Page 1 of 2 12 LastLast
Results 1 to 20 of 37

Thread: Chuyện xưa ... Nay mới nói ...

  
  1. #1
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 40 Times in 31 Posts

    Default Chuyện xưa ... Nay mới nói ...

    .

    Chuyện xưa ... Nay mới nói ...
    Hội nghị lý luận phê bình Văn Học
    Nhật Tuấn

    Kỳ 1 và 2

    Hội nghị Việt Bắc - 1951



    Nhà văn Kim Lân (ngồi, thứ 2 từ trái qua), Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng (đứng, thứ 2 từ phải qua)
    cùng các văn nghệ sĩ tại một hội nghị Hội Văn nghệ VN, Việt Bắc 1951

    Hơn nửa thế kỷ trước, vào tiết mùa thu, các nhà văn VN đi theo cách mạng đã họp ở Việt Bắc để “tranh luận văn nghệ” nhằm thúc đẩy nền văn học cách mạng “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” trên con đường cách mạng.

    Lẽ tất nhiên, ông trùm văn nghệ Tố Hữu phải “giáo đầu” trước:

    Không có tư tưởng mới thì không thể nào nhận định đúng cuộc đời và sáng tác do đó sẽ lạc hướng. Cảm xúc của ta phải là cảm xúc của quần chúng và cảm xúc của quần chúng phải được thể hiện trong văn nghệ…”.

    Huấn thị của ông trùm lập tức đuợc các tên tuổi lớn trong làng văn VN nhao nhao hưởng ứng. Nhà văn Nguyễn Tuân “được” phát biểu trước :

    Cuộc họp tranh luận này nhằm thống nhất về đường lối tư tưởng , thống nhất về quan niệm đối với kỹ thuật sáng tác…”.

    Oi chao, cứ như là sau khi đã “thống nhất” mọi thứ, tất cả các nhà văn đều trở thành thiên tài hết. Rồi ông nhà văn nổi tiếng “ngông” này thành khẩn :

    Tôi không những là tiểu tư sản mà còn là phong kiến nữa. Cuốn Vang Bóng Một Thời đủ chứng tỏ lời tôi nhận định. Trước kia tôi không tìm được giá trị cuộc sống, tôi phủ nhận cuộc đời. Tôi có một thái độ phản động. Cuộc kháng chiến tiếp theo cách mạng tháng Tám làm tôi nhận định rõ hơn.Tôi đã cách mạng tư tưởng …”.

    Thành khẩn đến thế rồi mà sau này viết về giò chả, Nguyễn Tuân vẫn phải than :

    ” Giò tớ giã kỹ đến thế rồi mà nó vẫn còn “giã” lại…”.

    Nhà văn Nguyễn Đình Thi thì hùng hồn :

    Vai trò của giai cấp công nhân là đi đầu trong việc tạo ra một cách sống mới, nó không còn là cách sống của con người cũ của ta nữa…”.

    Nữ thi sĩ Anh Thơ cũng véo von :

    Trước tôi cũng đánh phấn, bôi nước hoa. Sau tôi cũng mặc quần áo nâu và được chị em yêu quý. Thơ văn phải dễ hiểu quần chúng mới thích…”.

    Nhà thơ Thế Lữ cũng cao giọng :

    Phải khác trước, muốn tiến bộ phải cải tạo mình…”.

    Nhà văn Đoàn Phú Tư thì hồ hởi :

    Tôi thấy thích chủ nghĩa Mác vì mình chẳng…mất gì cả và tìm trong đó những hình ảnh tốt đẹp của ngày mai.. Tôi vuốt ve và mơ hình ảnh đó….” . Hoá ra gọi là “Hội nghị tranh luận” mà chẳng tranh luận cái gì hết, các nhà văn lớn chỉ tranh nhau coi ai nói cho khéo, cho lọt lỗ tai đồng chí Tố Hữu và nhất loạt hứa hẹn sẽ thực hiện cái bí kíp “ tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân tiểu tư sản, công nông hoá sáng tác” để quyết tâm xây dựng một nền văn học lớn leo lên đứng đầu thiên hạ.

    Than ôi, hầu hết những người cầm bút dự “Hội nghị tranh luận văn nghệ” ngày đó, kể cả đồng chí Tố Hữu, người dẫn đường vĩ đại, nay đã ra người thiên cổ mà các nhà văn VN chưa ai giật được giải Nobel, chưa ai vượt được chính mình so với thời “đế quốc phong kiến” mà chỉ thấy nhà văn Nguyễn Minh Châu đọc “Ai điếu cho một nền văn học….”

    Hơn nửa thế kỷ sau…

    Hội nghị Tam Đảo - 2003…

    Chẳng hiểu có phải vì văn học VN đang ốm nặng, cả chục năm nay Đảng và Nhà nước chi cho vài trăm tỉ đồng, vẫn chưa thấy xuất hiện tác phẩm nào “ ngang tầm thời đại”, sách báo ra cả tấn mà chẳng thấy cuốn nào “ đáng mặt văn chương”, ngay đến nhà nghiên cứu Nguyễn Thiện Đạo , ngàn trùng xa cách mãi tận bên Paris cũng phải than thở :

    đọc truyện Việt Nam thấy cứ như là có …mỗi một người viết” !

    Và cũng chẳng hiểu có phải vì tiền Đảng chi cho Hội nhà văn VN trong năm 2003 còn dư nhiều quá, nếu không chi hết thì Bộ tài chính nó “cắt” nên cuối năm bận rộn thế mà tự dưng Hội lại đứng ra tổ chức cuộc họp đông tới hơn 200 nhà phê bình lý luận cũng vào tiết thu, chỉ khác trước ở chỗ không họp “dưới chân núi” mà lại kéo nhau lên đỉnh Tam Đảo ! Có lẽ từ ngày lập nước, chưa có cuộc “bắt mạch kê đơn” cho “nền văn học cách mạng” nào lại rầm rộ, đồ sộ đến thế.

    Để ngăn ngừa các vị “lang băm” đến phá thối, đồng chí Chủ tịch Hữu Thỉnh đã gạt ra khỏi danh sách mời tất cả những thày lang nào “bảng hiệu chưa đăng ký”, hoặc coi giò coi cẳng thấy bốc mùi “tà khí”. Rào chắn kỹ càng như vậy mà vẫn chẳng mời được đồng chí Trưởng Ban tư tưởng Nguyễn Khoa Điềm, nhân vật sô 1 trong nền văn hoá văn nghệ cách mạng VN đến dự, chẳng hiểu có phải do đồng chí ấy bận công việc lãnh đạo hay là do cẩn thận tránh xa những nơi có thể xuất hiện lắm anh Chí Phèo chuyên đánh võ mồm dễ xúc phạm uy tín lãnh đạo.

    Lạ một điều, trước cuộc Hội nghị, các thày đã thi nhau “bốc thuốc kê đơn” trên…báo Văn Nghệ. Chẳng hạn như “thày” Đỗ Văn Khang bắt mạch rằng :

    văn học VN sau thời kỳ lấy phương pháp hiện thực Xã hội chủ nghĩa làm phương pháp sáng tác chính thì đến nay vẫn chưa xác định được phương pháp sáng tác chủ yếu cho văn học đương đại…”

    ...và thày kê đơn rằng :

    phương pháp sáng tác văn học sáng giá nhất hiện nay là phương pháp …phản tỉnh”.

    Ui cha, phản tỉnh cái gì ? Thày xui các nhà văn “phản tỉnh” các thứ do Đảng đã dày công giáo dục dậy dỗ các nhà văn VN chăng ? Thưa không, thày chỉ phán mơ hồ rằng :

    Văn chương phản tỉnh là văn chương của chiều sâu nhân văn- văn chương khám phá nghịch lý để soi sáng thuận lý- văn chương minh triết…”.

    Mô Phật, thày kê đơn vậy thì đến chính thày cũng chẳng biết đằng mù nào mà bốc thuốc. Rồi các thày khác cũng đua nhau nhảy lên báo Văn Nghệ “bắt mạch kê đơn” cho nền văn chương VN, ấy thế mà khi tới phó hội Diên Hồng trên đỉnh núi Tam Đảo, các thày lại quay sang “bốc thuốc” cho nhau chứ chẳng ngó ngàng gì tới con bệnh “thập tử nhất sinh” đang nằm đó.

    Thày Vũ Quần Phương đã chuẩn bị sẵn một bài “bắt mạch, kê đơn” nhưng rồi thấy các thày kia cứ túm tụm nhau vào nhỏ to, chẳng ai chú ý đến bài soạn sẵn của thày nên thày đành xếp nó vào túi và quay sang phàn nàn về những chuyện bê bối ở Ban chấp hành Hội Nhà văn trong những chuyện “chẳng văn chương tí nào” như chia chác nhau giải thưởng, móc ngoặc kết nạp hội viên, hoặc thái độ trịch thượng không nên có của một vài nhà phê bình vốn là giáo sư đại học.

    Thày Trần Mạnh Hảo vốn đang nổi tiếng về sự “bặm trợn” mà vẫn dồi dào tính Đảng, ca cẩm về "một niềm vui, một nỗi buồn và một nửa niềm hy vọng" của cái nghề lang băm của thày.

    Thày Nguyễn Duy Bắc phê các đồng nghiệp rằng :

    thay vì tập trung phân tích đánh giá văn học từ đổi mới đến nay, hoạt động phê bình trên báo chí văn học hầu như lại tập trung phê bình sự phê bình …cho sách giáo khoa ngữ văn" .

    Thày Hoàng Minh Châu trách khéo hai thày Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ lăm le bỏ nghề bốc thuốc để chuyển sang nghề “làm thơ” với “làm nhạc” bỏ trống trận địa kiểm soát văn học.

    Thày Phạm Xuân Nguyên bộc bạch 3 cái sợ của người hành nghề :sợ những lý luận quá cũ; sợ những thứ kê đơn bắt mạch chẳng có “ lý luận gì hết trơn”; sợ thứ lang y chỉ thăm bệnh bằng “chính trị” chứ không tuân thủ y thuật.

    Bà lang trẻ Nguyễn thị Minh Thái thì chửi cả làng : "Các anh đang hành nghề một cách thiếu…triết học…” .

    Ui da da…triết học Mác Lê bấy năm nay đã đầy đầu các thày rồi, giờ vẫn còn đòi …triết học nữa thì thử hỏi nhét nó vào đâu.

    Lại có thày la lối rằng đã xuất hiện tình trạng đá lộn sân “ làm thơ thì chỉ biết làm thơ thôi chớ, nhảy sang phê bình văn học làm chi ?”.

    Chắc thày muốn móc máy hai nhà thơ Trần Mạnh hảo và Trần Đăng Khoa cớ sao lại mò tới tranh ăn, tranh nói ở cái Hội nghị chỉ giành cho các thày lang phê bình này.

    “ Nghịch lý “ là vậy, 200 thày tụ họp bắt mạch kê đơn cho văn học VN mà cấm thấy ngó ngàng tới con bệnh, chỉ thấy cấu chí, xỏ xiên, móc máy lẫn nhau để cho “Hội nghị đã thành công tốt đẹp” như lời tổng kết của Chủ tịch Hội nhà văn Hữu Thỉnh.

    Nói cho ngay, cũng có một thày dòm ngó tới “con bệnh” , thày Trần Đình Sử , khi thày phân tích “ba giai đoạn của văn học cách mạng VN”. Tuy nhiên, thày “bắt mạch” theo kiểu Đảng ta phân tích “ ba dòng thác cánh mạng” nên cũng chẳng mấy ép-phê, nhất là thày chưa dám chỉ ra con bệnh đã có một thời “phục hồi sức khoẻ”, ấy là thời kỳ “văn học VN được đồng chí nguyên Tổng bí thư Nguyễn văn Linh cởi trói”. Trong có 3 năm ngắn ngủi ấy, văn học VN đã cho ra đời hàng loạt các tác phẩm có giá trị tới tận ngày hôm nay. Chỉ tiếc rằng cú “xả xú páp” quá ngắn ngủi, khi cái van đóng lại, khi giây trói lại quàng lên cổ các nhà nhà văn thì nền văn học VN ốm nặng trờ lại là điều đương nhiên rồi.

    Có một điều vô cùng đơn giản, văn học VN bao năm nay khác nào con thiên nga bị buộc cánh, muốn cho nó bay, nó múa thì thả cánh nó ra . Bài thuốc dễ thế mà hơn 200 thày lang không thày nào chịu “bốc” cho ra. Ay cũng là vì cái bao tử của các thày nó đã chặn ngang họng của các thày . Sự đời chỉ có thế, vậy mà các thày cứ làm rối mù tăng tít khiến cho sương sớm trên đỉnh non Tản lại càng thêm dày đặc vậy…

    Tính từ “ tranh luận văn nghệ Việt Bắc 1951” đến nay, hơn nửa thế kỷ mới có một cuộc “toàn quốc” lần thứ 2 như thế này?

    Vì sao phải họp ? Họp những ai và để làm gì ? Cứ theo như lời Tiến sĩ “hữu nghị” Nguyễn thị Minh Thái phát biểu ở Hội nghị thì :

    “Cấp báo, cấp báo, trong 16.000 bài thi văn vào các trường đại học Hà Nội chỉ có …1 bài được điểm 9, còn hàng ngàn bài khác càng đọc càng thấy …rùng rợn”.

    Quả rùng rợn thật. Một bài thi phân tích câu “ sông dài, trời rộng, bến cô liêu”, có thí sinh tán rằng :

    ” Ở cái bến sông kia, có một cô gái tên Liêu theo trai, chửa hoang, bị cho rớt “cái bịch”, phải tự tử. Từ đó người ta đặt tên bến sông đó là…bến cô Liêu…”.

    Hại thay cái kiểu “tư duy phân tích bến cô Liêu” như vậy lại phổ biến, rất phổ biến mới chết chớ.

    Vậy thì Hội nghị LLBP VH toàn quốc nhằm nâng cao kiến thức văn học cho học sinh ?

    Không hẳn thế, bởi nhà thơ Phạm Tiến Duật cũng đăng đàn nói rằng:

    ” Chúng ta đang ở trên núi cao, càng cao không khí càng loãng, càng có dịp cho chúng ta nhìn lại chính mình…”.

    Vậy là Hội nghị sẽ kiểm điểm các quý vị có dính dáng tới “lý luận phê bình ?

    Cũng không phải nốt, thôi thì đành nghe theo Ban tổ chức :

    ” Hội nghị này nhằm tổng kết đánh giá những thành tích, ưu khuyết điểm trong chặng đường vừa qua của ngành LLPB VH, từ đó thúc đẩy những bước mới đi lên đầy hứa hẹn…”

    Câu văn này có thể dùng làm “câu mẫu” cho tất cả các Ban tổ chức các Hội nghị cấp toàn quốc từ Hội nghị xoá nạn mù chữ, Hội nghị chống muỗi sốt rét…cho tới Hội nghị nuôi trồng thuỷ sản , Hội nghị xây dựng gia đình văn hoá mới ở tổ dân phố….

    Vậy thì đành phải hiểu là từ trên núi cao, quý vị đại biểu sẽ dễ dàng nhìn xuống bức dư đồ rách của nền văn học Việt Nam, đặc biệt là vùng chuyên canh “ lý luận và phê bình”.

    Thành phần hội nghị đương nhiên gồm các quan chức Hội nhà văn, Ban văn hoá tư tưởng, các lãnh tụ văn nghề đã về hưu, các nhà phê bình lão thành và các nhà phê bình thế hệ chống Pháp, chống Mỹ và chống tàu, con số đại biểu phải lên trên 200, kín hết các khách sạn ở Tam Đảo, ấy thế mà “nhà phê bình đá lộn sân”, nguyên thi sĩ Trần Mạnh Hảo lại la hoảng rằng :

    "Nền văn học đương đại VN sắp 'mồ côi' phê bình. Bởi trên văn đàn 10 năm qua, số người dám cả gan mon men làm cái việc 'mua dây buộc mình' nhiều lắm cũng không qua khỏi cơ số đếm của 2 ngón tay" “.

    Nói như ông Trần Mạnh Hảo vậy tức là “nhà phê bình là bố các nhà văn” và các nhà văn sắp mồ côi…bố cả rồi, nguy thay, nguy thay.

    Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo , dường như chưa hết tơ lơ mơ vì bia Tiger, lại phân vân theo kiểu “ta hay sư, sư hay ta” khi ông cố nghĩ coi nhà phê bình văn học là cái thứ gì ? Ong phát biểu :

    "Theo từ điển Hán Việt, chữ "phê" trong "phê bình" mang khá nhiều nghĩa: phê là "phán quyết, phân xử phải trái"; phê là "khởi lên một công việc"; là "chẻ ra từng mảnh", nhưng phê cũng có nghĩa là "lấy tay đánh vào mặt người khác". Thế nhưng tôi có cảm giác phê bình văn học VN gần đây có vẻ thiên về ý nghĩa "lấy tay đánh vào mặt người khác".

    Thì ra ông nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo tưởng là say, hoá tỉnh nhất. Chỉ có điều không phải “phê bình văn học VN gần đây” mà ngay từ thủa lọt lòng, mới ngoe ngoe trong trong tã lót, phê bình văn học VN đã thiên về “ lấy tay đánh vào mặt người khác rồi”.

    Thôi thì bỏ qua vụ nhà thơ Nguyễn Đình Thi bị “đánh” về tội “làm thơ khó hiểu với công nông” từ năm Hội nhà văn VN chưa lọt lòng, sau năm 1954 Đảng chính phủ vừa về tiếp quản Hà Nội, đã nổ ra vụ Nhân văn Giai phẩm, điển hình về việc chẳng những “lấy tay đánh vào mặt” mà còn cầm gạch củ đậu mà choang vào nồi cơm của người ta, đẩy người ta tới chỗ cải tạo tù đầy.

    Đó là chiến thắng mở đầu, giòn giã của “phê bình văn học VN”, từ đó hàng loạt các vụ “ trùm chăn đánh người giữa chợ “ cứ liên tục nổ ra cho tới tận bây giờ cũng chưa hết. Hàng loạt người bị “đánh vào mặt”, tiêu biểu như Hà Minh Tuân với tiểu thuyết “Vào đời” dám mô tả cái đòn gánh trên vai cô gái Hà Nội tập lao động “quẫy lên như con rắn”, Nguyễn Công Hoan với “Đống rác cũ”, Nguyễn Đình Thi với “Con nai đen”, Kim Lân với “Con chó xấu xí”….Các bậc cao niên thì thế, còn “cây bút trẻ” hồi đó “bị đánh vào mặt “ lại càng đông hơn nữa . Vũ Thư Hiên với “Đêm không ngủ”, Hoàng Tiến với “Sương tan”, Phạm Tiến Duật với “ Vòng trắng”, Lê Bầu với “ Hòn đá lang thang”, Nguyễn Đỗ Phú với “ Đêm đợi tàu”, Hoàng Cát với “ Cây táo ông Lành” vân vân và vân vân…

    Vì sao các nhà phê bình văn học VN lại thích đánh vào mặt người khác như thế ?

    Như nhà phê bình văn học số 1 Việt Nam, Hoài Thanh :

    “Nửa đời vị nghệ thuật
    Nửa đời còn lại vị …người cấp trên…”


    Đúng như thế, “đánh vào mặt người ta” chẳng qua các nhà phê bình văn học VN là “vì người cấp trên “ cả thôi.

    Nhớ ngày xưa, nghe xì xầm nhà văn Vũ Trọng Phụng có móc máy một ông ký ga nào đó, hại thay, bố đồng chí Hoàng văn Hoan, Uỷ viên Bộ chính trị thời đó cũng là …ký ga.

    Thế là trong cuộc họp phê phán Vũ Trọng Phụng, các nhà phê bình xúm lại “đánh vào mặt ông”, vu cho ông là trốt kít, là đệ tử của Freud, một cuộc họp đầy đủ các “gương mặt lớn” trong làng văn VN , vậy mà, như lời kể của nhà phê bình Như Phong kể lại, “Không ai, không một ai dám lên tiếng bênh vực Vũ Trọng Phụng lấy nửa câu…”.

    Tại sao ? Tại sao tất cả những cây đa cây đề trong nền văn học VN hồi đó như Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Xuân Diệu, Chế Lan Viên , Kim Lân….lại “vì người cấp trên” như vậy ?

    Bởi lẽ “người cấp trên” là người nắm giữ, ban phát đủ các thứ bổng lộc lớn bé trên đời. Chẳng thế mà sau vụ Nhân văn Giai Phẩm, vụ Hà Minh Tuân, khối anh vô tài bất tướng đã nhảy phắt lên các thứ ghế Viện trưởng, Trưởng khoa, giáo sư này nọ như Hoàng Xuân Nhị,Vũ Đức Phúc, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức vân vân.

    Tiến thân bằng con đường “ đánh vào mặt người khác” ngày nay được các thế hệ đi sau noi theo, sốt sắng, hăng say không thua gì các bậc cha anh.

    “Nhà phê bình văn học” Nguyễn văn Lưu từ một anh thợ morrasse nhảy phắt lên ghế Gíam đốc NXB Văn Học, bằng cách “đánh” quyết liệt “Thiên đường mù” của Dương Thu Hương , với “tác phẩm” được giải thưởng Hội nhà văn với cái tựa thật sắt máu :“ Luận chiến văn chương ”, quan chức Hội nhà văn VN Lê Quang Trang cũng mở đầu “sự nghiệp” bằng viết bài trên báo Nhân Dân “đánh vào mặt” tiểu thuyết “ Lửa lạnh” của Nhật Tuấn, nhà báo Huỳnh Dũng Nhân chân ướt chân ráo vào nghề cũng “đánh vào mặt” cuốn “Niềm vui trần thế”, tiểu thuyết của Nhật Tuấn….Rồi thì các nhà báo văn hoá văn nghệ choai choai nghe ngóng có “vụ việc” gì là xúm vào đánh hôi để “lấy lòng cấp trên” mà ăn bổng lộc.

    Than ôi, cái bức tranh của nền phê bình văn học Việt Nam nó sậm màu “đầu rơi , máu chảy” như thế mà đã leo lên tận núi cao Tam Đảo, hơn 200 quý vị đại biểu Hội nghị LLPB VH toàn quốc cũng chẳng dám mở to mắt ra mà nhìn mà chỉ dám nói năng luanh quanh như “kiến bò miệng chén”.

    Nào là “...trình độ và năng lực cảm thụ tác phẩm của các nhà phê bình còn rất yếu, nhất là đối với thơ. Mặt khác, phê bình cũng bị coi nhẹ hơn sáng tác. Bằng chứng là các giải thưởng hàng năm của Hội Nhà văn, của Uỷ ban văn học nghệ thuật... thường ít chú ý tới các tác phẩm phê bình…” (Trịnh Thanh Sơn).

    Nào là “ phê bình văn học phải là người bạn lớn của sáng tác” ( Nguyễn Trọng Tạo).

    Nào là “phê bình hay lý luận gì cũng phải có ích…” ( Bùi Bình Thi) vân vân và vân vân. Tóm lại, toàn những lời lẽ “tát nước theo mưa’ để nhận phong bì và kỳ họp sau còn được…mời nữa.

    Về phía Hội nhà văn VN, người đứng ra tổ chức Hội nghị, tất nhiên đã tổng kết Hội nghị theo cái cách “biết rồi khổ lắm” : Hội nghị đã thành công tốt đẹp”.

    Chẳng biết trong hơn 200 nhà “phê bình lý luận”, lúc ra về, có ai nghĩ rằng rồi sẽ tới một lúc nào đó, họ – những nhà phê bình văn học VN sẽ phải sám hối trước “những linh hồn chết” mà họ đã “ăn theo”, đã “đánh thẳng vào mặt”.
    N.T.
    .
    Last edited by hienchanh; 06-09-2014 at 10:01 AM.

  2. The Following 2 Users Say Thank You to hienchanh For This Useful Post:

    johnngo66 (06-06-2014),VẸM RĂNG HÔ (06-06-2014)

  3. #2
    Join Date
    Feb 2012
    Location
    Houston Texas
    Posts
    461
    Thanks
    104
    Thanked 31 Times in 25 Posts

    Default Re: Chuyện xưa ... Nay mới nói ...

    Bài hay quá...Rất cãm ơn anh hienchanh.
    Ít nhất phải hiểu về văn và những bài văn hay lẫn tiểu thuyết nổi tiếng, lịch sữ... mà các ông đã viết thì mới hiểu cùng cãm thấy thế nào cho cái sự dè biểu châm biếm của người viết.

  4. The Following User Says Thank You to johnngo66 For This Useful Post:

    hienchanh (06-07-2014)

  5. #3
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 40 Times in 31 Posts

    Default Re: Chuyện xưa ... Nay mới nói ...

    Quote Originally Posted by johnngo66 View Post
    Bài hay quá...Rất cãm ơn anh hienchanh.
    Ít nhất phải hiểu về văn và những bài văn hay lẫn tiểu thuyết nổi tiếng, lịch sữ... mà các ông đã viết thì mới hiểu cùng cãm thấy thế nào cho cái sự dè biểu châm biếm của người viết.


    Xin cảm ơn anh. Người đọc sâu sắc, nhìn ra vấn đề được như anh rất quý anh ạ. Tác giả xem được lời bình này của anh sẽ cảm được niềm cảm thông biết là bao !

    HC




  6. #4
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 40 Times in 31 Posts

    Default Re: Chuyện xưa ... Nay mới nói ...

    (tiếp theo)
    Kỳ 3

    Hội nghị Hà nội – 3-2006

    “Địch” đã đánh vào “tung thâm” rồi, sao còn ngồi yên ?

    Sau hơn một tháng tổ chức lấy ý kiến rộng rãi đóng góp cho bản Dự thảo báo cáo chính trị, Đảng cộng sản Việt Nam đã nhận được khá nhiều ý kiến thẳng thắn thậm chí huỵch toẹt về sự cáo chung của chế độ ở Việt Nam. Đặc biệt giới cầm bút trong nước đã bớt hèn , đã dám “mở miệng”, nhất nhà thơ Trần Mạnh Hảo lớn lối, om sòm chửi bới Mác Lênin và cộng sản Việt Nam .

    Theo thông lệ, hẳn sẽ có những bài viết phản công đánh phủ đầu, đánh cho chết những kẻ “dám có ý kiến khác “ như Hà Sĩ Phu, Tiêu Dao Bảo Cự, Dương Thu Hương… đăng trên báo Công an, báo Quân đội nhân dân như ngày xưa.

    Vậy nhưng đã vài tháng trôi qua kể từ khi Trần Mạnh Hảo- Đỗ Minh Tuấn nhân tranh luận mà gọi Đảng bằng con c…, và nhất là sau cả chục bài “mắng mỏ” Mác Lênin và cộng sản Việt Nam của Trần Mạnh Hảo mà trên báo vẫn thấy im re, vẫn chưa thấy các “nhà văn của Đảng” nhảy ra “đao búa” diệt cho tan “chúng nó” để bày tỏ thái độ “bảo vệ Đảng” đến giọt máu cuối cùng .

    Tạo sao thế ? Đã có chuyển biến mới rồi chăng ?

    Các “đầu gấu của Đảng” sốt ruột sốt gan lăm lăm “tay gươm tay bút ” chỉ chờ có lệnh là xông ra “quyết chiến, quyết thắng’ bọn “thế lực thù địch”, bọn “phản bội “, bọn “diễn biến hoà bình”, bọn “lợi dụng các diễn đàn trên internet” chống phá cách mạng…

    Dịp may cho các đồng chí tự nguyện làm “con đê chắn sóng cho Đảng ” bày tỏ lòng trung thành đã tới.

    Trong 2 ngày 2-3 tháng 3 năm 2006, tại Hà Nội đã diễn ra Hội nghị lý luận , phê bình văn học , nghệ thuật toàn quốc” có tới trên 250 đại biểu tham dự, đứng đầu là ông Nguyễn Khoa Điềm, Trưởng ban tư tưởng văn hoá, Chủ tịch “Hội đồng lý luận, phê bình văn học nghệ thuật trung ương “ cùng các quan chức cao cấp trong ngành văn hoá nghệ thuật.

    Hội nghị lý luận, phê bình văn học và nghệ thuật khai mạc rất long trọng trong lúc các diễn đàn trên internet, các cơ quan thông tấn, báo chí hải ngoại vẫn om sòm chửi bới , vạch trần chân tướng chủ nghĩa Mác-Lênin , đường lối xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là ”giả trá”, là vật cản, là nguồn gốc mọi tội ác cần phải loại bỏ khỏi đời sống dân tộc Việt Nam. Một khi “kinh Thánh” đã không còn thiêng, “giáo đường’ sẽ ra sao ? Diện mạo của Đảng sau đại hội X phải chẳng sẽ được lộ hé đôi chút qua Hội nghị này ?

    Bởi thế Hội nghị lý luận phê bình văn học , nghệ thuật toàn quốc tuy vẫn diễn ra hàng năm, nhưng thời điểm này , nó được quan tâm đặc biệt của sĩ phu cả nước . Các cây bút hàng đầu trung kiên với đảng tất nhiên phải nằm đầu sổ trong danh sách mời dự và đọc tham luận. Chẳng thế mà ông Giáo sư Tiến sĩ Mai Quốc Liên gào lên trên diễn đàn:

    ” Bọn phản động đã đánh chúng ta tới tung thâm rồi rồi sao các đồng chí vẫn án binh bất động? “ .

    Mai Quốc Liên đòi đảng ngay tức khắc phải lập lại trật tự , lấy lại thế chủ động tiến công trên mặt trận tư tưởng. Ông ta la lối cả “cấp trên” :

    Những mặt tiêu cực như : lẩn tránh, rụt rè , e ngại khi bầy tỏ thái độ trước những luận điểm sai đã rõ ràng ; chuyển lập trường sang mầu sắc “cấp tiến cực đoan” , đối lập. “tự do”, công khai đứng về phiá đối lập. Còn những cơ quan, những người có trách nhiệm…thì không thấy nói gì ?”

    “ Cơ quan” và “người có trách nhiệm” còn ai khác ngoài đồng chí Nguyễn Khoa Điềm kính mến và Ban tư tưởng văn hoá của đồng chí. Cái kiểu “trứng khôn hơn rận”, cấp dưới lại chỉ đạo cấp trên thế này xưa nay chưa từng thấy.

    Mai Quốc Liên lấy thí dụ vụ “ Bóng đè” để chỉ điểm sự thờ ơ không chịu ra tay của các cơ quan “gác cửa” :

    Có người vẫn viết bài ca ngợi Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm nhưng đồng thời cũng viết bài ca ngợi “ Bóng đè”, một tập truyện ngắn “phản động” như vậy mà “ Nhà xuất bản Đà Nẵng in, Nhà xuất bản Hội nhà văn in tiếp, quảng cáo rất dữ dội…Hội thảo tại Hà Nội trong mưa rất đông và báo chí ủng hộ trong đó có cả báo chí cận vệ của Đảng , nhiều báo đăng ý kiến ca ngợi, tường thuật , trong đó có một số ý kiến của những nhân vật quen mặt …Không có một cây bút phê bình hàng đầu nào lên tiếng cả …” .

    Rồi Mai Quốc Liên chất vấn :

    Tôi không rõ lắm sự chỉ đạo của cấp trên. Có người nói với tôi : sắp tới đại hội rồi, bới thối ra làm gì ? Với lại lỡ rồi . Không biết bên trong thì các tờ báo đăng sai như thế , nhà xuất bản in sai như thế, có được cấp trên chủ quản hay Ban tư tưởng –văn hoá trung ương có thái độ gì không, hay lại “chín bỏ làm mười”.

    Đòi thu hồi “Bóng đè” đốt sách, kỷ luật…chưa đủ, Mai Quốc Liên còn la lối :

    Lực lượng phê bình, lý luận văn học có còn hoạt động nữa không hay là né trốn đâu. Và trên có chỉ đạo gì không ? “

    Sau cùng Mai Quốc Liên lên giọng “huấn thị” nghe còn “sắt máu” hơn cả Ban tư tưởng văn hoá:

    Giữ vững trận địa tư tưởng theo tinh thần nghị quyết bổ sung về công tác tư tưởng của Hội nghị Trung ương 12 là trong đó có công tác lý luận, phê bình văn nghệ là một việc lâu dài, khó khăn, cấp bách…”

    Một “ông kễnh bảo vệ Đảng” ở Sàigòn là Phó GS TS Trần Trọng Đăng Đàn dịp này cũng lớn lối đề nghị Đảng phải giữ vững “định hướng xã hội chủ nghĩa trong cả…văn hoá”:

    “Thật tỉnh táo trước những xáo trộn về lý luận vừa xảy ra mấy thập kỷ qua trên thế giới ; bám sát thực tiễn Việt nam để củng cố và xây dựng một hệ thống lý thuyết về văn hoá, văn nghệ Việt Nam giai đoạn đất nước phải thực hiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa…”

    Trong khi rất nhiều trí thức cả trong nước lẫn ngoài nước đòi xét lại cái vị trí “ duy ngã độc tôn” của Đảng cộng sản Việt Nam vốn gây ra bao tổn thất, đau thương cho dân tộc , thì ông Giáo sư công bộc của Đảng này lại yêu cầu :

    “ Củng cố và bồi bổ thêm để có được một hệ thống lý luận về sự tất yếu Việt Nam ngày nay chỉ có một Đảng lãnh đạo là Đảng cộng sản Việt nam. Duy nhất đảng này có nhiệm vụ lãnh đạo đất nước về mọi mặt trên mọi lĩnh vực : Chính trị – tư tưởng ; kinh tế - xã hội ; văn hoá – văn nghệ”

    Tiếng kèn lạc lõng của ông Trần Trọng Đăng Đàn còn rú lên như tiếng còi cảnh sát khi có phương tiện giao thông đi ngược chiều :

    Định hình một hệ thống lý thuyết để khẳng định rằng sự phát triển của Việt Nam giai đoạn lịch sử này tất yếu phải theo phương hướng tư tưởng chủ đạo là triết học Mác- Lênin”

    Chẳng hiểu ông Giáo sư có bao giờ lên mạng internet để đọc bao nhiêu là bài viết vạch trần những sai lầm cốt tuỷ của triết học Mác- Lênin, bao nhiêu bi kịch lịch sử, bao nhiêu mạng người chết oan vì cái triết học “dao búa” này mà còn bắt đất nước Việt Nam đau thương dưới chế độ cộng sản toàn trị này phải tiếp tục chịu sự chỉ đạo của triết học Mác – Lênin. Ông Giáo sư nói thật lòng hay chỉ giả vờ để được Đảng vứt cho khúc xương thôi đó. Rồi như sợ Đảng chưa hài lòng , ông Giáo sư còn “đi xa hơn nữa”, cố gắng ghép cả “bác Hồ” vào hai ông thánh Mác – Lênin thành bộ ba hù doạ trí thức Việt Nam:

    “ Phát triển rộng, khai thác sâu thành tựu nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh để hình thành hệ thống lý luận về chủ nghĩa Hồ Chí Minh với khái niệm chủ nghĩa Mác – Lênin thành khái niệm ghép, bộ ba chủ nghĩa Mác—Lênin-Hồ Chí Minh…”

    Ghê chưa, xưa nay “Đảng ta” vẫn chỉ dám rụt rè đưa ra khái niệm “tư tưởng Hồ Chí Minh” thôi, ông Giáo sư “bảo hoàng hơn cả nhà vua” này lại “cầm đèn chạy trước ô tô” tôn vinh tư tưởng Hồ Chí Minh thành “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” kia đấy.

    Nhưng cái “chủ nghĩa Hồ Chí Minh “ ấy ra sao ? Chắc chỉ có mình Giáo sư Trần trọng Đăng Đàn nghiên cứu và nắm vững. Nhưng việc đó lớn lắm, nó cần phải được coi như một dự án. “Dự án nghiên cứu và phát triển chủ nghĩa Hồ Chí Minh ở trong nước và xuất cảng ra thế giới”.

    Vì là dự án nên bao giờ cũng phải có tiền , nhất là phải có nhiều tiền , chục tỉ, trăm tỉ trở lên và chủ dự án chắc chắn phải là ông Trần Trọng Đăng Đàn rồi…
    (còn tiếp)

  7. #5
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 40 Times in 31 Posts

    Default Re: Chuyện xưa ... Nay mới nói ...

    (tiếp theo)
    Kỳ 4

    Mấy năm qua chứng kiến sự sụp đổ của các thứ lý thuyết Mác Lênin trong văn hoá văn nghệ, của “ chủ nghĩa Mác và đề cương văn hoá Việt Nam” do ông Trường Chinh vạch ra làm “ kim chỉ nam” cho văn nghệ sĩ, sự tan rã của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa với yêu cầu nghiêm ngặt về tính Đảng, tính giai cấp , tính dân tộc…ông Giáo sư đã la hoảng và gọi đó là một “sự khủng hoảng tổng thể”:” Mà khủng hoảng ở đây rõ ràng không chỉ trong lý luận về văn hoá , văn nghệ. Nó sẽ là khủng hoảng tổng thể”.

    Ông Giáo sư lo rằng một khi xảy ra khủng hoảng tổng thể về lý luận thì tất yếu “sẽ làm xáo trộn thực tiễn - thực tiễn không chỉ của đời sống văn hoá – văn nghệ mà là thực tiễn xã hội…” Và ông lo lắng cảnh báo :” Xáo trộn thực tiễn xã hội sẽ đưa đến hậu quả gì ?”. Tất nhiên sẽ là một cuộc cách mạng “màu vàng”, “mầu da cam”…mà ông Giáo sư đã tiên đoán sẽ “ thấm đẫm không chỉ nước mắt, mồ hôi mà cả máu…”.

    Tóm lại ông Giáo sư lo rằng “ kinh sách” một khi đã hết thiêng thì giáo đường bị đập phá và cha cố cũng sẽ bị đuổi cổ. Bởi thế ông mới kêu gọi :” Chặn đứng khủng hoảng lý luận . Đó là nhiệm vụ sống còn của của tất cả chúng ta hiện nay…”

    Một nhà quán quân “bảo vệ Đảng” ở Sàigòn khác là GS Trần Thanh Đạm, người cách đây hơn một năm đã nổ phát súng đầu tiên vào uy tín chính trị của ông trùm văn nghệ Nguyễn Khoa Điềm cũng có tham luận đả phá nặng nề lý thuyết “ văn học tự vấn” của nhà văn Nguyên Ngọc :

    “Tưởng là sản phẩm bột phát nhất thời của một sự đổi mới“ cực đoan, nông nổi trong văn học; cái gọi là “văn học tự vấn“ đã bị vứt vào sọt rác của sự lãng quên, giống như một thứ mốt“ được lăng xê“ vào các thời điểm khủng hoảng tinh thần của xã hội nay đã không còn hợp mốt“ nữa; song thời gian gần đây, tác giả của nó cùng với những người phụ hoạ theo hình như lại tìm cách làm sống lại cái thây ma lý luận đó, cốt làm cho bốc mùi“ cái không khí văn học vốn đã trở nên trong lành hơn từ khi bước vào đầu thế kỷ XXI…”

    Ong Trần Thanh Đạm cho rằng ông Nguyên Ngọc đã làm cái việc

    các thứ văn học chuyên miêu tả cái ác, cái xấu, thậm chí cái tục tĩu, thô bỉ trong đời sống và cả trong lịch sử của chúng ta đều được xếp vào dòng văn học tự vấn

    và cáo buộc ông Nguyên Ngọc đã đưa ra quan điểm

    “ đại khái xã hội ta, dân tộc ta (và trong thâm ý không dám nói ra của nhà bình luận này - cách mạng ta) vốn mắc nhiều tội lỗi, sai lầm, bê bối… cần bằng văn học, qua văn học mà “tự vấn“ lương tâm về những sai lầm của mình.“

    Thực ra ông Nguyên Ngọc cũng chưa nói gì nhiều về luận thuyết “ văn học tự vấn” của ông, mà mới chỉ lớt phớt qua vài bài viết, nhất là về truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và “Bóng dè” của Đỗ Hoàng Diệu, vậy mà ông Giáo sư Nguyễn Thanh Đạm đã vội đao to búa lớn kết tội kết tội một cách tuỳ tiện :

    “ nó chỉ thò lò hai mặt“ lấp lửng nửa nạc, nửa mỡ, nửa trắng, nửa đen cùng một dạng với các thủ đoạn chiến tranh tâm lý mà bọn thù địch của chúng ta ở nước ngoài trước nay vốn vẫn sử dụng, bây giờ lại chuyển giao kỹ thuật“ cho một số kẻ cơ hội và manh tâm ở trong nước…”

    Từ chuyện văn chương, ông Trần Thanh Đạm trắng trợn đẩy sang chuyện chính trị và tới tấp úp mũ cối lên đầu nhà văn Nguyên Ngọc :

    “Cứ nhìn xem những ai là kẻ phụ hoạ nó, khuyến khích, cổ vũ nó, thì có thể thấy ngay nó đến từ đâu và phục vụ cho ai. Thực sự thì nó không hề che giấu cái động cơ và mục tiêu chính trị của nó, khi tự nguyện làm một bè trong dàn đồng ca phản cách mạng, phản dân tộc, trong ngoài hô ứng lẫn nhau. Tác giả của thứ lý luận này đã từng công du“ đi tìm đồng minh ở hải ngoại. Không những anh ta thuyết giảng ở đó về văn học tự vấn“ của mình mà còn chịu khuất thân chịu tra tấn“ của những kẻ phỏng vấn mà có giọng điệu giống như một sĩ quan chiêu hồi của chế độ cũ, trước một kẻ cam tâm chiêu hồi trước đây, phải tự vấn“, tự thú“ về thân thế và thành tích ái quốc và cách mạng” trước ông chủ mới…”

    Thật là một giọng điệu sắt máu chẳng khác gì mấy anh bồi bút Vũ Đức Phúc, Như Phong, Tô Hoài….đánh Nhân văn- Giai Phẩm ngày xưa. Chỉ riêng ba ông Giáo sư “ mác xít đến cùng” của TP Hồ Chí Minh cũng đủ thổi vào Hội nghị lý luận, phê bình văn học nghệ thuật toàn quốc một không khí răn đe, khủng bố dễ làm nhụt tinh thần các nhà văn chết nhát.

    Trong không khí phê phán chủ nghĩa Mác-Lênin nhân tháng góp ý cho văn kiện Đại hội Đảng hiện nay, tất nhiên cũng có những ý kiến ngược lại, thoát ly hẳn lối “lý luận” xám xịt và cũ rích của phe bảo thủ.

    Giáo sư Trần Đình Sử đã tách bạch “phê bình lý luận văn học” từ năm 1945 tới 1986 là “hệ hình mác xít”, “dựa trên lý thuyết phản ánh vốn là sản phẩm của thế kỷ XIX, trong đó văn học, nội dung, hình thức , phương pháp sáng tác, tính chân thực, thể loại …đều được xét …phù hợp hay không phù hợp theo một hệ thống thế giới quan nhất định. Chức năng văn học chủ yếu là nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ… Văn học là công cụ của đấu tranh xã hội …do đó nội dung tư tưởng chính trị quan trọng hơn cả tính nghệ thuật…chỉ có nhân vật chính diện , tiên tiến thuộc tầng lớp công nông binh mới là nhân vật chủ đạo của văn học thời đại”.

    Kết luận về thứ lý luận phê bình “của Đảng” này, Giáo sư Trần Đình Sử huỵch toẹt :

    quan niệm lý luận về nội dung và hình thức như thế đã lỗi thời , không thấy được thực chất đặc trưng của văn học nghệ thuật…”

    Thay thế cho “hệ hình macxít” đó, ông Giáo sư nới tới hệ hình “đổi mới” từ sau năm 1985, trong đó “ văn học trước hết là biểu hiện và tưởng tượng sáng tạo…Nội dung văn học không đóng khung trong quan điểm chính trị mà thể hiện trong toàn bộ kinh nghiệm sống, bao gồm mọi mặt văn hoá xã hội tâm linh, vô thức, lý tính và phi lý tính…”.

    Ong Giáo sư còn đi xa hơn khi gán cho vai trò làm tan rã một ý thức hệ của văn học :

    văn học có một nguồn năng lượng bất kham có thể làm rạn nứt hệ thống hình thái ý thức đã có và góp phần kiến tạo hệ ý thức mới…”

    “Hình thái ý thức đã có” chẳng phải cái gì khác mà chính là hệ tư tưởng mácxit – lêninnít vẫn được coi là chính thống tại nước ta hiện nay. Từ “lý luận chung”, ông Trần Đình Sử quy về những vấn đề trong thực tiễn :

    hình như cái gì ta cũng biết, cũng nói , song chẳng có gì là hiểu sâu, hiểu đến nơi đến chốn. Lý luận trên báo chí phần nhiều là chỉ nói theo, nói leo mà thôi…nhiều cán bộ quản lý do được đào tạo từ trước đổi mới , tư duy của họ vẫn còn nguyên như cũ…”

    Giáo sư Phong Lê thuộc “phe đổi mới” cũng khẳng định :

    Văn học đã chuyển sang một giai đoạn mới, mang một chất lượng mới , trên một sơ sở cảm hứng mới về nghệ thuật, trên một quan niệm nghệ thuật mới về con người …”

    Giáo sư Nguyễn văn Hạnh cho rằng :

    Dù là nói chuyện thường ngày, chuyện tầm thường, bụi bặm, văn học nghệ thuật không bao giờ bằng lòng với thực tại, với cái đang có mà luôn tìm tòi , khát khao vươn tới cái nên có, người hơn, đẹp hơn…”

    Hai phe “bảo thủ” và “đổi mới” “chọi nhau” rõ ràng trong Hội nghị và xem ra vẫn chẳng tiến xa hơn ba cái Hội nghị lý luận , phê bình từ mấy năm trước.

    Thế còn các nhà quản lý ? Các nhà lãnh đạo văn học nghệ thuật có quan điểm thế nào trong tình hình hiện nay ? Nhà thơ Hữu Thỉnh, Phó Chủ tịch Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật trung ương trong bài đề dẫn đọc tại Hội nghị thừa nhận “ từ đầu những năm chín mươi đến nay thực trạng phê bình văn học nghệ thuật đang trở thành mối quan tâm lo lắng …thực trạng đó không chỉ trầm lắng mà còn bộc lộ khá nhiều vấn đề đáng quan tâm…”. Một trong những vấn đề đang lo nhất chính là “ bảng giá trị “ đang bị xáo trộn vì thiếu những chuẩn mực. “”Thực tế chúng ta đang thiếu một hệ thống chuẩn mực lý luận, một tiêu chí đánh giá , thiếu một hệ giá trị tin cậy làm thước đo kiểm định tác phẩm văn nghệ…”.

    Còn ông trùm văn hoá văn nghệ Nguyễn Khoa Điềm, Trưởng ban tư tưởng văn hoá, Chủ tịch Hội đồng lý luận trung ương mặc dầu nghe nói Đại hội tới ông bị giành mất cái ghế ông đang ngồi nhưng khi tổng kết hội nghị ông vẫn lớn tiếng:
    xây dựng một nền lý luận văn nghệ mácxit Việt nam thực sự tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc…”

    Ý kiến tổng kết của ông Nguyễn Khoa Điềm chẳng qua là nhắc lại những ý kiến trong dự thảo văn kiện Đại hội Đảng. Điều đó cho thấy khó mà có một sự thay đổi đáng kể nào trong Đại hội X tới.
    NT

  8. #6
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 40 Times in 31 Posts

    Default Re: Chuyện xưa ... Nay mới nói ...

    (tiếp theo)
    Kỳ 5

    TP Hồ Chí Minh 9-2007

    Đảng ơi, xin cứu chúng tôi

    Phải nói ngay rằng ngày xưa, thời bao cấp, các nhà phê bình văn học nằm trong lực lượng chiến sĩ cảnh vệ trên mặt trận văn hoá văn nghệ của Đảng nên “quyền” lớn và “lợi” cũng lớn lắm.

    Ngày đó làm công tác “ nghiên cứu lý luận phê bình” dễ dàng và thuận lợi biết chừng nào. Cứ đón gió, lắng nghe ý kiến các anh Năm ( tức Trường Chinh), anh Lành ( tức Tố Hữu)…rồi thì cứ mang tính đảng, tính giai cấp , tính nhân dân ra mà “giã” thì thằng nào cũng chết.

    Còn nhớ vào cái thời huy hoàng rực rỡ đó, cứ mỗi lần đồng chí Sóng Hồng( tức Trường Chinh), đồng chí Lê Đức Thọ, đồng chí Xuân Thuỷ, đồng chí Tố Hữu ra tập thơ là mấy nhà “phê bình văn học” cấp quốc gia như Hoài Thanh, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Vũ Đức Phúc, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức…lại tranh nhau “thổi” lên mây xanh. Rồi đối với dân sáng tác, chẳng may anh nào bị cấp trên chê một câu là các nhà phê bình xúm vào đánh đòn hội chợ , thật chẳng khác gì quạ ngửi thấy mùi xác chết. Trên bảo đánh một, các phê bình gia của đảng thừa thế xông lên đánh gấp hai ba khiến các nhà văn, nhà thơ “phạm huý” coi như cầm chắc gác bút đi cầm cuốc dăm bảy năm.

    Điển hình là vụ Nhân văn- Giai Phẩm – thật đúng là một bữa tiệc vĩ đại cho các con kên kên “phê bình lý luận”. Lục lại hồ sơ vụ này, người ta thấy ngoài những cây bút phê bình “gạo cội” của Nhà nước, còn có các văn thi sĩ tầm cỡ quốc gia như Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Khải, Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên… cũng nhảy vào “đánh hôi” để lấy điểm với Đảng.

    Sau Nhân văn Giai Phẩm tới vụ “Phá Vây” của Phù Thăng, “Đống rác cũ” của Nguyễn Công Hoan, “ Vào đời” của Hà Minh Tuân, “Sắp cưới” của Vũ Bão, “ Đêm đợi tàu” của Nguyễn Đỗ Phú, “ Vòng trắng” của Phạm Tiến Duật, “ Cây táo ông Lành” của Hoàng Cát…

    Ngày nay nhìn lại “sự nghiệp” của các nhà phê bình lý luận “gạo cội” như Như Phong, Vũ Đức Phúc, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Trần Trọng Đăng Đàn…. người ta đều thấy có xương máu các nhà văn nhà thơ bị họ xẻ ra làm thịt dâng đảng thời đó.

    Sang thời kinh tế thị trường, văn học ngày càng nhạt mùi tính đảng, tính giai cấp, càng mất dần vai trò “vũ khí trên mặt trận văn hoá và tư tưởng của đảng”, ngày càng biến tướng trở thành một loại hình giải trí tào lao, vô thưởng vô phạt, bớt nguy hiểm cho đảng và bởi vậy việc canh gác, kiểm soát cũng không còn gắt gao như trước , khi “thỏ bị giết thì chó săn cũng bị diệt” – các nhà lý luận phê bình mác xít tuy không bị tuyệt diệt nhưng có sự phân hoá dữ dội.

    Một số lớn thức thời, đa số là những người trẻ, chạy sang “phò” các ông chủ mới : các ông đầu nậu sách hay sang trọng hơn gọi theo cách “thời thượng ” : các nhà đầu tư. Vậy là xuất hiện hàng loạt các nhà phê bình trẻ xây dựng nên hẳn một “công nghệ lăng xê” mỗi khi mấy ông đầu nậu xuất bản ra sách mới. Những năm qua, người ta được chứng kiến không ít các “hiện tượng văn học”, các tập thơ, các tập truyện ngắn, tiểu thuyết được kéo lên chót vót để rồi sau khi sách được bán hết , tác phẩm cũng rơi vào quên lãng.

    Tuy nhiên không phải nhà phê bình, lý luận nào cũng “phò” các ông đầu nậu, phần lớn các bác già, các bác “phê bình lý luận gạo cội” vẫn kiên trì ‘chủ nghĩa Mác Lênin”, vẫn cần mẫn làm người lính gác cho Đảng trên mặt trận văn học, vẫn lớn tiếng hô hào bảo vệ truyền thống cách mạng, giữ vững phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa trong sáng tác văn học.

    Tiếc thay, thời thế đã đổi thay, sự đối đầu giữa tư tưởng của đảng và tư tưởng phản kháng không còn diễn ra trên mặt trận văn học nghệ thuật nữa mà chuyển sang trực diện trên các diễn đàn mạng lưới thông tin toàn cầu qua các bài viết trực tiếp bằng luận lý chứ chẳng cần nhờ tới thứ văn chương “bóng gió xỏ xiên” như thời bao cấp nữa.

    Sang thời đại IT, vai trò “gác chợ” của các “phê bình gia” quốc doanh ngày càng trở nên kém quan trọng, do vậy “quyền” càng ngày càng nhỏ đi, “lợi” mỗi ngày cũng đội nón ra đi khiến cho các cây bút lão thành ngày càng chán nản, càng cảm thán thân phận “múi chanh đã vắt hết nước”, “chim chết cung cũng xếp xó”.

    Mới đây ngày 22 tháng 9 – 2007, hơn 30 nhà phê bình lý luận “lão thành” đã họp nhau lại tại trụ sở Hội nhà văn TP Hồ Chí Minh để đồng loạt phát đi tín hiệu “kêu cứu” với đảng :” chúng tôi đang…sống trong sợ hãi”.

    Ông nhà văn Lê văn Thảo, Chủ tịch Hội nhà văn TP HCM thẳng thắn mào đầu:

    Suốt mấy năm qua, cả công chúng và giới cầm bút đều e ngại cho sự buồn tẻ của các nhà lý luận phê bình trong đời sống văn học. Sự thật này không thể quay mặt đi và không thể im lặng mãi. Đời sống lý luận phê bình văn học hiện nay, các cây bút chuyên nghiệp rất ít xuất hiện, còn các cây bút nghiệp dư thì nhan nhản. “

    Một cây bút nổi tiếng sát phạt đồng nghiệp, giáo sư Mai Quốc Liên nổ phát súng đầu tiên :

    "Hơn 30 năm qua, người đọc thay đổi quá nhiều, văn hoá tiếp nhận đã khác. Vậy mà, không ít nhà phê bình mang tư duy "bất biến", không chịu "ứng vạn biến" nên cách viết cũ, không đủ sức thuyết phục độc giả khó tính".

    Ông Giáo sư than rằng công tác phê bình lý luận tại thành phố mang tên bác Hồ cực kỳ yếu kém và kêu gọi các nhà phê bình “quốc doanh” hãy tử vì đạo :

    ” Giới lý luận phê bình phải quyết liệt hơn nữa, phải luôn giữ tâm niệm: "Sáng nghe được đạo lý thì chiều chết cũng cam lòng".

    Giáo sư lão thành , Trần Thanh Đạm dẫu ở tuổi 75 cũng vẫn rất hăng hái thở than và đòi quyền phát ngôn :

    Chúng ta cứ ủng hộ nhau bằng miệng như anh Mai Quốc Liên dù rất hùng hồn, cũng chưa đủ đâu. Xin hỏi, bây giờ một bài phê bình tử tế thì in ở đâu? Tình hình văn học có nhiều điều rất tiêu cực, mà tôi cảm thấy cô độc lắm. Tôi không dám so với Lỗ Tấn, nhưng vài năm nay tôi có cái buồn "người biết chữ thường hay lo nghĩ" giống ông ấy. Nhìn đi nhìn lại, đội ngũ lý luận phê bình vẫn còn đây, nhưng không có diễn đàn, nên đành im lặng ôm lòng ngồi đấy thôi".

    Giáo sư Đạm ngậm ngùi:

    "Tôi e rằng, người nào đó trực ngôn nhận xét về cuộc gặp gỡ này, chỉ cần một câu "toàn mấy ông già nói với nhau" thì tan nát cả cái hội thảo”.

    Ông nhà báo lão thành Đinh Phong, nguyên Chủ tịch Hội nhà báo TP HCM , về hưu mấy năm nay rồi mới “xót xa nhận thiếu sót” :

    "Nhiều năm làm Chủ tịch Hội nhà báo TP HCM kiêm Phó Chủ tịch Hội nhà báo VN, tôi thấy xấu hổ vì báo chí vinh danh nhiều tác phẩm văn học không có giá trị gì. Hơn nữa, tôi đề nghị Hội nhà văn phải tổ chức những hội thảo lý luận phê bình thường xuyên để có những đánh giá kịp thời về đời sống văn học, chứ không thể xuân thu nhị kỳ mới gặp nhau để than thở".

    Nhà văn “lão thành mácxít lêninít” Đoàn Minh Tuấn thì bày tỏ bức xúc về hiện tượng các nhà văn trẻ viết quá sexy :

    "Tôi qua Ấn Độ, ở ngay quảng trường New Dehli có bức tượng diễn tả một người đàn bà thoả mãn cho bốn người đàn ông, nhưng nó thanh cao lắm, biểu cảm lắm, nhân văn lắm. Còn thứ văn chương viết về sex ở Việt Nam không ra gì cả, nhầy nhụa và bẩn thỉu".

    Bà nữ văn sĩ Nguyễn Thuý Ai thì ví von :

    "Làm lý luận phê bình bây giờ giống như giữ rừng, nhiều lâm tặc mà ít cán bộ kiểm lâm. Đau đớn hơn là cán bộ kiểm lâm không có phương tiện gì trong tay. …”

    Và kết thúc cuộc “than vãn” của các ông bà già kéo dài trong suốt 4 giờ đồng hồ, bà nhà văn này phát đi một lời kêu cứu :

    “Những nhà lý luận phê bình thực sự đang sống trong sợ hãi".

    Liệu các đồng chí Tô Như Rứa, Trưởng ban tư tưởng văn hoá , đồng chí Phan Xuân Biên , Trưởng ban văn hoá tư tưởng thành uỷ TP HCM có nghe thấy những lời kêu cứu thống thiết này không ?

    Chắc chắn là có nghe đấy, nhưng tiếc thay thời thế đã thay đổi, đảng chẳng cần tới “mấy ông bà già” cứ lặp đi lặp lại “sáu câu ba điều” tính đảng, tính giai cấp chung chung như ngày xưa nữa. Bởi vậy các cụ có kêu rên tới tận đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đi chăng nữa thì cũng thế mà thôi.

    Vì rằng thưa các cụ : “ For such is life” mà…
    (còn tiếp)

  9. #7
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 40 Times in 31 Posts

    Default Re: Chuyện xưa ... Nay mới nói ...

    .

    Hội nhà văn của nước ta

    Kỳ 1….

    ĐẠI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM 7 ( 23/25-4-05) :

    “…Hội nhà văn của nước ta,
    mấy thằng chạy chức đi ra đi vào
    nghèo thì đậu phụ thuốc lào
    giàu thì rượu ngoại phong bao phải dày
    tiền tươi phải tới liền tay
    “Chấp hành”* một ghế nhận ngay khó gì …”

    (* Uỷ viên Ban chấp hành )

    Ngay trước ngày khai mạc Đại hội lần thứ 7 Hội nhà văn Việt Nam, dư luận trong giới cầm bút đã ì xèo chuyện “ chạy ghế” vào Ban chấp hành, chuyện “lật đổ” nhà thơ Hữu Thỉnh , người ngồi đã quá lâu trên ghế Tổng thư ký Hội, người xây dựng “bộ máy” cấp 1 ( cơ quan của Hội) và bộ máy cấp 2 ( báo chí, xuất bản, hãng phim, bảo tàng…) toàn bằng đồng hương Vĩnh Phú.

    Trên báo Công an nhân dân đã đăng công khai bài viết của nhà thơ Phạm Tiến Duật tố cáo Hữu Thỉnh “phạm pháp”, lộng quyền, ôm đồm, bao biện hết cả tiền của Đảng rót cho nhà văn. Ngay trong đại hội, cuộc “vận động hành lang” vẫn diễn ra náo nhiệt, nhà thơ Trần Ninh Hồ mất cả buổi trưa để vận động lão nhà văn Nguyễn Quang Sáng lên “ tham luận” yêu cầu Hữu Thỉnh từ chức, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo , Nguyễn Thuỵ Kha, nhà văn Trung Trung Đỉnh, Cao Tiến Lê…dáo dác khắp nơi mong kiếm được một vé vào Ban chấp hành. Và ngay trong đám các nhà văn Vĩnh Phú chia nhau các loại ghế ở Hội nhà văn, cũng không thống nhất thành một khối, trước đại hội cũng “uýnh” nhau lộn bậy khiến bà con lại có thơ rằng :

    Mấy thằng Vĩnh Phú đánh nhau
    Hữu Thỉnh vỡ đầu Tiến Duật sứt tai
    Văn Chinh chém mướn vòng ngoài
    Vĩnh Tuấn nổi cáu dở bài bọ hung
    Chung quy cũng tại vua Hùng…
    Đẻ ra một lũ vừa điên vừa khùng…”

    Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật, Văn Chinh, Trương Vĩnh Tuấn đều là người Vĩnh Phú, quan chức Hội nhà văn.Tuy nhiên, dù có chạy chọt đấu đá ra sao thì mọi mơ tưởng của mấy anh nhà văn đều hão huyền bởi lẽ vấn đề “nhân sự “ là do cấp trên quyết định đúng như lời ông Nguyễn Khoa Điềm, Trưởng ban tư tưởng văn hoá phát biểu tối ngày 22 tháng 4 trong cuộc họp giành riêng cho đảng viên :

    ” Uỷ viên chấp hành các đồng chí bầu ai thì bầu riêng Tổng thư ký phải để cho Đảng chỉ định…”.

    Và theo tinh thần chung cho các Hội, để giữ vững ổn định chính trị, tránh xáo trộn , tốt nhất là bầu ông Vũ Như Cẫn lãnh đạo , quả nhiên Đại hội đã “bầu ra” Tổng thư ký ( giờ đổi thành Chủ tịch) vẫn là Hữu Thỉnh, Phó Tổng thư ký ( tức Phó Chủ tịch) vẫn là Nguyễn Trí Huân – không có gì thay đổi.

    Đại hội lần thứ 7 diễn ra trong tình hình các nhà văn hầu hết đã được “thuần hoá”, đã trở thành “bé ngoan” của Đảng, bởi vậy Đảng không còn lo những tiếng nói “phản kháng”, “chống đối” cất lên từ diễn đàn đại hội.

    Duy nhất có nhà thơ đòi đa nguyên đa Đảng là Bùi Minh Quốc mới được tha “quản chế” thì lại bị “Đại hội cơ sở các nhà văn miền Đông Nam Bộ” không bỏ phiếu cho đi dự Đại hội toàn quốc. Tuy nhiên ông Bùi Minh Quốc vẫn bay ra Hà Nội đòi vào Hội trường Ba Đình trong lúc đại hội đang họp và bị công an mời ra vì không có …huy hiệu vào cửa vốn chỉ phát cho đại biểu chính thức. Không chùn bước, nhà thơ Bùi Minh Quốc lại kiện Ban tổ chức đã cho cả nhà phê bình Phạm Quang Trung ở Đà Lạt đi dự đại hội khi ông này đã bị khai trừ khỏi hội về tội tham ô, hơn nữa, nhà thơ Bùi Minh Quốc vẫn ứng cử vào Ban chấp hành dẫu không trúng nhưng vẫn đạt được hơn 100 phiếu bầu, qua đó cho thấy tỷ lệ “ủng hộ phản kháng” thầm trong bụng của các nhà văn Việt Nam là 20 phần trăm.

    Ngày đầu tiên 23 tháng 4, họp “nội bộ”, trong hầu hết những tham luận “tát nước theo mưa” đòi nhà văn đứng vững trên lập trường của Đảng, bỗng nảy nòi ra bài tham luận của nhà văn Hoàng Quốc Hải có tựa đề “ Nỗi niềm tác phẩm đỉnh cao”. Trước hết ông đưa ra thân phận cay đắng của nhà văn “đỉnh cao “ Vũ Trọng Phụng :

    Sinh thời ông chỉ ao ước :” Nếu ở đời có được cơm mà ăn no nhỉ ?” . Năm 27 tuổi ông qua đời vì bệnh lao phổi để lại một người con gái 2 tuổi và một đống tác phẩm. Không ít trong số mấy chục tác phẩm của ông đạt đỉnh cao thế giới.”
    Vậy mà những tác phẩm ấy bị vùi lấp trên nửa thế kỷ, không một lần được tái bản. Bởi một thời gian rất dài người ta vu cho ông là phần tử trốt kít (Trosky). Tới khi tác phẩm của ông được tái bản, chị Vũ thị Hằng , con gái ông đã ngoài 50 tuổi, chỉ dán mắt nhìn tác phẩm của cha mình trở thành tài sản chung của xã hội theo “luật bản quyền” mới ban hành..
    Chị Hằng và chồng chị đã đưa phần mộ của cha mình về ngôi vườn tại quê hương làng Mọc. Ngôi mộ được xây cất đàng hoàng, ốp đá cẩm thạch mà không có bất kỳ tài trợ nào từ Nhà nước và các hội đoàn. Sự thờ ơ đến bội bạc của đương thời và hậu thế khiến nhiều nhà văn nản lòng…”

    Nhưng đó là chuyện từ thời…tự lực văn đoàn, còn chuyện của Hội nhà văn 10 năm lại đây (1996-2005), ông Hoàng Quốc Hải nhận định :

    số lượng tác phẩm của các nhà văn phát hành không phải là ít nhưng không khuấy động được công chúng. Không khí văn học bình lặng như mặt nước ao thu. Khas nhiều tác phẩm “tốt” cả về nội dung lẫn nghệ thuật nhưng công chúng bạn đọc vẫn thờ ơ và đòi nền văn học phải có đỉnh cao. Đòi hỏi đó là nỗi bức xúc của công chúng trước hiện thực xã hội. Bởi soi vào tác phẩm văn học họ thấy hụt hẫng.”

    Độc giả đòi hỏi như vậy vì sao các nhà văn không đáp ứng được cho dù “ cái nền hiện thực xã hội trong mười năm gần đây , dư thừa chất liệu cho các nhà văn Việt Nam làm nên tác phẩm đỉnh cao. Đây là cơ hội , dù nó là cơ hội đem lại nhiều bất hạnh cho số đông nhưng nếu bỏ qua sẽ là một tiếc nuối , một ân hận…

    Đúng là chưa bao giờ, xã hội cung cấp cho nhà văn nhiều chất liệu đến như thế này :

    Bức tranh xã hội đủ mầu sắc. Vui có, buồn có, bi thương có, âm mưu thủ đoạn có, tham nhũng hối lộ có, lừa đảo có, đểu cáng có, bất hiếu bất mục, bất nhân bất nghĩa…không thiếu một loại nào . Đặc biệt lũ cơ hội xuất hiện nhan nhản. Đó là những kẻ tiếm quyền hành để tước đoạt trắng trợn tài sản quốc gia , hối hả tich luỹ vốn liếng để mau chân chạy sang hàng ngũ tư bản. Và bây giờ chúng đang âm mưu rửa tiền để hợp thức hoá và công khai hoá số tài sản khổng lồ mà chúng chiếm đoạt bằng các thủ đoạn bất lương.
    Công chúng đòi hỏi nhà văn bằng ngòi bút và lương tâm của mình phải vạch mặt bọn chúng, “không cho chúng nó thoát”. Phải cho tái xuất hiện các gương mặt kiểu Nghị Quế, Nghị Hách, Xuân tóc đỏ, bà Phó Đoan, Bá Kiên, Chí Phèo …thời hiện đại”

    Những dòng văn mang đầy tính công tố và kết tội này được đọc giữa Hội trường Ba Đình, tiếc thay cử toạ lại là các nhà văn, ví thử là các đại biểu quốc hội – các ông nghị nổi tiếng “gật”, thì không biết các quý “đại biểu’ ấy sẽ phản ứng như thế nào ?

    Bức tranh hiện thực phong phú như vậy lại tuyệt nhiên không phản chiếu được vào tác phẩm, bởi thế “ công chúng mới chối bỏ.”. Độc giả quay lưng lại với các tác phẩm văn học là “điều tệ hại nhất đối với nhà văn . Đó còn là dấu hiệu báo trước một nền văn học đang vững chắc bước vào giai đoạn suy thoái…”

    Nhận định này hoàn toàn đi ngược với Hội nhà văn trong Báo cáo tổng kết 5 năm nhiệm kỳ 6 do nhà thơ Hữu Thỉnh trình bày trong ngày khai mạc chính thức tại Hội trường Ba Đình ngày 24-4-05 với sự có mặt của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười , Phan Diễn,Trưởng ban Bí thư trung ương :

    5 năm qua văn học ta có thêm nhiều tác phẩm có giá trị về tất cả các thể loại . Mối quan tâm về hệ thống giá trị mới đang được xác lập , về đạo đức xã hội , về bảo vệ các giá trị truyền thống của dân tộc là những thông điệp thường gặp trong các tác phẩm văn học…”

    Rõ thật là trống đánh xuôi kèn thổi ngược…
    (còn tiếp)
    25-4-05

  10. #8
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 40 Times in 31 Posts

    Default Re: Chuyện xưa ... Nay mới nói ...

    (tiếp theo)

    Hội nhà văn của nước ta

    Kỳ 2

    ĐẠI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM 7 ( 23/25-4-05) :

    Chính “bóng tối” hiện đang bao phủ trên rất nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân đã che đậy tội lỗi cho những tên cán bộ tham nhũng và sa đoạ của Đảng và Nhà nước, giúp chúng lọt lưới trừng phạt của pháp luật và được hưởng đặc ân “xử lý nội bộ” vốn là một thủ đoạn ngạo mạn, ngồi xổm lên luật pháp. Minh bạch hoá từ việc nhỏ như tài sản của cán bộ cho tới việc lớn như chi tiêu ngân sách Nhà nước là bước khởi đầu đi tới một xã hội dân sự . Nhà văn Hoàng Quốc Hải đòi có sự “minh bạch” ngay trong kiểm duyệt tác phẩm :

    Chúng ta đang sống trong một xã hội công dân , đòi hỏi mọi sự phải giải quyết minh bạch. Vì vậy những tác phẩm bị kiểm duyệt toàn bộ hoặc kiểm duyệt một phần cần được công bố công khai . Và nói rõ tác giả đã vi phạm những điều nào , điều nào theo luật định. Nếu tác giả không chấp thuận, họ có quyền khiếu nại việc đó ra toà dân sự…”

    Từ xưa tới nay, việc “chôn” một cuốn sách chỉ được thực hiện qua một cú phôn của một sếp lớn Ban tuyên huấn hoặc Cục an ninh văn hoá hoặc ở mãi trên thượng đẳng thiên tào Bộ chính trị của Đảng.

    Toàn bộ tác phẩm của Vũ Trọng Phụng bị cấm trong liền ba bốn thập kỷ là do lệnh miệng của ông Hoàng văn Hoan, Uỷ viên Bộ chính trị do nghe mấy anh quân sư quạt mo tán rằng Vũ Trọng Phụng nói xấu bố ông ta.

    Từ những tác phẩm “Vào đời” của Hà Minh Tuân, “Đống rác cũ “ của Nguyễn Công Hoan , “Sắp cưới” của Vũ Bão….đến “ Người con của đất” của Đỗ Văn Bàn, thơ “Chân dung” của Xuân Sách, “ Chuyện kể năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn…tất cả đều bị chôn trong kho làm mồi cho mối hoặc xay thành bột giấy đều không do một quyết định thành văn nào hết, tất cả đều thực hiện trong “bóng tối” bằng những “ý kiến anh này”,” ý kiến anh kia” mà tuyệt nhiên chẳng “anh”nào chường mặt ra nhận lấy trách nhiệm chôn sách, xay sách. Phép nước, luật Đảng từ xưa tới nay và cả mai sau đã định như thế rồi, bởi vậy đề nghị của ông Hoàng Quốc Hải ngay tại diễn đàn công khai của Hội nhà văn khác nào một phạm thượng láo xược làm sao mà lọt được vào tai của Đảng ? Tuy nhiên, ông cũng phải ngậm ngùi thừa nhận rằng muốn có tác phẩm đỉnh cao nhà văn phải “có tài năng lớn”,”trí tuệ siêu việt”,” nhân cách cao thượng”…những cái đó các nhà văn đều có cả, chỉ tiếc Thượng đế ban cho họ hơi bị…ít.

    Một tham luận khác gây sôi nổi ở hội trường là của nhà thơ Trần Mạnh Hảo. Lâu nay ông này mang tiếng là “đầu gấu”, “gác chợ”, “cảnh sát văn nghệ của Đảng “ giờ bỗng dưng lại giở giọng “cấu Đảng” là sao ?

    Nguyên là ông Tổng thư ký Hữu Thỉnh trong lúc làm công tác chuẩn bị đại hội nảy ra ý định có một tham luận có chút chút “đổi mới” cho có khí thế, kiểu như cắt thêm mấy lát ớt vào bát phở cho cay cay, ngon miệng, bèn điện vào Sàigòn nhờ cậy Trần Mạnh Hảo vốn là anh nói xuôi cũng được mà nói ngược cũng OK.

    Nào ngờ bấy lâu nay bị thiên hạ chửi là “đồ trở cờ, quân bảo thủ” đến rát cả mặt, Trần Mạnh Hảo muốn lợi dụng dịp này tỏ cho thiên hạ thấy ta đây cũng “phản kháng” lắm đây, chứ chẳng như mấy thằng thối mồm kia đâu. Thế là nhảy lên diễn đàn đại hội, Trần Mạnh Hảo diễn vai “đối lập”. Anh ta ca ngợi vua Tự Đức ngày xưa “ không vì một câu thơ khi quân trong truyện Kiều mà ra lệnh đốt hết sách Nguyễn Du” và mượn xưa nói nay, Trần Mạnh Hảo thống thiết :

    Ôi, giá mà thời nay có được vài ông vua như Tự Đức thì mấy cuốn sách hiền như bụt kiểu “ Thượng đế thì cười” của Nguyễn Khải, “ Chuyện kể năm 200” của Bùi Ngọc Tấn, “Đi tìm nhân vật” của Tạ Duy Anh…dù lục lọi mỏi tay, tìm bới mỏi mắt cũng chẳng thấy câu văn khi quân nào , đã không phải phải ném vào máy nghiền để thành bột giấy….”

    So sánh vậy khác nào Trần Mạnh Hảo ca cẩm Đảng ngày nay còn tàn ác hơn cả vua chúa phong kiến ngày xưa. Tiếp đó anh ta cho rằng “thi sĩ chính là Thượng đế là ông chủ của vũ trụ thi hứng, phải ứng xử như đấng toàn năng với nguyên tắc bất di bất dịch “ Dọc ngang nào biết trên đầu có ai…”…tuyệt nhiên không được phép để một ám ảnh sợ hãi nào quấy nhiễu mình“

    Ấy thế mà anh nhà văn lại :

    còn phải day dứt viết thế này, viết thế nọ mới được duyệt in; rằng đang có bao nhiêu đôi mắt soi mói vô hình kiểm duyệt anh từ xa ví như viết xong một câu văn là cứ phải mắc bệnh tương tư , nhớ đến anh Khổng Minh Dụ ( Cục trưởng Cục an ninh văn hoá), anh Đỗ Kim Cuông ( Vụ trưởng Vụ văn nghệ), anh Trinh Đình Khôi, anh Nguyễn Đình Nhã, anh Vũ Duy Thông , nhớ mấy anh canh cửa phê bình, nhớ anh giám đốc duyệt bài, anh biên tập viên cầm hai tay hai cái kéo , nhớ anh duyệt lưu chiểu hồi này với máy dò câu chữ nghe đồn còn kỹ hơn máy dò hành lý hải quan, thì than ôi, bằng ấy cơ chế kiểm duyệt đè nặng lên tâm lý sáng tạo của anh, nên vừa viết vừa run như thế, nghĩa là anh vừa viết vừa tự thiến đứa con tinh thần của mình, cho nên khi ra đời nó không được có cơ hội cuồng lên vì phát dục , xoá hết bản năng sinh tồn bùng sôi của nó đi , đẽo gọt chân nó sao cho vừa với đôi giày “chính trị” đi, thì nhà văn ơi, tự do sáng tác ơi, ta chào mi…”

    Càng nghe Trần Mạnh Hảo tham luận, người ta càng ngạc nhiên như thấy lại một Trần Manh Hảo “ly thân” với Đảng ngày trước:

    Quá nhiều cơ quan và nhiều cá nhân quyết định sự sống còn của ngòi bút theo kiểu nhiều cha con khó lấy chồng. Quá nhiều người gác cửa , có thể bất cứ lúc nào vui thì cho anh qua, buồn thì giữ anh lại khám xét , lục vấn, xử lý cấm cản tuỳ tiện vô nguyên tắc như từng thô bạo xử lý bao nhiêu nhà văn, bao nhiêu tác phẩm chết oan vì vừa ra đời đã bị bóp mũi…”

    Kết tội thẳng thừng chế độ kiểm duyệt của Đảng và Nhà nước đến như Trần Mạnh Hảo thì xưa nay chưa nhà văn nào làm được ngay trên diễn đàn đại hội chính thức của nhà văn Việt nam :

    Với cơ chế luật pháp lằng nhằng , cấm thì bảo cấm, thu hồi thì bảo thu hồi, kiểm duyệt thì bảo kiểm duyệt y như thời Tây đi một nhẽ thì nhà văn sẽ mừng vô cùng. Nhưng Đảng ta bảo chế độ ta tự do báo chí, tự do sáng tác không kiểm duyệt mà khi thực hiện thì than ôi, ai có qua cầu mới biết, gò bó cấm cản muôn phương…”

    Vậy là về tự do báo chí, tự do sáng tác, Đảng chỉ nói mồm, còn trong thực tế…”gò bó cấm cản muôn phương” - câu này nếu được trích dẫn trong báo cáo nhân quyền hàng năm của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ thì còn lâu Việt Nam mới được đưa ra khỏi danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt.

    Đã chê Đảng “cấm cản” báo chí và sáng tác, Trần Mạnh Hảo lại khen khéo thời Tây ngày xưa :

    Thời Tây, nước ta mất, dân ta nhục, Tây nó bảo tao không cho mày tự do sáng tác, tự do báo chí , tao kiểm duyệt rõ ràng đây này ; luật nó khiếp hãi , gian ác là vậy mà dân ta xin nó ra báo tư, xuất bản tư thằng tây nó cho liền, anh này ra báo tư, anh kia ra xuất bản tư, mừng quá. Thời mặt trận Bình dân nó còn cho cả báo chí , xuất bản của Đảng cộng sản ra công khai, mới có hàng loạt tiểu thuyết lớn xuất hiện , tố cáo chính chế độ gian ác , phản tự do, phản dân chủ của nó…”

    Và Trần Mạnh Hảo giở giọng khích bác :

    Mà thằng Tây gian ác cũng lạ, sách ra, có nhẽ nó cóc đọc được tiếng Việt nên nó cóc có cấm, cóc có Ban tư tưởng, cóc có A25. cóc có hàng chục cơ quan, hàng trăm người có thể thò tay thò chân vào nắn nắn từng con chữ như chế độ độc lập tự do bây giờ. Trong thời Tây nô lệ muôn vàn, gian ác muôn vàn, không hiểu các bố nhà văn ta hồi ấy lấy tự do sáng tác ở đâu ra mà sinh bao kiệt tác :” Số đỏ, Chí Phèo, Tắt đèn, Kép Tư Bền, Bỉ vỏ, Vang bóng một thời, “thơ mới 1032-1945”…truyền tới hôm nay….”

    Đến đây, người ta thấy Trần Mạnh Hảo không còn chỉ cắt vài lát ớt mà đã đổ nguyên cả lọ tương ớt vào “ bát phở” của Đại hội nhà văn lần thứ 7.
    (còn nữa)
    10-5-05

  11. #9
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 40 Times in 31 Posts

    Default Re: Chuyện xưa ... Nay mới nói ...

    (tiếp theo và hết)
    Hội nhà văn của nước ta

    Kỳ 3

    NHÂN ĐẠI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM 7 ( 23/25-4-05) :

    “ Mượn gió bẻ măng”, mượn lời mời chính thức của Tổng thư ký Hội nhà văn Hữu Thỉnh, chính thức mời viết tham luận, Trần Mạnh Hảo hăng lên yêu cầu :

    Những nhà quản lý văn học nghệ thuật của chúng ta hôm nay cần phải học được lối ứng xử với nhà văn không hơn được thì ít ra cũng bằng với ông cha, mới hy vọng có tác phẩm lớn. Xin thực hiện đúng cương lĩnh “ TỰ DO SÁNG TÁC” của Đảng và Nhà nước vẫn ban hành , xin bớt bớt giùm đi các cấp trung gian , quan tâm tới nhà văn vượt mức các chỉ tiêu trên giao thì quý hoá biết là chừng nào…”

    Chỗ này người ta thấy rõ TMH xỏ xiên, vu cho Đảng là có cương lĩnh “TỰ DO SÁNG TÁC”; thực ra chưa bao giờ Đảng cho văn nghệ sĩ cái của quý hiếm ấy cả, Đảng chỉ cho họ cái quyền “tự do sáng tác” theo…định hướng xã hội chủ nghĩa mà thôi nói vắn tắt là chỉ được phép viết những gì “có lợi” cho sự ổn định chính trị của Đảng .

    Bài tham luận của Trần Mạnh Hảo được đọc theo lối “diễn tuồng” giọng trầm giọng bổng khiến đại biểu vỗ tay ào ào và làm ông Tổng thư ký hội Hữu Thỉnh ngồi trên ghế Chủ tịch đoàn cứ giật mình thon thót. Ông nhớ lại lời một vị trong Ban tuyên huấn thành uỷ TP Hồ Chí Minh khi Trần Mạnh Hảo “quay cờ” bán hải ngoại trở về với Đảng “:” chúng tôi đã có kinh nghiệm về những tên “sọc dưa”, không thể tin được bọn chúng…”.

    Chí lý thật, cứ tưởng TMH đã trở thành “con đê chắn sóng cho Đảng”, thành người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá văn nghệ, ngờ đâu nhè đúng ngay diễn đàn Đại hội nhà văn để mà “trở mặt” cấu Đảng mới gay.

    Quả nhiên ngay buổi chiều tan họp, ông Đào Duy Quát, Phó ban tư tưởng văn hoá đã tới gặp Tổng thư ký uốn nắn:

    ”Ông Thỉnh, ông làm gì mà ghê thế ? Ngày mai Tổng bí thư tới dự họp các ông phải liệu liệu…”
    .

    Tất nhiên ông Hữu Thỉnh phải vâng dạ rối rít và hôm sau , ngày Đại hội họp chính thức, có Tổng bí thư và cả 6 ông Uỷ viên Bộ chính trị tới dự, ông đã bố trí hàng loạt tham luận của các nhà văn “cháu ngoan bác Hồ” nhằm gỡ tội đã để lọt hai tham luận của Hoàng Quốc Hải và Trần Mạnh Hảo làm bẽ mặt các quan.

    Trước hết nhà văn cao tuổi Nguyễn Gia Nùng lên diễn đàn phê phán hai bài tham luận của hai ông Hải và Hảo chỉ nói tới “tự do sáng tạo” mà quên đi “trách nhiệm công dân”. Ông yêu cầu “tự do” và “trách nhiệm” là hai thứ phải luôn song hành, tất nhiên phải hiểu đó là trách nhiệm với Đảng.

    Nữ thi sĩ đồng bằng sông Cửu Long tên là Kim Quyên lên tham luận nhiệt liệt ca ngợi…”sếp” Hữu Thỉnh bay ra bay vào như một cánh chim không mỏi để khuấy lên “phong trào sáng tác “ ở miền Nam.

    Nữ thi sĩ TP Hồ Chí Minh tên là Thu Nguyệt cũng bày tỏ sự không đồng tình với các tác phẩm đi sâu vào mặt trái của xã hội bằng đưa ra cái mẹo “đau Nam chữa Bắc”, tức nhà văn không nên đi thẳng vào các chuyện “ tham nhũng, thiên tai lũ lụt, lớp trẻ sa đà ăn chơi…” mà chỉ nên viết về những cái đạo lý cao cả như một anh nhà văn công an không viết về tội phạm mà lại chỉ chuyên viết về…Phật.

    Nữ văn sĩ cũng TP Hồ Chí Minh tên là Trầm Hương cũng lên diễn đàn đòi :

    Tôi muốn viết “ Hoa cúc kim” – một tiểu thuyết về người phụ nữ cải nam trang trốn sang Trung Quốc dự khoá học do bác Hồ đào tạo. Tôi muốn viết bộ tiểu thuyết sử thi về Mậu Thân 1968 đầy bi tráng…”.

    Các đại biểu nhà văn Nam bộ – trong đó có cả ông Giám đốc khách sạn kiêm nhà văn Lê Thành Chơn chẳng những “gỡ tội” cho sếp Hữu Thỉnh mà còn vinh danh Hội nhà văn đòi đuổi ra khỏi đại hội kẻ nào đã bêu xấu Hội trong thời gian qua (ám chỉ nhà văn Nguyễn Huy Thiệp) làm các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng ngồi nghe cứ rạng rỡ cả mặt mày.

    Tuy nhiên không phải nhà văn nào cũng vỗ tay khen bài tham luận của Trần Mạnh Hảo nhất những người hiểu rõ bản chất “thợ quay” của nhà thơ. Trong bữa ăn ở Đại hội, nhà văn Thái Bá Lợi , đại biểu Đà Nẵng nhận xét :

    Thằng Hảo nó …chửi mồi”.

    Cuối buổi chiều ngày thứ hai, lợi dụng không khí đại hội chán nản phải nghe những tham luận “ ca ngợi truyền thống văn học cách mạng”, nhà văn kiêm điện ảnh Đỗ Minh Tuấn nhảy lên diễn đàn vạch mặt cơ hội chủ nghĩa của Trần Mạnh Hảo:

    ” Đó là một nhân vật điển hình cho kiểu lý luận đầu cơ trên lẽ phải thông thường, quy giản các quan hệ văn hoá học thuật thành quan hệ chính trị và đạo đức để quy chụp nặng nề những người có cách viết khác với những gì được anh ta coi là bút pháp chính thống. Từ năm 1995 đến nay, Trần Mạnh Hảo đã viết nhiều bài xuyên tạc, bóp méo, bôi bẩn, quy kết đạo đức chính trị hàng loạt tác phẩm có tìm tòi về thi pháp như các tập thơ Mùa sạch của Trần Dần, Bóng chữ của Lê Đạt, 99 tình khúc của Hoàng Cầm, Người đi tìm mặt của Hoàng Hưng, Sự mất ngủ của lửa của Nguyễn Quang Thiều, tiểu thuyết Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà…Cái cách phê bình kiểu Trần Mạnh Hảo và sự o bế của những người lãnh đạo văn hoá văn nghệ đã biến anh ta trở thành một vấn đề xã hội bức xúc trong giới cầm bút vì nó đã gián tiếp hạn chế tự do sáng tác một cách tinh vi và có hiệu quả khi nó tạo ra một môi trường văn hoá phê bình cộng sinh giữa những thái độ chính trị văn hoá bảo thủ thâm sâu và cái suồng sã hồn nhiên trơ tráo của một thứ văn chương cai lệ.

    Nếu như cây roi của các nhà chính trị bảo thủ trước đây chỉ quất vào mông văn nghệ sĩ như Tự Đức đòi đánh đòn Nguyễn Du, thì ngọn roi của Trần Mạnh Hảo lại quất vào tim những người cầm bút. Nằm trong chăn biết chăn có rận, là nhà thơ có chút tinh tế, tài hoa, sắc sảo, Trần Mạnh Hảo đã đem những phẩm chất thi nhân của mình len lỏi vào thâm cung chữ nghĩa trong tâm hồn người viết để thăm dò, tâu báo và khủng bố. Những người cầm bút phải dành thời gian tâm trí cho việc thanh minh, tự vệ truy lại thanh danh đã bị bôi bẩn và vì thế không còn tâm trí nghĩ về những chuyện lớn lao có tầm vóc toàn xã hội như tự do, dân chủ. Trần Mạnh Hảo là kẻ cướp đi nhiều tự do sáng tác của nhà văn, là cái roi ai đó đã dùng quất vào tâm hồn trí tuệ tự do của người nghệ sĩ, nay bỗng dưng anh ta lại la lối kêu ca về tự do sáng tác có khác nào vừa ăn cướp vừa la làng, đổ vấy tội lỗi của mình cho ai đó. Thật chẳng khác gì Chí Phèo lại có ngày la làng chửi bới những kẻ du côn đái vào miếu Thành Hoàng.

    Trần Mạnh Hảo nói rằng văn nghệ sĩ là những người thấp cổ bé họng trong xã hội mà lẽ ra họ phải là Thượng đế trong chân trời sáng tạo của mình, nhưng hỡi ôi, trước đó không lâu cái kẻ văn nhân thấp cổ bé họng đó đã bị “anh gác chợ” Trần Mạnh Hảo cậy quyền cậy thế hoạnh hoẹ, lục soát văn thơ, sờ nắn khám xét từng dòng chữ, từng dấu phẩy để đong đếm từng tiếng cười tiếng khóc mà tri hô với Đảng về tư cách khả nghi của họ. Sau khi dùng những bài viết thô bạo và nguỵ biện để cướp đoạt được miếng đất tự do sáng tác, Trần Mạnh Hảo lại lớn tiếng bảo vệ miếng đất anh ta vừa cướp được, đó là cái cách thể hiện chủ quyền công khai để phi tang những hành vi cướp đoạt, tiến tới làm “sổ đỏ” cho miếng đất “bốn mặt tiền” anh ta có được sau ba lần trở cờ trắng trợn. Trên diễn đàn Đại hội, Trần Mạnh Hảo cũng phi tang việc anh ta sử dụng báo chí của công an làm nơi khủng bố văn nghệ sĩ bằng việc la lối về công an văn hoá khiến ông Khổng Minh Dụ phải bước lên trên bục để thanh minh….”

    Nhận định khái quát của Đỗ Minh Tuấn về Trần Mạnh Hảo đã được anh em bầu là câu nói hay nhất đại hội :

    ” Trần Mạnh Hảo là cái ca-pôt rách của Đảng, giữ vệ sinh cho Đảng trong quá trình giao lưu văn hoá làm bạn với tất cả thế gian.”
    .

    Tuy nhiên nhân vật gây cười nhất cho đại hội lại là …nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Sau khi đã chửi cha cả Hội nhà văn, người ta cứ tưởng ông sẽ nhổ bọt mà đi chỗ khác chơi, nào ngờ ông vẫn hớn hở đến dự đại hội. Sau khi một số nhà văn miền Nam đòi đuổi kẻ đã “bêu xấu Hội nhà văn” ra khỏi đại hội, người ta cứ tưởng ông sẽ đùng đùng bỏ đi, nhưng không, ông vẫn ngồi ghế đại biểu trong đại hội và khi các nhà văn đổ xô đi chụp ảnh với ông Tổng bí thư, ông chen bật đám đông, chiếm chỗ gần ông Nông Đức Mạnh nhất để được thu vào ống kính . Sau khi đã bị Trần Mạnh Hảo chửi như té nước vào mặt trên một số báo, người ta tưởng ông sẽ không thèm nhìn mặt, ngờ đâu giờ giải lao ông vẫn bá vai bá cổ và mời Trần Mạnh Hảo đi nhậu. Thật chẳng còn hiểu ra làm sao .

    Tuy nhiên, kết quả của Đại hội đại biểu Hội nhà văn lần thứ 7 thì có thể hiểu được một cách dễ dàng. Nó cũng như một buổi gặp mặt tổng kết 5 năm của một hội quần chúng của Đảng kiểu như Hội nuôi ong, Hội chim hoa cá cảnh vậy thôi.

    Phát biểu của các nhà văn dù là chính thống hay phi chính thống thì cũng theo gió mà bay lên trời cả. Mọi việc vẫn trôi theo kịch bản của ông…Vũ Như Cẫn, chiều hướng cơ bản của thời đại hiện nay.
    17-5-05
    NT

  12. #10
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 40 Times in 31 Posts

    Default Re: Chuyện xưa ... Nay mới nói ...

    .
    Hội nhà văn của nước ta
    Kỳ 1

    ĐẠI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM 7 ( 23/25-4-05) :

    “…Hội nhà văn của nước ta,
    mấy thằng chạy chức đi ra đi vào
    nghèo thì đậu phụ thuốc lào
    giàu thì rượu ngoại phong bao phải dày
    tiền tươi phải tới liền tay
    “Chấp hành”* một ghế nhận ngay khó gì …”
    (* Uỷ viên Ban chấp hành )

    Ngay trước ngày khai mạc Đại hội lần thứ 7 Hội nhà văn Việt Nam, dư luận trong giới cầm bút đã ì xèo chuyện “ chạy ghế” vào Ban chấp hành, chuyện “lật đổ” nhà thơ Hữu Thỉnh , người ngồi đã quá lâu trên ghế Tổng thư ký Hội, người xây dựng “bộ máy” cấp 1 ( cơ quan của Hội) và bộ máy cấp 2 ( báo chí, xuất bản, hãng phim, bảo tàng…) toàn bằng đồng hương Vĩnh Phú.

    Trên báo Công an nhân dân đã đăng công khai bài viết của nhà thơ Phạm Tiến Duật tố cáo Hữu Thỉnh “phạm pháp”, lộng quyền, ôm đồm, bao biện hết cả tiền của Đảng rót cho nhà văn. Ngay trong đại hội, cuộc “vận động hành lang” vẫn diễn ra náo nhiệt, nhà thơ Trần Ninh Hồ mất cả buổi trưa để vận động lão nhà văn Nguyễn Quang Sáng lên “ tham luận” yêu cầu Hữu Thỉnh từ chức, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo , Nguyễn Thuỵ Kha, nhà văn Trung Trung Đỉnh, Cao Tiến Lê…dáo dác khắp nơi mong kiếm được một vé vào Ban chấp hành. Và ngay trong đám các nhà văn Vĩnh Phú chia nhau các loại ghế ở Hội nhà văn, cũng không thống nhất thành một khối, trước đại hội cũng “uýnh” nhau lộn bậy khiến bà con lại có thơ rằng :

    “ Mấy thằng Vĩnh Phú đánh nhau
    Hữu Thỉnh vỡ đầu Tiến Duật sứt tai
    Văn Chinh chém mướn vòng ngoài
    Vĩnh Tuấn nổi cáu dở bài bọ hung
    Chung quy cũng tại vua Hùng…
    Đẻ ra một lũ vừa khùng
    vừa điên …”

    Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật, Văn Chinh, Trương Vĩnh Tuấn đều là người Vĩnh Phú, quan chức Hội nhà văn.Tuy nhiên, dù có chạy chọt đấu đá ra sao thì mọi mơ tưởng của mấy anh nhà văn đều hão huyền bởi lẽ vấn đề “nhân sự “ là do cấp trên quyết định đúng như lời ông Nguyễn Khoa Điềm, Trưởng ban tư tưởng văn hoá phát biểu tối ngày 22 tháng 4 trong cuộc họp giành riêng cho đảng viên :

    ” Uỷ viên chấp hành các đồng chí bầu ai thì bầu riêng Tổng thư ký phải để cho Đảng chỉ định…”.

    Và theo tinh thần chung cho các Hội, để giữ vững ổn định chính trị, tránh xáo trộn , tốt nhất là bầu ông Vũ Như Cẫn lãnh đạo , quả nhiên Đại hội đã “bầu ra” Tổng thư ký ( giờ đổi thành Chủ tịch) vẫn là Hữu Thỉnh, Phó Tổng thư ký ( tức Phó Chủ tịch) vẫn là Nguyễn Trí Huân – không có gì thay đổi.

    Đại hội lần thứ 7 diễn ra trong tình hình các nhà văn hầu hết đã được “thuần hoá”, đã trở thành “bé ngoan” của Đảng, bởi vậy Đảng không còn lo những tiếng nói “phản kháng”, “chống đối” cất lên từ diễn đàn đại hội.

    Duy nhất có nhà thơ đòi đa nguyên đa Đảng là Bùi Minh Quốc mới được tha “quản chế” thì lại bị “Đại hội cơ sở các nhà văn miền Đông Nam Bộ” không bỏ phiếu cho đi dự Đại hội toàn quốc. Tuy nhiên ông Bùi Minh Quốc vẫn bay ra Hà Nội đòi vào Hội trường Ba Đình trong lúc đại hội đang họp và bị công an mời ra vì không có …huy hiệu vào cửa vốn chỉ phát cho đại biểu chính thức. Không chùn bước, nhà thơ Bùi Minh Quốc lại kiện Ban tổ chức đã cho cả nhà phê bình Phạm Quang Trung ở Đà Lạt đi dự đại hội khi ông này đã bị khai trừ khỏi hội về tội tham ô, hơn nữa, nhà thơ Bùi Minh Quốc vẫn ứng cử vào Ban chấp hành dẫu không trúng nhưng vẫn đạt được hơn 100 phiếu bầu, qua đó cho thấy tỷ lệ “ủng hộ phản kháng” thầm trong bụng của các nhà văn Việt Nam là 20 phần trăm.

    Ngày đầu tiên 23 tháng 4, họp “nội bộ”, trong hầu hết những tham luận “tát nước theo mưa” đòi nhà văn đứng vững trên lập trường của Đảng, bỗng nảy nòi ra bài tham luận của nhà văn Hoàng Quốc Hải có tựa đề “ Nỗi niềm tác phẩm đỉnh cao”. Trước hết ông đưa ra thân phận cay đắng của nhà văn “đỉnh cao “ Vũ Trọng Phụng :

    “ Sinh thời ông chỉ ao ước :” Nếu ở đời có được cơm mà ăn no nhỉ ?” . Năm 27 tuổi ông qua đời vì bệnh lao phổi để lại một người con gái 2 tuổi và một đống tác phẩm. Không ít trong số mấy chục tác phẩm của ông đạt đỉnh cao thế giới.”
    Vậy mà những tác phẩm ấy bị vùi lấp trên nửa thế kỷ, không một lần được tái bản. Bởi một thời gian rất dài người ta vu cho ông là phần tử trốt kít (Trosky). Tới khi tác phẩm của ông được tái bản, chị Vũ thị Hằng , con gái ông đã ngoài 50 tuổi, chỉ dán mắt nhìn tác phẩm của cha mình trở thành tài sản chung của xã hội theo “luật bản quyền” mới ban hành..
    Chị Hằng và chồng chị đã đưa phần mộ của cha mình về ngôi vườn tại quê hương làng Mọc. Ngôi mộ được xây cất đàng hoàng, ốp đá cẩm thạch mà không có bất kỳ tài trợ nào từ Nhà nước và các hội đoàn. Sự thờ ơ đến bội bạc của đương thời và hậu thế khiến nhiều nhà văn nản lòng…”

    Nhưng đó là chuyện từ thời…tự lực văn đoàn, còn chuyện của Hội nhà văn 10 năm lại đây (1996-2005), ông Hoàng Quốc Hải nhận định :

    “ số lượng tác phẩm của các nhà văn phát hành không phải là ít nhưng không khuấy động được công chúng. Không khí văn học bình lặng như mặt nước ao thu. Khas nhiều tác phẩm “tốt” cả về nội dung lẫn nghệ thuật nhưng công chúng bạn đọc vẫn thờ ơ và đòi nền văn học phải có đỉnh cao. Đòi hỏi đó là nỗi bức xúc của công chúng trước hiện thực xã hội. Bởi soi vào tác phẩm văn học họ thấy hụt hẫng.”

    Độc giả đòi hỏi như vậy vì sao các nhà văn không đáp ứng được cho dù “ cái nền hiện thực xã hội trong mười năm gần đây , dư thừa chất liệu cho các nhà văn Việt Nam làm nên tác phẩm đỉnh cao. Đây là cơ hội , dù nó là cơ hội đem lại nhiều bất hạnh cho số đông nhưng nếu bỏ qua sẽ là một tiếc nuối , một ân hận…”

    Đúng là chưa bao giờ, xã hội cung cấp cho nhà văn nhiều chất liệu đến như thế này :

    “ Bức tranh xã hội đủ mầu sắc. Vui có, buồn có, bi thương có, âm mưu thủ đoạn có, tham nhũng hối lộ có, lừa đảo có, đểu cáng có, bất hiếu bất mục, bất nhân bất nghĩa…không thiếu một loại nào . Đặc biệt lũ cơ hội xuất hiện nhan nhản. Đó là những kẻ tiếm quyền hành để tước đoạt trắng trợn tài sản quốc gia , hối hả tich luỹ vốn liếng để mau chân chạy sang hàng ngũ tư bản. Và bây giờ chúng đang âm mưu rửa tiền để hợp thức hoá và công khai hoá số tài sản khổng lồ mà chúng chiếm đoạt bằng các thủ đoạn bất lương.

    Công chúng đòi hỏi nhà văn bằng ngòi bút và lương tâm của mình phải vạch mặt bọn chúng, “không cho chúng nó thoát”. Phải cho tái xuất hiện các gương mặt kiểu Nghị Quế, Nghị Hách, Xuân tóc đỏ, bà Phó Đoan, Bá Kiên, Chí Phèo …thời hiện đại”

    Những dòng văn mang đầy tính công tố và kết tội này được đọc giữa Hội trường Ba Đình, tiếc thay cử toạ lại là các nhà văn, ví thử là các đại biểu quốc hội – các ông nghị nổi tiếng “gật”, thì không biết các quý “đại biểu’ ấy sẽ phản ứng như thế nào ?

    Bức tranh hiện thực phong phú như vậy lại tuyệt nhiên không phản chiếu được vào tác phẩm, bởi thế “công chúng mới chối bỏ.”. Độc giả quay lưng lại với các tác phẩm văn học là “điều tệ hại nhất đối với nhà văn . Đó còn là dấu hiệu báo trước một nền văn học đang vững chắc bước vào giai đoạn suy thoái…”

    Nhận định này hoàn toàn đi ngược với Hội nhà văn trong Báo cáo tổng kết 5 năm nhiệm kỳ 6 do nhà thơ Hữu Thỉnh trình bày trong ngày khai mạc chính thức tại Hội trường Ba Đình ngày 24-4-05 với sự có mặt của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, nguyên Tổng bí thư Đõ Mười , Phan Diễn,Trưởng ban Bí thư trung ương :

    “ 5 năm qua văn học ta có thêm nhiều tác phẩm có giá trị về tất cả các thể loại . Mối quan tâm về hệ thống giá trị mới đang được xác lập , về đạo đức xã hội , về bảo vệ các giá trị truyền thống của dân tộc là những thông điệp thường gặp trong các tác phẩm văn học…”

    Rõ thật là trống đánh xuôi kèn thổi ngược…
    (còn tiếp)

  13. #11
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 40 Times in 31 Posts

    Default Re: Chuyện xưa ... Nay mới nói ...

    (tiếp theo)
    Hội nhà văn của nước ta..
    Kỳ 2

    ĐẠI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM 7 ( 23/25-4-05) :

    Chính “bóng tối” hiện đang bao phủ trên rất nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân đã che đậy tội lỗi cho những tên cán bộ tham nhũng và sa đoạ của Đảng và Nhà nước, giúp chúng lọt lưới trừng phạt của pháp luật và được hưởng đặc ân “xử lý nội bộ” vốn là một thủ đoạn ngạo mạn, ngồi xổm lên luật pháp.

    Minh bạch hoá từ việc nhỏ như tài sản của cán bộ cho tới việc lớn như chi tiêu ngân sách Nhà nước là bước khởi đầu đi tới một xã hội dân sự .

    Nhà văn Hoàng Quốc Hải đòi “minh bạch” ngay trong kiểm duyệt tác phẩm :

    Chúng ta đang sống trong một xã hội công dân , đòi hỏi mọi sự phải giải quyết minh bạch. Vì vậy những tác phẩm bị kiểm duyệt toàn bộ hoặc kiểm duyệt một phần cần được công bố công khai . Và nói rõ tác giả đã vi phạm những điều nào , điều nào theo luật định. Nếu tác giả không chấp thuận, họ có quyền khiếu nại việc đó ra toà dân sự…”

    Từ xưa tới nay, việc “chôn” một cuốn sách chỉ được thực hiện qua một cú phôn của một sếp lớn Ban tuyên huấn hoặc Cục an ninh văn hoá hoặc ở mãi trên thượng đẳng thiên tào Bộ chính trị của Đảng. Toàn bộ tác phẩm của Vũ Trọng Phụng bị cấm trong liền ba bốn thập kỷ là do lệnh miệng của ông Hoàng văn Hoan, Uỷ viên Bộ chính trị do nghe mấy anh quân sư quạt mo tán rằng Vũ Trọng Phụng nói xấu bố ông ta vốn là…ký ga.

    Từ những tác phẩm “Vào đời” của Hà Minh Tuân, “Đống rác cũ “ của Nguyễn Công Hoan , “Sắp cưới” của Vũ Bão….đến “ Người con của đất” của Đỗ Văn Bàn, thơ “Chân dung” của Xuân Sách, “ Chuyện kể năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn…tất cả đều bị chôn trong kho làm mồi cho mối hoặc xay thành bột giấy đều không do một quyết định thành văn nào hết, tất cả đều thực hiện trong “bóng tối” bằng những “ý kiến anh này”,” ý kiến anh kia” mà tuyệt nhiên chẳng “anh”nào chường mặt ra nhận lấy trách nhiệm chôn sách, xay sách.

    Phép nước, luật đảng từ xưa tới nay và cả mai sau đã định như thế rồi, bởi vậy đề nghị của ông Hoàng Quốc Hải ngay tại diễn đàn công khai của Hội nhà văn khác nào một phạm thượng láo xược làm sao mà lọt được vào tai của đảng ? Tuy nhiên, ông cũng phải ngậm ngùi thừa nhận rằng muốn có tác phẩm đỉnh cao nhà văn phải “có tài năng lớn”,”trí tuệ siêu việt”,” nhân cách cao thượng”…những cái đó các nhà văn đều có cả, chỉ tiếc Thượng đế ban cho họ hơi bị…ít.

    Một tham luận khác gây sôi nổi ở hội trường là của nhà thơ Trần Mạnh Hảo. Lâu nay ông này mang tiếng là “đầu gấu”, “gác chợ”, “cảnh sát văn nghệ của Đảng “ giờ bỗng dưng lại giở giọng “cấu Đảng” là sao ?

    Nguyên là ông Tổng thư ký Hữu Thỉnh trong lúc làm công tác chuẩn bị đại hội nảy ra ý định có một tham luận có chút chút “đổi mới” cho có khí thế, kiểu như cắt thêm mấy lát ớt vào bát phở cho cay cay, ngon miệng, bèn điện vào Sàigòn nhờ cậy Trần Mạnh Hảo vốn là anh nói xuôi cũng được mà nói ngược cũng OK.

    Nào ngờ bấy lâu nay bị thiên hạ chửi là “đồ trở cờ, quân bảo thủ” đến rát cả mặt, Trần Mạnh Hảo muốn lợi dụng dịp này tỏ cho thiên hạ thấy ta đây cũng “phản kháng” lắm đây, chứ chẳng như mấy thằng thối mồm kia đâu. Thế là nhảy lên diễn đàn đại hội, Trần Mạnh Hảo diễn vai “đối lập”. Anh ca ngợi vua Tự Đức ngày xưa “ không vì một câu thơ khi quân trong truyện Kiều mà ra lệnh đốt hết sách Nguyễn Du” và mượn xưa nói nay, Trần Mạnh Hảo thống thiết :

    Oi, giá mà thời nay có được vài ông vua như Tự Đức thì mấy cuốn sách hiền như bụt kiểu “ Thượng đế thì cười” của Nguyễn Khải, “ Chuyện kể năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn, “Đi tìm nhân vật” của Tạ Duy Anh…dù lục lọi mỏi tay, tìm bới mỏi mắt cũng chẳng thấy câu văn khi quân nào , đã không phải ném vào máy nghiền để thành bột giấy….”

    So sánh vậy khác nào Trần Mạnh Hảo ca cẩm đảng ngày nay còn tàn ác hơn cả vua chúa phong kiến ngày xưa. Tiếp đó anh cho rằng “thi sĩ chính là Thượng đế là ông chủ của vũ trụ thi hứng, phải ứng xử như đấng toàn năng với nguyên tắc bất di bất dịch “ Dọc ngang nào biết trên đầu có ai…”…tuyệt nhiên không được phép để một ám ảnh sợ hãi nào quấy nhiễu mình “

    Ay thế mà anh nhà văn lại :

    còn phải day dứt viết thế này, viết thế nọ mới được duyệt in; rằng đang có bao nhiêu đôi mắt soi mói vô hình kiểm duyệt anh từ xa ví như viết xong một câu văn là cứ phải mắc bệnh tương tư , nhớ đến anh Khổng Minh Dụ ( Cục trưởng Cục an ninh văn hoá), anh Đỗ Kim Cuông ( Vụ trưởng Vụ văn nghệ), anh Trinh Đình Khôi, anh Nguyễn Đình Nhã, anh Vũ Duy Thông , nhớ mấy anh canh cửa phê bình, nhớ anh giám đốc duyệt bài, anh biên tập viên cầm hai tay hai cái kéo , nhớ anh duyệt lưu chiểu hồi này với máy dò câu chữ nghe đồn còn kỹ hơn máy dò hành lý hải quan, thì than ôi, bằng ấy cơ chế kiểm duyệt đè nặng lên tâm lý sáng tạo của anh, nên vừa viết vừa run như thế, nghĩa là anh vừa viết vừa tự thiến đứa con tinh thần của mình, cho nên khi ra đời nó không được có cơ hội cuồng lên vì phát dục , xoá hết bản năng sinh tồn bùng sôi của nó đi , đẽo gọt chân nó sao cho vừa với đôi giày “chính trị” đi, thì nhà văn ơi, tự do sáng tác ơi, ta chào mi…”

    Càng nghe Trần Mạnh Hảo tham luận, người ta càng ngạc nhiên như thấy lại một Trần Mạnh Hảo “ly thân” với Đảng ngày trước :

    Quá nhiều cơ quan và nhiều cá nhân quyết định sự sống còn của ngòi bút theo kiểu nhiều cha con khó lấy chồng. Quá nhiều người gác cửa , có thể bất cứ lúc nào vui thì cho anh qua, buồn thì giữ anh lại khám xét , lục vấn, xử lý cấm cản tuỳ tiện vô nguyên tắc như từng thô bạo xử lý bao nhiêu nhà văn, bao nhiêu tác phẩm chết oan vì vừa ra đời đã bị bóp mũi…”

    Kết tội thẳng thừng chế độ kiểm duyệt của Đảng và Nhà nước đến như Trần Mạnh Hảo thì xưa nay chưa nhà văn nào làm được ngay trên diễn đàn đại hội chính thức của nhà văn Việt nam :

    Với cơ chế luật pháp lằng nhằng , cấm thì bảo cấm, thu hồi thì bảo thu hồi, kiểm duyệt thì bảo kiểm duyệt y như thời Tây đi một nhẽ thì nhà văn sẽ mừng vô cùng. Nhưng đảng ta bảo chế độ ta tự do báo chí, tự do sáng tác không kiểm duyệt mà khi thực hiện thì than ôi, ai có qua cầu mới biết, gò bó cấm cản muôn phương…”

    Vậy là về tự do báo chí, tự do sáng tác, đảng chỉ nói mồm, còn trong thực tế…”gò bó cấm cản muôn phương” - câu này nếu được trích dẫn trong báo cáo nhân quyền hàng năm của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ thì còn lâu Việt Nam mới được đưa ra khỏi danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt.

    Đã chê Đảng “cấm cản” báo chí và sáng tác, Trần Mạnh Hảo lại khen khéo thời Tây ngày xưa :

    Thời Tây, nước ta mất, dân ta nhục, Tây nó bảo tao không cho mày tự do sáng tác, tự do báo chí , tao kiểm duyệt rõ ràng đây này ; luật nó khiếp hãi , gian ác là vậy mà dân ta xin nó ra báo tư, xuất bản tư thằng tây nó cho liền, anh này ra báo tư, anh kia ra xuất bản tư, mừng quá. Thời mặt trận Bình dân nó còn cho cả báo chí , xuất bản của đảng cộng sản ra công khai, mới có hàng loạt tiểu thuyết lớn xuất hiện , tố cáo chính chế độ gian ác , phản tự do, phản dân chủ của nó…”

    Và Trần Mạnh Hảo giở giọng khích bác :

    Mà thằng Tây gian ác cũng lạ, sách ra, có nhẽ nó cóc đọc được tiếng Việt nên nó cóc có cấm, cóc có Ban tư tưởng, cóc có A25. cóc có hàng chục cơ quan, hàng trăm người có thể thò tay thò chân vào nắn nắn từng con chữ như chế độ độc lập tự do bây giờ. Trong thời Tây nô lệ muôn vàn, gian ác muôn vàn, không hiểu các bố nhà văn ta hồi ấy lấy tự do sáng tác ở đâu ra mà sinh bao kiệt tác :” Số đỏ, Chí Phèo, Tắt đèn, Kép Tư Bền, Bỉ vỏ, Vang bóng một thời, “thơ mới 1932-1945”…truyền tới hôm nay….”

    Đến đây, người ta thấy Trần Mạnh Hảo không còn chỉ cắt vài lát ớt mà đã đổ nguyên cả lọ tương ớt vào “ bát phở” của Đại hội nhà văn lần thứ 7.

    (còn nữa)

  14. #12
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    45
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

  15. #13
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    45
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

  16. #14
    Join Date
    Jul 2014
    Posts
    45
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

  17. #15
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 40 Times in 31 Posts

    Default Re: Chuyện xưa ... Nay mới nói ...

    (tiếp theo và hết)
    Hội nhà văn của nước ta
    kỳ 3

    NHÂN ĐẠI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM 7 ( 23/25-4-05) :

    “ Mượn gió bẻ măng”, mượn lời mời chính thức của Tổng thư ký Hội nhà văn Hữu Thỉnh chính thức mời viết tham luận, Trần Manh Hảo hăng lên yêu cầu :

    Những nhà quản lý văn học nghệ thuật của chúng ta hôm nay cần phải học được lối ứng xử với nhà văn không hơn được thì ít ra cũng bằng với ông cha, mới hy vọng có tác phẩm lớn. Xin thực hiện đúng cương lĩnh “ TỰ DO SÁNG TÁC” của Đảng và Nhà nước vẫn ban hành , xin bớt bớt giùm đi các cấp trung gian , quan tâm tới nhà văn vượt mức các chỉ tiêu trên giao thì quý hoá biết là chừng nào…”

    Chỗ này người ta thấy rõ TMH xỏ xiên, vu cho Đảng là có cương lĩnh “TỰ DO SÁNG TÁC”; thực ra chưa bao giờ Đảng cho văn nghệ sĩ cái của quý hiếm ấy cả, Đảng chỉ cho họ cái quyền “tự do sáng tác” theo…định hướng xã hội chủ nghĩa mà thôi nói vắn tắt là chỉ được phép viết những gì “có lợi” cho sự ổn định chính trị của Đảng .

    Bài tham luận của Trần Mạnh Hảo được đọc theo lối “diễn tuồng” giọng trầm giọng bổng khiến đại biểu vỗ tay ào ào và làm ông Tổng thư ký hội Hữu Thỉnh ngồi trên ghế Chủ tịch đoàn cứ giật mình thon thót. Ong nhớ lại lời một vị trong Ban tuyên huấn thành uỷ TP Hồ Chí Minh khi Trần Mạnh Hảo “quay cờ” bán hải ngoại trở về với Đảng “:” ...chúng tôi đã có kinh nghiệm về những tên “sọc dưa”, không thể tin được bọn chúng…”. Chí lý thật, cứ tưởng TMH đã trở thành “con đê chắn sóng cho Đảng”, thành người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá văn nghệ, ngờ đâu nhè đúng ngay diễn đàn Đại hội nhà văn để mà “trở mặt” cấu Đảng mới gay.

    Quả nhiên ngay buổi chiều tan họp, ông Đào Duy Quát, Phó ban tư tưởng văn hoá đã tới gặp Tổng thư ký uốn nắn : ”Ông Thỉnh, ông làm gì mà ghê thế ? Ngày mai Tổng bí thư tới dự họp các ông phải liệu liệu…”. Tất nhiên ông Hữu Thỉnh phải vâng dạ rối rít và hôm sau , ngày Đại hội họp chính thức, có Tổng bí thư và cả 6 ông Uỷ viên Bộ chính trị tới dự, ông đã bố trí hàng loạt tham luận của các nhà văn “cháu ngoan bác Hồ” nhằm gỡ tội đã để lọt hai tham luận của Hoàng Quốc Hải và Trần Mạnh Hảo làm bẽ mặt các quan.

    Trước hết nhà văn cao tuổi Nguyễn Gia Nùng lên diễn đàn phê phán hai bài tham luận của hai ông Hải và Hảo chỉ nói tới “tự do sáng tạo” mà quên đi “trách nhiệm công dân”. Ông yêu cầu “tự do” và “trách nhiệm” là hai thứ phải luôn song hành, tất nhiên phải hiểu đó là trách nhiệm với Đảng.

    Nữ thi sĩ đồng bằng sông Cửu Long tên là Kim Quyên lên tham luận nhiệt liệt ca ngợi…”sếp” Hữu Thỉnh bay ra bay vào như một cánh chim không mỏi để khuấy lên “phong trào sáng tác “ ở miền Nam.

    Nữ thi sĩ TP Hồ Chí Minh tên là Thu Nguyệt cũng bày tỏ sự không đồng tình với các tác phẩm đi sâu vào mặt trái của xã hội bằng đưa ra cái mẹo “đau Nam chữa Bắc”, tức nhà văn không nên đi thẳng vào các chuyện “ tham nhũng, thiên tai lũ lụt, lớp trẻ sa đà ăn chơi…” mà chỉ nên viết về những cái đạo lý cao cả như một anh nhà văn công an không viết về tội phạm mà lại chỉ chuyên viết về…Phật. .

    Nữ văn sĩ cũng TP Hồ Chí Minh tên là Trầm Hương cũng lên diễn đàn đòi : ” Tôi muốn viết “ Hoa cúc kim” – một tiểu thuyết về người phụ nữ cải nam trang trốn sang Trung Quốc dự khoá học do bắc Hồ đào tạo. Tôi muốn viết bộ tiểu thuyết sử thi về Mậu Thân 1968 đầy bi tráng…”.

    Các đại biểu nhà văn Nam bộ – trong đó có cả ông Giám đốc khách sạn kiêm nhà văn Lê Thành Chơn chẳng những “gỡ tội” cho sếp Hữu Thỉnh mà còn vinh danh Hội nhà văn đòi đuổi ra khỏi đại hội kẻ nào đã bêu xấu Hội trong thời gian qua (ám chỉ nhà văn Nguyễn Huy Thiệp) làm các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng ngồi nghe cứ rạng rỡ cả mặt mày .

    Tuy nhiên không phải nhà văn nào cũng vỗ tay khen bài tham luận của Trần Mạnh Hảo, nhất là những người hiểu rõ bản chất “thợ quay” của nhà thơ. Trong bữa ăn ở Đại hội, nhà văn Thái Bá Lợi , đại biểu Đà Nẵng nhận xét : ” Thằng Hảo nó …chửi mồi”. Cuối buổi chiều ngày thứ hai, lợi dụng không khí đại hội chán nản phải nghe những tham luận “ ca ngợi truyền thống văn học cách mạng”, nhà văn kiêm điện ảnh Đỗ Minh Tuấn nhảy lên diễn đàn vạch mặt cơ hội chủ nghĩa của Trần Mạnh Hảo :

    ” Đó là một nhân vật điển hình cho kiểu lý luận đầu cơ trên lẽ phải thông thường, quy giản các quan hệ văn hoá học thuật thành quan hệ chính trị và đạo đức để quy chụp nặng nề những người có cách viết khác với những gì được anh ta coi là bút pháp chính thống. Từ năm 1995 đến nay, Trần Mạnh Hảo đã viết nhiều bài xuyên tạc, bóp méo, bôi bẩn, quy kết đạo đức chính trị hàng loạt tác phẩm có tìm tòi về thi pháp như các tập thơ Mùa sạch của Trần Dần, Bóng chữ của Lê Đạt, 99 tình khúc của Hoàng Cầm, Người đi tìm mặt của Hoàng Hưng, Sự mất ngủ của lửa của Nguyễn Quang Thiều, tiểu thuyết Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà…Cái cách phê bình kiểu Trần Mạnh Hảo và sự o bế của những người lãnh đạo văn hoá văn nghệ đã biến anh ta trở thành một vấn đề xã hội bức xúc trong giới cầm bút vì nó đã gián tiếp hạn chế tự do sáng tác một cách tinh vi và có hiệu quả khi nó tạo ra một môi trường văn hoá phê bình cộng sinh giữa những thái độ chính trị văn hoá bảo thủ thâm sâu và cái suồng sã hồn nhiên trơ tráo của một thứ văn chương cai lệ.

    Nếu như cây roi của các nhà chính trị bảo thủ trước đây chỉ quất vào mông văn nghệ sĩ như Tự Đức đòi đánh đòn Nguyễn Du, thì ngọn roi của Trần Mạnh Hảo lại quất vào tim những người cầm bút. Nằm trong chăn biết chăn có rận, là nhà thơ có chút tinh tế, tài hoa, sắc sảo, Trần Mạnh Hảo đã đem những phẩm chất thi nhân của mình len lỏi vào thâm cung chữ nghĩa trong tâm hồn người viết để thăm dò, tâu báo và khủng bố. Những người cầm bút phải dành thời gian tâm trí cho việc thanh minh, tự vệ truy lại thanh danh đã bị bôi bẩn và vì thế không còn tâm trí nghĩ về những chuyện lớn lao có tầm vóc toàn xã hội như tự do, dân chủ. Trần Mạnh Hảo là kẻ cướp đi nhiều tự do sáng tác của nhà văn, là cái roi ai đó đã dùng quất vào tâm hồn trí tuệ tự do của người nghệ sĩ, nay bỗng dưng anh ta lại la lối kêu ca về tự do sáng tác có khác nào vừa ăn cướp vừa la làng, đổ vấy tội lỗi của mình cho ai đó. Thật chẳng khác gì Chí Phèo lại có ngày la làng chửi bới những kẻ du côn đái vào miếu Thành Hoàng.

    Trần Mạnh Hảo nói rằng văn nghệ sĩ là những người thấp cổ bé họng trong xã hội mà lẽ ra họ phải là Thượng đế trong chân trời sáng tạo của mình, nhưng hỡi ôi, trước đó không lâu cái kẻ văn nhân thấp cổ bé họng đó đã bị “anh gác chợ” Trần Mạnh Hảo cậy quyền cậy thế hoạnh hoẹ, lục soát văn thơ, sờ nắn khám xét từng dòng chữ, từng dấu phẩy để đong đếm từng tiếng cười tiếng khóc mà tri hô với Đảng về tư cách khả nghi của họ. Sau khi dùng những bài viết thô bạo và nguỵ biện để cướp đoạt được miếng đất tự do sáng tác, Trần Mạnh Hảo lại lớn tiếng bảo vệ miếng đất anh ta vừa cướp được, đó là cái cách thể hiện chủ quyền công khai để phi tang những hành vi cướp đoạt, tiến tới làm “sổ đỏ” cho miếng đất “bốn mặt tiền” anh ta có được sau ba lần trở cờ trắng trợn. Trên diễn đàn Đại hội, Trần Mạnh Hảo cũng phi tang việc anh ta sử dụng báo chí của công an làm nơi khủng bố văn nghệ sĩ bằng việc la lối về công an văn hoá khiến ông Khổng Minh Dụ phải bước lên trên bục để thanh minh….”

    Nhận định khái quát của Đỗ Minh Tuấn về Trần Mạnh Hảo đã được anh em bầu là câu nói hay nhất đại hội :” Trần Mạnh Hảo là cái ca-pôt rách của Đảng, giữ vệ sinh cho Đảng trong quá trình giao lưu văn hoá làm bạn với tất cả thế gian.”.

    Tuy nhiên nhân vật gây cười nhất cho đại hội lại là …nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Sau khi đã chửi cha cả Hội nhà văn, người ta cứ tưởng ông sẽ nhổ bọt mà đi chỗ khác chơi, nào ngờ ông vẫn hớn hở đến dự đại hội. Sau khi một số nhà văn miền Nam đòi đuổi kẻ đã “bêu xấu Hội nhà văn” ra khỏi đại hội, người ta cứ tưởng ông sẽ đùng đùng bỏ đi, nhưng không, ông vẫn ngồi ghế đại biểu trong đại hội và khi các nhà văn đổ xô đi chụp ảnh với ông Tổng bí thư, ông chen bật đám đông, chiếm chỗ gần ông Nông Đức Mạnh nhất để được thu vào ống kính . Sau khi đã bị Trần Mạnh Hảo chửi như té nước vào mặt trên một số báo, người ta tưởng ông sẽ không thèm nhìn mặt, ngờ đâu giờ giải lao ông vẫn bá vai bá cổ và mời Trần Mạnh Hảo đi nhậu. Thật chẳng còn hiểu ra làm sao .

    Tuy nhiên, kết quả của Đại hội đại biểu Hội nhà văn lần thứ 7 thì có thể hiểu được một cách dễ dàng. Nó cũng như một buổi gặp mặt tổng kết 5 năm của một hội quần chúng của Đảng kiểu như Hội nuôi ong, Hội chim hoa cá cảnh vậy thôi. Phát biểu của các nhà văn dù là chính thống hay phi chính thống thì cũng theo gió mà bay lên trời cả. Mọi việc vẫn trôi theo kịch bản của ông…Vũ Như Cẫn, chiều hướng cơ bản của thời đại hiện nay.
    17-5-05
    NT

  18. #16
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 40 Times in 31 Posts

    Default Re: Chuyện xưa ... Nay mới nói ...

    .

    Cơn ông chưa qua, cơn bà đã tới…

    ( Nhân trả lời phỏng vấn về Giải thưởng Hội nhà văn 2006 của ông Nguyễn Trí Huân, Chủ tịch Hội đồng Giải thưởng in trên báo Văn Nghệ ngày 4 tháng 11 năm 2006)

    Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam gây tai tiếng ầm ĩ khi ông Chủ tịch Hội Hữu Thỉnh “ tự trao” giải thưởng cao nhất cho mình với tập thơ “ Thương lượng với thời gian” , đáng ghi vào Guiness Việt Nam với cú hattrict 4 lần được giải thưởng của Hội. Tiếp đó báo chí lại ầm ĩ lên vụ Ly Hoàng Ly và Thuận từ chối tặng thưởng trao cho mình.

    Để gỡ thể diện cho “sếp”, trả lời câu hỏi của phóng viên :

    Có một số ý kiến xung quanh tập thơ “ Thương lượng với thời gian” của nhà thơ Hữu Thỉnh. Theo quan điểm của ông. Ông đánh giá thế nào về việc này?”

    ông Nguyễn Trí Huân vờ như không nghe không biết gì - vốn là “võ ruột” của các quan chức Việt Nam, bởi vậy ông :

    “ … rất ngạc nhiên trước những ý kiến trên một số tờ báo về tập thơ này. Hình như tác giả của các bài báo kể trên chưa hiểu hết về quy trình xét giải thưởng của Hội dẫn đến một số ý kiến chưa đúng , đôi khi nặng nề về tập thơ “Thương lượng với thời gian và cá nhân nhà thơ Hữu Thình …”

    Vậy “quy trình xét giải thưởng của Hội” lắt léo, phức tạp đến mức nào , liệu có bằng giải Goncourt, Nobel không mà các nhà văn, nhà báo không nắm được để đến nỗi “viết oan” cho ông Chủ tịch Hội ?

    Ông Nguyễn Trí Huân sáng kiến dùng con bài “ngoại phạm” để “chạy tai tiếng” cho “thủ trưởng “ :

    Về quy chế , tác giả có tác phẩm dự giải nếu là thành viên của Hội đồng giải thưởng thì không được thảo luận và bỏ phiếu cho mình…Nhưng để tôn trọng tính khách quan của Hội đồng, nhà thơ Hữu Thỉnh đã xin phép Ban chấp hành không tham gia Hội đồng vì có tác phẩm dự giải…và nhà thơ Hữu Thỉnh cũng không có mặt ở Trụ sở Hội khi Hội đồng giải thưởng Họp phiên cuối…”

    Ong Nguyễn Trí Huân coi độc giả như con nít khi cho rằng cứ rút khỏi Hội đồng xét giải là ông Hữu Thỉnh không còn giật dây bất kỳ con rối nào nằm trong Hội đồng. Nếu vậy, để tăng thêm tính cách “ngoại phạm” của Hữu Thỉnh, sao ông Chủ tịch không tổ chức họp Hội đồng ở khách sạn Daewoo để ông Chủ tịch Hội cứ ngồi ở trụ sở Hội cho thêm phần “khách quan”. ?

    Ong Nguyễn Trí Huân cố tình tảng lờ làm như không biết rằng trong thời đại IT ông Hữu Thỉnh thừa sức có cái remote điều khiển từ xa bất kỳ thuộc cấp nào, rằng dẫu ông Chủ tịch Hội không có chân trong Hội đồng Giải, ngày Hội đồng họp phiên cuối ở trụ sở Hội nhà văn, ông có đi công cán tận xứ Mèo trên Tây Bắc chăng nữa thì ông vẫn có mặt trong từng vị Uỷ viên Hội đồng vì cái ghế, vì quyền lợi, vì bổng lộc của từng quý vị có còn được hưởng nữa hay không là phụ thuộc vào …cái cổ của từng vị có chịu “gật” cho ông Chủ tịch Hội được trao giải hay là không ?

    Mà cái miếng bánh “quyền lợi” ấy gấp vô số lần nhuận bút xưa nay vốn rất hẻo của các nhà văn . Nào đi Thái Lan, Mông Cổ, Trung Quốc, Rumani, Ba Lan…nào trại sáng tác Tam Đảo, Nha Trang, Đà lạt, Vũng Tàu…Nào tiền tài trợ sáng tác dài hạn, ngắn hạn…Bởi vậy một khi đã được trên để mắt chọn ngồi vào cái ghế Uỷ viên Hội đồng giải thưởng thì không một anh chị nào dại dột mà ‘trái ý’ cấp trên. Bởi thế người ta không lấy gì làm ngạc nhiên khi ông Nguyễn Trí Huân khoe khoang :

    Trong quá trình thảo luận , hầu hết các thành viên của Hội đồng chung khảo đều đánh giá tập thơ “ Thương lượng với thời gian”là một tập thơ có đóng góp trong mặt bằng thơ hiện nay và tập thơ đã đạt số phiếu cao nhất của Hội đồng chung khảo…”

    Ong Nguyễn Trí Huân cứ tưởng rằng một khi ngồi ở cái ghế cao như ông thì ông nói hươu nói vượn gì độc giả cũng phải tin ông đến sái cổ, ông đâu biết càng bênh ông Hữu Thỉnh theo kiểu đó lại càng vạch bộ mặt hèn nhát, xôi thịt của toàn Ban chấp hành Hội nhà văn và Hội đồng giải thưởng ra mà thôi. Cái mà ông Nguyễn Trí Huân tôn vinh là “ tập thơ có đóng góp trong mặt bằng thơ hiện nay” thực ra là một tập thơ rất dở. Cứ lấy ngay bài “Thương lượng với thời gian” tiêu biểu cho cả tập :

    Buổi sáng lo kiếm sống
    Buổi chiều tìm công danh
    Buổi tối đem trí khôn ra mài rũa
    Tỉnh thức
    Những hàng cây bật khóc
    10-2005

    Trước hết có thể thấy ngay ông Hữu Thỉnh đã lập ý “mạ” theo câu đố của con Nhân Sư trong thần thoại Hi Lạp, rằng :

    “Con gì : Buổi sáng đi bốn chân/ Buổi trưa đi hai chân/ Buổi chiều đi ba chân ?” . Và thực ra câu kết “ những hàng cây bật khóc” chẳng liên quan gì đến chuyện :” kiếm sống”, ”công danh”, “mài rũa trí khôn” cả. Bài thơ vừa thiếu chặt chẽ lại vừa chẳng có hồn vía gì. Đọc suốt cả tập thơ thấy cứ nhàng nhàng như thế, chẳng nhặt ra được câu thơ nào thật xuất sắc đúng như nhà văn Nguyễn Quang Thân đã viết trên báo Lao động cuối tuần :

    “Công bằng mà nói, thơ ông ( Hữu Thỉnh) tuy có lần bị nhà văn Tô Hoài chê là đồng nát nhưng cũng không đến nỗi dở, cứ gọi là đọc được, cấp dưới yêu ông thì bảo là "hay" cũng chẳng ai dám cãi, văn chương vốn khẩu chứng vô bằng. Nhưng dù thơ hay thật đi nữa ông cũng nên biết mẹ hát mà các con khen đến 4 lần thì cũng hơi nhiều…”

    Kể ra nếu “ Thương lượng với thời gian” của Hữu Thỉnh là tập thơ hay ( chưa dám đòi tới xuất sắc) thì ông Phó Nguyễn Trí Huân có thể dõng dạc trả lời thiên hạ :

    Nhà thơ Hữu Thỉnh cho dù là Chủ tịch Hội , là người đã được nhiều giải thưởng ở các tập thơ trước thì ông vẫn có quyền bình đẳng như bất cứ hội viên nào của Hội nhà văn trong lĩnh vực tham dự và nhận giải thưởng…”

    Đúng quá rồi, nếu thơ Hữu Thỉnh như “thần Siêu thánh Quát” thì ai dám tranh với ông làm gì, đằng này thơ ông như “ câu thơ thi xã….con thuyền Nghệ An” mà lại cậy chức cậy quyền ăn hết cả “phần thưởng” thiên hạ thì mới thành chuyện. Chỉ một lẽ đơn giản vậy thôi ông Nguyễn Trí Huân càng bênh “sếp” bao nhiêu càng lộ mặt tham lam của ‘sếp” bấy nhiêu.

    “ Cơn ông chưa qua, cơn bà đã tới…”, tai tiếng vụ giành tới 4 lần giải thưởng thơ ở Hội nhà văn chưa tan đi thì ông Hữu Thỉnh lại bị một số website văn học trong nước và hải ngoại tố cáo …ăn cắp thơ . Nguyên là trên mạng Vietnam net ngày 9 tháng 11 năm 2006, ông Đại Lãng Du Tử có phát hiện ra bài thơ “Thượng đế đã làm ra mặt trời” của nữ nhà thơ Đức Christa Reinig (sinh năm 1926) :

    Tôi gọi gió
    Gió hãy trả lời tôi
    Gió nói
    Tôi ở bên em.

    Tôi gọi mặt trời
    Mặt trời hãy trả lời tôi.
    Mặt trời nói
    Tôi ở bên em.

    Tôi gọi các vì sao,
    Xin hãy trả lời tôi
    Các vì sao nói
    Chúng tôi ở bên em.

    Tôi gọi con người,
    Xin hãy trả lời tôi
    Tôi gọi - im lặng
    Không ai trả lời tôi.

    Quang Chiến dịch

    rất giống một bài có thể gọi là phỏng dịch của nhà thơ Hữu Thỉnh, đó là bài :

    Hỏi
    Tôi hỏi đất: Đất sống với đất như thế nào?
    - Chúng tôi tôn cao nhau.

    Tôi hỏi nước: Nước sống với nước như thế nào?
    - Chúng tôi làm đầy nhau.

    Tôi hỏi cỏ: Cỏ sống với cỏ như thế nào?
    - Chúng tôi đan vào nhau làm nên những chân trời.

    Tôi hỏi người:
    - Người sống với người như thế nào
    ?

    Thực ra bài thơ trên được nhà thơ Hữu Thỉnh công bố do ông sáng tác in trong tập thơ “Thư mùa đông” đã được giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam và giải thưởng văn học Vua Thái Lan – 1000 USD và được đưa cả vào “Tuyển thơ Việt Nam thế kỷ XX”, được báo chí khen nức nở.

    Tiếc thay, bài “HỎI” được Hữu Thỉnh công bố sáng tác vào sau năm 1975 còn bài “Thượng đế đã làm ra mặt trời” của nữ thi sĩ Đức Christa Reinig lại in mãi từ năm …1963, vậy có thể chắc chắn nữ thi sĩ người Đức không thể ăn cắp thơ của ông nhà thơ Việt Nam mà ngược lại chính Ngài Chủ tịch Hội nhà văn Hữu Thỉnh đã đạo thơ của nữ thi sĩ Đức.

    Mặc dầu công luận đòi hỏi làm rõ chuyện “đạo thơ” này nhưng có thể biết trước nó sẽ bị chìm xuồng bởi lẽ cho tới tận bây giờ Đảng vẫn chưa tìm được anh quan văn nào chia cái bánh của Đảng nuôi các nhà văn Việt Nam khéo và ít khiếu kiện như nhà thơ Hữu Thỉnh. Vì lẽ đó, năm nay mặc dù mắc “hạn tam tai” - đầu năm bị Võ Văn Trực vạch mặt trong cuốn “ Vết sẹo và Cái đầu hói “, gần cuối năm tai tiếng “tự trao giải thưởng” cho tập thơ ” của mình, chắc chắn ông Hữu Thỉnh vẫn yên vị trên ghế Chủ tịch Hội dài dài…
    TRẦN KINH BẮC

  19. #17
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 40 Times in 31 Posts

    Default Re: Chuyện xưa ... Nay mới nói ...

    .
    Nhà văn thời …”đồ đểu”.

    Nhân Hội nghị toàn quốc những người viết văn trẻ lần thứ VII tại Hội An (từ 12-5 đến 15-5-06)

    Quả thật , nghĩ mãi không tìm đâu ra hai chữ khác thay cho từ “đồ đểu” để chỉ đặc điểm của cái thời đại đã sinh ra thế hệ các nhà văn trẻ này.

    Ngày 11 tháng 5, ngay trước ngày khai mạc Hội nghị toàn quốc những người viết văn trẻ lần thứ VII, máy điện thoại di động của số đông các nhà văn “già” đều nhận được một tin nhắn do một kẻ nào đó, giấu mặt “dội bom” :

    các hội viên đều có tác phẩm, mỗi mình PTVA (không viết tắt) là không. Nó thích quyền lực, danh vọng vì nó là con thằng CLV (không viết tắt).. Hãy nhìn con điếm kìa. Thật đáng thương…”

    Trong lúc đó , nhà văn Phan Thị Vàng Anh - thành viên Ban tổ chức – đang trực ngay cửa lễ tân khách sạn Hoài Thành đường Lý Thường Kiệt, thị xã Hội An (Quảng Nam). Ai vào Vàng Anh cũng ngó vào danh sách, rồi kéo tay đến nhận phòng, thỉnh thoảng lại ới trong điện thoại: “Cứ đứng im đấy, sẽ có xe đến đón!”.

    Danh sách gút lại gần 150 người trong đó cây bút trẻ chính thức chỉ có 77 người, còn lại là…ăn theo. Tiêu chuẩn để chọn đại biểu dự hội nghị lần này là các cây bút trẻ dưới 35 tuổi, các hội viên Hội Nhà văn dưới 40 tuổi. Có hai hình thức chọn đi dự Hội nghị : cử và mời. Trong số đại biểu chính thức, có 10 đại biểu được cử, còn lại là đại biểu được mời.

    Theo lời ông Chủ tịch Hội Hữu Thỉnh đọc diễn văn khai mạc thì :

    “ Mục đích chính của hội nghị là bồi dưỡng đội ngũ văn học kế cận, tạo cơ hội giao lưu nghề nghiệp, tạo diễn đàn cho các nhà văn trẻ trao đổi kinh nghiệm và tìm hiểu thực tế” .

    Bởi vậy , tuy gọi là Hội nghị, nhưng như nhà văn Võ thị Xuân Hà, Phó ban sáng tác trẻ cho biết :

    cố gắng hạn chế tối đa phong cách "nghị sự" với quá nhiều tham luận, triết lý làm nghề có tính "cầm tay chỉ việc" của cả các nhà văn già lẫn trẻ (vốn thường bị kêu ở các kỳ trước) là điều mà ban tổ chức hội nghị lần này mong muốn. “

    Bởi vậy, các nhà văn trẻ được đi “tham quan” du lịch là chính , tặng sách , xin địa chỉ email là chính và nhất là dịp để các nhà văn nữ trẻ đẹp và ăn mặc rất thời trang như diễn viên, ca sĩ.

    Tiền ăn, tiền khách sạn, nam thanh nữ tú…tất cả đều thừa, các cây bút trẻ xem ra chỉ có thiếu mỗi một thứ : ‘tính khiêm tốn”.

    Không sao cả, vì ngay cả đại văn hào Gabriel García Márquez, Nobel văn học 1982, cũng đã dậy :

    Trong nghề văn, khiêm tốn là một đức tính thừa!” .

    Bởi thế các nhà văn, nhà thơ trẻ cứ tha hồ mà tự đánh bóng mình.

    Nguyễn Thuý Hằng, cây bút trẻ mới nổi ở Sàigòn, huênh hoang tự quảng cáo :

    Cho đến nay, sau khi bộ sách “Thời hôm nay, khoái cảm và điên rồ hợp lí “ của tôi được xuất bản và giới thiệu tại Viện Goethe, tôi vẫn chưa nhận thấy thái độ phê bình tích cực từ các nhà phê bình. Chỉ có hai bài của nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn và Nguyễn Chí Hoan.

    Nhưng theo tôi, hai bài phê bình này vẫn còn quá sơ lược, chưa được viết theo đúng nghĩa một bài phê bình và nhận định chuyên nghiệp. Nếu ai muốn bàn trực tiếp về bộ sách mới của tôi, tôi sẵn sàng trao đổi. Trong sách tôi cũng có sẵn địa chỉ e-mail.”

    Nguyễn Danh Lam, một cây bút mới nổi ở Sàigòn, cũng hùng hổ trả lời báo chí :

    Tại sao anh lại viết văn? Bỗng nghe độp câu hỏi này, tôi có cảm giác như... ai đó vừa hét: Đứng lại giơ tay lên! “.

    Một cách tự đánh bóng hay một cách tảng lờ khi phải trả lời những vấn đề cốt tuỷ ? Nhà văn Đỗ Tiến Thuỵ huỵch toẹt :

    "Người ta không học hỏi nhau trong hội nghị. Tôi coi đây là một cơ hội để giao lưu, gặp gỡ, tay bắt mặt mừng với bạn bè chứ không có ý định đến hội nghị để học tập " .

    Tất nhiên, ngoài “ăn chơi, nhảy múa’, các nhà văn trẻ còn có những cuộc toạ đàm. Về thơ, có “sân chơi “ “ thơ tôi nói gì “ “hai phút cho một ý tưởng” .

    Nhà thơ Phan Huyền Thư, tác giả tập thơ “Nằm nghiêng” với những câu thơ bốc lửa kiểu như “đôi bầu vú thông minh, không cứu nổi cặp đùi dài ngu ngốc”, nay đã thành “bậc đàn chị” trong thơ trẻ và được ban tổ chức giao nhiệm vụ dẫn dắt sân chơi “Hai phút cho một ý tưởng”, đã phải phàn nàn :

    Thú thật, tôi hơi thất vọng vì đã hào hứng nghĩ đến một diễn đàn đầy ngẫu hứng, có sự nhập cuộc thật sự, sáng tạo, thẳng thắn và thiên nhiều về “bếp núc” của nghệ thuật ngôn từ. Khi tôi khơi gợi: “Ngôn ngữ là nhà tù của nhà thơ và cách vượt ngục duy nhất là tạo ra ngôn ngữ mới...”, tôi đã hi vọng rằng những vấn đề về thi pháp, về cảm nhận và hơi hướng thời đại sẽ được các bạn viết chia sẻ, đối thoại... Nhưng tôi thấy mình quá lạc lõng với cuộc tranh luận về “báo Văn Nghệ Trẻ” và những bài thơ (được đọc lên một cách níu kéo). Tôi thấy hoang mang giữa việc “viết” và “sự cần được biết đến” của những người viết trẻ. Thật ra đối với họ, điều gì quan trọng hơn? “.

    Hoá ra các nhà thơ trẻ rất mạnh dạn đưa ‘đùi và vú’ vào thơ nhưng lại rất nhút nhát khi đứng trước đám đông trình bày ý tưởng của mình một cách mạch lạc. Ít phát biểu chính thức , các nhà thơ trẻ quay sang kết bè , gây “sốc”, cãi cọ hay cố tình tạo xì- căng- đan hòng gây chú ý. Những người có mặt tại hội nghị dễ dàng nhận ra các phe nhóm nhà văn trẻ “chơi xỏ” nhau trên diễn đàn như thế nào.

    Một cây bút nữ thuộc nhóm 5 con ngựa trời vừa đọc thơ xong thì MC Phan Huyền Thư liền chơi ngay một câu :
    Bây giờ ngựa cái đọc xong, có con ngựa đực nào lên không?”.

    Thật là một câu mời rất ”văn hoá”.

    Thơ trẻ VN hiện nay đang ở đâu? Các nhà thơ trẻ nói gì? Họ đã quá e dè, thụ động, hay gì đó thì chỉ có những người trẻ mới biết được. Buổi toạ đàm thơ khép lại . Một nữ thi sĩ nổi tiếng thay mặt một nhóm các nhà văn nữ trẻ tuyên bố :

    “ sẽ tắm “như thuở hồng hoang” ở hồ bơi khách sạn Hoài Thành (nơi hội nghị diễn ra), bán vé 50 USD cho ai muốn xem”.

    Vậy nếu có nói các nữ thi sĩ đang sống và làm thơ trong thời đại “đồ đểu” thì đâu có oan uổng gì ?

    Bên văn xuôi cũng không khá hơn. Buổi toạ đàm "Văn tôi và phê bình tôi nói gì?" diễn ra tại khách sạn Hoài Thành trong không khí có vẻ hết sức dân chủ. Khi Uỷ viên chấp hành Hồ Anh Thái, mở đầu toạ đàm giải thích đó là văn của tôi, tôi là văn, nói gì về văn học, lập tức bị “phản pháo” từ Nguyễn Văn Ninh (Hà Nội):

    “Phải đổi tiêu đề đó, đúng ra phải là phê bình nói gì về văn tôi? “ .

    Tuy nhiên sự “nổi loạn” của nhà văn trẻ này lập tức bị chìm nghỉm, chẳng ai nhắc tới ý kiến anh.

    Hai cây bút văn xuôi nổi bật là Đỗ Hoàng Diệu và Nguyễn Ngọc Tư đều phát biểu theo cách của mình. Đỗ Hoàng Diệu sau khi mô tả đủ thứ nhầy nhụa tình dục trong “ Bóng Đè” lại lên giọng cao đạo :

    Với tôi, văn học là khu vườn đẹp nhưng không phải là khu vườn thần thánh…”.

    Trong khu vườn đẹp của nhà văn này chắc chỉ có Adam và Eve.

    Nguyễn Ngọc Tư khi được hỏi về vụ tuyên huấn Cà Mâu lên án “Cánh động bất tận” đã trả lời với giọng buồn buồn :

    Vụ đó, tôi thấy mọi người thương hại mà không có lý gì để nói ra lẽ. Tôi cũng không có lý phản lại vì không phải là nhà phê bình. Tôi nghĩ sao viết vậy, chẳng biết nói gì”.

    Diễn đàn của cả nhà thơ và nhà văn chỉ thế thôi. Nào là “văn học VN đang cần sự chỉn chu, mềm mại.”. Nào là “Về chuyện âm thịnh dương suy, hãy dành cho Viện Văn học. “… Còn lâu lắm các nhà văn mới dám nhìn thẳng vào những vấn nạn của xã hội Việt Nam ngày nay . Nào quốc nạn tham nhũng, nào tự do ngôn luận, tự do tư tưởng , tự do sáng tác…còn lâu lắm hoặc chẳng bao giờ họ cả gan động chạm tới chuyện động trời đó. Nhận định về các nhà văn trẻ, ông Hữu Thỉnh Tổng thư ký hội cũng phải thốt lên :

    Tình trạng sàn sàn, trung bình, khát vọng không cao, tính chất công dân còn mờ nhạt. “

    Và tệ hơn nữa là thói kèn cựa, níu kéo lẫn nhau trong các cây bút trẻ. Trở lại tin nhắn vào trước hôm khai mạc Hội nghị gửi các nhà văn lão thành trong hội . Ai đã nhắn một câu vô văn hoá, đầy tĩnh cách thù hẳn nhỏ nhen vậy ?

    Một nhà văn già, nổi tiếng ngoài Hà Nội cho biết :

    ” Còn ai nữa , nó là con VTL chứ ai ? Nó sang Paris huênh hoang mình đại diện cho nước Việt Nam đổi mới làm mọi người cười mũi. Trước đây do thằng Hồ Anh Thái không đề cao nó, nên nó đã gọi điện chửi :” ĐM mày, sao mày không nhắc đến tao ?”

    Đại biểu chính thức các nhà thơ trẻ mà ứng xử vậy thì quả thực danh xưng “thời đồ đểu” tặng cho họ là rất xứng đáng .

    N.T.

  20. #18
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 40 Times in 31 Posts

    Default Re: Chuyện xưa ... Nay mới nói ...

    .

    8x viết trong kiềm toả
    kỳ 1

    ( Nhân “Truyện ngắn 8 x” – NXB Hội nhà văn Việt Nam -2006)

    Sau hai năm cởi trói ngắn ngủi từ thời cố Tổng Bí thư Nguyễn văn Linh, văn học Việt Nam mang trở lại “vòng kim cô” của đảng, các nhà văn như “gà phải cáo”, viết lách nhát sợ, rụt rè, bởi thế suốt mấy thập kỷ gần đây, văn chương “mất mùa”, gần như không thấy tác phẩm giá trị .

    Các nhà văn già từ thời chống Pháp, chống Mỹ sau một thời gian “phản kháng” ngắn ngủi, đại đa số đã quay trở lại viết theo lối “ phải đạo” thời bao cấp, cạnh đó, các “mầm non văn nghệ” sớm tự nhận nhà văn, nhà thơ đua nhau vừa viết vừa tiếp thị, tự đánh bóng mình qua các “diễn đàn”, các cuộc hội thảo, các Hội nghị nhà văn trẻ làm xuất hiện một hiện tượng chưa hề thấy trong văn học nước nhà : văn học “lứa tuổi” hay còn gọi là văn học 7x, 8x và lác đác đã thấy 9x.

    Bị ràng buộc bởi những quy phạm ngặt nghèo của nền văn học chính thống, thực chất là văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, văn học của đảng, các văn thi sĩ 7x, 8x…tự bảo hiểm tối đa bằng tránh xa những đòi hỏi bức thiết của dân tộc như mở rộng tự do dân chủ, xây dựng xã hội dân sự , đa nguyên tư tưởng…Quay lưng với những chủ đề cốt lõi của văn chương, như những cún con sợ đòn vọt của ông chủ, họ rầm rộ rủ nhau đi sâu vào tính dục, quẩn quanh những chuyện phòng the, những chuyện vặt vãnh của lứa tuổi, coi văn học như một “trò chơi” - chơi chữ, chơi kỹ thuật, viết văn bằng sự thông minh của cái đầu chứ không phải sự thổn thức của con tim.

    Mới đây, dường như để biểu dương lực lượng thế hệ 8x – Nhà xuất bản Hội nhà văn Việt Nam cho ra mắt Tập truyện ngắn 8x – do một cây bút 8x tuyển chọn 22 tác phẩm của 20 nhà văn 8x, qua đó người đọc phần nào có thể nhận diện chân dung thế hệ cầm bút đương thời.

    Trước hết là các “nhà văn ngựa trời” – các 8x đã từng được làm rầm rĩ qua tập thơ “ Ngựa trời” .

    “ Hắn lại vào toilet” của Lynh Bacardi (1981) là một chuỗi những “thị kiến “ hoàn toàn bất ngờ và chẳng có liên hệ gì với nhau của “hắn” khi tới trình diện sếp ở văn phòng sau một sáng thức dậy “ vợ hắn ngạc nhiên vì không thấy hắn đánh răng, cũng như không nói một lời trước khi ra khỏi nhà , hắn chỉ khoác bộ đồ công sở, lau ghèn dính ở khoé mắt và chất ke đọng dính ở hai bên mắt…”.

    Lẽ ra phải trình bầy với sếp bản kế hoạch, hắn “ đột ngột quay lưng phóng ra khỏi văn phòng” để rồi bước vào những giấc mơ đứt đoạn. Trước hết “ hắn đi dạo qua những chuồng lợn, những cái chuồng hôi tanh mùi phân và nước thải, cộng thêm mùi thức ăn men vữa…”. Hắn nhìn thấy “ những nồi cám nóng hổi trên bếp rơm đỏ rực , bây giờ , còn có thêm mấy con lợn nhỏ xíu đang vùng vẫy trong đó, những con mắt xanh đục lồi ra thụt vào của chúng nhìn theo hắn như nguyền rủa…”. Hắn bỏ chạy rồi khi lao qua ngang đồi cỏ “ hắn liếc thấy hai con chó cái đang nằm rặn đẻ, trong khi nước ối từ chôn chúng chảy ra ồ ạt. Âm thanh rên rỉ từ miệng chúng thoát ra thật hoành tráng…”. Hắn lại bỏ chạy và lại gặp “ một con dê cái to lớn đang ngồi chễm chệ với đầy đủ vú vê …con dê xông vào , túm lấy tóc hắn bằng hai chân sau rồi dộng liên tục đầu hắn vào cái trôn to bằng bàn tay của nó…”. Rồi hắn thấy mình đang ở trong phòng ngủ và truyện kết thúc ở chỗ “ hắn bước vào toilet”.

    Có lẽ phải đợi các nhà phê bình trẻ như Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Thanh Sơn…”giải mã” những ký hiệu, may ra người đọc mới “lĩnh hội” được “giá trị văn chương” của cô “ngựa trời” này, còn người đọc bình thường kiên nhẫn lắm chỉ đọc được một trang.

    Nữ thi sĩ “ngựa trời” Khương Hà trình diện trong tập này truyện ngắn “ Dạ khúc và trò chơi điên khùng giữa khu vườn bí mật”. Cái tên lòng thòng , hù doạ vậy thôi, thực ra câu chuyện chẳng có gì là “ điên khùng” với “bí mật” cả. Đó là chuyện tình của một cô nữ nhân viên văn phòng với một “ông già trong Saigòn “ có tên là “Cục Đất” , thời gian qua đi, mối tình cũng phai lạt dần và kết thúc khi văn phòng xuất hiện một cô gái khác. Truyện cũng đầy chất chán chường và trống rỗng như bao truyện khác và được tác giả huỵch toẹt :” Tôi mở nhạc suốt ngày đêm, đọc đi đọc lại những cái tên cải biên, cố gắng cải tạo triệt để cái đầu óc vốn ngăn nắp của mình. Để làm gì ư ? Tôi cũng không biết, có lẽ là để lấp đầy sự trống rỗng…”. Dấu hiệu 8x của cây bút sính làm dáng tiếng Anh này là tràn ngập trong truyện các từ “secret Garden”,”Piano Ballade”.” Dpreview”,” Sony DSC F828”,”random”, “Ravenheart”,” “Everybody’s Fool”…cứ loạn xà ngầu hoa cả mắt…

    Nàng “ngựa trời” thứ ba ở trong tập, nữ thi sĩ Thanh Xuân (1981) cũng lại đưa ra một câu chuyện tình giữa “tôi” và Đăng với câu nói cửa miệng cầu kỳ, sặc mùi ‘tập làm văn “ :” Anh đủ “độ chín” để nhìn nhận những mất mát về cuộc đời này. Em cũng nên tập như thế, mọi cảm xúc chỉ có giá trị nhất định trong một khoảng thời gian nào đó mà thôi”.

    Thì ra các 7x, 8x…đã học rất nhanh ở các bậc cha anh cái bệnh vòng vo, sáo ngữ vốn biểu hiện cho sự rỗng tuếch của tâm hồn. Bố của “tôi” bỏ nhà đi theo “cái con đó”, “chị của tôi” cũng ra đi để rồi quay lại với một đứa “con gái thò lò mũi, nằm ngửa trên tay chị…nó tên Kiều My…”. Rồi “chị tôi” lại đi tìm tình yêu, Đăng lại hôn “tôi”. “Ấm ngọt và dẫn dắt. Khi tôi bị ngợp bởi nhiều cảm xúc lẫn lộn, dằng anh ra thì thấy anh đang nhìn tôi. Anh hỏi sao tôi lại mở mắt vào những lúc thế này, tôi lúng túng…”.

    Nhiều năm sau, Kiều My lớn thành cô gái 17, Đăng vẫn nói văn vẻ :”Chúng ta sắp già đi và những biến cố quá ít dao động không làm chúng ta thôi hờ hững. Một ngày không xa, anh sẽ cưới em.Rồi cuộc đời cũng đến lúc phải sang trang anh ạ…”.

    Truyện chỉ có thế thôi, cố tìm hơn những gì đã được kể ra qua những con chữ có chăng đôi chút hờ hững, chán chường và tuyên ngôn “thèm yêu”.

    Hoá ra các nàng “ngựa trời” phá phách trong thơ dễ dàng hơn trong văn xuôi. Nghệ thuật truyện ngắn vốn đòi hỏi sự tỉnh táo cần thiết cho việc giãi bầy, kể chuyện bằng những con chữ trong văn xuôi quả thực khó cho người ta quằn quại, phá phách, điên khùng như trong thơ nhiều lắm.

    Đọc những truyện ngắn khác của 8x, người ta phải lấy làm lạ tại sao các văn sĩ trẻ thích đưa “người điên” vào truyện ? Phải chăng viết về “người điên” dễ hay hơn “người tỉnh” chăng ?

    Cát hoang” của Phạm Ngọc Lương viết về một bãi cát ở giữa sông, bỗng một hôm xuất hiện “một con điên”. “ Cô điên ngồi trên bãi cát, dùng gậy vạch ngoằn ngoèo trên cát, lẩm nhẩm. “Kệ nó, con điên”. Họ nháy nhau. Lũ trẻ mò tới. Cô vẫy tay. Lũ trẻ lùi ra. Cô cúi mặt xuống. Lũ trẻ tới gần. Cô vạch xuống đất. “A”…”

    Thì ra là “một cô giáo điên”. “Lúc trẻ rón rén bịt mắt cô lại, chúng nắm tay nhau xoay tròn quanh cô. “ Bịt mắt bắt dê”.” Hé hé hé…”. Cô rú lên cười ằng ặc…”

    Ngày tháng qua đi, cô điên mang bầu. Vợ bọn đàn ông đay nghiến chồng :

    “ Của tao, của chúng tao thiu hay sao mà phải ấy con điên ?”
    “ Oi chà ! Thế là cô điên sắp làm mẹ rồi đấy…”

    Và rồi cô sinh ra những ba đứa con trai và người ta mang đi mất. Còn lại cô điên đi xuống sông.

    “ Nó đâu ?”
    “ Sụt xuống cát rồi. Kia, kia kìa, còn vạt áo đấy…”

    Truyện khoanh lại về một mảnh đời bất hạnh được mô tả bằng sự cố ý kiệm lời, cố ý tạo nên một không gian lắng đọng, căng thẳng chất “thân phận” , tiếc rằng mọi cố gắng đều chưa tới. Đọc xong , có chăng vương lại trong lòng người đọc đôi chút ngậm ngùi .

    Cô mình” trong truyện ngắn của Phạm Hương Giang (1984) là sinh viên trọ học trong một xóm nghèo ở lẫn lộn người điên, sinh viên và gái điếm. “ Cô mình” là tình nhân của một người đàn ông có vợ, mãi trong Nam, gọi bằng Ngài.”Vài tháng một lần cô mình chờ Ngài trong căn phòng trọ 10 mét vuông ẩm thấp và mênh mông sự lạnh lẽo. “. Rồi Ngài tặng cho cô mình một con mèo tuyệt đẹp với lời cảnh báo : “Nếu cứ sống như thế này thì hành trang của em khi ra trường chỉ có tấm bằng và một con mèo…”. Rồi khi cô mình chưa kịp ra trường, con mèo đã chết , mặc cho cô mình vật nài, Ngài vẫn cáo bận không ra được . Thế rồi trong cái xóm sinh viên ấy, cô điếm bị cảnh sát 113 tới lôi đi, cô bé điên rơi vào vòng tay gã chủ nhà thô lỗ và đến lượt “cô mình” cũng rời khỏi xóm, ra đi , để “ một thời gian sau, một người đàn ông tay xách cái lồng đựng mọt con mèo đứng vơ vẩn trước căn phòng khoá chặt, cánh cửa rêu mốc đầy. Trời đã ấm lên. Con bé điên thấy người lạ, vẫn trần truồng chạy ra, vỗ vỗ tay rồi chạy vào căn nhà bí mật…”

    Cô mình” của Phạm Hương Giang là một truyện ngắn hay hiếm hoi trong cả tập.
    ( còn tiếp)

  21. #19
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 40 Times in 31 Posts

    Default Re: Chuyện xưa ... Nay mới nói ...

    (tiếp theo)
    kỳ 2

    (Nhân Truyện ngắn 8 x – NXB Hội nhà văn Việt Nam -2006)

    “ Xó núi” , truyện ngắn của Nguyễn thị Cẩm (1984) viết về hai cha con sống trong một con hẻm heo hút đến “ cây cối chỗ nào cũng hóng hóng về phía con đường bé tẹo hệt một con giun ngoằn ngoèo, chó thì phải chơi với chuột vì không có mèo, gà và ngan dăm con chẳng có gì chơi cứ buồn thiu…”.

    Đứa con gái 17 tuổi có những nét của mẹ đôi khi đâm nhói vào lòng ông bố về kỷ niệm của một người vợ đã bỏ ông đi theo người đàn ông khác để lại cho ông đứa con gái là “ báu vật cuối cùng ông còn có trên đời , là nối dài kiếp sống của ông”.

    Ấy thế rồi bỗng một ngày, “báu vật cuối cùng “ quát vào mặt ông :

    “Nếu không cho cưới ngay, con e không giữ được mình, cha ạ…”

    Thật còn hơn là súng nổ bên tai , “ cảm giác ông đang sụp đổ, đang trợn mắt sắp gục xuống bởi một cơn nhồi máu…”. Ông không thể tưởng tượng tới một ngày nào đó, một thằng con trai tới cướp đi “báu vật” của ông. Nó là một thằng “ văn hoá lớp ba, làm thuê chuyên nghiệp, chỉ được cái hùng hục như trâu…”.

    Cô nhà văn 8x tả cái cảnh trai gái yêu nhau như sau :

    Rướn mình. Cong chắc là đẹp. Cổ không dài, ngửa ra thì Thuần có thể đặt 5 lần môi . Tất nhiên dễ bị ho trong lúc hắn mê miết môi răng trên cuống họng. Phải tóm tay hắn !Một ngón cái đã vượt biên lúc mình sơ sẩy, kéo nốt bốn anh nhà nó sục vào vùng giới hạn. Đã bảo là vùng cấm kia mà! Một tí thôi! Không ! Có gì đâu, chỉ một tí thôi mà. Không ! Một lần này thôi…Khô..ông !”

    Quả thực đoạn văn trên chứa đựng cái gọi là “chất 8x” ở chỗ “hồn nhiên trong tính dục” mà các nhà văn lớp trước khó có thể có. Tuy nhiên ngoài một chút đặc sắc hiếm hoi này , những dấu hiệu để nhận ra sự khác biệt thế hệ quả là rất ít. Tấn bi hài kịch giữa hai bố con khi chàng trai xuất hiện ngay tại căn nhà trước nay vẫn coi là bất khả xâm phạm của họ được diễn tả một cách chẳng có gì là …8x (!),hơn thế nữa, còn dễ dãi và non nớt như biết bao cây bút mầm non văn nghệ khác .'

    Người cha thì mắng mỏ :

    Con còn muốn dối cha ? Từ nay cấm con ra khỏi nhà một mình. Nếu cha gặp con với thằng ấy một lần nữa thôi , coi như không còn cha con gì nữa…”

    Đứa con gái thì trách móc :

    Cha là người đàn ông ích kỷ nhất trên đời ! Điệp khúc ấy lặp lại mãi, đau đớn chảy đẫm xuống gối. Muốn gào thét, đập phá và đốt cháy! Cha có quyền gì buộc giữ tôi vào mảnh đất già nua đơn độc ? Cha cấm đoán cả niềm vui cuối cùng tự tôi đánh đổi..cha nào thương tôi hơn người đời…”

    Một cái kết dễ dài và chẳng có gì là mới mẻ tuy vậy “Xó núi” vẫn là một trong số ít truyện đọc được trong cả tập.

    Một truyện ngắn khác – “Em xinh không ?” của Từ nữ Triệu Vương (1980) có thể coi đậm hơi hướng 8x ở chỗ bộc lộ “cái tôi” một cách trực diện và thẳng thắn , không mặc cảm, không “khách sáo” – đặc trưng của thế hệ này.

    Em 25 tuổi. Viết văn. Bạc bẽo. Chẳng ai sống được bằng nghề viết. Em làm tại một Nhà xuất bản, lương vài trăm ngàn đồng em vẫn làm. Em yêu người đàn ông đã có gia đình trong cơ quan. Em vào đó làm chỉ mong được nhìn thấy họ hàng ngày . Họ không biết em yêu. Em cứ dại khờ yêu thầm thế. Đừng nói em ngu ngốc. Tình yêu chân thành còn sót lại trong thời này đấy.”

    Em là Mắt Ướt – chân dung một 8x. Hai mươi hai giờ tối em mới đi làm về. Em mở cửa từng phòng các bạn trai, “miệng em nhí nhách :” pha trà cho em uống với nhé!”. Và rồi em cứ lặp lại câu nói cửa miệng :” Em xinh không . Em xinh nhỉ. Em hơi bị xinh đấy…” hoặc :’ Em nhớ anh lắm, em thèm anh lắm, thịt anh còn ngon không …”…qua môi em đầy nhàn rỗi, không neo bám, Em vẫn thấy cuộc đời xa lạ. Buồn tênh…”

    Xa lạ và buồn tênh” chưa hẳn đã là đặc trưng của “cái tôi” 8x. Vậy nhưng toàn bộ câu chuyện của nàng Mắt Ướt còn xa mới đưa nàng tới chỗ “xa lạ và buồn tênh” như thế. Gắn nó cho nàng chẳng qua cũng như một chút son phấn làm dáng vậy thôi.

    Tôi muốn về nhà “ của Nguyễn Quỳnh Trang ( 1981) đi vào đề tài “ viện tâm thần” vốn nhiều người đã viết. Khác với lối viết rối mù khi tả tâm trạng người điên, NQT trong truyện này lại sử dụng lối viết rất thực, thực đến mức độ chi li, tỉ mẩn. Chỉ riêng một hòn non bộ đặt trong sân bệnh viện, NQT đã kể chi tiết :

    Trên hòn non bộ có một cây si thân xù xì , rễ dài phủ xuống cả phía dưới.Xen lẫn nhiều cây thuộc họ dương xỉ. Có cả cây hoa đỏ năm cánh thường mọc ở đồi đất hoang. Hòn non bộ vẫn còn sót lại dăm đồ sứ trang trí. Có tượng mục đồng thổi sáo trên lưng trâu . Trâu bị gẫy một chân , mục đồng thì sứt nửa đầu. Nửa khuôn mặt còn lại không rõ mũi mồm nhìn trông rất hãi. Có tượng ngư ông câu cá. Ngư ông mất nửa thân người…..Thêm tượng quan âm bồ tát “ phù nhân chỉ lộ” tróc hết sơn…”.

    Cứ thế các chi tiết được kể ra la liệt, hoàn toàn không có ý thức sử dụng thủ pháp “cực thực” hiện đại ( hyperrealism) mà chỉ chứng tỏ sự non nớt, thiếu chọn lọc trong mô tả. Mấy năm gần đây, nhóm “Mở Miệng” và nhóm “Ngựa trời” ở Saigòn cố tạo ra những yếu tố quái dị, bẩn tưởi có thể gọi là một thứ “mỹ học của…bùn nhơ” gây ảnh hưởng tới một số cây bút 8x. Bắt chước các “đàn anh, đàn chị” Nguyễn Quỳnh Trang viết :

    Mẹ Tóc Bím đang ngồi tênh hênh trên giường . Cái quần thủng đũng để hở một mảng quần lót hoa xanh hoa đỏ trông nhức mắt. Mẹ nó đang húp soàn soạt bát canh ăn thừa ban trưa. Húp xong vứt bát xuống gầm tủ, lấy ngón tay chỏ và ngón tay cái chọc vào mồm, móc thức ăn ở kẽ răng, đưa lên mũi ngửi ngửi , quệt tay luôn ra thành giường. Bạn nhìn thấy mà sợ…”

    Quả thực không thể hiểu tác giả bắt người đọc ghé mắt vào “những chỗ bẩn” của nhân vật như vậy nhằm mục đích gì khi chủ đề của câu chuyện hoàn toàn không đòi hỏi phải làm vậy. Bởi lẽ câu chuyện và nhân vật trong “Tôi muốn về nhà” thực ra chẳng có gì ghê gớm và phức tạp. Đó là chuyện của một cô gái ngày xưa được chồng rất yêu “ thường vuốt má bạn ngọt ngào . Anh thích cái thánh thiện trong em , nó làm anh thấy cuộc đời sạch sẽ hơn, nhưng vứt thơ đi, nó sẽ làm khổ em…”. Hoá ra cô còn làm cả thơ. “ Những câu từ đẹp đẽ, dịu dàng mà bạn viết ra là thứ thuốc bổ thư giãn mọi giác quan và cơ thể bạn mỗi đêm thiếu hơi da thịt chồng”. Thật là quan niệm về thơ đích thực của các thi sĩ 7x,8x nổi tiếng như Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư…bây giờ.

    Tuy nhiên, chồng và mẹ chồng cô lại không cần những đứa con tinh thần của cô, họ đòi đứa con bằng xương bằng thịt nối dõi gia đình kia. Bất hạnh cho cô, cô không thể đáp ứng đòi hỏi chính đáng ấy của chồng và mẹ chồng. Càng ngày cô càng bị nhà chồng ghẻ lạnh và khi một cô gái khác sinh ra cho chồng cô một đứa con trai thì cô ta chiếm lấy địa vị cô trong gia đình, còn chính cô phải chuyển vào viện tâm thần. Truyện ngắn còn vài nhân vật nữa, như cô Tóc Bím thường rơi vào ảo giác, tưởng tuợng mình là Chúa Giê-xu tái thế, mỗi khi nhìn thấy đàn ông nhẹ thì rên lên, trốn sau lưng mẹ, nặng thì lên cơn động kinh , xé áo, tụt quần, miệng kêu ú ớ như đang bị cưỡng hiếp, như cô Mặt Rỗ thường lên cơn điên vào ban đêm, phải trói vào thành giường, như bà cụ Tóc bạc bị con trai bỏ rơi phải cắn lưỡi tự tử…Cái “phòng điên” của Nguyễn Quỳnh Trang được kể la liệt những mảnh đời bất hạnh như thế – nó là “bể khổ” muôn đời của chúng sinh, ngoài ra không gợi mở một ẩn dụ nào khác.

    Một cây bút 8x được cả một bộ máy tiếp thị của một Công ty sách bốc thơm lên cỡ…thiên tài, rồi VTV3 làm cả một show phỏng vấn rối rít những lời tâng bốc . Đó là Nguyễn Thế Hoàng Linh (1982), trong tập sách này cũng góp mặt với truyện ngắn “Sống”.

    Mới lướt qua phần mở đầu của truyện, bạn đọc nào “yếu bóng vía”`hẳn tá hoả tam tinh :

    “Tôi thức dậy vào một buổi chiều, chưa mở mắt nhưng rõ ràng tôi biết đó là chiều.Tôi chả buồn hỏi tại sao? Tự nhiên tôi cảm thấy khoẻ khoắn vãi hàng bình thường, tôi không thích tự “ vãi hàng” đâu . Tôi hơi có ác cảm với nó. Tôi chỉ hay dùng từ “vãi lúa” . Nhưng tự nhiên , tôi thích dùng nó vãi hàng. Phải , bỗng dưng tôi thoải mái vãi hàng…”

    Mở đầu cho một truyện ngắn văn chương nghệ thuật mà “thiên tài’ đã thoải mái ‘vãi” ra như thế này thì thật đáng mặt đại diện cho một nền văn học của thời đại…đồ đểu.
    ( còn một kỳ)


  22. #20
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    848
    Thanks
    17
    Thanked 40 Times in 31 Posts

    Default Re: Chuyện xưa ... Nay mới nói ...

    (tiếp theo và hết)
    kỳ cuối

    (Nhân Truyện ngắn 8 x – NXB Hội nhà văn VN)

    Mở đầu ngạo mạn thế, tưởng tác giả “vãi” ra những gì ghê gớm, ngờ đâu cũng chỉ là một mớ triết lý ‘vụn” :

    Tôi vẫn có sức hơn người bình thường , vẫn vận động và cho năng suất nhiều hơn họ. Và vẫn luôn thất vọng về mình . Phải chăng vì chính NÓ ?Nó là sự cân bằng này , sự cân bằng tôi đang sở hữu . Sự cân bằng của khao khát với khả năng đáp ứng được của thân xác . Thân xác không còn là gánh nặng . Thân xác là niềm tự hào được xuất bản từ hư vô , tự cháy và đốt cháy hư vô…”

    Và những tưởng tượng theo kiểu phim kinh dị :

    Con mèo đi qua tôi như em, như chẳng thấy tôi. Nó đi trên mặt nước. Đột ngột nó lao vào cổ họng tôi . Miệng nó há ra. Những cái răng không thọt chút nào. Và nó liếm tai tôi . Móng vuốt của nó không bị cắt nhưng nó không tự thu chúng lại . Nó âu yếm quàng vào cổ tôi. Em vẫn không ngừng hát. Em chỉ hứng khởi hát theo bầy chó…”

    Cố đọc cho hết cũng chưa thấy được hình hài một truyện ngắn và cũng chẳng thấy một cách tân đưa truyện ngắn lên tầm “hậu hiện đại”.

    Lửa hoang” của Phạm Vân Anh (1980) gần với thể loại “vụ án viết lại” , viết về cái xấu trong gia đình các quan chức, các con ông cháu cha chơi bời trác táng, ngập ngụa trong căn bệnh AIDS và những đòn độc “âm mưu và tình yêu”, thiếu một sức khái quát vạch mặt “thủ phạm dấu mặt” sau những tội ác tầy trời đó.

    Câu chuyện tình yêu” của Niê Thanh mai ( 1980) là một thể hiện vụng về tuần trăng mật và sự chia tay của một đôi vợ chồng mới với sự chứng kiến của…cái giường trong đó có trò chọc gậy bánh xe không rõ ràng của tên bạn chồng.

    Trong 18 cây bút 8x, người có “ý thức xã hội ‘ cao nhất trong văn chương phải kể đến Yên Khanh (1982), góp tới 2 truyện trong tập sách này. Cô không viết về những mối tình đầu đời lãng mạn, không suy tư những triết lý sa sỉ, cô viết trực tiếp về cuộc sống đang diễn ra với băn khoăn của người có “ý thức sáng tác”.

    Trong “ Những mùa đông đi qua”, Yên Khanh viết về một xóm nghèo y như xóm “Nhà mẹ Lê ” thời xưa của Thạch Lam:

    Tháng Mười Một rét như cắt da cắt thịt.Tám chín giờ sáng ngồi trong nhà nhìn ra ngoài đường vẫn chẳng thấy gì ngoài mù mịt sương trắng…Khi ấy cũng là lúc cả xóm chạy vạy từng bát gạo , chẳng nhà nào có lấy một vườn rau cho ra hồn vì gió muối làm cây cối tướp lại , héo quắt queo. Đàn ông đi đi lại lại, đàn bà than vãn thở dài, thỉnh thoảng lại thấy bên nhà hàng xóm vợ chồng con cái mắng chửi nhau và bát đĩa thì quăng ra sân loảng xoảng. Có nhà ban đầu ăn hai bữa một ngày sau đó phải chuyển bữa trưa làm bữa chính còn bữa tối thành bữa phụ qua quít. Trẻ con vì thế mà sáng ra nhìn bụng đứa nào cũng xẹp tới tận xương háng…”

    Không một chút ánh sáng nào “của Đảng”, của nền kinh tế thị trường theo “định hướng xã hội chủ nghĩa ” soi rọi tới cái xóm chuyên nghề bốc mộ này. Dường như họ hoàn toàn bị cách biệt với tất cả những gì đang diễn ra trong xã hội. Họ như một dẻo đất bị bỏ quên trong cái xứ sở đang sôi sùng sục những phân hoá giàu nghèo, những quan tham hốt bạc và những người dân bị cướp đất nổi lên chống lại cường quyền .

    Không một tia hồi quang nào của toàn xã hội tới được cái vùng tăm tối này. Trong xóm này có một cặp uyên ương kiểu “Thị Nở , Chí Phèo” – nàng là chị Nhân sứt môi, chàng là anh Biển “ đen như củ tam thất, người dài lêu nghêu như con nghiện. Môi thâm xì và hai hàm răng vàng khè. Tôi thề sống chết với đám bạn rằng trên đời này tôi chưa gặp ai lại giống khỉ đến thế. Nói chung là tất tần tật…” .

    Thế rồi do sự ngăn trở của gia đình, “đôi uyên ương” phải chia lìa và chàng trai biến thành một gã điên khùng.

    Anh Biển đang hì hụi huơ tay múa chân một mình, miệng lảm nhảm la hét điều gì đó. Chừng lại gần thì trời ơi, hoá ra trên tay anh là cả một xâu chuột lớn bé treo lủng lẳng đang kêu xoe xoé. Còn anh thì cứ nắm đuôi từng con một mà nện chí tử xuống tảng đá cộc ở góc ruộng , mỗi nhát đập lại kèm theo tiếng kêu khoái chá :” Chết này, đồ ăn bẩn..” và bật cười hí hí…”

    “ Trong không ý tưởng”, Yên Khanh bầy tỏ nỗi băn khoăn của chính mình khi viết ra những truyện ngắn “ không ý tưởng”. Cô phê phán cái kiểu viết của nhiều người trong thế hệ cô :

    Anh chộp được ý tưởng từ những cái nhàng nhàng nửa nạc nửa mỡ của một ai đó, biến nó thành của mình . Chỉ cần thêm thủ pháp lạ hoá”.

    Cô cho rằng :

    Nó cũng giống như cái ý tưởng của người khác mà anh bạn tôi bằng những thủ thuật văn chương láu cá đã cuỗm thành của mình lại khiến độc giả tung hô rất thiện ý : lối viết mới, phong cách mới…”.

    Cô muốn viết trung thực với những gì cô nhìn thấy ở xung quanh nhưng “cô lại ngậm ngùi nghĩ đến những điều viết ra không ý tưởng”.

    Yên Khanh là cây bút có ý thức trách nhiệm rõ nét nhất trong 18 gương mặt 8x trong tập này tuy cũng chỉ dám hé lộ nửa vời không dám đi tới cùng căn nguyên của tình trạng “viết không ý tưởng” là từ đâu ra ? Từ bản thân sự sợ sệt , khôn ngoan của người viết hay từ sự cấm đoán không thành văn bản của bộ máy siêu kiểm duyệt vô hình.

    Mượn điển tích nàng Thi Kính cắt râu chồng, Lan Phương ( 1984) dựng lại thành truyện ngắn “ Đôi mắt Thiện Sĩ” nhìn vợ hiền ra gái giết chồng, gặp lại vợ cũ vẫn không nhận ra , truyện ngắn mang ý tưởng “đôi mắt” suốt đời nhìn nhận lầm lẫn chỉ đáng mang chọc cho mù.

    Quả thực người ta khó mà đọc một mạch cho hết tập truyện vì sự giông giống nhau của cả loạt hơn hai chục truyện ngắn. Cũng may, lần xuất bản này, biên tập Nhà xuất bản đã bỏ đi phần “đề từ” của những cây bút 8x, không thì người đọc còn ác cảm nữa với những gì đã viết ra trong tập truyện này :

    “ Chúng tôi khóc
    Chúng tôi cười
    Chúng tôi điên loạn
    Chúng tôi hiền lành...


    Và trạng thái cuối cùng là trống rỗng.
    Những đứa chúng tôi cô đơn
    Những đứa chúng tôi tìm đến trang viết đôi khi
    Như một sự giải toả xa xỉ.
    Khi trầm mình lại, thấy mọi điều dường như vô vi.
    Và rồi chúng tôi lại khóc, lại cười, lại điên loạn...
    Nhưng chúng tôi không nhai lại những đoạn băng cũ rích.
    Vì đơn giản chúng tôi thuộc thế hệ trẻ
    Thế hệ 8X đầy tự tin và kiêu ngạo
    8X.


    Sự thực trong 18 gương mặt 8x này có nhiều người không “điên loạn” và không “kiêu ngạo” đến như thế. Như Phạm Hương Giang (1984) , tác giả “Cô mình” trong bài “ Truyện ngắn 8x- Lời Trần tình của một nạn nhân”đăng trên báo Văn Nghệ Trẻ số 232 đã bầy tỏ :

    “Khi một nhà văn nói với tôi: thấy gì viết nấy thế này thì lớn thế nào được, tôi không tin. Khi một nhà thơ nổi tiếng nói với tôi: thơ em viết bằng mắt, tôi vẫn không tin. Cho dù vẫn biết rằng các vị tiền bối chắc chắn có kinh nghiệm hơn mình. Những câu nói đó mang tính tổng kết cả một đời văn đầy khổ ải.

    Nhưng đến khi đọc Truyện ngắn 8X tự nhiên tôi thấy chờn chợn: Hình như những người đi trước đã nói đúng. Tôi và một số người trong thế hệ chúng tôi đã mắc phải căn bệnh mắt hẹp. Đối với việc viết văn, vốn sống vô cùng cần thiết. Và trí tưởng tượng lại càng cần thiết hơn nhiều. Không có trí tưởng tượng, dù người viết có chịu khó quan sát đến mấy thì trang viết vẫn cứ vặt vãnh khô cằn, thiếu sức tưởng tượng, những trang văn sẽ thiếu đi sự thăng hoa lãng mạn vốn rất cần cho mỗi tác phẩm văn chương. Vậy mà hỡi ôi, phần đa các tác giả thế hệ 8x đều rất trẻ, từ bé đến giờ chỉ quẩn quanh với sách vở, với máy tính, vốn sống thực tế hạn hẹp. Có những tác giả chưa bao giờ ra khỏi thành phố, không phân biệt được con trâu với con bò, lúa với mạ... Thế nên mắt hẹp là đương nhiên. Vì vậy khi viết họ chỉ viết về những thứ vụn vặt nhìn thấy xung quanh. Tất nhiên đối với những người có tài thì những điều tai nghe mắt thấy sẽ là những gợi ý tốt cho trí tưởng tượng bay bổng. Còn trong Truyện ngắn 8X, hầu hết các truyện ngắn đều chưa ra truyện. Nghĩa là không đầy đủ cấu tứ, không có sự đào sâu suy nghĩ nên câu chuyện được thả chơi vơi, đầu đuôi không thống nhất được về nội dung và ý nghĩa.”

    Một “tự đánh giá” khá chính xác của người cầm bút thế hệ 8x tuy vẫn thiếu phần cốt lõi : đó là chừng nào nhà văn chưa có được quyền tự do tư tưởng, tự do sáng tác và tự do xuất bản, chừng đó văn học chưa thoát ra khỏi tình trạng “vặt vãnh”, “ khô cằn” và “thiếu trí tưởng tượng” .
    N.T.

Page 1 of 2 12 LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Câu Chuyện Thật Về Tâm Có Năng Lực Chuyển Đổi Tướng & Cảnh
    By Lovepeace in forum Tìm hiểu Về Phật Giáo
    Replies: 1
    Last Post: 04-08-2013, 05:03 PM
  2. Chuyện Đầu Tư Việt Nam
    By vietamerican in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 0
    Last Post: 03-24-2010, 09:27 PM
  3. chuyện ruồi bu....!
    By bawoa in forum Tìm hiểu về Công Giáo
    Replies: 3
    Last Post: 12-23-2009, 10:22 AM
  4. Chuyện phải viết !!
    By tethiendaithanh in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 3
    Last Post: 11-30-2009, 02:44 PM
  5. Chuyện lạ
    By BắcKỳGià in forum Ý kiến - Góp Ý
    Replies: 1
    Last Post: 11-24-2009, 05:06 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •