Page 4 of 51 FirstFirst 1234567891011121314 ... LastLast
Results 61 to 80 of 1002

Thread: Lời thú tộii kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam

  
  1. #61
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Lời thú tộii kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam

    VN không có nhiều lựa chọn trong vụ tranh cãi về biển với TQ




    Tàu Trung Quốc tấn công tàu Việt Nam bằng vòi ròng 4/5/14

    Trà Mi-VOA, Marianne Brown

    11.06.2014
    Việt Nam đã ngăn chặn các cuộc biểu tình bạo động chống Trung Quốc tràn ra khắp nước sau khi một giàn khoan dầu của Trung Quốc bắt đầu hoạt động trong vùng biển có tranh chấp. Nhưng giới hữu trách chưa từ bỏ sự chống đối nhắm vào hoạt động của Trung Quốc, và đã phái tàu đến quấy nhiễu công tác khoan dầu, cứu xét việc kiện trước tòa án quốc tế đòi giải quyết vụ tranh chấp và ve vãn các đồng minh trong khu vực như Philippin. Từ Hà Nội, thông tín viên Marianne Brown ghi nhận chi tiết về chính sách ngoại giao nhiều rủi ro đằng sau nỗ lực này.

    Trung Quốc đã làm khó Việt Nam trong tuần này qua việc gửi một “văn thư xác định lập trường” cho Liên Hiệp Quốc về hoạt động của giàn khoan dầu trị giá 1 tỷ đôla trong một phần của Biển Ðông mà Việt Nam cũng đòi chủ quyền.

    Trung Quốc tố cáo Việt Nam là đâm vào tàu thuyền của họ, cử người nhái và “các điệp viên dưới nước” vào vùng hải phận mà họ nói không thể tranh cãi được là của Trung Quốc.




    Giáo sư Carl Thayer


    Trung Quốc luôn chống lại sự can thiệp của bên thứ ba vào các vụ tranh chấp giữa các nước cùng đòi chủ quyền vùng Biển Ðông, nhưng biến chuyển này có thể đặt Việt Nam vào thế khó xử, theo nhận định của Giáo sư Carl Thayer, thuộc Học viện Quốc phòng Australia. Giáo sư Thayer nhận định:

    “Phải chăng Trung Quốc tìm cách khiêu khích một cuộc tranh luận ở đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, khiến các nước phải đưa ra quyết định hoặc có hành động hoặc giữ im lặng? Tìm cách cô lập hóa Việt Nam thông qua việc buộc các nước quan tâm hơn về Trung Quốc phải im lặng bởi vì họ không muốn bị coi là đẩy ra chỗ công khai, như Brunei, chỉ tìm cách tránh né hay lẩn trốn.”

    Việt Nam không thể cạnh tranh với sức mạnh của Trung Quốc và vẫn còn lệ thuộc nặng vào Bắc Kinh về giao thương. Việt Nam được cho là đang cứu xét đưa vụ việc ra trước tòa về vùng biển có tranh chấp, nhưng có thể phải mất nhiều năm để đưa vụ kiện ra trước một tòa án quốc tế.

    Theo giáo sư Thayer, một chọn lựa có thể là lợi dụng sự thách thức của Philippines về tính hợp pháp của những khẳng định chủ quyền lãnh hải của Trung Quốc tại một tòa án quốc tế ở La Haye. Ông nói tiếp:

    “Ðường lối tốt nhất về mặt chính trị, nếu không thể hàn gắn được bang giao với Trung Quốc, là cùng với Philippines tìm cách tăng thêm sự khẳng định trong tư cách là một nước bạn của Philippines.”

    Liên minh của Việt Nam với Philippines đã thể hiện một cách nhẹ nhàng hôm thứ hai khi nước này mở các cuộc đấu bóng đá, bóng chuyền và kéo co với thủy thủ trên một hòn đảo trong quần đảo Trường Sa.




    Trước đây, hai chính phủ sẽ e ngại tổ chức một sự kiện như thế, vì sợ rằng sẽ có vẻ như “câu kết” với nhau chống lại Trung Quốc, theo nhận định của ông Alexander Vuving, một chuyên gia phân tích về an ninh ở Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á Thái Bình Dương tại Hawaii.

    Tuy nhiên, mọi sự nay đã đi tới một điểm mà cả hai nước có thể tăng cường và bày tỏ tình đoàn kết.

    Ông Vuving nói Việt Nam cũng có thể trông đợi sự ủng hộ từ bên ngoài khu vực:

    “Ấn Ðộ ở cách xa nhưng cũng đã tỏ ý ủng hộ Việt Nam vì thế nhìn vào lợi ích cốt lõi của cả hai nước, tôi cho rằng các đồng minh vô tình này, nếu muốn dùng từ ấy, sẽ là Philippines, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Ấn Ðộ.”

    Việt Nam đã tiến gần hơn về phía Hoa Kỳ ngay cả trước khi xảy ra vụ khủng hoảng về giàn khoan trong một “đường lối hòa giải liên tục để đối lại với sự trỗi dậy của Trung Quốc,” theo nhận định của ông Vuving.

    Nhưng bộ chính trị Việt Nam cũng chia rẽ về mức độ thân cận mà họ tiếp xúc với Washington. Một số không muốn cải cách chính trị, và một số khác đã đầu tư quyền lợi vào quan hệ kinh tế với Trung Quốc. Ông nhận định:


    “Tôi nghĩ về cơ bản, nhưng người chủ trương cách tân muốn lại gần Hoa Kỳ hơn, không phải chỉ để bảo vệ lãnh thổ mà còn để cải cách kinh tế nữa. Nhưng ngay lúc này, thì phe này không có đại diện nhiều trong bộ chính trị.”

    Trong khi đó, ngay trong nước Việt Nam đang chuẩn bị về lâu về dài. Hôm thứ hai, Quốc Hội đã thông qua một kế hoạch dự chi 760 triệu đôla để hỗ trợ cho ngư dân và đội tuần duyên.

    Ngân khoản sẽ được dùng để mua thiết bị tuần tra và xây dựng tàu đánh cá ngoài khơi cho Ðội Tuần Duyên Việt Nam, cho Lực lượng Kiểm ngư Việt Nam và ngư phủ.

    Khoản này bao gồm việc xây dựng 3 ngàn tàu đánh cá bọc thép, theo ông Trần Cao Mưu, Tổng thư ký Hội Ngư nghiệp Việt Nam. Ðội tàu hiện nay khoảng 100 ngàn chiếc là tàu gỗ.

    Ông Mưu nói các chính sách khai thác tài nguyên trong hải phận Việt Nam không phải là mới, nhưng vấn đề đã trở nên “nóng hơn” sau các hành động khiêu khích của Trung Quốc ngoài biển.

    Việt Nam đã tố cáo Trung Quốc là đâm vào tàu của họ trên 1 ngàn 400 lần, một lần khiến một tàu đánh cá bị chìm.

    Bất chấp các mối nguy hiểm ngày càng nhiều, ông Mưu nói các tàu đánh cá Việt Nam đang hoạt động bình thường trên biển.


    Lannguyen xin chân thành cảm ơn Trà Mi-VOA, Marianne Brownhttp://www.voatiengviet.com/content/vn-khong-co-nhieu-lua-chon-trong-vu-tranh-cai-ve-bien-voi-tq/1934586.html
    Lannguyen

  2. #62
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Lời thú tộii kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam

    Bạo loạn đám đông và bạo lực nhà nước

    Phạm Đình Trọng

    Để xảy ra cuộc bạo loạn kéo dài suốt hai ngày, trên phạm vi rộng từ Bắc vào Nam, gây thiệt hại lớn về chính trị, kinh tế, xã hội nhưng những địa chỉ có trách nhiệm đã hồn nhiên đứng ngoài cuộc, không mảy may chịu trách nhiệm, không nghiêm túc nhìn vào thực chất vụ việc. Để rồi người dân phải gánh hậu quả là những cuộc biểu tình chính đáng, ôn hòa của người dân yêu nước càng bị đàn áp phi pháp, tàn bạo. Rồi ông tướng công an Hoàng Kông Tư quen mặt lại nói trong cuộc họp báo của Chính phủ rằng: Cuộc bạo loạn xảy ra là do tổ chức phản động có tên Việt Tân kích động, xúi giục thì dư luận đã bị dẫn dắt đi quá xa sự thật. Bản chất vụ việc càng bị che khuất. Trách nhiệm của công an trong vụ bạo loạn không những càng lu mờ mà vai trò của công an càng được đề cao, dùi cui của công an càng được vung lên trước nguy cơ “tổ chức phản động có tên Việt Tân”. Và người dân yêu nước càng bị đặt trong vòng ngắm của công an, càng được công an “chăm sóc” kỹ càng, chặt chẽ hơn. Quyền con người, quyền công dân của người dân càng bị ngang nhiên xâm phạm!

    I. Thực chất cuộc bạo loạn
    Những gì diễn ra trong cuộc bạo loạn của đám đông hung hãn mặc sức đập phá các doanh nghiệp nước ngoài diễn ra suốt hai ngày 13 và 14 tháng Năm, năm 2014 ở khu tam giác kinh tế Bình Dương – Đồng Nai – Sài Gòn, nơi tập trung các doanh nghiệp nước ngoài đông nhất, lớn nhất, làm ăn hiệu quả nhất trong các khu công nghiệp ở Việt Nam, có thể nhận rõ hai điều quan trọng:

    (1) Đó là cuộc bạo loạn chính trị


    Cuộc bạo loạn có tổ chức, có chỉ huy, có mục đích rõ ràng. Mượn cớ biểu tình chống Trung Quốc, kích động đám đông đi đập phá các doanh nghiệp có chủ Trung Quốc đầu tư nhưng đã đập phá tất cả doanh nghiệp nước ngoài. Trong 460 doanh nghiệp nước ngoài ở Bình Dương bị đập phá chỉ có 2 doanh nghiệp Trung Quốc và vài doanh nghiệp liên doanh với Trung Quốc.
    Có mặt trong đám đông đập phá đương nhiên phần lớn đều là thành phần bất hảo. Hôi của diễn ra là đương nhiên, là hệ quả. Trong đám đông bạo loạn, hôi của chỉ là mượn bão bẻ măng, theo đóm ăn tàn, ăn theo bạo loạn chính trị. Còn những kẻ núp trong bóng tối phát động cuộc bạo loạn có mục đích chính trị rất rõ ràng:
    - Đánh phá kinh tế. Gây bất ổn xã hội. Làm xấu môi trường đầu tư, gây bất an và thiệt hại lớn cho nhà đầu tư nước ngoài. Xua đuổi nhà đầu tư đã vào Việt Nam phải rời bỏ Việt Nam và đe dọa để không có nhà đầu tư mới nào dám đến Việt Nam nữa.
    - Tạo cho chính quyền vốn đã mất lòng dân, đang lo đối phó với sức mạnh nhân dân có cớ lập lờ đánh lận con đen, đánh đồng biểu tình yêu nước với bạo loạn phá phách để ngăn cản và thẳng tay đàn áp những cuộc biểu tình yêu nước chính đáng, lành mạnh và vô cùng cần thiết của người dân.
    - Điều quan trọng nữa là, bạo loạn là dịp thử việc, đo mức độ tin cậy đối với những kẻ đã bán linh hồn cho thế lực nước ngoài muốn khuất phục, nô dịch Việt Nam, là cuộc tập dượt của lực lượng tại chỗ trong mưu đồ đánh phá, thôn tính Việt Nam.
    Chưa thực sự xâm lược Việt Nam bằng sức mạnh quân sự, mới xâm lược bằng đưa giàn khoan vào lãnh thổ Việt Nam ngoài Biển Đông, họ đã huy động được lực lượng hung hãn, mạnh mẽ như vậy. Sau này, khi có sự biến lớn hơn như Trung Quốc phát động chiến tranh, kéo đại quân tràn vào nước ta thì đội quân được mua bằng tiền bạc này cùng với đội quân người Hoa hùng hậu, những tráng đinh Trung Quốc đã được huấn luyện quân sự, đã được nạp tư tưởng bành trướng Đại Hán, đang mang danh người lao động tại những công trình do Trung Quốc thi công, đang là công dân tại những làng Trung Quốc rải khắp trên đất nước Việt Nam được phát động nổi loạn đánh phá từ phía sau, từ trong lòng xã hội Việt Nam phối hợp với đại quân đánh phá từ ngoài vào sẽ là sự bảo đảm chắc thắng cho họ.

    (2) Công an bỏ trống địa bàn cho đám đông bạo loạn

    Người dân yêu nước trong tay chỉ có tờ giấy viết hàng chữ đậm “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam” đi biểu tình ôn hòa chống Trung Quốc xâm lược thì bị công an đến chặn cửa ngăn không cho ra khỏi nhà từ tối hôm trước. Ở nơi diễn ra biểu tình ôn hòa của lòng yêu nước thì công an chìm nổi cùng các lực lượng ngăn chặn, chống phá biểu tình do công an chỉ huy đông gấp nhiều lần người biểu tình. Công an hành xử như xã hội đen, không cần biết đến pháp luật và quyền con người, quyền công dân, hành hung, bắt cóc người biểu tình ôn hòa ngang nhiên giữa ban ngày, giữa đám đông. Công an huy động sức mạnh bạo lực nhà nước cùng bạo lực xã hội đen đã dập tắt nhiều cuộc biểu tình yêu nước từ khi biểu tình chưa kịp nổ ra.
    Cuộc biểu tình hiếm hoi diễn ra được thì người biểu tình bị công an kiểm soát chặt chẽ, bị bao vây, chia cắt thành những nhóm nhỏ bé, lẻ loi, lọt thỏm giữa vòng vây đông đặc của công an chìm nổi và những tổ chức công cụ của công an. Quy mô cuộc biểu tình vì thế đều nhỏ bé đến thảm hại. Lòng yêu nước và khí phách Việt Nam bị đàn áp, bị lăng nhục. Sức mạnh Việt Nam bị vùi dập, bị thủ tiêu. Cuộc biểu tình không đạt được mục đích, không còn giá trị tinh thần và sức mạnh chính trị.
    Nhưng cuộc bạo loạn của những kẻ miệng gào thét, tay vung gậy gỗ, côn sắt đập phá doanh nghiệp ở Bình Dương, Đồng Nai, Sài Gòn diễn ra suốt hai ngày như ở nơi không có chính quyền, không gặp bất cứ sự ngăn chặn nào của chính quyền, của công an. Như có sự chỉ huy thống nhất, ở tất cả những nơi bạo loạn xảy ra, công an đã bỏ trống địa bàn, nhường địa bàn cho lực lượng bạo loạn.
    Điều quá bất thường là ngày thường đủ sắc áo công an, dân phòng rải đầy đường. Chỉ một người dân đi xe máy không đội mũ bảo hộ vừa xuất hiện ở bất kỳ đoạn đường nào, lập tức có dùi cui của công an vung lên. Người dân nghèo bán hàng rong kiếm sống vừa đẩy xe trái cây vào phố liền bị đám dân phòng xúm vào bắt xe, đánh người. Nay hàng trăm người bạo loạn, ầm ầm kéo đi trên đường lớn, tràn từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác mà không thấy một bóng công an, dân phòng. Sức mạnh bạo loạn được phát huy hết công suất. Chỉ riêng ở Bình Dương, trong tổng số 700 doanh nghiệp nước ngoài có tới 460 doanh nghiệp bị đập phá tan hoang đã cho thấy sức mạnh bạo loạn lan nhanh và cường độ lớn như thế nào. Không một nhà đầu tư nào, dù không phải người Trung Quốc cũng không dám xuất hiện đối thoại với đám đông bạo loạn hung hãn không được kiểm soát. Nhiều người vội bỏ doanh nghiệp, bỏ cơ ngơi trốn ra sân bay về nước cho thấy cuộc bạo loạn gây hoảng loạn cho nhà đầu tư nước ngoài như thế nào.

    II. Mặt trận thứ hai đánh phá trong nội địa phối hợp với mặt trận thứ nhất xâm lược ngoài Biển Đông


    Bạo loạn xảy ra là do công an sơ hở, non kém nghiệp vụ ư? Chắc chắn là không phải. Do công an bị bất ngờ, đối phó không kịp ư? Càng không phải. Một đất nước chưa đến trăm triệu dân mà có bộ máy công an mật vụ khổng lồ, với vài trăm tướng lĩnh, vài triệu công an được biệt đãi, được quyền đứng trên pháp luật đã trở thành đội kiêu binh gây biết bao bất an, gây biết bao án mạng và án oan cho người dân. Bộ máy công an khổng lồ được trang bị kỹ thuật hiện đại nhất, có nghiệp vụ tài giỏi, có kinh nghiệm và thành tích đầy mình đã đánh sập từ trong trứng nước tất cả những ý đồ phủ nhận nhà nước cộng sản dù nhỏ nhất. Với mật độ công an dày đặc trong cuộc sống, giám sát đến từng người dân, giám sát từng phương tiện thông tin liên lạc cá nhân mà để xảy ra vụ Bình Dương ngày 13 và 14 tháng Năm, 2014 là điều vô cùng bất thường.
    Tôi lại nhớ đến những chuyến thăm viếng con thoi khi công khai, khi bí mật, công khai thì ít, bí mật thì nhiều, từ Bộ trưởng cho đến các quan chức Bộ Công an hai nước Việt Nam, Trung Quốc.

    Tôi lại nhớ đến bản Tuyên bố chung tám điểm do Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng ký với Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Hồ Cẩm Đào ngày 15.10.2011 tại Bắc Kinh. Điểm thứ tư của Tuyên bố chung có sáu việc thì việc thứ năm là: “Đi sâu hơn nữa hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực thi hành pháp luật và an ninh;... Tăng cường giao lưu và hợp tác giữa các cơ quan như tòa án, viện kiểm sát, công an, hành chính tư pháp;... tăng cường phối hợp và ủng hộ lẫn nhau trong việc giữ gìn ổn định trong nước của mình”.

    Một đất nước độc lập, có chủ quyền, thi hành pháp luật và an ninh, hoạt động của công an, tòa án hoàn toàn là công việc nội bộ của mỗi nước, là bí mật quốc gia mà lại “đi sâu hơn nữa hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực thi hành pháp luật và an ninh” là đã giao việc cơ mật của quốc gia, giao an ninh của đất nước cho nước ngoài can thiệp rồi, là nước nhỏ đã tự nguyện nhận là phiên thuộc của nước lớn trong việc an ninh, nội trị rồi!
    Văn bản ký kết chia sẻ việc an ninh nội trị của đất nước với một nước đang quyết liệt chống phá, thâu tóm đất nước mình trắng trợn, độc ác trên tất cả các mặt đời sống xã hội từ chính trị, kinh tế, văn hóa đến đất đai, lãnh thổ thì văn bản ký kết đó thực sự là bản hợp đồng mang lợi ích đất nước ra đánh đổi lấy lợi ích của đảng cầm quyền rồi. Ở phạm vi quốc gia đã có bản hợp đồng bất lợi cho đất nước như vậy thì ở phạm vi cá nhân làm sao tránh được những bản hợp đồng không thành văn của những quan tham mang lợi ích ích đất nước đánh đổi lấy lợi ích riêng của quan tham.
    Từ những cuộc bạo loạn vừa qua có thể thấy rằng thế lực đang chống phá, khuất phục Việt Nam đã thực hiện rất thành công trong việc mở mặt trận thứ hai ngay trong lòng xã hội Việt Nam đánh phá làm suy yếu, cô lập Việt Nam, phối hợp với mặt trận thứ nhất do giàn khoan HD981 mở ra ngoài Biển Đông. Mở mặt trận thứ nhất ngoài Biển Đông hoàn toàn do thế lực bên ngoài. Nhưng chỉ có thế lực bên ngoài thì không thể mở được mặt trận thứ hai trong nội địa.
    III. Bạo loạn tạo cớ để bạo lực nhà nước càng hướng vào nhân dân
    Làm suy yếu Việt Nam để Việt Nam trở thành chư hầu của Trung Quốc, suốt hơn nửa thế kỷ qua Trung Quốc bền bỉ thực hiện hai việc cổ điển nhưng đầy hiệu quả là đánh phá kinh tế Việt Nam và đánh phá đội ngũ quan chức nhà nước Việt Nam, những người quyết định sự thành bại của đất nước Việt Nam.

    Trung Quốc đánh phá kinh tế Việt Nam đã được nhiều bài viết, nhiều người chỉ ra, mọi người đầu thấy rõ. Từ đánh phá nhỏ nhen, ti tiện, hạ đẳng như lùng mua móng trâu giá cao, diệt nguồn sức kéo trong nông nghiệp. Mua rắn, kích thích người dân tận diệt rắn để chuột sinh sản tàn phá mùa màng. Đến đánh phá lớn rất công nghiệp, rất hiện đại như bỏ thầu giá thấp, trúng thầu những công trình xây dựng công nghiệp lớn để nhà thầu Trung Quốc xuất khẩu vật tư, thiết bị chất lượng kém và xuất khẩu lao động phổ thông, xuất khẩu cả tội phạm hình sự sang Việt Nam. Rồi thi công dây dưa, cầm chừng đòi trượt giá, đội giá vừa đẩy giá thầu lên cao vừa kéo dài như vô tận thời gian thi công, kìm hãm tiến độ phát triển cả nền công nghiệp Việt Nam. Điện khí hóa là tiêu chí đầu tiên của công nghiệp hóa. Điện lực phải đi đầu trong công nghiệp hóa và nguồn điện quyết định sự phát triển kinh tế và xã hội nhưng đời sống kinh tế và đời sống xã hội Việt Nam suốt mấy chục năm qua luôn thiếu điện vì hầu hết các công trình xây dựng nhà máy phát điện đều bị các quan tham Việt Nam giao cho các nhà thầu Trung Quốc thâu tóm.


    Nhiều người đã chỉ ra ngón đòn độc ác, thâm hiểm của Trung Quốc đánh vào kinh tế Việt Nam. Nhưng ngón đòn đánh vào con người, đánh vào quan chức Việt Nam chưa được chỉ ra đúng mức độ nguy hại của nó. Trung Quốc đánh vào con người, đánh vào đội ngũ quan chức Việt Nam đầu tiên bằng ý thức hệ xã hội chủ nghĩa lừa bịp. Đã vất bỏ chủ nghĩa xã hội từ lâu nhưng Trung Quốc vẫn duy trì Đảng Cộng sản, vẫn núp dưới tên xã hội chủ nghĩa bịp bợm để thực hiện chủ nghĩa tư bản hoang dã dưới sự chuyên chính của
    Đảng Cộng sản, tước đoạt mọi quyền con người, quyền công dân, quyền tư hữu đất đai của người dân nhằm hiện đại hóa nhanh nhất và quan chức của Đảng có đặc quyền, đặc lợi cướp đoạt tài nguyên đất nước, bóc lột nhân dân, vơ vét bổng lộc, làm giàu nhanh nhất. Núp dưới cái tên cộng sản, cái tên xã hội chủ nghĩa, Trung Quốc cũng giăng ra cái bẫy ý thức hệ để nô dịch các nước cộng sản đàn em. Và tháng Chín năm 1990 ở Thành Đô, cái bẫy đó đã sập xuống Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Một nhóm nhỏ những người có quyền lực trong Đảng Cộng sản Việt Nam vì đặc quyền đặc lợi do thể chế độc tài đảng trị dành cho họ, họ cố chống lại xu thế dân chủ hóa tất yếu của thời đại, của dòng chảy lịch sử, cố duy trì sự độc tài đảng trị. Nhưng trước sự sụp đổ của cả hệ thống cộng sản thế giới, họ trở nên nhỏ bé, bơ vơ, lạc lõng, trống trải, mong manh và nguy khốn vội len lén sang Thành Đô, ký kết những văn bản liên minh với Trung Quốc thực chất là chấp nhận phụ thuộc vào Trung Quốc để duy trì sự tồn tại của Đảng Cộng sản, duy trì chủ nghĩa xã hội phản con người, phản tự nhiên, tự chui vào cái bẫy ý thức hệ của Trung Quốc.

    Từ đó, mỗi cam kết, mỗi thỏa thuận, mỗi tuyên bố chung, mỗi hiệp định, mỗi hợp đồng kinh tế mà quan chức của Đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam ký với Trung Quốc là thêm một thiệt thòi, mất mát của đất nước Việt Nam, là thêm một lần quan chức Việt Nam gục ngã trước những đòn đánh phá hiểm độc của Trung Quốc, là sợi dây trói buộc Việt Nam với Trung Quốc càng thít chặt hơn, Việt Nam càng phụ thuộc vào Trung Quốc nhiều hơn. Chỉ nêu vài dẫn chứng:

    Năm 1999, ký hiệp định biên giới Việt - Trung, Việt Nam phải cắt cho Trung Quốc hàng ngàn kilomet vuông đất đai thiêng liêng của tổ tiên.

    Năm 2001, Tuyên bố chung do Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh ký với Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân, Việt Nam phải giao mảnh đất chiến lược Tây Nguyên cho Trung Quốc vào lập lãnh địa riêng khai thác bô xít, rước về cho dân tộc Việt Nam cái họa vô cùng nguy hại về an ninh, môi trường, gây cho kinh tế Việt Nam bệnh chảy máu mất nguồn vốn lớn của nền kinh tế đất nước từ năm này qua năm khác để nhận lấy thua lỗ kéo dài, gây mất lòng tin của người dân với chính quyền, gây chia rẽ, ly tán trong nội bộ dân tộc Việt Nam. Hàng loạt quan chức vì lợi ích cá nhân cố sống cố chết bảo vệ dự án bô xít Tây Nguyên chỉ mang lợi lộc cho Trung Quốc mà gây đại họa cho dân tộc Việt Nam.

    Những hợp đồng cho Trung Quốc thuê hơn ba trăm ngàn hecta rừng đầu nguồn trong nửa thế kỷ với giá rẻ như cho không thực sự là những hợp đồng quan chức Việt Nam bán mình cho Trung Quốc. Rồi 90 phần trăm công trình xây dựng công nghiệp đều lọt vào tay nhà thầu Trung Quốc để các nhà thầu Trung Quốc dùng chính các công trình trúng thầu đó đánh phá kinh tế, chống phá tiến trình công nghiệp hóa của Việt Nam. Mục tiêu Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đến năm 2020, Việt Nam trở thành nước công nghiệp hóa không thể thực hiện được là do sự chống phá hiểm độc này.

    Các đòn Trung Quốc đánh phá kinh tế Việt Nam cũng là đòn đánh phá con người quan chức Việt Nam. Các quan chức có gục ngã thì các đòn kinh tế mới được thực hiện. Dự án bô xít Tây Nguyên là đòn kinh tế nặng nề gây thiệt hại rộng lớn, kéo dài cũng là đòn đánh vào đội ngũ quan chức rộng lớn từ cấp cao nhất. Vụ bạo loạn đánh phá các doanh nghiệp nước ngoài tuy chỉ diễn ra trong hai ngày giữa tháng Năm 2014 cũng gây thiệt hại kinh tế không kém gì vụ bô xít.

    Đã chui vào bẫy ý thức hệ của Trung Quốc thì đành phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Đến nay dự án bô xít đã thất bại thảm hại, càng thực hiện, càng thua lỗ, càng nguy khốn nhưng vẫn không thể bỏ. Thất bại, thua lỗ thảm hại nhưng các cơ quan nhà nước có trách nhiệm đều không dám chỉ ra cội nguồn đại họa của dự án bô xít Tây Nguyên. Cũng như cơ quan công an không thể tìm ra thủ phạm đích thực của vụ bạo loạn. Không lôi ra được thủ phạm đích thực của bạo loạn thì đành lôi Việt Tân ra thế mạng! Ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang không hề giết bà Hoan mà công an còn làm ra được bản án ông Chấn tự nhận đã giết bà Hoan thì mấy người không phải Việt Tân phải tự nhận Việt Tân chỉ là chuyện nhỏ.

    Trong cuộc họp báo tổ chức ở Hà Nội sau cuộc bạo loạn Hà Tĩnh, Bình Dương nửa tháng, tôi lại thấy ông tướng Hoàng Kông Tư quen mặt. Lại thấy và quen mặt vì đầu tháng 11 năm 2010, chỉ sau hai ngày công an xông vào khách sạn ở Sài Gòn bắt tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ với tang chứng tởm lợm là hai bao cao su tanh tưởi trong sọt rác phòng tiến sĩ Vũ thuê thì ông trung tướng, thủ trưởng cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an Hoàng Kông Tư cùng ông trung tướng thứ trưởng Bộ Công an Tô Lâm liền chủ trì cuộc họp báo ở Hà Nội để ông trung tướng Hoàng Kông Tư với vẻ mặt nghiêm trọng, với cách nói tự tin thông báo rằng: Ông Cù Huy Hà Vũ tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý đòi lật đổ chế độ, thực hiện đa nguyên đa đảng! Trong cuộc họp báo về vụ bạo loạn, ông tướng Hoàng Kông Tư vẫn với vẻ mặt đầy nghiêm trọng nhưng trong cách nói tôi nhận ra có chút lượn lờ, vòng vo, chung chung và không còn nhiều tự tin khi ông nói rằng: Có sự kích động, xúi giục của kẻ địch mà công an đã phát hiện, bắt giữ để điều tra làm rõ theo qui định của pháp luật. Tổ chức phản động có tên Việt Tân đã kích động, xúi giục!


    Vì cái bẫy ý thức hệ, các quan chức của Đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam đều không dám đả động đến những hành động thù địch, những tội ác của Trung Quốc đối với Việt Nam. Suốt mấy chục năm nay, Trung Quốc quyết liệt đánh phá Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực. Lấn chiếm đất ở biên giới. Xua quân tràn vào Việt Nam, gài thuốc nổ phá sập từ cái giếng nước, bắn giết hàng vạn người dân Việt Nam. Đánh cướp quần đảo Hoàng Sa, bãi đá Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Bắn giết dân Việt Nam đánh cá trên biển Việt Nam. Cắt cáp tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam. Trắng trợn xâm lược Việt Nam bằng đưa giàn khoan 981 và hơn trăm tàu hộ tống, cả tàu dân sự và tàu quân sự vào biển Việt Nam. Nhưng ông Tổng Bí thư Đảng Cộng sản thì nín thở, không dám ho he. Còn ông tướng đứng đầu lực lượng giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam vẫn nhắm mắt ngợi ca kẻ đang cướp đất cướp biển Việt Nam, đang giết dân Việt Nam: Quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể các mặt đang phát triển tốt đẹp!


    Ông Tổng Bí thư Đảng, ông Đại tướng ủy viên Bộ Chính trị còn không dám đả động đến ông bạn vàng ý thức hệ của Đảng thì mấy ông tướng công an làm sao dám chỉ ra kẻ giấu mặt chỉ huy cuộc bạo loạn vừa rồi là tình báo Hoa Nam. Thôi, cứ buộc Việt Tân tội kích động bạo loạn là tiện nhất, vẹn cả đôi đường. Vừa tránh không động chạm đến ông bạn Thành Đô bốn tốt, mười sáu chữ vàng của Đảng. Vừa đẹp ý Đảng, lại có cớ mang công cụ bạo lực nhà nước ra ứng xử với biểu tình yêu nước như ứng xử với Việt Tân, cứ thẳng tay đàn áp như đàn áp cuộc biểu tình chính đáng của người dân Hà Nội, Sài Gòn ngày 18 tháng 5, năm 2014. Và những cuộc biểu tình của khí phách, của ý chí bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của người dân Việt Nam đã bị bạo lực nhà nước cộng sản Việt Nam đàn áp quyết liệt, tàn bạo!


    P. Đ. T.


    Tác giả gửi BVN

    Được đăng bởi bauxitevn

    Lannguyen xin chân thành cảm ơn Phạm Đình Trọng và http://boxitvn.blogspot.com/2014/06/...-nha-nuoc.html
    Lannguyen

  3. #63
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Lời thú tộii kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam

    Cám ơn cái giàn khoan!

    Tương Lai



    Gượm hãy chụp mũ kẻ viết câu này là "thân Tàu". Vì cái giàn khoan là một phép thử. Đại để như học trò làm thí nghiệm trên tờ giấy quỳ. Nhúng mảnh giấy quỳ vào dung dịch, nếu giấy quỳ giữ nguyên màu tím thì dung dịch đó trung tính, nếu ngả sang màu xanh thì dung dịch đó mang tính kiềm, nếu chuyển sang màu đỏ thì dung dịch đó mang tính axit. Cũng thế với cái giàn khoan 981 kẻ cướp, giữa thanh thiên bạch nhật, hùng hổ, ngang ngược tọa đặt vào vùng biển của Việt Nam với hàng trăm tàu chiến tháp tùng máy bay yểm trợ cố tình khiêu khích.


    Chúng định làm gì? Khoan dầu ư? Cũng có thể. Siêu cường "trỗi dậy hòa bình" đang khát nhiên liệu. Nhưng với nhiều nhà bình luận quốc tế cũng như những học giả am hiểu về Trung Quốc thời Đặng Tiểu Bình cũng như thời Tập Cận Bình đều cho rằng đây là một phép thử. Thử bản lĩnh và cách ứng xử của đối phương trong tham vọng bành trướng mà cái "lưỡi bò" ham hố thè ra với đường 9 đoạn tự vẽ trên Biển Đông. Một chiêu giương đông để kích tây, gõ trống khua chiêng, diễu võ giương oai ở Hoàng Sa để ngấm ngầm quyết liệt mưu toan ở Trường Sa?


    Trò đời, cái anh già mồm, bạo miệng hùng hùng, hổ hổ lại là anh thiếu tự tin trước đối thủ. Họ muốn thử phản ứng của Mỹ, của Nhật mà họ tự biết sự to xác của một quốc gia với hơn 1,2 tỷ dân, tuy đã có sự trỗi dậy mạnh mẽ khá ngoạn mục để đoạt ngôi vị thứ 2 về kinh tế của Nhật nhưng còn kém xa Nhật về nhiều mặt mà nhiều thập kỷ nữa vẫn chưa có thể đuổi kịp chứ chưa nói đến Mỹ. Và rồi, sự quyết liệt của Thủ tướng Nhật Shinzo Abe, của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel khiến cho Trung Quốc mất mặt ở "Đối thoại Shangri La", trước công luận quốc tế! Nhục quá hóa liều, viên tướng đại diện cho đoàn Trung Quốc nổi đóa làm xôn xao hội trường.

    "Khó có thể hiểu sao phía TQ lại tỏ ra cộc cằn đến vậy. Có lẽ vì họ bị phê phán quá nhiều tại cuộc đối thoại lần này", ông Christian Le Miere của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS), đơn vị tổ chức "Đối thoại Shangri-La" nhận xét.

    Để chữa thẹn và trấn an người dân Trung Quốc, ngày 3.5.2014, CNR và CCTV phải đưa tin về tàu Trung Quốc tấn công tàu Việt Nam để cho dân họ thấy là tàu họ mạnh hơn, nhiều hơn, hiện đại hơn nhưng đâm ra "giấu đầu hở đuôi", tạo hiệu ứng ngược "lạy ông tôi ở bụi này"! Tính toán sai lầm trong phép thử khiến chiếc mặt nạ "trỗi dậy hòa bình" rơi xuống, để lộ nguyên hình bộ mặt hiếu chiến một "siêu cường nhưng chưa trưởng thành" với sự ngạo mạn của một "kẻ gây hấn tiềm tàng trong khu vực" nhưng tự biết mình yếu thế như nhận định của Gabriel Grésillon, thông tín viên của Les Echos thường trú tại Bắc Kinh.

    Nhưng có lẽ cái "phép thử" cho ra kết quả ngoạn mục nhất lại là với Việt Nam, người láng giềng "cùng chung ‎ thức hệ xã hội chủ nghĩa", từng "thắm tình hữu nghị, núi liền núi, sông liền sông, chung một Biển Đông" vốn "sơn thủy tương liên, lý tưởng tương thông, văn hóa tương đồng, vận mệnh tương quan" (?!) với ông chủ cái giàn khoan kẻ cướp kia! Cách đây chưa lâu có những người bị đạp vào mặt, đánh cùi chõ vào mũi, nện dùi cui vào đầu vì đã dám thẳng thắn chỉ ra sự lừa mị của bốn điều đặc biệt nọ cùng với phương châm 16 chữ bịp bợm kia, thì nay chính cái giàn khoan kẻ cướp này đã lột trần sự lừa mị, bịp bợm đó mà không cần phải phân tích lý‎ lẽ, định hướng tuyên truyền, đăng đàn diễn thuyết cho khô cổ bỏng họng làm gì mất công!


    Lời tuyên bố rành rọt và đanh thép của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó" đã thể hiện được ý chí và khát vọng của mọi tầng lớp nhân dân, đi thẳng vào lòng người, chạm đến cái điểm sâu kín nhất, thiêng liêng nhất trong tâm thế dân tộc Việt. Những người am hiểu về thời cuộc hiểu rõ rằng không hề đơn giản để nói lên được điều hợp lòng dân đó. Tầng tầng lớp lớp những rào cản đã, đang và sẽ còn giăng ra từ những thế lực vẫn muốn bám víu lấy thứ "hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc" nhằm giữ lấy cái ghế quyền lực đã lung lay rệu rã của những Ích Tắc, Chiêu Thống thế hệ mới! Thì chẳng phải không thiếu những tiếng kèn lạc điệu gây bất bình, căm phẫn công luận nhưng lại được cất lên dõng dạc ở những nơi rất chi là trang nghiêm đó sao!

    Cho nên, liệu có phải tuyên bố đó đánh dấu một giai đoạn mới trong ứng xử với Trung Quốc? Câu hỏi được đặt ra đòi hỏi một sự giải đáp. Tuy nhiên, để minh bạch và sòng phẳng cho lời giải đáp ấy thì còn cần phải có sự tiếp sức của ý chí và sức mạnh của dân tộc được khởi đầu từ nhận thức và hành động của mỗi một người dân, của các tầng lớp nhân dân, trước hết là của trí thức và thanh niên. Áp lực của lòng dân, sức dâng trào của làn sóng công luận là động lực thúc đẩy lịch sử đi tới từ những bước tiệm tiến đến những đột phá khó mà nói trước được.

    Lịch sử vốn thế. Và thời gian đang ủng hộ cho những quyết sách hợp lòng dân.

    Thì đó, liên tục từ đầu tháng 5.2014 đến nay, hệ thống truyền thông đại chúng đã liên tục đưa tin bằng những lời mạnh mẽ, quyết liệt, gọi đúng tên kẻ cướp thật khoái tai. Những chiếc "tàu lạ" dạo nào nay đã được chỉ đích danh là tàu Trung Quốc, là bọn kẻ cướp đang hung hăng hoành hành trên vùng biển của ta. Hy vọng rằng những cố gắng không mệt mỏi của những biên tập viên Đài Truyền hình, những thiên phóng sự nóng hổi được chiếu trên màn hình, những trang báo mạnh mẽ, sống động của "lề phải" đang vạch mặt kẻ xâm lược sẽ đủ sức xua bớt đi những mơ hồ, lệch lạc đã từng gieo bám vào đầu óc của bà con ta về nước "Trung Quốc xã hội chủ nghĩa anh em" nhất là ở nông thôn, những nơi không có đủ điều kiện theo dõi tin tức từ mạng internet, cũng là do họ buộc phải xướng lên, viết lên chứ cũng chẳng phải ai khác. Ngoạn mục cũng ở đây mà xót xa cũng ở đó!
    Xem ra, lật mặt nạ kẻ "mượn màu son phấn đánh lừa con đen"*, bắt nó hiện nguyên hình là "cũng phường bán thịt, cũng tay buôn người"* bấy lâu nay cố công tô son, trát phấn cho những điều "thiêng liêng" được xem là "nhạy cảm" bậc nhất này cũng là từ cái giàn khoan đang phơi mặt ra giữa Biển Đông cả đấy thôi. Đúng là họa trung hữu phúc, trong cái rủi có cái may! Không phải ai khác mà chính Trung Quốc, bằng hành động ăn cướp của mình đã lộ diện là một siêu cường hiếu chiến khiến khu vực Đông Á, Đông Nam Á, châu Á và cả thế giới phải cảnh giác. Có thể mượn lời cũng của Gabriel Grésillon để nói về hình ảnh cái giàn khoan 981 bất chấp pháp lý và đạo lý: "Nơi đây là mồ chôn của sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc"!

    Mà thật ra, làm sao "trỗi dậy hòa bình" được khi mà tư tưởng bành trướng Đại Hán đã ăn sâu vào cốt tủy và não trạng giới cầm quyền của đế chế Trung Hoa qua các triều đại từ xưa đến nay. Điều cay đắng phải nói là do vị thế địa-chính trị oái oăm của đất nước liền kề với nước láng giềng khổng lồ khiến cho dân tộc Việt Nam hiểu rõ hơn ai hết về hiểm họa tiềm tàng chưa bao giờ dứt này. Không thể chuyển bán đảo hình chữ S đứng nhìn ra Biển Đông đi nơi khác mà sống thì phải bám trụ lại với khí phách "có cứng mới đứng đầu gió" như bao đời ông cha ta răn dạy.


    Cho nên, phải cảnh giác! Tinh thần cảnh giác chống ngoại xâm đã khắc sâu vào tâm thế của một dân tộc luôn phải thường trực chống lại nguy cơ đồng hóa của chủ nghĩa bành trướng đại Hán vốn cũng thường trực trong não trạng các thế lực cầm quyền Trung Quốc. Lịch sử Việt Nam dày đặc những trang chống ngoại xâm. Và dường như chưa đủ, ông cha ta còn tạc vào hình thể núi sông những chứng tích trường tồn cùng năm tháng để răn dạy con cháu bài học cảnh giác. Hình tượng con voi cụt đầu ở vùng đồi trung du miền Bắc trong truyền thuyết về 100 ngọn đồi, 99 còn nguyên vẹn, một bị sạt lở mất đỉnh, đấy là hình ảnh con voi bị chém vì đã lìa đàn quay đầu về phương Bắc là một ví dụ. Hòn Vọng Phu ở Đồng Đăng, Lạng Sơn là một ví dụ khác.

    Cần nói thêm rằng, trên đất nước này, không chỉ có một Hòn Vọng Phu ở Lạng Sơn, mà còn nhiều Hòn Vọng Phu khác nữa, chẳng hạn, Hòn Vọng Phu trên đỉnh núi Bà, Bình Định, Hòn Vọng Phu trên đỉnh M'drak, Đắk Lắk, Hòn Vọng Phu trên đỉnh núi Nhồi, Thanh Hoá, Hòn Vọng Phu bên bờ khe Giai, bản Cơ Lêc, Nghệ An... Chiến tranh chống ngoại xâm diễn ra triền miên, hình ảnh người vợ đứng ngóng chồng trở về từ chiến trường đã hóa đá là một biểu tượng bi tráng của dân tộc này. Khát khao hòa bình, chấm dứt chiến tranh, vì thế, là đòi hỏi của cuộc sống.

    Tranh thủ mọi điều kiện và phương tiện để duy trì hòa bình, chủ động tránh đẩy tới chiến tranh là chiến lược và sách lược của người lãnh đạo có bản lĩnh và viễn kiến chính trị hiểu rõ khát vọng của dân và xu thế chung của thế giới. Song hòa bình không thể thực hiện bằng sự nhu nhược và đớn hèn. Đơn giản chỉ vì kẻ xâm lược không bao giờ có thiện ý từ bỏ mưu đồ của chúng. Cho nên, hòa bình chỉ giữ được khi chúng ta có thực lực. Thực lực ấy được khởi động, quy tụ và phát huy từ ý chí và sức mạnh của cả dân tộc bắt đầu từ mỗi người dân. Thật dễ hiểu, vì "chúng ta càng nhân nhượng, địch càng lấn tới" đó là chân lý nghiệt ngã. Chúng chỉ buộc phải dừng lại trước khí phách của cả một dân tộc không chịu cúi đầu như đã từng "cửa Hàm tử giết tươi Toa Đô, sông Bạch Đằng bắt sống Ô Mã... khiến cho chúng "ra đến biển chưa thôi trống ngực, về đến Tàu còn đổ mồ hôi" mà Nguyễn Trãi đã viết trong "Bình Ngô Đại Cáo".


    Thì chẳng phải là chiến tranh, ngoài những cuộc tranh bá đồ vương khiến người dân buộc phải làm đá lát đường cho những cỗ xe quyền lực lăn bánh, phần lớn là chiến tranh chống xâm lược đến từ phương Bắc của các vương triều Trung Hoa Tần, Hán, Tùy Đường... Tống, Nguyên, Minh, Thanh và hậu duệ của họ. Càng nguy hiểm hơn khi những kẻ bành trướng thế hệ mới lại khoác lên mình bộ áo khoác "ý thức hệ xã hội chủ nghĩa" để dễ bề thực hiện mưu toan bao đời của một đế chế muốn mở rộng cánh cửa về phía Nam.


    Chính cái "ý thức hệ xã hội chủ nghĩa" được lồng ghép, nhào nặn vào trong "bốn quan hệ tốt đẹp" và "phương châm 16 chữ" bịp bợm và lừa mị kia là liều thuốc lú đầu độc não trạng đối phương còn thâm hiểm hơn nhiều mọi thứ vũ khí giết người khác mà Trung Quốc đã sử dụng để tàn sát dân ta trong cuộc chiến tranh biên giới tháng 2 năm 1979, cuộc chiến kéo dài ở vùng núi Lão Sơn năm 1984... Những "Viện Khổng Tử" thời Tập Cận Bình xét cho cùng, cũng chỉ là kế tục âm mưu thâm độc thể hiện trong sắc chỉ của Minh Thành Tổ gửi viên tướng viễn chinh Chu Năng ngày 1 tháng 8 năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406): “Một khi binh lính vào nước Nam, trừ các sách kinh và bản in của đạo Phật, đạo Lão thì không thiêu hủy; ngoài ra hết thảy mọi sách vở văn tự, cho đến cả những loại (sách) ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ, như loại sách có câu “Thượng đại nhân, khưu ất dĩ” một mảnh một chữ đều phải đốt hết. Khắp trong nước phàm những bia do Trung Quốc dựng từ xưa đến nay thì đều giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá sạch hết thảy, một mảnh một chữ chớ để còn”!


    Khởi nguồn từ đây, những lừa mỵ, bịp bợm về bốn điều tốt và phương châm mười sáu chữ khiến cho chiến lược bành trướng càng thêm thâm độc khi mà tội ác chúng gây ra với chiến tranh biên giới phía Tây Nam rồi chiến tranh biên giới phía Bắc 1979 vào lúc đất nước này chưa kịp hàn gắn những vết thương của một cuộc chiến tàn khốc kéo dài. Phải làm vậy vì chúng hiểu rõ Việt Nam là cục xương ngáng ngang họng không cho chúng nuốt trôi miếng mồi chúng thèm muốn. Chỉ tính từ 1974, trong 40 năm "xây đắp tình hữu nghị anh em cùng chung ý‎ thức hệ xã hội chủ nghĩa" thì "người anh em láng giềng" đã 5 lần xua quân xâm lược Việt Nam!


    Với lần thứ 5 này thì thủ đoạn của chúng lại tinh vi và nham hiểm gấp bội với những chiêu giương đông kích tây, cùng với màn diễu võ giương oai ngoài biển là thủ đoạn gây rối kích động tại các khu công nghiệp với một mũi tên bắn ra nhằm nhiều đích ngắm đi liều với những thủ đoạn tinh vi thu gom, mua vét rễ cây, móng trâu, móng bò nhằm diệt nguồn nguyên liệu phá hoại sản xuất gây bất ổn về kinh tế xã hội.. Xem ra chủ đích thâm hiểm của cái giàn khoan 981HD không là chuyện dầu mỏ, cho dù đó là sự thèm thuồng khôn nguôi của chúng, vì không dễ để lấy được dầu ở đó với một chi phí khổng lồ mà những tính toán kinh tế không cho phép. Mục tiêu chính trị với ý đồ khuynh loát Biển Đông của Trung Quốc nhằm hợp pháp hóa "cái lưỡi bò" ham hố và bẩn thỉu của những đầu óc điên cuồng mộng bành trướng tự vẽ ra bất chấp pháp lý lẫn đạo lý thông thường mới là điều cần vạch rõ trước công luận. Cái giàn khoan kẻ cướp sớm muộn cũng phải rút, nhưng còn đó sân bay và những căn cứ quân sự nổi tại bãi đá Gạc Ma, bãi đá Chữ Thập mà chúng đang đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhằm làm nên một chuyện đã rồi trên Biển Đông. Quyết liệt đuổi cái giàn khoan chính là để quyết liệt vạch trần âm mưu thâm hiểm định làm nên "chuyện đã rồi" đó. Đẩy nhanh việc đưa Trung Quốc ra tòa như Philippines đã làm chính là một trong những hành động quyết liệt đó. Dư luận quốc tế đang đứng về chúng ta, bỏ lỡ cơ hội sẽ có tội với đất nước.


    Thật ra, tất cả những điều vừa kể chẳng mới mẻ gì. "Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua ", cuốn sách do nhà xuất bản Sự Thật phát hành năm 1979 đã dẫn ra câu của Mao nói với đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt Nam do Tổng bí thư Lê Duẩn dẫn đầu tại Vũ Hán năm 1963 đủ giải thích tất cả. Có lẽ nên dẫn ra đây một tư liệu lưu trữ tại Thư viện QĐNDVN đoạn Lê Duẩn nói về vấn đề này: "Trước khi đoàn ta về nước, Mao có tiếp anh Trường Chinh và tôi. Mao ngồi trò chuyện cùng chúng tôi và đến cuối câu chuyện ông ta tuyên bố: “Các đồng chí, tôi muốn các đồng chí biết việc này. Tôi sẽ là Chủ tịch của 500 triệu bần nông và tôi sẽ mang một đạo quân đánh xuống Đông Nam Á.” Đặng Tiểu Bình cũng ngồi đó và nói thêm: “Đó chủ yếu là vì bần nông của chúng tôi đang ở trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn!”. Khi chúng tôi đã ra ngoài, tôi nói với anh Trường Chinh: “Anh thấy đấy, một âm mưu cướp nước ta và cả Đông Nam Á. Bây giờ chuyện đã minh bạch.” Họ dám ngang nhiên tuyên bố như vậy. Họ nghĩ chúng ta không hiểu. Rõ ràng là không một phút nào họ không nghĩ tới việc đánh Việt Nam!”.


    Chính vì thế khi trả lời câu hỏi của nhà báo Pháp Danielle Hunebel, Cơ quan Phát thanh-Truyền hình Quốc gia Pháp ORTF: "Có một vài ý kiến cho rằng miền Bắc Việt Nam đang ở trong hoàn cảnh khá cô lập và nói một cách chính trị, khó có thể tránh khỏi trở thành một thứ vệ tinh của Trung Quốc. Có thể nói gì về việc này", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không một giây do dự, dằn giọng trả lời "Không bao giờ"! Chính ở đây, Hồ Chí Minh đã diễn đạt một cách cô đọng và thấm thía nhất lời nguyền của ông cha ta từ thuở "các vua Hùng có công dựng nước" và nay các thế hệ Việt Nam phải biết cách "giữ lấy nước".

    Mà cũng vì thế, cái phép thử nhiệm mầu của cái giàn khoan ăn cướp kia cũng thể hiện rõ nhất ở đây. Cách ứng xử của mỗi người dân

    Việt Nam, từ bà bán rau ngoài chợ đến ông tiến sĩ trên bục giảng cho đến ông lãnh đạo cao ngất ngưởng chốn thâm cung kín cổng cao tường kia trước "cái giàn khoan made in China" này như một "dung dịch" giúp làm hiện rõ lên họ thuộc loại nào: là "trung tính", "mang tính kiềm" hay "mang tính axit" khi "tấm giấy quỳ" được nhúng vào đó giữ nguyên màu tím hay ngả sang màu xanh hoặc chuyển sang màu đỏ! Những "tính kiềm", "tính axit" hay là "trung tính" hiện hình rõ nét trong rất nhiều sự kiện, việc làm, thái độ, tình huống ứng xử, từ một chủ trương, chính sách cho đến một tuyên bố, một phát ngôn.

    Chẳng hạn như có quyết liệt và dứt khoát sử dụng công cụ pháp lý kiện Trung Quốc ra tòa hay không, có quyết liệt đẩy tới việc thực thi dân chủ để huy động được tối đa sức mạnh của dân không. Có quyết liệt xây dựng thể chế nhằm tạo ra động lực phát triển mới, cụ thể hóa bằng những giải pháp của nguyên lý "Dân chủ và Nhà nước pháp quyền là cặp “song sinh” trong một thể chế chính trị hiện đại". Có quyết liệt thực thi những nguyên tắc đã được khẳng định hay không: "Nhà nước pháp quyền phải thượng tôn pháp luật. Pháp luật phải bảo đảm được công lý và lẽ phải. Mọi hạn chế quyền tự do của công dân phải được xem xét cẩn trọng và chủ yếu nhằm bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và những giá trị văn hóa, lịch sử, đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Người dân có quyền làm tất cả những gì pháp luật không cấm và sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép. Mọi quyết định quản lý của Nhà nước đều phải minh bạch".

    Lời nói đi đôi với việc làm, bằng việc làm để chứng minh rằng đây là những lời nói thật, đó chính là sức mạnh quy tụ được lòng dân. Chỉ khi quy tụ được lòng dân, khởi động sức mạnh của dân thì tư tưởng mới trở thành sức mạnh vật chất. Cuộc sống đã chứng minh những ai đến với dân, đi với dân, đáp ứng được ý chí nguyện vọng của dân, được dân ủng hộ, người ấy sẽ thắng. Mà vì vậy đời sống đang diễn ra muôn màu muôn vẻ mà ở đó cần những tấm giấy quỳ làm hiệ rõ ra màu sắc thật của những con người trong thời buổi nhiễu nhương vàng thau lẫn lộn.


    Chao ôi! Chưa lúc nào cuộc sống lại nghiệt ngã một cách bi tráng và thú vị như những ngày tháng 5, tháng 6 này! "Này này sự đã quả nhiên...Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma"*, cái phép thử do ông Tập Cận Bình bày ra "chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe"** để bây giờ lộ nguyên hình cả lũ! Đương nhiên, cũng phải dè chừng có kẻ ma mãnh biết chớp lấy thời cơ để như con kỳ nhông đổi màu nhằm "thay bậc đổi ngôi", không chỉ chuyển sang "trung tính" mà còn "cầm đèn chạy trước ô tô" bằng những lời rất chi là quyết liệt. Cũng chẳng sao, dân họ tinh lắm, tím, xanh, vàng, đỏ họ biết cả, khỏi lo! Vả chăng, lịch sử rất sòng phẳng.

    Quả thật "trong ánh chớp của những cơn dông sáng lòe trong một giai đoạn chuyển động, người ta thấy các sự việc và con người như trần truồng...", đó là lời của Einstein. Thời gian sẽ là vị quan tòa nghiêm minh phán xét về các sự việc và con người ấy. "Mai sau dầu đến thế nào, Kìa gương nhật nguyệt, nọ dao quỷ thần", đó là cảnh báo của Nguyễn Du.
    Vì vậy mà phải "cám ơn" cái giàn khoan kẻ cướp.
    TP HCM ngày 7.6.2014

    T. L.

    Tác giả gửi BVN.
    ___________________
    * Truyện Kiều. Lời quan xử kiện và lời tác giả ** Lời Tú Bà mắng Mã Giám Sinh và Thúy Kiều.
    Được đăng bởi bauxitevn
    Lannguyen xin chân thành cảm ơn Tương Lai và http://boxitvn.blogspot.com/2014/06/...hoan.html#more
    Lannguyen

  4. #64
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Lời thú tộii kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam



    "Nam nhân bắc hướng": Đừng nghĩ dân VN ngu mà đánh lừa! - Nhóm Nhà Giáo Miền Nam (Danlambao)



    I. Hội thảo "Thoát Trung" do ai? nhằm mục đích gì?
    Ngày 5 tháng 6 năm 2014, tại Hà Nội mở ra một buổi hội thảo mang tên “Thoát Trung” (thoát khỏi Trung Cộng). Qua mô tả thì bên trong hội trường, trên cao là biểu ngữ “Đảng Cộng Sản VN quang vinh muôn năm”, bên dưới là tượng Hồ Chí Minh nhìn thẳng vào mọi người như... hăm dọa! Bấy nhiêu thứ ấy thì “thoát Trung” làm sao được? Đảng CSVN là con đẻ của Nga, Tàu; HCM là tay sai, là học trò, là đồ đệ thân tín của Mao Trạch Đông, tên trùm CS khát máu Tàu, chưa nói đến HCM có phải là Hồ Tập Chương, một tên Tàu phù do Mao cấy vào VN để tính bài xâm lược nước VN và đồng hóa dân tộc VN không nữa! “Đứa học trò trung thành, đứa con đẻ làm sao thoát khỏi thày, khỏi cha của nó”? Đó là nhận định ban đầu của người có mặt tại hội nghị.

    Hội nghị thoát Tàu này thu hút đông đảo nhân sĩ, trí thức và giới trẻ, vì nó là vấn đề vô cùng hệ trọng lúc này với VN, nhưng khi hội nghị “lâm bồn” rồi, thì sản sinh ra một “đứa trẻ thiểu năng”, đó là việc xác định sai đối tượng phải “thoát Tàu”, và nếu đã chỉ không đúng đối tượng, thì con đường hay cách thức thoát Tàu cũng đương nhiên sai, "mò không ra lối, đi mười đời cũng không tới nơi!".

    Thông tin cho thấy các học giả, trí thức, giáo sư... tham dự và phát biểu đã lúng ta lúng túng với trọng tâm của vấn đề là: Ai phải thoát tàu, và thoát cái gì, thoát cách nào? Tóm kết lại có hai dòng ý kiến, một ông giáo sư nọ thì nói: phải thoát Trung bằng cách thoát khỏi não trạng "Nam nhân bắc hướng", với cái nghĩa là chúng ta người phương Nam (VN), nhưng đầu óc cứ luôn hướng về phương Bắc (Tàu) như là “nguồn cội”, nên phải tự mình thoát khỏi cái lối suy nghĩ ấy, đơn giản chỉ có thế là ta “thoát Trung”! Và một ý kiến khác là của ông Nguyễn Quang A thì xác thực hơn: Phải thay đổi chế độ, phải có một chính thể tự do, tôn trọng nhân quyền, dân chủ, thì mới thoát Tàu được!

    Hầu hết mọi người chúng ta đồng ý với ý kiến thứ 2. Đó là chìa khóa cho việc thoát khỏi ách nô lệ Tàu, vì Tàu Cộng chỉ có thể khống chế, áp lực với tên đàn em, đúng ra là trên tay sai, nô lệ của nó là Việt Cộng, chứ không thể gây áp lực với bất cứ chính quyền nào tại VN mà không “đồng dạng” CS với chúng!

    Tuy nhiên, chúng tôi không khỏi bức xúc với ý kiến nhóm thứ 1 của ông GS nọ: VN phải thoát Tàu bằng cách từ bỏ não trạng "nam nhân bắc hướng", phải thoát khỏi "chất Trung Hoa trong mỗi con người VN"! Thú thật từ khi biết đi học cho đến khi đã già gần 3 phần tư cuộc đời, chúng tôi chưa từng nghe nhóm từ “nam nhân, bắc hướng” của ông GS, cả trong sách vở lẫn trong truyền khẩu, cả trong sử ký lẫn trong văn chương! Có lẽ đây là một nhóm từ vừa được sản sinh trong bối cảnh đất nước hôm nay, nên nó không có “gốc” mà cũng chẳng có ngọn, vì chỉ trong cái hội nghị này mới có cụm từ đó, chứ bên ngoài xã hội chưa từng ai nghe biết về nó!

    Xét về khía cạnh “văn chương chữ nghĩa” nó không có gốc, mà xét trên thực tế thì nó càng... không có thật! Ông GS cứ lập đi lập lại rằng ta phải thoát Trung” bằng cách sửa bỏ tư duy “hướng về phương Bắc (Tàu) như nguồn cội cội của mình, thì mới thoát được Tàu! Xin lỗi, đọc xong cái lập luận“trời ơi đất hỡi” này, chúng tôi không khỏi bực mình! Ở đâu ra mà ông bảo người VN luôn hướng về Tàu (Bắc hướng) như nguồn gốc, như tổ tiên của người VN vậy? Một điều sai thực tế và mang tính bịa đặt! Thật ra có người VN nào nghĩ như vậy bao giờ? Nếu nghĩ Tàu là nguồn cội, là “cha ông”, là “tổ tiên” của dân Việt, thì đã chẳng có việc Bà Triệu, Bà Trưng, Ngô Quyền, Hưng Đạo Vương, Quang Trung... phải chiêu tập binh mã, kêu gọi toàn dân đồng lòng đánh đuổi quân xâm lược phương Bắc, mỗi khi chúng mò mẫm qua cướp chiếm nước ta! Ông GS có bị lầm lẫn hay là xúc phạm Tiền Nhân vậy?

    Thời xưa đã vậy, còn thời nay ư? Có người VN nào ưa thích Tàu, vọng tưởng về Tàu không? Mà chỉ có GHÉT và SỢ chúng như sợ một thứ bò cạp, rắn độc, một thứ khủng long ăn thịt, luôn rình rập để nuốt chửng VN nhỏ bé của chúng ta! Qua kinh nghiệm ê chề của hàng nghìn năm Bắc thuộc, nên hễ thấy chúng qua là đánh, có chết cũng đánh, như lần chúng chiếm đảo Hoàng Sa của VNCH năm 1974 là quân đội nổ súng, toàn dân ủng hộ; hay trận chiến biên giới phía Bắc năm 1985 mà quân đội VN đã đánh bạt quân Tàu về nước. Còn trận Gạc Ma thì theo các nhà quan sát, nhà nước chỉ... đánh giả, có thể đã có sự mặc cả trả giá nào đó, nên các ngài lãnh đạo đã thí quân cho tên cướp để được lòng chúng, hầu chúng ban cho 16 chữ vàng và 4 tốt mang về mà gặm trong tủi nhục! Hậu quả là hiện nay tại đảo này đã xuất hiện sân bay và cầu cảng của giặc, khiến nhiều người giật mình sợ hãi đã hô lên rằng: Gạc Ma mới là vấn đề chính, còn giàn khoan HD 981 mới chỉ là “việc nhỏ”! Ai quyết đánh Tàu bảo vệ giang sơn, ai dâng đất và chịu làm tay sai, nô lệ Tàu thì mọi người đều rõ, không lẽ ông GS lại không biết? Mời ông và các đồng bạn hãy trả lời giùm chúng tôi một số câu hỏi sau đây thì mọi sự sẽ rõ:

    - Chủ nghĩa CS có phải xuất phát từ trong nước, hay từ Nga, Tàu?

    - Ai mang cái thứ chủ thuyết ngoại lai và vô nhân đạo ấy tròng vào cổ dân VN? Nếu không phải là CS gộc HCM?

    - Ai lừa dối dân rằng CS sẽ đưa người dân đến “Thiên đường CS”, thiên đường đó có hay không? Có ai ngoài CS đã tuyên truyền lừa bịp dân, có hay không thì đã rõ!

    - Ai theo Mao Trạch Đông thực hiện vụ đấu tố đẫm máu giết hại hàng trăm ngàn người Việt trong vụ “cải cách ruộng đất” năm 1954? Nếu không phải là HCM và đảng CS?

    - Ai nói rằng ta đánh Mỹ- Ngụy là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc, và dùng súng đạn của Nga Tàu để giết người Việt, nếu không phải là HCM, Lê Duẩn?

    - Ai “dạy” dân đừng chữa bệnh theo phương pháp Tây y, mà hãy dùng thuốc Tàu, không học theo Tây học, đả phá chữ Quốc Ngữ, mà bảo dân hãy rập theo cái học từ Tàu là Hán học? Ai nếu không phải là tên “TAM VÔ chính hiệu” Trường Chinh: vô gia đình nên mới đấu tố cha mẹ ruột, vô tổ quốc nên đem bán tổ quốc cho Tàu, vô tôn giáo nên triệt hạ tôn giáo, khiến hàng triệu đồng bào miền Bắc phải bỏ quê cha đất tổ, bỏ tài sản, thân nhân để chạy vào Nam tìm tự do và giữ đạo?

    - Ai ký công hàm năm 1958 công nhận Hoàng Sa, Trường Sa là của Tàu, nếu không phải là Phạm Văn Đồng, nhận lệnh từ HCM hay tên Tàu chệt Hồ Tập Chương?

    - Ai cúi đầu trong hội nghị Thành Đô của Tàu, và xin sớm sát nhập VN vào làm quận huyện của Tàu? Phải chăng là Nguyễn Văn Linh, TBT đảng CS VN?

    - Ai ký cho Tàu thuê hàng triệu km2 đất biên giới phía Bắc, cho Tàu vào khai thác bô xít để chúng chiếm đóng và phá tan vùng quân sự trọng yếu ở Tây Nguyên, cho Tàu vào lập làng, lập thành phố của riêng chúng ở Nghệ An, Bình Dương…, giao cho Tàu hàng 90% các cuộc thầu các dự án để chúng phá nước ta, cho nhập khẩu chính ngạch và lậu ngạch đủ thứ hàng hóa độc để giết hại đồng bào trong nước, nếu không phải là các tay chóp bu CS thế hệ hiện tại?

    - Hầu hết mọi đảng viên CS cao cấp đang nắm quyền cai trị đất nước, hàng năm phải khăn gói sang Tàu nộp cống bằng đất đai, tài nguyên, và nhận lệnh từ kẻ cướp về phá tan đất nước, giết hại đồng bào, bắt tù đầy người yêu nước chống Tàu Cộng xâm lăng? Ai, đảng nào vậy, nếu không phải là đảng CS? Còn rất nhiều nữa không kể hết, những cái khốn cùng của dân VN phải chịu do sự liên kết chặt chẽ của 2 KẺ ĐỒNG TÍNH ÁC, LÀ 2 ĐẢNG TÀU CỘNG VÀ VIỆT CỘNG!

    - Cuối cùng, ai bán nước? ai cúi đầu nhục nhã cam lòng làm tay sai cho tàu, tự chui vào rọ, vào tròng của tàu cộng, và đưa cả đất nước vào vòng nô lệ tàu? Có phải là dân VN hay đảng CSVN với “tứ trụ” tôi đòi, cộng thêm kẻ cầm đầu quân đội hèn mạt, mở miệng tuyên bố tình hữu nghị giữa “ta và bạn” vẫn thắm thiết, và thề hứa quân đội VN không làm “phiền hà” cho Trung Quốc, trong khi nó chiếm hết cả nhà ta? Hỏi ai đã làm những điều khốn nạn và tủi nhục trên?

    Nếu ông GS và những người đồng tư tưởng chịu khó đọc các câu hỏi và câu đáp trên xong, thì sẽ nhận chân được ai là kẻ phải thoát Trung, và thoát cách nào, chứ không phải là dân VN phải thoát Trung bằng cách thoát khỏi "chất Trung Hoa trong mỗi con người VN" như các ông nói “dẹo”! Vì làm gì có cái “chất Trung Hoa” nào trong con người VN chúng tôi? Đừng thấy dân hiền mà đổ vạ cho dân, lương tâm nào cho phép làm việc đó?

    II. Ai mới là kẻ phải thoát tàu?

    Như thế đủ để cho chúng ta khẳng quyết rằng: việc phá cũi sổ lồng phải là việc thuộc về tập thể lãnh đạo nhà nước, và kẻ phải thoát tàu là chính cái đảng CSVN, chứ không phải dân chúng VN!

    Cũng chẳng có cái “tư duy” nào là “Nam nhân, Bắc hướng” cả, mà đó chỉ là sự tưởng tượng của một số vị GS, nhân sĩ, trí thức miền Bắc, những người có dính líu đến đảng CS do quyền lợi hay sự nhu nhược sợ hãi mà ra! Ngay cả người CS cũng chẳng có ai mang tư tưởng “Bắc hướng” hiểu như là theo Tàu vì đó là “nguồn gốc” của mình, ngoại trừ Hồ Tập Chương (nếu là thật), còn tất cả đảng viên CS và những kẻ ăn theo, chỉ thuần túy lệ thuộc Tàu là vì muốn bảo vệ đảng, bảo vệ chức quyền, tư lợi mà thôi.

    Vì vậy, xin quý vị đừng có tiện thể sáng chế từ ngữ mới mà lòe hay đánh lạc hướng chúng tôi, vì nghĩ dân chúng VN toàn ngu khờ thiếu học, không biết gì, mà bóp méo, bẻ cong với mục đích che chở, lách tội cho cái đảng độc tài toàn trị gian manh ác độc này. Sự bẻ quẹo lái qua phía dân, đổ cho dân cái tội “Bắc hướng” vô duyên và không thực, rồi ngụ ý bảo “vì dân ngu nên dân chịu” như ông chủ tịch quốc hội CS Nguyễn Sinh Hùng từng nói, và cuối cùng là đổ trách nhiệm cho dân phải tự mình thoát Tàu, còn kẻ “chính chủ” của cái trọng tội ấy là cái đảng CS với một lũ sâu bọ lợi ích thì... vô tội, trắng án!

    Người dân chúng tôi không mắc mớ gì mà đội đít Tàu một cách hèn mạt, hay u mê đến độ rước quỷ về phá nhà! Có chăng một số ít người dân tham lợi trước mắt, nhưng không thấy cái hại về sau là bệnh tật, mất mạng, nên mới buôn bán đồ Tàu, thì cái “ngu” này cũng dễ chữa, chỉ cần nhà nước cấm nhập hàng Tàu, tịch thu đồ lậu thì ai còn bán, lấy đâu ra hàng mà bán? Còn người tiêu thụ chỉ cần bộ y tế thông cáo, phân tích sự độc hại chết người, thì còn ai dám dùng đồ Tàu? Vả lại hàng cấm thì sẽ hiếm, sẽ đắt giá, còn ai thèm mua?

    Như vậy việc thoát Tàu là trách nhiệm của đảng CS VN, tự chui đầu vào vì tham ghế, tham ăn, thì phải tự rút đầu ra! Nếu không tự rút ra được thì phải nhờ đến dân, trao lại quyền làm chủ đất nước cho dân, rồi khăn gói quả mướp cùng bầu đoàn thê tử đi tìm một chỗ khác mà ẩn thân, mà tự hưởng những của cải đã thu nhặt được cho thỏa thích, việc nước đã có dân và những người hội đủ tài đức sẽ gánh vác.

    III. Thoát tàu bằng cách nào?

    Tự chui vào ngõ nào thì tự thoát ra lối ấy, đó là cách thoát, và trách nhiệm thoát Tàu của đảng CS VN. Đảng tự quyền, độc quyền, lạm quyền, chiếm hết quyền của người dân, tự nhận làm Hán nô, nhất nhất mọi việc đều làm theo lệnh của Tàu nên hại nước, hại dân, rước giặc vào nhà, vậy thoát Tàu là đảng phải tự thoát ra khỏi vòng kềm kẹp của nó bằng mọi cách có thể: Đang nắm quyền cai trị đất nước VN là miếng mồi ngon nó nhắm, thì đảng CSVN hãy nhả miếng mồi đó ra, từ chối vai trò nắm quyền làm chủ đất nước, thì sẽ không phải giao nước cho Tàu. Những ký kết đã làm, nếu kẻ ký không còn hay không còn nắm quyền thì đâu phải trả. Nhất là kẻ cho vay với dụng ý xấu xa là muốn kẻ vay phải thế chấp tài sản, cửa nhà để siết nợ, nay không còn chủ quyền trên căn nhà thì đâu có thể giao nhà trả nợ nữa.

    Vì thế nhiều người đã khuyên can đảng CS phải tự tuyên bố giải tán, trả lại quyền làm chủ đất nước cho người dân, rồi dân sẽ bầu chính phủ mới, là xong. Luật pháp quốc tế không bắt buộc chính quyền sau phải thừa kế những bản hiệp định, cam kết của chính quyền trước, đặc biệt là những ký kết có liên quan đến lãnh thổ, lãnh hải, tài nguyên thiên nhiên, và cả những món nợ riêng của cái chính quyền đã không còn tồn tại, nhất là những ký kết lại còn mang tính chất bất công, ép chế, phạm vào quyền độc lập, tự quyết của quốc gia mới! Chỉ cần đảng CSVN không còn, thì chẳng thằng Tàu nào có thể đòi được một mảnh đất, một món nợ nào của dân tộc VN. Nhược bằng không thể tự giải tán ngay, thì hãy từ từ gỡ từng mối cột do mình đã tự tạo:

    - Trả tự do ngay cho tất cả những tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm, là những nhà ái quốc, chống xâm lăng của dân tộc VN.

    - Đưa ngay ra tòa án Quốc tế hồ sơ lý lịch nguồn gốc các đảo Hoàng Sa, Trường Sa, và những bằng chứng sự xâm nhập lãnh thổ, bắt giết ngư dân của tên giang hồ Tàu Cộng, như người dân yêu cầu, và Quốc Tế ủng hộ.

    - Để cho dân tự do biểu tình chống Tàu xâm lược, giữ gìn và bảo vệ an ninh trật tự cho họ.

    - Cấm nhập hàng hóa độc hại của Tàu bằng hàng rào quan thuế, kiểm định phẩm chất hàng hóa như các nước vẫn làm, và tuyên truyền cho dân tránh dùng hàng Tàu, nhất là khi nó đang xâm chiếm nước ta. Không có người mua thì sẽ không còn kẻ bán, hay ngược lại bán hàng có kiểm soát, giá không thấp vì có thuế, hẳn chẳng ai mua sản phẩm của kẻ thù.

    - Ngưng giao cho Tàu các gói thầu, bằng cách kêu gọi các nước khác đầu tư, và kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện các hợp đồng đã ký với Tàu, về chất lượng và thời gian.

    - Không đi đêm, không khom lưng cúi đầu, sẵn sàng bỏ 16 chữ vàng giả và 4 tốt giả của Tàu ban cho CSVN.

    - Bắt tay thực lòng và chặt chẽ với Hoa Kỳ và các nước Âu Châu, Úc, Nhật, Nam Hàn, Philippine… để họ giúp giữ nước và phát triển nước theo chiều hướng tốt đẹp, nhờ Công pháp Quốc tế mà ngăn cản bọn thực dân đỏ Tàu Cộng đang nhắm thôn tính nước ta.

    - Sau hết, trả lại quyền tự do dân chủ, nhân quyền cho người dân, bỏ quyền lợi riêng của bè phái để đặt quyền lợi Tổ Quốc lên trên hết, rồi đứng sau dân để giữ nước. Những quan hệ với Tàu để dân và chính quyền sau lo. Nếu không còn thì giờ và sức lực, thì chỉ có cách đơn gọn là tuyên bố giải thể đảng CS, như đã trình bày trên.

    Tóm lại, việc thoát Tàu chỉ có CSVN phải tự lo, giống như “con thú ăn thịt nhỏ” đang giữ miếng mồi ngon, nên “con thú ăn thịt lớn” mới tấn công để dành mồi, muốn không bị tấn công thì con thú nhỏ phải rời miếng mồi ra và thoát đi, bên cạnh là sự hỗ trợ của người dân và cả thế giới đang dan tay cứu giúp. Đường đi đã vạch sẵn, chỉ còn vấn đề là đảng CS có thực hành không, nếu không thì dân sẽ có cách, vì ngày tàn của CS đã đến, nếu khôn thì chọn cách tàn êm ái, để tập đoàn CS và thân nhân khỏi phải trải qua một cuộc thanh tẩy kinh hoàng của cả ý trời và lòng dân! Nên nhớ rằng còn người Việt yêu nước thì còn nước Việt, và đất nước VN trời đã dành cho người dân VN, không kẻ nào thay đổi được mệnh trời, dù là quỷ hỏa ngục có dậy mà phá! Nên nhớ dân Việt Nam sẽ chỉ chống tàu chứ không phải thoát Tàu như CSVN!


    Lời cuối, chúng tôi yêu cầu các nhà trí thức, giáo sư, nhân sĩ có liên đới hay e sợ CS, hãy thôi cái việc vác ô vác lều đi hội thảo với những phát biểu ầu ơ, chỉ làm hại dân và mất nước! Cái tội ấy, các vị sẽ lãnh hậu quả chứ không phải chuyện chơi trong lúc dầu sôi lửa bỏng này đâu! Nếu quý vị thật lòng yêu nước thương nòi thì hãy tra tay vào gánh trách nhiệm cùng đưa đẩy con thuyền đất nước vượt gian nguy. Nếu chỉ đóng góp bằng tư tưởng, bằng lời thì cũng tốt, nhưng hãy nói bằng những lời chân thực. Nếu cảm thấy mở miệng nói mà còn bị mắc cái nút chai thì thà thôi đừng nói, sẽ đỡ trách nhiệm với lương tâm và với dân nước. Chúng tôi cũng đủ cảm thông để biết rằng “cái nút chai” mà quý vị đang vướng, đó là chút quyền vị hay sự lo ngại cho việc an toàn của các vị, khiến các vị không mạnh miệng được, cũng không sao! Nhưng muốn làm người hướng đạo, định một hướng đi cho người khác lại định sai, thì làm sao mà đi tới đích? Kẻ có tội lại bảo là không, kẻ vô tội và không có khả năng vì bị nắm đầu là dân, thì lại giao trách nhiệm thoát Tàu! Thật là điều phi lý và trái với lương tâm đấy, thưa quý vị!

    "mò không ra lối, đi mười đời không tới nơi", mong các vị cảm phiền vì nói sự thật hay gây mất lòng!

    10/6/2014
    Nhóm Nhà Giáo Miền Nam
    danlambaovn.blogs

    Lannguyen xin chân thành cảm ơn Nhóm Nhà Giáo Miền Nam, danlambaovn.blogs,Việt Dương http://vietduongnhan.blogspot.com/20...an-vn-ngu.html

    Lannguyen

  5. #65
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Lời thú tộii kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam

    Việt-Trung tố cáo nhau đưa tàu võ trang ra khu vực giàn khoan



    Trợ lý ngoại trưởng Hoa Kỳ Daniel Russel


    11.06.2014
    Việt Nam và Trung Quốc tố cáo đối phương đưa tàu võ trang ra khu vực giàn khoan 981 mà Bắc Kinh đặt trong vùng biển Hà Nội có tuyên bố chủ quyền giữa lúc Mỹ yêu cầu đôi bên nên rút hết tàu ra khỏi điểm nóng này.

    Việt Nam nói tuần này Trung Quốc điều động thêm 2 tàu chiến nữa, nâng tổng số tàu chiến của Bắc kinh tại thực địa hiện nay lên thành 6 chiếc cùng với trên 100 tàu các loại và 4 máy bay quân sự để bảo vệ giàn khoan, xua đuổi tàu Việt Nam.

    Trung Quốc nói cáo buộc của Việt Nam ‘hoàn toàn sai trái’ và tố cáo ngược lại rằng Hà Nội gửi tàu võ trang tới quấy phá các lực lượng chấp pháp của Bắc Kinh và hoạt động thương mại bình thường của giàn khoan 981.

    Phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Hoa Xuân Oánh, khẳng định Bắc Kinh không gửi tàu quân sự tới điểm nóng mà đôi bên tranh chấp.

    Bà Hoa nói vì phía Việt Nam cứ tiếp tục các hành vi gây rối, cản trở bằng võ lực và bất hợp pháp nên Bắc Kinh phái tàu chính thức của chính phủ ra để bảo vệ an ninh tại hiện trường, chứ không hề gửi tàu quân sự tới đây.

    Ngược lại, người phát ngôn Bộ Ngọai giao Trung Quốc nói Việt Nam đã huy động rất nhiều tàu võ trang tới cản phá hoạt động của giàn khoan, một cáo buộc mà Hà Nội lâu nay bác bỏ.

    Kể từ khi Trung Quốc đưa giàn khoan 981 vào khu vực, Việt Nam nhiều lần khẳng định chỉ đưa tàu dân sự ra tuyên truyền, yêu cầu Trung Quốc rút ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

    Cục trưởng Cục Kiểm ngư Việt Nam nói với VOA Việt ngữ hơn 30 tàu chấp pháp của Việt Nam trên thực địa bao gồm tàu của lực lượng Kiểm ngư và Cảnh sát biển đều là tàu dân sự không võ trang, và rằng Việt Nam theo đuổi giải pháp đấu tranh ôn hòa, không sử dụng võ lực để đáp trả các hành vi gây hấn của Trung Quốc.

    Ngoài ra, giới chức Việt Nam khẳng định Việt Nam cũng không huy động lực lượng giám sát trên không như Trung Quốc để tránh gia tăng va chạm làm leo thang căng thẳng.

    Cục trưởng Nguyễn Ngọc Oai:

    ‘Quan điểm của Việt Nam là đấu tranh bằng con đường ngoại giao để Trung Quốc thấy đó là chủ quyền Việt Nam. Chúng tôi thể hiện kiên quyết bảo vệ chủ quyền thông qua đàm phán, chứ không dùng võ lực, theo đúng Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển 1982, Thỏa thuận cấp cao Việt-Trung, và Tuyên bố Ứng xử Biển Đông DOC. Chúng tôi chỉ dùng tàu và các lực lượng chấp pháp trên biển để xua đuổi, cản phá để Trung Quốc rút lui. Chúng tôi không có bất cứ hành động nào, kể cả hành động nhỏ nhất như Trung Quốc nói là sử dụng vòi rồng.’

    Vẫn theo giới chức Cục Kiểm ngư, phía Việt Nam cũng không tăng cường lực lượng trên thực địa vì khả năng có hạn.

    Đại sứ Việt Nam tại Liên hiệp quốc hôm qua kêu gọi Bắc Kinh rút lui giàn khoan để tạo môi trường đàm phán giải quyết tranh chấp.

    Ông Lê Hoài Trung cho hãng thông tấn AP biết rằng Trung Quốc từ chối tham gia đối thoại và nhất quyết khẳng định không có vấn đề tranh chấp ở đây vì khu vực xung quanh giàn khoan thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

    Đại sứ Việt Nam nói sự khước từ của Bắc Kinh không chịu thảo luận là khiêu khích và ‘gây quan ngại sâu sắc.’

    Ông Trung nói dù cho tới nay vẫn kiềm chế, nhưng Việt Nam, như mọi quốc gia khác, giữ quyền tự vệ.

    Tuy nhiên, ông nhấn mạnh người dân Việt Nam luôn mong muốn hòa bình và quan hệ hữu nghị với Trung Quốc sau nhiều thập niên chiến tranh.

    Hoa Kỳ lên tiếng yêu cầu đôi bên Việt-Trung rút hết tàu bè và Trung Quốc đưa giàn khoan ra khỏi khu vực có tranh chấp ở Biển Đông để tạo điều kiện ngoại giao, xoa dịu căng thẳng.

    Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Daniel Russel, ngày 10/6, nói vấn đề nằm ở chỗ thái độ hành xử chứ không phải quyền tuyệt đối và một phần của vấn đề bố trí giàn khoan là việc này được thực hiện giữa lúc căng thẳng đang gia tăng tiếp sau hàng loạt các vụ va chạm khác trên biển.

    Dù Mỹ không đứng về bên nào trong tranh chấp Biển Đông, nhưng ông Russel lưu ý rằng Việt Nam nhận chủ quyền Hoàng Sa đã từ lâu và hơn nữa Việt Nam lâu nay đã phát triển các hoạt động dầu khí tại khu vực mà Hà Nội nói thuộc vùng đặc quyền kinh tế ngoài bờ biển Việt Nam.

    Hoa Kỳ nhiều lần khẳng định việc uy hiếp, đe dọa dùng võ lực để thăng tiến các đòi hỏi chủ quyền là hành động không thể chấp nhận.

    Ông Russel cũng khuyến khích các bên nhanh chóng đạt tiến bộ về một Bộ Quy tắc Ứng xử vì một giải pháp ôn hòa cho Biển Đông, sự ổn định cho khu vực, và an ninh hàng hải quốc tế.


    Lannguyen xin chân thành cảm ơn http://www.voatiengviet.com/content/viet-trung-to-cao-nhau-dua-tau-vo-trang-ra-khu-vuc-gian-khoan/1934365.html
    Lannguyen

  6. #66
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Lời thú tộii kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam

    Ngày 19/12/1946: Hồ Chí Minh trốn chạy – Trần Gia Phụng

    Posted by Nguyễn Tuấn on Tháng Sáu 10, 2014 in Tài liệu, Trần Gia Phụng



    Ngày 19-12-1946 được đảng Cộng Sản (CS) gọi là ngày “Toàn quốc kháng chiến”, vì vào ngày đó, Hồ Chí Minh lên tiếng kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Dân chúng Việt Nam vốn yêu nước và căm thù giặc Pháp bảo hộ từ 1884, nên khi nghe lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, liền đứng lên đáp lời sông núi, hưởng ứng cuộc kháng chiến chống Pháp. Thật ra, lý do sâu xa đưa đến việc Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến là do việc Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD) bị Pháp dồn vào thế bí, phải hô hào kháng chiến, nhằm tìm cách trốn chạy khỏi Hà Nội ngày 19-12-1946.


    1.- LỜI THỀ CHỐNG PHÁP


    Sau Đại hội đảng CSĐD tại Tân Trào (Tuyên Quang) từ 13 đến 15-8-1945, Hồ Chí Minh tổ chức tiếp “Đại hội đại biểu quốc dân” ngày 16-8-1945, cũng tại Tân Trào, để thành lập “Uỷ Ban Dân Tộc Giải Phóng Việt Nam”, có tính cách như Chính phủ Cách mạng Lâm thời, do Hồ Chí Minh làm chủ tịch.
    Trong khi đó, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng ngày 14-8-1945. Quân đội Nhật tại Đông Dương buông súng, chờ đợi giải giới. Chính phủ Trần Trọng Kim sụp đổ. Chính phủ nầy không có bộ Quốc phòng, không có quân đội nên không có ai giữ gìn an ninh xã hội trong thời gian chuyển tiếp. Lực lượng võ trang Việt Minh cộng sản tự do thao túng.
    Từ Tuyên Quang, Hồ Chí Minh cùng lực lượng Việt Minh đến Hà Nội ngày 21-8-1945 và xuất hiện trước công chúng ngày 28-8-1945. Sau lễ thoái vị của vua Bảo Đại (trị vì 1925-1945) tại Huế ngày 30-8, thì tại Hà Nội, Hồ Chí Minh gấp rút ra mắt chính phủ lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày 2-9-1945, tại bãi Cột Cờ (Rond point Puginier), mới được đổi tên thành công viên Ba Đình từ đầu tháng 8-1945.

    Tại buổi lễ, sau khi đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”, Hồ Chí Minh hô to hai lời thề. Thứ nhứt, lời thề của Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà: “Chúng tôi, Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do Quốc dân đại biểu đại hội cử lên, xin thề rằng: Chúng tôi sẽ kiên quyết lĩnh đạo làm dân giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc và thực hiện bản chương trình của Việt Minh, đang mang lại tự do, hạnh phúc cho dân tộc. Trong lúc giữ nền độc lập, chúng tôi quyết vượt mọi khó khăn, nguy hiểm, dù phải hy sinh tính mệnh cũng không từ.” Thứ hai, lời thề của Quốc dân: “Chúng tôi, toàn thể dân Việt Nam xin thề: Kiên quyết một lòng ủng hộ chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, ủng hộ chủ tịch Hồ Chí Minh. (Xin thề!) Chúng tôi xin thề cùng chính phủ giữ quyền độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc, chống mọi mưu mô xâm lược, dù có phải chết cũng cam lòng. (Xin thề) Nếu Pháp đến xâm lăng lần nữa thì chúng tôi xin thề: không đi lính cho Pháp, không làm việc cho Pháp, không bán lương thực cho Pháp, không đưa đường cho Pháp. (Xin thề!)” (Tô Tử Hạ và nhiều tác giả, 60 năm chính phủ Việt Nam, Hà Nội: Nxb.Thông Tấn, 2005, tr. 26.)


    2.- HỒ CHÍ MINH NUỐT LỜI THỀ


    Tuy thề như trên, nhưng chỉ nửa năm sau, Hồ Chí Minh vội nuốt lời thề. Nguyên trước khi Nhật Bản đầu hàng, Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa Quốc Dân Đảng (THQDĐ) gởi cho Nhật một tối hậu thư, gọi là tối hậu thư Potsdam ngày 26-7-1945, theo đó sau khi quân đội Nhật đầu hàng, tại Đông Dương quân Nhật sẽ bị giải giới do quân THQDĐ ở bắc và do quân Anh ở nam vĩ tuyến 16.
    Tối hậu thư Potsdam không đề cập đến ai sẽ cai trị Đông Dương sau khi quân đội Nhật bị giải giới và rút về nước, nghĩa là không đưa ra một giải pháp chính trị cho tương lai Đông Dương. Điều nầy sẽ tạo ra một khoảng trống hành chánh và chính trị tại Đông Dương một khi những quyết định trong tối hậu thư Potsdam được thi hành, vì nếu Nhật đầu hàng, chính phủ Trần Trọng Kim do Nhật bảo trợ, sẽ sụp đổ, thì ai sẽ là người có thẩm quyền tại Đông Dương? Đây là kẻ hở mà tân tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman muốn tạo cơ hội cho Pháp trở lại Đông Dương nhằm lấy lòng Pháp, để Pháp ủng hộ chủ trương của Hoa Kỳ về việc ngăn chận sự bành trướng của Liên Xô ở Âu Châu. (Robert S. McNamara, In Retrospect, New York: Times Books, 1995, tr. 31.)
    Ngày 14-8-1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng. Quân đội Anh đến Sài Gòn ngày 13-9-1945 và quân đội THQDĐ đến Hà Nội ngày 14-9-1945. Về phía Pháp, để tìm cách trở lại Đông Dương, Pháp ký với Anh tạm ước về hành chính và tư pháp tại London ngày 8-10-1945, theo đó Anh giao quyền cho Pháp cai trị phía nam vĩ tuyến 16 ở Việt Nam. (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập A, tr. 275.) Sau đó, Pháp ký với THQDĐ hiệp ước tại Trùng Khánh (Chongqing) ngày 28-2-1946, nội dung là Trung Hoa chịu cho quân Pháp thay thế ở bắc vĩ tuyến 16, và ngược lại Pháp nhường cho Trung Hoa nhiều quyền lợi kinh tế ở Bắc Kỳ cũng như ở Trung Hoa. (David G. Marr, Vietnam 1945, the Quest for Power, University of California Press, 1995, tr. 544.)
    Pháp theo quân Anh, tái chiếm Nam Kỳ, rồi tiến quân ra Trung v à Bắc Kỳ. Trong lúc nầy, Việt Minh và Hồ Chí Minh gặp ba trở lực cùng một lúc: 1) Quân THQDĐ. 2) Các đảng phái Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc trở về Việt Nam sau thế chiến 2 như Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ), Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội (Việt Cách)…. 3) Quân Pháp từ trong Nam ra Bắc.
    Nhằm đối phó với các đảng phái Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc, Hồ Chí Minh hối lộ các tướng lãnh THQDĐ để họ sớm đem quân về nước theo hiệp ước Trùng Khánh, và khi quân Pháp đến Hải Phòng sáng ngày 6-3-1946, Hồ Chí Minh kiếm cách thỏa hiệp với Pháp. Vào chiều ngày 6-3-1946, tại số 38 đường Lý Thái Tổ, Hà Nội, Hồ Chí Minh, với tư cách chủ tịch chính phủ Liên hiệp kháng chiến, ký thỏa ước Sơ bộ với đại diện Pháp là Jean Sainteny. Theo thỏa ước nầy, Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (état libre), có chính phủ riêng, nghị viện riêng và tài chính riêng trong Liên Bang Đông Dương và trong Liên Hiệp Pháp (điều 1); Việt Nam sẵn sàng tiếp đón quân đội Pháp đến thay thế quân đội Trung Hoa để giải giáp quân đội Nhật (điều 2).
    Hồ Chí Minh mới thề chống Pháp đó, nay cũng chính Hồ Chí Minh nuốt lời thề, ký thỏa ước hợp thức hóa sự hiện diện của Pháp tại Việt Nam. Như thế chưa đủ. Hồ Chí Minh còn theo phái đoàn Phạm Văn Đồng qua Paris dự hội nghị Fontainebleau và Hồ Chí Minh ký Tạm ước (Modus Vivendi) tối 14-9-1946 với Marius Moutet, bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại. Tạm ước gồm 14 điều khoản, nhượng bộ để cho Pháp tái tục các hoạt động kinh tế, tài chính, giao thông, văn hóa trên toàn quốc Việt Nam.

    3.- CĂNG THẲNG VIỆT PHÁP SAU CÁC THỎA ƯỚC


    Tạm yên với THQDĐ và với Pháp sau thỏa ước Sơ bộ (6-3-1946), Việt Minh và Hồ Chí Minh kiếm cách tấn công các đảng phái chính trị đối lập như VNQDĐ, Việt Cách, Đại Việt, và những người không theo Việt Minh. Lãnh tụ các đảng phái nầy hoặc bị giết, hoặc phải lẫn trốn hoặc bỏ qua Trung Quốc. Tuy nhiên, về phía Pháp, thì Pháp càng ngày càng tăng quân và gây hấn ở Bắc Kỳ.
    Ngoài những tranh chấp nhỏ, cuộc đụng độ Việt Pháp lớn đầu tiên xảy ra ở Bắc Ninh ngày 3-8-1946. Uỷ ban Liên kiểm Việt Pháp đến can thiệp, nhưng không giải quyết được cuộc tranh chấp. Ngày hôm sau, Pháp đòi đóng quân tại trại lính khố xanh cũ. Việt Minh không chấp thuận. Pháp dùng phi cơ oanh tạc, và chiếm luôn thị xã Bắc Ninh. Sau đó, Pháp tự ý kiểm soát quan thuế ở Hải Phòng kể từ 10-10-1946.

    Tại Lạng Sơn, ngày 20-11-1946, quân Pháp tìm kiếm mộ địa người Pháp bị Nhật giết trong thời chiến tranh, có cả ban Liên kiểm Việt Pháp đến chứng kiến. Hôm sau, quân Pháp tiếp tục công việc thì bị Việt Minh tấn công. Hai bên đụng độ nặng. Quân Pháp chết 9 người. Thương thuyết suốt ba ngày không được, đại tá Sizaire chiếm thành Lạng Sơn ngày 24-11-1946.

    Tại Hải Phòng, ngày 20-11-1946, một chiếc xà-lúp (chaloupe) của người Trung Hoa chở nhiên liệu vào biển cửa Cấm ở Hải Phòng, với giấy phép do Sở Thương chánh Việt cấp. Pháp cho tàu chận xét, và kéo chiếc xà-lúp về đồn Pháp. Quân Tự vệ Việt Minh ngăn chận tàu Pháp. Hai bên xô xát và nổ súng. Uỷ ban Liên kiểm Việt Pháp từ Hà Nội xuống Hải Phòng dàn xếp, nhưng tình hình vẫn căng thẳng.
    Đại tá Pierre-Louis Débes gởi tối hậu thư ngày 23-11-1946 cho nhà cầm quyền Việt Minh phải rút hết tự vệ ra khỏi thành phố Hải Phòng, dẹp bỏ các chướng ngại vật, nếu không Débes sẽ hành động từ 10 giờ sáng 24-11-1946. Phía Việt Minh không phúc đáp. Thế là Débes ra lệnh cho phi cơ oanh tạc và chiến hạm tấn công bằng đại bác, gây thiệt hại nặng nề cho người Việt. (Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua, 1945-1964, Sài Gòn: 1965, California: Nxb. Xuân Thu tái bản, tr. 29.)
    Quyền cao ủy Đông Dương, trung tướng Jean Valluy ra lệnh cho thiếu tướng Louis Morlière, chỉ huy quân Pháp ở Bắc Kỳ, và đại tá Pierre-Louis Débes phải làm chủ tình hình Hải Phòng và kiểm soát thuế quan. Débes liền cho quân Pháp tấn công và hoàn toàn làm chủ Hải Phòng ngày 2-12-1946.

    Về phía Việt Minh, Việt Minh âm thầm chuẩn bị chiến tranh. Lúc đó, Hà Nội có 5 tiểu đoàn Vệ quốc quân và 10,000 tự vệ của 17 khu phố. Việt Minh lùng bắt và giết hại Pháp kiều cùng binh sĩ Pháp khắp nơi, làm cho tình hình mỗi ngày mỗi trầm trọng. Lo ngại chiến tranh xảy ra, dân Việt bắt đầu tản cư khỏi thành phố, về các vùng thôn quê chung quanh.

    Ngày 7-12-1946, Võ Nguyên Giáp gởi thông tư khẩn cấp, yêu cầu các đơn vị quân đội phải hoàn tất việc chuẩn bị tấn công vào ngày 12-12-1946. Từ 10-12-1946, các công sở được lệnh thu xếp hồ sơ, dụng cụ để tản cư ra vùng nông thôn lân cận.

    Trong khi đó, tại Pháp, cuộc bầu cử quốc hội ngày 10-11-1946 đem thắng lợi cho các đảng khuynh tả, trong đó đảng CS Pháp dẫn đầu. Các đảng khuynh tả đưa Léon Blum thuộc đảng Xã Hội, lên lập chính phủ ngày 16-11-1946. Tân chính phủ chủ trương thương thuyết với Việt Minh để tìm kiếm một giải pháp chính trị, nhưng các tướng lãnh Pháp ở Đông Dương lại quyết tâm áp lực Việt Minh.

    Quyền cao uỷ Đông Dương, tướng Jean Valluy, ra Hải Phòng họp với Louis Morlière, Pierre-Louis Débes và Jean Sainteny ngày 17-12. Hôm sau, ngày 18-12-1946, một chiếc xe của Pháp bị tấn công trước bộ Tài chính và bộ Giao thông tại Hà Nội. Trưa đó, Pháp giao cho Việt Minh một thư báo tin Pháp sẽ chiếm trụ sở hai bộ đó, đồng thời yêu cầu Việt Minh dẹp bỏ những chướng ngại vật, nếu không Pháp sẽ tự mình khai thông đường phố. Việt Minh xem đây là tối hậu thư thứ nhất. Cùng ngày 18-12-1946, thiếu tá Pháp Jean Julien gởi cho Việt Minh một thư khác phàn nàn rằng cảnh sát Việt Minh không chu toàn nhiệm vụ và cho biết nếu việc nầy tiếp tục, Pháp sẽ đảm trách giữ gin an ninh Hà Nội từ ngày 20-12-1946. Việt Minh xem đây là tối hậu thư thứ hai. (Stein Tonnesson, Vietnam 1946 – How the War Began, University of California Press, tr. 198.) Cũng trong ngày 18-12-1946, Hoàng Hữu Nam (tức Phan Bôi, em chú bác ruột với Phan Khôi), thứ trưởng bộ Nội vụ Việt Minh, họp công chức tại Hà Nội, ra lệnh tản cư. (Đoàn Thêm, sđd. tr. 30.)

    Sáng 19-12-1946, tướng Morlière, tư lệnh lực lượng Pháp ở Bắc Kỳ, gởi thư cho Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi), buộc Việt Minh phải tước khí giới quân Tự vệ ở Hà Nội, chấm dứt bạo động, đình chỉ việc chuẩn bị chiến tranh, và để cho Pháp bảo vệ an ninh thành phố Hà Nội. Đồng thời Morlière đề nghị với Hoàng Hữu Nam triệu tập cuộc họp khẩn cấp để tìm biện pháp tránh xung đột. Việt Minh cho đây là tối hậu thư thứ ba của người Pháp ở Hà Nội. (Stein Tonnesson, sđd. tr. 204.)

    Để Pháp khỏi nghi ngờ về những chuẩn bị của Việt Minh ngày hôm đó, Hoàng Hữu Nam trả lời rằng vấn đề sẽ được cứu xét trong phiên họp hằng tuần vào ngày hôm sau, thứ Sáu 20-12-1946. Hồ Chí Minh viết thư ngắn cho đại diện Pháp là Jean Sainteny yêu cầu Sainteny thương thuyết với thứ trưởng ngoại giao Việt Minh là Hoàng Minh Giám. Sainteny hẹn sẽ gặp Giám vào ngày hôm sau (20-12). Võ Nguyên Giáp cố gắng thuyết phục tướng Louis Morlière rằng để làm cho tình hình bớt căng thẳng, quân Pháp phải tỏ thiện chí bằng cách bỏ lệnh cấm trại, cho lính nghỉ ngơi. Morlière đồng ý.
    Tuy nhiên lúc 5 giờ chiều ngày 19-12, Louis Morlière nhận được tin tình báo cho biết VM sẽ tấn công tối hôm đó, nên Morlière đổi ý, duy trì lệnh cấm trại, không cho quân Pháp ra khỏi căn cứ, đồng thời tập trung thường dân Pháp vào những khu vực gần căn cứ Pháp để dễ bảo vệ, và chuẩn bị đối phó với tình hình. (phối hợp các tài liệu: Stein Tonnesson, sđd. tt. 203-204, Đoàn Thêm, sđd. tr. 30 và Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập A: 1939-1946, Houston, Nxb. Văn Hóa, 1996, tt. 370-371.)

    4.- 19-12-1946: HỒ CHÍ MINH BỎ TRỐN


    Nếu quân đội Pháp nắm giữ an ninh Hà Nội, nghĩa là kiểm soát cả lực lượng võ trang VM, thì sinh mệnh của chính phủ Hồ Chí Minh, lãnh đạo mặt trận VM và đảng CSĐD hoàn toàn nằm trong tay quân đội Pháp. Đó là điều VM không thể chấp nhận được, nhưng lúc đó VM yếu thế, không đủ sức đánh Pháp. Hồ Chí Minh liền họp Trung ương đảng CSĐD (TƯĐCSĐD) để quyết định.
    Đảng CSĐD đã được Hồ Chí Minh tuyên bố giải tán ngày 11-11-1945, và thay bằng Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mã Khắc Tư [Mác-xít] do Trường Chinh (Đặng Xuân Khu) làm tổng thư ký. Tuy nhiên, theo lời Hồ Chí Minh “dù là bí mật, đảng [CSĐD] vẫn lãnh đạo chính quyền và nhân dân.” (Hồ Chí Minh toàn tập, [tập 6], xuất bản lần thứ hai, Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2000, tr. 161.)
    Hồ Chí Minh trốn khỏi Hà Nội, qua Hà Đông từ 26-11-1946. (Stein Tonnesson, sđd. tr. 199.) Ông triệu tập cuộc họp Trung ương đảng CSĐD trong hai ngày 18 và 19-12-1946, tại Vạn Phúc (Hà Đông). Không thể để Pháp bắt, cũng không thể âm thầm nhục nhã bỏ trốn khỏi Hà Nội, Việt Minh và đảng CSĐD không còn con đường nào khác là phải tấn công Pháp và kêu gọi toàn quốc kháng chiến, để có lý do chính đáng giải thích sự thoát thân khỏi Hà Nội trong danh dự. Vì vậy, trong hội nghị nầy, TƯĐCSĐD quyết định phát động cuộc chiến chống Pháp trên toàn quốc. Hội nghị còn thông qua báo cáo về đường lối trường kỳ kháng chiến của Trường Chinh, về kế hoạch quân sự của Võ Nguyên Giáp và “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh”. (Lê Mậu Hãn chủ biên, Đại cương lịch sử Việt Nam, tập III, Hà Nội: Nxb. Giáo Dục, 2001, tr. 48.)

    Theo điều thứ 29 của Hiến Pháp ngày 9-11-1946, nếu nhà nước “muốn tuyên chiến thì phải có hai phần ba số nghị viện có mặt bỏ phiếu thuận.” Sau đó, điều thứ 38 ghi rằng: “Khi Nghị viện không họp được, Ban thường vụ cùng với Chính phủ có quyền quyết định tuyên chiến hay đình chiến.” Tuy hiến pháp nầy không được ban hành và bị bãi bỏ ngày 14-11-1946, tức 5 ngày sau khi được quốc hội thông qua, nhưng lúc đó ban thường trực quốc hội đã được bầu lên. Ban thường trực quốc hội có mặt thường xuyên ở Hà Nội, nhưng không được Hồ Chí Minh tham khảo ý kiến về một việc trọng đại ảnh hưởng đến vận mệnh của toàn dân, mà Hồ Chí Minh chỉ hội ý riêng với TƯĐCSĐD, rồi quyết định tấn công Pháp.

    Điều nầy có nghĩa là không phải quốc hội Việt Nam hay ban thường trực quốc hội Việt Nam, tức không phải đại biểu nhân dân Việt Nam quyết định chiến tranh, mà Hồ Chí Minh, mặt trận VM, TƯĐCSĐD tự ý quyết định mở cuộc tấn công Pháp, rồi áp đặt chiến tranh lên dân tộc Việt Nam.

    Nhớ lại lịch sử nước ta thời nhà Trần (1226-1400), vào tháng 11 năm giáp thân (1284), được tin nhà Nguyên (Trung Hoa) gởi quân tấn công nước ta, vua Trần Nhân Tông (trị vì 1279-1293) triệu mời các bô lão khắp nước đến điện Diên Hồng ở kinh đô Thăng Long để tham khảo ý kiến. Tất cả những người có mặt đồng thanh trả lời là: “Phải đánh” (Quyết chiến). Vào thế kỷ 13, việc đi lại khó khăn, triệu mời đại biểu dân chúng không dễ, Trần Nhân Tông còn hỏi ý dân để chống ngoại xâm. Trong khi đó, giữa thế kỷ 20, Hồ Chí Minh chỉ hỏi ý đảng của ông ta tức đảng CSĐD, mà không cần hỏi ý dân, cũng không cần hỏi ý quốc hội hay ban thường vụ quốc hội đang có mặt tại Hà Nội.


    Cần chú ý là khi Pháp nhờ người Anh, đưa quân tái chiếm Nam Bộ từ tháng 9-1945, rồi lại đưa quân tiến ra Trung và Bắc Kỳ, thì tổ quốc Việt Nam thực sự lâm nguy từ lúc đó. Dầu vậy, Hồ Chí Minh không kêu gọi toàn dân chống Pháp, mà Hồ Chí Minh kiếm cách thương thuyết với Pháp để duy trì quyền bính. Nay không còn thương thuyết được nữa, hết cách thỏa thuận, Hồ Chí Minh mới quyết định đánh Pháp vì Hồ Chí Minh và đảng CS lâm nguy chứ không phải vì tổ quốc Việt Nam lâm nguy. Như thế chiến tranh bùng nổ tối 19-12-1946 là chiến tranh giữa Việt Minh và đảng CSĐD với Pháp, chứ không phải giữa dân tộc Việt Nam với Pháp.

    Khi mặt trận Việt Minh cướp chính quyền ngày 2-9-1945, đảng CSĐD quyết định là đảng nắm độc quyền điều khiển mặt trận Việt Minh, và một mình cai trị đất nước không chia sẻ quyền lực cho bất cứ ai, bất cứ tổ chức nào. (Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam de 1940 à 1952, Paris: Éditions du Seuil, 1952, tr. 143.) Nay Việt Minh bị Pháp dồn vào đường cùng. Việt Minh một mình không thể đối phó nổi với Pháp, nên Việt Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến, không phải vì mục đích bảo vệ nền độc lập dân tộc, mà vì bảo vệ sự sống còn của đảng CS.

    Chống ngoại xâm là truyền thống lâu đời của người Việt. Từ khi người Pháp đặt nền bảo hộ năm 1884, người Việt Nam liên tục nổi lên chống Pháp. Nay nghe được lời kêu gọi kháng chiến chống Pháp, dân chúng Việt Nam nô nức hưởng ứng ngay vì lòng yêu nước, thương nòi, chứ dân chúng hoàn toàn không nghi ngờ và không hay biết những âm mưu và thủ đoạn mà lúc đó Việt Minh giấu kín. Nhờ vậy, Hồ Chí Minh và đảng CSĐD thoát khỏi nguy cơ bị Pháp tiêu diệt ở Hà Nội vào năm 1946.

    Như thế, ngày 19-12-1946 chỉ là ngày Hồ Chí Minh và Trung ương đảng CS trốn chạy. Chiến tranh bùng nổ.

    (Toronto, 01-12-2012)

    © Trần Gia Phụng

    Lannguyen xin chân thành cảm ơn Trần Gia Phụng và
    http://vantuyen.net/2014/06/10/ngay-19121946-ho-chi-minh-tron-chay-tran-gia-phung/
    Lannguyen

  7. #67
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Lời thú tộii kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam

    Ðảng Phá Sản – Ngô Nhân Dụng

    Nguyễn Tuấn



    Ngày Chủ Nhật, 8 tháng 6, 2014, Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh công bố bài “Hoạt động của giàn khoan HYSY 981: Khiêu khích của Việt Nam và lập trường của Trung Quốc.” Trong bài này Cộng Sản Trung Hoa đã trình bày lập luận tại sao quần đảo Hoàng Sa thuộc Trung Quốc. (HYSY-981 viết tắt tên Hai Yang Shi You, Hải Dương Thạch Du, là tên công ty CNOOC, người Việt Nam quen viết tắt là HD-981). Ðây là một hành động “Vừa đánh trống vừa ăn cướp.”


    Ngay sau khi xảy ra vụ giàn khoan HD-981 vào biển Việt Nam, mục này đã khuyên chính quyền Cộng Sản Việt Nam (Việt Cộng) hãy theo gót Philippines kiện Cộng Sản Trung Quốc (Trung Cộng) ra trước các tòa án trọng tài quốc tế. Sau đó, tại Singapore, ông Nguyễn Tấn Dũng nói sẽ dùng biện pháp pháp lý với Trung Quốc về vụ Hoàng Sa, Trường Sa; mà không xác định sẽ làm gì. Các viên chức chính quyền cộng sản tiếp tục nói họ “đang chuẩn bị hồ sơ” đưa Trung Cộng ra tòa. Mãi không thấy chuẩn bị xong. Bây giờ thì Trung Cộng đi bước trước.
    Sau đó, bàn về lá thư của Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958, mục này đã đề nghị chỉ có một giải pháp thoát khỏi hậu quả của lá thư bán nước này, cũng như thoát khỏi các thỏa hiệp ở hội nghị Thành Ðô 1990, là xóa bỏ chế độ cộng sản. Dân Việt Nam thành lập một thể chế chính trị mới, chính quyền mới tuyên bố xóa bỏ tất cả các thỏa hiệp bất bình đẳng, công khai hoặc bí mật, đã ký kết với Cộng Sản Trung Hoa.

    Bây giờ thì người dân Việt Nam hiểu rõ tại sao Việt Cộng chuẩn bị mãi không xong hồ sơ kiện Trung Cộng ra tòa. Vì họ biết sẽ đuối lý. Chỉ có một cách thoát ra khỏi cảnh bế tắc này là xóa bỏ chế độ cộng sản; hoặc ít nhất là phủ nhận và kết tội các chính quyền cộng sản từ thời Hồ Chí Minh, Phạm Văn Ðồng (1958) đến Nguyễn Văn Linh, Ðỗ Mười (1990). Cả hai điều đó, đảng Cộng sản Việt Nam không thể làm được, để cho bây giờ Trung Cộng đi kiện trước tòa án dư luận Liên Hiệp Quốc.

    Ngày Thứ Hai, 8 tháng 6, phó trưởng đoàn Trung Cộng ở Liên Hiệp Quốc Vương Dân (Wang Min) đã đọc một bài diễn văn nhân dịp kỷ niệm 20 năm thi hành Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), với lời khoe khoang rằng Bắc Kinh luôn luôn tôn trọng công ước này. Trong cùng ngày, Vương Dân chính thức yêu cầu tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, trụ sở tại New York, chuyển tới 193 quốc gia hội viên bản thông báo của Bắc Kinh về vụ tranh chấp trên Biển Ðông. Các văn kiện trên kèm theo các bằng cớ để Trung Cộng chứng minh Hoàng Sa, Trường Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc.
    Những hành động mới của Bắc Kinh sẽ buộc chính quyền Cộng Sản Việt Nam không thể “chuẩn bị” mãi không xong hồ sơ thưa kiện. Việt Cộng phải đối diện với quyết định: Hoặc đứng ra thưa kiện Trung Cộng trước Liên Hiệp Quốc hay các tòa án trọng tài quốc tế khác, hoặc tiếp tục lặng thinh, không nói cũng không làm làm gì cả, tức là chịu thua. Cho tới ngày Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014, Việt Cộng vẫn chưa có hành động hay lời nói nào; một tình trạng tê liệt từ đầu não.

    Trong khi đó thì Trung Cộng đã chuẩn bị sẵn hồ sơ. Và họ đang yêu cầu ông tổng thư ký Liên Hiệp Quốc phổ biến cho tất cả các nước hội viên trên thế giới.

    Hồ sơ của Trung Cộng được tóm tắt trong tất cả các bản tin trên thế giới. Nhiều nhà quan sát ngoại quốc đã bị Trung Cộng thuyết phục, có người tin rằng Trung Cộng có lý, viết “…đối với quần đảo Hoàng Sa, nơi tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc khá mạnh.” (for the Paracel Islands, where China’s sovereignty claims are fairly strong – Zachary Keck viết trên tạp chí The Diplomat, ngày 10 tháng 6, 2014). Trong ba ngày liên tiếp, cả chính quyền và đảng Cộng sản Việt Nam không nói một lời nào chính thức phủ nhận những “chứng cớ” mà Trung Cộng đưa ra, ở Bắc Kinh và ở New York.

    Chứng cớ của Trung Cộng bao gồm bức thư Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958, mà Bắc Kinh đã công bố từ tháng trước, nay lại đưa ra thêm những chứng cớ khác.

    Trong văn kiện gửi cho 193 nước trong Liên Hiệp Quốc, Vương Dân nhấn mạnh rằng quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa) thuộc chủ quyền Trung Quốc và không hề có tranh chấp. “Không có tranh chấp” nghĩa là Trung Cộng có thể đưa giàn khoan vào vùng đó mà không vi phạm công ước về luật biển. Tất cả luận cứ của Việt Nam trong vụ này là Hoàng Sa thuộc nước ta, Trung Cộng đã chiếm, tức là đang có tranh chấp.

    Nhưng Vương Dân còn nói “trước năm 1974 không có một chính quyền nào liên tiếp cai trị nước Việt Nam đã phản đối Trung Quốc về vấn đề chủ quyền này.” Ðây là một điều hoàn toàn sai sự thật. Chính quyền Pháp và chính quyền Việt Nam Cộng Hòa luôn luôn xác định chủ quyền tại Hoàng Sa, Trường Sa, đã thành lập đài khí tượng trên một hòn đảo, nằm trong hệ thống thông tin khí tượng quốc tế. Tại hội nghị San Francisco tháng 9 năm 1951, thủ tướng chính phủ quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã xác nhận chủ quyền trên các đảo này và được 46 trong 51 quốc gia đồng ý. Mãi đến năm 1974, Trung Cộng mới tấn công và chiếm đóng. Viên đại sứ Trung Cộng nói như trên vì họ vẫn lừa gạt cả thế giới, nói rằng trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 là do khi quân Trung Cộng đến kiểm soát Hoàng Sa, thuộc lãnh thổ của họ, thì hải quân Việt Nam Cộng Hòa khiêu khích, tấn công. Nhưng Liên Hiệp Quốc vẫn còn lưu giữ hồ sơ những công hàm phản đối của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa vào tháng 2 năm 1974.

    Vương Dân còn viết rằng, “Việt Nam đã chính thức công nhận quần đảo Tây Sa (sic) thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ thời xa xưa.” Ðiều này mọi người Việt Nam biết là sai và có thể phản bác trên dư luận thế giới. Ðời nhà Nguyễn đã thành lập “đội Hoàng Sa” bảo vệ an ninh quần đảo. Năm 1956, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã ký sắc lệnh thành lập quận Hoàng Sa. Bà thủ tướng Ðức mới tặng cho Tập Cận Bình một bản đồ Trung Quốc cổ, in từ đời nhà Thanh, trong đó lãnh thổ Trung Quốc ở cực Nam là đảo Hải Nam, hoàn toàn không có Hoàng Sa, Trường Sa. Thư viện lịch sử Việt Nam đang lưu giữ tập bản đồ cổ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” do nhà Thanh xuất bản năm 1904, không hề có Hoàng Sa, Trường Sa.

    Một cuốn sách, Compendio di Geografia (Ðịa lý thế giới) của nhà địa lý học người Ý Adriano Balbi, xuất bản lần đầu ở Livorno năm 1824, tái bản nhiều lần, xác định Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Bản còn được lưu trữ tại thành phố Torino ở miền Bắc nước Ý là bản in năm 1850 ở Livorno.

    Nhưng Vương Dân còn viết thêm rằng, “Quan điểm này đã phản ảnh trong các bản tuyên bố của chính phủ họ, trong các văn kiện cũng như trong báo chí, bản đồ và sách giáo khoa.” Khi nói đến “chính phủ họ, its government,” Vương Dân chỉ có thể nói về chính quyền cộng sản đã cai trị Việt Nam từ sau năm 1975. Và cả Bộ Ngoại Giao Trung Cộng lẫn phái đoàn của họ ở Liên Hiệp Quốc đã trưng ra các bằng chứng cho thấy là chính quyền Cộng Sản Việt Nam đã đồng ý với Trung Cộng về chủ quyền trên hai quần đảo.

    Ðây là một đòn chí tử đánh thẳng vào đầu đảng Cộng Sản Việt Nam. Có thể nói Trung Cộng đã hoàn toàn bỏ rơi, không còn thương tiếc Việt Cộng nữa. Vì những bằng cớ do Bắc Kinh đưa ra chỉ chứng tỏ Việt Cộng đã bán nước. Sau khi chịu miếng đòn này, đảng Cộng Sản Việt Nam phải gọi là “Ðảng Phá Sản.” Ðảng Cộng Sản đã theo chủ trương kinh tế quốc doanh làm phá sản kinh tế Việt Nam. Họ đã dùng hành động man trá, làm phá sản đạo lý trong đời sống con người Việt Nam. Nay, Trung Cộng đưa thêm bằng cớ chứng tỏ Cộng Sản Việt Nam đã theo một chính sách ngoại giao phá sản hơn nửa thế kỷ, ngay từ năm 1950 khi họ ghi vào cương lĩnh đảng là theo “chủ nghĩa Mao Trạch Ðông” và đón các cố vấn Trung Cộng vào dạy họ làm cách mạng vô sản.


    Ngoài bức công hàm Phạm Văn Ðồng, Trung Cộng còn dẫn chứng các bản đồ và sách giáo khoa môn địa lý do Việt Cộng xuất bản, trong đó công nhận chủ quyền của Trung Cộng trên hai quần đảo. Trong cuốn Ðịa Lý Lớp Chín, in năm 1974, bài viết về “Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa” có đoạn nói rõ ràng “Vòng cung đảo từ các đảo Nam Sa, Tây Sa (sic) đến các đảo Hải Nam, Ðài loan, quần đảo Hoành Bồ, Châu Sơn… làm thành một bức “trường thành” bảo vệ lục địa Trung Quốc…” Năm 1974 cuốn sách này ra đời, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Ðồng đều còn nắm quyền cao nhất nước. Sách giáo khoa trong chế độ cộng sản do chính quyền soạn, kiểm duyệt và ấn loát. Ðầu năm 1974, Thiếu Tá Ngụy Văn Thà và các tử sĩ Hoàng Sa hy sinh vì tổ quốc khi nước ta bị Trung Cộng tấn công.

    Trong khi đó chính quyền cộng sản miền Bắc hồ hởi mô tả Hoàng Sa, Trường Sa nằm trong “bức trường thành bảo vệ lục địa Trung Quốc.”

    Cuối cùng, làm cách nào để dân tộc Việt Nam bác bỏ được những lời ngụy biện của chính quyền Trung Cộng? Giải thích lại bức công hàm Phạm Văn Ðồng chỉ đi vào ngõ bí, nói để lòe bịp dân Việt được nhưng không thể đưa ra cãi trước tòa án và dư luận thế giới. Trung Cộng đã đưa ra quy tắc Estoppel trong luật pháp, không cho phép ai nói và làm ngược lại những điều mình đã nói hay làm trước đó, gây thiệt hại cho người khác. Cũng không thể nói rằng các sách giáo khoa và bản đồ của chế độ cộng sản đã in sai, nay xin cải chính lại. Vì guồng máy kiểm soát và duyệt y các sách giáo khoa được Ban Tuyên Giáo thi hành, do chính đảng Cộng Sản chủ trì.


    Chỉ có một cách thoát ra khỏi ngõ bí này là xóa bỏ chế độ cộng sản. Dân tộc Việt Nam cần lập ra một thể chế chính trị mới, giống như các nước cộng sản Ðông Âu và các nước thuộc Liên Xô cũ đã làm. Chính quyền mới tuyên bố đoạn tuyệt với quá khứ nhục nhã, xóa bỏ tất cả các thỏa hiệp bất bình đẳng, công khai hoặc bí mật, đã ký kết với Cộng Sản Trung Hoa. Khi đó, nước Việt Nam có thể nói dõng dạc với cả thế giới rằng Hoàng Sa, Trường Sa vĩnh viễn thuộc chủ quyền dân tộc Việt.

    Lannguyen xin chân thành cảm ơn Nguyễn Tuấn và
    http://baotoquoc.com/2014/06/11/dang...ngo-nhan-dung/
    Lannguyen

  8. #68
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Lời thú tộii kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam

    HỒ CHÍ MINH: CON NGƯỜI TRĂM MẶT – MƯỜNG GIANG

    Posted by Nguyễn Tuấn on Tháng Năm 21, 2014 in Mường Giang, Tài liệu




    Trong bốn người liên quan tới việc xuất dương, chỉ có Nguyễn Tất Thành tứcHồ Chí Minh ra đi năm 1911, là tự nhận mình tìm đường cứu nước. Trước đó, qua bộ máy tuyên truyền của đảng và chính Hồ viết sách để ca tụng và huyền thoại cuộc đời mình, làm cho nhiều người nhẹ dạ không muốn tin cũng phải gật đầu chấp nhận, vì biết đâu mà mò. Nhưng vào tháng 2-1983, hai sử gia VN, tiến sĩ Nguyễn Thế Anh và Vũ Ngự Chiêu, đã công bố khắp thế giới, một tài liệu vô cùng quan trọng, tìm thấy tại văn khố Pháp duy nhất nói tới giai đoạn 1911 của Nguyễn Tất Thành.
    Ðó là hai lá thư xin nhập học Trường Thuộc Ðịa (Ecole Coloniale) viết ngày 15-9-1911 và một lá viết tại New York ngày 15-12-1912 gởi Khâm sứ Trung Kỳ. Ðiều này chứng tỏ rằng Nguyễn Tất Thành, bỏ nước ra đi chỉ với mục đích tìm đường làm quan để giải quyết chuyện cơm ăn áo mặc của riêng mình, chứ không hề có ý định cứu nước giúp dân như Trần Dân Tiên từng viết sách ca tụng.

    Ngoài ra những bí mật đã được bật mí, theo đó mới biết được gần suốt cuộc đời của Hồ, hầu như sống bằng nghề tình báo KGB, phục vụ cho quyền lợi của đệ tam quốc tế mà thôi. Nên người ngoài cũng không lấy làm lạ trước những sự kiện của đảng Cọng Sản Ðông Dương nói chung và
    Việt Nam nói riêng, địa vị của Hồ Chí Minh từ năm 1930 cho tới cuối năm 1944 trong đảng rất mù mịt, không chiếm được một ưu thế nào, vì Hồ thật sự đâu có làm gì. Cũng theo sử liệu, lãnh đạo đảng lúc đó là những tên tuổi Ðặng Xuân Khu, Nguyễn văn Cừ, Lê Ðức Thọ, Văn Tiến Dũng cho nên mãi tới hội nghị đảng lần thứ VIII, họ Hồ vẫn chưa có một danh vị đảng. Theo Lê Quảng Ba viết trong Hồi ký Ðầu Nguồn, tiếng nói của nhóm cán bộ lưu vong tại hang Pắc Pó trong thời gian 1941-1944, Hồ Chí Minh từ Nậm Quang chính thức dời về đóng trụ ở biên giới Hoa-Việt, để dạy lớp cán bộ. Lớp học kết thúc ngày 26-1-1941 nhưng đã bế tắc vì Hồ không đủ uy tín để tổ chức được một chiến khu nào tại miền xuôi. Bởi vậy mới thấy tới ngày 22-12-1944, Võ Nguyên Giáp mới lập được Ðội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân, tại rừng Trần Hưng Ðạo, Huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, chỉ được 34 người, hầu hết la dânợ Nùng, Thổ bản địa.

    Nhưng Hồ là người may mắn, từ thuở nhỏ đã được các quí nhân tại
    Phan Thiết như Trương Gia Mô, Hồ Tá Bang làm vang danh tại trường Dục Thanh. Sau đó qua Pháp, được Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền góp chữ và uy tín, đưa Bồi Ba, tức Nguyễn Tất Thành bước vào con đường chính trị, báo chí thế giới qua danh xưng của nhóm là Nguyễn Ái Quốc mà Hồ nhận riêng là của mình.

    Rồi từ hang Pắc Pó trở lại Tàu, may mắn bị quân Trung Hoa Quốc Gia bắt. Từ đó qua bảo đãm của Nguyễn Hải Thần cùng Vũ Hồng Khanh trong Việt Nam Quốc Dân Ðảng, với chủ tướng Trương Phát Khuê, họ Hồ chính thức sắm thêm vai gián điệp tình báo cho quân đội Ðồng Minh tại Ðệ Tứ Chiến Khu Hoa Nam, sau khi được trả tự do ngày 16-3-1945, theo như tài liệu của Michael Maclear viết trong ‘The Ten Thousand Day War Việt Nam (1945-1975), xuất bản tại New York năm 1981.

    Cũng từ đó, qua vai trò điệp viên tình báo quốc tế thuộc các cơ quan KGB, Trung Cộng, Trung Hoa Dân Quốc, rồi do Charles Fenn giới thiệu, lại trở thành điệp viên chính thức của OSS tức là Office of Strategic Services, tiền thân của cơ quan Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ ( CIA), làm việc dưới quyền Thiếu Tá Mỹ Archimedes Patti, đặc trách chiến trường Ðông Dương. Nhờ đó, Hồ bước qua hết các xác chết cản đường trong đảng, để mùa thu tháng chín 1945, nghênh ngang võng lọng về Hà Nội nhận chức và đọc diễn văn. Ðó là tất cả quá trình xuất dương cứu nước của anh thanh niên Nguyễn Tất Thành, một huyền thoại (?)mà bao chục năm qua, thiên hạ vẫn không ngớt viết, nói về cuộc đời của một tên quốc tặc ‘ trước sau, nhỏ lớn ‘ đã và đang cùng với đồng bọn ‘ rước voi Nga-Tàu ‘ về dầy xéo cướp chiếm công khai non nước Việt, mà hiện nay cả thế giới, ai cũng đều thấy rõ.

    Từ câu chuyện nhục nhã trên, nhiều người đã thở dài khi nghĩ rằng, phải chi Nguyễn Tất Thành lúc đó, được thực dân Pháp nhận vào trường Thuộc Ðịa, thì với bản chất bất lương như vậy, cùng lắm Hồ chỉ là một tham quan Việt gian làm tay sai cho Pháp mà thôi. Nhờ đó đất nước và dân tộc Việt Nam ngày nay có thể đã thoát được nổi trường hận cùng khốn tận tuyệt dưới bàn tay tàn độc cũa một Hồ Chí Minh làm tay sai cho các thế lực quốc tế, từ Liên Xô, Trung Cộng, Pháp, Tàu Trắng và Hoa Kỳ. Năm 1932 danh xưng Nguyễn Ái Quốc được khai tử trong nhà tù Hồng Kông, để thay thế vào cái tên Hồ Chí Minh (với công luận : đó là một người Tàu được nhập vai HCN thật đã chết) . Chuyện thật giả, đúng sai cho tới giờ này chỉ có trời mới biết, chứ mặt thật thì ai cũng chỉ dựa vào sách báo để ghi lại mà thôi.


    1- NGUYỄN TẤT THÀNH, CON NGƯỜI TRĂM MẶT ::

    Nhiều năm sau ngày ‘bác’ lên ngai Chủ Tịch nhà nước, người ta mới biết được cái tên Hồ Chí Minh, chỉ là một trong hằng trăm tên của Nguyễn Sinh Cung hay anh thanh niên thầy giáo Nguyễn Tất Thành, đã có một thời gian dạy học tại trường Dục Thanh, Phan Thiết, trước khi rời Bến Nhà Rồng ở Sài Gòn, qua Pháp tìm đường cứu nước. Theo các sử gia cũng như các nhà biên khảo nghiên cứu trong và ngoài nước, thì cho tới nay vẫn chưa ai biết hết tất cả các bí danh của Nguyễn Tất Thành. Trước đó, căn cứ vào tài liệu của Liên Xô, thì ‘bác’ có chừng 19 tên. Năm 1982, nhà biên khảo Huỳnh kim Khánh nói ‘người’ có 32 bí danh. Một tác giả Việt Nam khác kiểm kê được 76 tên của Hồ. Nói chung, không riêng gì tên họ, mà cả ngày sinh và tên cúng cơm cũng vô cùng bí mật, không biết đâu mà mò. Quả thật đây là một con người có nhiều tên nhất trên trái đất, từ cổ tới kim, đông sang tây. Do không biết chính xác tên khai sinh khi lọt lòng mẹ là Côn, Cuông hay Cung, vì vậy ta thấy sách vở đã chọn cái tên Nguyễn Tất Thành như là một điểm tựa, nhất là sau năm 1983, ba cái đơn của ‘bác’ bị phát giác.

    Trong số 100 tên, có lẽ cái tên ‘Nguyễn Ái Quốc’ xuất hiện lần đầu tiên tại Paris là sôi động và đã gây ra không biết bao nhiêu tranh cãi, từ ấy cho đến bây giờ, vẫn chưa chấm dứt. Ai cũng biết, nói láo và bịa chuyện là bệnh nan y của người cọng sản, nhất là trong rừng sử sách của đảng, nhằm thần thánh hóa lãnh tụ ‘Hồ Chí Minh’. Gạt bỏ những huyền thoại của đảng viết về Bồi Ba, theo các nhà viết sử cho biết tới nay, họ vẫn còn rất mù mờ về giai đoạn của Nguyễn Tất Thành từ năm 1911-1919, ngoài ba chi tiết công khai: đó là Thành làm công trên tàu Latouche-Tréville của hãng Ðầu Ngựa, sống tại nước Anh thời đệ nhất thế chiến (1914-1918) và có mặt tại Pháp qua cái tên Nguyễn Ái Quốc trên . Người đã vậy, tên cũng vậy, do đó các nhà viết sử cận đại, cũng đành vậy, nghĩa là cứ cho rằng ngày 19-5 là ngày sinh của Nguyễn Tất Thành. Có như vậy, hằng năm thiên hạ mới có dịp ‘ đào mồ cuốc mã tên đại phản quốc ‘ để rửa hận cho quốc dân VN, nhất là trong giai đoạn ‘ quốc phá gia vong ‘ hiện tại, ngụy quyền cộng sản Hà Nội qua Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng .. đã công khai bán dân tộc và đất nước Việt cho Tàu đỏ.


    + Nguyễn Ái Quốc và nhóm Trinh-Trường-Truyền :

    Trước khi Nguyễn Tất Thành xuất dương, thì Phan Chu Trinh và con là Phan Chu Dật mới 8 tuổi, đã tới Pháp ngày 1-4-1911 với trợ cấp của Chính Phủ Ðông Dương. Từ năm 1912, Phan Chu Trinh kết thân với Phan văn Trường đang theo học Tiến Sĩ Luật tại Paris, nên dọn về ngôi biệt thự của Trường tại số 6 đường Villa des Gobellins. Từ năm 1912, Hồ đã bắt được liên lạc với Phan Chu Trinh tại Pháp qua thư từ, vì hai người đã quen biết nhau từ ngày còn ở Việt Nam, nên Thành vẫn gọi Trinh là ‘Hy Mã Nghị Bá Ðại Nhân’.
    Trong lúc đó tại Việt Nam từ năm 1911-1919, có nhiều biến cố thật quan trọng đã xảy ra. Trước hết là Ðề Thám, lãnh tụ cuối cùng trong phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi xướng xuất năm 1885, đã bị Lương Tam Kỳ giết chết ngày 10-2-1913. Cũng năm này, vào ngày 17-1 tại Huế, tên Khâm Sứ Trung Kỳ là Georger Mahé đã khai quật lăng vua Tự Ðức để cướp vàng bạc châu báu. Sự việc được báo chí như tờ Le Courrier d’ Haiphong và dư luận cả nước chống đối và nguyền rủa dữ dội bọn thực dân và đám quan lại Việt Nam bất lương vô liêm sĩ. Ngày 12-4, tại Thái Bình, các đảng viên Việt Nam Quang Phục Hội của Phan Bội Châu và Cường Ðể, đã ám sát tên Tuần Phủ chó săn Nguyễn Duy Hàn.

    Những biến cố bi thảm trên, đã khiến cho Phan Chu Trinh bên Pháp cũng lên tiếng chỉ trích thực dân, kể luôn Toàn Quyền Ðông Dương là Sarraut , người đang cưu mang giúp đở cha con ông. Tại Trung Hoa, vì nhận tiền của Pháp nên Tổng Ðốc Lưỡng Quảng là Long Tế Quang đã bắt giam Phan Bội Châu và Mai Lão Bạng từ năm 1914 tới năm 1917 mới thả. Vì những biến cố đã xảy ra, ngay khi Ðức tuyên chiến với Pháp ngày 3-8-1914, nhà cầm quyền Ba Lê vin vào đó để bắt giữ và phân tán những yếu nhân trong Hội Ái Quốc Ðông Dương, do Trinh và Trường thành lập. Ngày 15-9-1914, Pháp bắt giam Phan Chu Trinh và Phan văn Trường tại ngục Santé mãi tới tháng 2-1916 mới phóng thích. Từ đó người Pháp cũng cắt đứt trợ cấp cho cha con ông, khiến lâm vào cảnh nghèo đói, nên cả hai mắc phải bệnh lao phổi nặng. Tháng 3-1921, Dật chết tại Bắc Kỳ.


    Từ đầu năm 1919, đại chiến lần thứ 1 đã kết thúc trong sự bại trận của phe trục Ðức, Áo, Hung, Thổ và Bảo Gia Lợi. Kinh đô Paris của Pháp trở thành nơi tụ hội của các thế lực quốc tế. Tổng Thống Hoa Kỳ là Woodrow Wilson đưa ra chủ thuyết ‘Tự Tri’ và đề xuất việc thành lập Hội Quốc Liên, rất được các nước nhược tiểu ủng hộ.

    Tại Nga, do Nga Hoàng Nicholas II (1894-1917), đứng về phe Ðồng Minh chống Ðức, nên nước này đã tích cực yểm trợ Nikolai V.I. Lenin (1870-1924) lật đổ vương triều. Ngày 7-11-1917, Lenin và Leon Trotsky đứng chung thành lập chế độ Bolshevik, hay còn gọi là cuộc Cách Mạng tháng mười, mở màn cho cảnh núi sông xương máu trong dòng lịch sử nhân loại, có cả Việt Nam, từ đó cho tới nay vẫn chưa chấm dứt. Tháng 3-1919 Lenin lập Ðệ Tam Quốc Tế Cọng Sản để xuất cảng chủ nghĩa vô thần, vô sản khắp năm châu.
    Ðây là miếng mồi béo bở mà Lenin, trùm đỏ vừa mới nổi lên, dẫn dụ các dân tộc bị trị khắp Á Châu từ Trung Ðông, Ấn Ðộ, Trung Á, tới Trung Hoa và Ðông Dương, lũ lượt kéo về thánh địa Viện Thợ Thuyền Ðông Dương tại Mạc Tư Khoa, để học tập con đường cách mạng vô sản chuyên chính, đánh gục tư bản, tiến nhanh, tiến mạnh lên thiên đàng xã hội chủ nghĩa. Trong nước, nhiều cuộc bạo động chống Pháp kháp nước, quan trọng nhất là vụ khởi nghĩa của vua Duy Tân cùng các chí sĩ Thái Phiên, Trần Cao Vân tại Huế ngày 3/5/1916. Sau đó là cuộc biểu tình của Phan Xích Long tại Sài Gòn tháng 11-1916 và đặc biệt nhất là sự chiếm đóng tỉnh Thái Nguyên của Ðội Cấn, Lương Ngọc Quyến, Trần Trung Lập vào năm 1917 dù thất bại, nhưng vẫn mang nhiều khích lệ tới tuyệt đại dân chúng Việt Nam đang sống lầm than khổ ải dưới ách nô lệ của giặc Pháp.

    Trong giai đoạn trăm hoa đua nở, Nguyễn Tất Thành bỗng nổi lên như cồn trong giới cách mạng vô sản Pháp, qua bản ‘thỉnh nguyện thư đòi nhân quyền’ năm 1919, ký tên Nguyễn Ái Quốc, mà công án tới nay đã quy cho Hồ là cướp công của ba nhân vật đã sáng tạo: Phan Chu Trinh, Phan văn Trường và Nguyễn Thế Truyền. Nội dung bản thỉnh nguyện gồm 8 điểm, do một nhóm người An Nam yêu nước chung viết, được tờ báo L’Humanité của đảng Xã Hội Pháp, đăng ngày 18-6-1919 với dụng ý chính trị, dù thực chất chẳng có gì đặc biệt, nếu đem so sánh với sự đòi hỏi người Pháp phải trao trả độc lập hay ít nhất để Việt Nam tự trị của Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể sống lưu vong và Vua Duy Tân đang bị cầm giam ngoài hải đảo.

    Dù gì chăng nữa thì đây cũng là một cơ hội vàng ròng với Hồ, vì ít nhiều tên tuổi của Nguyễn Ái Quốc, đại diện cho nhóm người An Nam yêu nước trên đất Pháp, cũng được nhóm người Việt qua Tây đánh Ðức, hồi hương mang về phổ biến trong dư luận lúc đó. Mặt khác, qua chiến thắng của đảng Bolchevik Nga, khiến đảng xã hội Pháp hầu như nghiêng về Ðệ Tam Quốc Tế, vô tình giúp anh thanh niên Nguyễn Tất Thành lúc đó, đang thất nghiệp phải sống nhờ vào sự giúp đỡ của Phan Chu Trinh, bỗng được các chính khách tả phái Pháp chú ý vì tính chất vô sản chuyên chính, nên đã giúp Hồ thoát cảnh chết đói, bằng cách cử ‘bác’ tới học ở Viện Thợ Thuyền Ðông Phương năm 1923. Từ đó Hồ qua bí danh Nguyễn Ái Quốc chính thức là một đảng viên của đệ tam quốc tế cộng sản.

    + Vụ Án Nguyễn Ái Quốc :

    Về vụ án lịch sử Nguyễn Tất Thành biếm xưng tên gọi của nhóm Nguyễn Ái Quốc, khi Hồ sống tại Pháp từ 1911-1923, cũng đã được tranh cãi sôi nổi giữa cơ quan tuyên truyền của đảng và nguồn dư luận trong cũng như ngoài nưóc. Ðọc ‘Chủ tịch Hồ Chí Minh-tiểu sử và sự nghiệp’ do đảng ấn hành, tuyên bố là tất cả những bài viết và tranh vẽ trên báo Le Paria số 1, đều của Nguyễn Ái Quốc sáng tạo.
    Ta biết tờ Le Paria hay ‘Người Cùng Khổ’ do Hội Liên Hiệp Thuộc Ðịa chủ trương, từ số 1 đến số 12 đều do J.B Meyrat làm quản lý. Các số khác từ số 13 về sau do G.Sarotte và Léopol Mesnard chịu trách nhiệm, đặc biệt số 1 ra ngày 1-4-1922 không có một bài nào của Nguyễn Ái Quốc. Vậy mà Ban Nghiên Cứu Lịch Sử của Trung Ương Ðảng VC, dám tuyên bố ‘bác’, tức là đồng chí Nguyễn Ái Quốc làm quản lý tờ báo này. Ngoài ra cũng trên tờ Le Paria, có nhiều bài viết hay tranh vẽ ký tên Nguyễn Le Patriote, là biệt danh của Nguyễn Thế Truyền và các sinh viên trong Hội Ái Quốc An Nam, thế nhưng Ðảng vẫn tỉnh bơ nhận bừa đó là sản phẩm của Nguyễn Ái Quốc.
    Riềng bài viết ‘Lên Án Chủ Nghĩa Thực Dân’ được đánh giá là một tài liệu tranh đấu trác tuyệt về nội dung cũng như hình thức. Theo nhận xét, thì lúc đó các nhân vật đấu tranh sống ở Paris, chỉ có Luật Sư Tiến Sĩ Phan văn Trường và Kỹ Sư Nguyễn Thế Truyền mới có đủ khả năng Pháp ngữ cũng như tư tưởng nhận thức để viết được một bài văn tranh đấu nẩy lửa hùng biện như vậy. Còn Nguyễn Tất Thành mặc dù có sống giang hồ khắp nơi từ 1911-1922 nhưng dù sao trình độ học vấn cũng giới hạn, chỉ viết ba lá đơn xin nhập học mà còn phạm nhiều lỗi chánh tả và văn phạm, thì không thể nào là tác giả của kiệt tác trên. Phương chi, phóng đại vốn là nghề của đảng, tâng bốc để bác vang danh với đời lại càng thêm thần thông quảng đại hơn.
    Bởi vậy ngày nay, trước những khám phá về việc hoàn toàn bịa đặt một Nguyễn Tất Thành, đại thiên tài, từ một anh thanh niên giáo viên quèn tại một trường làng mang tên Dục Thanh tói nổi nhiều người sinh đẽ tại chỗ cũng không biết đó là cái quỹ quái gì, một bồi Ba trên tàu viễn dương, đùng một cái nhảy phóc lên làm ông quản lý một tờ báo nổi tiếng, phát hành 5000 số một kỳ, lại còn kiêm thêm họa sĩ và nhà văn… cho tới khi ‘bác’ sang Nga và Tàu từ năm 1923, vậy mà vẫn cứ làm quản lý và viết bài cho báo này tại Pháp cho tới khi báo đình bản.

    Tất cả đều do Trần Dân Tiên dựng đứng câu chuyện về Nguyễn Ái Quốc, để thần thánh hóa Hồ Chí Minh, mà cả ba tên đều là Nguyễn Tất Thành. Sự thật ngày nay cho biết, Nguyễn Ái Quốc là tên gọi chung của nhóm người viết trên tờ Người Cùng Khổ (Le Paria), gồm có Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và trong suốt 38 số báo ấn hành, không có một bài nào hay tranh vẽ của Nguyễn Tất Thành nhưng chàng đã láu cá nhận vơ cái tên chung của nhóm là Nguyễn Ái Quốc. Sau đó được cơ quan tuyên truyền của đảng CS hợp thức hoá ‘sáng lập và linh hồn hay quản lý báo’.

    Chưa hết, căn cứ theo sử liệu ta biết từ năm 1923-1946, Hồ đã rời Paris đi Mạc Tư Khoa, Tàu. TRong thời gian đó, vào tháng 1/1926 tại Paris đã xuất hiện tờ Việt Nam Hồn bằng chữ quốc ngữ, thỉnh thoảng có các bài bằng Hán và Pháp Ngữ. Từ tháng 9-1929 lại đổi tên là Phục Quốc, do cơ quan ngôn luận của dảng Việt Nam Ðộc Lập tại Pháp ấn hành. Trong một vài số báo, có bài viết ký tên Nguyễn Ái Quốc. Sự kiện lịch sử minh bạch như vậy mà đảng vẫn thản nhiên viết là năm 1923, ‘bác’ tại Pháp trong khi thành lập tờ ‘Người Cùng khổ’ đã kiêm nhiệm thêm tờ ‘Việt Nam Hồn’. Những sự thật thì không ai có thể thêm bớt, bóp méo hay xuyên tạc được. Cho nên những lố lăng về huyền thoại Hồ Chí Minh, ngày nay rốt cục đã trở thành những trận cười trong dân gian, dù nó tồn tại hay bị sóng đời vùi dập.

    + Nguyễn Ái Quốc, điệp viên ngoại hạng của cọng sản quốc tế :

    Ngày 15-10-1923, Nguyễn Ái Quốc đại diện cho đảng CS Pháp, tham dự Ðại Hội Nông Dân Quốc Tế, tổ chức tại Mạc Tư Khoa. Cũng kể từ đó, Hồ thoát xác thành một con người cọng sản quốc tế, chỉ biết phục vụ cho nền vô sản chuyên chính mà thôi. Ðể thưởng công, ngoài sự cho báo đảng đánh bóng tên tuổi, chính phủ Liên Xô còn cho Quốc ở lại phục vụ trong thánh địa Ðông Phương, một tổ chức mặt nổi là của Quốc tế Cọng Sản nhưng bên trong được Cơ Quan Tình Báo Nga (Intercenter Mainburo) bảo trợ. Theo tổ chức, Ban Phương Ðông lúc đó gồm ba khu vực: Miền Tây Trung Hoa, trụ sở tại Chita thuộc Mông Cổ. Miền Viễn Ðông có trụ sở tại Hải Sâm Uy, phụ trách các nước Mãn Châu, Cao Ly, Nhật Bản và Khu Ðông Nam trụ sở tại Thượng Hải, gồm miền Hoa Nam và các nước Ðông Nam Á đang là thuộc địa. Ngày 22-1-1924, Lénin chết, Nguyễn Ái Quốc đã làm thơ đăng trên tờ Pravda, khóc thương nức nở và thề trước linh cửu cha già quốc tế, là sẽ biến đau thương thành hành động. Hãy đọc bài thơ của Tố Hửu khóc cha non Staline, để biết được nổi bi thương cùng tận của ‘ bác ‘ lúc đó đối với cha già LêNin :

    ‘Stalin ! Stalin,
    Yêu biết mấy, nghe con tập nói
    Tiếng đầu lòng, con gọi Stalin
    ông Stalin ôi. ông Stalin ôi,
    Hởi ôi ông mất, đất trời có không?
    thương cha, thương mẹ, thương chồng
    thương mình thương một, thương ông thương mười.’
    (Ðời đời nhớ ông ,Tố Hửu).

    Mặc dù tài liệu Ðảng dấu chuyện Hồ xuất thân từ trường Stalin nhưng mới đây thư khố Nga giải mật, bật mí cho ta biết là gần hết cán bộ cao cấp của đảng VC , trong đó có Nguyễn Ái Quốc, đều xuất phát từ lò ‘Viện Thợ Thuyền Ðông Phương’. Trường này được Lenin thành lập ngày 21-4-1921, để huấn luyện các cán bộ cọng sản vùng Châu Á, nên gọi là Viện Phương Ðông. Sau khi tốt nghiệp, những học viên sẽ trở thành cán bộ cách mạng vô sản chuyên chính về mặt lý thuyét cũng như hoạt động móc nối, tuyên truyền và thu thập tin tức từ quần chúng. Tháng 8-1924 Hồ được Ðệ Tam Cọng Sản Quốc Tế, phong chức ‘Uỷ Viên Ban Phương Ðông’, phụ trách Cục Phương Nam coi toàn vùng Ðông Nam Á. Ðể che mắt mật thám Tây Phương, Hồ trở thành ‘Lou’, đặc phái viên của hãng Thông Tấn Nga Rosta, kiêm thư ký, thông ngôn cho phái đoàn Borodin của Liên Xô, tại Quảng Châu, qua bí danh Lý Thụy.

    Trước khi Hồ tới, Borodin đã móc nối được cả hai phe Trung Hoa Quốc Dân Ðảng của Tôn Văn, Tưởng Giới Thạch và Ðảng CS. Trung Hoa ngồi lại với nhau, dưới ảnh hưởng của Liên Xô. Do trên, có một số cán bộ cao cấp của Ðảng CS. Trung Hoa như Mao Trạch Ðông đã được bầu vào Ban Chấp Hành Trung Ương Quốc Dân Ðảng. Trường Võ Bị Hòang Phố, do Nga bảo trợ khai giảng ngày 15-6-1924 do Tưởng Giới Thạch làm Giám Ðốc, còn Chu Ân Lai phụ trách chính tri. Nhưng một biến cố cực kỳ quan trọng đã xảy ra tại Quảng Châu, trong buổi lể kỷ niệm lần thứ 13 cách mạng Tân Hợi (10-10-1911), làm nhiều người cả hai phe thương vong, đồng thời đã khiến Tôn Dật Tiên tỉnh mộng, nên ông bỏ lên Bắc Kinh để hợp bàn chuyện thống nhất đất nước và kêu gọi tình hữu nghị Hoa-Nhật, khiến Liên Xô thất vọng vì kế hoạch bị đổ vỡ nửa chừng.

    Khi Lý Thụy, một tên mới của Nguyễn Tất Thành tới Quảng Châu, thì ở đây đã có nhiều người Việt sinh sống, phần lớn làm viêc trong Sa Ðiện tô giới Pháp, hai khu vực được ngăn cách bằng con sông Châu Giang. Nhờ các quan địa phương như Hồ Hán Dân rất có cảm tình với người Việt, nên đã giúp đỡ những chính khách lưu vong bị Pháp săn đuổi phải chạy sang Tàu trốn lánh như Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Thiện Thuật cho tới Phan Bội Châu. Theo Niên Biểu, thì Sào Nam và Cường Ðể đã lập Việt Nam Quang Phục Hội tại đây, trong đó có nhóm Tâm Tâm Xã của một số thanh niên Việt Nam yêu nước. Tâm Tâm Xã gồm 9 đảng viên, đa số là người Nghệ An, có học thức, chủ trương bạo động gồm Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Sơn. Mùa thu 1924, Phan Bội Châu và Nguyễn Hải Thần đã yêu cầu Tưởng Giới Thạch, lúc đó là Giám Ðốc trường Võ bị Hoàng Phố, thu nhận các sinh viên Việt Nam vào thụ huấn và được ông chấp thuận.
    Do cảm tình và cũng nhận thấy giữa hai đảng cách mạng Việt Nam và Trung Hoa Dân Quốc lúc đó, đều có chung mục đích, đánh đuổi giặc xâm lăng ra khỏi đất nước mình, nên Phan Bội Châu đã đổi danh xưng Việt Nam Quang Phục Hội, thành Việt Nam Quốc Dân Ðảng và uỷ cho Hồ Tùng Mậu phổ biến trong nước. Ðây cũng là giai đoạn mà các sử gia dày công tìm kiếm về mối liên hệ giữa cụ Phan Bội Châu và Lý Thụy, dẫn tới nghi án Hồ Chí Minh cùng Lâm Ðức Thụ bán đứng Phan Bội Châu cho Pháp bắt tại tô giới Thương Hải năm 1925, mà sử liệu đã nhắc tới.

    Theo niên biểu Phan Bội Châu, cho thấy Sào Nam có gặp Nguyễn Ái Quốc đôi ba lần và trùm cọng sản Lý Thụy đã nhắc cụ thay đổi đảng cương Việt Nam Quốc Dân Ðảng, thời gian khi Hồ ở Tàu cuối năm 1924. Cũng năm này, Phạm Hồng Thái, một đảng viên của Việt Nam Quang Phục Hội, nhân Toàn Quyền Ðông Dương là Martial Merlin (1923-1925), ghé Sa Diện, sau khi từ Nhật Bổn về Hà Nội. Phạm Hồng Thái đã giả làm một phóng viên nhà báo, mang bom vào tận phòng ăn cũa tên giặc Pháp, quyết giết kẻ xâm lăng nhưng bom nổ chỉ làm Merlin bị thương nhẹ, trong lúc có 4 tuỳ tùng chết và 4 người khác bị thương. Xong nhiệm vụ, người chiến sĩ thoát thân nhưng vì con sông Châu Giang trước mặt. Cuối cùng ông cũng đền xong nợ nước và sau đó được chính người Trung Hoa, trân trọng cho ông được nghìn thu bên cạnh 72 liệt sĩ trong cuộc cách mạng Tân Hợi 1911, trên Hoàng Thạch Cương, khói hương miên viễn. Tên thực dân thoát chết nhưng cũng vỡ mật lại càng căm hận người Việt Nam yêu nước, còn thế giới thì chấn động và kính phục cháu con Hồng Lạc, bất khuất anh hùng.


    2 – HUYỀN THOẠI NGUYỄN ÁI QUỐC CHẾT TRONG NHÀ TÙ HỒNG KÔNG (1932) :

    Cũng trong chuyện dài về Nguyễn Tất Thành-Hồ Chí Minh, huyền thoại đáng kể nhất là vụ Nguyễn Ái Quốc chết trong nhà tù Hồng Kông vào cuối năm 1932, vì nghiện thuốc phiện và bị bệnh lao. Vụ này trước sau, từ Hồ Chí Minh, Nguyễn Lương Bằng, Võ Nguyên Giáp cho tới cơ quan tuyên truyền của VC, đều nói là do Pháp phao tin để làm hạ uy tín Hồ. Riêng vợ luật sư Frank Loseby, người được Cọng Sản Quốc Tế mướn để biện hộ cho Hồ, sau năm 1969 khi ‘bác’ chết, đã nói tin đó là có thật, và do chính chồng bà ta tung ra, để đánh lạc hướng mật thám Pháp.

    Cuối cùng, theo các sử gia, việc Nguyễn Ái Quốc ‘giả chết’ đều theo ý Liên Xô, nhằm phục vụ nhu cầu chính trị. Với Nga, Nguyễn Ái Quốc chết mới có cơ hội đưa các cán bộ khác lên thay thế và gầy dựng lại đảng VC đã bị tan tác. Với Tây Phương, khai tử con người cọng sản quốc tế chuyên nghiệp, để một bí danh mới của Nguyễn Tất Thành là HỒ CHÍ MINH , đóng vai điệp viên tam trùng, đang cần thiết tại mặt trận Viễn Ðông sắp tới. Tất cả đều nằm trong vòng bí mật và có lẽ chẳng bao giờ tình báo Nga, chịu mở hồ sơ vụ trên, dù Hồ đã chết thật từ lâu rồi.


    Nhưng mới đây báo chí Trung Cộng lại tung tin ‘ Việc Hồ Chí Minh ‘ chết trong nhà tù Hồng Kông là thật. Vì kể từ đó TC mới đem một người Tàu chánh hiệu vào ‘ thế vai ‘ của HCM, đồng thời còn cài thêm vài trăm người cùng bọn vào đảng , qua tên VN.. mà hậu quả ngày nay từ Trung Ương Ðảng xuống tới các Tỉnh Ủy, hầu hết đều là Tàu .. nên đâu có gì lạ trước việc CSVN đã chính thức bán nước cho giặc, hiện đã trở thành ‘ một tỉnh hay khu tự trị ‘ thuộc lảnh thổ Trung Hoa như Mãn Châu, Nội Mông, Tây Tạng và Tân Cương..

    Nay qua dòng thế sự, góp nhặt những chuyện đời, để rồi tọc mạch kể lại cho thế gian vui. Nguyễn Du đã ôm bộ ngực gầy xương giữa trời lộng gió, trên đỉnh Hồng Lĩnh nhưng muôn đời sau, người ta vẫn tìm đến với thi nhân, để cùng cảm thông chung manh áo lạnh. Ðường vào lịch sử Hồng Lạc cũng vậy vì sự hưng thịnh, tồn vong, thảo khấu hay là chính thống, đều không qua khỏi những dòng chữ đá trên bia sử.

    Cho nên ngày nay, ta đọc câu chuyện sử về người trăm mặt Nguyễn Tất Thành, cũng chẳng qua chỉ đọc lại những câu chuyện kể về vận nước, mệnh ngươi, khen chê, xưng tụng. Xuôi nam hay ngược bắc, trong gió ngàn bay, nhìn ra biển lộng, đâu đâu cũng thấy chiến thuyền của chúa Nguyễn căng buồm lướt sóng hay vó ngựa chân voi dồn dập của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ danh trấn non sông. Nhưng rồi ngao ngán biết bao, khi lạc đường vào lịch sử, để phải đọc những huyền thoại gian dối của ‘bác’, làm cho hồn vừa giận vừa cười.


    Quả thật, trong dòng lịch sử VN, lôi hết những tên đại gian hùng giết vua phế chúa như Trần Thủ Ðộ, Hồ Quý Ly, Mạc Ðăng Dung, Trịnh Kiểm, Trương Phúc Loan, Phan Khắc Hoè.. đem so sánh, thì chỉ bằng một cọng râu lơ thơ của Hồ mà thôi. Cũng nhờ những câu chuyện về Nguyễn Ái Quốc giả chết hay sự bặt tin của Lý Thụy, mãi cho tới khi sắp mở màn thế chiến thứ hai, Nguyễn Tất Thành mới được tái sinh qua cái tên Hồ Chí Minh từ năm 1939 cho tới bây giờ, chung cuộc chỉ là một màn kịch, diễn về một con người tầm thường nhưng được nổi nhờ cơ duyên và sự phô trương vô tiền khoáng hậu.


    Hiện nay các sử gia đều đặt nghi vấn, về câu hỏi là tại sao đồng loạt các cán bộ cao cấp của Ðông Dương Cong sản đảng từ Mạc Tu Khoa về, trong đó có Lê Hồng Phong tự dưng bị lộ, và kẻ chỉ điểm theo mật thám Pháp là một liên lạc người Hoa? Một điều khác cũng rất quan trọng, đó là tài chính dùng nuôi quân, nhưng Hồ đã ôm trọn khiến cho Hoàng văn Hoan, Vũ Anh và nhiều kẻ khác, đói đến độ phải nhờ vào người Quốc Gia mà sống.

    Ðây cũng chỉ là một phần nhỏ, tóm lược về cuộc đời của Nguyễn Tất Thành, qua huyền thoại ‘xuất dương’ tìm đường cứu nước, một con người trăm tên, trăm mặt, thay đổi hình dạng và thủ đoạn chính trị, đâu có khác gì loài tắc kè xanh xanh đỏ đỏ. Ðó mới chính là ‘ sự thật về cuộc đời Hồ Chí Minh ‘, một chuyện dài không bao giờ kết thúc dù chế độ CSVN có bị giực xập..

    Viết từ Xóm Cồn Hạ uy Di


    Tháng 7-2009

    MƯỜNG GIANG

    Lannguyen xin chân thành cảm ơn MƯỜNG GIANG và http://vantuyen.net/2014/05/21/ho-chi-minh-con-nguoi-tram-mat-muong-giang/
    Lannguyen

  9. #69
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Lời thú tộii kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam

    Có sẽ bị “ngửi phân Trung Quốc ngàn năm” ở Biển Đông?

    Dương Danh Huy



    Tường thuật của ngư dân và clip về việc tàu cá Việt Nam bị tàu Trung Quốc bao vây, đuổi và đâm chìm làm tôi nhớ lại một chuyện thời sinh viên. Hôm đó, tôi thấy trong một thư viện của đại học một quyển sách với một chuỗi hình chụp từ máy bay. Những hình này chụp lại cảnh một chiếc thuyền của người Việt tỵ nạn trong thập niên 1980 bị nhiều thuyền hải tặc bao vây. Thuyền hải tặc dùng bạt che số hiệu và đâm húc cho đến khi chiếc thuyền xấu số chìm. Không biết bao nhiêu sinh mạng đã bị dập tắt trong lòng biển. Lần này may mắn là các nạn nhân được cứu.


    Từ năm 2009, Trung Quốc đã đâm húc tàu thuyền ngư dân Việt Nam, bắn họ, đánh đập họ, bắt họ, đòi tiền chuộc, cướp phá hoại tài sản của họ biết bao nhiêu lần. Hoàng Sa thì từ khi Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ ngoại giao, họ khăng khăng là không có tranh chấp, không có gì để đàm phán. Trong cuộc đối đầu về giàn khoan Hải Dương 981, họ đã đâm hư hại 24 tàu của cơ quan nhà nước Việt Nam, coi nhà nước Việt Nam không ra gì.

    Với thực tế đó, còn có gì để nấn ná với khái niệm “kiên trì đàm phán” nữa? Chắc chắn là Trung Quốc sẽ không nhượng bộ gì về chủ quyền đối với các đảo. Về vùng đặc quyền kinh tế có thể có chung quanh các đảo nói chung và vấn đề giàn khoan Hải Dương 981 nói riêng, nếu Trung Quốc có nhượng bộ, chắc chắn là họ sẽ ra giá. Giá đó có thể là công nhận “chủ quyền Trung Quốc” trên quần đảo và trong vùng nội thủy và lãnh hải mà họ tuyên bố, hay là để cho họ cùng khai thác trong vùng Tư Chính - Nam Côn Sơn. Thậm chí, cũng có thể một trong những mục đích chính của Trung Quốc trong việc triển khai giàn khoan Hải Dương 981 là để gây áp lực buộc Việt Nam cho họ cùng khai thác trong vùng Tư Chính - Nam Côn Sơn.

    Như vậy, thực chất của biện pháp “kiên trì đàm phán” chính là vì “đại cục” mà hy sinh Hoàng Sa, và vùng biển Hoàng Sa có thể có. Biện pháp thứ nhì, đối đầu trên thực địa, là không thể thiếu được, nhưng là một cuộc chiến không cân sức cho Việt Nam. Việt Nam phải bổ sung bên cạnh lòng dũng cảm, sự chịu đựng và hy sinh của cảnh sát biển Việt Nam, kiểm ngư và ngư dân với biện pháp thứ ba: biện pháp pháp lý.


    Ngày 23/5, bà Nguyễn Thị Thanh Hà, Vụ trưởng Vụ Luật pháp quốc tế Bộ Ngoại giao Việt Nam trả lời phóng viên Reuters, “Cá nhân tôi là một luật gia, tôi luôn luôn hỏi mình khi nào là thời điểm để sử dụng biện pháp pháp lý. Tuy nhiên, chúng ta phải chờ đợi quyết định của Chính phủ”.

    Theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ Chính trị sẽ quyết định “thời điểm nào hợp lý” cho việc kiện.
    Tuy không phải là luật gia, tôi cũng tự hỏi, “Bao giờ Bộ Chính trị Việt Nam mới quyết định xử dụng biện pháp pháp lý, một biện pháp hòa bình, văn minh, và là biện pháp duy nhất trong đó Việt Nam có thể chiến đấu một cách bình đẳng với Trung Quốc?”.


    Dường như có điều gì đó làm họ chần chừ. Có phải là họ ngại trả đũa kinh tế từ Trung Quốc chăng?

    Ngày xưa, khi trả lời câu hỏi “Hòa hay chiến?”, có lẽ lãnh đạo và người dân Đại Việt cũng đã nghĩ tới những hệ quả xấu cho nông nghiệp từ vó ngựa Mông Cổ. Có lẽ họ cũng đã nghĩ đến chiến lược đồng không nhà trống có thể ảnh hưởng đến kinh tế thế nào. Và họ còn phải nghĩ sẽ sinh bao nhiêu xương máu trước quân đội thiện chiến nhất thế giới lúc đó. Nhưng câu trả lời của họ vẫn là câu trả lời mãi có tiếng thơm trong lịch sử. Ngày nay, câu hỏi không khắc nghiệt bằng “Hòa hay chiến?”, nó là “Kiện hay không kiện?” (Kiện ở đây là kiện Trung Quốc đã vi phạm UNCLOS trong sự kiện giàn khoan Hải Dương 981, không phải là kiện để đòi lại Hoàng Sa, vì không có tòa nào có thẩm quyền để thụ lý vụ kiện kiện để đòi lại Hoàng Sa).
    Ngày nay, việc ra tòa để giải quyết tranh chấp là một phương tiện văn minh. Hàng chục nước trên thế giới đã ra tòa để giải quyết tranh chấp lãnh thổ, biển đảo, trong đó có cả Thái Lan, Campuchia, Mã Lai, Singapore và Indonesia. Philippines cũng đã phải hỏi câu hỏi “Kiện hay không kiện?”, và họ đã có một trả lời không bị cột vào nỗi sợ Trung Quốc sẽ trả đũa kinh tế, hay nỗi sợ nào đó khác.
    Phải chăng sau bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, sau một trăm năm đánh đuổi ngoại xâm, hai mươi năm “nội chiến từng ngày” hay “đánh đuổi đế quốc”, v.v., (tùy theo quan điểm của mỗi người), bốn mươi năm xã hội chủ nghĩa, số phận của Việt Nam ngày nay là bị Phần Lan hóa hơn cả Philippines? (“Phần Lan hóa” là thành ngữ dựa trên quan điểm sau Thế Chiến 2, Phần Lan trên thực tế đã phải hy sinh phần nào sự độc lập của mình vì phải tồn tại bên cạnh Liên Xô).
    Quyển “Viêt-Nam: Sociologie d’une Guerre”, của Paul Mus và quyển “Vietnam: A History” của Stanley Kanow ghi Hồ Chí Minh nói một câu với ý thà ngửi phân Pháp năm năm còn hơn ngửi phân Tàu ngàn năm (nhưng khó kiểm chứng sự thật là thế nào). Một trong những điều mà Đảng Cộng sản Việt Nam cho là hào quang của mình là vai trò của họ trong phong trào Việt Minh giành độc lập cho Việt Nam. Họ cũng cho rằng vai trò của họ trong cuộc chiến 1954-1975 là một hào quang. Nhưng giả sử điều thứ nhì có đúng đi nữa thì hào quang đó cũng có một bóng tối, đó là khi đối diện với câu hỏi “Có nói Hoàng Sa, Trường Sa là của dân tộc Việt hay không?” họ đã chọn trả lời sai. Dù trả lời sai đó có không làm cho Việt Nam mất chủ quyền pháp lý đi nữa, thì đó cũng là một bóng tối về luân lý. Nhưng, quan trọng hơn, nếu dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản mà Việt Nam lâm vào tình huống phải “ngửi phân Trung Quốc ngàn năm” ở Biển Đông thì vị trí của Đảng Cộng sản trong lịch sử Việt Nam sẽ cực kỳ đen tối, không hào quang nào có thể soi sáng nổi. Tất nhiên, điều quan trọng hơn tất cả là nếu điều đó xảy ra thì tương lai của Việt Nam sẽ cực kỳ đen tối.
    Hiện nay chưa biết được Việt Nam có sẽ lâm vào tình huống đó hay không. Một trong những yếu tố có thể định đoạt là lãnh đạo Việt Nam. Trả lời của Bộ Chính trị cho câu hỏi “Kiện hay không?” sẽ trả lời những câu hỏi, “Lãnh đạo Việt Nam có dùng tất cả các biện pháp hòa bình không? Có dùng tất cả những biện pháp cần thiết không? Có dùng tất cả những biện pháp trong đó Việt Nam có thể đấu tranh một cách bình đẳng không?”. Trả lời cho những câu hỏi đó sẽ là những chỉ số quan trọng về lãnh đạo Việt Nam đối phó với Trung Quốc thế nào trong cuộc tranh chấp có tính sống còn cho Việt Nam, có thể giúp chúng ta dự đoán về tương lai, và có thể giúp Trung Quốc đánh giá về ý chí trên thực tế của lãnh đạo Việt Nam.
    Trung Quốc đã cố ý triển khai giàn khoan Hải Dương 981 ở một địa điểm mà Việt Nam có thể đơn phương kiện. Có thể đó là phép thử của họ, xem lãnh đạo Việt Nam có dám kiện hay không. Nếu Trung Quốc cho rằng lãnh đạo Việt Nam sợ trả đủa kinh tế, hay sợ điều gì khác, cho nên không dám kiện, họ sẽ lấn tới và làm cho tình hình của Việt Nam nguy khốn hơn.
    Hiện nay, cảnh sát biển và kiểm ngư đang dũng cảm thi hành nhiệm vụ của họ, ngư dân Việt Nam đang kiên trì bám biển dưới mũi tàu sắt Trung Quốc, lòng dân đang bức xúc, nhưng chưa biết Bộ Chính trị sẽ thi hành nhiệm vụ của họ thế nào.

    D.D.H.


    Tác giả gửi BVN
    Được đăng bởi bauxitevn



    Lannguyen xin chân thành cảm ơn Dương Danh Huy và http://boxitvn.blogspot.com/2014/06/co-se-bi-ngui-phan-trung-quoc-ngan-nam.html
    Lannguyen

  10. #70
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Lời thú tộii kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam

    Chung quanh công hàm Phạm Văn Đồng – Trần Gia Phụng

    Posted by Nguyễn Tuấn on Tháng Sáu 6, 2014 in Tài liệu, Trần Gia Phụng




    Vào đầu tháng 5 – 2014 vừa qua, Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981đến đặt tại vùng biển gần đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa, mà Trung Quốc đã đánh chiếm của Việt Nam Cộng Hòa ngày-19-1-1974. Sự xuất hiện giàn khoan nầy làm rộ lên trở lại dư luận trong và ngoài nước vấn đề công hàm ngày 14-9-1958 của Phạm Văn Đồng, thủ tướng Bắc Việt Nam trước đây.

    1.- TUYÊN BỐ CỦA TRUNG QUỐC

    Từ 24-2 đến 29-4-1958, các thành viên Liên Hiệp Quốc (LHQ) họp tại Genève bàn về luật biển. Hội nghị ký kết bốn quy ước về luật biển. Riêng quy ước về hải phận mỗi nước, có 3 đề nghị: 3 hải lý, 12 hải lý và 200 hải lý. Không đề nghị nào hội đủ túc số 2/3, nên LHQ chưa có quyết định thống nhất. Lúc đó, Trung Quốc và hai miền Nam và Bắc Việt Nam không phải là thành viên LHQ nên không tham dự hội nghị nầy.
    Trước cuộc tranh cãi về hải phận, ngày 28-6-1958, Mao Trạch Đông tuyên bố với nhóm tướng lãnh thân cận: “Ngày nay, Thái Bình Dương không yên ổn. Thái Bình Dương chỉ yên ổn khi nào chúng ta làm chủ nó.” (Jung Chang and Jon Halliday, MAO: The Unknown Story, New York: Alfred A. Knopf, 2005, tr. 426.) Tiếp đó, ngày 4-9-1958, Trung Quốc đưa ra bản tuyên bố về hải phận gồm 4 điểm, trong đó điểm 1 và điểm 4 được dịch như sau:
    (1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Điều lệ nầy áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa [Xisha tức Hoàng Sa], quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa [Nansha tức Trường Sa], và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
    . . . . . . . . . . . . . .
    (4) Điều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu [Bành Hồ], quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc… (Nguồn: <http://law.hku.hk/clsourcebook/10033.htm>).
    Mục đích của bản tuyên bố ngày 4-9-1958 nhằm xác định hải phận của Trung Quốc là 12 hải lý. Tuy nhiên điểm 1 và điểm 4 của bản tuyên bố cố ý lập lại và mặc nhiên khẳng định chắc chắn rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (vốn của Việt Nam) thuộc chủ quyền của Trung Quốc và gọi theo tên Trung Quốc là Xisha [Tây Sa tức Hoàng Sa] và Nansha [Nam Sa tức Trường Sa].
    Điểm cần chú ý là Trung Quốc lúc đó chưa phải là thành viên Liên Hiệp Quốc và không thể dùng diễn đàn của Liên Hiệp Quốc để bày tỏ quan điểm và chủ trương của mình, nên Trung Quốc đơn phương đưa ra bản tuyên bố nầy, thông báo quyết định về lãnh hải của Trung Quốc. Vì vậy các nước không nhất thiết là phải trả lời bản tuyên bố của Trung Quốc, nhưng riêng Bắc Việt Nam lại tự ý đáp ứng ngay.

    2.- CÔNG HÀM CỦA BẮC VIỆT

    Trước khi ký kết hiệp định Genève ngày 20-7-1954 chia hai đất nước, đảng Lao Động (tức đảng Cộng Sản Việt Nam) đã sắp đặt trước kế hoạch tiếp tục chiến tranh đánh miền Nam. Chủ trương nầy được đưa ra rõ nét tại hội nghị Liễu Châu (Liuzhou) thuộc tỉnh Quảng Tây (Guangxi), từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954 giữa Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai.
    Sau khi đất nước bị chia hai, Bắc Việt nằm dưới chế độ cộng sản do Hồ Chí Minh và đảng Lao Động (tức đảng Cộng Sản Việt Nam) lãnh đạo. Muốn đánh miền Nam, thì Bắc Việt cần được các nước ngoài viện trợ, nhất là Liên Xô và Trung Quốc. Vì vậy, khi Trung Quốc đơn phương đưa ra bản tuyên bố về lãnh hải ngày 4-9-1958, chẳng cần tham khảo ý kiến Bắc Việt, thì “không gọi mà dạ”, Phạm Văn Đồng, thủ tướng Bắc Việt, lại hưởng ứng ngay, ký công hàm ngày 14-9-1958, tán thành quyết định về hải phận của Trung Quốc để lấy lòng chính phủ Trung Quốc.

    Mở đầu bản công hàm, Phạm Văn Đồng viết: “Thưa Đồng chí Tổng lý”. Kết thúc bản công hàm là câu: “Chúng tôi xin kính gởi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.” Gọi nhau đồng chí là ngôn ngữ giao thiệp giữa đảng với đảng trong cùng một hệ thống cộng sản quốc tế, khác với ngôn ngữ ngoại giao thông thường. Nội dung bản công hàm Phạm Văn Đồng nguyên văn như sau:

    “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, quyết định về hải phận của Trung Quốc.
    Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc trên mặt bể.”
    Chắc chắn bản công hàm nầy đưọc Hồ Chí Minh và Bộ chính trị đảng Lao Động (tức đảng Cộng Sản) chuẩn thuận và được gởi thẳng cho Trung Quốc mà không tham khảo ý kiến hay thông qua quốc hội Bắc Việt. Quốc hội Bắc Việt lúc đó nguyên là quốc hội được bầu ngày 6-1-1946, gọi là quốc hội Khóa I. Sau chiến tranh 1946-1954, đất nước bị chia hai. Nhà nước Bắc Việt triệu tập những dân biểu cộng sản còn sống ở Bắc Việt vào tháng 9-1955, tiếp tục hoạt động cho đến ngày 8-5-1960, Bắc Việt mới tổ chức bầu lại quốc hội khóa II, khai mạc phiên họp đầu tiên tại Hà Nội ngày 6-7-1960.

    3.- TRUNG QUỐC BIỆN MINH

    Khi tự động đem giàn khoan 981 đặt trong vùng biển Hoàng Sa, vi phạm lãnh hải Việt Nam, Trung Quốc liền bị dân chúng Việt Nam biểu tình phản đối mạnh mẽ và dư luận quốc tế lên án, thì nhà cầm quyền Trung Quốc cho người sử dụng công hàm Phạm Văn Đồng ngày 14-9-1958 để nói chuyện.
    Cùng ngày 20-5, hai nhân vật Trung Quốc đã lên tiếng biện minh cho hành động của Trung Quốc. Dĩ nhiên họ được lệnh của nhà nước Bắc Kinh mới được quyền lên tiếng.
    Thứ nhứt, đại biện lâm thời Trung Quốc ở Indonesia, ông Lưu Hồng Dương, có bài đăng trên báo Jakarta Post (Indonesia), xác định rằng quân đảo Tây Sa [tức Hoàng Sa] là lãnh thổ của Trung Quốc. Bài báo viết: “Trong tuyên bố ngày 14-9-1958, thay mặt chính phủ Việt Nam khi đó, Phạm Văn Đồng, công khai thừa nhận quần đảo Tây Sa và các đảo khác ở Nam Hải là lãnh thổ Trung Quốc.” Lưu Hồng Dương, tác giả bài báo, còn viết: “Việt Nam rõ ràng vi phạm nguyên tắc “estoppels”. [không được nói ngược].
    Người thứ hai là tiến sĩ Ngô Sĩ Tồn, giám đốc Viện Nghiên cứu Nam Hải của Trung Quốc, trả lời phỏng vấn hãng tin Deutsch Welle (DW) của Đức, được đưa lên Net ngày 20-5. Ông nầy nói như sau: “Năm 1958, thủ tướng Việt Nam khi đó là Phạm Văn Đồng đã công nhận chủ quyền Trung Quốc đối với Tây Sa và Nam Sa trong công hàm gửi thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai… Hà Nội chỉ thay đổi lập trường sau khi đất nước thống nhất năm 1975. Nhưng theo nguyên tắc estoppel, Trung Quốc không tin rằng Việt Nam có thể thay đổi lập trường về vấn đề chủ quyền.”

    4.- CỘNG SẢN VIỆT NAM CHỐNG CHẾ

    Trả lời những cáo buộc trên đây của Trung Quốc, trong cuộc họp báo ngày 23-5-2014 tại Hà Nội, ông Trần Duy Hải, phó chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia, cho rằng công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 không có giá trị pháp lý về vấn đề chủ quyền biển đảo Việt Nam.
    Ông Hải nói: “Việt Nam tôn trọng vấn đề 12 hải lý nêu trong công thư chứ không đề cập tới Hoàng Sa, TrườngS, vì thế đương nhiên không có giá trị pháp lý với Hoàng Sa và Trường Sa… Bạn không thể cho ai thứ mà bạn chưa có quyền sở hữu, quản lý được. Vậy điều đó càng khẳng định công văn của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng không có giá trị pháp lý…”
    Ngoài ra, còn có đại sứ của hai phía Trung Cộng và Việt Cộng ở Hoa Kỳ tham gia cuộc tranh cãi, lên tiếng bênh vực lập trườøng của chính phủ mình. Báo chí hai nước cũng đưa tin và bình luận cáo buộc đối phương mà trước đây ít khi thấy. Lời qua tiếng lại còn nhiều, nhưng đại khái lập trường hai bên là như vậy.

    5.- HIỂU CÁCH NÀO?

    Bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung Quốc đưa ra hai chủ điểm: 1) Xác định hải phận của Trung Quốc là 12 hải lý. 2) Mặc nhiên xác nhận chủ quyền của Trung Quốc trên một số quần đảo trên Biển Đông trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vốn của Việt Nam từ lâu đời.

    Dầu công hàm Phạm Văn Đồng không có chữ Hoàng Sa và Trường Sa như ông Trần Duy Hải nói, nhưng công hàm Phạm Văn Đồng “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc”, có nghĩa là nhà nước Bắc Việt cộng sản công nhận hai chủ điểm của bản tuyên bố của Trung Quốc.

    Trần Duy Hải còn nhấn mạnh rằng sau hiệp định Genève, Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quyền quản lý của Việt Nam Cộng Hòa và “Bạn không thể cho ai thứ mà bạn chưa có quyền sở hữu, quản lý được.” Ông Hải nói chuyện lạ lùng như một người nước ngoài. Nếu Nam Việt không phải là một phần của Việt Nam, thì tại sao Bắc Việt lại đòi “Chống Mỹ cứu nước” hay “Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.”? Khi xâm lăng Nam Việt, thì Bắc Việt nhận Nam Việt là một phần của Việt Nam. Khi cần xin viện trợ thì Bắc Việt bảo rằng đó là của Nam Việt, rồi Bắc Việt dùng để trao đổi với nước ngoài? (Một giải thích lạ lùng hơn nữa là bà Nguyễn Thị Thụy Nga (Bảy Vân), vợ Lê Duẫn, trả lời trong cuộc phỏng vấn năm 2008 của đài BBC rằng “ngụy nó đóng ở đó nên giao cho Trung Quốc quản lý Hoàng Sa.” (CTV Danlambao – danlambaovn.blogspot.com)

    Một nhà nghiên cứu trong nước còn nói rằng công hàm Phạm Văn Đồng không thông qua quốc hội nên không có giá trị pháp lý trong bang giao quốc tế. (BBC Tiếng Việt 21-5-2014, “Hoàn cảnh lịch sử công hàm 1958”).

    Khái niệm nầy chỉ đúng với các nước tự do dân chủ. Trong các nước tự do dân chủ, tam quyền phân lập rõ ràng. Những quyết định của hành pháp phải được lập pháp thông qua, nhất là những hiệp ước về lãnh thổ, lãnh hải phải có sự đồng ý của quốc hội. Tuy nhiên dưới chế độ cộng sản, cộng sản không cai trị theo luật pháp, mà cộng sản thống trị theo nghị quyết của đảng cộng sản. Với cộng sản, tam quyền không phân lập mà tam quyền đồng quy vào trong tay đảng CS, nên CS chẳng cần đến quốc hội. Chủ trương nầy được đưa vào điều 4 hiến pháp cộng sản mà ai cũng biết.

    Trung Quốc là một nước cộng sản từ năm 1949. Đảng Cộng Sản Trung Quốc cũng thống trị đất nước họ như đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN). Vì vậy, giữa hai nước cộng sản với nhau, Trung Quốc rất am hiểu truyền thống của nhau, am hiểu ngôn ngữ cộng sản với nhau. Chính công hàm của Phạm Văn Đồng cũng viết theo ngôn ngữ cộng sản: “Thưa Đồng chí Tổng lý”. Vì vậy, Trung Quốc hiểu công hàm Phạm Văn Đồng theo cách thống trị đất nước của nhà nước cộng sản, nghĩa là quyết định của đảng cộng sản là quyết định tối hậu, trên tất cả, chẳng cần gì phải có chuyện quốc hội phê chuẩn.

    Hồ Chí Minh và đảng Lao Động (tức đảng CSVN ngày nay) ủng hộ hay không ủng hộ bản tuyên bố về hải phận của Trung Quốc, dân chúng Việt Nam không cần quan tâm. Tuy nhiên, đối với dân chúng Việt Nam, chuyện Phạm Văn Đồng cùng Hồ Chí Minh và đảng Lao Động tán thành “quần đảo Tây Sa [Hoàng Sa], …, quần đảo Nam Sa [Trường Sa], … thuộc Trung Quốc” là một hành vi bán nước và phản quốc.

    6.- LIÊN MINH QUÂN SỰ?

    Trước hiểm họa Trung Quốc đe dọa ngày nay, vì Việt Nam không đủ sức chống lại Trung Quốc nên có ý kiến cho rằng nhà nước CSVN cần phải liên minh với nước ngoài để chống Trung Quốc. Ví dụ liên minh với Hoa Kỳ hay với khối ASEAN chẳng hạn.
    Tuy nhiên, trong cuộc họp báo tại Bắc Kinh vào ngày 25-8-2010, trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Quốc phòng CSVN đã đưa ra chủ trương “ba không” của đảng CS và nhà nước CSVN là: Không tham gia liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự và không cùng một nước khác chống lại nước thứ ba. (Xem Internet: chủ trương ba không của CSVN.)

    Về phía Hoa Kỳ, thì vừa qua, ngày 28-5-2014, trong bài diễn văn trình bày tại lễ tốt nghiệp Học viện Quân sự West Point, New York, tổng thống Obama đưa ra nét căn bản về chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ: “Hoa Kỳ sẽ sử dụng quân đội, đơn phương nếu cần thiết, nếu cần cho lợi ích cốt lõi của chúng ta – trong trường hợp người dân chúng ta bị đe dọa, nguồn sống chúng ta gặp nguy hiểm hay an ninh của các nước đồng minh bị thách thức …” (BBC Tiếng Việt, 29-5-2014.)

    Chủ trương sử dụng sức mạnh để bảo vệ lợi ích cốt lõi của nước mình không phải là chủ trương riêng của Hoa Kỳ hay của một nước nào mà là chủ trương chung của tất cả các nước trên thế giới. Nước nào cũng vì quyền lợi của nước mình mà thôi. Vậy thử hỏi Hoa Kỳ có quyền lợi gì khi giúp Việt Nam (90 triệu dân) nhằm đổi lại với việc Hoa Kỳ giao thương với Trung Quốc (hơn 1 tỷ dân)? Ngoài ra, Hoa Kỳ khó trở thành đồng minh của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chỉ vì một lý do đơn giản là CHXHCNVN là một nước cộng sản vi phạm nhân quyền một cách trầm trọng.
    Hơn nữa, Hoa Kỳ mới liên minh trở lại với Phi Luật Tân để ngăn chận Trung Quốc từ xa. Vì Phi Luật Tân ở xa, nằm phía bên kia bờ Biển Đông phân cách Phi Luật Tân với lục địa Trung Quốc, nên an toàn hơn cho Hoa Kỳ. Vì vậy, Hoa Kỳ có cần liên minh với CSVN hay không?

    Các nước trong khối ASEAN cũng không khác gì Hoa Kỳ, tập họp với nhau vì quyền lợi kinh tế của mỗi nước. Có nước chẳng ưa thích gì Việt Nam như Cambodia, Lào vì truyến thống lâu đời. Có nước chẳng có quyền lợi gì trong vấn đề Việt Nam và Biển Đông như Miến Điện, Mã Lai. Đó là chưa nói hầu như các nước ASEAN đều quan ngại thế lực của Trung Quốc về nhiều mặt và các nước ASEAN còn muốn Việt Nam luôn luôn ở thế yếu kém, bị động để đừng quay qua bắt nạt các nước láng giềng.

    Như thế, chỉ là ảo tưởng nếu nghĩ rằng nhà nước CSVN có thể liên minh với bất cứ nước nào để chống Trung Quốc. Trung Quốc dư biết điều đó. Cộng sản Việt Nam phải tự mình giải quyết lấy bài toán của mình do những sai lầm của Hồ Chí Minh và đảng CSVN gây ra. Nhờ Trung Quốc đánh Pháp chẳng khác gì nhờ một tên ăn cướp đuổi một kẻ ăn trộm. Còn nhờ Trung Quốc chống Mỹ không phải là giải pháp để cứu nước mà là con đường dẫn đến mối nguy mất nước …

    7.- PHẢI QUYẾT ĐỊNH

    Lịch sử cho thấy từ bao đời nay, dân tộc Việt Nam luôn luôn chiến đấu để bảo vệ lãnh thổ, chống lại các cuộc xâm lăng của nước ngoài. Ngược lại, từ giữa thế kỷ 20, đảng CSVN cướp được chính quyền năm 1945, đã dùng đất đai do tổ tiên để lại như một vật trao đổi nhằm mưu cầu quyền lực, mà công hàm Phạm Văn Đồng là một ví dụ điển hình.
    Muốn thoát khỏi tấn bi kịch hiện nay, một trong những việc đầu tiên là phải vô hiệu hóa công hàm Phạm Văn Đồng, chấm dứt sự thừa nhận của Phạm Văn Đồng và đảng Lao Động tức đảng CSVN đối với tuyên bố của Trung Quốc.
    Muốn vô hiệu hóa công hàm Phạm Văn Đồng thì phải vô hiệu hóa chính phủ đã ký công hàm. Phạm Văn Đồng đã chết. Chính phủ Phạm Văn Đồng không còn. Tuy nhiên, chính phủ thừa kế chính phủ Phạm Văn Đồng còn đó ở Hà Nội. Vậy chỉ còn cách giải thể nhà nước cộng sản hiện nay ở Hà Nội mới có thể vô hiệu hóa công hàm Phạm Văn Đồng. Có hai cách giải thể:
    Thứ nhứt, đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay, hậu thân của đảng Lao Động trước đây, thừa kế chính thức của nhà nước do Phạm Văn Đồng làm thủ tướng, phải tìm cách tự lột xác như ve sầu lột xác (kim thiền thoát xác), mới phủ nhận những điều do nhà cầm quyền cũ ký kết. Trên thế giới, đã có hai đảng cộng sản theo thế kim thiền thoát xác là trường hợp Cộng sản Liên Xô với Yeltsin và cộng sản Cambodia với Hun Sen.

    Vấn đề là những nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam hiện nay có vì sự sống còn của đất nước, có chịu hy sinh quyền lợi của đảng CS, có chịu giải thể đảng CS như Yeltsin đã làm ở Liên Xô, để cùng dân tộc tranh đấu bảo vệ non sông?

    Thứ hai, nếu những nhà lãnh đạo cộng sản vẫn cương quyết bám lấy quyền lực, cương quyết duy trì đảng CSVN, thì chỉ còn con đường duy nhứt là toàn dân Việt Nam phải tranh đấu lật đổ chế độ cộng sản. Cuộc tranh đấu sẽ rất cam go, khó khăn, nhưng hiện nay đất nước chúng ta đang đứng bên bờ vực thẳm, đang lâm vào thế cùng. Cùng đường thì phải tranh đấu để biến đổi và tự cứu mình.
    Vậy chỉ còn con đường duy nhứt là chấm dứt chế độ CSVN để chấm dứt công hàm Phạm Văn Đồng, đồng thời chấm dứt luôn những mật ước giữa đảng CSVN với đảng Cộng Sản Trung Quốc từ thời Hồ Chí Minh cầu viện, qua thời Thành Đô và cho đến hiện nay.
    Đã đến lúc phải quyết định dứt khoát: Hoặc CSVN theo thế “ve sâu lột xác”, hoặc CSVN phải bị lật đổ mà thôi. Nếu không, hiểm họa một thời kỳ Hán thuộc mới đang chờ đợi Việt Nam.

    TRẦN GIA PHỤNG
    (Toronto, 5-6-2014)
    Lannguyen xin chân thành cảm ơn TRẦN GIA PHỤNG và http://vantuyen.net/2014/06/06/chung...ran-gia-phung/
    Lannguyen

  11. #71
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Lời thú tộii kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam

    Từ “Phạm Văn Đồng” tới “Thành Đô”, hai công hàm bán nước – Trần Trung Đạo

    Posted by Nguyễn Tuấn on Tháng Sáu 6, 2014 in Tài liệu, Trần Trung Ðạo



    Về hình thức “công hàm Phạm Văn Đồng” chẳng khác gì một công án thiền, chỉ 121 chữ với nội dung đơn giản nhưng làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực, phân tích, bàn thảo và làm ngưng chảy dòng nhận thức của mọi người mỗi khi nhắc đến.

    Huyền bí hơn nữa, “công hàm” là một tài liệu có thật và là cây gai trong mắt của những người quan tâm đến vận mệnh đất nước, nhưng trong bao nhiêu lần “xác định chủ quyền Việt Nam trên các đảo Hoàng Sa, Trường Sa” giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam không hề nhắc đến, tưởng chừng như văn bản đó không phải là của họ. Sự im lặng phải có lý do, bởi vì nếu chỉ là vấn đề biển đảo, lãnh đạo đảng đã giải thích từ lâu rồi đâu cần đợi ai nhắc nhở.
    Trước khi bàn đến “công hàm” mới, phải nhắc lại vài chuyện về “công hàm” cũ.
    Ngày ngày 4 tháng 9 năm 1958, Quốc hội Trung Quốc ra tuyên bố hai điểm, điểm thứ nhất có liên hệ trực tiếp đến lãnh thổ Việt Nam gồm Tây Sa tức Hoàng Sa và Nam Sa tức Trường Sa. Đáp lại lời tuyên bố này, ngày 14 tháng 9 năm 1958, Phạm Văn Đồng, Thủ tướng CSVN đã gởi cho Thủ tướng Chu Ân Lai một công hàm “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc”.

    Ngày 22 tháng Chín năm 1958, công hàm đã được đăng trên báo Nhân dân để toàn Đảng, toàn dân và toàn thế giới biết hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc. Những ai trước nay nghĩ rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam vì đọc Phủ Biên Tạp Lục của học giả Lê Quý Đôn hay Đại Nam Thực Lục của triều Nguyễn v.v… không những là một sai lầm lịch sử mà còn đi được lại quyết định của Đảng. Ngày 19 tháng Giêng năm 1974, hải quân Trung Quốc tấn công quần đảo Hoàng Sa. Sau những trận hải chiến không cân sức, hải quân Việt Nam Cộng Hòa triệt thoái khỏi Hoàng Sa. Từ đó, quần đảo thân yêu này nằm trong tay giặc.

    Khi quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc trở nên tồi tệ sau năm 1975 vấn đề chủ quyền Hoàng Sa Trường Sa được đưa ra. Đặc biệt sau chiến tranh biên giới lần thứ nhất năm 1979, Việt Nam ra bạch thư về chủ quyền Việt Nam trên các quần đảo này với nhiều bằng chứng và tài liệu lịch sử Việt Nam cũng như quốc tế. Phản ứng về phía Trung Quốc, ngoài việc dẫn chứng các “tài liệu lịch sử” riêng của mình, họ còn dựa vào công hàm Phạm Văn Đồng để cho rằng Việt Nam chính thức thừa nhận hai quần đảo là của Trung Quốc từ năm 1958. Trung Quốc còn cho biết ngay trong các sách giáo khoa địa lý bậc trung học trước năm 1975 tại miền bắc Việt Nam cũng đã xác định Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc, và ngoài ra, thứ trưởng ngoại giao Việt Nam Ung Văn Khiêm cũng lập lại điều này khi tiếp tham vụ tòa đại sứ Trung Quốc Li Zhimin.

    Một làn sóng công phẫn trong các tầng lớn nhân dân, trước năm 1975 chỉ phát xuất từ miền nam, đã bắt đầu dấy lên trong vài ngoài nước. Nhưng cùng lúc với những chê trách, giận dữ, kết án, nhiều quan điểm cũng được đưa ra như một cách mách nước cho đảng để tháo gỡ chiếc vòng kim cô đảng tự đặt lên đầu từ năm 1958.

    Cách gỡ rối thứ nhất cho rằng công hàm không có giá trị pháp lý vì một quyết định vô cùng quan trọng như thế phải được quốc hội thông qua.
    Cách gỡ rối thứ hai cho rằng Trung Quốc đã xuyên tạc nội dung công hàm vì công hàm của Phạm Văn Đồng không đề cập đến Hoàng Sa và Trường Sa.
    Cách gỡ rối thứ ba cho rằng công hàm Phạm Văn Đồng “chỉ là thiện chí của Việt Nam ủng hộ Trung Quốc trong việc tranh chấp với Mỹ về an ninh ở vùng biển gần Đài Loan”.
    Cách gỡ rối thứ tư cho rằng theo nội dung hội nghị Geneva, Hoàng Sa, Trường Sa đã thuộc về phía Việt Nam Cộng Hòa, một quốc gia có chủ quyền, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ trong khuôn khổ của hiệp định Geneva.
    Cả bốn cách gỡ rối đều không vững.
    Vấn đề có thông qua hay không thông qua, vi phạm hay không vi phạm hiến pháp Việt Nam là vấn đề riêng của Việt Nam. Thực tế quốc hội chỉ là cơ quan đóng dấu tại các quốc gia Cộng Sản đã được quốc tế thừa nhận. Tổng thống Gerald Ford ký thông cáo chung về thỏa hiệp SALT với Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev tại Vladivostok năm 1974 mặc dù thời điểm đó Chủ tịch Sô Viết Tối Cao là Nikolai Podgorny. Ngày 29 tháng Giêng năm 1979 Tổng thống Jimmy Carter ky thỏa hiệp bình thường hóa các quan hệ kỹ thuật, kinh tế, thương mại với Đặng Tiểu Bình mặc dù chức vụ của họ Đặng chỉ là một phó thủ tướng. Dưới chế độ Cộng Sản, mọi văn bản quan trọng đều phải thông qua bộ chính trị, cơ quan quyền lực tối cao. Phạm Văn Đồng, ủy viên Bộ chính tri, đóng vai thủ tướng chính phủ nên phải ký công hàm. Thời điểm tháng 9 năm 1958, danh sách bộ chính trị được bầu ra trong Đại hội lần II năm 1951 cũng như được bổ túc trong những năm sau đó gồm Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Hoàng Văn Hoan.
    Lý luận cho rằng Trung Quốc đã xuyên tạc nội dung công hàm Phạm Văn Đồng vì công hàm không đề cập đến Hoàng Sa và Trường Sa lại càng yếu hơn. Báo Đại Đoàn Kết phát hành 20/07/2011 viết: “Trong Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu”. Cãi như báo Đại Đoàn Kết là một cách tự kết án mình vì lời tuyên bố của phía Trung Quốc ghi rõ: “Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ (Penghu), quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc” và Việt Nam phấn khởi đáp ứng bằng cách “ghi nhận và tán thành” toàn văn bản.

    Lý luận cho rằng Việt Nam chỉ bày tỏ “thiện chí của Việt Nam ủng hộ Trung Quốc trong việc tranh chấp với Mỹ về an ninh ở vùng biển gần Đài Loan. Trung Quốc đã phản bội Việt Nam khi dùng công hàm đó để chủ trương chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa” do một nhóm 14 tác giả ký trong kiến nghị gởi đảng Cộng Sản Việt Nam cũng không thuyết phục. Việt Nam tự đưa cổ vào tròng chứ không phải Trung Quốc đặt tròng vào cổ Việt Nam. Bản tuyên bố của phía Trung Quốc không chỉ nhằm xác định chủ quyền trên các đảo Đài Loan mà cả các nhóm đảo khác trong đó có Hoàng Sa (tên tiếng Tàu là Tây Sa) và Trường Sa (tên tiếng Tàu là Nam Sa), và công hàm của Phạm Văn Đồng cũng không chỉ nhắm vào Đài Loan mà ủng hộ toàn bộ lời quyết định về hải phận của Trung Quốc. Không một quan tòa quốc tế nào trình độ sơ đẳng đến mức đánh giá hai văn bản một cách độc lập với nhau.

    Lý luận khác nữa dựa vào hiệp định Geneva, tuyên cáo của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa công bố ngày 14 tháng Hai năm 1974 xác định chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như Bạch thư của Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa đầu năm 1975 để bác bỏ giá trị pháp lý của công hàm Phạm Văn Đồng. Phạm Văn Đồng không thể công nhận những gì không thuộc lãnh thổ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Đây là lý luận có cở sở pháp lý nhất và có thể dùng để biện luận trong các hội nghị quốc tế, rất tiếc Việt Nam Cộng Hòa không còn hiện diện, về mặt công pháp quốc tế Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam được xem như giữ quyền tài phán.

    Một người Việt Nam nào có chút quan tâm về đất nước cũng có lần tự hỏi tại sao lãnh đạo đảng ngày đó sơ sót đến mức như vậy?

    Phải chăng vì thời điểm đó “tình hữu nghị Việt – Trung đang thắm thiết và hai nước hoàn toàn tin cậy lẫn nhau” như ông Nguyễn Mạnh Cầm phát biểu?
    Phải chăng vì thời điểm đó, đảng phải tập trung vào chiến tranh “chống Mỹ cứu nước” như chính tác giả Phạm Văn Đồng phân trần?
    Không, họ chẳng những không sơ sót, không chọn lựa khó khăn nhưng hành động bằng cả nhiệt tình. Trong quan điểm của đảng, công hàm Phạm Văn Đồng phản ảnh mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài của đảng CSVN. Việc chọn lựa đảng trên đảo, đặt lý tưởng Cộng Sản trên quyền lợi dân tộc là một chọn lựa tự nhiên, khách quan, hoàn toàn phù hợp với hướng phát triển cách mạng xã hội chủ nghĩa. Sự nô lệ vào tư tưởng Cộng Sản bao trùm lên mọi lãnh vực đời sống của xã hội miền bắc.
    Tưởng cũng cần nhắc lại, thời điểm năm 1958 còn là thời điểm nóng bỏng giữa Trung Quốc và Mỹ về vấn đề Đài Loan. Mỗi ngày, pháo binh Trung Quốc bắn hàng trăm viên đại bác vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ. Như Mao tiết lộ với Khrushchev sau này, y không có ý định “giải phóng” Đài Loan. Việc bắn phá Đài Loan chỉ là thái độ của kẻ “ăn không được phá cho hôi” để thỏa lòng căm hận. Thời điểm năm 1958 vấn đề chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa chưa phải là mối bận tâm hàng đầu của Trung Quốc, tuy nhiên những người soạn thảo bản công bố chủ quyền biển của Trung Quốc đã biết phòng xa. Việt Nam thì không. Việt Nam cũng có nhiều cách để làm hả dạ đàn anh Trung Quốc mà vẫn giữ được chủ quyền đất nước và cách dễ nhất là viết, gạch đít, đóng khung, tô màu hai chữ Đài Loan trong văn bản. Giới lãnh đạo đảng đã không làm điều đó.
    Nửa thế kỷ trước, cả bộ chính trị lẫn trung ương đảng CSVN viễn du trong giấc mộng về một thiên đường quốc tế vô sản, trong đó con người mang quốc tịch Trung Hoa hay Việt Nam cũng không mấy khác nhau. Trung Quốc có chiếm Hoàng Sa cũng chẳng qua là giữ giùm cho Việt Nam, tốt hơn là để cho Mỹ chiếm. Nói ra như một chuyện cười nhưng đó là sự thật. Đảng Cộng Sản Việt Nam mang ơn đảng Cộng Sản Trung Quốc sâu đậm. Như hầu hết tài liệu quốc tế và cả tài liệu chinh thức của đảng, trong thập niên năm 1950, Việt Nam phụ thuộc vào Trung Quốc không những súng đạn, lương thực, chỉ huy, hậu cần, lãnh đạo mà cả tư tưởng và tinh thần. Điện văn của đảng Lao động Việt Nam gởi đảng Cộng Sản Trung Quốc sau hội nghị đảng lần thứ hai tháng 3 năm 1951 như Hoàng Văn Hoan nhắc lại trong hồi ký Giọt nước và biển cả: “Đảng Lao động Việt Nam nguyện noi gương anh dũng Đảng Cộng sản Trung Quốc, học tập tư tưởng Mao Trạch Đông, tư tưởng lãnh đạo nhân dân Trung Quốc và các dân tộc Á Đông trên con đường độc lập và tự chủ”.

    Lịch sử chống ngoại xâm đầy hy sinh xương máu của tổ tiên ta để có một nắm đất xây lên đó một mái nhà tranh che nắng che mưa gọi là Việt Nam đối với lãnh đạo đảng là sản phẩm của tư duy phong kiến. Theo lý luận duy vật lịch sử, mỗi hình thái sản xuất có một thượng tầng kiến trúc chính trị, văn hóa, xã hội, nhân văn thích hợp, những gì của quá khứ đã thuộc về quá khứ. Trong quan điểm của đảng, các nỗ lực của tổ tiên ta nhằm ngăn chặn âm mưu đồng hóa của các triều đại Hán, Tấn, Tề, Lương, Tùy, Đường, Tống, Minh v.v. đều mang tính lịch sử, tính giai cấp chứ không phải tính văn hóa, tính truyền thống, xã hội xã hội chủ nghĩa sẽ tươi đẹp hơn, con người xã hội chủ nghĩa văn minh hơn và Trung Quốc sẽ đối xử với các nước nhỏ láng giềng bình đẳng trong tinh thần quốc tế vô sản chứ không phải bằng tinh thần đại Hán.


    Mục đích căn bản của Ban nghiên cứu Lịch sử và địa lý Việt Nam được thành lập ngày 2 tháng 12 năm 1953 không phải nhằm tổng hợp các tài liệu lịch sử, địa lý Việt Nam mà để “Góp phần vào việc bồi dưỡng lý luận về chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối cách mạng của Đảng. Góp phần nâng cao tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế vô sản của nhân dân ta. Phê phán những quan điểm, tư tưởng phản động sai lầm. Phát triển giao lưu văn hóa, khoa học với các nước.” Với các mục đích phản ảnh tinh thần vong thân nô lệ như thế, không lạ gì từ trung ương đảng cho đến các chi bộ hạ tầng, từ các đại học cho đến các trường trung học phổ thông, từ các nhà văn cho đến nhà thơ, không một tài liệu nào cho thấy có một tiếng nói khác gióng lên hay một nhà nghiên cứu nào nêu lên thắc mắc. Việc Trung Quốc quả quyết sách giáo khoa địa lý tại miền bắc cũng đã xác định Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Quốc không phải là không có căn cứ.


    Trong Tuyển tập Mao Trạch Đông, họ Mao từng nhấn mạnh một cách hãnh diện chín chục phần trăm người Trung Hoa là gốc Hán, tuy nhiên, trong mắt lãnh đạo đảng CSVN, đám Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai không liên hệ huyết thống gì với đám Tô Định, Mã Viện, Lưu Long thời Tây Hán, một triều đại đã thực hiện các chính sách đồng hóa tổ tiên Việt Nam một cách tàn bạo đến nỗi sử gia Lê Văn Hưu phải thốt lên trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, bản gỗ khắc năm Chính Hòa 1697: “Xin trời vì nước Việt ta sớm sinh thánh nhân, tự làm đế nước nhà.”

    Khai quật “công hàm Phạm Văn Đồng” không phải là đề xác nhận giá trị pháp lý của mảnh giấy lộn đó. Không một người, tổ chức, đảng phái nào có quyền sang nhượng lãnh thổ Việt Nam, nơi máu xương của bao nhiêu thế hệ đã thắm lên từng nắm đất. Quyết tâm bảo vệ đất nước qua lời thề Lũng Nhai, lời nguyền sông Hóa vẫn còn vang vọng. Thậm chí cho dù cái gọi là quốc hội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày đó có thừa nhận Hoàng Sa Trường Sa là của Trung Quốc đi nữa cũng chỉ là sự thừa nhận của một nhóm người, của một đảng độc tài cai trị dân tộc bằng nhà tù sân bắn chứ không phải đại diện cho tiếng nói của nhân dân Việt Nam.
    Khai quật “công hàm Phạm Văn Đồng” để thế hệ trẻ Việt Nam thấy bộ mặt thật phía sau chiêu bài “giải phóng dân tộc” của các tầng lớp lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam. Đảng im lặng không phải vì đảng chưa nghĩ đến bốn cách gỡ rối nêu trên mà chỉ vì công hàm Phạm Văn Đồng là biểu tượng cho ý thức vong bản của một thế hệ lãnh đạo Cộng Sản đang được thần tượng hóa tại Việt Nam. Đám mây đen Cộng Sản đã che khuất lương tri và nhân tính Việt Nam trong con người họ. Giới lãnh đạo đảng không dám công khai tuyên bố hủy bỏ công hàm bởi vì làm như thế là thừa nhận sự u mê, bản chất phản quốc, phản dân tộc của đảng. Họ không đủ can đảm để nguyền rùa chính mình và ly khai với quá khứ của mình.
    Khai quật “công hàm Phạm Văn Đồng” để những ai nghĩ rằng giới lãnh đạo CSVN đã nhận thấy hiểm họa Trung Quốc và chọn lựa đứng về phía Liên Xô để đưa đất nước tiến nhanh hơn trên đường công nghiệp hóa chưa hẳn là đúng. Theo Giáo Sư đại học Harvard Ezra F. Vogel trong tác phẩm Đặng Tiểu Bình và sự biến đổi Trung Hoa (Deng Xiaoping and the Transformation of China), việc Đặng Tiểu Bình đánh Việt Nam chỉ là chuyện bất đắc dĩ. Sự xáo trộn chính trị nội bộ của Trung Quốc trong thời gian ngắn trước và sau khi Mao chết với các thành phần cực tả khuynh loát quyền hành và bản thân y bị thanh trừng, đã đẩy Việt Nam về phía Liên Xô. Họ Đặng tin rằng nếu y lãnh đạo, với việc nắm vững chính trị Việt Nam và là người đã làm việc với hầu hết cấp lãnh đạo đảng CSVN từ Hồ Chí Minh đến Lê Duẩn, Việt Nam có thể vẫn còn trong vòng kiểm soát của Trung Quốc mà không cần súng đạn. Nếu quả đúng và đã diễn ra như Đặng Tiểu Bình phát biểu, Việt Nam hôm nay dù chưa thành một khu tự trị, cũng có thể đã là một nước nhỏ trong vòng một nước lớn Trung Hoa.

    Khai quật “công hàm Phạm Văn Đồng” để thấy cuộc chiến Việt Nam đã chấm dứt, đế quốc Mỹ ra đi, đế quốc Liên Xô sụp đổ nhưng nợ máu xương giữa hai đảng Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam phải trả bằng thân xác của những người dân vô tội vẫn còn kéo dài cho đến ngày nay. Cuộc chiến biên giới năm 1979 là một thất bại quân sự nhục nhã cho Đặng Tiểu Bình. Trung Quốc che giấu thất bại quân sự chua cay này bằng cách im lặng và ngăn chặn việc phổ biến dưới mọi hình thức các tài liệu có liên quan đến cuộc chiến. Zhou Xu Ke, một cựu chiến binh biên giới và tác giả của cuốc sách do ông tự in lấy Cuộc chiến cuối cùng trả lời hãng tin AFP: “Tại Trung Quốc, chính phủ tôn trọng lịch sử chẳng khác gì tôn trọng chó.” Về phía Việt Nam cũng chẳng tốt lành hơn. Máu của thanh niên Việt Nam đổ xuống để bảo vệ Lạng Sơn, Cao Bằng v.v… phát xuất từ lòng yêu nước trong sáng và xứng đáng được kính trọng nhưng khi cuộc cờ tàn, chẳng còn ai nhắc nhở đến máu xương đó nữa. Sau cuộc chiến tranh biên giới, Đặng Tiểu Bình đã thay đổi cấp lãnh đạo, phương hướng phát triển kinh tế và mở rộng ảnh hưởng đến các nước tư bản tự do; trong lúc đó giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam tự cô lập trong chuyên chính vô sản, lạc hậu trong thời bao cấp, tem phiếu, thu mua để rồi đưa đất nước đến thảm trạng nghèo đói tận cùng suốt thập niên năm 1980.


    Sau khi Liên Xô sụp đổ, không còn ai che chỡ, giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam lại lần nữa tìm về nương náu dưới chiếc bóng của đàn anh Trung Quốc. Hội nghị bí mật tại khách sạn Kim Ngưu, Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên trong hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 giữa phía Việt Nam gồm Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh và phía Trung Quốc gồm Giang Trạch Dân và Lý Bằng thực chất là lễ cam kết một loại “công hàm Phạm Văn Đồng” khác. Cựu thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ phân tích một cách chi tiết các diễn tiến dẫn tới sự kiện Thành Đô trong hồi ký của ông ta. Không ai, ngoài Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười và Nguyễn Văn Linh, biết chính xác nội dung hội nghị bí mật Thành Đô nhưng qua thái độ nhu nhược và phản ứng yếu hèn của giới lãnh đạo CSVN trước các hành động chiếm đảo, bắn tàu, cắt dây cáp, giết người tàn nhẫn của hải quân Trung Quốc và mới đây bắt bớ hàng loạt người Việt gióng lên tiếng nói bất bình, cho thấy nội dung bán nước trong “công hàm Thành Đô” hẳn còn trầm trọng và chi tiết hơn cả “công hàm Phạm Văn Đồng”.


    Trong lễ ký kết thỏa hiệp chiều ngày 7 tháng 11 năm 1991 tại Nhà khách Chính phủ Điếu Ngư Đài Bắc Kinh, Giang Trạch Dân không quên nhắc nhở đến các cam kết cũ và xác định phương pháp mới trong quan hệ Việt Trung như còn ghi lại trong Diễn Đàn Kinh Tế Việt Trung: “Hoan nghênh các đồng chí Việt Nam sang Trung Quốc hội đàm với chúng tôi. Các đồng chí là những người thuộc thế hệ lãnh đạo lão thành của Việt Nam, cũng là những người bạn lão thành quen biết của những người thuộc thế hệ lãnh đạo lão thành của Trung Quốc; điều đáng tiếc là đã mười mấy năm chưa được gặp nhau. Tôi và đồng chí Lý Bằng một hai năm gần đây tiếp nhận công tác của bậc tiền bối lão thành. Thật đúng là ‘trên sông Trường Giang, ngọn sóng sau đẩy ngọn sóng trước, trên đời lớp người mới thay lớp người cũ’. Nhưng chúng tôi hy vọng giữa Trung Quốc và Việt Nam có thể khôi phục mối quan hệ mật thiết giữa hai Đảng và hai nước do những người lãnh đạo thuộc thế hệ lão thành xây dựng nên.”

    Tại sao lãnh đạo Trung Quốc chấp nhận sự quy phục của lãnh đạo CSVN? Bởi vì, (1) là thế hệ chứng kiến sự tranh giành quyền lực giữa các lớp đàn anh, Giang Trạch Dân biết tham vọng quyền lực đã hòa trong mạch sống, hơi thở, máu thịt của Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh và giới lãnh đạo CSVN, (2) không giống như thời Liên Xô chưa sụp đổ, lần này đảng CSVN không còn một con đường thoát nào khác, nhưng ba điểm sau quan trong hơn, (3) Việt Nam là hành lang chiến lược trong vùng Nam Á, (4) vào thời điểm 1990. đối tượng cạnh tranh của Trung Quốc không còn là Việt Nam mà là Mỹ, Đức, Nhật và (5) mục tiêu bành trướng của Trung Quốc cũng không phải chỉ là Hoàng Sa Trường Sa mà là cả vùng Thái Bình Dương.
    Đọc hồi ký của Trần Quang Cơ để thấy mặc dù nhân loại sắp bước vào một thiên niên kỷ mới, nhận thức về chính trị và bang giao quốc tế của các lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam vẫn còn ngây thơ đến tội nghiệp làm sao. Năm 1990, khi Liên Xô và các nước Cộng Sản Đông Âu như những cánh bèo tan tác ngoài cửa biển mà các lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam vẫn còn nghĩ đến việc liên kết với Trung Quốc chống đế quốc Mỹ: “Các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng, Đồng Sĩ Nguyên còn nhấn vào âm mưu của đế quốc Mỹ sau cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Âu” và “Việt Nam và Trung Quốc là hai nước xã hội chủ nghĩa cùng chống âm mưu đế quốc xoá bỏ chủ nghĩa xã hội, phải cùng chống đế quốc.”
    Cũng vào thời điểm này, Đặng Tiểu Bình đã viếng thăm và ký các thỏa hiệp kinh tế chính trị với các quốc gia tư bản như Mỹ (1979), Anh (1984) cũng như mở rộng hợp tác kinh tế với Đức vừa thống nhất và cựu thù Nhật Bản nhưng các lãnh đạo CSVN còn mơ mộng Trung Quốc sẽ thay mặt Liên Xô giương cao ngọn cờ quốc tế vô sản. Đặng Tiểu Bình không có mặt trong hội nghị bí mật Thành Đô dù phía Trung Quốc đã hứa một phần vì y chưa nguôi cơn giận chiến tranh biên giới nhưng phần khác cũng vì Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh không xứng đáng là đối tượng thảo luận trong tầm nhìn của y về tương lai Trung Quốc và thế giới, nói chi là số phận Việt Nam. Sau “công hàm Thành Đô” và tái lập quan hệ giữa hai đảng vào ngày 7 tháng 11 năm 1991, các lãnh đạo CSVN thay phiên nhau triều cống Trung Quốc. Lê Đức Anh sang Trung Quốc 28 tháng Giêng năm 1991, Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt sang Trung Quốc 5 tháng 11 năm 1991 và gần như hàng năm các lãnh đạo CSVN luân phiên nhau sang Trung Quốc để lập lại lời hứa phục tùng.
    Sau khi đặt đảng CSVN trở lại trong vòng kiểm soát, ngày 25 tháng 2 năm 1992, Quốc vụ viện Trung Quốc thông qua “Luật Lãnh hải và vùng tiếp giáp” quy định lãnh hải rộng 12 hải lý, áp dụng cho cả bốn quần đảo ở Biển Đông trong đó có quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa). Ba tháng sau đó, ngày 8 tháng 5 năm 1992 Trung Quốc ký hợp đồng khai thác dầu khí với công ty năng lượng Crestone của Mỹ, cho phép công ty này thăm dò khai thác dầu khí trong thềm lục địa của Việt Nam, nằm ở phía Tây Nam của quần đảo Trường Sa. Trung Quốc cũng hứa với công ty Creston sẽ bảo vệ bằng võ lực nếu Việt Nam can thiệp vào công việc của họ. Ngoài các hoạt động khai thác dầu khí trong thềm lục địa Việt Nam, Trung Quốc còn ngang ngược ra lịnh cấm đánh cá, thành lập các đơn vị hành chánh cấp huyện tại Hoàng Sa và Trường Sa, và cho phép hải quân Trung Quốc bắn giết ngư dân Việt Nam vô tội không phải chỉ một lần mà rất nhiều lần. Các lãnh đạo Việt Nam, lo cho sự sống còn của đảng Cộng Sản, đáp lại bằng những lời than vãn gần như giống nhau sau những lần Trung Quốc xâm phạm chủ quyền.

    Tại sao Trung Quốc không ngang ngược với Nhật Bản, Philippines, Malaysia, Brunei, những quốc gia đang tranh chấp chủ quyền Trường Sa? Bởi vì các quốc gia đó thật sự có chủ quyền chính trị, chính phủ trong sạch được bầu lên một cách hợp pháp, có nhân dân hậu thuẩn, có quốc tế kính trọng, có nhân loại cảm tình. Một chiếc tàu đánh cá treo quốc kỳ Nhật, quốc kỳ Phi làm hải quân Trung Quốc e dè, kiêng nễ trong lúc tàu đánh cá treo cờ đỏ sao vàng lại trở thành mục tiêu tác xạ. Thật vậy, với một bên quyết tâm trả thù cho “một trăm năm sỉ nhục” bằng chủ trương bành trướng khắp thế giới và một bên chỉ mong được tiếp tục đè đầu cởi cỗ chính đồng bào mình, lãnh đạo Trung Quốc rất yên tâm vì họ biết rõ, ngày nào đảng Cộng Sản còn cai trị nhân dân Việt Nam, ngày đó Trung Quốc còn chi phối đượcViệt Nam.

    Nicholas D. Kristof và Sheryl Wudunn, đồng tác giả của Trung Hoa thức dậy (China Wakes: The Struggle for the Soul of a Rising Power) nhận xét rằng xung đột có khả năng cao nhất sẽ dẫn đến chiến tranh tại Á Châu là xung đột về các quần đảo trong biển đông. Vì đặc điểm địa lý chính trị, chiến lược quân sự và là quốc gia duy nhất trong số các quốc gia tranh chấp đã trực tiếp hy sinh xương máu trên hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam được hầu hết các nhà phân tích nhận xét sẽ là điểm xuất phát của một cuộc tàn sát chưa từng thấy ở Á Châu.
    Để đối phó với một Trung Quốc đầy tham vọng, hầu hết các quốc gia có quyền lợi trong vùng như Nam Dương, Mã Lai, Philippines đang làm mọi cách để phát triển kinh tế, tăng cường khả năng quốc phòng hầu ngăn chận bàn chân Trung Quốc. Các chính trị gia bảo thủ Nhật Bản kêu gọi sửa đổi hiến pháp để cho phép nước Nhật tái trang bị. Sự thay đổi chính sách của Miến Điện cụ thể qua việc ngưng công trình đập do Trung Quốc hậu thuẩn hồi tháng Chín năm 2010 và mở rộng hợp tác với Mỹ qua chuyến thăm viếng của Ngoại trưởng Hillary Clinton lần đầu trong nửa thế kỷ cho thấy một tập đoàn quân phiệt bị thế giới lên án cũng đã biết “buông dao đồ tể”. Ngay cả Brunei, một quốc gia có dân số vỏn vẹn 400 ngàn cũng đang hiện đại hóa các phi đoàn trực thăng chiến đấu bằng Blackhawk. Giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ biết nuốt nhục để sống. Ngoài những lời tuyên bố về chủ quyền lấy lệ và những thay đổi quốc phòng giới hạn, họ không làm gì cụ thể hơn để đáp ứng với hiểm hoạ chiến tranh lớn nhất trong lịch sử Á Châu sắp xảy ra ngay trên lãnh thổ Việt Nam.

    Học sinh các lớp sử thường đọc Mạc Đăng Dung đã cắt đất Vĩnh An, An Quảng gồm 6 động dâng cho nhà Minh để thuộc vào Châu Khâm như đã ghi Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Sự kiện đó chưa hẳn đúng vì Việt Sử Thông Giám Cương Mục viết “Nay xét Khâm Châu chí của nhà Thanh, chỉ thấy chép đời Gia Tĩnh (1522 – 1566 ), Đăng Dung nộp trả năm động Ti Phù, La Phù, Cổ Sâm, Liễu Cát và Kim Lặc mà thôi, chứ không thấy nói đến động An Lương. Lại tra cứu đến Quảng Yên sách thì động An Lương hiện nay là phố An Lương thuộc châu Vạn Ninh nước ta.” Mạc Đăng Dung, trong hoàn cảnh hai đầu đều có địch, buộc phải trả lại năm động vốn là đất của Trung Hoa chứ chẳng dâng hiến phần đất nào thuộc lãnh thổ Việt Nam mà còn cứu được đất nước khỏi lâm vào vòng lệ thuộc ngoại bang. Dù sao, trong lúc “công hàm Mạc Đăng Dung” có thể có lý do tranh luận, tội bán nước trong “công hàm Phạm Văn Đồng” quá hiển nhiên, rõ ràng và chính tác giả khi còn sống cũng đã thừa nhận mình đã ký.

    Trước đây sử gia Lê Văn Hưu đã thốt lên câu đứt ruột trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư: “Xin trời vì nước Việt ta sớm sinh thánh nhân, tự làm đế nước nhà”. Nếu sử gia sống trong thời đại này, hẳn ngài sẽ đổi thành “Xin trời vì nước Việt ta sớm đánh thức nhân dân để họ biết đứng lên, tự làm chủ nước nhà.” Bởi vì lịch sử đã chứng minh, không ai có thể cứu được dân tộc Việt Nam ngoài chính dân tộc Việt Nam. Vó ngựa quân Mông Cổ sải từ Á sang Âu, chiếm gần 20 phần trăm trái đất, đốt cháy thành than các thủ đô Kiev, Budapest, Baghdad, Bắc Kinh, vượt qua các sông Hoàng Hà, Volga, Danube nhưng đã phải dừng lại bên sông Bạch Đằng, Việt Nam. Kẻ thù thắng nhiều trận nhưng dân tộc Việt Nam luôn thắng trận cuối cùng và quyết định. Hơn ai hết, giới lãnh đạo Trung Quốc phải thuộc bài học đó.

    Như kẻ viết bài này đã viết trước đây trong tiểu luận “Ai giết 9 ngư dân Thanh Hóa?” một Việt Nam văn minh dân chủ với một nền kinh tế cường thịnh, một hệ thống khoa học kỹ thuật hiện đại là phương tiện hữu hiệu nhất để ngăn chận không những Trung Quốc mà bất cứ một thế lực xâm lăng nào muốn thách thức đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Nếu không làm được thế, không chỉ Hoàng Sa, Trường Sa, mà cả dân tộc lại sẽ chìm đắm trong họa đồng hóa của thời đại mới. Và khi đó, đừng đổ thừa cho Trung Quốc mà chính sự khiếp nhược, ươn hèn, mê muội trong mỗi chúng ta đã giết chết chính mình và dân tộc mình ●


    © Trần Trung Đạo

    Lannguyen xin chân thành cảm ơn Trần Trung Đạo và http://vantuyen.net/2014/06/06/tu-ph...ran-trung-dao/
    Lannguyen

  12. #72
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Lời thú tộii kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam

    Độc Tài Là Mầm Móng Đưa Dân Tộc Đến Chỗ Hủy Diệt – Đỗ Thành Công

    Nguyễn Tuấn / BTQ



    Chế độ, đảng phái chỉ là giai đoạn. Dân tộc và đất nước mới lâu dài. Nhưng chế độ bạo ngược, lãnh đạo tham lam, ích kỷ và ngu muội, có thể đưa dân tộc và đất nước đến chổ hủy diệt. Trước bối cảnh bị Hán Hóa, câu hỏi đặt ra đối với Cộng Đồng Người Việt ở Mỹ, chúng ta có nên ủng hộ chính phủ Mỹ, bán vũ khí sát thương tối tân cho chế độ độc tài Hà nội?

    Đây là câu hỏi mà chúng ta cần thận trọng suy nghĩ, phân tích và trả lời. Mặc dù, thực tế chính trị cho thấy là vì quyền lợi của Hoa Kỳ trong chiến lược ngăn chận Trung Cộng và tạo ảnh hưởng lên vùng Đông Nam Á, Hoa Kỳ bán một số vũ khí sát thương cho CSVN là điều sẽ xảy ra. Dĩ nhiên, khi VN vẫn còn là một quốc gia Cộng sản độc tài, thì cho dù có vũ khí tối tân, chế độ toàn trị cũng không đủ khả năng giữ nước. Bên cạnh đó, thực tế là Hoa Kỳ cũng không thể giao công nghệ quân sự tối tân cho một nước Cộng sản không đáng tin cậy, vì kỷ nghệ bí mật đó, có thể lọt vào tay một nước thứ ba như Trung Cộng hay Liên Sô.
    Dù vậy, ở bất cứ góc độ nào, chọn cho mình một thái độ vẫn là điều cần thiết, vì chúng ta cần cho Hoa Kỳ biết quan điểm của mình, dù quan điểm đó có tính khả thi hay không? Với sức mạnh của tài chánh và lá phiếu, người Việt gốc Mỹ có thể tạo ảnh hưởng trực tiếp lên Lập Pháp. Qua đó, nguyện vọng của chúng ta được lắng nghe và những áp lực này, sẽ chuyển lên Hành Pháp, tức là chính quyền, bất kể chính quyền đó do đảng nào lãnh đạo. Về thực tế chính trị, Hành Pháp Mỹ quyết định theo quyền lợi của Mỹ và chính sách của chính quyền đuơng thời. Thí dụ, trước đây, việc vận động đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia đàn áp Tôn giáo có rất nhiều Dân cử Hoa Kỳ ủng hộ. Ngay cả Uỷ ban về Tôn giáo, một Uỷ ban Quốc tế độc lập do Chính phủ Hoa Kỳ lập ra để cố vấn về chính sách tôn giáo, cũng đã đề nghị đưa Việt Nam vào danh sách này, nhưng chính quyền Hoa Kỳ vẫn không lắng nghe.
    Việc bán hay yễm trợ một số vũ khí sát thương cho Việt Nam cũng có thể sẽ diển ra theo qui trình này, cho dù chúng ta không đồng ý, và vận động giới Lập Pháp ủng hộ quan điểm của chúng ta. Trước khi có xung đột biển Đông, Hà nội đã vội vả thả vài tù nhân bất đồng chính kiến trong danh sách Hoa Kỳ quan tâm để lấy điểm nhân quyền. Tuy nhiên, danh sách mua vũ khí sát thương vẫn chưa thể thông qua. Có thể không vì thành tích nhân quyền tồi, mà vì Hà nội đang bị kẹt giữa gọng kềm của Trung Cộng, nên Hoa Kỳ đã đắn đo.
    Biến động ở biển Đông đã dẫn đến các vận động tích cực của Nhật trong nổ lực thành lập khối Á Châu “NATO”. Khối này, sẽ là những hàng rảo cản hiệu quả nhất trước nanh vuốt và tham vọng của Trung Cộng. Dù vậy, Việt Nam cũng không thể nằm trong Liên minh Quân sự này, vì Hà Nội đã trở thành con cờ chư hầu của Trung Cộng. Gần đây, Hoa Kỳ đã cảnh báo trước dư luận quốc tế về chi tiêu quốc phòng cũa lãnh đạo Bắc Kinh. Theo Hoa Kỳ, chi tiêu đã lên đến gần $145 tỷ đollars cho tham vọng hiện đại hoá quân sự và Hán hoá của Trung Cộng. Do đó, ngay cả Việt Nam có tốn tiền của, mua được vũ khí sát thương tối tân từ Hoa Kỳ, nhưng Việt Nam không nằm trong khối Liên minh Quân sự, thì Việt Nam cũng sẽ bị Trung Cộng uy hiếp. Chi tiêu quốc phòng Việt Nam báo cáo 2 tỷ đollars hàng năm, nhưng có thể trên dưới 10 tỷ theo nhận định của các chuyên gia quốc tế. Con số này, so với $145 tỷ đolarrs của Trung Cộng, cũng chỉ là muối bỏ biển.
    Khi vai trò Liên minh Quân sự Á Châu hình thành và nhóm lợi ích kinh tế đa quốc gia nằm trong khu vực Thái Bình Dương (TPP) là một thực thể, con cọp Trung Cộng sẽ bị bao vây trong gọng kềm của Liên Minh, do Mỹ Nhật và Úc là những đồng minh trụ cột dàn dựng. Hà Nội hiện đang bị áp lực từ Trung Cộng nặng nề, có thể Trung Cộng đang ép Việt Nam không nên tham gia khối thị trường Thái Bình Dương (TPP) như đã từng ép Việt Nam khoan vào WTO. Vì theo Trung Cộng, đây là khối nằm trong chính sách “quyền lực mềm”, bên cạnh Liên Minh Á Châu, một thứ “quyền lực cứng”, mục tiêu chỉ để bao vây và tiêu diệt Trung Cộng. Vì vậy, một Hà Nội, đàn em bù nhìn nằm trong khối đó, cũng sẽ làm cho Bắc Kinh giận dữ.
    Trong năm lý do nhận định trên tờ Forbers, Loren Thompson cho rằng Trung Cộng không phải là đối thủ của Mỹ, vì nạn lão hóa dân số, độc quyền chính trị, bị khó khăn và áp lực của Tây Tạng, Liên Sô, Ấn v.v.., kinh tế lệ thuộc vào toàn cầu vì trong cậy vào xuất khẩu với bình quân $10,000 đollars cho hơn 1.3 tỷ dân số, và sau cùng là quốc phòng chỉ để “diệu võ giương oai” đối với Mỹ, vì khả năng Trung Cộng còn yếu, và tệ trạng tham nhũng trầm trọng nằm trong Bộ Quốc Phòng. Chỉ so sánh sơ về đầu đạn nguyên tử của hai nước, trong khi hơn 250 đầu đạn nguyên tử của Trung Cộng chưa thể bẳn thẳng tới Mỹ thì 4,600 quả hoả tiển nguyên tử Mỹ, bắn thằng từ máy bay hay hoả tiển liên lục điạ đã có thể tàn phá Bắc Kinh, sau khi bắn hết, Mỹ vẫn còn có hơn 2,700 quả hoả tiển nguyên tử dự phòng. Cuộc chạy đua vũ trang của Trung Cộng, trong tham vọng bá chủ biển đông và Hán hoá các nước vùng Thái Bình Dương cho thấy Trung Cộng công khai đối đầu với thế giới. Trong bối cảnh đó, con cháu nhà Hán phải lạnh gáy, nếu không muốn bị tiêu diệt như chế độ Phát xít của Hitler.
    Nếu còn mơ hồ về tham vọng của Bắc Kinh và chưa thấy sự hoang tưởng của cánh diều hâu Trung Cộng, thì chúng ta cần nghe ông Cựu Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Trung Cộng, Trì Hạo Điền phát biểu.”Cả Trung Quốc và Đức thời Hitler có những điểm tương đồng. Cả hai đều tự thấy là dân tộc mình hơn tất cả các sắc dân khác trên thế giới. Cả hai quốc gia đều đã từng bị ngoại bang xâu xé, lợi dụng. Đều có khuynh hướng thuần phục quyền lực một cách tuyệt đối, có tinh thần chủ nghĩa xã hội-quốc xã, bị đặt trong hoàn cảnh thiếu thốn, chật chội vì mức độ dân số tăng trưởng, và đều trong tình huống thuần một quốc gia, một đảng phái, một lãnh đạo và một chủ thuyết.”
    Trì Hao Điền cũng nhận định “Chế độ Hitler có lẽ chỉ tồn tại trong một khoảng khắc vì sự nhầm lẫn của lịch sử. Không phải Đức Quốc Xã mà Trung Quốc chính là lực lượng đáng tin cậy, để có thể chống lại hệ thống chính trị dân chủ nghị viện của các nước phương Tây”.
    Tình hình Châu Á đang nóng lên như một lò thuốc súng trước tham vọng của Trung Cộng. Điều này, giống như thời thế chiến thứ hai khi Đức Quốc Xã xâm chiếm Châu Âu và Liên Bang Sô Viết. Đây là những chuyển dịch lập lại của lịch sử mà hồi thế chiến thứ hai, Hitler và Mussolini, hăm he muốn làm bá chủ đồ vương. Hiện nay, từ Âu Châu đã chuyển qua Á Châu, con cọp Trung Cộng đang muốn đóng vai Đức Quốc Xã, Hitler và lôi kéo đàn em Việt Nam, làm đồng minh tay sai, đóng vai Phát Xít Ý, Benito Mussolini. Vừa cho thêm vây, thêm cánh, vừa chết chung cho vui.
    Chế độ, đảng phái chỉ là phương tiện và tạm thời. Dân tộc, đất nước mới là cứu cánh và trường cữu. Nhưng chế độ bị cai trị bởi những lãnh đạo tham lam, ích kỷ và ngu muội. Chế độ đó sẽ kéo cả dân tộc và đất nước đến chổ bị hủy diệt.

    Lannguyen xin chân thành cảm ơn
    Nguyễn Tuấn / BTQ http://vietduongnhan.blogspot.com/20...oc-en-cho.html
    Lannguyen

  13. #73
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Lời thú tộii kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam

    SỰ THẬT VỀ KẾ HOẠCH TỔNG CÔNG KÍCH MẬU THÂN – Bùi Anh Trinh

    Posted by Nguyễn Tuấn on Tháng Năm 19, 2014 in Bùi Anh Trinh, Tài liệu



    Trích sách “Giải Mã Những Bí Ẩn Của Chiến Tranh Việt Nam” của Bùi Anh Trinh

    Tổng bí thư Lê Duẩn quyết định tổng tấn công đánh chiếm Miền Nam sau khi ông nhận được bức thư cầu hòa của Tổng thống Johnson vào tháng Hai năm 1967. Lúc đó Hà Nội chưa nhận được vũ khí và tiền bạc của ông Mao Trạch Đông nhưng theo như tinh thần bức thư thì hình như Mỹ đã thua xiểng niểng.
    Quyết tâm của Lê Duẩn càng trở nên mạnh mẻ sau khi Nguyễn Chí Thanh ra Hà Nội để chữa thương vào đầu năm 1967. Từ đầu năm cho tới tháng 7 Nguyễn Chí Thanh và Lê Duẩn, Phạm Hùng cùng bàn bạc để lập kế hoạch tổng tấn công, tổng nổi dậy trên khắp Miền Nam Việt Nam.

    Cuộc chuẩn bị không hề có sự tham gia của Võ Nguyên Giáp, vì vậy Võ Nguyên Giáp đã vô tình viết một bài báo đả kích chủ trương đánh lớn của Nguyễn Chí Thanh khiến cho Lê Duẩn nổi giận bắt Võ Nguyên Giáp phải im tiếng. Hồi ký của Phó thủ tướng CSVN Trần Quỳnh :

    Xem bài báo đó Lê Duẩn gọi Giáp đến hỏi: “Anh viết bài báo nhắm mục đích gì vì nội dung của nó tôi thấy sai hết. Viết để đánh lừa quân địch chăng? Nếu thế thì quân đội ta khi đọc bài của anh cũng sẽ bị lừa nốt. Viết cho quân đội ta chăng, thế thì anh tiết lộ bí mật về ý đồ của mình cho địch biết”. Giáp cứng họng thanh minh ấp úng, xin lỗi rồi về.
    Không ngờ vừa xong vụ đó, Nguyễn Chí Thanh lăn đùng ra chết ngay trong ngày sửa soạn lên đường trở vào Nam. Mãi cho tới năm 1982 thì Hoàng Văn Hoan viết hồi ký tố cáo Lê Duẩn giết Nguyễn Chí Thanh bằng thuốc độc. Để phản bác lại, Lê Duẩn cho báo chí tung ra những bằng chứng chứng minh rằng Nguyễn Chí Thanh bị nhồi máu cơ tim vào chiều ngày 5-7-1967 và qua đời tại bệnh viện vào 9 giờ sáng ngày hôm sau. Nếu không thì ông Thanh sẽ lên đường vào Nam vào ngày đó (6-7-1965). Sau này tài liệu được in thành sách với tựa đề “Đại Tướng Nguyễn Chí Thanh, Nhà Chính Trị Quân Sự Lỗi Lạc” (Nguyễn Thị Bảo, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 1998 ).

    Sau khi Nguyễn Chí Thanh chết, Lê Duẩn cử Phạm Hùng vào Nam thay thế Nguyễn Chí Thanh làm Bí thư Trung ương cục Miền Nam. Tại Hà Nội Lê Duẩn tiếp tục bàn bạc với Trung tướng Hoàng Văn Thái, Thượng tướng Song Hào và Đại tướng Văn Tiến Dũng để tiến hành kế hoạch.

    Hai tháng sau ông cho đọc trên đài phát thanh một bài viết của Tướng Võ Nguyên Giáp và cho đăng trên tờ Quân đội Nhân Dân với tựa đề “Chiến thắng vĩ đại, trách vụ to lớn” nhằm đánh lừa tình báo của Hoa Kỳ. Trong bài báo đó ông Giáp cho rằng: (1) Phải chiến đấu lâu dài, cho dù 10 năm hay 20 năm. (2) Ưu tiên tấn công các đơn vị quân đội Hoa Kỳ và các nước đồng minh. (3) Tập trung đánh lớn tại vùng giới tuyến. (4) Nhân dân Miền Bắc chuẩn bị đối phó với việc Mỹ có thể đổ bộ tấn công tại Quảng Bình hay Hà Tĩnh.
    Đọc được bài báo của Võ Nguyên Giáp, Tư lệnh quân đội Hoa kỳ tại Việt Nam là Westmoreland bèn: (1) Tính tới chuyện rút quân và giao nhiệm vụ chiến đấu 10 năm, 20 năm cho VNCH. (2) Tăng cường hệ thống phòng thủ tại các căn cứ đóng quân của Hoa Kỳ. (3) Tăng cường phòng thủ khu vực phía Nam sông Bến Hải bằng cách chuyển Sư đoàn 101 Không vận từ An Khê, Bình Định ra Quảng Trị ( Hồi ký của Westmoreland ).

    Trong khi đó sự thực kế hoạch tấn công của Lê Duẩn là nhắm vào các mục tiêu ngược lại; nghĩa là: (1) Chiếm ngay Miền Nam Việt Nam trong năm 1968. (2) Chỉ tấn công các cơ sở hành chánh và các đơn vị không tác chiến của quân VNCH. (3) Đánh khắp Miền Nam. (4) Còn chuyện chuẩn bị chống quân Hoa Kỳ đổ bộ ra Bắc chỉ là động tác giả.

    Tháng 10 năm 1967 Hà Nội cử Tướng Hoàng Văn Thái vào Mặt trận B.2 (Miền Đông Nam Kỳ) làm Tư lệnh quân Giải phóng Miền Nam để lên kế hoạch cho trận tổng công kích Mậu Thân.
    Ngày 19-10-1967, Hà Nội tuyên bố hưu chiến trong 7 ngày để nhân dân ăn tết, bắt đầu từ ngày 30-1-1968. Để đáp lại thiện chí của CSVN, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng tuyên bố hưu chiến trong 3 ngày tết.

    Ngày 31-12-1967 Bộ trưởng Ngoại giao CSVN Nguyễn Duy Trinh tuyên bố nếu Hoa Kỳ chịu tuyên bố ngưng ném bom một cách vô điều kiện thì Hà Nội sẵn sàng bước vào bàn đàm phán. Đây cũng chỉ là hỏa mù của Lê Duẩn nhằm đánh lừa Washington.

    Năm 1967, ngày 28-12, Bộ chính trị CSVN ra nghị quyết: “Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng Miền Nam của ta sang một thời kỳ mới – Thời kỳ giành thắng lợi quyết định”. Lúc này Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa từ Bắc Kinh trở về nước vào ngày 23-12, sau hội nghị thì ông lên đường trở lại Bắc Kinh tiếp tục chữa bệnh. Còn Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn còn đang cùng với vợ “chữa bệnh” tại Hung Ga Ri.

    * Chú giải :
    Sáng kiến kết hợp quân sự và chính trị của trận Mậu Thân:


    Theo tinh thần nghị quyết thì Hà Nội tin chắc rằng một khi quân đội CSVN tràn vào các thành phố thì nhân dân sẽ hùa theo “đứng lên giành lấy chính quyền”. Cho tới nay các nhà nghiên cứu vẫn thắc mắc tại sao Lê Duẩn lại có một quyết định hoang tưởng như vậy. Thực tế xảy ra cho thấy ở đâu có quân Cọng sản xuất hiện thì nhân dân bồng bế nhau chạy trốn về phía VNCH. Vậy thì dựa vào đâu mà Hà Nội dám ra nghị quyết “Tổng công kích, tổng khởi nghĩa”?
    Sẽ không có gì khó hiểu nếu người ta biết đựơc rằng từ đầu năm 1967 Nguyễn Chí Thanh ra Hà Nội chữa bệnh và ông ta đã tỉ tê với Lê Duẩn, Phạm Hùng suốt nửa năm trời. Trong những lần bàn chuyện “Cách mạng” ở Miền Nam Nguyễn Chí Thanh đã lái cho Lê Duẩn tin rằng hễ thấy mặt quân CSVN là nhân dân hùa nhau đứng dậy.
    Sở dĩ Nguyễn Chí Thanh tin như vậy bởi vì kể từ khi vào Miền Nam năm 1965 ông chỉ nằm ở Trung ương cục tại Mặt trận B.1, tức là bên Cam Bốt. Tại đây ông gặp các đại biểu hăng tiết như Nguyễn Thị Định, Lê Đức Anh, Mai Chí Thọ, Trần Bạch Đằng, Võ Văn Kiệt… Những người này luôn luôn kích ông xin Hà Nội cung cấp vũ khí để tổ chức lực lượng đánh Mỹ.
    Quyết tâm của những người này ảnh hưởng mạnh tới ông tướng văn nghệ Nguyễn Chí Thanh. Thực vậy, những bài viết về Nguyễn Chí Thanh sau này cho thấy mặc dầu là một quân nhân nhưng ông rất phóng khoáng, lãng mạn.
    Máu văn nghệ của Nguyễn Chí Thanh đã vẽ cho Lê Duẩn một bức tranh hoàn toàn không có thật. Chẳng những cho Lê Duẩn uống nước đường, Nguyễn Chí Thanh còn vạch ra kế hoạch tỉ mỉ đến nỗi không chê vào đâu được. Đơn vị nào tấn công khu vực nào, nhân vật nào phụ trách địa bàn nào đều được đưa vào kế hoạch. Thậm chí cũng đã in sẵn tiền giấy với niên biểu 1968 để chi dùng tại Miền Nam sau khi chiến thắng, may sẵn quần áo đồng phục cho cán bộ Công an v.v… ( Hồi ký của Phó thủ tướng CSVN Trần Quỳnh ).

    Cuối cùng thì toàn bộ kế hoạch của Nguyễn Chí Thanh giống như là kịch bản của các nhà làm phim, hoàn toàn xa rời thực tế. Vì vậy sau khi Nguyễn Chí Thanh chết rồi mà Lê Duẩn cũng vẫn cứ ôm chặt giấc mơ không nỡ rời. Trong khi đó có một người thấy trước là không ăn, đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhưng ông ta không dám lên tiếng vì sợ Lê Duẩn cho là “bàn lùi” do thiếu thiện chí.

    Không may cho Tướng Giáp, thực tế chiến trường Miền Nam càng chứng minh rằng ông đúng thì ông càng bị Lê Duẩn thù ghét. Cho tới khi trận tổng công kích thất bại hoàn toàn thì Tướng Giáp nhủn như con chi chi, chỉ sợ Lê Duẩn thẹn quá sẽ đổ thù trút oán sang cho mình. Vì vậy mà sau trận Mậu Thân Tướng Giáp phải bấm lòng ca tụng chiến thắng Mậu Thân của Đảng CSVN trên báo, trên đài.
    Rốt cuộc những lời ca tụng quá đáng của Tướng Giáp khiến cho các nhà phân tích tình báo ngồi tại Washington tin rằng Võ Nguyên Giáp là linh hồn của trận Mậu Thân và ông ta đã vênh vang ca tụng chiến thắng oanh liệt của chính ông ta. Thế là người Mỹ vội vàng tính tới chuyện đem những chàng trai của họ về nước trước khi mọi chuyện trở nên quá muộn màng như quân đội Pháp tại Điện Biên Phủ (Sic).

    Cho tới năm 2008, nghĩa là 40 năm sau, Đài phát thanh RFA đăng một bài viết của ký giả Việt Long:

    “Nhiều người trong giới nghiên cứu của Hoa Kỳ cho rằng quan niệm về kế hoạch tổng công kích Mậu Thân là của tướng Võ nguyên Giáp, tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang miền Bắc Việt Nam. Có người lại cho đó là của tướng Nguyễn Chí Thanh, tư lệnh quân sự các lực lượng Cộng sản chiến đấu ở miền Nam.
    Tưởng chừng còn phải chờ nhiều năm nữa mới xác minh được sự thật, nhưng gần đây những nguồn thông tin từ Hà Nội cho thấy cả hai vị tướng kia đều không phải là tác giả kế hoạch tổng công kích tổng nổi dậy Mậu Thân 1968.

    Đó là lời của nhà nghiên cứu Merle Pribbenow trong bài thuyết trình về biến cố tết Mậu Thân. Cựu chuyên viên ngôn ngữ của cục tình báo trung ương CIA cho biết tiếp: thực ra hai ông Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp là hai người bày tỏ quan điểm chống lại kế hoạch đó qua những cuộc bàn cãi sôi nổi trong bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam”
    . (Bản tin RFA ngày 16-3-2008).

    Một sự thực rất dễ tìm nhưng CIA phải đợi tới 40 năm sau mới biết. Lẽ ra với trách vụ của mình, CIA phải biết chuyện này từ tháng 7 năm 1960 tức là từ 48 năm về trước. Cả Hà Nội đều biết Võ Nguyên Giáp bị mất quyền lực từ năm 1960 và trở thành tội đồ của ĐCSVN từ năm 1963. Vậy mà CIA đợi tới 2008 mới biết. Quả là một cơ quan tình báo quốc tế siêu đẳng.

    BÙI ANH TRINH

    Lannguyen xin chân thành cảm ơn BÙI ANH TRINH và http://vantuyen.net/2014/05/19/su-th...bui-anh-trinh/

    Lannguyen

  14. #74
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

  15. #75
    Join Date
    Mar 2008
    Posts
    6,263
    Thanks
    2
    Thanked 13 Times in 13 Posts

    Default Re: Lời thú tộii kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam

    Đảng ta làm bài toán thống nhất đất nước Việt Nam là phải,
    nếu đất nước việt nam còn bị chia đôi ra làm hai miền,
    Miền nam ,, và miền bắc, mỗi lần Hoa Kỳ sang thăm Việt Nam ,
    họ phải đi qua, bằng hai phái đoàn
    1 đoàn ra Bắc... và 1 đoàn vào Nam...tốn kém...$$..
    . bây giờ họ , biết tiết kiệm được rất nhiều tiền,

    tình hữu nghị hai nước rất tốt đẹp ..
    Last edited by cucucon; 06-13-2014 at 08:53 AM.

  16. #76
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    8,759
    Thanks
    13
    Thanked 57 Times in 53 Posts

    Default Re: Lời thú tộii kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam

    Quote Originally Posted by cucucon View Post
    ...$$$$..bây giờ họ , biết cách kiếm được rất nhiều tiền,
    tình hữu nghị hai nước Mỹ - Trung rất tốt đẹp ..

    Ông Kerry: Tui có con chó ghẻ Việt cộng... tui bán cho chú Ba mần thịt cầy...
    Last edited by ng_nghiep; 06-13-2014 at 12:29 PM.

  17. #77
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Lời thú tộii kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam

    Năm sự kiện chưa được biết về Khe Sanh – Trần Hồng Tâm

    Posted by Nguyễn Tuấn on Tháng Sáu 8, 2014 in Tài liệu, Trần Hồng Tâm



    Trận Khe Sanh là một điển hình của cuộc đối đầu, là một phép thử của khát vọng trong chiến tranh Việt Nam, nơi có 6.000 thủy quân lục chiến Mỹ chống cự lại 20.000 quân đội Cộng sản Bắc Việt, kéo dài 77 ngày đêm vào những tháng đầu năm 1968.

    Bóng ma của Điện Biên Phủ 1954 vẫn còn lởn vởn. Lực lượng cộng sản Việt Nam đã bao vây và cuối cùng là tiêu diệt gọn một căn cứ quân sự mạnh của Pháp. Nhưng không giống người Pháp ở Điện Biên Phủ, người Mỹ đã duy trì một đường tiếp vận hàng không đến với Khe Sanh, đã chống trả ngoan cường trước những trận pháo kích và những đợt tấn công trực diện. Cuối cùng, quân đội Mỹ đã phá vỡ được vòng vây vào tháng Tư. Nhưng chỉ khoảng ba tháng sau đó thì Mỹ đã tự hủy bỏ toàn bộ căn cứ quân sự kiên cố này.

    1- Trận Khe Sanh không làm thay đổi cục diện của cuộc chiến, nhưng nó thúc đẩy những kỹ thuật phát triển quân sự rất đáng ghi nhận. Lần đâu tiên những cảm ứng điện tử được sử dụng để thả xuống những khu rừng rậm xung quanh Khe Sanh. Nó cung cấp những thông tin quân sự quan trọng cho việc phòng vệ. Lần đầu tiên trong chiến tranh Việt Nam, quân đội Mỹ đã đối diện với xe tăng của Bắc Việt. Nhưng hình ảnh đáng ghi nhớ hơn cả là Chiến dịch Niagara với pháo đài bay B-52 cùng với máy bay tiêm kích đã rót xuống đây 100.000 tấn bom. Pháo binh bắn ra 158.000 quả đại bác. Một hợp đồng tác chiến vĩ đại nhất trong chiến tranh Việt Nam giữa hai lực lượng pháo binh và không quân để tiêu diệt gần như toàn bộ lực lượng Bắc Việt đang bao vây, muốn lật úp Khe Sanh.


    2- Tổng thống Lyndon Johnson và Tướng William Westmoreland đã đưa ra kế hoạch sử dụng vũ khí nguyên tử cấp chiến thuật và vũ khí hoá học để bảo vệ căn cứ Khe Sanh. Trong một loạt những cuộc điện đàm, Tướng Westmoreland thông báo cho Tổng thống Johnson rằng vũ khí nguyên tử và hóa học là chưa cần thiết để dùng cho Khe Sanh, nhưng sẽ là một lựa chọn cuối cùng để chặn đứng lực lượng Bắc Việt đang vượt qua khu phi quân sự tiến về Khe Sanh.

    3- Phe chủ chiến thường buộc tội Lyndon Johnson đã không làm tất cả những gì mà ông có khả năng để giành chiến thắng trong cuộc chiến Việt Nam. Nhưng nội các của tổng thống thì phủ nhận. Những cố vấn quân sự muốn cố thủ Khe Sanh, trong đó có tướng liên quân đã hồi hưu Maxwell Taylor. Bằng thư và đàm thoại, ông vận động ráo riết tổng thống cố thủ Khe Sanh. Tổng thống Johnson đã xem xét cẩn thận những lời khuyên của Taylor, nhưng cuối cùng thì ông trở lại với kế hoạch của Westmoreland là chỉ giáng một đòn quyết định vào lực lượng Bắc Việt tại Khe Sanh.

    4- Hậu cần của Mỹ vượt xa khả năng hậu cần của cộng sản trong cả cuộc chiến, nhưng những điều này lại không đúng trong những tuần lễ đầu tại Khe Sanh. Ở những ngọn đồi cứ điểm xung quanh Khe Sanh, nạn thiếu thực phẩm và nước uống đã trở nên nghiêm trọng. Cơn đói khát giày vò, cảnh rách rưới của những người lính Mỹ bảo vệ Đồi 881 và 861 gợi ra một hình ảnh của những người bị bỏ rơi trên hoang đảo. Một chiến dịch táo bạo được biết đến với tên “Super Gaggle” đã chấm dứt cuộc khủng hoảng trên bằng cuộc trải thảm bom, bom napal, khói cay mắt, sương mù vào những vị trí của lực lượng Bắc Việt, để trực thăng đáp xuống tiếp trợ thực phẩm cho những ngọn đồi cứ điểm tiền tiêu.


    5- Khe Sanh là một chiến thắng quân sự của Hoa Kỳ, những người lính dũng cảm, thành công bảo vệ cứ điểm trong suốt 77 ngày đêm vây hãm. Nhưng rồi những nhận thức này bị lu mờ vào tháng 7 – 1968 bởi quyết định hủy bỏ căn cứ này. Khe Sanh trở nên thứ acid bào mòn những tâm tưởng của bao nhiêu người Mỹ về một biểu tượng của lòng hy sinh không có mục đích, chiến thuật lộn xộn. Những điều này đã dẫn đến số phận cuối cùng của những cố gắng của người Mỹ ở Việt Nam. Phán quyết của lịch sử về Khe Sanh cho là Mỹ đã thua, và buộc tội Tướng Westmoreland hơn là công nhận một sự thực về bản hùng ca đã bảo vệ được cả quốc gia đứng vững trong thời gian tổng công kích từ tháng Giêng đến tháng Tư năm 1968.

    (Dịch từ: “5 Things you dit not know about Khe Sanh” của Thomas E. Ricks, FP, May 5, 2014; điểm cuốn “Last Stand at Khe Sanh” của Gregg Jones)

    © Trần Hồng Tâm

    Lannguyen xin chân thành cảm ơnTrần Hồng Tâm và http://vantuyen.net/2014/06/08/nam-su-kien-chua-duoc-biet-ve-khe-sanh-tran-hong-tam/
    Lannguyen

  18. #78
    Join Date
    Mar 2008
    Posts
    6,263
    Thanks
    2
    Thanked 13 Times in 13 Posts

    Default Re: Lời thú tộii kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam

    ngày nay người Mỹ tự thú , rằng họ không đủ khả năng để cố thủ căn cứ Khe Sanh,và phải tháo chạy, 77 ngày dưới địa ngục, còn sống xót là may lắm rồi, nếu họ dùng tới bom nguyên tử , tức là họ chơi bẩn .đừng cùng...? ? quân đội Mỹ sống còn , là nhờ vào máy bay tiếp tế, họ chiến đấu vì mục đích gì..ngăn chặn cộng sản...?. phi lý...vô nghĩa..chết cho ai...?

  19. #79
    Join Date
    Mar 2008
    Posts
    6,263
    Thanks
    2
    Thanked 13 Times in 13 Posts

    Default Re: Lời thú tộii kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam

    HIỆP ĐỊNH PARIS đầu năm 1973 do người Mỹ nắm toàn quyền, soạn thảo, bổ túc, hay sửa đổi bản có sự chứng giám của nhiều quốc gia bên cộng sản thì đúng. bên phía V N C H , mỹ ép, phải ký tên vào, đổi lấy viện trợ quân sự cho miền nam V N bên phía C S bắc việt , đồng ý ký, mỹ sẽ rút hết quân,và không đánh phá Bắc việt Mỷ rút quân đội khỏi V N,.. Miền Nam tự gánh vác....,C S Bắc việt lén lút, thay đổi chiến thuật C S Bắc Việt không tôn trọng bản Hiệp Ước,, họ ở thế mạnh hơn V N C H cưỡng chiếm Miền Nam, năm 30/4/1975 đi đến thống nhất,( không còn 2 miền như trước đây) 40 năm sau, thù thành bạn , Mỹ Việt hữu nghị..

  20. #80
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Lời thú tộii kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam

    Sự thật phũ phàng về Hiệp định Paris 1973

    By on December 18, 2012

    Ngày 27-1-2013 sắp đến sẽ đánh dấu 40 năm ký kết Hiệp Định Paris 1973, một biến cố lịch sử vô cùng quan trọng đối với Việt Nam vì những hậu quả của nó áp đặt trên mảnh đất này trong gần bốn thập niên cho tới ngày nay.

    Ảnh tư liệu
    Hiệp Định Paris 1973 được thỏa hiệp tại Bắc Kinh, chứ không phải tại Paris. Từ trái: Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Henry Kissinger, Thủ Tướng Chu Ân Lai, và Chủ Tịch Mao Trạch Đông, Bắc Kinh, 1972.

    Thay vì đưa đến “hòa bình trong danh dự”, hiệp định này mở đường cho CSVN xâm chiếm trọn vẹn miền Nam Việt Nam trong vòng hơn hai năm sau. Những tài liệu về chiến tranh Việt Nam được bạch hóa trong thời gian gần đây cho thấy những sự thật phũ phàng đã đưa đến Hiệp Định Paris 1973.

    Tóm tắt diễn tiến Hiệp Định Paris 1973

    Cuộc hòa đàm tại Paris bắt đầu từ 1968 vào cuối thời Tổng thống Lyndon Johnson và tiếp tục dưới thời Tổng Thống Richard Nixon nhưng không đạt được tiến bộ nào cả cho đến cuối nhiệm kỳ I của Ông Nixon khi Ông Henry Kissinger, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia của Tổng Thống Nixon đạt được một số đồng thuận trong những phiên họp bí mật với Ông Lê Đức Thọ, Trưởng Phái Đoàn Thương Thuyết của Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) và trong cuộc tiếp súc bí mật với các Ông Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai
    tại Bắc Kinh. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không đồng ý những điều kiện do CSBV đưa ra và đòi hỏi nhiều thay đổi. Hà Nội phản ứng bằng cách công bố chi tiết về những điều hai Ông Kissinger và Lê Đức Thọ đã đồng ý. Cuộc hòa đàm trở nên bế tắc. Một mặt Ông Nixon ra lệnh ném bom Hà Nội và Hải Phòng liên tục trong 12 ngày vào cuối năm 1972. Mặt khác, Chính quyền Hoa Kỳ áp lực VNCH chấp nhận điều kiện ngưng chiến.
    Ngày 23-1-1973, hai Ông Lê Đức Thọ và Kissinger đồng ý về một thỏa hiệp sơ bộ. Bốn ngày sau đó, Hiệp Định Paris được chính thức ký kết vào 27-1-1973. Hiệp Định này đòi hỏi ngưng bắn toàn diện tại miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ rút hết số quân còn lại tại Việt Nam trong vòng 60 ngày, quân CSBV (khoảng 150,000 binh sĩ) được phép ở lại miền Nam Việt Nam tại những vùng CSBV đã chiếm đoạt, và tất cả tù binh Hoa Kỳ được hồi hương. Hiệp Định Paris cũng kêu gọi Chính Phủ VNCH và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam thực hiện một cuộc bầu cử dân chủ và tự do tại miền Nam Việt Nam để chấm dứt cuộc xung đột. Tổng Thống Nixon hứa sẽ sử dụng Không Lực Hoa Kỳ để bảo đảm sự thi hành hiệp định này.
    Trong khi đàm phán, Hoa Kỳ tiếp tục rút quân và thi hành chương trình Việt Nam hóa để quân lực VNCH dần dần thay thế quân lực Hoa Kỳ.

    Khoảng cách chạy tội


    Hiệp Định Paris được ký kết ngày 27-1-1973.

    Việc mất miền Nam Việt Nam ít người Việt thời đó có thể dự đoán, nhưng không phải là điều ngạc nhiên đối với Hoa Kỳ mặc dù đã có Hiệp Định Paris. Thật vậy, chánh quyền Nixon không muốn thấy miền Nam Việt Nam sụp đổ trước cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ vào tháng 11, 1972, vì như thế có nghĩa là hi vọng thắng cử nhiệm kỳ II của Ông Nixon cũng sẽ sụp đổ theo.

    Vì muốn bảo vệ thanh danh cho Hoa Kỳ và sự nghiệp chính trị của mình, Ông Nixon đã làm đủ mọi thứ để giữ miền Nam Việt Nam khỏi phải rơi vào tay CSVN trong nhiệm kỳ I (1969-1972). Trong cuộc họp bí mật đầu tiên với Thủ Tướng Chu Ân Lai vào tháng 7, 1971 tại Bắc Kinh, Ông Kissinger bán đứng miền Nam Việt Nam cho Cộng Sản.

    Trên một tài liệu thuyết trình cho chuyến đi Bắc Kinh bí mật đầu tiên, Ông Kissinger ghi chú rằng Hoa Kỳ cần một thời gian chạy tội. Trung Quốc có sự cam kết của Hoa Kỳ. Ông Kissinger viết nguyên văn như sau:

    “We need a decent interval. You have our assurance.”

    Theo những tài liệu do các phụ tá của Ông Kissinger ghi chép lại những lời đối thoại của ông với Thủ Tướng Chu Ân Lai, Ông Kissinger nói rằng Hoa Kỳ sẽ ấn định thời hạn chót cho việc rút quân và trong thời gian rút quân sẽ có ngưng bắn trong khoảng 18 tháng và đàm phán. Nếu thỏa hiệp thất bại, dân Việt Nam sẽ tự giải quyết. Nếu chính phủ miền Nam Việt Nam không được quần chúng ưa chuộng, lực lượng của Hoa Kỳ càng rút nhanh, chính phủ này càng sớm bị lật đổ và Hoa Kỳ sẽ không can thiệp.

    Nguyên văn bằng tiếng Anh như sau:

    “We will set a deadline for withdrawals, and during withdrawals there should be a cease-fire, and some attempt at negotiations. If the agreement breaks down then it is quite possible that the people in Vietnam will fight it out. If the [South Vietnamese] government is as unpopular as you seem to think, then the quicker our forces are withdrawn the quicker it will be overthrown. And if it is overthrown after we withdraw, we will not intervene. We can put on a time limit, say 18 months or some period [for a cease-fire]. National Security Advisor Henry Kissinger, Beijing, July 9, 1971.

    Hoa Kỳ cũng không muốn miền Nam Việt Nam mất nhanh chóng trong vòng sáu tháng sau khi Hiệp Định Paris ký kết để Hoa Kỳ không bị mang tiếng thua trận. Nhưng nếu là hai năm, sẽ không có vấn đề gì cả. VNCH cần phải tự lực chiến đấu trong một thời gian đủ dài để chịu trách nhiệm về cuộc bại trận cuối cùng. Sau đây là phần phát biểu thâu băng của Ông Nixon về vấn đề này:
    “The country would care if South Vietnam became Communist in a matter of six months. They will not give a damn if it’s two years.” President Richard M. Nixon, March 17, 1973.
    Ông Kissinger trước đó cũng có quan điểm tương tự về việc mua thời gian để tháo chạy mà không bị bẽ mặt:
    “ We’ve got to find some formula that holds the thing together a year or two, after which – after a year, Mr. President, Vietnam will be a backwater. If we settle it, say, this October, by January ’74 no one will give a damn.” National Security Adviser Henry A. Kissinger, August 1972.

    Cả hai ông Nixon và Kissinger đều đồng ý rằng VNCH có thể sẽ mất sau cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ vào tháng 11, 1974. Nếu xẩy ra vào mùa xuân 1975, thời điểm này tốt hơn là mùa xuân 1976.

    Nhà Sử Học Ken Hughes thuộc University of Virginia nhận xét rằng:
    “Nhiều người có tư tưởng phóng khoáng nghĩ rằng Ông Nixon thật sự cương quyết muốn ngăn chặn Cộng Sản thắng ở Việt Nam. Nhưng Ông ta chỉ cương quyết ngăn chặn Đảng Dân Chủ thắng tại Hoa Kỳ mà thôi.” Sử Gia Ken Hughes, June 2010.
    Vào tháng 2, 1972, Ông Nixon viếng thăm Bắc Kinh lần đầu tiên, làm thân với Trung Quốc, khởi sự thảo luận với Chủ Tịch Mao Trạch Đông và Thủ Tướng Chu Ân Lai về chính sách một nước Trung Hoa, và đạt được sự bảo đảm của Bắc Kinh về giải pháp hòa bình trong danh dự đối với Việt Nam với một khoảng cách chạy tội (decent interval).

    Kéo dài chương trình Rút Quân và Việt Nam Hóa chiến tranh

    Những tài liệu mới giải mật cũng cho thấy Ông Nixon và Ông Kissinger tin rằng:
    1. Chương trình Việt Nam hóa chiến tranh sẽ không làm cho miền Nam Việt Nam có đủ khả năng để tự bảo vệ.
    2. Những điều kiện “hòa bình” mà Ông Kissinger đã thương thuyết sẽ làm miền Nam Việt Nam sụp đổ sau một thời gian một hoặc hai năm (khoảng cách chạy tội).
    Để che đậy sự thất bại của chiến lược Việt Nam Hóa và thương thuyết, Ông Nixon với sự khuyến cáo của Ông Kissinger, kéo dài cuộc chiến tranh đến năm thứ tư (1972) của nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên – dài đủ để tránh sự sụp đổ của VNCH trước ngày bầu cử nhiệm kỳ II. Chính vì vậy mà Ông Nixon kéo dài chương trình rút quân qua nhiều năm.

    Trong cuốn băng thâu bí mật tại phòng bầu dục trong Tòa Nhà Trắng, Ông Nixon nói:

    “We’ve got dates in mind. We’ve got dates everywhere [from] July to August to September [to] October [to] November to December [to] January of 1973.” President Richard Nixon, September 4, 1971.
    Quân số Hoa Kỳ ở Việt Nam bắt đầu giảm từ cao điểm 543,000 người vào năm 1968 và đến đầu năm 1973 mới chấm dứt, tức là sau cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ vào tháng 11, 1972.
    Đối với công chúng, Ông Nixon phải rút một số quân về nước đủ để thỏa mãn hai mục tiêu:

    1. Chứng tỏ chương trình Việt Nam hóa thành công.

    2. Giữ lời hứa khi tranh cử.
    Đối với sự nghiệp chính trị, Ông Nixon hoàn toàn bám vào lịch trình tranh cử để hoạch định chương trình rút quân, dù có đạt được thỏa thuận với Hà Nội hay không (Theo Ông Nixon sắc xuất chỉ có 40% – 55 %) và bất kể VNCH có đứng vững sau khi quân Hoa Kỳ rút về nước hay không.
    Hãy nghe cuộc đối thoại giữa Tổng Thống Nixon và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Kissinger vào ngày 11-3-1971:
    Nixon: “We’ve got to get the hell out of there.”
    Kissinger: “No Question.”
    Tuy nhiên trước công chúng Hoa Kỳ, Ông Nixon vẫn hứa một giải pháp hòa bình trong danh dự. Theo đó, Hoa Kỳ sẽ rút quân ra khỏi Việt Nam chỉ khi nào chương trình Việt Nam hóa hoặc cuộc thương thuyết thành công – khi miền Nam Việt Nam có thể tự bảo vệ và tự quản trị.

    Hoa Kỳ thất hứa không can thiệp trong trường hợp Hiệp Định Paris bị vi phạm

    Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu tin rằng những điều kiện Hoa Kỳ cho phép 150,000 quân CSBV ở lại miền Nam sẽ khiến VNCH sụp đổ. Theo tài liệu mới được bạch hóa, trong buổi họp với Tướng Alexander Haig, phụ tá Cố Vấn An Ninh Quốc Gia, tại Saigon vào ngày 4-10-1972, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố rằng theo đề nghị của Hoa Kỳ, chính phủ VNCH tiếp tục tồn tại. Nhưng đây chỉ là giải pháp đau lòng và sớm muộn chính phủ này sẽ sụp đổ và theo đó Ông Thiệu sẽ phải tự sát.

    Nguyên văn bằng tiếng Anh như sau:

    “In the proposal you have suggested, our Government will continue to exist. But it is only an agonizing solution, and sooner or later the Government will crumble and Nguyen Van Thieu will have to commit suicide somewhere along the line.” President Nguyen Van Thieu, Saigon, October 4, 1972.
    Ông Thiệu cực lực phản đối đề nghị hòa bình giả tạo của Hoa Kỳ làm cho cuộc hòa đàm ở Paris ngưng lại. Ông Nixon phải hứa sẽ tăng viện trợ quân sự và Hoa Kỳ sẽ trở lại Việt Nam nếu CSBV tấn công. Đồng thời Ông Nixon đe dọa sẽ cắt viện trợ để buộc Ông Thiệu phải chấp nhận đề nghị của Hoa Kỳ. Một tài liệu mới được bạch hóa cho thấy rằng Ông Nixon đe dọa đến cả tính mạng của Ông Thiệu:
    “I don’t know whether the threat goes too far or not, but I’d do any damn thing, that is, or to cut off his head if necessary.” President Richard Nixon, January 20, 1973.



    Ông Lê Đức Thọ và Ông Henri Kissinger tại cuộc hòa đàm Paris.

    Hiệp Định Paris chỉ giúp Hoa Kỳ rút được quân ra khỏi Việt Nam an toàn, chấm dứt việc can thiệp trực tiếp của Hoa Kỳ vào cuộc chiến tại Việt Nam, nhưng đã không mang lại hòa bình cho Việt Nam. Thật vậy, khoảng một năm sau, vào tháng 1, 1974, Tổng Thống Thiệu tuyên bố Hiệp Định Paris không còn giá trị sau khi Cộng quân lợi dụng cuộc ngưng chiến trong năm 1973, tiến hành những trận đánh nhỏ để chiếm những vùng xa xôi hẻo lãnh.

    Trong khi đó Quốc Hội Hoa Kỳ tiếp tục giảm viện trợ cho Việt Nam từ 2.2 tỉ Mỹ kim cho tài khóa 1973, 1.1 tỉ Mỹ kim cho tài khóa 1974, và 700 triệu Mỹ kim cho tài khóa 1975. Tình trạng miền Nam Việt Nam trở nên nghiêm trọng hơn vào cuối năm 1974 khi Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật 1974 Foreign Assistance Act, chấm dứt tất cả những viện trợ quân sự. Điều này có nghĩa là Hoa Kỳ không thể thể dùng không lực để trợ giúp miền Nam Việt Nam khi CSBV vi phạm Hiệp Định Paris.
    Sau khi Đạo Luật Viện Trợ Ngoại Quốc 1974 ban hành ít lâu, CSBV tiến đánh và chiếm tỉnh Phước Long vào ngày 6-1-1975 và tỉnh Bình Long vào ngày 7-1-1975. Khi không thấy Hoa Kỳ có phản ứng nào cả, ngày 8-1-1975 Hà Nội ra lệnh tổng tấn công để giải phóng miền Nam bằng cách ngang nhiên xua quân vượt qua biên giới Bắc Nam, tấn công toàn diện Vùng I và II Chiến Thuật vào tháng 3, 1975 và cuối cùng chiếm Saigon vào 30-4-1975 đúng với thời hạn mà hai Ông Nixon và Kissinger dự đoán.
    Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ James Schlesinger điều trần trước Quốc Hội vào ngày 14-1-1975 rằng Hoa Kỳ không giữ lời hứa với Tổng Thống Thiệu. Bẩy ngày sau, Tổng Thống Gerald Ford, người thay thế ông Nixon từ chức vì vụ Watergate, tuyên bố rằng Hoa Kỳ không sẵn sàng tái tham chiến tại Việt Nam. Tại New Orleans vào ngày 23-4-1975, Ông Ford tuyên bố chiến tranh Việt Nam chấm dứt.
    Vào buổi trưa ngày 29-4-1973, Đài Phát Thanh Saigon truyền đi bản nhạc “I’m Dreaming of a White Christmas” qua dọng ca của Bing Crosby, báo hiệu cuộc di tản cuối cùng của Hoa Kỳ bắt đầu.

    Phục hồi Hiệp Định Paris 1973?

    Gần đây, có vài nhóm người Việt tại hải ngoại chủ trương vận động quốc tế để phục hồi lại Hiệp Định Paris 1973, đặc biệt mới đây nhất là Ủy Ban Lãnh Đạo Lâm Thời VNCH (UBLĐLTVNCH), một hình thức chính phủ lưu vong nhưng không dùng danh xưng tổng thống hay thủ tướng, của Ông Nguyễn Ngọc Bích (75 tuổi). Các tổ chức này tin rằng nếu vận động quốc quốc tế làm sống lại Hiệp Định Paris 1973 (nhưng không nói gì đến Hiệp Định Geneva 1954 mà chính VNCH đã xé bỏ), Hà Nội sẽ phải trả lại miền Nam Việt Nam cho VNCH.
    Giả sử rằng UBLĐLTVNCH có khả năng làm chuyện này, mặc dù tôi nghĩ là không có một cơ may nào cả, UBLĐLTVNCH sẽ không thâu tóm toàn bộ phần đất dưới vĩ tuyến thứ 17 ngay được. Hiệp Định Paris đòi hỏi tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam, UBLĐLTVNCH sẽ phải ra tranh cử với Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (chính thức bị giải tán vào ngày 25-4-1976) . Nhưng trước hết, UBLĐLTVNCH sẽ phải đưa hàng triệu người Bắc 75 về nguyên quán ngoại trừ
    150,000 quân CSBV được Ông Kissinger và Ông Chu Ân Lai cho phép ở lại miền Nam từ 1973 đến nay. Tóm tắt lại để đỡ tốn giấy mực, ý tưởng phục hồi Hiệp Định Paris là hoang tưởng nếu không muốn nói là bệnh hoạn. Ngay cả nước Mỹ cũng muốn quên Hiệp Định Paris 1973 đau lòng này do chính họ dựng lên.

    Kết luận

    Hoa Kỳ dưới thời Nixon đã bỏ rơi đông minh của mình là một điều đáng hổ thẹn đối với một quốc gia biết tôn trọng những giá trị cao quý. Nhưng may thay, những sử gia và những nhà phân tách Hoa Kỳ ngày nay đã phanh phui ra sự thật và lên án nặng nề những lỗi lầm đó. Đặc biệt GS Larry Berman đã viết hai cuốn sách được nồng nhiệt đón nhận:
    1. Planning Tragedy: The Americanization of the War in Vietnam (1982).
    2. No Peace No Honor: Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam (2001).
    Về phía người Việt, hơn ai hết, chúng ta có trách nhiệm lớn về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam và đưa phần đất này vào tay Cộng Sản. Nếu Ông Hồ Chí Minh khôn ngoan đã không du nhập chế độ Cộng Sản vào Việt Nam và nếu người dân Việt Nam, kể cả một thành phần không nhỏ trí thức, khôn ngoan đã không đi theo Cộng Sản để reo rắc đau thương triền miên cho đất nước trong một nửa thế kỷ và làm đất nước chậm tiến như ngày nay. Một bài học lớn là đừng bao giờ chui vào vòng nô lệ của bất cứ ngoại bang nào dù là đồng minh.

    Tài liệu tham khảo
    :

    1. Larry Berman, “No Peace No Honor, Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam,” The Free Press, 2001.
    2. Finding Dulcinea, “On this Day: Paris Peace Accords Signed, Ending American Involvement in Vietnam War,” January 27, 2012.
    3. Trọng Đạt, “Nixon và Hòa Bình Trong Danh Dự,” 27-01-2012.
    4. Kennedy Hickman, “Vietnam War end of conflict, 1973-1975,” Military History.
    5. Ken Hughes, “Fatal Politics: Nixon’s Political Timetable For Withdrawing From Vietnam,” Diplomatic History, Vol. 34, No. 3, June 2010.
    6. Stanley Karnow, “Vietnam A History,” Penguin Books, 1997.
    7. Jeffrey Kimball, “Decent Interval or Not? The Paris Agreement and the End of the Vietnam War,”December 2003.
    8. Henry Kissinger, “Years of Renewal,” Simon & Schuster, 1999.
    9. Richard Nixon, “No More Vietnam,” Arbor House, New York 1985.
    10. Frank Snepp, “Decent Interval,” Random House, 1977.
    11. Global Security, “A Decent Interval – Who Lost Vietnam?” May 7, 2011.
    12. Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia, “Hiệp Định Paris 1973.”

    Lannguyen xin chân thành cảm ơn http://www.datviet.com/su-that-phu-phang-ve-hiep-dinh-paris-1973/

    Lannguyen

Page 4 of 51 FirstFirst 1234567891011121314 ... LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Replies: 1
    Last Post: 04-08-2013, 02:38 PM
  2. Kinh Lăng Nghiêm Là Kinh Ngụy Tạo Chăng?
    By NonregisterC in forum Tìm hiểu Về Phật Giáo
    Replies: 15
    Last Post: 10-02-2011, 10:19 PM
  3. Kinh Tế VN Bất Ổn
    By banhtieu in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 2
    Last Post: 05-17-2008, 07:27 PM
  4. bài kinh Phật giáo Nam tông
    By +Hh in forum Tìm hiểu Về Phật Giáo
    Replies: 2
    Last Post: 05-16-2008, 09:39 PM
  5. Con Ma Thế Vận Hội Bắc Kinh Khát Nước
    By Dzugore in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 0
    Last Post: 05-08-2008, 07:15 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •