Results 1 to 12 of 12

Thread: Người anh em: Hãy tỉnh thức

  
  1. #1
    Join Date
    Sep 2009
    Posts
    1,326
    Thanks
    24
    Thanked 55 Times in 39 Posts

    Default Người anh em: Hãy tỉnh thức

    Tôi được sinh ra là người Hồi Giáo và đã sống suốt cuộc đời như một tín đồ Hồi Giáo. Sau những cuộc tấn công khủng bố man rợ khắp nơi trên thế giới của hành tinh này qua bàn tay của những anh em hồi giáo của tôi, và sau quá nhiều hành vi bạo lực của những tín đồ hồi giáo ở nhiều nơi trên thế giới, tôi - một người hồi giáo và là một con người, cảm thấy có trách nhiệm nói lên và kể ra sự thật để bảo vệ cho thế giới, kể cả người hồi giáo, tránh khỏi một tai họa có thể thấy trước và một trận chiến giữa các nên văn minh.
    >
    > Tôi phải thừa nhận rằng giáo huấn hiện hành của hồi giáo kích động bạo lực và sự thù ghét đối với những người không phải là tín đồ hồi giáo.




    >
    > Chúng ta, những người hồi giáo là những kẻ cần phải thay đổi.


    > Cho đến nay, chúng ta vẫn chấp nhận chế độ đa thê, sự bạo hành thể xác của bọn đàn ông đánh đập người phụ nữ và sự tử hình đối với những người bỏ đạo hồi để qua các tôn giáo khác.
    >
    > Chúng ta chưa từng bao giờ có được một lập trường rõ ràng và vững chắc chống lại quan niệm về nạn nô lệ hoặc chiến tranh, chống lại phương thức truyền bá đạo chúng ta bằng cách chế ngự những kẻ khác vào đạo hồi và buộc họ phải trả một loại thuế nhục nhã gọi là Jizia. Chúng ta đòi người khác phải tôn trọng tôn giáo của chúng ta, trong khi chúng ta lúc nào cũng chưởi lớn (bằng tiếng Ả Rập) những kẻ ngoại đạo trong những buổi cầu nguyện vào ngày thứ sáu trong các thánh thất hồi giáo.






    > Chúng ta phát ra thông điệp nào cho con cháu của chúng ta khi chúng ta gọi những người Do Thái là “đồ hậu sinh của loài heo khỉ” ? (dù rằng người Ả Rập và người Do Thái đều là hậu duệ của ông Abraham) ! Phải chăng đó là một thông điệp của tình thương và hòa bình, hay là một thông điệp của sự thù hận ?
    >
    > Tôi đã từng đi vào nhà thờ và các hội đường ở đó họ đang cầu nguyện cho những người hồi giáo. Trong khi đó thì mọi lúc chúng ta đều nguyền rủa họ, và dạy cho những thế hệ con cháu chúng ta phải gọi họ là “bọn bất trung” và thù ghét họ.






    > Chúng ta lập tức nhảy cửng lên theo “phản xạ của đầu gối” một cách tự động để bào chữa cho Tiên Tri Mohammed khi có ai đó tố giác ông ta là kẻ thích ấu dâm trong khi chúng ta lại hãnh diện về câu chuyện trong sách đạo hồi của chúng ta kể rằng ông ấy đã cưới một bé gái bảy tuổi (tên là Aisha) làm vợ khi ông ta đã ngoài 50 tuổi.






    > Tôi cảm thấy buồn khi nói rằng nhiều người, nếu không phải là hầu hết chúng ta, đều hân hoan trong vui sướng sau vụ 9/11 và sau nhiều vụ tấn công khủng bố khác. Trước mặt truyền thông thì người Hồi giáo tố giác những vụ tấn công đó, nhưng chúng ta lại khoan dung cho những kẻ khủng bố hồi giáo đó và có thiện cảm với lý tưởng của họ. Đến nay thì những vị đỉnh cao “lừng danh” trong giáo quyền đã không hề ban bố một Fatwa hay là một thông báo tôn giáo nào để tuyên bố rằng Bin Laden là một tên lạc đạo, trong khi đó thì nhà văn Rushdie lại bị tuyên bố là tên lạc đạo cần phải giết chết chiếu theo luật Sharia của hồi giáo chỉ vì ông ta viết ra một cuốn sách chỉ trích đạo hồi.






    > Những người hồi giáo đã biểu tình để đòi quyền được đạo đức hơn là những gì họ đã có tại Pháp, biểu tình đó là để chống lại lịnh cấm choàng khăn trùm đầu Hejab, nhưng chúng ta đã không biểu tình với một niềm đam mê như thế đối với một số quá lớn những vụ ám sát khủng bố. Chính sự im lặng tuyệt đối của chúng ta đối với những kẻ khủng bố đã khiến chúng có thêm năng lực để tiếp tục thực hiện những hành vi xấu xa của chúng.
    >
    > Chúng ta, những người hồi giáo phải chấm dứt mang cái nguyên nhân gây ra các khó khăn của chúng ta gán lên đầu người khác hoặc lên sự xung đột giữa Do Thái và Palestine. Đây là một vấn đề lương thiện khi xác nhận rằng nước Do Thái là ánh sáng duy nhất của sự dân chủ, của văn minh, của nhân quyền trong khối các quốc gia Trung Đông.






    > Chúng ta đã xua đuổi những người Do Thái ra khỏi hầu hết các xứ ả rập mà không chút bồi thường hoặc thương xót để biến họ thành những “người Do Thái vô quê hương” trong khi đó thì nước Do Thái đã chấp nhận cho hơn một triệu người ả rập được sống trong lòng của họ, xem họ như những công dân Do Thái để họ được hưởng đầy đủ quyền lợi của con người.






    > Ở nước Do Thái, những phụ nữ ả rập không thể bị đánh đập một cách hợp pháp bởi bọn đàn ông, và mọi người đều có thể thay đổi niềm tin của họ mà không sợ bị kết án tử hình bởi luật “lạc đạo” của hồi giáo, trong khi đó trong thế giới của hồi giáo, không một ai được hưởng một cái gì trong những quyền lợi đó.
    >
    > Tôi đồng ý là những người dân Palestine đang đau khổ, nhưng họ đau khổ là vì những kẽ lãnh đạo của họ hư hỏng chứ không phải vì Do Thái.
    >
    > Thật hiếm thấy những người Ả Rập đang sống tại Do Thái bỏ ra đi để về sống trong những nước ả rập. Ngược lại chúng tôi thấy hàng ngàn người dân Palestine vui sướng đi lao động tại nước Do Thái là “kẻ thù của họ”. Nếu nước Do Thái đối xử tàn tệ với người Ả Rập như có kẻ đã rêu rao, thì hẳn chúng ta sẽ thấy được một hiện tượng trái ngược lại.






    > Chúng ta, những người Hồi Giáo, cần phải gánh vác những nan đề của chúng ta và đối mặt với chúng. Chỉ có lúc đó chúng ta mới có thể giải quyết được vấn nạn để bắt đầu một kỷ nguyên mới sống trong hòa hợp với tình nhân loại của con người.
    >
    > Những vị lãnh đạo tôn giáo phải chứng minh một lập trường rõ ràng và vững chắc chống lại việc đa thê, ấu dâm, nô lệ, kết án tử hình đối với những kẻ bỏ đạo Hồi qua các tôn giáo khác, họ phải kết án những sự bạo hành thể xác của bọn đàn ông lên phụ nữ, và khuynh hướng tuyên chiến với những kẻ ngoại đạo để bành trướng Hồi Giáo.






    > Khi đó, và chỉ có khi đó thì chúng ta mới có quyền đòi hỏi những kẻ khác tôn trọng tôn giáo của chúng ta. Thời điểm đã đến để chúng ta chấm dứt sự giả đạo đức của chúng ta và công khai nói : “Chúng tôi, những người Hồi Giáo phải thay đổi.”







    Tawfik Hamid
    Last edited by KiemSi; 01-12-2014 at 07:28 AM.
    Mỗi dòng chữ như một tuyệt chiêu kiếm thế...để trừng trị những tên bưng bô, và những kẻ gian thần tà đạo...

  2. #2
    Join Date
    Sep 2012
    Posts
    345
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts

    Re: Người anh em: Hãy tỉnh thức

    Hình ảnh phương tây và Do-Thái đang "cứu trợ " giúp đở người HG Palestine tại Gaza .




    .............................................

  3. #3
    Join Date
    Sep 2012
    Posts
    345
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts

    Angry Re: Người anh em: Hãy tỉnh thức

    Quote Originally Posted by KiemSi View Post
    Tôi được sinh ra là người Hồi Giáo và đã sống suốt cuộc đời như một tín đồ Hồi Giáo. Sau những cuộc tấn công khủng bố man rợ khắp nơi trên thế giới của hành tinh này qua bàn tay của những anh em hồi giáo của tôi, và sau quá nhiều hành vi bạo lực của những tín đồ hồi giáo ở nhiều nơi trên thế giới, tôi - một người hồi giáo và là một con người, cảm thấy có trách nhiệm nói lên và kể ra sự thật để bảo vệ cho thế giới, kể cả người hồi giáo, tránh khỏi một tai họa có thể thấy trước và một trận chiến giữa các nên văn minh.
    >
    > Tôi phải thừa nhận rằng giáo huấn hiện hành của hồi giáo kích động bạo lực và sự thù ghét đối với những người không phải là tín đồ hồi giáo.


    > Chúng ta, những người hồi giáo là những kẻ cần phải thay đổi.


    > Cho đến nay, chúng ta vẫn chấp nhận chế độ đa thê, sự bạo hành thể xác của bọn đàn ông đánh đập người phụ nữ và sự tử hình đối với những người bỏ đạo hồi để qua các tôn giáo khác.
    >
    > Chúng ta chưa từng bao giờ có được một lập trường rõ ràng và vững chắc chống lại quan niệm về nạn nô lệ hoặc chiến tranh, chống lại phương thức truyền bá đạo chúng ta bằng cách chế ngự những kẻ khác vào đạo hồi và buộc họ phải trả một loại thuế nhục nhã gọi là Jizia. Chúng ta đòi người khác phải tôn trọng tôn giáo của chúng ta, trong khi chúng ta lúc nào cũng chưởi lớn (bằng tiếng Ả Rập) những kẻ ngoại đạo trong những buổi cầu nguyện vào ngày thứ sáu trong các thánh thất hồi giáo.






    > Chúng ta phát ra thông điệp nào cho con cháu của chúng ta khi chúng ta gọi những người Do Thái là “đồ hậu sinh của loài heo khỉ” ? (dù rằng người Ả Rập và người Do Thái đều là hậu duệ của ông Abraham) ! Phải chăng đó là một thông điệp của tình thương và hòa bình, hay là một thông điệp của sự thù hận ?
    >
    > Tôi đã từng đi vào nhà thờ và các hội đường ở đó họ đang cầu nguyện cho những người hồi giáo. Trong khi đó thì mọi lúc chúng ta đều nguyền rủa họ, và dạy cho những thế hệ con cháu chúng ta phải gọi họ là “bọn bất trung” và thù ghét họ.



    Name:  ittihad_news-5.jpg
Views: 279
Size:  54.2 KB

    nhửng người Ky Tô giáo và Do-Thái giáo đang cầu nguyện cho trẻ em Palestine




    Chúng ta lập tức nhảy cửng lên theo “phản xạ của đầu gối” một cách tự động để bào chữa cho Tiên Tri Mohammed khi có ai đó tố giác ông ta là kẻ thích ấu dâm trong khi chúng ta lại hãnh diện về câu chuyện trong sách đạo hồi của chúng ta kể rằng ông ấy đã cưới một bé gái bảy tuổi (tên là Aisha) làm vợ khi ông ta đã ngoài 50 tuổi.







    > Tôi cảm thấy buồn khi nói rằng nhiều người, nếu không phải là hầu hết chúng ta, đều hân hoan trong vui sướng sau vụ 9/11 và sau nhiều vụ tấn công khủng bố khác. Trước mặt truyền thông thì người Hồi giáo tố giác những vụ tấn công đó, nhưng chúng ta lại khoan dung cho những kẻ khủng bố hồi giáo đó và có thiện cảm với lý tưởng của họ. Đến nay thì những vị đỉnh cao “lừng danh” trong giáo quyền đã không hề ban bố một Fatwa hay là một thông báo tôn giáo nào để tuyên bố rằng Bin Laden là một tên lạc đạo, trong khi đó thì nhà văn Rushdie lại bị tuyên bố là tên lạc đạo cần phải giết chết chiếu theo luật Sharia của hồi giáo chỉ vì ông ta viết ra một cuốn sách chỉ trích đạo hồi.






    > Những người hồi giáo đã biểu tình để đòi quyền được đạo đức hơn là những gì họ đã có tại Pháp, biểu tình đó là để chống lại lịnh cấm choàng khăn trùm đầu Hejab, nhưng chúng ta đã không biểu tình với một niềm đam mê như thế đối với một số quá lớn những vụ ám sát khủng bố. Chính sự im lặng tuyệt đối của chúng ta đối với những kẻ khủng bố đã khiến chúng có thêm năng lực để tiếp tục thực hiện những hành vi xấu xa của chúng.
    >
    > Chúng ta, những người hồi giáo phải chấm dứt mang cái nguyên nhân gây ra các khó khăn của chúng ta gán lên đầu người khác hoặc lên sự xung đột giữa Do Thái và Palestine. Đây là một vấn đề lương thiện khi xác nhận rằng nước Do Thái là ánh sáng duy nhất của sự dân chủ, của văn minh, của nhân quyền trong khối các quốc gia Trung Đông.






    > Chúng ta đã xua đuổi những người Do Thái ra khỏi hầu hết các xứ ả rập mà không chút bồi thường hoặc thương xót để biến họ thành những “người Do Thái vô quê hương” trong khi đó thì nước Do Thái đã chấp nhận cho hơn một triệu người ả rập được sống trong lòng của họ, xem họ như những công dân Do Thái để họ được hưởng đầy đủ quyền lợi của con người.






    > Ở nước Do Thái, những phụ nữ ả rập không thể bị đánh đập một cách hợp pháp bởi bọn đàn ông, và mọi người đều có thể thay đổi niềm tin của họ mà không sợ bị kết án tử hình bởi luật “lạc đạo” của hồi giáo, trong khi đó trong thế giới của hồi giáo, không một ai được hưởng một cái gì trong những quyền lợi đó.
    >
    > Tôi đồng ý là những người dân Palestine đang đau khổ, nhưng họ đau khổ là vì những kẽ lãnh đạo của họ hư hỏng chứ không phải vì Do Thái.
    >
    > Thật hiếm thấy những người Ả Rập đang sống tại Do Thái bỏ ra đi để về sống trong những nước ả rập. Ngược lại chúng tôi thấy hàng ngàn người dân Palestine vui sướng đi lao động tại nước Do Thái là “kẻ thù của họ”. Nếu nước Do Thái đối xử tàn tệ với người Ả Rập như có kẻ đã rêu rao, thì hẳn chúng ta sẽ thấy được một hiện tượng trái ngược lại.






    > Chúng ta, những người Hồi Giáo, cần phải gánh vác những nan đề của chúng ta và đối mặt với chúng. Chỉ có lúc đó chúng ta mới có thể giải quyết được vấn nạn để bắt đầu một kỷ nguyên mới sống trong hòa hợp với tình nhân loại của con người.
    >
    > Những vị lãnh đạo tôn giáo phải chứng minh một lập trường rõ ràng và vững chắc chống lại việc đa thê, ấu dâm, nô lệ, kết án tử hình đối với những kẻ bỏ đạo Hồi qua các tôn giáo khác, họ phải kết án những sự bạo hành thể xác của bọn đàn ông lên phụ nữ, và khuynh hướng tuyên chiến với những kẻ ngoại đạo để bành trướng Hồi Giáo.






    > Khi đó, và chỉ có khi đó thì chúng ta mới có quyền đòi hỏi những kẻ khác tôn trọng tôn giáo của chúng ta. Thời điểm đã đến để chúng ta chấm dứt sự giả đạo đức của chúng ta và công khai nói : “Chúng tôi, những người Hồi Giáo phải thay đổi.”







    Tawfik Hamid
    .................................

  4. #4
    Join Date
    Sep 2012
    Posts
    345
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts

    Re: Người anh em: Hãy tỉnh thức

    Ảnh một em bé Irak bị quân đội Mỷ bắn nát sọ trong cuộc chiến xăm lược xứ nầy của G. Bush ...người phương tây yêu thương và giúp đở người HG như thế đấy :

    Name:  americrime7.jpg
Views: 268
Size:  11.0 KB

    .......................................

  5. #5
    Join Date
    Sep 2012
    Posts
    345
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts

    Default Re: Người anh em: Hãy tỉnh thức

    PHỤ NỮ ISLAM VÀ PHỤ NỮ DO THÁI - THIÊN CHÚA GIÁO (Phần 7)
    25.02.2010 03:09 [đã xem :1043]

    Bây giờ chúng ta hãy thảo luận câu hỏi quan trọng về chế độ đa thê. Đa thê là một tập quán cổ tìm thấy ở nhiều xã hội loài người mà ‘Kinh Cựu ước đã không chỉ trích chế độ đa thê’. Ngược lại, kinh Cựu ước và các tác phẩm của các nhà thông thái Do Thái thường xuyên chứng thực cho tính hợp pháp của chế độ đa thê.

    15. CHẾ ĐỘ ĐA THÊ

    Vua Solomon có 700 vợ và 300 nàng hầu (1 Kings 11:3). Vua David có nhiều vợ và nàng hầu (2 Samuel 5:13). Kinh Cựu ước có một vài huấn thị cách phân chia tài sản của một người đàn ông cho con trai từ các bà vợ khác nhau (Deut. 22:7). Chỉ có một giới hạn cho sự đa thê là cấm lấy chị/em gái của vợ làm vợ lẽ (Leviticus 18:18). Talmud khuyên số vợ nhiều nhất là bốn [Swidler, op. Cit., p. 144-148]. Người Do Thái ở châu Âu tiếp tục thực hành chế độ đa thê đến thế kỷ 16. Người Do Thái ở phương Đông đều đặn thực hành chế độ đa thê tới khi họ đến Israel nơi mà đa thê bị cấm bởi luật dân sự. Tuy nhiên, khi luật tôn giáo mạnh hơn luật dân sự thì trong các trường hợp này là được phép [Hazleton, op. Cit., pp. 44-45].

    Thế còn kinh Tân ước thì sao? Theo Cha Eugene Hillman trong sách ‘Chế độ đa thê được xét lại’: “Không có chỗ nào trong kinh Tân Ước có điều răn rõ ràng rằng hôn nhân phải là một vợ một chồng hay không có điều răn rõ ràng nào cấm chế độ đa thê” [Eugene Hillman, Polygamy Reconsidered: African Plural Marriage and the Christian Churches (new York: Orbis Books, 1975) p. 140].

    Hơn nữa, Giê-su (عليه السلام) không nói gì chống lại chế độ đa thê mặc dù nó được người Do Thái thực hành trong xã hội của ông. (Cha Hillman) nhấn mạnh thực tế là nhà thờ ở Rome đã cấm đa thê để phù hợp với văn hoá Hy Lạp – La Mã (đã quy định chỉ một vợ hợp pháp trong khi không phản đối việc lấy vợ lẽ và nạn mại dâm). Ông đã trích lời St. Augustine, “Bây giờ thực sự trong thời đại của chúng ta, và để giữ phong tục La Mã, chúng ta không được phép lấy thêm vợ” [Ibid, p. 17]. Các nhà thờ châu Phi và người Thiên Chúa giáo châu Phi thường nhắc nhở các anh em châu Âu của họ về lệnh cấm chế độ đa thê của nhà thờ là một truyền thống văn hoá chứ không phải lệnh huấn thị đích thực của Thiên Chúa giáo. Qur’an cũng cho phép chế độ đa thê nhưng không bỏ qua các điều khoản:

    وَإِنْ خِفْتُمْ أَلاَّ تُقْسِطُواْ فِي الْيَتَامَى فَانكِحُواْ مَا طَابَ لَكُم مِّنَ النِّسَاء مَثْنَى وَثُلاَثَ وَرُبَاعَ فَإِنْ خِفْتُمْ أَلاَّ تَعْدِلُواْ فَوَاحِدَةً…(النساء: 3)

    “Và nếu các người sợ không thể đối xử công bằng với các con (gái) mồ côi, hãy cưới những người phụ nữ (khác) mà các người vừa ý hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn. Nhưng nếu các người sợ không thể (ăn ở) công bằng với họ (vợ) thì hãy cưới một người vợ mà thôi…” (Qur’an 4:3).

    Qur’an ngược lại với Cựu ước, giới hạn số vợ nhiều nhất là bốn dưới điều kiện nghiêm ngặt là phải đối xử với các người vợ như nhau và công bằng. Không nên hiểu rằng Qur’an thúc đẩy người có đức tin thực hành chế độ đa thê hay chế độ đa thê được coi là lý tưởng. Nói cách khác, Qur’an đã “không phản đối” hay “cho phép” chế độ đa thê, nhưng vì sao? Vì sao chế độ đa thê được cho phép? Câu trả lời thật đơn giản, có những nơi và những lúc có những lý do thuyết phục cho chế độ đa thê. Islam như một tôn giáo cho tất cả mọi người, phù hợp cho mọi lúc, mọi nơi.

    Trong hầu hết xã hội loài người, phụ nữ nhiều hơn nam giới.

    1. Ở Mỹ phụ nữ nhiều hơn nam giới ít nhất là 8 triệu người.

    2. Ở một nước như Guinea, cứ 122 phụ nữ mới có 100 nam giới.

    3. Ở Tanzania, cứ 95.1 nam giới có 100 phụ nữ [Ibid, p. 17].

    Xã hội phải làm gì về sự mất cân bằng về tỷ lệ giới như vậy?

    Có một vài cách giải quyết khác nhau, một số gợi ý sống độc thân, số khác thích việc giết trẻ sơ sinh gái (đã xảy ra ở một số xã hội ngày nay trên thế giới như Trung Quốc và Việt Nam (người dịch)). Số khác có thể nghĩ về lối thoát duy nhất là xã hội nên dung thứ cho mọi loại buông thả tình dục: mại dâm, tình dục ngoài hôn nhân, đồng tính… Một số xã hội khác, như hầu hết các xã hội châu Phi hiện nay, lối thoát xứng đáng nhất là cho phép đa thê như một thể chế được chấp nhận về văn hoá và được xã hội tôn trọng.

    Điều hay bị hiểu lầm ở phương Tây là phụ nữ ở các nền văn hoá khác không nhìn chế độ đa thê nhất thiết là một dấu hiệu của sự giảm giá trị phụ nữ. Ví dụ, nhiều cô dâu châu Phi trẻ, dù là người Thiên Chúa giáo, Muslim hay người mang tôn giáo khác, thích cưới một người đàn ông đã có vợ hơn - người đã tự chứng minh mình là một người chồng có trách nhiệm. Rất nhiều bà vợ châu Phi thúc giục chồng lấy vợ hai để họ không cảm thấy cô đơn. [Ibid., p. 92-97].

    Một cuộc điều tra trên sáu ngàn phụ nữ trong độ tuổi từ 15 đến 59 được tiến hành ở thành phố lớn thứ hai Nigeria cho thấy 60 phần trăm phụ nữ sẽ hài lòng nếu chồng họ lấy vợ nữa. Chỉ có 23 phần trăm tỏ ra giận dữ với ý kiến chia sẻ chồng với một vợ khác. Sáu mươi bảy phần trăm phụ nữ trong cuộc điều tra ở Kenya xem đa thê là tích cực. Trong một cuộc điều tra tiến hành ở vùng nông thôn Kenya, 25 trong số 27 phụ nữ coi chế độ đa thê tốt hơn chế độ một vợ một chồng. Những phụ nữ này cảm thấy chế độ đa thê có thể là một trải nghiệm hạnh phúc và có lợi nếu các bà vợ hợp tác với nhau. [Philip L. Kilbride, Plural Marriage For Our Times (Westport, Conn.: Bergin & Garvey, 1994) pp. 108-109]

    Chế độ đa thê ở hầu hết xã hội châu Phi là một thể chế được tôn trọng tới mức một số nhà thờ Tin lành ngày càng trở nên khoan dung với nó. Một giám mục của nhà thờ giáo phái Anh ở Kenya nói rằng: “Mặc dù chế độ một vợ một chồng có thể lý tưởng cho sự biểu lộ tình yêu giữa hai vợ chồng, nhưng nhà thờ nên xem xét rằng trong một số xã hội nào đó sự đa thê được xã hội chấp nhận và rằng niềm tin sự đa thê trái ngược với đạo Thiên Chúa không còn trụ được lâu hơn”. [The Weekly Review, Aug. 1, 1987]

    Sau khi nghiên cứu cẩn thận về sự đa thê ở châu Phi, đức cha David Gitari của nhà thờ giáo hội Anh đã kết luận rằng chế độ đa thê như một thực hành lý tưởng, mang đặc điểm của Thiên Chúa giáo hơn so với ly dị và cưới lại đối với các bà vợ và con cái bị bỏ rơi. (Kilbride, op. cit., p. 126). Tôi biết vài bà vợ châu Phi có giáo dục tốt mặc dù sống ở phương Tây trong nhiều năm không phản đối chế độ đa thê. Một trong số họ sống ở Mỹ, chính thức ủng hộ chồng lấy vợ hai để giúp cô ấy nuôi dưỡng con cái.

    Vấn đề mất cân bằng tỷ lệ giới trở nên thực sự khó giải quyết ở thời điểm chiến tranh. Các bộ tộc bản xứ da đỏ ở Mỹ thường trải qua việc tỷ lệ giới mất cân bằng lớn sau những mất mát thời chiến. Phụ nữ của các bộ tộc này thực tế được hưởng địa vị khá cao, đã chấp nhận chế độ đa thê là sự bảo vệ tốt nhất chống lại sự ham muốn trong các hành động không đứng đắn. Những người châu Âu định cư, không đưa ra bất kỳ lựa chọn nào khác, đã chỉ trích chế độ đa thê của người da đỏ này là ‘không văn minh’. [John D’Emilio and Estelle B. Freedman, Intimate Matters: A history of Sexuality in America (New York: Harper & Row Publishers, 1988) p. 87].

    Sau chiến tranh thế giới thứ hai, số phụ nữ nhiều hơn nam giới là 7,3 triệu người ở Đức (3,3 triệu là goá phụ). Cứ 100 đàn ông tuổi từ 20 tới 30 thì có 137 phụ nữ trong nhóm tuổi này [Ute Frevert, Women in German History: from Bourgeois Emancipation to Sexual Liberation (New York: Berg Publishers, 1988) pp. 263-264]. Nhiều phụ nữ cần đàn ông không chỉ như một người bạn mà còn là người chu cấp cho gia đình trong thời kỳ nghèo khổ và khó khăn chưa từng có. Những người lính của quân đồng minh chiến thắng đã lợi dụng chỗ yếu của phụ nữ này. Nhiều cô gái và goá phụ trẻ có quan hệ nam nữ bất chứng với các thành viên của lực lượng chiếm đóng. Nhiều lính Mỹ và Anh trả cho ham muốn của họ bằng thuốc lá, sô cô la và bánh mì. Trẻ con thì vui mừng với những quà tặng mà những người lạ này mang đến. Một đứa trẻ 10 tuổi khi nghe nói về những món quà như vậy từ các trẻ khác đã ước mơ từ đáy lòng là mẹ nó kiếm được một người đàn ông Anh để khỏi bị đói lâu thêm [Ibid, p. 257-258].

    Chúng ta phải hỏi chính lương tâm mình điểm này: “Cái gì đề cao phụ nữ hơn? Một người vợ hai được chấp nhận và tôn trọng như trong cách của người da đỏ, hay một con điếm thực sự như cách của quân đồng minh "văn minh"? Nói cách khác, cái gì đề cao phụ nữ hơn, mệnh lệnh của Qur’an hay lý thuyết dựa vào văn hoá của Đế chế La Mã?

    Thật thú vị khi chú ý rằng trong một hội nghị thanh niên quốc tế tổ chức ở Munich năm 1948, vấn đề mất cân bằng về tỷ lệ giới ở Đức đã được thảo luận. Khi mọi người không thống nhất được giải pháp nào thì một số người tham gia gợi ý chế độ đa thê. Phản ứng ban đầu của cuộc họp là hỗn hợp sốc và phẫn nộ. Tuy nhiên, sau khi xem xét cẩn thận về đề nghị này, những người tham gia đồng ý rằng đó là giải pháp duy nhất có thể. Do vậy, chế độ đa thê được bao gồm trong các tiến cử cuối cùng của hội nghị. [Sabiq, op. cit., p. 191]

    Thế giới ngày nay sở hữu nhiều vũ khí huỷ diệt hàng loạt hơn trước kia và sớm hay muộn thì các nhà thờ châu Âu sẽ bị buộc phải chấp nhận chế độ đa thê là giải pháp duy nhất. Cha Hillman đã sâu sắc nhận ra thực tế này, “Có thể tưởng tượng rằng các kỹ thuật diệt chủng này (hạt nhân, sinh học, hoá học…) có thể tạo ra một sự mất cân bằng mạnh giữa các giới đến nỗi hôn nhân đa thê sẽ trở thành một phương tiện cần thiết để tồn tại… Sau đó, trái với phong tục và luật lệ trước đây, thái độ thiên về tự nhiên và đạo đức quan trọng hơn có thể nổi lên ủng hộ chế độ đa thê. Trong hoàn cảnh như vậy, các nhà lý luận và lãnh đạo nhà thờ sẽ nhanh chóng tạo ra các lý do nặng ký và văn bản Cựu ước để thanh minh một khái niệm mới về hôn nhân.” [Hillman, op. cit, p.12].

    Cho tới ngày nay, chế độ đa thê tiếp tục là một phương thuốc khả thi cho một số bệnh xã hội của các xã hội hiện đại. Các bổn phận chung mà Qur’an nhắc tới cùng với việc cho phép đa thê vào lúc này trong một số xã hội phương Tây thiết yếu hơn ở Châu Phi. Ví dụ ở Mỹ hiện nay, có một thảm hoạ giới tính nghiêm trọng trong cộng đồng da đen.

    1. Cứ 21 nam thanh niên da đen có 1 người có thể chết trước tuổi 21.

    2. Với những người tuổi từ 20 đến 35, giết người là nguyên nhân đứng đầu gây tử vong. [Nathan hare and Julie Hare, ed., Crisis in Black Sexual Politics (San Francisco: Black Think Tank, 1989) p. 25]

    3. Bên cạnh đó, nhiều nam giới da đen thất nghiệp, vào tù hay sử dụng ma tuý. [Ibid, p. 26]

    4. Kết quả là, cứ 4 người phụ nữ da đen thì có 1 người vào tuổi 40 vẫn chưa kết hôn, ở phụ nữ da trắng tỷ lệ này là 1 trên 10 . [Kilbride, op. cit., p. 94]

    5. Hơn nữa, nhiều phụ nữ trẻ da đen trở thành mẹ độc thân trước tuổi 20 và cần người chu cấp.

    Kết cục cuối cùng của các bi kịch này là sự tăng số phụ nữ da đen tham gia ‘chia sẻ đàn ông’ [Ibid, p. 95]. Đó là nhiều phụ nữ da đen độc thân không may mắn vướng vào quan hệ với đàn ông có vợ. Các bà vợ thường không biết sự thật về những phụ nữ khác đang cùng ‘chia sẻ’ chồng với mình. Một số nhà quan sát cuộc khủng hoảng chia sẻ đàn ông ở cộng đồng người Mỹ gốc Phi kiên quyết đề nghị chế độ đa thê liên ứng làm giải pháp tạm thời cho sự thiếu đàn ông da đen tới khi có những đổi mới toàn diện hơn ở xã hội Mỹ. [Ibid] Chế độ đa thê liên ứng nghĩa là một chế độ đa thê được phê chuẩn bởi cộng đồng và tất cả các bên liên quan đều đồng ý, không giống như sự chia sẻ đàn ông bí mật thường thấy gây thiệt hại cho cả vợ và cho cộng đồng nói chung. Vấn đề của sự chia sẻ đàn ông trong cộng đồng người Mỹ gốc Phi là chủ đề của một cuộc thảo luận nhóm tổ chức ở trường đại học Temple ở Philadelphia vào ngày 27/1/1993. [Ibid., p. 95-96] Một số người phát ngôn giới thiệu chế độ đa thê như một phương thuốc tiềm năng cho cuộc khủng khoảng. Họ cũng gợi ý rằng luật pháp không nên ngăn cấm chế độ đa thê, đặc biệt trong xã hội dung thứ cho mại dâm và ngoại tình. Lời nhận xét của một phụ nữ mà người Mỹ gốc Phi cần phải học từ châu Phi nơi chế độ đa thê được thực hành một cách hợp lý tạo ra một tràng vỗ tay nhiệt tình.

    Philip Kilbride, một nhà nhân loại học người Mỹ thuộc nhà thờ La Mã Thiên Chúa, trong cuốn sách gây chú ý của ông, ‘Đa thê cho thời đại của chúng ta’, đã đề xuất chế độ đa thê là cách giải quyết triệt để cho một số vấn đề tồn tại của xã hội Mỹ. Ông biện luận rằng đa thê có thể là một lựa chọn tiềm năng thay cho ly dị trong nhiều trường hợp để ngăn ngừa ảnh hưởng xấu của ly dị lên con cái. Ông xác nhận rằng nhiều cuộc ly dị xảy ra do quan hệ ngoại tình quá nhiều trong xã hội Mỹ. Theo Kilbride, kết thúc một quan hệ ngoại tình bằng một hôn nhân đa thê tốt cho con cái hơn là ly dị, “nếu mở rộng gia đình thì con cái sẽ được phục vụ tốt hơn so với chia rẽ và giải tán được xem như là sự lựa chọn.”. Hơn nữa, ông gợi ý rằng các nhóm khác cũng sẽ hưởng lợi từ đa thê như: phụ nữ nhiều tuổi - những người đối mặt với sự thiếu đàn ông lâu dài và những người Mỹ gốc Phi - những người đang phải chia sẻ đàn ông. [Ibid, p. 118]

    Năm 1987, một cuộc thăm dò ý kiến được thực hiện bởi một tờ báo sinh viên ở trường đại học ‘California at Berkely’ đã hỏi sinh viên rằng họ có đồng ý với việc đàn ông nên được pháp luật cho phép lấy nhiều vợ để đối phó với sự thiếu đàn ông để kết hôn đã thấy ở California. Hầu như tất cả sinh viên được thăm dò ý kiến đồng ý với ý kiến trên. Một nữ sinh viên thậm chí nói rằng hôn nhân đa thê sẽ đáp ứng nhu cầu tình cảm và thể chất của cô ấy trong khi cho cô ấy sự tự do lớn hơn so với hôn nhân một vợ một chồng. [Lang, op., cit., p.172] Thực tế, lý luận này cũng được vài phụ nữ Mormon chính thống còn lại sử dụng - những người vẫn thực hành chế độ đa thê ở Mỹ. Họ tin rằng chế độ đa thê là một cách lý tưởng cho phụ nữ để có cả sự nghiệp và con cái vì các bà vợ giúp đỡ nhau chăm sóc bọn trẻ. [Kilbride, op. cit., p. 72-73]

    Phải nói thêm rằng chế độ đa thê trong Islam là một vấn đề có sự đồng ý của cả hai bên. Không ai có thể ép buộc một phụ nữ lấy một người đàn ông đang có vợ. Bên cạnh đó, người vợ có quyền đặt điều kiện cho người chồng không lấy vợ hai. [Sabiq, op. cit., p. 187-188]

    “Cựu ước mặt khác đôi khi phải viện đến chế độ đa thê bằng vũ lực. Một bà goá không có con phải cưới anh/em trai của chồng, thậm chí nếu anh ta đã kết hôn (xem phần “Cảnh khó khăn của bà goá”), bất chấp cô ta đồng ý hay không” (Genesis 38:8-10).

    Cần chú ý rằng nhiều xã hội Muslim ngày nay hiếm khi thực hành chế độ đa thê vì sự chênh lệch về dân số giữa nam và nữ không lớn.

    Người ta có thể nói chắc chắn rằng tỷ lệ hôn nhân đa thê trong thế giới muslim ít hơn nhiều so với tỷ lệ ngoại tình ở phương Tây. Nói cách khác, đàn ông ở thế giới muslim ngày nay đang ở chế độ một vợ một chồng nghiêm khắc hơn nhiều so với đàn ông ở thế giới phương Tây.

    Billy Graham, người truyền bá Phúc âm nổi tiếng đã nhận ra thực tế này: “Thiên Chúa giáo không thể dàn xếp vấn đề về chế độ đa thê. Nếu Thiên Chúa giáo ngày nay không thể làm việc đó, đó là sự thiệt hại của riêng nó. Islam cho phép chế độ đa thê như là một giải pháp cho các vấn đề của xã hội và cho phép một phạm vi nhất định cho bản tính loài người nhưng chỉ trong khuôn khổ luật pháp nghiêm ngặt. Các nước Thiên Chúa giáo theo chế độ một vợ một chồng nhưng thực tế họ thực hành chế độ đa thê. Không ai là không biết về tình nhân (già nhân ngãi non vợ chồng) lén lút trong xã hội phương Tây. Về khía cạnh này, Islam là một tôn giáo trung thực về cơ bản, và cho phép một người muslim cưới vợ hai nếu anh ta phải làm như vậy, nhưng cấm triệt để tất cả sự kết giao tình ái bí mật để bảo vệ tính trung thực về đạo đức của cộng đồng.” [Abdul Rahman Doi, Woman in Shari’ah (London: Ta-Ha Publishers, 1994) p. 76]

    Nhưng, ta nhận thấy rằng ngày nay ở nhiều nước không có muslim và những phụ nữ muslim nghiêm cấm chế độ đa thê, và việc lấy vợ hai, thậm chí với sự đồng ý của vợ cả là vi phạm luật pháp. Mặt khác, lừa gạt vợ, không cho cô ấy biết hoặc cô ấy không đồng ý là hoàn toàn hợp pháp theo pháp luật! Đâu là sự sáng suốt của luật pháp đằng sau một mâu thuẫn như vậy? Có phải luật pháp được lập nên để ủng hộ dối trá và trừng phạt tính trung thực? Đó là một trong những nghịch lý không thể hiểu được của thế giới “văn minh” hiện đại của loài người?

  6. #6
    Join Date
    Sep 2009
    Posts
    1,326
    Thanks
    24
    Thanked 55 Times in 39 Posts

    Default Re: Người anh em: Hãy tỉnh thức

    Nhưng, ta nhận thấy rằng ngày nay ở nhiều nước không có muslim và những phụ nữ muslim nghiêm cấm chế độ đa thê, và việc lấy vợ hai, thậm chí với sự đồng ý của vợ cả là vi phạm luật pháp. Mặt khác, lừa gạt vợ, không cho cô ấy biết hoặc cô ấy không đồng ý là hoàn toàn hợp pháp theo pháp luật! Đâu là sự sáng suốt của luật pháp đằng sau một mâu thuẫn như vậy? Có phải luật pháp được lập nên để ủng hộ dối trá và trừng phạt tính trung thực? Đó là một trong những nghịch lý không thể hiểu được của thế giới “văn minh” hiện đại của loài người?


    Ông đã bị chạm nọc khi đoc bài về người chân chính
    nên ông biện hộ cho cái tật dâm dục của mình, Ông cứ hõi vợ ông thích ông lấy vợ bé để đóng film x cho bà ấy xem nhé
    Hoặc ông đem con gái của ông biếu không cho mấy tên khủng bố xem sao?
    Ông là người ngoan cố ,lí luận "cùn" để lừa gạt trẻ thơ, hoặc ông là người "không bình thường" chỉ biết ăn , ngủ và nói càn ???
    Theo tôi thì Ông nên tình nguyện qua Iraq, hay Pakis,hoặc Afga dẽ đựoc hưởng nhiều "đàn bà" sau đó nhân danh alah giết mấy thằng nào không phải giáo phái của ông đi, đẻ kiếm thêm vợ cho nó "sướng cái đời mẹ đĩ"...thiệt là ấu trĩ không trách gì bọn muslim khủng bố lẫn nhau hàng ngày.


    * Không binh thường"= mất tính người = Khùng=cà tửng
    Last edited by KiemSi; 01-14-2014 at 06:39 PM.
    Mỗi dòng chữ như một tuyệt chiêu kiếm thế...để trừng trị những tên bưng bô, và những kẻ gian thần tà đạo...

  7. #7
    Join Date
    Sep 2012
    Posts
    345
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts

    Re: Người anh em: Hãy tỉnh thức

    Quote Originally Posted by KiemSi View Post
    Nhưng, ta nhận thấy rằng ngày nay ở nhiều nước không có muslim và những phụ nữ muslim nghiêm cấm chế độ đa thê, và việc lấy vợ hai, thậm chí với sự đồng ý của vợ cả là vi phạm luật pháp. Mặt khác, lừa gạt vợ, không cho cô ấy biết hoặc cô ấy không đồng ý là hoàn toàn hợp pháp theo pháp luật! Đâu là sự sáng suốt của luật pháp đằng sau một mâu thuẫn như vậy? Có phải luật pháp được lập nên để ủng hộ dối trá và trừng phạt tính trung thực? Đó là một trong những nghịch lý không thể hiểu được của thế giới “văn minh” hiện đại của loài người?


    Ông đã bị chạm nọc khi đoc bài về người chân chính
    nên ông biện hộ cho cái tật dâm dục của mình, Ông cứ hõi vợ ông thích ông lấy vợ bé để đóng film x cho bà ấy xem nhé
    Hoặc ông đem con gái của ông biếu không cho mấy tên khủng bố xem sao?
    Ông là người ngoan cố ,lí luận "cùn" để lừa gạt trẻ thơ, hoặc ông là người "không bình thường" chỉ biết ăn , ngủ và nói càn ???
    Theo tôi thì Ông nên tình nguyện qua Iraq, hay Pakis,hoặc Afga dẽ đựoc hưởng nhiều "đàn bà" sau đó nhân danh alah giết mấy thằng nào không phải giáo phái của ông đi, đẻ kiếm thêm vợ cho nó "sướng cái đời mẹ đĩ"...thiệt là ấu trĩ không trách gì bọn muslim khủng bố lẫn nhau hàng ngày.


    * Không binh thường"= mất tính người = Khùng=cà tửng
    Islam không ủng hộ hay cấm đoán đa thê .Islam cho con người tự quyết định miển sao cuộc sống gia đình của họ được hạnh phúc mà thôi . Bác có chắc là đơn thê sẻ đem lại hạnh phúc khg ? Chắc chắn là khgông vì thế mà tình trạng các ông chồng đi ngoại tình ngày càng tăng cao .....hâu hết các chính trị gia có máu mặt đều lén lút ngoại tình. Quan điểm 1 vợ 1 chồng là do Ky Tô giáo đề ra , nhưng trong kinh thánh thì không hề nói đến. Sở dỉ quan điểm nầy được giáo hội Ky Tô giáo áp dụng là vì trước khi luật tu sỉ độc thân được áp dụng khoảng thế kỷ 11 , thì các tu sỉ Ky Tô giáo đều có vợ,trong các giáo hoàng có người có đến 2 hoặc 3 vợ. CHính vì thế mà tài sản của giáo hội thường bị thất thoát , nên giáo hội mới ra luật cấm tu sỉ có vợ , nhưng luật nầy mải đến thế kỷ 16 mới chính thức được chấp nhận ...khi Ky Tô giáo nhập vào Việt Nam thì họ củng mang luật nầy vào , trong khi đa thê vẩn là truyền thống của dân tộc ta , các giấy khai sinh của Việt Nam dưới thời Pháp thuộc có điều khoản ghi rỏ bé sơ sinh là con của vợ 1 hay vợ 2 ........bác có lẻ không biết điều đó nên quơ lấy chuyện bà vơ làm chân lý của của cuộc sống ... ....ngày nay tình trạng chồng ngoại tình gia tăng đến mức báo động tại Việt Nam , mời bác vào link dưới đây :

    http://tuvanluatdoanhnghiep.com.vn/T...uoc/410/8.html

  8. #8
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    12,870
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Người anh em: Hãy tỉnh thức

    Quote Originally Posted by adam_nguyen View Post
    Ảnh một em bé Irak bị quân đội Mỷ bắn nát sọ trong cuộc chiến xăm lược xứ nầy của G. Bush ...người phương tây yêu thương và giúp đở người HG như thế đấy :

    VC chỉ giỏi gán ghép bậy bạ để đổ vạ lên đầu quân đội Mỹ trong lúc đó quân đội Mỹ phải hy sinh với gia đình của họ để sang cứu đói cho những nước nhỏ bị chiến tranh ..thì thử hổi mấy tên này chỉ biết vu khống một cách vô tội vạ chớ thật sự KHÔNG hiểu do đâu một em bé bị quân đội Mỹ bắn vào đầu ??? Chỉ có Cộng Sản có giòng máu lạnh mới có những hành động giết người dã man như thế! Đừng cố tình che dấu cái mác đạo này đạo nọ để đội lốt VGCS!

    Name:  americrime7.jpg
Views: 268
Size:  11.0 KB

    .......................................

    Tôi muốn post bài này để cho tất cả các tín đồ đạo Tôn Giáo đọc để đề phòng những kẻ VGCS nằm vùng mượn danh Phật Tử để làm ô uế Giáo Lý Nhà Phật! Xin ĐỪNG mắc bẫy vào sự đá kích lòng Hận Thù Chia Rẽ Tôn Giáo của VGCS... vì đạo lý nhà ai nấy giữ ...không liên quan tới những bài báo có tính cách mị dân để "khuấy động" lòng tin của người của khác! Sự Thật thì mích lòng! Bản thân cá nhân nào đọc ở đâu những bài báo nào có tính cách "mị dân" và "đầu độc" giới trẻ qua các văn chương "bài bác, mạ lỵ, và thóa mạ" đạo Tôn Giáo để lật đổ niềm tin của các đạo Tôn Giáo thì trách nhiệm của các quý vị đọc giả là phải "giải độc" ngay tức khắc! Lấy độc trị độc thì chúng ta mới "duy trì" và "giữ gìn nguồn gốc" của Dân Tộc Việt một cách nghiêm túc! Xin Cám Ơn nhiều!

    Trích từ Yahoo:

    Trần Chung Ngọc là ai? Tại sao ông hay chỉ trích KITÔ giáo?

    vào trang sachhiem.net, thấy những bài viết của ông đa phần là chỉ trích Chúa Giêsu và Kitô Giáo. Theo mình biết, ông là Phật tử đã quy y tam bảo.Vậy ông chỉ trích như vậy nhằm mục đích gì? Những gì ông trích dẫn trong bài viết có đúng sự thật không?

    Vào đây tham khảo:
    http://www.sachhiem.net/TCN/Ndir.php

    Le đã trả lời 5 năm trước
    Không phải đâu bạn ơi, một Phật Tử đã quy y tam bảo KHÔNG bao giờ chỉ trích tôn giáo khác, vì nếu như thế người đó KHÔNG còn xứng đáng là Phật Tử nữa vì đã KHÔNG nghe lời PHẬT. Hiện nay có một thế lực đen tối đang nhắm đến việc chia rẽ tôn giáo. Trong cộng đồng này có người dùng lời lẽ rất thô tục để ma lị người TCG nhưng đó không phải là Phật Tử đâu. Bạn đừng để cho mình lọt vào bẫy chia rẽ tôn giáo.


    Le anh K đã trả lời 5 năm trước


    Quan điểm giáo lý Phật và cá nhân mình luôn phản đối chyện Phật tử đi chỉ trích tôn giáo khác.

    Nhưng dù Ông Ngọc có là Phật tử đi nữa thì trước hết ông cũng là con người và là người gốc Việt

    Ông viết bài tất cả đều ký tên Trần Chung Ngọc chứ ko phải dùng Pháp Danh. Rõ ràng Ông KHÔNG đứng trên quan điểm của Phật tử mà viết. (hầu như Ông ta ko viết bài nào với mục đích (hay có ý) so sánh Phật giáo Kitô giáo)


    Chân dung cư sĩ Phật Giáo: cs.Minh Mẫn, cs.Trần Chung Ngọc - đều là thứ mất dạy như nhau!?

    PtsDesigner đã hỏi 2 năm trước

    Có lẽ ở tiêu đề tôi dùng từ "mất dạy" không hợp lắm với 2 vị cư sĩ này. Bởi một ông đã già đến ~80 tuổi (TCN), một ông kia cũng khoảng ngoài 50 tuổi, cái tuổi dạy dỗ con-cháu-chắt. Nhưng ở tuổi ngần ấy mà vẫn mang kè kè bản chất DÂM LOẠN tự tâm thì các ông dạy gì cho lũ cháu đàn con?! Tấm gương các ông để lại cho con cháu là thế nào?

    Đây là 2 vị cư sĩ thuộc loại đức cao vọng trọng ở Phật Giáo VN. Các bạn cứ tìm với từ khóa là tên của họ kèm tên các web Phật giáo VN (như: daophatngaynay, phattuvietnam, quangduc, chuaphuclam, thuvienhoasen, hoangphaphanoi...) sẽ thấy xuất hiện nhan nhản. Các bạn cũng sẽ thấy 2 vị cư sĩ này được tán dương, được trọng vọng, được thần tượng bởi các Phật tử tới mức nào.

    Các ông đều là cư sĩ Phật Giáo (tu hành Phật Pháp tại gia). Hằng ngày vài chục năm qua các vị cư sĩ ấy vẫn miệt mài tu tập Phật Pháp để nuôi dưỡng Phật Tâm.

    Và kết quả chính là Phật Tâm có được qua tu học Phật Pháp là đây:

    (Không có thời gian rỗi để đọc và thu thập nhiều dẫn chứng, có lẽ không cần nhiều, chỉ 1 điển hình là đủ nhận ra Phật Tâm là thế nào).

    * Lời lẽ có thể xem là "khẩu Phật" xuất phát từ "Phật tâm" của cư sĩ Phật giáo Trần Chung Ngọc:

    Cha nói là Chúa nói, Cha chơi là Chúa chơi tức là thêm sức cho con dân “C” đến gần với Chúa…Cha lắp đít con nít là Chúa lắp đít… ” [đó là ý Chúa, amen ]

    http://nhandanvietnam.wordpress.com/2011...

    Lời lẽ này bởi cư sĩ Phật giáo Trần Chung Ngọc trên sachhiem ngày 21/09/'08, trên dongduongthoibao ngày 23/09/'08 và trên nhandanvietnam ngày 20/09/'08.

    * Ý tưởng và lời lẽ từ Phật tâm của cư sĩ Phật giáo Minh Mẫn:

    Bài viết về "đạo Mẫu" có chút ít liên quan tới[B] Phật Giáo[/B], không liên quan gì đến Công Giáo nhưng vị cư sĩ này lại chủ tâm chèn hình của ĐGH Gioan Phaolo II vào với mấy dòng chữ dung tụcdâm đãng thế này: Pope J Paul II - ta bị lột màng não rồi. Giám đốc Cty nhà thổ Vatican, bệnh viện Vati chuyên lột màng não con chiên để vá màng trinh, giá bèo.

    http://minhmancusi.blogspot.com/2011/1/h...

    Chúa Giê-su có dạy: “Lòng có đầy thì miệng mới nói ra”. Tu Phật Pháp miệt mài nhưng lòng có đầy sân si, DÂM ĐẢNG nên mới tuôn xả ra như thế.

    Tôi nghĩ tôi không cần bình luận gì thêm. Những tấm gương sáng cho con cháu và các Phật tử khác noi theo là đấy!


    TRAVEL đã trả lời 2 năm trước

    Chúa jesus có nói : " Ngươi chỉ thấy cọng rơm trong mắt người khác,mà không nhìn thấy cây đà trong mắt của ngươi .Đồ đạo đức giả ". Đừng phán xét ai để người ta phán xét lại ngươi. Hỡi tôi tớ Chúa.

    Cư sĩ Trần Chung Ngọc dốt nát về khoa học hay tự mình thêm bớt bậy bạ vào Kinh Thánh?
    đã hỏi 3 năm trước

    Tình cờ tôi đọc được bài viết "Khoa học trong Kinh Thánh" của cư sĩ Trần Chung Ngọc đăng trên trang ĐẠO PHẬT NGÀY NAY, qua những đoạn viết bá láp, tôi thấy ông cư sĩ Ngọc chẳng hiểu biết gì về KiTô giáo, lại còn cái trò thêm bớt, cắt xén, xuyên tạc Kinh Thánh cho phù hợp mục đích hạ cấp, bẩn thỉu của ông ta.

    http://www.daophatngaynay.com/vn/dien-da...

    Ví dụ Điển hình là 1 đoạn trong bài viết của ông ta:

    "...Nếu chúng ta đọc cuốn Kinh Thánh của Ki Tô Giáo thì chúng ta sẽ thấy trong đó Gót nói về khoa học đại khái như sau: Trái Đất ra từ nước và làm nên ở giữa nước (2 Peter 3:5); Trái Đất đứng yên (1Chron. 16:30);..."

    Trong (2 Peter 3:5) mô tả như sau: Từ lâu đã có Trời và Đất, và Đất từ Nước mà ra và nhờ Nước mà đứng vững do lời của Thiên Chúa.


    Chỉ có mỗi chữ Đất (Lục địa) từ Nước mà ra. Trần Chung Ngọc Ngọc cả gan thay đổi Kinh Thánh bằng cách bê quả Địa Cầu (thay cho Lục địa) vào để mà phá rối.

    Nhớ ko lầm thì Trần Chung Ngọc từng bắt bẻ "KiTô giáo cho rằng Thế giới dẹt và bằng phẳng". Như vậy thì làm gì có chuyện KiTô giáo cho rằng "quả Địa Cầu tròn ra từ nước và làm nên ở giữa nước". Tư tưởng gian manh của Trần Chung Ngọc đã tạo ra 1 trò hề mâu thuẫn .

    Vậy thực hư ra sao :

    Sách Khoa Học Trái Đất của GS.TS Lưu Đức Hải ghi nhận:

    Địa cầu từ ngày thành lập, trải qua không biết bao lần đổi thay địa chất, đại dương và khí hậu. Vỏ trái đất nguội dần, đại dương và biển cả thành lập, ban đầu nước biển còn ngọt, về sau mặn dần do tích tụ muối khoáng rữa từ đất đá của lục địa. Sau đó Đất liền nổi lên thành lục địa.

    Như vậy Kinh Thánh nói Đất từ Nước mà ra có gì gọi là sai ko?

    Cho đến ngày nay, nhiều người tin rằng giáo hội chủ trương rằng trái đất thì bằng phẳng cho đến khi khoa học hiện đại chứng minh là nó hình tròn.

    Trên thực tế, người Hy Lạp xưa và Kitô Hữu thời trung cổ đều biết rằng trái đất thì tròn. Họ quan sát thấy thân tầu buồm thì biến dạng trước đỉnh cột buồm. Họ cũng thấy rằng khi nguyệt thực, trái đất tạo nên bóng tròn trên mặt trăng. Vũ trụ học của thần học gia Dante thời trung cổ được dựa trên ý tưởng khối cầu của trái đất. Bởi thế ý nghĩ cho rằng giáo hội tin là trái đất bằng phẳng, đó là một pha chế của những người tuyên truyền chống tôn giáo vào thế kỷ mười chín.

    Trong (1Chron. 16:30) mô tả: Chúa thiết lập địa cầu, địa cầu chẳng lay chuyển. Từ "chẳng lay chuyển" nghĩa là "bền vững mãi". Thực tế ở ngoài Vũ trụ có rất nhiều hành tinh đã bị hủy diệt trước đó, như những hành tinh quỹ đạo đi sát Mặt Trời bị thiêu rụi hay như hiện tượng sao lùn trắng xé toạc cả 1 hành tinh. Kinh Thánh thuật lại lời Thiên Chúa đã phán Địa Cầu sẽ ko bị hủy diệt cho tới ngày Cánh chung

    Thế nhưng Trần Chung Ngọc ko ngại bản chất bỉ ổi, vô liêm sỉ xuyên tạc rằng "Kinh Thánh nói quả Địa Cầu đứng yên"

    Vậy xin hỏi : Tổng biên tập trang Đạo Phật Ngày Nay có óc có tim để suy xét trước khi đăng bài ko?


    Xin mời tất cả đọc giả đọc bài này để suy gẫm xem tên Trần Chunh Ngọc hạng người nào!


    "[B]Chúa Giê-su Là Ai? Giảng Dạy Những Gì?"[/B] của Trần Chung Ngọc.

    Năm qua (2002), làng văn hóa Việt Nam ở hải ngoại vừa có thêm một "tác phẩm" mới, nhằm "mở mang dân trí" để góp phần vào việc tạo "điều kiện tất yếu cho sự tiến bộ quốc gia". "Tác phẩm" này có tựa đề "CHÚA GIÊ-SU LÀ AI? GIẢNG DẠY NHỮNG GÌ?" do nhà "trí thức được đào tạo trên căn bản lương thiện" Trần Chung Ngọc "khảo luận" qua các tài liệu và Thánh Kinh, và do Giao Điểm xuất bản vào mùa Xuân 2002.

    Trong phần "Lời nói đầu", Tác giả khẳng định: "Tôi không chủ trương hận thù hay chia rẽ, nhưng tôi quan niệm rằng sự mở mang dân trí là điều kiện tất yếu của sự tiến bộ quốc gia, và sự hòa hợp trong các khối dân tộc chỉ có thể có khi chúng ta hiểu rõ tín ngưỡng của nhau và tìm những phương cách để cùng nhau chung sống trên đất nước thân yêu của chúng ta. HẬN THÙ CHIA RẼ bắt nguồn từ sự THIẾU hiểu biết chứ không từ sự hiểu biết những sự thực tôn giáo." (Trang V - CGSLAGDNG). Thật là một tâm tình rất đáng ngưỡng phục!

    Tuy nhiên, sau khi lướt qua "tác phẩm" CGSLAGDNG (CHÚA GIÊ-SU LÀ AI? GIẢNG DẠY NHỮNG GÌ?) của Trần Chung Ngọc, tôi thật sự thất vọng, một nỗi thất vọng lớn, và tiếc cho $15 đã bỏ ra mua "sách". Cái mà Giao Điểm giới thiệu: "thuộc loại nghiên cứu ở trình độ cao của một trí thức đã được đào tạo trên căn bản lương thiện và trong tinh thần khoa học của một khoa học gia, một nhà Vật Lý học", thực chất chỉ là một tổng hợp rác rưởi tư duy của những nhà "trí thức" hoang tưởng.

    Những "lý luận" của các nhà "trí thức" này nếu dùng để viết một bài văn nghị luận bậc trung học còn không đáng để được điểm trung bình. Cách trưng dẫn và giải thích Kinh Thánh của những "trí thức gia" này cho thấy rõ sự vô trí của họ. Trần Chung Ngọc chỉ làm công việc "lượm rác" trong những đống phế thải của tư tưởng nhân loại, vậy mà Giao Điểm lại huênh hoang gọi đó là một "tác phẩm thuộc loại nghiên cứu ở trình độ cao của một trí thức đã được đào tạo trên căn bản lương thiện và trong tinh thần khoa học của một khoa học gia, một nhà Vật Lý học". Thử hỏi, ngày hôm nay, nếu chúng ta muốn tìm hiểu về thực chất của XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, chúng ta sẽ đi tìm tài liệu ở đâu? Phải chăng chúng ta sẽ gom góp các tác phẩm của những cây viết của nhà văn chế độ cũ, cóp nhặt những đoạn ưng ý nhất của các tác giả đó, đem in thành một cuốn "sách", đặt cho nó cái tên: "XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Là GÌ? Đã Chiến Đấu Như Thế Nào"? Hai điểm nổi bật nhất trong "tác phẩm" CGSLAGDNG của Trần Chung Ngọc là:

    1) Thật ra Trần Chung Ngọc mượn tên Chúa Jesus để đánh phá Công Giáo. Hơn một nửa những gì Trần Chung Ngọc "viết" trong đó là đả kích Công Giáo. Chính chỗ này nói lên sự "lương thiện" của Trần Chung Ngọc. Sợ rằng, tiếp tục lấy tựa đề đả kích Công Giáo thì sẽ không "ăn khách" nữa, bởi giáo dân Công Giáo đâu có thừa tiền để bỏ ra nghe người ta chửi mình, còn Phật tử thuần thành thì đâu có chấp nhận sự sân si bài xích tôn giáo của người khác theo kiểu "đấu tố" một chiều của cộng sản. Ngay trong mấy trang đầu của cuốn "sách", Trần Chung Ngọc đã cho đăng hình của Giáo Hoàng John Paul II và hình vẽ cảnh linh mục Công Giáo thiêu sống thổ dân từ chối theo đạo. Những cái hình này có liên quan gì đến Chúa Jesus và sự giảng dạy của Chúa?

    Có thể nào, viết một cuốn sách lấy tên là "Đức Phật và Phật Pháp" rồi cho đăng hình mấy sư đeo mắt kính đen, ngồi xe jeep Mỹ, hút thuốc lá Mỹ, "chỉ đạo" những cuộc biểu tình chống Mỹ? Có thể nào đem chuyện "bàn thờ Phật xuống đường", hoặc chuyện mấy sư hổ mang, mấy dâm tăng ra để thóa mạ Phật Thích Ca Phật Pháp? Thiết tưởng, một trí thức, lại là một trí thức "được đào tạo trên căn bản lương thiện" phải biết thế nào là một việc làm lương thiệnkhông lương thiện. Thiết tưởng, một Phật tử thuần thành, lại là một "trí thức" Phật tử, không thể nào mở miệng, đặt bút để thóa mạ một ai. Nói lên một sự thật, khác với nhân danh sự thật để thóa mạ "chúng sinh".

    Trong quan điểm chân chính của Phật giáo: "Chúng sinh là Phật chưa thành!". Có thể nào, một Phật tử lại nhân danh này, nhân danh nọ (mở mang dân trí, đoàn kết dân tộc, bảo tồn văn hóa ...) là những cái "danh" tự nó cũng KHÔNG thật (theo thuyết Vô Ngã) để nhục mạ những vị "Phật sẽ thành"? Sự ngã mạn, biên kiến của Trần Chung Ngọc đối với Cơ đốc giáo nói chung, đối với Công Giáo La mã nói riêng, đã cho người đọc thấy rõ, Trần Chung Ngọc KHÔNG phải là một Phật tử thuần thành. Bởi lẽ, một Phật tử chân chính, cho dù không có tri thức cao về văn hoá, về Phật học, cũng biết là thái độ, lời ăn tiếng nói, bài viết của Trần Chung Ngọc KHÔNG xứng hợp với những ai tự cho mình là con Phật. Một cái miệng tụng niệm "Đức Phật đã thành", không thể nào thoát ra những lời ngã mạn, đê tiện, hạ nhục những vị "Phật sẽ thành".


    2) Tôi xin đăng lại nguyên văn phát biểu trên giấy trắng mực đen của Trần Chung Ngọc, để quý bạn đọc tự thẩm định:

    "Chính quyền Việt Nam cần phải ý thức được cái hiểm họa Ki Tô, Ca Tô cũng như Tin Lành, nếu không muốn truyền thống dân tộc và văn hóa của Việt Nam bị xóa sạch trong tương lai, rơi vào vòng nô lệ Vatican hay Tin Lành, bình phong tôn giáo của các đế quốc tư bản Âu Mỹ." (Trang 10, CGSLAGDNG)

    Tôi muốn hỏi Trần Chung Ngọc là chắc ông ta rất đau khổ khi phải sống trong "vòng nô lệ" Tin Lành trên đất nước "đế quốc tư bản" Mỹ này chăng?

    Chứ Trần Chung Ngọc không muốn cho dân tộc Việt Nam "chịu" đau khổ trong "vòng nô lệ" Vatican như dân Ý hoặc trong "vòng nô lệ" Tin Lành như dân Mỹ. Đến lúc nào Trần Chung Ngọc sẽ viết "sách" kêu gọi giải phóng nhân dân Ý và nhân dân Mỹ, để thành toàn "nghĩa vụ quốc tế" ???

    Nhưng, chính Trần Chung Ngọc lại tự mình mâu thuẫn với chính mình khi cũng trong bài "Lời Nói Đầu" Trần Chung Ngọc viết rằng: "Sự hòa hợp tôn giáo trong các nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ, nơi đây có vô số những sách viết về mọi tôn giáo, là một tấm gương để chúng ta soi vào." (Trang V - CGSLAGDNG). Thật là lạ lùng cho lối tư duy của "trí thức" Trần Chung Ngọc. Chỉ cách nhau 12 trang giấy, Trần Chung Ngọc vừa "soi" vào tấm gương hòa hợp tôn giáo ở các nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ xong, thì lại lớn tiếng cảnh báo chính quyền cộng sản Việt Nam coi chừng bị rơi vào "vòng nô lệ" Vatican hay Tin Lành, bình phong tôn giáo của các đế quốc tư bản Âu Mỹ." Vậy,

    Trần Chung Ngọc viết tiếp:

    "Chính quyền và người dân Việt Nam cần ý thức được tầm quan trọng của sự mở mang dân trí. Nếu không muốn mang tội với dân tộc trong lịch sử Việt Nam, chính quyền Việt Nam cần đẩy mạnh nỗ lực mở mang dân trí. Đây chính là sách lược then chốt để ngăn chặn sự xâm nhập văn hóa Việt Nam qua những luận điệu mê hoặc hoang đường của Ki Tô Giáo, đồng thời là cái chìa khóa để mở rộng cánh cửa tiến bộ về mọi mặt của nước nhà." (Trang 11 - CGSLAGDNG)

    Trong phần "Lời Giới Thiệu" của Giao Điểm (không biết do ai viết hay cũng do chính Trần Chung Ngọc viết) có đoạn sau đây:

    "Trong Chương II, Giáo sư Trần Chung Ngọc đã dẫn từ Thánh Kinh, Tân Ước, thuần túy từ Tân Ước, những lời Chúa Giê-su nói và những hành động của Người, và đưa ra một phân tích tổng hợp mà chúng tôi tin chắc quý bạn chưa bao giờ được nghe hoặc biết đến, vì người ngoại đạo cũng như người trong đạo thường không đọc Thánh Kinh, và dĩ nhiên, chẳng có ai mang những điều này ra giảng trong các nhà thờ." (Lời Giới Thiệu - CGSLAGDNG)

    Chắc chắn là những lời giải thích xuyên tạc, vô trí thức về Thánh Kinh thì tín đồ Cơ đốc giáo chẳng muốn nghe. Nhưng nói là "người trong đạo thường không đọc Thánh Kinh" thì thật là không biết phải đánh giá "trí thức" của các "đại trí thức gia" Giao Điểm như thế nào! Tự xưng là "trí thức" đuợc đào tạo trên căn bản lương thiện không biết rằng nếp sống đạo của Cơ đốc nhân dựa trên mối tương giao mật thiết với Đức chúa Trời bằng hai yếu tố bất khả phân ly: sự cầu nguyện và sự đọc Kinh Thánh. Cầu nguyện được gọi là hơi thở tâm linh, còn Kinh Thánh được gọi là thức ăn tâm linh của người theo Chúa. Đời sống đức tin của người theo Chúa chỉ có thể tăng trưởng khi người ấy cầu nguyện và đọc Kinh Thánh.

    Những sách giải kinh, những bài giảng về các câu Kinh Thánh Trần Chung Ngọc dẫn trong Chương II của cuốn "sách" CGSLAGDNG, nhiều đến nỗi hầu như một người không có đủ thời gian để mà đọc cho hết, vậy mà các "trí thức" Giao Điểm dám nói khơi khơi là "người ngoại đạo và người trong đạo thường không đọc Thánh Kinh, và dĩ nhiên, chẳng có ai mang những điều này ra giảng trong các nhà thờ." Các "trí thức" Giao Điểm hình như không thèm biết cái "sự thật" Kinh Thánh là một cuốn sách được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất trên thế giới, được in ra nhiều nhất trên thế giới, và thay đổi cuộc đời của nhiều người nhất trên thế giới. Nếu người trong đạo và ngay cả người ngoài đạo không đọc Kinh Thánh (chẳng biết Trần Chung Ngọc, quý "trí thức gia" Giao Điểm, và quý "trí thức gia" được Trần Chung Ngọc đăng, thuộc về người trong đạo hay người ngoài đạo?) thì Kinh Thánh được dịch và in ra để làm gì, từ năm này sang năm khác, và giá bán một quyển Kinh Thánh hoặc các sách giải kinh, các sách thần học không phải là rẻ, nếu so với các loại sách khác. Ở đây, chỉ nói để mà so sánh chứ không phải để khen chê, con số các cơ sở Phật Học Viện trên toàn thế giới cũng không nhiều bằng con số các Thần Học Viện chỉ riêng tại nước Mỹ; Con số các nhà sách Phật Học trên toàn thế giới gom lại cũng không nhiều bằng con số các nhà sách Thần Học chỉ trong một tiểu bang CA hoặc TX của Mỹ (cứ vào internet để search thì rõ). Con số kinh sách, giảng luận Phật Học được in ra trên toàn thế giới, cũng không nhiều bằng chính bản thân cuốn Kinh Thánh được in ra, chứ chưa nói đến các sách vỡ thần học và giải kinh!

    Tôi muốn nói cho Trần Chung Ngọc và nhà "trí thức" Giao Điểm nào đó viết lời giới thiệu cho Trần Chung Ngọc, biết rằng bất kỳ một câu Kinh Thánh nào Trần Chung Ngọc dẫn trong phần II của cuốn CGSLAGDNG, cũng đều được "người trong đạo" phân tích, giảng luận ít nhất là 10 lần hơn bất kỳ một câu kinh Phật nào được Phật tử phân tích và thuyết giảng. Tôi thách thức Trần Chung Ngọc "khảo cứu" một câu kinh Phật được phân tích và thuyết giảng nhiều nhất, được ghi lại trên giấy trắng mực đen, để xem câu kinh đó được phân tích và thuyết giảng bao nhiêu lần; rồi tôi sẽ chứng minh bằng sách vỡ, bất kỳ một câu Kinh Thánh nào mà Trần Chung Ngọc dẫn trong phần II của cuốn CGSLAGDNG, cũng đều được phân tích và giảng dạy ít nhất là 10 lần hơn câu kinh Phật đó.

    Ở đây, không phải tôi muốn đưa ra sự hơn thua về tính "phổ thông" của kinh Phật kinh Chúa. Nhưng tôi chỉ muốn nói cho Trần Chung Ngọc và các "trí thức" Giao Điểm biết rõ: Người tín đồ Cơ đốc giáo chân chính đọc, phân tích, giảng dạy, và thực dụng Kinh Thánh mỗi ngày trong đời sống của họ. Đó là lẽ sống của đời họ! Và, điều đó được chứng minh bằng không biết bao nhiêu sách vỡ đã ghi lại kết quả của sự đọc, phân tích, và giảng giải Kinh Thánh của tín đồ Cơ đốc. Tín đồ Cơ đốc chân chính tin theo Chúa Jesus không chỉ dựa trên lời tường thuật trong Kinh Thánh, mà còn là dựa vào quyền năng thay đổi lòng người của Kinh Thánh. Nếu Kinh Thánh có lý thuyết hay đến đâu, lý luận có thuyết phục đến đâu, nhưng những người tín đồ Cơ đốc không kinh nghiệm được những điều Kinh Thánh dạy trong chính tâm linh họ: "Sự bình an thiên thượng" mà thế gian không thể hiểu; "Năng lực thắng được sự cám dỗ làm điều dữ và năng lực làm trọn những điều lành"; "Sự tiêu tan của mặc cảm tội lỗi sau khi hưởng ân cứu rỗi của Chúa"; "Tình yêu thiên thượng khiến một người có thể tha thứ và yêu thương ngay chính kẻ thù của mình"; v.v... thì họ không vì đức tin mà chịu tử đạo cả hàng triệu người đâu! Những Cơ đốc nhân được gì khi họ bỏ hết mọi sự tiện nghi, sung túc trong một thế giới văn minh để đến với những con người cùi phung, lỡ lói, tật bệnh thiếu nghèo trong chốn rừng sâu núi thẳm? (Những con người mà "Phật tử" Trần Chung Ngọc gọi là "còn đóng khố" hàm ý miệt thị họ là bán khai, ngu dốt, thất học!). Ai vinh danh họ? Phần thưởng nào, huy chương nào được trao tặng cho họ? Động cơ nào? sức mạnh nào thúc đẩy và giúp họ trung thành với nghĩa cử dấn thân cao đẹp đó cho đến cuối cuộc đời? Chỉ có một câu trả lời thỏa đáng: Chúa Cứu Thế Jesus Christ mà họ tin nhận đó, thật sự là Chân Lý, là Tình Yêu, là Sự Sống đang sống trong chính họ, là động cơ và sức mạnh để trái tim họ tan chảy ra trước đau khổ, nhục nhằn của đồng loại. Lý trí bình thường của một con người cũng nhận ra được điều này! Câu: "người ngoại đạo và người trong đạo thường không đọc Thánh Kinh, và dĩ nhiên, chẳng có ai mang những điều này ra giảng trong các nhà thờ." thật sự là câu nói vô căn cứ của một người vô trí thức.

    Trong "Lời nói đầu", Trần Chung Ngọc viết: "Sự thật là sự thật, sự thật không có tính cách bè phái và tuyệt đối không thiên vị. Lương tâm trí thức của bất cứ người Việt Nam nào quan tâm đến vấn đề tôn giáo là phải tôn trọng sự thật trong các tôn giáo, bất kể sự thật đó như thế nào. Trong thời đại này, chúng ta phải có can đảm đối diện với sự thật dù sự thật đó không hợp ý ta hay mang đến cho chúng ta ít nhiều phiền muộn." (Trang IV & V - CGSLAGDNG)

    Tôi ngờ rằng người viết "Lời giới thiệu" cho Trần Chung Ngọc không phải là một người "trí thức" Việt Nam, bởi người đó không dám "tôn trọng" sự thật là Cơ đốc nhân xem việc đọc Kinh Thánh là nhu cầu sống chết, sự thật là Kinh Thánh được in và dịch ra nhiều nhất trên toàn thế giới. Hoặc giả, người đó là một "trí thức" Việt Nam nhưng KHÔNG có lòng quan tâm đến vấn đề Tôn Giáo, mà chỉ quan tâm làm sao cho "Đảng" đắc lợi trong việc khuấy động hận thù giữa Phật Giáo Công Giáo.

    Tôi cũng ngờ là Trần Chung Ngọc tuy nói vậy mà không phải vậy. Chính trong phần "Dẫn nhập" Trần Chung Ngọc đã dịch "Justification by Faith" ra Việt ngữ là: "Đức Tin biện minh cho tất cả" đủ để cho thấy trình độ "trí thức" và mức độ "lương thiện" của tác giả trong sự quan tâm đến tôn giáo. (Justification by Faith là giáo lý về "sự xưng nghĩa bởi đức tin" của Cơ đốc giáo) "Đức Tin biện minh cho tất cả" có nghĩa là gì? Phải chăng, Trần Chung Ngọc muốn gieo rắc vào đầu người đọc một ấn tượng sai lầm về lẽ đạo quan trọng của Cơ Đốc Giáo? Dịch "bậy" một cách đầy ác ý như vậy là một sự cố tình "chơi chữ" của Trần Chung Ngọc.

    Trần Chung Ngọc muốn lập lờ trong sự một từ hai nghĩa của "justify và justification" trong Anh ngữ. (Justify = to show a sufficient lawful reason for an act done. Justification = the act, process, or state of being justified by God - Merriam Webster's Collegiate Dictionary - Được xưng công nghĩa bởi đức tin nghĩa là một tội nhân được Đức Chúa Trời xưng là sạch tội khi người ấy tin nhận rằng Đức Chúa Jesus đã chết trên thập tự giá để trả nợ tội thế cho người ấy.) Nếu một người thử dịch "Đức Tin biện minh cho tất cả" ra Anh ngữ, dịch một cách nghiêm chỉnh, sát nghĩa, sẽ thấy được cái ác ý của Trần Chung Ngọc. Nhưng, tôi cũng không ngạc nhiên đâu, bởi vì câu nói: "Cứu cánh biện minh cho phương tiện" là câu kinh nhật tụng của người cộng sản. Trần Chung Ngọc có vì quen miệng, hoặc vì "tâm đắc" với ý nghĩa của câu kinh cộng sản ấy mà cố tình dịch "bậy" cũng là điều tự nhiên.

    Trong suốt cuốn "sách", Trần Chung Ngọc không ngớt mạ lỵ các tín đồ của Đấng Christ như là những người "tầm thường, ngu dốt, thất học" và tìm cách đề cao Phật Giáo (chắc có hậu ý để cho Công Giáo "đánh trả" vào Phật Giáo). Thế nhưng khi nhắc đến các tác giả Cơ đốc người Việt như Tiến sĩ Lê Anh Huy, Tiến sĩ Phan Như Ngọc, "Cựu Đại Đức Phật Giáo" Nguyễn Huệ Nhật (xuất thân đại học Vạn Hạnh), thì Trần Chung Ngọc "phe lờ" học vị của những tác giả này. Làm như thể Lê Anh Huy, Phan Như Ngọc, Nguyễn Huệ Nhật là những "tín đồ Cơ đốc tầm thường, ngu dốt, thất học, và cuồng tín chỉ biết nhắm mắt nghe theo lời giảng của các mục sư mà không hề tự mình đọc Kinh Thánh". Chính điểm này cũng nói lên cái "trí thức lương thiện" của Trần Chung Ngọc. Tôi không biết Trần Chung Ngọc sẽ có đủ can đảm để viết rằng nhà khoa học Isaac Newton, một tín đồ Cơ đốc chân thành - cha đẻ của định luật vật lýTrần Chung Ngọc phải mài đũng quần trên ghế của nhà trường để học, để thán phục, để mang cái học đó ra truyền lại cho người khác - cũng là "một tín đồ Cơ đốc tầm thường, ngu dốt, thất học, và cuồng tín chỉ biết nhắm mắt nghe theo lời giảng của các mục sư mà không hề tự mình đọc Kinh Thánh" hay không! (theo tài liệu của Giao Điểm thì Trần Chung Ngọc là một khoa học gia, một nhà vật lý học, từng dạy vật lý trong một đại học ở Mỹ). Ở đây, tôi không có cái ý "khoe khoang bằng cấp" giùm cho những tác giả nói trên, nhưng vì Trần Chung Ngọc không ngớt mạ lỵ tín đồ Cơ đốc như là những kẻ tầm thường, ngu dốt, thất học, mê tín và cuồng tín nên tôi mới nêu ra cái điểm nổi bật về "trí thức" và "lương thiện" biết tôn trọng sự thật của Trần Chung Ngọc.

    Thật ra, tôi không muốn dính vào những thứ rác rưởi Trần Chung Ngọc đã cất công thu thập một cách rất là "tâm đắc", (nói một tín ngưỡng là đúng hoặc sai theo nhận định chủ quan của mình, khác với việc mạ lỵ một tín ngưỡng). Nếu Phật Thích Ca tuyên bố là có đến 84,000 pháp môn để qua đó một người có thể tìm đến chân lý, thì Trần Chung Ngọc và các "trí thức" Giao Điểm là ai để phán định Cơ đốc giáo không thuộc một trong 84,000 pháp môn ấy? Tôi nói đây, là theo quan điểm và lý luận chính tông của Phật Giáo! Cho nên, bài bác, mạ lỵ một tôn giáo, một "pháp môn" mà tự mình chưa hề bao giờ chứng nghiệm, tức là chỉ tuôn ra những thứ rác rưởi, xuất phát từ ngã mạnbiện kiến! Nhưng, xét ra, cũng nên "tản mạn" một chút về những điều "tâm đắc" của Trần Chung Ngọc như là một hình thức "tái chế" những rác rưởi trong tâm linh của ông ta thành một thứ "phân bón" hầu sau này, sẽ hữu dụng trong việc giúp ông tăng trưởng đức tin mà tôi mong rằng một ngày nào đó, ông sẽ tìm gặp trong Chúa Cứu Thế Jesus Christ, trước khi quá muộn. Bên cạnh đó, cũng nên có một bài nhận định về cuốn "sách" của Trần Chung Ngọc để giúp hóa giải những chất độc vô thần, phỉ báng tôn giáo, phỉ báng Đức Chúa Trời, Trần Chung Ngọc cùng nhóm Giao Điểm đang hung hăng, điên cuồng gieo rắc.

    Trong những bài kế tiếp, tôi sẽ chỉ đề cập đến những "hiểu biết" ấu trỉ của nhà "trí thức lương thiện" Trần Chung Ngọc xoay quanh hai tiêu đề "Chúa Jesus là ai?" "Chúa Jesus giảng dạy những gì?" Mặc dù đó chỉ là "diện" của cuốn "sách", còn "điểm" của cuốn "sách" là tấn công vào giáo hội Công Giáo, nhưng xin để cho quý vị giáo dân và hàng giáo phẩm Công Giáo lên tiếng về phần đó. Tôi nghĩ, Trần Chung Ngọc "ghét" Kinh Thánh là vì trong đó có một câu như sau: "Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng: Không có Đức Chúa Trời." (Thi Thiên 14:1 & 53:1). Kinh Thánh gọi nhà "trí thức đã được đào tạo trên căn bản lương thiện và trong tinh thần khoa học của một khoa học gia, một nhà Vật Lý học" nhưng vô thần Trần Chung Ngọc là một kẻ ngu dại nên Trần Chung Ngọc "ghét cay ghét đắng" Kinh Thánh, nhất là sách Thi Thiên, và "căm thù" vua Đa vít, là người ghi lại câu đó. Nếu Đức Chúa Trời đã gọi những kẻ vô thần chỉ nói thầm trong lòng rằng không có Đức Chúa Trời là "kẻ ngu dại", thử hỏi, những kẻ vô thần nói ra miệng, viết thành "sách" rằng không có Đức Chúa Trời, như Trần Chung Ngọc và nhóm Giao Điểm còn "ngu dại" đến đâu.

    Cũng xin mở ngoặc nơi đây để nói riêng với các bạn đọc Phật Giáo chân chính. Câu: "Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng: Không có Đức Chúa Trời." là tuyên phán của Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta chấp nhận có Đức Chúa Trời, thì Ngài há không có quyền "mắng" Trần Chung Ngọc là ngu dại hay sao, khi Trần Chung Ngọc không nhận thức nổi sự thực hữu của Đấng đã tạo dựng ra ông? Còn nếu lý luận rằng Đức Chúa Trời không có thật, Kinh Thánh là sản phẩm mạo danh Chúa, thì có gì khiến cho Trần Chung Ngọc phải nổi nóng, nếu Trần Chung Ngọc thật sự là một Phật tử? Chắc các bạn đều rõ thái độ của Phật Thích Ca như thế nào, khi có người đến mắng chửi xối xả vào mặt Phật, ngay trước sự chứng kiến của hàng đệ tử! Trong giao tiếp thường ngày của tôi, tôi quen biết nhiều người là Phật tử, cá nhân tôi, đã từng tu theo Phật Pháp, nhưng trong mười Phật tử tôi gặp, không có đến một người chấp nhận mình là "vô thần", nghĩa là không tin nhận có một Đấng Cao Siêu Tuyệt Đối, làm ra và tể trị vũ trụ này. Tùy theo quan niệm, tư duy của mỗi người, Đấng ấy có thể được gọi là Ông Trời, là Đấng Tạo Hóa, hay được gọi là Đức Chúa Trời trong đức tin của người Cơ đốc! Họa hoằn lắm, tôi mới gặp những "trí thức" phật tử vô thần. Phật Thích Cabác bỏ một "Đức Chúa Trời" bị nhân cách hóa theo quan niệm của các dân tộc mê tín, theo tâm cảnh mình, tự dựng ra một "Đức Chúa Trời" để thờ phượng của thời điểm lịch sử lúc bấy giờ; nhưng Phật Thích Ca không phủ nhận một Đức Chúa Trời, vượt ngoài, không-thời-gian và vật chất! Bởi, chính Phật Thích Ca, gọi đích Danh Ngài là: Chân Lý! Khoảng 500 năm sau, Đấng Chân Lý đó, khi đến kỳ hạn đã ấn định, nhập thế làm người để dẹp bỏ các "Thần" do loài người dựng nên và mạc khải cho loài người một Chân Thần, qua thân vị Chúa Cứu Thế Jesus!

    Tôi thành thật khuyên bạn đọc đừng bỏ ra $15 để mua cuốn "sách" CGSLAGDNG của Trần Chung Ngọc , phí tiền! Trong những bài viết kế tiếp, tôi sẽ tổng kết nội dung của "sách" ấy. Nhưng nếu bạn đọc muốn biết chính xác, Trần Chung Ngọc đã mượn danh Phật tử để làm những việc không lương thiện như thế nào thì việc bỏ ra $15 để mua cuốn "sách" của Trần Chung Ngọc về đọc cũng chẳng phải là không đáng!

    Cá nhân tôi, chưa hề quen biết gì với Trần Chung Ngọc, nếu xét về tuổi đời, có lẽ Trần Chung Ngọc xứng là bậc cha chú của tôi. Nếu gặp mặt ông ngoài đời, tôi sẽ lễ phép khoanh tay cúi đầu kính chào ông. Nếu ông có lớn tiếng chửi mắng tôi vì cho là tôi ngu dốt, vong bản khi tin theo Chúa Jesus thì tôi cũng chẳng buồn giận gì ông và cũng sẽ không dám vô lễ với ông. Nhưng khi ông đã lợi dụng chữ nghĩa để gieo rắc những nọc độc của sự DỐI TRÁ, có thể làm hại đến biết bao linh hồn của đồng bào tôi, dân tộc tôi, thì tôi nhận thấy mình cũng như bất kỳ ai biết tôn trọng công lý và sự lương thiện, đều có trách nhiệm "giải độc". Trong tiến trình giải độc đó, việc quan trọng và cần thiết là phải lột mặt nạ của kẻ gieo rắc chất độc. Kẻ gieo rắc chất độc, dù mặc áo y tế, dùng ngôn ngữ của bác sĩ, thì vẫn là kẻ sát nhân. Cho nên, xin bạn đọc thông cảm với tôi, nếu tôi có gọi đích danh Trần Chung Ngọc là một "trí thức" vô trí và bất lương , đội lốt Phật tử, Mặt khác, tôi thật sự xót xa cho số phận tâm linh của Trần Chung Ngọc. Tôi có thể nói mà không thẹn với lòng mình và với Chúa Cứu Thế Jesus Christ Chúa,Đức Chúa Trời của tôi rằng: "Nếu có phải đánh đổi tất cả những gì tôi có, ngay cả mạng sống của tôi, để chắc chắn là Trần Chung Ngọc thật lòng tin nhận Chúa Jesus như tôi, tôi sẽ không ngần ngại!" Linh hồn của Trần Chung Ngọc hoặc của bất kỳ một ai, rất là quý báu trước mặt Đức Chúa Trời. Chính Chúa Jesus tuyên bố, cả thế gian này cũng không xứng với giá trị của một linh hồn! Còn về lẽ thật cứu rỗi của Cơ đốc giáo, thì Trần Chung Ngọc không cần phải được nghe giảng nữa. Kinh Thánh gọi những người như Trần Chung Ngọc là đui mù tâm linh. Chúng ta không thể cố gắng chiếu ánh sáng vào trong một đôi mắt đã đui mù rồi mong cho đôi mắt ấy tiếp nhận ánh sáng. Chỉ trừ khi, vì lòng nhân từ thương xót của Chúa mà Ngài chữa lành chứng đui mù tâm linh cho Trần Chung Ngọc, thì ông ta mới nhận biết Chúa. Chúng ta hãy cầu xin điều đó cho Trần Chung Ngọc.

    Nguồn: http://www.vnnclub.com/showthread.ph...#ixzz2tsJYT4Rv

  9. #9
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    12,870
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Người anh em: Hãy tỉnh thức

    Quote Originally Posted by adam_nguyen View Post
    PHỤ NỮ ISLAM VÀ PHỤ NỮ DO THÁI - THIÊN CHÚA GIÁO (Phần 7)
    25.02.2010 03:09 [đã xem :1043]

    Bây giờ chúng ta hãy thảo luận câu hỏi quan trọng về chế độ đa thê. Đa thê là một tập quán cổ tìm thấy ở nhiều xã hội loài người mà ‘Kinh Cựu ước đã không chỉ trích chế độ đa thê’. Ngược lại, kinh Cựu ước và các tác phẩm của các nhà thông thái Do Thái thường xuyên chứng thực cho tính hợp pháp của chế độ đa thê.

    15. CHẾ ĐỘ ĐA THÊ

    Vua Solomon có 700 vợ và 300 nàng hầu (1 Kings 11:3). Vua David có nhiều vợ và nàng hầu (2 Samuel 5:13). Kinh Cựu ước có một vài huấn thị cách phân chia tài sản của một người đàn ông cho con trai từ các bà vợ khác nhau (Deut. 22:7). Chỉ có một giới hạn cho sự đa thê là cấm lấy chị/em gái của vợ làm vợ lẽ (Leviticus 18:18). Talmud khuyên số vợ nhiều nhất là bốn [Swidler, op. Cit., p. 144-148]. Người Do Thái ở châu Âu tiếp tục thực hành chế độ đa thê đến thế kỷ 16. Người Do Thái ở phương Đông đều đặn thực hành chế độ đa thê tới khi họ đến Israel nơi mà đa thê bị cấm bởi luật dân sự. Tuy nhiên, khi luật tôn giáo mạnh hơn luật dân sự thì trong các trường hợp này là được phép [Hazleton, op. Cit., pp. 44-45].

    Thế còn kinh Tân ước thì sao? Theo Cha Eugene Hillman trong sách ‘Chế độ đa thê được xét lại’: “Không có chỗ nào trong kinh Tân Ước có điều răn rõ ràng rằng hôn nhân phải là một vợ một chồng hay không có điều răn rõ ràng nào cấm chế độ đa thê” [Eugene Hillman, Polygamy Reconsidered: African Plural Marriage and the Christian Churches (new York: Orbis Books, 1975) p. 140].

    Hơn nữa, Giê-su (عليه السلام) không nói gì chống lại chế độ đa thê mặc dù nó được người Do Thái thực hành trong xã hội của ông. (Cha Hillman) nhấn mạnh thực tế là nhà thờ ở Rome đã cấm đa thê để phù hợp với văn hoá Hy Lạp – La Mã (đã quy định chỉ một vợ hợp pháp trong khi không phản đối việc lấy vợ lẽ và nạn mại dâm). Ông đã trích lời St. Augustine, “Bây giờ thực sự trong thời đại của chúng ta, và để giữ phong tục La Mã, chúng ta không được phép lấy thêm vợ” [Ibid, p. 17]. Các nhà thờ châu Phi và người Thiên Chúa giáo châu Phi thường nhắc nhở các anh em châu Âu của họ về lệnh cấm chế độ đa thê của nhà thờ là một truyền thống văn hoá chứ không phải lệnh huấn thị đích thực của Thiên Chúa giáo. Qur’an cũng cho phép chế độ đa thê nhưng không bỏ qua các điều khoản:

    وَإِنْ خِفْتُمْ أَلاَّ تُقْسِطُواْ فِي الْيَتَامَى فَانكِحُواْ مَا طَابَ لَكُم مِّنَ النِّسَاء مَثْنَى وَثُلاَثَ وَرُبَاعَ فَإِنْ خِفْتُمْ أَلاَّ تَعْدِلُواْ فَوَاحِدَةً…(النساء: 3)

    “Và nếu các người sợ không thể đối xử công bằng với các con (gái) mồ côi, hãy cưới những người phụ nữ (khác) mà các người vừa ý hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn. Nhưng nếu các người sợ không thể (ăn ở) công bằng với họ (vợ) thì hãy cưới một người vợ mà thôi…” (Qur’an 4:3).

    Qur’an ngược lại với Cựu ước, giới hạn số vợ nhiều nhất là bốn dưới điều kiện nghiêm ngặt là phải đối xử với các người vợ như nhau và công bằng. Không nên hiểu rằng Qur’an thúc đẩy người có đức tin thực hành chế độ đa thê hay chế độ đa thê được coi là lý tưởng. Nói cách khác, Qur’an đã “không phản đối” hay “cho phép” chế độ đa thê, nhưng vì sao? Vì sao chế độ đa thê được cho phép? Câu trả lời thật đơn giản, có những nơi và những lúc có những lý do thuyết phục cho chế độ đa thê. Islam như một tôn giáo cho tất cả mọi người, phù hợp cho mọi lúc, mọi nơi.

    Trong hầu hết xã hội loài người, phụ nữ nhiều hơn nam giới.

    1. Ở Mỹ phụ nữ nhiều hơn nam giới ít nhất là 8 triệu người.

    2. Ở một nước như Guinea, cứ 122 phụ nữ mới có 100 nam giới.

    3. Ở Tanzania, cứ 95.1 nam giới có 100 phụ nữ [Ibid, p. 17].

    Xã hội phải làm gì về sự mất cân bằng về tỷ lệ giới như vậy?

    Có một vài cách giải quyết khác nhau, một số gợi ý sống độc thân, số khác thích việc giết trẻ sơ sinh gái (đã xảy ra ở một số xã hội ngày nay trên thế giới như Trung Quốc và Việt Nam (người dịch)). Số khác có thể nghĩ về lối thoát duy nhất là xã hội nên dung thứ cho mọi loại buông thả tình dục: mại dâm, tình dục ngoài hôn nhân, đồng tính… Một số xã hội khác, như hầu hết các xã hội châu Phi hiện nay, lối thoát xứng đáng nhất là cho phép đa thê như một thể chế được chấp nhận về văn hoá và được xã hội tôn trọng.

    Điều hay bị hiểu lầm ở phương Tây là phụ nữ ở các nền văn hoá khác không nhìn chế độ đa thê nhất thiết là một dấu hiệu của sự giảm giá trị phụ nữ. Ví dụ, nhiều cô dâu châu Phi trẻ, dù là người Thiên Chúa giáo, Muslim hay người mang tôn giáo khác, thích cưới một người đàn ông đã có vợ hơn - người đã tự chứng minh mình là một người chồng có trách nhiệm. Rất nhiều bà vợ châu Phi thúc giục chồng lấy vợ hai để họ không cảm thấy cô đơn. [Ibid., p. 92-97].

    Một cuộc điều tra trên sáu ngàn phụ nữ trong độ tuổi từ 15 đến 59 được tiến hành ở thành phố lớn thứ hai Nigeria cho thấy 60 phần trăm phụ nữ sẽ hài lòng nếu chồng họ lấy vợ nữa. Chỉ có 23 phần trăm tỏ ra giận dữ với ý kiến chia sẻ chồng với một vợ khác. Sáu mươi bảy phần trăm phụ nữ trong cuộc điều tra ở Kenya xem đa thê là tích cực. Trong một cuộc điều tra tiến hành ở vùng nông thôn Kenya, 25 trong số 27 phụ nữ coi chế độ đa thê tốt hơn chế độ một vợ một chồng. Những phụ nữ này cảm thấy chế độ đa thê có thể là một trải nghiệm hạnh phúc và có lợi nếu các bà vợ hợp tác với nhau. [Philip L. Kilbride, Plural Marriage For Our Times (Westport, Conn.: Bergin & Garvey, 1994) pp. 108-109]

    Chế độ đa thê ở hầu hết xã hội châu Phi là một thể chế được tôn trọng tới mức một số nhà thờ Tin lành ngày càng trở nên khoan dung với nó. Một giám mục của nhà thờ giáo phái Anh ở Kenya nói rằng: “Mặc dù chế độ một vợ một chồng có thể lý tưởng cho sự biểu lộ tình yêu giữa hai vợ chồng, nhưng nhà thờ nên xem xét rằng trong một số xã hội nào đó sự đa thê được xã hội chấp nhận và rằng niềm tin sự đa thê trái ngược với đạo Thiên Chúa không còn trụ được lâu hơn”. [The Weekly Review, Aug. 1, 1987]

    Sau khi nghiên cứu cẩn thận về sự đa thê ở châu Phi, đức cha David Gitari của nhà thờ giáo hội Anh đã kết luận rằng chế độ đa thê như một thực hành lý tưởng, mang đặc điểm của Thiên Chúa giáo hơn so với ly dị và cưới lại đối với các bà vợ và con cái bị bỏ rơi. (Kilbride, op. cit., p. 126). Tôi biết vài bà vợ châu Phi có giáo dục tốt mặc dù sống ở phương Tây trong nhiều năm không phản đối chế độ đa thê. Một trong số họ sống ở Mỹ, chính thức ủng hộ chồng lấy vợ hai để giúp cô ấy nuôi dưỡng con cái.

    Vấn đề mất cân bằng tỷ lệ giới trở nên thực sự khó giải quyết ở thời điểm chiến tranh. Các bộ tộc bản xứ da đỏ ở Mỹ thường trải qua việc tỷ lệ giới mất cân bằng lớn sau những mất mát thời chiến. Phụ nữ của các bộ tộc này thực tế được hưởng địa vị khá cao, đã chấp nhận chế độ đa thê là sự bảo vệ tốt nhất chống lại sự ham muốn trong các hành động không đứng đắn. Những người châu Âu định cư, không đưa ra bất kỳ lựa chọn nào khác, đã chỉ trích chế độ đa thê của người da đỏ này là ‘không văn minh’. [John D’Emilio and Estelle B. Freedman, Intimate Matters: A history of Sexuality in America (New York: Harper & Row Publishers, 1988) p. 87].

    Sau chiến tranh thế giới thứ hai, số phụ nữ nhiều hơn nam giới là 7,3 triệu người ở Đức (3,3 triệu là goá phụ). Cứ 100 đàn ông tuổi từ 20 tới 30 thì có 137 phụ nữ trong nhóm tuổi này [Ute Frevert, Women in German History: from Bourgeois Emancipation to Sexual Liberation (New York: Berg Publishers, 1988) pp. 263-264]. Nhiều phụ nữ cần đàn ông không chỉ như một người bạn mà còn là người chu cấp cho gia đình trong thời kỳ nghèo khổ và khó khăn chưa từng có. Những người lính của quân đồng minh chiến thắng đã lợi dụng chỗ yếu của phụ nữ này. Nhiều cô gái và goá phụ trẻ có quan hệ nam nữ bất chứng với các thành viên của lực lượng chiếm đóng. Nhiều lính Mỹ và Anh trả cho ham muốn của họ bằng thuốc lá, sô cô la và bánh mì. Trẻ con thì vui mừng với những quà tặng mà những người lạ này mang đến. Một đứa trẻ 10 tuổi khi nghe nói về những món quà như vậy từ các trẻ khác đã ước mơ từ đáy lòng là mẹ nó kiếm được một người đàn ông Anh để khỏi bị đói lâu thêm [Ibid, p. 257-258].

    Chúng ta phải hỏi chính lương tâm mình điểm này: “Cái gì đề cao phụ nữ hơn? Một người vợ hai được chấp nhận và tôn trọng như trong cách của người da đỏ, hay một con điếm thực sự như cách của quân đồng minh "văn minh"? Nói cách khác, cái gì đề cao phụ nữ hơn, mệnh lệnh của Qur’an hay lý thuyết dựa vào văn hoá của Đế chế La Mã?

    Thật thú vị khi chú ý rằng trong một hội nghị thanh niên quốc tế tổ chức ở Munich năm 1948, vấn đề mất cân bằng về tỷ lệ giới ở Đức đã được thảo luận. Khi mọi người không thống nhất được giải pháp nào thì một số người tham gia gợi ý chế độ đa thê. Phản ứng ban đầu của cuộc họp là hỗn hợp sốc và phẫn nộ. Tuy nhiên, sau khi xem xét cẩn thận về đề nghị này, những người tham gia đồng ý rằng đó là giải pháp duy nhất có thể. Do vậy, chế độ đa thê được bao gồm trong các tiến cử cuối cùng của hội nghị. [Sabiq, op. cit., p. 191]

    Thế giới ngày nay sở hữu nhiều vũ khí huỷ diệt hàng loạt hơn trước kia và sớm hay muộn thì các nhà thờ châu Âu sẽ bị buộc phải chấp nhận chế độ đa thê là giải pháp duy nhất. Cha Hillman đã sâu sắc nhận ra thực tế này, “Có thể tưởng tượng rằng các kỹ thuật diệt chủng này (hạt nhân, sinh học, hoá học…) có thể tạo ra một sự mất cân bằng mạnh giữa các giới đến nỗi hôn nhân đa thê sẽ trở thành một phương tiện cần thiết để tồn tại… Sau đó, trái với phong tục và luật lệ trước đây, thái độ thiên về tự nhiên và đạo đức quan trọng hơn có thể nổi lên ủng hộ chế độ đa thê. Trong hoàn cảnh như vậy, các nhà lý luận và lãnh đạo nhà thờ sẽ nhanh chóng tạo ra các lý do nặng ký và văn bản Cựu ước để thanh minh một khái niệm mới về hôn nhân.” [Hillman, op. cit, p.12].

    Cho tới ngày nay, chế độ đa thê tiếp tục là một phương thuốc khả thi cho một số bệnh xã hội của các xã hội hiện đại. Các bổn phận chung mà Qur’an nhắc tới cùng với việc cho phép đa thê vào lúc này trong một số xã hội phương Tây thiết yếu hơn ở Châu Phi. Ví dụ ở Mỹ hiện nay, có một thảm hoạ giới tính nghiêm trọng trong cộng đồng da đen.

    1. Cứ 21 nam thanh niên da đen có 1 người có thể chết trước tuổi 21.

    2. Với những người tuổi từ 20 đến 35, giết người là nguyên nhân đứng đầu gây tử vong. [Nathan hare and Julie Hare, ed., Crisis in Black Sexual Politics (San Francisco: Black Think Tank, 1989) p. 25]

    3. Bên cạnh đó, nhiều nam giới da đen thất nghiệp, vào tù hay sử dụng ma tuý. [Ibid, p. 26]

    4. Kết quả là, cứ 4 người phụ nữ da đen thì có 1 người vào tuổi 40 vẫn chưa kết hôn, ở phụ nữ da trắng tỷ lệ này là 1 trên 10 . [Kilbride, op. cit., p. 94]

    5. Hơn nữa, nhiều phụ nữ trẻ da đen trở thành mẹ độc thân trước tuổi 20 và cần người chu cấp.

    Kết cục cuối cùng của các bi kịch này là sự tăng số phụ nữ da đen tham gia ‘chia sẻ đàn ông’ [Ibid, p. 95]. Đó là nhiều phụ nữ da đen độc thân không may mắn vướng vào quan hệ với đàn ông có vợ. Các bà vợ thường không biết sự thật về những phụ nữ khác đang cùng ‘chia sẻ’ chồng với mình. Một số nhà quan sát cuộc khủng hoảng chia sẻ đàn ông ở cộng đồng người Mỹ gốc Phi kiên quyết đề nghị chế độ đa thê liên ứng làm giải pháp tạm thời cho sự thiếu đàn ông da đen tới khi có những đổi mới toàn diện hơn ở xã hội Mỹ. [Ibid] Chế độ đa thê liên ứng nghĩa là một chế độ đa thê được phê chuẩn bởi cộng đồng và tất cả các bên liên quan đều đồng ý, không giống như sự chia sẻ đàn ông bí mật thường thấy gây thiệt hại cho cả vợ và cho cộng đồng nói chung. Vấn đề của sự chia sẻ đàn ông trong cộng đồng người Mỹ gốc Phi là chủ đề của một cuộc thảo luận nhóm tổ chức ở trường đại học Temple ở Philadelphia vào ngày 27/1/1993. [Ibid., p. 95-96] Một số người phát ngôn giới thiệu chế độ đa thê như một phương thuốc tiềm năng cho cuộc khủng khoảng. Họ cũng gợi ý rằng luật pháp không nên ngăn cấm chế độ đa thê, đặc biệt trong xã hội dung thứ cho mại dâm và ngoại tình. Lời nhận xét của một phụ nữ mà người Mỹ gốc Phi cần phải học từ châu Phi nơi chế độ đa thê được thực hành một cách hợp lý tạo ra một tràng vỗ tay nhiệt tình.

    Philip Kilbride, một nhà nhân loại học người Mỹ thuộc nhà thờ La Mã Thiên Chúa, trong cuốn sách gây chú ý của ông, ‘Đa thê cho thời đại của chúng ta’, đã đề xuất chế độ đa thê là cách giải quyết triệt để cho một số vấn đề tồn tại của xã hội Mỹ. Ông biện luận rằng đa thê có thể là một lựa chọn tiềm năng thay cho ly dị trong nhiều trường hợp để ngăn ngừa ảnh hưởng xấu của ly dị lên con cái. Ông xác nhận rằng nhiều cuộc ly dị xảy ra do quan hệ ngoại tình quá nhiều trong xã hội Mỹ. Theo Kilbride, kết thúc một quan hệ ngoại tình bằng một hôn nhân đa thê tốt cho con cái hơn là ly dị, “nếu mở rộng gia đình thì con cái sẽ được phục vụ tốt hơn so với chia rẽ và giải tán được xem như là sự lựa chọn.”. Hơn nữa, ông gợi ý rằng các nhóm khác cũng sẽ hưởng lợi từ đa thê như: phụ nữ nhiều tuổi - những người đối mặt với sự thiếu đàn ông lâu dài và những người Mỹ gốc Phi - những người đang phải chia sẻ đàn ông. [Ibid, p. 118]

    Năm 1987, một cuộc thăm dò ý kiến được thực hiện bởi một tờ báo sinh viên ở trường đại học ‘California at Berkely’ đã hỏi sinh viên rằng họ có đồng ý với việc đàn ông nên được pháp luật cho phép lấy nhiều vợ để đối phó với sự thiếu đàn ông để kết hôn đã thấy ở California. Hầu như tất cả sinh viên được thăm dò ý kiến đồng ý với ý kiến trên. Một nữ sinh viên thậm chí nói rằng hôn nhân đa thê sẽ đáp ứng nhu cầu tình cảm và thể chất của cô ấy trong khi cho cô ấy sự tự do lớn hơn so với hôn nhân một vợ một chồng. [Lang, op., cit., p.172] Thực tế, lý luận này cũng được vài phụ nữ Mormon chính thống còn lại sử dụng - những người vẫn thực hành chế độ đa thê ở Mỹ. Họ tin rằng chế độ đa thê là một cách lý tưởng cho phụ nữ để có cả sự nghiệp và con cái vì các bà vợ giúp đỡ nhau chăm sóc bọn trẻ. [Kilbride, op. cit., p. 72-73]

    Phải nói thêm rằng chế độ đa thê trong Islam là một vấn đề có sự đồng ý của cả hai bên. Không ai có thể ép buộc một phụ nữ lấy một người đàn ông đang có vợ. Bên cạnh đó, người vợ có quyền đặt điều kiện cho người chồng không lấy vợ hai. [Sabiq, op. cit., p. 187-188]

    “Cựu ước mặt khác đôi khi phải viện đến chế độ đa thê bằng vũ lực. Một bà goá không có con phải cưới anh/em trai của chồng, thậm chí nếu anh ta đã kết hôn (xem phần “Cảnh khó khăn của bà goá”), bất chấp cô ta đồng ý hay không” (Genesis 38:8-10).

    Cần chú ý rằng nhiều xã hội Muslim ngày nay hiếm khi thực hành chế độ đa thê vì sự chênh lệch về dân số giữa nam và nữ không lớn.

    Người ta có thể nói chắc chắn rằng tỷ lệ hôn nhân đa thê trong thế giới muslim ít hơn nhiều so với tỷ lệ ngoại tình ở phương Tây. Nói cách khác, đàn ông ở thế giới muslim ngày nay đang ở chế độ một vợ một chồng nghiêm khắc hơn nhiều so với đàn ông ở thế giới phương Tây.

    Billy Graham, người truyền bá Phúc âm nổi tiếng đã nhận ra thực tế này: “Thiên Chúa giáo không thể dàn xếp vấn đề về chế độ đa thê. Nếu Thiên Chúa giáo ngày nay không thể làm việc đó, đó là sự thiệt hại của riêng nó. Islam cho phép chế độ đa thê như là một giải pháp cho các vấn đề của xã hội và cho phép một phạm vi nhất định cho bản tính loài người nhưng chỉ trong khuôn khổ luật pháp nghiêm ngặt. Các nước Thiên Chúa giáo theo chế độ một vợ một chồng nhưng thực tế họ thực hành chế độ đa thê. Không ai là không biết về tình nhân (già nhân ngãi non vợ chồng) lén lút trong xã hội phương Tây. Về khía cạnh này, Islam là một tôn giáo trung thực về cơ bản, và cho phép một người muslim cưới vợ hai nếu anh ta phải làm như vậy, nhưng cấm triệt để tất cả sự kết giao tình ái bí mật để bảo vệ tính trung thực về đạo đức của cộng đồng.” [Abdul Rahman Doi, Woman in Shari’ah (London: Ta-Ha Publishers, 1994) p. 76]

    Nhưng, ta nhận thấy rằng ngày nay ở nhiều nước không có muslim và những phụ nữ muslim nghiêm cấm chế độ đa thê, và việc lấy vợ hai, thậm chí với sự đồng ý của vợ cả là vi phạm luật pháp. Mặt khác, lừa gạt vợ, không cho cô ấy biết hoặc cô ấy không đồng ý là hoàn toàn hợp pháp theo pháp luật! Đâu là sự sáng suốt của luật pháp đằng sau một mâu thuẫn như vậy? Có phải luật pháp được lập nên để ủng hộ dối trá và trừng phạt tính trung thực? Đó là một trong những nghịch lý không thể hiểu được của thế giới “văn minh” hiện đại của loài người?

    Tôi muốn post bài này để cho tất cả các tín đồ đạo Tôn Giáo đọc để đề phòng những kẻ VGCS nằm vùng mượn danh Phật Tử để làm ô uế Giáo Lý Nhà Phật! Xin ĐỪNG mắc bẫy vào sự đá kích lòng Hận Thù Chia Rẽ Tôn Giáo của VGCS... vì đạo lý nhà ai nấy giữ ...không liên quan tới những bài báo có tính cách mị dân để "khuấy động" lòng tin của người của khác! Sự Thật thì mích lòng! Bản thân cá nhân nào đọc ở đâu những bài báo nào có tính cách "mị dân" và "đầu độc" giới trẻ qua các văn chương "bài bác, mạ lỵ, và thóa mạ" đạo Tôn Giáo để lật đổ niềm tin của các đạo Tôn Giáo thì trách nhiệm của các quý vị đọc giả là phải "giải độc" ngay tức khắc! Lấy độc trị độc thì chúng ta mới "duy trì" và "giữ gìn nguồn gốc" của Dân Tộc Việt một cách nghiêm túc! Xin Cám Ơn nhiều!

    Trích từ Yahoo:

    Trần Chung Ngọc là ai? Tại sao ông hay chỉ trích KITÔ giáo?

    vào trang sachhiem.net, thấy những bài viết của ông đa phần là chỉ trích Chúa Giêsu và Kitô Giáo. Theo mình biết, ông là Phật tử đã quy y tam bảo.Vậy ông chỉ trích như vậy nhằm mục đích gì? Những gì ông trích dẫn trong bài viết có đúng sự thật không?

    Vào đây tham khảo:
    http://www.sachhiem.net/TCN/Ndir.php

    Le đã trả lời 5 năm trước
    Không phải đâu bạn ơi, một Phật Tử đã quy y tam bảo KHÔNG bao giờ chỉ trích tôn giáo khác, vì nếu như thế người đó KHÔNG còn xứng đáng là Phật Tử nữa vì đã KHÔNG nghe lời PHẬT. Hiện nay có một thế lực đen tối đang nhắm đến việc chia rẽ tôn giáo. Trong cộng đồng này có người dùng lời lẽ rất thô tục để ma lị người TCG nhưng đó không phải là Phật Tử đâu. Bạn đừng để cho mình lọt vào bẫy chia rẽ tôn giáo.


    Le anh K đã trả lời 5 năm trước


    Quan điểm giáo lý Phật và cá nhân mình luôn phản đối chyện Phật tử đi chỉ trích tôn giáo khác.

    Nhưng dù Ông Ngọc có là Phật tử đi nữa thì trước hết ông cũng là con người và là người gốc Việt

    Ông viết bài tất cả đều ký tên Trần Chung Ngọc chứ ko phải dùng Pháp Danh. Rõ ràng Ông KHÔNG đứng trên quan điểm của Phật tử mà viết. (hầu như Ông ta ko viết bài nào với mục đích (hay có ý) so sánh Phật giáo Kitô giáo)


    Chân dung cư sĩ Phật Giáo: cs.Minh Mẫn, cs.Trần Chung Ngọc - đều là thứ mất dạy như nhau!?

    PtsDesigner đã hỏi 2 năm trước

    Có lẽ ở tiêu đề tôi dùng từ "mất dạy" không hợp lắm với 2 vị cư sĩ này. Bởi một ông đã già đến ~80 tuổi (TCN), một ông kia cũng khoảng ngoài 50 tuổi, cái tuổi dạy dỗ con-cháu-chắt. Nhưng ở tuổi ngần ấy mà vẫn mang kè kè bản chất DÂM LOẠN tự tâm thì các ông dạy gì cho lũ cháu đàn con?! Tấm gương các ông để lại cho con cháu là thế nào?

    Đây là 2 vị cư sĩ thuộc loại đức cao vọng trọng ở Phật Giáo VN. Các bạn cứ tìm với từ khóa là tên của họ kèm tên các web Phật giáo VN (như: daophatngaynay, phattuvietnam, quangduc, chuaphuclam, thuvienhoasen, hoangphaphanoi...) sẽ thấy xuất hiện nhan nhản. Các bạn cũng sẽ thấy 2 vị cư sĩ này được tán dương, được trọng vọng, được thần tượng bởi các Phật tử tới mức nào.

    Các ông đều là cư sĩ Phật Giáo (tu hành Phật Pháp tại gia). Hằng ngày vài chục năm qua các vị cư sĩ ấy vẫn miệt mài tu tập Phật Pháp để nuôi dưỡng Phật Tâm.

    Và kết quả chính là Phật Tâm có được qua tu học Phật Pháp là đây:

    (Không có thời gian rỗi để đọc và thu thập nhiều dẫn chứng, có lẽ không cần nhiều, chỉ 1 điển hình là đủ nhận ra Phật Tâm là thế nào).

    * Lời lẽ có thể xem là "khẩu Phật" xuất phát từ "Phật tâm" của cư sĩ Phật giáo Trần Chung Ngọc:

    Cha nói là Chúa nói, Cha chơi là Chúa chơi tức là thêm sức cho con dân “C” đến gần với Chúa…Cha lắp đít con nít là Chúa lắp đít… ” [đó là ý Chúa, amen ]

    http://nhandanvietnam.wordpress.com/2011...

    Lời lẽ này bởi cư sĩ Phật giáo Trần Chung Ngọc trên sachhiem ngày 21/09/'08, trên dongduongthoibao ngày 23/09/'08 và trên nhandanvietnam ngày 20/09/'08.

    * Ý tưởng và lời lẽ từ Phật tâm của cư sĩ Phật giáo Minh Mẫn:

    Bài viết về "đạo Mẫu" có chút ít liên quan tới[B] Phật Giáo[/B], không liên quan gì đến Công Giáo nhưng vị cư sĩ này lại chủ tâm chèn hình của ĐGH Gioan Phaolo II vào với mấy dòng chữ dung tụcdâm đãng thế này: Pope J Paul II - ta bị lột màng não rồi. Giám đốc Cty nhà thổ Vatican, bệnh viện Vati chuyên lột màng não con chiên để vá màng trinh, giá bèo.

    http://minhmancusi.blogspot.com/2011/1/h...

    Chúa Giê-su có dạy: “Lòng có đầy thì miệng mới nói ra”. Tu Phật Pháp miệt mài nhưng lòng có đầy sân si, DÂM ĐẢNG nên mới tuôn xả ra như thế.

    Tôi nghĩ tôi không cần bình luận gì thêm. Những tấm gương sáng cho con cháu và các Phật tử khác noi theo là đấy!


    TRAVEL đã trả lời 2 năm trước

    Chúa jesus có nói : " Ngươi chỉ thấy cọng rơm trong mắt người khác,mà không nhìn thấy cây đà trong mắt của ngươi .Đồ đạo đức giả ". Đừng phán xét ai để người ta phán xét lại ngươi. Hỡi tôi tớ Chúa.

    Cư sĩ Trần Chung Ngọc dốt nát về khoa học hay tự mình thêm bớt bậy bạ vào Kinh Thánh?
    đã hỏi 3 năm trước

    Tình cờ tôi đọc được bài viết "Khoa học trong Kinh Thánh" của cư sĩ Trần Chung Ngọc đăng trên trang ĐẠO PHẬT NGÀY NAY, qua những đoạn viết bá láp, tôi thấy ông cư sĩ Ngọc chẳng hiểu biết gì về KiTô giáo, lại còn cái trò thêm bớt, cắt xén, xuyên tạc Kinh Thánh cho phù hợp mục đích hạ cấp, bẩn thỉu của ông ta.

    http://www.daophatngaynay.com/vn/dien-da...

    Ví dụ Điển hình là 1 đoạn trong bài viết của ông ta:

    "...Nếu chúng ta đọc cuốn Kinh Thánh của Ki Tô Giáo thì chúng ta sẽ thấy trong đó Gót nói về khoa học đại khái như sau: Trái Đất ra từ nước và làm nên ở giữa nước (2 Peter 3:5); Trái Đất đứng yên (1Chron. 16:30);..."

    Trong (2 Peter 3:5) mô tả như sau: Từ lâu đã có Trời và Đất, và Đất từ Nước mà ra và nhờ Nước mà đứng vững do lời của Thiên Chúa.


    Chỉ có mỗi chữ Đất (Lục địa) từ Nước mà ra. Trần Chung Ngọc Ngọc cả gan thay đổi Kinh Thánh bằng cách bê quả Địa Cầu (thay cho Lục địa) vào để mà phá rối.

    Nhớ ko lầm thì Trần Chung Ngọc từng bắt bẻ "KiTô giáo cho rằng Thế giới dẹt và bằng phẳng". Như vậy thì làm gì có chuyện KiTô giáo cho rằng "quả Địa Cầu tròn ra từ nước và làm nên ở giữa nước". Tư tưởng gian manh của Trần Chung Ngọc đã tạo ra 1 trò hề mâu thuẫn .

    Vậy thực hư ra sao :

    Sách Khoa Học Trái Đất của GS.TS Lưu Đức Hải ghi nhận:

    Địa cầu từ ngày thành lập, trải qua không biết bao lần đổi thay địa chất, đại dương và khí hậu. Vỏ trái đất nguội dần, đại dương và biển cả thành lập, ban đầu nước biển còn ngọt, về sau mặn dần do tích tụ muối khoáng rữa từ đất đá của lục địa. Sau đó Đất liền nổi lên thành lục địa.

    Như vậy Kinh Thánh nói Đất từ Nước mà ra có gì gọi là sai ko?

    Cho đến ngày nay, nhiều người tin rằng giáo hội chủ trương rằng trái đất thì bằng phẳng cho đến khi khoa học hiện đại chứng minh là nó hình tròn.

    Trên thực tế, người Hy Lạp xưa và Kitô Hữu thời trung cổ đều biết rằng trái đất thì tròn. Họ quan sát thấy thân tầu buồm thì biến dạng trước đỉnh cột buồm. Họ cũng thấy rằng khi nguyệt thực, trái đất tạo nên bóng tròn trên mặt trăng. Vũ trụ học của thần học gia Dante thời trung cổ được dựa trên ý tưởng khối cầu của trái đất. Bởi thế ý nghĩ cho rằng giáo hội tin là trái đất bằng phẳng, đó là một pha chế của những người tuyên truyền chống tôn giáo vào thế kỷ mười chín.

    Trong (1Chron. 16:30) mô tả: Chúa thiết lập địa cầu, địa cầu chẳng lay chuyển. Từ "chẳng lay chuyển" nghĩa là "bền vững mãi". Thực tế ở ngoài Vũ trụ có rất nhiều hành tinh đã bị hủy diệt trước đó, như những hành tinh quỹ đạo đi sát Mặt Trời bị thiêu rụi hay như hiện tượng sao lùn trắng xé toạc cả 1 hành tinh. Kinh Thánh thuật lại lời Thiên Chúa đã phán Địa Cầu sẽ ko bị hủy diệt cho tới ngày Cánh chung

    Thế nhưng Trần Chung Ngọc ko ngại bản chất bỉ ổi, vô liêm sỉ xuyên tạc rằng "Kinh Thánh nói quả Địa Cầu đứng yên"

    Vậy xin hỏi : Tổng biên tập trang Đạo Phật Ngày Nay có óc có tim để suy xét trước khi đăng bài ko?


    Xin mời tất cả đọc giả đọc bài này để suy gẫm xem tên Trần Chunh Ngọc hạng người nào!


    "[B]Chúa Giê-su Là Ai? Giảng Dạy Những Gì?"[/B] của Trần Chung Ngọc.

    Năm qua (2002), làng văn hóa Việt Nam ở hải ngoại vừa có thêm một "tác phẩm" mới, nhằm "mở mang dân trí" để góp phần vào việc tạo "điều kiện tất yếu cho sự tiến bộ quốc gia". "Tác phẩm" này có tựa đề "CHÚA GIÊ-SU LÀ AI? GIẢNG DẠY NHỮNG GÌ?" do nhà "trí thức được đào tạo trên căn bản lương thiện" Trần Chung Ngọc "khảo luận" qua các tài liệu và Thánh Kinh, và do Giao Điểm xuất bản vào mùa Xuân 2002.

    Trong phần "Lời nói đầu", Tác giả khẳng định: "Tôi không chủ trương hận thù hay chia rẽ, nhưng tôi quan niệm rằng sự mở mang dân trí là điều kiện tất yếu của sự tiến bộ quốc gia, và sự hòa hợp trong các khối dân tộc chỉ có thể có khi chúng ta hiểu rõ tín ngưỡng của nhau và tìm những phương cách để cùng nhau chung sống trên đất nước thân yêu của chúng ta. HẬN THÙ CHIA RẼ bắt nguồn từ sự THIẾU hiểu biết chứ không từ sự hiểu biết những sự thực tôn giáo." (Trang V - CGSLAGDNG). Thật là một tâm tình rất đáng ngưỡng phục!

    Tuy nhiên, sau khi lướt qua "tác phẩm" CGSLAGDNG (CHÚA GIÊ-SU LÀ AI? GIẢNG DẠY NHỮNG GÌ?) của Trần Chung Ngọc, tôi thật sự thất vọng, một nỗi thất vọng lớn, và tiếc cho $15 đã bỏ ra mua "sách". Cái mà Giao Điểm giới thiệu: "thuộc loại nghiên cứu ở trình độ cao của một trí thức đã được đào tạo trên căn bản lương thiện và trong tinh thần khoa học của một khoa học gia, một nhà Vật Lý học", thực chất chỉ là một tổng hợp rác rưởi tư duy của những nhà "trí thức" hoang tưởng.

    Những "lý luận" của các nhà "trí thức" này nếu dùng để viết một bài văn nghị luận bậc trung học còn không đáng để được điểm trung bình. Cách trưng dẫn và giải thích Kinh Thánh của những "trí thức gia" này cho thấy rõ sự vô trí của họ. Trần Chung Ngọc chỉ làm công việc "lượm rác" trong những đống phế thải của tư tưởng nhân loại, vậy mà Giao Điểm lại huênh hoang gọi đó là một "tác phẩm thuộc loại nghiên cứu ở trình độ cao của một trí thức đã được đào tạo trên căn bản lương thiện và trong tinh thần khoa học của một khoa học gia, một nhà Vật Lý học". Thử hỏi, ngày hôm nay, nếu chúng ta muốn tìm hiểu về thực chất của XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, chúng ta sẽ đi tìm tài liệu ở đâu? Phải chăng chúng ta sẽ gom góp các tác phẩm của những cây viết của nhà văn chế độ cũ, cóp nhặt những đoạn ưng ý nhất của các tác giả đó, đem in thành một cuốn "sách", đặt cho nó cái tên: "XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Là GÌ? Đã Chiến Đấu Như Thế Nào"? Hai điểm nổi bật nhất trong "tác phẩm" CGSLAGDNG của Trần Chung Ngọc là:

    1) Thật ra Trần Chung Ngọc mượn tên Chúa Jesus để đánh phá Công Giáo. Hơn một nửa những gì Trần Chung Ngọc "viết" trong đó là đả kích Công Giáo. Chính chỗ này nói lên sự "lương thiện" của Trần Chung Ngọc. Sợ rằng, tiếp tục lấy tựa đề đả kích Công Giáo thì sẽ không "ăn khách" nữa, bởi giáo dân Công Giáo đâu có thừa tiền để bỏ ra nghe người ta chửi mình, còn Phật tử thuần thành thì đâu có chấp nhận sự sân si bài xích tôn giáo của người khác theo kiểu "đấu tố" một chiều của cộng sản. Ngay trong mấy trang đầu của cuốn "sách", Trần Chung Ngọc đã cho đăng hình của Giáo Hoàng John Paul II và hình vẽ cảnh linh mục Công Giáo thiêu sống thổ dân từ chối theo đạo. Những cái hình này có liên quan gì đến Chúa Jesus và sự giảng dạy của Chúa?

    Có thể nào, viết một cuốn sách lấy tên là "Đức Phật và Phật Pháp" rồi cho đăng hình mấy sư đeo mắt kính đen, ngồi xe jeep Mỹ, hút thuốc lá Mỹ, "chỉ đạo" những cuộc biểu tình chống Mỹ? Có thể nào đem chuyện "bàn thờ Phật xuống đường", hoặc chuyện mấy sư hổ mang, mấy dâm tăng ra để thóa mạ Phật Thích Ca Phật Pháp? Thiết tưởng, một trí thức, lại là một trí thức "được đào tạo trên căn bản lương thiện" phải biết thế nào là một việc làm lương thiệnkhông lương thiện. Thiết tưởng, một Phật tử thuần thành, lại là một "trí thức" Phật tử, không thể nào mở miệng, đặt bút để thóa mạ một ai. Nói lên một sự thật, khác với nhân danh sự thật để thóa mạ "chúng sinh".

    Trong quan điểm chân chính của Phật giáo: "Chúng sinh là Phật chưa thành!". Có thể nào, một Phật tử lại nhân danh này, nhân danh nọ (mở mang dân trí, đoàn kết dân tộc, bảo tồn văn hóa ...) là những cái "danh" tự nó cũng KHÔNG thật (theo thuyết Vô Ngã) để nhục mạ những vị "Phật sẽ thành"? Sự ngã mạn, biên kiến của Trần Chung Ngọc đối với Cơ đốc giáo nói chung, đối với Công Giáo La mã nói riêng, đã cho người đọc thấy rõ, Trần Chung Ngọc KHÔNG phải là một Phật tử thuần thành. Bởi lẽ, một Phật tử chân chính, cho dù không có tri thức cao về văn hoá, về Phật học, cũng biết là thái độ, lời ăn tiếng nói, bài viết của Trần Chung Ngọc KHÔNG xứng hợp với những ai tự cho mình là con Phật. Một cái miệng tụng niệm "Đức Phật đã thành", không thể nào thoát ra những lời ngã mạn, đê tiện, hạ nhục những vị "Phật sẽ thành".


    2) Tôi xin đăng lại nguyên văn phát biểu trên giấy trắng mực đen của Trần Chung Ngọc, để quý bạn đọc tự thẩm định:

    "Chính quyền Việt Nam cần phải ý thức được cái hiểm họa Ki Tô, Ca Tô cũng như Tin Lành, nếu không muốn truyền thống dân tộc và văn hóa của Việt Nam bị xóa sạch trong tương lai, rơi vào vòng nô lệ Vatican hay Tin Lành, bình phong tôn giáo của các đế quốc tư bản Âu Mỹ." (Trang 10, CGSLAGDNG)

    Tôi muốn hỏi Trần Chung Ngọc là chắc ông ta rất đau khổ khi phải sống trong "vòng nô lệ" Tin Lành trên đất nước "đế quốc tư bản" Mỹ này chăng?

    Chứ Trần Chung Ngọc không muốn cho dân tộc Việt Nam "chịu" đau khổ trong "vòng nô lệ" Vatican như dân Ý hoặc trong "vòng nô lệ" Tin Lành như dân Mỹ. Đến lúc nào Trần Chung Ngọc sẽ viết "sách" kêu gọi giải phóng nhân dân Ý và nhân dân Mỹ, để thành toàn "nghĩa vụ quốc tế" ???

    Nhưng, chính Trần Chung Ngọc lại tự mình mâu thuẫn với chính mình khi cũng trong bài "Lời Nói Đầu" Trần Chung Ngọc viết rằng: "Sự hòa hợp tôn giáo trong các nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ, nơi đây có vô số những sách viết về mọi tôn giáo, là một tấm gương để chúng ta soi vào." (Trang V - CGSLAGDNG). Thật là lạ lùng cho lối tư duy của "trí thức" Trần Chung Ngọc. Chỉ cách nhau 12 trang giấy, Trần Chung Ngọc vừa "soi" vào tấm gương hòa hợp tôn giáo ở các nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ xong, thì lại lớn tiếng cảnh báo chính quyền cộng sản Việt Nam coi chừng bị rơi vào "vòng nô lệ" Vatican hay Tin Lành, bình phong tôn giáo của các đế quốc tư bản Âu Mỹ." Vậy,

    Trần Chung Ngọc viết tiếp:

    "Chính quyền và người dân Việt Nam cần ý thức được tầm quan trọng của sự mở mang dân trí. Nếu không muốn mang tội với dân tộc trong lịch sử Việt Nam, chính quyền Việt Nam cần đẩy mạnh nỗ lực mở mang dân trí. Đây chính là sách lược then chốt để ngăn chặn sự xâm nhập văn hóa Việt Nam qua những luận điệu mê hoặc hoang đường của Ki Tô Giáo, đồng thời là cái chìa khóa để mở rộng cánh cửa tiến bộ về mọi mặt của nước nhà." (Trang 11 - CGSLAGDNG)

    Trong phần "Lời Giới Thiệu" của Giao Điểm (không biết do ai viết hay cũng do chính Trần Chung Ngọc viết) có đoạn sau đây:

    "Trong Chương II, Giáo sư Trần Chung Ngọc đã dẫn từ Thánh Kinh, Tân Ước, thuần túy từ Tân Ước, những lời Chúa Giê-su nói và những hành động của Người, và đưa ra một phân tích tổng hợp mà chúng tôi tin chắc quý bạn chưa bao giờ được nghe hoặc biết đến, vì người ngoại đạo cũng như người trong đạo thường không đọc Thánh Kinh, và dĩ nhiên, chẳng có ai mang những điều này ra giảng trong các nhà thờ." (Lời Giới Thiệu - CGSLAGDNG)

    Chắc chắn là những lời giải thích xuyên tạc, vô trí thức về Thánh Kinh thì tín đồ Cơ đốc giáo chẳng muốn nghe. Nhưng nói là "người trong đạo thường không đọc Thánh Kinh" thì thật là không biết phải đánh giá "trí thức" của các "đại trí thức gia" Giao Điểm như thế nào! Tự xưng là "trí thức" đuợc đào tạo trên căn bản lương thiện không biết rằng nếp sống đạo của Cơ đốc nhân dựa trên mối tương giao mật thiết với Đức chúa Trời bằng hai yếu tố bất khả phân ly: sự cầu nguyện và sự đọc Kinh Thánh. Cầu nguyện được gọi là hơi thở tâm linh, còn Kinh Thánh được gọi là thức ăn tâm linh của người theo Chúa. Đời sống đức tin của người theo Chúa chỉ có thể tăng trưởng khi người ấy cầu nguyện và đọc Kinh Thánh.

    Những sách giải kinh, những bài giảng về các câu Kinh Thánh Trần Chung Ngọc dẫn trong Chương II của cuốn "sách" CGSLAGDNG, nhiều đến nỗi hầu như một người không có đủ thời gian để mà đọc cho hết, vậy mà các "trí thức" Giao Điểm dám nói khơi khơi là "người ngoại đạo và người trong đạo thường không đọc Thánh Kinh, và dĩ nhiên, chẳng có ai mang những điều này ra giảng trong các nhà thờ." Các "trí thức" Giao Điểm hình như không thèm biết cái "sự thật" Kinh Thánh là một cuốn sách được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất trên thế giới, được in ra nhiều nhất trên thế giới, và thay đổi cuộc đời của nhiều người nhất trên thế giới. Nếu người trong đạo và ngay cả người ngoài đạo không đọc Kinh Thánh (chẳng biết Trần Chung Ngọc, quý "trí thức gia" Giao Điểm, và quý "trí thức gia" được Trần Chung Ngọc đăng, thuộc về người trong đạo hay người ngoài đạo?) thì Kinh Thánh được dịch và in ra để làm gì, từ năm này sang năm khác, và giá bán một quyển Kinh Thánh hoặc các sách giải kinh, các sách thần học không phải là rẻ, nếu so với các loại sách khác. Ở đây, chỉ nói để mà so sánh chứ không phải để khen chê, con số các cơ sở Phật Học Viện trên toàn thế giới cũng không nhiều bằng con số các Thần Học Viện chỉ riêng tại nước Mỹ; Con số các nhà sách Phật Học trên toàn thế giới gom lại cũng không nhiều bằng con số các nhà sách Thần Học chỉ trong một tiểu bang CA hoặc TX của Mỹ (cứ vào internet để search thì rõ). Con số kinh sách, giảng luận Phật Học được in ra trên toàn thế giới, cũng không nhiều bằng chính bản thân cuốn Kinh Thánh được in ra, chứ chưa nói đến các sách vỡ thần học và giải kinh!

    Tôi muốn nói cho Trần Chung Ngọc và nhà "trí thức" Giao Điểm nào đó viết lời giới thiệu cho Trần Chung Ngọc, biết rằng bất kỳ một câu Kinh Thánh nào Trần Chung Ngọc dẫn trong phần II của cuốn CGSLAGDNG, cũng đều được "người trong đạo" phân tích, giảng luận ít nhất là 10 lần hơn bất kỳ một câu kinh Phật nào được Phật tử phân tích và thuyết giảng. Tôi thách thức Trần Chung Ngọc "khảo cứu" một câu kinh Phật được phân tích và thuyết giảng nhiều nhất, được ghi lại trên giấy trắng mực đen, để xem câu kinh đó được phân tích và thuyết giảng bao nhiêu lần; rồi tôi sẽ chứng minh bằng sách vỡ, bất kỳ một câu Kinh Thánh nào mà Trần Chung Ngọc dẫn trong phần II của cuốn CGSLAGDNG, cũng đều được phân tích và giảng dạy ít nhất là 10 lần hơn câu kinh Phật đó.

    Ở đây, không phải tôi muốn đưa ra sự hơn thua về tính "phổ thông" của kinh Phật kinh Chúa. Nhưng tôi chỉ muốn nói cho Trần Chung Ngọc và các "trí thức" Giao Điểm biết rõ: Người tín đồ Cơ đốc giáo chân chính đọc, phân tích, giảng dạy, và thực dụng Kinh Thánh mỗi ngày trong đời sống của họ. Đó là lẽ sống của đời họ! Và, điều đó được chứng minh bằng không biết bao nhiêu sách vỡ đã ghi lại kết quả của sự đọc, phân tích, và giảng giải Kinh Thánh của tín đồ Cơ đốc. Tín đồ Cơ đốc chân chính tin theo Chúa Jesus không chỉ dựa trên lời tường thuật trong Kinh Thánh, mà còn là dựa vào quyền năng thay đổi lòng người của Kinh Thánh. Nếu Kinh Thánh có lý thuyết hay đến đâu, lý luận có thuyết phục đến đâu, nhưng những người tín đồ Cơ đốc không kinh nghiệm được những điều Kinh Thánh dạy trong chính tâm linh họ: "Sự bình an thiên thượng" mà thế gian không thể hiểu; "Năng lực thắng được sự cám dỗ làm điều dữ và năng lực làm trọn những điều lành"; "Sự tiêu tan của mặc cảm tội lỗi sau khi hưởng ân cứu rỗi của Chúa"; "Tình yêu thiên thượng khiến một người có thể tha thứ và yêu thương ngay chính kẻ thù của mình"; v.v... thì họ không vì đức tin mà chịu tử đạo cả hàng triệu người đâu! Những Cơ đốc nhân được gì khi họ bỏ hết mọi sự tiện nghi, sung túc trong một thế giới văn minh để đến với những con người cùi phung, lỡ lói, tật bệnh thiếu nghèo trong chốn rừng sâu núi thẳm? (Những con người mà "Phật tử" Trần Chung Ngọc gọi là "còn đóng khố" hàm ý miệt thị họ là bán khai, ngu dốt, thất học!). Ai vinh danh họ? Phần thưởng nào, huy chương nào được trao tặng cho họ? Động cơ nào? sức mạnh nào thúc đẩy và giúp họ trung thành với nghĩa cử dấn thân cao đẹp đó cho đến cuối cuộc đời? Chỉ có một câu trả lời thỏa đáng: Chúa Cứu Thế Jesus Christ mà họ tin nhận đó, thật sự là Chân Lý, là Tình Yêu, là Sự Sống đang sống trong chính họ, là động cơ và sức mạnh để trái tim họ tan chảy ra trước đau khổ, nhục nhằn của đồng loại. Lý trí bình thường của một con người cũng nhận ra được điều này! Câu: "người ngoại đạo và người trong đạo thường không đọc Thánh Kinh, và dĩ nhiên, chẳng có ai mang những điều này ra giảng trong các nhà thờ." thật sự là câu nói vô căn cứ của một người vô trí thức.

    Trong "Lời nói đầu", Trần Chung Ngọc viết: "Sự thật là sự thật, sự thật không có tính cách bè phái và tuyệt đối không thiên vị. Lương tâm trí thức của bất cứ người Việt Nam nào quan tâm đến vấn đề tôn giáo là phải tôn trọng sự thật trong các tôn giáo, bất kể sự thật đó như thế nào. Trong thời đại này, chúng ta phải có can đảm đối diện với sự thật dù sự thật đó không hợp ý ta hay mang đến cho chúng ta ít nhiều phiền muộn." (Trang IV & V - CGSLAGDNG)

    Tôi ngờ rằng người viết "Lời giới thiệu" cho Trần Chung Ngọc không phải là một người "trí thức" Việt Nam, bởi người đó không dám "tôn trọng" sự thật là Cơ đốc nhân xem việc đọc Kinh Thánh là nhu cầu sống chết, sự thật là Kinh Thánh được in và dịch ra nhiều nhất trên toàn thế giới. Hoặc giả, người đó là một "trí thức" Việt Nam nhưng KHÔNG có lòng quan tâm đến vấn đề Tôn Giáo, mà chỉ quan tâm làm sao cho "Đảng" đắc lợi trong việc khuấy động hận thù giữa Phật Giáo Công Giáo.

    Tôi cũng ngờ là Trần Chung Ngọc tuy nói vậy mà không phải vậy. Chính trong phần "Dẫn nhập" Trần Chung Ngọc đã dịch "Justification by Faith" ra Việt ngữ là: "Đức Tin biện minh cho tất cả" đủ để cho thấy trình độ "trí thức" và mức độ "lương thiện" của tác giả trong sự quan tâm đến tôn giáo. (Justification by Faith là giáo lý về "sự xưng nghĩa bởi đức tin" của Cơ đốc giáo) "Đức Tin biện minh cho tất cả" có nghĩa là gì? Phải chăng, Trần Chung Ngọc muốn gieo rắc vào đầu người đọc một ấn tượng sai lầm về lẽ đạo quan trọng của Cơ Đốc Giáo? Dịch "bậy" một cách đầy ác ý như vậy là một sự cố tình "chơi chữ" của Trần Chung Ngọc.

    Trần Chung Ngọc muốn lập lờ trong sự một từ hai nghĩa của "justify và justification" trong Anh ngữ. (Justify = to show a sufficient lawful reason for an act done. Justification = the act, process, or state of being justified by God - Merriam Webster's Collegiate Dictionary - Được xưng công nghĩa bởi đức tin nghĩa là một tội nhân được Đức Chúa Trời xưng là sạch tội khi người ấy tin nhận rằng Đức Chúa Jesus đã chết trên thập tự giá để trả nợ tội thế cho người ấy.) Nếu một người thử dịch "Đức Tin biện minh cho tất cả" ra Anh ngữ, dịch một cách nghiêm chỉnh, sát nghĩa, sẽ thấy được cái ác ý của Trần Chung Ngọc. Nhưng, tôi cũng không ngạc nhiên đâu, bởi vì câu nói: "Cứu cánh biện minh cho phương tiện" là câu kinh nhật tụng của người cộng sản. Trần Chung Ngọc có vì quen miệng, hoặc vì "tâm đắc" với ý nghĩa của câu kinh cộng sản ấy mà cố tình dịch "bậy" cũng là điều tự nhiên.

    Trong suốt cuốn "sách", Trần Chung Ngọc không ngớt mạ lỵ các tín đồ của Đấng Christ như là những người "tầm thường, ngu dốt, thất học" và tìm cách đề cao Phật Giáo (chắc có hậu ý để cho Công Giáo "đánh trả" vào Phật Giáo). Thế nhưng khi nhắc đến các tác giả Cơ đốc người Việt như Tiến sĩ Lê Anh Huy, Tiến sĩ Phan Như Ngọc, "Cựu Đại Đức Phật Giáo" Nguyễn Huệ Nhật (xuất thân đại học Vạn Hạnh), thì Trần Chung Ngọc "phe lờ" học vị của những tác giả này. Làm như thể Lê Anh Huy, Phan Như Ngọc, Nguyễn Huệ Nhật là những "tín đồ Cơ đốc tầm thường, ngu dốt, thất học, và cuồng tín chỉ biết nhắm mắt nghe theo lời giảng của các mục sư mà không hề tự mình đọc Kinh Thánh". Chính điểm này cũng nói lên cái "trí thức lương thiện" của Trần Chung Ngọc. Tôi không biết Trần Chung Ngọc sẽ có đủ can đảm để viết rằng nhà khoa học Isaac Newton, một tín đồ Cơ đốc chân thành - cha đẻ của định luật vật lýTrần Chung Ngọc phải mài đũng quần trên ghế của nhà trường để học, để thán phục, để mang cái học đó ra truyền lại cho người khác - cũng là "một tín đồ Cơ đốc tầm thường, ngu dốt, thất học, và cuồng tín chỉ biết nhắm mắt nghe theo lời giảng của các mục sư mà không hề tự mình đọc Kinh Thánh" hay không! (theo tài liệu của Giao Điểm thì Trần Chung Ngọc là một khoa học gia, một nhà vật lý học, từng dạy vật lý trong một đại học ở Mỹ). Ở đây, tôi không có cái ý "khoe khoang bằng cấp" giùm cho những tác giả nói trên, nhưng vì Trần Chung Ngọc không ngớt mạ lỵ tín đồ Cơ đốc như là những kẻ tầm thường, ngu dốt, thất học, mê tín và cuồng tín nên tôi mới nêu ra cái điểm nổi bật về "trí thức" và "lương thiện" biết tôn trọng sự thật của Trần Chung Ngọc.

    Thật ra, tôi không muốn dính vào những thứ rác rưởi Trần Chung Ngọc đã cất công thu thập một cách rất là "tâm đắc", (nói một tín ngưỡng là đúng hoặc sai theo nhận định chủ quan của mình, khác với việc mạ lỵ một tín ngưỡng). Nếu Phật Thích Ca tuyên bố là có đến 84,000 pháp môn để qua đó một người có thể tìm đến chân lý, thì Trần Chung Ngọc và các "trí thức" Giao Điểm là ai để phán định Cơ đốc giáo không thuộc một trong 84,000 pháp môn ấy? Tôi nói đây, là theo quan điểm và lý luận chính tông của Phật Giáo! Cho nên, bài bác, mạ lỵ một tôn giáo, một "pháp môn" mà tự mình chưa hề bao giờ chứng nghiệm, tức là chỉ tuôn ra những thứ rác rưởi, xuất phát từ ngã mạnbiện kiến! Nhưng, xét ra, cũng nên "tản mạn" một chút về những điều "tâm đắc" của Trần Chung Ngọc như là một hình thức "tái chế" những rác rưởi trong tâm linh của ông ta thành một thứ "phân bón" hầu sau này, sẽ hữu dụng trong việc giúp ông tăng trưởng đức tin mà tôi mong rằng một ngày nào đó, ông sẽ tìm gặp trong Chúa Cứu Thế Jesus Christ, trước khi quá muộn. Bên cạnh đó, cũng nên có một bài nhận định về cuốn "sách" của Trần Chung Ngọc để giúp hóa giải những chất độc vô thần, phỉ báng tôn giáo, phỉ báng Đức Chúa Trời, Trần Chung Ngọc cùng nhóm Giao Điểm đang hung hăng, điên cuồng gieo rắc.

    Trong những bài kế tiếp, tôi sẽ chỉ đề cập đến những "hiểu biết" ấu trỉ của nhà "trí thức lương thiện" Trần Chung Ngọc xoay quanh hai tiêu đề "Chúa Jesus là ai?" "Chúa Jesus giảng dạy những gì?" Mặc dù đó chỉ là "diện" của cuốn "sách", còn "điểm" của cuốn "sách" là tấn công vào giáo hội Công Giáo, nhưng xin để cho quý vị giáo dân và hàng giáo phẩm Công Giáo lên tiếng về phần đó. Tôi nghĩ, Trần Chung Ngọc "ghét" Kinh Thánh là vì trong đó có một câu như sau: "Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng: Không có Đức Chúa Trời." (Thi Thiên 14:1 & 53:1). Kinh Thánh gọi nhà "trí thức đã được đào tạo trên căn bản lương thiện và trong tinh thần khoa học của một khoa học gia, một nhà Vật Lý học" nhưng vô thần Trần Chung Ngọc là một kẻ ngu dại nên Trần Chung Ngọc "ghét cay ghét đắng" Kinh Thánh, nhất là sách Thi Thiên, và "căm thù" vua Đa vít, là người ghi lại câu đó. Nếu Đức Chúa Trời đã gọi những kẻ vô thần chỉ nói thầm trong lòng rằng không có Đức Chúa Trời là "kẻ ngu dại", thử hỏi, những kẻ vô thần nói ra miệng, viết thành "sách" rằng không có Đức Chúa Trời, như Trần Chung Ngọc và nhóm Giao Điểm còn "ngu dại" đến đâu.

    Cũng xin mở ngoặc nơi đây để nói riêng với các bạn đọc Phật Giáo chân chính. Câu: "Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng: Không có Đức Chúa Trời." là tuyên phán của Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta chấp nhận có Đức Chúa Trời, thì Ngài há không có quyền "mắng" Trần Chung Ngọc là ngu dại hay sao, khi Trần Chung Ngọc không nhận thức nổi sự thực hữu của Đấng đã tạo dựng ra ông? Còn nếu lý luận rằng Đức Chúa Trời không có thật, Kinh Thánh là sản phẩm mạo danh Chúa, thì có gì khiến cho Trần Chung Ngọc phải nổi nóng, nếu Trần Chung Ngọc thật sự là một Phật tử? Chắc các bạn đều rõ thái độ của Phật Thích Ca như thế nào, khi có người đến mắng chửi xối xả vào mặt Phật, ngay trước sự chứng kiến của hàng đệ tử! Trong giao tiếp thường ngày của tôi, tôi quen biết nhiều người là Phật tử, cá nhân tôi, đã từng tu theo Phật Pháp, nhưng trong mười Phật tử tôi gặp, không có đến một người chấp nhận mình là "vô thần", nghĩa là không tin nhận có một Đấng Cao Siêu Tuyệt Đối, làm ra và tể trị vũ trụ này. Tùy theo quan niệm, tư duy của mỗi người, Đấng ấy có thể được gọi là Ông Trời, là Đấng Tạo Hóa, hay được gọi là Đức Chúa Trời trong đức tin của người Cơ đốc! Họa hoằn lắm, tôi mới gặp những "trí thức" phật tử vô thần. Phật Thích Cabác bỏ một "Đức Chúa Trời" bị nhân cách hóa theo quan niệm của các dân tộc mê tín, theo tâm cảnh mình, tự dựng ra một "Đức Chúa Trời" để thờ phượng của thời điểm lịch sử lúc bấy giờ; nhưng Phật Thích Ca không phủ nhận một Đức Chúa Trời, vượt ngoài, không-thời-gian và vật chất! Bởi, chính Phật Thích Ca, gọi đích Danh Ngài là: Chân Lý! Khoảng 500 năm sau, Đấng Chân Lý đó, khi đến kỳ hạn đã ấn định, nhập thế làm người để dẹp bỏ các "Thần" do loài người dựng nên và mạc khải cho loài người một Chân Thần, qua thân vị Chúa Cứu Thế Jesus!

    Tôi thành thật khuyên bạn đọc đừng bỏ ra $15 để mua cuốn "sách" CGSLAGDNG của Trần Chung Ngọc , phí tiền! Trong những bài viết kế tiếp, tôi sẽ tổng kết nội dung của "sách" ấy. Nhưng nếu bạn đọc muốn biết chính xác, Trần Chung Ngọc đã mượn danh Phật tử để làm những việc không lương thiện như thế nào thì việc bỏ ra $15 để mua cuốn "sách" của Trần Chung Ngọc về đọc cũng chẳng phải là không đáng!

    Cá nhân tôi, chưa hề quen biết gì với Trần Chung Ngọc, nếu xét về tuổi đời, có lẽ Trần Chung Ngọc xứng là bậc cha chú của tôi. Nếu gặp mặt ông ngoài đời, tôi sẽ lễ phép khoanh tay cúi đầu kính chào ông. Nếu ông có lớn tiếng chửi mắng tôi vì cho là tôi ngu dốt, vong bản khi tin theo Chúa Jesus thì tôi cũng chẳng buồn giận gì ông và cũng sẽ không dám vô lễ với ông. Nhưng khi ông đã lợi dụng chữ nghĩa để gieo rắc những nọc độc của sự DỐI TRÁ, có thể làm hại đến biết bao linh hồn của đồng bào tôi, dân tộc tôi, thì tôi nhận thấy mình cũng như bất kỳ ai biết tôn trọng công lý và sự lương thiện, đều có trách nhiệm "giải độc". Trong tiến trình giải độc đó, việc quan trọng và cần thiết là phải lột mặt nạ của kẻ gieo rắc chất độc. Kẻ gieo rắc chất độc, dù mặc áo y tế, dùng ngôn ngữ của bác sĩ, thì vẫn là kẻ sát nhân. Cho nên, xin bạn đọc thông cảm với tôi, nếu tôi có gọi đích danh Trần Chung Ngọc là một "trí thức" vô trí và bất lương , đội lốt Phật tử, Mặt khác, tôi thật sự xót xa cho số phận tâm linh của Trần Chung Ngọc. Tôi có thể nói mà không thẹn với lòng mình và với Chúa Cứu Thế Jesus Christ Chúa,Đức Chúa Trời của tôi rằng: "Nếu có phải đánh đổi tất cả những gì tôi có, ngay cả mạng sống của tôi, để chắc chắn là Trần Chung Ngọc thật lòng tin nhận Chúa Jesus như tôi, tôi sẽ không ngần ngại!" Linh hồn của Trần Chung Ngọc hoặc của bất kỳ một ai, rất là quý báu trước mặt Đức Chúa Trời. Chính Chúa Jesus tuyên bố, cả thế gian này cũng không xứng với giá trị của một linh hồn! Còn về lẽ thật cứu rỗi của Cơ đốc giáo, thì Trần Chung Ngọc không cần phải được nghe giảng nữa. Kinh Thánh gọi những người như Trần Chung Ngọc là đui mù tâm linh. Chúng ta không thể cố gắng chiếu ánh sáng vào trong một đôi mắt đã đui mù rồi mong cho đôi mắt ấy tiếp nhận ánh sáng. Chỉ trừ khi, vì lòng nhân từ thương xót của Chúa mà Ngài chữa lành chứng đui mù tâm linh cho Trần Chung Ngọc, thì ông ta mới nhận biết Chúa. Chúng ta hãy cầu xin điều đó cho Trần Chung Ngọc.

    Nguồn: http://www.vnnclub.com/showthread.ph...#ixzz2tsJYT4Rv

  10. #10
    Join Date
    Jan 2007
    Posts
    762
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts

    Re: Người anh em: Hãy tỉnh thức

    Quote Originally Posted by adam_nguyen View Post
    PHỤ NỮ ISLAM...Bây giờ chúng ta hãy thảo luận câu hỏi quan trọngvề chế độ đa thê...15. CHẾ ĐỘ ĐA THÊ-Vua Solomon có 700 vợ và 300 nàng hầu (1 Kings11:3). -Vua David có nhiều vợ và nàng hầu (2 Samuel 5:13). -Kinh Cựu ước có mộtvài huấn thị cách phân chia tài sản của một người đàn ông cho con trai từ cácbà vợ khác nhau (Deut. 22:7).- -Chỉ có một giới hạn cho sự đa thê là cấm lấy chị/emgái của vợ làm vợ lẽ (Leviticus 18:18). -Talmud khuyên số vợ nhiều nhất là bốn[Swidler, op. Cit., p. 144-148]. -Người Do Thái ở châu Âu tiếp tục thực hành chếđộ đa thê đến thế kỷ 16. -Người Do Thái ở phương Đông đều đặn thực hành chế độđa thê tới khi họ đến Israel nơi mà đa thê bị cấm bởi luật dân sự. -Tuy nhiên,khi luật tôn giáo mạnh hơn luật dân sự thì trong các trường hợp này là đượcphép [Hazleton, op. Cit.,pp. 44-45].__________________________Thế còn kinh Tân ước thì sao? Theo Cha Eugene Hillman trong sách ‘Chế độđa thê được xét lại’: “Không có chỗ nào trong kinh Tân Ước có điều răn rõ ràngrằng hôn nhân phải là một vợ một chồng hay không có điều răn rõ ràng nào cấm chếđộ đa thê” [Eugene Hillman, Polygamy Reconsidered: African Plural Marriage andthe Christian Churches (new York: Orbis Books, 1975) p. 140].Hơn nữa, Giê-su (عليه السلام) không nói gì chống lại chế độ đathê mặc dù nó được người Do Thái thực hành trong xã hội của ông. (Cha Hillman)nhấn mạnh thực tế là nhà thờ ở Rome đã cấm đa thê để phù hợp với văn hoá Hy Lạp– La Mã (đã quy định chỉ một vợ hợp pháp trong khi không phản đối việc lấy vợ lẽvà nạn mại dâm). Ông đã trích lời St. Augustine, “Bây giờ thực sự trong thời đạicủa chúng ta, và để giữ phong tục La Mã, chúng ta không được phép lấy thêm vợ”[Ibid, p. 17]. Các nhà thờ châu Phi và người Thiên Chúa giáo châu Phi thường nhắcnhở các anh em châu Âu của họ về lệnh cấm chế độ đa thê của nhà thờ là một truyềnthống văn hoá chứ không phải lệnh huấn thị đích thực của Thiên Chúa giáo.Qur’an cũng cho phép chế độ đa thê nhưng không bỏ qua các điều khoản:وَإِنْخِفْتُمْأَلاَّتُقْسِطُواْفِيالْيَتَامَىفَانكِحُواْمَاطَابَلَكُممِّنَالنِّسَاءمَثْنَىوَثُلاَثَوَرُبَاعَفَإِنْخِفْتُمْأَلاَّتَعْدِلُواْفَوَاحِدَةً…(النساء: 3)“Và nếu các người sợ không thể đối xử công bằng vớicác con (gái) mồ côi, hãy cưới những người phụ nữ (khác) mà các người vừa ý hoặchai, hoặc ba, hoặc bốn. Nhưng nếu các người sợ không thể (ăn ở) công bằng với họ(vợ)thì hãy cưới một ngườivợ mà thôi…” (Qur’an 4:3).
    Trong vườn Eden, Đức Chúa Trời đã đặt tiêu chuẩn một vợ, một chồng cho hôn nhân đầu tiên. Không đặt tiêu chuẩn cho đa thê(Sáng-thế Ký 2:18-24).Về sau, Chúa Giê-su xác nhận lại tiêu chuẩn này với các môn đồ ngài.

    Matthiew 19:4
    N
    gài đáp: “Các ông chưa đọc điều này sao?
    Từ ban đầu,
    Đ
    ng tạo ra con người đã dựng nên người nam và người nữ, rồi phán:
    'Bởi vậy, người nam sẽ rời cha mẹ để gắn bó với vợ mình, và hai người sẽ trở nên một'?
    Như thế họ khôngcòn là hai nữa, nhưng là một mà thôi.”.

    -”In reply he said: Have you not readthat the one who created them from the beginning made them male and female, andsaid: ‘For this reason a man will leave his father and his mother and willstick to his wife, and the two will be one flesh’? So that they are no longertwo, but one flesh. Therefore, what God has yoked together, let no man putapart.”-

    -En réponse ildit : “ N’avez-vous pas lu que celui qui les a créés, dès [le]commencement les a faits mâle et femelle, et qu’il a dit : ‘ C’est pourquoi l’hommequittera son père et sa mère et s’attachera à sa femme, et les deux seront une seule chair? Si bien qu’ils ne sont plus deux, mais une seule chair. Donc, ce que Dieu a attelé au même joug, que l’homme ne le séparepas”.


    Một kết luận hợp lý:
    Đức Chúa Trời không tạo một Adam với nhiều Eve !

    Trước thời Chúa Giê-su, những người trung thành với Đức Chúa Trời là ông Abraham, Jacob, David và Salomon đã có nhiều vợ…Đúng vậy, nhưng kết quả là gì? Kinh Thánh ghi lại rằng gia đình của Abraham & Jacob nảy sinh nhiều bất đồng và tranh cạnh (Sáng-thế Ký 16:1-4; 29:18–30:24). Sau này,luật pháp Đức Chúa Trời có quy định dành cho các vị vua nh
    ư sau:
    (Phục-truyềnLuật-lệ Ký 17:15, 17)
    “Vua... không nên kén nhiều phi tần, e lòng người trở xấu-xa”.

    Tuy nhiên, vua Salomon đã lờ đi luật này và cưới đến hơn 700 người vợ! Kết quả thật đáng buồn, họ đã tác động xấu đến Salomon, nên lòng ông không còn trọn vẹn với Đức Jehovah (1 Các Vua 11:1-4). Rõ ràng, Kinh Thánh đã ghi lại nhiều hậu quả đau buồn và tai hại của tục đa thê.Tại sao Thiên Chúa đã để dân Do-Thái thực hành tục đa thê? Ngài có lý do để chịu đựng dân Ngài làm một số điều mà Ngài không thích. Dĩ nhiên, Đức Chúa Trời có quan điểm và cách hành động thông sáng hơn sự suy nghĩ và lý luận của loài người. (Ê-sai 55:8, 9) Tuy nhiên,có một số lý do chính đáng để Đức ChúaTrời cho phép tục đa thê tồn tại trong một thời gian, có thể vì những nguyên nhân sau đây :

    Tại vườn Ê-đen, khi Adam & Eve bị Satan xui giục phạm tội. Jehovah Đức Chúa Trời đã hứa sẽ có một “dòng-dõi” hủy diệt Sa-tan. Về sau, Abraham biết rằng ông sẽ là cha của một dân tộc lớn và "dòng dõi" được báo trước ấy sẽ đến với con cháu của ông.(Sáng-thếKý 3:15 & 22:18)

    Tuy nhiên, Sa-tan vì quyết tâm ngăn cản "dòng dõi" ấy xuất hiện, nên ác thần nầy đã cố gắng tìm cách hủy diệt dân Israel xưa. Hắn thường cám dỗ dân nầy phạm tội vô luân với những phụ nữ ngoại giáo để họ ô-uế không được Đức Chúa Trời chấp nhận và che chở, vì Ngài muốn họ phải giữ sự thánh khiết.Để giúp dân Ngài không rơi vào bẫy của Sa-tan, Đức Giê-hô-va nhiều lần sai các nhà tiên tri đến cảnh báo dân sự khi họ bắt đầu có khuynh hướng đi ngược lại tiêu chuẩn của Ngài.

    Tuy nhiên, Đức Ch
    úa Trời biết trước dân Y-sơ-ra-ên nhiều lần sẽ không vâng theo mệnh lệnh của Ngài, ngay cả điều rất cơ bản như việc không thờ hình tượng (Xuất Ê-díp-tô Ký 32:9). Nếu vâng theo một mệnh lệnh cơ bản như thế mà còn khó khăn với họ, thì liệu họ có thể giữ mình về tục đa thê, một thực hành đã có từ lâu đời vào thời ấy chăng? Thế nên, có thể chưa đến lúc Thiên Chúa cấm tục đa thê là vì Ngài hiểu rõ dân nầy sẽ hành động nông nỗi thế nào nếu bị cấm tục này, và Sa-tan có lẽ sẽ dễ dàng tìm ra cách cám dỗ dân Israel phạm tội.

    Ngoài ra, Đức Chúa Trời tạm thời chấp nhận tục đa thê cũng vì tình trạng dân nầy luôn phải đối đầu với sự tranh chiến, nên trai thiếu gái thừa, nhiều gụá phu. Đa thê cũng là cách giúp cho dân Israel tái phát triển nhanh chóng. Dân số đông thì bảo đảm nước này sẽ tồn tại cho đến khi Chúa Giê-su xuất hiện.

    Lý do khác là để bảo vệ phần nào cho một số phụ nữ, giúp họ có nơi ở và gia đình để nương tựa trong giai đoạn kh
    ó khăn, nguy hiểm. Khi các lân bang thù ghét luôn tìm cách tiêu diệt đám dân thiểu số nầy.

    Đến khi Chúa Giê-su đã giáng thế, thì một số luật lệ của Moses cần phải điều chỉnh lại. Đức Chúa Trời muốn chấm dứt tục đa thê, vì thế, Chúa Giê-su đã khẳng định lại tiêu chuẩn về hôn nhân được thiết lập ở vườn Eden. Đó là lý do Chúa Giê-su cấm các môn đồ thực hành tục đa thê

    (Mác 10:6-8)
    "Nhưng từ ban đầu, ‘ngài đã dựng nên người nam và người nữ.
    Vì vậy, người nam sẽ rời cha mẹ mình, và hai người trở nên một’;
    như thế họ không còn là hai nữa nhưng là một mà thôi”.

    However, from the beginning of creation, ‘He made them male and female. For this reason a man will leave his father and his mother, and the two will be oneflesh,’so that they are nolonger two, but one flesh”.

    "Cependant, dès [le] commencement de [la] création ‘ Il les fit mâle et femelle. À cause de cela, l’homme quittera son père et sa mère, et les deux seront une seule chair’ ; si bien qu’ils ne sont plus deux, mais une seule chair ".


    Rõ ràng, Luật Pháp Môi-se có giá trị trong một thời gian, nhưng “luật-pháp của Đấng Christ” thì có giá trị lâu dài (Ga-la-ti 6:2).Cái ông Lm Eugene Hillman nào đó mà bạn A.N đưa ra để biện hộ cho tục đa thê của HG chỉ là học “giả” mà Kinh-Thánh đã từng nói đến, ông ta khôngcó liên hệ gì so với lời dạy của Chúa Giê-su để bạn phải dẫn chứng cả!



    Last edited by JACOMPT; 09-14-2015 at 12:57 AM.

  11. #11
    Join Date
    Jan 2007
    Posts
    762
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts

    Re: Người anh em: Hãy tỉnh thức

    “Và nếu các người s không th đi x công bng vicác con(gái) m côi, hãycưới nhng người ph n (khác) mà các người va ý hoc hai, hoc ba, hoc bn. Nhưng nếu các người s không th (ăn ) công bng vi h(v)thìhãy cưới mt ngườiv mà thôi …”(Qur’an 4:3).
    Rõ ràng Qur’an 4 : 3 ghi như thế là phải ngầm hiểu chỉ dành cho những anh nhà giàu, tiền bạc rủng rỉnh, dư dật sanh rậm rật, mới có khả năng đáp ứng nhu cầu vật chất cho nhiều vợ, chẳng phải là ông Muh. đã đặt ra những câu nầy để mình có thể danh chính ngôn thuận hưởng nhiều vợ và ru ngủ những gã nhà nghèo sao? bởi họ lam lũ cần cù, lương chỉ đủ sống qua ngày thì giấc mơ nhiều vợ, ăn đồng chia đủ chỉ là ảo tưởng chứ làm gì có đủ khả năng như ông Muh.?

    Một câu hỏi: Khi bà vợ chánh còn sống, ông có dám thực hành điều mình viết không? Hẳn bạn hiểu hơn ai cả về tiểu sử Muhammad, lúc bà xã của Muh. chưa qua đời, ông đã nhất dạ thuỷ chung và có với bà dường như 7 đứa con, đúng vậy không?

    Khi m
    ột gã thuộc diện "quân tử ăn chẳng cầu no" (NCT) được một nữ thương gia giàu có tin yêu nâng đỡ và lấy làm chồng, lại hết lòng ủng hộ những gì ông muốn...Khi ấy ông có dám hó hé phòng nhì, phòng ba không? Dường như chỉ sau khi quyền bính qui về một mối, ông mới xây nhiều phòng như thế...đúng vậy không?


    Last edited by JACOMPT; 09-14-2015 at 01:01 AM.

  12. #12
    Join Date
    Sep 2012
    Posts
    345
    Thanks
    0
    Thanked 2 Times in 2 Posts

    Icon16 Re: Người anh em: Hãy tỉnh thức

    Quote Originally Posted by JACOMPT View Post
    Rõ ràng Qur’an 4 : 3 ghi như thế là phải ngầm hiểu chỉ dành cho những anh nhà giàu, tiền bạc rủng rỉnh, dư dật sanh rậm rật, mới có khả năng đáp ứng nhu cầu vật chất cho nhiều vợ, chẳng phải là ông Muh. đã đặt ra những câu nầy để mình có thể danh chính ngôn thuận hưởng nhiều vợ và ru ngủ những gã nhà nghèo sao? bởi họ lam lũ cần cù, lương chỉ đủ sống qua ngày thì giấc mơ nhiều vợ, ăn đồng chia đủ chỉ là ảo tưởng chứ làm gì có đủ khả năng như ông Muh.?

    Một câu hỏi: Khi bà vợ chánh còn sống, ông có dám thực hành điều mình viết không? Hẳn bạn hiểu hơn ai cả về tiểu sử Muhammad, lúc bà xã của Muh. chưa qua đời, ông đã nhất dạ thuỷ chung và có với bà dường như 7 đứa con, đúng vậy không?

    Khi m
    ột gã thuộc diện "quân tử ăn chẳng cầu no" (NCT) được một nữ thương gia giàu có tin yêu nâng đỡ và lấy làm chồng, lại hết lòng ủng hộ những gì ông muốn...Khi ấy ông có dám hó hé phòng nhì, phòng ba không? Dường như chỉ sau khi quyền bính qui về một mối, ông mới xây nhiều phòng như thế...đúng vậy không?


    Như bạn đả biết trong kinh thánh đả nói đến vấn đề đa thê của các nhà tiên tri có người có đến 700 vợ. Điều nầy cho thấy việc đa thê rất phổ biến ở xả hội thời bấy giờ tại Trung đông nói riêng và trên thế giới nói chung, như thế chính Islam đả làm một cuộc cách mạng cải cách luật gia đình khi ấn định con số 4 vợ cho đàn ông, nhưng con số 4 nầy chưa hẳn là giải pháp ổn thỏa, nên Islam ấn định người nào muốn cưới vợ lẻ phải có sự đồng ý của vợ cả và phải có tài sản nuôi dưởng, yêu thương đồng đều như nhau. Nếu kẻ nào không cóa khả năng thì chỉ cưới 1 vợ mà thôi, như Allah đả phán dạy trong kinh Coran.
    Nói chung thì chính Islam đả cải cách luật gia đình để mang lại hạnh phuac cho mọi người.

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •