Page 2 of 3 FirstFirst 123 LastLast
Results 21 to 40 of 59

Thread: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

  
  1. #21
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    4.37. Những ngày ở Trại 3 (Hồ Thác Bà)
    Đang ở Trại 5, bây giờ chuyển sang Trại 3, nhất là không còn hung thần Phạm Ngọc Diêu làm đội trưởng nữa, tôi có cảm tưởng như mình đang từ tầng thứ chín địa ngục được lên tầng thứ sáu, thứ bẩy vậy. Thật là sảng khoái chi lạ! Ở đây, tôi quen biết được một số bạn bè mới mà họ thuộc thành phần ở lại của Trại 3 để sáp nhập với nhóm Trại 5 chúng tôi mới tới. Tôi chỉ còn nhớ tên một số ít thôi, gồm có các anh như Hồ Đắc Thái, Võ Tấn Tài, Vũ Cao Hiến, Trần Cao Chánh, Nguyễn Chánh Vi, và anh Lộc. Hồ Đắc Thái, Vũ Cao Hiến, và Nguyễn Chánh Vi đều bị chết trên đường vượt biển. Võ Tấn Tài đang ở Houston. Trần Cao Chánh không rõ hiện nay ở tiểu bang nào.

    Riêng anh Lộc, có biệt danh là Lộc “Chị năm” vì anh có giọng nói ỏn ẻn như con gái. Anh Lộc được tha đầu năm 1981, là người đã tới gặp em trai của tôi để chuyển lời tôi nhắn chú em tôi, như đã kể ở phần trên. Vì một lý do nào đó, anh Lộc không đi Mỹ như mọi người, mà ở lại Việt Nam. Anh Lương Văn Quang, là người trước đây ở cùng xã với anh Lộc, mới đây (2008) cho tôi biết rằng anh Lộc dạo này trúng mối vì giá đất đai ở Sài-Gòn lên cao, anh Lộc nhờ vậy hốt được khá nhiều tiền bán đất. Do đó hiện nay cuộc sống của gia đình anh rất sung túc. Cũng mừng cho anh.

    Trong thời gian ở đây, chúng tôi đã bắt đầu nghe được các bài chửi Trung Cộng từ loa phóng thanh của trại. Đồng thời hàng tuần cũng được đọc báo Quân Đội Nhân Dân. Nhờ đó mới biết rằng Việt Nam và Trung Cộng bây giờ đang đối đầu nhau gay cấn, chứ không còn tình đồng chí như trước nữa. Hơn nữa, chúng tôi không phải làm công việc gì có tính cách xây dựng trong trại. Công việc hằng ngày của chúng tôi là duy trì mấy mảnh vườn rau và thay phiên nhau đi đào sắn cho nhà bếp. Thỉnh thoảng, một đội được cử đi lên kho Liên Trại 4 (xã Cẩm Nhân) để khiêng gạo và mắm muối về trại.

    Căn cứ vào mấy sự việc kể trên, chúng tôi chắc rằng chúng tôi sẽ bị chuyển sâu xuống phía nam để tránh xa vùng lửa đạn. Trong thâm tâm, tôi thầm mong cho quân Tầu đánh sớm, trước khi Việt Cộng đưa chúng tôi về phía nam, với hy vọng rằng mình sẽ có cơ hội trốn thoát. Bình tâm mà xét, đã là người Việt Nam, ai lại muốn cho giặc Tầu sang đánh nước mình cơ chứ. Nhưng ở vào hoàn cảnh nghiệt ngã của chúng tôi thì sự mong muốn đó cũng có thể tha thứ được.

    Có lần đội tôi đi đào sắn, phải đi ngang qua vị trí ban đầu của Trại 5 khi mới ra Bắc. Tôi có dịp nhìn lại nơi mình đã ở trước đây. Nhà cửa cũ đã biến mất, nhường chỗ cho mấy vườn rau, có lẽ là của Trại 7. Mới cách đây vài tuần (tháng 10/2008), khi nói chuyện với anh Nguyễn Tiến Xuyên (Cali) thì được anh cho biết, rằng sau khi Trại 5 chúng tôi chuyển sang bên kia bờ hồ Thác Bà, thì Trại 7 của anh sang tháo gỡ nhà cửa đem về Trại 7 để sử dụng. Các anh ấy đỡ phải tốn công leo núi tìm cây làm chi cho mệt. Xuyên nói, “Đời tù mà, đỡ phải đổ mồ hôi chừng nào, tốt chừng đó.”

    Người phi công hào hoa
    .
    Chiều chiều, sau bữa cơm, chúng tôi thường tụ lại từng nhóm nhỏ, vừa đứng nghe loa phóng thanh phát ra những bài chửi Trung Cộng để ước đoán tình hình, vừa nói đủ thứ chuyện - những chuyện không đầu không đuôi - để quên đi hiện trạng của mình. Có một lần, Lộc “Chị năm” kể cho tôi nghe về một anh chàng phi công hào hoa (*) mà đã lâu ngày tôi không còn nhớ tên; ở đây cứ tạm gọi tên anh là X cho tiện. Tôi cũng không nhớ anh X thuộc trại nào, Trại 3 hay Trại 7. Có lẽ X thuộc Trại 3 thì đúng hơn vì Lộc ở Trại 3. Tuy nhiên, cũng có thể X thuộc Trại 7 vì hai trại chỉ cách nhau chừng hơn cây số; khi leo núi chặt cây thì người của hai trại gặp nhau là chuyện thường; từ đó câu chuyện có thể được truyền từ trại này qua trại kia. Câu chuyện đại khái như sau:

    Trong một chuyến đi lên Cẩm Nhân khiêng gạo về trại, dọc đường trời mưa nặng hạt, cả đội thấy có căn nhà tranh ở gần thì chạy tới trú mưa. Tới nơi, họ mới biết đây là một trường học. Gọi là trường cho nó oai, chứ thực ra nó chỉ là một căn nhà lá ba gian (dài cỡ 30 Ft); chung quanh được quây bằng những tấm phên nứa. Một cô giáo dậy đủ các lớp. Cô giáo thấy tù vào trú mưa thì cho học trò nghỉ cho tới lúc họ đi thì mới tiếp tục học lại. Cô giáo thấy X mặc một cái áo khoác của Không Quân (loại áo có hai mầu, bên ngoài mầu xám, bên trong mầu cam) thì thích lắm. Cô tới gần anh X, đưa tay vê vê vải áo rồi tỏ ý muốn mua cái áo đó, hoặc đổi đồ ăn. Anh X trả lời cô rằng cô không có khả năng mua nổi cái áo này đâu. Tuy nhiên, X nói thêm, nếu cô thích thì “tôi tặng cô đấy”. Nói xong, X cởi áo ra và trao cho cô giáo. Hành động của X làm cho mọi người, từ cô giáo đến đồng đội của X, phải ngạc nhiên. Cô giáo đưa tay ra nhận cái áo mà mặt sáng rỡ; chắc cô tưởng như mình đang mơ. Anh X chỉ cần đi một đường lả lướt như vậy mà, theo tôi nghĩ, nó đã thừa sức đánh tan những điều tuyên truyền của Việt Cộng từ trước tới giờ, rằng “Bọn ngụy là lũ ác ôn, côn đồ, ăn gan, uống máu con nít và hãm hiếp phụ nữ.”

    Ngoài chuyện anh X cho áo, còn chuyện những người khác cho dân thuốc chữa bệnh nữa (Thuốc đã giấu, không nộp cho trại). Nhờ vậy mà càng ngày dân địa phương càng có cảm tình với tù Miền Nam.


    (*) Tôi chỉ nghe một mình anh Lộc kể chuyện này; do đó tôi kể lại ở đây với sự dè dặt thường lệ. Bạn nào đã ở trong toán đi khiêng gạo với anh phi công này, nếu thấy có gì không đúng sự thật thì xin lên tiếng sửa sai nhé, đa tạ.

    Người “ngây thơ cụ.”
    Tôi gọi T. như thế vì tôi không nghĩ rằng anh lại khờ dại đến như vậy trong khi anh có bằng Cử Nhân Luật và trước 30/4/1975 anh thuộc Nha Quân Pháp, làm Ủy Viên Công Tố (?) tòa án Quân Sự Mặt Trận.

    T. có dáng người mảnh khảnh và rất hiền. Ngày còn ở Trại 5, anh và tôi ở cùng đội chặt nứa. Tôi chưa khi nào thấy anh to tiếng với ai trong đội; do đó không ai tỏ thái độ ghét bỏ anh cả. Bây giờ sang Trại 3, chúng tôi lại vẫn ở chung một đội, anh nằm cách tôi mấy người. Tôi nằm ở tầng dưới; anh ở tầng trên.

    Trước hết, xin ngược lại ngày còn ở Trại 5, bên kia bờ hồ Thác Bà. Một hôm, trong khi chuẩn bị đi chặt nứa, T. được gọi tên ở lại trại “làm việc”. Chúng tôi không biết vì sao mà T. phải ở lại “làm việc,” nhưng buổi chiều, khi chúng tôi về trại, thì thấy mặt T. tươi rói. Sau này mới biết rằng T. có bà chị ở bên Pháp về thăm. Chị của T. ở trong hội Việt Kiều Yêu Nước ở bên Pháp; có lẽ bà giữ chức vụ gì khá quan trọng cho nên bà về Việt Nam để hội họp chi đó. Nhờ vậy, bà xin được phép tới thăm T. trong khi nhà nước chưa có chính sách cho thăm nuôi. Hai chị em T. được gặp nhau trò chuyện ở trên Ban Chỉ Huy trại cho tới gần chiều thì chị của T. phải trở về Hà-Nội. Có lẽ vì cuộc thăm nuôi này mà T. có vẻ yêu đời hơn, và tin tưởng vào chính sách khoan hồng của nhà nước hơn.

    Trở lại Trại 3, một buổi nghỉ trưa, T. đọc một cuốn truyện đầy hoang tưởng mà T. mới mượn của trại. Nếu T. đọc bằng mắt thì chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Nhưng tự dưng, T. nói lớn, “Có chuyện này hay lắm, anh em ơi,” rồi T. đọc to cho mọi người nghe. Câu chuyện kể về một thằng bé bị bom Mỹ, cụt mất hai tay. Thằng bé đã phấn đấu làm việc bằng chân. Nó dùng ngón chân cầm kim may vá, không những cho mình mà còn cho chòm xóm nữa. Tôi nghe thấy ngứa nhĩ quá, phét lác vừa phải thôi chứ. Tôi quát lớn: “Yêu cầu anh đóng cái miệng anh lại để khỏi làm phiền hàng xóm trong lúc nghỉ trưa. Truyện có hay thì anh đọc bằng mắt để thưởng thức, đừng có ồn ào.” Thế là đài phát thanh im re. Từ đó T. hết có cảm tình với tôi. Tôi nghĩ T. thừa biết đó là một truyện tưởng tượng do bọn văn nô viết ra để tuyên truyền thôi, nhưng T. muốn làm ra vẻ ngây thơ, hoàn toàn tin tưởng vào “Cách Mạng”, anh vui thú với cái kỳ tích phấn đấu của thằng bé “cháu ngoan bác Hồ”. Đây cũng là một cách gián tiếp để anh lấy điểm với bọn Việt Cộng (qua tai mắt của mấy tên làm ăng-ten trong đội), rằng chỉ có Chủ Nghĩa Xã Hội Miền Bắc mới đào tạo được những đứa bé có ý chí phấn đấu với nghịch cảnh như vậy.




    Chương 5

    Trại Vĩnh Quang B, huyện Tam Đảo,
    tỉnh Vĩnh Phú

    5.1. Chuyển trại về Tam Đảo

    Như đã nói ở trên, thời gian ở Trại 3 là thời gian chờ đợi để đi nơi khác cho nên chúng tôi được tà tà nhất. Nội qui được thả lỏng, bọn tôi chỉ làm mấy công việc vớ vẩn quanh trại, thỉnh thoảng có một đội được chỉ định đi xã Cẩm Nhân khiêng thực phẩm cho trại mà thôi. Vào một buổi trưa, cả trại được lệnh chuẩn bị chuyển trại ngay. Bọn tôi vội vàng chuẩn bị gồng gánh để lên đường. Độ một giờ sau thì chúng tôi được dẫn ra một bãi đất trống gần trại và được lệnh “bầy hàng” để khám xét đồ. Bọn quản giáo soi mói từng tí, xem có tìm thấy cái gì “vi phạm nội qui” để còn tịch thu chuyến chót. Sau khi màn khám xét chấm dứt, chúng tôi lại được dẫn trở lại trại, ai về chỗ nấy, không thay đổi gì cả.

    Vài ngày sau thì mới chính thức chuyển trại bằng xe Molotova sau khi chúng tôi phải đi bộ hơn một tiếng để ra bãi đậu xe. Đến gần chiều tối thì chúng tôi tới nơi, ngồi chờ ở phía ngoài cổng trại cho bọn cai tù bàn giao. Bò vàng (công an) xuất hiện, đây là chỉ dấu kể từ nay chúng tôi bị quản lý bởi công an. Vào trong trại, chúng tạm thời chia thành từng nhóm 30 người cho mỗi căn nhà, chúng tôi được lệnh cử người đi lãnh cơm chiều “khẩn trương” (cho lẹ) để còn kịp thời vào buồng cho chúng khóa cửa lại. Một cảnh sống khác hẳn mấy năm trước bắt đầu từ đây.

    Về quản lý tù thì do công an trách nhiệm. Bọn công an không cần phải che đậy gì cả, mà công khai gọi chúng tôi là tù, hết còn dùng mỹ từ “cải tạo viên” nữa. Nhà nhốt tù chỉ có một cửa ra vào, tối bị khóa cửa và sáng hôm sau tên cán bộ trực trại xuống mở cửa từng buồng cho tù ra làm vệ sinh cá nhân và chuẩn bị đi lao động.

    Trại tù Vĩnh Quang B là trại đã xây cất lâu rồi, mỗi căn dài chừng 12 mét, ngang 5 mét (40 ft x 16ft). Mái lợp bằng rơm (bông lúa đã đập hết hạt lúa) rất dầy và cũ cho nên sinh ra rất nhiều rết, con nào cũng dài gần một gang tay, nhưng cũng rất may là buồng tôi chưa ai bị rết cắn, còn những buồng khác thì không biết. Tường trát bằng đất nhào với rơm/rạ (*). Dọc theo căn nhà, hai bên là sạp ngủ ghép bằng những tấm gỗ bề ngang chừng 25-30 cm (10 đến 12 inches), ở giữa là lối đi, một đầu dẫn ra cửa và đầu kia dẫn vào cầu tiêu. Trên tường và trên sạp ngủ đầy những máu/mủ đã khô, tạo ra một mùi tanh khiến cho buồn ói. Những buồng này trước đây dùng để nhốt tù hình sự, bây giờ nhốt chúng tôi. Bọn tù hình sự thì hầu như đứa nào cũng bị ghẻ lở vì chúng ăn ở dơ dáy và thiếu dinh dưỡng.

    Ngoài ra còn có cái nạn rệp mà chúng tôi gọi là “xe tăng”. Đoàn quân rệp đã bị đói nhiều ngày, bây giờ chúng tôi tới làm mồi cho chúng. Đêm đầu ít có ai ngủ được ngon lành vì bị rệp tấn công và mùi hôi hám nồng nặc. Nhất là ai vớ phải chỗ nằm gần cầu tiêu thì đúng là một cực hình vì phải hít thở mùi khai/thối từ nhà cầu xông ra.

    (*) Rơm = Phần trên của cây lúa đã được đập để lấy hết hạt thóc ra khỏi bông lúa. Rạ = Phần gốc của cây lúa còn lại (ở ruộng) sau khi cây lúa đã được cắt phần ngọn đi rồi.

    Sáng ngày hôm sau, chúng tôi được phân công làm vệ sinh cho buồng. Người thì gánh nước từ suối về rửa nhà cầu, người thì lấy vôi về hòa với nước để quét tường, cầu tiêu, và nền nhà (đất) để sát trùng, kẻ thì đem các tấm ván sạp ngủ ra dộng cho rệp văng đi rồi phơi nắng cho mấy con còn nằm trong kẹt chết đi. Nhờ vậy mà căn buồng đã khấm khá hơn trước nhiều. Tuy nhiên đoàn quân xe tăng vẫn chưa bị diệt hẳn, vào những ngày nghỉ tôi vẫn phải đem ván gỗ ra dộng tiếp. Có điều kẹt là nếu chỉ một vài người làm thì rệp ở những sạp bên cạnh vẫn bò qua tấn công như thường.

    Bản đồ vị trí trại Vĩnh Quang A và B

    Nguồn: Google Maps/Satellites, được ghi chú thêm bởi tác giả.
    Tháng 11/2009
    (còn tiếp)

  2. #22
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    5.2. Chuyện người Sĩ Quan chào tay
    Khoảng năm 1980, có một người được tha về. Người đó là anh Hà Vĩnh Cường, khóa 17 Thủ Đức, binh chủng Pháo Binh. Anh là dân Bắc Kỳ di cư năm1954. Tôi không hiểu sao anh lại được về sớm như thế trong khi anh là Bắc Kỳ di cư, và là đại úy pháo binh. Khi tôi học khóa Pháo Binh Cao Cấp tại Trường Pháo Binh (1974), thì anh đang là Sĩ Quan Huấn Luyện Viên về môn Chiến Thuật của các khóa cấp thấp hơn. Mà, Việt Cộng coi dân pháo binh tụi tôi là thành phần đáng ghét, có nhiều “nợ máu với nhân dân”. Anh cũng không phải là loại người bán đứng anh em trong trại tù. Chỉ có một sự giải thích hợp lý nhất là anh đã khéo léo khai báo công việc làm (Việt Cộng gọi là tội ác) trước đây của anh thôi.

    Bạn bè tôi kể rằng, khi anh mang hành trang ra tới cổng trại, anh đã quay lại, đứng theo thế nghiêm và giơ tay chào tất cả những người còn lại, theo kiểu nhà binh, mặc dù lúc đó hầu hết mọi người đã xuất trại đi làm.

    Ngày tôi được về, vợ tôi cho biết, trong xóm nhà bố vợ tôi “Có một anh Sĩ Quan Pháo Binh được về trước anh mấy năm; anh ấy nói rằng có biết anh Thái khi còn ở trại Vĩnh Quang B.” Tôi bóp trán suy nghĩ mãi mà không biết anh ấy là ai. Tôi bảo vợ tôi rằng khi nào lên thăm bố thì ghé thăm anh ấy luôn thể. Khi vợ tôi dẫn tôi tới nhà thì mới biết anh là Hà Vĩnh Cường. Chúng tôi chỉ gặp nhau một lần duy nhất đó. Sau đó mỗi người lo việc riêng của mình. Và từ đó tôi không biết gì về anh Cường nữa. Sở dĩ có chuyện ít qua lại với nhau vì chúng tôi chỉ biết nhau, chứ không chơi thân với nhau như những người khác.


    5.3. Đụng chạm với Đội Trưởng
    Anh Lương Văn Quang và tôi là cặp bài trùng từ tận Trại 5. Sang tới Vĩnh Quang B vẫn ở cùng một đội mà đội trưởng bây giờ là Trần Duy Phố. Mỗi buổi sáng, sau khi mở cửa buồng, chúng tôi phải tập họp trước buồng cho đội trưởng điểm đầu người và báo cáo cho tên công an trực trại; sau đó mới được tan hàng, đi làm vệ sinh cá nhân, chia và nhận phần ăn sáng rồi phải ra sân trại tập họp để đi làm. Thời gian từ lúc kẻng báo thức tới kẻng xuất trại là 1 giờ, vì thế ai cũng phải vội vã cho kịp giờ giấc.

    Một buổi sáng, đội trưởng Trần Duy Phố đếm tới đếm lui mà vẫn chưa biết đủ hay thiếu. Tôi đứng trong hàng, vì đã sẵn có ác cảm với Phố từ trước (sẽ nói đến sau) cho nên tôi bực tức nói lớn: “Đại Úy gì mà ngu hơn con bò, có 30 người mà đếm hoài không xong.” Tên công an trực trại nhìn tôi chằm chằm, còn Phố thì líu ríu báo cáo cho xong. Thế rồi… Hai ngày sau, anh Quang và tôi bị đổi sang đội khác. Phố đề nghị đổi hai đứa tôi sang đội khác vì nghĩ rằng nay mai đội của Phố sẽ phụ trách nhà bếp. Hai đứa tôi sẽ không được hưởng cái mà người ta thường nói là,“Giầu nhà kho, no nhà bếp.”

    Khi còn ở Trại 5, Phố đã làm đội trưởng đội nhà bếp rồi. Bây giờ sang đây, Phố được giới thiệu với trại để tiếp tục coi đội nhà bếp. Khi chưa được công khai tuyên bố mà Phố đã rỉ tai mấy đàn em trong hệ thống ăng ten là: “Đội mình sẽ làm nhà bếp.” Điều này chứng tỏ rằng Phố đã biết trước.

    Vài nét về Trần Duy Phố
    Phố xuất thân khóa 14 Thủ Đức (Sĩ quan Bảo An, không phải Chủ Lực). Con đường tiến thân làm đội trưởng nhà bếp như sau: Khi mới đến hồ Thác Bà, trong lúc còn là một đội viên bình thường, có một ngày Phố và hai người nữa, một người là Vũ Cao Hiến (Khóa 24 Võ Bị Đà Lạt, chết khi vượt biển), và một người nữa tôi không nhớ tên, được chỉ định vào một nhóm đi vớt củi trên mặt hồ.

    Trong lúc chèo bè, Vũ Cao Hiến hát bài “Sài-Gòn ơi, 30 năm mới có ngày nay…” với một giọng chua chát, ám chỉ ngày nay đại úy mới bị đầy ra Miền Bắc và đi vớt củi! Ít tháng sau, khi Trại 5 di chuyển sang bên kia bờ hồ thì Phố được làm đội trưởng đội nhà bếp. Không ai biết lý do khiến cho Phố có được công việc này mãi cho đến khi, chắc trời xui đất khiến, vài anh em tù được giao cho làm sạch sẽ chung quanh nhà cán bộ. Anh Nguyễn Phán (Khóa 24 Võ Bị Đà Lạt, hiện ở Cali) thuộc nhóm nói trên, lượm được một tờ giấy, khi mở ra xem thì đó là tờ báo cáo của Trần Duy Phố về ngày mà Phố và Hiến chèo bè đi lấy củi.

    Trong báo cáo, Phố diễn dịch cung cách hát bài “Sài-Gòn ơi” của anh Hiến là than thở về số phận hẩm hiu của người Sĩ Quan/Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, không tin tưởng vào “Cách Mạng,” v. v … Anh Phán đưa cho tôi xem tờ giấy báo cáo đó. Ở dưới tờ báo cáo ghi rõ tên người viết “Trần Duy Phố, một cải tạo viên tiến bộ.” Biết được như vậy, từ đó, tôi không thể ưa được cái anh chàng mang tên Phố này nữa.


    5.4. “Muối thì lấy nhưng giết được thì vẫn giết.”
    Từ ngày Phố đẩy anh Quang và tôi sang đội khác thì Phố biết chắc là hai đứa tôi có ác cảm với hắn. Tình trạng này dĩ nhiên là vẫn còn tiếp tục dài dài. Có một thời gian, trại bị khan hiếm muối ăn, những người có “gu” (khẩu vị) ăn mặn thì hơi khổ vì không đủ muối ăn. Thậm chí có người cần muối ăn thêm phải giả vờ khai đau nhức răng để được bệnh xá cấp cho ít muối để ngậm cho bớt “đau răng”. Sau ít ngày thì ăng-ten ở bệnh xá biết rằng bọn này giả đau răng mà thôi. Vì thế bệnh xá pha sẵn một ít nước muối, mỗi khi ai khai đau nhức răng thì họ cấp cho một ít nước muối đem về ngậm, chứ không phát muối hột như trước nữa.

    Trong lúc trại đang thiếu muối thì, một hôm (vào chiều Chủ Nhật), Phố đi ngang sân trại, thấy tôi đang ngồi nấu nướng linh tinh, Phố tới chỗ tôi và hỏi: “Anh có cần muối ăn không, mai tôi đưa cho anh một ít?” Tôi trả lời, “Lúc này ai mà chả cần muối ăn, tôi đang thiếu đây.” Nói xong Phố bỏ đi và tôi chắc là ngày hôm sau tôi sẽ có muối. Tôi học lại chuyện này với anh Quang vì hai đứa vẫn ngồi ăn cơm chung và chia sẻ với nhau những gì mình có. Anh Quang vừa cười vừa nói: “Đ.M. Nó cho muối thì mình cứ lấy nhưng lúc nào giết được nó thì mình vẫn giết.”

    Tôi vẫn không hiểu nguyên do nào mà Phố lại hối lộ muối cho tôi. Mãi sau này, khi sang tới Mỹ và trò chuyện với anh Võ Tấn Tài, tôi mới hiểu rõ nguyên do. Chả là, Phố thường thấy tôi thân mật với anh Võ tấn Tài (TQLC) mà anh Tài thuộc đội nhà bếp. Anh Tài tuy nhỏ con (có nickname là Tài quắt) nhưng không bao giờ anh để cho ai ăn hiếp mình. Có lần anh đã vác dao đuổi đánh một người mà Tài gọi là chó săn (tôi xin miễn nói rõ tên vì đương sự đã chết rồi) ngay trước mặt quản giáo đội nhà bếp. Rốt cuộc rồi quản giáo cũng xử huề vì y không muốn bị mất điểm với Ban Chỉ Huy trại, y sợ bị mất chức quản giáo đội nhà bếp thì y hết còn được chấm mút gì nữa.

    Chưa hết đâu, anh Tài và anh Trần Hữu Thành (LLĐB) lại là cặp bài trùng trong đội nhà bếp. Ở buồng ngủ thì Phố lại nằm giữa anh Tài và anh Thành. Hai anh này bàn tính với nhau sẽ phải dằn mặt thằng Phố cho nó bớt hại anh em tù. Vào một đêm đã định, Tài và Thành phải canh thức, chờ nửa đêm khi Phố vào nhà cầu đi tiểu thì hai anh vào theo. Anh Thành (tướng rất to con) chịt cổ Phố và nói: “Đ.M. Tao cảnh cáo mày từ nay phải chấm dứt ngay cái trò bỉ ổi, hại đồng đội của mày. Mày mà còn tiếp tục thì mày sẽ chết. Báo cho mày biết luôn rằng nếu mai mốt tao với thằng Tài phải vào nhà kỷ luật thì chính mày là thủ phạm và những thằng bạn tao ở ngoài sẽ giết mày.” Phố líu ríu vâng dạ và sau đó không có chuyện gì xảy ra cho hai anh Tài và Thành. Đây chính là lý do đã thúc đẩy Phố hối lộ muối cho tôi.


    5.5. Không hẹn mà gặp
    Cuối năm 1984, tôi được phóng thích thẳng từ trại Nam Hà về nhà, mà không phải chuyển trại vào Miền Nam trước khi được phóng thích như bao người khác. Ở nhà được mấy ngày thì một hôm vợ tôi nói: “Em có quen một chị ở ngoài chợ Thủ Đức, chị ấy có chồng cũng ở trại Vĩnh Quang B nhưng đã được về trước anh mấy năm, anh ấy nói là có biết anh nhưng em lại quên hỏi tên anh ấy, chỉ biết anh nói tiếng miền Trung, vậy anh có biết anh ấy là ai không?” Tôi suy nghĩ mãi mà không biết là ai. Nếu là bạn bè thân tình thì tôi biết ngay ai rồi. Trong thâm tâm tôi, không khi nào tôi nghĩ người đó lại là Trần Duy Phố bởi vì tôi được biết Phố có vợ con ở vùng Đà Lạt hay Lâm Đồng gì đó.

    Một buổi chiều, tôi chở vợ tôi trên chiếc xe Honda Dame mà cậu em vợ cho tôi mượn xài ít ngày, chạy ra chợ Thủ Đức. Bất chợt vợ chồng tôi gặp chị bạn có chồng tù ở Vĩnh Quang. Sau màn giới thiệu, chị ấy mời vợ chồng tôi ghé quán thạch chè của em trai chị ở sát bên để ăn chè và trò chuyện thêm. Chị cho biết chồng chị là Trần Duy Phố. Tôi nói: “Phố thì tôi biết quá đi chứ.” Chị ấy thực tình không biết gì về việc làm của Phố ở trong tù, và cũng không biết gì về mối quan hệ căng thẳng giữa tôi và Phố. Vì thế, chị một mực mời vợ chồng tôi ghé nhà chơi để “gặp anh Phố”. Tôi đành phải nhận lời mời.

    Chị sai em trai chị dùng xe Honda chạy trước, chúng tôi chạy sau, hướng dẫn vợ chồng tôi về nhà chị trong khi chị phải thay thế người em coi tiệm thạch chè. Chúng tôi leo hết dốc Quán Con Gà Quay, đi thêm một quãng nữa thì tới nhà. Căn nhà nằm phía phải Quốc Lộ 1 nếu đi về hướng Biên Hòa. Qua khỏi cổng, cậu em gọi lớn: “Anh Phố ơi, có bạn tù của anh tới thăm nè.” Tôi nghĩ thầm trong bụng, bạn cái con tiều, nhưng ngoài mặt vẫn không lộ vẻ gì khó chịu cả.

    Phố khi đó đang nằm ở dưới gầm cái xe đò để sửa chữa gì đó. Vừa chui ra khỏi gầm xe, Phố thấy tôi thì mặt tái đi và điệu bộ quýnh quáng trông thật buồn cười. Tôi tiến lại bắt tay và làm như hai người không có ân oán giang hồ gì với nhau để cho cậu em vợ của Phố không nghi ngờ gì cả. Đứng nói chuyện dăm ba phút rồi chúng tôi lấy lý do có hẹn phải đi gấp, để khi khác gặp lại. Khi về nhà, tôi mới kể cho vợ tôi nghe về việc làm của Phố khi còn ở trong tù. Nghe xong, vợ tôi phán, “Thế thì hết ý!”

    Vợ của Phố và vợ tôi quen biết nhau trong trường hợp sau đây: Vợ của Phố (đúng ra là vợ kế) làm chủ một chiếc xe đò chạy đường Sài-Gòn - Thủ Đức. Còn vợ tôi thì chạy hàng linh tinh và thường đi xe đò mỗi ngày, riết rồi hai người quen nhau, nhất là lại cùng có chồng đi ở tù cho nên dễ thông cảm nhau hơn. Từ khi tôi cho vợ tôi biết về con người thật của Phố thì vợ tôi cũng lảng tránh chị bạn dần dần.

    Phố ơi, từ sau khi ra khỏi tù thì tôi đã bỏ hết những ân oán giang hồ ở trong tù rồi. Tôi viết sự việc này ra đây với mục đích là để cho bà con cô bác hiểu rõ được những gì đã xảy ra trong những năm tháng tù đầy mà thôi. Bằng chứng là những lần gặp nhau trên xe đò, anh là người bán vé, tôi là khách đi xe, tôi vẫn chào hỏi anh lịch sự, dĩ nhiên là không thể vồn vã kéo nhau đi nhậu lai rai như những người khác được. Tuyệt nhiên tôi không còn mang tâm trạng “giết được thì vẫn giết” như xưa nữa. Nghe anh Tài nói hiện giờ anh và gia đình đang ở Cali, mong rằng gia đình anh có một cuộc sống bình an. Tuy nhiên tôi có một lời khuyên rằng nếu anh còn một chút liêm sỉ thì, hãy sống một cách ẩn dật, vui chơi với con cháu, mà đừng bao giờ đóng bộ đồ số 2 Sinh Viên Sĩ Quan Thủ Đức (*) để góp mặt với người ta trong mọi dịp lễ lạc, biểu tình…, thối lắm đấy. Tôi đang cố gắng bắt chước Chúa Giêsu, khi gần chết còn kêu xin với Đức Chúa Cha tha tội cho những người đã giết mình rằng : “Xin Cha tha cho chúng vì chúng lầm, chẳng biết việc chúng làm.”

    (*) Ghi chú riêng cho những ai không phải là cựu quân nhân: Sinh viên Sĩ quan trường Bộ Binh Thủ Đức có mấy loại quân phục như sau: - Bộ đồ số 1(đồ đại lễ), dùng trong các dịp lễ lớn như ngày ra trường chẳng hạn, mầu trắng, áo bỏ ngoài quần vì có hai túi áo phía dưới. - Bộ đồ số 2: Quần áo dài tay mầu vàng, kèm theo cà vạt đen; dùng để đi dạo phố hoặc trong các dịp lễ không quan trọng lắm. - Bộ đồ số 3: Quần áo ngắn tay, mầu vàng, dùng trong các buổi học trong lớp. - Đồ trận (Tác chiến): Quần áo dài tay, mầu ô-liu, dùng trong các buổi học chiến thuật (đi bãi), và cuối cùng là - Đồ thể dục, dùng để tập thể dục.
    (còn tiếp)

  3. #23
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    5.6. Học “Tiếng nước ngoài”
    Mấy ngày sau khi tới trại Vĩnh Quang B, có một buổi cả trại tập họp ở ngoài sân để nghe trại trưởng nói chuyện. Trại trưởng là một thượng úy công an, cỡ tuối trên/dưới bốn mươi. Tên này có vẻ nặng về phần trình diễn: Khi hắn xuống gần tới cổng trại thì lập tức ban văn nghệ (của tù hình sự) nổi phèng la trống phách ì xèo để đón chào hắn. Tên trại trưởng thuộc loại nói dài, nói dai, nói dở nhưng bọn tôi phải nghe. Mình nghe tai này thì cho nó chạy qua tai kia là xong. Hắn nói vung vít, rồi nổi hứng hắn nói về việc học: “Các anh phải, không những học tập lao động mà còn phải học để nâng cao trình độ văn hóa nữa. Trại sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các anh mở mang trí tuệ hơn lên.” Nghe hắn nói, tôi như mở cờ trong bụng vì đã hơn ba năm rồi, những trại tôi đi qua đều cấm học/đọc/nói tiếng nước ngoài.

    “Tiếng nước ngoài” ở đây phải hiểu là tiếng Anh, tiếng Pháp, Tây Ban Nha… mà không phải tiếng Nga, tiếng Tầu, Ba lan…Hắn đã nói vậy thì mình cứ tỉnh bơ mà học thôi. Đa số anh em tù cùng có ý nghĩ như tôi. Vì vậy chỉ vài ba ngày sau, phong trào học chữ nổi lên rầm rộ. Chúng tôi dạy lẫn nhau; người nào biết cái gì thì dạy bạn bè cái ấy. Anh Lương Văn Quang hồi nhỏ sống và học ở bên Thái Lan cho đến năm anh 14 tuổi mới trở về Việt Nam. Vì thế anh nói và viết được tiếng Thái, anh là thày dạy tôi tiếng Thái. Tiếng Thái Lan cũng là loại đơn âm như tiếng Việt nên dễ nói nhưng chữ viết thì như con giun khó nhớ lắm. Bây giờ thì chữ thày trả thày, tôi chẳng thể viết được một chữ Thái nào cả. Tuy nhiên, nói thì còn nhớ lõm bõm, chẳng hạn như: nan léo mây mì khà nủm păng = lâu lắm không có bánh mì; hoặc như: cun cợt pi ko sỏ tháo rầy = anh năm nay bao nhiêu tuổi? Tôi nhớ là vậy, không biết chắc có đúng hay không, nhờ anh Quang sửa dùm.

    Ngược lại, tôi dạy anh Quang học tiếng Anh, nhớ gì thì dạy cái đó thôi, chứ đừng có cắc cớ hỏi “đểu” là không được đâu nhé.

    Những người khác có máu ham học thì đều lo đi “tầm sư học đạo”, người thì tiếng Pháp, người thì tiếng Tây ban nha, kẻ thì tiếng Tầu/chữ nho, cứ loạn cả lên. Lúc đó tôi sực nhớ tới một câu nói diễu trước đây của một ông xếp cũ của tôi, đó là “…không bổ bề ngang thì cũng bổ bề dọc, lo gì.” Câu này bây giờ đem áp dụng vào thời điểm này cũng không sai. Dù mình có dở, học không vô, nhưng ít ra nó cũng giúp mình quên được cái đói trong chốc lát. Đã đói mà nghĩ tới ăn uống món này món kia thì càng đói thêm, chứ có giúp gì mình được đâu. Vậy mục đích chính của tôi là học để chống đói, còn kết quả ra sao, hạ hồi phân giải.

    Phong trào học đang lên thì có lệnh cấm vì “Các anh học tiếng nước ngoài là có ý đồ làm tay sai cho ngoại bang.” Trại ra lệnh cấm vì có ăng ten báo cáo, dĩ nhiên mấy tên ăng ten này là những đứa không muốn học, chúng thuộc loại “Nhân bất học bất tri lý, nhỏ biếng học lớn làm đại úy.” Thế là việc học lại xẹp xuống, ai muốn tiếp tục học thì phải lén lút, nếu không may bị phát hiện sẽ dễ dàng đi vào nhà đá (trại có một nhà kỷ luật xây bằng đá rất kiên cố), hoặc ít ra cũng phải viết kiểm điểm.

    Ở Vĩnh Quang B, tôi có khá nhiều thày, người nào cũng tận tình chỉ dẫn tùy theo khả năng và tình hình cho phép. Học bị cấm thì dĩ nhiên dạy học cũng bị cấm. Bị cấm mà các anh vẫn không ngần ngại giúp tôi. Vì thế tôi rất biết ơn những vị “thày” này, gồm có các anh như Phạm Tất Hanh (GS trường Sinh Ngữ Quân Đội), anh Vũ Đức Giang (Phòng 3/Bộ Tổng Tham Mưu, cựu GS trường Sinh Ngữ Quân Đội), anh Đàm Quang Thuận (GS Anh văn London School, Sài-Gòn). Hiện nay tôi vẫn thường liên lạc với anh Hanh và anh Giang, cả hai người cùng ở Santa Ana, Cali. Anh Giang nay đã gần 80 rồi, còn anh Hanh đang là Tổng Thư Ký nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân. Riêng có anh Thuận thì tôi chỉ gặp anh một lần sau khi ra khỏi tù (cuối năm 1984), bây giờ không biết anh ở đâu.

    Tôi được anh Bùi Quyền (Trung tá Dù) cung cấp giấy bao xi măng dùng làm giấy viết. Anh Bùi Quyền làm ở đội xây dựng cho nên có thể lấy được bao xi măng cho tôi. Tôi cắt giấy ra từng mảnh bằng bàn tay, ghi những chữ gì mình không hiểu, rồi khi nào thuận tiện thì hỏi các “thày”, học hết tờ nào thì xé bỏ tờ đó để phi tang. Sau này, trại cho tù nhận sách báo của Liên Xô (ấn bản tiếng Anh), thỉnh thoảng tôi mượn được một quyển đọc (học thì đúng hơn) cho đỡ ghiền. Có điều lạ là gia đình tù ra thăm nuôi, mang sách báo ra thì tù được phép nhận, nhưng sách báo gửi theo đường bưu điện thì không được.

    Bị ăng ten báo cáo. Một buổi chiều Thứ Bảy, tôi đang ngồi đọc cuốn Soviet Women mà tôi mới mượn được của anh Chu Mạnh Bích vì gia đình anh mới thăm nuôi, đem cho anh mấy cuốn báo của Liên Xô. Vừa đọc vừa ghi chép những chữ nào mình không hiểu vào tờ giấy xi măng. Bỗng đâu Lê Văn San đi ngang nhìn thấy, nhìn cặp mắt của San, tôi đoán được tư tưởng của nó, “Mày sẽ biết tay ông.”

    Đợi San đi khuất, tôi vội vào trong phòng lục lọi tất cả mọi “tang vật” đem bỏ ra đống rác, chỉ chừa lại cuốn báo Soviet Women mà tôi mượn của anh Bích thôi. Buổi tối Thứ Bẩy qua đi êm đềm. Sáng hôm sau, Chủ Nhật được nghỉ lao động, trong khi tôi đang nấu nướng linh tinh ở ngoài sân thì cán bộ quản giáo (Lưu) và hai tên công an mang AK 47 xuống tìm tôi, yêu cầu tôi vào buồng khám đồ. Vì đã chuẩn bị mọi thứ cho nên tôi tỉnh bơ, tụi nó thấy cuốn Soviet Women thì tịch thu đem về Ban Chỉ Huy trại. Báo hại tôi phải chạy sang gặp anh Bích, cho anh biết sự thể và xin lỗi anh vì biết chắc là nó sẽ không trả lại cuốn báo đó nữa.

    Sáng Thứ Hai, tập họp chờ đi lao động, tôi được gọi tên ở nhà “làm việc”. Tôi chờ ở trong buồng khoảng một tiếng đồng hồ thì, Thiếu Úy Thịnh (An Ninh Trại), tay cầm cuốn báo đã tịch thu sáng hôm qua, vào buồng và kêu tôi đi theo hắn. Hắn dẫn tôi tới trước cửa căn nhà đá, ở đó đã kê sẵn hai cái ghế đẩu. Hắn bảo tôi ngồi xuống một ghế, và hắn ngồi trên cái còn lại. Tôi nghĩ bụng, hắn muốn hù mình cho nên mới dẫn mình tới trước cửa buồng giam cho mình mất tinh thần đây. Hắn mở đầu:

    - Trại đã cấm học tiếng nước ngoài mà anh vẫn học, như vậy là anh đã vi phạm nội qui trại, tội này nặng lắm đấy, anh có công nhận không ?

    Tôi trả lời:
    - Thưa cán bộ, tôi đọc sách báo nước ngoài, chứ tôi không học tiếng nước ngoài. Cuốn báo mà cán bộ đang cầm trên tay là do gia đình anh Chu Mạnh Bích mới thăm nuôi, trại cho mang vào đọc có nghĩa là sách này hợp pháp. Còn nói tôi học là hoàn toàn sai bởi vì cán bộ thử đọc lại các bản khai lý lịch của tôi từ trước đến nay mà xem, tôi vẫn luôn luôn khai là thời gian tôi giải ngũ, tôi đã làm thông dịch viên hạng A cho một hãng Mỹ tên là Rờ-Em-Ca (RMK-BRJ) gần hai năm, khả năng tôi có thể dạy Anh Văn từ lớp 12 trở xuống, tôi cần gì phải học. Nếu không tin, cán bộ cứ mở bất cứ trang nào trong sách này, tôi sẽ dịch ngay sang tiếng Việt cho cán bộ coi.

    Tôi nghĩ trong bụng rằng, “Mày biết chó gì mà biết tao dịch đúng hay sai, nếu gặp những chữ không hiểu, tao cứ phăng đại ra thì đến ông nội mày có sống lại cũng chẳng biết nữa là mày.”

    Hắn thấy tôi nói cứng, hắn chuyển đề tài:
    - Tôi nghe người ta báo cáo là anh thường tụm năm tụm ba để kê kích và âm mưu phản cách mạng.

    Tôi trả lời hắn:
    - Thưa cán bộ, ngày xưa quân đội Miền Nam có hơn một triệu quân, lại có đủ cả xe tăng, đại bác, máy bay cánh cụp cánh xoè, thế mà cũng còn bị thảm bại trước “Cách Mạng”. Bây giờ chúng tôi ở đây tay không với dăm mười người thì làm được cái gì. Chỉ có kẻ nào điên mới có ý nghĩ như vậy nhưng mà tôi đâu có điên, tôi vẫn tỉnh táo mà.

    Hắn thấy tôi nói vậy, hắn làm thinh một chút rồi nói:
    - Thôi được, lần này tôi cảnh cáo anh, nếu lần sau có người báo cáo nữa là anh sẽ vào nằm trong cái nhà này đấy, vừa nói hắn vừa chỉ vào cửa nhà đá.

    Tôi trả lời, “Thưa cán bộ tôi biết.” Thế là xong một buổi “làm việc”.


    5.7. Người hùng bắn rớt máy bay “Mỹ-Ngụy”
    Tôi và anh Quang bị đưa qua đội khác sau vụ tôi chửi Trần Duy Phố. Đội trưởng đội này là Phấn (Đ/U Quân Cảnh, tôi không nhớ tên họ của Phấn). Phấn thuộc loại sĩ quan già, nếu giờ này còn sống, chắc cũng không dưới 75 tuổi. Nếu Trần Duy Phố kín đáo che đậy hành vi hại người bao nhiêu, thì ngược lại, Phấn lộ liễu bấy nhiêu. Ngay cả diện mạo hai người cũng khác hẳn nhau. Phố thì luôn luôn tươi cười, bên ngoài thơn thớt nói cười mà trong nham hiểm giết người không dao. Còn Phấn thì trông có vẻ bậm trợn, mặt đen đúa, cặp lông mày xếch lên; nếu không mang lon đại úy thì không ai nghĩ hắn là sĩ quan đâu; hắn ra mặt nịnh bợ “Cách Mạng” mà chẳng cần che dấu gì cả.

    Trong những buổi họp tổ để khai công báo tội, Phấn kể rằng chính hắn đã dùng đại liên gắn trên xe Jeep bắn rớt một máy bay “Mỹ-Ngụy” ngay đầu phi đạo ở phi trường Tân Sơn Nhất, ngăn chặn không cho phi cơ chở người di tản cất cánh. Số người ngồi trong phi cơ này chắc hẳn phải đông lắm, không biết số phận họ ra sao! Tôi nghĩ bụng, chắc gì hắn bắn phi cơ để mong lập công với “Cách Mạng”, mà rất có thể (nếu bắn phi cơ là có thực) hắn bắn vì hắn không leo kịp lên phi cơ để di tản, bắn cho bõ ghét, không được ăn thì đạp đổ mà. Bây giờ thì hắn nói là hắn bắn để tiếp tay với “Cách Mạng” diệt “Mỹ-Ngụy” cho oai, chứng tỏ mình là con người thức thời. Chỉ có trời biết!


    5.8. Bụng làm dạ chịu
    Đội tôi có hai người tên Thái, một người là Hồ Đắc Thái (*), người kia là tôi (Nguyễn Văn Thái). Để phân biệt, anh em thường gọi chúng tôi là Thái Hồ và Thái Nguyễn. Một ngày đội tôi đi đào sắn (khoai mì) cho trại, Thái Hồ và tôi đứng đào sắn sát nhau. Tôi vừa đào sắn vừa lấy trộm sắn bằng cách chọn ra củ sắn nào ngon lành, chặt ra từng khúc như khúc mía, lột vỏ rồi bỏ vào lon gô ( hộp đựng sữa bột Guizgo) chứa nước uống, chờ dịp thuận tiện thì cho lon vào bếp lửa một chút xíu là có sắn chín ăn rồi.

    Không may cho tôi, trong lúc tôi đang hành sự thì đội trưởng Phấn nhìn thấy. Mà, Phấn thì chẳng ưa gì tôi, vậy là có chuyện rồi. Tôi liếc lại phía sau, thấy Phấn nhìn mình rồi bỏ đi, tôi vội vàng quẳng hết mấy khúc sắn trong lon gô đi thật xa và thu dọn “chiến trường” cho mất dấu vết lột vỏ sắn. Sau đó tôi xách cuốc ra xa Thái Hồ chừng bốn năm mét (15 ft).

    Tôi vừa hành động xong thì tên quản giáo đội tới đứng sau Thái Hồ (cũng là chỗ tôi đứng mấy phút trước đây, có lẽ Phấn đã báo cáo với quản giáo không rõ ràng là Thái nào, Hồ hay Nguyễn) mà Thái Hồ vẫn không biết. Đội trưởng Phấn dĩ nhiên là tránh mặt để khỏi mang tiếng là đã đi báo cáo. Thái Hồ vừa mới bắt đầu lột vỏ một củ sắn thì quản giáo tới bắt tại trận. Hắn xỉ vả Thái Hồ một chặp và bắt anh viết bản kiểm điểm. Thật đúng là “bụng làm dạ chịu,” nếu tôi không nhanh chân thì tôi bị dính chấu rồi vì mục tiêu là tôi chứ không phải Thái Hồ. Phấn thấy vậy, tỏ ra rất hậm hực vì đã bị sảy mất một con mồi.

    (*) Hồ Đắc Thái ra tù, vượt biển và mất tích (chết ?). Không biết giờ này cụ Phấn ở đâu nhỉ? Chắc 90% là cụ và gia đình cũng đi theo “Diện phi nhân” (mượn chữ của Chu Tất Tiến để chỉ những người sang Mỹ bằng máy bay, tức là đi theo danh sách “H.O”). Cụ có cảm thấy mắc cở không đấy? Thôi ráng mà ăn năn thống hối thì Trời/Phật sẽ tha thứ cho nhé.
    (còn tiếp)

  4. #24
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    5.9. Diện “đầu bạc”
    Diện “đầu bạc” là Nguyễn Văn Diện, người mà ở trên tôi đã kể rằng anh chưa tới số chết khi anh mắc bệnh kiết lỵ ở Trại 5, hồ Thác Bà. Gọi anh ta là Diện đầu bạc vì mặc dù còn ít tuổi (sinh năm 1946/1947, nếu tính đến năm 1980 thì Diện mới có 34 tuổi thôi) mà tóc đã nửa muối nửa tiêu rồi. Tôi và Diện đã có một thời gian ở cùng đội, cùng ngồi ăn cơm chung với nhau hàng ngày ở Vĩnh Quang B, thuộc tỉnh Vĩnh Phú. Hai chúng tôi chỉ tách ra khi có chuyển trại, một số di chuyển trước hai ngày (đi đâu không biết), số còn lại thì ra Vĩnh Quang A, trong đó có tôi và Diện.

    Hai chúng tôi lại được ở chung một đội, do đó vẫn còn có dịp ngồi ăn cơm chung với nhau như khi còn ở trại Vĩnh Quang B. Tới khi chuyển về Trại Nam Hà thì hai chúng tôi ở khác đội cho nên phải ăn riêng. Thời gian ở Vĩnh Quang B, có một ngày Chủ Nhật nằm chờ cơm, Diện đã kể về một mối tình mà lẽ ra Diện đã lập gia đình với cô gái đó. Khi ấy, Diện đang làm trung đội trưởng Pháo Binh trú đóng tại một Căn Cứ Hỏa Lực vùng Bình Long (hay Lai Khê, tôi không nhớ rõ), vị hôn thê của Diện lên thăm Diện, khi trở về nhà thì cô nàng phải đi một quãng đường bằng xe ôm. Xui xẻo cho nàng là gặp thằng xe ôm “phải gió nó đè em ra…” và cô bị nó hiếp.

    Sau đó ít lâu, gặp lại Diện, cô đã kể rõ sự tình. Thế là Diện bỏ cô nàng luôn vì không muốn xài hàng xế-cần-hen (second hand). Bọn tôi nghe xong, đều kết án Diện là hẹp hòi và quá cố chấp, không thông cảm cho hoàn cảnh đáng thương của cô nàng nhưng Diện vẫn cố bảo thủ ý kiến của mình, cho rằng mình đã hành xử đúng.

    Diện cưới vợ (một cô giáo tiểu học) được ít tháng thì Quân đội Miền Nam tan hàng, chưa có con khi Diện đi ở tù. Khi về ở Vĩnh Quang B, trại cho gia đình được thăm nuôi tù. Ai “cải tạo tốt” thì vợ được ở qua đêm với mình, ai “chưa tiến bộ” thì chỉ được gặp vợ con từ 30 phút tới 1 tiếng thôi. Diện là người hiền lành, ít nói, chủ trương sống dĩ hoà vi quí cho nên chẳng mích lòng ai. Quản giáo (tên là Lưu) cũng không có ác cảm gì với Diện cho nên hắn đã cho vợ của Diện ở lại qua đêm.

    Mặc dù ở tù đã năm năm rồi nhưng nghề bắn pháo binh của chàng vẫn còn xuất sắc, vẫn duy trì được phương châm “Pháo Binh nhanh chóng và chính xác.” Phát đạn đầu tiên là đã “bắn hiệu quả” ngay mà không cần phải điều chỉnh trái-phải-xa hơn-gần lại gì cả. Kết quả là bà xã của Diện phải mang ba lô trước bụng mất chín tháng mười ngày…

    Vợ Diện viết thư kể cho chồng nỗi khổ tâm khi bị gia đình chồng nghi ngờ lòng chung thủy của mình khiến cho Diện phải viết thư về xác nhận đó là “tác phẩm của mình”. Khi đứa bé sinh ra, Diện cho tôi biết sẽ đặt tên là Nguyễn Trọng Diên.

    Vào một buổi chiều, cũng ngày Chủ Nhật, tôi và một người bạn (không còn nhớ là ai) đi tản bộ trong khi chờ giờ “vào chuồng”, khi đi ngang qua bãi rác tôi thấy có hình một đứa bé trai cỡ 4-5 tháng tuổi nằm lẫn với rác. Tôi cầm lên coi thì mặt sau tấm hình có ghi tên đứa bé là Nguyễn Trọng Diên. Tôi mang hình về cho Diện xem có phải là nét chữ viết của bà xã Diện không. Diện xác nhận đúng là nét chữ của vợ và hình con trai của mình. Thì ra trong thư của bà xã Diện đã viết điều gì đó “vi phạm nội qui trại” cho nên quản giáo đã xé bỏ lá thư và quẳng nó vào sọt rác!

    Năm 1992, Diện và gia đình sang Mỹ theo “Diện phi nhân” (mượn chữ của Chu Tất Tiến, đi tị nạn bằng phi cơ). Diện về ở Virginia (?) và hai chúng tôi vẫn thường liên lạc với nhau. Diện làm nhân viên phân phát cơm cho một viện dưỡng lão, được một thời gian thì bị bệnh ở xoang mũi (có thể là một dạng ung thư), các bệnh viện đều bó tay. Thế là Diện chỉ nằm nhà, uống thuốc cầm chừng và chờ chết. Tôi vẫn hàng tuần gọi điện thoại thăm Diện, anh cho biết cứ vài ngày anh lại bị nghẹt thở vì cục thịt ở mũi sùi ra, che lấp lỗ mũi, anh phải dùng mũi kéo cắt bớt cục thịt để cho không khí vào được mũi. Hỏi có đau không thì anh trả lời “Không đau, mất hết cảm giác rồi.”

    Năm 2000, tôi nhận được cú điện thoại của bà xã Diện, báo cho tôi biết, “Anh Diện đang hấp hối, không còn nói được nữa, anh ấy chỉ vào điện thoại ra dấu cho em gọi báo tin cho anh biết.” Nói vậy rồi chị cúp máy vì đang bận lo cho Diện lúc lâm chung. Nghe tin này, tôi rất xúc động mặc dù mình đã biết chắc rằng Diện sẽ ra đi nay mai. Nếu bỏ ra ngoài cái tình cảm tự nhiên của con người, thì Diện ra đi sớm là một điều tốt cho anh và vợ con anh. Anh thoát được sự đau đớn; còn gia đình anh thì tránh được sự đau lòng mỗi khi nhìn anh nằm trên giường, và bớt đi sự vất vả phải chăm sóc anh. Đứng trên cương vị một tín hữu Công Giáo thì anh Diện đã không phải “chết tươi ăn năn tội chẳng kịp.” Trái lại, anh có thừa thời giờ để lo cho phần tâm linh của mình. Anh đã nói với tôi rằng “Bây giờ tôi đã chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ rồi, Chúa bảo mình ra đi lúc nào cũng chẳng còn sợ hãi gì nữa.”

    Diện ơi, chắc chắn giờ này bạn đang được hưởng phúc thiên đàng, và chắc chắn rằng bạn cũng biết có những người bạn ở thế gian này đang nhắc đến bạn. Tôi rất tiếc là đã không thể tới dự đám tang của bạn được vì lúc đó hoàn cảnh không cho phép, chắc bạn cũng xí xoá rồi.

    Cháu Nguyễn Trọng Diên, năm nay (2008) cháu đã được 27 tuổi, chắc cháu đã trở thành người hữu ích cho gia đình và xã hội. Mẹ cháu bây giờ đã bớt được gánh nặng gia đình rồi nhỉ. Bác hy vọng một ngày nào đó cháu sẽ đọc được những dòng chữ này, cháu sẽ biết được thêm một ít điều về người bố thân yêu của cháu và cũng biết được trong hoàn cảnh nào cháu được sinh ra.


    5.10. Sắn công nghiệp (kỹ nghệ?)

    Ở miền Bắc có một loại sắn gọi là sắn công nghiệp. Loại này không phải là lương thực mà chỉ để dùng trong kỹ nghệ thôi. Cây sắn cao tối đa là 0.80 mét (32 inches), thân cây to cỡ ngón tay cái của người lớn. Củ sắn mọc thành chùm xoè ra giống nan quạt giấy. Chỉ cần lay lay gốc cây cho lỏng một tí là kéo lên cả chùm. Củ sắn thường to bằng cổ tay đứa trẻ bình thường (không mập quá) 9-10 tuổi. Loại sắn này ăn vào lạng quạng là đi về chầu tổ ngay. Kinh nghiệm của dân Miền Bắc cho biết, nếu muốn ăn được (miễn là đừng ăn nhiều quá) thì phải luộc sắn lẫn với lá tre tươi. Lá tre tươi sẽ hoá giải bớt chất độc của sắn đi.

    Một buổi trưa, không hiểu vì lý do gì, trại cho tù ăn sắn công nghiệp thay cơm. Nhóm của anh Bùi Quyền (Trung Tá Dù) có chừng bốn năm người ngồi ăn chung ở bên ngoài buồng ngủ. Bên cạnh nhóm anh Quyền, còn có mấy nhóm nữa. Thường thường bọn tôi hay ngồi ăn cơm ở cạnh tường phía bên ngoài buồng ngủ, trừ khi trời mưa. Thấy toàn là sắn công nghiệp, anh Bùi Quyền đề xướng, “Nó cho bọn mình ăn sắn này để mà chết à, anh em đừng ăn.” Thế là cả nhóm hưởng ứng. Mấy nhóm bên cạnh cũng hưởng ứng theo.

    Chỉ chừng nửa tiếng sau, tên công an trực trại và hai thằng công an bảo vệ vác AK47 xuống buồng anh Quyền, chúng lùa hết mọi người vào buồng và khoá cửa lại. Sau đó chúng điều tra xem ai là người chủ xướng việc này. Đáng lẽ ra anh Quyền bị dính chấu, nhưng có lẽ tên ăng-ten không ưa gì anh Vũ Cao Hiến (khóa 24 Võ Bị Đà Lạt, ăn cùng nhóm Bùi Quyền) cho nên nó đã chỉ điểm cho công an trực trại bắt anh Hiến và đem vào cùm chân ở trong nhà đá. Anh Quyền và những người khác tạm thời được bỏ qua, chờ để điều tra anh Hiến xem kết quả ra sao đã. Hiến bị cùm trong nhà đá 30 ngày.

    Ở bên ngoài, Bùi Quyền nói với bạn bè rằng, “Không biết thằng Hiến có chịu nổi đòn để không khai ra thêm ai nữa không? Nếu nó phải khai ra thì thế nào cũng có vài thằng bị dính.” Mọi người thắc thỏm đợi chờ. Đồng thời, vì biết chắc là nó sẽ bỏ đói Hiến cho bõ ghét, anh Quyền bàn với vài người rằng, bằng mọi giá, phải tìm cách móc nối với người tù hình sự (trong trại có mấy người tù hình sự được Ban Chỉ Huy trại tin tưởng, giao cho công việc lặt vặt xung quanh nhà đá), để tiếp tế cho Hiến mấy viên kẹo và mấy cục đường táng (có hình vuông hoặc hình bầu dục, màu vàng khè vì chưa được tinh lọc).

    Người tù hình sự kể rằng hắn phải dùng một cái “cần câu”, cột kẹo hoặc đường vào đầu dây rồi đưa đầu cần câu vào qua một lỗ cửa sổ thông hơi ở trên cao (cao hơn đầu người). Vì trong nhà đá rất thiếu ánh sáng, không nhìn rõ, cho nên Hiến phải dùng tay quờ quạng cho đến khi bắt được “mồi” thì gỡ ra. Cứ thế tiếp tục, nhờ vậy mà Hiến qua khỏi được 30 ngày trong địa ngục. Phải công nhận rằng Hiến rất kiên cường, dù thế nào đi nữa, Hiến vẫn không hề khai thêm người nào khác. Cho nên những người kia đều thoát nạn.

    Sau 30 ngày, Hiến được tha, không đi nổi, phải hai người dìu hai bên. Xin nói thêm là Hiến không ở cùng buồng với Bùi Quyền mà chỉ nhập nhóm ngồi ăn cơm chung với nhau thôi. Hiến ở cùng buồng với tôi. Khi vào tới trong buồng, chúng tôi đặt Hiến lên chỗ nằm của anh, người thì lo kiếm tí nước nóng thấm vào khăn, lau chùi cho bớt mùi tanh tưởi; người thì nấu cháo lỏng đổ vào miệng Hiến để cho bao tử quen dần với đồ ăn, chứ không dám cho Hiến ăn đồ cứng ngay, có thể gây chết người như chơi.

    Bây giờ Hiến đã ra người thiên cổ trong một chuyến vượt biển chỉ ít lâu sau ngày Hiến cưới vợ. Hiến ơi, viết tới đây, lòng anh bồi hồi xúc động, nhớ lại ngày ăn cưới, em đã vui bạn bè mà uống quá nhiều. Chính anh là người dìu em vào phòng, dùng dầu nóng thoa bóp cho em, pha nước chanh cho em uống giải rượu. Anh còn nhớ như in lời nói nhừa nhựa của em lúc còn đang say, rằng: “Anh Thái ơi, anh em mình phải làm một cái gì, chứ để tụi nó tự tung tự tác như thế này thì làm sao chịu được!” Lúc đó để cho em yên lòng, anh cũng hứa với em rằng “Ừ mình sẽ làm.” Thế mà đến bây giờ đã 24 năm trôi qua (1984 – 2008), anh chưa làm được “cái gì” như em mong ước mà tuổi đời thì càng ngày càng cao, lực bất tòng tâm, tài hèn sức mọn! Chắc anh phải thất hứa với em quá, mong em thông cảm mà tha thứ cho anh nhé. Anh luôn luôn tưởng nhớ đến em. Vong linh em có thiêng thì hãy phù trợ cho anh và các bạn bè của chúng mình nhé. Tôi viết bài này từ trí nhớ của tôi và cũng do lời kể bổ xung của anh Võ Tấn Tài vì anh Tài là người có mặt trong lúc nhóm của Bùi Quyền chê không ăn sắn công nghiệp.
    (còn tiếp)

  5. #25
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)
    5.11. Trồng lạc (đậu phọng)
    Trại Vĩnh Quang B có nhiều khu (lô) đất để canh tác, chủ yếu là trồng hoa mầu, không trồng lúa (cả lúa nương lẫn lúa nước). Tùy theo thế đất mà chia lô, vì thế có khu rộng, khu hẹp nhưng không khác nhau quá nhiều. Mỗi lô đất có một căn nhà tranh/lá, vách đất, kích thước vào khoảng 6m x 4m (20ft x 14ft), dùng cho cán bộ quản giáo ở để trông coi hoa mầu trong khu trách nhiệm, căn nhà này gọi là nhà lô (*).

    Mỗi buổi sáng, quản giáo từ nhà lô vào trại, lãnh tù ra khu của mình để lao động. Tới mùa trồng lạc, sau khi đã chuẩn bị đất xong thì bắt đầu trồng. Đậu phọng được lãnh từ kho của trại nhưng không đem ngay ra lô đâu. Mấy thúng đậu phọng phải để ở sân trại, chờ người đem thuốc trừ sâu tới, sau đó phải đổ thuốc trừ sâu vào mấy thúng đậu phọng trộn cho thật đều và để một lúc lâu cho hạt đậu phọng thật thấm thuốc. Khi quản giáo biết chắc là thuốc đã ngấm đủ thì mới cho tù khiêng đi trồng.

    Tôi nghĩ, mục đích trừ sâu thì ít, mà mục đích chính là để tù khỏi ăn sống trong lúc trồng để bảo vệ “tài sản của Xã Hội Chủ Nghĩa”. Bình thường, trong lúc cơ thể đầy đủ thì tôi khó mà ăn đậu phọng sống được vì nó có mùi tanh tanh. Nhưng khi cơ thể thiếu chất dinh dưỡng (đói triền miên) thì ăn đậu phọng sống chẳng còn thấy gì là tanh nữa. Trái lại, ăn rất là ngon, ngon tuyệt cú mèo!

    Vài lần đầu, nhiều người không biết, sau khi ăn đậu phọng sống mà uống nước nóng vào là sẽ bị sình bụng và đi tiêu chảy mệt nghỉ. Sau này nhờ kinh nghiệm của bọn tù hình sự thì, sau khi ăn đậu phọng sống không nên uống nước nóng, mà phải uống nước lã (nguội) thì sẽ vô sự.

    “Những tư tưởng lớn thường gặp nhau,” chúng tôi không ai bảo ai nhưng khi băng qua một con suối nhỏ trước lúc vào khu đất trồng đậu thì người nào cũng nhúng nước cho ướt khăn lau của mình để sẵn sàng hành sự. Quản giáo chỉ dẫn công việc cho đội trưởng xong, sau đó cùng hai tên bảo vệ đi vào nhà lô ngồi hút thuốc lào và đấu láo với nhau, mà ít để mắt đến chúng tôi vì chúng nghĩ rằng bọn tôi sẽ không dám ăn đậu đã tẩm thuốc trừ sâu. Chúng tôi lãnh mỗi người mấy lon đậu rồi nhận mỗi người một luống để trồng. Thỉnh thoảng, tôi bốc một nắm nhỏ đậu, bỏ vào khăn ướt, vò qua vò lại một lúc để xả bớt chất thuốc trừ sâu, rồi bỏ vào miệng nhai. Trời! Đậu sống ngon cách chi! Tuy nhiên ngày đầu tôi không dám ăn nhiều vì còn phải dò dẫm xem có gì trục trặc không. Ngày đầu, thấy vô sự, sang ngày thứ hai tôi ăn bạo hơn, gấp đôi, nhưng vẫn không thấy gì trở ngại. Tiếc rằng công việc trồng đậu phọng cũng chỉ diễn ra hai ba ngày là xong.

    Qua mùa trồng đậu phọng kế tiếp, khi mọi người đều có kinh nghiệm ăn đậu phọng sống rồi, tôi tưởng mình sẽ được thoải mái mấy ngày nhưng mừng hụt. Quản giáo thấy mùa trồng đậu trước, dù đã tẩm thuốc trừ sâu mà sao “sâu” ăn nhiều quá, cây đậu mọc lưa thưa nên thu hoạch chẳng được bao nhiêu. Hắn sinh nghi cho nên mùa này hắn canh chừng kỹ hơn. Đội trưởng (Thiện, đại úy Không Quân) cũng không dám thả lỏng cho chúng tôi nữa. Vì thế mùa này tôi bị “thất thu” (ăn không được bao nhiêu). Các anh em khác cũng cùng cảnh ngộ.

    Nói thêm vài nét về anh Thiện (đội trưởng, không nhớ tên họ). Thiện là đại úy phi công trực thăng (?) phục vụ tại Biên Hoà, còn rất trẻ nhưng rất khéo léo xử thế, không mất lòng đồng đội mà vẫn được sự tín nhiệm của quản giáo. Có những ngày anh em làm ít nhưng anh Thiện vẫn có cách báo cáo vượt chỉ tiêu, nhờ thế mà chúng tôi dễ thở. Anh Thiện đôi khi rất khổ tâm với tôi vì cái tội kiếm chác đồ ăn trong lúc làm việc của tôi, nhưng chưa khi nào anh tỏ thái độ bất nhã với tôi cả. Có lần sau giờ lao động, tôi và một người nữa có nhiệm vụ thu cuốc xẻng, cột lại để vác về trại. Mặc dù tôi đã cột xong bó của tôi nhưng tôi thấy đáng lẽ ra chưa tới phiên của tôi, tôi khiếu nại với tổ trưởng (quên tên) thì bị anh này nói xẵng chi đó. Tôi nổi nóng, quẳng bó cuốc xuống rãnh rồi bỏ ra chỗ khác đứng. Anh Thiện thấy vậy, lẳng lặng tới nhặt bó cuốc của tôi và vác về trại, sau đó không thấy anh nhắc gì đến việc này trong giờ sinh hoạt đội và cũng không thấy anh tỏ thái độ gì khác đối với tôi. Bái phục anh Thiện đấy. Một lần, tôi nhận gói bưu phẩm 3 kg (chừng 7 pounds) trong đó có một cái phin cà phê (Việt Cộng gọi là cái nồi ngồi trên cái cốc). Tôi dùng được ít ngày thì có “kiểm tra đồ đạc”, quản giáo Lưu thấy cái phin cà phê của tôi thì mê lắm nhưng không có lý do để tịch thu. Lưu ngại không dám hỏi xin tôi vì hắn hay bắt tôi làm kiểm điểm về tội “cải thiện linh tinh”, chắc gì tôi đã cho. Hắn phải nhờ đến Thiện, xin tôi để khi về nghỉ phép làm quà cho bố. Thiện hỏi tôi tới lần thứ ba thì tôi đồng ý cho vì nể tình Thiện đã đối xử tốt với tôi và nhân thể cũng là dịp đáp lễ cho lòng tốt đó của Thiện. Bây giờ chắc Thiện cũng ở đâu đó trên đất Mỹ này, nếu Thiện đọc được bài viết này thì nhận ở tôi lời chúc sức khỏe nhé.

    Kinh nghiệm về ăn đậu phọng sống không ngờ sau này lại hữu ích cho tôi: Chả là, năm 1999, tôi phải làm tiểu luận để tốt nghiệp văn bằng Cử Nhân về Quản Trị Kinh Doanh (Bachelor of Business Administration). Tôi phải viết một bài tiểu luận chính (major) và hai bài tiểu luận phụ (minor). Một trong hai bài tiểu luận phụ có đề tài là “Đạo Đức Trong Kinh Doanh”. Trong cuốn sách về Đạo Đức Kinh Doanh, tác giả cuốn sách lên án chính phủ và các hãng xưởng của những nước kỹ nghệ phát triển là đã không có đạo đức khi họ bán/trợ cấp cho những nước nghèo các loại thuốc trừ sâu mà họ không được phép xài trong nước của họ. Tôi đã viết bài phản bác sự lên án của tác giả cuốn sách.

    Tóm lược đại khái như sau:
    Thứ nhất, lấy nước Tầu làm thí dụ, dân số quá đông, lương thực không đủ nhu cầu đến nỗi họ phải đưa ra chính sách hạn chế sinh đẻ, mỗi cặp vợ chồng chỉ được phép có 1 con. Nạn đói luôn luôn đe dọa. Mỗi khi có nạn đói thì số người chết phải tính bằng triệu. Mặc dù chính phủ nước họ biết rằng một số thuốc trừ sâu đã bị cấm dùng ở những nước văn minh nhưng họ vẫn nhận (nếu là trợ cấp) hoặc vẫn cho phép nhập cảng nếu phải mua (với giá rẻ, dĩ nhiên). Người bán/trợ cấp sẽ được giảm trách nhiệm vì có sự đồng thuận của đối tác.
    Thứ hai, thống kê số người chết đói thì dễ dàng nhưng từ trước đến nay chưa có một thống kê nào về số người chết vì tác hại của thuốc trừ sâu. Số người chết vì tác hại của thuốc trừ sâu không có đủ tầm mức quan trọng khiến cho người ta phải chú ý và làm thống kê. Cái lợi trước mắt là nếu không có thuốc trừ sâu (loại bị cấm ở xứ văn minh) thì sẽ mất mùa và nạn đói sẽ đến ngay, như vậy thuốc trừ sâu trong trường hợp này có ích hơn là có hại. Nước Tầu với dân số hơn một tỷ, nếu có chết đi một vài trăm ngàn vì nhiễm độc thuốc trừ sâu cũng chẳng nhằm nhò gì. Và, chưa chắc đó đã là điều xấu cho họ, mà biết đâu họ lại mừng là khác vì thuốc trừ sâu đã giúp họ giải quyết được một số miệng ăn.
    Thứ ba, kinh nghiệm bản thân của tôi trong những năm tháng ở tù Cộng Sản, tôi đã từng ăn đậu phọng tẩm thuốc trừ sâu khá nhiều. Vậy mà đến nay sức khỏe tôi vẫn bình thường, tinh thần tôi vẫn sáng suốt, bằng chứng là tôi đã dư sức theo học chương trình học này mà hôm nay là bài chót tôi phải làm để tốt nghiệp. Thêm nữa, đứa con gái tôi sinh năm 1986, đến nay đã 13 tuổi mà không thấy có một dấu hiệu gì là bị ảnh hưởng bởi thuốc trừ sâu do di truyền từ tôi cả. Nó xinh đẹp hơn cả mấy người chị của nó và học hành luôn luôn ở Top 5.
    Tôi kết luận: Đạo đức hay không đạo đức là tùy thuộc quan niệm của mỗi nước. Cái được coi là không đạo đức ở Hoa Kỳ chưa chắc đã được nhìn nhận như thế ở những nước khác. Tác giả cuốn sách viết về đạo đức kinh doanh trong vị thế người dân của một nước văn minh. Tôi trong tư thế người dân của một nước nghèo, tôi không hoàn toàn đồng ý với tác giả về sự lên án việc cung cấp thuốc trừ sâu đã bị cấm cho những nước nghèo. Kết quả là bài tiểu luận này tôi được điểm “Excellent”. Vậy thì tôi phải hoan hô đậu phọng tẩm thuốc trừ sâu một phát!

    (*) Nói thêm về chữ “nhà lô” Chữ "Lô" là tiếng Pháp đã được Việt hoá từ lâu. Tiếng Pháp hay tiếng Anh đều viết là "lot", có nghĩa là một khu đất phân cách bởi một khu khác. Sau này "khu đất" trở thành "lô đất". Trong trại tù, họ chia đất ra từng khu riêng biệt cho từng đội phụ trách trồng trọt hoa mầu. Trên mỗi khu đất (lô đất) đều có cất một căn nhà nhỏ cho tên quản giáo ở để trông coi hoa mầu khỏi bị ăn cắp. Căn nhà nhỏ đó gọi là nhà lô. Ở Vĩnh Quang A & B đều có nhà lô. Mỗi sáng, quản giáo từ nhà lô vào trại dẫn tù đi ra canh tác trong khu vực trách nhiệm của hắn.

    Khi viết tới đây, tôi lại nhớ ra cái nhà lô của đội tôi khi còn ở trại Vĩnh Quang B. Trước khi chúng tôi chuyển ra Vĩnh Quang A chừng hai tháng, đội tôi có một quản giáo mới. Anh mới ở trong Nam chuyển ra đây và được chỉ định làm quản giáo. Anh quản giáo này cỡ tuổi của tôi. Từ ngày coi đội, tôi chưa thấy anh ta vào trại dẫn chúng tôi đi làm bao giờ. Chẳng biết anh có đi đâu không, nhưng tôi có ý nghĩ là anh chỉ quanh quẩn ở nhà lô. Anh mang cấp bậc thượng úy (ba ngôi sao) trong khi trưởng trại cũng là thượng úy. Tôi không nhớ tên vì thời gian anh làm quản giáo đội tôi rất ngắn. Có nguồn tin cho rằng thời gian anh phục vụ ở trong Nam, anh đã làm gì đó để bị thất sủng và bị đổi về đây chờ ngày giải ngũ (Việt Cộng gọi là phục viên). Anh ta rất ít nói và tỏ ra thông cảm hoàn cảnh tù đày của chúng tôi. Mỗi buổi sáng, anh đội trưởng Thiện dẫn đội ra nhà lô gặp quản giáo và nhận công tác. Lần nào cũng vậy, anh quản giáo này bảo anh Thiện cử ra mấy người nhổ sắn và luộc cho chúng tôi ăn tại chỗ:

    - Anh cho anh em luộc sắn ăn cho no bụng đi, nhưng phải kín đáo đấy, đừng để cho trại biết.

    Tôi có bàn tay lẹ làng cho nên sáng nào tôi cũng được anh Thiện cử vào toán luộc sắn. Những người còn lại thì được giao công tác quanh nhà lô, hôm thì làm cỏ sắn, hôm thì đào sắn cho trại. Trong lúc chúng tôi lo công việc luộc sắn thì anh quản giáo này đi vòng vòng trong khu làm việc, canh chừng cho chúng tôi kẻo bị ai đó bắt gặp. Nhờ vậy chúng tôi có được cảm giác no nê trong những ngày này. Khi sắn đã luộc xong là anh Thiện cho đội nghỉ giải lao ngay để thanh toán cho lẹ số sắn luộc này, không cần biết là đã tới giờ nghỉ giải lao qui định hay chưa. Công việc thì chẳng khi nào thấy quản giáo ngó ngàng tới, anh Thiện muốn làm gì thì làm, chúng tôi cũng thấy dễ thở. Có lẽ anh chàng quản giáo này bất mãn thời cuộc, hay là đã bị chao đảo tư tưởng trong lúc phục vụ ở Miền Nam vì nhìn ra là mình đã bị mắc lừa bởi những điều tuyên truyền láo khoét trước khi anh vào Miền Nam phục vụ. Điều này chỉ mình anh biết mà thôi. Dù sao thì phải công nhận anh đối xử rất tốt với tù Việt Nam Cộng Hòa. Anh là người quản giáo duy nhất, trong suốt thời gian tôi ở tù, mà tôi có thiện cảm.


    5.12. Hành lạc với heo cái
    Để tránh phiền phức, tên của nhận vật chính trong chuyện được mã hoá bằng X. X là đại úy độc thân còn rất trẻ. Cái lon đại úy mới đeo chưa mất hết nước bóng thì X đã phải khăn gói quả mướp đi “học tâp cải tạo”. X làm trong đội nhà bếp, vì nằm trong hệ thống ăng-ten của Trần Duy Phố cho nên được giao công tác nhẹ nhõm. Đó là chăm sóc cho một con heo, vỗ béo để chờ ngày ngả thịt, nhưng nó lại là heo cái mới có chuyện để mà nói.

    Một hôm Trần Duy Phố cần gặp X có chuyện gì đó nhưng Phố mắc bận không ra chuồng heo được. Phố nhờ anh Trần Hữu Thành (LLĐB, cũng ở đội nhà bếp) ra gọi X vào. Anh Thành tới gần mà X vẫn không biết vì hắn đang xà nẹo với con heo cái. Thoạt đầu, anh Thành không biết X đang làm gì nhưng nhìn động tác tiến tới tiến lui của X thì anh Thành hiểu ra ngay. Anh Thành cũng không vừa, muốn làm mất hứng của X nên anh la lớn: “X! mày làm gì thế?” Nghe vậy, X quay lại thấy anh Thành đứng ở sau nhưng X vẫn tỉnh bơ, tiếp tục thêm tí nữa cho xong rồi cười hề hề, coi như chẳng có gì đáng quan tâm. Từ đó anh Thành đặt cho hắn cái biệt danh là “X heo”. Cái biệt danh này vẫn còn theo hắn cho đến bây giờ.

    Tuy vậy, rất ít người biết nguyên do từ đâu mà có cái tên “X heo”. Nhiều người nghĩ rằng hắn nuôi heo nên gọi là X heo thì cũng phải thôi, không còn thắc mắc gì nữa. Người khác thì lại nghĩ rằng bởi vì hắn có cái bộ mặt giống như Trư Bát Giới nên bị gọi là X heo cũng đúng thôi. Có người lại nghĩ rằng hắn ở bẩn (mà bẩn thật đấy) thì gọi là heo vì người ta thường ví “bẩn như heo” mà.

    Hắn đi Mỹ trước sau tôi chừng một tháng vì đôi lần tôi gặp hắn ở Văn Phòng Dịch Vụ Xuất Ngoại, đường Nguyễn Trãi, Chợ Lớn. Thấy tôi, hắn tới hỏi chuyện, tôi chỉ ậm ừ vài câu rồi tôi bỏ đi chỗ khác ngồi. Biết đâu giờ này hắn đang làm hội trưởng của một hội nào đó, chẳng hạn như hội Cựu Tù Nhân Chính Trị, hội Cựu Chiến Sĩ, hội Bảo Vệ Chính Nghĩa Quốc Gia, v.v… Loại người như hắn thì hắn dễ dàng đổi chiều lắm, loại cỏ đuôi chó, gió chiều nào ngả theo chiều đó là điều dễ hiểu. (còn tiếp)

  6. #26
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)
    5.13. Quà cáp & Thăm nuôi
    Khi chúng tôi về ở Vĩnh Quang B được chừng một tháng thì trại cho viết thư về gia đình và đồng thời phát cho mỗi người một phiếu gửi bưu phẩm để kèm theo thư. Tiêu chuẩn là mỗi ba tháng được phát một phiếu gửi bưu phẩm mà trọng lượng tối đa là 3 kg (chừng 7 lbs). Tuy nhiên sau này khi có bưu phẩm gửi tới, tôi thấy có vài người nhận được hai hoặc ba gói bưu phẩm. Tôi không biết tại sao nhưng khi được thả ra, về nhà thì vợ tôi cho biết là có đường dây ở bưu điện bán phiếu thăm nuôi, có tiền là mua được thôi.

    Có điều là vợ con chúng tôi lo ăn cho các con còn trầy da tróc vẩy thì lấy đâu ra tiền để gửi nhiều. Một số người có tiền nhưng nhát gan, sợ rằng gửi quá tiêu chuẩn thì mất tiền toi. Chỉ trừ một vài người to gan và tiền bạc tương đối tạm đủ thì họ liều mạng gửi thí, một ăn một thua.

    Mỗi lần có đợt lãnh bưu phẩm, trại chọn một số người, tùy theo bưu phẩm nhiều hay ít, đi ra trại Vĩnh Quang A hoặc đôi khi đi thẳng ra bưu trạm của xã Lập Thạch để khiêng đồ về. Căn cứ vào số người được chọn đi khiêng đồ, chúng tôi có thể đoán biết được là có bao nhiêu gói bưu phẩm kỳ này. Cứ hai người khiêng một bao, giỏi lắm là 45 kg (tức là 15 gói bưu phẩm). Nếu có 10 người đi khiêng tức là có 5 cặp, mỗi cặp 15 gói, vậy thì sẽ có phỏng chừng 75 gói bưu phẩm. Càng nhiều người đi khiêng thì càng nhiều hy vọng trúng số. Chúng tôi mong nhận bưu phẩm như mong mẹ về chợ vậy. Sáng hôm sau, trước khi các đội xuất trại đi lao động, trại sẽ gọi tên những người trúng số không phải đi lao động mà ở nhà, chờ lãnh bưu phẩm.

    Bưu phẩm được đưa ra hội trường, có mấy công an phụ trách khám bưu phẩm trước khi cho tù nhận đem về. Chúng mở ra từng thứ để tìm xem gia đình có giấu diếm cái gì “trái qui định” của trại không. Trái qui định trong ngoặc kép là ý tôi muốn nói bất cứ cái gì mà tụi nó muốn tịch thu để xài thì chỉ cần phán một câu “trái qui định” là xong ngay.

    Có lần tôi nhận gói bưu phẩm 3 kg trong đó có 1 kg cà phê (hơn 2 pounds), tên thiếu úy an ninh già (quên tên) mở ra thấy mùi cà phê thơm lừng, hắn bảo: “Cái này là trái qui định của trại, anh không được phép nhận, trại sẽ tịch thu.” Tôi trả lời: “Thưa cán bộ, trong nội qui trại đâu có nói là tù nhân không được uống cà phê, xin cán bộ cho tôi nhận về dùng.” Hắn nói: “Anh này chỉ linh tinh lang tang, muốn gì thì sáng mai lên gặp tôi.” Nói xong hắn bỏ bịch cà phê sang bên hông của hắn (hắn ngồi trên một cái ghế dài) và đẩy mấy thứ còn lại cho tôi. Thấy hết hy vọng, tôi gom đồ đi về phòng.

    Tuy nhiên, còn nước còn tát, sáng hôm sau, sau khi ra khỏi buồng đánh răng rửa mặt là tôi phóng lên phòng trực trại, nơi hắn ngủ ở đó. Tôi báo cáo và xin nhận lại cà phê. Liếc mắt vào trong, tôi thấy “cái nồi ngồi trên cái cốc” đang nhểu nước cà phê (chắc hẳn là của tôi). Tôi nghĩ bụng, thôi rồi khó mà lấy lại được vì mỡ đã ở miệng mèo thì làm gì có chuyện hắn trả lại. Hắn lập lại với tôi là trại quyết định thu cà phê, và đuổi tôi về đi lao động!

    Tôi còn nhớ, có anh được gia đình gửi cho 1 kg lạp xưởng, tên công an cầm lên nhìn săm soi một lúc rồi lẩm bẩm một mình: “Đồ ăn không gửi mà lại đi gửi nến (đèn cầy).” Anh bạn đó phải giải thích đây là đồ ăn chứ không phải nến, và mô tả sơ qua về cách làm lạp xưởng cho hắn nghe. Cũng may là lạp xưởng không “trái qui định trại” cho nên anh đã được nhận.


    5.14. Liên tưởng đến vài người bạn
    Mỗi khi có quà cáp, nhóm bạn chúng tôi thường hay chia sẻ với nhau, ít ra cũng có tí cà phê, thuốc lá, hoặc cái gì đó. Nhờ vậy mà chúng tôi có sự khắng khít với nhau. Tôi nhớ lại các bạn này ngày tôi rời Việt Nam, ngày 19/6/1991. Hôm đó có Đệ, Chánh, Bình bót, và Phạm Kiến Chương (Chương còm) cùng ra sân bay Tân Sơn Nhất tiễn đưa tôi. Tôi còn giữ được tấm hình tôi chụp chung với các bạn đó ở phi trường Tân Sơn Nhất (xem hình ở cuối sách). Chương còm còn có thêm một biệt danh nữa là Chương hói (đại úy Cảnh Sát).

    Tôi biết Chương còm khi chuyển trại ra Vĩnh Quang A. Sau này Chương còm cũng về ở Nam Hà cùng đợt với tôi. Gọi là Chương còm nhưng thực sự thì ngược lại, Chương có chiều cao hơi khiêm tốn mà lại mập, đầu hói trông như ông địa. Chương có người anh tên là Kiệt (Khoá 20 Võ Bị Đà Lạt). Kiệt làm đội trưởng đội cầy bừa ở Nam Hà C mà trong đó có tôi. Chương không đi Mỹ mà đi Bỉ vì lúc đó vợ con của Chương đang ở Bỉ.

    Còn Trần Cao Chánh thì tôi nhớ một chuyện lúc Chánh & Hiến ở cùng đội với tôi. Một buổi tối sau khi vào buồng, cửa buồng đã khoá, tôi thấy Chánh cầm một cây sắt dài cỡ 30 cm (12 inches), vuông cạnh chừng 1.5 cm ( 5/8 inch, loại sắt dùng để nối những tấm vỉ sắt PSP với nhau). Mặt Chánh lộ vẻ cương quyết. Tôi đoán là Chánh đang định làm điều gì quan trọng lắm. Tôi gặng hỏi thì Chánh bảo đêm nay sẽ cho “thằng Đ. cố đạo biết tay.” Tôi phải khuyên can Chánh và cố thuyết phục để Chánh bỏ ý định đó đi. Rất may là Chánh đã nghe và hủy bỏ ý định đó. Nguyên do là vì anh Đ. cố đạo đã có lời nói và cử chỉ ngăn cản Chánh làm điều gì đó liên quan tới ăn uống (chẳng hạn như nướng khoai, nướng sắn tại nơi nấu nước của Đ.). Dưới con mắt của Chánh thì anh Đ. cố đạo là người đâm sau lưng chiến sĩ. Anh Đ. cố đạo không được lòng anh em vì mặc dù anh tỏ ra là người “ngoan đạo”, chăm chỉ đọc kinh và lần hạt nhưng hành động thì không bác ái tí nào. Đó cũng là lý do anh có biệt danh là “cố đạo” với ý mỉa mai, đạo đức bằng môi bằng mép!

    Nguyễn Phan Đệ, binh chủng Thiết Giáp, có khiếu ca hát, sẽ đề cập chi tiết sau.

    Bình bót là dân Biệt Động Quân, rất vui tính. Con của Bình bót còn lớn tuổi hơn con tôi; năm nay (2008) chắc nó cũng phải 45 tuổi rồi. Hiện giờ Bình bót và gia đình anh đang ở Cali.

    Anh Nguyễn Tiến Hanh (khoá 15 Pháo Binh) cũng có nhiều kỷ niệm với tôi. Như tôi đã kể, khi còn ở Trại 5 (thời kỳ chặt nứa), anh Hanh, Hiếu và tôi là nhóm ba người bắt tép và cá con ở hồ Thác Bà. Cũng thời kỳ này anh chán đời, không thèm chơi đàn guitar nữa, anh cho tôi cây đàn và dạy tôi bấm gam để trưa nào cũng vậy, thay vì đi ngủ, tôi ra đầu hè ngồi tửng từng tưng cho đến kẻng báo giờ đi làm buổi chiều mới thôi. Cái đàn này do anh tự chế khi còn ở Long Giao (Long Khánh), hai mặt đàn làm bằng ván ép mỏng, hông đàn làm bằng miếng kẽm của thùng lương khô Trung Cộng, dây đàn là những sợi lõi của dây điện thoại dùng trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Âm thanh cây đàn phát ra cũng không đến nỗi tệ. Tôi không có khiếu về đàn địch cho nên tập hoài không khá, tôi cũng chán và bỏ tập luôn. Tôi phá cây đàn để lấy miếng kẽm gò thành một cái tô đựng canh. Tài nghệ gò thùng của tôi thuộc loại “siêu” cho nên cái tô có hình cái xuồng. Thế mà tôi cũng xài cái xuồng này hơn một năm mới bỏ. Anh Hanh, trái lại, là con người có tính nghệ sĩ, anh chơi đàn khá và giọng hát của anh cũng ấm ra gì đấy. Năm 1970, khi học cùng khóa Pháo Đội Trưởng với tôi, anh rất thích hát bài “Mùa Thu Chết”; vì thế đôi khi anh cũng “làm phiền hàng xóm trong lúc nghỉ trưa” (mượn ý của Đài Phát Thanh Sài-Gòn năm xưa).

    Bây giờ nói chuyện anh Hanh ở Vĩnh Quang B. Đội tôi trong những ngày nghỉ, một số người có quà cáp thăm nuôi thì lo nấu nướng; số người không có quà cáp thì chống đói bằng cách ngồi nghe kể chuyện (chưởng là môn chính). Chúng tôi gọi người kể chuyện là máy chiếu phim. Máy chiếu phim không chạy bằng điện hay xăng mà chạy bằng mấy bi thuốc lào hoặc đôi khi có được một cục đường táng là máy chạy tốt ngay, âm thanh không bị rè nữa. Trong đội có anh Vượng sún (khoá 16 Thủ Đức) có trí nhớ rất hay nên anh đóng vai máy chiếu phim, tệ lắm thì cũng có mấy bi thuốc lào phi cho quên đời. Một hôm đến mục bàn về Ngũ Đại Môn Phái Võ Thuật Trung Hoa, khi Vượng sún đang phân tích nào là Thiếu Lâm có cái này hay, nào là Côn Luân có cái kia trội v.v… thì anh Hanh (thuộc loại con bà phước, đói trường kỳ) đi ngang qua và nghe được lời bàn của Vượng sún, anh Hanh với vẻ mặt thiểu não, lắc đầu, nhìn tôi và nói nho nhỏ vừa đủ cho tôi nghe thôi, “Côn Luân, Không Động, Thiếu Lâm hay gì gì tôi cũng đếch sợ, tôi chỉ sợ môn phái THIẾU CƠM thôi, môn phái THIẾU CƠM là bá chủ võ lâm!”


    5.15. Ăn trứng rắn lộn Vào một ngày Thứ Bảy, đội tôi có nhiệm vụ làm một cái nhà kho để dụng cụ. Anh Hồ Đắc Thái ở trong tổ san nền đất cho bằng phẳng. Anh Thái phát giác được một hang rắn, không biết loại rắn gì. Trong hang không có rắn nhưng có 6 trái trứng to hơn đầu ngón tay cái của người lớn. Anh lẳng lặng bỏ mấy trái trứng rắn vào túi và sẽ thanh toán nó sau.

    Sáng hôm sau là Chủ Nhật, cả trại được nghỉ. Anh Thái cũng bắt chước người ta nấu nướng linh tinh. Anh bỏ 6 trái trứng rắn vào lon gô để luộc. Luộc xong, anh bỏ trứng rắn ra đĩa với một chút muối, dự định ăn một mình. Nhưng khi đập trái trứng đầu tiên, anh thấy rắn đã thành hình, cuộn tròn trong vỏ trứng, to cỡ như con giun đất. Anh không dám ăn, thấy tôi đi ngang qua, anh vời tôi lại và chỉ cho tôi xem cái trứng đã có con. Anh hỏi tôi xem có nên ăn không vì anh sợ là trứng rắn độc nếu ăn vào sẽ tiêu vong. Tôi lý luận với anh rằng, “Nọc độc của rắn tiết ra từ hai cái hạch dưới chân răng nanh, khi con rắn đã đủ lớn. Còn ở đây là rắn bao tử, dù là loại độc cũng chưa có thể có nọc được. Để tôi ăn trước cho anh xem.” Nói xong, tôi ăn luôn cái trứng rắn mà anh đã đập ra kèm với vài hạt muối. Mùi trứng rắn lộn cũng na ná như mùi hột vịt lộn, tiếc rằng không rau răm, nếu có thì thật là hết sẩy!

    Anh Thái chờ một lúc rồi hỏi tôi có sao không. Tôi trả lời “Nô sì ta hoe” (Tiếng Mỹ ba rọi, No star where = không sao đâu). Thấy tôi vẫn bình yên, anh Thái đập vỏ trái trứng thứ hai và chấm muối ăn. “Không may” cho hai đứa tôi, có mấy người bạn thấy chúng tôi ngồi ăn “cái gì” và cười cười với nhau, họ nhào tới và thế là không đủ cho mỗi người một trứng, có người chỉ được nửa con rắn thôi.

    Trong tù, những lúc vui-sướng-buồn-khổ-nhục, chúng tôi đều có nhau. Vì thế mà giờ đây đã hơn ba chục năm rồi, chúng tôi vẫn còn nhớ đến nhau. Nhất là những lúc gặp mặt nhau dưới bầu trời tự do này thì hỏi sao không vui được? Thôi thì hàn huyên đủ chuyện, chén chú chén anh, nhưng cũng không khỏi chạnh lòng khi nhắc tới những người bạn đã bỏ chúng tôi mà sang bên kia thế giới như các anh Đào Ngọc Tỉnh, Nguyễn Chánh Vi, Vũ Cao Hiến, Nguyễn Văn Diện, Hồ Đắc Thái, và còn có thể một vài người nữa mà tôi không biết hết. Vĩnh biệt các anh!
    (còn tiếp)

  7. #27
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)
    5.16. “Cải thiện linh tinh lang tang.”
    Cải thiện linh tinh là “Chuyện dài Nhân Dân Tự Vệ”, nó chỉ chấm dứt khi được ra khỏi nhà tù. Cải thiện có muôn vàn hình thức nhưng đều qui về một mục đích là kiếm được cái gì đó bỏ vào cái bụng mà lúc nào nó cũng cào cấu, cũng đòi hỏi. Bình thường, chữ “cải thiện” không mang nghĩa xấu nhưng trong trại tù, nó thường mang nghĩa xấu nhiều hơn. Cải thiện đồng nghĩa với kiếm chác đồ ăn một cách lén lút, không được trại cho phép.

    Tôi là người bị làm kiểm điểm nhiều lần vì cải thiện linh tinh. Kiểm điểm thì kiểm điểm, tôi vẫn chứng nào tật nấy, không chừa được. Tôi nghĩ thầm, “Ai bảo tụi mày để chúng tao đói? Nếu tụi tao no đủ thì đâu cần cải thiện làm chi nữa; tụi bay có mời đã chắc gì tụi tao ăn cơ chứ. Nguyên do cải thiện là tụi mày, chứ đâu phải tụi tao.”

    Về anh Hiếu thì tôi nhớ nhiều điều lắm, trong đó có chuyện cải thiện. Hiếu có thói quen là khi đi rừng cùng với tôi, gặp bất cứ thứ gì mà anh nghĩ là ăn được, anh đều nhấm thử để xem mùi vị nó ra làm sao. Anh thường nói: “Nhấm một tí, dù nó độc cũng không chết người được, bất quá thì sưng môi ngứa miệng là cùng, sợ đếch gì.” Triết lý sống của Hiếu là như vậy, thảo nào ngày xưa anh chàng đã “nhấm thử” bao nhiêu là “lá đa, lá tre, lá mít, lá vông…” để trở thành sư phụ về cái món đó. Bây giờ Hiếu đã hoàn toàn thoát tục rồi vì “trên bảo dưới không nghe”, nó cứ gục xuống như đầu gà rù thì còn làm chó gì được nữa!

    Chuyện bắt chuột của tôi như sau: Khi mới đến Vĩnh Quang B, chúng tôi ở trong những căn nhà lá đã quá cũ. Trại thành lập một đội xây dựng, đội này phụ trách làm gạch ngói, sau đó xây nhà gạch thay thế cho nhà tranh. Mấy tháng sau, tất cả đều được ở nhà gạch. Buồng nào cũng có hai tầng giường ngủ. Tầng dưới là hai cái sàn xi măng, cao chừng 50 cm (20 inches), chạy dài theo chiều dọc của căn buồng, ở giữa là lối đi. Tầng trên là các tấm ván ghép lại với nhau, mỗi người được chia một khoảng rộng từ 60-65 cm (24 đến 26 inches). Tôi nằm ở tầng trên. Với chiều cao 1,6 mét (5’ 4”), tôi có thể giơ tay lên chạm tới phần thấp nhất của mái nhà. Nơi mái nhà tựa lên tường gạch có một khoảng trống chạy dọc theo căn buồng. Chính nơi đây là chỗ các chú chuột dùng làm nơi ngủ đêm. Bọn chuột thường giấu đầu vào bên trong và thò gần hết cái đuôi ra ngoài.

    Để bắt chuột, tôi chỉ cần nhẹ nhàng đứng dậy, chụp cái đuôi chuột, dựt mạnh một cái cho chuột văng xuống nền nhà. Chuột bị quật xuống đất ít khi bị chết ngay mà chỉ bất tỉnh một lúc thôi. Vì vậy, sau khi quăng chuột xuống nền nhà là tôi phải nhảy xuống chụp lấy nó và quật thêm cho nó một cú ân huệ để nó chết luôn. Bắt được chừng hai con là có thể yên tâm ngủ để sáng hôm sau làm thịt chúng. Tôi chặt đầu chuột, lột da, moi ruột bỏ đi. Còn lại phần thịt thì rửa sạch, ướp muối (chỉ có muối) rồi bỏ vào lon gô mang theo ra chỗ lao động và nhờ nấu chín.

    Mỗi đội khi đi lao động thường có một anh chuyên phụ trách nấu nước uống cho cả đội và đồng thời cũng nấu đồ ăn cho những người có thăm nuôi. Bắt chuột theo kiểu của tôi thì ít có người dám làm vì sợ chuột cắn. Nếu không lẹ tay thì rất dễ bị chuột cắn. Ăn thịt chuột thì cũng có người ăn được, kẻ không dám ăn. Bình thường ra thì tôi cũng chẳng dám ăn thịt chuột nhưng ở cái cảnh đói triền miên thì tự nhiên mình cảm thấy bạo hơn.

    Ở vùng Hậu Giang, chuột đồng là món ăn đặc sản, thịt ăn rất ngon. Chuột đồng thường ăn lúa cho nên không có gì đáng sợ. Nhưng, chuột nhà/chuột cống thường ăn đủ thứ trong những đống rác; và môi trường sống của chúng cũng không sạch sẽ cho nên có nhiều con bị ghẻ lác trông thấy mà ghê. Tuy nhiên vì đói cho nên tôi tự đưa ra một lập luận để yểm trợ cho việc ăn thịt chuột của mình: Con chó do người miền Bắc nuôi đâu có được ăn cơm gạo đầy đủ. Đồ ăn chính của nó là phân người, ấy vậy mà người ta vẫn ăn thịt chó như điên, có sao đâu. Cũng vậy, dù con chuột ăn thứ gì thì sau khi vào trong bụng, những thứ đó đã được biến thành những dưỡng chất phù hợp cho cơ thể của nó. Cá tra cũng được nuôi bằng phân người mà vẫn có giá. Vậy tại sao lại sợ? Cứ ăn, không chết thằng Tây nào cả.

    Những lúc đó tôi lại nhớ tới những ngày trước 30/4/1975. Đơn vị tôi có một ông Trung Sĩ Nhất, già, ưa nhậu thịt chuột. Những khi đơn vị tôi đóng gần làng xóm, buổi chiều ông thường ra các luống lang bắt chuột. Đôi khi ông bợ về luôn cả một ổ chuột bao tử, chưa mở mắt. Ông ướp chuột bao tử với ngũ vị hương rồi cho vào chảo rô ti để nhậu. Thấy vậy tôi rất ớn. Thế mà bây giờ nếu có được một ổ chuột bao tử như vậy thì cuộc đời lên hương biết mấy! Ở trong tù mà bắt được một con chuột cỡ cổ tay hoặc bắt được một con ếch bằng nắm tay thì được ví như “hôm nay được ăn một con heo.” Ví von như vậy cũng không sai bởi vì mỗi khi trại giết một con heo, nếu chia đều ra thì mỗi người chỉ được chừng ½ chén ăn cơm thịt heo. Đem so sánh thì thịt một con chuột có thể còn hơn gấp đôi phần thịt heo của trại đấy. Những lúc như vậy, tôi không thể tưởng tượng được rằng sẽ có ngày mình lại được ăn uống quá dư thừa thịt cá như ngày nay, đến nỗi phải kiêng bớt để tránh bị bệnh.


    5.17. Người lái tầu về với “Cách Mạng”
    Tôi biết anh vì những ngày đầu ở Vĩnh Quang B, anh thường chơi với anh Lê Gia Hân, mà anh Hân đã có thời từng là Tiểu Đoàn Trưởng của tôi (TĐ253PB). Bạn bè của anh Hân ngày xưa thường gọi anh là Lê Da Bụng vì người anh thì thấp, mà cái bụng của anh trông giống như một cái thùng nước lèo vậy. Bây giờ, sau hơn ba năm ăn cơm nhà tù, cái bụng của anh Hân đã lép xẹp. Những lúc anh cởi trần, mặc quần xà lỏn, để phơi cái bụng nhăn nheo một đống da, thấy mà thảm! Lúc này, cái tên Lê Da Bụng có lẽ thích hợp với anh hơn.

    Thỉnh thoảng, tôi sang chơi và trò chuyện với anh Hân, vì thế tôi biết tên “người lái tầu” là Phú (không rõ tên họ). Nghe nói anh di cư vào Nam năm 1954 có một mình, cha mẹ còn ở ngoài Bắc. Anh thương nhớ mẹ (không thấy nói đến cha, có lẽ ông cụ đã mất) cho nên anh nghĩ rằng nhân dịp này (hết chiến tranh) anh hy vọng gặp lại mẹ.

    Vì thế, sau khi chở đoàn người di tản ra đảo Phú Quốc, anh lái tầu HQ trở về lại Việt Nam, vừa có công với “Cách Mạng” là đã đem được một chiếc tầu về cho “Cách Mạng,” vừa có dịp gặp lại mẹ già ở miền Bắc. Đâu dè…!

    Một lần, bà mẹ anh tới Vĩnh Quang B thăm anh với vài ký gạo. Bà cụ đã chửi anh, “Mày làm tới lon trung tá mà sao mày ngu quá, tự đưa cổ vào tròng cho tụi nó thắt!” Tội nghiệp anh Phú! Chỉ vì muốn được gặp mẹ, anh đã phải trả một giá quá đắt, mười mấy năm tù chứ bộ. Đấy là chưa kể vợ con anh ở Miền Nam. Biết đâu khi anh được thả ra khỏi trại tù thì…, thôi tôi không dám nghĩ tiếp nữa. Lòng tôi mong sao khi anh trở về, vẫn còn đầy đủ vợ con như một số đông người khác.


    5.18. Những cái biệt danh Khi chúng tôi còn ở những trại do quân đội quản lý (chế độ quân quản) thì họ tổ chức mỗi trại thường là 250 người và ở riêng từng khu. Với con số 250 người thì ít có sự trùng tên nhau. Vả lại chúng tôi còn bị chi phối bởi nội qui trại tù, là “Không được quan hệ linh tinh”. Họ không muốn cho tù nhân liên lạc với nhau mật thiết vì họ sợ chúng tôi “bầy mưu tính kế” để chống phá hoặc trốn trại.

    Từ khi chúng tôi chuyển sang các trại do công an quản lý thì tình hình có khác đi một ít. Các trại do công an quản lý là những trại lập ra để nhốt tù cho nên cách xây cất vững chắc hơn. Phạm vi cũng rộng lớn hơn, thường nhốt ít nhất cũng phải từ 500 người trở lên. Trại Vĩnh Quang B nhốt hơn 500 sĩ quan/công chức của Việt Nam Cộng Hòa và hơn 100 tù hình sự. Vì có sự lỏng lẻo trong việc kiểm soát các “quan hệ linh tinh”, chúng tôi thường qua lại chuyện trò với nhau nhiều hơn. Vì đông người nên có nhiều tên trùng nhau. Từ đó nảy sinh ra những cái biệt danh để phân biệt người này với người kia. Nhưng đôi khi không phải vì nhu cầu phân biệt người này với người kia mà vẫn có những biệt danh. Thường thường, biệt danh được đặt ra tùy theo vóc dáng, tính tình hoặc dị tật của đối tượng. Sau đây là một số người có biệt danh mà tôi nhớ tên (theo vần A,B,C…).

    Bình bót (Phan Thái Bình) để phân biệt với Bình Mập. Tôi không hiểu tại sao lại có biệt danh “bót”. Bình bót thuộc binh chủng Biệt Động Quân, cấp bậc đại úy, rất vui tính, cỡ tuổi 1940 nhưng có con đã lớn, nhà ở cầu Băng Ky, gần cầu Bình Lợi, Sài-Gòn. Ngày tôi còn mở quán cà phê, Bình bót có ghé tôi chơi nhân một chuyến đi bỏ mối vỏ xe đạp. Ngày tôi đi Mỹ, Bình bót có ra sân bay tiễn chân. Bình bót hiện giờ ở Cali nhưng tôi không có liên lạc, chỉ biết tin anh qua một số bạn bè. Bình Mập có thời làm đội trưởng, tính tình hiền hoà, không đâm sau lưng chiến sĩ. Biệt danh “mập” là vì anh mập mạp hơn bình thường.

    Cả đẫn (Nguyễn Phan Đệ), binh chủng Thiết Giáp, rất vui tính và rất tốt với bạn bè. Biệt danh Cả đẫn được bạn bè đặt cho anh sau một buổi ngồi tán dóc với nhau. Khi đề cập đến đàn bà, anh có những câu hỏi rất là ngớ ngẩn chứng tỏ rằng anh chưa biết “cái đó” nó nằm ngang hay nằm dọc, nó tròn hay méo ra làm sao. Vì thế có người kết luận rằng “thằng này đúng là cả đẫn”. Từ đó cái tên Cả đẫn đã dính liền với anh cho đến bây giờ. Tôi sẽ còn nói đến Cả đẫn đôi ba lần nữa trong những phần kế tiếp của hồi ký này.

    Cảnh hù (Phạm Hy Cảnh), cấp bậc đại úy, có dáng dấp nhỏ nhắn, lùn, và rất vui tính. Mặc dù không có ai trùng tên nhưng Cảnh vẫn có biệt danh, đó là Cảnh hù, nói lái theo kiểu Bắc Kỳ là Củ hành, rất phù hợp với cái chiều cao khiêm tốn của anh. Cảnh học chung một lớp với tôi một năm ở Trung học Trần Lục (Tân Định). Cảnh có người anh tên là Phạm Hy Mai (trung tá Dù) cùng ở trại Vĩnh Quang B. Anh Mai mới chết năm 2007.

    Trong khi đang ở Vĩnh Quang B thì vợ Cảnh qua đời, để lại hai con cho bà ngoại và “Dì nó” trông coi. Bọn tôi biết chuyện thường đùa với Cảnh rằng, “Thôi, kỳ này mày về thì dớt (vớt) luôn Dì nó cho tiện bề sổ sách.” Lời nói đùa đó ai ngờ thành sự thực. Khi Cảnh được tha, “Dì nó” vẫn chờ và hai người đồng ý kết duyên. Bà ngoại sấp nhỏ không chịu, hai người bèn “tự biên tự diễn”, dẫn nhau ra Phường làm hôn thú.

    Ngày ăn cưới, Cảnh và Vượng sún tới nhà tôi mời đi dự đám cưới của Cảnh vào buổi tối. Xui cho tôi là lúc đó con heo nái (nái thực sự chứ không có nghĩa bóng đâu nhé) của tôi đang chuyển bụng đẻ. Tôi phải ngồi chờ để đỡ đẻ cho heo. Một bầy heo con suôn sẻ thì cũng ấm bụng được ít ngày. Tôi nói với Cảnh, “Nếu heo của tao sanh sớm thì tao sẽ phóng lên nhà mày ngay, nếu mày không thấy tao tới có nghĩa là heo của tao chưa sanh.” Vượng sún và Cảnh phải vội vã về ngay để còn chuẩn bị cho bữa ăn cưới. Tôi không đi được vì heo của tôi đến nửa đêm mới đẻ! Nghe anh Nguyễn Thái Học nói rằng Cảnh bây giờ đang ở Cali với “Dì nó” rất hạnh phúc. Tôi biết chắc rằng Cảnh đã thông cảm cho việc tôi không tới dự đám cưới của anh. Ấy vậy mà tôi vẫn cứ áy náy đấy.

    Dũng thì có Dũng két/kiết Dũng khấc (còn gọi là Dũng Mexico). Dũng két có cái mũi hơi khoằm xuống, trông giống như mỏ két; thực ra thì lúc đầu, anh được gọi là Dũng kiết vì anh bị bệnh kiết lị suýt chết; nhưng sau này một số người không hiểu nguyên do của chữ kiết nên lầm tưởng là két vì anh có cái mũi giống như mỏ chim két.

    Dũng khấc/Dũng Mexico thì tôi không biết tại sao lại có tên đó. Tôi chỉ đoán mò rằng chữ “khấc” và chữ “Mexico” có liên hệ xa gần với chuyện sex vì thời trai trẻ anh Dũng khấc đã là một “manh-du-ê” (tiếng Pháp ba rọi = main jouer = tay chơi). Anh khiêu vũ rất giỏi, các nơi khiêu vũ nổi tiếng ở Sài-Gòn đều có dấu chân của anh. Tính tình anh rất xuề xòa; đối với bạn bè thì anh là một người bạn rất chân tình cho nên ai cũng quí mến.

    Đình (Vũ Xu Đình), không có ai trùng tên nhưng anh được bạn bè gọi là Vũ Su Hào (củ su hào là một loại rau thông dụng ở Việt Nam). Anh Đình là đại úy Nhẩy dù, rất thích chơi bóng chuyền và bóng đá. Nghe nói anh thuộc loại ô-đi-ghe (vượt biển) chứ không chịu chờ để đi máy bay như bọn tôi. Anh chơi với bạn bè rất có tình vì thế anh được nhiều người thương mến. Chỉ trừ mấy tên đầu gấu của tù hình sự là ngán anh; lạng quạng là anh “đục” liền.

    Đồng thì có Đồng mắt cuaĐồng cố đạo. Đồng mắt cua có hai con mắt hơi đo đỏ như mắt của con cua. Đồng mắt cua là con người vui tính, dễ gần gũi. Còn Đồng cố đạo thì hay công khai làm những cử chỉ của một “con chiên ngoan đạo”, chẳng hạn như làm dấu thánh giá, lần hạt, đọc kinh… Tôi biết Đồng cố đạo từ ngày tôi còn trọ học ở Gò Vấp (Gia Định) nhưng không chơi với nhau vì không học cùng trường. Khi bị đầy ra Bắc thì ở cùng trại (Trại 5, rồi đến Vĩnh Quang B) nên có qua lại chuyện trò với nhau, “tha hương ngộ cố tri” mà. Đồng cố đạo cũng chẳng có gì làm hại đến anh em tù cả; chỉ ngậm miệng ăn tiền. Do đó anh cũng không bị mấy “chức sắc” (quản giáo và đội trưởng) ghét bỏ.

    Đ. cố đạo (không phải Đồng cố đạo). Mặc dù không có ai trùng tên với anh nhưng anh vẫn có biệt danh là “cố đạo” với ý nhạo báng, đạo bằng môi bằng mép mà thôi, chứ không sống đúng theo tinh thần đạo Công Giáo. Anh thường có những cử chỉ công khai tỏ ra mình là ngoan đạo nhưng thực chất con người của anh thì thiếu lòng bác ái và vị tha. Có lần anh suýt bị anh Trần Cao Chánh “cho biết tay” như tôi đã nói ở phần trên về anh Trần Cao Chánh.

    Hòa thì có Hòa đen (đại úy Không Quân, còn rất trẻ). Bị gọi là Hoà đen vì nước da anh đen hơn mọi người và cũng là để phân biệt với một anh Hoà nữa (đại úy Pháo Binh, Huấn Luyện Viên môn Địa Hình ở Trường Pháo Binh Dục Mỹ) mà tôi không biết là anh có biệt danh hay không. Hoà đen là cặp bài trùng với anh Nguyễn Văn Tỷ (cũng đại úy Không Quân nhưng lớn tuổi hơn). Có một khoảng thời gian tôi ở cùng buồng với Tỷ và Hoà đen. Hai anh đều là người dễ mến. Hai anh cũng giỏi “nín thở qua sông” cho nên không bị quản giáo ghét.

    Hiếu thì có Hiếu hòn (đã nói ở trên) để phân biệt với Hiếu hói (vì hói đầu). Tôi không ở chung với Hiếu hói ngày nào nên không biết gì nhiều về anh. Ngoài ra, còn có Hiếu đen. Anh Hiếu đen có nước da hơi đen, chân đi như thể có tật. Hiếu đen không có gì nổi bật cả.

    Hùng thì có nhiều người trùng tên. Hùng sùi (trung tá, Cò Cảnh Sát), anh có tên này từ thời còn ở ngoài; gọi là sùi vì mỗi khi anh nói thì bọt mép sùi ra khoé miệng; anh lớn tuổi nhưng rất vui tính.

    Hùng tầy vì gốc là người Tầy, còn nhỏ tuổi, vóc người nhỏ thó và nói hơi nhiều; tôi ở cùng đội với Hùng tầy khá lâu. Hùng tầy không có gì đáng chê trách về mặt chính trị và tư cách.

    Hùng cồ
    chỉ là để phân biệt với Hùng tầy thôi, chỉ “cồ” với Hùng tầy chứ chẳng “cồ” được với người khác; đôi khi còn được gọi là Hùng đen vì có nước da đen đen. Hùng cồ không ở chung đội với tôi nhưng hay qua lại chuyện trò với Hùng tầy.

    Hùng sẹo (đại úy) vì có cái sẹo ở bên thái dương; Hùng sẹo không ở chung đội với tôi ngày nào cho nên tôi không rõ về anh nhiều. Ngoài ra còn có vài anh cấp tá cũng tên Hùng nhưng tôi không rõ lắm. Các bậc cha mẹ thường hay chọn những chữ có ý nghĩa hay và đẹp để đặt tên cho con, mà “hùng” là một trong những chữ đó. Bây giờ vận nước tới hồi đen tối thì “hùng” hay “hèn” cũng đều rủ nhau vào tù hết!

    (còn tiếp)

  8. #28
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    Người mang tên Hải thì có Hải nháy, Hải mập, Hải đen và Hải tặc.
    Gọi là Hải nháy vì anh bị hư một mắt và mắt còn lại thì nháy liên hồi. Hải nháy thuộc loại chơi cờ tướng có hạng, anh thường tham dự các giải thi cờ tướng trong các dịp lễ tết mà trại tổ chức. Những lúc rỗi rảnh, anh thường bầy cờ thế nhưng ít có người nào phá được thế cờ của anh. Ngoài ra anh còn một số tài vặt nữa như nấu bao ny-lông cho chảy ra, rồi đổ khuôn thành các quân cờ như cờ tướng, đô mi nô, và mạt chược.
    Hải mập có dáng người tương đối đầy đặn nên có biệt danh là mập. Hải mập làm đội phó nhà bếp và cũng có hành vi đâm sau lưng chiến sĩ cho nên đã bị anh Trần Hữu Thành (chuyên viên bổ củi) nện cho một trận tơi bời hoa lá (sẽ kể sau).
    Anh Hải có nước da đen đen thì được gọi là Hải đen.Tôi không biết gì nhiều hơn về Hải đen.
    Anh Hải gốc Hải Quân thì được gọi là Hải tặc. Tôi không biết gì thêm về Hải tặc.

    Về Hiệp thì có Hiệp què vì chân đi khập khiễng, còn trẻ tuổi, dân “Nam Kỳ quấc”, tính tình bộc trực và vui tính; “có sao nói vậy người ơi” là đặc tính của anh.
    Còn Hiệp lùn thì hơi thiếu thước tấc, cũng là người Nam, lầm lì ít nói. Hiệp lùn là người mà tôi đã nói tới trong thời kỳ chặt nứa ở Đội 3 (Trại 5, hồ Thác Bà): Anh nằm trên đồi nứa, không thèm xuống khiến cả đội phải túa ra đi tìm.

    Lộc “chị năm” người nhỏ nhắn và tiếng nói ỏn ẻn như con gái nên có biệt danh là “chị năm”. Lúc đầu, tôi không biết, tôi tưởng biệt danh này có dính dáng đến chuyện “may tay” bằng bàn tay năm ngón. Nhưng sau này tôi được anh Võ Tấn Tài giải thích thì mới biết rằng mình đã nghĩ bậy về Lộc. Tài và Lộc là hai người bạn từ hồi nhỏ cho nên sự giải thích của Tài là đáng tin cậy. Ngày Lộc được tha (1981), tôi đã nhờ anh ghé nhà chú em của tôi để chuyển một lời nhắn rằng, “Phải tìm cách ra khỏi nước bằng mọi giá, nếu không sẽ bị tụi nó bắt trở lại.” Chả là trước khi Lộc được thả thì tôi có nhận được thư gia đình báo là chú em tôi mới được tha cuối năm 1980. Và tôi nghĩ rằng bọn xã ấp (Việt Cộng) sẽ tìm dịp bắt lại chú em tôi vì chú có “ân oán giang hồ” với bọn chúng từ trước. Nhờ vậy mà chú em tôi đã cố gắng tìm cách vượt biển, thành công năm 1981.
    Ngoài ra còn có Lộc (thiếu tá Thiết Giáp) nhưng không có biệt danh. Một số đàn em Thiết Giáp thường gọi anh bằng ám danh đàm thoại thời xưa, đó là Đại Lộc. Thời hành quân bên Campuchia (năm 1971), tôi cũng có lần cùng ở trong một Chiến Đoàn với anh. Vì quen biết từ trước nên khi anh có gia đình thăm nuôi, gặp tôi, anh nói, “Mai sang, tôi cho anh một ít nước mắm mỡ,” nhưng “ngày mai” tôi không sang gặp anh.

    Lân. thì có Lân một ống, Lân là sĩ quan Không Quân, còn rất trẻ, trắng trẻo và vui tính. Lân kể chuyện thời gian học bên Mỹ, Lân thường đi “trả thù dân tộc.” Một lần, con nhỏ Mỹ không chịu cởi hết quần ra, mà chỉ cởi ra có một ống, ống quần còn lại vẫn ở trên người của con nhỏ Mỹ. Lân yêu cầu nó cởi ra hết; nó đồng ý với điều kiện phải trả thêm tiền cho nó. Lân tiếc tiền đành chấp nhận xài một ống thôi, miễn là có chỗ xả bầu tâm sự là tốt rồi. Từ đó, biệt danh “một ống” được gắn liền với tên của anh. Tôi không dám viết rõ tên họ của anh ra, vì sợ rằng bà xã Lân đọc được thì có chuyện ngay đấy. Ít ra là cũng bị nhéo tím đùi non.
    Còn những người tên Lân khác, tôi không biết biệt danh của họ.

    Người tên Minh thì có Minh râuMinh đù. Minh râu người hơi lùn và có bộ râu quai nón.
    Minh đù còn rất trẻ và nhỏ con, cũng để tí ria mép. Minh đù ở cùng đội với tôi. Có một lần anh Minh đù nướng khoai lang ở nơi làm việc (chỗ đặt lò nấu nước cho đội), bị bắt “quả tang”. Anh bị quản giáo (Lưu) gọi riêng ra một chỗ để hạch hỏi. Ai cũng tưởng thế nào Minh đù cũng bị dính chấu nhưng rốt cuộc Minh trở lại làm việc bình thường và chẳng phải làm kiểm điểm gì hết. Anh kể lại rằng anh cãi phăng đi, không nhận củ khoai nướng là của mình, anh chỉ tới bếp ngồi hút thuốc lào thôi. Tên quản giáo đuối lý vì không thực sự nhìn thấy anh cầm củ khoai trong tay cho nên huề cả làng. Minh đù được về vào khoảng năm 1983 (?). Khi tôi được tha thì mới biết là anh đã qua đời trước đó ít tháng vì bệnh tim (?). Có lẽ anh hay xài tiếng Đ.M. nên mới có biệt danh là Đù.

    Có hai anh MẫnMẫn mậpMẫn (Không Quân, không có biệt danh). Mẫn mập thì tôi biết anh từ trước 1975. Mẫn mập là Sĩ Quan Tài Chánh của đơn vị tôi. Mẫn mập có gốc Tầu, lưng hơi khòm khòm và mập phúng phính. Ngày còn ở Đội 3 (Trại 5) đi chặt nứa, anh rất chậm chạp, “trâu chậm uống nước đục,” cho nên anh thường chặt lại những gốc nứa mà người khác đã vớt mất ngọn. Gốc nứa vừa to vừa dầy nên rất nặng. Nhìn Mẫn mập kéo bó nứa thấy mà tội nghiệp. Có người (không nhớ tên) có lần bắt gặp Mẫn mập vừa vác nứa vừa khóc! Khi về Vĩnh Quang B, tôi không còn ở chung đội với Mẫn mập nữa. Anh Hiếu cho tôi biết hiện giờ (2008) Mẫn mập đang ở Cali và “trông nó to lắm.”

    Còn anh Mẫn kia thì tôi không rành lắm, dường như thỉnh thoảng anh cũng tham gia ca hát với Vũ Cao Hiến, Nguyễn Phan Đệ, Chu Mạnh Bích, và Phạm Dư Chất.

    Về tên Ngân
    thì có Ngân lùnNgân (không có biệt danh). Ngân lùn thấp lè tè, lớn tuổi nhưng vui tính. Ngân lùn chơi thân với Cảnh hù. Ngoài ra, tôi không biết thêm gì về Ngân.

    Có hai người tên Nhung: Nhung đen và một Nhung nữa (không có biệt danh). Tôi chỉ biết về Nhung đen thôi. Nhung đen không ở cùng một buồng với tôi nhưng anh chơi thân và thường tới lui với Vũ Cao Hiến & Trần Cao Chánh cho nên dần dần tôi cũng thân tình với Nhung đen vì chúng tôi cùng “chí hướng” (ghét bọn Việt Cộng). Nhung đen, cấp bậc đại úy, Phòng 7/Bộ Tổng Tham Mưu, có tướng cao lớn và đầy đặn, nước da bánh mật, trông giống như mấy anh “cà ri nị” (Ấn Độ) nên được ghép thêm tính từ đen sau tên của mình. Nhung đen được về cùng đợt với tôi (tháng 8 năm 1984). Nhung đen có đôi lần cùng đi với Võ Tấn Tài tới quán của tôi uống cà phê (cà phê chùa, dĩ nhiên). Tôi phải để trong ngoặc một chữ “chùa”, nếu không thì bà con làng nước lại ngỡ là tới quán uống thì phải trả tiền, rồi trách tôi là xử tệ với bạn bè. Làm gì có chuyện đó phải không hai bạn Tài & Nhung? Nếu không có quán nhà thì tôi cũng phải sai bu nó chạy ra quán bưng cà phê và thuốc lá có cán về để đãi bạn bè chứ. Bạn bè đạp xe hộc xì dầu hơn mười cây số tới thăm mình là quí hoá lắm rồi. Tới đây chắc vị nào nhớ dai thì sẽ thắc mắc là thằng cha này mới nói là nuôi heo gia công, mà bây giờ lại nói là có quán cà phê là sao? Chả là, nhà tôi ở vùng ngoại ô, đất khá rộng cho nên tôi vừa có thể mở quán cà phê ở trước sân nhà, vừa có thể nuôi heo gia công ở đằng sau nhà. Tôi và thằng con trai “chỉ huy” bầy heo, còn bu nó và con gái tôi phụ trách bán cà phê. Tôi nhớ một lần, Nhung đen có dẫn theo cô bạn gái mà sau đó ít ngày thì làm hôn thú với Nhung để chuẩn bị hồ sơ xuất ngoại. Gia đình tôi và vợ chồng Nhung đen cùng đi một chuyến bay từ Thái Lan sang Seattle. Chuyến bay từ Việt Nam sang Thái Lan thì đi khác máy bay. Khi tới Seattle, mỗi người đi một ngả và từ đó tôi không biết tin gì về Nhung đen nữa.

    Quốc lác
    . Trại chỉ có mình anh tên Quốc nhưng anh bị lác đầy người cho nên bọn tôi thêm cho anh chữ lác nữa. Quốc lác ở cùng buồng với tôi một thời gian khá lâu và cũng được thả cùng đợt với tôi. Quốc lác về Sài Gòn, đi bán bánh kẹo rong. Được ít lâu thì nghe tin Quốc lác đã chết vì bệnh bao tử. Tôi cũng có nhiều chuyện để nói về Quốc lác nhưng anh đã ra đi, hãy để anh an nghỉ.

    Một người có biệt danh “heo” mà tôi đã kể trước đây, cứ gọi anh ta là X heo cho tiện. Trong trại không có ai trùng tên nhưng vì X đã hành lạc với heo cái cho nên mới có tên “heo” là vậy.

    Tên Thái thì có Thái Nguyễn để phân biệt với Thái Hồ. Hai người này chẳng có gì đặc biệt cho nên các bạn tù đã dùng tên họ của mỗi người kèm theo tên gọi. Tôi - Nguyễn Văn Thái được gọi là Thái Nguyễn; Hồ Đắc Thái được gọi là Thái Hồ. Anh Thái Hồ đã chết khi vượt biển trong vịnh Thái Lan.

    Người mang tênTài chỉ có một nhưng vẫn có biệt danh. Đó là anh Võ Tấn Tài. Vì vóc dáng Tài nhỏ thó cho nên được ghép thêm chữ quắt thành ra Tài quắt. Tài quắt tuy nhỏ con nhưng không ai ăn hiếp được anh. Có lần làm trong đội nhà bếp anh bị xử ức, anh đã vác dao rượt anh TCT chạy có cờ (*). Và có lần, nửa đêm Tài và Trần Hữu Thành vào nhà cầu chịt cổ đội trưởng Trần Duy Phố để dằn mặt hắn. Hai chuyện này tôi đã nói trước đây, xin miễn lặp lại chi tiết. Khi chúng tôi được thả, Tài quắt hay đạp xe xuống nhà tôi hàn huyên tâm sự; có khi Tài đi một mình, có khi đi cùng vài người bạn khác nữa. Tài sang Mỹ trước tôi hơn một năm theo danh sách H.03. Hiện giờ Tài ở Houston, Texas.

    (*) Giải thích thêm cho các bạn trẻ: “Chạy có cờ” là một thành ngữ. Ngày xưa, Việt Nam chưa có xe hơi hoặc máy bay cho nên con ngựa được dùng làm phương tiện chính để đi lại. Việc chuyển thư từ (chủ yếu là lệnh của nhà vua) tới các quận huyện đều phải dùng ngựa. Người ta đặt ra những trạm ở dọc đường cái (đường chính) để nhận hoặc đưa thư (bây giờ gọi là trạm bưu điện). Những trạm này thường đặt cách xa nhau một quãng đường đủ để cho con ngựa chạy mà chưa bị thấm mệt. Người đưa thư (lệnh vua) cưỡi ngựa, chạy từ trạm của mình tới trạm kế tiếp, trao thư cho họ rồi trở về trạm của mình. Người ở trạm kế tiếp đó nhận thư (lệnh vua) và có nhiệm vụ chạy đi trao thư cho trạm kế tiếp nữa, rồi lại trở về trạm của mình. Công việc chuyển thư cứ thế tiếp diễn cho đến khi nào thư (lệnh vua) tới tay người nhận mới thôi. Để cho việc chuyển thư được nhanh chóng, người đưa thư có quyền ưu tiên di chuyển dọc đường. Muốn cho mọi người ở dọc đường nhận biết ai là người đưa thư để mà nhường đường, người ta qui định rằng người đưa thư phải cắm trên mũ (nón) của mình một cái lông của con chim công để làm cờ hiệu. Việc này cũng giống như ngày nay các xe cứu thương hú còi inh ỏi khi đang chở nạn nhân tới bệnh viện. Người đưa thư, khi đã cắm lông công trên mũ (nón) thì phải phóng ngựa chạy gấp rút, chứ không được phép chạy chậm. Vì thế mới có thành ngữ “chạy như cờ lông công”. Nhiều địa phương không có nhiều lông công, họ dùng miếng vải nhỏ làm cờ, cắm trên mũ (nón) trong lúc chạy đưa thư. Vì thế mới có thành ngữ “chạy có cờ”. Cả hai thành ngữ này có cùng ý nghĩa là chạy một cách lẹ làng và vội vã.

    Trí. Có hai người mang tên Trí nhưng chỉ một người có biệt danh. Đó là anh Trí đù. Có lẽ trong đời anh Trí đã từng có lần bị sốc (choáng) chi đó cho nên hơi có vẻ tâm thần. Dáng người Trí đù cũng nhỏ bé như Võ Tấn Tài nhưng chậm chạp hơn Tài. Nếu xét về chỉ số IQ thì Trí phải ở dưới mức trung bình rất xa. Vì thế Trí đù rất thích hợp với vai trò dùng để sai vặt trong Ban Văn Hoá của trại. Cái tên “Trí đù” nảy sinh trong một trường hợp như sau: một lần Trí đù phụ giúp cho cán bộ của trại phát bưu phẩm, khi gặp gói bưu phẩm mang tên Trí, anh gọi hoài không có ai lên tiếng, anh bực quá, lẩm bẩm một mình, “Đù má! thằng nào tên Trí mà không thèm lên nhận quà vậy.” Vài người đứng gần nghe vậy bèn bảo Trí, “Mày coi lại xem có phải đúng tên mày không.” Trí làm y lời, và thấy đó đúng là gói quà của mình, Trí vội mang gói quà ra cho cán bộ khám quà. Từ ngày đó, chữ “đù” được dính liền với chữ Trí. Cũng có người giải thích rằng, vì “Thằng Trí nó lù đà lù đù cho nên nó có biệt danh là ĐÙ.” Thôi thì giải thích cách nào, chữ ĐÙ cũng đã trở thành biệt danh của Trí rồi.
    Còn anh Trí thứ hai thì tôi không ở chung cho nên không rõ lắm. Tôi nghe anh Trần Thái Đẹp cho biết rằng anh Trí này là dân Biệt Động Quân, rất ít nói và rất có tư cách nhưng ai mà lạng quạng đụng tới anh là không được đâu nghe.

    Thuận. Có ba người mang tên Thuận. Người thứ nhất là Đàm Quang Thuận, không có biệt danh. Anh là giáo sư Anh Văn của London School (Phú Nhuận). Có thời anh đã làm Tổng Thư Ký Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Tính tình anh điềm đạm và rất tư cách. Anh thường vui vẻ chỉ dẫn cho tôi những chữ tiếng Anh nào mà tôi không hiểu. Anh không có vợ con nhưng có lần anh được mấy tín hữu Tin Lành ra thăm và đem cho anh một bị cói (đệm/lát) đồ ăn trong đó gồm có mấy chục hột vịt luộc. Anh đem chia cho mỗi người trong buồng một quả trứng vịt và thêm chút ít đồ ăn khác nữa. Tôi không ở cùng buồng với anh mà chỉ nghe một người ở buồng anh kể lại. Tôi thuật chuyện này ra đây, nếu bạn nào ở cùng buồng với anh Thuận mà thấy tôi nói sai chỗ nào thì xin vui lòng đính chính dùm cho. Ngược lại, có một vị thiếu tá tên V., là Tiểu Khu Phó của một tiểu khu, khi vợ ông ra thăm nuôi, tiếp tế cho chồng hơn hai tạ (hơn 200 kg / 440 pounds) đồ ăn; ông đem về phòng cất kỹ để ăn dần. Thậm chí ông còn khắt khe với chính bản thân ông: Ông không dám ăn hết một viên kẹo một lần đâu, ông dùng một hộp nhựa (giống như loại đựng thuốc viên của pharmacy) để đựng một viên kẹo trong đó, thỉnh thoảng ông lấy viên kẹo ra mút mút một tí rồi lại bỏ viên kẹo vào hộp để dành cho lần sau mút tiếp. Buồng tôi và buồng của ông chỉ cách nhau một cái sân đất (mà cũng là lối đi), vì thế mỗi buổi chiều, trong lúc cơm nước xong xuôi, chờ giờ vào “chuồng”, tôi thấy ông thường đi bách bộ, tay cầm chuỗi tràng hạt, miệng thì lẩm bẩm đọc kinh. Tôi tự hỏi không biết khi ông đọc kinh như thế ông có nhớ đến một lời răn “Cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới mặc” không nhỉ? Giữ đạo bằng môi bằng mép thì dễ nhưng sống đạo thì khó quá!

    Anh Thuận thứ hai là thiếu tá Pháo Binh (không nhớ tên họ), được gọi là Thuận “kiến càng”. Anh có biệt danh kiến càng là vì thời Đệ Nhất Cộng Hoà (Tổng Thống Ngô Đình Diệm) có phong trào tập thể dục thẩm mỹ, do lực sĩ Nguyễn Công Án (ở Pháp về) khởi xướng, anh Thuận đã theo học thể dục thẩm mỹ và anh là một thành viên trong ban “Kiến Càng” thời đó. Vóc dáng anh cao lớn và mặc dù đã trải qua 5 năm tù cộng sản, anh vẫn chưa mất hẳn cái nét “kiến càng” của anh. Thuận kiến càng đã từng làm đội trưởng một đội tù trước khi được trại Vĩnh Quang B chọn làm “Trật Tự”. Công việc của một “Trật Tự” là trông coi mọi hoạt động của tù trong phạm vi của trại để duy trì trật tự. Hàng ngày Thuận kiến càng đứng ở cổng trại chờ cho các đội xuất trại đi làm xong thì trở về đi vòng vòng trong trại kiểm soát đó đây. Chiều, tới giờ các đội đi làm về thì Thuận kiến càng lại ra cổng để khám xét từng người xem có dấu củ khoai, củ sắn gì trong người họ không, xong mới cho đội vào trại. Tôi không ở chung buồng với anh Thuận kiến càng cho nên không biết nhiều về anh. Tuy nhiên với những gì mà tôi đã chứng kiến thì tôi thấy Thuận kiến càng có vẻ hăng hái/thích kiếm điểm với bọn cán bộ trại để bảo vệ cái chân “Trật Tự” của mình.

    Người thứ ba là Đinh Văn Thuận (khoá 20 Võ Bị Đà Lạt). Dáng người anh hơi thiếu thước tấc nhưng đầy đặn. Tóc anh luôn luôn cắt kiểu ca-rê/bốc, giống như hồi còn ở quân trường, phần tóc dài nhất không quá 3 phân (hơn 1 inch). Vì thế anh có biệt danh là Đinh “ba phân”, một sự kết hợp giữa họ Đinh và kiểu tóc của anh. Đinh ba phân cũng đã từng làm đội trưởng một đội tù hồi còn ở Trại 5 (Thác Bà). Tôi không ở đội của Đinh ba phân nhưng chưa hề nghe ai (trong đội của anh) than phiền về anh – đó là một điểm son cho Đinh ba phân. Gia đình tôi và gia đình Đinh ba phân cùng tới Trại Chuyển Tiếp ở Thái Lan ngày 19/6/1991. Ngày 25/6/1991, chúng tôi cùng tới Hoa Kỳ nhưng không nhớ rõ anh có đi cùng một máy bay với tôi hay không.

    Vượng sún là biệt danh của Nguyễn Văn Vượng, khoá 16 Thủ Đức. Trại Vĩnh Quang B không có hai Vượng nhưng Vượng vẫn có biệt danh là sún vì anh có cái răng cửa bị gẫy. Vượng sún vui tính, xuề xoà, sao cũng được. Có lẽ vì vậy bạn bè thêm chữ “sún” vào tên để gọi cho có vẻ thân mật mà thôi. Đôi khi bạn bè không cần gọi tên mà chỉ gọi Vượng bằng biệt danh “Sún” thôi. Ví dụ như: “Ê Sún! bắn một bi (thuốc lào) cho quên đời.” Vượng sún cao lớn nhưng vì thiếu ăn (Trong tù ai mà no được?) nên không được cân đối cho lắm. Thêm vào đó là Vượng sún rất lười cho nên áp dụng câu “Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm” cho Vượng thì cũng chẳng sai tí nào. Để khoả lấp cái lười, Vượng rất khéo nói - mồm miệng đỡ chân tay mà. Nhờ vậy mà Vượng chưa bao giờ bị đội trưởng, cán bộ quản giáo lưu ý vì chây lười lao động cả. Ai muốn nhờ vả ai điều gì, chỉ cần nhờ cái miệng lưỡi Tô Tần của Vượng là có thể tin tưởng thành công đến 90%. Có lần, khi ở trại Nam Hà A, tôi đánh lộn (sẽ kể sau), bị đau lưng, Vượng chạy sang gặp Đại Tá Phạm Bá Hoa, xin cho tôi được một mẩu mật gấu, nhờ vậy mà tôi hết đau liền. Vượng sún và tôi còn nhiều kỷ niệm, tôi sẽ kể dần dần. Vượng sún hiện đang ở Cali với vợ và một thằng con trai. Vượng ơi, kể chuyện bạn xin mật gấu cho tôi ở đây cũng là một hình thức cám ơn thiện chí của bạn đã dành cho tôi, chúc bạn và gia đình luôn hạnh phúc nhé. Câu chuyện về các biệt danh tới đây là hết vì tôi không thể nhớ thêm được ai nữa.
    (còn tiếp)

  9. #29
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    5.19. Lá thư Mỹ quốc
    Có lẽ chỉ có anh H. và tôi là hai người đã được đọc lá thư gửi từ Mỹ cho một người bạn của chúng tôi. Trong bài này, tôi mã hoá tên của các nhân vật trong truyện: X là tên người bạn tù, Y là tên vợ của X, và Z là tên người tình của X.

    Anh X là một trong những người có bưu phẩm trong vài đợt đầu tiên của trại. Hôm đó tôi cũng có tên trong danh sách nhận bưu phẩm cùng với X. Sau khi bưu phẩm đã được khám xét, hai chúng tôi ngồi ngay tại hội trường (nơi phát bưu phẩm) để sắp xếp mấy món ăn mà gia đình gửi cho. Trong bưu phẩm của X có kèm theo một lá thư của vợ X gửi về từ Mỹ.

    X đọc xong, tôi hỏi có gì vui không. X không trả lời mà đưa cho tôi cả lá thư, bảo, “Ông đọc đi thì biết.” Vì thời gian đã hơn 29 năm rồi (2008-1979) nên tôi không nhớ hết nội dung thư, mà chỉ nhớ mấy nét chính. Thư như sau:

    Anh X
    Tôi viết thư này cho anh trong khi các con đang ngủ. Những năm tháng sống tha hương thật là vất vả, tôi vừa phải bươn chải kiếm sống vừa phải học thêm tiếng Anh để dễ dàng hội nhập với xã hội ở bên này…
    Ngồi một mình trong căn nhà này, tôi cảm thấy thật là cô đơn và trống vắng, tôi sợ quá! Nghĩ đến việc phải lo cho các con ăn học làm tôi lo lắng vô cùng: Một trách nhiệm nặng nề đang đè lên vai tôi! v.v...

    Chúc anh luôn khỏe mạnh

    Chào anh,
    Nguyễn Thị Y

    Đọc xong lá thư, tôi có một ý nghĩ rằng nếu tôi lượm được nó ở đâu đó thì tôi không thể tưởng tượng đó là một lá thư của người vợ viết cho chồng mình sau 5 năm xa cách. Lối xưng hô “anh – tôi” nghe thật chõi tai trong khi tuổi đời của Y chưa tới 40. Không thấy có một lời lẽ gì để tỏ lòng thương yêu, nhung nhớ. Lẽ ra phải là “Anh yêu quí của em”, “Honey”, “Mình ơi”…, thì lại có vỏn vẹn hai chữ “Anh X”. Phần kết thư thay vì phải viết “Thương nhớ anh nhiều”, “Yêu anh nhiều”…, thì chỉ có hai chữ “Chào anh” cứng cỏi và lạnh lùng đến tàn nhẫn!

    Tôi biết chắc X là người nhận ra điều này trước tiên bởi vì X hẳn chưa quên được lối xưng hô thường ngày khi hai vợ chồng còn chung sống dưới một mái ấm gia đình. Tôi có linh cảm lá thư này là khúc nhạc dạo đầu cho một bản “Tuyệt tình ca” nhưng tôi không dám tỏ lộ cho X biết. Và từ sau bức thư, tôi cũng không bao giờ nhắc đến vợ con của X, sợ rằng sẽ gợi lên cho X một nỗi buồn đang ẩn núp đâu đó trong lòng anh.

    Tôi được thả ra tháng 8 năm 1984, sau một vài ngày bận rộn với gia đình, tôi sực nhớ đến chuyện của X. Tôi hỏi vợ tôi về chị Y mà tôi được biết (do X kể) là hai người cùng ở một giáo xứ trước khi bà xã tôi đi lấy chồng. Bà xã tôi nói rằng, “Thế thì đúng là Y đó rồi, nó chịu chơi lắm! Hồi còn ở trong đoàn Nghĩa Binh (?) mà nó đã đi nhảy nhót tùm lum. Nó còn nhiều lần dụ em đi với nó cho vui nhưng em không đi. Chẳng hiểu sau này chồng con nó ra sao?” Tôi cho bà xã tôi biết là chồng của Y ở tù chung với tôi và tôi đã được đọc lá thư mà Y viết cho chồng. Vợ tôi bèn nói, “Thế là hỏng rồi, ngựa quen đường cũ mà, làm sao mà nó chịu ở yên trong một xã hội quá tự do như vậy?” Nghe bà xã nói vậy, tôi nghĩ rằng cái linh cảm của tôi khi đọc lá thư có thể đã đúng được 90% rồi. Hãy đợi xem sao.

    Chừng một tháng sau ngày ra tù, vợ chồng tôi có ghé thăm X (lúc này đang ở nhà bố mẹ vợ). X đang ngồi học tiếng Anh ở trên lầu và cũng tiếp vợ chồng tôi ở đó luôn. X cho biết là đang chuẩn bị để vượt biển. Vì có mặt vợ tôi cho nên tôi không đề cập gì đến Y cả. Bẵng đi được ít lâu thì tôi được tin rằng X vượt biển đã thành công và đang chờ được phỏng vấn để đi Mỹ.

    Tôi sang Mỹ giữa năm 1991. Sau một thời gian ổn định công việc làm ăn, tôi tìm cách bắt liên lạc với những người đã sang Mỹ trước tôi. Tôi đã liên lạc được với một số bạn cũ nhưng vẫn còn thiếu nhiều người, trong đó có X. Mới năm ngoái (2007), tôi may mắn có được số điện thoại của X. Chúng tôi đã chuyện trò mệt nghỉ. Qua giọng nói, tôi thấy X nói cười có vẻ sảng khoái lắm nên tôi đã mạnh dạn hỏi thẳng X về chuyện gia đình. Sau đây là tóm tắt đại khái lời kể của X:

    "Tôi sang Mỹ do bà Y bảo lãnh. Bà ấy và mấy đứa con ra phi trường đón tôi và đưa tôi về nhà. Nhưng ông biết không? Bà ấy cứ một đêm ở nhà với tôi thì lại một đêm đi ngủ nơi khác! Chưa hết đâu, tuần lễ đầu, bà ấy cho mình ngủ cùng giường. Sang tuần lễ thứ hai, bà ấy cho tôi ra ngủ ở sô pha. Tệ hơn nữa là sang đến tháng thứ hai thì tôi phải ra ngủ ngoài ga-ra! Tôi thấy sống kiểu này đếch khá được cho nên tôi dọn ra ngoài, ở chung phòng với một người nữa, ở như vậy mà thoải mái hơn nhiều.

    "Thế rồi một ít lâu sau, tôi gặp bà Z, bà này vẫn còn độc thân, và dần dần hai đứa yêu nhau rồi mướn phòng ở chung với nhau. Hai đứa sống với nhau như vợ chồng thật (nhưng không “trước mặt Đức Chúa Trời” đâu nhé). Bà Z đã tốt nghiệp đại học trước khi qua Mỹ nên rất lịch sự. Bà ấy chăm sóc tôi từng ly từng tí, còn hơn mẹ tôi chăm sóc cho tôi nữa. Sống với nhau được mấy năm, tình vẫn nồng duyên vẫn thắm nhưng tôi (cũng như bà ấy) đều cảm thấy có gì bất an trong lòng. Hai đứa bàn với nhau là nên chấm dứt tình trạng chung sống như hiện nay. Hai đứa thực hiện từ từ bằng cách không nằm chung giường với nhau, nếu thấy ổn thì sẽ tiến thêm bằng cách thuê phòng ở riêng. Nhưng không được ông ạ, “mỡ để miệng mèo” thì dù mèo cái hay mèo đực cũng chịu không thấu, phải nhào vô thôi…

    "Hai đứa bàn với nhau là phải cầu nguyện – xin Chúa nhúng tay vào giúp tụi con, chứ tụi con đã làm hết sức mình rồi mà không thành công. Thế rồi Chúa nhúng tay vào thiệt ông ạ…
    Tự nhiên, bà Y đi vận động những người quen thân với tôi, nhờ họ thuyết phục tôi trở về sống với bà ấy. Tôi nghĩ đúng là Chúa đã giúp bằng cách hoán cải lòng bà ấy cho nên mới có sự việc lạ như vậy. Việc Chúa làm thì con xin tuân theo. Tôi đồng ý là sẽ thu xếp trở về. Bà Z thì ra điều kiện với tôi rằng bà chỉ đồng ý chia tay với tôi để tôi về sống với bà Y, nếu tôi sống với ai khác là không được đâu.

    "
    Tôi về sống với bà Y được ít tháng thì bà Y lại trở chứng, vẫn chứng nào tật nấy. Tôi giận quá bèn tìm cách trở lại với người tình Z của tôi nhưng bà ấy đã đi biệt tăm, sau này biết được là bà Z đã về một thành phố khác cách chỗ tôi ở chừng 7 giờ lái xe. Tôi cũng không gọi điện thoại cho bà Z được vì bà ấy đã đổi số điện thoại. Điều đó chứng tỏ rằng bà Z đã thực tình dứt khoát. Nhưng tôi cũng không thể tiếp tục ở với bà Y được nữa, tôi lại đi mướn nhà riêng để ở. Tuy ở riêng nhưng chúng tôi thỉnh thoảng vẫn gặp nhau trong những dịp lễ tết, lễ ra trường, và sinh nhật của các con tôi…

    "Sống như vậy được mấy năm thì một hôm gặp tôi, bà Y cho biết là bà đã làm thêm một căn phòng dành riêng cho tôi vì muốn tôi về ở chung nhà. Vì nghĩ đến các con cho nên tôi đồng ý là sẽ trở về. Lần này trở về thì nó khác với lần trước, nghĩa là mỗi người ở riêng một phòng, cơm ai người ấy ăn, việc ai người ấy làm, không ai để ý gì đến chuyện của nhau. Tôi nấu nướng riêng cho tôi, thỉnh thoảng vợ chồng đứa con (cũng ở cùng nhà) có món gì ngon thì đem cho tôi một ít. Hoạ hoằn lắm thì bà Y cũng đem sang cho tôi tô canh…

    "Năm nào bà Y cũng về Việt Nam chơi chừng ba tháng. Tôi cũng chẳng cần biết bà ấy làm gì ở bên ấy. Bây giờ đã nghỉ hưu, công việc của tôi là coi con cho vợ chồng thằng con, thế thôi, cũng khoẻ…
    "

    Tôi giỡn với X:
    - Thế những lúc “thằng nhỏ” có ý kiến thì bồ nhờ “chị năm” giải đáp thắc mắc à?

    X cười thoải mái:
    - Bút hết mực mẹ nó rồi, còn ý kiến ý cò gì được nữa!

    Tôi chọc thêm:
    - Cấp số mỗi người được có một gallon mực mà bồ không biết tằn tiện, cứ xài vung vít, bạ đâu viết đó, viết không kịp thở thì hết sớm là phải rồi còn than vãn gì nữa. Cứ như mỗ đây, biết tiết kiệm mực viết tối đa cho nên vẫn còn khá lắm. Ông đồ già của Vũ Đình Liên chỉ múa bút “mỗi năm hoa đào nở”, còn mỗ thì mỗi tuần vài ba lần múa bút mà nét chữ vẫn “như phượng múa rồng bay” cho nên luôn luôn được “cô giáo” cho điểm xuất sắc. Đôi khi “cô giáo” mệt không chấm bài kịp, phải cho mỗ cái raincheck đấy…, nể chưa ?

    Thấy điện thoại đã gần hết phút, tôi hẹn X lần sau nói chuyện tiếp rồi cúp máy.


    5.20. Đi khiêng mật mía
    Có một năm trại Vĩnh Quang B trồng mía khá nhiều. Mía trồng ở đây không đủ mầu mỡ nên cây mía rất nhỏ và ngắn so với mía ở Miền Nam. Đến mùa thu hoạch, trại cho khiêng về một ít đủ để chia cho mỗi người một cây. Số mía còn lại thì được để ngay tại ruộng mía để ép thành mật. Trại mượn ở đâu được một cái máy ép mía, dùng trâu để kéo máy ép. Nước mía lấy ra được nấu lên thành mật ngay tại chỗ và chứa vào những thùng kẽm (loại thùng 20 lít/5 gallons đựng dầu hôi). Công việc làm mật mía xong thì số mật này được đem về cất trong kho của trại nhưng tôi chưa hề thấy trại cho chúng tôi ăn bao giờ. Việc ép mía và làm mật được giao cho mấy người tù hình sự phụ trách vì họ được trại tin tưởng, không sợ họ trốn trại trong lúc làm việc cách xa trại. Việc khiêng mật về trại thì chúng tôi đảm trách.

    Đội tôi được may mắn chọn đi khiêng mật mía. Cứ hai người thành một cặp để khiêng một thùng mật. Chúng tôi không ai bảo ai mà người nào cũng chuẩn bị sẵn một cái muỗng ở trong túi (để múc mật). Trong khi khiêng thì chỉ người đi sau mới có cơ hội dùng muỗng thọc vào thùng để múc mật. Người đi sau phải kéo thùng mật gần với tầm tay của mình, do đó phải chịu sức nặng của thùng mật nhiều hơn. Bây giờ thì hết cảm thấy nặng mà trái lại, còn thấy sảng khoái là khác. Muốn được ăn thì phải chịu nặng chứ sao. Vì thế, tôi và anh Nguyễn Văn Diện (đã chết sau khi đến định cư tại Mỹ) thay phiên nhau, mỗi người đi sau một quãng. Và, có lẽ các cặp khác cũng làm như vậy.

    Cùng một quãng đường dài nhưng có người ăn được nhiều, có người ăn được ít tùy theo tình hình. Những cặp nào không may bị tên công an bảo vệ đi sát bên thì khó ăn hơn. Hậu quả chuyến khiêng mật mía đó là hầu hết chúng tôi bị đi tiêu chảy. Cơ thể lâu ngày không có chất ngọt mà tự nhiên lại phải tiêu thụ một số đường quá nhiều thì tránh sao khỏi tiêu chảy. Tôi nhớ người bị nặng nhất là anh Đ. cố đạo (không phải Đồng cố đạo đâu). Đúng là cái miệng làm hại cái thân, Đ. cố đạo sau cái vụ tiêu chảy này chắc phải tởn đến già?

    Nói đến tiêu chảy, tôi lại nhớ tới anh Hậu (không nhớ họ). Anh Hậu là đội trưởng của một đội ở cùng buồng với đội tôi. Một buồng chứa được hai đội, mỗi đội 30 người. Anh Hậu cũng rất khéo trong khi giữ chức đội trưởng, không ai có thể ghét anh được. Hậu cũng như Thiện (đội trưởng đội tôi) đều có mánh để qua mặt mấy tên quản giáo dốt nát. Lúc nào đội của hai người cũng đạt và vượt chỉ tiêu, “Làm láo báo cáo hay” là vậy.

    Một hôm tôi bị tiêu chảy vì ăn đậu phọng sống mà lại uống nước nóng. Hậu thấy tôi ra vào nhà cầu nhiều lần (vì tôi nằm đối diện với Hậu), anh lấy thuốc tiêu chảy của anh, tới kín đáo dúi vào tay tôi và nói nhỏ “Uống đi”. Tôi biết ngay đó là thuốc gì và cho ngay vào miệng uống liền. Nhờ vậy mà tôi hết tiêu chảy. Năm 1988 (?), tôi và anh Phạm Dư Chất có ghé nhà Hậu ở xã An Nhơn, Gò Vấp. Chúng tôi tới gặp lúc hai cha con anh Hậu đang chăm bón hoa ở vườn sau. Phía sau nhà Hậu là một khu vườn tương đối rộng. Sau khi ra tù, Hậu dùng khu vườn này trồng hoa để cung cấp cho Sài Gòn. Cuộc sống của gia đình Hậu có vẻ sung túc lắm vì hoa của anh không đủ cung cấp cho khách hàng. Nghe nói Hậu không đi Mỹ mà chấp nhận cuộc sống hiện có của anh. Tôi luôn mong rằng anh và gia đình có một cuộc sống tốt đẹp và tôi sẽ còn nhớ mãi nghĩa cử của anh.
    (còn tiếp)

  10. #30
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    5.21. Ăn khoai lang
    Ăn sống.
    Đến mùa thu hoạch khoai lang thì chúng tôi lại có dịp ăn khoai lang sống. Trước khi đi đào khoai, tôi và một số anh có máu kiếm ăn linh tinh đều chuẩn bị sẵn một cái khăn ướt để khi hữu sự thì dùng khăn ướt lau sạch đất ngoài củ khoai mà ăn. Lần đầu chưa có kinh nghiệm, tôi ăn hết cả vỏ nên bị một trận đau bụng kinh khủng. Củ khoai vừa bới lên, trong lớp bì (dưới lớp vỏ mỏng) có rất nhiều nhựa, trông giống như mủ cây cao su. Chính cái nhựa này là nguyên nhân làm cho đau bụng. Biết thế, ngày hôm sau, tôi cạp bỏ hẳn lớp bì khoai lang, mà chỉ ăn phần thịt củ khoai thì không bị đau bụng nữa.

    Ăn luộc.
    Sau khi thu hoạch khoai lang về trại thì chúng tôi cũng là người tiêu thụ khoai lang cho trại. Thay vì ăn cơm, bây giờ chúng tôi phải ăn khoai lang thay cơm. Bữa đầu tiên, ăn khoai lang thấy dễ ăn hơn sắn (khoai mì) nhưng sang đến ngày thứ hai thì hết chịu nổi mặc dù trong bụng vẫn đói. Khoai lang làm cho mình cảm thấy đầy hơi ở phần dạ dầy và nhất là ở phần cổ họng thì cảm thấy nóng hơn. Chúng tôi phải kiếm bất cứ thứ rau/cỏ gì có thể ăn được mà ăn cho bớt cảm giác nóng đó. Ai cũng mong sao cho trại chóng hết khoai lang để còn được ăn thứ khác.


    5.22. Mùa thu hoạch
    Trại Vĩnh Quang B trồng ba loại hoa mầu chính, gồm có khoai lang, sắn (khoai mì), và lạc (đậu phọng). Mùa thu hoạch ba loại này không xảy ra cùng một lúc, mà chúng xen kẽ nhau. Tháng này thu hoạch khoai lang thì tháng khác đi đào sắn hoặc nhổ đậu phọng. Vì thế tù cũng có những dịp để kiếm chác đồ ăn linh tinh. Không những thế, mà người dân trong vùng cũng có dịp ăn ké bằng cách rủ nhau đi mót (lượm lặt những cái còn sót lại).

    Phải công nhận mạng lưới “tình báo nhân dân” ở đây rất hay. Họ biết rõ ngày nào chúng tôi đi thu hoạch cho nên họ thường đến nơi cùng lúc hoặc chỉ chậm hơn ít phút mà thôi. Trường học cũng đóng cửa để cả cô giáo và học trò vác cuốc đi mót. Gọi là trường cho nó oai, chứ thực ra chỉ có một hai gian nhà lá, tường vách trống trơn. Học trò thì cỡ tuổi chỉ từ 7 đến 10 mà thôi, và cũng chẳng đông, lèo tèo vài chục đứa, đúng là “Học trò dăm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi” (Thơ của Cao Bá Quát).

    Buổi sáng, trên đường đi làm, chúng tôi thường gặp những đứa học trò một tay cầm một quyển vở đã nhầu nát, hoặc đứa nào sang thì có cái bị cói để đựng quyển vở; tay kia thì giữ cái cán cuốc đang vác trên vai. Nhìn cái cuốc của tụi nó mà thấy nản, đó là cái cuốc mà người lớn đã dùng (chắc hẳn phải vài chục năm rồi). Lưỡi cuốc mòn gần sát với chỗ xỏ cán cuốc, bề rộng toàn bộ mặt cuốc chỉ chưa bằng bàn tay người lớn. Đôi khi chúng còn đeo theo một bó hom sắn (chắc là để tới trường “trồng cây nhớ ơn bác” đấy!). Hôm nào đi mót sắn/khoai thì không thấy có vở, mà có một cái rổ để đựng chiến lợi phẩm. Đoàn quân đi mót phân tán đều theo từng nhóm chúng tôi.

    Mỗi khi chúng tôi đào xong một luống hoặc một khu đất, chúng nhào tới đào bới tiếp kiếm ăn. Bọn tôi thấy mấy đứa nhỏ ốm nheo ốm nhách hoặc những bà già lưng còng thì thương hại. Chúng tôi thường bỏ sẵn năm mười củ khoai/sắn rồi lấy thân và lá cây (vừa nhổ) phủ lên trên, sau đó liếc mắt thấy đứa nào đứng gần đó thì làm bộ vơ mấy đám cây sắn/giây lang đi gần tới đứa bé và bảo nó “Cháu tới chỗ nào mà chú bỏ mấy cái cây này, ở dưới có sắn đấy.” Việc làm này cũng phải kín đáo vì nếu tên công an bảo vệ mà thấy được thì có thể mang vạ vào thân.

    Cứ thế, dần dần cả đám đi mót đều có “chiến lợi phẩm”, chỉ khác một điều là kẻ có trước người có sau, mà ưu tiên dành cho mấy đứa trẻ ốm yếu và những bà già. Chúng tôi làm như vậy có hai cái lợi. Cái lợi trước mắt mà chúng tôi thấy được là chúng tôi đỡ phải khiêng nặng về trại. Dù mình có thu hoạch nhiều đến cỡ nào thì tiêu chuẩn ăn vẫn cứ vậy mà thôi, ngu gì mà làm cho nhiều, khiêng cho nặng. Còn cái lợi thứ hai mà mãi sau này chúng tôi mới nghiệm ra là thái độ và tình cảm của người dân đối với chúng tôi đã trở nên tốt hơn.

    Họ đã từng bị guồng máy tuyên truyền của Việt Cộng nhồi nhét vào đầu họ những ý nghĩ xấu về những người như chúng tôi, nào là bọn ác ôn côn đồ, nào là bọn Việt Gian bán nước, nào là bọn chuyên hãm hiếp đàn bà con gái, nào là bọn ăn gan uống máu người ta v.v…

    Bây giờ đối mặt với chúng tôi, họ không thấy chúng tôi ăn nói tục tằn thô lỗ, mà còn thấy chúng tôi có những cử chỉ thương người như cho họ những cái mà họ đang cần trong khả năng của chúng tôi. Một vài người trong chúng tôi đôi khi có dịp đi lao động riêng lẻ mà gặp lúc họ có thân nhân đang đau yếu thì hôm sau đem tới cho họ một vài viên Aspirine hoặc Peniciline tùy theo bệnh… thì họ mừng lắm vì thuốc của “bọn Mỹ Ngụy” ăn đứt mấy viên xuyên tâm liên của “nhà nước ta”. Việt Cộng đã mất mấy chục năm và tốn bao nhiêu tiền của để tuyên truyền nói xấu người và chế độ Miền Nam. Chúng tôi chỉ mất vài ba mùa thu hoạch và mấy củ khoai/củ sắn (của chùa) là đã hóa giải được món đòn tuyên truyền của chúng.

    Nhân chuyện thu hoạch, tôi nhớ có lần đi bới khoai lang mà tôi là người may mắn nhất. Vài ngày trước khi đi bới khoai lang, trời mưa lớn khiến cho các luống lang đều ướt và trở thành chỗ trú ẩn tốt của mấy chú ếch. Trước khi đào lang, tôi phải vén mấy dây lang sang một bên để cho dễ đào. Sau khi đào được mấy gốc, tôi định vén dây lang cho gốc kế tiếp nhưng vừa nhấc sợi dây lang lên thì một con ếch to tổ chảng ngồi trong gốc lang, đang giương mắt nhìn tôi. Nói là “nhìn” chứ thực ra nó đâu có nhìn thấy gì bởi vì hôm đó trời có nắng, ánh sáng mặt trời chiếu vào mắt nó, làm cho nó bị chóa mắt, không còn nhìn được nữa. Dựa vào đặc tính này mà người dân quê đi bắt ếch ban đêm bằng đèn, gọi là đi soi ếch. Họ dùng một cái đèn (nhiên liệu bằng khí đá/gió đá - Acetylene) có một cái chóa hình chóp nón bằng nhôm trắng để cho ánh sáng chiếu xa về phía trước. Họ cứ đi từ từ và rọi đèn vào những chỗ nào nghi ngờ có ếch; chú ếch gặp ánh đèn thì coi như bị đui, mắt vẫn mở nhưng chẳng nhìn thấy gì. Vì thế mới có câu thành ngữ “Ngồi giương mắt ếch” để mô tả những người nhìn ai mà chẳng có phản ứng gì, chẳng có lấy một lời chào hỏi theo phép xã giao, ý nói là bất lịch sự, là vô lễ.

    Trở lại con ếch tôi vừa kể, tôi vội chụp nó, bẻ giò (cẳng) để cu cậu không thể nhảy được nữa, và bỏ vào lon gô của mình. Con ếch này được coi như tương đương với số thịt heo chia cho một người tù trong ngày trại giết heo đấy; nó choán hết ½ lon gô chứ ít sao. Xong xuôi, tôi tiếp tục công việc bới lang. Khi sang tới luống lang thứ hai, dịp may lại đến với tôi lần nữa: Một chú ếch nữa cũng gần bằng chú ếch ban đầu đang giương mắt nhìn tôi, chờ nạp mạng. Tôi chụp lẹ và bỏ nó vào lon gô. Thế là hai con ếch nằm gọn gần đầy lon rồi. Lòng mừng thầm vì tôi và anh Lương Văn Quang bữa nay trúng mánh, cơ thể có thêm chất đạm rồi. Việc tôi bắt được ếch không qua khỏi mắt của quản giáo (tên Lưu) nhưng đây không phải là “cải thiện linh tinh” cho nên hắn không có lý do gì để hoạnh họe với tôi. Tuy nhiên, hắn không muốn người bắt được ếch là tôi vì hắn sẵn có ác cảm với tôi. Khi ngồi nghỉ giải lao, có một anh bạn tới nói nhỏ với tôi rằng “Thằng Lưu khi thấy anh bắt được ếch, nó lẩm bẩm trong miệng, ‘Không biết có chia ai hay là lại ăn hết đấy?’”


    5.23. “Gánh hát HLV”
    Trại Vĩnh Quang B có một nhà đại tư bản, tên là HLV. Vào những ngày nghỉ hoặc Chủ Nhật tôi luôn luôn phải chứng kiến cái hoạt cảnh diễn ra bởi nhóm của HLV mặc dù mình không muốn. Dãy buồng ngủ của tôi và dãy buồng ngủ của anh HLV nằm song song với nhau, chỉ cách nhau một khoảng trống chừng 20 mét (hơn 60 ft), vừa là đường đi vừa là sân tập họp. Phía trước cửa buồng tôi nhìn qua sân bên kia là tường phía sau buồng của anh HLV. Vào buổi sáng thì phía sau buồng HLV có bóng mát vì mặt trời buổi sáng chiếu vào phía trước buồng của anh. Do đó gánh hát chọn phía sau buồng để diễn tuồng.

    Đứng ở trước cửa buồng, tôi có thể xem diễn tuồng miễn phí. Buổi sáng Chủ Nhật, sau khi được mở khoá ra khỏi buồng, mọi người lo công việc vệ sinh cá nhân rồi bắt đầu nấu nướng linh tinh tùy theo khả năng và hoàn cảnh từng người. Gánh hát cũng vậy, mấy anh “tà lọt” (xin lỗi các anh nghe) chuẩn bị sân khấu bằng cách trải ra một tấm nhựa rộng cỡ cái chiếu đôi (6 ft x 8 ft), người thì lo quét dọn chung quanh sân khấu cho sạch sẽ, người thì chuẩn bị ghế ngồi cho ông bầu HLV, người thì lo nấu nướng đồ ăn. Ông bầu HLV áng chừng sân khấu đã sẵn sàng thì thủng thỉnh đi ra sân khấu. Mặc dù ghế đã để sẵn nhưng anh Đ. Rè (Tên là Đ. và biệt danh là Rè) cũng phải dùng tay cầm vào cái ghế, kéo xích đi một chút như thể một động tác mời ông bầu ngồi. Ông bầu vừa an tọa thì Đ. Rè lấy dẻ chùi, chùi cái điếu cho nó sạch sẽ sau đó nạp một bi thuốc lào vào điếu, xong, hai tay đưa điếu cho ông bầu. Khi điếu đã nằm gọn trong tay ông bầu thì Đ. Rè vội rút bật lửa ở trong túi ra, bật lửa và châm lửa vào đóm rồi đưa đóm cho ông bầu “phi”. Ông bầu hít một hơi dài, nín hơi một chút rồi ngửa cổ lên từ từ nhả khói ra. Trong khi hai mắt lim dim mơ màng thì tay cầm điếu của ông bầu hơi đưa ra một chút để cho Đ. Rè đỡ lấy điếu cất đi chờ “phi vụ” kế tiếp.

    Cứ mỗi lần ông bầu cần phi một điếu, ông bầu chỉ cần đưa tay hướng về cái điếu (không nói nha) là Đ. Rè biết mình phải làm gì rồi. Khi mặt trời lên cao, có thể làm cho ông bầu nóng thì mấy anh tà lọt lo căng tấm bạt để lấy bóng mát cho ông bầu. Tôi gọi HLV là ông bầu vì nó đúng cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Ông có cái bụng giống như thùng nước lèo. Ngày nóng bức, ông thường cởi trần, mặc quần xà lỏn trễ xuống dưới rốn, trông không khác gì mấy chú Ba Tầu Chợ Lớn. Mặt ông bầu hơi có vẻ hãm tài. Chưa khi nào tôi thấy ông nở một nụ cười với ai cả mặc dù cùng ở Vĩnh Quang B mấy năm trời. Tôi cũng ít thấy có ai đến với ông trong tính cách bạn bè cùng khóa, cùng binh chủng, hoặc cùng đơn vị. Có lẽ họ coi thường tư cách của ông hoặc tránh bị hiểu lầm là lân la tới để nhờ vả. Còn đối với ông bầu thì có lẽ ông nghĩ rằng mình đã đầy đủ mọi thứ, đâu cần phải giao tiếp với ai cho mệt, dưới con mắt của ông thì mọi người đều “chẳng là cái gì cả”.

    Gánh hát của ông vẫn sống hùng sống mạnh cho đến ngày chuyển trại, lớp thì vô Nam, lớp thì chuyển đi trại khác. Tôi nghĩ rằng cả ông bầu và những diễn viên đều hài lòng với cách cư xử của nhau. Nếu một ai trong đám diễn viên không thích lối sống đó thì chỉ việc “say bye-bye” là xong ngay. Ông bầu thì nghĩ rằng mình chẳng gì cũng cứu đói được mấy người “bạn tù, con bà phước,” lương tâm thấy yên ổn. Còn đối với những diễn viên kia, họ đến với HLV hoàn toàn tự nguyện, có ai bắt buộc đâu, vì thế không những họ rất vui vẻ mà còn biết ơn ông bầu là khác. Đối với những người bàng quan thì thấy có cái gì chướng mắt quá, lẽ ra không nên làm như vậy. Người có của (HLV) chắc không bao giờ nhớ tới câu “Của cho không bằng cách cho.” Những người con bà phước thì quên mất hai chữ liêm sỉ miễn là làm sao cho cái bao tử no là được.

    Biết đâu giờ này Đ. Rè đang làm hội trưởng một hội Tù Nhân Chính Trị nào đó, đời mà! Tuy nhiên phải công bình mà nói thì HLV vẫn còn hơn cái ông thiếu tá “Tiểu Khu Phó” nọ. Quà thăm nuôi tính bằng tạ (100 kg/220 pounds) nhưng không ai được ông cho một cái gì! Trên đây tôi chỉ viết ra những gì tôi chứng kiến và nói lên những suy nghĩ với nhiều tính chủ quan. Chỉ những người đã ở cùng buồng với HLV mới biết nhiều sự thực mà thôi.
    (còn tiếp)

  11. #31
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    5.24. Súng vẫn chưa rỉ
    Khi đi lao động ở ngoài trại, tới giờ nghỉ giải lao, bọn tôi thường hay ngồi xúm lại quanh bếp lửa (chỗ dùng để nấu nước uống cho đội) để hút thuốc lào và tán gẫu. Một hôm, có người đưa ra một câu hỏi thuộc loại “thăm dò dư luận” rằng bây giờ tỉ như bạn được chọn lựa một trong hai thứ: một chén cơm hoặc “vui vẻ” với đàn bà thì bạn chọn cái nào? Chúng tôi lúc đó có khoảng trên mười người mà cũng có đến hai ba ý kiến. Người thì nói sẽ chọn chén cơm, lúc này cơm là nhất. Trong nhóm này dĩ nhiên là phải có anh Nguyễn Tiến Hanh vì anh đã từng nói là anh chỉ sợ môn phái “Thiếu Cơm” mà thôi. Nhóm thứ hai thì thích chọn sự “vui vẻ” với đàn bà, mà bỏ cơm. Mấy người thuộc nhóm hai đều là những người có gia đình thăm nuôi đều đặn, không bị cái đói nó hành hạ nhiều. Duy có một người trong nhóm thứ hai, mặc dù chưa có gia đình thăm nuôi lần nào nhưng cũng vẫn chọn “vui vẻ” với đàn bà. Người đó là anh Nguyễn Tương. Anh lý luận rằng chả có cái chết nào sướng bằng chết trên lưng ngựa (thượng mã phong), sướng cho đến lúc chết, vậy thì tội gì mà phải nhịn? Còn nhóm thứ ba thì trả lời lạc tông, không đúng với câu hỏi đề ra, nghĩa là chọn cả hai. Rõ nghèo mà ham, ai cho cả hai mà chọn?

    Từ ngày trại cho phép gia đình thăm nuôi tù, trại cất thêm vài gian nhà tranh vách đất và đặt cho nó một cái tên hoa mỹ là nhà hạnh phúc. Nhà hạnh phúc dùng để cho tù và vợ con tù được ở lại qua đêm với nhau. Ai muốn được hưởng ân huệ này thì phải đạt yêu cầu của trại đề ra. Trại quy định như sau: a) người nào đang bị cùm nhà đá hoặc vi phạm nội quy nặng, không được gặp gia đình mà chỉ được nhận quà do trại chuyển vào, b) người nào vi phạm kỷ luật nhẹ, hoặc chây lười lao động, chỉ được gặp gia đình 30 phút thôi, c) người nào lao động tương đối tốt thì có thể được gặp vợ con từ 1 tiếng đến 2 tiếng tùy theo “tình hình cụ thể”, và d) người nào lao động tốt và có đề nghị của quản giáo, được ở lại qua đêm với vợ con trong căn nhà hạnh phúc.

    Anh Tương là một trong vài ba người lớn tuổi nhất của đội tôi. Ở thời điểm 1980, anh đã tròm trèm 50. Anh lại có gương mặt già trước tuổi, trông như ông cụ 60 vậy. Tuy lớn tuổi nhưng tính tình anh còn rất trẻ trung, hay đùa giỡn, dễ hoà nhập với bọn trẻ tuổi hơn mình. Anh thích đề cập đến vụ “sex” cho nên nếu có ai gợi chuyện về “sex” là coi như đã mở trúng đài rồi và tha hồ mà nghe “đài phát thanh” nói. Trong lúc riêng tư, tôi biết anh chẳng ưa gì mấy thằng Việt Cộng nhưng anh rất khéo che đậy. Nói theo kiểu Việt Cộng, anh thuộc loại “nín thở qua sông” rất hay. Vì thế mà khi vợ anh ra thăm (một lần duy nhất trong thời gian ở trại Vĩnh Quang B), anh được ở lại qua đêm với vợ.

    Trưa ngày hôm sau, anh mới lò tò vác trên vai một bao đồ thăm nuôi, chừng 30 kg (hơn 60 pounds). Thấy quà thăm nuôi của anh chẳng là bao nhưng mặt anh thì rất rạng rỡ. Đa số những người được thăm nuôi thường đem vào trại một vài tin đồn về tình hình ở bên ngoài, tỉ như đài BBC nói gì, VOA nói gì có liên quan đến tù “cải tạo”. Thời gian này đang có tin đồn rằng Mỹ đang thương luợng với Việt Cộng để giải quyết nhóm tù “cải tạo”. Vậy mà anh Tương thì trái lại, chúng tôi chẳng nghe được “tin gì vui” ở anh cả. Anh đâu có “guởn” để tìm hiểu tin này tin nọ. Ưu tiên hàng đầu của anh là “chuyện ấy” thôi mà. Gặp tôi anh cười cười nói nói “Súng vẫn chưa rỉ ông ơi, bắn vẫn ngon lành lắm!”

    Chả là trước đây tôi thường chê anh là, “Mã ông thì còn làm chó gì được nữa mà ham, có chăng chỉ còn mấy viên đạn lép thì bắn bung cái gì.” Nghe anh nói tôi cũng mừng cho anh vì đã được thoả mãn “chuyện ấy” mà không bị thượng mã phong.

    Ông Tương bây giờ đã mấp mé 80 rồi, nếu có đọc được những dòng tôi viết về ông thì cũng thông cảm cho rằng tôi viết chỉ để gợi lại kỷ niệm một thời khốn khổ nhưng đầy ắp thân tình của những kẻ bị tù đầy như hai chúng ta. Bây giờ tôi chắc rằng súng của ông không rỉ thì cũng hết mẹ nó đạn rồi, đúng không nào?


    5.25. Chuyện kể của TTT (Xin quí vị tu sĩ đừng đọc phần này)
    Thói thường, khi người ta thiếu thốn hay thèm khát thứ gì thì người ta hay nghĩ tới và hay nói đến những thứ đó. Đời sống tù đầy của chúng tôi có hai cái thiếu (đói) lớn nhất, đó là đói ăn và đói tình. Xin bỏ ra ngoài, không bàn đến ở đây là cái đói tự do. Nếu chúng tôi đã được tự do thì chắc chắn hai cái đói kia đã biến mất. Đói ăn, chúng tôi luôn nghĩ đến ăn uống và bất cứ khi nào thuận tiện là đề tài ăn uống lại được đưa ra bàn luận/kể chuyện. Thành ngữ “Đi ăn phở ngó” để nói về những người thèm phở mà không có tiền cho nên chỉ còn cách đi ngang tiệm phở ngó người ta ăn cho đỡ cơn thèm. Đỡ thèm hay không thì còn phải hỏi lại.

    Bây giờ ở trong tù thì ngó cũng không được nữa, chỉ có thể ngóng (nghe) mà thôi. Chúng tôi gọi việc nghe này là ăn hàm thụ. Một người rành về món gì thì kể về món đó cho những người khác nghe. Đói tình cũng vậy. Tình ở đây có xu hướng mạnh về tình dục hơn là tình yêu. Chúng tôi thuộc lớp tuổi trung niên, đã từng dầy dạn “chiến trường” trên khắp bốn vùng chiến thuật mà bây giờ bỗng dưng bị tạm thời cất vũ khí vào kho thì thấy bứt rứt khó chịu lắm. Cách giải quyết những dồn nén/những thèm khát là kể chuyện hoặc nghe người khác kể chuyện về tình (dục). Chuyện kể thì rất nhiều nhưng tôi chỉ nhớ được vài ba chuyện, trong đó có chuyện của anh TTT. Sau đây là đại khái lời kể của TTT:

    "Các bạn biết không, năm tôi 17 tuổi là tôi đã trở thành đàn ông rồi. Bố tôi là một công chức làm việc tại Huế. Bố tôi mướn một căn nhà gần nơi làm việc để tiện việc đi làm mỗi ngày. Căn nhà bố tôi mướn được xây theo kiểu hình chữ U mà hai nhánh của chữ U quay vào phía trong vườn. Phần giữa chữ U là một cái sân xi măng. Gia đình tôi không mướn trọn căn nhà vì trước đó đã có một chị mướn một phòng nằm ở một nhánh của chữ U. Phòng tôi ở đối diện với phòng của chị đó, cách nhau bằng cái sân xi măng. Tuổi chị phỏng chừng gần 30, nước da trắng trẻo, khuôn mặt bầu bĩnh và hồng hào; nhất là chị lại có cái răng khểnh trông rất có duyên. Những lúc chúng tôi không đi học và làm việc, chị và tôi thường thấy nhau qua mảnh sân. Chừng dăm bảy bữa sau khi dọn tới ở là chúng tôi đã làm quen với nhau, chào hỏi nhau mỗi khi gặp mặt.

    "Tôi thường học khuya đến chừng 9, 10 giờ tối mới đi ngủ. Còn chị thì cũng vậy, chị thường tắt đèn đi ngủ vào khoảng 10 giờ tối. Chúng tôi đã quen với giờ giấc sinh hoạt của nhau như vậy rồi.
    Một đêm, gần lúc tôi tắt đèn đi ngủ thì thấy tiếng gõ cửa nhè nhẹ. Tôi mở cửa thì thấy chị đứng đó và chị nói nhỏ,” Chị nhờ em sang cạo gió cho chị một chút vì chị có lẽ bị trúng gió nên hơi khó chịu.” Tôi vẫn ngây thơ, không nghĩ ngợi gì cả và trả lời, “Chị về trước đi, em sang ngay.” Tôi vội vã thu xếp sách vở, tắt đèn phòng và sang bên phòng chị.

    "Tôi cũng chẳng biết giữ ý tứ gì về cách ăn mặc, vì thế khi sang phòng chị, tôi chỉ mặc áo thung và quần xà lỏn như lúc đang ngồi học. Lúc tôi sang thì chị đã tắt đèn lớn và chỉ để một ngọn đèn nhỏ đủ để nhìn mờ mờ thôi. Thấy tôi sang, chị mở cửa cho tôi vào và chốt cửa lại. Sau đó chị ngồi lên giường, quay mặt vào vách và từ từ mở nút áo để cởi bỏ hẳn áo ra. Chị bảo, “Dầu nóng đây, em cạo lưng cho chị xem có nhiều gió không.” Tôi làm theo lời chị. Mới cạo có dăm phút mà người tôi đã nóng bừng vì tôi chưa từng được đụng chạm tới da thịt đàn bà. Mùi thơm da thịt đã làm tôi bấn lên, thằng nhỏ đã ngóc đầu lên từ lúc nào không biết. Tôi cố quên nó đi và chỉ chú tâm vào việc cạo gió thôi. Cạo xong phía sau lưng, chị quay mặt ra phía tôi và bảo, “Em cạo tiếp cho chị phía trước ngực đi.” Và chị cầm tay tôi đặt lên phía trên vú bên trái của chị bởi vì lúc đó tôi đang cầm đồng xu cạo gió trên tay phải của tôi, bảo tôi cạo đi. Nhìn cặp vú no tròn của chị với núm vú đo đỏ, và nhất là hơi thở đàn bà của chị, người tôi xốn xang quá sức và hơi thở tôi cũng càng lúc càng dồn dập. Chị cũng biết vậy và chị muốn kiểm tra cho chắc ăn bằng cách dùng tay phải của chị quơ qua thằng nhỏ của tôi. Chị chắc ăn rằng tôi đã lên tới tột độ rồi, chị bảo tôi ngưng cạo gió rồi chị thò tay tắt luôn ngọn đèn nhỏ ở đầu giường.

    "Bây giờ bóng tối đã giúp chị mạnh bạo hơn. Chị đè tôi nằm ngửa ra, rồi lột quần của tôi, và chị bắt đầu thổi kèn sắc sô phôn. Vì là lần đầu tiên trong đời cho nên tôi không chịu được lâu, mới chừng một phút là đã xuất tinh rồi. Chị cứ ngậm và nuốt hết mọi tí. Sau hiệp nhất thì chị lại mơn trớn thằng nhỏ của tôi, tôi cũng không biết chị đã cởi quần của chị ra từ lúc nào mà tay tôi rờ rẫm không còn thấy mảnh vải nào trên người chị nữa. Khoảng chừng 20 phút sau thì thằng nhỏ của tôi lại cương lên. Lần này chị không thổi kèn nữa, mà chị ngồi lên tôi, chị chủ động mọi thứ cho đến khi tôi xuất tinh lần thứ hai xong, chị xuống ngựa và nằm cạnh tôi, cả hai cùng đê mê ngất ngây, quấn chặt lấy nhau. Tay tôi không ngừng hoạt động, di chuyển tới những nơi hiểm hóc để thám hiểm cho thoả tính tò mò của một thằng con trai mới lớn.

    "Chừng hơn một tiếng sau, chúng tôi lại có thể bắt đầu cho hiệp thứ ba. Lần này chị để tôi nằm trên, chị nằm dưới và dùng tay hướng dẫn cho thằng nhỏ biết đường đi vào trong hang. Khi thằng nhỏ đã vào sâu trong hang thì tôi tự động làm những động tác theo bản năng của người con trai. Trận chiến lần này rất dai dẳng cho nên tôi đã đưa chị lên đến tuyệt đỉnh vu sơn. Lúc thì chị vít đầu tôi xuống, lúc thì chị ghì chặt lấy tôi và rướn người lên, lúc thì chị rên lên nho nhỏ một cách sung sướng. Sau khi chấm dứt cuộc chiến, cả hai đều mồ hôi nhễ nhại và tay tôi đụng phải một khu nệm ướt sũng. Sau này tôi mới hiểu ra lý do tại sao nệm bị ướt nhẹp như vậy - hồng diện đa dâm thuỷ mà – Da mặt chị hồng hào thì phải đa dâm thuỷ chứ sao. Nằm nghỉ một lúc rồi tôi mặc lại quần áo và tôi trở về phòng tôi. Lúc chị ra đóng cửa cho tôi chị còn dặn nhỏ rằng, “Tối mai nhớ qua chị nữa nhé, đừng để chị chờ.” Dĩ nhiên tôi phải nhớ chứ, bỏ sao được.
    Cứ thế chúng tôi tiếp tục sống với nhau như một cặp vợ chồng trẻ mới cưới. Chỉ khác một điều: Vợ chồng trẻ thì đêm bẩy, ngày ba, vào ra không kể nhưng hai chúng tôi không thể có ban ngày, cho nên phải dành hết lại cho ban đêm.

    "Qua một tuần lễ đầu, tôi đã được chị chỉ cho những chỗ nhậy cảm nhất trên cơ thể người đàn bà để tôi dễ dàng đưa chị lên đỉnh vu sơn mỗi khi xáp trận.
    Từ ngày tôi biết mùi đời tôi trở nên lơ là khi nghe thày cô giảng bài. Khi ở nhà mở sách ra học thì không thể chú tâm vào bài học được, đầu óc tôi cứ luôn luôn mong cho trời mau tối… Một niên học trôi qua, kỳ thi Tú Tài I tôi bị rớt luôn cả hai khóa. Bố mẹ tôi thấy người tôi xanh xao thì nghĩ rằng tôi lo học ngày học đêm mà ra như vậy. Bố tôi dẫn tới bác sĩ để chẩn bệnh cho tôi. Sau một hồi nghe tim, khám phổi, khám đủ thứ, bác sĩ kê toa cho tôi mấy loại thuốc bổ sức. Rồi ông nói chuyện riêng với bố tôi một lúc lâu. Bố tôi dẫn tôi về nhà nhưng không nói gì cả. Bố tôi âm thầm sắp xếp cho tôi vào Sài-Gòn học. Công việc xong, bố tôi báo cho tôi biết để chuẩn bị vài ngày trước khi đi.

    "Bố tôi giải thích rằng ở Sài-Gòn sẽ có nhiều thày cô giỏi thì sang năm tôi sẽ thi đậu. Trong vài đêm cuối cùng, hai chúng tôi tận hưởng những hoan lạc nam nữ vì linh cảm rằng khó có thể có dịp để gặp nhau lại.
    Những ngày đầu ở Sài-Gòn, tôi nhớ “chị tôi” vô kể nhưng rồi dần dần nỗi nhớ cũng giảm đi vì phải lo bài vở nhà trường. Cuối niên học đó tôi đã đậu Tú Tài I và trở về Huế thăm gia đình. Lòng tôi hồi hộp thầm mong rằng “chị tôi” vẫn còn ở đây nhưng chị đã dời đi nơi khác trước khi tôi trở về vài tháng. Dù sao thì tôi cũng biết ơn chị đã dẫn dắt tôi vào lãnh vực ân ái một cách tuyệt vời! Chuyện của tôi có vậy thôi, bạn nào có chuyện hay ho hơn thì xin kể tiếp."

    Bạn TTT, có những chi tiết mà bạn không thấy tôi nhắc tới ở đây là vì hai lý do: Thứ nhất là vì đã gần ba chục năm rồi, tôi không thể nhớ 100% câu chuyện của bạn. Thứ hai có vài chi tiết tôi nhớ nhưng không dám viết ra, sợ rằng vi phạm đến nội qui của Thư Viện Việt Nam (Website). Và, có những chi tiết khi viết ra trên đây, tôi đã thay đổi ngôn từ cho nó có vẻ “thanh” hơn là lời bạn kể. Mong bạn thông cảm.


    5.26. Một tấm lòng
    Anh Lương Văn Quang và tôi ở cùng một đội, cùng ngồi ăn chung với nhau gần suốt quãng thời gian ở Vĩnh Quang B. Hai người hợp tính nhau cho nên càng ngày càng thêm thân thiết. Trong hai đứa tôi, người nào kiếm được cái gì thì cũng chia cho người kia một nửa. Khi chụp được một chú thằn lằn, bỏ vào đống lửa cho chín, lấy ra cũng bẻ đôi mỗi người một nửa con.

    Ở Vĩnh Quang B có một loại cây leo, trông gần giống như cây lá dang mà chúng tôi gọi là cây “sâm sa”. Loại cây này có nhiều và mọc (leo) lẫn trong các bụi cây dọc đường đi lao động. Chúng tôi lấy về, tước lấy lá rồi cho vào thau với một ít nước nguội, vò lá cho nát ra, sau đó quậy đều rồi dùng một miếng vải lọc lấy nước trong, và chứa vào lon gô/ca cóng, để chừng hơn một tiếng là có một lon “sâm sa” rồi. Khi nó đặc lại, trông không khác gì sâm sa thiệt cả. Nếu có tí đường mà ăn với nó thì thật tuyệt. Tuy nhiên, đâu dễ gì mà kiếm ra đường cho nên chúng tôi dùng muối thay cho đường. Hai chúng tôi thường chống đói bằng cách đó. Tôi thấy có người còn dùng lá găng (loại cây thân mộc, có gai) thay cho lá dang nhưng ăn không ngon bằng.

    Một hôm, trong lúc ngồi ăn cơm, anh Quang cho biết là mẹ anh viết thư báo rằng bà cụ sẽ ra thăm anh nay mai. Vì nhà tôi và nhà anh Quang ở cách nhau không xa nên tôi hỏi địa chỉ nhà anh và viết thư về báo cho vợ tôi biết để vợ tôi đến gặp mẹ anh Quang, gửi cho tôi ít đồ ăn. Vợ tôi không còn khả năng tài chánh để đi thăm tôi như người khác sau một lần duy nhất ra thăm tôi giữa năm 1979 (sẽ kể sau). Bây giờ chỉ còn cách gửi ké dăm ba ký đồ ăn khi nào có dịp. Chừng vài tháng sau thì mẹ anh Quang ra thăm nuôi. Ra gặp mẹ xong, khi vào anh Quang cho tôi biết rằng vợ tôi có ghé nhà gặp mẹ anh để xin gửi quà nhưng mẹ anh bảo không cần gửi vì mẹ anh đã có đủ rồi.

    Sau này khi tôi được thả, về nhà, thì được vợ tôi kể lại rằng: “Mẹ anh Quang thật là phúc hậu, bà cụ sống trong một căn nhà rất lớn chứng tỏ rằng gia đình bà thuộc loại giàu có. Khi bà cụ biết em là vợ của anh tới xin gửi đồ cho anh, bà cụ nhất định không nhận vì bà cụ biết rằng em đang gặp cảnh khó khăn tài chánh, bà cụ bảo rằng, ‘Hai anh em nó ăn chung những thứ tôi đem ra cũng đủ rồi.’ Lúc tới gặp bà cụ thì em chưa mua thứ gì cả, em phải hỏi xem bà cụ có đồng ý nhận mang cho bao nhiêu ký thì em mới về mua sắm sau. Bà cụ đã nói vậy thì em chỉ còn biết cám ơn bà mà thôi. Ngồi nán lại ít phút thăm hỏi bà cụ thì mới biết rằng bà cụ cũng đã biết anh và anh Quang chơi thân với nhau và cùng ăn cơm chung với nhau, chắc là do anh Quang nói. Khi em ra về, bà cụ còn bảo em rằng đừng lo, anh Quang có ăn thì anh cũng có ăn.” Tôi bàn với vợ tôi rằng sẽ tới vấn an bà cụ đồng thời hỏi tin tức về anh Quang. Từ ngày rời Vĩnh Quang B, tôi và Quang đi mỗi người mỗi ngả cho nên không có tin tức gì cả. Rất tiếc là bà cụ đã bán căn nhà cũ và dọn đi nơi khác rồi.

    Sau này sang Mỹ, liên lạc được với anh Quang thì được biết bà cụ đã qua đời mấy năm sau khi anh Quang tới Mỹ. Cách đây hơn một tháng (9/2008), anh Quang cho biết rằng anh sắp về Việt Nam để làm đám giỗ cho bà cụ. Tôi nhờ anh thay tôi thắp mấy cây nhang vái bà cụ để tỏ lòng nhớ tới một nghĩa cử tốt đẹp mà bà cụ đã dành cho tôi.
    (còn tiếp)

  12. #32
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    5.27. Vợ tôi đi thăm nuôi

    Khi trại thông báo là sẽ cho phép gia đình thăm nuôi, hai tháng một lần, thì tôi viết thư về báo cho vợ tôi biết. Tuy nhiên tôi không hy vọng gì vợ tôi có đủ tiền bạc để đi ra Bắc thăm chồng. Vì thế tôi bảo vợ tôi rằng điều quan trọng là hãy chăm lo cho 4 đứa con mà đứa lớn nhất lúc đó mới được 13 tuổi, đứa nhỏ nhất 6 tuổi. Còn việc đi thăm tôi có thì tốt, mà không có cũng đừng ái ngại gì cả.

    Trong một lá thư gửi cho tôi sau đó, vợ tôi nói bằng mọi giá cũng phải đi thăm tôi một lần. Vợ tôi nói là nói theo cảm tính, chứ thực lực thì chưa biết kiếm đâu ra tiền đi thăm tôi. Thế rồi vào khoảng giữa năm 1979, tôi được báo là có gia đình thăm nuôi. Tôi được nghỉ một ngày lao động để ra gặp người nhà. Cán bộ trại yêu cầu tù nhân phải ăn mặc đàng hoàng, quần áo phải lành lặn và sạch sẽ, đầu tóc phải chải gọn gàng trước khi ra gặp gia đình. Bọn chúng bắt chúng tôi phải làm như vậy vì chúng muốn chứng tỏ cho vợ con của tù thấy rằng chúng tôi không bị đối xử tệ như người ta nghĩ đâu; chúng tôi vẫn “mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao” mà! Thật đúng là hành động “lấy vải thưa che mắt thánh!” Vợ con của tù chỉ cần nhìn cái hình hài lúc này để so sánh với nó trước khi ở tù thì sẽ thấy ngay sự thực, cần gì phải nói ra mới biết chứ.

    Thời gian tôi được phép gặp gia đình là 30 phút vì “cải tạo chưa tiến bộ”. Đối với tôi 30 phút cũng chẳng sao nhưng chỉ tội cho vợ tôi, đi từ Nam ra Bắc, đường dài vạn dặm thăm chồng mà chỉ được 30 phút thì quá tàn nhẫn! Nhà thăm nuôi hôm đó có 4 cặp được thăm nuôi. Gian nhà thăm nuôi có một cái bàn lớn dùng cho tù và gia đình ngồi nói chuyện. Bề ngang cái bàn rộng 1 mét, chiều dài 3 mét (40” x 10’) . Bốn người tù ngồi một bên bàn. Bên kia là vợ con của tù ngồi. Chồng ngồi đối diện với vợ con mình. Tên cán bộ phụ trách thăm nuôi ngồi ở đầu bàn để có thể nhìn suốt chiều dọc cái bàn, theo dõi cuộc nói chuyện của chúng tôi. Khi hắn cho phép bắt đầu thì gian nhà ồn lên như một cái chợ con vì ai cũng phải nói lớn thì người đối diện mới nghe được. Thời gian ngắn ngủi cho nên chỉ nói qua nói lại một chút là đã hết giờ.

    Vợ chồng tôi ngồi ở phía gần đầu bàn bên kia, nghĩa là cách xa tên cán bộ cả một chiều dài của bàn. Vì thế, lợi dụng lúc tên cán bộ ngó qua chỗ khác, tôi đạp chân vợ tôi và nháy mắt cho vợ tôi hiểu ý, rồi tôi nói lớn “Nhà mình có 4 đứa con, em liệu nếu nuôi không xuể thì gửi bớt một vài đứa xuống quê ngoại ở Mỹ Tho cho bà ngoại nuôi giúp để em bớt vất vả.” Vợ tôi nghe là hiểu ngay tôi muốn nói gì rồi vì họ hàng bên ngoại đều ở Sài-Gòn, có ai ở Mỹ Tho đâu, Mỹ Tho tức là nước Mỹ. Vả lại, bà ngoại xấp nhỏ đã chết mấy năm trước khi vợ tôi đi lấy chồng thì làm gì còn bà ngoại ở Mỹ Tho.

    Thời gian này, ở bên ngoài đang có phong trào vượt biên rầm rộ, cho nên tôi chỉ cần nói mánh một chút là vợ tôi hiểu ra ngay. Vợ tôi cho biết là đi thăm tôi bằng đường hàng không; tôi rất ngạc nhiên vì thời buổi đó đâu có dễ dàng gì mà mua được vé máy bay, thậm chí vé xe lửa cũng còn khó khăn, trầy vi tróc vẩy nữa là. Vợ tôi bảo chuyện đi bằng máy bay thì dài lắm, để khi nào có thì giờ sẽ kể cho tôi nghe sau. Lúc giao đồ ăn cho tôi trước khi về, tôi làm bộ cúi xuống soạn đồ vì đồ của tôi đã để sẵn trong một cái rương bằng kẽm (cỡ 40 x 80 x 35cm, loại dùng để đựng quần áo), không cần phải soạn gì cả. Vợ tôi nói, “Em mua cái rương này để anh đựng đồ khỏi bị chuột cắn. Em chỉ tốn tiền mua rương thôi, còn đồ đạc trong này là do các chị bạn trong nhóm đi buôn của em góp lại gửi cho anh, em không phải mua gì thêm đâu, vả lại đi máy bay không thể mang được nhiều. Anh nên chia sẻ với bạn bè cùng ăn và ráng giữ gìn sức khỏe vì em có nghe người ta đồn rằng Mỹ đang thương lượng với Việt Cộng về việc giải quyết tình trạng của các anh đấy.” Hai cái đầu sát nhau, tôi lặp lại cho chắc ăn câu nói bóng mà tôi vừa nói trong bàn rằng, “Em tìm cách cho con đi vượt biên, càng nhiều càng tốt.”

    Hơn một năm sau, khi tôi đã đang ở trại Vĩnh Quang A thì được tin hai đứa con lớn của tôi đã tới trại tị nạn Bi Đông rồi. Tôi mừng vô kể! Khi ra tù, tôi được biết là mặc dù vợ tôi không có tiền để nạp cho chủ tầu, 3 lượng vàng một người, nhưng vợ tôi, bù lại, phải giới thiệu cho họ 5 người khách. Rất may là hai đứa con tôi chỉ đi một chuyến là trót lọt ngay. Cũng may là bốn cặp thăm nuôi hôm đó đều được 30 phút nói chuyện cho nên vợ tôi đỡ tủi thân. Giao nhận đồ xong, vợ tôi phải ra về ngay (đi bộ) để còn kịp chuyến xe đò chót từ Vĩnh Phú về Vĩnh Yên. Ba người kia còn nán lại qua đêm, sáng hôm sau mới ra về.

    Khi tôi được thả về xum họp với gia đình, vợ tôi mới có thì giờ kể lại chuyến đi ra Bắc thăm tôi năm 1979. Hãy nghe vợ tôi thuật:

    "Nghĩ lại, chuyến đi thăm anh ở ngoài Bắc năm đó như là một giấc mơ mà em không thể
    tưởng tượng nó lại xảy ra như vậy được. Đúng là Đức Mẹ đã khiến sự việc xảy ra như thế. Khi nhận được thư anh báo là trại cho phép thăm nuôi, em muốn đi ngay nhưng vấn đề quan trọng là tiền. Tiền ở đâu ra mà đi? Nào là tiền tầu xe, nào là tiền mua thực phẩm cho anh, nào là tiền chạy chọt giấy tờ cho phép thăm nuôi, nào là tiền ăn cho các con trong thời gian em nghỉ chạy hàng, ít nhất là hơn một tháng vì phải ăn chực nằm chờ mua vé tầu xe. Em rất buồn vì khả năng mình không thể làm được! Thế rồi tự nhiên em nghĩ tới Đức Mẹ, em bèn cầu xin cùng Đức Mẹ, “Xin Mẹ giúp cho con cách nào đó để con có thể ra thăm chồng của con đang bị tù đầy ở miền Bắc, con tin rằng chẳng có sự gì mà Mẹ không làm được.” Em lặp lại lời cầu nguyện đó hằng ngày mỗi khi nhìn thấy tượng Đức Mẹ đứng dang tay trên bàn thờ.

    "Thời gian này, em đang hợp tác với mấy chị bạn, cũng là vợ sĩ quan, đi buôn chung. Chúng em gặp gì buôn nấy. Tuy nhiên chúng em thường kiếm những món không cần nhiều sức lực mang vác mà lời nhiều hơn, chẳng hạn như các loại hóa chất, thuốc tây v.v… Một hôm trong lúc đang chuyên chở hai thùng thuốc tẩy đường (loại thuốc dùng để biến đường cát vàng thành đường cát trắng), bọn em bị tụi thuế vụ bắt và tịch thu hai thùng thuốc tẩy (trị giá gần hai lượng vàng) đem về Ty Thuế Vụ quận. Em nghĩ thế là tiêu rồi, các con lại phải ăn cháo mà sống thôi. Buồn nhất là lúc này em đang cố gắng dành dụm và nếu trúng được mấy mối thì hy vọng có tiền đi thăm anh.

    "Trong nhóm của em, thì em là người ít tuổi nhất, 34 tuổi nhưng bề ngoài trông như mới 30 mà thôi nhờ vóc dáng nhỏ bé và nước da trắng trẻo. Các chị bạn bàn với nhau là để em làm đại diện vào gặp trưởng ty thuế vụ quận để xin lấy hàng ra, nếu có phải chi chút ít cho ông ta thì vẫn còn hơn là mất luôn. Vả lại các chị còn tin vào khả năng ứng đối của em, hy vọng sẽ gỡ lại ít nhiều. Được sự khích lệ của các chị cho nên em đến quận xin gặp trưởng ty thuế vụ, còn các chị kia ở ngoài, ngồi chờ.


    "Rất may là hôm đó ông Trưởng Ty Thuế Vụ (tạm gọi là X để tránh phiền lụy) có mặt ở văn phòng, và ông X cho phép em vào trình bày sự việc. Vào trong văn phòng, em chỉ mới nói được mấy câu rồi không thể nói nên lời nữa, chỉ ngồi khóc nức nở vì tủi thân tủi phận khi nghĩ đến các con và anh. Ông cứ để cho em khóc chán, khi em ngừng khóc thì ông hỏi gia cảnh, em cũng khai thực mọi sự không dấu diếm cái gì, sau đó xin ông cho lấy hàng ra. Ông ngồi suy tư một chút rồi ông gọi nhân viên dẫn em ra kho để nhận hàng. Trước khi ra về, ông còn dặn rằng trong cuộc sống có cần ông giúp gì thì đừng ngại, cứ cho ông biết để ông giúp cho. Các chị bạn thấy em vời vào phụ khiêng hai thùng thuốc ra thì mừng vô kể. Mọi việc xong xuôi, bọn em chung tiền mua biếu ông X một cái nồi cơm điện và một cái máy xay sinh tố, tốn hết một chỉ và 5 phân vàng, còn lời chán. Sau này em được biết ông là người Miền Nam tập kết ra Bắc năm 1954, vợ ông là người Hà Nội và làm Trưởng Phòng Lương Thực ở một quận khác. Hai ông bà đã lớn tuổi, coi em như em gái út trong nhà. Bà ấy còn nói khi nào cần thực phẩm thì ghé cho bà biết để bà liệu, nhưng em chưa bao giờ làm chuyện đó.

    Ghi chú: Những người Miền Nam tập kết ra Bắc đã sáng mắt ra rồi. Nhất là sau vụ thống nhất hai miền Nam-Bắc năm 1976 thì mắt lại sáng thêm ra nữa. Có điều là họ đã trót phóng lao thì phải theo lao. Ông bà X cũng trong hoàn cảnh đó, đang hưởng quyền lợi đấy nhưng không biết sẽ bị bứng đi lúc nào không hay. Ông X vẫn còn giữ được bản chất của người Miền Nam, không căm thù/sắt máu như những người Bắc chính cống, ông dễ thông cảm với những kẻ thất trận của Miền Nam. Do đó mà vợ tôi mới xin được hàng ra và lại còn được hứa hẹn giúp đỡ sau này.

    Vợ tôi kể tiếp:

    "Qua vài ba lần tiếp xúc với ông bà X, em thấy ông X là người tốt, có thể nhờ cậy được. Rồi một hôm, em đem lá thư của anh báo là trại cho phép thăm nuôi cho ông đọc và xin ông có cách nào giúp em ra Bắc thăm anh không. Ông đọc xong lá thư, rồi bảo em rằng, “Cô về địa phương xin một cái giấp phép đi thăm nuôi, có giấy phép đó rồi thì đưa ngay cho tôi, mọi công việc còn lại để tôi lo cho.” Theo lời ông, em về nhà làm đơn lên xã xin phép đi thăm anh. Khi lên xã, tụi nó làm khó dễ, không cho phép đi với lý do là từ xưa đến giờ chưa bao giờ em chịu tham gia các công tác của xã ấp cả. Em trả lời tụi nó là nếu tôi tham gia các công tác xã ấp thì ai chạy gạo cho bốn đứa con của tôi ăn, rồi em bỏ về. Em nghĩ là do anh K.(*) đã xúi bọn ở trên xã không cấp giấy tờ gì cho em. Vì thế, sáng sớm ngày hôm sau em không đi chạy hàng, mà ra thẳng ngoài huyện. Em chẳng biết huyện nằm ở đâu vì đây là lần đầu em phải tới huyện, phải hỏi thăm mới tìm được văn phòng huyện. Lúc em tới thì chưa tới giờ làm việc, ngó sang bên quán cà phê, em thấy một thanh niên đang ngồi uống cà phê một mình, em đoán là anh này làm việc trong huyện nhưng chờ giờ mở cửa. Em tới bàn hắn, chào làm quen, rồi hỏi thăm xem có phải hắn làm việc trong huyện không, hắn xác nhận là nhân viên trong huyện (sau này mới biết hắn là trung úy Công An). Em ngỏ lời xin hắn giúp cho cái giấy phép đi thăm nuôi vì ở xã không chịu cấp phép. Hắn bảo, “Được, em sẽ lo cho chị, và em sẽ đem thẳng giấy phép về nhà chị, khi xong việc chị cho em xin 150 đồng.” Em mừng quá, chịu liền. Thế là em đưa đơn cho hắn rồi đi về. Chiều hôm sau hắn đem giấy phép đến tận nhà trao cho em và nói rằng, “Em phải tới xã của chị, mất cho họ một chầu cà phê để lấy con dấu và chữ ký của xã thì mới hợp lệ.” Em nhận giấy phép và trao cho hắn 200 đồng thay vì 150 đồng như hắn đòi hỏi để bù lại tiền hắn chi phí cà phê cho xã.”

    (*) Ghi chú: Anh K. là anh rể của tôi. Tôi có hai bà chị & hai ông anh rể cùng ở một xã với gia đình tôi và cách nhà tôi chừng 500m. Từ ngày mẹ tôi chết, năm 1977, vợ tôi và mấy bà chị không có sự hòa thuận, có thể nói là căm thù nhau thì đúng hơn. Thời gian này anh K. thường hay liên lạc và quen biết nhiều với bọn ở xã. Vì thế mà anh K. mới xúi xiểm xã không cấp giấy tờ cho vợ tôi. Sự bất hòa có nguyên nhân của nó, cả nguyên nhân xa lẫn nguyên nhân gần. Sau này họ nhận ra là họ hoàn toàn có lỗi và đã xin lỗi vợ chồng tôi, tôi sẽ nói đến trong một dịp khác nếu tiện.

    Vợ tôi kể tiếp:

    "Em cầm giấy phép thăm nuôi tới đưa cho ông X. Ông thấy giấy phép đã hợp lệ, ông bảo em rằng “Cô về chuẩn bị 750 đồng tiền vé máy bay khứ hồi, còn mọi chuyện để tôi thu xếp, chừng ba bữa nữa cô lên gặp tôi xem có gì cần làm thêm nữa không.” Em cám ơn ông và về nhà lo kiếm tiền đủ để chi cho chuyến thăm nuôi, chuẩn bị đồ đạc đem ra cho anh. Em phải thông báo cho mấy chị bạn trong nhóm đi buôn, có gì cho anh thì chuẩn bị sẵn, vài ngày nữa em sẽ tới lấy. Em nghĩ đi máy bay thì không thể đem nhiều được. Tất cả mọi thứ em bỏ vào một cái rương cỡ trung bình. Như vậy quà thăm nuôi mà mấy chị bạn cho cũng đầy rồi, nếu còn rộng chỗ em sẽ mua thêm một vài món bỏ cho đầy rương thôi. Em nói với bố và các em của em đừng mua đồ, mà cho tiền để em chi phí dọc đường thôi. Em mong cho chóng hết thời hạn ba ngày để lên gặp ông X. Trong ba ngày này, ban ngày thì bận rộn chuẩn bị cho chuyến đi, ban đêm thì khó ngủ vì cái ý nghĩ sắp sửa được gặp anh, sẽ được nhìn tận mắt con người của anh ra sao, chứ làm sao tin được những lời anh viết trong thư, nào là khỏe mạnh, nào là ăn uống đầy đủ, nào là được… đủ thứ. Em biết những điều anh viết trong thư đều là bị bắt buộc phải viết như vậy thì thư mới được về tới tay em.

    "Hết hạn ba ngày, em lên Sài-Gòn gặp ông X. Ông vời em vào văn phòng, mở ngăn kéo bàn, lấy ra một xấp giấy tờ và nói rằng mọi sự đã xong xuôi hết kể cả việc mua vé máy bay cho em, em chỉ phải hoàn lại số tiền 750 đồng cho ông mà thôi. Nghe ông nói vậy, lòng em mừng không biết đâu mà kể! Nói rồi, ông lấy ra từng tờ giấy và dặn em phải nhớ những điều ông nói để khi bị hạch hỏi thì cứ theo đó mà trả lời.
    Đầu tiên là một cái thẻ công nhân viên của Ty Thuế Vụ mang tên em, thứ đến là một công vụ lệnh cho em đi Hà Nội, để họp thay thế cho ông, tiếp theo là vé máy bay khứ hồi Sàigòn – Hà Nội, khởi hành sáng Thứ Hai tuần tới và trở về Thứ Bảy trong tuần. Ông nói, nếu thấy không về kịp ngày Thứ Bẩy thì báo trước cho phòng vé xin đổi lại ngày về. Ngoài ra, ông còn đưa cho em vài ba thứ giấy tờ để làm ra vẻ là hồ sơ mang đi họp. Ông nói, “Tôi sẽ cho nhân viên ra phi trường Tân Sơn Nhất vào sáng ngày Thứ Hai tuần tới, chờ cô ở đó để đóng vai bạn đồng sự giúp cô đem đồ ra phi trường, cô chỉ trả lời những câu hỏi nào mà cô biết chắc, còn những câu nào khó thì nhân viên của tôi sẽ đảm trách. Khi cô lên phi cơ rồi thì nhân viên của tôi xong nhiệm vụ. Vợ chồng cậu em vợ của tôi ở Hà Nội đã được thông báo ngày giờ cô tới phi trường Nội Bài, họ không ra phi trường đón cô nhưng sẽ chờ cô tại trạm xe ca (bus) Hàng Không ở hồ Hoàn Kiếm và vợ chồng cậu ấy sẽ lo cho cô trong thời gian cô ở Hà Nội.” Nghe ông nói tới đâu, người em nhẹ đi tới đó. Ông đã quá chu đáo ngoài sự mong đợi của em.

    "Sáng sớm Thứ Hai, hai mẹ con em đón xe đi Tân Sơn Nhất. Vừa xuống xe là đã thấy một người của Ty Thuế Vụ đến, phụ với em đưa đồ vào phi trường làm thủ tục giấy tờ để lên phi cơ. Mọi việc diễn tiến tốt đẹp, không ai nghi ngờ gì những giấy tờ của em. Khi em ra tới cửa phi cơ, em quay lại ra dấu cho con và nhân viên sở thuế có thể về được rồi. Tuy nhiên khi máy bay đã cất cánh em vẫn còn thấy con gái mình còn đang đứng nói chuyện với nhân viên của ông X. Ngồi trên máy bay, em thầm cảm tạ Đức Mẹ đã dùng bàn tay ông X lo liệu cho em. Lại nữa, ngồi bên cạnh em là một ông dáng chừng trẻ hơn ông X dăm tuổi. Ông này gợi chuyện làm quen, và tự giới thiệu ông là người Hà Nội nhưng làm việc ở Sài-Gòn, ông đi về thường xuyên thăm gia đình vì vợ con ông vẫn ở Hà Nội mà chưa thể xin cho gia đình chuyển hộ khẩu vào Sài-Gòn được. Khi ông biết em đi thăm anh, ông cũng chỉ vẽ cho một ít kinh nghiệm về mua vé xe, về trộm cắp v.v… Nhờ vậy mà khi xuống tới phi trường Nội Bài, ông giúp em lấy hành lý và đưa ra xe buýt để về hồ Hoàn Kiếm, em chẳng phải đụng tay tới hành lý gì cả. Tới trạm Hoàn Kiếm, ông thấy đã có người lo cho em thì ông chào từ giã và cho em địa chỉ ở Sài-Gòn, dặn rằng khi về lại Sài-gòn thì liên lạc với ông. Ông này về sau trở thành một mối cung cấp hàng lậu cho nhóm buôn của bọn em vì lúc đó ông đang là Tổng Giám Đốc của một công ty lớn ở Hà Nội và có chi nhánh ở Sài-Gòn.

    "Vợ chồng cậu em bà X đưa em về khách sạn mà cậu đã đặt phòng trước. Cậu cho biết là vé xe đi Vĩnh Yên đã mua xong, rồi cậu giải thích thêm về lộ trình từ Hà-Nội đi Vĩnh Quang B như sau, “Chặng đầu là từ Hà-Nội đi Vĩnh Yên, chặng hai là từ Vĩnh Yên đi Vĩnh Phú nhưng chưa tới bến xe Vĩnh Phú là chị phải xuống để đi bộ vào Vĩnh Quang B, chị đừng lo vì tài xế đã quen với việc chở người đi thăm nuôi rồi, khi nào tới chỗ xuống để đi Vĩnh Quang B là họ sẽ ngừng cho chị xuống. Ở đó có sẵn những người gánh mướn, chị thuê họ gánh đồ cho.”

    "
    Em nghỉ qua đêm Thứ Hai ở khách sạn. Sáng Thứ Ba, cậu em bà X tới giúp em mướn xe xích lô chạy ra bến xe Vĩnh Yên. Cậu ấy còn gửi gấm em cho anh lơ xe, nhờ anh này khi tới bến Vĩnh Yên thì mua vé cho em đi Vĩnh Phú ngay. Vì có sẵn người giúp đỡ mua vé xe (vé chợ đen) cho nên em xuống xe là có thể lên xe đi Vĩnh Phú được ngay. Nếu lớ ngớ thì thường phải chờ một hai ngày như chơi, mà muốn mua vé chợ đen cũng chẳng biết đâu mà mò, mà cũng không dám tin tưởng vào một hai người đến dụ mua vé chợ đen, sợ rằng trao tiền cho họ rồi họ biến luôn thì sao.

    "Tới trạm ngừng cho những người đi trại Vĩnh Quang B xuống, nhìn đi ngó lại chỉ có một mình em, trong bụng đã thấy lo lo. Những người mang vác thuê thì xúm lại mời chào, níu kéo um xùm, em phân vân không biết chọn ai, chợt nhìn ra bên ngoài em thấy một ông cỡ 50 hơn, người ông ốm nheo ốm nhách, tay cầm cái đòn gánh nhìn em với ánh mắt van nài vì ông không thể chen lấn, giành giật với bọn trai trẻ được. Em vời ông lại vì nghĩ rằng vừa có thể giúp ông bằng cách mướn ông gánh đồ dùm và cũng vừa đỡ lo sợ cho thân gái (sề) trên đường vắng vẻ. Biết đâu mà tin được bọn trai tráng kia. Em hỏi ông lấy công bao nhiêu, ông xin cho ông 40 đồng, em đồng ý ngay. Bọn trai tráng đứng đó nghe được giá tiền em trả thì nói lớn, “Chị bị hớ rồi, giá chỉ có 20 đồng thôi.” Ông già nghe được họ nói thế thì tỏ vẻ bối rối, sợ rằng em đổi ý. Em trấn an ông ấy rằng, “Bác cứ tiếp tục đi, tôi không đổi ý đâu.”

    "Ông mở rương của em ra, chia làm hai phần cho cân bằng để móc vào hai đầu đòn gánh.
    Chuẩn bị xong, ông gánh đồ đi trước và em theo sau. Ông già vừa gánh vừa đi như chạy. Có lẽ vừa gánh vừa chạy thì nó nhẹ hơn là đi chậm? Cứ đi một quãng, ông lại ngừng, ngồi chờ cho tới khi em bắt kịp thì ông lại gánh đi tiếp. Đường đi vắng tanh, có khi cả cây số mới có một căn nhà nhỏ, trên đường chỉ có em và ông ấy thôi, em mừng trong bụng là mình đã làm đúng khi chọn mướn ông già này. Nếu mướn một thanh niên gánh đồ mà đi trên quãng đường vắng vẻ như thế này thì không nói mạnh được, biết đâu nó nổi cơn lên, đè mình ra và làm bậy thì cũng chịu chết thôi chứ biết làm sao?

    "Từ trạm ngừng xe tới Vĩnh Quang B, phải qua một cái phà, nhưng em không biết nó tên gì (*), và mấy con suối cạn, chỗ sâu nhất cũng chỉ tới gần đầu gối của em. Mỗi khi gặp suối, ông già gánh đồ qua suối, bỏ gánh đồ ở đó rồi trở lại dắt em qua vì lòng suối gập ghềnh mà nước lại chảy xiết. Cứ thế mà đi cũng phải mất mấy tiếng đồng hồ mới tới nhà thăm nuôi của trại.

    (*) Những người đi Vĩnh Quang A thì đi lối khác, gần hơn; và họ phải qua bến phà Trang trước khi tới trại. (Giải thích của tác giả). (còn tiếp)

  13. #33
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    "Em trả tiền cho ông để ông kịp trở lại nhà vì trời đã gần tối rồi. Em nhẩm tính, tiền giữ lại đủ để chi tiêu cho đến khi về đến Hà Nội, còn dư lại khoảng 50 đồng, em dự định đưa cho anh 30 đồng để tiêu vặt nhưng nhìn ông già thấy tội nghiệp quá, em cho ông thêm 30 đồng nữa bởi nghĩ rằng trong đời chắc em chỉ gặp ông ấy một lần này thôi, đây là cơ hội duy nhất để giúp ông thì phải làm liền, không chần chờ gì nữa. Còn anh, lần này không có tiền thì còn nhiều lần khác, lo gì.

    "Em vào nhà thăm nuôi thì thấy có ba chị đã tới trước em. Mấy người này đi chuyến xe buổi sáng cho nên khi xuống xe, họ may mắn gặp được xe trâu của trại, xe trâu chở đồ giùm và họ đi bộ theo sau cho nên đỡ phải lo sợ khi đi dọc đường như em. Em trình giấy thăm nuôi cho cán bộ phụ trách thăm nuôi xong, đi tắm rửa và ngủ qua đêm (ngày Thứ Ba) để sáng hôm sau gặp anh. Nói là đi ngủ nhưng làm sao mà ngủ được. Lòng bồn chồn như lửa đốt, mong cho trời mau sáng để được nhìn thấy anh sau hơn bốn năm xa cách, biết bao là nhớ thương đầy ắp trong tim em. Lại miên man nghĩ tới các con, không biết giờ này chúng đang làm gì. Thật tội nghiệp cho chúng vì muốn đi thăm bố mà hoàn cảnh không cho phép. Cứ thế, nghĩ hết điều này đến điều kia rồi em thiếp đi lúc nào không hay.

    "Khi bừng tỉnh thì đã nghe văng vẳng tiếng gà gáy báo hiệu một ngày mới đã đến. Bên cạnh em cũng đã có tiếng nồi soong đụng chạm nhau cho biết là mấy bà ấy cũng đã thức dậy và đang chuẩn bị cơm nước trước giờ thăm nuôi. Em ra ngoài lấy nước rửa mặt cho tỉnh táo để chuẩn bị đón nhận những giây phút quí báu sắp đến...

    "
    Buổi sáng hôm sau (ngày Thứ Tư) mình gặp nhau thì anh đã biết rồi. Khi chia tay, em còn đứng nhìn anh đi vào trại cho đến khi khuất hẳn mới thôi. Kể ra thì anh cũng liều mạng thật, trong số bốn cặp thăm nuôi, chỉ có một mình anh là dám ôm hôn từ giã em, còn những người kia chỉ thấy cầm tay nhau từ giã thôi đấy. Em thấy được an ủi phần nào vì dù sao thì em cũng còn hơn họ, được hưởng một chút hơi nóng từ anh truyền sang. Em vào chuẩn bị ra về cho kịp chuyến xe kẻo lại phải ngủ đêm tại trạm xe thì khốn. Ba bà kia thì còn nấn ná lại đến hôm sau mới về vì họ còn hy vọng rằng ngày hôm sau may ra có thể được lén lút gặp chồng lần nữa nếu họ có đi lao động qua nhà thăm nuôi (Ghi chú: chuyện này cũng thỉnh thoảng xảy ra).

    "Trên đường đi vào trại còn có người gánh đồ đi cùng em. Bây giờ trở ra chỉ có một mình em đi trên con đường vắng, lòng đầy lo âu, không biết dọc đường có gì xảy ra không? Hai bên đường toàn là đồng trống, lác đác vài bụi cây nhỏ ở ven đường. Mỗi khi ngang qua một lùm cây mà nghe sột soạt là muốn đứng tim luôn. Khi nhìn thấy con chim hoặc con gà rừng chạy thì mới biết tiếng sột soạt đó là do chúng gây ra. Vừa đi em vừa đọc kinh xin Đức Mẹ đưa em ra tới trạm xe bình yên.
    Cũng phải mất mấy tiếng mới ra tới trạm đón xe về Vĩnh Yên.

    "Ra tới nơi, hỏi thăm thì được biết là còn một chuyến chót từ Vĩnh Phú về Vĩnh Yên, chừng một tiếng nữa thì xe đi ngang đây, nhưng vẫn còn lo là không biết có còn chỗ trống cho mình lên không. Một tiếng trôi qua, xe đã tới, cũng may là chỉ có một mình em đón xe tại đây cho nên không phải giành giật. Xe ngừng lại cho em lên vì tụi lơ xe đón khách dọc đường thường được ăn cả cho nên chúng cứ nhét khách lên. Lúc đầu thì còn vướng vít vì không ai muốn co lại một chút cho kẻ mới lên nhưng xe chạy một lúc, lắc qua lắc lại là tự động nó dồn khách hàng lại, nhờ đó mà em có chỗ đứng về tới Vĩnh Yên.
    Xuống xe, em vội hỏi thăm người ta tới bến xe đi Hà Nội. Tới nơi thì hỡi ôi! Chuyến xe chót về Hà-Nội đã đi cách đây nửa tiếng rồi. Em lo quá, thế này thì lại phải ngủ qua đêm tại bến xe chờ ngày mai. Mà ngày mai đã chắc gì mua được vé xe để đi!

    "Em chợt nhìn thấy có mấy chị, ăn mặc có vẻ dân Sài-Gòn, em đi tới hỏi thì… đúng rồi, mấy chị này cũng đang ảo não vì không mua được vé xe đi Hà Nội. Trong ba chị thì hai chị đã phải ngủ tại nhà trọ ở đây hai đêm rồi. Chị thứ ba thì mới ngủ lại một đêm thôi. Ba chị đều đi thăm chồng như em nhưng các chị ấy nói là phải đi vào xa hơn trại Vĩnh Quang B (Ghi chú: có lẽ là các trại K… ở Tân Lập, cũng thuộc tỉnh Vĩnh Phú)
    Em nhập bọn với ba chị đó, rồi rủ nhau vào quán cơm kiếm chút gì ăn dằn bụng để lấy sức rồi tính sau. Chúng em đang uống cà phê thì có một cái xe từ hướng Vĩnh Phú trờ tới trước quán, ngừng lại. Có tất cả 4 người vào quán kêu cà phê uống, em thấy ba người trạc tuổi em và một lớn tuổi hơn và ăn mặc xập xệ hơn ba người kia, chắc ông này là tài xế, còn ba người kia là viên chức của ngân hàng, vì bên hông xe có ghi chữ “Ngân Hàng Hà Nội”.

    "Vừa ngồi vào bàn, họ liếc sang bàn em, họ nháy nhau và mấy cặp mắt hau háu nhìn vế phía em. Em nghĩ bụng bọn này muốn dê mình đây và em nghĩ ngay đây là dấu chỉ tốt để mình dễ dàng tới nói chuyện với họ. Em nhờ chị bạn ngồi cạnh trông giùm em cái túi xách, rồi em cầm ly cà phê của em sang bàn của họ. Em chào họ và xin phép được ngồi nói chuyện với họ, dĩ nhiên là họ vui vẻ đồng ý và lăng xăng kéo ghế cho em ngồi. Chắc trong bụng họ đang mừng vì không ngờ “mỡ” lại chạy tới ngay miệng “mèo”. Em cứ tỉnh bơ và hỏi thăm họ đi về đâu. Họ nói rằng họ ở Hà Nội đi công tác tại Vĩnh Phú, bây giờ xong công tác thì trở về Hà Nội, nhân tiện dừng ở đây để uống nước. Em chụp ngay lấy cơ hội và xin họ cho nhóm bốn người tụi em quá giang, “Chúng tôi sẽ bồi hoàn tiền xăng cho các anh.” Ba người trẻ tuổi tỏ vẻ ngại ngùng khi nói đến tiền bạc với một “người đẹp” mà họ đang muốn dê. Vì thế họ đẩy cho ông tài xế thương lượng với em. Ông tài xế đòi 135 đồng một người (trong khi giá vé xe đò là 80 đồng thôi). Em bảo ông chờ em về hội ý với mấy chị bạn rồi trở qua cho ông biết.

    "Ba bà bạn đồng hành mừng quá. Một bà trong đám nói, “Bi nhiêu thì bi miễn là đêm nay mình về được Hà Nội là phước rồi, tôi đã phải ngủ trọ ở đây hai đêm rồi, nhà trọ thì bẩn thỉu mà rệp thì quá nhiều, rồi ngày mai đã chắc gì mình mua được vé xe chưa, ngay cả vé chợ đen cũng chẳng biết đâu mà mua và đã chắc gì rẻ hơn 135 đồng, chị sang bảo với họ là tụi này đồng ý.”
    Em trở lại bàn của họ và cho biết rằng bọn em đã đồng ý. Họ nói rằng xe không có ghế ngồi, “Phiền các chị kiếm cái gì trải ra sàn xe mà ngồi, và chúng tôi chỉ có thể bỏ các chị xuống trước cửa nhà bưu điện, các chị phải mướn xe xích lô chở về khách sạn, các chị chuẩn bị sẵn sàng đi, khi nào chúng tôi uống nước xong thì đi, chừng 15 phút nữa thôi.” Em nói không sao miễn là chúng tôi về được Hà Nội đêm nay là tốt rồi. Em ngồi lại nói dăm ba chuyện bâng quơ cho phải phép, sau đó chào họ để trở lại bàn của bọn em, ăn vội vàng đĩa cơm đang chờ mình. Các chị kia thì đã ăn xong và đang đi kiếm giấy để trải lên sàn xe sau khi nghe em nói là xe không có ghế.

    "Xe về đến Hà Nội vào khoảng gần 11 giờ đêm. Khi trả tiền xe thì một trong ba chị nhận trả luôn cho em vì chị nói nếu không có em thì làm sao mà có mặt ở Hà Nội đêm nay. Bọn em mướn xích lô về khách sạn của mình. Có hai chị cùng ở một khách sạn với em nhưng khác phòng. Chúng em hẹn nhau sáng hôm sau (ngày Thứ Năm) sẽ gặp lại nhau đi ăn sáng để có dịp chuyện trò thêm trước khi chia tay. Vào tới phòng khách sạn, em tắm rửa vội vàng rồi đi ngủ - một giấc ngủ thật bình an vì hết còn phải lo lắng gì nữa rồi. Em ngủ như chết nếu không có chị giúp việc khách sạn đánh thức. Đêm hôm qua, trước khi lên phòng ngủ, em có nhờ quản khách sạn cho người đánh thức nếu 8 giờ sáng chưa thấy em dậy.

    "Em vội vàng làm vệ sinh cá nhân rồi xuống phòng đợi để chờ mấy chị kia tới.
    Cái chị mà hôm qua trả tiền xe cho em, không ở cùng khách sạn. Chị ở một khách sạn khác nhưng cũng gần chỗ chúng em. Chị tới và chúng em dẫn nhau đi ăn sáng. Chị có cửa tiệm lớn bán đồ phụ tùng xe đạp ở Sài-Gòn cho nên tiền bạc của chị rủng rỉnh lắm. Chị còn cho em mượn thêm 5 phân vàng (tính ra thành tiền rồi đưa cho em) vì chị biết em không còn tiền. Nhờ vậy mà đến chiều em mới có thêm tiền mua quà biếu hai vợ chồng cậu em bà X. Khoảng hai giờ chiều thì cậu em bà X tới vì cậu ấy nhắm chừng là giờ này em đã có mặt ở Hà Nội rồi. Cậu cho biết hãng Hàng Không Việt Nam đã đổi lịch trình bay. Họ thông báo là chuyến bay ngày Thứ Bảy bị hủy bỏ vì dự báo thời tiết xấu. Vé của em đã được đổi lại để về Sài-Gòn sáng Thứ Sáu, sớm hơn dự định một ngày.

    "Như vậy là em chỉ còn phải ngủ lại ở Hà Nội có một đêm nữa thôi. Cậu ấy mời em chiều nay sau năm giờ đi ăn bánh tôm Tây Hồ với vợ chồng cậu ấy, và nhân tiện đi thăm hồ Hoàn Kiếm một thể. Sau khi cậu ấy rời khách sạn, em phải gấp rút đi mua ít quà cho vợ chồng con cái của cậu ấy trước khi cậu ấy tới đón em đi ăn. Bánh tôm Hồ Tây được coi là một món đặc biệt của Hà-Nội nhưng em ăn cũng chẳng có gì đặc sắc cả. Có thể trước năm 1954 thì nó ngon nhưng từ ngày có “bác hồ” cai trị Miền Bắc thì nó đã bị biến chất đi rồi. Ăn xong thì chúng em đi dạo xem hồ Hoàn Kiếm, chụp ít kiểu hình để kỷ niệm một chuyến thăm nuôi hi hữu.


    "Sáng sớm ngày Thứ Sáu, cậu em bà X đi một mình bằng xe Honda (?) tới chở em ra trạm xe buýt của Hàng Không Việt Nam ở hồ Hoàn Kiếm để ra phi trường Nội Bài, về Sài-Gòn. Chiều Thứ Sáu là em đã có mặt ở nhà. Tính ra chỉ mất có 5 ngày cho một chuyến đi ra Bắc. Nhiều người mới nghe tin em đi Bắc hôm Thứ Hai, mà hôm nay lại thấy em ở nhà thì rất ngạc nhiên. Chắc hẳn họ nghĩ rằng em nói xạo. Còn mấy bà chị của anh thì đi rêu rao với chòm xóm là “Nó đi du hí với trai, chứ đi ra Bắc gì mà chỉ có mấy ngày, thăm nuôi gì cái ngữ ấy!”
    Vợ tôi còn đang say sưa kể chuyện thì bị tôi đặt một nụ hôn nồng nàn lên môi và chúng tôi đưa nhau lên đỉnh Vu Sơn…


    5.28. Bộ ba “cải thiện”

    Miền Nam trước 1975 cũng xài chữ “cải thiện” với một nghĩa nguyên thủy của nó là làm cho cái gì đang có trở nên tốt hơn. Sau khi Việt Cộng chiếm Miền Nam, chữ “cải thiện” vẫn được dùng nhưng ý nghĩa của nó thì đã biến đổi. Họ thường dùng nó với ý nghĩa xấu nhiều hơn. Nhất là ở trong trại tù thì hai chữ “cải thiện” ghép thêm với “linh tinh” thành ra một thành ngữ mới là “cải thiện linh tinh” - đồng nghĩa với lượm lặt những gì có thể ăn được hoặc ăn trộm, lấy cắp (khoai, sắn… của trại). Ít khi chúng tôi hoặc bọn Việt Cộng dùng cả bốn chữ, mà chỉ gọi ngắn gọn là “cải thiện” thôi.

    Để chuẩn bị nhổ sắn (khoai mì) trộm của trại, bọn ba người chúng tôi lập thành một nhóm, mỗi người một nhiệm vụ. Cả ba phải hoàn thành nhiệm vụ của mình ngon lành thì mới không bị bể kế hoạch. Nếu bị phát giác thì sẽ bị cùm chân trong nhà đá như chơi, giá tối thiểu là một tuần lễ, và nếu không may bị trại nâng lên thành tội “phá hoại tài sản Xã Hội Chủ Nghĩa” thì có thể phải nằm nhà đá cả tháng không chừng. Bộ ba gồm có Nguyễn Văn Vượng (Vượng sún) được giao cho nhiệm vụ làm tiền sát viên, đứng canh chừng và ra dấu tiến lùi; Nguyễn Văn Dũng (Dũng khấc) có nhiệm vụ đi thâu lượm “chiến lợi phẩm”, đem về dấu nơi kín đáo để lấy ra ăn dần mỗi ngày; tôi phụ trách công tác xung kích (nhổ trộm sắn cho vào bao rồi ém vào một chỗ để Dũng khấc tới lấy).

    Nhà lô của đội tôi được cất dưới chân đồi sắn. Cửa nhà lô nhìn ra khắp khu vực canh tác của đội. Vách sau nhà lô không có cửa sổ. Vào giữa buổi lao động, đội được nghỉ giải lao 15 phút. Vì không có đồng hồ cho nên quản giáo thường co giãn giờ giải lao, thường là 30 phút mới làm việc lại. Trong giờ giải lao, chúng tôi xúm lại chỗ nấu nước để hút thuốc lào, nghỉ ngơi hoặc tán gẫu với nhau. Còn quản giáo và hai tên công an bảo vệ thì vào nhà lô để tránh nắng, hút thuốc lào và tán gẫu với nhau cho đến khi nào hết giờ giải lao mới ra khỏi nhà lô vì chúng tin rằng ở ngoài đã có đội trưởng cùng ngồi giải lao với chúng tôi rồi.

    Thời gian này, tôi thấy đồi sắn sau nhà lô đã có củ lớn. Tôi quan sát để biết thói quen của bọn Việt Cộng, sau đó bàn với Dũng khấc (phụ trách nấu nước uống cho đội) đem nồi niêu soong chảo và đặt bếp nấu nước phía trước và cách nhà lô chừng 50 mét (hơn 150 ft), chọn vị trí nào mà từ bếp có thể nhìn thấy cửa nhà lô. Vượng sún cũng phải chọn một tảng đá nào gần ngay bếp, cũng phải nhìn rõ hoạt động trước cửa nhà lô và cũng để cho người trên đồi có thể thấy rõ mình. Tôi chuẩn bị sẵn một bao tải (loại đựng gạo 100 lbs) để hành sự. Ngày hành sự, sau khi vừa có lệnh nghỉ giải lao, Vượng sún và tôi lẹ làng tới bếp uống nước và hút thuốc lào rồi ngồi chờ dăm ba người khác kéo đến bao quanh bếp. Tôi làm bộ vác cuốc đi cầu (chúng tôi đi cầu bằng cách tìm chỗ khuất, dùng cuốc đào một cái lỗ để ngồi trên đó, khi xong việc thì dùng cuốc lấp hố lại; giấy vệ sinh là bất cứ thứ lá gì ở gần chỗ mình ngồi, nếu không may gặp phải thứ lá ngứa thì ráng chịu, phải chờ đến khi nghỉ việc xuống suối tắm rửa may ra mới hết).

    Vượng sún làm bộ kéo bất cứ ai đó trong đội ra chỗ “đài quan sát” đã lựa sẵn, giả vờ nói chuyện với anh ta (mà chính anh ta cũng không biết rằng mình đang là cái bình phong cho Vượng sún). Miệng nói chuyện nhưng mắt Vượng sún phải luôn luôn quan sát nhà lô. Nếu thấy tên công an nào ra khỏi nhà lô thì Vượng sún chỉ cần bỏ nón xuống. Khi nào vô sự thì Vượng sún lại đội nón lên đầu. Tôi cũng luôn luôn nhìn Vượng để biết khi nào an toàn, khi nào không. Sau khi tôi rời bếp, tới chỗ mà không ai ở bếp còn thấy tôi, tôi leo lên gần đỉnh đồi phía sau và ở bên kia nhà lô. Tôi dùng tay bẻ gẫy thân cây sắn, chừa lại đoạn gốc dài chừng hai gang tay để có chỗ cầm mà nhổ gốc sắn lên. Bẻ xong một gốc, tôi từ từ đưa cây sắn sang bên cạnh và hạ nó xuống đất, đồng thời dùng sức ấn mạnh thân cây sắn xuống đất. Làm như vậy, người đứng ở xa khó có thể nhận biết có người đang hoạt động ở đấy. Rồi, tôi dùng cuốc cào cào lớp đất cứng bao quanh gốc sắn, sau đó lấy tay lay lay gốc sắn cho lỏng ra và nhổ cả chùm củ sắn lên. Đất đồi sắn không cứng và còn mầu mỡ cho nên mỗi gốc sắn có nhiều củ lớn. Cứ thế tôi nhổ chừng 5 gốc là đã được 2/3 bao tải. Nói thì lâu nhưng làm thì phải rất lẹ mới kịp. Tôi quyết định ngưng, cột miệng bao tải để chuyển xuống dưới. Thấy Vượng sún vẫn đứng nói chuyện bình thản, đó là dấu hiệu an toàn. Tôi kéo bao xuống chân đồi, dấu vào một lùm cây và đánh dấu để cho Dũng khấc làm phận sự của mình. Tôi vác cuốc trở về bếp mà không ai nghi ngờ gì cả. Chỉ có một người nói đùa, “Thằng cha Thái hôm nay táo bón hay sao mà đi lâu dữ vậy?” Tôi đáp lại, “Đúng là bị táo bón, bạn nào còn thuốc táo bón cho xin vài viên kẻo ngày mai mà còn bị nữa thì chắc là lòi dom ra luôn.”

    Vượng sún cũng bỏ “đài quan sát” trở lại bếp hút gỡ một bi thuốc lào trước khi trở ra làm việc. Tôi là người sau chót rời bếp lửa để còn chỉ chỗ ém sắn cho Dũng khấc. Cả đội trở lại chỗ làm để tiếp tục công việc bỏ dở. Công an quản giáo và bảo vệ cũng đi ra theo. Lúc này là lúc Dũng khấc hành sự (một cách ung dung). Chàng thu dọn nồi niêu soong chảo cho gọn ghẽ, chỉ để đống lửa cho đội hút thuốc lào. Xong xuôi, chàng quẩy quang gánh đi kiếm củi như thường lệ để dùng cho ngày hôm sau. Tuy nhiên, lần này chỉ có vài cọng củi để ngụy trang, còn bên dưới hai sọt là sắn mà tôi vừa nhổ lên. Chàng đem về dấu vào một nơi kín đáo để lấy ra ăn dần. Mỗi ngày Dũng khấc lấy ra mấy củ, lột vỏ, bỏ vào lon gô luộc sẵn. Tôi và Vượng sún, tùy theo tình hình, tới bếp lấy ra ăn. Một lần nhổ trộm như vậy có thể ăn được vài ba tuần lễ cho cả ba người bọn tôi. Mà, đây cũng là lần duy nhất. Chúng tôi không dám tiếp tục vì rất nguy hiểm như câu tục ngữ ta thường nghe, “Đi đêm lắm thì thế nào cũng có lần gặp ma.” (còn tiếp)

  14. #34
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)
    5.29. Những ngày chót ở Vĩnh Quang B
    Thấm thoắt chúng tôi đã ở Vĩnh Quang B được hơn hai năm rồi, đã trải qua nhiều cảnh sống tù đầy ở đây, đau khổ và buồn phiền nhiều hơn là vui. Chúng tôi cũng đã “lì đòn” rồi, cứ để cho con tạo xoay vần, lúc nào đùa giỡn được với bạn bè thì cứ đùa giỡn, không còn ngày đêm trông mong ngày về với gia đình như vài ba năm đầu nữa. Chúng tôi cũng thừa biết rằng Việt Cộng không bao giờ giam giữ tù ở một chỗ nào lâu vì chúng sợ rằng ở lâu một nơi sẽ tạo cho tù nhân quen biết nhau, quen đường đi nước bước thì dễ có những vụ trốn trại hoặc chống đối v.v…

    Thời gian hơn hai năm đã đủ để chúng chuyển chúng tôi đi nơi khác với mục đích xáo trộn lại để tách rời những mối liên hệ chặt chẽ đã hình thành trong chúng tôi. Chừng một tháng trước ngày chuyển trại, chúng tôi thấy đã có những dấu hiệu đó rồi: Đội làm mộc (thường hay có những cán bộ nhờ đóng đồ riêng cho cá nhân mình như tủ nhỏ, bàn, ghế, rương) bỗng nhiên nhận được những yêu cầu làm cho xong càng sớm càng tốt, trễ lắm là vào ngày D. Đội nhà bếp thì kho gần hết gạo mà không thấy chở đến thêm. Đội trồng rau (Việt Cộng gọi là rau xanh) thì không thấy kế hoạch trồng thêm những thứ mà lẽ ra đã tới thời vụ phải trồng, chỉ phải vun bón tưới tắm cho những thứ đang có mà thôi. Các đội canh tác cũng vậy, chỉ còn phải lo công việc làm cỏ, vun xới cho những loại cây đang trồng, thỉnh thoảng một đội được giao công tác đào sắn về cho trại ăn. Những anh có hoa tay, thường hay được nhờ vả cưa/đục/khắc những con rồng, con phượng trên những cái lược, cái vòng đeo tay, cũng bị hối thúc làm cho xong trước ngày D.

    Ngoài ra, qua những câu chuyện mà chúng tôi bất chợt nghe được từ bọn công an nói với nhau, chúng tôi đoán rằng sẽ có chuyển trại nhưng không biết đi đâu. Còn chừng một tuần lễ trước khi chuyển trại thì sự việc dường như đã công khai. Chúng tôi chuẩn bị để di chuyển. Đa số chúng tôi bây giờ đồ đạc, nồi niêu soong chảo khá rủng rỉnh vì có thăm nuôi, do đó chúng tôi phải chuẩn bị đòn gánh để gánh, chứ không thể đeo trên lưng một cái ba lô như trước đây. Riêng tôi ít đồ nhưng vì có cái rương phải mang theo cho nên cũng phải gánh chứ không thể đeo rương sau lưng được. Đội tôi đi lao động ở ngoài nên kiếm đòn gánh rất dễ. Anh Vũ Đức Giang (thày dạy Anh Văn cho tôi) thuộc đội trồng rau, anh chỉ làm việc bên ngoài hàng rào trại cho nên không thể kiếm đòn gánh được. Anh Giang nhờ tôi kiếm cho anh một cái đòn gánh để chuẩn bị lên đường. Tưởng cũng nên nói thêm là nhờ có anh Giang mà tôi luôn được ăn một vài loại rau thơm mà anh trồng riêng. Và, nhất là thời gian trại trồng rau diếp, tôi không phải ăn rau diếp tưới phân người còn tươi với đầy giòi bọ bám trên lá/kẽ lá mà nhà bếp rửa không kỹ. Anh Giang trồng riêng mấy cây rau diếp và chỉ tưới bằng nước suối thôi. Cứ vài ngày anh lại đưa về một ít đủ để hai thày trò/anh em ăn với nhau.

    Một buổi sáng mà chúng tôi chờ đợi đã tới. Sau kẻng tập họp đi lao động, thay vì chúng tôi ra sân ngồi chờ xuất trại thì chúng tôi thấy bọn áo vàng, cả quản giáo và bảo vệ, xuống ngay trước cửa từng buồng và ra lệnh “mang hết đồ đạc ra kiểm kê” (chúng tôi thường gọi là bầy hàng). Đây là dịp chót để cho những tên quản giáo có lòng tham (mà hầu hết là tham) hốt hụi chót: Gặp những cái lược, cái vòng có trạm trổ rồng phượng, mà một vài anh làm để tặng vợ con, chúng tịch thu với lý do, “Đây là đồ kim khí, các anh không được phép giữ.”

    Khám đồ xong, chúng đọc danh sách, những người nào có tên thì đứng riêng ra một bên. Danh sách cũng khoảng ½ nhân số của bọn tôi. Chúng ra lệnh cho những người đó xếp thành hàng và dẫn ra khỏi trại, đi đâu không biết. Phân nửa còn lại, chúng phân chia tạm thời thành từng đội và chỉ định mỗi đội vào một buồng. Tôi thuộc thành phần ở lại nhưng biết rằng chúng tôi cũng sẽ đi trong một vài ngày sắp tới. Và đúng như dự đoán, một buổi sáng, hai ngày sau, chúng tôi được lệnh chuẩn bị di chuyển, lần này không có khám đồ nữa. Khi đã sẵn sàng, chúng tôi được dẫn ra khỏi trại, không có xe chở mà phải đi bộ. Do đó chúng tôi đoán rằng chúng tôi được đưa ra trại Vĩnh Quang A vì trại Vĩnh Quang A chỉ cách chúng tôi gần một giờ đi bộ. Thôi nhé vĩnh biệt Vĩnh Quang B.



    Chương 6

    Trại Vĩnh Quang A, huyện Tam Đảo,
    tỉnh Vĩnh Phú

    6.1. Những ngày đầu ở Vĩnh Quang A

    Trại Vĩnh Quang có ba phân trại, được đặt tên là A, B, và C. Tôi có nghe bọn tù hình sự nói với nhau về Trại C một vài lần nhưng chưa nghe bọn công an chính thức nói ra điều ấy. Hiện nay chỉ còn lại hai Trại A và B mà thôi. Trong hai trại thì A là trại chính, cơ quan đầu não của trại nằm tại đây. Ai muốn xin giấy tờ xác nhận điều gì, phải tới Trại A để lấy chữ ký và con dấu của trại mặc dù chồng con đang bị giam giữ ở Trại B. Ngày vợ tôi ra Trại B thăm tôi, cần xin chữ ký và con dấu xác nhận trên đơn “Đồng ý cho bán nhà” của tôi, Trại B không có quyền ký và chỉ dẫn cho vợ tôi phải mang đơn ra Trại A. Vì vợ tôi chỉ đi có một mình và cũng không biết đường đi Trại A nên đành bỏ cuộc.

    Trại A nằm trên một khu đất rộng, nhà cửa xây bằng gạch và mái lợp ngói. Xung quanh trại có tường gạch cao 2 mét (7 ft). Xung quanh mỗi buồng nhốt tù cũng có tường gạch cao 2 mét. Trại A cũng vừa có chừng một nửa nhân số chuyển đi nơi khác. Nhóm Trại B của chúng tôi tới đây để lấp vào chỗ trống đó. Chúng tôi được chia ra thành từng đội, mỗi đội ở vào một buồng. Đội tôi hơn 90% là dân Trại B chuyển sang, chỉ vài ba người cũ của Trại A nhập chung vào mà thôi, trong số đó tôi chỉ nhớ được một người là anh Nguyễn Quang Ngọ. Anh Ngọ được trại giao cho làm đội trưởng. Ngọ là thiếu tá, thuộc loại chịu chơi. Ngọ được chọn làm đội trưởng một cách ngẫu nhiên, không dựa theo tiêu chuẩn nào cả. Bọn Việt Cộng đã có kế hoạch đưa hết tù Miền Nam đi nơi khác một ngày gần đây cho nên chúng không cần phải tuyển lựa những “thành phần tốt” để giao chức vụ. Anh Ngọ nằm trong số đó.

    Ngay buổi tối đầu tiên sinh hoạt đội, anh Ngọ nói với mọi người rằng, “Anh em mình cùng cảnh ngộ, nên đùm bọc nhau mà sống, xin đừng ai đâm sau lưng chiến sĩ, ở đội này không có đất sống cho mấy cây ăng ten đâu.” Chừng tuần lễ sau, Ngọ bị trại gọi lên hạch hỏi về lời tuyên bố của anh trước đội. Ngọ trả lời rằng, “Tôi không kêu gọi ai chống đối nhà nước cả, mà chỉ nhắc nhở anh em đoàn kết với nhau để có hoà khí trong đội, tôi nghĩ tôi không có lỗi gì cả, nếu cán bộ thấy tôi bất lực thì xin thay người khác.” Rồi Ngọ trở về đội tiếp tục công việc và chẳng thấy trại cho ai thay thế cả. Sau này Ngọ tìm ra người báo cáo là X. heo. Tôi cũng không hiểu tại sao mà đi đâu tôi cũng gặp X. heo, từ hồ Thác Bà, tới Vĩnh Quang B, rồi bây giờ Vĩnh Quang A.

    Anh Ngọ hiện giờ ở cách tôi 15 phút lái xe. Ngọ có cái hay là biết rất nhiều chuyện để nói, nói hoài không hết, nhờ vậy mà chúng tôi “mua vui cũng được một vài trống canh” (Nguyễn Du). Ngọ đang nghỉ hưu và thú vui hằng ngày là lên internet kiếm những hình ảnh đẹp và lạ để chuyển cho bạn bè cùng thưởng thức. Tôi cũng là một khách hàng thường xuyên của Ngọ, có ngày nhận cả 6-7 e-mail xem mệt nghỉ. Ngoài ra, anh Ngọ rất chịu khó tập bơi để giữ gìn sức khỏe. Ngọ cho biết mỗi ngày phải dành ra hai giờ để tập bơi. Đấy là nói về “bơi nước”, còn “bơi cạn” thì sức mấy mà tôi dám hỏi, lãnh cái búa sao? Nói theo kiểu Việt Cộng, thì sẽ bị anh Ngọ phang cho một câu, “Xen vào nội bộ của các nước khác” ngay. Thôi, “em chả” là an toàn xa lộ nhất, trừ khi anh Ngọ “thành thực khai báo với Cách Mạng.”

    Sau này về Nam Hà, tôi cũng ở cùng buồng với anh một thời gian. Vài tuần lễ đầu, đội tôi làm mấy công việc lặt vặt, chủ yếu là đi làm cỏ ở mấy đồi chè (trà) nằm phía trước mặt trại. Trại có một đội chuyên môn sao trà để kinh doanh. Tôi được chỉ định phụ tá cho anh Hiếu nấu nước uống cho đội ở ngoài bãi. Công việc của tôi là đi kiếm củi, nhân tiện hái (thoải mái) ít lá chè đem về nấu nước uống cho đội. Những năm tháng trước đây chúng tôi thường dùng lá chùm bao nấu uống thay cho trà. Bây giờ có chè tươi để nấu uống thì khoái lắm.

    Tôi đã từng có kinh nghiệm về việc uống nước chè tươi vì là dân “Bắc Kỳ ri cư 54” cho nên tôi chỉ uống ít thôi. Trong thời gian sinh sống tại Miền Nam, tôi vẫn được mẹ tôi cho uống nước chè tươi mà bà cụ hãm để uống hằng ngày. Hãm chè khác với nấu nước chè. Để hãm nước chè, mẹ tôi rửa sạch một ít lá chè tươi đủ cho một bình tích, sau đó vò nát lá chè ra rồi cho vào bình tích, nấu nước sôi đổ vào bình tích chừng 1/3 dung tích của bình rồi lắc lắc cho đều, sau đó gạn bỏ hết số nước ấy đi, công việc này gọi là làm lông chè, sau đó mới đổ nước sôi vào bình cho đầy và ủ trong một cái giỏ đan bằng tre có lót bông để giữ nhiệt. Ủ chừng 15-20 phút là có thể rót ra ly uống được rồi. Chè hãm uống ngon hơn chè nấu nhiều nhưng phải tốn công một chút.

    Tôi báo động cho những bạn người Nam, chưa có kinh nghiệm uống nước chè tươi, là không nên uống nhiều trong lúc bụng đói kẻo bị say đấy. Nhưng các bạn ấy gặp nước chè ngon, cứ uống thả giàn cho đã thèm mà không cần nghe lời báo động. Chỉ một lúc sau khi uống là mấy anh bị say ngất ngư, có anh còn bị ói mửa nữa vì buổi sáng bụng còn đói mà uống nhiều thì tránh sao khỏi say. Từ lần thứ hai trở đi, không còn ai bị say nước chè nữa. Tôi và Hiếu có ý nấu cho thật đầy thùng để các bạn có thể chứa vào lon gô đem vào trại dùng. Sau khi kiếm củi đủ dùng cho một ngày nấu nướng, tôi vẫn làm bộ đi kiếm củi nhưng đúng ra là lên đồi chè, hái những búp chè non đem về bếp, sao cho khô để dùng cho những ngày sau này. Trà tôi sao không đúng phương pháp cho nên ít thơm ngon như trà sao ở trong trại. Tuy nhiên, có còn hơn không, những ngày nghỉ cũng có trà để nhâm nhi cho quên sầu đời.

    Thời gian ở Vĩnh Quang A, chúng tôi còn được uống trà móc câu, trà đá lửa, do đội sao trà sản xuất. Muốn có trà chỉ cần móc nối với một người trung gian (tù hình sự) qua việc đổi chác quần áo, thuốc tây, hoặc mua bằng tiền là có ngay. Trại A, có một người tù hình sự (có lẽ được sự chấp thuận ngấm ngầm của cán bộ trại) chuyên lo về việc giao dịch đổi chác đồ đạc của tù với dân chúng sống gần trại. Vì thế chúng tôi muốn gì có nấy miễn là có tiền hoặc có đồ đạc hoặc thuốc tây. Uống trà vào những ngày nghỉ lao động cũng là một cái thú, một cách quên đi tình trạng tù đầy của mình, ít là trong chốc lát. Buổi sáng sớm ngày nghỉ việc, bắn một bi thuốc lào ba số tám (888) rồi chiêu một hớp nước trà nóng thì hết sẩy. Có nhiều anh phê quá, sùi bọt mép, lăn kềnh ra nền nhà. Nhưng vậy mà vẫn không chừa đâu, vì thế mới có câu, “Nhớ em như nhớ thuốc lào, đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên.”


    6.2. Người khách lạ
    Một buổi xế trưa ngày chủ nhật đầu tiên ở Vĩnh Quang A, một anh thuộc nhóm người cũ của Trại A đến buồng tìm gặp tôi. Tôi chưa từng quen biết anh này cho nên cũng hơi thắc mắc. Chắc anh cũng biết vậy cho nên anh lên tiếng trước, sau cái bắt tay xã giao:

    - Tôi là cháu họ xa của anh PBV và gọi anh V. bằng chú, xin lỗi có phải anh là Thái, bạn của anh V. không?
    - Đúng rồi, có chuyện gì liên quan đến anh V. không?
    - Chả là, khi anh V. còn ở đây với tôi, anh rất hay nói về anh và tỏ ra quí anh lắm. Tôi thắc mắc không hiểu anh có cái gì đặc biệt mà anh V. lại thích anh như vậy. Tôi vừa mới biết là anh có mặt trong nhóm người mới tới cho nên tôi muốn đến gặp anh để xem mặt mũi anh ra làm sao, thế thôi.
    - Bây giờ thì anh mãn nguyện rồi chứ? Tôi cũng có đầy đủ đầu, mình và chân tay như người ta thôi mà.
    - Tôi còn có một thắc mắc nữa là, tại sao hồi đó anh không tặng cho cô H. (em gái anh V.) một cái ba lô đeo trước ngực là mọi chuyện xong xuôi ngay. Tôi chắc chắn là ông già cô ấy còn phải năn nỉ để anh cưới con gái ổng.
    - Đối với đàn bà con gái, tôi là loại thỏ đế anh ạ, chưa gì đã đỏ mặt lên rồi. Vả lại, với H. thì tôi nghĩ rằng mình nên giữ gìn cho nàng, chờ đến ngày cưới cũng chẳng muộn gì cơ mà.
    - Nếu như anh cưới cô ấy thì bây giờ cô ấy đâu phải cảnh goá bụa! Nói xong, anh với tay lấy cái điếu cày, chuẩn bị bắn một bi thuốc lào.

    Một khúc phim dĩ vãng hiện ra trong đầu tôi…

    Ngày ấy, nhà tôi và nhà V. ở gần nhau. V và tôi thường đi đá banh với nhau. Chúng tôi học ngang lớp nhưng khác trường và khác ban. Anh V. ban A, tôi ban B cho nên môn toán của tôi trội hơn V. Vì thế tôi thường được em gái anh V. nhờ giải cho những bài toán khó. Cứ thế riết rồi chúng tôi thân nhau. Mẹ tôi và mẹ H. thấy vậy cũng muốn cho hai đứa nên vợ nên chồng. Ngày tôi sắp ra trường, mẹ tôi muốn cho chúng tôi làm đám cưới trước khi ra đơn vị. Mẹ tôi bảo, “Đi đâu có vợ có chồng, chứ cứ độc thân mãi rồi mày theo bè theo bạn hư thân đi.” Tôi cũng đồng ý vì lúc đó H. cũng vừa đậu xong Tú Tài 2.

    Một hôm về phép, tôi được biết là bố của H. không muốn cho chúng tôi cưới sớm vì “Nó chưa có công danh sự nghiệp gì, lấy gì mà ăn?” Tôi bị chạm tự ái nên tôi “nghỉ chơi” luôn.

    Bắn xong bi thuốc lào, sảng khoái rồi, và anh thấy đã thoả mãn sự tò mò rồi, anh bắt tay từ giã. Từ đó chẳng bao giờ tôi có dịp gặp lại anh vì chúng tôi ở hai buồng cách nhau rất xa. Vả lại, thời gian tôi ở Vĩnh Quang A chỉ chừng sáu tháng thôi. Thậm chí, lúc anh về, tôi cũng quên chưa hỏi tên anh là gì nữa. Chắc chắn anh cũng về Nam Hà cùng chuyến với tôi nhưng phân tán mỗi người mỗi buồng cho nên chúng tôi cũng quên nhau luôn.

    Anh ta đi rồi, dòng hồi tưởng của tôi lại tiếp tục. Mẹ H. và H. tự nhiên thấy tôi thay đổi thái độ thì rất thắc mắc, muốn biết rõ lý do thì tôi cho biết thẳng là vì bố của H nói như thế…như thế… Gần ba năm sau tôi cưới vợ, còn H thì lấy chồng sau khi con gái đầu của tôi đã được một tuổi. Lúc chưa cưới, thỉnh thoảng cô vẫn ghé nhà tôi, bồng ẵm con gái tôi. Tôi rất mừng khi nghe tin cô lấy chồng và người chồng của cô lại hơn tôi đủ mọi mặt, từ kiến thức đến cấp bậc và chức vụ. Bây giờ thì tôi biết chắc tôi hơn chồng của H. có một cái, đó là sống dai. Chồng của H. đã bị coi như là mất tích trong lúc di tản năm 1975. Vì thế mà người cháu họ anh V. mới nói, “Nếu như anh cưới cô ấy thì bây giờ cô ấy đâu phải cảnh goá bụa!”

    Tôi được thả, chừng một tháng sau thì H. biết tin. Vì thế cô nhờ thằng cháu chở đi “thăm mộ song thân” nhân tiện ghé thăm tôi (đường vào nghĩa trang đi ngang qua nhà tôi mà). Sau đó chừng một tháng, tôi được tin mấy mẹ con H. đã vượt biển, tới Phi bình an. Năm 1996 (?), anh V. cho tôi biết là H. đã tái giá. Một lần nữa tôi lại mừng cho H. vì bây giờ cô lại có người cùng chia sẻ vui buồn của cuộc sống.
    (còn tiếp)

  15. #35
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)
    6.3. Chăn trâu
    Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ…
    Bài ca dao “Chăn trâu” mà tôi, và chắc là nhiều người nữa, đã thuộc nằm lòng. “Sướng” có thể là đúng với bọn trẻ mục đồng thời xưa cơ, nhưng không đúng với một người tù đi chăn trâu cho trại. Chả thế mà anh Phạm Dư Chất đã tỏ ra không thích khi bị chỉ định đi chăn trâu.

    Sau vài tuần lễ làm công việc tạp dịch thì đã tới thời vụ trồng lúa nước cho trại. Đội tôi lãnh nhiệm vụ này, đội lập ra một tổ cầy bừa. Cầy bừa thì phải có trâu. Mỗi buổi sáng, một người trong tổ cày bừa đi lãnh trâu tại chuồng, đem ra ruộng làm việc. Buổi trưa, người và trâu được nghỉ. Cả đội về trại ăn cơm, còn trâu thì được trao cho một người dẫn đi ăn cỏ. Lúc này là lúc làm việc của người chăn trâu. Trước giờ nghỉ chừng 15 phút, người chăn trâu báo cáo ra cổng, tới chỗ đội đang làm việc, chờ khi đội nghỉ thì tới nhận trâu và dắt nó đi ăn cỏ trên những bãi cỏ gần trại, trong khoảng bán kính chừng 1,5 km. Tới giờ làm việc buổi chiều, khi đội ra tới nơi thì giao trâu cho tổ cày bừa và trở vào trại nghỉ. Buổi chiều khi gần tới giờ nghỉ, người chăn trâu lại báo cáo ra cổng, tới chỗ đội đang làm việc, nhận trâu từ tổ cày, dắt trâu đi ăn chừng 30-45 phút rồi đưa trâu về chuồng nhốt lại là xong một ngày làm việc của người chăn trâu. Người chăn trâu không có giấc ngủ trưa. Vì thế mà qua một ngày chăn trâu, anh Chất tỏ vẻ chán nản, hỏi xem có ai muốn đổi việc này với anh không.

    Tôi nhận lời đổi việc với anh vì tôi không có thói quen ngủ trưa. Ngoài ra, tôi nghĩ, một mình ở ngoài đồng buổi trưa cũng có cái lợi cho tôi: Vừa tránh phải lội xuống ruộng để bị đỉa cắn; đỉa ở đây nhiều như rươi mà tôi lại sợ đỉa mặc dù thời nhỏ cũng đã từng sinh sống ở miền quê; vừa có thời giờ đi kiếm rau cỏ để tăng cường cho bữa cơm trong ngày. Lại có thời giờ ngồi đọc báo mà không bị quấy rầy bởi những tiếng ồn xung quanh. Việc đổi công tác với nhau không gặp trở ngại. Anh Ngọ (đội trưởng) đồng ý miễn là có người phụ trách chăn trâu thôi.

    Tôi bắt đầu nhận công tác vào ngày hôm sau. Buổi trưa đầu tiên, không có gì trục trặc nhưng buổi chiều thì có chuyện ngay. Nhận trâu xong, tôi cho nó ăn cỏ chừng 30 phút, sau đó dắt nó về chuồng. Trên đường đi, có vài cái ao nhỏ, con trâu vụt chạy ngay xuống giữa ao và đầm mình ở đó. Tôi làm đủ cách nó vẫn không lên. Con trâu dang nắng cả ngày, bây giờ gặp nước thì nó thèm đầm mình dưới nước là phải. Tôi dùng những cục đất ném nó, chẳng khác gì gãi ngứa cho nó. Nó còn ngoảnh đầu lại nhìn tôi như thách thức. Lội xuống ao đuổi nó thì phải cởi bỏ quần áo, và tôi lại sợ đỉa cắn, mà đã chắc gì nó lên bờ cho. Tôi đành chịu thua nó, chờ cả gần một tiếng, khi cu cậu đã đủ đô, tôi mới dùng đất ném để thúc nó lên. Cuối cùng thì tôi cũng đưa được nó về chuồng nhốt lại. Tôi thở phào nhẹ nhõm vì cũng còn kịp giờ về trại ăn cơm trước khi khóa cửa buồng.

    Những lần sau, rút kinh nghiệm, khi dắt trâu về chuồng, tôi phải cho nó đi đường vòng, tránh đi gần mấy ao nước. Một hôm, tôi gặp một thằng bé nhà ở gần chỗ tôi thả trâu. Tôi gọi nó tới, cho nó bắn một bi thuốc lào ba số tám, đợi cho cu cậu hết phê, tôi đem chuyện con trâu “ba gai” (ba gai là tiếng Pháp đã Việt hoá từ lâu; pagaille = hỗn độn; nhưng dùng như tiếng lóng trong quân đội Liên Hiệp Pháp thì có nghĩa là bướng bỉnh, vô kỷ luật) ra kể và hỏi xem nó có đòn phép nào trị trâu không. Nó bảo rằng, “Dễ thôi nhưng chú phải cho cháu hút thuốc lào thì cháu mới nói.”

    Con nít ở vùng quê ngoài Bắc, cỡ 10 tuổi là biết hút thuốc lào rồi, nhìn nó ngồi hút thuốc lào còn sành điệu hơn cả bọn tôi nữa. Tôi bảo nó, “Gì chứ thuốc lào thì được, mỗi ngày ra gặp chú, chú sẽ cho hút, chứ không cho cháu mang về nhà đâu.” Tôi nói vậy là có ý dụ nó ra gặp tôi mỗi ngày để có thể nhờ vả nó mua dùm đồ ăn cho tôi hoặc cho các bạn của tôi khi cần. Nó nghe tôi nói vậy, chịu liền và bảo tôi, “Chú phải làm thế này…, thế này…là trị được nó ngay.”

    Tôi hứa, “Sau hai ngày mà chú trị được trâu thì chú sẽ thưởng cho cháu mười bi thuốc lào ngay một lúc, sau đó mỗi ngày chú cho cháu hút một bi nữa.” Buổi chiều ngày hôm sau, khi đi ra nhận trâu, tôi kiếm một cái gậy tre to cỡ bằng cái cán cuốc thay vì cái roi tre nhỏ như thường lệ. Cho trâu ăn chừng 30 phút rồi dẫn trâu về chuồng. Dĩ nhiên là tôi vẫn phải cho nó đi đường vòng để tránh xa mấy cái ao. Cho trâu vào chuồng xong, tôi cột sợi dây dắt trâu cho cái mũi nó gần sát với cột để tránh cho nó phá chuồng chạy ra ngoài.

    Các cụ ta ngày xưa đã tài tình khám phá ra một điểm yếu của trâu, bò. Đó là cái vách ngăn giữa hai lỗ mũi của chúng. Một khi bị đụng vô cái vách ngăn đó, trâu/bò cảm thấy đau đớn. Vì thế các cụ mới xỏ dây dắt trâu/bò qua cái vách ngăn mũi, nếu trâu đi theo sự điều khiển của người dắt thì nó không bị đau. Ngược lại, người chăn trâu chỉ việc giật giật sợi dây cho nó đi theo hướng mình muốn. Con trâu không muốn bị đau thì phải đi theo sự điều khiển của người chăn. Vì thế sau này mới có thành ngữ “bị xỏ mũi” để chỉ mấy ông chồng bị vợ điều khiển.

    Cột trâu xong xuôi, đứng ngoài chuồng, cầm cây gậy đánh vào sừng trâu, lần lượt từ sừng nọ sang sừng kia. Mỗi lần đánh, tôi hô đủ cho trâu nghe thôi “Chết nghe mày”. Tôi không dám hô lớn vì chuồng trâu ở gần nhà lô của quản giáo đội tôi. Tôi nện cho mỗi sừng chừng vài chục cái rồi trở về trại. Sừng trâu tuy cứng nhưng sức đánh của cây gậy dội xuống chân sừng (chỗ giáp với xương sọ) làm cho nó đau đớn. Cứ thế tôi đánh nó hai ngày liền. Sang chiều ngày thứ ba, tôi muốn thử xem kết quả của hai ngày huấn luyện ra sao. Hôm nay, chỉ sau 5 phút cho ăn cỏ, tôi dẫn nó về chuồng trên đường đi qua mấy cái ao. Tôi cho nó ăn cỏ 5 phút vì phải trừ hao, sợ rằng nó lại phóng xuống ao, đầm mình, thì khi nó trở lên bờ về chuồng, tôi vẫn không phải vào trại trễ như lần trước. Đi ngang qua ao, cu cậu có vẻ như muốn phóng xuống ao, tôi cầm dây giật giật cho mũi nó hướng xa ao nước và miệng tôi hô “chết nghe mày”. Chỉ cần nghe tiếng “chết nghe mày” là nó bỏ ngay ý định phóng xuống ao và ngoan ngoãn đi về chuồng. Tuy hôm nay không ba gai nhưng tôi vẫn nện thêm cho nó một trận như hai hôm trước rồi mới trở vào trại. Thấy cách dậy trâu có kết quả, trưa hôm sau gặp thằng bé, tôi cho nó 10 bi thuốc lào như đã hứa.

    Tôi nói:
    - Chú chưa biết tên cháu là gì nhưng điều đó không cần. Kể từ nay chú gọi tên cháu là thằng cu Đinh.
    - ???
    - Thằng cu có nghĩa là thằng bé, Đinh là tên của cháu vì chú coi cháu như là con cháu của vua Đinh Tiên Hoàng của ta hồi xửa hồi xưa ấy mà. Cháu có biết vua Đinh Tiên Hoàng không?
    - Cháu không biết.
    - Thế cháu có biết ông Đinh Bộ Lĩnh không?
    - Cháu không biết.
    - Thế cháu học lớp mấy rồi?
    - Cháu học lớp 4

    Tôi nghĩ thầm, nó học lớp bốn mà chẳng biết gì về Vua Đinh Tiên Hoàng thì cũng chẳng lạ vì bây giờ “bác và đảng” chỉ chú tâm nhồi nhét vào đầu bọn trẻ cái chủ nghĩa Cộng Sản chết tiệt, Các Mác – Lê Nin và các anh hùng tưởng tượng như Lê Văn Tám v.v…mà thôi. Tôi bèn giảng cho nó rằng ông Đinh Bộ Lĩnh hồi còn nhỏ đi chăn trâu, ông thường dùng bông lau làm cờ và chia bọn trẻ ra làm hai phe đánh trận giả. Ông và các bạn của ông đều cỡi trâu xung trận. Do đó ông có tài dậy trâu lúc nào tiến, lúc nào lùi, lúc nào húc phải, lúc nào húc trái và kết luận, “Cháu cũng biết cách dậy trâu như đã chỉ cho chú, vậy thì cháu xứng đáng làm con cháu của vua Đinh Tiên Hoàng rồi đó, nhớ từ nay chú gọi cháu là thằng cu Đinh nghe chưa?”

    Nó hỏi:
    -Thế tên chú là gì?
    -Chú chăn trâu thì cháu cứ gọi chú là chú Trâu nghe chưa?

    Thằng cu Đinh có vẻ ghiền thuốc lào ba số tám của tôi rồì. Trưa nào nó cũng phải ra gặp tôi để được hút một điếu thuốc lào. Xin đừng kết án tôi là dụ dỗ con nít vào đường nghiện ngập, thì oan cho tôi lắm. Con trai miền quê ngoài Bắc, cỡ 9-10 tuổi là đứa nào cũng biết hút thuốc lào rồi. Người ta coi đó là chuyện hiển nhiên thôi, chứ không như ở Mỹ bây giờ dưới 18 tuổi là không được phép hút thuốc.

    Một buổi trưa, khi cu Đinh thấy tôi dắt trâu ra ăn cỏ, nó đi về hướng tôi và dường như nó đang kéo một vật gì hơi nặng theo nó. Khi tới cách tôi khoảng 50 mét (chừng 160 ft), nó nói lớn, “Chú Trâu lại đây xem cái này này.” Tôi đi tới gần nó thì mới biết nó kéo một con rắn dài hơn một sải tay, mình rắn lớn bằng cái cán cuốc. Tôi không biết nó là loại rắn gì nhưng biết nó là thứ không độc vì tôi còn nhớ hồi còn nhỏ học khoa học thường thức, được dậy cách phân biệt rắn độc và rắn không độc bằng cách nhìn mấy hình tam giác trên đầu rắn. Rắn độc có hình tam giác nhỏ, còn loại không độc thì có hình tam giác lớn. Mà, độc hay không độc cũng chẳng nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ đó, cứ chặt bỏ đi khúc đầu chừng 10 cm (4 inches) là an toàn rồi vì hạch nọc độc của rắn nằm dưới chân răng nanh của nó.

    Cu Đinh bảo tôi:
    - Cháu mới đánh được nó lúc nãy, cháu cho chú đấy, chú ăn được thịt rắn không?
    - Thịt quỉ chú còn ăn được, chứ đừng nói rắn. Để đấy cho chú, bây giờ làm một điếu thuốc lào cho lại sức rồi nói chuyện sau.

    Gì chứ hút thuốc lào là cái mà nó đang thèm nhỏ dãi ra, làm gì có chuyện từ chối. Nó hút xong, tôi bẹo thêm cho nó độ chừng mươi bi nữa để trả công đánh rắn cho tôi. Khi tới giờ làm buổi chiều, tôi dắt trâu lại giao cho đội rồi đem rắn về trại. Hôm nay ở buồng còn có anh Trần Thái Đẹp nghỉ bệnh. Anh Đẹp thấy con rắn thì sáng mắt ra vì anh là dân Miền Nam chính hiệu và anh lại mê ăn thịt rắn. Anh Đẹp nói với tôi, “Tôi có đậu xanh với một ít gia vị, để tôi nấu cháo rắn mình ăn nghe.” Tôi bằng lòng ngay và giao rắn cho anh làm.

    Phải công nhận anh Đẹp thật là tay thiện nghệ làm thịt rắn. Mới quay đi quay lại là đã thấy con rắn bị lột da trắng hếu rồi. Chúng tôi đồng ý với nhau là đợi khi nào vào buồng thì mới đem cháo rắn ra để nhóm tụi tôi (bốn, năm người) cùng ăn. Anh Đẹp còn cẩn thận hâm cho nồi cháo nóng lên trước khi bưng vào buồng, chờ giờ khoá cửa. Đây là lần đầu tiên (mà cũng có thể là duy nhất) trong đời, tôi được ăn cháo rắn. Mà lại ăn trong tình trạng bụng đói, cơ thể đang thiếu nhiều chất dinh dưỡng cho nên tôi có cảm giác là hương vị thơm ngon tuyệt vời. Bây giờ nếu có ai mời ăn cháo rắn, chưa chắc tôi đã dám ăn. Đúng là “no ra (kiêu) ngạo” như trước đây mẹ tôi thường la mỗi lần tôi chê món ăn nào mà tôi không thích.

    Năm 2000, tôi có số điện thoại của anh Đẹp khi anh đang ở Denver. Tôi đã nói chuyện với anh được một lần. Sau này anh đổi số điện thoại thì mất liên lạc. Mới đây, tháng 12/2008, khi nói chuyện với anh Dương Ngọc Phú (cách nhà tôi chừng 25 phút lái xe), anh Phú cho biết là anh mới gặp anh Đẹp ở Houston. Anh Đẹp vẫn ở Denver nhưng về Houston chơi mươi ngày. Vì thế tôi lại có số điện thoại mới của anh và tôi gọi ngay cho anh. Hai chúng tôi chuyện trò với nhau rất lâu. Giọng nói của anh vẫn còn đầy đủ công lực. Anh cho biết tóc anh mới chỉ lốm đốm vài sợi bạc thôi; răng cỏ vẫn còn y nguyên. Qua cuộc chuyện trò, tôi thấy anh vẫn còn yêu đời lắm, không có dấu gì là bi quan yếm thế cả. Cũng mừng cho anh.

    Nhân tiện, tôi xin nhắc lại vài kỷ niệm với anh Đẹp:
    Ngày còn ở Vĩnh Quang B, khi vợ anh ra thăm, tôi nhờ anh chuyển lậu một lá thư cho vợ tôi. Nhờ anh nói với chị là khi về Sài-Gòn thì bỏ thư vào phong bì gửi cho vợ tôi. Anh vui vẻ nhận thư mặc dù anh thừa biết rằng, khi ra ngoài cổng trại, nếu bị phát giác là có mang thư lậu thì anh sẽ lãnh hậu quả. Nhẹ, thì bớt giờ gặp thân nhân. Nặng, thì không được gặp mặt mà chỉ được nhận đồ tiếp tế thôi. Khi tôi được thả về, vợ tôi kể lại là vợ anh Đẹp, mặc dù ở xa nhà tôi nhưng đã tới tận nhà gặp vợ tôi mà trao thư, chứ không gửi qua bưu điện như tôi đã dặn. Chị còn cho biết địa chỉ và dặn khi nào có thời giờ ghé nhà chị để biết ngày nào chị ra thăm anh Đẹp lần sau, chị sẵn sàng mang dùm cho một ít đồ. Vài tháng sau vợ tôi ghé nhà thì hỡi ôi, chị đã qua đời vì bạo bệnh!

    Ở trong trại, ít tháng sau, anh Đẹp cũng được tin vợ anh qua đời nhưng tôi không thấy anh biểu lộ sự đau buồn gì cả. Tôi sực nhớ có một câu nói của ai đó, rằng “Đời người đàn ông có hai lần vui: một lần là khi cưới vợ và một lần khi vợ chết”. Xin quí vị nữ lưu nếu có đọc bài này thì đừng chửi tôi là phường “bất nhân thất đức” nhé. Tôi không sáng chế ra câu này đâu. Có lẽ câu này do một người nào đó có vợ thuộc loại bà chằn chế ra. Đó là ở Việt Nam thời xưa cơ, còn bây giờ, nhất là ở Mỹ, nếu không chịu được nhau thì đưa nhau ra tòa là xong ngay, đâu cần phải đợi đến khi vợ chết. Mà, tôi chắc chắn là vợ anh Đẹp không phải loại đàn bà đó rồi. Có thể là anh Đẹp mang cùng một tâm trạng như tôi khi tôi được tin mẹ chết: Buồn khổ quá, không còn có thể khóc được.

    Mẹ tôi chết tháng sáu năm 1977, mãi tới tháng chín tôi mới nhận được thư báo tin trong lúc đang nằm nghỉ lấy sức trên đồi nứa ở hồ Thác Bà (Hoàng Liên Sơn). Tôi buồn quá nhưng tôi không khóc được. Tôi nghĩ rằng có lẽ chẳng bao lâu nữa tôi cũng sẽ gặp mẹ tôi ở dưới suối vàng thôi vì không thấy có chút hy vọng gì vào ngày trở về cùng gia đình mà sức khỏe thì càng ngày càng tồi tệ! Tôi miên man nghĩ về mẹ. Mẹ tôi trở bệnh nặng hơn hai tháng trước khi qua đời. Trong thời gian đó chắc hẳn mẹ tôi luôn luôn nghĩ đến ba đứa con trai đang trong cảnh tù đầy và buồn lắm.

    Không biết mẹ tôi có còn nhớ đến một câu “tiên tri” của bà hàng xóm ngày mới di cư vào Nam khi đang ở Xóm Mới, Gò Vấp? Bà hàng xóm biết coi tướng nhưng không phải là dân chuyên nghiệp. Một hôm bà sang chơi, bà cầm tay mẹ tôi lật qua lật lại, rồi nhìn kỹ lên mặt mẹ tôi một lúc và nói “Bà hiện giờ có bốn người con trai nhưng khi bà chết chẳng có gậy nào đâu.” Chữ “gậy” để chỉ người con trai vì theo phong tục Việt Nam thì khi mẹ chết, con trai phải chống gậy vông (gậy tre dùng cho đám tang cha) đi giật lùi trước quan tài mẹ. Khi bà về rồi, mẹ tôi bảo, “Làm gì có chuyện lạ như vây; không lẽ cả bốn đứa đều chết trước tao sao?” Bây giờ nhớ lại tôi thấy đúng là một câu nói tiên tri. Anh tôi chết vì tai nạn năm 1956. Còn ba anh em tôi đang bị tù thì làm sao mà hiện diện trong đám tang mẹ! Đang miên man suy nghĩ thì anh Lương Văn Quang hỏi “Thư có gì lạ không?” Tôi trả lời, “Mẹ tôi chết rồi.” Ngoài anh Quang ra, không ai trong đội biết tôi có tang lớn.

    (còn tiếp)
    Last edited by Satrung; 02-08-2013 at 04:09 AM.

  16. #36
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    Kỷ niệm thứ hai là, một hôm anh Đẹp đưa cho tôi một bộ đồ tù còn mới tinh vì anh không cần xài. Anh nhờ tôi đem đổi lấy mắm tôm. Giá bình thường là 2 kg mắm tôm cho một bộ đồ tù. Công việc trao đổi với thằng cu Đinh xong xuôi, tôi dắt trâu tới chỗ đội đang cầy dở buổi sáng, đồng thời đem mắm tôm cho anh Đẹp. Vừa thấy tôi anh Đẹp vội chạy lại hỏi tôi đã đổi bộ đồ của anh chưa. Anh cho biết hồi sáng có người dân lén tới khu làm việc của đội và đồng ý đổi 3 kg mắm tôm lấy bộ đồ. Tôi tiếc ngẩn ngơ, và anh thì còn hơn thế nữa vì như thế là mất tiêu nó 1 kg mắm chứ ít sao! Cả hai chúng tôi đều lắc đầu, ngán ngẩm cho cái thân tù tội mà còn gặp xui!

    Năm 2000, tôi nói chuyện với anh thì được biết anh sang đây với mấy đứa con của anh. Lúc đầu cha con anh ở Cali; vài năm sau anh lập gia đình với bà vợ hiện giờ. Các con anh đều đã lớn khôn, có gia đình và ở riêng rồi. Tội nghiệp mấy đứa con anh, khi mẹ chết là chúng phải lo tự lực cánh sinh để chờ ngày về của bố. Sau này, hai anh chị dời về Denver vì muốn ở gần với mấy người bạn thân cho có bạn nhậu những khi rảnh rỗi.


    6.4. Ăn nấm trứng
    Như thông lệ, trưa nay thằng cu Đinh ra gặp tôi, hút thuốc lào xong là hai “chú cháu” đi kiếm rau sam, rau dền cho tôi đem về trại. Nó tích cực làm việc lắm vì từ bữa nó cho tôi con rắn, mỗi ngày tôi cho nó hút hai bi thuốc lào, một bi hút “chào xuân” và một bi hút lúc nó sắp về nhà. Nhờ vậy, mỗi ngày tôi có một bịch rau đủ loại đem vào trại đủ để cho hai người ăn (Nguyễn Văn Diện và tôi). Từ ngày anh Lương Văn Quang chuyển trại (đi đâu không biết), tôi và Diện thường ngồi ăn cơm chung với nhau, cùng chia sẻ với nhau những gì mình có. Bỗng nhiên, thằng cu Đinh gọi tôi, “Chú Trâu ơi, lại đây xem cái này.” Tôi đi tới chỗ nó đang đứng, nó chỉ cho tôi một đám những viên tròn tròn to bằng trái banh bóng bàn, nằm rải rác trên đám cỏ thưa. Nó giải thích đây là nấm trứng vì nó giống như quả trứng gà.

    -Ăn được không?

    Nó nói, “Ăn được chứ chú, chú lấy về ăn đi, ngon lắm đấy; đêm hôm qua trời mưa cho nên sáng nay nấm mọc lên đấy.” Tin lời nó, tôi lấy hết số nấm đã mọc, cũng được khoảng vài kg. Thế là hôm nay tôi và Diện có một món ăn mới. Vì đây là lần đầu trong đời tôi biết nấm trứng, mặc dù cu Đinh nói là ăn được nhưng tôi cũng không dám liều mạng ăn nhiều ngay. Khi tôi giao trâu cho đội cày buổi chiều, trở vào trại, tôi luộc một cái nấm trứng ăn thử trước để thăm dò tình hình thế nào đã. Tôi còn cẩn thận dặn anh Trung (người trực buồng) rằng tôi ăn thử cái nấm trứng, nếu tôi có sùi bọt mép hay sao đó thì báo cho bệnh xá biết mà chữa. Ăn xong, tôi để ý xem có gì biến chuyển trong cơ thể không. Đến chiều, tới giờ đi nhận trâu đưa về chuồng, tôi vẫn không thấy gì lạ. Thế là tôi yên tâm. Số nấm trứng này sẽ được thanh toán gọn vào ngày hôm sau vì tôi biết rằng ngoài tôi và Diện ra, còn cần phải chia sẻ với mấy người bạn khác nữa. Từ hôm đó, thỉnh thoảng tôi vẫn lấy được nấm trứng về ăn. Nấm trứng ăn ngon hơn nấm rơm nhiều. Hay là tại vì trong lúc cơ thể thiếu chất dinh dưỡng mà mình có cảm tưởng như vậy thì tôi cũng không dám nói mạnh.


    6.5. Thuốc Tylenol trị bệnh lậu

    Một buổi trưa khác, cu Đinh hỏi tôi, “Chú có thuốc chữa bệnh đái ra mủ không?” Tôi hỏi ai đái ra mủ thì nó cho biết là anh nó (hai mươi tuổi) bị bệnh mấy hôm nay rồi. Tôi nghĩ ngay rằng anh nó bị bệnh hoa liễu rồi đây. Ở Miền Bắc, “nhờ có bác và đảng” đem lại nếp sống mới cho nên trai gái bầu bạn với nhau rất tự nhiên, không còn bị gò bó trong vòng lễ giáo như xưa nữa, tự do hành lạc bất cứ khi nào thuận tiện. Có điều là bọn chúng không rành về cách phòng bệnh cho nên bệnh phong tình rất phổ biến trong giới thanh niên, như anh thằng cu Đinh này.

    Bệnh đái ra mủ nếu có “bi” (Penicillin) thì chỉ cần vài ba hũ loại 1 triệu units là xong ngay (tôi nói với sự dè dặt đấy nhé, tôi không dám qua mặt mấy vị bác sĩ đâu, nếu có vị bác sĩ nào thấy sai thì xin cải chính dùm, đa tạ trước). Tôi không có thuốc trụ sinh. Tôi hẹn nó, “Hôm sau ra đây chú cho biết.” Tôi biết anh Hiếu có ít thuốc tây mà gia đình mới gửi cho. Tôi hỏi Hiếu, Hiếu không có “bi” nhưng Hiếu đưa ra một vỉ thuốc Tylenol dạng con nhộng. Trước 30/4/1075, tôi chưa từng biết Tylenol là thuốc gì; thuốc của Hiếu lại không có hộp cho nên cả hai đứa tụi tôi chẳng biết nó trị bệnh gì, mà đoán mò. Hiếu lý luận rằng:

    “Thuốc cảm thì nó thường có tên là Optalidon, Aspirine hay là Kalmine (Calmine?) và nó không có dạng con nhộng. Thường thường thì dạng con nhộng là thuốc trụ sinh. Dân Miền Bắc này ít có khi dùng trụ sinh, cơ thể họ chưa bị lờn thuốc cho nên cứ cho nó uống trụ sinh là hy vọng khỏi đấy. Tôi đưa cho ông 6 viên đổi lấy 1 kg mắm tôm nhé.” Hiếu ấn định là 6 viên vì ở vỏ kẽm của viên thuốc có ghi 500mg, nếu một ngày uống 2 viên thì được 1000mg rồi, 6 viên uống được ba ngày và nếu trúng thuốc thì sẽ có kết quả. Chúng tôi nghĩ vậy vì dựa theo câu nói của các cụ ngày xưa, rằng “Cơm ba bát, thuốc ba thang” (*) mà.

    (*) Giải thích thêm cho các bạn trẻ: Thang là chữ nói tắt của “thang thuốc”, là toa thuốc Bắc (herbs) gồm nhiều vị gộp chung lại để nấu (sắc thuốc) lấy nước cho bệnh nhân uống. Theo cách chung chung thì dùng ba bát (chén) nước lạnh đổ vào siêu (bình bằng đất nung) nấu chung với thuốc cho tới khi nước cạn còn đủ một bát là được rồi. Gạn nước thuốc ra, để nguội cho bệnh nhân uống; rồi lại đổ ba bát nước khác vào siêu để sắc lần thứ hai. Một thang thuốc dùng cho một ngày, và thường thường nó được nấu đi nấu lại vài ba lần.


    Trưa hôm sau tôi cho cu Đinh biết là có thuốc rồi và ra giá là 1 kg mắm tôm lấy 6 viên thuốc uống cho ba ngày. Nếu bằng lòng thì chiều nay khi tôi dắt trâu về chuồng, đem mắm ra đổi lấy thuốc. Công việc trao đổi xong xuôi, tôi cũng mong rằng “phước chủ lộc thày,” anh nó sẽ khỏi bệnh. Nhưng sau ba ngày uống thuốc, nó nói anh nó vẫn chưa hết bệnh mà cũng chẳng giảm chút nào. Tôi biết ngay Tylenol không phải là thuốc trụ sinh rồi. Tôi thấy ân hận trong lòng nhưng biết làm sao hơn! Tôi bèn chống chế, “Anh cháu chắc là bị nặng quá rồi cho nên thuốc đó không trị được, để chú hỏi xem ai có thuốc tốt hơn chú sẽ cho cháu biết.” Tôi bị mất uy tín với thằng cu Đinh cho nên từ đó về sau không khi nào nó hỏi tôi về thuốc nữa.


    6.6. Gánh nước

    Công việc cầy bừa coi như đã xong, chỉ còn chờ nhổ mạ lên, đem cấy thôi. Đội tôi không còn dùng trâu nữa. Con trâu trả lại cho trại để cho mấy người tù hình sự chăn dắt. Tôi không còn công tác chăn trâu nữa. Đội tôi sau khi cấy lúa thì chuyển sang trồng hoa mầu (đậu xanh chẳng hạn), thỉnh thoảng phải đi làm cỏ lúa và vun đắp bờ ruộng để cho ruộng lúa mọc tốt. Tôi được chỉ định làm công việc gánh nước cho đội. Trước tôi đã có một người phụ trách gánh nước nhưng anh này xin đổi vì không thích làm. Việc này đội trưởng có toàn quyền quyết định. Anh Ngọ hỏi tôi có đồng ý thì để tôi thay thế anh ấy (tôi quên mất tên người này). Tôi nghĩ bụng, việc gánh nước có nặng nề hơn đi chăn trâu nhưng vẫn có cơ hội lén lút mua bán đổi chác với dân và cũng có thể kiếm thêm rau cỏ được. Vì thế tôi nhận lời.

    Trung bình mỗi ngày phải gánh 30 gánh nước từ suối vào trại. Ở ngoài, đầu buồng ngủ có một cái bể xi măng lớn, cao hơn 1m và rộng cỡ 3 m x 1,5 m (4ft x 10ft x 5ft). Nước gánh về, đổ vào bể cho cả đội tắm rửa. Còn chuyện giặt giũ thì họ tự lo liệu trong lúc đi làm ở ngoài. Đường từ buồng tôi ra đến chỗ múc nước dài chừng 200 mét (660 ft). Tính ra một ngày tôi phải đi một đoạn đường dài 12 km (200m x 2 x 30 = 12000m = 8 miles) trong đó có 6 km (1/2 quãng đường) với gánh nước nặng trĩu trên vai. Những ngày nghỉ thì anh em trong đội chỉ có rửa ráy mà không tắm. Vì thế tôi chỉ cần gánh 15 đôi là đủ dùng rồi. Mỗi đội đều có một người gánh nước như tôi nhưng ít khi chúng tôi gặp nhau ở nơi múc nước vì giờ giấc làm việc của chúng tôi không giống nhau.

    Tuy nhiên tôi luôn luôn gặp một bé gái cỡ 11-12 tuổi lảng vảng ở bến nước. Bé gái này ngày nào cũng có mặt ở đó để gặp chúng tôi, mua bán trao đổi những thứ cần thiết. Tôi bắt đầu nghĩ cách để làm sao đưa đồ đạc ra vào mà tên lính canh cổng (ngồi trên chòi cao) không phát hiện ra được. Tôi kiếm một cái thùng thiếc hư, dàn phẳng ra, rồi cắt thành một hình tròn sao cho lọt vào trong thùng gánh nước, biến thùng nước thành ra thùng hai đáy. Đồ đạc mang ra hay mang vô đều được che phủ bằng cái đáy giả (mọi thứ đều phải bọc giấy nhựa để tránh ướt).Tên lính ngồi trên vọng gác không thế thấy được. Khi gánh nước vào trại, tôi còn lấy lá chuối thả trên mặt thùng nước để cho kín đáo hơn, nếu có ai nhìn qua thì chỉ nghĩ rằng lá chuối tôi dùng với mục đích là để cho nước khỏi bị sóng sánh. Anh em trong đội thường nhờ tôi mua hoặc đổi đồ đạc quần áo lấy đường, mắm tôm v.v… (nhiều nhất là mắm tôm vì dễ kiếm). Mỗi lần làm xong một “phi vụ” thì tôi cũng được hưởng chút đỉnh trong đó, chứ “công chùa” sao? Thường thường một tuần lễ tôi làm được vài ba “phi vụ”. Hôm nào không có gì đổi chác thì cũng đứng nói vài ba câu chuyện với cô bé. Có lần tôi hỏi nó:

    - Cháu tới đây gặp các chú hằng ngày mà không sợ các chú sao?

    Nó cười:

    - Lúc đầu, khi các chú mới ra Bắc, người ta dậy chúng cháu rằng các chú là những tên ác ôn, côn đồ; các chú hay ăn gan uống tiết trẻ con, cho nên chúng cháu phải căm thù và không được tới gần các chú.

    - Thế bây giờ cháu thấy họ nói có đúng không?

    - Chả đúng tí nào, các chú hiền lành và tử tế lắm. Ở gần nhà cháu có người bị ốm nặng, nhờ có một chú ở trại này cho thuốc Tây uống là hết liền. Mà sao thuốc của các chú hay quá vậy?

    - Thuốc của các chú được làm theo đúng liều lượng, và bệnh nào thuốc nấy, chứ đâu có như xuyên tâm liên, trị đủ thứ bệnh.

    - Bao giờ cháu ốm, chú cho cháu thuốc uống nhá.

    - Ừ, để tới đó hãy hay, chú đâu có biết đi, ở ngày nào đâu mà hứa. Thôi nhá, để chú gánh nước về trại, khi nào rảnh mình nói chuyện tiếp.

    Cũng giống như khi còn chăn trâu, gánh nước tạo cho tôi có cơ hội đi nhặt nhạnh bất cứ thứ gì có thể ăn được. Nhờ vậy, mỗi ngày tôi đều có một bịch đủ thứ rau như rau sam, rau dền, rau lang, lá và đọt bí ngô (bí đỏ) v.v… Đôi khi tôi cũng còn bắt được dăm ba con cua ở dưới suối. Những bữa cơm của tôi và anh Diện nhờ có rau tập tàng mà trở nên linh đình hơn. Đúng là “đói ăn rau, đau uống thuốc” mà.

    Những “phi vụ” mua bán đổi chác của tôi vẫn cất cánh và hạ cánh an toàn. Nhưng cái gì đã có vài ba người biết thì chẳng giữ kín được lâu. Tôi đã bị “ăng ten” báo cáo cho nên một hôm, tôi gánh nước vào tới cổng, dừng lại báo cáo rồi gánh tiếp vào buồng. Từ cổng trại vào tới cổng buồng (không phải cửa) tôi ở dài chừng 50 mét (hơn 150 ft). Xin nói rõ thêm, ngoài bức tường gạch cao 2 m bao quanh trại, mỗi buồng còn có tường bao xung quanh chỉ để hở một cổng nhỏ bề ngang chừng hơn một mét (4 ft). Vào bên trong cổng buồng thì mới tới buồng ngủ và sân sinh hoạt của tù. Cũng may, khi tôi quẹo phải để vào cổng buồng, liếc mắt ra hướng cổng trại, tôi thấy tên trung úy An Ninh Trại vừa ở trong phòng trực (ngay cạnh cổng) bước ra và vội vã đi về hướng buồng tôi. Linh tính báo cho tôi biết là có chuyện rồi.

    Tôi bước vội qua cổng buồng và chạy thật nhanh vào hồ nước. Tôi gấp rút đổ nước vào bể, lấy cái đáy thùng giả liệng ra ngoài bờ tường sau để phi tang. Còn một kg mắm tôm thì tôi chạy nhanh vào nhà cầu, để trên tường gạch (vách ngăn hai ô cầu), rồi ra ngoài, vờ cầm cái điếu cầy chuẩn bị hút thuốc lào. Tên trung úy chạy ngay vào khu bể nước trong khi tôi đã đang ở trong buồng ngồi hút thuốc. Hắn tìm kiếm một hồi xung quanh hồ nước nhưng không tìm được tang chứng gì. Hắn vào buồng thì thấy tôi đang ngồi hút thuốc và tán dóc với anh Trung (trực buồng). Tôi làm mặt tỉnh, cứ tiếp tục nói chuyện với anh Trung. Hắn không nói gì với hai chúng tôi. Đây cũng là sự thường đối với tụi tôi, vì sĩ quan An Ninh Trại đi kiểm soát vòng vòng là chuyện xảy ra hằng ngày.

    Hắn vào trong nhà cầu tìm kiếm một lúc lâu, khi trở ra tôi thấy tay hắn có ký mắm mà tôi dấu trong đó. Bình thường thì hắn không dám lấy đồ của tù một cách ngang xương như vậy nhưng hôm nay là đặc biệt vì hắn đã được báo cáo và biết chắc gói mắm tôm đó do tôi vừa đưa vào, cho nên hắn mang ra một cách tỉnh bơ mà không cần nói với anh trực buồng một tiếng. Hắn lấy được gói mắm tôm nhưng không bắt được tận tay tôi cho nên hắn đi ra với vẻ mặt hằm hằm. Bây giờ nếu có hỏi thì tôi cũng cãi bay đi, chứ ai ngu gì mà nhận. Vì thế, hắn không thèm hỏi. Sáng hôm đó hắn chủ ý rình bắt tôi nhưng không hiểu sao hắn đã chậm mất mấy phút, chỉ nhìn thấy tôi khi tôi đã ở cổng buồng, cách hắn 50m, đủ thời gian cho tôi hành sự. “Phi vụ” này hạ cánh bị trục trặc, phi công thoát nạn nhưng “hành lý” của anh Phạm Dư Chất bị mất một ký mắm tôm. Khi về tới buồng, anh Chất cứ tưởng sẽ có mắm ăn, ai dè mất toi rồi. Cả hai chúng tôi nhìn nhau lắc đầu, chứ biết nói gì hơn? Kể từ đó tôi cũng chấm dứt các “phi vụ” làm ăn kiểu này, quay trở lại làm ăn đàng hoàng cho đến ngày chuyển trại.

    (còn tiếp)

  17. #37
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    6.7. Thăm nuôi lần thứ hai
    Ở Vĩnh Quang A được gần ba tháng (mùa thu năm 1982), tôi được trại thông báo có gia đình thăm nuôi. Cùng được thăm nuôi một lượt với tôi là anh Phạm Dư Chất. Anh Chất thì biết rõ người thăm nuôi là vợ anh vì anh đã có thư báo trước. Còn tôi thì chưa biết ai vì tôi chắc là vợ tôi không thể ra thăm tôi lần này.

    Trại A không có cái màn nhắc nhở tù phải ăn mặc chỉnh tề, đầu tóc phải gọn ghẽ thì mới được ra gặp thân nhân như ngày còn ở Trại B. Tôi nhớ lại, khi còn ở Trại B, anh Võ Tấn Tài có lần được thăm nuôi, khi ra tới cổng trại bị tên sĩ quan An Ninh Trại hạch hỏi:

    - Tại sao anh ra gặp thân nhân mà không cạo râu?

    Tài nói:

    - Ủa, tôi cạo râu rồi mà.

    Tên sĩ quan an ninh chỉ vào ria mép của Tài:

    - Thế này mà anh bảo là cạo rồi à?
    - Thưa cán bộ, cái này đâu phải là râu. Tôi đã theo lệnh trại cạo râu đàng hoàng rồi, còn đây là ria của tôi, tôi không nghe trại nói gì thì tôi cho là được phép vì thế tôi không cạo.

    Anh Tài nhìn quanh, thấy hôm nay thăm nuôi cũng đến 5-6 người, Tài bèn tố thêm vì biết chắc hắn không thể chờ lâu được:

    - Nếu cán bộ muốn tôi cạo ria thì cho tôi trở về buồng, tôi cạo xong rồi ra.
    - Thôi được rồi, bận này tôi cho anh ra gặp thân nhân nhưng bận sau anh đừng có “ní sự ninh tinh” nữa đấy. Ria với râu thì cũng như nhau chứ khác gì. Thế là Tài thoát nạn.

    Trở lại chuyện hôm nay, trại chỉ có hai người là tôi và anh Chất được thăm nuôi. Tới nhà thăm nuôi, tôi mới biết người thăm tôi là anh K. (anh rể tôi). Cán bộ phụ trách thăm nuôi cũng dễ dãi, hắn để chúng tôi và thân nhân nói chuyện thả dàn trong nhà tiếp tân, còn hắn thì đi đâu không biết. Tôi nói chuyện với anh K. chán chê rồi mới thấy hắn trở lại hỏi xong chưa, xong rồi thì vào trại. Còn anh Chất thì được ở lại qua đêm với vợ và đứa con gái lớn, sáng hôm sau mới vào trại.

    Anh K. cho biết, chú em tôi vượt biển cùng hai thằng con trai giữa năm 1981 và sang định cư ở Mỹ tháng 4 năm 1982. Tiền thăm nuôi tôi là do chú em mới gửi về nhờ anh K. đi tiếp tế cho tôi. Chú em tôi mới ở tù ra được vài tháng thì vượt biển. Chú ấy cũng bị mấy bà chị “tuyên truyền xuyên tạc” về vợ tôi cho nên không tin tưởng vợ tôi, mà gửi tiền cho mấy bà chị lo việc tiếp tế. Thậm chí đi ra Bắc thăm tôi mà cũng giấu, không cho vợ con tôi biết! Đồ tiếp tế cho tôi lần này cũng chẳng nhiều nhặn gì, chỉ hơn hai chục ký thôi nhưng cũng làm cho tôi vui mừng vì của một đồng công một nén mà. Điều tôi mừng nhất là em tôi đã thoát khỏi hiểm nguy đang rình rập nếu chú ấy còn ở Việt Nam. Bọn chính quyền xã ấp vẫn còn căm thù em tôi vì thế khi em tôi mới ra khỏi tù thì chúng đã nói bắn tin rằng chúng sẽ tìm cách bắt lại em tôi.

    Vợ anh Chất tuy còn trẻ nhưng tóc đã bạc ¾ đầu rồi. Trước khi rời nhà thăm nuôi, tôi chào chị Chất và nói đùa, “Anh Chất có giọng hát truyền cảm lắm đấy, tối nay chị bắt anh ấy hát vài bài cho chị nghe nhé.” Trong buồng tôi, những buổi tối ngày nghỉ, anh Chất thường hay ca những bản nhạc tiền chiến giúp vui cho bạn tù, giọng ca của anh rất khỏe. Ngày hôm sau vào trại, anh Chất cho biết, vợ anh nhất định không nhuộm tóc đen cho đến khi nào anh ra khỏi tù. Từ hôm đó tôi và Ngọ thường gọi là “Nàng tiên tóc trắng” khi nói về vợ anh Chất, riết rồi cả đội cùng gọi theo như vậy.

    Anh Chất kể với tôi rằng trước đây khi anh chị cưới nhau đã bị trục trặc về vấn đề tôn giáo, anh đạo Phật, chị đạo Công Giáo. Mẹ anh lại không cho anh cải đạo. Thời đó chưa có Công đồng Vaticano II cho nên muốn hợp lệ phải làm đơn xin phép Toà Thánh Vatican, khó khăn lắm. Bây giờ anh vẫn đạo Phật và chị vẫn Công Giáo. Sau cuộc đổi đời, anh cảm thấy gia đình bên vợ đối xử với anh rất tốt vì thế anh nói, “Sau khi ra tù, món quà quí giá tôi dành để tặng mẹ vợ tôi là tôi sẽ theo đạo Công Giáo.” Và, anh đã giữ đúng lời hứa. Khi ra tù được ít lâu, anh đã học đạo và chịu phép rửa. Nếu tôi nhớ không lầm thì thân phụ của anh Nguyễn Phan Đệ làm cha đỡ đầu cho anh Chất. Theo tôi biết thì hiện giờ gia đình anh Chất đang ở Cali.

    “Nàng tiên tóc trắng” mua cho chồng được một trái mít tại nhà một người dân gần trại. Trái mít khá to, tương đương với một cái thùng đựng dầu hôi loại 20 lít (5 gallons), và đã có mùi thơm. Anh Chất ráng để dành mít đến ngày Chủ Nhật mới “làm thịt” để nhiều người cùng thưởng thức. Sáng Chủ Nhật nhóm bạn của anh Chất, trong đó có tôi, qui tụ lại khá đông ở sân buồng ngủ. Tôi không nhớ rõ là Nguyễn Phán hay Nguyễn Phan Đệ đóng vai đồ tể xẻ trái mít ra. Mùi mít chín bay ra thơm lừng cả một khu sân. Có lẽ vừa do mùi mít thơm sẵn, vừa do thần kinh khứu giác của chúng tôi lâu ngày chưa được tiếp cận với mùi mít, mà chúng tôi dễ cảm nhận được mùi thơm của mít chăng? Đầu tiên chúng tôi ăn múi mít. Sau đó đến xơ; hết xơ đến cùi. Trái mít đã chín mùi (kỹ) cho nên cùi mít vàng ra đến tận vỏ. Chúng tôi gọt cùi sát đến tận gần lớp vỏ gai ở ngoài mới chịu thôi. Cuối cùng là đến hạt mít. Nguyễn Phán lượm hết hạt mít lại để luộc cho buổi chiều ăn. Buổi chiều, số người tham dự ăn hột mít luộc không đông đủ như buổi sáng, giảm đi 2/3 nhân số. Ăn được nửa chừng, có người nào đó nói lớn, “Ăn hột mít thế nào cũng bị đánh rắm đấy nhé, các bạn phải cẩn thận để khỏi làm phiền lòng người hàng xóm.”

    Bữa tiệc mít làm tăng thêm không khí vui nhộn, làm cho chúng tôi quên đi một ngày tù của kiếp tù không có bản án. Sự chia sẻ một chút đồ ăn cho nhau trong những ngày khốn đốn đã trở nên một chất keo dính kết tình thân ái giữa chúng tôi với nhau để, cho đến bây giờ, sau 33 năm trôi qua, chúng tôi vẫn không quên được nhau mỗi khi hồi tưởng lại những ngày tháng tù đày cay đắng này. Không hiểu anh Chất có còn nhớ rõ diễn tiến của buổi ăn mít này không? Nếu anh đọc và thấy có gì thiếu sót thì xí xoá cho nhé.


    6.8. Chuẩn bị chuyển trại
    Trước ngày chuyển trại chừng một tháng, cán bộ trại đem tới cho toán làm lò rèn một bao lớn trong đó đựng toàn là còng số tám. Hắn chỉ thị cho toán lò rèn phải ngưng hết công việc thường ngày (rèn cuốc, xẻng, dao…) mà chú tâm vào việc làm thêm và sửa chữa còng số tám. Lệnh cho toán lò rèn là phải tu sửa lại tất cả những còng mà hắn vừa đem tới, sau đó phải làm thêm cho đủ số là hai trăm còng (gồm cả cũ và mới). Tin này được loan đi rất nhanh. Ngày hôm sau là cả trại tù đều biết. Bọn tù hình sự thì chẳng để ý gì đến chuyện này nhưng bọn chúng tôi thì rất quan tâm đến nó. Trong lúc rảnh rỗi như nghỉ giải lao hoặc ngày nghỉ việc, chúng tôi thường nhỏ to bàn tán và suy luận về nó. Rút cuộc là cùng đi đến một kết luận: sẽ có chuyển trại nay mai dựa vào những yếu tố sau đây: Tổng số tù (sĩ quan và công chức Miền Nam) vào khoảng gần bốn trăm người. Một cái còng số tám dùng cho hai người, tay người này còng chung với tay người kia. Số còng trại dự trù là hai trăm, nếu dùng hết thì đủ cho bốn trăm người. Như vậy lần này đi là đi hết cả trại, ngoại trừ tù hình sự. Nếu đi gần, chẳng hạn như trước đây từ Trại B ra Trại A, chúng tôi đi bộ và không phải còng tay, chúng tôi gồng gánh thoải mái. Lần này còng tay có nghĩa là sẽ đi xa và không đi bộ, mà bằng xe hơi. Còn đi tới đâu thì chưa ai biết.

    Từ ngày toán lò rèn nhận lệnh làm còng, các đội canh tác cũng thấy quản giáo lơ là trong việc đốc thúc công việc. Chúng tôi đi ra ngoài làm cho có lệ. Chẳng ai bảo ai, người nào cũng à ới cho hết giờ rồi về. Một vài người nhát đảm hoặc đấu óc không bén nhậy thì vẫn giữ thái độ “lao động tốt” nhưng nhìn qua nhìn lại, thấy hầu hết mọi người đều à ới nên cũng tự động thay đổi thái độ lao động của mình.

    Toán lò rèn biết rằng họ làm còng để còng “phe ta” cho nên họ cố tình làm cái còng có đường kính rộng rãi để tù nhân có thể rút tay ra được mà không cần phải mở khóa. Toán lò rèn đã đạt được mục đích của họ. Khi thực sự bị còng, hầu hết chúng tôi tự động rút tay ra được.

    Qua mấy tháng ở Trại Vĩnh Quang A, tôi thấy không khí ở Trại A dễ chịu hơn ở Trại B rất nhiều. Tôi chưa bao giờ thấy trại trưởng hoặc trại phó xuất hiện trong trại. Mọi việc đều do tên sĩ quan An Ninh Trại điều hành hết. Phụ tá cho tên sĩ quan An Ninh Trại là một người tù “phe ta” tên là Nguyễn Thành Th. (đại úy Bộ Binh) với chức vụ là Trật Tự Trại. Mặc dù “phe ta” nhưng hắn chẳng có phe ta chút nào cả. Từ ngày còn ở Trại B, Th. đã cố gắng lấy điểm với bọn cai tù để dần dần đi từ đội trưởng, rồi tới trật tự trại ở Trại B một thời gian ngắn trước khi ra Trại A. Khi ra tới Trại A thì hắn lại tiếp tục được làm Trật Tự Trại cho đến ngày chuyển trại. Th. là loại người sử dụng cơ bắp nhiều hơn là bộ óc.

    Mặc dù các trại tù đều có nội quy na ná như nhau nhưng sự thoải mái hay không còn tùy thuộc vào cá tính của trại trưởng và quản giáo của đội. Trại nào gặp trại trưởng tử tế thì tù nhân đỡ khổ một chút. Khi chúng tôi còn ở Trại B đã nghe nói là cuộc sống của tù ở Trại A dễ thở hơn nhiều so với B. Thêm vào đó, có lẽ là do tình hình bên ngoài chi phối: Chúng tôi sẽ không bị nhốt ở Trại A bao lâu nữa, thời gian ở Trại A được coi như là thời gian chờ đợi để chuyển tiếp, cho nên công việc lao động không bị cưỡng bức như trước kia nữa. Những tin tức phấn khởi từ các đài phát thanh ngoại quốc, do thân nhân tù cung cấp, cũng giúp cho chúng tôi lên tinh thần rất nhiều. Chúng tôi tin tưởng rằng một ngày nào đó chúng nó sẽ thả bọn tôi ra và được về sống với gia đình, chứ không giống như số phận những sĩ quan/công chức của chính quyền Quốc Gia Việt Nam hồi năm 1954 không di cư vào Nam vì một lý do nào đó. Những người này, sau một thời gian “cải tạo” thì được thả ra nhưng phải đem gia đình lên các vùng thượng du/trung du (Lào Cai, Yên Bái…) để sinh sống mà bọn Việt Cộng gọi là “chỉ định cư trú”. Đây là một hình thức đầy ải cả gia đình “tên phản động” đi sống ở những nơi rừng thiêng nước độc cho mà chết dần chết mòn!
    (còn tiếp)

  18. #38
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    6.9. Người bị biệt giam nhiều lần
    Người đó là bác sĩ Lê Thiện Điền. BS Điền bị đi ở tù vì trước đây là Dân Biểu trong Hạ Nghị Viện của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Ông được hầu hết mọi người biết đến vì thành tích nằm nhà kỷ luật (biệt giam) rất nhiều lần. Cứ ra khỏi nhà biệt giam ít bữa, lại trở vào nằm tiếp. Cho đến lúc tôi ra Trại A, thì thời gian ông ăn cơm nhà biệt giam nhiều hơn thời gian ông ăn cơm ở ngoài nhà tù chung như chúng tôi.

    BS Điền là một người bất khuất, dù bị cùm chân trong nhà biệt giam, ông vẫn không tỏ ra sợ sệt bọn Việt Cộng. Ông không thể nén giận mà âm thầm chịu đựng những cái chướng tai gai mắt. Ông thường nói một cách công khai trong chỗ đông người thì làm sao tránh khỏi tai mắt của mấy tên ăng ten của trại. Dĩ nhiên trại sẽ biết. Ông không bao giờ dùng chữ “Cách Mạng” để gọi bọn Cộng Sản Việt Nam. Ông bảo “cách mạng” là một danh từ chung để chỉ một hành động phá bỏ đi cái gì cũ mà xấu để thay thế bằng một cái gì mới và tốt đẹp hơn. Thử hỏi “cái hiện giờ” (chế độ Cộng Sản) có tốt đẹp hơn “cái trước đây” (Việt Nam Cộng Hòa) không? Lại nữa, bây giờ bọn chúng lại biến danh từ (chung) “cách mạng” thành danh từ (riêng) “Cách Mạng”, viết hoa, để chỉ chính quyền/quân đội Cộng Sản. Chúng thường hay nói “Các anh phải biết ơn Cách Mạng” hay “Cách Mạng đã khoan hồng cho các anh khỏi phải tội chết” v.v.

    Ông Điền còn luôn luôn đánh giá thấp những bác sĩ, y sĩ do Cộng Sản đào tạo: Hầu hết (không phải tất cả) tụi nó có hơn gì y tá của Miền Nam trước đâu. Tụi nó ít có đứa nào được đào tạo một cách chuyên môn như Miền Nam trước đây, mà chỉ là bọn sống lâu lên lão làng. Có đứa chỉ làm lao công trong bệnh viện rồi được nâng đỡ cho đi học mấy khóa tu nghiệp là cũng thành y sĩ rồi. Chúng tôi ai mà chả biết khả năng chữa bệnh của các y sĩ Việt Cộng nhưng chúng tôi không nói điều đó công khai giữa chốn đông người. Trái lại, BS Điền cứ nói tỉnh bơ. Vì thế mà ông bị biệt giam.

    Từ ngày tôi chuyển ra Trại A cho đến ngày tôi được thả về từ Trại Nam Hà, BS Điền không được “tụi nó” cho làm ở bệnh xá của trại. Ở Vĩnh Quang. A, bọn Việt Cộng chỉ dùng một cựu đại úy (Sĩ Quan Trợ Y/ QLVNCH) làm phụ tá cho một tên y sỉ Việt Cộng. Cả hai trại Vĩnh Quang và Nam Hà đều coi BS Điền như một tù nhân bình thường. Và, cũng từ ngày tôi biết ông thì ông không bị biệt giam thêm lần nào nữa. Có lẽ vì tình hình bên ngoài đã chuyển biến, bọn Việt Cộng đã có chính sách mới với bọn tôi, chúng không còn thái độ sắt máu đối với chúng tôi, kể cả BS Điền nữa.

    Về tinh thần chống Cộng thì phải nói BS Điền là một người bất khuất, không chịu khuất phục Cộng Sản dù thân xác có bị hành hạ dã man tàn tệ. Đó là điểm mà tôi khâm phục ông. Tuy nhiên, về phương pháp chống Cộng của ông đúng hay sai thì tôi xin miễn bàn vì tôi không có đủ khả năng trong lãnh vực này.

    Người thứ hai bị giam lâu ngày là anh Phạm Kiến Chương, chúng tôi thường gọi anh là Chương hói vì đầu anh bị hói. Có người gọi anh là Chương mập vì người anh hơi thiếu thước tấc mà lại có da có thịt cho nên trông anh mập hơn mọi người. Lại có người gọi anh là Chương địa vì anh có dáng dấp như Ông Địa. Riêng nhóm năm ba người bọn tôi thì gọi anh là Chương còm với ý dí dỏm và thân ái dành cho anh.

    Anh Chương là đại úy Cảnh Sát, là người cũ của Trại A. Tôi chỉ mới biết Chương qua sự giới thiệu của anh Vũ Cao Hiến sau khi chuyển ra Trại A. Chương hói người Miền Nam, tính tình anh hiền hoà và nói năng nhỏ nhẹ, miệng lúc nào cũng như muốn nở một nụ cười với người đối diện. Nếu không quen biết thì không thể nghĩ rằng trong con người ấy ẩn tàng một nghị lực phi thường.

    Khi còn ở Trại Vĩnh Quang B, không ai biết là Chương hói đã từng bị giam ở Trại B. Chỉ mấy người làm nhà bếp là biết mặt Chương nhưng không biết Chương từ trại nào tới. Anh Võ Tấn Tài ở đội nhà bếp Trại B, cho tôi biết rằng trong khu nhà bếp có một cái giếng nước nhỏ, mỗi tuần một lần, Tài thấy công an dẫn một người tù ra giếng tắm. Khi phạm nhân này tắm, tất cả mọi người phải tránh xa, không ai được phép lại gần trò chuyện. Tài nói: “Mặc dù bị biệt giam lâu ngày trong nhà đá nhưng dáng vẻ đi đứng của hắn vẫn tỏ ra hiên ngang. Hắn không đi được nhanh vì chân yếu sau thời gian dài bị cùm nhưng mặt vẫn ngẩng cao nhìn trời nhìn đất như không có sự gì đáng quan tâm. Sau khi hắn tắm xong và được dẫn trở lại nhà giam thì tụi tôi mới được ra giếng làm việc lại. Ai dè hắn lại là Chương hói.”

    Chương hói bị biệt giam vì tội liên lạc thư từ với vợ mình bằng “hóa chất”. Chương hói thuộc ngành Cảnh Sát Đặc Biệt. Có lẽ khi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tan hàng, Chương dấu được một ít bút viết mà chữ không hiện hình trừ khi soi lá thư lên ngọn đèn thì mới đọc được. Vợ chồng Chương đã từng dùng hình thức này để qua mặt bọn cai tù nhiều lần rồi. Cuối cùng thì Chương cũng bị nghi ngờ vì “ăng ten” báo cáo. Chương không biết ai là người báo cáo vì rất nhiều người bị nằm trong danh sách nghi ngờ: hai người nằm bên cạnh trái và phải, bảy tám người nằm dãy giường đối diện với Chương. Mỗi khi nhận thư của vợ, Chương đọc thư bình thường như mọi người khi trời còn sáng. Đợi đến tối, trước khi đi ngủ, Chương thắp một ngọn đèn dầu (tự chế bằng cách cắt phần dưới của một cái chai thủy tinh trong, ở giữa gắn một cái tim đèn, châm dầu vào đó là đã có một cái đèn rồi). Chương ngồi trong mùng đọc lại thư của vợ bằng cách soi thư lên đèn. Ai tinh ý một chút thì sẽ đánh dấu hỏi là tại sao thằng cha này đọc thư mà lại để ngọn đèn ở phía sau tờ giấy, tờ giấy che mất ánh sáng đèn thì làm sao mà đọc.

    “Ăng ten” đã nhận ra điều này và đi báo cáo. Mỗi khi đọc thư xong, Chương đốt lá thư trong lúc giả bộ đi cầu. Vì thế, dù bị báo cáo, Chương cũng không bị bắt quả tang. Bọn cai tù tra hỏi nhưng Chương không chịu khai gì cả. Chúng nghi ngờ vì Chương là Cảnh Sát Đặc Biệt thì phải biết rõ những phương pháp viết thư tín bằng hoá chất. Chúng còn nghi ngờ rằng Chương được CIA cài ở lại để lấy tin tức. Theo suy nghĩ của riêng tôi, thì có lẽ chúng khám xét và bắt được cây bút đặc biệt của Chương cho nên chúng mới tìm mọi cách để khai thác tin tức nơi Chương nhưng Chương không chịu khai gì. Vì thế chúng mới nhốt Chương vào nhà kỷ luật một lèo gần một năm mới thả ra. Nhốt ở Trại A chán, chúng lại đưa tới Trại B nhốt tiếp để uy hiếp tinh thần của Chương. Nhưng chúng đã chịu thua nghị lực của Chương.

    Tôi nói “Có lẽ…” vì Chương không bao giờ xác nhận với bọn tôi là Chương có loại bút đặc biệt đó, điều này cũng thông cảm cho Chương vì khi còn nằm trong vòng cương tỏa của Việt Cộng thì Chương phải cảnh giác chứ. Nói về thời gian ăn cơm tại nhà biệt giam thì BS Điền nhiều hơn Chương. Nhưng nói về sự khủng khiếp và khổ sở liên tục thì Chương vượt xa BS Điền. Bọn Việt Cộng đánh giá ông Điền thấp, cho ông nằm nhà đá một vài tháng rồi thả. Nếu như ông Điền biết giữ mồm giữ miệng thì đâu có bị nhốt tiếp nữa. Chỉ vì khi ra khỏi nhà giam, ông lại tiếp tục nói xấu “Cách Mạng” mới ra nông nỗi.

    Tôi gặp Chương hói vào một buổi chiều ngày Thứ Bảy. Chương đi cùng với Vũ Cao Hiến đến chơi với tôi vì Hiến và tôi rất thân nhau. Sau màn giới thiệu của Hiến thì tôi mới biết đây chính là Chương, người mà tôi đã nghe về thành tích nằm nhà biệt giam lâu nhất trại. Chương lúc này có dáng dấp như một chú Ba Tầu Chợ lớn. Tôi không ngờ chỉ mới được ra khỏi nhà biệt giam có mấy tháng mà Chương đã lấy lại phong độ quá nhanh. Chúng tôi không bị biệt giam, ở bên ngoài, còn đi kiếm chác những thứ có thể ăn được, thế mà không có da có thịt như Chương đâu. Tôi chắc là nhờ có ý chí kiên cường và tinh thần vững mạnh, mà Chương không bị suy sụp về thể chất. Hiến nói với tôi:

    - Chương có tài về tướng số, tử vi đấy, anh Thái cho biết ngày sinh để Chương lấy cho anh một lá số tử vi xem sao.

    Chương nói đùa:

    - Thày này chỉ cần lấy công một ly cà phê thôi, bảo đảm không sai không lấy tiền.

    Tôi cười:

    - Gì chứ cà phê thì có ngay. Cà phê của tôi là loại nguyên chất cơm cháy rang đấy.

    Cả ba chúng tôi cùng cười và chúng tôi ngồi nói chuyện, hút thuốc lào chừng một tiếng thì giải tán, ai về buồng đó. Trước khi về, Chương ghi ngày sinh và giờ sinh của tôi. Tôi không rõ giờ sinh của tôi cho nên tôi nói rằng: “Mẹ tôi cho biết tôi sinh vào buổi tối mà không rõ giờ nào cả.”

    Khoảng hai tuần lễ sau, Chương đi một mình tới gặp tôi vào buổi trưa ngày Chủ Nhật. Hai chúng tôi kéo nhau ra ngoài sân, chỗ có bóng mát ngồi nói chuyện. Chương móc trong túi ra hai tờ giấy vẽ chằng chịt trên đó. Tôi biết đó là lá số tử vi mà Chương đã làm cho tôi. Chương bảo tôi cho hắn xem đỉnh đầu để xác định cái xoáy đầu của tôi. Xem xong, Chương lựa ra một lá số không cần tới, bỏ vào túi. Chương nói: “Tôi làm cho anh hai lá số có giờ sinh khác nhau, một cái giờ Dậu (tức là từ 5 giờ chiều đến 7 giờ tối), một cái giờ Tuất (tức là từ 7 giờ tối đến 9 giờ tối). Tôi vừa xem xoáy đầu của anh thì anh phải sinh vào giờ Tuất mới đúng, do đó tôi bỏ lá số giờ Dậu đi.” Chương dùng ngón tay dò đi dò lại trên tờ số tử vi một lúc rồi ngẩng đầu nhìn tôi:

    - Anh thuộc loại cứng đầu.
    - ??
    - Không, nói đúng hơn, anh thuộc loại cao số.
    - ??
    - Cái ông anh mới ra thăm anh tuần trước, chắc chắn không phải là anh ruột của anh. Có thể ông ấy là anh bà con hay gì gì đó, chứ không phải anh ruột.
    - Sao anh biết?
    - Lá số của anh cho thấy anh có số “làm trưởng”. Nếu như anh có các anh trai, thì bằng cách nào đó, các ông ấy cũng phải ra đi để có chỗ cho anh lên làm trưởng. Lúc này chắc chắn là anh đang “làm trưởng” rồi đấy, chịu chưa, tôi nói tiếp?

    Tôi gật đầu xác nhận:

    - Tôi có cả thảy 5 ông anh trai nhưng các ông ấy đã rủ nhau ra đi hết rồi, bây giờ thì đúng là tôi đang là con trai trưởng mặc dù tôi đứng thứ mười trong gia đình.
    - Trong gia đình thì vậy, còn ở ngoài đời cũng tương tự thôi. Trong quân đội, mặc dù đôi khi anh giữ chức phó của một đơn vị nào đó, thì, có thể vì ông đơn vị trưởng kém tài hoặc vì ông đơn vị trưởng hoàn toàn tin tưởng nơi anh, mà trao phó cho anh điều hành mọi công việc trong đơn vị. Còn các ông ấy chỉ ngồi làm vì (ngồi chơi) mà thôi.

    Chuyển sang phần vợ con, Chương nói:
    - Lá số này cho thấy bà xã anh có sao Tử Vi chiếu mệnh, rất tốt, bản mệnh bà ấy rất vững; dù hoàn cảnh thế nào thì bà ấy vẫn vững vàng chống đỡ. Chương còn nói rất nhiều về lá số tử vi của tôi nhưng tôi không kể ra ở đây, phần vì thấy không cần thiết, phần vì lâu ngày rồi nên tôi không nhớ hết. Chúng tôi ngồi tán dóc với nhau rất lâu đồng thời thưởng thức cà phê mà tôi mới được tiếp tế, không phải uống cà phê tự làm bằng cơm cháy rang như mọi khi nữa. Từ đó hai chúng tôi càng ngày càng thân tình. Ngày tôi ra phi trường Tân Sơn Nhất đi Hoa Kỳ, Chương và mấy người bạn nữa đi tiễn tôi, gồm có Trần Cao Chánh, Nguyễn Phan Đệ, và Bình bốt. Tôi còn giữ được tấm hình chụp 5 người tụi tôi lúc đứng ở phi trường (Xem hình ở cuối sách). Từ đó đến nay đã hơn 17 năm rồi (1991-2008), tôi chưa gặp lại ai trong số 4 người bạn này, nhưng vẫn hy vọng…Quả đất tròn mà.

    6.10. Đánh cho chừa cái tội kiếm điểm
    Chuyện này bắt đầu từ Trại Vĩnh Quang B và chấm dứt sau khi chúng tôi ra Trại A được vài tháng. Những nhân vật chính có liên quan đến chuyện này gồm có các anh Võ Tấn Tài (Thuỷ Quân Lục Chiến), Trần Hữu Thành (Lực Lượng Đặc Biệt), TCT * (Khóa 19 Võ Bị Đà lạt), và Hải “mập” (Lực Lượng Đặc Biệt).

    * TCT đã chết bệnh sau khi sang định cư ở Hoa Kỳ, vì thế tôi không muốn nêu rõ tên anh.

    Gọi là Hải “mập” để phân biệt với Hải “nháy”, Hải “đen”, và Hải “tặc”. Cái hình dung từ “mập” đã gợi cho ta mường tượng ra vóc dáng đầy đặn của Hải. Hải mập là khóa đàn em của Trần Hữu Thành. Cả bốn người này đều làm ở đội nhà bếp khi còn ở Vĩnh Quang B. TCT làm đội phó nhà bếp (Trần Duy Phố là đội trưởng), Trần Hữu Thành bổ củi, Võ Tấn Tài phụ dịch, và Hải mập cũng làm phụ dịch. Những người trên đây đều đã được tôi nhắc đến đôi ba lần trong những bài viết trước đây. Có những sự kiện tôi đã nói đến sơ qua, tuy nhiên trong bài này tôi vẫn sẽ viết lại để cho bài viết có tính liên tục và chi tiết hơn. Trong chuyện này thì Hải mập là đối tượng của màn “Đánh cho chừa…”

    Câu chuyện bắt đầu từ một buổi sáng ở Vĩnh Quang B. Mười người có nhiệm vụ gánh nước từ suối lên, đổ vào bể ở nhà bếp (Trong khu nhà bếp cũng có một cái giếng nhưng chỉ đủ nước dùng để rửa ráy chút ít thôi, vì thế phải dùng nước suối). Toán gánh nước vừa xong nhiệm vụ, chưa kịp nghỉ thì đã bị anh TCT giao cho nhiệm vụ kéo rác đi đổ. Anh Võ Tấn Tài nói nhỏ với TCT rằng: “Mày phải để cho anh em nghỉ chút rồi hãy giao việc mới, sức đâu mà làm liên tục được.” TCT chỉ ậm ừ cho qua nhưng không theo lời đề nghị của Tài. Thế rồi, vừa đổ rác xong thì TCT lại giao cho công tác nhặt rau muống để nấu canh cho kịp cơm trưa. Anh Tài thấy vậy không dằn được tức giận, nói lớn với TCT: “Lúc nãy tụi tao đã ‘thi hành trước,’ bây giờ tụi tao ‘khiếu nại sau,’ làm liên tục như thế này ai mà chịu nổi?” Tài nói lớn là có ý để cho tên quản giáo ngồi trong phòng cùng nghe luôn, để tránh sau này đội trưởng có thể sẽ báo cáo sai sự thực. Tài vừa nói xong thì TCT xông tới đấm cho Tài một cú vào mặt, Tài nhỏ con cho nên té nhào xuống đất vì cú đấm. Ngay lập tức, Tài chộp lấy một con dao bếp dự định chém TCT. Mấy người đứng ngoài can gián, bầu khí trở lại bình thường và mọi người bắt đầu nhặt rau bằng tay thay vì bằng dao như mọi khi (dao đã bị thu lại sau vụ đụng độ).

    Rau muống cho tù ăn rất già và dai, còn tệ hơn rau cho heo ăn ở Miền Nam, nếu nhặt rau bằng tay thì không thể kịp giờ cho chảo canh buổi trưa, vì thế Đội Trưởng Phố bắt buộc phải đưa lại dao cho toán nhặt rau muống. Khi vừa nhận được con dao, Tài vung dao chém ngay vào vai TCT. Rất may là lúc đó mùa lạnh, TCT mặc hai ba lớp áo dày cho nên không bị xẻ thịt. TCT bỏ chạy và Tài đuổi theo vòng quanh bờ giếng. Chỉ có anh Lộc (bạn thân của Tài) mới dám chạy ra ôm lấy Tài. Lợi dụng lúc Tài bị ôm, Hải mập tới dùng một thế võ khóa tay của Tài ra sau lưng và lấy lại con dao (Các sĩ quan LLĐB người nào cũng biết võ). Anh Tài và TCT được đưa vào phòng của quản giáo để giải quyết. Quản giáo hỏi Tài:

    - Anh Tài, anh có biết dùng dao chém người như thế là tội nặng lắm không? Nếu bây giờ tôi ra lệnh cho anh chém anh TCT, anh có dám làm không?

    Tài trả lời:

    - Thưa cán bộ, cán bộ cũng nhỏ con như tôi, nếu như cán bộ bị người ta ỷ mạnh mà ăn hiếp cán bộ, thì cán bộ sẻ xử trí ra sao? Nếu chạy là hèn, tôi chắc cán bộ không chạy. Vậy thì cán bộ sẻ dùng súng hoặc dao để đánh lại đối thủ. Tôi đây cũng vậy, tôi đã nói lớn để cán bộ có thể nghe biết, nhưng tôi đợi mãi không thấy cán bộ làm gì do đó bắt buộc tôi phải hành động. Nếu cán bộ cho tôi chém anh TCT thì tôi làm liền, tôi được phép của cán bộ mà.
    (còn tiếp)

  19. #39
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo 6.10)

    Trong khi Tài đang nói thì Hải mập đem con dao “tang vật” đặt lên bàn quản giáo. Tên quản giáo bảo Hải mập để dao ở đó rồi trở ra làm việc lại. Suy nghĩ một chút, tên quản giáo nói với Tài:

    - Thôi, lần này rút kinh nghiệm, lần sau tôi sẽ cùm anh vào nhà kỷ luật đấy. Anh về viết tờ kiểm điểm ngày mai đem nộp cho tôi.

    Tài ra khỏi phòng quản giáo chừng 10 mét thì thấy TCT chạy theo. Tới nơi, TCT ngồi xuống ôm chân Tài, ngẩng mặt lên và nói:

    - Tài, đây mặt tao đây, mày muốn đánh bao nhiêu thì đánh cho đã cơn tức đi. Mày đừng có để tâm thù oán tao nữa, mày có đồng ý như thế không?
    - Bây giờ mày nói như vậy thì tao hết tức giận rồi, nhưng hứa với mày thì tao không hứa, cái đó còn tùy thái độ của mày sau này.

    Tài trở về buồng, ngồi viết tờ kiểm điểm. Ngồi cắn bút mãi, chưa biết phải bắt đầu ra sao thì Lâm (cùng toán bổ củi với Thành) từ bếp chạy về buồng gặp Tài:

    - Anh Tài, Quản Giáo bảo anh viết rằng anh cầm bó rau muống đuổi theo anh TCT nhưng anh TCT tưởng là anh cầm dao rượt (đuổi) anh ấy.

    Nói xong Lâm trở lại bếp làm việc. Tài thắc mắc, tại sao lại có chuyện như vậy, Tài chưa hiểu, đang phân vân thì TCT vào buồng và nói:

    - Tài, thằng quản giáo bảo rằng tao với mày phải khai giống nhau, rằng trong khi mày đang cầm bó rau để nhặt thì tao tới lời qua tiếng lại với mày và mày tức giận cầm bó rau đánh tao, tao lại tưởng là mày cầm dao cho nên tao chạy, mày đuổi…Tao sẽ viết bản kiểm điểm trước rồi đưa cho mày để mày đọc và viết cho ăn khớp. Tài đợi cho TCT viết xong, sau đó dựa vào bản của TCT để viết bản kiểm điểm của mình. Viết xong, Tài trao cả hai bản kiểm điểm cho TCT đem nạp quản giáo. Tài nghĩ, có lẽ quản giáo muốn cho việc này chìm xuồng, không muốn làm lớn chuyện để trại biết. Hắn bảo viết kiểm điểm như vậy để thủ thân, lỡ ra có ai báo cáo chuyện này lên Ban Chỉ Huy trại thì hắn đã có hai bản kiểm điểm của Tài và TCT để cho trại thấy đây là chuyện nhỏ, không đáng quan tâm. Hắn làm vậy không phải là thương gì hai thằng tù, mà là để bảo vệ cái chức vụ béo bở (quản giáo đội nhà bếp) của mình thì mới có cơ hội chấm mút; giàu nhà kho, no nhà bếp mà. Chuyện gây gổ giữa Tài và TCT đến đây coi như xong, và cũng không bao giờ tái diễn nữa vì TCT biết rằng mình đụng phải thứ dữ, “người ruồi gây máu lửa”.

    Tuy nhiên, từ đó mới đưa đến mối căm tức của Tài đối với Hải mập. Tài và Thành là cặp bài trùng, làm gì cũng có nhau. Hai người thường ngồi ăn cơm chung với nhau. Sau vụ này, Tài nói với Thành:

    - Thằng Hải mập cà chớn, tôi phải trừng trị cho nó về cái tội kiếm điểm với quản giáo. Lúc tôi bị thằng Lộc ôm tôi, thay vì nó đến gỡ con dao trong tay tôi là xong, đâu có còn gì xảy ra nữa. Đằng này, nó lại dùng thế võ bẻ quặt tay tôi, khóa lại sau lưng rồi đẩy tôi vào phòng thằng quản giáo để ra cái điều là mình đã ra tay ngăn chặn được một sự việc đáng tiếc. Nó còn làm tôi bực bội khi thấy nó mang con dao “tang vật” đặt lên bàn quản giáo trong khi quản giáo đâu có bảo nó mang dao vào. Tôi phải cho nó “biết thế nào là lễ độ”.

    Thành nói:

    - Thôi anh Tài, chuyện đó để tôi làm cho. Nó là đàn em của tôi thì tôi phải dạy nó. Tôi hứa là tôi phải làm nhưng chưa làm bây giờ được. Mình phải kiên nhẫn đợi thời cơ để khi mình trừng trị nó mà mình không phải vào nằm nhà kỷ luật mới là hay.

    Thời gian trôi dần, công việc nhà bếp vẫn diễn tiến bình thường, duy có điều là Hải mập càng ngày càng lộ liễu thái độ xun xoe kiếm điểm để mong được cất nhắc lên làm một chức vụ gì đó trong đội hoặc trong trại. Điều này càng làm cho Tài nóng mặt và hối thúc Thành phải giải quyết cho nhanh. Mỗi lần như vậy thì Thành đều nói là chưa thuận tiện, “Mình đánh nó lúc nào chả được, nhưng vội vã quá là mình sẽ nằm nhà đá mệt nghỉ đấy.”

    Đến ngày toàn bộ tù (Sĩ Quan QL/VNCH) phải chuyển ra Trại A, tưởng rằng khó có dịp để Hải mập lãnh nhận “bài học lễ độ”. Tài và Thành không còn ở chung một đội (buồng) nữa. Thành về đội cầy bừa với tôi mà đội trưởng là Nguyễn Quang Ngọ. Tuy ở khác buồng nhưng đến giờ ăn cơm, Tài mang phần cơm của mình sang buồng tôi để cùng ngồi ăn chung với Thành. Hải mập được sự giới thiệu của Trại B cho nên bây giờ sang Trại A, được cho làm đội trưởng nhà bếp, thay thế cho đội trưởng cũ (của Trại A) đã chuyển trại. Làm đội trưởng nhà bếp Trại A được chừng vài tháng, Hải mập tìm cách kiếm điểm với trại trưởng bằng một báo cáo. Mà, báo cáo này lại nhắm vào ngay quản giáo đội nhà bếp. Báo cáo rằng quản giáo đã ưu đãi bọn “đầu gấu” (*), rằng trong những ngày lễ lớn có giết heo hoặc trâu, bọn đầu gấu được lấy riêng một ít ra xài, trước khi đem nấu món ăn cho cả trại, và rằng quản giáo cho tụi nó lấy gạo xài thoải mái làm cho sút giảm tiêu chuẩn gạo của tù v.v…

    (*)“Đầu gấu” là tiếng dùng để chỉ mấy tên tù hình sự ở tù lâu năm và được sự tin tưởng của trại, cho chúng đi lao động tự giác (ra ngoài không có công an bảo vệ đi theo canh gác). Thường thường “đầu gấu” là mấy tên chúa trùm của đám tù hình sự và được bọn tù hình sự cung phụng đủ thứ. Người nào có thăm nuôi, tiếp tế mà không nộp “thuế” cho chúa trùm là sẽ bị ăn đòn mập mình ngay.

    Quản giáo bị trại trưởng gọi lên hạch hỏi. Dĩ nhiên là quản giáo chối nhưng trại trưởng đưa tờ báo cáo của Hải mập cho hắn coi. Hắn hết đường chối cãi và bị làm kiểm điểm. Sau đó hắn bắt đầu tìm cách đì (làm khó dễ) Hải mập và kiếm cớ để không cho Hải mập làm đội trưởng nhà bếp nữa. Chỉ chừng một tuần lễ sau, Hải mập mất chức đội trưởng, phải chuẩn bị bàn giao cho người khác. Việc Hải mập báo cáo tội của quản giáo đã được bọn đầu gấu loan truyền cho cả trại biết. Vì thế đội nào cũng không muốn nhận Hải mập vào đội của mình. Nhân cơ hội này, anh Thành nói với đội trưởng Ngọ rằng: “Đội mình đang thiếu người cầy, mà thằng Hải nó to con, anh nên xin nó về đội mình cho nó đi cầy với tôi, anh xếp chỗ nằm của nó bên cạnh tôi để tôi trị nó cho anh vì nó là đàn em của tôi.” Anh Ngọ đồng ý ngay và xin Hải mập về đội tôi một cách dễ dàng; có ai giành đâu mà không dễ.

    Hải mập sau khi bàn giao xong thì mang đồ đạc về đội tôi vào một buổi trưa trong lúc đội vừa ở ruộng về. Hải mập vừa được Ngọ chỉ định chỗ nằm thì Thành đi kiếm một cái đèn dầu tự chế bằng phần dưới của một chai thủy tinh. Vì đã có chủ đích cho nên Thành lựa cái đèn nào làm bằng thủy tinh nội hoá mỏng. Thành đem về chỗ nằm của mình làm bộ hút thuốc lào. Hút xong, Thành bắt đầu chửi Hải mập: “Đ.M., mày đã thấy nhục chưa? Mày là đứa lừa thày phản bạn. Mày phản bạn còn chưa đủ lại còn phản cả thằng xếp của mày nữa cho nên bây giờ mới ra nông nỗi.” Lúc đầu Hải mập còn ngồi chịu trận cho “đàn anh” xỉ vả nhưng bị chửi lâu trong khi có sự hiện diện của cả đội, Hải mập tự ái chửi lại.

    Anh Thành chỉ chờ có vậy là đánh Hải mập liền. Hải mập cũng nhường đòn “đàn anh” mấy chiêu nhưng vì bị đau quá hóa liều, Hải mập đánh lại (LLĐB ai cũng học võ, không ít thì nhiều). Thành để cho Hải mập đá trúng một đòn để có thêm cớ đánh Hải mập. Bây giờ là lúc Thành sử dụng cái đèn dầu mà Thành mới đem về khi nãy. Thành cầm cái đèn dầu lên, đồ hết dầu ra nền nhà, rồi dùng răng cắn bể mấy miếng thủy tinh và nhai xào xạo trong miệng. Không những thế, tiện tay, Thành còn dùng cái đèn dầu bể, cắt mấy vệt trên môi cho máu chảy ra để hớp hồn Hải mập. Thành dự tính rằng nếu Hải mập không biết “lễ độ” thì Thành sẽ phun những miếng thủy tinh (đang ngậm trong miệng) vào mặt Hải mập cho hắn đui hai con mắt và dùng cái đèn dầu bể, gạch thêm mấy đường trên mặt Hải mập “cho nó chết cha nó luôn”. Hải mập không ngờ “đàn anh” có ngón đòn độc nên đâm ra hoảng, bèn quì xuống ôm chân Thành và xin tha thứ.

    Ngón đòn độc này anh Trần Hữu Thành học từ ngày còn đang học lớp Đệ Nhất (lớp 12) trường Chasseloup Laubard ở Sài-Gòn. Một hôm, anh tới uống bia tại một quán bán bia ở gần chợ Thái Bình. Khi đang ngồi uống, anh thấy một xe xích lô máy chở ba người lính Nhảy Dù tới quán bia. Ba người lính này đầu trọc lóc, mặt mũi đỏ gay, dường như đã uống rượu ở đâu trước khi tới đây. Họ kêu bia uống và hơi ồn ào. Khách uống bia từ từ rút lui hết vì sợ mấy người này gây chuyện – tránh voi chẳng xấu mặt nào. Cuối cùng chỉ còn lại Thành và ba người lính. Anh Thành ở lại vì tự tin rằng mình đã có một bản lãnh võ thuật khá cao, có thể đối chọi với ba người lính này. Thành nghĩ rằng dù họ có võ cũng không sợ vì bây giờ họ đang say, chân nam đá chân xiêu (*), thì còn đánh đấm gì. Về phía ba người lính, có lẽ, họ thấy Thành không có dáng gì là du đãng và mặt mũi còn non choẹt cho nên họ coi như không có gì và tiếp tục uống.

    (*)Đúng ra phải viết là: chân đăm đá chân chiêu = chân phải đá chân trái).

    Anh Thành vừa uống vừa quan sát họ. Một lát sau, một trong ba anh lính cầm cái ly bia đang uống, cắn bể mấy miếng thủy tinh của miệng ly rồi nhai rôm rốp và “nuốt” đi luôn. Thành cảm thấy phục tài anh lính và định bụng sẽ về nhà thực tập ngón nghề này. Uống hết chai bia, Thành ra về một cách bình thường, không có sự gì đáng tiếc xảy ra với ba anh lính Dù. Thành về nhà, ra tiệm mua mấy cái ly thủy tinh. Anh chọn thứ ly nội hóa và thật mỏng để dễ thực tập. Mới đầu mà đã cắn ly loại cứng thì khó vô cùng. Nhà anh không có phòng riêng, tập ở nhà sẽ bị cha mẹ biết và rầy la. Thành đem mấy cái ly vào vườn Tao Đàn, chọn một chỗ vừa khuất vừa có bóng mát và ngồi thực tập. Thành bắt chước anh lính Nhảy Dù, cắn bể miệng ly, nhai nhỏ ra rồi nuốt luôn vào bụng.

    Cũng may cho Thành là anh mới nuốt vào bụng hai lần thì có người bạn Ấn Độ (học cùng lớp) đi ngang qua, gặp Thành:

    - Ê Thành, mày ngồi làm gì ở đây mà có mấy cái ly bể bên cạnh vậy?
    - Tao thấy có người cắn bể miệng ly rồi nhai và nuốt đi, hôm nay tao ra đây thực tập chơi.
    - Không được đâu, nuốt thủy tinh vào rồi bị đứt ruột thì sao? Tao không nghĩ là người ta nuốt đâu, mà họ có xảo thuật gì đó mà mình không biết. Mày đã nuốt nhiều chưa?
    - Mới có hai lần nhai thôi.
    - Ngưng lại ngay và đi theo tao. Tao dẫn mày tới gặp sư phụ của tao để xem ông ấy có giúp được mày không. Hai người tới nhà sư phụ của anh Ấn Độ và trình bầy cho ông biết mọi sự. Ông nói: “Nhai thì được nhưng nuốt không được đâu, mình nhìn thấy họ nuốt nhưng thực ra là họ dấu nó vào khóe miệng để dùng nó như là một vũ khí để phun ra, làm cho đối thủ mù mắt, hết thấy đường thì làm sao tấn công mình được nữa.” Ông thày cho Thành uống một loại thuốc để trục hết những mảnh chai đã nuốt vào bụng mà không làm hư hại đến bộ phận tiêu hóa. Sau đó ông thày chỉ cho Thành biết cách nhai và ém thủy tinh vụn trong khóe miệng.

    Trước đây, Thành tưởng rằng nhai và nuốt thủy tinh chỉ là để biểu diễn cho thiên hạ coi, tương tự như một trò xiếc. Bây giờ, Thành mới hiểu rằng “nuốt” là động tác giả để dấu “vũ khí” trong miệng mà thôi. Thành tiếp tục rèn luyện ngón nghề này mỗi ngày cho tới khi thành công mới ngưng. Bắt đầu thì cắn những ly mỏng và dòn. Dần dần tiến tới ly dầy hơn, cứng hơn. Khi ở Lực Lượng Đặc Biệt, thỉnh thoảng Thành cũng biểu diễn cho đồng đội coi.

    Thành nói: “Chưa bao giờ tôi phải cắn một cái ly có bề dầy ngang với bề dầy của cái đèn dầu hôi tự chế, nhưng hôm đó tôi đang giận và say máu nên làm tới luôn.” Đánh nhau xong, anh Thành ra bể nước bên ngoài đầu buồng phía sau, rửa mặt cho sạch các vết máu trên môi, miệng, và kín đáo phun hết những mảnh chai ém ở trong miệng ra ngoài rồi trở vào buồng thay quần áo sạch sẽ, ngồi chờ Tài sang ăn cơm. Anh Tài, như thường lệ, lãnh phần cơm xong thì mang sang buồng tôi. Khi vừa bước qua cổng (không phải cửa) vào khu buồng tôi, Tài thấy Hải mập đang đứng chờ ở phía trong cổng với cái mặt sưng húp.

    Hải nói:
    - Anh Tài, từ trước đến nay, tôi đối xử với hai anh rất tốt mà sao anh lại xúi anh Thành đánh tôi như thế này. Tôi không biết là tôi đã làm gì mất lòng anh, anh có thể cho tôi biết được không để tôi còn biết đường mà tránh? Tài không dám nhắc lại cái vụ Hải mập cướp dao của Tài. Trước đây Tài và TCT đã làm kiểm điểm rằng Tài cầm bó rau muống đuổi TCT, nếu bây giờ nhắc lại vụ bị giật dao thì lại lòi ra cái vụ làm kiểm điểm láo.

    Tài nói:
    - Mày cứ nhớ lại tất cả những việc mày làm từ khi còn ở Trại B thì sẽ rõ. Tao không cần phải nói lại làm chi cho tốn sức. Nói xong, Tài bỏ Hải mập và đi vào trong buồng với Thành. Vừa thấy Tài vào tới, Thành đứng lên, vừa đập tay vào ngực mình liên tục vừa nói:

    - Thằng Thành này đã hứa là phải làm. Thằng này không bao giờ hứa lèo với ai cả. Bạn đã thấy mặt mũi thằng Hải mập chưa?
    - Thấy rồi, sao?
    - Từ mấy tháng nay tôi biết rằng bạn luôn luôn cho tôi là thằng hứa cuội cho xong chuyện. Bây giờ là lúc trả lời cho sự nghi ngờ của bạn đấy.

    Thế rồi hai người ngồi ăn cơm và Thành kể lại diễn tiến của sự việc cho Tài nghe không sót một chi tiết. Ba ngày đã qua đi mà không thấy cán bộ của đội cũng như của trại có một phản ứng nào về vụ Hải mập bị đánh mặc dù chuyện này đã được bọn “đầu gấu” loan truyền đi rất nhanh. Bọn đầu gấu rất có ảnh hưởng đối với các cán bộ quản giáo của chúng vì chúng là nguồn cung cấp đủ thứ nhu cầu cho tụi cán bộ. Trong sự loan truyền tin tức này, chúng cũng gián tiếp ca tụng anh Thành đã ra tay “trừ gian diệt bạo” giùm cho chúng. Công việc “làm ăn” của chúng đang suôn sẻ thì Hải mập lại thọc gậy bánh xe, đi tố cáo lên trại trưởng những việc làm của chúng. Có lẽ, trong thâm tâm bọn cán bộ đều có chung một ý nghĩ rằng để mặc kệ nó, “cho nó đáng đời.” Vì thế mà Thành chẳng bị hỏi han gì cả. Điều quan trọng nhất là đội trưởng Ngọ không báo cáo gì lên cho quản giáo. Còn X. heo thì thấy cái mặt sưng húp của Hải mập, sợ rằng rồi cũng sẽ tới phiên mình cho nên không dám ho he gì cả. Thành thấy mọi sự êm xuôi, mới nói với Tài:

    - Bạn thấy chưa? Mình làm gì cũng phải lựa thời cơ thì mới được. Mình đánh nó mà mình vẫn phây phây không phải nằm nhà kỷ luật, như thế mới ngon chứ?
    - Tôi chịu bạn rồi.

    Mấy bữa sau, một buổi trưa trong lúc anh Thành đang ngủ, một thằng xếp sòng bọn đầu gấu tới lay chân Thành dậy:
    - Anh Hai, dậy đi, em muốn nói chuyện này một tí.
    - Có chuyện gì không mà tôi đang ngủ lại tới hỏi chuyện?
    - Mấy bữa trước anh Hai chơi đẹp quá! Tụi em đang tìm cách nện cho nó (Hải mập) một trận mà anh Hai đã chơi trước tụi em rồi, tụi em mừng lắm.
    - Vậy hả? Thôi về đi để tôi còn ngủ chứ.
    - Anh Hai, em đã từng là dân dao búa ở Miền Bắc này nhiều năm, em chưa thấy ai có ngón nghề nhai thủy tinh rồi nuốt luôn. Nếu em có nghề này thì dân dao búa cả Hà Nội phải tôn em làm trùm đấy. Xin anh Hai chỉ cho em, bù lại, anh Hai muốn bất cứ thứ gì bọn em cũng cung cấp đầy đủ.
    - Tôi chẳng có nghề gì đâu. Lúc đánh nhau, cùng quá thì tôi làm liều vậy thôi. Không có nghề thì làm sao truyền cho cậu em được. - Anh Hai cứ dấu tụi em, nhất định là anh Hai phải có nghề thì mới dám nuốt thủy tinh vào bụng chứ.
    - Thôi cậu ơi, để khi nào rảnh mình nói chuyện, bây giờ tôi phải ngủ để còn đi làm buổi chiều nữa.

    Tên đầu gấu ra về. Cứ vài ba ngày, hắn lại tới gặp Thành vào buổi trưa và không quên mang theo, lúc thì ít thuốc lào ngon, lúc thì ít đường, khi thì ký mắm tôm v.v… Anh Thành vẫn nhận nhưng lúc nào cũng chối rằng mình không biết nghề gì cả. Sự việc cứ thế tiếp diễn cho đến ngày chuyển trại.

    Ghi chú: Chuyện Hải mập bị đánh, tôi viết theo lời kể của anh Võ Tấn Tài (một nhân vật trong chuyện). Trong lúc sự việc xảy ra, tôi đang chăn trâu ở ngoài đồng. Khi cả đội ra ruộng thì tôi mới trở về buồng. Tôi chỉ biết có đánh nhau giữa Thành và Hải mập, thế thôi.
    (còn tiếp)

  20. #40
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    6.11. Cặp bài trùng ở bệnh xá
    Vĩnh Quang A có bác sĩ Lê Thiện Điền nhưng ông này không được trại cho làm ở bệnh xá vì ông vào nhà kỷ luật như cơm bữa vì tội chửi “Cách Mạng” và chê bai bọn y sĩ Việt Cộng. Đây là cái cơ may cho X.

    Trại cho X được lên làm ở bệnh xá, phụ tá cho tên y sĩ Việt Cộng. Tên y sĩ này tin tưởng ở X cho nên đã trao toàn quyền “sinh sát” trong tay X. Ngoài ra, còn có Y (thiếu tá) cũng làm ở bệnh xá. Vì X có gốc là Sĩ Quan Trợ Y cho nên Y phải ở dưới quyền của X. Hai người này hợp thành một cặp bài trùng, tung hoành ở bệnh xá.

    Một người bạn tôi, anh C. nói rằng anh biết X ngay từ ngày đầu đi trình diện “cải tạo” ở Sài Gòn và cùng chung trại với nhau một thời gian. Anh C. cho biết sau này gặp lại X, thấy anh ta có thái độ đối xử với bạn bè khác hẳn. Tôi ở Vĩnh Quang A chừng sáu tháng nhưng chưa bao giờ lên bệnh xá khai bệnh, và tôi cũng chưa bao giờ nói chuyện với X vì thấy X có thái độ kẻ cả với đa số (đa số chứ không phải tất cả) anh em trong trại. Vế thứ hai của câu tục ngữ “Giầu đổi vợ, sang đổi bạn” đem áp dụng cho X thì không sai tí nào.

    Tự cho mình là thành phần “trí thức”, X thường kết thân với những người có bằng cấp văn hóa cao như luật sư, kỹ sư, giáo sư. Còn những người như bọn tôi đều bị coi là loại võ biền và bị nhìn bằng nửa con mắt, không đáng để X kết bạn. Buồng tôi chỉ có một người là Ch. được X kết thân vì anh Ch. trước đây đã từng là giáo sư và là thẩm phán; trong quân đội, anh Ch. là Ủy Viên Công Tố tòa án quân sự (?). Đôi khi tôi cũng thấy X nói chuyện với anh đội trưởng đội tôi, nhưng không tỏ ra thân thiết, vì anh đội trưởng là cựu thiếu tá (cấp tá họa chăng mới được là bạn của X).

    Câu “Lương y như từ mẫu” hoàn toàn không đúng với trường hợp của X. Ở bệnh xá ít khi có thuốc chữa bệnh, giỏi lắm là mấy viên xuyên tâm liên mà thôi. Công việc chính của X hàng ngày là khám bệnh, không phải để cho thuốc trị bệnh, mà là để quyết định ai được nghỉ và ai phải đi làm. Bệnh xá của trại nào cũng đều đề ra một tỉ lệ nghỉ bệnh mà y sĩ phải tuân theo, không được vượt quá tỉ lệ đó. Nếu là người có công tâm thì X sẽ cho những người bệnh nặng được nghỉ. Trên thực tế thì ngược lại, X dành ưu tiên nghỉ bệnh cho bạn bè và phe nhóm dù bệnh nặng hay nhẹ. Bao giờ còn chỗ trống thì mới đến lượt những người khác. Do đó số người ưa X (phe nhóm) cũng có, nhưng số người không ưa (phải nói là căm tức mới đúng) vẫn là đa số.

    Một người trong nhóm thứ hai này là anh Võ Tấn Tài. Anh Tài bị bệnh “nước ăn chân”, da ở mấy kẽ ngón chân lở choè choẹt làm cho ngón chân dính lại với nhau, đi lại rất là khó khăn. Đi giầy không được (mà giầy đâu mà mang!). Tù đi làm thường mang dép râu (loại dép làm bằng vỏ xe hơi), đất cát tự do lọt vào trong hai kẽ chân. Mỗi lần bàn chân đụng đậy, những hạt cát này cọ xát vào da thịt kẽ chân làm cho chủ nhân của nó đau rát vô cùng. Tài lên bệnh xá khai bệnh với hy vọng rằng dù không có thuốc thì cũng được nghỉ một vài ngày cho chân bớt đau. Nhưng hy vọng đó bị tiêu tan khi nghe X và Y nói rằng “Không sao, về đi làm,” sau khi hai vị “lương y” coi chân Tài.

    Tài nói với tôi: “Tôi thấy có nhiều người dáng dấp còn khoẻ mạnh, mặt mũi vẫn tươi tỉnh không có dấu gì là bệnh nặng mà lại được nghỉ. Sau này tôi mới khám phá ra rằng mấy người đó thuộc phe nhóm của X. và Y.” Tài vẫn kiên nhẫn, thử đi khai bệnh vài lần nữa nhưng đều bị từ chối như lần đầu. Tài tức giận lắm và từ đó cho đến khi chuyển về Trại Nam Hà, Tài không thèm ngó tới bệnh xá nữa.

    Năm 1992, Tài tình cờ gặp Y tại một cửa tiệm ở Houston mà chủ nhân là người Việt Nam. Tài hỏi hắn:

    - Có phải anh là Y, trước đây làm ở bệnh xá Trại Vĩnh Quang A? Anh có còn nhớ tôi không? Tôi tên là Tài nè, và đã từng bị anh và X. không cho tôi nghỉ bệnh mặc dù chân tôi đi muốn không nổi. Không ngờ mình lại gặp nhau ở đây nhỉ? Nghĩ cũng nực cười.”

    Y thấy Tài nói như vậy, sượng mặt, chỉ ú ớ mà không biết trả lời sao cho ổn, mà cũng không thể lánh mặt Tài đươc vì lúc đó Y đang làm thư ký cho cái tiệm mà Tài vừa vào. Ít lâu sau, Tài nghe bạn bè nói lại là Y đã chết vì bệnh.


    6.12. Sáu tháng nhìn lại
    Thấm thoắt chúng tôi đã ở Vĩnh Quang A được gần sáu tháng. Chúng tôi được lệnh chuẩn bị di chuyển. Lần này lệnh ban ra là đồ đạc mang theo phải thật là gọn nhẹ, mỗi người chỉ được mang theo một ba lô trên lưng, không ai được gồng gánh gì cả. Như vậy là đã đúng như chúng tôi phỏng đoán trước đây: lần này đi bằng xe và dĩ nhiên là quãng đường di chuyển phải đủ xa để có lý do dùng xe hơi. Nếu là gần thì chúng bắt chúng tôi phải đi bộ để tiết kiệm xăng nhớt - tài sản xã hội chủ nghĩa - chứ.

    Chúng tôi đã âm thầm chuẩn bị từ trước nhưng lần này lệnh rõ ràng là phải gọn nhẹ, chúng tôi lại phải lựa ra những gì thật cần thiết, đủ cho một túi đeo lưng thôi. Những thứ khác sẽ phải bỏ lại. Sáu tháng ở Trại A thật là ngắn ngủi so với thời gian tôi ở các trại khác trước đây. Tôi không có nhiều kỷ niệm với trại này. Từ ngày ở Trại A, chúng tôi hầu như không còn phải ăn sắn luộc nữa (nếu tôi nhớ không lầm). Ở đây không trồng sắn, mà chủ yếu là trồng và sản xuất trà để sinh lợi. Một số đội còn lại thì trồng lúa nước và một ít hoa mầu ở gần trại. Tiêu chuẩn gạo ăn thì vẫn vậy, 500 gr. gạo mỗi ngày nhưng thực sự thì tù phải ăn ít hơn vì bị bớt xén hai ba chặng, từ quản giáo đội nhà bếp, tới bọn “đầu gấu”, rồi tới những người làm trong đội nhà bếp; giầu nhà kho, no nhà bếp là chuyện dĩ nhiên.

    Dầu vậy, tôi cũng không bị cái đói dằn vặt mình như trước đây. Bạn bè tôi nhiều người được thăm nuôi. Họ san sẻ chút ít cho những người bạn của họ. Tôi lại có điều kiện đi kiếm chác rau rợ mỗi ngày để có thêm chất rau cho bữa ăn. Thời gian này, tôi và anh Diện ngồi ăn cơm chung với nhau. Diện có thân nhân ở Mỹ gửi tiền về cho bà cô của Diện ở ngoài Bắc, cho nên Diện được tiếp tế đều đặn, ngày nào Diện và tôi cũng đều có gạo nấu thêm cơm tăng cường cho phần cơm ít ỏi của trại.

    Về kỷ luật trại cũng dễ thở hơn nhiều so với Trại B. Ở Vĩnh Quang B, chúng tôi bị cấm học “tiếng nước ngoài”(ý nói tiếng Anh & Pháp), ai bị bắt gặp quả tang sẽ bị kỷ luật, có thể là nằm nhà đá nếu đã bị chúng có ác cảm từ trước. Trái lại, ở Trại A không thấy ai đả động gì đến điều này. Ai muốn học hay đọc sách báo nào cũng chẳng sao miễn là đừng có đọc các loại sách “chống Cộng” mà thôi. Cung cách đối xử với tù cũng khác ở Trại B. Từ ngày tới Vĩnh Quang A, tôi chưa từng một lần nhìn thấy trại trưởng hoặc trại phó đến trại. Không biết mặt họ tròn méo ra sao nhưng ít ra cũng cảm nhận được rằng họ không căm thù chúng tôi như bên Trại B. Cán bộ quản giáo đội tôi cũng không đến nỗi nào. Tôi chưa thấy (hoặc có thể không biết) quản giáo áp dụng kỷ luật với ai trong đội.

    Những tin tức từ nguồn thăm nuôi cũng giúp cho tinh thần chúng tôi vững mạnh hơn. Chúng tôi phấn khởi khi nghe tin đầu năm 1981, cựu tướng Vessy được tổng thống Reagan cử sang Việt Nam, điều đình về việc tìm hài cốt và MIA (Missing In Action = Mất tích trong cuộc chiến). Chúng tôi lạc quan vì biết đâu còn có những việc khác ẩn dấu mà không được nói ra. Dám lắm chứ, kinh nghiệm cho thấy việc “đấu bóng bàn giao hữu” giữa Mỹ và Tầu năm 1972 (?) đã làm thay đổi lịch sử bang giao Tầu - Mỹ đấy thôi. Chúng tôi còn mừng hơn nữa khi biết tin năm 1982, tổng thống Reagan đã cử ông Funseth sang Việt Nam điều đình để mở hồ sơ về những quân – cán – chính của Việt Nam Cộng Hòa hiện đang bị cầm tù. Có nhiều anh còn “lạc quan tếu” nói rằng: “Biết đâu lần này bọn mình được chở thẳng ra phi trường Nội Bài để đi Mỹ đấy.”

    Bọn làm ăng-ten giống như cỏ đuôi chó, gió chiều nào ngả theo chiều đó. Bây giờ chúng đâm ra lo lắng, sợ rằng nếu gió đổi chiều thì mạng sống của chúng sẽ lâm nguy. Vì thế mạng lưới ăng-ten được coi như không còn hoạt động nữa. Chúng tôi ít còn e dè khi thổ lộ đôi điều thầm kín cho nhau nghe. Những điều trước đây chúng tôi chỉ dám nói giữa hai người với nhau, bây giờ chúng tôi có thể nói giữa một đám dăm bẩy người mà chẳng sợ gì nữa. Tuy nhiên chúng tôi cũng phải biết hạn chế ở một mức độ nào đó thôi. Đâu có ai dại gì mà hô hào anh em biểu tình phản đối Ban Chỉ Huy trại tù, hoặc đánh lại quản giáo, v.v…

    Tóm lại, Trại A đã cho chúng tôi một thời gian sống thoải mái, phần vì bản tính của người trại trưởng, phần vì tình hình bên ngoài thay đổi mà họ ít còn khe khắt với tù (?). Chắc họ phải biết chúng tôi tạm thời ở đây để chờ chuyển tiếp, cho nên mục đích không phải là bắt chúng tôi tăng gia sản xuất, mà là làm sao giữ cho không có gì xảy ra trong khi chúng tôi sống ở đây mà thôi.
    (còn tiếp)

Page 2 of 3 FirstFirst 123 LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Replies: 0
    Last Post: 08-24-2011, 06:22 AM
  2. Replies: 0
    Last Post: 07-06-2011, 05:35 AM
  3. "Tuyệt phẩm" theo phong cách "trẹo chân"
    By thienthanyeu9x in forum Xóm Nhà Lá
    Replies: 0
    Last Post: 06-28-2011, 05:53 AM
  4. "Bị" VC khen nhưng "tổng thống" John McCain ngậm bồ hòn nín thinh
    By KennedyPresiden in forum Khoa Học Chính Trị ( Political Science )
    Replies: 3
    Last Post: 07-23-2008, 01:42 PM
  5. "Bị" VC khen nhưng "tổng thống" John McCain ngậm bồ hòn nín thinh
    By KennedyPresiden in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 6
    Last Post: 07-23-2008, 01:32 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •