách nhẹ tôi.

    Hai đứa quay trở về lối cũ, Yến cho biết vì không gặp tôi nên nàng đi tìm và thấy tôi thơ thẩn xa xa rồi có lúc lại vào rừng và sau cùng ngồi một chỗ như một gã... khùng.

    - Lúc thấy anh thì em gọi mà chắc anh không nghe hoặc nghe mà cố ý không trả lời nên em đi theo xem coi ra sao.

    Tôi mỉm cười với Yến, tội nghiệp nàng vì đã hiểu lầm khi thấy bộ dạng của tôi. Yến nào biết những bồi hồi, xúc cảm trong lòng tôi khi đó. Đi ngang qua một bụi cây rậm rạp, chợt Yến dừng lại và chỉ cho tôi thấy những chùm trái nho nhỏ bằng đầu ngón tay có mầu tím sẫm rồi hỏi:

    - Anh! Cái trái này tên gì vậy? Mình ăn nó có được không? Xem hoa của nó nè. Đẹp quá ha!.

    - Ô! Hoa Sim đây mà. Trái nó ăn được nhưng sẽ làm răng mình đen đó em.

    Tôi trả lời Yến và hái vài trái bỏ vào miệng nhai cho nàng thấy. Một vị ngòn ngọt cùng cái hậu chan chát khi cắn bể những hạt nho nhỏ trong ruột trái Sim đó. Yến cũng làm theo tôi và sau đó nàng còn hái thêm cả vốc tay nữa. Nàng ăn hết trái này tới trái khác rồi nói:

    - Ăn cũng ngon chứ anh.

    Rồi Yến bẻ vài nhánh hoa Sim cầm trên tay, liến thoắng:

    - Để em mang về cho mấy chị xem. Hoa nó đẹp quá, tự dưng em thấy thích nó lắm.

    Tôi yên lặng, hái thêm các chùm trái khác và đưa hết cho nàng. Yến, một tay vung vẩy các nhánh hoa Sim còn tay kia bụm ngửa chứa đầy nhóc những trái chín tím sẫm của tôi với nàng vừa hái được.

    Quay về đến chỗ nghỉ chân của cả bọn thì hai đứa tôi gặp một người khách đang ngồi trên chiếc võng đó là ông Bửu. Ông ta đang dở chuyện với anh chị Khảm-Phượng cùng các cô Đào, Bẩy, Ánh Diễm và Đỉnh. Mỗi người họ trên tay cầm một mẩu kẹo kéo đang ăn dở. Xe mô tô của ông Bửu dựng cạnh bên chiếc xe đạp bán kẹo kéo của một thanh niên còn trẻ. Tay cậu ta thoăn thoắt kéo khối kẹo trắng thành khúc dài rồi sau đó búng gẫy từng đoạn ngắn độ gang tay và đưa nó cho người đến mua ăn. Thấy tôi và Yến thì anh Khảm bảo:

    - Cô cậu trốn đâu bây giờ mới thấy. Lại đây ăn kẹo kéo cho vui.

    - Em với anh Vũ đi tuốt vào trong kia hái trái Sim chín nè thầy. Lần đầu em mới biết đến nó đó. Ăn nó... thấy cũng là lạ. Mấy chị ăn thử đi. Em cũng hái cả hoa của nó nữa nè. Trông đẹp chưa... thích chưa! Yến nói một hơi khi nàng bỏ bụm trái chín cùng các nhánh hoa Sim xuống bên cạnh một cái dĩa nhỏ đựng vài đoạn kẹo kéo trên một tờ giấy báo nằm giữa chỗ ngồi của chị Phượng, Ánh Diễm cùng 2 cô Đào, Bẩy.

    Ngồi gần đấy, miệng đang nhai nhóp nhép nhưng Đỉnh đưa mắt ngầm mời tôi và Yến lấy kẹo kéo trong dĩa ăn rồi nhìn lên ông Bửu, nó hỏi:

    - Bác ơi! Kể tiếp nữa đi bác.

    Ông Bửu đong đưa người trên chiếc võng, nhìn tôi và Yến rồi mỉm cười, trả lời:

    - Cậu Vũ và cô này... đột ngột làm tôi ngưng ngang câu chuyện... Mà tôi kể đến đâu rồi?.

    - Anh đang đến đoạn nuôi ong có nhiều mật mà bán không được vì bị tụi thương lái ép giá đó. Chị Phượng xen vào.

    Ồ! Phải rồi. Ông Bửu thốt lên và nhìn đám chúng tôi rồi khẽ đằng hắng như lấy trớn nói tiếp:

    - Như tôi đã kể can nãy. Dạo đó ong tôi nuôi được mùa hoa trái xum xuê nên cho mật nhiều mà đám thương lái nó chơi ép, nại lý do mật của tôi vì ong lấy từ hoa ở rừng cao su không ngon nên bảo tôi phải hạ giá thì chúng mới chịu mua. Mật ong, bất cứ hút từ loài hoa nào thì vị cũng đều thơm ngọt như nhau. Có khác là khác cái mùi mật thôi và không bao giờ ong nó lại lấy mật từ các loài hoa độc. Tôi đâu chịu cái lối chơi ép đó của bọn thương lái nên đành phải đi tìm các mối hàng khác. Nhưng nói vậy mà không phải dễ vì tụi thương lái chúng biết mặt nhau hết cả nên về hùa với nhau chơi ép tôi. Ong tôi nuôi làm ra mật nhiều lại không bán được ngay nên có lúc đã tràn ra từ các thùng tổ rồi chảy nhễu nhão rớt xuống đất. Chính vì vậy mà tôi mới thấy một việc lạ đó là dù mật chảy vương vãi trên đất thành từng bệt nhưng lại không hề có một con ruồi hay con kiến nào tìm đến ăn như mình thường thấy ở các thứ có chất ngọt. Tôi có hỏi những người nuôi ong khác về chuyện này thì họ còn cho biết những tổ ong ở ngoài thiên nhiên cũng y vậy. Mật ong vàng óng lộ ra ngoài thành tổ, vừa ngọt vừa thơm mà không hề có bóng loài ruồi loài kiến nào héo lánh đến. Làm như trong mật ong nó có một chất gì đặc biệt lắm mới khiến loài ruồi loài kiến phải tránh xa.

    - Anh kể thì tôi mới để ý thấy có như vậy. Lạ quá ha. Anh Khảm xen vào.

    Chuyện ông Bửu vừa kể làm tôi nhớ có lần tại phòng Dịch thuật thì ông đã cho biết là bản thân từng có lúc mưu sinh bằng nghề nuôi ong lấy mật tại quê nhà. Ông Bửu sau khi thở ra một hơi thuốc lá, nhìn anh Khảm rồi tiếp:

    - Anh nói lạ nhưng chưa bằng cái chuyện mà tôi nghe được từ những người nuôi ong khác kể là mật ong còn có thể chữa được cả bệnh hủi nữa đó.

    Bệnh hủi, có nơi người ta gọi là phong cùi, một bệnh nan y mà ai cũng sợ vì hình ảnh ghê rợn của nó. Người bị bệnh cùi thì mặt mũi và tay chân họ bị lở lói hoặc cụt lủn vì vi trùng đục khoét cơ thể từ từ làm rụng từng lóng chân lóng tay một. Có người kể là người giàu bị bệnh cùi còn phải mài vàng y ra uống để mong nhờ vàng mà căn bệnh quái ác này sẽ chậm phát tác. Nhưng có uống vàng y thì cũng không trị dứt hẳn được bệnh cùi. Người bị bệnh cùi sống ở đâu thì cũng bị cộng đồng bỏ lơ, bà con và họ hàng trông thấy cũng tránh xa. Ai rủi mắc phải bệnh này thì ít nhiều cũng bị xã hội gán cho là hậu quả từ một việc làm ác đức nào đó mà họ đã tạo ra trong quá khứ.

    Như mỗi lần sắp sửa kể về một chuyện gì thì ông Bửu có thói quen hay nhắm mắt như để hồi tưởng về quá khứ và cái đầu của ông có lúc lại gật gù nhè nhẹ. Hôm nay cũng vậy làm đám chúng tôi phải chú ý đến bộ dạng của ông. Một khoảnh khắc chờ đợi qua đi, ông Bửu mở mắt ra và kể:

    - Ở rừng U Minh nơi tận cùng của nước Việt mình là một vùng rừng chạy từ trong đất liền ra tuốt ngoài biển lớn. Rừng ở đây bạt ngàn và rất nhiều nguồn lợi như cá, tôm, củi, than... tôi không nói làm gì. Trong số nguồn lợi thiên nhiên đó thì đáng kể là mật ong rừng. Ong tự chúng làm tổ dày đặc mà do người gác kèo giúp chúng dễ làm tổ cũng có nhưng dù bằng cách nào thì tổ cũng rất nhiều. Chính vì vậy mà hàng năm đã thu hút dân tứ xứ chèo ghe đến ăn dầm nằm dề để chờ lấy mật ong trong tổ bám dưới những kèo gác trên thân cây tràm. Kèo ong là do họ làm và cứ kèo làm năm nay thì họ sẽ đến lấy mật vào năm tới. Cứ làm kiểu gối đầu như vậy và có một quy luật bất thành văn của dân trong nghề ăn ong là không ai lấy trộm kèo mật của ai. Mỗi cây kèo sẽ là một hũ mật ong. Một nguồn lợi thiên nhiên, ai siêng năng làm thì nấy hưởng chứ không có vụ ăn sẵn, đi hớt ngang mật ong của người khác. Trong nhiều giống ong lấy mật ở đó thì có một loài ong lạ vì trên lưng có mầu ngũ sắc. Chúng khác các giống ong thông thường ở chỗ là không sợ khói và mật của chúng gom được thì rất ít nhưng lại vón thành cục như đường phèn. Đã thế, tổ của loài ong này lại nằm cheo leo trên các ngọn cây cao và rất khó tìm thấy. Khi lấy được mật của loài ong đó rồi thì người ta mang về để luyện thành thuốc dùng trị bệnh hủi. Luyện nó như thế nào mới thành thuốc? Là để hàng chục ngọn nến trắng chong chung quanh chén mật trong vòng một ngàn ngày thì sẽ thành và khi đó mật... Bây giờ là thuốc, có thể trị dứt bệnh hủi. Chữa dứt không phải là làm cho người bệnh đã lỡ rụng mất ngón chân ngón tay thì sẽ mọc lại các ngón mới mà chính là làm căn bệnh ngưng phát tác hoàn toàn. Các vết hủi trên cơ thể từ từ nó sẽ khô đi và người bệnh lành da trở lại.

    - Nghe thấy hoang đường và vô lý quá hả anh. Có thật được như vậy không? Chị Phượng cắt ngang khi hỏi ông Bửu.

    - Hừm!... hừm... Ông Bửu gắt giọng, tiếp:

    - Cái chị này lạ! Tôi chỉ kể lại những gì được nghe người khác nói thôi. Chị làm tôi hết muốn kể chuyện nữa.

    - Anh! Có ai khỏi bệnh cùi sau khi uống mật ong ngũ sắc hay thuốc luyện được đó không? Ý của em là thắc mắc vậy thôi chứ đâu có ám chỉ gì anh đâu... Kể tiếp đi mà, tụi em muốn nghe. Chị Phượng cười thật tươi sau câu nói nhằm xoa dịu cái bực bội nơi ông Bửu.

    - Được! Nghe tiếp đây. Ông Bửu đảo mắt nhìn chị Phượng như một trách móc rồi chậm rãi tiếp:

    - Có một cô gái con ông điền chủ ở vùng Bạc Liêu bị vướng bệnh hủi. Thuốc thang rồi uống vàng y mãi mà không thấy bệnh thuyên giảm. Nghe người ta kể về môn thuốc luyện từ mật ong này thì ông điền chủ và cô con gái liền thu xếp đi tuốt xuống vùng U Minh. Ông cất chòi ở giữa rừng và mướn người đi lấy mật loài ong lưng ngũ sắc về để ông ta luyện thuốc cho con gái. Sống biệt lập như vậy cả hàng mấy năm trời thì sau cùng ông điền chủ mới luyện được chút xíu thuốc để con gái mình uống. Tốn tiền của, công sức nhưng luyện được thuốc thì cũng bõ công. Có điều trong thời gian sống trong rừng thì cô gái hủi cũng đã bị ong đánh cho vài lần tưởng chết. Sau khi uống thuốc được thời gian ngắn thì bệnh hủi trên người cô đổi khác. Những vết lở lói chảy nước vàng khi trước lành miệng dần dần và rồi cô ta khỏi hẳn căn bệnh.

    - Thuốc trị bệnh cùi luyện từ mật ong thần kỳ như vậy mà tới hôm nay tôi mới biết đấy. Anh Khảm ngồi hẳn lên trong chiếc võng như một cử chỉ hoài nghi về câu chuyện của ông Bửu kể.

    Anh Khảm vừa dứt lời thì mấy cô gái cũng xì xào với nhau... Chuyện lạ quá... em mới nghe được bác này kể lần đầu... Ông Bửu ngồi ở võng nghe và thấy thái độ của họ nên cất tiếng:

    - Chuyện luyện mật ong thành thuốc trị bệnh hủi mà tôi kể đúng là đầy vẻ huyền bí và hoang đường thật nhưng thử nghĩ xem, ở cái thời buổi mà chưa có ánh sáng của cái gọi là khoa học như bây giờ thì người ta phải bám víu về một niềm tin siêu hình nào đó khi gặp chuyện không may trong đời để mà sống mà tồn tại chứ. Phải không nào? Thực tế là có nhiều chuyện huyền bí mà không thể nào dùng con mắt khoa học để giải thích được, chỉ biết là có chuyện đó... đã xẩy ra. Cá nhân tôi thì cho là có thể do bị ong đánh vài lần mà cô gái con ông điền chủ đó đã khỏi bệnh hủi. Anh chị cùng mấy cô cậu này chưa biết khi ong mà đã cố đánh ai thì nó khủng khiếp như thể nào. Nguyên đàn bay đến cả trăm con chứ ít gì, có nhẩy xuống nước thì bọn ong cũng chờ nổi lên để đánh tiếp cho kỳ được chúng mới thôi. Trong nọc ong và mật ong chắc phải có chất gì rất đặc biệt nên mới chống được với bệnh hủi, tôi nghĩ vậy.

    Vừa dứt lời thì ông Bửu đã vội rời khỏi chiếc võng khi một nhân viên phòng an ninh P3V từ đâu đi đến và y ta ra dấu tay như muốn nói chuyện với riêng ông. Sau đó, ông Bửu quay qua nói với đám chúng tôi là ông có chuyện phải đi gấp rồi đạp máy chiếc xe mô tô và chở gã nhân viên chạy thẳng ra hướng con đường chính.

    Bây giờ đã quá trưa và là lúc trời nóng nhất lại thêm đột nhiên gió biển ngừng không thổi như trước đó nữa nên càng nóng. Tuy ngồi trong bóng mát nhưng cái hừng hực bốc lên từ mặt cát nóng cùng không khí oi nồng khiến đám chúng tôi ai nấy đều cảm thấy phải lao ngay xuống làn nước biển nếu muốn tránh cơn nắng nóng. Đào, Bẩy, Yến kéo nhau chạy xuống mép nước đầu tiên rồi sau đó là Ánh Diễm và Đỉnh. Thấy người đi gần hết, chị Phượng lấy tay nhặt các nhánh hoa Sim vất bỏ ra ngoài khi khom người để rũ cho sạch tấm nylon trải trên mặt cát. Vừa làm chị vừa nói nho nhỏ và dường như biết mình lỡ miệng nên vội im bặt tiếng nhưng tôi đã nghe thấy " Con gái mà đụng vào hoa này xui xẻo lắm, không hiểu con Yến nó hái làm chi...". Tôi giả lả, làm như không nghe được những gì chị nói khi nhoài người lên chiếc võng căng cạnh bên võng anh Khảm đang nằm mà nhớ lại điều người ta kháo nhau rằng mầu tím là mầu buồn, mầu của tan tác và biệt ly như trong một bài thơ nổi tiếng về loài hoa Sim này. Tôi, nam giới không để ý gì về điều người ta nói như vậy thì đã đành nhưng còn Yến? Có lẽ thực sự nàng cũng chẳng biết vì bản thân còn quá trẻ. Mà, điều người ta nói như vậy có đúng không? Chẳng biết nữa.

    Chị Phượng sau khi dọn dẹp chỗ nghỉ chân của cả đám nhóm xong xuôi thì thấy tôi và anh Khảm nằm im trên võng nên đã đi thẳng ra biển tắm. Tôi muốn tán chuyện với anh Khảm nhưng thấy anh đã nhắm nghiền mắt nên thôi. Nằm đó, đung đưa người trên võng trong trạng thái nửa ngủ nửa thức chưa được bao lâu thì có người kéo chân tôi bắt tôi phải mở mắt ra nhìn. Yến đến trước mặt và thì thào bên tai:

    - Xuống tắm với em đi anh Vũ. Ra biển mà không tắm thì ra làm gì không biết... Với lại em muốn anh tập cho em bơi.

    Tôi đi với Yến từng bước trong làn nước nóng ở trên bề mặt nhưng mát lạnh ở phía dưới sâu. Biển bây giờ mới thực đông người thật không khác gì ở một chỗ tắm nào đó của Vũng Tàu hay Long Hải bên quê nhà. Tôi chẳng thấy Đỉnh, Ánh Diễm hay 2 cô Đào, Bẩy cùng chị Phượng ở đâu trong số người đông lố nhố giỡn nước trước mặt. Cứ bước như vậy tới chỗ nước ngang thắt lưng rồi đến phần bụng thì Yến ngừng lại và khe khẽ bên tai tôi: " Anh... anh... tập cho em nha. Em muốn biết bơi ".

    Tôi cũng đứng lại, lấy tay che nắng trên trán để nhìn mặt nàng cho rõ hơn rồi hỏi:

    - Em muốn biết bơi phải không? Tôi lập lại câu hỏi đó thêm lần nữa thì Yến nghe thấy đã vội gật đầu. Vài anh chàng gần bên cũng đưa mắt nhìn Yến chằm chằm, tôi mỉm cười vì thấy cạnh mình là một cô gái quá đẹp. Tôi lại gần bên Yến, nói nho nhỏ chỉ đủ để một mình nàng nghe.

    - OK! Nghe đây. Muốn biết bơi thì trước tiên em phải tìm bắt cho bằng được một con chuồn chuồn đã. Không phải chuồn chuồn kim đâu nha. Chuồn chuồn ngô hay lửa gì cũng được nhưng nếu có con chuồn chuồn trâu thì càng tốt.

    Tôi im lặng trong chốc lát rồi nhìn Yến và định nói thêm: " Rồi sau đó em phải để cho con chuồn chuồn nó cắn vào rốn... " thì nàng đã phản ứng:

    - Thôi đi! Em biết chuyện con chuồn chuồn đó rồi... Người ta muốn biết bơi thật chứ bộ!

    Khuôn mặt nàng phụng phịu, thấy vậy tôi liền bảo:

    - Đây! Nằm lên hai bàn tay này rồi thử bơi xem sao. Chịu vậy không?
    (còn tiếp)

  6. #26
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 39 Times in 30 Posts

    Default Re: Con Sóng Dữ - Phạm Thắng Vũ

    (tiếp theo)

    Không nói một lời, Yến ngả người xuống nước nằm lên trên phần tay tôi. Tôi dùng hai tay đỡ lấy phần bụng của Yến, nâng người nàng ngang với mặt nước biển. Yến đập hai chân rồi khoát cả hai tay làm như nàng đang bơi trong lúc tôi đứng yên hoặc bước từng bước một chầm chậm. Có lúc tôi thử buông hai tay ra thì ngay sau đó đã phải vội đặt trở lại phần bụng của nàng liền vì rõ ràng Yến sẽ bị chìm. Cái áo thun ngắn Yến mặc, khi chìm dưới nước nó không còn ôm sát thân người mà có lúc lại tốc lên hoặc phủ xuống theo chuyển động tập bơi và tay tôi đã hai lần chạm vào phần ngực trần của nàng. Rồi, tôi giật thót người khi luống cuống đã để tay sờ ngay vào... cái núm nhỏ nữa vì sợ Yến hiểu lầm nhưng nàng vẫn để yên. Nàng để yên vì mải tập bơi nên không biết cái đụng chạm đó hay nàng biết nhưng không chút phản ứng như tôi đã nghĩ sẽ bị? Còn tôi? Trước giờ có những lần ngồi bên Yến, tôi đã từng mong ước có lúc sẽ đặt bàn tay mình vào phần ngực của nàng. Vậy mà giờ đây trong tôi lại không chút cảm giác ham muốn hay rạo rực. Những hoài niệm về Ánh Phương vẫn còn trong ký ức đã làm tôi không một hứng thú nhục thể gì với Yến. Làn da trắng hồng và thân người nàng lồ lộ qua bộ quần áo đẫm nước ngay trước mắt tôi khi nâng hai tay, đỡ cho nàng tập bơi như vậy cả một lúc lâu. Yến bảo tôi thử bỏ hai tay ra để tự bơi một mình nhưng rồi ngay sau đó vì thấy mình chìm xuống nên nàng hoảng hốt, vùng vẫy tay chân loạn xạ rồi còn ôm chầm lấy tôi nữa. Có lúc thì nàng bám hai tay vào bờ vai hoặc đu người hẳn lên lưng tôi trong tiếng cười vui nắc nẻ cùng không một chút e dè. Đến một chỗ cạn vắng người, Yến dừng lại đứng phơi nguyên thân mình lồ lộ của nàng trước mắt tôi, không một chút ngại ngùng và còn cười với tôi nữa. Nhìn ánh mắt tôi, Yến rất tự nhiên như đã biết trong tôi không một chút tà tâm nào với nàng và quả thực như vậy. Tôi vẫn đang nhớ về Ánh Phương và giờ đây trong lòng tôi, Yến thực sự như một cô em gái nhỏ.

    Trời gần về chiều nên nắng gắt dữ và chính vì vậy mà có thêm nhiều người xuống tắm. Như chạy đua với chút thời gian còn lại trong ngày nên chỗ nào cũng đông nghẹt người chen chúc bên nhau đùa giỡn với nước. Tắm táp đã đời cho đến khi thấy mầu trời bắt đầu bảng lảng thì anh Khảm hối cả bọn thu xếp đồ đạc để chuẩn bị ra về. Như vậy, một ngày cuối tuần picnic thoải mái đã kết thúc, đám chúng tôi kéo nhau quay lại con đường đất đỏ dẫn về trại trong cái mệt mỏi bởi nguyên một ngày đùa giỡn với nước và nắng nóng. Đây đó, đi đằng trước hoặc đằng sau đám chúng tôi là từng nhóm người cùng rảo bước chung trong một ý nghĩ mau nhanh chân về nhà càng sớm càng tốt. Anh Khảm do cả ngày nằm trong bóng mát nên da dẻ trông vẫn bình thường còn tất cả chúng tôi thì từ mặt đến chân tay người nào cũng đỏ lừ vì bị bỏng nắng. Thêm vào đó thì ai cũng cảm thấy trong người hâm hấp nóng như đang bị một cơn sốt nhẹ. Dọc đường thì cô Đào cho biết trong buổi đi tắm biển hôm nay đã gặp người quen cũ từ hồi còn bên quê nhà giới thiệu cho một chỗ làm trong một tiệm ăn ở tuốt Galang 2 và có thể sẽ bắt đầu trong các ngày sắp tới. Ai nghe chuyện của Đào cũng mừng vì thực sự chúng tôi đã biết sẽ phải ở trong trại rất lâu mới đến lượt Cao Ủy thanh lọc nên người nào kiếm được việc làm mà có tiền thì còn mong gì hơn.

    Về tới gần trại, đến ngã ba của con dốc phân chia khu vực zone 3 và 4 thì có tiếng còi xe hơi vẳng đến thật gần. Cả bọn chúng tôi vội nép vào vệ đường để tránh xe và khi nó chạy đến thì ra là xe của nhà thầu TiTan. Tôi thấy Tám Kiệt ngồi ngay trong buồng lái bên cạnh gã tài xế người Indo, mắt y nhìn chằm chằm vào Ánh Diễm và Đỉnh mà 2 người nầy lại cúi đầu trò chuyện riêng với nhau nên không biết. Mặt Tám Kiệt rất giống như lần trước khi tôi tình cờ trông thấy y núp sau một thân cây cạnh barrack để rình trộm Ánh Diễm và Đỉnh.

    Làm ở tiệm ăn nên Đào sẽ phải ở lại Galang 2 luôn và chỉ quay về Galang 1 vào sáng thứ Tư để học English và nhận phần thực phẩm Cao Ủy cấp phát hàng tuần do Yến giữ hộ. Đào rời khỏi nhóm nên căn phòng của chúng tôi đã rộng hơn và thực tế là trong barrack giờ cũng đã có người bỏ ra bên ngoài cất chòi sống riêng. Một chuyện làm cho bararck cảm thấy xuống tinh thần là có vài người đã ghi danh hồi hương về lại Việt Nam. Người hồi hương đầu tiên trong tàu CL 135 của ghe chúng tôi chính là Năm, cậu thanh niên bị rắn cắn phải đưa đi nhà thương cấp cứu ngay trong đêm đầu tiên nhập trại. Một bữa tiệc nhỏ chia tay với Năm trong đêm cuối cùng trước chuyến hồi hương được cả barrack tổ chức trong cái buồn dù không ai nói ra vì rõ ràng ghe chúng tôi đến trại Galang chưa được bao lâu mà giờ đây đã có người phải bỏ cuộc sớm. Hỏi lý do sao lại hồi hương thì Năm nói vì nhận được thư bên quê nhà cho biết mẫu thân bệnh nặng, sợ không qua khỏi nên phải về. Có người thì bảo thực sự không phải vậy, chẳng qua vì Năm không đủ kiên nhẫn để chờ đến lúc thanh lọc và thâm tâm cậu ta nghĩ nếu Cao Ủy có phỏng vấn thì cũng chưa chắc bản thân sẽ lọt qua được.

    Tuy có 2 chuyến hồi hương về lại quê nhà rồi mà vẫn có thêm những chuyến ghe vượt biên nữa đến trại. Lý giải cho việc này thì nhiều người cho biết là chính cái tin Cao Ủy thanh lọc lần cuối trước khi dẹp trại nên làm cho những ai còn chần chừ trước khi quyết định bỏ nước ra đi đã vội nhẩy xuống ghe vượt biên cấp tốc. Họ sợ sẽ không còn trại tị nạn nữa khi Cao Ủy dốc hết toàn lực để thanh lọc thuyền nhân Việt lần đầu và cũng sẽ là lần cuối cùng. Những chuyến ghe mới đến trại hầu như đều do hải quân Malaysia chuyển qua. Cao Ủy đã phải cho cất cấp tốc thêm những dãy barrack lợp lá mới sâu trong rừng nên nhiều căn dù chỉ có khung sườn và mái lá sơ sài mà đã lấp nhanh chóng người vào ở. Mỗi một chuyến ghe mới đến thì lại thêm cái vụ người trong trại đi tìm xem coi có ai là thân nhân của mình không? Tôi cũng đã cùng Yến đi vào các barrack của đoàn người say sóng mới đến nầy để mong gặp lại anh Tấn hay các người khác trong chuyến vượt biên chung vừa rồi nhưng không thấy ai cả. Họ bị công an bên quê nhà bắt tù như thằng Dũng hay sau một chuyến thoát chết từ tay hải tặc nên biết sợ và đã bỏ cuộc? Trong số ghe mới đến trại thì nổi cộm có một ông Trung tá Lữ đoàn phó Thủy Quân Lục Chiến miền Nam VNCH. Khi nghe phòng thông tin trại loan báo thì đám thuyền nhân gốc Thủy Quân Lục Chiến của cả Galang 1 lẫn Galang 2 vui mừng xiết bao vì binh chủng họ giờ đã có thầy hay ông niên trưởng đại diện. Vài cựu sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến cấp Úy đã vội tom góp bàn ghế, giường tủ cá nhân và dàn xếp với ông Bùi Thế Dung để dành cho ông trung tá chỗ ở khác trong barrack vách cây-mái tôn ở Zone 3 thay cho chỗ tạm trú tồi tàn trong barrack lợp lá. Sau đó, họ còn kéo ông ta ra quán cà phê Cam Ly làm một chầu chiêu đãi bia Heineken để mừng niên trưởng đến được bến bờ tự do. Ở trại tị nạn Galang thì có chuyện bất cứ thuyền nhân của binh chủng nào trong quân đội miền Nam VNCH đều họp mặt sinh hoạt với nhau như một hội ái hữu và đó là lý do mà những cựu binh Thủy Quân Lục Chiến mừng vì nay họ đã có thêm ông thuyền nhân trung tá trong dàn sĩ quan đàn anh đại diện. Chính ông Bùi Thế Dung trong lần ghé vào phòng Dịch thuật đã cho ông Bửu cùng nhóm thiện nguyện chúng tôi biết là sẽ mời ông trung tá Thủy Quân Lục Chiến nhận một chức vụ gì đó như Phó ban Đại diện và thực sự mọi việc sẽ êm xuôi nếu như không có một vụ tố giác từ một thuyền nhân về lý lịch thật của ông trung tá mới nhập trại.

    - Ông ta có đi lính Cộng Hòa thiệt nhưng không phải trung tá trung tiếc gì đâu.

    Thuyền nhân này quả quyết như vậy và sau đó bà ta còn chỉ thêm vài nhân chứng khác nữa.

    Người nhận diện ông trung tá giả chính là một phụ nữ sống ngay trong cái barrack lợp tôn của Zone 3 nơi mà các cựu binh Thủy Quân Lục Chiến vì sự kính trọng với một sĩ quan niên trưởng đã thu xếp với ông Bùi Thế Dung cùng barrack trưởng để cho gia đình ông được vào ở. Bà nầy đã từng sống chung trong một con xóm với ông trung tá giả bên quê nhà và bà đã vượt biên đến trại Galang từ khá lâu rồi. Barrack trưởng sắp xếp lại chỗ ở của người trong barrack thu gọn lại để nhường một chỗ cho gia đình ông trung tá rồi khi gia đình ông ta dọn vào chỗ ở mới thì bà nầy nhận ra hàng xóm cũ ngay. Đám cựu quân nhân Thủy Quân Lục Chiến khi biết chuyện thật thì họ đã nổi nóng và lôi ông trung tá dỏm ra một chỗ vắng doạ sẽ đả thương một trận nếu như ông ta không khai thật về nhân thân mình. Người trong trại kể là ông ta khai cá nhân thực sự chỉ là một hạ sĩ cùng binh chủng thôi còn trung tá là cấp bậc khi gia nhập vào một nhóm Phục Quốc.

    - Trung tá Phục Quốc. Mẹ kiếp! Vậy mà ông ta cũng khai ra ở đây, nó đâu có hợp lý. Lại còn cả gan lấy tên Nguyễn Văn T cùng chức vụ lữ đoàn phó của ông trung tá thật nữa. Đ.M cái ông già đó, đâu có biết là tụi tui tốn công sức, tiền bạc vì muốn làm đẹp mặt ổng. Một thuyền nhân cựu quân nhân Thủy Quân Lục Chiến kể lại.

    Thực ra những cựu quân nhân Thủy Quân Lục Chiến đó nổi cơn giận ông già mạo danh cũng phải vì tiền bạc do thân nhân họ gửi tiếp tế khi ở trại đâu ai có nhiều. Họ đã phải góp tiền chung với nhau để tiếp đãi ông già mạo danh làm mất không cả trăm ngàn Rupias cho bữa bia Heneiken hôm đó chứ ít sao.

    Ông trung tá dỏm Nguyễn Văn T đó đã phải năn nỉ rồi quỳ xuống van lạy đám cựu quân nhân Thủy Quân Lục Chiến xin họ tha tội vì đã tiếm danh và mạo nhận chức vụ cũng như cấp bậc làm họ tốn tiền và mắc cỡ với người trong trại vì mừng hụt. Ông ta năn nỉ hồi lâu thì các cựu quân nhân Thủy Quân Lục Chiến cũng nguôi ngoai bỏ qua vì họ nghĩ đến cái tình đồng hương cũng như đồng đội khi đang tạm dung ở xứ người. Thêm vào đó, ông ta cũng đã khá lớn tuổi, tóc tai bắt đầu muối tiêu cùng thân hình gầy gò nên không ai nỡ đánh dù chỉ một thoi. Ông trung tá Thủy Quân Lục Chiến dỏm đã thành một câu chuyện cười cho tất cả thuyền nhân sống trong trại.

    - Phục Quốc còn phong tới cấp Tướng và Tư lệnh sư đoàn hay quân khu nữa nhưng hầu như họ chỉ có cái khung thôi, một thuyền nhân từng có chân trong tổ chức Phục Quốc tiết lộ.

    Thực ra nếu không có người hàng xóm cũ tố giác thì với thời gian sống trong trại, trước sau gì chuyện giả mạo của ông trung tá dỏm cũng sẽ phải lộ tẩy. Vì, tuy nói là cựu khóa sinh khóa 10 Võ Bị Đà Lạt nhưng vẻ bề ngoài của ông ta trông còn trẻ hơn so với ông Bùi Thế Dung, cựu đại tá binh chủng Thiết Giáp thuộc khóa 13. Thêm vào đó, cung cách sống và hiểu biết cá nhân ông có vẻ như một nông dân hơn là một cựu sĩ quan cao cấp của miền Nam VNCH. Có người nói lúc đầu thì họ ngờ ngợ, không tin khi gặp mặt trò chuyện nhưng cứ nghĩ vì thời gian dài bị tù cải tạo Cộng Sản nên đã làm biến dạng phong thái thật của ông ta. Đâu dè!





    Hai barrack lợp lá Dừa nước thô sơ ở Zone 4 của trại Galang 1.




    Dãy barrack vách ván gỗ, mái lợp tole ở Zone 3 của trại Galang 1.

    Giáng Sinh đến gần rồi qua đi chóng vánh trong khung cảnh thiếu thốn của đa số thuyền nhân sống trong trại. Với lại, đêm Giáng Sinh là một buổi tối trời mưa dầm kéo dài suốt từ lúc chiều nên hầu như ít người biết đến một ngày lễ lớn. Chỉ những ai có dịp đi ra ngoài thì mới nghe được những điệu nhạc Giáng Sinh vọng ra từ các quán hàng bên đường. Một buổi tối khi gặp nhau ở quán cà phê thì anh Khảm rủ cả bọn đi dự buổi dạ vũ của binh chủng Không Quân sẽ tổ chức trong trại Galang 2 có tên là Đêm Không Gian Hội Ngộ. Bữa dạ tiệc sẽ diễn tại quán cà phê Đại Dương trong đêm thứ Bẩy tới và theo lời anh Khảm cho biết vì các cựu quân nhân Không Quân thấy gần sắp đến Tết ta nên họ chung tiền với nhau mà thành. Coi như dịp mừng các thuyền nhân phe ta (gốc không quân miền Nam VNCH) mới đến trại cũng như những người sắp sửa đi định cư ở nước thứ 3. Anh Khảm còn hứa với riêng tôi:

    - Anh sẽ giới thiệu em với những người bạn không quân đã thanh lọc rồi. Mấy người họ quen biết khá rộng ở Galang 2 nên may ra có thể giúp cho em chút hiểu biết khi gặp Cao Ủy thanh lọc.

    Buổi tối ngày thứ Bẩy đến sau cơn mưa chiều nhè nhẹ làm cho không khí thoáng mát, dễ chịu hơn. Chỉ có anh chị Khảm-Phượng, Đỉnh, tôi và Yến đi thôi còn Bẩy vì cảm sốt nên buộc phải nằm nhà. Dưới ánh đèn pin soi đường, đám chúng tôi đi trên con đường nhựa tối đen giữa hai hàng cây rừng. Mưa chiều làm mát trời nhưng dường như cũng làm bầy muỗi đói kéo thêm nhau bay từ rừng ra kiếm ăn. Chúng bạo dạn bay vo ve bên tai và đáp cả lên cổ lên mặt chúng tôi để hút máu. Thỉnh thoảng xuất hiện bóng đèn pin của người bộ hành hay từ một chiếc xe đạp đi hướng ngược chiều về lại Galang 1. Mới 7 giờ hơn mà trời đã tối mịt làm rõ những đốm sáng xanh nhỏ chớp tắt của loài đom đóm trong các bụi cây rừng sát bên lề. Hai bên đường, văng vẳng các điệp khúc ngăn ngắn của côn trùng kêu rỉ rả đây đó.

    Chúng tôi băng qua khu vực phòng An ninh P3V, đi qua văn phòng ban Đại Diện người Việt rồi vượt ngang nhà thương Galang 2 và tiến thẳng đến quán Đại Dương nằm gần khu Youth Center của nhóm thiện nguyện xã hội người Indo địa phương. Từ xa, cả bọn đã thấy quán cà phê Đại Dương lộ ra trong vầng sáng trên một sân trống khá rộng như một bãi đậu xe hơi bỏ hoang. Tiếng nhạc vang vang cùng bóng khá đông người bên trong quán đã làm phấn khích cả đám chúng tôi nên ai cũng quên ngay cái mệt mỏi của chuyến cuốc bộ vừa qua.

    - May là anh Khảm nghe chị đi sớm chứ đến trễ thì chắc chắn là không còn chỗ cho bọn mình ngồi, chị Phượng nói.

    Bước vào quán, vài nhân viên tiếp tân ra đón rồi hướng dẫn cả đám vào một chiếc bàn tròn ngồi chung với các người khách khác. Ở sân khấu, ban nhạc đang chơi bài Dừng Bước Giang Hồ thật sôi động. Một banner khá lớn cắt bằng giấy hàng chữ Đêm Không Gian Hội Ngộ treo ngay sau lưng mấy tay đàn Guitar, đánh trống của ban nhạc. Một ông trạc tuổi anh Khảm từ đâu bước lại bàn chúng tôi rồi nói:

    - Các anh các chị từ Galang 1 ra đây phải không? Lội bộ chắc mệt dữ ha! Có khát thì cứ lấy nước uống tự nhiên nghe. Chúng tôi có cả bánh ngọt và bánh mặn nữa đó. Nằm trên bàn dài gần quầy tính tiền kia kìa.

    Anh Khảm thay mặt cả bọn chúng tôi cảm ơn nhân viên tiếp tân rồi hỏi thăm ông ta về các bạn của anh trong Galang 2. Ngồi một lát thì chị Phượng và Yến đi lấy các ly giấy nước ngọt, bánh tráng miệng cùng thức ăn cho cả bọn. Trong quán có hơn 20 cái bàn và hầu như đều chật người ngồi. Chợt tôi thấy ông Bửu cùng cô Hòa ở một cái bàn gần phía cuối trong chỗ khuất của quán. Lấy tay chỉ cho anh Khảm thấy 2 người họ rồi tôi thắc mắc.

    - Anh! Đêm Không Gian Hội Ngộ là một ngày vui truyền thống của riêng binh chủng Không Quân miền Nam VNCH hả? Nó có nhất định phải là một ngày trong năm như các ngày lễ Quốc Khánh 19 tháng 6 hay ngày Quân Lực 1 tháng 11 không?

    - Đúng là một dạ tiệc có tính truyền thống của không quân tụi anh nhưng không ấn định ngày nhất định vì có thể tổ chức dạ vũ Đêm Không Gian Hội Ngộ ở bất cứ ngày nào trong năm. Đầu năm hay giữa hoặc cuối năm gì cũng được, tùy theo sắp xếp thuận tiện của từng đơn vị thôi Vũ. Bữa dạ vũ họp mặt tối nay là lần đầu tiên có tại Galang vì từ hồi lên đảo tới giờ đã mấy năm rồi mà đâu tổ chức được. Anh Khảm trả lời.

    Ban nhạc vẫn chơi tiếp các bản nhạc lính rồi xen cả nhạc vàng cùng nhạc hòa tấu ngoại quốc nữa. Khách đến càng lúc càng đông làm nhân viên tiếp tân phải lúng túng kê thêm các bàn cùng ghế ngồi mới. Tiếng người nói, cười chung với tiếng nhạc trong một khung cảnh ánh sáng mầu lúc chớp lúc tắt đầy huyên náo, nhộn nhịp. Chợt tiếng nhạc im bặt đột ngột để nhường chỗ cho một người đàn ông khá lớn tuổi bước lên đứng trên sân khấu. Tay ông ta cầm cái micro nói những lời chào mừng khách tham dự.

    - Ông nầy là Chủ tịch của binh chủng Không Quân miền Nam VNCH ở đây đó các em, anh Khảm nói với đám chúng tôi.

    Kế đó, ông Bùi Thế Dung lên sân khấu thông báo các chuyện của cộng đồng người Việt xẩy ra trong trại và chia xẻ các âu lo của bản thân ông trong vụ phải chờ đợi các diễn biến thanh lọc. Trước khi đưa cái micro cho 2 người khác và rời khỏi sân khấu thì ông Dung nói:

    - Hiện thời đã hơn mười bẩy ngàn thuyền nhân sống trong trại mà Cao Ủy tiên đoán dòng người Việt tại quê nhà sẽ còn kéo đến đây nữa.

    Cầm cái micro trên tay, một người họ nói lớn như thét:

    - Hãy cứ vui như mọi ngày... Cái gì đến thì sẽ đến... Come what may. OK.

    Nhiều tiếng OK trả lời cùng tiếng vỗ tay trong quán phụ họa thật lớn sau lời nói đó của người đàn ông. Mở đầu, ban nhạc cùng ca sĩ giúp vui chơi các bài hát của riêng binh chủng Không Quân như Tuyết Trắng, Hát Cho Người Nằm Xuống, Không Quân Hành Khúc rồi sau đó là các bài ca về đời lính chiến như Kỷ Vật Cho Em, Rừng Lá Thấp... Hai người đàn ông vừa nói trên sân khấu, anh Khảm cho biết họ là 2 anh em ruột tên Lưu Sơn và Lưu Thủy. Anh nói thêm:

    - Vừa là chủ quán Đại Dương mà cũng gốc lính không quân, dạ vũ Đêm Không Gian Hội Ngộ tối nay có được phần lớn do 2 người nầy sắp xếp.

    Ở các bàn chung quanh, những teacher dạy Anh ngữ trong trại như thầy Hạnh, thầy Khiêm, thầy Kim Hằng, thầy Tâm... đều có mặt. Vậy ra mấy ông thầy nầy cũng đều gốc binh chủng Không Quân cả. Cũng như anh Khảm, là quân nhân trong một binh chủng thường gửi người đi Hoa Kỳ tu nghiệp nên họ mới có thể dạy Anh ngữ cách dễ dàng cho người trong trại. Từ khả năng cá nhân nói và nghe tiếng Anh trôi chảy nên hầu như họ chỉ dạy riêng biệt đàm thoại. Loáng thoáng tiếng trò chuyện với nhau bằng Anh ngữ vọng ra từ các bàn chung quanh chung với tiếng ai đó hắt hơi chắc ngộp vì khói thuốc lá như một làn sương mỏng bao phủ trong quán. Đỉnh khẽ hất tay báo cho tôi thấy vài cặp nam nữ bắt đầu kéo nhau ra sàn piste dã chiến khi ban nhạc đổi sang một điệu Tango lả lướt. Dạ vũ bắt đầu rồi.

    Tay trong tay, từng đôi nam nữ già trẻ dìu nhau bước tới bước lui theo điệu nhạc dặt dìu. Sàn pist trong phút chốc đã chật vì thêm người ra khiêu vũ. Cứ vừa dứt một bài hát thì ban nhạc chuyển nhanh chóng sang bài mới khác và họ chỉ tạm ngưng khi giới thiệu người nào đó lên sân khấu ca giúp vui. Cứ vậy, ban nhạc lần lượt đổi tông bài hát từ buồn qua vui lẫn lộn và có lúc chơi cả nhạc ngoại quốc nữa. Tiếng cười tiếng nói vui đùa bên nhau ở trong các bàn chung với tiếng lách cách của ly muỗng cùng cả tiếng trò chuyện với nhau bằng Anh ngữ. Căn phòng của quán bình thường khá rộng giờ đã chật vì quá đông người thêm bầu không khí ngột ngạt từ khói thuốc lá đã làm ai đó không chịu nổi phải húng hắng ho. Tôi nhìn Đỉnh đang dìu chị Phượng trong một điệu Rumba thì nghe một giọng nói:

    - Khoẻ không anh Khảm? Lâu quá không gặp anh. Lúc nầy công việc ra sao rồi? Còn dạy học không vậy? Một người đàn ông dừng lại bàn bắt tay anh Khảm rồi tiện tay, kéo một cái ghế trống gần bên và ngồi chung luôn.

    Tiếng nhạc đột nhiên trổi lớn hơn khiến người đàn ông và anh Khảm phải cúi đầu thật gần để nói chuyện riêng mà tôi loáng thoáng nghe được những câu: " Nghe anh Luân nói vậy... thiệt vậy sao anh... cũng chưa rõ... phải chờ xem nữa... Chắc chắn phải có người đậu người rớt chứ " rồi cả hai im lặng nhìn nhau. Chợt anh Khảm hỏi:

    - Nầy! Nghe đám thằng Sơn thằng Tuân kể là hôm sơ vấn, lão Peter Cao Ủy trưởng nghi ngờ giấy ra trại của anh là giấy giả hả? Kể đầu đuôi cho tôi nghe với anh Thành.

    - Anh coi! Chả thấy khi đứt phim mình mới có 27 tuổi mà đã lon thiếu tá thêm cái giấy ra trại còn mới toanh nên nghi ngờ cứ hỏi dồn hoài. Người đàn ông tên Thành trả lời.

    - Rồi sao nữa anh? Anh Khảm hỏi tiếp.

    Người đàn ông tên Thành có nước da trắng, mái tóc bồng bềnh trông thật nghệ sĩ trong vóc dáng cao gầy. Ông vừa nói tuổi nhưng trông vẻ mặt thì trẻ hơn, tôi lắng nghe tiếp lời ông kể với cái giọng đều đều của người vùng miền tây Nam bộ.

    - Chuyện là vầy! Anh biết mình là phi công phản lực F5, bị Việt Cộng bỏ tù cải tạo gần 10 năm trời. Khi được thả thì nó cấp cho mình cái giấy ra trại nên mình phải giữ thật kỹ, rủi bị mất là chết là tiêu tùng cuộc đời luôn vì nó là cái bùa hộ mạng của mình mà. Mình giữ kỹ nên nó trông mới toanh, đâu có gì lạ. Vậy mà lão Peter cũng nghi ngờ là giấy giả đấy. Lão cứ lấy tay chỉ vào cái giấy ra trại của mình rồi nói là giấy nầy giả.

    Ông Thành ngừng nói, tay bật quẹt gas châm một điếu thuốc hút.

    - Rồi anh nói sao với lão Peter? Giọng anh Khảm.

    - Tui quật lại lão ta ngay. Ông nói giấy nầy giả hả? Hỏi sao ông biết nó là giấy giả thì lão Peter im lặng. Lão ta nhìn mặt tui chằm chằm nhưng tui cũng đâu sợ. Thấy lão cứ im lặng mãi tui hỏi tiếp. Bộ ông nghĩ tui làm được tờ giấy ra trại nầy thì lão ta lắc đầu, trả lời: " Không. Ông không làm được nhưng ông mua giấy nầy từ tay chính quyền CS Việt Nam ".

    Ông Thành vừa nói vừa chỉ ngón tay trỏ mà mắt lúc nhìn tôi và anh Khảm.

    - Trời! Căng thẳng quá ha! Nghe họ nói anh cãi lộn với lão Peter ngay tại bàn sơ vấn. Đó là lúc đang kể này, phải không? Anh Khảm cười cười sau câu nói.

    - Họ kể trật rồi anh ơi. Đời nào mình dám làm vậy dù lúc đó tui rất bực. Máu nóng trong người tui nó chạy rần rần. Khi nghe lão ta nói mình mua giấy ra trại thì mình ngồi thẳng người lên rồi hỏi lại liền. Vậy là ông đã biết tui mua giấy ra trại, phải không? Lão Peter nghe mình nói vậy thì gật đầu cái rụp còn cười nữa chứ. Tui chỉ chờ có thế mới hỏi tiếp lão ta. Ông biết chỗ họ bán giấy ra trại không thì lão lắc đầu hỏi lại tui: " Anh nói như vậy với ý nghĩa gì? ". Tui cười trả lời là nếu ông biết chỗ bán thì để tui giới thiệu khách hàng cho. Ông biết là ở trong trại tị nạn Galang nầy có nhiều người hiện cần giấy ra trại lắm mà họ không biết kiếm đâu ra đó. Thật may hôm nay tui gặp ông rồi, thưa ông luật sư Peter.

    - Nghe anh nói vậy thì cha nội Peter phản ứng làm sao?

    - Vừa nghe xong câu tui nói đó thì lão ta đứng bật lên nói buổi sơ vấn hôm nay của tui tới đây là chấm dứt và bắt tay tui rồi còn nói sorry nữa chứ. Mẹ bà! Không hiểu sao lão ta tưởng cái thằng tui từng lái F5 oanh kích Việt Cộng mà nó để ngồi yên không bắt tù cải tạo! Việt Cộng từng xếp hạng nhất phi nhì pháo... hay lão ta biết mà vẫn cứ làm bộ hỏi như vậy. Ông Thành vừa nói vừa cười nhè nhẹ với tôi cùng anh Khảm.

    - Khi anh nói vậy thì lão Peter có bực tức không?

    - Lúc đó tui chẳng biết mà cũng chẳng quan tâm, có điều sau khi về tới barrack khi nghĩ lại thì thấy mình hơi nóng nhưng mà cái tính tui nó như vậy, đâu có kềm được. Anh biết tụi Việt Cộng nó bỏ tù tui lâu một phần cũng do cái tính nầy mà ra. Người đàn ông tên Thành trả lời.

    Ông Thành là mẫu người miền Nam bộc trực, dễ nổi nóng nhưng cũng mau nguội. Những người như vầy thường rất thành thật. Tôi ngồi yên, ngầm quan sát ông ta cùng số cựu phi công trong quán cà phê tối nay rồi tự dưng tôi thắc mắc không hiểu sao mấy người nầy có sẵn máy bay lại không di tản trong những giờ phút cuối của chế độ miền Nam VNCH mà chịu kẹt lại rồi bị CS bắt bỏ tù để đến bây giờ phải làm một chuyến vượt biên? Tôi, anh Khảm hay những người lính, dân lành khác không có phương tiện để di tản thì đã đành, nhưng còn họ? Hỏi ông Thành thì ông ta cho biết:

    - Trời! Máy bay là của phi đoàn chứ đâu riêng cho cá nhân mình được hả em. Hôm nào đến phiên mình trực chiến mà có lệnh yểm trợ hành quân thì mới bay được. Mà cũng còn tùy vào tình trạng máy bay nữa. Hôm 29, 30 năm đó mình đang ở trong Tân Sơn Nhứt chứ bộ.

    - Ở trong phi trường Tân Sơn Nhất, vậy mà anh lại không di tản được? Tôi buột miệng.

    - Lúc đó mình cũng hoang mang lắm nhưng nghĩ tụi Việt Cộng nó cũng người Việt mình chắc không đến nỗi xử tệ nhau nên mới ở lại. Tuy phi trường lúc đó trong tình trạng rối ren vì bị Việt Cộng pháo kích liên tục nhưng nếu cố gắng thì mình cũng có thể đi thoát ngay trong lúc đó. Trực thăng nhiều chiếc cất cánh gần trước mặt mình, muốn bay ra chiến hạm Mỹ quá dễ. Có ai ngờ được!
    (còn tiếp)

  7. #27
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 39 Times in 30 Posts

    Default Re: Con Sóng Dữ - Phạm Thắng Vũ

    (tiếp theo)

    Tôi mỉm cười chia xẻ cái bất ngờ với ông Thành. Phải! Không ai ngờ bọn CS lại tàn độc như vậy sau khi chúng chiếm được miền Nam VNCH. Người gốc Nam bộ không biết rõ tâm địa bọn Việt Cộng đã đành mà ngay cả những người thuộc dân di cư miền Bắc như tôi và anh Khảm mà còn lầm. Chẳng qua cứ nghĩ nhiều năm rồi thì Việt Cộng ít nhiều đã đổi khác. Ký ức tôi nhớ lại những giờ phút hối hả lẫn hốt hoảng chạy đôn đáo trên đường phố Sài Gòn để mong tìm cách vào được phi trường hoặc các cao ốc nơi những máy bay trực thăng thỉnh thoảng đáp xuống bốc người rồi bay ra hướng biển. Những ai trong các chuyến trực thăng hôm đó quả thật may mắn khi kịp thoát khỏi tay CS. Ông Thành có các cơ hội di tản mà không biết chộp ngay lấy nên đã chọn ở lại để nhận những năm học tập cải tạo. Ông không phải là người gốc miền Bắc di cư và vì quá tin vào tình người Việt nên phải trả giá bằng những năm tù. Phải vậy không hay vì sự kém hiểu biết về đối phương CS nên đã làm ông có cái nhận xét không đúng dẫn ông đến quyết định sai lầm chết người. Tự nhiên tôi nghĩ ông Thành sẽ qua được thanh lọc dù ngày Cao Ủy công bố kết quả chưa đến. Chỉ là một phi công bình thường và đã chọn ở lại Việt Nam thay vì di tản ra chiến hạm để sau đó bị CS bỏ tù gần mười năm thì không phải bị chế độ ngược đãi, ông Thành sẽ là hạng người gì khi phải vượt biên?

    - Anh! Em nghĩ anh sẽ qua được thanh lọc đó. Anh bị CS bỏ tù lâu quá mà, tôi nói với ông Thành.

    - Ồ! Cám ơn em. Bạn anh ai cũng nóĩ vậy. Anh nghĩ ông Cao Ủy trưởng Peter có bực tức thái độ anh khi đó nhưng vẫn phải làm đúng luật tị nạn em à. Không phải cứ thương hoặc ghét một người nào đó mà có thể thay đổi luật được, tụi Tây phương là vậy nên anh cũng chẳng lo lắng lắm. Cái gì tới thì rồi nó sẽ tới. Bây giờ mình cứ lạc quan mà sống thôi. Còn em, em sơ vấn hay thanh lọc gì chưa? Ở đây bao lâu rồi? Trước đây có lính tráng gì không? Ông Thành hỏi lại tôi.

    Kể sơ cho ông Thành biết về quãng thời gian vừa qua và công việc đang làm hiện nay của tôi ở phòng Dịch thuật cùng niềm hy vọng bản thân trong việc làm thiện nguyện của mình sẽ được Cao Ủy giúp đỡ thì ông lắc đầu.

    - Em lầm rồi! Tụi Tây phương họ cho chuyện thuyền nhân mình làm trong các phòng ban ở trại là một sự tình nguyện chứ không bắt buộc. Cao Ủy ở đây là ai? Ông Peter, một người Hòa Lan. Các luật sư sơ vấn đều là người Mỹ, người Anh... Họ chắc chắn biết tự người mình xin làm thiện nguyện chứ đâu có một ràng buộc kiểu khế ước hay giao kèo nào và như vậy thì sẽ không chút ảnh hưởng gì đến thanh lọc đâu. Nếu em làm việc cho tụi Indo thì may ra có thể họ sẽ giúp cho nhưng anh cũng không chắc lắm. May ra thôi vì cũng chưa chắc tụi Indo chịu giúp người mình. Đó là suy nghĩ của anh, không phải nói ra như vậy là để bảo em thôi đừng làm thiện nguyện nữa. Tùy em, nếu mình nghĩ làm thiện nguyện như một việc góp sức với cộng đồng thuyền nhân ở trại thì cứ vui mà làm, còn hơn ở không. Và, nếu em không có lính tráng gì thì lý lịch cũng đáng lo lắm đó.

    Ông Thành nói đến đây thì im lặng, ngồi trầm ngâm rồi đột ngột quay qua hỏi anh Khảm:

    - Ê bồ Khảm! Chú em này bà con sao với you vậy?

    Anh Khảm cho ông Thành biết sơ qua về tôi thì ông nói:

    - Hôm nào rảnh rỗi vào chỗ tôi, tôi sẽ giới thiệu chú em nàyy với một anh bạn có thể giúp đỡ trong việc thanh lọc.

    Giúp đỡ trong việc thanh lọc. Tôi, anh Khảm nhìn ông Thành mà chưa hiểu câu ông vừa nói thì ông tiếp:

    - Giúp là giúp chú em trong việc phải khai báo sao cho có lợi khi vào sơ vấn Cao Ủy và thanh lọc của tụi Indo thôi. Tay này rất rành về luật tị nạn, công ước Geneva hay nghị định thư gì gì đó...

    Trước khi từ giã anh Khảm để trở về chỗ cũ, ông Thành còn dặn tôi thu xếp một ngày nào đó để vào Galang 2 gặp ông.

    - Càng sớm thì càng tốt, nhớ nghe em, ông nói.

    Giống như mọi buổi dạ tiệc, khách cứ khiêu vũ cho đến khi chán hay mệt thì trở về chỗ ngồi nghĩ rồi sau đó lại tiếp tục. Thấy trống bớt người và ban nhạc đang dạo đầu một điệu Tango thì Yến kéo tay tôi ra sàn piste. Tôi choàng tay qua hông Yến dìu nàng từng bước, từng bước. Đêm nao cùng ai dưới trăng thanh... Yêu đương lòng chan chứa bao tình. Yến ngước mặt nhìn tôi, làn mi nàng chớp nhẹ. Xa xăm nhìn ai nay khuất bóng. Tự dưng lời hát của ca sĩ làm tôi chợt nhớ về Ánh Phương. Cũng lời hát nàng đã hát trên đảo hoang bên tôi đây trong ánh trăng sáng. Thấu chăng người ngàn phương trời xa... Gieo tình thương lòng ta... Tôi và Ánh Phương đã có lúc kề cận nhau như tôi và Yến bây giờ. Yến đang gần bên nhưng sao tôi lại nhớ đến Ánh Phương? Tôi bối rối ngắm khuôn mặt tuyệt đẹp của Yến. Nàng mỉm cười trong ánh mắt long lanh vì biết mình đẹp. Tôi thương Yến như đã thương Ánh Phương hay thực sự tôi chỉ thương nàng như tình thương đã dành cho Kim Thu, em gái ruột tôi. Khó hiểu quá! Mải suy nghĩ làm bài hát chấm dứt mau lẹ, tôi muốn tiếp tục khiêu vũ thêm nữa với Yến khi ban nhạc dạo tiếp qua điệu Slow nhưng nàng đã kéo tay tôi trở về bàn nói cảm thấy chân hơi đau.

    Trong số người kéo nhau ra sàn piste giờ có cả ông Bửu và cô Hoà nhưng vừa mới quay được vài vòng thì không hiểu sao, cô Hoà lại bỏ ngang điệu nhẩy và quay về chỗ để mặc ông Bửu đứng luống cuống một mình. Trông điệu bộ của ông thật tội nghiệp trong cái vẻ cố làm như tự nhiên khi nhún vai rồi tắp vào một bàn ngồi chung với những người khác gần đó. Yến lấy tay ngầm cho tôi thấy vài nhân viên của phòng An ninh P3V ngồi trong các bàn gần cái quầy sát vách tường chung với các cô gái Việt trong trại. Đây cũng là các cặp bồ bịch như papa Phước với cô gái tên Hướng ở ngoài Galang 1, tôi nghĩ vậy.

    Nhìn đồng hồ thấy gần 10 giờ và đã có người lục tục rời quán, chị Phượng hối cả bọn phải về sớm trước giờ giới nghiêm. Trong đêm tối, chúng tôi về lại Galang 1 chung với những người khác trong buổi dạ tiệc tối nay. Cũng như lần đi, lượt về anh Khảm soi đèn pin loang loáng dẫn đường cho cả bọn. Đỉnh thủ trên tay một đoạn cây tươi nó kiếm được đã vuốt sạch lá nói làm roi để phòng gặp rắn sẽ có cái mà quật. Ở Galang chỉ có 2 thứ mà thuyền nhân sợ là bị rắn độc cắn hoặc bị đau ruột thừa đột ngột. Bị rắn độc cắn mà không đưa đi cấp cứu liền thì có thể chết như chơi còn đau ruột thừa cũng rất dễ vong mạng. Có khi nhà thương cần phải chuyển bệnh nhân sang tận đảo Tanjung Pinang ngay nếu tiên lượng trầm trọng. Ai cũng sợ bị đau ruột thừa trúng vào 2 ngày thứ Bẩy, Chủ Nhật vì ở các ngày này, không có tàu cao tốc từ trại Galang để chuyển bệnh nhân sang đảo đó.

    Không có tàu cao tốc để chuyển bệnh nhân sang đảo Tanjung Pinang chính là một rầy rà cho thuyền nhân khi gặp chuyện cần phải cấp cứu gấp rút. Trong trại đã từng có chuyện thương tâm như vụ một bà người Việt vì bị hóc xương gà nơi cuống họng khi ăn cơm, bà ta đến nhà thương Galang 2 nhưng bác sĩ không chữa được lại trúng ngay vào ngày cuối tuần nên đành phải chờ. Chờ đến khi có tàu cao tốc trong ngày thứ Hai đầu tuần thì mới chuyển tiếp sang được đảo Tanjung Pinang nhưng khi đó, vết thương đã nặng, làm độc và kết quả bà ta đã chết oan uổng.

    Ngoài chuyện sợ rắn độc cắn, đau ruột thừa hoặc bệnh cấp tính nguy hiểm thì thêm một nỗi lo khác cho những người phải tạm trú trong các barrack lợp lá nằm gần các hàng cây lớn sát với rừng. Đó là nạn cây cạnh barrack gẫy đổ khi trời mưa to nổi giông gió lớn. Từ khởi đầu, bộ khung của barrack lợp lá chỉ được nhà thầu dựng rất sơ sài và dù thuyền nhân sau khi vào ở một thời gian ngắn đã phải gia cố thêm cây rừng kiếm được cùng các tấm bạt plastic mua ở tiệm nhưng nó vẫn mong manh mỗi khi có cơn gió mạnh. Nhóm 5 người chúng tôi đã có lần ngồi co cụm với nhau trong một đêm mưa trời nổi giông gió thật lớn. Tiếng cành cây vặn vào nhau kêu răng rắc trong cơn gió bão làm cả nhóm khiếp đảm vì sợ cây chịu không nổi sẽ gẫy, đổ thẳng xuống barrack và đè lên chúng tôi. Lần nào cũng vậy, khi trời nổi giông gió lớn thì thể nào cũng có barrack lợp lá nào đó trong trại bị hư hỏng nặng và chắc chắn thuyền nhân phải bỏ tiền túi mua dụng cụ để sửa lại hoặc đành bỏ mặc, kiếm chỗ ở khác.

    Chúng tôi đi về dưới bầu trời khuya đầy mây không trăng không sao nhưng vẫn có ánh sáng lờ mờ đủ để nhìn trong một khoảng cách gần. Vì Yến đau chân nên cả nhóm đành phải đi thật chậm dù ai cũng muốn về nhà càng nhanh càng tốt. Cơn mưa nhẹ hồi chập chiều tuy làm bầu không khí thoáng mát hơn nhưng vì không nhiều nước nên hơi nóng bốc lên từ hai bên vệ đường nồng nặc một mùi đất ẩm. Chúng tôi đi ngang qua những barrack lợp lá, nhà cửa nằm bên vệ đường nơi mới có mấy tháng trước vẫn còn là các bãi đất trống đầy cây mọc hoang giờ đã thành các xóm nhà nhỏ. Tuần nào cũng có ghe mới đưa người nhập trại và hầu hết là từ bên Malaysia chuyển qua. Qua khỏi nhà thờ Tin Lành, đồi có khu mộ địa thì cả bọn chúng tôi lại phải đi tiếp lên một đoạn dốc cong chữ C nơi mà các thuyền nhân từ các năm về trước đã xây bức tượng cement nhỏ hình người phụ nữ trong tay ôm một người lính nằm dài trên đất. Người trong trại gọi tượng này là Mẹ Bồng Con. Cây cối ở khu vực cua chữ C khá rậm rạp. Thêm vào đó, cách một đoạn ngắn cạnh bên đường lại có một cây cổ thụ to lớn xum xuê, cành lá um tùm cùng các rễ phụ của nó lòng thòng bám thẳng xuống đất. Không biết cây này là loại cây gì nhưng người trong trại cứ gọi nó là cây đa. Vào ban ngày, khi đi ngang qua đây thì ai cũng thấy cây đa cổ thụ này đứng lù lù gần vệ đường và dù gặp trời có nắng nóng, muốn nghỉ chân thì cũng chẳng ai dám mò vào các bóng mát của nó để trú. Cũng có thể vì họ sợ rắn rết hay vì hình ảnh tàng lá xum xuê với các đoạn rễ lòng thòng nên cây đa cổ thụ trông có vẻ linh thiêng, huyền bí như trong chuyện kể về ma quỉ khiến người trong trại phải ngần ngại mà không vào.

    Vừa lên tới ngay đoạn dốc cong chữ C thì cả bọn chúng tôi phải dừng lại vì một chuyện lạ đang xẩy ra trước mắt. Những đốm sáng vàng hoặc đỏ xuất hiện rồi tắt chóng vánh nơi vùng đen của cây đa cổ thụ. Các đốm sáng đó không phải là những con đom đóm vì đom đóm có mầu xanh vẫn còn chớp tắt bên vệ đường khi chúng tôi đi qua. Cả bọn đứng yên nhìn các đốm sáng cứ xuất hiện rồi tắt như vậy trong thắc mắc vì không hiểu nguồn gốc của chúng từ đâu mà có. Được một lát thì chị Phượng bảo đi về nhưng bất ngờ Đỉnh làm gan bước tới lấy tay dành cái đèn pin của anh Khảm và khẽ nói:

    - Mọi người cứ đứng yên đây, để tui xem coi nó là cái gì cho biết.

    Tay cầm đoạn cây, tay kia đèn pin chiếu thẳng vào cây đa cổ thụ rồi lại soi xuống đất để dò đường, Đỉnh bước tới trước trong sự hồi hộp của cả bọn. Nắm chặt lấy tay tôi, Yến lập cập nói từng câu đứt quãng:

    - Em... em... sợ... sợ... quá... anh.

    Tôi cố nhìn khuôn mặt Yến trong đêm tối lù mù, định trấn an nàng ít câu thì có tiếng thét hoảng hốt của Đỉnh và của cả anh chị Khảm-Phượng nên vội quay mặt lại thì kịp thấy vài đốm mầu xanh lơ to bằng bụm tay lóe sáng ngay sát bên thân người của Đỉnh. Đỉnh luống cuống vất bỏ đoạn cây rồi quay đầu chạy về chỗ 4 người chúng tôi đang đứng. Đến bên chúng tôi, Đỉnh thở hổn hển không nói nên lời. Như vừa thức dậy sau một giấc ngủ ngắn, cả bọn chúng tôi im lặng, không ai bảo ai mà vội rảo bước thật nhanh. Bước nhanh từng bước gần như chạy, chúng tôi đi thẳng một lèo cho tới khi về tới khu vực có ánh đèn đường của Zone 2 Galang 1 thì mới hoàn hồn và bớt sợ. Chị Phượng lên tiếng trước, hỏi anh Khảm:

    - Cái đó là gì vậy? Ma phải không anh?

    Anh Khảm im lặng một chốc khá lâu rồi mới trả lời:

    - Anh cũng không biết... nhưng nghe người ta nói là ma trơi đó.

    Chị Phượng chẳng hỏi thêm và 3 đứa tôi thì im lặng vì sợ vì theo đuổi riêng ý nghĩ của mình. Đốm sáng mầu xanh lơ vừa thấy làm tôi nhớ lại chuyện đã xẩy ra trong chuyến vượt biên lần trước khi ghe bị hỏng máy, phải đổ bộ lên tạm trú trên đảo hoang. Đốm sáng mầu xanh lơ mà cô gái trông thấy giữa khuya trên đảo chắc cũng giống như các đốm sáng ở đây trong tối hôm nay vì đã làm cô sợ phải thét lên. Chợt anh Khảm nói:

    - Theo anh nghe người ta kể là chất lân tinh trong xương cốt người hoặc động vật bị vùi dưới đất, sau cơn mưa chất lân tinh thoát ra, bốc lên rồi gặp khí trời thì tự nó phát sáng như vậy... Nhưng mà...

    Anh Khảm ngập ngừng trong chốc lát rồi tiếp:

    - Cũng có người nói đó là vong linh người khuất mặt muốn cho mình biết có sự hiện hữu của họ... Có thể đó là vong linh của họ hàng hay thân quyến hoặc người quen biết với mình... Mà thôi... Đừng hỏi nữa. Khó giải thích lắm... Tùy theo có tin hay không tin nơi mỗi người.

    Lời anh Khảm giải thích y chang những gì mà anh Tấn đã nói với đám người vượt biên chúng tôi ở đêm khuya đó tại hoang đảo. Nhớ lại thái độ hốt hoảng của anh Khảm vừa qua, so sánh lại thì rõ ràng anh đã thua anh Tấn cái gan dạ của người lớn tuổi từng trải. Phải chi tôi sẽ gặp lại được anh Tấn trong một chuyến vượt biên nào đó sắp đến trại trong các ngày tới. Nếu có cuộc tái ngộ như vậy, tôi sẽ kể cho anh nghe về chuyện đã thấy trong tối hôm nay để mong anh giải thích thêm.

    Về tới cổng dẫn vào Zone 3 của Galang 1 thì mới thấy trời đã khuya thật, hàng quán trống trơn ngoài các nhân viên đang lúi húi dọn dẹp trước khi ngủ. Dãy nhà dân đóng cửa im lìm cùng các barrack nằm yên lặng dưới ánh đèn đường. Mình về trễ quá, chúng tôi bảo nhau. Anh chị Khảm-Phượng chia tay 3 đứa tôi khi thấy một tốp năm, sáu người trong ban trật tự đi ngược chiều ở phía bên kia đường gần lối dẫn vào khu vực thanh lọc. Tốp trật tự đó đến gần và một người trong bọn họ bảo:

    - Mấy người ở barrack nào mà còn ở đây vậy? Nhanh chân lên đi, cúp điện rồi mà còn lảng vảng ngoài đường rủi đám police bắt gặp thì mệt với tụi nó đa.

    Tối hôm sau khi gặp lại ở quán cà phê của bác sĩ Luân thì anh Khảm đã không dấu khỏi vẻ mắc cỡ vì đã để cho 3 đứa tôi biết cái nhát gan của anh khi nhắc lại chuyện đã gặp. Tôi cũng nhát mà Đỉnh cũng vậy dù nó là đứa có bản lĩnh khi cố vào tận nơi để xem các đốm sáng. Đỉnh bào chữa:

    - Tự nhiên ở đâu ra mấy đốm lửa xanh lè ngay sát cạnh mình thì hỏi sao mà em không sợ. Ai trong hoàn cảnh đó mà hồn vía không lên mây.

    Chị Phượng cho là chỗ cây cổ thụ đó chắc cũng có người đã gặp y như đám chúng tôi và nói thêm:

    - Người vượt biên đến Galang từ bao lâu nay rồi mà người chết bỏ xác nằm lại đâu ít. Biết đâu, trong số họ có người còn chưa làm tròn một kỳ vọng gửi gấm của gia đình hoặc nguyện vọng của cá nhân họ nên vong linh vẫn nặng mối u uẩn chưa siêu thoát được. Có ma thì đâu gì lạ.

    Anh Khảm nghe vậy, đồng tình:

    - Anh thì chưa thấy ma bao giờ ngoại trừ chuyện tối hôm qua. Hồi còn trong quân đội thì anh đã từng nghe đám bạn kể họ đã gặp ma nhát ghê lắm. Cũng không hiểu tại sao có người lại gặp mà có người thì không? Có người nói do cái vía của mình, người nặng hay nhẹ thôi. Nhưng kể cũng lạ vì trời cũng thường mưa như vậy mà sao lại nhè ngay lúc bọn mình đi đến thì mới có các đốm sáng.

    - Không biết mấy người đi trước mình thì họ có thấy hiện tượng đó không nữa, em cũng thắc mắc. Chị Phượng nói.

    Đúng vậy! Khi rời khỏi buổi dạ vũ thì trên đường về lại Galang 1, nhóm chúng tôi đi cùng đường chung với một số người. Những người này lần lượt vượt qua mặt và sau đó chúng tôi đã mất dấu họ. Đỉnh nói không chừng đám người đó cũng thấy các đốm sáng nhưng họ bỏ đi thẳng chứ không như bọn mình, làm gan đứng lại xem. Anh Khảm thì bảo cũng có khi chỉ có bọn mình thấy hiện tượng đó thôi rồi anh lập lại: " Không biết đó có phải là ma không nữa? ".

    Như lời anh Khảm nói, tôi chẳng biết ma trông ra sao nhưng cũng mong đừng bao giờ trông thấy. Chúng tôi trò chuyện tới lui rồi cũng quay trở về chuyện thanh lọc của Cao Ủy và nước chủ nhà Indo với thuyền nhân sau ngày đóng cửa trại. Tôi thầm nghĩ bản thân mình phải cố làm sao để được Cao Ủy công nhận là người tị nạn khi nghe anh chị Khảm-Phượng kể về 2 chuyện đã xẩy ra từ cuối năm ngoái. Chuyện đầu là một thuyền nhân trẻ vào tiệm tạp hoá của người Nam Dương mua một đôi dép nhựa. Mua rồi, về barrack thì mới biết đôi dép đó cùng một phía chân phải nên anh ta mang lại tiệm để đổi lấy đôi khác. Nhưng gã chủ tiệm không chịu, nói anh đã đổi chiếc dép cho một người cụt chân phải nào đó. Đôi co qua lại thì gã chủ tiệm nổi nóng và đả thương thuyền nhân nầy. Anh ta liền đến kể chuyện với ban Đại diện người Việt để nhờ can thiệp. Ban Đại diện người Việt liền báo cho phòng An ninh P3V để nhờ họ phân xử vì chủ tiệm là người địa phương. Phòng an ninh P3V không xử và ban Đại diện người Việt cũng đành chịu lép, không giúp được. Tức mình vì nghĩ đã bị xử ức, thuyền nhân nầy liền đến gặp phòng Nhân quyền của Cao Ủy và trình bầy vụ việc của mình. Các nhân viên phòng nầy đã liên lạc với phòng An ninh P3V và chỉ ít ngày sau thì họ thông báo cho ban Đại diện người Việt là gã chủ tiệm đã chịu đổi lại đôi dép khác. Người trong trại nói phòng Nhân quyền Cao Ủy can thiệp vì anh ta là người tị nạn, đến Galang trước ngày đóng cửa và còn kẹt ở lại trại để trị bệnh lao.

    Chuyện thứ hai là có 2 anh em ruột người Việt khác cũng đến trại trước ngày đóng cửa. Người anh đã trên hai mươi còn người em thì khoảng 9 tuổi. Một hôm, người em mất tích khi đi vào rừng nằm mé sau căn chòi họ sống. Tên của anh em họ lại có trong danh sách những người sẽ đi định cư ở Pháp trong chuyến bay vào 3 tuần lễ sắp tới. Không thấy em mình đâu và sau ít ngày tìm kiếm ở các nơi quen biết mà không ra thì người anh liền báo cho phòng Định cư Cao Ủy biết về vụ mất tích. Biết tin đó, Cao Ủy báo ngay cho phòng An ninh P3V để làm một cuộc tìm kiếm trong tất cả các khu rừng trên đảo Galang. Cao Ủy cũng thông báo sẽ thưởng 500 đô la Mỹ cho bất cứ nhân viên An ninh P3V nào tìm được... xác người em vì họ nghĩ là đã chết. Đám nhân viên phòng An ninh P3V khoanh từng vùng rừng một và dàn hàng ngang lục lọi các bụi rậm để mong tìm thấy mà lãnh tiền thưởng. Galang chỉ là một hòn đảo nhỏ vì chiều dài và chiều rộng chỉ khoảng 3 hay 4 km nên sau hơn một tuần lễ thì đám nhân viên An ninh P3V đã quần nát mọi chỗ. Họ chỉ tìm được đôi dép của người em bỏ lại trên bờ cát của một chỗ khuất vắng sát với biển. Không thấy thi thể, vậy người em biến đi đâu? Phòng An ninh P3V cho là có lẽ người em đến chỗ bỏ lại đôi dép thì đã bị rắn độc cắn chết và sau đó thì thi thể bị thú rừng ăn mất sạch. Nhưng thú rừng ở Galang như heo rừng, kỳ đà... nếu có ăn thi thể người em thì cũng phải còn lại các mảnh xương hoặc quần áo. Phòng An ninh P3V dùng các xuồng máy chạy lùng sục dọc theo cạnh đảo khi nghi ngờ là người em đã chết đuối lúc tắm biển một mình nhưng cũng không thấy vết tích gì. Sau cùng khi đến kỳ hạn thì người anh đành phải rời trại đi định cư một mình mà không biết đích xác về tung tích của em trai. Không ai biết số phận của người em đó cho đến mãi mấy năm sau khi trong trại xẩy ra một vụ bắt cóc 2 đứa trẻ Việt khác ở Galang 1 thì mọi người mới giải thích được lý do mất tích này.

    Rõ ràng, Cao Ủy chỉ bảo vệ quyền lợi của những thuyền nhân đã được họ công nhận là tị nạn. Đó là trách nhiệm của họ. Thuyền nhân tạm dung, nó nằm lưng chừng giữa khái niệm phân biệt người tị nạn hay là di dân vì kinh tế. Thông thường khi đàn ông, thanh niên sống xa quê hương mà có chút tiền thì chuyện tụ họp nhau gầy sòng nhậu nhẹt là việc bình thường. Ở Galang cũng vậy nhưng rủi nhậu say mà đánh lộn với nhau mà để police bắt gặp có thể còn bị đánh, bị bắt nhốt ở chuồng cọp nữa. Nếu cá nhân người đó là thuyền nhân tạm dung thì có khi còn bị nhân viên phòng An ninh P3V ép phải ghi danh hồi hương về lại Việt Nam.

    Đã sắp sửa đến Tết ta, ban Đại diện các zone bắt đầu cho dựng cột nêu cùng làm các bàn thờ tổ quốc ở các lối đi chính trong trại. Một số thuyền nhân làng pháo bên quê nhà đã làm các dây pháo chùm thật to cho ban Đại diện để treo trên cột nêu. Có người bàn nhau vào rừng kiếm lá chuối hoang để gói bánh hoặc thử tìm mai rừng mang về chưng Tết. Một buổi tối, Đỉnh không đi ra quán cà phê của bác sĩ Luân chung với tôi, Yến, Bẩy cùng anh chị Khảm-Phượng mà lại đi đâu đó cùng với Ánh Diễm. Ngồi ở quán nói chuyện về Ánh Diễm và Đỉnh mà thực sự đám chúng tôi không hiểu mối quan hệ giữa 2 người họ bây giờ đã đến đâu. Cho đến khi về lại barrack để ngủ thì nó cho biết là sang năm mới Ánh Diễm cùng với một người quen sẽ sang lại một tiệm bán tạp hóa tại Galang 1.

    - Bả (Đỉnh có lúc gọi Ánh Diễm là bả) nói vì sẽ phải ở đây lâu nên mới sang tiệm để buôn bán kiếm thêm chờ tới lúc thanh lọc tính sau. Em sẽ lo việc chạy hàng hóa cho tiệm, họ bàn vậy.

    Ánh Diễm tính như vậy kể cũng được. Cũng ở quán cà phê bác sĩ Luân thì ông cho chúng tôi biết tin là xưởng workshop nhận lệnh của nhà thầu đóng gấp cả chục băng ghế gỗ để dùng cho người nhận kết quả thanh lọc. Như vậy, tin đồn Cao Ủy sẽ công bố kết quả thanh lọc vào đầu năm mới cũng khả tín. Thuyền nhân thanh lọc từ tuốt năm ngoái và chờ mãi để mong Cao Ủy công bố kết quả, nay nghe tin này thì họ lại lo lắng vì không biết con số người đậu người rớt sẽ được tỉ lệ bao nhiêu phần trăm. Chúng tôi cũng lo âu như họ. Những thuyền nhân liên can đến chế độ miền Nam VNCH như quân nhân, công chức... hoặc thành phần phục quốc, chống phá CS đều tin tưởng Cao Ủy sẽ công nhận họ là người tị nạn. Cộng Sản chiếm được miền Nam VNCH đã đày ải họ quá mà, trốn khỏi nước để tị nạn thì đúng rồi. Họ vui khi nghĩ đến lúc trong tay cầm được tờ giấy công nhận tị nạn từ nhân viên Cao Ủy. Trái lại, thuyền nhân nào không thuộc các diện này thì tự dưng cảm thấy lo vì thân phận của mình có lý lịch quá... yếu.

    Lo âu nhất là những người có liên hệ với chế độ Cộng Sản đang cai trị bên quê nhà như đảng viên, công an, công nhân hoặc bộ đội. Người trong trại cũng biết đến họ nhưng hầu như ai cũng nói:

    - Đám đó mà tị nạn cái gì... cũng chẳng nên lo vì có bị Cao Ủy đánh rớt thì họ hồi hương về Việt Nam sẽ gặp lại đồng chí thôi. Đời có vay thì có trả chứ. Vậy mới công bằng.
    (còn tiếp)

  8. #28
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 39 Times in 30 Posts

    Default Re: Con Sóng Dữ - Phạm Thắng Vũ

    (tiếp theo)

    Riêng cá nhân tôi vì chuyện thanh lọc còn xa nên vẫn tà tà 2 buổi đi làm ở phòng Dịch thuật. Một buổi trưa khi ở lại về sau cùng thì tôi gặp một người đàn ông dừng xe đạp ngay phía bên ngoài phòng dưới hàng cây tràm bông vàng. Ông ta bước vào phòng và chào tôi rồi nói:

    - Tui muốn dịch các tờ giấy nầy, xin anh giúp giùm.

    Đón xấp giấy tờ từ tay người đàn ông, tôi mở ra xem và ghi vào quyển sổ nhận hồ sơ chờ dịch. Khi kiểm lại số giấy tờ trước khi cất vào tủ, liếc nhìn chỗ ghi can tội trong Giấy Ra Trại thấy hàng chữ đánh máy: Di tản ra nước ngoài và xâm nhập Việt Nam bất hợp pháp bằng tàu Việt Nam Thương Tín thì tôi hỏi ông:

    - Ô! Ông là người trở về trong chuyến tàu Việt Nam Thương Tín đó hả?

    Người đàn ông gật đầu. Tôi đi về cùng với ông và hỏi chuyện con tàu hồi hương nổi tiếng năm đó thì ông kể:

    - Anh biết là khi sang được tới bển mới chỉ vài tháng trời mà tụi tui đã có người đòi về. Biết tụi tui nhớ nhà, tụi Mỹ trong trại mang phim chiếu cảnh người người chen chúc nhau ở bến xe đò chở đi vùng kinh tế mới và các chỗ tập trung dân đào kênh thủy lợi dẫn nước làm ruộng cạnh lá cờ Đỏ sao Vàng hoặc cờ Việt Cộng nửa Xanh nửa Đỏ cắm trên bờ đất với mục đích để tụi tui coi các phim đó xong sẽ sợ, sẽ từ bỏ ý định quay trở về Việt Nam. Nào ngờ, xem các phim đó rồi thì tụi tui càng nhớ nhà thêm. Nhiều người muốn trở về quê nhà quá nên họ họp nhau lại và làm dữ với bọn Mỹ. Tui còn nhớ cái ông gì người Bắc có tướng thấp lùn từng làm dân biểu Hạ Nghị Viện là kêu gọi nhiều người hồi hương nhất. Làm reo dữ nên bọn Mỹ đành phải chiều ý tụi tui, cấp cho cái tàu khá lớn để về lại Việt Nam.

    - Có ai đổi ý không ông và được bao nhiêu người về cả thẩy? Tôi hỏi.

    - Có chứ anh. Người đàn ông gật đầu rồi tiếp:

    - Có người vào phút cuối đã đổi ý không về nữa và số người trở về thì tui không nhớ rõ con số vì lâu quá rồi anh, thời gian mà... Nó làm mình cũng không còn minh mẫn như hồi trẻ... Hình như trên dưới 1500 người gì đó.

    Tôi và ông ta đi song song bên nhau trên con đường trưa dịu nắng. Một lát thì ông nhìn tôi và tiếp:

    - Tụi Mỹ cho làm một ngã 3 ngay tại con đường dẫn xuống gần chiếc tàu. Nếu trong tụi tui ai đi đến ngã 3 này mà đổi ý không muốn trở về thì cứ rẽ sang đường khác và quân cảnh Mỹ đậu xe chờ sẵn sẽ đón đưa trở lại về trại nhưng là một trại khác. Có lẽ họ muốn tránh chuyện lôi thôi hay giữ sĩ diện cho người đó. Còn ai vẫn muốn về thì cứ đi thẳng con đường để xuống chiếc tàu. Tui thì vì mẹ già mới về còn những người khác thì lo cho gia đình vợ con kẹt ở bển hoặc đổi ý vì muốn sống ở quê nhà hơn ở xứ người. Kết quả là về tới Việt Nam rồi thì bị bọn Việt Cộng bắt bỏ tù hết ráo.

    - Khi đó là ngày nào, tháng nào vậy? Tôi hỏi tiếp.

    - Tháng 10 trong năm 75... Hình như đâu ngày 16 hay 17 gì đó. Lâu quá rồi mà tui cũng chẳng rõ lắm.

    - Ban nãy khi coi giấy ra trại, tôi thấy ghi chữ Tập Trung Cải Tạo vậy ông bị Cộng Sản bỏ tù bao nhiêu năm thì mới được thả?

    - 8 năm 2 tháng đó anh.

    Rồi ông chua chát tiếp:

    - Mà cũng lỗi tại mình, tự dưng đưa đầu vào tù Cộng Sản. Có cái an ủi tui còn may mắn hơn những người khác về chung trong con tàu đó là khi được bọn nó thả tự do thì còn lành lặn chứ có người đã phát điên sau khi vào trại tù mới có vài năm. Anh biết tui là người miền Nam, nghĩ dù sao thì bọn Cộng Sản với phe Quốc Gia bên mình cũng người Việt da vàng máu đỏ với nhau và nhất là hết chiến tranh rồi, còn thù hận gì nữa. Với lại, tự ý tụi tui xin về công khai chứ có phải lén lút xâm nhập để phá phách gì đâu. Vậy mà về để rồi cả đám vào tù. Thiệt hết nói với bọn Cộng Sản, cũng nhờ vậy mà tui đã sáng mắt.

    Đến ngã 3 đường, một hướng rẽ xuống Zone 4 về barrack tôi đang ở. Hướng còn lại thì quay về khu buôn bán Galang 1 và cũng để về Galang 2 thì tôi dừng bước. Nhìn người đàn ông và chưa kịp nói lời chia tay thì ông ta đã hỏi:

    - Anh có bận gì không, nếu không thì mời anh vào quán mình dùng ly nước cho vui. Tui đạp xe tuốt trong Galang 2 ra đây giờ cũng muốn kiếm cái gì uống cho đỡ khát.

    Cả hai chúng tôi vào quán kiếm chỗ và gọi thức uống xong xuôi, tôi nói:

    - Tôi tên Vũ, còn ông?.

    Người đàn ông trả lời:

    - Tui tên Minh nhưng anh cứ gọi là Sáu được rồi.

    Ngồi yên chỗ mới có thì giờ để tôi quan sát ông Sáu. Thân hình ông gầy gò, khuôn mặt đen xạm đầy vẻ khắc khổ. Hơn 8 năm tù cải tạo thì chắc ông phải là một sĩ quan quân đội. Tôi hỏi nhưng ông lắc đầu, nói:

    - Tui chỉ là một cảnh sát viên bình thường thôi nhưng bọn Cộng Sản lại không tin anh Vũ à.

    Rồi ông tâm sự:

    - Tui là cảnh sát ở trạm kiểm tra hỗn hợp ngay lề quốc lộ 1 phía trước nhà máy dệt Vinatexco gần cửa ngõ vào Sài Gòn ở vùng Bà Quẹo-Tân Bình và hướng Hốc Môn-Củ Chi đi lên. Sáng ngày 30-4 khi phòng tuyến tại đây bị vỡ trước hỏa lực quá mạnh của Việt Cộng, tui và ông xếp trạm đã nhanh chân vọt ngay lên một xe gắn máy Honda và chạy thẳng vào nội đô Sài Gòn. Bộ đồng phục cảnh sát đã giúp tui và ông xếp trạm vượt qua được các chốt chặn của binh sĩ miền Nam VNCH trên các đường phố để đến được vùng thương cảng Bạch Đằng. Loay hoay trong dòng người chen chúc đen kịt trên các bờ cảng thì sau cùng tụi tui đã kịp trèo lên được một chiếc tàu nhổ neo chạy ra biển trong những phút cuối.

    - Ô vậy sao! Rồi ông xếp đó có về chung với ông không?

    - Không! Biết tui định về thì ông xếp đã cản nói chú mầy dân Nam Kỳ thì biết gì về Việt Cộng. Về Việt Nam nó sẽ bắt bỏ tù thì khốn cái thân nhưng tui không nghe.

    - Rồi nó bắt thật... Vậy là ông xếp ông nói đâu sai nhưng khi tàu về tới chỗ nào thì mới sa vào tay bọn chúng và sự việc ra sao? Tôi cười.

    - Nếu biết về để bị tụi nó bỏ tù như vậy thì đâu có ai dám về. Tàu vừa mới vào vùng biển Vũng Tàu thì đã bị 2 tàu hải quân tụi nó chờ sẵn đón bắt ngay. Bọn nó lên tàu, bắt mấy ông hải quân mình chỉ dẫn cách sử dụng máy móc rồi chúng tự lái vào cảng Nha Trang.

    Ông Sáu yên lặng, sửa thế ngồi rồi tiếp:

    - Đến Nha Trang thì chúng lùa cả bọn tụi tui vào trại. Bắt mọi người trút bỏ quần áo và phát cho 2 bộ đồ lính trận cũ của mình trước đây rồi nhốt tất cả. Trừ có một đứa nhỏ 7 tuổi thì chúng tha còn thì tất cả người lớn bất kể nam nữ chúng đều bắt khai lý lịch để phân loại. Người nào mà là sĩ quan thì chúng đưa thẳng ra ngoài Bắc luôn.

    - Trời ơi! Có bao nhiêu sĩ quan trên tàu và ai cấp bậc cao nhất, ông còn nhớ không?

    - Năm sáu trăm sĩ quan chứ ít gì anh. Cấp bậc cao nhất là trung tá như ông tên Trụ, thuyền trưởng của con tàu.

    - Rồi khi vào tù thì tụi nó đối xử ra sao. Có phải bị buộc lao động như những người khác không? Còn cái vụ ăn uống chắc có khác biệt chứ ? Dầu gì các ông cũng từ nước ngoài trở về mà? Tôi hỏi dồn.

    - Đó... đó... Cái cưỡng bức lao động khổ sai và cho ăn uống đói khát đó mới làm nhiều người tỉnh giấc vì đã lỡ tin vào lời bọn Cộng Sản chứ không phải riêng gì người quay về như đám tụi tui. Bọn Cộng Sản đối xử tụi tui y như các người bị kẹt lại chứ đâu có khác biệt gì. Ai cũng một củ khoai mì hay cục bột luộc hoặc chén bo bo như nhau thôi. Anh hỏi làm tui nhớ lại khi đó đã bị nhiều anh em trong tù chửi là đang ở bển ăn ration Mỹ, thịt thà cam nho bôm táo ê hề không muốn lại mò về để ăn khoai mì... lao động chết bỏ... Có người vì tức cái ngu dốt hoặc vì thương hại cái ngờ nghệch của tụi tui nên đã sỉ vả nói là tao muốn thoát tay lũ Việt Cộng mà thoát không được. Chúng mày đang bên ngoài yên ổn thì lại tự ý đưa đầu vào rọ... Rồi xem, còn khổ nữa chứ chưa hết đâu. Chúng mày là gián điệp CIA hết cho mà coi... Khi đó, tui không tin lắm lời họ nói dù có chút lo lắng trong lòng nhưng sau nầy mới thấy thật đúng. Ông Sáu cười hiền hậu.

    8 năm 2 tháng tù cải tạo với một cảnh sát viên khi thực lòng quay trở về quê nhà vì lo lắng cho thân nhân và vì nghĩ Cộng Sản dù sao cũng là người Việt cùng chung máu đỏ da vàng. Sao mà độc ác quá vậy hay là thực sự bọn Cộng Sản bỏ tù người đàn ông nầy lâu như vậy vì các lý do nào khác nữa? Tôi nói những thắc mắc của mình thì anh Sáu gật đầu, tán đồng:

    - Biết tui là cảnh sát viên nên bọn chúng nghĩ mình được chính quyền Mỹ đào tạo cấp tốc rồi gửi trà trộn trong số những người về để hoạt động gián điệp. Anh biết là tui đã phải khai đi khai lại cho bọn chúng nghe về cái lý lịch của mình đó.

    Ký ức tôi nhớ lại những tờ báo trong nước ở thời kỳ đó loan các tin về con tàu Việt Nam Thương Tín như: " Người bị ép di tản đòi chính phủ Mỹ phải cho họ được trở về đất mẹ ". Khi con tàu về đến Việt Nam rồi thì báo chí không còn đăng thêm các tin tức gì nữa. Không ai khi đó biết số phận của những người trở về ngoại trừ những thân nhân ruột thịt hoặc các bạn đồng tù. Tôi cũng vậy, cũng sẽ không biết số phận những người di tản trở về năm đó nếu như hôm nay không gặp được ông Sáu.

    Tôi ngồi khá lâu trong quán nước để nghe ông Sáu kể thêm về quãng thời gian sau khi được thả tù rồi những khó khăn trong đời sống hàng ngày đã khiến ông phải tìm cách vượt biên. Phải mất bao nhiêu công sức cùng thời gian và tiền của thì mới đến được trại tị nạn mà giờ đây lại có cái vụ thanh lọc. " Không biết có qua được không nữa ", ông Sáu ưu tư:

    - Tui... bây giờ có nỗi lo khác nữa là nếu mình may mắn mà qua được thanh lọc thì rồi không biết có vào Mỹ được không. Hồi đó, trước khi xuống tàu Việt Nam Thương Tín quay về Việt Nam thì người Mỹ coi trại đã nói hễ tụi tui quyết định trở về thì sau nầy sẽ không được họ cho phép vào Mỹ nữa đó anh. " Các ông về tới nơi chắc chắn sẽ bị Cộng Sản bỏ tù rồi cũng phải vượt biên ", họ nói vậy thấy thực đúng. Không đi được Mỹ thì cũng tiếc mà nếu có đi Canada hay Úc cũng chẳng bằng đi Mỹ.

    Lời bộc bạch của ông Sáu làm tôi nghĩ về anh Khảm cũng như người phi công phản lực cơ F5. Họ đều bị chế độ Cộng Sản bên quê nhà ngược đãi bỏ tù nhiều năm trời thì chắc chắn nay mai họ sẽ qua được thanh lọc dễ dàng. Ở đời, hễ có vay thì có trả. Một quy luật tự nhiên. Giờ đây, mối lo lắng của họ chính là sau khi cầm tờ giấy Cao Ủy xác nhận là người tị nạn thì đừng bị phòng JVA Hoa Kỳ tại trại từ chối. Lý lịch của họ chắc ăn quá. Còn tôi, bản thân thì chưa là lính miền Nam VNCH ngày nào. Có bị Cộng Sản bắt tù thì toàn là tù do chuyện vượt biên. Tôi ngồi im lặng, nghĩ về cá nhân mình cũng như về Yến, Đào, Bẩy và Đỉnh. Đám chúng tôi còn quá trẻ khi bọn Việt Cộng chiếm được miền Nam VNCH. Làm sao để chứng minh cho luật sư Cao Ủy cũng như với sĩ quan Bộ Nội Vụ Indo biết mình là người bị chế độ ngược đãi đây? Đi Mỹ hay đi Canada, Úc hay bất kỳ nước Âu Châu nào cũng được miễn là đừng bị gửi trả về Việt Nam. Tôi thở dài, bắt tay từ giã khi ông Sáu dắt chiếc xe đạp ra khỏi quán nước.

    Tôi đi bộ xuống con dốc hướng về barrack. Ngó đồng hồ tay đã hơn 2 giờ rồi. Hôm nay tôi về barrack trễ quá. Cảm giác đói bụng khiến tôi bước vội chân. Thế nào Yến cũng trách tôi đi làm thiện nguyện gì mà tới giờ mới về như nàng đã từng cằn nhằn:

    - Anh phải lo cho thân anh nữa chứ. Không ăn uống điều độ rồi đổ bệnh thì Cao Ủy nào lo cho anh. Làm thiện nguyện không lương nên làm vừa vừa thôi.

    Barrack buổi trưa thật im ắng không một tiếng người trò chuyện, tôi khẽ rảo chân bước nhẹ về phòng mình. Gió thổi mạnh làm lay động những tấm lá dừa nước trên mái tạo ra những tiếng lách cách nhè nhẹ. Gió mát làm nhiều người ngủ ngon hơn trên các tấm võng căng đây đó trong barrack.

    Lẩm nhẩm vậy mà đến gần Tết ta lúc nào không hay. Yến, Bẩy bàn nhau sẽ gói ít bánh tét, bánh chưng để ăn trong mấy ngày tết cho vui nhưng kẹt một cái là kiếm không ra lá chuối hay lá dong để gói bánh. Muốn có lá chuối thì chỉ có cách chịu khó lội vào rừng kiếm lá chuối hoang hoặc mạo hiểm vào tận Galang 4 để hỏi mua lá chuối của người bản xứ nhưng cũng ít người dám đi vì phòng An ninh P3V cấm thuyền nhân tiếp xúc với đám người Indo nầy. Họ là tàn dư của đám Cộng Sản Nam Dương trong cuộc thanh trừng sau đảo chính năm 1965. Thấy gói bánh khó quá, tôi bảo với 2 cô gái không có lá chuối thì thôi bọn mình đừng để ý đến bánh chưng bánh tét làm gì cho mệt thân... Có thì ăn, không thì thôi. Yến nói:

    - Em tính mua thịt làm giò thủ và muối dưa củ hành đỏ để mình có cái ăn trong ngày 3 ngày Tết cho vui. Cũng chẳng tốn kém gì nhiều.

    Như đã kể, Yến là người Bắc nên vẫn giữ cách làm món dưa củ hành đỏ cùng giò thủ để ăn trong các ngày Tết. Còn Bẩy thì nói sẽ nấu món thịt heo kho tàu và làm chút dưa giá để ăn cho ngon miệng. Đây là các món của người miền Nam. Đỉnh thì bảo hôm đó mình phải nhậu lai rai chút chút cho vui nha anh Vũ. Tự nhiên tôi nhớ đến mẹ tôi bên quê nhà năm nào cũng làm các món này. Gia đình tôi chỉ thờ ông bà và trên bàn thờ ngày Tết năm nào cũng có một mâm trái cây để cúng tổ tiên nhất là trong đêm giao thừa. Mẹ tôi vẫn thường đích thân nấu hẳn một mâm cỗ gồm các món mặn như giò chả, thịt gà, canh miến, bánh chưng... để cúng, cầu xin tổ tiên độ trì cho gia đình. Gần Tết, bên quê nhà hẳn rất vui vì cứ lấy khung cảnh trại tị nạn để so sánh thì cũng biết.

    Tuy không rõ người Indo Hồi giáo có ăn Tết ta như người Việt hay chỉ thuần Tết tây dương lịch nhưng rõ ràng, các chủ tiệm người bản xứ cũng biết chiều theo thị hiếu sắm tết của thuyền nhân mà cho chở thêm hàng hóa đến bán trong trại. Không có vụ họp chợ bán hàng Tết như bánh mứt, dưa hấu hoặc cây kiểng, mai vàng như bên quê nhà nhưng một không khí chờ ngày Tết đến thoang thoảng trong... gió, qua hình ảnh người người dọn dẹp chỗ sống của mình cho gọn sạch cùng điệu nhạc Xuân từ các hàng quán bán ở hai bên đường.

    Đêm giao thừa đến, những thuyền nhân có máy thu thanh đã mở thật lớn để cùng nghe các bài chúc tết phát ra từ đài truyền thông Việt như BBC, VOA... Một tay phóng viên nào đó đã đọc một bài viết về ngày tết trong các trại tị nạn.

    - ... Giờ phút này, xin quý khán thính giả hãy bỏ chút tâm tư để nghĩ đến các thuyền nhân đang sống vất vưởng trong các trại tị nạn. Hãy nhớ và cầu nguyện một sự an lành, may mắn sẽ đến với họ trong năm mới, những con dân Việt tha hương như người lính chiến trấn thủ lưu đồn ở vùng biên địa.

    Bài đọc đó kết thúc bằng ca khúc xuân bất hủ Ly Rượu Mừng đã làm tôi chảy nước mắt khi nhớ về gia đình bên quê nhà. Tết đến thật rồi.

    Ngày mùng Một đến, từ sáng sớm tôi theo chân Yến đi lễ nhà thờ cho vui. Đây là lần đầu tôi đi với nàng đến nhà thờ nằm tuốt luốt trên ngọn đồi khá cao. Đỉnh, Bẩy và Ánh Diễm thì kéo nhau đi chùa Quan Âm nằm trên đường ra hướng cầu tàu và cũng ở trên đỉnh một ngọn đồi. Sau đó, nghe nói cả 3 người họ còn vào chùa Kim Quang trong Galang 2 nữa. Tan lễ đạo, tôi và Yến đi ăn sáng xong rồi gặp anh chị Khảm-Phượng để chúc tết.

    - Hai em thì mới có một cái Tết đầu tiên ở trại còn anh chị thì lần thứ hai rồi. Chẳng biết Tết năm tới sẽ mừng xuân ở nước nào đây. Cầu mong là ở Hoa Kỳ, xin được như nguyện, anh Khảm cười vui sau câu nói.

    Chị Phượng sau khi chúc cho tôi và Yến được... đậu thanh lọc thì bảo:

    - Hôm nay đầu xuân, mời hai em đến ăn cơm với anh chị cho vui. Cũng chẳng có gì ngoài ít thịt thà, xôi chè cho có trong ngày tết.

    Trên đường về barrack, tôi lấy tay chỉ cho Yến thấy một người đàn ông đứng dưới giàn bầu đang giơ cái chân gà đã luộc chín để xem mà đoán vận hạn trong năm mới. Nhìn ông ta làm tôi nhớ đến buổi tối mấy hôm trước khi ngồi ở quán đã nghe anh Khảm nói là ở Galang coi vậy mà có nhiều người tài. Như ông cụ Hoàng sống ở zone 1 biết đoán vận hạn người chỉ qua một nhành lá nhỏ bẻ ngoài vườn mang vào nhà cho ông xem. Chính ông cụ Hoàng dặn dò đêm giao thừa nếu ai nghe tiếng loài vật nào kêu đầu tiên thì nói cho ông biết để đoán vận mạng thuyền nhân trong năm mới này. Nội quy trại vẫn 11 giờ là giới nghiêm thì có thể sẽ nghe được tiếng loài vật nào kêu trong giờ khắc tĩnh mịch của đêm giao thừa nhưng trại lại nằm trên đảo có cây rừng đầy thú hoang nên không biết rồi làm sao mà ông cụ Hoàng có thể đoán vận hạn nếu không biết chính xác con vật. Ngang qua cái sân trống cạnh đường gần lối vào khu vực thanh lọc, tôi và Yến thấy một cây cột tròn khá cao đã được dựng ở chính giữa cái sân. Chỗ này thường ngày là nơi đám thanh niên trong trại vẫn dùng để đá banh trong các buổi chiều. Cây cột to cỡ thân cây dừa và được bào tròn trơn láng. Vài người đang đứng sát bên, tay họ vỗ nhè nhẹ vào thân cột, miệng cười lẩm bẩm nói chuyện với nhau. Yến hỏi:

    - Họ dựng cây cột cao thế nầy để làm gì vậy hả anh Vũ?.

    Tôi lắc đầu với Yến rồi nhìn lại cây cột, nghĩ chắc đây là một cột cái của căn nhà nào đó mà ban Đại diện trại đang khởi sự làm. Nhưng cũng không chắc lắm vì cái cột gỗ này nó quá cao nếu để làm nhà. Gần cây cột là một cây nêu cao vút với các dây pháo đỏ to đùng bay phất phơ trong gió. Cạnh cây nêu là một bàn thờ tổ quốc giống như một mái chùa nhỏ với một lư hương cùng 2 chân nến đồng khá to được bày ở bên trong. Làm sao thuyền nhân trong trại có được cái lư hương cùng 2 chân nến đồng này? Không lẽ ai đó đã mang theo chúng khi vượt biên? Khói bay nhè nhẹ từ các thân nhang toả mùi thơm trong gió sớm. Ngay sau lư đồng là một tấm hình vẽ bản đồ nước Việt trên nền cờ Vàng ba sọc Đỏ với hàng chữ: Danh Dự-Tổ Quốc-Trách Nhiệm. Những câu đối mực đen trên nền giấy điều: Thiên Tăng Tuế Nguyệt Nhân Tăng Thọ-Xuân Mãn Càn Khôn Phúc Mãn Đường... Xuân Đáo Xuân Lai Xuân Bất Tận-Nhật Tân Nhật Tỉnh Nhật Vô Tư... được dán trên tấm bảng gần đó. Tôi kéo tay Yến dừng lại để cốt ý xem các câu đối nầy. Người nào đó đã viết những câu đối thật khéo vì thoạt trông thì tưởng chữ Tàu nhưng nhìn kỹ lại là chữ Việt. Chung quanh bàn thờ đầy những chậu hoa Cúc vạn thọ vàng tươi. Có thêm các câu khác không ăn nhập gì đến ngày xuân như: Quốc Thù Vị Báo Đầu Tiên Bạch-Kỷ Độ Long Tuyền Đới Nguyệt Ma. Hai câu kết trong bài thơ Cảm Hoài của Đặng Dung thời mạt Trần đây mà. Chắc ai viết để nói lên chí bình sinh của họ. Vài người chen vào đốt hương làm che mất các câu: Nguyên Đán Tha Hương Đón Tân Mùi-Giao Thừa Đất Khách... Tôi cũng chen vào, đốt vội cây nhang và lầm thầm cầu xin bình an cho gia đình bên quê nhà cũng như bản thân mình ở đây.

    Xong xuôi, vừa quay ra thì Yến vội kéo tay tôi, nói:

    - Giờ vẫn còn sớm, mình đi lòng vòng đây đó một chút cho vui. Coi như đón xuân đầu tiên tha hương há anh.

    Tôi gật đầu và cùng nàng đi tản bộ dọc theo con đường chính của zone 4 về phía dẫn ra cầu tàu Galang. Ngày mùng Một tết trong ánh nắng mai thật đẹp, nhà dân và các barrack nằm dọc theo bên đường đã được quét dọn sạch sẽ từ mấy hôm trước giờ trông thật khang trang trong buổi sớm đầu năm. Yến bảo là nghe nói ở trong Galang 2 tối nay sẽ có văn nghệ tại nhà thờ, chùa và các quán cà phê. Dọc đường ở trước mặt và sau lưng chúng tôi có người đi một mình hoặc trong nhóm 2, 3 tung tăng với nhau trong bộ áo quần mới, đẹp. Có người cầm trong tay bó nhang nhỏ và khi đến cổng chùa Quan Âm thì tất cả họ đều rẽ vào. Họ đi lễ chùa đầu năm.

    Hai đứa tôi vẫn đi... đi tiếp cho đến khi gặp khu vực trại tị nạn của người Khmer thì Yến bảo quay về lối cũ. Về lại khu buôn bán ở Galang 1 thì cả hai vào một quán nước và chọn một cái bàn ngồi quay mặt ra bên ngoài đường. Ngắm người đi qua lại trong ngày mùng Một tết cũng là cái thú đột ngột vì hàng ngày ở trại tuy đủ thứ lo trong trí nhưng hôm nay ai cũng tạm thời quên đi mọi chuyện để cùng vui với mình với người trong ngày đầu xuân. Hầu như ai đi ra đường hôm nay cũng đều mặc quần áo mới trông thật đẹp khác hẳn ngày thường. Hai đứa tôi cũng vậy, Yến mặc chiếc áo dài nàng mới may ở trại còn tôi thì quần đen sơ mi trắng đóng thùng gọn gàng. Bộ áo dài của Yến cùng mầu hồng nhẹ, bằng vải lụa với những cánh hoa nho nhỏ như hoa Cúc thêu nổi gồ lên trên mặt vải ở phần ngực, ở cổ và hai tay càng làm tăng thêm nhan sắc của nàng. Một bức chân dung người tuyệt đẹp! Tôi nhủ thầm. Áo dài của phụ nữ Việt trước giờ chỉ đi chung với quần mầu đen hoặc trắng. Nhưng ở trại tị nạn, phái nữ đã mặc nó chung với quần đồng mầu nên trông lạ và đẹp hơn. Với ai không biết nhưng cá nhân tôi thì phái nữ khi mặc áo dài họ còn trông rất hấp dẫn. Áo dài phụ nữ Việt nó bỏ xa bộ sari của nước Ấn hoặc xường xám cua người Trung Hoa. Tôi ngồi thẳng người lên, chồm đến sát bên Yến và nhìn chăm chú vào khuôn mặt nàng. Khuôn mặt trái soan có gò má hây hẩy hồng, môi đỏ và đôi lông mi đen cong vút. Thấy tôi chăm chú nhìn, nàng thoáng chút bối rối, e ấp nở nụ cười tươi. Trời ơi Yến đẹp quá, hấp dẫn quá... Tôi luống cuống, khẽ nắm lấy bàn tay nàng và thì thào:

    - Yến... Yến ơi!. Em sao đẹp quá vậy. Ở đây, anh thật mừng khi quen thân được em. Ngày đầu năm anh chẳng biết nói gì ngoài lời chúc cho em luôn may mắn và bình an trong cuộc sống.

    Tôi ngập ngừng trong chốc lát, nói tiếp:

    - Xin chúc cho em qua được... cái ải thanh lọc và mau chóng đi định cư nơi xứ người.

    Rồi tôi khẽ bóp nhẹ tay nàng mà Yến vẫn để yên còn thì thầm:

    - Em cảm ơn lời chúc đầu năm của anh. Phần em, trong năm mới nầy, em chúc anh luôn khỏe mạnh, ước gì thì sẽ được nấy và cũng được định cư nước thứ ba như anh đã chúc cho em.
    (còn tiếp)

  9. #29
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 39 Times in 30 Posts

    Default Re: Con Sóng Dữ - Phạm Thắng Vũ

    (tiếp theo)

    Tôi nhìn xuống bàn tay nàng, bàn tay có những ngón thon mềm với móng dài tròn sơn tím lấp lánh vụn kim tuyến và nâng bàn tay nàng lên, định đưa lên miệng để hôn một cái thì Yến khẽ rụt lại rồi đảo mắt nhìn chung quanh như một cảnh báo. Tôi gật đầu hiểu ý, thủ thỉ:

    - Anh cảm ơn em vì nếu không có em bên cạnh thì cuộc sống anh ở trại nó sẽ tẻ nhạt lắm. Em đã giúp anh rất nhiều thứ dù chúng ta bên nhau mới chỉ trong vài tháng.

    Hai đứa tôi ngồi ở quán cà phê đó uống nước và nghe những bản nhạc xuân, đây là một chuyện bất thường vì hầu như hàng ngày nếu đến quán thì chỉ có vào buổi chiều tối. Hôm nay, hai đứa tôi đã phá lệ vì là ngày đầu năm mới. Ngồi ở đây bên Yến, lòng tôi thoáng chút nhớ đến gia đình bên quê nhà khi tai nghe lại các lời hát cũ " Trên đường đi lễ xuân đầu năm... qua một năm ruột rối tơ tằm... ". Giờ này ở bên đó cũng ngày mùng Một năm mới. Khu phố sẽ vẫn cảnh nhà nhà sạch đẹp trong lớp vôi mới, người người áo quần lượt là dạo phố và dù ai có nghèo khổ chạy ăn từng bữa thì cũng phải cố sắm sửa chút ít sản vật cho có với người ta trong ngày đầu năm.

    Nhớ lại những ngày Tết năm xưa khi gia đình còn đầy đủ thân nhân ruột thịt trong nhà. Nhưng rồi cha và anh trai tôi đã nằm xuống trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến mà phần thua thiệt về phía người miền Nam VNCH. Kể từ đó, gia đình tôi không bao giờ tìm lại được những giây phút cũ của các ngày lễ, tết năm xưa. Nếu có thì sẽ không biết đến khi nào... mà cũng chưa chắc? Cha mất chỉ còn mẹ, may mắn là bà giỏi buôn bán và nhờ vậy đời sống trong nhà không phải chật vật lắm so với các láng giềng trong khu phố. Thời nào, ở đâu thì ai ai cũng phải làm việc để tồn tại nhưng có một cái gì thiếu thốn trong cuộc sống và làm cho tâm hồn tôi cảm thấy bất an. Đó chính là bầu không khí tự do mà người dân miền Nam VNCH đã mất ngay sau khi chiến tranh vừa kết thúc. Giờ đây được ở trong trại tị nạn tuy thiếu thốn và lo lắng về chuyện thanh lọc nhưng dẫu sao, vẫn còn hơn sống bên quê nhà.

    Bên ngoài quán, nhiều người quần áo sạch sẽ đi lễ chùa, đi chúc tết... nhưng vẫn có người tiếp tục công việc thường nhật như người đàn bà bày các chiếc bánh bao trắng như những nụ hoa chưa nở trên một cái mâm nhỏ bên cạnh anh thanh niên bán bánh mì ở phía đối diện bên kia đường. Họ dường như không màng đến ngày Tết hay đơn giản, chính ngày nầy là ngày để họ bán đắt hàng nhất khi mỉm cười chào mời khách qua lại. Trong năm mới này, tôi nghĩ nỗi lo chính của tất cả thuyền nhân trong trại là đừng bị Cao Ủy đánh rớt thanh lọc. Tôi và Yến cũng vậy, phải cố làm sao để qua được cái ải thanh lọc để khỏi bị Cao Ủy gửi trả về lại quê nhà. Sống ở đây ngày nào thì còn được hít thở cái không khí tự do ngày nấy dù là trong một phạm vi chật hẹp của một đảo nhỏ, tôi bảo với Yến:

    - Chưa biết sau này chúng mình sẽ ra sao nhưng thời gian sống ở đây có lẽ là những ngày hạnh phúc nhất trong đời anh.

    - Em cũng thấy vậy.

    Yến gật đầu với tôi rồi hoan hỉ:

    - Em cũng mừng vì gặp được người như anh. Đi bên anh hoặc ngay cả ở gần bên anh trong đêm tối mà em rất an tâm, không chút lo lắng. Mong rằng chúng mình vẫn giữ được mối tình cảm mãi như thể này.

    Rồi Yến bộc bạch rằng chỉ sợ trong trại có người nào đó ở gần gia đình bên quê nhà, biết nàng sống chung với tôi thì sẽ báo tin cho thân nhân để rõ chuyện. Nàng thổ lộ:

    - Ba mẹ cùng các anh-chị trong nhà mà biết em sống chung với anh ở đây thì chết. Em sợ điều đó lắm... Đó là lý do khiến em có lúc ngại đi đây đó bên anh. Mong là đừng gặp ai và nếu rủi có người quen với gia đình em ở đây thì em sẽ phải tách ra khỏi nhóm ngay.

    Điều nàng lo sợ là chính đáng mà thực sự tôi cũng không muốn nó xẩy đến vì như thế sẽ buồn lắm. Tôi đã quen có Yến sống bên cạnh. Giờ đây nghe nàng nói vậy trong ngày đầu năm, tự dưng nó làm tôi lo nghĩ vẩn vơ. " Nếu em phải bỏ đi, anh chắc sẽ rất buồn ", tôi lẩm bẩm trong suy nghĩ khi xoay người đưa mắt nhìn ra bên ngoài quán. Nhìn cử chỉ của tôi, Yến xích lại gần hơn và nói:

    - Anh! Hôm nay là ngày thứ Sáu, không biết phòng An ninh P3V có cho phép thuyền nhân đi tắm biển không? Dầu gì cũng là ngày Tết ta của mình chứ bộ. Tự dưng... em muốn hai đứa mình đi ra ngoài đó... Dạo chơi lòng vòng trên bờ và nếu muốn thì mình xuống tắm chung nữa.

    Nhóm chúng tôi đã không picnic ngoài biến từ sau chuyến đi trong kỳ trước nên khi nghe Yến nói vậy, tôi trả lời:

    - Anh cũng không biết, để về barrack hỏi thử ông Thăng xem đã. Nếu được thì chiều nay chỉ hai đứa mình nha, đừng rủ thêm ai.

    Yến gật đầu nhưng tôi biết là không thể vì nếu phòng An ninh P3V cho phép thuyền nhân đi tắm biển hôm nay thì ban Đại diện trại đã dán thông báo từ mấy ngày trước rồi.

    Sau bữa cơm trưa đầu năm chung với anh chị Khảm-Phượng, hai đứa tôi về lại barrack thì gặp Đỉnh cùng Bẩy và Ánh Diễm từ trong Galang 2 về. Cả 3 người họ đang ăn cơm, thấy hai đứa tôi thì Đỉnh đã ép phải uống bia và chút rượu trắng hiệu Ông Già Chống Gậy tương tự rượu đế bên quê nhà để mừng xuân. Yến lắc đầu nói bụng đã no và chỉ ngồi chơi thôi còn tôi thì không thể từ chối, đành phải ngồi xuống rồi cầm ly. Đỉnh nói:

    - Trong Galang 2 tối nay ở mấy quán cà phê có vụ hát nhạc sống vui lắm. Band mình có đi vào đó không anh Vũ? Tối nay thì vui chơi thoải mái vì không có giới nghiêm, tui biết rõ vậy, mình xả láng một đêm nha.

    Chút xíu bia và rượu vì chiều ý Đỉnh uống trong ngày Tết nhưng đã làm tôi mệt và không thể tính chuyện gì khác ngoài việc lăn ra ngủ. Ngủ như vậy cho đến khi bên tai tôi nghe những tiếng reo hò vang vang từ xa. Tiếng hò reo vang lên từng chập vọng lại ở nơi nào đó gần hướng cái sân trống trên đường dẫn vào khu vực thanh lọc và zone 3. Trong căn phòng chỉ còn một mình, tôi cố ngồi dậy và muốn đi đến nơi đó để xem chuyện xảy ra cho biết nhưng không thể. Rượu đã làm tôi mệt và nhức đầu nên đành phải nằm xuống và lại ngủ tiếp cho đến khi tỉnh giấc thì đã xẩm tối. Thấy Yến có ở trong phòng, tôi hỏi thì nàng cho biết tiếng reo hò từ trò chơi trèo cột bôi mỡ để lấy thưởng. Cột bôi mỡ chính là cái cột gỗ bào tròn chôn gần bên bàn thờ tổ quốc và cây nêu mà lúc sáng Yến đã hỏi tôi, nàng kể:

    - Anh! Mấy người thi trèo cột thì chỉ được mặc quần đùi thôi và dù cố hết sức leo để lên để mong lấy các gói quà treo ở trên đỉnh mà không thể. Cột đó, ban tổ chức đã bôi mỡ, nhớt be bét nên mấy người tham dự trèo rồi lại bị tuột xuống hoài. Phải chi anh có mặt ở đó mà xem, vui và tức cười lắm.

    Mấy ngày Tết qua đi chóng vánh trả lại khung cảnh bình thường của trại tị nạn. Có sống ở đây thì mới biết người Indo đạo Hồi không ăn Tết ta giống như bên quê nhà Việt Nam hay Nhật, Tàu hoặc Đại Hàn... Có người thì đoán là có thể họ chỉ ăn mừng ngày lễ đạo Hồi mà coi tương tự như ngày Tết ta của mình hay ngày đầu năm mới dương lịch của người da trắng.

    Qua Tết một vài ngày thì anh Khảm và tôi đi vào Galang 2 để gặp ông Thành như câu chuyện mà ông đã hứa trong lần gặp gỡ của đêm dạ tiệc Không Gian Hội Ngộ. Đến barrack may gặp được ông ta ngay và sau đó thì ông Thành đã giới thiệu cho tôi làm quen với một người tên Đoàn Thạnh Nam.

    - Tay Nam này biết rất nhiều chuyện về thanh lọc, về các luật tị nạn và có thể giúp cho chú em mày khai báo sao đó với Cao Ủy cho có lợi.

    Ông Thành lập lại câu đã nói trong lần trước với tôi và sau đó tiếp:

    - Tui có nói trước với thằng chả về chú em mày rồi, đừng có ngại nha, cứ thật tình mới quý.

    Chúng tôi đi lòng vòng các quán cà phê để kiếm anh Đoàn Thạnh Nam và khi đến một quán gần khu vực bưu điện thư thường TMS thì mới gặp. Đoàn Thạnh Nam là một thanh niên có tướng gầy, thấp đang ngồi chung với 2 người đàn ông khác tại một cái bàn ở ngoài sân nhỏ ngó xeo xéo gần chỗ ra vào của cái miễu tên là miễu Ba Cô nằm dưới tán lá rộng của vòm cây đa cổ thụ. Cái miểu này là chỗ thờ 3 cô gái đã treo cổ tự tử chết chỉ sau khi nhập trại trong thời gian ngắn nên mới có tên gọi như vậy. Ông Thành trông thấy họ liền chào và kéo tôi cùng anh Khảm vào ngồi chung trong bàn, Đoàn Thạnh Nam sau vài câu xã giao với 3 người mới đến chúng tôi thì quay trở lại câu chuyện đang dở chừng:

    - Người tị nạn là những ai? Trước giờ mình đã nghe nói đến chữ tị nạn rất nhiều lần rồi... Phải không nào? Nhưng thế nào mới là người tị nạn. Cao Ủy định nghĩa người tị nạn là người có nỗi lo sợ thấy rõ bị ngược đãi vì các lý do như chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, thành viên nhóm xã hội đặc biệt hoặc vì quan điểm chính trị. Cao Ủy cùng chính quyền các nước tạm dung thuyền nhân như Mã Lai Á, Phi Luật Tân, Thái Lan, Hồng Kông và ở đây... đã dựa vào bản Công ước Geneva năm 1954 để thanh lọc thuyền nhân Việt mình dù là ở lúc khởi đầu, bản công ước nầy chỉ để dành cho những người tị nạn Cộng Sản bên Đông Âu thôi. Các anh phải biết cái lời định nghĩa: " Lo sợ thấy rõ bị ngược đãi " là câu then chốt để các luật sư Cao Ủy và sĩ quan bộ Nội vụ Indo xác định mình là người tị nạn hay không? Tôi thí dụ nếu một gã công an khu vực luôn luôn tìm cách hành hạ anh vì nó ghét anh, khiến anh lo sợ đến nỗi phải vượt biên thì điều đó chưa đủ yếu tố để Cao Ủy kết luận anh là người bị ngược đãi đâu. Chỉ khi nào anh chứng minh được việc làm của gã công an đó đã có sự đồng loã và hổ trợ sau lưng của nhà nước Việt Cộng thì nỗi lo sợ của anh mới là nỗi lo sợ có căn cứ... là thấy rõ... well founded fear... bị ngược đãi. Anh Nam cười sau tia mắt sáng dưới cặp kiếng cận khi nhìn chúng tôi.

    Tôi đã nghe anh Khảm nói sơ về Đoàn Thạnh Nam đến trại tị nạn Galang chỉ trước tôi có vài tháng nhưng may mắn là anh ta vừa được Cao Ủy tuyển vào làm nhân viên trong một nhóm thiện nguyện chuyên thảo đơn kháng cáo cho những người sẽ bị từ chối quy chế tị nạn tức rớt thanh lọc. Nhóm nầy, người trong trại gọi là viết đơn khiếu nại và hiện đang ở không vì Cao ủy chưa công bố kết quả thanh lọc. Như vậy, anh Khảm và người phi công tên Thành cùng anh chàng Đoàn Thạnh Nam này đều đã qua các thủ tục thanh lọc và chỉ còn chờ ngày nhận kết quả. Anh ta đang nói dở chuyện về Công ước Geneva 1954 thì như vậy, chỉ có mình tôi và 2 người đàn ông ngồi từ trước trong bàn là chưa qua thanh lọc và cần phải nghe chuyện tị nạn. Nhưng lạ thay, cả anh Khảm lẫn ông Thành cũng chăm chú nghe những lời nói của anh ta.

    - Thực ra, bất cứ người dân nào sống trong chế độ Cộng Sản cũng đều là một tù nhân dự khuyết của chúng. Nội cái điều đó cũng đủ để cho mình một nỗi lo sợ có căn cứ về sự ngược đãi rồi. Các anh thấy là trước khi có vụ Cao Ủy bầy ra chuyện thanh lọc thì bất cứ người dân Việt nào mà vượt biên đến trại tị nạn thành công thì đều được họ công nhận là người tị nạn liền. Thời gian sống trong trại có kéo dài là để Cao Ủy tìm nơi định cư cho thuyền nhân đó nhưng...

    Anh Nam ngừng ở đây nhìn chúng tôi rồi lắc đầu, nói tiếp:

    - Cái gì trên đời hễ có thỉ thì phải có chung. Những ngày vượt biên thành công khi đến trại rồi tự động là người tị nạn đã qua rồi... Đã qua rồi mà cũng một phần do người Việt mình tạo ra cả.

    - Tại sao lại do người Việt mình làm ra hả Nam? Tui không hiểu. Ông Thành hỏi.

    - Đến được trại tị nạn thì khăng khăng là không thể nào sống được trong chế độ Cộng Sản nên phải vượt biên. Vậy mà khi rời trại đi định cư ở đệ tam quốc gia mới chỉ có vài năm thì đã có người quay về lại Việt Nam để du hí, để làm ăn với Việt Cộng rồi. Thậm chí có người đi đi, về về quê nhà như đi chợ thì chẳng trách Cao Ủy phải nghi ngờ về nhân thân thực sự của những người vượt biên chứ anh. Có cần sự bảo vệ từ cộng đồng quốc tế cho những cá nhân có thể sống an lành, làm giàu được trong chế độ Cộng Sản đó không? Anh Nam lắc đầu, hỏi lại.

    Không ai trong đám chúng tôi trả lời anh Nam. Đoàn Thạnh Nam có vầng trán rộng, tròng mắt đen sắc tinh anh sau cặp mắt kiếng dầy và anh ta nói giọng chậm rãi của người miền Nam. Rồi anh đã kể thêm nhiều bản lý lịch khác của người dân Việt sống trong chế độ Cộng Sản từ sĩ quan chế độ cũ, thành phần phản cách mạng, tu sĩ, người dân lành và thậm chí ngay cả các đảng viên Cộng Sản phải vượt biên nữa. Mỗi cuộc đời người mà anh ta kể ra, đều đặt các câu hỏi cho bọn tôi rồi anh trả lời ngay liền sau đó. Giọng anh ta thật khúc chiết, lý luận vững rất thuyết phục người nghe. Tại sao một người như anh lại có thể biết nhiều bản lý lịch người như vậy? Thật là lạ! Tự dưng, một sự khâm phục Đoàn Thạnh Nam đã nẩy nở trong nhóm 5 người ngồi nghe chúng tôi.

    - Có những người khi đám Cộng Sản chiếm được miền Nam VNCH thì họ là đối tượng bị bọn chúng ngược đãi và sự thực là vậy như trường hợp của 2 anh Thành anh Khảm đây. Họ là người tị nạn nếu vượt biên thoát được ngay khi đó nhưng đến thời điểm mà vượt biên như hiện nay thì họ, có người sẽ không còn yếu tố đó nữa vì có thể người đó đã có cuộc sống bình an trong chế độ Cộng Sản như dân buôn bán, chuyên viên kỹ thuật hay bác sĩ mà mình thấy nhan nhản trong xã hội sau nầy. Ngược lại, có những người ở thời điểm của ngày 30-4-75 là phe Việt Cộng như đảng viên, bộ đội hay công an... nhưng nay phải kiếm đường vượt biên vì nếu họ chậm chân thì cũng sẽ bị bọn Cộng Sản bắt bỏ tù hoặc giết chết ngay. Dù những cá nhân này trong quá khứ từng là đồng đội đồng chí cũ của bọn chúng. Anh Nam nói thêm.

    - Trời! Tụi công an, bộ đội Việt Cộng mà tị nạn Cộng Sản gì hả anh Nam? Một người đàn ông ngắt lời, hỏi lại.

    - Cao Ủy họ không thiên vị người miền Bắc Cộng Sản hay người miền Nam VNCH đâu anh. Đơn giản, họ chỉ làm theo đúng luật tị nạn của Liên Hiệp Quốc thôi. Giọng anh Nam.

    - Làm đúng luật! Bọn Việt Cộng có bao giờ tôn trọng luật lệ đâu. ÔngThành càu nhàu.

    - Đúng vậy! Nhưng với quốc tế thì không được. Mình đôi lúc cảm thấy bực bội khi biết có nhiều đảng viên, công an hay bộ đội Việt Cộng đào thoát ra nước ngoài thì được Cao Ủy sắp xếp cho đi định cư tại Mỹ, Canda hay Úc liền như đám miền Bắc ở trại tị nạn Hồng Kông đó. Trong khi người dân Việt như đám anh em chế độ miền Nam VNCH chúng ta còn phải sống khổ chết dở trong tay bọn Việt Cộng bên quê nhà. Cao Ủy cần quái gì đối xử tử tế với bọn nầy. Cứ tống chúng trở về lại Việt Nam đi vì chính cái đảng thổ tả của chúng mới là nguyên nhân tại sao làm cho dân nước mình phải vượt biên... Phải không nào?

    Anh Nam ngưng nói, mắt nhìn chúng tôi rồi tiếp:

    - Nhưng làm vậy không được... Ta hãy nhớ là trước đây khi Việt Nam còn phân chia hai miền Nam-Bắc thì hễ có một người dân miền Bắc nào, bất kể người đó là công an, bộ đội hay đảng viên... mà vượt tuyến qua được bờ sông Hiền Lương để xin tị nạn thì chính quyền quốc gia mình đều hoan hỉ đón nhận họ liền. Đón nhận trong vòng tay thân ái, trợ giúp tài chánh, phương tiện để người đó lập lại cuộc đời mới... Bây giờ, vì không còn miền Nam VNCH nữa thì các trại tị nạn của thuyền nhân Việt ở Hồng Kông, Phi Luật Tân, Thái Lan, Mã Lai hay Nam Dương đang làm nhiệm vụ của miền Nam VNCH trước đây đó.

    Lời anh Nam làm tôi nhớ những ngày đi vượt biên ra tận ngoài miền Bắc, sống tá túc trong các căn nhà tại vùng Tiên Yên-Đầm Hà và Hà Cối-Móng Cái giữa năm 1988 trước khi vượt sang biên giới Tàu để nhắm hướng đến Hồng Kông. Tạm trú trong những căn nhà ở vùng địa phương nầy, chủ nhà đã cho tôi xem các tấm hình của thân nhân họ đang sống tại Canada, Anh, Pháp, Úc và cả Mỹ nữa. Điều bất ngờ với tôi khi đó, những người trong các tấm hình chụp đều từng có lúc là công an hoặc bộ đội Việt Cộng khi họ còn ở trong nước.

    - Người thuộc chế độ miền Nam VNCH hay người thuộc phe Cộng Sản thì bên nào dễ thành người tị nạn hơn trong thời buổi thanh lọc nầy hả anh? Anh Khảm hỏi.

    - Thuyền nhân nào như cựu quân nhân-viên chức của chế độ miền Nam VNCH, tu sĩ hay bộ đội-công an Việt Cộng hoặc thành phần phục quốc, phản cách mạng... thì cũng tùy vào cái hoàn cảnh khiến họ phải gấp rút bước chân xuống ghe để vượt biên và sự đào thoát đó có cần thiết cho họ hay không thôi. Anh Nam trả lời.

    Thấy đám người chúng tôi yên lặng chờ nghe, anh Đoàn Thạnh Nam nói tiếp:

    - Phải vượt biên vì bị chính quyền Cộng Sản ngược đãi liên tục hoặc tạm thời sự ngược đãi đó đã chấm dứt nhưng có những kết luận hay dự đoán sự ngược đãi sẽ quay trở lại với bản thân họ trong một tương lai gần. Công ước Geneva 1951 cũng đã nhận xét rằng trong thực tế ít có người nào dám rời bỏ quê hương họ vì lý do người đó muốn làm một chuyến phiêu lưu để biết một thế giới khác so với nơi bản quán mình đang sinh sống. Các anh thấy là đi vượt biên đâu có phải dễ dàng như một chuyến du lịch dù là trong thực tế có nhiều chuyến ghe đã đi thoát được một cách thật dễ dàng khi vừa mới ra tới biển lớn chỉ vài giờ đồng hồ.

    Trưa đến, cả đám chúng tôi kéo nhau đi ăn hủ tiếu sau đó quay trở về quán uống nước và tiếp tục câu chuyện cho đến chiều mà thực sự chỉ là để nghe một mình anh Nam nói. Tôi thì thích thú do biết được thêm các điều mới nhưng cũng thêm lo lắng vì thấy việc qua được cái ải thanh lọc thực không phải là một điều dễ dàng. Anh Khảm và người phi công tên Thành cũng lộ vẻ ưu tư trên khuôn mặt dù là họ đã được thanh lọc xong và đang chờ ngày Cao Ủy thông báo kết quả.

    Đoàn Thạnh Nam cho biết là sau khi anh được tuyển vào làm nhân viên phòng kháng cáo cho những thuyền nhân bị từ chối quy chế tị nạn thì ông Peter Cao Ủy trưởng đã họp mặt tất cả các nhân viên trong phòng lại để dặn dò công việc họ sẽ phải làm. Anh kể:

    - Ông Peter cho biết công việc của chúng tôi làm chỉ là dịch sang Anh ngữ các lá đơn của những người muốn khiếu nại mà không hề huấn luyện thêm các kỹ năng khác cho cả bọn.

    Nghe nói vậy, ông Thành hỏi:

    - Kỹ năng gì hả Nam?

    Thì anh đáp:

    - Có nghĩa là chỉ biết dịch thôi mà nhóm nầy không hề được Cao Ủy huấn luyện cách thức để viết một bản kháng cáo ra sao mới có lợi cho đương đơn. Nếu như vậy thì ai trong trại nầy biết Anh ngữ kha khá mà không viết được, đơn giản quá. Cần gì phải tìm đến tụi nầy cho mất công. Không ai trong cái phòng kháng cáo từng là luật sư mà giờ đây lại nhận làm cái việc của một người bào chữa. Biết viết bào chữa như thế nào cho người đã bị Cao Ủy từ chối ngoài việc họ viết sao thì chúng tôi dịch y chang như vậy.

    Lúc cuối ngày, anh Nam nói với tôi là có một số đàn em của anh cần phải dịch các giấy tờ họ mang theo để chuẩn bị cho ngày thanh lọc sắp tới. Tôi nhận lời ngay nói là anh cứ bảo họ mang các giấy đó đến phòng Dịch thuật thì sẽ xong.

    Trên đường về lại Galang 1, anh Khảm hỏi tôi:

    - Vũ thấy anh chàng Đoàn Thạnh Nam này thể nào?.

    - Hiểu biết rất rộng. Có vẻ phóng khoáng và chỉ vậy thôi vì em mới gặp anh ấy lần đầu mà anh. Dầu gì cũng rất đáng phục.

    Tôi trả lời rồi mỉm cười, hỏi lại:

    - Còn anh nhận xét anh ấy ra sao?.

    - Thì cũng như em vậy. Nhưng nghe anh Thành nói là anh chàng Nam này sòng phẳng lắm. Có nghĩa là có đi thì phải có lại đó.

    Tôi kể chuyện anh Đoàn Thạnh Nam cho các anh Đinh Vinh, Tám Miễu biết rồi sau cùng là cả đám trong phòng Dịch thuật đã làm quen Đoàn Thạnh Nam và nhờ anh ta cố vấn về cách khai trong cái bản lý lịch của từng người. Tết ta qua không lâu thì đúng y như lời người trong trại đồn đãi, lúc 3 giờ chiều ngày thứ Sáu cuối tuần thì loa phóng thanh của phòng Thông tin đã phát một tin mới: Thứ Hai tuần tới, Cao Ủy và chính quyền Indonesia tại trại sẽ công bố kết quả thanh lọc của đợt đầu tiên rồi sau đó danh sách thuyền nhân nhận kết quả được họ đọc lần lượt trong cái hồi hộp lẫn lo lắng của nhiều người. Đang dở công việc nhưng khi vừa nghe tin đó thì đám chúng tôi ngưng tay liền và anh Đinh Vinh quyết định đóng cửa phòng Dịch thuật sớm hơn thường lệ. Cả bọn chúng tôi gồm các anh Đinh Vinh, Tám Miễu, Đặng Phúc Nhân, Nguyễn Thanh Danh cùng các cô Lê Anh Hà, Triệu Lệ Lan và tôi kéo nhau ra về trong tâm trạng bất an vì không ai còn tâm trí đâu để làm việc. Dọc đường tiếng loa vẫn đọc tiếp tên từng người sẽ nhận bản kết quả của Cao Ủy về số phận mình. Đến ngã 3 đường rẻ về zone 4 và hướng Galang 2 nơi vẫn còn bàn thờ Tổ Quốc, anh Đinh Vinh nhìn cả bọn rồi nói:

    - Cuộc đua nào rồi cũng phải có kẻ thắng người thua, người đậu kẻ rớt. Người thắng thì mình không nói làm gì vì tương lai đã mở ra trước mặt họ. Nhưng còn người thua, không biết tâm trạng họ ra sao đây khi cầm tờ giấy từ chối của Cao Ủy? Chắc chắn họ sẽ buồn lắm.

    Lời anh Đinh Vinh lảng vảng trong tâm trí tôi, người rớt thanh lọc thì ai mà vui được. Ai cũng biết vậy nhưng sẽ là bao nhiêu người trong số 300 hồ sơ Cao Ủy công bố trong ngày thứ Hai sắp tới đây? Dù có ít hay có nhiều người bị rớt thanh lọc, chuyện đó cũng sẽ gây xáo trộn cái không khí của trại tị nạn. Những ngày tháng êm ả sẽ không còn trong lòng người tạm dung nữa. Trên đường về barrack, tôi thấy từng nhóm người tụm lại yên lặng ngồi nghe tin hoặc bàn bạc với nhau điều gì đó. Khuôn mặt ai cũng lộ vẻ lo âu dù ở zone 4 là zone của thuyền nhân mới nhập trại và chưa hề qua các thủ tục sơ vấn của Cao Ủy.
    (còn tiếp)

  10. #30
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 39 Times in 30 Posts

    Default Re: Con Sóng Dữ - Phạm Thắng Vũ

    (tiếp theo)

    Như thường lệ của những ngày cuối tuần, sau bữa cơm tối ngày thứ Bẩy thì Yến và tôi cùng anh chị Khảm-Phượng kéo nhau ra quán cà phê. Tối hôm nay quán cà phê nào cũng đông nghẹt khách nên phải chờ một lát mới có một bàn trống cho cả bọn bốn người chúng tôi. Anh Khảm cho biết cả 2 người họ chưa có tên nhận kết quả trong đợt 300 người nầy và nói thêm:

    - Mấy bạn của anh làm ở phòng thông tin cho biết 300 người đợt nầy từ những chiếc ghe đến trại sau ngày 17 tháng 3 tới giữa tháng 6 năm 1989.

    - Anh nghĩ sẽ có bao nhiêu phần trăm người đậu và người rớt? Nhất là những người liên can đến chế độ miền Nam VNCH. Tôi hỏi.

    - Khó đoán lắm Vũ! Tụi bạn làm thiện nguyện ở phòng thông tin dò danh sách thì đã biết có bao nhiêu cựu quân nhân viên chức VNCH trong đợt nầy rồi và đều cho là tất cả thuyền nhân đó sẽ thắng nhưng anh thì không nghĩ như vậy. Phải chờ ngày hôm đó mới biết hết. Anh Khảm vừa cười vừa trả lời tôi.

    Tôi khẽ gật đầu tán đồng. Y như tôi, anh Khảm đã không nghĩ giống như những người ở phòng Thông tin là vì anh đã nghe những câu chuyện kể của Đoàn Thạnh Nam. Tiếng trò chuyện từ những người ngồi ở các bàn gần bên cho cả nhóm tôi biết là họ cũng đang bàn luận về chuyện sẽ đến trong ngày thứ Hai. Chị Phượng kể chuyện mà chị nghe từ những người trong barrack kể lại là có vài người sau khi biết mình có tên đi nhận kết quả thanh lọc, đã hẹn nhau sẽ đến quán ăn để làm một chầu bia Heineken ngay khi họ vừa cầm tờ giấy kết quả của Cao Ủy từ phòng thanh lọc ra. Mấy người này quả quyết 100% là họ sẽ thắng, chắc chắn thắng không thể nào thua được. Anh Khảm và tôi nhìn nhau không nói nhưng cầu mong những người mà chị Phượng vừa kể đó sẽ được những gì như họ đã nghĩ, đã tin. Bởi vì rủi bị Cao Ủy đánh rớt thanh lọc, họ sẽ thất vọng vô cùng vì đã đã quá tin tưởng về hồ sơ của cuộc đời mình.

    Sáng sớm ngày thứ Hai đến rồi, những quán cà phê ở Galang 1 chật cứng khách trong các dãy bàn. Đa số họ đều từ Galang 2 ra chung với các thân nhân. Sau chầu cà phê, ăn sáng ở các quán thì lần lượt từng người tạm chia tay để đi vào khu vực thanh lọc nơi mà các trật tự viên thiện nguyện đã kê sẵn các băng ghế dài dành cho người ngồi chờ kết quả. Chỉ những người có tên trong danh sách thì mới được vào khu vực này. Đứng trong phòng Dịch thuật, tôi dõi mắt nhìn ra bên ngoài xem các trật tự viên thiện nguyện ngồi tại một cái bàn cạnh ven đường đang dò tên, đối chiếu thẻ ID của những người mới đến. Đó đây, khá đông police Nam Dương trong bộ đồng phục áo tím quần đen cùng giầy saut đứng trò chuyện chung với các nhân viên phòng An ninh P3V gần bên chiếc xe van trắng có sơn huy hiệu Hồng Thập Tự của bệnh viện Galang 2 đậu chờ sẵn. Đúng như lời bác sĩ Luân đã nói cho chúng tôi biết trước đó, xe của nhà thương chực sẵn để phòng những người sẽ ngất xỉu hoặc tự sát khi biết số phận xấu của mình khi nhận kết quả.

    Dù còn xa mới đến lượt bản thân mình mới lập hồ sơ sơ vấn nhưng một mối lo lắng, hồi hộp tự nhiên đến với tôi. Tôi hít một hơi dài rồi thở thật mạnh. Tôi lo chung với những thuyền nhân đang ngồi chờ trong các dãy ghế không xa trước các cánh cửa của dãy phòng thanh lọc.

    Ba trăm người trong danh sách nhận kết quả đã vào ngồi kín trong khu vực chờ gọi tên rồi mà Cao Ủy vẫn chưa thông báo. Đông người ngồi sát bên nhau nhưng ai cũng im lặng và đều chung vẻ mặt lo âu thấy rõ. Đồng hồ chỉ 10:30 rồi, ngoài sân những tia nắng đã nóng hơn trước. Nhiều người đã lấy khăn ra thấm các vệt mồ hôi trên trán. Chợt tiếng một thiện nguyện viên trật tự gọi tên người đầu tiên rồi người thứ hai người thứ ba và người kế tiếp. Bốn người nầy, theo hướng dẫn của các nhân viên phòng An ninh P3V đi từng người vào trong dẫy nhà của phòng thanh lọc. Khoảng khắc trôi qua chóng vánh, 4 người họ quay ra rồi đi thẳng mà không nói không trả lời bất kỳ một câu hỏi nào của những thuyền nhân đang ngồi đang đứng ở gần đấy. Họ đậu hay rớt thanh lọc? Không ai biết! Những người được gọi tên kế tiếp, cả nam lẫn nữ cũng vậy, họ vào lấy tờ kết quả xong ra đi thẳng tuốt bên ngoài luôn. Thấy vậy, tôi liền nói với anh Đinh Vinh:

    - Anh cho phép tôi nghỉ việc buổi sáng nay nha, tôi muốn đi ra phía bên ngoài để xem coi những người vừa rồi đậu rớt ra sao?

    Đi ra khỏi khu vực thanh lọc, một đám đông làm thành một hàng rào người ở ngay đoạn khuất bức tường tole của zone 3 chắn ngay trước mặt tôi. Tôi mỉm cười với những người đứng gần nhất. Thấy tôi đi từ bên trong ra nên có người hiểu lầm khi tiếng ai đó vẳng tới:

    - Sao rồi huynh ơi? Ê! Chả cười kìa! Vậy là chả đậu rồi. Đậu phải không, sao không nói gì hết vậy?

    Nghe vậy, tôi lắc đầu, định cho họ biết là tôi đi ra ngoài đây để xem kết quả xổ thanh lọc thì tiếng một người nào đó trong đám đông nói khá lớn:

    - Chả nầy lắc đầu luôn. Mẹ bà! Nẫy giờ chưa có người nào đậu hết á.

    Tôi nhập ngay vào đám người náo nhiệt, ồn ào này. Quá đông người họ đứng chen chúc tại đây để chờ tin từ thân nhân hoặc vì hiếu kỳ đi xem... đã làm bít kín cả con đường dẫn vào khu vực thanh lọc. Vài người khá lớn tuổi choàng tay vào vai tôi, an ủi:

    - Thôi đừng buồn, đừng buồn nha chú em.

    Họ đã tưởng tôi là một trong số 300 thuyền nhân nhận kết quả của sáng hôm nay. Chợt một ý nghĩ thoáng qua trong trí làm tôi giật mình. Tại sao tôi lại lắc đầu khi nghe người nào đó hỏi tôi câu đậu thanh lọc? Tôi đã vô tình vừa làm một điều gở, làm một chuyện xui xẻo cho mình sáng nay rồi. Ý nghĩ thoáng qua này làm tôi cảm thấy buồn, lo sợ vẩn vơ trong lòng.

    Vòng người lại kích động, đổ dồn lại khi thấy có thêm các người khác từ bên trong đang đi ra. Nhìn mặt tôi, một người đàn ông đứng gần đó tiến đến hỏi nhỏ:

    - Giấy báo rớt thanh lọc của cậu đâu rồi? Làm ơn cho tui xem nó chút coi.

    Một người phụ nữ khác cũng bước đến lắc đầu và mỉm cười vẻ thông cảm, chia buồn với tôi. Tôi liền nói cho 2 người họ biết về mình xong nhập chung với đám đông để xem những người vừa đi ra tới. Không biết có ai trong số họ đậu thanh lọc không nhưng tất cả những người nầy khi ra tới nơi đều lắc đầu, mặt họ buồn so không nói một lời. Một người đứng gần tôi nói giọng miền Nam:

    - Trời ơi! 36 người xổ rồi mà không có mạng nào đậu hết. Rớt ráo trọi.

    Chợt có tiếng còi hụ vọng lại từ bên trong. Mọi người nhìn nhau tuy không nói ra nhưng ai cũng biết đó là tiếng còi của chiếc xe van cứu thương. Vậy là vừa có chuyện gì không hay xẩy ra ở bên trong đó rồi. Đám đông vội dãn rộng tấp vào hai bên lề để chừa ra một khoảng trống giữa đường cho chiếc xe cứu thương đang chầm chậm chạy đến. Xe lướt từ từ qua đám đông người vây quanh trong ánh mắt hiếu kỳ. Nhìn qua ô cửa kiếng, ai cũng thấy 2 nhân viên thiện nguyện của nhà thương đang lúi húi săn sóc một người nằm trên băng ca trong xe. Chiếc xe van cứu thương đó chạy ra tới ngã 3 đầu đường liền quẹo trái và thẳng về hướng Galang 2.

    Tôi nhìn đồng hồ tay, đã là 11:48 phút trưa ngày 4 tháng 3 năm 1991.

    Chiếc xe cứu thương đi rồi thì nhanh chóng, đám đông dồn trở lại khu vực cũ và dõi mắt vào bên phía trong chờ thêm có người sẽ ra tiếp. Nhưng chờ cả mười lăm phút trôi qua mà vẫn chưa thấy bóng ai. Trời bây giờ đã thật nóng, ánh sáng làm chói loà hai mắt người đứng ở ngoài nắng. Có người đã phải bung cây dù ra để che nắng, nhiều người đứng chen chúc nhau trong bóng mát của hàng cây ven đường. Dù vậy, tiếng trò chuyện vẫn lao xao như ở trong một cái chợ:

    - Chưa thấy ai đi ra nữa. Chắc có chuyện gì trong đó rồi?.

    Đám đông đứng chờ vậy cho đến khi chiếc xe cứ thương quay trở lại vào khu vực thanh lọc mà vẫn chưa thấy ai ra tiếp. Tại sao vậy? Hay là thấy có người phải đưa đi cấp cứu nên các sĩ quan phòng An ninh P3V đã cho ngưng việc công bố kết quả? Sẽ xổ tiếp tục trong ngày hôm nay hay dời qua ngày khác? Rồi đã hơn nửa giờ đồng hồ chờ đợi mà vẫn chưa thấy ai đi ra, tôi định quay trở vào phòng Dịch thuật thì có những tiếng nói khá lớn:

    - Xổ tiếp rồi nè. Có mấy người đi ra kia kìa.

    Tôi vội vàng chen vào dòng người đang dồn cục trở lại và cố nhìn về phía con đường bên trong. Lần lượt 3 thuyền nhân đang đi ra trên con đường vắng. Họ đến gần, miệng nở nụ cười rạng rỡ. Tiếng ai đó cạnh bên tôi la lớn:

    - Mấy người này đậu rồi, bà con ơi. Đậu rồi. Trời ơi! Họ đậu thanh lọc rồi.

    Những thuyền nhân đó đến gần nhóm người đang đứng chờ xem, 2 người đàn ông miệng cười thật tươi, đưa ngón tay trỏ lên trời còn chị phụ nữ thì nước mắt ràn rụa.

    - Cái bà này! Đậu thanh lọc tại sao bà lại khóc? Kỳ vậy, phải mừng chứ!.

    Tiếng người nào đó trong đám đông hỏi và rồi ngay sau đó một giọng đàn ông khác trả lời:

    - Đàn bà là vậy đó cha. Khổ cũng khóc mà vui quá, họ cũng khóc... Nước mắt nước mũi tùm lum, có khi thấy mà chán.

    Lần lượt 20 thuyền nhân đi ra đều cầm vé đậu hết. Mặt người nào người nấy rạng rỡ khác hẳn với những người bất hạnh trước đó. Thân nhân của họ xúm lại gần bên, chia xẻ niềm vui chung bằng nụ cười và bằng cả... những giọt nước mắt. Đậu thanh lọc nhưng ai nấy khóc ngon lành, tự nhiên bất kể những cặp mắt của đám đông vây quanh. Giọt nước mắt lăn trên bờ má của họ khác gì giọt nước mắt của những người vừa cầm tờ giấy rớt thanh lọc vẫn đang ngồi hoặc đứng thất thần, vô hồn ở nơi nầy hay nơi kia bên vệ đường, dưới các bóng cây.

    Sau đợt xổ 20 thuyền nhân đậu thanh lọc này thì những đợt ra tiếp sau đó cứ kẻ rớt người đậu ra chung với nhau. Bây giờ thì không cần ai phải cất tiếng hỏi nữa vì chỉ cần nhìn khuôn mặt từng người cầm giấy trên tay thì cũng biết kết quả thanh lọc của người đó rồi. Những người sau cùng còn lại đi ra là đám trật tự viên thiện nguyện thuộc ban Đại diện trại cùng với chiếc xe van cứu thương, xe chở đám phòng An ninh P3V và police Indonesia.

    Đám người đứng xem đã giải tán thưa bớt hẳn. Tôi đi dần ra phía ngoài đường, gặp một nhóm 4 người đứng dưới một lùm cây gần vệ đường đang chuyền tay nhau xem tờ giấy kết quả thanh lọc của một thuyền nhân vừa bị Cao Ủy đánh rớt. Ghé mắt vào tờ giấy, tôi đọc ké vội các hàng Anh ngữ:

    "This applicant's statement of the facts does not substantiate a well founded fear of persecution in the meaning of the 1951 Convention, because he was able to conduct a tolerable life in Vietnam. So, he can not be considered as refugee according to the 1951 Convention."

    Tờ giấy được người vừa xem trả về cho chủ nhân của nó kèm theo lời nói:

    - Mẹ bà nó! Tờ giấy nào cũng phán câu có thể sinh sống bình thường tại Việt Nam. Lính Cộng Hoà mà sao sống yên ổn với bọn Việt Cộng được hả trời! Thanh lọc như vậy là chết cha con người ta rồi.

    Thuyền nhân vừa nhận tờ giấy rớt thanh lọc đó lộ vẻ buồn rầu trên khuôn mặt khắc khổ gầy gò, đen sạm. Ông ta đứng dựa lưng vào thân cây, không nói lên lời khi một người trong nhóm khẽ hỏi ông:

    - Định nhờ ai viết kháng cáo đây anh? Thời hạn Cao Ủy quy định chỉ có mười lăm ngày đó.

    Người đàn ông vẫn im lặng chưa trả lời câu hỏi. Vẻ mệt mỏi, thất vọng hằn trên khuôn mặt, khoé mắt. Ông ta từ từ gấp tờ giấy và đút nó vào trong túi áo, thở dài rồi nói chậm rãi:

    - Tôi buồn quá các anh ơi. Với tôi, hôm nay nó như ngày 30 tháng 4 năm 75 vậy. Một lần nữa người Mỹ lại phản bội, bỏ rơi đồng minh miền Nam VNCH mình. Thôi mình đi về đã, việc kháng cáo sẽ tính sau.

    Tôi gật đầu đồng tình, tỏ ý chia tay với ông ta cùng những người đứng chung quanh trước khi bỏ đi. Nhưng đi được vài bước thì tự dưng tôi quay lại nhìn. Ông ta lê từng bước chân chầm chậm, nặng nhọc như người có cố tật. Không đúng! Hình như trong đôi giầy cũ của ông nơi bàn chân phải chỉ còn một nửa. Ông là người tàn phế? Một thương phế binh của chế độ miền Nam VNCH. Trời ơi!

    Ở ngã 3 đầu đường vẫn còn từng nhóm người đứng bàn bạc với nhau. Tiếng trò chuyện qua lại. Bao nhiêu người đậu người rớt trong ngày hôm nay? Chưa ai biết rõ con số nhưng chắc chắn người rớt thì phải nhiều hơn rồi. Bàn thờ Tổ Quốc ngày xuân vẫn còn đó với những câu đối, cây nêu cùng giây pháo đỏ bay lất phất trên cao. Chỉ mới vài tuần lễ đây thôi thì ai cũng hy vọng một niềm vui mới sẽ đến trong năm mới qua hình ảnh ngày Tết với bàn thờ Tổ Quốc, cây nêu, trò chơi trèo cột bôi mỡ lấy thưởng và ở các câu chúc tụng với nhau. Thế mà! Tuy chưa biết rõ chính xác con số người đậu rớt nhưng ai cũng thấy rõ là người cầm vé đậu thật ít so với người bị Cao Ủy bác đơn tị nạn. Sự việc chỉ xẩy ra trong buổi sáng nay thôi mà đã làm mọi người có mặt phải choáng váng, khó mà giữ được sự an ổn trong tâm hồn.

    Đi ngang qua các quán nước, nhìn khuôn mặt đỏ vênh vang của những người đậu thanh lọc đang chiêu đãi bạn bè bên các lon bia Heineken tự nhiên tôi thấy họ đáng ghét làm sao. Tôi đã ganh tị với niềm hạnh phúc của họ? Vô lý quá nhưng rõ ràng, những người ăn mừng nầy đang khoét thêm vết thương của các thuyền nhân vừa bị Cao Ủy đánh rớt thanh lọc.

    Mãi đến khi gặp lại anh chị Khảm-Phượng tại quán cà phê trong buổi tối thì mới biết tổng số người đậu thanh lọc hôm nay.

    - 81 trên 300 hồ sơ, như vậy tỉ lệ chỉ là 27%, anh Khảm nói.

    Con số quá ít so với sự suy nghĩ của nhiều người trong trại. Anh Khảm tiếp:

    - Số người rớt có cả cựu quân nhân, cảnh sát của chế độ miền Nam VNCH nữa. Hiện chưa biết rõ tất cả những người bị out thuộc loại gì chỉ biết có khá nhiều người được Cao Ủy phát giấy đậu là vì có vợ hay chồng đang sinh sống ở nước ngoài nào đó. Đau nhất là chiếc ghe vào Galang ngay trong đêm 17 tháng 3. Tất cả người trên ghe đó đều bị Cao Ủy đánh rớt sạch không được lấy một người đậu.

    Anh Khảm kể cho tôi và Yến nghe câu chuyện của 2 chiếc ghe cùng đi vào vùng biển Indonesia trong ngày 17 tháng 3 năm ngoái. Hôm đó vì trời đã tối trông không rõ đường và vì sợ gặp phải đá ngầm nên một trong hai chiếc đã quyết định bỏ neo nằm lại, chờ hôm sau sẽ đi tiếp cho an toàn. Điều đó đúng vì dầu sao cũng đã sắp đến được Galang rồi thì vội gì. Đoàn chúng tôi cũng đã phải quyết định giống như vậy khi ghe gần bị kẹt trên một bãi cạn. Chiếc kia, lầm lũi mò đi liều trong đêm tối và đã đến được trại tị nạn Galang trước nửa khuya ngày hôm đó. Vì đến trại kịp lúc nên tất cả người trong ghe được Cao Ủy coi là người tị nạn và họ đã lên đường định cư ở nước thứ 3 khá lâu rồi. Chiếc ghe còn lại, mờ sáng hôm sau khi đến được đảo Galang thì đã bị phòng An ninh P3V cho biết họ sẽ phải bị thanh lọc vì đã đến sau ngày Cut Off Day nầy. Đến trễ nên đành phải chờ thanh lọc và ai cũng nói đó là chiếc ghe bất hạnh và hôm nay điều đó đã thật đúng. Chỉ vì đến sớm đến trễ cách nhau có vài tiếng đồng hồ thôi mà số phận thật khác biệt. Anh Khảm nói thêm:

    - Hồi sáng nay vì thấy có người bị xỉu khi cầm giấy rớt nên phòng An ninh P3V đã cho ngừng xổ cả hơn nửa giờ đồng hồ để chúng bàn bạc riêng trong phòng với nhau. Sau đó thì mới cho ra một loạt cả hàng chục người đậu thanh lọc rồi lại xổ xen kẽ giữa người đậu người rớt chung với nhau. Tụi thiện nguyện viên trật tự cho anh biết như vậy đó. Tụi phòng An ninh P3V nầy đánh vào cái tâm lý của thuyền nhân mình khi thấy một loạt nhiều người vào phòng rồi cầm giấy đậu đi ra nên ai lúc đó cũng mong cũng nghĩ mình sẽ là một trong số họ nên tinh thần bớt căng thẳng liền. Vũ thấy sau đó xe van cứu thương đâu phải chở ai đi cấp cứu thêm nữa đâu.

    Tôi gật đầu với anh Khảm và kể lại chuyện đã thấy đoạn văn kết luận trong tờ giấy rớt thanh lọc của người cựu quân nhân VNCH lúc sáng. Anh Khảm nói thêm:

    - Trong số ghe xổ thanh lọc sáng nay, ngoài chiếc ghe bất hạnh vừa nói cho em nghe còn có chiếc chỉ đậu duy nhất một người thôi. Giờ thì ai cũng sợ hết còn nói cứng chắc ăn nữa.

    Những ngày kế, gạn lọc từ những nguồn tin từ các nhân viên thiện nguyện, từ phòng làm thẻ ID của P3V thì tôi được biết những người cầm vé tị nạn có lý lịch như sau: Người có chồng hoặc vợ đang định cư tại một nước thứ 3, tu sĩ, quân nhân-viên chức của chính quyền miền Nam VNCH từng bị Việt Cộng bắt học tập cải tạo, đảng viên các đảng phái hoặc hoạt động phục quốc sau ngày 30-4-1975 và đã từng bị bắt bỏ tù một thời gian từ 3 năm trở lên.

    Hết Quyển Một

    ***


  11. #31
    Join Date
    Aug 2010
    Posts
    10
    Thanks
    1
    Thanked 3 Times in 3 Posts

    Default Re: Con Sóng Dữ - Phạm Thắng Vũ



    Con Sóng Dữ


    Quyển Hai


    Trái với dự đoán của nhiều người trong trại là Cao Ủy sẽ công bố tiếp kết quả thanh lọc thuyền nhân trong các tuần lễ kế tiếp. Nhưng không, họ ngưng lại làm những người như anh chị Khảm-Phượng càng thêm lo lắng. Giữa tuần, trong một buổi tối trời nóng, đi một mình đến quán cà phê của bác sĩ Luân thì tình cờ tôi gặp anh Khảm ngồi chung bàn với 3 người đàn ông khác. Tôi xà vào bàn khi anh Khảm giơ tay vẫy, anh nói với họ:


    - Đây là em tôi... Vũ nó làm ở phòng Dịch thuật. Vào ngồi chơi uống nước cho vui.


    Rồi anh chỉ tay giới thiệu:


    - Đây là cụ Hoàng, đây là ông cựu xã trưởng xã An Nhơn Tây-Gò Vấp, đây là tiến sĩ Ngô Long Tôn giáo sư của trường Đại Học Chiến Tranh-Chính Trị Đà Lạt.

    Cụ Hoàng và 2 người đàn ông nhìn tôi trong lúc anh Khảm nói và vì biết phận mình chỉ hàng con cháu trước các bậc trưởng thượng nên sau khi vội gật đầu chào họ, tôi khe khẽ kéo ghế ngồi yên cạnh bên anh, kín đáo quan sát. Ánh bóng đèn vàng treo đung đưa không xa chiếc bàn nơi chúng tôi ngồi tuy mờ nhạt nhưng đủ cho thấy sắc diện cụ Hoàng tuổi đã già trong vóc người nhỏ thó, chỉ nổi bật ở đôi mắt sáng cùng vầng trán rộng. Ngồi đối diện với cụ là ông Tiến sĩ Tôn có khuôn mặt thỏn, tạng người gầy cùng nước da đen đen. Và, ông cựu Xã trưởng thì lại mập mạp, trăng trắng nhưng người thấp như một cậu bé choai choai. Bác sĩ Luân ló mặt ra nhìn, tôi khẽ ra dấu gọi thức uống quen thuộc hàng ngày và một khoảnh khắc yên lặng qua đi, anh Khảm cùng 3 người họ lại quay trở về câu chuyện đang nói dở chừng. Tiến sĩ Tôn bắt đầu:


    - Galang bây giờ mới xổ thanh lọc chứ theo các tin tức tôi nghe được trên VOA, BBC cùng báo chí người Việt hải ngoại thì bên Mã Lai Á đã xổ kết quả lâu rồi. Hình như họ chỉ khác bên này ở chỗ Cao Ủy công bố kết quả ngay sau buổi thanh lọc liền vì lá thư viết là tính cho tới ngày 16 tháng 7 năm ngoái đã thanh lọc được 26 ghe với tổng số 1600 thuyền nhân. 1600 thuyền nhân đó nhưng chỉ có 291 người được Cao Ủy công nhận là tị nạn chính trị còn tất cả đều di dân kinh tế hết. Các trại bên Phi bên Thái ra sao thì tôi chưa được biết, riêng ở Hồng Kông thì làm căng nhất, thuyền nhân mình sống bên đó rất khổ.


    - Mấy trại bên các xứ đó cũng đã công bố kết quả thanh lọc lâu rồi. Chỉ có trại Galang mình là chậm trễ thôi. Không hiểu sao? Ông cựu Xã trưởng phụ họa trong cái lắc đầu.


    - Chính quyền Nam Dương thì luôn luôn đi sau các trại khác trong việc đối phó với thuyền nhân Việt nếu tính từ lúc có làn sóng vượt biên trong cuối thập niên 1970... Có lẽ đây là cung cách thận trọng của họ, một quốc gia Hồi Giáo lớn nhất tại châu Á. Cụ Hoàng giọng chậm rãi, góp lời.


    Những điều vừa nghe được từ các người này đã làm tôi giật mình. Cao Ủy thanh lọc 1600 hồ sơ thuyền nhân mà chỉ có 291 người đậu, kể ra lần xổ thanh lọc vừa qua ở đây thì cũng còn khá... nếu so sánh... nhưng dẫu sao còn phải xem các đợt tới thì mới biết rõ. Tiến sĩ Tôn lại tiếp:


    - Bên mình chỉ mới có người xỉu phải đi cấp cứu thôi chứ bên Mã Lai Á còn bi đát hơn nữa kìa, thuyền nhân tuyệt thực và tự sát đã bắt đầu từ tháng 12 năm ngoái.


    Tiến sĩ Tôn đảo mắt nhìn đám chúng tôi trong bàn rồi với vẻ buồn rầu, ông nói:


    - Xổ thanh lọc hôm rồi quân nhân-viên chức miền Nam VNCH ở đây bị Cao Ủy đánh rớt thì ta chỉ mới thấy ở cấp binh sĩ, nhân viên chứ bên Mã Lai Á có cả cấp tá, cấp úy, trưởng chi... nữa. Chính vì vậy mới có vụ tự sát... Được biết khởi sự là vì có cái anh quân nhân nào đó tên Lâm Văn Hoàng, bản thân có lý lịch cha chết cải tạo, chị ruột vượt biên chung và bị hải tặc cưỡng hiếp chết trước mắt mà vậy anh ta còn bị Cao Ủy dán cho cái nhãn di dân kinh tế nên đã tự kết liễu bằng cách trèo lên mỏm đá cao rồi anh buông người xuống. Cái chết tức tưởi đó đã châm ngòi phản kháng của thuyền nhân trong đảo tị nạn Pulau Bidong.


    - Tôi thì cũng qua thư từ của thân nhân bên Hồng Kông gửi cho mới biết là giữa tháng 12 năm rồi thì có 7 thuyền nhân ở trại Whitehead đã tự thiêu tập thể để phản đối chuyện thanh lọc. Cái thư kể là vì không kiếm ra xăng để tẩm nên 7 người họ đã dùng quần áo, mùng mền quấn quanh thân mà đốt. Cũng nhờ vậy mà khi lửa vừa cháy thì cảnh sát coi trại đã dập tắt kịp thời nên 7 người họ chỉ bị phỏng nặng nhưng vẫn sống được. Chẳng biết rồi đây Cao Ủy bên đó sẽ giải quyết ra sao với hồ sơ của 7 người này.


    Ông cựu Xã trưởng thở dài sau đó chậm rãi từng đoạn:


    - Cũng tin tức nghe được trên radio thì bên Hồng Kông đã cưỡng bức hồi hương một nhóm 51 người về lại Việt Nam rồi... Vụ này xẩy ra cũng từ đầu năm ngoái lận... Bây giờ chính quyền tạm dừng vụ cưỡng bức bởi vì cộng đồng quốc tế lên án quá... Điều may mắn cho thuyền nhân mình là cho tới giờ này, chính phủ Hoa Kỳ vẫn không chấp nhận chuyện cưỡng bức hồi hương.


    Hồng Kông, một nhượng địa tạm thời cai quản bởi Anh Quốc thì tôi đã nghe nói và biết là có tới mười mấy trại... nhưng có tin nói con số trại tới hơn 20 dành riêng cho thuyền nhân Việt. Cũng có trại dành cho người Tàu từ lục địa trốn sang tìm tự do. Chuyện 7 thuyền nhân tự thiêu vậy thì bên đó Cao Ủy cũng đã xổ thanh lọc rồi và chắc con số người đậu phải rất ít cùng vụ cưỡng bức hồi hương 51 người về tới Việt Nam nên khiến mới có vụ tự sát này. Tôi cảm thấy sợ khi nghĩ các viễn cảnh xấu sẽ xẩy ra tại trại Galang trong mai hậu.


    - Là nhượng địa tạm thời cho nước Anh từ thời còn triều đình Mãn Thanh nhưng đến năm 1997 thì Hồng Kông sẽ phải trả lại cho bọn Tàu-Trung Cộng... Hình như bọn Tàu-Trung Cộng nó buộc tụi Anh Quốc phải giải quyết hết thuyền nhân Việt mình ở đó nên mới có vụ cưỡng bức hồi hương. Chính bà thủ tướng Thatcher là người quyết định tiến hành chiến dịch cưỡng bức hồi hương đó nhưng khi bà này đi sang Mỹ vận động với cha nội Bush đồng ý thì lão ta lại không chịu.


    Ông cựu Xã trưởng mỉm cười rồi tiếp:


    - Nhiều khi mình ghét bọn chính khách Mỹ chỉ biết quyền lợi riêng mà bán rẻ đồng minh nhưng kể ra thì cũng có lúc họ chơi được... như cái vụ chống cưỡng bức hồi hương thuyền nhân.


    Bác sĩ Luân sau khi mang thêm thức uống cho một bàn khách gần đó, ông đã lấy thêm ghế và ghé lại ngồi nơi đám chúng tôi. Ông thân mật hỏi chuyện cụ Hoàng:


    - Hôm nào cụ có rảnh thì ghé lại bệnh viện gặp tôi để lấy ít dầu cá và thuốc B-Complex nha. Cụ lớn tuổi thì cần phải bồi bổ xương cốt mình và cẩn thận khi đi đứng chứ không rủi bị té thì dễ gẫy xương lắm.


    Rồi bác sĩ Luân cười cười và đột nhiên hỏi thêm:


    - Mà này! Cụ đoán tình hình thuyền nhân mình ở trại Galang trong năm mới nầy ra sao? Cá nhân tôi thì muốn biết thôi chứ bản thân mình thì xong xuôi rồi, còn thanh lọc thanh liếc gì nữa.


    Như đã kể ở các phần trước, bác sĩ Luân là một trong số những người tị nạn đến trước ngày Cao Ủy tuyên bố đóng cửa trại và vì cần phải uống thuốc trị dứt bệnh lao nên phải kẹt lại nhưng cũng có tin nói là vì Cao Ủy cần ông giúp việc ở 2 nhà thương tại Galang nên vụ đi định cư bị chậm trễ. Được cái là bác sĩ Luân cho là có sống ở đâu cũng phải làm cái việc ông đã được thụ học và ở nán lại trại thì giúp trực tiếp cho người Việt nên lúc nào ông đều vui vẻ, hòa nhã không coi chuyện đi nước thứ 3 chậm trễ là một thiệt thòi. Còn cụ Hoàng, trong trại thì nổi tiếng là người biết xem tử vi cùng đoán vận mạng. Nghe câu hỏi, cụ liền trả lời:


    - Tôi rất cám ơn ông Luân vì đã cho dầu cá còn thêm thuốc bổ xương nữa... Thực sự nếu ông không nói ra thì chắc tôi cũng chẳng biết mà đề phòng xương cốt mình. Còn chuyện ông hỏi thì...


    Nói đến đó cụ Hoàng ngập ngừng trong chốc lát và nhìn cả đám người chúng tôi như có vẻ cụ không muốn nói hoặc muốn nói ra điều định nói nhưng lại e ngại cái gì đó. Rồi, như nể mặt bác sĩ Luân nên cụ sửa thế ngồi cho ngay ngắn, hắng giọng lấy hơi và chậm rãi:


    - Nghe mấy ông nói tình hình thuyền nhân ở các trại khác thì thấy ở đây mình còn may mắn hơn họ rất nhiều tuy cũng phải bị Cao Ủy thanh lọc. Đêm giao thừa hôm đó, tôi lắng nghe xem con vật gì kêu trước tiên trong cái khoảnh khắc năm cũ bước sang năm mới thì rồi rõ ràng là tiếng gà. Tiếng gà gáy lảnh lót không xa nhà tôi lắm nên đã làm tôi ngạc nhiên. Ở trại thì mấy ông biết lấy đâu ra gà mà nuôi, thế mới lạ... Tôi thắc mắc nên khi đến sáng thức dậy nhân đi sang hàng xóm chúc Tết để tiện dò hỏi luôn thì mới biết con gà gáy hồi khuya là một con gà rừng mà một gia đình mới bắt được từ mấy ngày trước. Con gà vướng bẫy bị chủ gia cột chân nơi cây trụ đỡ căn gác góc nhà và gia đình đó cũng chưa biết sẽ làm gì. Để nuôi chơi cho vui hay sẽ cho nó vào nồi? Nhìn nó trông giông giống loại gà tre mà dân miệt vườn bên quê nhà thường nuôi để làm gà đá độ... chỉ khác ở bộ lông dài và màu sặc sỡ hơn. Chúc Tết xong, về nhà rồi tôi vẫn lo lo trong trí vì gà kêu trong đêm giao thừa thì thường lao đao, lận đận lắm.


    Chúng tôi im lặng khẽ nhìn nhau sau câu nói của cụ Hoàng, anh Khảm đầu gục gặc, rít từng hơi thuốc còn Tiến sĩ Tôn thì cầm ly cà phê và gõ nhè nhẹ nó thành tiếng lốc cốc trên mặt bàn. Cá nhân tôi thì thấy lạ khi nghe được chuyện kể, chợt ông cựu Xã trưởng xen vào:


    - Dù cụ không nói vụ gà kêu này thì cứ lấy lý mà suy sớm hay muộn gì trại Galang cũng sẽ phải chịu cảnh đã xẩy ra ở bên Hồng Kông, Mã Lai Á. Rồi đến lúc đó thì biết đâu trong trại mình sẽ có người phải chết... Chết vì uất ức? Còn nếu có chuyện tuyệt thực hay bị cưỡng bức hồi hương thì biết đâu người chết lại do bàn tay cảnh sát địa phương gây ra...


    Ngừng một chút nhìn khắp lượt chúng tôi, ông tiếp:


    - Đến cái giai đoạn đó thì các trại tị nạn phải có bao nhiêu người bỏ mạng mới được Cao Ủy giải quyết chuyện định cư ở nước thứ 3. Mấy ông có nhớ là ở buổi đầu của làn sóng vượt biên, nhiều chiếc ghe đã bị hải quân Mã Lai Á, Thái Lan... kéo ra biển hoặc bị xả súng máy bắn chìm ghe làm chết thảm cả thuyền thì thế giới mới động lòng.


    - Chuyện ông nói ra nghe thê lương thật. Cũng mong là nó đừng xẩy đến... tội nghiệp cho gia đình nào có người tự sát. Cụ Hoàng nói và gục gặc cái đầu rồi chậm rãi từng tiếng: " Tôi nói thêm điều này để mấy ông bớt lo... Tin hay không thì tùy... Qua ngày hôm sau thì tôi nghe tin con gà đó sổng dây cột và bay biến vào rừng... Lại mừng vì nhớ lúc vừa nghe tiếng gà gáy tôi ra ngoài nhìn lên trời đêm thấy mây u ám lắm rồi sau có việc phải ra sân lần nữa thì lạ thay, bầu trời lúc đó lại trong trẻo không một gợn mây. Trời đêm giao thừa u ám rồi sau lại quang sáng cùng con gà thoát thân được là điềm tốt, tôi nghĩ chuyện thuyền nhân mình sẽ tiền hung, hậu cát... mấy ông à ".


    Lời cụ Hoàng đoán ít ra cũng gây cho đám chúng tôi một chút hy vọng dù ai nấy chưa biết số phận mình ra sao trong cuộc thanh lọc của Cao Ủy ngoại trừ một mình bác sĩ Luân. Tuy vậy mọi người vẫn ngồi yên không nói như đang theo đuổi suy nghĩ riêng của bản thân mình, thấy thế, bác sĩ Luân vồn vã:


    - Thôi bỏ mấy chuyện tuyệt thực, cưỡng bức hồi hương hay tự sát gì gì đó đi... Nghe đồn cụ biết rành các khoa siêu hình, lý số thì có chuyện gì hay hay, là lạ xin kể ra đây để tụi tôi nghe cho biết với.


    - Lý số tôi biết cũng làng nhàng thôi, xin đừng để ý đến lời người ta đồn thổi, còn chuyện gì ông bác sĩ muốn nghe thì nếu tôi biết sẽ sẵn sàng kể liền... cụ Hoàng ngập ngừng hỏi.


    - Tôi cũng chẳng biết hỏi cụ việc gì trong các chuyện huyền bí...


    Bác sĩ Luân im lặng trong chốc lát như đang suy nghĩ điều muốn hỏi rồi lại mỉm cười và tiếp:


    - Tôi nghe kể thời còn chế độ cũ thì mấy ông lớn cũng tin chuyện siêu hình, bói toán và tử vi lắm phải không? Cụ từng sống ở Sài Gòn lâu năm thì có lần nào tiếp xúc với mấy ông lớn về các vụ đó không... Tỉ như Tổng thống Thiệu hay tổng trưởng, ông tướng... nào đó đã từng mời các ông thầy Huỳnh Liên, thầy Minh Nguyệt hay thầy Khánh Sơn vào xem số, bấm độn.


    - Ông Thiệu thì làm sao mà tôi có diễm phúc được gặp.


    Cụ Hoàng mỉm cười rồi từ tốn tiếp:


    - Lý do tôi không có cái tài bói toán, đoán mệnh, tiên tri hay xem được phong thủy như mấy ông thầy nổi tiếng ở Sài Gòn. Tôi chỉ biết coi chút chút tử vi và thỉnh thoảng chỉ xem cho người thân, bè bạn thôi. Xem để chiêm nghiệm thực học của mình chứ không nhằm lợi lộc đổi chác gì. Nếu tôi thời đó mà treo bảng hành nghề thì chắc cũng có khách lai rai đấy... Còn với các ông thầy đó, giữa cá nhân chúng tôi với nhau đâu có lạ gì. Ở Sài Gòn thời...


    Cụ Hoàng bỏ dở chừng câu vì phải lấy tay lùa xuống dưới bàn để đập muỗi cắn ở chân, bác sĩ Luân thấy vậy vội đứng lên, nói:


    - Khoan, hôm nay trời không gió nên ngoài sân nhiều muỗi quá... cụ hãy đợi tôi vào lấy khoanh nhang trừ muỗi ra đốt xua chúng đi bớt nha.


    Làm người, hình như ai cũng muốn biết chuyện tương lai của cuộc đời mình cũng như nghe kể về các chuyện kỳ bí-siêu hình, tôi cũng vậy dù nãy giờ hai chân cứ phải luân chuyển xoa vào nhau vì tránh muỗi nhưng vẫn cố chịu đựng chúng để hóng chuyện. Hầu như mỗi tối ngồi quán nước thì người khách nào cũng bị muối đốt cho vài phát đau điếng nhưng được cái không ai bị bệnh sốt rét do đã được nhà thương chích thuốc ngừa khi mới vừa nhập trại. Bác sĩ Luân mang thêm cho chúng tôi một bình nước trà nóng cùng khoanh nhang muỗi cháy đỏ lập lòe và đặt nó ở dưới gầm bàn, anh Khảm nói nhỏ với tôi:


    - Có nhang này thì mình ngồi lâu cũng chẳng lo.


    Chốc lát, một mùi hăng hắc của thuốc trừ muỗi thoang thoang chung với hơi khói lan tỏa trong không khí, cái mùi làm cho đám chúng tôi không còn sợ cảnh phải đụng đậy tay chân nữa. Cụ Hoàng chờ cho bác sĩ Luân ngồi hẳn xuống bàn rồi và sau đó hớp một ngụm nước trà nóng, mới tiếp:


    - Mấy ông như thầy Huỳnh Liên, thầy Minh Nguyệt hay thầy Khánh Sơn... ở Sài Gòn thời đó nổi tiếng thật nhưng thân chủ của họ đa số thuộc tầng lớp thường thường hoặc bậc trung thôi. Nổi tiếng để thân chủ chỉ thuộc tầng lớp lãnh tụ, nguyên thủ quốc gia thì tôi thấy có các thầy Vũ Tài Lục, thầy Nguyễn Phát Lộc, thầy Nguyễn Mạnh Bảo... thôi. Nhưng mấy thầy nầy chỉ nổi danh lúc sau nầy thôi chứ đáng kể nhất phải là các thầy Ngô Hùng Diễn, thầy Ba La hay thầy Gia Cát Hồng từ trước đó. Tính đến năm nay thì mấy thầy mà tôi vừa nói chắc đã quy tiên hết cả rồi vì lúc tôi còn trẻ thì họ đã cao tuổi. Thầy Gia Cát Hồng thì tôi biết nguyên là một công chức từ thời Tây thực dân khi di cư vào Nam năm 54 rồi thì thầy bỏ nghề bàn giấy chuyển sang xem vận mạng tại một căn nhà ở đường Trần Quốc Toản gần Việt Nam Quốc Tự. Thầy Gia Cát Hồng nầy có lúc xưng mình là nhà tiên tri, chuyên xem tử vi cùng chữ ký và nói trúng được diện mạo, tạng người, mầu da... dù không thấy mặt của người có lá số tử vi. Không hiểu sao thầy lại lấy tên là Gia Cát Hồng chứ thật ra tên thật của thầy là Bảo mang họ Phạm.


    Gia Cát Hồng! Chắc ông thầy nầy tự cho mình có tài đoán việc như thần giống truyền thuyết về nhân vật Khổng Minh-Gia Cát Lượng trong truyện Tam Quốc Chí của Tàu, tôi nghĩ thầm trong đầu thì cụ Hoàng nói tiếp:


    - Thầy Canh họ Nguyễn người gốc Nam Định cũng dân di cư năm 54, vốn mù lòa từ nhỏ may gặp được cao nhân truyền nghề và sau đó thầy đã hành nghề ở Hà Nội chuyên về bói dịch cùng tử vi. Tuy mù lòa nhưng tướng tá thầy bệ vệ, trí nhớ phi thường và chuyên xem tử vi cho thân chủ bằng cách bấm trên năm đầu ngón tay. Thân chủ vừa nói dứt ngày sinh-tháng đẻ là thầy nói vanh vách về lá số người đó như Hồng Loan, Đào Hoa ở cung Thê thì ra sao... hoặc cung Mệnh không có chính tinh tọa thủ mà đắc tam Không thì cuộc đời sẽ thể nào. Xem cho ai một lần rồi thì lần sau nếu gặp lại lần nữa, nói tên ra thì thầy sẽ đoán tiếp diễn tiến của đại-tiểu hạn trong lá số thân chủ. Thầy Canh nầy đoán việc cho thân chủ trúng phoóc như một nhà tiên tri.


    Cụ Hoàng kể đến đây thì ngừng lại, ngồi thừ lừ mà mắt không nhìn đám chúng tôi, làm như cụ đang thả hồn về quãng ngày xa xưa của thủ đô Sài Gòn hoa lệ. Anh Khảm chợt hỏi:


    - Thầy Canh đó bị mù lòa thì làm sao mà cao nhân truyền nghề cho dễ dàng được! Chắc ông ta phải học thuộc lòng từng câu một... phải không cụ?.


    - Đúng vậy! Một trong các cách truyền nghề là thầy dạy bắt học trò phải học thuộc lòng từng câu phú cổ truyền của Trần Đoàn, của Ma Y hoặc của Lã Ngọc Thiểm bên Tàu như thí dụ câu chữ Nho: Thiên Mã nhập Mệnh, mẫn tiệp đa năng-Thiên Cơ tại viên, xảo tài xuất chúng hay câu chữ Việt như: Sao Thai mà ngộ Đào Hoa-Tiền dâm hậu thú mới ra vợ chồng... Thuộc làu làu rồi thì cứ theo đó mà thầy đoán số cho thân chủ, cụ Hoàng trả lời.


    - Trời ơi! Như vậy thì biết bao nhiêu câu phải học cho thuộc. Thêm vào đó lại còn phải biết hành của từng sao nữa... nó thuộc Kim, Mộc hay Thủy, Hỏa, Thổ... Kể ra thì khó lắm chứ... Làm sao mà nhớ cho xuể. Ông cựu Xã trưởng nói.


    - Phải! Nhưng người ta cũng có cách để nhớ đó là đặt thành thơ và cũng phải học thuộc lòng. Cụ Hoàng gật đầu xác nhận rồi tiếp:


    - Thí dụ để biết các sao có hành Kim thì có câu như: Kim thì Khoa, Vũ, Xương, Linh-Đà La, Kiếp Sát cùng Kình Dương nay-Sao Triệt Lộ, Hổ, Suy, Phá Toái-Hỏa Tú cùng Hoa Cái, Lâm Quan... Tức là những sao đó trong lá số đều có hành Kim. Ôi! Nhiều câu để học cho dễ nhớ lắm các ông nhưng kể ra cho hết thì phải cả một quyển sách dầy.


    Phạm Thắng Vũ
    (còn tiếp)

  12. The Following User Says Thank You to nguyengalang For This Useful Post:

    hienchanh (08-14-2014)

  13. #32
    Join Date
    Aug 2010
    Posts
    10
    Thanks
    1
    Thanked 3 Times in 3 Posts

    Default Re: Con Sóng Dữ - Phạm Thắng Vũ

    (tiếp theo)


    - Cụ nói thật đúng! Tôi thấy các sách dạy khoa tử vi quyển nào quyển nấy dầy cộm và cá nhân tôi cũng đã thử tập cách xem tử vi nhưng sau phải bỏ. Hồi trước tôi chỉ biết cách lập một lá số thôi còn lý đoán thì cũng chỉ võ vẽ gọi là... nhưng lâu rồi cũng đã quên hết. Mà khi đó muốn lập một lá số cũng phải mở sách ra mà xem cách an sao chứ đâu có dễ dàng gì. Ông cựu Xã trưởng trả lời.


    - Lập một lá số thì thực không khó... Khó là làm sao giải đoán nó cho chính xác thôi. Còn ông nói lập một lá số phải giở sách ra xem các sao an ở cung nào thì cũng một cách dạy học trò phải thuộc lòng để dễ nhớ... Thí dụ như: Khốc, Hư lấy Ngọ làm vì-Khốc nghịch năm đẻ, Hư thì thuận niên hay Xương cung Tuất, Khúc cung Thìn-Xương nghịch, Khúc thuận giờ sinh an bài. Cụ Hoàng gật gù đầu xác nhận.


    - Sao lại có thể giải đoán một lá số đúng boong với cuộc đời người vậy hả cụ? Ông cựu Xã trưởng hỏi thêm.


    - Muốn giải đoán đúng một lá số, thường thì ta phải thuộc kỹ tính tinh, âm dương và sự tương quan giữa các sao. Sau đó xét kỹ từng cung trong thiên bàn để tìm rõ sự tương tác tam hợp, nhị hợp... thì đoán ít sai. Nếu có thân chủ ngồi trước mặt rồi phối hợp cả khoa xem tướng nữa thì việc lý đoán càng chắc chắn. Thêm nữa, phải tìm hiểu Sinh, Vượng, Bại, Tuyệt địa trong lá số cũng cần thiết vì nhiều lá số tốt mà gặp Bại hay Tuyệt địa thì cuộc đời người đó sẽ chìm nổi vô thường... Ư hừ... Ư hừ... Xin lỗi...


    Cụ Hoàng ngưng nói để bật vài tiếng ho sau đó lại tiếp:


    - Nói thì thấy khó nhưng với những người thành thạo khoa tử vi thì lá số hiển hiện trong trí họ, họ giải đoán một lá số chỉ chớp mắt là xong.


    Gió lạnh đã bắt đầu lùa nhè nhẹ vào chiếc bàn nơi chúng tôi đang ngồi, trời đã dần về khuya và khách trong quán từ từ bỏ ra về nhưng chúng tôi vẫn cứ ngồi lì để nghe cụ Hoàng kể chuyện vì mấy khi có dịp.


    - Cụ nói vậy nhưng tôi thấy mấy ông thầy tử vi nổi tiếng phải có tài trời cho chứ tay ngang thì dễ gì. Ông Tiến sĩ Tôn xen vào.


    - Đúng! Trời cho hay trời bắt phạt phải như vậy là cách nói của mình khi thấy sao người này giàu có, thông minh hoặc người kia lại nghèo khổ, tàn tật, dốt nát... Người là văn quan, võ chức hay kẻ buôn bán... Đều có số cả đấy và nó hiển hiện trong tử vi. Mấy ông thầy xem tử vi giỏi vì trời đã ban cho họ cái thiên bẩm đó. Cụ Hoàng ngưng lại đột ngột để hớp thêm ngụm nước trà rồi sau đó khẽ ngân nga: " Nhật, Nguyệt, Phá, Liêm hợp bầy-Tham, Sát, Quyền, Tả ắt thầy tướng hay... và cụ gật gù cái đầu như tâm đắc điều mình vừa nói ra. Đám chúng tôi kín đáo nhìn nhau mà không ai nói một lời, ngầm thán phục cụ Hoàng. Riêng cá nhân tôi nghĩ ông cụ này sở học rất rộng, nếu ai được sống gần bên ắt sẽ học hỏi được nhiều điều lạ ít nhất là trong lãnh vực siêu hình-huyền bí như chuyện bói toán, xem tử vi hoặc tướng số.


    Khoa tử vi cũng như khoa xem tướng số là cách để người ta tìm hiểu về họa-phúc, hư-thực của cuộc đời một con người. Nó là một bài toán khó, nhất là đối với ai có ý quan tâm đến. Trước giờ thiên hạ thường nghĩ chỉ có tín đồ thuộc tôn giáo thờ Phật hay đạo thờ Ông-Bà thì họ mới tin vào khoa tử vi, bói toán hay xem tướng số. Thực sự tôi đã thấy có những người bên đạo Thiên Chúa cũng tin vào tử vi mà ngay cả cán bộ Việt Cộng nữa. Khi vừa chiếm được thủ đô Sài Gòn chưa được bao lâu thì nhà cầm quyền Cộng Sản đã phát động một phong trào thu gom sách báo chế độ cũ mà họ gọi là văn hóa phẩm phản động. Sách báo thu gom được ở từng khu phố đem về tập trung một chỗ rồi bị họ đổ dầu đốt thiêu hủy thật nhưng các sách dạy xem tử vi, bói toán lại được đám cán bộ văn hóa cất dấu làm của riêng.


    Gần cuối thập niên 1980 khi có dịp đi ra miền Bắc làm một chuyến vượt biên sang Hồng Kông nhưng không thành phải quay về thì tôi mới biết sách báo thời miền Nam VNCH đã là các vật quý được người dân ngoài đó chuyền tay nhau đọc nhất là các sách về tử vi, bói toán. Thời gian tạm trú ở Hải Phòng, có lúc rảnh tôi đi loanh quanh trên phố rồi ghé vào một tiệm bán sách gần nhà ga xe lửa để kiếm sách báo đọc cho hết thời giờ thì tình cờ gặp một chuyện. Đó là khi biết tôi thuộc dân chế độ miền Nam trước đây, ông chủ tiệm đã mời vào phía sau nhà và cho xem nguyên cả một tủ lớn xếp đầy những sách báo của thời miền Nam VNCH. Thấy vẻ ngạc nhiên của tôi, ông chủ tiệm hãnh diện, bảo:


    - Tôi đã mất bao nhiêu công sức, thời gian và tiền bạc mới lưu giữ được những quyển sách này. Đọc đi đọc lại mãi từng quyển mà không chán... Đâu dễ gì mà giữ được ngần này sách quốc cấm nếu không phải là người quảng giao... Tuy vậy, tôi vẫn tiếc là không sở hữu được những quyển sách về tử vi, bói toán.


    Cũng ở thành phố miền biển đó, khi dừng chân ở một quán cà phê ven đường trong khu phố Tam Bạc, tôi đã ngạc nhiên khi nghe lỏm được những câu Liêm Trinh, Thiên Tướng... thốt ra từ miệng hai người khách trong bộ quần áo cán bộ-nón cối của một bàn gần bên. Tôi chưa kịp kể những chuyện cũ này ra cho mọi người nghe thì cụ Hoàng mắt nhìn ông cựu Xã trưởng, nói tiếp:


    - Ông biết là có những người bỏ tâm bỏ sức học cách xem tử vi nhưng hoài công mà có người thì chỉ trong một thời gian ngắn họ đã có thể tiên đoán rất đúng một lá số hay một đoạn đời của người nào đó. Trong lá số tử vi của những người này có những ngôi sao chỉ rõ số họ làm thầy tướng, làm đạo sĩ.


    - Mấy người có số làm thầy tướng thấy bói chắc cũng sẽ gặp được cao nhân truyền nghề như ông thầy tên Canh gốc Nam Định mà cụ vừa kể. Anh Khảm hỏi.


    - Gặp được cao nhân là một việc may mà còn được cao nhân truyền dạy thì càng may mắn bội phần. Không thầy đố mày làm nên... Giống như người có số làm thầy chùa, làm ông tướng hay một nhà lãnh đạo quốc gia thì rồi trời sẽ khiến sự việc đến dần theo dòng thời gian tiệm tiến hay bộc phát gấp rút. Người có số làm thầy tử vi, tướng số nếu gặp cao nhân truyền dạy và nếu bản thân người đó có căn cơ thì việc thụ học sẽ dễ dàng hơn. Không có căn cơ thì dù có gặp cao nhân rồi cũng chẳng lãnh hội được nhiều. Mấy ông từng nghe truyện Tàu chắc biết chuyện thầy Quỷ Cốc Tiên Sinh có 2 học trò là Bàng Quyên và Tôn Tẩn chứ. Cả hai người này đều được thầy Quỷ Cốc truyền nghề nhưng việc hấp thụ lại khác nhau khiến có người giỏi người dở.


    Cụ Hoàng mỉm cười nhìn khắp lượt chúng tôi rồi tiếp:


    - Dạo sau này bên quê nhà thì đám cán bộ Cộng Sản cũng công khai nghiên cứu tử vi, bói toán là những cái mà trước kia chúng từng kết án nhảm nhí, dị đoan. Thậm chí có gã còn lấy làm hãnh diện khi được người khác nể vì về kiến thức tử vi, bói toán của bản thân mình. Tại sao lại có chuyện đó?


    Cụ Hoàng hỏi đám chúng tôi rồi nhanh chóng trả lời:


    - Thời thế thay đổi hay thực sự vì cán bộ Việt Cộng có nhiều tay xuất thân từ gia đình gốc bần-cố-nông, vô học... chẳng có gia phả gì sất mà nhờ vào những biến động của lịch sử của xã hội để bỗng chốc y ta phất lên như diều gặp gió. Có tên còn nắm địa vị quyền cao-chức trọng cỡ lãnh tụ hay nguyên thủ quốc gia nữa. Những phút rảnh rỗi, chắc hẳn, gã cán bộ nào đó trong số này đã phải ưu tư, thắc mắc về cuộc đời của mình. Tự vấn bản thân cũng thuộc thành phần dốt nát và gian ác cũng chẳng khiếp đảm hơn đám đồng chí mình mà tại sao lại được cái số đỏ vậy. Đi tìm lời giải thích cho sự thành công đó thì chỉ thấy câu giải đáp nằm trong sách tử vi, xem tướng số hoặc khoa bói toán.


    - Có phải đó là thời thế tạo anh hùng hả cụ? Hồi còn trong tù cải tạo, con nghe đám cán bộ coi trại vẫn kháo như vậy. Anh Khảm tiếp.


    - Anh hùng! Cũng có thể đúng nếu ta bảo về một người có tài năng nổi bật và làm được những việc phi thường nhưng hai chữ anh hùng cũng để chỉ cho những người có công lao đặc biệt với quê hương và dân tộc. Trong thực tế, có làm được những việc như vậy hay không thì lại khác dù người đó muốn nói mình là gì gì đi nữa. Đám đầu lãnh Cộng Sản trong nước tuy ngoài miệng thì nói vô thần nhưng bản chất lại tin mình có số trời cho làm lớn hay chân mạng đế vương. Quyền cao, chức trọng nắm trong tay vậy mà khi gặp hoạn nạn trong công việc hoặc đau ốm, ể mình... thì anh có tưởng tượng được không, thân nhân ruột thịt của họ phải mang lễ vật đến các đền đài miếu mạo để xin lễ hoặc bí mật mời thầy cúng về tận nhà thiết đàn cầu an đó.


    - Hồi còn tập cách xem tử vi, tôi vẫn thắc mắc không hiểu do đâu mà cứ sao này gặp sao kia trong lá số thì cuộc đời sẽ phải bị hay được như vậy. Ai bày ra cách đoán như thế... Ví dụ như câu mà cụ vừa đọc: Sao Thai mà Ngộ Đào Hoa-Tiền dâm hậu thú mới ra vợ chồng. Không lẽ một mình ông Trần Đoàn? Ông cựu Xã trưởng hỏi.


    - Sao trong khoa tử vi thì trên dưới một trăm sao thôi nhưng khi an lá số thì coi như đã sắp xếp chúng thành bộ, thành cách... có ảnh hưởng thế nào cho cuộc đời người có lá số ấy. Tử vi chia ra phương hướng, màu sắc, hành của các sao để người xem số tìm ra sự tương hợp hay xung khắc tùy theo người có lá số đó sinh vào thời gian nào, phương hướng nào... mà đoán ảnh hưởng của các sao tức giải đáp được lá số. Ông Trần Đoàn là người lập ra khoa tử vi... người ta vẫn nói vậy nhưng qua bao nhiêu năm trời thì các thầy như Lã Ngọc Thiểm, Ma Y Lão Tổ... đã góp thêm bằng các câu phú sau khi họ chiêm nghiệm những lá số. Cụ Hoàng trả lời.


    - Nhưng các câu phú áp dụng có đúng với người có lá số như vậy không hả cụ? Bác sĩ Luân đột ngột hỏi.


    Và cụ Hoàng khi nghe xong liền gật gù đầu rồi ngân giọng chậm rãi như đọc thơ:


    - Thiên, Nguyệt Đức, Đào, Hồng cung Phối-Gái chồng sang, trai hội giai nhân... Cự, Đồng cùng hội cung Phu-Một sầu góa bụa, hai sầu lỡ duyên... Mấy người khó hiển công danh-Chỉ vì Nhật, Nguyệt đồng tranh Sửu, Mùi... Kình tứ mộ, Mã triều lai-Biên cương trấn ải ra tài chiến công... thì những người tôi xem thấy có cách này đều đúng cả. Thực sự, những câu mà tôi vừa đọc do các cao nhân nước mình diễn giải từ các câu phú bên Tàu mà ra. Đã từng đoán số cho thân chủ hiện diện trước mắt, đôi khi tôi phải cười thầm ở chỗ có những người khi đến xem mà dù cố tình lấy tay che dấu hoặc đeo kiếng đen... nhưng trong lá số, thấy rõ họ người mắt nhỏ mắt to, người tay dài tay ngắn, người lưng gù hoặc nách đầy mồ hôi... đó ông bác sĩ.


    Câu trả lời của cụ Hoàng làm cho cả bọn chúng tôi phì cười nhưng bác sĩ Luân lại tiếp ngay:


    - Có người mới thoáng nhìn thì mình cũng đoán được cuộc đời họ là người sung sướng, không phải khổ sở.


    - Bác sĩ nói đúng nhưng có những người đang giàu có đánh đùng một cái thì lại khánh tận, tiêu tán tài sản không còn một đồng đến phải tự vẫn, kết liễu cuộc đời. Chính cái khoa tử vi giúp người ta xem thấu đáo hơn và thường như tôi đã nói, mấy ông thầy xem tử vi thì ông nào ông nấy cũng biết rành khoa xem tướng nữa. Họ xem một lá số xong đối chiếu nó với khoa nhân tướng học để có cái phán đoán chính xác về cuộc đời thân chủ đang ngồi trước mặt. Chân dung, bộ dạng, giọng nói cùng thần sắc của thân chủ đã giúp họ một phần không nhỏ khi giải đoán lá số tử vi.


    Cụ Hoàng đáp lời rồi quay qua nhìn hết cả đám người trước mặt như một xác nhận và tiếp:


    - Đặc biệt, có thầy còn thêm tài tiên tri về một sự việc nào đó sẽ xảy ra và khi sự việc đó xẩy ra thì mọi người nhớ lại mới giật mình rồi trầm trồ khen sao mà đoán hay vậy. Có thể do được cao nhân truyền thụ hoặc do trời ban cho một linh khiếu siêu hình nên ông thầy đó mới có thể nói ra các điều tiên tri chính xác như thế.


    - Cụ nói tài tiên tri! Ông thầy nào vậy? Trạng Trình? Bác sĩ Luân hỏi lại.


    - Không! Trạng Trình-Nguyễn Bỉnh Khiêm là xa xưa kia, chuyện tôi nói gần đây thôi... Đó là ông thầy Ngô Hùng Diễn.


    Cụ Hoàng trả lời nhưng đảo mắt nhìn khắp lượt chúng tôi rồi tiếp:


    - Tôi không biết tên tuổi thật của ông thầy nầy chỉ biết cũng dân di cư 54 và đã nghỉ hưu từ khi còn ở ngoài Bắc. Nhà ông ta ở trên đường Hiền Vương gần nghĩa địa Mạc Đĩnh Chi và chỉ tiếp khách khi có hẹn trước bất kể khách là ai.


    - Có vậy nữa sao! Tôi đoán chắc ông thầy này coi tử vi cự phách lắm... Hà hà! Tiến sĩ Tôn cười nhẹ sau câu hỏi.


    - Không! Thầy Ngô Hùng Diễn này không nổi tiếng vì khoa tử vi, bói toán hay bấm độn mà nổi tiếng là vì có thể xuất thần nói ra những điều tiên tri huyền bí về quá khứ hay vị lai có liên quan đến thân chủ trong lúc đối mặt. Những giai thoại về tài tiên tri của thầy Ngô Hùng Diễn thì nhiều nhưng đáng nể nhất là thầy đã từng nói tại dinh Độc Lập với Tổng thống Thiệu cùng một số tướng, tá thân cận câu: " Một ngày không xa thì bọn Cộng Sản sẽ vào ngồi ngay tại những cái bàn ở dinh này và... làm chủ nữa, thưa quý tiên sinh ". Nổi tiếng vậy nhưng thầy Ngô Hùng Diễn lại sống rất đạm bạc và đặc biệt tối kỵ nhận tiền bạc hay lợi lộc của thân chủ, bảo là nếu nhận thì thầy sẽ mất hết khả năng tiên tri trời cho.


    - Không hiểu khi Sài Gòn đứt phim thì bọn Cộng Sản đối xử với mấy ông thầy tử vi, tướng số này ra sao? Ông cựu Xã trưởng đột ngột hỏi.


    - Thầy Ngô Hùng Diễn, thầy Ba La hay thầy Gia Cát Hồng thì thời điểm ngày 30 tháng 4 đã già yếu hoặc chết cả rồi. Họ là lớp thầy cũ, cao tuổi... Còn các thầy Huỳnh Liên hay thầy tâm số Lê Bá Hòa, thầy Tú Xe bói bài Taro Ai Cập, thầy Maitre Khánh Sơn... thì tôi thực không biết rõ. Chỉ biết thầy tử vi Nguyễn Phát Lộc phải bị tù cải tạo và thê thảm nhất trong số họ có lẽ là thầy Đinh Sơn tướng số vì bị công an bức tử chết ngay tại nhà riêng. Cụ Hoàng kể.


    - Cụ nói chính xác, vụ giết chết thầy Đinh Sơn tướng số xẩy ra ở gần nhà tôi nè.


    Anh Khảm xác nhận rồi tiếp:


    - Hình như khi đó là cuối năm 1978 lúc tôi còn đang ở trại tù cải tạo nên không mục kích sự việc xẩy ra mà chỉ nghe kể lại khi được tha tù về nhà. Nhà ông thầy Đinh Sơn tướng số nằm ngay mặt đường Lê Văn Duyệt đối diện xeo xéo với trại lính nhẩy dù Hoàng Hoa Thám gần Ngã Tư Bẩy Hiền, ai sống trong khu vực này cũng đều biết chuyện công an làm chết ông ta. Tôi không biết rõ câu chuyện khởi đầu do đâu nhưng chỉ biết công an kéo đến bao vây chung quanh nhà ông cả mấy ngày trời liền. Đến một đêm khuya thì sau tiếng nổ lớn, họ lôi xác ông ra ngoài, nói ông cố thủ trong nhà và tự sát bằng một quả lựu đạn.


    Anh Khảm vừa kể đến đây thì có tiếng còi hụ khá lớn vang vang từ xa làm tất cả đám chúng tôi giật mình vì biết giờ giới nghiêm sắp đến gần. Chúng tôi đã mải chuyện trò đến quên cả giờ giấc. Tôi, anh Khảm không sao vì chỉ nhanh chân rảo bước thì sẽ về đến barrack ngay thôi. Bác sĩ Luân đang ở quán của nhà nên chỉ có lo là lo cho cụ Hoàng, ông Tiến Sĩ Tôn và ông cựu Xã trưởng. Nhà của 3 người họ tuốt trong Galang 2 nên sẽ về không kịp. Chúng tôi đứng lên, bối rối nhìn bàn ghế bên phía trong phòng và ngoài sân quán nằm yên lặng trống trơn không một bóng khách. Rất may, bác sĩ Luân bảo:


    - Cụ và hai ông cứ ở lại đây, không thể về nhà kịp nữa rồi. Cứ yên tâm nghỉ ngơi, mai sáng tính sau... Trong nhà tôi còn giữ được cái mùng lớn đủ cho 5 người nằm.


    Nghe bác sĩ Luân nói vậy, tôi và anh Khảm thấy yên lòng cho 3 người họ nên vội vàng chia tay để về lại barrack chóng vánh trước khi quá muộn. Đến khúc đường phân chia zone 3 và zone 4, anh Khảm nói vội:


    - Phải chi đừng có giới nghiêm thì anh em mình còn ngồi lại nghe thêm các chuyện của cụ Hoàng kể.


    Tháng sau cũng vào ngày thứ Hai đầu tuần thì Cao Ủy xổ thanh lọc đợt thứ hai. Thuyền nhân trong trại Galang lại thêm một cơn hốt hoảng khi thấy trong số những người bị đánh rớt có cả một sĩ quan miền Nam VNCH cấp đại úy từng bị tù cải tạo tới 7 năm trời. Lần xổ này có 88 người đậu trong tổng số 275 hồ sơ, như vậy tỉ lệ là 32% tăng chút ít so với lần trước nhưng cựu công chức chính quyền, nhân viên sở Mỹ... vẫn khá nhiều trong số người bị rớt thanh lọc. Anh Khảm thấy ông đại úy đi tù cải tạo tới 7 năm mà còn bị Cao Ủy đánh rớt nên cũng cảm thấy lo, đã vội tìm gặp mặt để hỏi thăm cho bằng được. Khi gặp tôi ở quán cà phê, anh kể:


    - Ông ta tên là Tuyến, đại úy pháo binh từng đi tu nghiệp tại Hoa Kỳ và bị Cộng Sản bỏ tù 7 năm thật em à. Khai với luật sư Cao Ủy là sau khi ra tù thì ông được nhận vào làm trong tổ hợp mì sợi nên mới bị loại.


    Tôi và anh Khảm bàn nhau có thể chính vì lời khai này mà Cao Ủy cho rằng ông ta đã được chính quyền Cộng Sản đối xử tử tế và như vậy không còn bị đàn áp, ngược đãi nữa. Có thể như vậy nhưng rõ ràng những thuyền nhân chưa thanh lọc như tôi bây giờ cần phải được sự giúp đỡ của bất cứ ai có kiến thức hiểu biết rộng về luật tị nạn để hướng dẫn, giải thích thế nào mới là người tị nạn chính trị hay thế nào sẽ là di dân kinh tế. Trong trại thì Đoàn Thạnh Nam có thể là người giúp chúng tôi được nhưng anh ta lại đòi hỏi có đi phải có lại khi bảo kiến thức không thể cho không. Khối cộng đồng người Việt đã thành công ở nước thứ 3 cũng có thể giúp nếu họ tình nguyện hoặc ngay cả từ kinh nghiệm của những người mới vừa bị Cao Ủy đánh rớt trong 2 đợt rồi ở trại để tránh cho chúng tôi khỏi đi vào vết xe đổ. Tuy vậy, hầu như rất ít người bị Cao Ủy đánh rớt lại chịu nói thật hoặc chia xẻ những thất bại trong bản khai của họ. Họ lảng tránh hoặc gậm nhấm nỗi buồn riêng của mình khi lẳng lặng nộp bản kháng cáo hoặc đơn giản hơn, viết đơn xin Cao Ủy cho hồi hương tự nguyện. Còn những thuyền nhân may mắn được Cao Ủy nhìn nhận là người tị nạn, tôi tìm hỏi đã khai ra sao để vượt qua được cuộc thanh lọc thì có người tránh né khi trưng ra một bản lý lịch tương tự như lý lịch của thuyền nhân bị Cao Ủy đánh rớt. Biết làm sao tìm ra lối đi trong đám khói hỏa mù thanh lọc thuyền nhân bây giờ!


    Trong thời gian này thì Yến rủ tôi đi xem một căn nhà ở khu vực trồng rau gần bệnh viện Galang 1 mà người chủ muốn bán rẻ. Lý do Yến muốn mua nhà gấp là vì căn barrack của ghe chúng tôi tạm trú đã bị hư hỏng khá nặng sau một trận gió lốc trong tuần lễ vừa rồi.


    Như đã kể trong các đoạn trước, nhà thầu Titan khi hợp đồng với Cao Ủy để cất barrack cho thuyền nhân tạm dung thì họ đã làm barrack tạm bợ, cho có. Mái lá được lợp rất mỏng và hai bên vách thì vẫn để trống nên làm sao có thể chống chọi được với những cơn giông gió lớn. Cơn gió lốc hôm đó đã làm tốc mái ngay chỗ căn phòng của nhóm chúng tôi ở. Tôi và Đỉnh cố trèo lên để sửa lại mái lá nhưng thấy không thể ở lâu hơn được nữa. Đỉnh khi nghe Yến và tôi nói đi mua nhà thì cho biết nó cứ ở tiếp trong barrack được ngày nào hay ngày nấy rồi sẽ tính sau. Còn Bẩy, mặt buồn bã nói với Yến khi nào hai đứa tôi dọn ra thì báo trước để nàng còn chuyển sang Galang 2 sống chung với bạn mới.


    - Anh Vũ với Yến đi khỏi đây thì em cũng phải kiếm chỗ ở khác thôi chứ sống với anh Đỉnh đâu tiện, sợ người ta cười cho.


    Nhà thuyền nhân tự cất ở trong trại tị nạn Galang rất nhỏ nên thực sự gọi nó là cái chòi lớn thì đúng hơn. Tôi và Yến đi vào con hẻm nhỏ rồi băng qua một khu đất rộng trồng đầy rau muống hột, rau cải cùng các giàn bầu bí cao thấp trông mát mắt. Những vạt rau cải trổ bông vàng khá cao mà người trồng cố tình để dành lấy hạt giống đã thu hút những con ong nhỏ bay đến hút mật. Đôi bướm vàng quyện vào nhau bay lập lờ trên những bông hoa cải đồng màu thành một tấm hình thật đẹp trên nền xanh của các luống rau. Qua khỏi vạt đất trồng rau mát mắt đó thì đến khu chòi người ở, Yến lấy tay chỉ tôi căn nhà nàng định mua nằm ở một chỗ khuất dưới bóng cây tràm bông vàng khá lớn. Căn nhà này, nhìn bên ngoài nó cũng nhỏ như các căn chòi khác trong trại, được chủ nhà làm hàng rào che chắn chung quanh cẩn thận. Mái nhà lợp bằng giấy dầu tẩm cát mịn và vách thì ken kín bằng những tấm plastic lớn. Ngoài cây tràm bông vàng thì còn có một bụi mía mọc chung với đám khoai mì đứng thưa thớt bên một bờ vách. Mé đằng sau, những bụi xả mọc chen với cây ớt, cây cà... dọc theo hàng rào cây ngăn cách với căn chòi khác. Còn phía trước, dưới mái hiên có một bàn thiên nhỏ đứng gần các bụi vạn thọ còi cọc, loe hoe vài bông vàng. Một cái giếng nằm gần bên bụi cây rậm như loại cây ké làm chổi quét nhà. Yến cất tiếng gọi to nhưng không lời đáp trả, tôi ra dấu cho nàng yên lặng khi thấy một sợi dây kẽm mỏng được cột chặt nơi cái móc cửa.


    - Không có ai ở nhà, mình đi về thôi em, tôi bảo nhỏ với nàng.


    Quay lại nhìn căn chòi, bên trong tôi chưa biết ra sao nhưng bề ngoài thì khá gọn dù rác rưởi nằm vương vãi đây đó trên sân khô mốc vì rêu xanh. Không sao, tôi sẽ dọn chúng chóng vánh khi vào làm chủ nó. Hai đứa tôi quay về lối cũ, gặp một người đi ra từ luống rau cải nên vội đón lại, hỏi thăm.


    - Nhà đó của ông Tùa Hia... Mà ít thấy ông ta ở đây lắm. Nghe nói ổng sống đâu đó trong Galang 2 lận... Tui cũng không biết chỗ ổng ở nữa, người đàn ông trả lời.


    Buổi chiều hôm sau, hai đứa tôi tìm đến căn chòi lần nữa nhưng cũng không gặp được chủ gia. Yến thì lo nếu chậm chân, rủi ro căn chòi đó sẽ có thể bị người khác mua trước nên nàng bồn chồn thấy rõ. Nàng muốn vội nhưng không thể làm gì hơn, đành phải chờ cho đến một buổi tối thứ Bẩy khi gặp anh chị Khảm-Phượng ở quán cà phê mới biết mọi việc. Yến kể về việc đi xem căn chòi của chúng tôi và khi nghe xong thì chị Phượng xua tay, bảo liền:


    - Đừng mua! May là hai em chưa gặp được ông Tùa Hia chủ cái chòi đó.


    Phạm Thắng Vũ
    (còn tiếp)

  14. The Following User Says Thank You to nguyengalang For This Useful Post:

    hienchanh (08-14-2014)

Page 2 of 2 FirstFirst 12

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •