Page 3 of 3 FirstFirst 123
Results 41 to 59 of 59

Thread: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

  
  1. #41
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    6.13. Đi khỏi Vĩnh Quang A

    Ngày chờ đợi đã đến. Một buổi sáng tháng 11/1982, trời sáng đẹp, chúng tôi đang chuẩn bị đi làm công việc thường ngày thì có lệnh của trại do “Trật Tự Trại” (Nguyễn Thành Th.) đi từng buồng thông báo:

    - Đội cho người xuống nhà bếp lãnh cơm sáng và cơm trưa luôn. Ăn sáng “khẩn trương” (lẹ lên) rồi tất cả mang hành trang ra sân lớn của trại để kiểm tra.

    Mọi người nhao nhao lên:

    - Chuyển trại rồi, chuyển trại rồi.

    Tôi nói với anh Diện:

    - Có gì cần giấu thì giấu trong người, kiểm tra xong là nó sẽ không cho vào buồng cũ của mình nữa đâu.

    Diện bảo tôi:

    - Mình có gì đâu mà giấu với diếm, có mỗi một “cái cần giấu” thì lúc nào chả lủng lẳng trong quần.

    Cả hai chúng tôi cùng cười và thu dọn đồ đạc bỏ vào túi đeo lưng (loại tự chế, chứ không phải ba lô nhà binh), vội vàng ăn sáng rồi mang ba lô ra sân trại. Tôi có một cái ghế xếp bằng gỗ do một người bạn cho tôi khi anh được thả ra, ngày còn ở Trại Vĩnh Quang B. Tôi cũng lấy làm lạ là tôi chỉ biết anh chứ không chơi thân với anh. Lẽ ra cái ghế này anh phải cho những người bạn khác của anh, nhưng anh đã không làm như vậy. Vì không phải là bạn thân và anh cũng chẳng phải là người có hành vi gì nổi bật trong trại cho nên giờ này tôi không còn nhớ tên anh là gì nữa.

    Cái ghế làm bằng một loại gỗ rất chắc, không phải là gỗ lim hay gỗ gõ nhưng tôi không biết nó là loại gì. Có lẽ một người nào trước đây làm ở đội mộc, đóng cho anh, chứ tôi biết anh không phải là thợ mộc. Tôi rất thích cái ghế này vì nó rất gọn, khi xếp lại nó chỉ dầy độ 4cm (chưa tới 2 inches) và có hình chữ nhật cạnh 25cm x 20cm (10” x 8”), lại có tay cầm giống như một cái hộp gỗ nhỏ. Cái ghế không dùng bất cứ một cái đanh nào (trại tù làm gì có đanh!) mà chỉ ghép với nhau bằng mộng thôi. Tôi định bụng sẽ giữ gìn cái ghế này để khi ra khỏi tù, đem theo về nhà làm vật ghi nhớ cuộc đời tù tội của tôi. Trên mặt ghế tôi sẽ ghi tất cả tên các trại tù và thời gian tôi ở từng trại.

    Mặc dù lệnh đã ban ra là phải gọn nhẹ, mỗi người chỉ được phép đeo một ba lô sau lưng, tôi vẫn nghĩ là cái ghế này sẽ không hề gì vì nó nằm gọn trong ba lô của tôi. Nhưng…

    Chúng tôi đứng vào từng đội, “bày hàng” ở trước mặt để cán bộ An Ninh Trại (trung úy Công An) và Trật Tự Trại (tù nhân Nguyễn Thành Th.) đi khám từng người. Bất cứ cái gì mà chúng thích là chúng có lý do để tịch thu mặc dù nó không cồng kềnh, choán chỗ. Gương lược do tù tự tạo để làm quà kỷ niệm cho vợ con thì chúng bảo là đồ kim khí, không được phép giữ. Cái ghế của tôi thì chúng bào là cồng kềnh không thể mang theo, chúng không cần biết mặc dù tôi đã biểu diễn bỏ cái ghế vào túi đeo lưng cho chúng coi. Nhiều người buồn bực vì gương lược đã thoát nhiều lần kiểm kê mà hôm nay hết thoát nổi.

    Tới lúc này, chúng tôi mới vỡ lẽ ra là chúng cố làm một chuyến tầu vét, vét được bao nhiêu hay bấy nhiêu vì từ đây không bao giờ còn có tù (Sĩ Quan QL/VNCH) bị giam tại trại này nữa. Diện nói nhỏ với tôi:

    - Chắc lại có thằng chó chết nào “vẽ đường cho hươu chạy” đây.
    - Chứ còn gì nữa.
    - Anh nghĩ tên nào vậy?
    - Khó mà xác định nhưng người đáng nghi nhiều nhất là thằng “Trật Tự Trại”.
    - Tôi cũng nghĩ vậy.

    Sau khi xét đồ xong, chúng xáo trộn các đội và chia ra từng nhóm mới, mỗi nhóm 25 người (đủ cho một xe Molotova). Chúng tôi ngồi chờ xe sau khi đã chia nhóm xong. Khoảng sau 12 giờ trưa thì xe tới, chúng tôi lần lượt lên xe theo chỉ dẫn của An Ninh Trại. Còng số tám được đem ra dùng. Một còng dùng cho hai người, tay trái người này còng với tay phải người kia. Vì số người là 25 (số lẻ) cho nên anh nào xui, dính vào số 25 thì bị còng vào thành xe. Trong số còng này, đa số là do toán lò rèn làm, vì thế cặp nào hên thì gặp còng tự chế, vòng còng rộng rãi (do sự cố ý của lò rèn) có thể tự mình rút tay ra khi nào muốn, không cần phải chìa khoá. Cặp nào xui, dính phải còng đúc thì hết đường cựa quậy, muốn đi tiểu thì hoặc là cả hai cùng đi, hoặc là phải xin công an bảo vệ mở khóa cho.

    Anh Phạm Dư Chất và tôi còng chung một còng. Anh Nguyễn Quang Ngọ là người thứ 25 cho nên anh bị còng vào thành xe. Xui xẻo cho Ngọ là anh dính phải loại còng đúc cho nên anh không thể tự rút tay ra được. Vì thế khi ngừng dọc đường cho tù xuống đi tiểu, anh Ngọ không thèm kêu công an mở khóa, mà anh cứ đứng ngay tại chỗ trên xe và mở khoá “vòi nước” cho nó chảy xuống đường.

    Sau khi đã kiểm kê và chắc chắn không còn sót ai, trưởng đoàn xe cho lệnh khởi hành. Trên ca bin mỗi xe, ngoài tài xế ra còn có một công an áp giải. Đoàn xe từ từ lăn bánh ra khỏi cổng trại. Thường thì khi di chuyển tù, bọn cộng sản dùng xe bít bùng, người ngồi trong xe không thể nhìn ra ngoài cho đến khi nào tới nơi; người ở ngoài cũng không biết là trên xe chở cái gì. Lần này chúng để xe mui trần, chúng tôi tha hồ nhìn ngắm cảnh vật trên trời dưới đất. Nhất là hôm nay thời tiết ở vào cuối Thu - đầu Đông cho nên rất dễ chịu. Lần ra đi này, riêng tôi có cảm giác vui vui vì nghĩ rằng những ngày tháng sắp tới sẽ không còn đáng sợ như trước đây nữa.

    Xe đi một lúc thì hết còn nhìn thấy Vĩnh Quang nữa. Thôi nhé, từ biệt Vĩnh Quang, từ biệt Vĩnh Quang! Xe ra lộ chính thì nhắm hướng Đông – Nam chạy tới. Chúng tôi đoán là sẽ đi về Hà Nội nhưng chưa rõ điểm đến đích thực là đâu. Trại Hà Tây chăng? Nếu là trại Hà Tây thì “tốt nhất” vì nó ở gần Hà Nội. Chúng tôi nghe những người tới thăm nuôi nói rằng trại Hà Tây là trại tù có không khí thoải mái nhất vì nơi đây được dùng làm nơi trình diễn với thế giới bên ngoài về chế độ nhốt tù của Việt Cộng. Nhờ vậy mà tù nhân được hưởng nhiều dễ dãi hơn các trại tù khác. Công việc trình diễn để che mắt các phái đoàn thăm viếng ngoại quốc là “nghề của chàng (vc)” mà.

    Trên xe tôi có anh Vũ Cao Hiến, nổi hứng hát lên những bản tình ca cho mọi người thưởng thức. Anh Hiến có máu nghệ sĩ trong người. Anh đã từng sáng tác một ít bản tù ca trong những ngày tháng trước đây. Hiện giờ anh Ngọ và một số bạn của Ngọ vẫn còn giữ được CD thâu một số bản tù ca của Hiến.

    Chẳng mấy chốc, xe chở chúng tôi đi ngang Hà Nội. Bọn công an cho đoàn xe ngừng tạị phố Hàng Chuối (*) để chúng vào các quán bên đường uống nước. Chúng tôi không được phép xuống xe, mà chỉ ngồi trên xe nhìn ngắm cảnh trí Hà Nội. Tôi không phải là dân Hà Nội cho nên không có gì bồi hồi xúc động. Những người trước đây đã từng sống tại Hà Nội, có lẽ không ít thì nhiều, cũng có chút ít bồi hồi xúc động khi nhớ lại thời niên thiếu của họ ngày xưa.

    (*) Anh Nguyễn Quang Ngọ, trước năm 1954 đã từng sống ở Hà Nội, cho biết chỗ chúng tôi đang ngừng xe là phố Hàng Chuối.

    Dân chúng dưới đường nhìn lên chúng tôi, thấy chúng tôi không bị nhốt trong xe bít bùng, và chúng tôi không lộ vẻ gì là buồn bã, mà trái lại là khác. Họ tưởng rằng chúng tôi được tha. Một bà bán hàng rong, cỡ tuổi trung niên, nhìn tôi và hỏi: “Các ông được tha về hả?” Tôi không trả lời mà giơ cái tay bị còng chung với anh Chất cho bà ta coi. Bà nói: “Vậy hả?” Thế rồi bà đi truyền miệng cho những bạn hàng xung quanh. Chỉ một lúc sau mọi người đều biết là “tù miền Nam chuyển trại.” Chúng tôi được họ quẳng lên xe cho những thứ gì họ đang bán, như thuốc lá, thuốc lào, kẹo v.v…

    Không phải tất cả mọi người dân Hà Nội đã thay đổi thái độ, từ căm ghét khi chúng tôi mới ra Bắc, chuyển sang có thiện cảm như bây giờ đâu. Đó đây vẫn còn lẻ tẻ những cá nhân chưa hết hận thù. Điển hình là, một anh đang đánh xe bò đi ngược về hướng đậu xe chở chúng tôi. Anh ta cho xe bò đi sát lại đoàn xe, và bất thình lình, anh ta dùng roi đánh bò quất mạnh một cái lên xe mà anh Võ Tấn Tài đang ngồi. Đầu roi quất ngang mặt một bạn tù, làm thành một lằn roi nằm ngang má. Nếu chẳng may mà đầu roi đập vào mắt anh thì chắc là anh đã lên “Ông Một” rồi. (Ngày còn quân đội Liên Hiệp Pháp, người Miền Bắc gọi thiếu úy là Quan Một, trung úy là Quan Hai, và đại úy là Quan Ba bởi vì cấp thiếu úy mang một vạch vàng, cấp trung úy hai vạch vàng, và cấp đại úy ba vạch vàng trên cầu vai).

    Ăn uống chừng 30-45 phút, bọn công an đi ra và cho xe chạy tiếp. Đoàn xe ra khỏi Hà Nội và càng lúc càng xa Hà Nội chạy về hướng Nam. Bây giờ thì chúng tôi biết chúng tôi sẽ không tới Hà Tây mà đoán là trại Nam Hà. Trời về chiều, gió hiu hiu thổi, tôi nhìn ra hai bên đường đã thấy những bác nông phu đang dẫn trâu về chuồng sau một ngày “lao động là vinh quang.” Tôi mong cho chóng tới đích để còn được nghỉ ngơi sau nửa ngày ngồi gò bó trên xe, trong lòng vẫn hoang mang, chẳng biết đích đến có phải là Nam Hà không, hay là còn đi tiếp?

    (còn tiếp)

  2. #42
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)
    Chương 7
    Trại Nam Hà A và C


    7.1. Đoàn xe vào Nam Hà
    Đoàn xe chạy thêm một lúc nữa thì bắt đầu quẹo phải, hướng về phía bến phà Phủ Lý. Vài anh “Bắc Kỳ ri cư 54” tỏ vẻ sành sỏi:

    - Qua phà Phủ Lý là đi vào Trại Nam Hà, chứ không còn sai vào đâu được nữa.

    Lòng tôi mừng thầm vì sắp thoát khỏi cảnh ngồi gò bó trên xe từ trưa đến giờ. Đoàn xe tới bến phà thì dừng lại và lần lượt xuống phà qua sông. Biện pháp an toàn khi qua phà là mọi hành khách phải xuống khỏi xe, để lỡ có chìm phà thì tránh được nguy hiểm. Nhưng, biện pháp an toàn này không áp dụng cho chúng tôi: tù mà, có chết thì càng khoẻ cho “Cách Mạng” chứ sao! Chúng tôi phải ngồi luôn trên xe khi phà qua sông.

    Khi xe tôi đã ở trên phà, tôi lẳng lặng rút tay mình ra khỏi còng. Anh Chất nhìn tôi như muốn hỏi tại sao. Tôi nói nhỏ đủ để anh nghe: “Rút tay ra trước để lỡ có gì thì mình khỏi bị chết chùm với nhau ở dưới sông.” Anh Chất tủm tỉm cười nhưng không nói gì. Tôi đoán, chắc anh đang nghĩ tôi là thằng nhát gan. Mặc kệ, nhát gan cũng đúng thôi. “Bơi trên cạn” thì chưa chắc ai đã ăn thằng này, nhưng ở dưới nước thì tôi bơi rất dở, tôi bơi tối đa là một lần chiều dài của cái hồ tắm mà tôi thường tắm ở suối Lồ Ồ trên đường đi Biên Hoà. Khả năng tôi như vậy thì làm sao bơi vào bờ khi phà bị đắm.

    Tôi còn cẩn thận hơn nữa cơ, tôi tuột sẵn đôi dép râu ra khỏi chân, sau đó mở ba lô lấy ra tấm ny lông và phủ sẵn nó lên cái ba lô trên đùi tôi. Nếu có chuyện gì là tôi bọc tấm ny lông bên ngoài cái ba lô để biến nó thành một cái phao bơi. Chuẩn bị xong xuôi, tôi mới an tâm ngồi nhìn dòng nước chảy lững lờ bên dưới. Lòng thầm nghĩ: Nước sông chảy đi và đi luôn, chứ không bao giờ chảy trở lại nơi nó xuất phát. Thời gian cũng thế, quãng thời gian quí giá nhất của đời tôi và các bạn tôi đã và đang bị bọn Cộng Sản gian ác cướp đi mất rồi, chẳng biết chừng nào chúng tôi mới được thả ra đây? Nếu chúng có thả ra thì cũng chẳng bao giờ chúng tôi lấy lại được những năm tháng quí nhất của đời mình đã trôi qua, bất giác, lòng tôi chùng xuống!

    Phà cập bến, xe chạy từ phà lên bờ và đậu thành hàng dọc, đợi cho tất cả đoàn xe lên đủ rồi mới lăn bánh chạy tiếp. Xe càng lúc càng lên dốc, cuối cùng thì chúng tôi nhìn thấy một cái cổng trại, bên trên cổng có hàng chữ “Trại Nam Hà”. Tôi nghe lao xao mấy tiếng của một bạn nào đó cùng xe nói: “Nó đây rồi, cuối cùng thì bọn tao cũng bắt được mày, mày chạy đâu cho thoát hả Nam Hà?” Hầu như bọn tôi ai cũng hiểu hàm ý diễu cợt của người vừa nói câu trên với một tâm trạng vui vui.

    Chúng tôi được lệnh xuống xe, ngồi sắp hàng trên một bãi cỏ rộng bên ngoài cổng trại. Công an áp giải lần lượt đi mở còng cho từng cặp để lấy lại còng đem về trại. Chúng tôi chờ khoảng nửa giờ thì có một tên công an từ trong trại đi ra, nhận bàn giao đủ số tù nhân mới đến và hướng dẫn chúng tôi vào trại. Trong trại có một cái sân tập họp khá rộng, chúng tôi tập họp tại đó, vẫn giữ đội hình như khi lên xe (nhóm 25 người). Cán bộ trực trại chỉ định từng hai nhóm một, tức là 50 người vào một buồng, sau đó bảo nhóm cử người để hắn dẫn xuống nhà bếp lãnh phần cơm chiều. Chúng tôi lãnh cơm, chia cơm cho nhau xong thì tới giờ đánh kẻng vào buồng. Phải đợi sau khi đã vào buồng và cửa buồng đã khóa, chúng tôi mới có thì giờ ăn cơm. Người nào cũng ăn vội vàng cho xong để còn lo chỗ ngả lưng cho khoẻ cái đã. Chuyện ngày mai, mai lo.

    Tôi đi vào giấc ngủ lúc nào không biết. Khi tỉnh giấc thì cũng là lúc nghe kẻng báo thức. Mọi người đồng loạt thức dậy, gom đồ đạc cho gọn rồi chờ công an trực trại đến mở cửa buồng, ra sân sắp hàng điểm đầu người, báo cáo xong thì lo làm vệ sinh cá nhân. Bây giờ là lúc cán bộ trại xáo trộn và sắp xếp lại nhân sự mà Việt Cộng gọi là “biên chế”. Mỗi buồng vẫn là 50 người nhưng người thì từ buồng khác tới, người thì mang ba lô đi các buồng khác cứ nhặng xị cả lên. Cán bộ quản giáo của đội tôi tới. Hắn chỉ định một người làm buồng trưởng, một người làm đội trưởng. Xong việc, hắn bỏ đi. Buồng trưởng và chúng tôi tự lo liệu sắp xếp chỗ nằm với nhau.


    Bản đồ vị trí
    Hai trại Nam Hà A và Nam Hà C




    Bản đồ vị trí
    Nam Hà A và Nam Hà C (phóng lớn)




    Hình chụp từ vệ tinh
    Trại Nam Hà A




    7.2 Trại Nam Hà
    Trại Nam Hà (*) trước kia được gọi là Trại Đầm Đùn, do người Pháp thiết lập từ trước năm 1945 để nhốt tù . Sau tháng 7/1954, Việt Cộng cai trị Miền Bắc, thì được đổi tên thành Trại Ba Sao. Sau này, năm 1976 khi có tù Miền Nam chuyển ra, nó đổi tên là Trại Nam Hà. Từ 1979 nó được đổi tên lần nữa, gọi là Trại Hà Nam Ninh.

    Trại nằm trong phần đất của tỉnh Hà Nam. Việt cộng gom ba tỉnh Hà Nam, Nam Định, và Ninh Bình thành một tỉnh mới, lấy tên là tỉnh Hà Nam Ninh. Do đó trại tù của tỉnh thì mang tên của tỉnh, tức là trại Hà Nam Ninh. Khi chúng tôi tới trại (1982) thì tỉnh vẫn còn được gọi là Hà Nam Ninh nhưng sau này (1997) nó lại tách ra và trở lại tên cũ là Hà Nam. Tuy nhiên, cái tên thông dụng để gọi trại là Nam Hà.

    Trại tù Nam Hà có 6 phân trại (*), gồm có A, B, C, D, E, và trại Mễ (vì trại nằm gần chợ Mễ).

    (*) Viết theo Tạ Quang Hoàng, “Chuyện tù kể từ trại Nam Hà,” 2008.

    Trại D,E, và trại Mễ đã bị dẹp bỏ trước khi chúng tôi tới Nam Hà. Trại B bị dẹp bỏ sau khi chúng tôi tới Nam Hà chừng vài tháng. Do đó, cuối năm 1982, Nam Hà chỉ còn lại hai phân trại là A và C. Nam Hà A là trại chính cho nên nó được xây cất rất kiên cố, và khang trang. Trại nằm trên lưng chừng một ngọn núi mà đá nhiều hơn là đất. Hình thức xây cất cũng tương tự như Vĩnh Quang A. Ngoài cùng là bức tường bằng đá vôi cao hai mét (hơn 6 ft). Bên trong có nhiều buồng, mỗi buồng lại được quây kín bằng một bức tường đá cũng cao hai mét, chỉ để một cổng ra vào nhỏ để đi lại. Chỉ khác với Vĩnh Quang A là, cầu tiêu không xây liền với buồng ngủ, mà xây rời ra, cách tường buồng ngủ phía sau là 1 mét (hơn 3 ft). Cầu tiêu kiểu này sẽ tránh cho tù nhân không phải hít thở không khí hôi thối khi ở trong buồng ngủ.

    Trong khu vực buồng ngủ, phía sát tường rào đều có trồng các luống hoa. Buồng nào khéo chăm sóc thì có các luống hoa đẹp. Lại còn có thêm hồ cá kiểng và núi non bộ nữa trông cũng bắt mắt lắm. Tuy nhiên, không phải tất cả các buồng đều có vườn cảnh, luống hoa đâu. Chỉ có 6-7 buồng nằm phía ngoài, là nơi mà bọn Việt Cộng thường đưa các phái đoàn ngoại quốc ghé xem thì mới được o bế cẩn thận. Số buồng còn lại thì xập xệ hơn nhiều.

    Thời gian chúng tôi tới trại (1982), trại có tổng cộng 18 buồng, đánh số từ 1 đến 18. Ngoài ra, còn có một buồng không đánh số, dùng làm bệnh xá của trại. Từ cổng trại đi vào, trước mặt là một sân khá rộng; mặt sân nhiều đá dăm hơn là đất; ấy vậy mà tù vẫn dùng làm sân đá banh vào những ngày nghỉ. Ai không cẩn thận, bị té thì không tránh khỏi trầy trật chân tay.

    Ngay phía tay phải, gần cổng là một cái giếng hoàn toàn là đá vôi; thành giếng, vách giếng, và đáy giếng đều là đá vôi; không có một chút gì là đất hay bùn cả; vì vậy nước giếng rất trong, có thể thấy mọi thứ dưới đáy giếng. Nước dưới giếng không nhiều, chỗ sâu nhất chừng 1 mét (hơn 3 ft), nước giếng chảy ra từ các mạch nhỏ ở đáy. Bờ thành giếng được xây bằng xi măng; phía ngoài bờ thành giếng cũng được tráng xi măng rộng thêm ra phía ngoài độ 2 mét (hơn 6 ft), tạo thành một cái hình vành khăn, và là nơi lý tưởng để đứng tắm.

    Hai bên sân banh (mà cũng là sân tập họp) là các dẫy buồng ngủ. Một dẫy buồng ngủ nữa, nằm ngang ở phía cuối sân, tạo thành hình chữ U bao quanh sân. Ở cuối sân, ngay phía trước dẫy nhà ngang, còn có một phòng đọc sách. Phòng này chỉ để trình diễn khi có phái đoàn ngoại quốc tới thăm. Bọn Việt Cộng sẽ cho ban Văn Nghệ ra đó tập ca hát trong khi có khách. Lúc khách ra về thì ban Văn Nghệ cũng dẹp tiệm luôn. Tôi nghe nói, trước đây có một phái đoàn Canada (*) đến thăm trại. Trong phái đoàn có hai linh mục mà một ông có tên là Gagnon (tên Việt Nam là Nhân). Cha Nhân có quốc tịch Canada nhưng gốc là người Pháp. Cha Nhân đã từng ở Việt Nam hành đạo nhiều năm trước khi bị chính quyền Việt Cộng đuổi về nước cho nên ông rất giỏi văn chương Việt Nam. Khi đứng trước mấy hòn non bộ, ông nổi hứng đọc:
    Một đèo, một đèo, lại một đèo.
    Khen ai khéo vẽ cảnh cheo leo!

    Có lẽ khi đọc câu thơ này, ông muốn ám chỉ rằng chính bọn Việt Cộng là người đã tạo ra nhiều cảnh cheo leo khốn khó cho những người của chế độ Việt Nam Cộng Hòa trước đây.

    (*) Viết theo Tạ Quang Hoàng, “Chuyện tù kể từ trại Nam Hà,” 2008.

    (còn tiếp)

  3. #43
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    7.3. Người về bằng tầu Việt Nam Thương Tín (VNTT)
    Trong ban Văn Hóa trại, có một chàng trẻ tuổi và vui tính; thỉnh thoảng tôi có gặp anh và nói chuyện qua lại với nhau. Tên anh là Đức, thiếu uý Không Quân (không nhớ tên họ). Đức kể nguyên do đi tù của Đức như sau:

    Một ngày cuối tháng 4/1975, Đức và một người bạn, cũng thiếu úy, vào phi trường Tân Sơn Nhất, tìm xem còn phi cơ nào bay được thì lái đi trốn. Hai người tìm hoài, cái thì hết xăng, cái thì bể bánh hoặc lủng bình xăng vì bị pháo kích, nhưng hai người vẫn không nản. Cuối cùng thì cũng tìm được một chiếc Caribou (loại vận tải nhẹ và chỉ cần một bãi đáp ngắn) còn đủ xăng để bay ra đảo Phú Quốc. Hai anh lên thử và máy nổ tốt. Thế là hai anh cho máy bay ra phi đạo, vọt lên không trung, nhắm hướng Phú Quốc bay tới.

    Máy bay đáp xuống phi trường Phú Quốc an toàn. Hai người ra khỏi phi cơ và nhập vào đoàn người di tản đang có mặt tại đó. Đức sang Mỹ và được một người Mỹ nhận đỡ đầu cho nên được ra ngoài đi làm rất sớm. Người bảo trợ kiếm cho Đức một chân “Họa Viên Kỹ Thuật” vì Đức có khiếu về ngành này khi còn học ở Trung Học Kỹ Thuật Cao Thắng, Sài-Gòn. Công việc làm đang suôn sẻ thì nghe người ta nói đang có một nhóm người di tản biểu tình đòi về lại Việt Nam. Nghe vậy Đức mừng quá vì lúc này Đức đang nhớ vợ mới cưới. Đức nghĩ, nếu không về thì biết đến bao giờ mình mới gặp được vợ. Đức quyết định xin nghỉ việc và xin trở về Việt Nam.

    Người chủ Mỹ của Đức biết tin này, ông hết sức can ngăn, phần vì ông tiếc mất một nhân viên giỏi, phần vì ông biết chắc khi Đức về đến Việt Nam sẽ lành ít dữ nhiều. Ông khuyên bảo cách nào, Đức cũng không nghe và ông đành chịu thua. Đức được chở tới nơi tập trung chờ ngày lên đường. Nhóm người trở về gồm đủ mọi thành phần, lớn bé già trẻ, dân sự, quân đội đều có đủ. Trong khi chờ đợi, một số thì lo viết sẵn những khẩu hiệu ca tụng “bác và đảng”, một số thì tập vài bài hát của Việt Cộng (những bài hát thời kỳ kháng chiến chống Pháp, trước năm 1954, vì họ chưa biết những bài hát mới của Việt Cộng sau khi Miền Nam thất thủ) để kiếm điểm với chính quyền Cộng Sản khi về tới Việt Nam.

    Chiếc tầu VNTT đã chuẩn bị xong; phải nói là người Mỹ rất chu đáo: thực phẩm và xăng dầu đã được trang bị không những đủ cho một chuyến đi mà còn cho chuyến trở lại Mỹ nếu những người trên tầu thay đổi ý kiến vào giờ phút chót, khi sắp vào hải phận Việt Nam. Ở Guam, tất cả mọi người được gọi lên gặp riêng từng người, một hình thức giống như “con chiên vào toà giải tội để xưng tội với linh mục” để họ có thể thật lòng nói ra ý muốn của mình mà không sợ ai biết. Nhân viên phỏng vấn hỏi đi hỏi lại là anh/chị/ông/bà có bị ai ép buộc phải trở về Việt Nam hay tự ý xin về. Nếu tự ý thì cho biết nguyên do. Nếu bị ép buộc hay đe dọa thì chính phủ Hoa Kỳ sẽ bảo vệ cho, đừng có lo gì cả. Đồng thời họ cũng giải thích những khó khăn nguy hiểm sẽ gặp phải khi về Việt Nam. Đức vẫn giữ ý định về để gặp lại vợ.

    Sau khi đã thẩm vấn xong, mọi người được cho lên tầu. Lối lên tầu có hai nhánh, giống như dạng một chữ Y viết hoa. Tất cả mọi người đi lên tầu từ chân chữ Y, khi đến ngã ba, nếu còn thay đổi ý định thì đây là một cơ hội cuối cùng để thực hiện; một nhánh có mũi tên chỉ vào hai chữ Việt Nam, một nhánh có mũi tên chỉ vào chữ U.S.A. Đức nói, cũng có dăm ba người đã thay đổi ý định khi đến ngã ba của chữ Y này.

    Tầu về tới Nha Trang nhưng không được cập bến ngay, phải đợi ở ngoài khơi mất một hai ngày (không nhớ) thì được phép cập bến. Lên khỏi bờ, mọi người được lệnh đứng riêng đàn ông một bên, đàn bà một bên. Nhóm cầm biểu ngữ và nhóm ca hát thấy thái độ đằng đằng sát khí của công an thì đâm ra sợ sệt, cụt hứng, hết dám ho he. Lệnh ban ra là đàn ông con trai phải lột bỏ hết quần áo ra, chỉ mặc quần đùi, đồng hồ và vàng bạc cũng phải tháo ra hết để cho công an khám xét, sau đó chúng cho mặc quần áo lại nhưng tiền bạc, đồng hồ và quí kim thì để “cách mạng giữ giùm” mà không có ngày trả lại. Sau đó Việt Cộng chuyển những người này đi các trại giam. Đàn bà và trẻ em thì được thả ra dần dần sau mấy tháng giam giữ. Thanh niên và đàn ông thì bị giam kỹ hơn; đa số bị đưa ra các trại ở Miền Bắc vì Việt Cộng nghi ngờ trong số người này có một ít người do CIA cài vào để trở lại Việt Nam hoạt động.

    Mặc dù chúng biết rằng hầu hết những người trở về đều là dân lương thiện, nhưng chúng vẫn giam giữ tất cả cho chắc ăn. “Giết lầm còn hơn bỏ sót” là đường lối hành động của Việt Cộng từ trước đến nay mà! Vì thế, có anh chỉ là trung sĩ thông dịch viên mà vẫn còn bị giam ở Trại Nam Hà A khi tôi được phóng thích (8/1984). Khi tôi tới Trại Nam Hà A thì Đức đã đang ở đó rồi. Chẳng hiểu Đức đã trải qua những trại tù nào trước khi tới Nam Hà A. Đức được thả ra cùng đợt với tôi. Vài tuần sau khi về nhà, tôi có ghé thăm Đức một lần. Nhà Đức ở gần rạp hát Huỳnh Long trên đường Bạch Đằng, gần chợ Bà Chiểu. Chắc hẳn giờ này, Đức và gia đình đang sống nơi nào đó trên đất Mỹ này. Tuổi Đức còn trẻ và rất tháo vát, chắc hẳn bây giờ hoàn cảnh của Đức cũng khấm khá, chứ không đến nỗi tệ như bọn già tụi tôi đâu.


    7.4. Không chịu vào buồng
    Mấy tháng sau khi chúng tôi về Nam Hà thì Trại Hà Tây không còn giam giữ tù Việt Nam Cộng Hòa nữa. Tất cả được chuyển đi nơi khác, trong đó có một số các vị tướng và đại tá được chuyển về Trại Nam Hà A và ở riêng thành 3 – 4 buồng. Cho đến khi tôi được thả ra (8/1984) thì những vị này vẫn còn ở đó. Từ đây, Nam Hà A sẽ thay thế Trại Hà Tây để đóng vai trò trình diễn mỗi khi có phái đoàn ngoại quốc thăm viếng. Vì vậy không khí trại tù trở nên dễ thở hơn.

    Ngày đầu tiên, khi cấp đại tá và cấp tướng về Nam Hà, có một chuyện sau đây xảy ra: Tới kẻng điểm đầu người (không điểm danh) để vào buồng cho cai tù khóa cửa. Các vị tướng tá này cứ quen như ở Trại Hà Tây trước đây, không xếp hàng trước, mà cứ lang thang trong khu sân, trước cửa buồng. Khi thiếu úy Công An (tên Lực) tới, chưa thấy ai vào xếp hàng, hắn nổi giận, bắt trưởng buồng (một vị trung tướng, quên tên) tập họp đội lại ngay và xỉ vả:

    - Các anh là cấp lớn trong quân đội ngụy, các anh phải biết kỷ luật chứ? Giờ này mà các anh còn đứng túm tụm lại nói chuyện, không xếp hàng chờ đợi báo cáo vào buồng. Các anh coi thường nội qui của trại, các anh phải rút kinh nghiệm để lần sau không được tái phạm nữa.

    Vị tướng trưởng buồng đứng im lặng chịu trận. Trong khi đó thì cụ Trần Trung Dung đang ở trong hàng, giơ tay xin có ý kiến. Tên Lực cho cụ nói. Đại ý, cụ nói rằng nhóm sĩ quan (Trại Hà Tây) mới đến đây lúc buổi chiều, chưa có cán bộ nào đem nội qui trại tới giải thích cho họ. Vả lại, trong khu vực của buồng cũng không thấy có dán bảng nội qui của trại. Như vậy làm sao họ biết nội qui của trại mà bảo rằng họ coi thường nội qui trại? Nói xong, cụ quay ra hỏi cả đội rằng cụ nói như vậy có đúng không. Cả đội đều trả lời “Đúng.” Cụ quay lại tên Lực, cho hắn biết rằng cụ và các bạn cùng buồng sẽ không vào vào buồng. Tất cả sẽ đứng ở ngoài sân, chờ cán bộ trại trưởng xuống giải quyết. Thế là cả đội đứng đó, buồng trưởng cũng không hô nghiêm nghỉ báo cáo mà chờ trại trưởng xuống giải quyết. Tên Lực biết đụng phải thứ dữ nên xụi lơ và đi buồng khác. Cuối cùng thì trại trưởng phải xuống tận nơi xin lỗi và hứa sẽ rút kinh nghiệm. Quân ta đã thắng một bàn ngoạn mục!


    7.5. Điếc “thời cuộc”
    Tổ chức nhân sự ở mỗi buồng gồm có buồng trưởng, đội trưởng, người làm vệ sinh, và người phụ trách căng tin (là chữ Pháp đã được Việt Cộng Việt hoá, cantine = quán ăn trong trại lính/trường học; ở đây Việt Cộng dùng nó với ý nghĩa là quầy mua bán thực phẩm của trại). Buồng trưởng là chức vụ nhàn nhã nhất, không phải đi ra ngoài lao động, chỉ quanh quẩn ở trại để nhận và chuyển lệnh của trại, mỗi ngày báo cáo số người lúc mở cửa buồng và lúc vào buồng. Đội trưởng có trách nhiệm dẫn đội đi ra ngoài lao động. Người làm căng tin thì mỗi sáng lo lập danh sách và đi mua hàng cho đội ở căng tin của trại, mang về và phân phối lúc đội trở về buồng. Người làm vệ sinh lo sạch sẽ trong khu vực buồng và nặng nhất là gánh nước rửa cầu tiêu mỗi buổi sáng.

    Đến bây giờ, tôi không còn nhớ tên của buồng trưởng và đội trưởng. Tôi chỉ nhớ tên người làm căng tin là anh Thảo (thiếu tá, khóa 4 Thủ Đức). Người làm vệ sinh là tôi, việc này ít có ai ham làm vì sợ dơ dáy, chẳng ai nhận thì tôi nhận. Xin nói thêm, công việc lấy phân đi đổ đã có một đội khác phụ trách cho cả trại (có lẽ là đội tù hình sự). Thời gian này, trời bắt đầu vào mùa Đông nhưng chỉ kéo nước và gánh vài ba đôi là thấy hết lạnh ngay. Từ cổng trại đi vào độ 30 mét (100 ft), ở phía bên phải có một cái giếng nước hoàn toàn bằng đá, vách đá, đáy cũng đá, nước rỉ ra ở mấy mạch dưới đáy giếng. Nước giếng rất trong, nhìn rõ từng hòn đá dưới đáy giếng, mực nước chỗ sâu nhất độ chừng 1 mét (3 ft) nhưng không khi nào cạn nước. Đường kính miệng giếng rộng khoảng 6 mét (20 ft). Xung quanh miệng giếng được xây thành gờ cao cỡ 50 cm (20 inches). Bờ giếng tráng xi măng rộng rãi, tha hồ mà tắm.

    Mỗi buổi sáng, sau khi ăn sáng xong, tôi đem quang gánh ra giếng kéo nước và gánh về buồng chùi rửa cầu tiêu, quét dọn xung quanh buồng cho sạch sẽ, xong, đi tắm, thay quần áo sạch rồi nghỉ. Công việc này, tôi làm tối đa là hai tiếng đồng hồ. Thời giờ còn lại là của tôi. Anh Thảo thì cũng làm xong việc trong khoảng thời gian như tôi, nhưng đến chiều anh còn phải làm tiếp công việc phân phối hàng cho mọi người. Tôi nằm cách anh Thảo hai người ( vào khoảng hơn một mét – 4 ft). Lúc đội đi làm, hai người kia vắng mặt, thì coi như hai chúng tôi nằm cạnh nhau. Anh Thảo giết thì giờ bằng những cuốn tiểu thuyết tiếng Pháp vì anh rất giỏi Pháp Văn. Tôi giết thì giờ bằng những cuốn truyện viết bằng tiếng Anh. Mục đích của tôi là đọc để học, còn anh Thảo đọc để giải trí; hai người hai mục đích khác nhau. Anh Thảo rất hiền lành và đạo đức. Có lẽ anh hiền quá cho nên anh chỉ lên được tới thiếu tá trong lúc những người cùng khóa hoặc khóa sau anh đã là tướng rồi. Lần chót tôi gặp anh là năm 1988, lúc hai chúng tôi đi ngược chiều nhau trên cầu Thị Nghè, Sài-Gòn.

    Việc làm sạch sẽ quanh buồng có một chuyện làm tôi nhớ mãi, được kể dưới đây. Buồng tôi có một anh cấp bậc đại úy (tôi quên tên), gốc là Công Binh nhưng sau này anh lấy được bằng Cử Nhân Luật, anh xin chuyển qua ngành Quân Pháp. Chẳng hiểu anh làm Ủy Viên Công Tố hay gì nữa. Anh là người không phải từ Vĩnh Quang A chuyển sang. Mấy người đã từng sống chung và nay cũng cùng buồng với anh nói rằng: “Thằng cha đó điếc đặc, mình có chửi nó, nó cũng chẳng biết đâu.” Vì điếc cho nên anh chẳng có bạn bè gì, cứ lủi thủi một mình. Hơn nữa, cách sống ích kỷ của anh cũng làm cho mọi người không ưa anh.

    Anh điếc (cứ gọi là anh điếc cho tiện bề sổ sách) mỗi buổi đi lao động đều mang về buồng một bó củi, toàn là cành cây khô mà lại không bó lại cho gọn ghẽ như những người khác. Khu vực để củi của mọi người là xung quanh nhà cầu, mỗi người tự chiếm một khoảnh. Củi của anh điếc để bừa bãi nhất, ngày nào tôi cũng phải dẹp lại cho gọn ghẽ. Thỉnh thoảng, anh buồng trưởng cũng nhắc nhở; ai làm thì làm, chứ anh điếc không làm, điếc mà làm sao nghe buồng trưởng nhắc nhở.

    Riêng tôi, qua vài tuần sống chung và nhất là nhìn ánh mắt của anh điếc, tôi không nghĩ là anh thực sự điếc. Tôi mới bàn với buồng trưởng để thử xem anh có điếc thực không. Một buổi chiều, khi đội vừa vào tới buồng, công việc đầu tiên là phải đem củi vào “kho” cất đi. Tôi và buồng trưởng giả bộ tới xem anh em cất củi, hai người cố tình đứng sát chỗ anh điếc đang làm việc. Tôi nói nhỏ với buồng trưởng:

    - Thằng cha điếc này bừa bãi quá, nhiều người kêu mà nó cứ tỉnh bơ, sáng mai mà tôi thấy nó còn bừa bãi như thế này, tôi sẽ lấy hết củi của nó đem chia đều cho mấy đống củi nào còn ít.

    Anh buồng trưởng thêm vào:

    - Anh làm như vậy được đấy, để cho nó tởn (sợ), bận sau hết dám bừa bãi.

    Sáng hôm sau, tôi ra kiểm soát chỗ chất củi, tôi thấy củi của anh điếc đã xếp gọn ghẽ, có khi còn gọn hơn cả mấy người khác. Tôi gọi buồng trưởng tới xem, anh buông một câu:

    - Đúng là thằng điếc thời cuộc.
    (còn tiếp)

  4. #44
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    7.6. Gặp lại thày cũ
    Tôi đã ở Trại Nam Hà được hai tuần lễ và vẫn đang tiếp tục công việc chùi rửa cầu tiêu mỗi ngày. Công việc tuy có chút dơ dáy và hôi hám nhưng bù lại, tôi chỉ làm một lúc buổi sáng và sau đó hoàn toàn nghỉ ngơi. Ngoài việc đọc truyện, tôi còn đi hết buồng này đến buồng nọ, trò chuyện với những người quen mà họ nghỉ bệnh ở nhà. Nhờ vậy tôi nghe nói có Giáo Sư Nguyễn Ngọc Diễm đang ở cùng buồng giam với mấy vị cấp đại tá. Tôi hỏi thêm thì được biết GS Diễm đúng là Nguyễn Ngọc Diễm, trước đây từng dạy Pháp Văn tại các trường Trung Học Chu Văn An và Trường Sơn ở Sài-Gòn.. Như vậy ông đúng là thày cũ của tôi rồi.

    GS Diễm có dạy Pháp Văn tại trường Trung Học Trần Lục một năm và tôi đã học Pháp Văn năm đó với Giáo Sư Diễm. Những ai học trung học ở Sài-Gòn vào những năm cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, có lẽ, đã nghe nói đến tên GS Nguyễn Ngọc Diễm. Khi biết chắc như vậy rồi, tôi định bụng sẽ tới gặp GS Diễm nhưng tôi chưa thực hiện ngay ý định này. Việc đầu tiên tôi làm là dò la tin tức để xem GS Diễm có còn là GS Diễm của thời tôi học, hay là thời thế đã làm cho tính tình của ông thay đổi rồi. Mong rằng ông vẫn còn giữ được phong cách tốt đẹp như xưa.

    Hai tuần lễ đã qua mà tôi chưa thấy có ai nói điều gì không tốt về ông. Tôi quyết định sang gặp ông vào một buổi trưa ngày Thứ Bảy. Lúc tôi sang, ông cũng vừa ăn cơm trưa xong và đang nằm nghỉ trên chỗ nằm của mình. Tôi chào ông và tự giới thiệu vì biết rằng trò nhớ thày, chứ ít có trường hợp thày nhớ trò, nhiều trò quá làm sao mà nhớ nổi. Tôi mở đầu:

    - Chào thày, em là Thái, học trò của thày hồi còn ở Trung Học Trần Lục. Hồi đó thày dạy Pháp Văn, còn thày Doãn Quốc Sĩ dạy Việt Văn, bà Phạm Thị Côn thì dạy Anh Văn.

    - Đúng rồi đấy. Em mới ở Vĩnh Phú đến phải không? Em đi những trại tù nào trước khi đến đây?

    Tôi kể sơ lược các trại tù tôi đã đi qua cho ông nghe. Tuy nhiên cả hai vẫn còn một chút e dè, chưa dám bộc lộ hết tâm tư thầm kín cho nhau được. Sống với Cộng Sản và nhất là trong những trại tù Cộng Sản thì việc dè dặt khi mới gặp nhau là chuyện thường thôi. Bọn chúng đã tạo cho người ta phải có thái độ như vậy để mà sống còn. Tôi hỏi ông:

    - Thày không phải quân nhân, vậy thày bị tù vì lý do gì?
    - Trước 30/4/1975, tôi làm tại Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa với chức vụ là Giám Đốc Nha Âu Châu. Họ (Việt Cộng) xếp loại giám đốc nha/sở tương đương với cấp đại tá, vì thế tôi đang ở cùng buồng với các ông đại tá đây.
    - Thày ở Bộ Ngoại Giao với chức vụ đó, chắc thày phải biết Miền Nam sẽ mất chứ?
    - Tôi biết chứ, nhưng vì tự ái dân tộc mà ngày 15/4/75 tôi lên máy bay từ Bangkok trở về Việt-Nam.
    - Thày nói rõ thêm cho em hiểu.
    - Tháng 4/1975, tôi đang đi công tác ở ngoại quốc; tôi thấy báo chí ngoại quốc có một cái nhìn không mấy thiện cảm với những người Việt-Nam di tản. Họ viết những bài báo đầy vẻ tiêu cực về những người di tản. Tôi nghĩ nếu mình ở lại xin tị nạn, thì cũng bị họ nhìn mình bằng nửa con mắt; do đó tôi quyết định về Việt-Nam mặc dù biết rằng về lúc này là lành ít dữ nhiều. Tôi thà chết chứ không chịu nhục.

    Rồi ông hỏi tôi:

    - Hiện giờ em làm gì trong lúc rảnh rỗi?
    - Thì em đọc mấy quyển truyện tiếng Anh để chữ nghĩa khỏi bị rơi rớt dọc đường.
    - Em có thích ôn lại Pháp Văn không?
    - Ngày xưa, giờ học Pháp Văn và Anh Văn ngang nhau, nhưng em bỏ lâu không đụng gì đến Pháp Văn, có lẽ vốn liếng Pháp Văn của em bây giờ đong không đầy một cái lá mít. À, em nghe một vài người nói thày đã lấy được cái Tiến Sĩ Văn Chương Pháp rồi phải không?
    - Chưa đâu em. Sau khi tôi lấy xong cái bằng Cao Học Văn Chương Pháp, tôi cũng đã chuẩn bị cho cái luận án tiến sĩ nhưng đang dở dang thì Miền Nam mất.

    Thấy đã đủ cho cuộc tái ngộ này, tôi chào ông để đi về buồng. Ông cầm một trong những cuốn truyện tiếng Anh đưa cho tôi. Tôi nhớ hình như là một cuốn thơ của Shakespeare nhưng không nhớ tên sách. Ông bảo tôi:

    - Em đem cuốn này về đọc đi, nếu có gì không hiểu thì ghi lấy rồi đem sang đây tôi giải thích cho. Khi nào xong cuốn này, em sang đổi cuốn khác, ở đây sách truyện không thiếu, chỉ sợ không có sức mà đọc thôi.

    Tôi nhận cuốn sách và cám ơn ông, đi ra khỏi buồng. Tôi mừng thầm vì từ nay tôi đã có nguồn cung cấp sách cho mình rồi. Trên đường về buồng, tôi nghĩ thầm rằng ông giỏi về văn chương Pháp nhưng ông không có một bằng cấp gì về tiếng Anh, mà sao ông nói với vẻ đầy tự tin như thế. Thôi cứ để thời gian trả lời. Tôi bắt đầu với cuốn sách ông cho mượn. Văn của Shakespeare là loại văn của thế kỷ thứ 16, văn thời trung cổ, có rất nhiều chữ cổ mà trong tự điển do nhà xuất bản Khoa Học Hà Nội không có ghi. Vả lại, vì nó là thơ cho nên thứ tự trong câu văn không theo như bình thường (Chủ từ - động từ - túc từ) cho nên rất khó hiểu. Tôi vật lộn với cuốn sách suốt một tuần lễ mà chỉ được vài ba chục trang. Trưa Thứ Bảy kế tiếp, tôi đem cuốn sách với những ghi chép các điều thắc mắc sang gặp ông. Lạ thay! Bất cứ chữ gì, câu gì mà tôi hỏi, ông đều giải thích thỏa đáng. Shakespeare lại hay dùng điển tích của người Anh (vì ông là người Anh) và điển tích trong Thánh Kinh của Thiên Chúa Giáo, ấy vậy mà GS Diễm đều giải thích được hết mặc dù GS Diễm là một Phật tử.

    Sau lần tiếp xúc này, sự ngờ vực về khả năng Anh Ngữ của GS Diễm đã biến mất, nhường chỗ cho một niềm tin vững chắc rằng từ nay tôi đã có thày ở bên cạnh. Những ngày kế tiếp, tôi đến gặp thày mỗi buổi chiều sau khi cơm nước xong thay vì để dồn lại cho ngày cuối tuần. Hai thày trò ngồi với nhau cho tới khi kẻng vào buồng, tôi mới chạy về buồng mình. Tôi học như vậy cho tới ngày tôi được thả ra (8/1984), chỉ trừ đi chừng bốn năm tháng bị gián đoạn, là lúc tôi bị đổi ra trại Nam Hà C. Dần dần, tôi mới nghiệm ra rằng tiếng Anh và tiếng Pháp đều mượn rất nhiều chữ từ tiếng La Tinh, chúng có rất nhiều chữ viết na ná như nhau, ví dụ: Pháp viết grammaire, Anh viết grammar. Khi đã có một cái vốn ngữ vựng tiếng Pháp thì học sang tiếng Anh rất dễ. Nhất là về văn phạm, một người giỏi văn phạm Pháp Văn như GS Diễm, thì văn phạm Anh Văn đối với ông chỉ là chuyện nhỏ.

    GS Diễm được thả ra năm 1987 và sang Mỹ tháng 3/1991 theo danh sách H. 06. Tôi sang Mỹ sau ông ba tháng, tháng 6/1991, theo danh sách H. 07. Hai thày trò chúng tôi vẫn thường liên lạc bằng điện thoại với nhau. Lần nói chuyện nào ông cũng đều khích lệ tôi học thêm. Chính vì vậy mà tôi có sức mạnh tinh thần để học. Nếu không có những lời khích lệ của GS Diễm thì tôi đã không lấy được bằng MBA (Master of Business Administration).

    Năm 1999, sau khi tôi lấy xong bằng Cử Nhân về Quản Trị Kinh Doanh (BA, Business Administration), tôi đã có ý định ngưng học để dành thời giờ cho vợ con. Tôi nghĩ, học thế là đủ rồi, “tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc” mà, cho nó đủ là nó đủ. Đủ để làm gương cho các con tôi, đủ để không bị mang mặc cảm tự ti đối với người bản xứ. Có học thêm cũng “chẳng làm vương làm tướng gì, học xong thì anh đã già rồi, ai thèm mướn anh” như lời vợ tôi thường nói. Trái lại, GS Diễm tỏ ra rất vui mừng và khích lệ tôi:

    - Em học được, đang có đà em nên tiếp tục đi.
    - Thày ơi, học thêm thì cũng được nhưng vợ em không vui đâu. Thời giờ học sẽ lấy đi của bà ấy thêm nhiều thời gian nữa. Em thấy tạm đủ rồi.
    - Tôi không bảo em học thêm để nhờ nó mà làm ra nhiều tiền hơn, và chỉ với cái bằng BA của em cũng đủ làm gương cho con cháu của em rồi. Tuy nhiên bây giờ là lúc em học để giúp cho chính sức khỏe của em.
    - Xin thày giải thích thêm.
    - Qua một thời gian dài làm ở nhà thương, tôi đã gặp rất nhiều anh em cựu tù của Cộng Sản. Tôi thấy rằng hầu hết, không nặng thì nhẹ, đều mắc phải một chứng bệnh mà người Mỹ gọi là Post Traumatic Stress Disorder (tạm dịch: tình trạng hậu chấn thương về tâm lý). Người bị nhẹ nhất thì thỉnh thoảng nằm ngủ vẫn mơ đến những cảnh mình đang ở trong nhà tù Cộng Sản. Người bị nặng thì nhiều khi hoảng hốt một cách vô cớ, nhiều khi nóng giận bất tử…(Ông còn nói nhiều nữa nhưng tôi không nhớ hết). Để tránh tình trạng này, tốt hơn hết là em phải làm cho đầu óc em luôn luôn có một cái đích để nhắm tới. Việc học sẽ giúp cho bộ não của em luôn hoạt động, não của em luôn luôn phải suy nghĩ tới bài vở nhà trường, đó là một hình thức cho não của em “tập thể dục”, trí nhớ của em vì thế mà không bị cùn đi, em cũng không còn thời giờ để mà nghĩ đến quá khứ, dù là quá khứ huy hoàng hay khốn khổ.

    - Vâng, em sẽ nghe lời thày, sẽ ghi danh học tiếp.

    Khi học chương trình Cử Nhân, tôi không thấy khó. Nhưng sang chương trình Cao Học, tôi thấy hơi nặng. Trước đây tôi tự tin về khả năng toán của mình, nhưng khi đụng phải mấy tín chỉ về kế toán/thống kê thì bị chới với. Với những môn này, không khi nào tôi được quá 75/100. Cũng may là nhờ những môn khác kéo lại để có thể qua được ải. Bây giờ mới thấy rằng những lời khuyên của thày Diễm rất có lý. Xin đa tạ thày đã dầy công dìu dắt. Khi tôi học xong, có hai người mừng nhất nhưng với hai tâm trạng khác nhau. Thày, thì mừng cho học trò đã đến đích và đã không uổng công hướng dẫn của thày. Vợ, thì mừng vì từ nay có người chở đi mua sắm, đi chơi đó đây thăm con cháu và bạn bè, không còn phải nghe cái điệp khúc “Anh đang bận học” nữa.
    (còn tiếp)

  5. #45
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    7.7. Bác sĩ tốt nghiệp ở bên Tây
    Lúc này Trại Nam Hà A có ba bác sĩ. Bác Sĩ Lê Thiện Điền mới từ Trại Vĩnh Quang A chuyển sang nhưng không được giao cho nhiệm vụ gì có liên quan tới chữa bệnh vì Bác Sĩ Điền có “thành tích chửi Việt Cộng” ở Vĩnh Quang A. Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh là BS nhãn khoa, thiếu tá Không Quân/ QLVNCH. Bác sĩ Trương Như Quýnh là cựu giám đốc một bệnh viện lớn ở Sài Gòn trước ngày 30/4/1975. Bài này tôi viết riêng về BS Quýnh.

    Tôi chưa có dịp tiếp xúc với BS Quýnh trong suốt thời gian ở Nam Hà A. Những gì tôi viết ra dưới đây là do tôi nhớ lại, không hoàn toàn, lời kể của GS Nguyễn Ngọc Diễm và của một vài người bạn tôi. Bác sĩ Trương Như Quýnh là anh ruột của ông Trương Như Tảng, tác giả cuốn “A Viet Cong Memoir” (tạm dịch là Ký Sự Của Một Người Việt Cộng). Trước khi về Nam Hà, BS Quýnh bị giam ở Trại Hà Tây, và Việt Cộng cho ông làm ở bệnh xá của trại. Trong lúc này, Luật Sư Trần Văn Tuyên cũng đang bị giam ở Hà Tây và ông đã chết. Ông là một nhân vật làm chính trị ở Miền Nam trước đây, được nhiều người biết tiếng. LS Tuyên là một trong những người đầu tiên chết trong nhà tù Hà Tây. Vì ông là người nổi tiếng cho nên bọn cai tù trình diễn xôm tụ lắm. Chúng mặc quân phục chỉnh tề và “kính cẩn” tới dự lễ mai táng LS Tuyên. Bên ngoài nhìn vào thì nhiều người nghĩ rằng bọn Việt Cộng đối xử với LS Tuyên, “kẻ phản quốc”, như thế là quá tử tế. Tuy nhiên, đừng vội vã, ta hãy nhớ lại những vụ mà Hồ Chí Minh cùng đồng bọn đã ám hại chính đồng chí của chúng, sau đó lại tới trước linh cữu của nạn nhân để nhỏ dăm ba giọt nước mắt cá sấu, rồi cho tổ chức lễ quốc táng linh đình, thì cái chuyện bọn Việt Cộng làm ở Hà Tây đối với cái chết của LS Tuyên chỉ là giả dối hoàn toàn. Chúng trình diễn để che mắt thiên hạ mà thôi.

    Để đề phòng những “dư luận xấu” về cái chết của LS Tuyên, chúng chỉ thị cho BS Quýnh làm một giấy xác nhận LS Tuyên chết vì một nguyên do gì đó cho hợp lý mà không ai có thể chê trách bọn chúng được. BS Quýnh biết rõ ý đồ của bọn Việt Cộng về vụ này cho nên ông không dễ gì bị mắc lừa bọn chúng. BS Quýnh ghi trong giấy khám nghiệm là “Luật Sư Tuyên chết vì tim ngừng đập” rồi đem nạp cho chúng.

    Rõ chán! Ai chết mà tim chả ngừng đập? Có ai tim còn đang đập mà đã chết? BS Quýnh đã phê một câu “huề vốn” như vậy, làm cho bọn Việt Cộng ức lắm. Chúng bèn trả thù ông ấy bằng cách bắt đi ra ngoài lao động, không cho làm tại bệnh xá nữa. Lao động thì lao động, ông ấy đâu có ngán. Được vài tuần lễ, chúng lại phải đưa ông về bệnh xá làm việc. Đó là chuyện ở Hà Tây, sau đây là chuyện ở Nam Hà.

    Nam hà có một thiếu úy Công An tên là Lực. Tên này phụ trách về điểm đầu người khi đóng và mở cửa buồng tù. Hắn cũng còn phụ trách khám xét những người ra gặp thân nhân thăm nuôi, ai mang lén thư từ mà bị khám phá thì mệt với hắn. Khi tù mang đồ thăm nuôi vào thì hắn khám xét rất kỹ rồi mới cho mang về buồng. Tù nhân trong trại đều không ai ưa vì tính hống hách của hắn. Một hôm, vợ hắn sanh đứa con thứ nhì và bị băng huyết. Các y sĩ, bác sĩ Việt Cộng trên tỉnh đều bó tay. Vợ hắn chỉ chờ chết. Có người mách bảo hắn tới xin BS Quýnh chữa cho, biết đâu gặp đúng thày thì sao. Hắn nghe lời và đưa vợ tới gặp BS Quýnh, xin ông khám và chữa bệnh cho. BS Quýnh xem xét một lúc rồi nói với tên Lực rằng bệnh này dễ chữa thôi nhưng cần phải có thuốc, ở bệnh xá này chẳng có thuốc gì ngoài mấy viên xuyên tâm liên và mấy vị thuốc dân tộc (*); không có thuốc thì chịu. Hắn tỏ vẻ lo lắng, không biết nói sao. BS Quýnh cho hắn biết tiếp rằng hiện ở trại này có một người sẵn thuốc, người đó là Đại Tá Phạm Kim Quy. Nếu hắn được ông ấy cho thuốc, thì vợ hắn sẽ thoát chết.

    (*) Việt Cộng gọi dược thảo (herbs) là thuốc dân tộc.

    Đại Tá Phạm Kim Quy mới được gia đình ở bên Pháp gửi về cho rất nhiều thuốc tây, ông phải tới nhờ Bác Sĩ Quýnh chỉ dẫn cho ông cách dùng một số thuốc mà ông chưa biết. Vì thế mà Bác Sĩ Quýnh biết Đại Tá Quy có thuốc. Lực đem toa thuốc của BS Quýnh tới gặp Đại Tá Quy. Rất may cho Lực là Đại Tá Quy cho hắn ta thuốc, đem về cho BS Quýnh chỉ cách sử dụng. Chỉ vài ngày sau là bệnh của vợ Lực thuyên giảm, và tiếp mấy ngày nữa thì bệnh khỏi hẳn. (Xin đừng nhầm lẫn với Hoàng Kim Quy, một người nổi tiếng ở Sài Gòn trước 30/4/75, hình như ông có biệt danh là Vua Kẽm Gai?)

    Kể từ sau khi vợ Lực được cứu sống, Lực thay đổi hẳn thái độ đối với tù Việt Nam Cộng Hoà. Hắn không còn hống hách như trước đây nữa. Nhiều người, trong đó có GS Diễm, khi ra gặp thân nhân thăm nuôi, Lực khám thấy có thư giấu trong người, hỏi của ai, người nào cũng trả lời là của Đại Tá Quy, Lực cho phép mang ra ngoài mặc dù biết rằng họ nói xạo, Đại Tá Quy nếu có thì cũng chỉ một hai lá thư thôi, chứ làm gì mà cả một xấp. Khi khám đồ tiếp tế cũng vậy, cái gì thuộc loại “quốc cấm”, cứ nói là của Đại Tá Quy thì xong ngay. Riết rồi, việc khám xét ra vô cổng coi như là có cũng như không.

    Trước tháng 4/1975, Đại Tá Quy thế nào thì không biết, nhưng từ ngày vào tù, Đại Tá Quy là người rất tốt đối với bạn tù, không phân biệt già trẻ lớn bé, ai cũng được đối xử như nhau. BS Quýnh là một người rất dí dỏm. Khi ai bị bệnh mà ông chữa không khỏi, ông thường nói đùa rằng bệnh không khỏi là do không có thuốc, chứ không phải là do bác sĩ đâu nhé, bác sĩ này tốt nghiệp ở bên Tây đấy. Người nào tới khám bệnh mà có thuốc riêng thì chắc là khỏi. Người không có thuốc, chỉ nhờ mấy thứ thuốc lá cây, khó mà hết bệnh.

    BS Quýnh dần dần bị đui hai mắt, mắt có cườm, chẳng nhìn thấy gì. Tuy vậy, Việt Cộng vẫn để ông làm BS chính của bệnh xá, trong khi BS Thịnh chỉ làm phụ tá thôi. Mọi công việc khám bệnh, trị bệnh đều do BS Thịnh. Còn BS Quýnh quay ra dịch truyện Kiều sang Pháp Văn để giải khuây. Ông nhờ một anh trung sĩ (Trước đây là thông ngôn, bị tù vì đi theo tầu VNTT về nước) viết giùm. Anh trung sĩ này cũng là người làm ở bệnh xá cho nên có cơ hội giúp BS Quýnh viết ra câu Pháp Văn khi nghe ông đọc.

    Nhân chuyện này, tôi có một suy nghĩ như sau: Một thanh niên Việt Nam du học từ lúc 19 – 20 tuổi, khả năng Việt Ngữ của anh ta khi đó đâu có là bao. Sang tới Pháp, mọi sự từ học hành đến giao tiếp hằng ngày đều dùng tiếng Pháp. Vậy thì BS Quýnh có đủ khả năng để dịch Truyện Kiều sang Pháp Văn không? Trong Truyện Kiều có rất nhiền điển tích, nếu không hiểu điển tích thì làm sao dịch cho đúng ý của cụ Nguyễn Du. Hay là dịch theo trường phái “Biển Dâu” thì hỏng bét. Báo chí ở Hoa Kỳ, cách đây hơn mười năm, đã dùng nhóm chữ “Trường phái Biển Dâu” để chế nhạo một vị “giáo sư” đã dùng chữ “mulberry sea” để dịch nhóm chữ “biển dâu” trong câu “Trải qua một cuộc biển dâu…” của cụ Nguyễn Du. Hoặc một vị cựu nghị sĩ Việt Nam Cộng Hòa nào đó đã dùng nhóm chữ “Thọ Xương chicken soup” để dịch nhóm chữ “canh gà Thọ Xương” trong câu “Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.”

    Vài tuần trước đây, khi nói chuyện với GS Diễm, tôi nêu ra thắc mắc trên đây về khả năng Việt Ngữ của BS Quýnh, GS Diễm không đồng ý với tôi, ông cho biết đại ý như sau: Khi ở Nam Hà, lúc đó BS Quýnh đã mù rồi, mỗi cuối tuần GS Diễm đều tới chuyện trò với BS Quýnh một vài tiếng đồng hồ. Ông thấy BS Quýnh nói tiếng Việt rất chuẩn, tiếng Việt ông dùng thường là tiếng Việt bác học, không phải bình dân đâu. Vả lại, BS Quýnh có một trí nhớ thật là đặc biệt. Điển hình là, ông có một cuốn album dầy hơn một trăm trang, trong đó có đủ hình ảnh của gia đình ông. Ông đưa cho GS Diễm coi cuốn album, và bảo ông Diễm cứ mở ra coi, trang nào có thắc mắc về hình chụp người nào thì cho ông biết số trang và vị trí dán tấm hình (phải, trái, trên, dưới), ông sẽ giải thích cho. Giáo Sư Diễm lật mấy trang và hỏi thử xem sao, thì thấy ông nhớ như là ông đang nhìn vào album vậy. Thử hỏi, với trí nhớ đó thì khi trở về Việt Nam, ông trau giồi thêm tiếng Việt đâu có khó khăn gì.

    Thêm một điều nữa là, ông ra khỏi tù năm 1988, GS Diễm thường tới nhà ông chơi và được nói chuyện với bà cụ thân mẫu của ông, thì được biết thêm rằng ông thuộc dòng dõi nho gia. Với cái gốc nho gia thì ông phải giỏi tiếng Việt. Do đó, GS Diễm kết luận, rằng điều mà tôi nghi ngờ, có thể đúng cho ai khác, chứ không đúng cho BS Quýnh đâu.

    Sau khi ra tù, BS Quýnh mổ màng mắt và lại nhìn được rồi. Ở trong tù, mặc dù có BS Thịnh chuyên về nhãn khoa nhưng không mổ được vì thiếu dụng cụ mổ xẻ. Tới đây là hết chuyện về BS Quýnh.


    7.8. Bắt phanh trần, phải phanh trần…
    Bác Sĩ Quýnh có một phụ tá là Bác Sĩ Nguyễn Văn Thịnh. BS Thịnh chuyên về nhãn khoa, là thiếu tá Không Quân ở Vùng 4 Chiến Thuật. Từ ngày BS Quýnh bị mù, BS Thịnh trở thành bác sĩ toàn khoa, trị bệnh từ ngón chân lên tới đỉnh đầu. Thỉnh thoảng BS Thịnh còn làm bác sĩ giải phẫu (lậu) nữa.

    BS Thịnh là một người rất vui tính và có máu tếu trong người. Năm ba người ngồi nói chuyện với ông thì thế nào cũng có những tràng cười xen kẽ. Ông cũng giống BS Điền là, không bao giờ ông dùng hai chữ “cách mạng” nhưng khác BS Điền ở chỗ ông không nói thẳng trước mặt tụi nó. Khi nói chuyện với bạn tù, ông luôn luôn dùng những chữ “Việt Cộng, thằng Việt Cộng, con Việt Cộng” để chỉ tụi nó. Vì tính tình ông vui vẻ cho nên ai cũng quý mến ông.

    Ngày xưa, Đỗ Mười làm nghề hoạn lợn, ngày nay Bác Sĩ Thịnh làm nghề thiến người (cắt ống dẫn tinh). Chả là, có một vị tướng trẻ (miễn nói tên) đoán rằng chẳng bao lâu nữa bọn Việt Cộng sẽ phải thả tù ra, dĩ nhiên có ông trong đó. Đúng là tướng có khác! Ông vẫn không quên được tác phong của một cấp chỉ huy, ông luôn luôn nhớ câu châm ngôn “Chỉ huy là tiên liệu.” Ông đã tiên liệu đến những chuyện phải làm khi được thả ra. Thế nào kỳ này về “ta sẽ phải lãnh ráp-pen cho thằng nhỏ đã đời” mới được (ráp pen là chữ Pháp được Việt hoá, thường dùng trong quân đội; rappel = truy lãnh lương bổng, lãnh một lúc mấy tháng lương vì trước đây chưa được lãnh). “Thằng nhỏ” của ông tướng đã lâu lắm rồi không được “lãnh lương”, có thể của vợ mà cũng có thể của bồ, ai mà biết được. Để đề phòng trường hợp vợ/bồ lỡ phải mang ba bô trước bụng, cách hay nhất là ông đi thiến. Tiên liệu như vậy là hết sẩy!

    Ông tướng năn nỉ Bác Sĩ Thịnh cắt ống dẫn tinh cho ông. Bác Sĩ Thịnh biết rằng ông không được phép làm như vậy. Tuy nhiên, vì nể lời ông tướng, Bác Sĩ Thịnh làm liều. Kể ra thì BS Thịnh cũng mát tay, đang hành nghề mổ mắt mà chuyển sang mổ “chim” cũng thành công mỹ mãn. Nhưng đâu có ngờ…

    Sau khi mổ, bệnh nhân được căn dặn là tránh đi lại nhiều để khỏi bị bung đường chỉ may. Ông tướng vì ham vui mà “quên lời mẹ dặn”, thích tham gia vào mấy bàn mạt chược và xì phé. Ông tướng lại nằm ở tầng trên, muốn chơi bài thì phải leo xuống tầng dưới, xong thì lại leo lên tầng trên. Cứ thế ông làm liên tiếp mấy ngày thì chỉ may con chim làm sao chịu thấu. Chỉ may bị đứt, máu chảy ra, làm độc cả vùng hạ bộ. Thuốc trụ sinh cũng không khỏi trừ khi phải mổ ra khâu lại. Việc này thì BS Thịnh bó tay vì bệnh xá không đủ dụng cụ. Ông tướng được chở đi bệnh viện tỉnh cấp cứu. Thế là việc mổ lậu của BS Thịnh bị đổ bể, ông bị BS Quýnh khiển trách nặng lời. Tiếp theo là trại ký lệnh giam BS Thịnh vào nhà kỷ luật 15 ngày (?).

    Rất may là BS Thịnh được lòng mọi người, từ bạn tù tới bọn Việt Cộng. Trại ký lệnh giam là để đề phòng cấp trên hỏi đến thì có chứng cớ rằng trại đã áp dụng kỷ luật với đương sự. Thực tế, thì BS Thịnh không phải đi nằm nhà kỷ luật. Trong những lúc vui bạn bè, ông thường nói đùa: “Từ ngày con cu theo mình đi ở tù, nó chỉ làm mỗi một nhiệm vụ là đi đái, còn nhiệm vụ khác thì bỏ luôn.” (Có sẵn đâu mà không bỏ luôn?). Ngoài ra, ông thường hay nhái thơ của cụ Nguyễn Du.

    Thơ Nguyễn Du:
    Bắt phong trần, phải phong trần,
    Cho thanh cao, mới được phần thanh cao.


    Thơ nhái của BS Thịnh:
    Bắt phanh trần, phải phanh trần,
    Cho mai-ô, mới được phần mai-ô.
    (mai-ô là tiếng Pháp được Việt hoá mà dân Bắc Kỳ 54 hay dùng; maillot = áo lót/áo thun).

    (còn tiếp)

  6. #46
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    7.9. Cụ Trần Trung Dung
    Cụ Trần Trung Dung là một nhân vật mà ở miền Nam Việt Nam trước 1975 được nhiều người biết. Ở trong trại tù Cộng Sản, Cụ là một trong vài người lớn tuổi nhất nên được nhiều người nể trọng. Tôi chưa nghe ai chê trách Cụ điều gì trong thời gian tôi ở Trại Nam Hà A cùng với Cụ. Ngoại trừ một chuyện, theo như lời truyền miệng của mấy tướng lãnh cùng ở chung với Cụ, là Cụ đã “chê bai các vị sĩ quan cao cấp của Việt Nam Cộng Hòa.”

    Vào mùa hè 1983, gần tới tháng năm, Việt Cộng cho chiếu lại cuốn phim “Chiến Thắng Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954” của quân đội Việt Minh đối với quân Pháp. Lần chiếu này chỉ dành cho một số khán giả chọn lọc, từ hàng đại tá và giám đốc sở trở lên. Sau khi xem xong cuốn phim, chúng bắt người xem phải viết bài “thu hoạch”. Bài thu hoạnh của Việt Cộng cũng giống như là một bài kiểm tra sự tiếp thụ bài học của mỗi học viên. Mục đích của chúng là muốn cho học viên phải ca ngợi “Chiến thắng thần thánh của Quân Đội Nhân Dân anh hùng.”

    Thần thánh cái con khỉ khô gì! Sau khi rảnh tay ở chiến trường Đại Hàn, Trung Cộng đã dồn nỗ lực giúp cho Việt Minh đánh Pháp. Ngoài việc yểm trợ vũ khí và đạn dược dồi dào, Trung Cộng còn cử Đại Tướng Trần Canh và một Ban Tham Mưu sang Việt Nam, bề ngoài gọi là làm cố vấn, nhưng thực chất là chỉ huy cuộc chiến chống quân Pháp. Việt Nam chỉ được “vinh dự” đóng góp xương máu của mấy chục ngàn người vừa quân sĩ vừa dân công. Võ Nguyên Giáp chỉ là một thứ “Thiên lôi chỉ đâu đánh đó,” Trần Canh bảo sao thì làm vậy. Ấy thế mà khi thắng trận Điện Biên Phủ, Võ Nguyên Giáp đã nghiễm nhiên trở thành người hùng Điện Biên Phủ mới là hay (vì Trung Cộng đâu có dám ra mặt nhận công trạng đó là của mình).

    Hầu hết các vị tướng lãnh đều nghĩ rằng tụi nó (Việt Cộng) muốn mình “thổi ống đu đủ” thì mình cứ thổi, thổi cho nó phình bụng ra rồi nổ tung, cho chết mẹ tụi nó. Các tướng viết mỗi người dăm bảy trang giấy rồi đem nộp cho xong chuyện. Trái lại, Cụ Trần Trung Dung thì nghĩ khác. Cụ đã viết gần hết một quyển vở 100 trang và nộp cho quản giáo. Đến ngày phê bình - kiểm điểm tại buồng, tên quản giáo chơi xỏ, khi đến bài viết của Cụ Trần Trung Dung, hắn chỉ đọc lên vài trang trong đó ghi phần nhận xét của Cụ về sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

    Trong phần này, Cụ chê các sĩ quan cao cấp của Việt Nam Cộng Hòa đa số là bất tài, chỉ toàn là loại sống lâu lên lão làng. Khi đã có quyền bính trong tay thì lại tham nhũng hối lộ (nhưng vẫn còn thua xa Việt Cộng bây giờ, ghi chú của người viết). Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm Miền Nam mất sớm. Khi nghe đọc phần này của Cụ, các vị tướng rất tức giận. Chỉ ngày hôm sau là tin này đã được loan truyền đi các buồng, rằng Cụ Dung đã đứng về phe địch để nói xấu sĩ quan Miền Nam. Nghe tin này, tôi cũng hoang mang, sao lại có chuyện lạ như thế được? Tôi đem chuyện này nói lại với một số bạn thân của tôi để xem họ nghĩ sao.

    Một người bạn trong số này, mà tôi không nhớ tên, có sự quen biết với Cụ Dung, đã cho tôi biết sự việc như sau: Đó chẳng qua chỉ là một sự hiểu lầm do ác ý của tên quản giáo gây ra. Nó muốn làm giảm uy tín của Cụ Dung, và gây chia rẽ giữa hàng ngũ chúng ta thôi. Nó chỉ đọc có mấy trang Cụ chê hàng tướng lãnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nhưng nó không đọc lên cái phần mà Cụ nhận định về những sĩ quan trung cấp. Cụ nói những sĩ quan trung cấp của QL/VNCH là những người đã được đào tạo chu đáo cả về quân sự lẫn văn hóa; họ có thực tài và đầy nhiệt huyết, đầy lòng yêu nước. Vả lại họ cũng chưa có tì vết gì về tham nhũng cả. Tiếc thay! Cờ chưa đến tay họ thì đã mất Miền Nam.

    Tên quản giáo lại càng không dám đọc những lời Cụ chê bọn Việt Cộng từ trên xuống dưới. Cụ viết dài lắm, gần một trăm trang giấy học trò bởi vì Cụ muốn nhân dịp này, Cụ viết một tác phẩm để đời, coi như là một bài viết cuối đời của Cụ để lại cho lịch sử. Trong đó, Cụ nhận định về thời thế, về quân đội của hai miền Nam-Bắc, về đường lối cai trị của đảng Cộng Sản Việt Nam, v.v… Và điểm cuối cùng, Cụ kết luận rằng nước Việt Nam muốn thoát ra khỏi cảnh nghèo đói lạc hậu, muốn thoát ra khỏi nanh vuốt của bọn Tầu phương Bắc thì bắt buộc phải đi với Mỹ, phải bỏ nền kinh tế chỉ huy mà đi theo kinh tế thị trường tự do. Đó là con đường bắt buộc vì không còn con đường nào khác để chọn lựa. Nghe được lời giải thích của người bạn, tôi yên tâm và đồng thời cũng tiếp tay để hóa giải những lời đồn thất thiệt về Cụ Dung. Câu chuyện dần dần trở nên lắng đọng.

    Bây giờ, sau 25 năm (2008 – 1983) nhìn lại, thì rõ ràng lời nói của Cụ Dung không sai. Cụ đã nhìn trước được cái thế mà Việt Cộng đang cố gắng theo đuổi lúc này. Cụ Dung cũng sang Mỹ sau khi ra tù, nhưng nghe nói cụ đã qui tiên rồi!


    7.10. Sợ lây bệnh cùi
    Tôi làm vệ sinh ở buồng, không có dịp đi ra ngoài lao động. Những chuyện xẩy ra bên ngoài, tôi đều nghe anh em bạn tù kể lại. Câu chuyện dưới đây, tôi viết lại theo lời kể của anh Nguyễn Quang Ngọ và Võ Tấn Tài. Khu vực lao động của đội tôi có tên là thung Gianh vì nó có rất nhiều cỏ tranh (một thứ cỏ mà người ta dùng để lợp mái nhà). Người Bắc, nhất là vùng Nam Định và Hà Nội thường đọc vần TR và GI như nhau. Nghe dân vùng này đọc là Gianh thì tôi viết là Gianh, có lẽ viết là Tranh thì đúng hơn. Thung là tiếng tắt chỉ cái thung lũng. Thung Gianh ở cách trại hơn ba cây số (2 miles); trong vùng này có rất nhiều hang động vì đây là khu vực núi đá vôi.

    Đội của Ngọ thường vào thung Gianh trồng sắn. Ở đây có một làng cùi, phỏng độ vài ba trăm người, nặng nhẹ đều có cả. Một lần đi trồng sắn, lúc nghỉ giải lao, anh Giang (tr/tá, đã chết sau ngày ra tù) gặp một ông đứng tuổi, mặc vét đàng hoàng, hai tay bỏ trong túi quần, có lẽ ông này là trưởng ấp ở đây. Sau này được biết thêm, xóm này gọi là trại phong (cùi) Ba Sao. Anh Giang gật đầu chào thì ông này đưa tay ra bắt tay. Anh Giang cũng đưa tay ra, nhưng mới được nửa chừng thì Giang phát giác ra ông này bị cùi vì mấy ngón tay đã rụng gần hết. Anh Giang sợ quá nhưng lỡ trớn rồi thì phải liều thôi. Nói được dăm ba câu, ông cùi mời anh Giang ghé nhà ông (gần bên) uống nước. Anh Giang, trước khi vào nhà ông thì quay lại ra hiệu cho các bạn đừng vào theo anh. Còn anh thì cũng phải lịch sự vào nhà nhưng anh không dám đụng đến thứ gì trong đó. Nói tiếp dăm ba câu nữa, rồi anh lấy cớ hết giờ nghỉ, cáo lui. Ra tới ngoài, anh kể lại cho bạn bè nghe, ai cũng ớn xương sống. Nhân vụ này, mọi người mới sực nhớ và thốt lên: “Chết mẹ rồi! thằng Huỳnh Chí Tài nó nói rằng nó mua đồ ở thung Gianh về cho anh em mình ăn, như vậy đúng là nó mua đồ ở làng cùi này, chứ còn đâu nữa. Coi chừng cả đội bị lây bệnh cùi mất thôi.”

    Huỳnh Chí Tài có máu Tầu (buôn bán) trong người, cho nên đi tới đâu hắn cũng làm công việc mua bán đổi chác để kiếm ăn thêm. Tài thường vào trại phong, mua đồ ăn vì giá rất rẻ, như bánh chưng, bánh dày, chuối… Từ ngày biết đây là trại cùi, công việc làm ăn của Tài tự động dẹp bỏ. Tôi xin kể thêm một chút về Huỳnh Chí Tài.

    Tài thuộc loại nhà giàu, ở Chợ Lớn, đi đâu cũng mặc vét và có xe hơi riêng. Kẹt tuổi quân dịch, Tài xin vào làm lính kiểng của ngành Dân Sự Chiến Đấu (DSCĐ). Loại lính này do Mỹ trả lương nhưng không có số quân. Tuy nhiên, người mang thẻ DSCĐ vẫn được coi là hợp lệ tình trạng quân dịch khi bị cảnh sát hỏi giấy tờ. Từ khi Chí Tài trở thành lính DSCĐ, Tài phét lác với chòm xóm rằng Tài làm cho CIA. Chòm xóm cũng tin như vậy vì Tài luôn luôn mặc vét và ngồi xe hơi. Thỉnh thoảng, Tài lại đi một đường ngoạn mục là, mời mấy quan lớn (Trại Trưởng LLBB và tùy tùng) về ăn nhậu um xùm gần nhà Tài để cho bà con lé mắt chơi. Chòm xóm nhìn thấy toàn là đồ rằn ri, súng M-18, xe Jeep có cần câu (ăng ten) chạy tới chạy lui thì làm gì mà chẳng nghĩ rằng Tài “làm lớn”. Vì vậy mà sau ngày 30/4/75, bọn Việt Cộng nằm vùng chỉ điểm cho “Cách Mạng” tới mời Tài đi tù. Vào trong tù, Tài chẳng biết gì mà khai báo. Ngay cả cái tên ngành lính của mình mà Tài cũng còn ấm ớ. Đúng ra phải nói là Dân Sự Chiến Đấu, thì Tài khai là Biệt Kích Dân Sự. Việt Cộng chẳng thấy có ngành nào trong QL/VNCH gọi là Biệt Kích Dân Sự cả, thôi thì cứ nhốt cái đã, “giết lầm còn hơn bỏ sót” là đường lối của Việt Cộng mà. Đó là lý do mà Tài bị đưa ra Bắc và ở tù lâu. Khi tôi được tha (8/1984), Tài vẫn còn bị tù.

    Trở lại chuyện trại cùi, Ngọ nói: “Cho đến bây giờ, bọn mình chưa thấy ai dính bệnh cùi là phúc lắm rồi. Khi khám phá ra vụ ăn uống đồ ăn do người cùi làm, tụi này có hỏi Bác Sĩ Lê Thiện Điền thì được ông giải thích rằng vi trùng cùi khi gặp ánh sáng mặt trời là nó sẽ chết. Tuy nhiên, lúc đó bọn này vẫn còn nửa tin, nửa không. Bây giờ thì yên tâm rồi.”


    7.11. Tư lệnh Sư Đoàn 23 B
    Trại Nam Hà A, trước khi chúng tôi tới, có một đội gọi là đội 20. Đội này nổi tiếng là quậy phá và chống đối, gồm toàn những em cỡ mười mấy, hai mươi. Những em này bị bắt vì tham gia lực lượng Phục Quốc, và bị đưa ra Bắc. Các em thường hay phản đối, không đi lao động mặc dù cũng ra sân tập họp chờ đi lao động. Các em tập họp ở sân rồi mới hô hào không đi lao động để lôi kéo toàn trại làm theo. Đức (một trong số những em đó) kể lại với tôi rằng: “Có lần tụi em làm quá, không ra khỏi buồng để phản đối lao động khổ sai; trại phải huy động toàn bộ lực lượng, nửa đêm bất chợt mở cửa buồng chĩa súng vào tụi em trong lúc tụi em đang ngủ, tụi em không phản ứng kịp, đành chịu thua. Sau lần này, bọn em bị đưa tới giam tại Trại Nam Hà B, rồi chuyển về D.”

    Chừng một tháng sau khi chúng tôi tới Trại A, các em này lại được chở về đây vì hai Trại B và D bị dẹp bỏ, Trại B bị dẹp trước, Trại D bị dẹp sau. Ở trên xe bước xuống, chúng tôi thấy không phải là người, mà là các bộ xương biết đi. Các bộ xương biết đi này được sắp xếp cho ở buồng số 9. Anh em chúng tôi, ai có gì thì giúp họ thứ ấy. Nhờ vậy mà các em này phục hồi sức khỏe rất mau chóng. Khi khỏe khoắn rồi, vào những ngày cuối tuần, các em thường tới trò chuyện với chúng tôi. Các em thật là hồn nhiên và vui tính, ai cũng thương mến. Các em đều còn độc thân, không vướng bận thê nhi, cho nên các em coi chuyện tù đầy là chuyện nhỏ, chúng tôi thua các em ở điểm này. Ngày tôi được thả, chỉ có vài ba em được thả cùng đợt với tôi, và tôi chỉ nhớ có một em tên là Tài thôi.

    Lẫn trong đám các em Phục Quốc, có một anh chàng điên điên khùng khùng, cỡ 30 tuổi tính đến năm1982. Không rõ nguồn gốc anh này ra sao, chỉ biết rằng anh bị tù vì tội “làm Tư Lệnh Sư Đoàn 23 B.” Anh luôn xưng là Thiếu Tướng Quang Trung và làm Tư Lệnh Sư Đoàn 23 B. Chả cần nói, ai cũng biết anh này điên bởi vì với cỡ tuổi đó thì làm sao anh có thể mang lon thiếu tướng được (năm 1975 mới có 23 tuổi). Vả lại, trong QL/VNCH chỉ có Sư Đoàn 23 Bộ Binh, làm gì có Sư Đoàn 23 B.

    Hằng ngày, vào buổi trưa, trong lúc mọi người ngủ hoặc nghỉ trưa, thì anh này đi vòng vòng bên trong bờ tường đá, nhặt sỏi rồi bọc trong một mẩu giấy và ném viên sỏi ra ngoài bờ tường. Có người hỏi anh làm như vậy để làm gì, anh trả lời là đi gửi công điện cho các đơn vị ở ngoài. Bọn Việt Cộng cũng thừa biết những điều anh khai báo là không đúng. Và, chúng cũng thừa biết những việc anh đang làm nhưng chúng vẫn nghi ngờ có gì mờ ám bên trong. Chúng nghĩ vậy, vì cái bóng ma CIA luôn luôn ám ảnh chúng.

    Vì thế mà, ngày tôi và hơn tám chục người được thả, Thiếu Tướng Quang Trung, Tư lệnh Sư Đoàn 23 B, vẫn âm thầm đi gửi công điện cho các đơn vị dưới quyền của ông ấy đấy. Một hội viên Thư Viện Việt Nam, biệt danh Transon101, bổ túc thêm về “Tư lệnh SĐ23 B” như sau: “Cựu Tư lệnh Sư Đoàn 23 B được tha năm 1987. Anh em chăm nom hắn mọi chuyện (kể cả làm một bảng đeo vào cổ ghi địa chỉ thân nhân tại Đà Nẵng.”
    (còn tiếp)

  7. #47
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    7.12. Chuyển tới Trại Nam Hà C

    Sau khi ăn cái tết đầu tiên ở Nam Hà A (đầu năm 1983), chúng tôi lại chuyển trại nhưng lần này vì số người ra đi không là bao so với những người còn ở lại cho nên ít được quan tâm. Chỉ có một số ít người biết trước sẽ có chuyển trại. Riêng tôi thì chẳng biết gì cho đến ngày mình đi.

    Một buổi sáng, sau khi tập họp ở sân, những người nào được đọc tên sẽ đứng riêng ra, sau đó được lệnh về buồng thu xếp hành trang để chuyển trại. Lần này chúng tôi được lệnh đi bộ, chúng tôi biết ngay là sẽ không đi đâu xa, chỉ dăm bẩy cây số là tối đa. Nếu đi xa thì phải có xe chở và tay bị còng; phương thức giải tù/giải phạm của bọn công an Việt Cộng là như vậy. Chúng tôi đi đổ dốc, Nam Hà A ở trên lưng chừng núi, đi đâu thì cũng phải đổ dốc.

    Một vài người đã ở Trại A lâu năm, tỏ ra rành địa thế, đoán rằng bọn chúng tôi sẽ xuống Trại Nam Hà C. Lời nói của họ cho thấy là đúng. Chúng tôi đi khoảng hơn một tiếng đồng hồ thì có lệnh dừng lại trước mấy căn nhà mái tôn. Ở ngoài nhìn vào không ai nghĩ rằng đây là nhà tù, mà là cơ ngơi của một hợp tác xã nào đó. Trại gồm mấy dãy nhà tôn trên một khu đất chật hẹp, chung quanh là một hàng rào kẽm gai sơ sài, cao chừng 1 mét rưỡi (5 ft). Bên ngoài hàng rào phía sau trại là những vườn rau của trại và của dân lẫn lộn với nhau. Cổng trại cũng chẳng ra cổng, không có cả một tấm bảng tên nhỏ của trại.

    Vừa bước qua cổng trại, phía bên phải là một cây cổ thụ mà tôi không còn nhớ là loại cây gì, cành lá sum suê, bóng mát che kín một khoảng sân lớn (bề ngang sân cỡ chừng 20 mét – 65 ft); phía bên tay trái là một dãy nhà tôn chạy dọc theo chiều sâu của trại (nhìn từ cổng vào). Dãy nhà này gồm có hai buồng cách nhau bằng một bức vách. Mỗi buồng chứa được một đội 50 người. Song song với dãy nhà này, ở phía sau, cũng là một dãy khác có kiến trúc tương tự. Như vậy, hai dãy nhà có tất cả là 4 buồng, nhốt được 200 tù.

    Qua khỏi dãy nhà là tới một khu đất trống rất hẹp, ở giữa khu đất có một cái giếng sâu chừng 10m (hơn 30 ft) nhưng mực nước dưới giếng không sâu quá 50cm (20 inches) vào lúc có nhiều nước nhất (thường là buổi sáng sớm). Đường kính miệng giếng rộng cỡ 4m (hơn 12 ft). Nước giếng lúc nào cũng có màu hồng hồng trông giống như nước vo gạo đỏ. Khi có nhiều người múc nước cùng một lúc thì nước có thêm nhiều bùn hoà lẫn với nó, phải để nước một lúc lâu cho bùn lóng xuống rồi mới dùng được. Vì thế tù nhân thường tắm giặt ở ngoài ruộng sau giờ lao động. Nước giếng chỉ dùng để rửa mặt, rửa chén mà thôi.

    Bên ngoài hàng rào phía sau trại là mấy khoảnh vườn rau của trại. Mỗi ngày, một số người được cắt cử gánh nước tưới rau cho trại. Nước tưới rau lấy từ một cái ao cạn phía sau đền thờ bà Lê Chân.

    Vào tới trại, chúng tôi thấy đã có một số anh em từ các trại Tân Lập, tỉnh Vĩnh Phú (Tân Lập có nhiều trại, mang chữ K ở đầu, như K5, K6 …) đang ở đây rồi. Như vậy là, vừa Tân Lập, vừa Nam Hà A cộng lại là khoảng 200 người. Tôi và Nguyễn Quang Ngọ ở cùng dãy nhà nhưng khác buồng. Tôi ở buồng 1 và Ngọ ở buồng 2 (gần giếng nước). Buồng 1 nằm sát ngay phía trái cổng trại. Võ Tấn Tài ở cùng buồng 1 với tôi. Bác sĩ Nguyễn văn Thịnh cũng đi cùng nhóm chúng tôi về đây nhưng không nhớ ông ở buồng nào.

    Sau một vài ngày ở đây, chúng tôi được biết Trại C thuộc xã Khả Phong, huyện Kim Bảng, Tỉnh Hà Nam. Dân quanh trại cho biết sở dĩ xã này có tên là Khả Phong vì nó có nhiều thế đất linh, ai may mắn có mồ mả đặt trúng vào thế đất linh thì con cháu sau này sẽ “phát”, sẽ có danh vị trong xã hội, sẽ được nhà vua phong cho chức tước; đó là ý nghĩa của hai chữ “khả phong”. Nghe chuyện này, tôi nghĩ trong bụng rằng: “Khả phong” đâu chưa thấy, mà chỉ thấy trước mắt rằng “khả bệnh” là cái chắc; môi trường sống ở đây quá ô nhiễm, sức khỏe sẽ bị ảnh hưởng là điều đương nhiên. Không khí, nhất là vào buổi sáng, ngột ngạt mùi xú uế của phân và nước tiểu do dân chúng tưới rau xung quanh trại.

    Mỗi buổi sáng, tôi mong cho chóng ra khỏi trại để tránh phải hít thở cái mùi xú uế đó vào buồng phổi mình. Nước uống thì đục ngầu và đôi khi còn có mùi thum thủm do nước tưới rau ngấm xuống mạch nước. Buồng ngủ thì nóng quá hoặc lạnh quá tùy theo mùa. Mái tôn không có trần, hành hạ những người phải nằm tầng trên. Mùa lạnh thì hắt cái lạnh thấu xương xuống những tấm thân tù còm cõi; mùa hè thì hắt cái nóng dữ dội xuống họ. Vào mùa hè, người nào cũng phải chứa sẵn vài ba lon nước để trước khi đi ngủ, vào trong nhà cầu xối cho ướt từ đầu đến chân rồi lau sơ sơ cho ráo nước trước khi vào giường ngủ.

    Tôi nằm ở tầng trên, buổi tối trước khi khóa cửa buồng, tôi cũng phải để dành mấy lon nước nhưng thay vì xối cho ướt người, tôi đổ nước vào cái mền cho ướt đều, rồi phủ lên nóc mùng (màn) để loại trừ hơi nóng từ mái tôn hắt xuống. Nhờ vậy mà đỡ được cái nóng rất nhiều. Còn mùng và mền thì sáng hôm sau lại khô rang như đã được phơi ngoài nắng vậy.

    Cách tổ chức nhân sự ở đây cũng hệt như ở Trại A: Buồng trưởng, phụ trách báo cáo nhân số khi vào buồng buổi tối, ra buồng buổi sáng; ngoài ra thì chỉ đi lòng vòng cho hết ngày. Đây là chức vụ nhàn hạ nhất. Đội trưởng, phụ trách dẫn đội đi lao động bên ngoài. Người làm “căng-tin”, phụ trách mua đồ ăn, đồ dùng cho cả buồng. Người làm vệ sinh, phụ trách rửa ráy nhà cầu mỗi ngày; công việc này tuy có dơ dáy nhưng cũng chỉ vất vả vài tiếng đồng hồ mỗi ngày, thời giờ còn lại là của mình, làm gì tùy ý.

    Buồng trưởng buồng tôi là anh Song (không nhớ họ, từ Trại Tân Lập chuyển sang). Anh Song trước đây là dân “cậu” ở Sài-Gòn. Thời gian này, Song được tiếp tế đầy đủ cho nên dáng dấp vẫn còn rất phong độ. Song cao lớn và lại có thêm bộ ria mép, trông bảnh trai lắm. Chẳng biết những năm tháng tù đầy của Song trước đây như thế nào, nhưng bây giờ thì không thấy biểu hiện gì là loại “đâm sau lưng chiến sĩ”. Song ăn nói hòa nhã và sống hoà đồng với mọi người trong buồng.

    Đội trưởng là anh Kiệt (Phạm Thế Kiệt?), khoá 20 Võ Bị Đà Lạt. Kiệt là anh ruột của Chương còm/Chương hói mà tôi đã đề cập trong bài viết trước đây. Kiệt cũng vậy, chỉ biết làm tròn công việc của đội trưởng mà không thấy làm điều gì khó dễ với bạn tù. Tôi chưa thấy ai than phiền về anh. Chắc hẳn giờ này gia đình anh cũng đang sống ở đâu đó tại Hoa Kỳ.

    Người phụ trách “căng-tin” là anh Trần Vệ, khoá 19 Võ Bị Đà Lạt. Vệ và Kiệt là người từ Tân Lập chuyển qua cho nên tôi không rõ quá khứ “cải tạo” của hai anh này. Mà, cho dù họ đã làm gì đi nữa thì bây giờ họ cũng chẳng dám tỏ ra là “tiến bộ” vì tình hình đã thay đổi, đã nhìn thấy “ánh sáng ở cuối đường hầm” rồi. Chỉ còn tên nào có cái đầu bằng đất sét thì mới tiếp tục “học tập để tiến bộ” mà thôi. Vì thế, trong mấy tháng ở Trại C, tôi chưa nghe ai nói đến một người nào bị phát giác là làm “ăng ten” cho Việt Cộng cả. Chúng tôi nói chuyện với nhau thoải mái hơn, không phải nơm nớp lo sợ có kẻ rình rập và báo cáo như những năm tháng trước đây.

    Ngoại trừ nhóm người làm bếp, các đội không được giao cho phụ trách chuyên về một việc gì cả. Công việc của đội tôi cũng thay đổi luôn, lúc thì đi đập đá dăm, lúc thì đi làm cỏ lúa, lúc thì nhổ mạ, khi thì đi cầy ruộng, v.v… Bọn công an quản giáo cũng có vẻ à ới, giao việc cho đội trưởng xong rồi thôi, không kiểm soát gắt gao. Đội trưởng giao công tác cho từng tổ, chúng tôi cũng làm à ới, nước sông công tù mà, ngu gì mà làm nhiều chứ. Dường như ở thời điểm này, bọn cai tù đã được học tập “Đường lối mới” đối xử với nhóm tù Việt Nam Cộng Hòa. Chúng nó không còn có vẻ căm thù chúng tôi như những năm trước nữa. Có lẽ là do hệ quả của sự điều đình giữa Đại Diện Hoa Kỳ (ông Funseth) và chính phủ Cộng Sản Việt Nam từ năm 1982.

    Đến cuối ngày, đội trưởng báo cáo sao cũng được, chẳng thấy quản giáo phê bình là “lao động chây lười, cải thiện linh tinh, chưa đạt chỉ tiêu v.v…” như trước đây chúng tôi đã từng nghe mỗi ngày. Tôi đã từng bị quản giáo, khi mới tới Trại Vĩnh Quang B, bắt quả tang tôi cuốc đất ăn gian; cuốc một nhát, bỏ một nhát. Vì vậy mà tôi cuốc chậm rãi nhưng vẫn theo kịp anh em trong đội. Hắn bảo tôi rằng: “Anh giơ (cuốc) lên chim đậu, bổ (cuốc) xuống mối xông.” Ý hắn nói là tôi lười, cuốc chậm, tháng năm một cuốc, tháng mười một cuốc. Lúc đó, tôi thầm nghĩ, mày muốn nói sao thì nói, nghe tai này tao cho chạy qua tai kia là xong ngay, miễn là mày đừng lấy báng súng đánh tao là được. Những lần sau, tôi không cuốc một nhát, bỏ một nhát; nhưng thay vì cuốc sâu thì tôi cuốc nông để đỡ mất sức; như thế vẫn là cuốc ăn gian; khi nào ăn gian không được thì bỏ. Vậy là tôi vẫn qua mặt nó được. Triết lý sống của tôi là phải giữ gìn sức khoẻ; bèn có câu thơ con cóc sau đây:
    Ra thăm, vợ đã dặn rằng
    Lao động à ới, đừng hăng làm nhiều.

    7.13. Đền thờ bà Lê Chân
    Trại Nam Hà C nằm trên khu đất trước đây từng thuộc khu vực đền thờ bà Lê Chân (*). Từ sau ngày Cộng Sản cai trị Miền Bắc, khu đền thờ của Bà đã bị bọn chúng chiếm dụng. Các kiến trúc lớn đều bị phá hủy. Khi chúng tôi tới đây, chỉ còn duy nhất một cái miếu nhỏ, bên trong có tượng bà Lê Chân, được che bằng một tấm màn đỏ. Phía sau miếu có một cái giếng nông; có thể coi như một cái ao nhỏ vì nó không có thành giếng thẳng đứng, mà có bờ thoai thoải từ trên đi xuống. tất cả đều bằng đá, nước rỉ ra từ các mạch đá ở đáy giếng. Mực nước giếng chỗ sâu nhất chừng một mét rưỡi (5 ft). Nước ở đây rất trong, có thể nhìn thấy đáy giếng. Chúng tôi thường gánh nước ở giếng này về tưới rau cho trại. Khoảng cách từ trại tới giếng phỏng chừng hơn một trăm mét (hơn 300 ft). Hằng ngày có một bà cụ trông nom hương khói ở miếu. Bà cụ này, khi được hỏi, cho biết rằng Bà (Lê Chân) rất thiêng. Kể từ ngày bọn Việt Cộng chiếm đất trong khu vực này để xây cất nhà ở và nhà tù thì năm nào cũng có một đứa bé (con của Việt Cộng) bị chết đuối ở cái giếng phía sau miếu thờ Bà mặc dù giếng không sâu. Có lẽ đây là sự trừng phạt dành cho những kẻ ngỗ nghịch, đã dám xâm phạm đến khu đất của Bà.

    Thời gian đầu, đội tôi đã một vài lần ra ngồi đập đá dăm cho trại. Chúng tôi ngồi trên khoảnh đất trống, xế cửa của miếu. Chúng tôi ngồi thành hai hàng ngang đối diện nhau. Mỗi người được phát cho cây sắt vuông cạnh, giống như một cái thước kẻ, dài chừng 30cm (12 inches), vuông mỗi cạnh 2cm (.8 inch). Chúng tôi phải đập những cục đá lớn cho bể ra thành đá dăm, nhỏ cỡ đầu ngón tay trỏ. Đập đá như vậy mà không có kiếng che mắt thì rất dễ bị đui mắt nếu chẳng may miểng đá văng trúng con ngươi. Chúng tôi chưa ai bị đui mắt nhưng bị đá văng trúng vô mặt, cánh tay, bàn chân thì rất thường.

    Một buổi sáng, anh Võ Tấn Tài ngồi cùng hàng với tôi và sát ngay cửa miếu Bà. Đến giờ nghỉ giải lao, Tài tới vén màn che miếu thờ và nhìn vào trong miếu khá lâu. Tôi thấy điệu bộ của Tài tỏ ra không phải là chỉ ngó xem cho biết vì Tài đứng rất ngay ngắn và không quay qua liếc lại như người khác. Sau khi hết giờ giải lao, mọi người trở lại vị trí đập đá của mình và tiếp tục công việc cho đến hết giờ. Buổi chiều, chúng tôi tiếp tục ra đập đá. Ngồi được chừng 15 phút thì một công an Cán Bộ Trại tới chỗ chúng tôi và hỏi lớn:

    - Anh nào là Võ Tấn Tài?

    Tài trả lời:

    - Có mặt
    - Anh đi theo tôi vào trại.

    Tài đứng lên và theo hắn vào trại. Tôi thắc mắc, chẳng biết Tài bị gọi về vì lý do gì, lành hay dữ đây? Hết giờ làm việc, chúng tôi về trại thì thấy Tài vẫy vẫy tay tỏ vẻ vui thích. Sau khi cơm nước xong, chờ giờ vào buồng, Tài gặp tôi và kể: “Bà thiêng thật! Sáng nay ngồi đập đá, tôi thấy đá văng tứ tung, tôi chỉ sợ đá văng vô mắt thì tàn đời trai, rồi tôi nghĩ tới sự linh thiêng của Bà. Đến giờ nghỉ giải lao, tôi tới vén bức màn đỏ, nhìn vào, thấy tượng Bà uy nghi trên bàn thờ, tôi khấn với Bà rằng nếu Bà linh thiêng thì xin Bà giúp tôi làm cách nào đổi công việc này cho tôi, tôi sợ đập đá lắm rồi. Lúc tôi khấn Bà, tôi phải đem hết lòng thành để mong Bà nhận lời. Và, Bà đã nhận lời khấn của tôi. Trưa nay thằng Cán Bộ Trại gọi tôi vào trại giao cho tôi bộ đồ hớt tóc, từ nay chuyên lo việc cắt tóc cho anh em trong trại. Chiều nay tôi đã cắt tóc cho một số người đang nghỉ bệnh tại trại. Khi cắt tóc cho họ, họ cho biết là trưa nay tên Cán Bộ Trại tới kiểm tra và thấy họ đều có tóc dài quá, hắn hỏi tại sao để tóc dài, họ trả lời là không có ai hớt tóc cho. Hắn cho biết, trại có sẵn bộ đồ nghề hớt tóc, và muốn biết ở đây ai biết hớt tóc thì họ trả lời là có VT Tài, vì thế hắn ra gọi tôi về trại và giao cho tôi nhiệm vụ hớt tóc. Thế là từ nay tôi khỏe re, nhờ có Bà giúp đó.” Nghe Tài kể xong thì thắc mắc buổi sáng về điệu bộ nghiêm trang của Tài đã được giải đáp.

    (*) Ghi chú: Nhân nói đến bà Lê Chân, tôi thêm phần ghi chú này, dành cho các bạn trẻ chưa hiểu rõ về lịch sử chống ngoại xâm của tộc Việt thời vua Trưng (tôi dùng chữ của Yên tử Cư sĩ Trần Đại Sỹ), năm 39-43 sau công nguyên. Quí vị lớn tuổi, xin thông qua. Theo Yên tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ thì: Bà Lê Chân là một trong số 162 vị tướng của vua Trưng. Bà là một nữ tướng ở vào bậc trung thôi. So với các nữ tướng khác như các bà Trần Năng, Nguyễn Phương Dung, Phùng Vĩnh Hoa, Hoàng Thiều Hoa, Phật Nguyệt… thì bà Lê Chân còn kém xa về tài năng. Chồng bà Trưng Trắc là ông Đặng thi Sách nổi lên đánh đuổi quân Tô Định. Ông bị trúng kế của Tô Định và bị giết. Quần hùng khi đó suy cử bà Trưng Trắc thay thế chồng, làm Giao Chỉ Vương, cầm quân tiếp tục cuộc chiến chống lại Tô Định. Tất cả các môn phái võ lâm của tộc Việt đều tự đặt mình dưới quyền điều động của bà. Mặc dù về tài văn võ của bà còn thua một số người khác, nhưng bà có chân mệnh đế vương cho nên ở bà toát ra một cái gì mà người đối diện cảm thấy nể phục. Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và nhiều cuốn Việt Sử khác thì, họ của ông Sách đã bị bỏ qua, mà chỉ viết là Thi Sách, làm cho nhiều người lầm tưởng rằng họ của ông là Thi. Sau khi đánh đuổi được quân Tô Định về Tầu và chiếm lại được toàn thể lãnh thổ cũ của tộc Việt từ Động Đình hồ trở xuống phía nam (phỏng chừng một nửa phía nam của nước Tầu hiện nay). Quần hùng suy tôn bà lên làm Hoàng Đế, lấy tên nước là Lĩnh Nam. Bà trở thành hoàng đế Lĩnh Nam (năm 39 sau Tây lịch). Và, bà Trưng Nhị thay thế bà Trưng Trắc, làm Giao chỉ vương. Do đó chữ “Vua Trưng” để chỉ Hoàng Đế Lĩnh Nam, tức là bà Trưng Trắc. Bà Trưng Nhị làm Giao Chỉ Vương/Trưng Vương. Các bạn trẻ muốn tìm hiểu thêm về giai đoạn lịch sử này, xin hãy tìm đọc Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ, “Động Đình Hồ Ngoại Sử” và “Cẩm Khê Di Hận” (có đăng trong Thư Viện Toàn Cầu).

    (còn tiếp)

  8. #48
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    7.14. Đỉa nhiều như rươi

    Thời tiết bắt đầu vào mùa hè. Đội tôi bây giờ chuyển sang nhiệm vụ trồng cấy. Trại có một số ruộng cấy lúa nước, nằm xung quanh trại, trong phạm vi bán kính chừng một cây số (2/3 mile). Nghe nói tới làm ruộng là tôi lại nghĩ đến đỉa vì hầu như luôn luôn phải đi, đứng, và làm việc ở dưới nước, mà tôi lại rất sợ đỉa. Tôi nói với anh Kiệt (đội trưởng) sắp xếp cho tôi việc gì không phải lội xuống nước. Anh Kiệt suy nghĩ một lúc rồi cắt cử tôi đi lấy củi cho anh Nguyễn Phán (khóa 24 Võ Bị Đà Lạt, hiện ở Cali). Phán lo phần nấu cơm trưa và nấu nước cho đội. Mặc dù chúng tôi làm ruộng không cách xa trại quá một cây số, nhưng chúng tôi không về trại buổi trưa, mà ở luôn cho đến chiều mới trở về trại (Việt Cộng gọi là đi làm thông tầm).

    Ở Trại Vĩnh Quang A đã nhiều đỉa, mà ở đây đỉa còn nhiều hơn. Chúng tôi thường tắm giặt ở những vũng nước gần với nhà lô của đội. Đứng ở trên nhìn xuống, không thấy gì, nhưng bước chân xuống nước rửa ráy, đỉa thấy động là chúng bơi ra tấn công ngay. Mỗi khi tắm, tôi lội nhanh xuống nước nhúng cho ướt người rối phóng ngay lên bờ và đứng trên bờ kỳ cọ. Kỳ cọ xong, tôi lại phóng xuống nước lần thứ hai, nhúng người cho sạch rồi lại phóng ngay lên bờ.

    Mấy anh em khác, ít sợ đỉa hơn, họ không làm như tôi. Mỗi khi bị đỉa bám vào người, họ nhổ nước miếng vào mấy đầu ngón tay, rồi xoa vào chỗ đỉa đang cắn. Đỉa gặp nước miếng thì nhả miệng ra, do đó dễ dàng bị mấy ngón tay hất ra ngoài. Tôi cẩn thận như vậy mà vẫn bị dính đấy. Có lần, khi về đến trại, chuẩn bị nhận phần cơm chiều, tôi thấy mông quần của tôi bị ướt nhẹp. Tôi tự hỏi, quần áo mình vừa thay xong, khô ráo đàng hoàng mà sao lại ướt kỳ lạ vậy. Tôi kéo mông quần hết cỡ về phía trước và cúi xuống nhìn, thì ra là máu. Tôi biết ngay là bị đỉa cắn. Chú đỉa hút máu no bụng rồi nhả miệng ra và rơi ở đâu tôi không biết, máu ở vết cắn cứ tiếp tục chảy ra làm ướt quần. Vì không biết cho nên đỡ sợ nhưng trong lòng thì tiếc hùi hụi vì phải cống hiến máu cho chú đỉa ngoài ý muốn. Phải ăn bao nhiêu cơm mới lấy lại được số máu đã mất đây!

    Dưới nước có đỉa là chuyện thường, trên bờ có đỉa mới là chuyện lạ. Nhiệm vụ của tôi là đi lấy củi cho anh Phán nấu ăn. Cách nhà lô của đội tôi chừng 500 mét (1/3 mile) đường chim bay, có vài ngọn núi đá thấp. Núi chỉ có một ít cây thân mộc lớn và ở trên cao, không thể chặt được. Ngoài ra, chỉ toàn là bụi cây thân thảo và dây leo. Ngày đầu tiên, kiếm được đủ củi cho bữa cơm trưa không phải là dễ. Khi đã đủ một bó củi cho ngày hôm đó, tôi chặt sẵn một ít dây leo để ngày hôm sau đã có một mớ củi tai tái khả dĩ nấu cơm được. Tôi cứ chặt gối đầu như thế, với số lượng nhiều gấp ba bốn lần của một ngày nấu ăn để nó có đủ thời gian khô. Nhờ vậy mà nhà bếp Phán có củi khô nấu ăn mỗi ngày.

    Đường từ núi về nhà lô, phải băng qua nhiều mảnh ruộng nhỏ, ngăn cách nhau bằng những bờ ruộng phủ đầy cỏ. Có lần tôi ngồi nghỉ chân trên một bờ ruộng vì không muốn về sớm quá, sợ tên quản giáo nghĩ rằng công việc này quá nhẹ, lại bắt làm thêm cái gì nữa thì không khá được. Buổi sáng đầu mùa hè, trời trong sáng, ngồi trên bó củi, hít thở không khí trong lành đượm mùi lúa non thì cũng thú lắm.

    Chừng 15 -20 phút sau, tôi ngó xuống bàn chân thì rùng mình; những con đỉa nhỏ bằng que tăm và dài hơn 1cm (1/2 inch) đang lúc nhúc ở mấy kẽ ngón chân của tôi. Tôi vội vàng lột đôi dép râu ra và nhổ thật nhiều nước miếng vào mấy ngón tay, rồi cho nước miếng ở ngón tay nhểu xuống mấy kẽ ngón chân, sau đó xoa xoa thật lẹ cho mấy con đỉa văng ra khỏi chân. Rồi, tôi phải đứng hai chân lên bó củi để phủi hết mấy con đỉa còn bám ở dép râu. Xong xuôi, tôi hết dám ngồi tiếp nữa, mà đi vội về nhà lô ngồi nghỉ. Từ nhỏ tôi đã biết đỉa, nhưng chỉ thấy đỉa ở dưới nước thôi. Đâu dè còn có cả đỉa trên bờ (ruộng) nữa. Những lần đi chặt củi kế tiếp, tôi thử đứng lại tại một vài bờ ruộng khác xem sao, thì thấy rằng bờ ruộng nào cũng vậy. Chỉ đứng lại một chút xíu là mấy chú đỉa tí hon đã mon men đến gần đôi dép râu của tôi rồi, thấy mà phát khiếp!


    7.15. “Tôi theo nội qui của trại.”
    Công việc đồng áng của đội tôi kéo dài vài ba tuần lễ. Mỗi buổi sáng tôi vẫn leo lên ngọn núi đá thấp lấy củi về cung cấp cho Nguyễn Phán nấu ăn. Tới giờ ăn trưa, cả đội tập trung ở nhà lô để ăn trưa. Hết giờ nghỉ trưa, ai về việc nấy, chẳng thấy ai tỏ vẻ gì là làm việc mệt nhọc cả. Không ai nói ra nhưng đều ngầm hiểu với nhau rằng bây giờ là lúc làm việc à ới, làm cho qua thời gian thôi, chẳng dại gì mà cầy như trâu, chỉ tổn sức khỏe.

    Phán và tôi thì, sau bữa ăn trưa là coi như nghỉ luôn cho tới chiều, chờ đội gom dụng cụ về nhà lô, cất vào kho, rồi dẫn nhau ra mấy vũng nước gần đó tắm giặt trước khi về trại. Trong lúc chờ đợi, Phán và tôi, mỗi người mắc một cái võng vào mấy cái cột ngoài hiên nhà lô, nằm đu đưa võng, đọc báo chán thì ngủ. Tên quản giáo ít khi có mặt ở nhà lô, có lẽ hắn đi vào xóm tán gái, tới gần giờ nghỉ việc mới thấy hắn lò mò về. Cái võng của tôi được làm bằng một cái bao gạo trăm ký. Bao gạo này do Võ Tấn Tài ăn cắp cho tôi khi anh còn làm ở đội nhà bếp Trại Vĩnh Quang B. Tôi xẻ đôi bao gạo theo chiều dọc bao, viền mép lại, thế là thành một cái võng, tuy chẳng có mỹ thuật tí nào nhưng rất hữu dụng. Nhờ nó mà khi được thả, bốn ngày ba đêm trên xe lửa, tôi dùng nó làm chỗ ngả lưng tương đối thoải mái.

    Một vài lần, khi quản giáo về nhà lô sớm, hắn thấy chúng tôi đọc báo, hắn mon men đến hỏi chuyện tôi:

    - Anh đọc sách tiếng nước ngoài à?
    - Vâng, tôi đang đọc tờ tạp chí Liên Xô
    - Anh biết tiếng Liên Xô à? Mà tôi thấy nó đâu có giống chữ Liên Xô?
    - À, nó là tạp chí Liên Xô nhưng được in bằng tiếng Anh cho “quốc tế” đọc.
    - Học tiếng Anh có khó không? Liệu tôi học có được không?
    - Cán bộ còn trẻ, đầu óc còn minh mẫn (chưa chắc ạ, bần cố nông ba đời thì minh mẫn sao nổi!) thì học cái gì chả được, nhưng phải có thày dạy.
    - Khi nào thuận lợi, anh dạy tôi nhá?
    - Vâng.

    Nói xong, hắn bỏ vào trong nhà hút thuốc lào. Tôi nghĩ bụng, nếu mày có dịp nhờ tao dạy thì mày sẽ được nghe những lời “tuyên truyền phản động của bọn Mỹ-Ngụy” hơn là học chữ.

    Một hôm vào lúc xế chiều, tên quản giáo từ xóm trở về nhà lô sớm. Hắn vào trong nhà lô, vài phút sau đã nghe thấy tiếng kêu ro ro của chiếc điếu cày. Hút thuốc xong, hắn ra chỗ tôi và bảo:

    - Anh Thái vào đây tôi bảo.

    Tôi đứng dậy và đi theo hắn vào trong nhà. Hắn chỉ cho tôi hai cái chai không và bảo tôi mang hai cái chai này đi theo hắn vào trại lãnh thực phẩm. Tôi hỏi hắn:

    - Thưa cán bộ, lãnh thực phẩm cho đội hay cho riêng cán bộ?
    - Lãnh cho riêng tôi thôi.
    - Nếu lãnh riêng cho cán bộ thì tôi không đi.
    - Tại sao anh lại không đi?
    - Thưa cán bộ, nếu tôi mang chai đi lấy nước mắm cho cán bộ là tôi đã vi phạm nội qui của trại.
    - Sao lại vi phạm nội qui?
    - Nội qui trại có ghi rõ ràng là phạm nhân không được dùng bất cứ hình thức nào để hối lộ, mua chuộc và lấy lòng Cán Bộ Quản Giáo của mình. Việc riêng của Cán Bộ thì Cán Bộ làm lấy. Nếu tôi mang chai đi lấy nước mắm cho Cán Bộ thì rõ ràng là tôi làm để lấy lòng Cán Bộ mà thôi, chứ đâu có phải bổn phận của tôi.
    - Thôi được, anh nhiều lý sự lắm, ra ngoài đi.

    Tôi bỏ ra ngoài nằm võng và biết rằng thế nào chiều nay hắn cũng tập họp đội lại để phê bình thái độ của tôi.

    Đúng như tôi dự đoán. Sau khi đội cất dụng cụ vào kho, hắn bảo anh Kiệt tập họp đội lại cho hắn nói chuyện trước khi đội được phép đi tắm giặt. Hắn nói vòng vo tam quốc đủ chuyện, nào là “Cách Mạng” đã khoan hồng, nào là học tập cải tạo, rồi dẫn đến việc tôi đã chây lười lao động chiều hôm nay như thế nào và chỉ thị cho tôi phải viết bản kiểm điểm nộp cho hắn ngày hôm sau. Hắn nói gì tôi chẳng quan tâm nhưng tôi chỉ áy náy trong lòng là mình đã làm cho các bạn tù mất mấy chục phút quí báu của họ. Chắc hẳn phần lớn các bạn tù trong đội của anh Kiệt giờ này chẳng còn nhớ gì đến câu chuyện trên đây. Tuy nhiên, dù nhớ hay không, tôi cũng xin có lời tạ lỗi cùng các bạn.

    Hôm sau tôi nộp cho hắn bản kiểm điểm, nội dung cũng tương tự như những câu đối đáp vừa kể trên đây. Rồi chẳng thấy có việc gì xảy ra tiếp theo nữa, nó đã chìm xuồng. Giả như sự việc này xảy ra chừng ba bốn năm trước đó, thì sức mấy tôi dám từ chối, từ chối để ăn báng súng hay ăn nòng súng à? Bây giờ thời thế đã khác, nó không thể giết mình hoặc đánh đập mình ngoại trừ mình có những hành động quá đáng như làm loạn hoặc đánh lại chúng mà thôi. “Gặp thời thế, thế thời phải thế” là vậy.


    7.16. Người láng giềng xưa
    “Người láng giềng” ở đây là anh Nguyễn Tiến Hanh, thiếu tá, binh chủng Pháo Binh, thuộc nhóm đến từ Tân Lập. Xin đừng lầm với Nguyễn Tiến Hanh, đại úy, khóa 15 Pháo Binh mà tôi đã đề cập đến dăm ba lần trước đây.

    Một hôm, có một người ở buồng 2 (sát vách với buồng 1 của tôi) sang buồng tôi, chuyện trò với bạn của anh. Trong câu chuyện, tôi có nghe anh nói tới Nguyễn Tiến Hạnh (có dấu nặng) nhưng tự nhiên có cái gì đó khiến tôi nhớ đến một người hàng xóm tên Nguyễn Tiến Hanh (không có dấu nặng). Tôi tới và hỏi lại anh cho chắc xem là Hạnh hay là Hanh. Anh này cho biết rằng anh tên là Hanh nhưng khi vào quân đội thì đổi thành Hạnh, có dấu nặng. Như thế là tôi nắm chắc bẩy tám chục phần trăm, anh Hanh là hàng xóm cũ của tôi khi còn ở ngoài Bắc (tỉnh Nam Định). Chờ đến cuối tuần, tôi sang buồng 2, tìm gặp anh Hanh. Tôi chắc chắn là anh không biết tôi, nhưng tôi biết anh rất rõ. Gặp anh, tôi hỏi:

    - Xin lỗi, anh có phải là Nguyễn Tiến Hanh không?
    - Đúng rồi.
    - Thế anh có phải là con bà Phán Thông ở Nam Định không?

    Anh tỏ vẻ ngạc nhiên và hỏi lại:

    - Đúng rồi, nhưng sao anh biết?
    - Đừng gọi em là anh, tổn thọ chết. Anh không biết em đâu, nhưng em biết anh quá rõ. Ngày ở Nam Định, nhà em và nhà anh cùng thuê nhà của ông Đại Thành Hưng, hai nhà chỉ cách nhau một bức vách, cùng chung một sân, cùng nấu cơm chung một bếp. Em chỉ nhìn thấy anh vài lần khi gia đình anh dọn đến. Sau đó vài ba tháng anh đưa vợ mới cưới về ở, và anh đi học khóa Sĩ Quan năm 1953, chẳng biết là Đà Lạt hay Thủ Đức. Lần sau chót là lần nhìn thấy anh mặc đồ Sinh Viên Sĩ Quan về thăm nhà. Do đó tình cảm giữa anh và em coi như không có gì cả. Trái lại, bà Phán và em trai anh là Nguyễn Phan Thịnh, rồi sau này là chị Hanh thì có rất nhiều kỷ niệm thắm thiết và khó quên với gia đình em. Thịnh nhỏ tuổi hơn em và học cùng lớp em trai của em. Hồi đó, thỉnh thoảng em bắt gặp chị đứng nấu cơm ở dưới bếp, vừa nấu cơm vừa sụt sùi, chẳng hiểu chị khóc vì nhớ anh hay vì chuyện mẹ chồng nàng dâu (nghe tới đây anh tỏ vẻ xúc động vì thấy mắt anh rớm lệ). Tôi nói tiếp:

    - Mấy ngày trước khi có Hiệp Định Genève (20/7/1954), máy bay Pháp đến bỏ bom ở bến sông Nam Định vì nghi có tàu chở Việt Minh (Khi đó chưa gọi là Việt Cộng). Dân chúng sợ quá, chạy tứ tán. Nhà em thì dọn về quê, cách tỉnh 7 km (5 miles). Còn bà Phán, Chị và Thịnh chẳng biết đi đâu. Gia đình em về đến làng, vừa vào tới nhà bà bác em, thì bà bảo bố mẹ em rằng không thể ở làng được đâu, “Nó sẽ giết cả nhà cậu mợ đấy.” Thế là cả gia đình ăn cơm xong lại gồng gánh trở về Nam Định. Vào lại nhà cũ thì chẳng còn ai là hàng xóm cũ nữa. Lúc đó em có cảm tưởng rằng mình vừa bị mất mát một cái gì quí giá mà khó tìm lại được. Nhìn vào căn phòng của bà Phán, phòng trống trơn, em nhớ bà không thể tả được vì em luôn coi bà như mẹ của em. Gia đình em mướn một căn nhà khác cũng gần đó, và ở cho đến ngày di cư vào Nam (cuối tháng 8 năm 1954). Khi còn ở Trại Vĩnh Quang B, em có người bạn tên là Phạm Tất Hanh; Hanh cho biết Hanh là bạn thân của Nguyễn Phan Thịnh khi còn đi học. Bà Phán, Chị và Thịnh bây giờ ra sao ?

    - Mẹ tôi cũng di cư vào Nam nhưng mất đã lâu rồi. Còn Thịnh thì cũng ở tù như anh em mình nhưng tôi không rõ chú ấy bị giam nơi nào. Bà xã tôi và các cháu thì dĩ nhiên là phải vất vả và cực khổ trong lúc này. Bây giờ có ai sung sướng được đâu, ngoại trừ… (anh không dám nói hết câu, để cho tôi hiểu ngầm)

    Bên ngoài có tiếng nhà bếp gọi các buồng đi lãnh cơm. Chúng tôi không thể tiếp tục nói chuyện nữa. Tôi chào anh và hẹn hôm nào rảnh sẽ sang gặp anh trò chuyện tiếp. Đâu có dè chỉ mấy hôm sau là chúng tôi phải chuyển trại.

    Tôi và một số bạn thân như Võ Tấn Tài, Nguyễn Phán, Vượng Sún, Dụ lé, Phạm Châu Tài, Nguyễn Chánh Vi, Vũ Cao Hiến, cùng một số khá nhiều nữa, mà tôi không nhớ tên, được trở lại Trại Nam Hà A. Còn một số khác, trong đó có anh Hanh, thì tôi không biết chuyển đi đâu. Từ đó cho tới nay, anh và tôi không còn tin tức gì của nhau nữa.

    Trong bữa cơm chiều sau khi gặp anh, vừa ăn tôi vừa có một ít suy nghĩ về anh như sau: Anh tỏ ra quá hiền và ăn nói từ tốn. Thảo nào mà anh ra trường từ năm 1954, tới năm 1975 là 21 năm, mới bò lên tới cấp thiếu tá. Cũng như anh Thảo, người làm “căng tin” ở Trại Nam Hà A mà tôi đã đề cập trước đây, hiện đang ở cùng buồng 1/Nam Hà C với tôi, khoá 4 Thủ Đức mà năm 1975 còn mang lon thiếu tá. Tôi nghĩ, những người quá hiền không thích hợp với cuộc sống quân ngũ. Theo tôi, sống trong quân đội, mình không nên bướng bỉnh (sẽ bị phạt thì làm sao thăng cấp) nhưng đôi khi cũng phải tỏ ra “ba trợn” một chút để thiên hạ đừng ăn hiếp mình.

    Anh Hanh và Thịnh, nếu đọc được những dòng này, xin hãy lên tiếng để anh em mình nối lại liên lạc nhé.
    (còn tiếp)

  9. #49
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    7.17. Trở lại Trại Nam Hà A
    Vào đầu mùa thu năm 1983, khoảng tháng 7/1983, chúng tôi được chuyển về Nam Hà A. Tôi không nhớ rõ, đợt này về Trại A bao nhiêu và đi nơi khác bao nhiêu. Về được Trại A là điều rất mừng cho riêng tôi vì từ nay không còn phải hít thở cái không khí đấy mùi xú uế ở Trại C, cái mùi làm cho tôi muốn ngạt thở. Hơn nữa, tôi lại có cơ hội chiều chiều mang sách tới gặp thày tôi (GS Nguyễn Ngọc Diễm) để học thêm Anh Văn, được nghe ông giảng giải về các tác phẩm văn chương đủ loại, thật là thú vị. Nói theo kiểu giỡn chơi của một xếp cũ của tôi thì, học tiếng Anh lúc này “không bổ bề ngang cũng bổ bề dọc.”

    Lần trước, tôi ở buồng 8, lần này tôi ở buồng 11. Ở cổng trại nhìn vào, phía bên phải là các buồng 8, 9, 10. Buồng 8 là buồng đầu tiên tính từ cổng vào. Phiá sau ba buồng đó là các buồng 11, 12, và 13. Buồng 11 ở sau buồng 8 nhưng nền nhà thấp hơn cỡ 1 mét (3 ft) vì nó phải theo độ dốc của ngọn núi. Mỗi buồng đều được quây kín bằng một tường đá cao 2 mét (7 ft), và có lối đi riêng cho mỗi buồng. Mấy buồng ở phiá sau (11, 12, và 13) không được khang trang như mấy buồng ở phiá trước (8,9, và 10) vì nó không được trại dùng để trình diễn cho các phái đoàn ngoại quốc thăm viếng. Đội trưởng đội 11 là anh Thiện (*), thiếu tá Không Quân (không phải Thiện, đại úy Không Quân, ở Trại Vĩnh Quang B).

    Tôi được cho nằm ở đầu buồng, tầng dưới (sàn xi măng), sát vách, rồi tới Vượng sún, sau đó tới Nguyễn Phán. Anh Thiện nằm ngay chỗ cửa ra vào, tầng dưới nhưng là dãy ngoài, còn tôi ở dãy trong. Anh Thiện có vài kỷ niệm với tôi nhưng sẽ kể sau.

    (*) Lúc này, buồng 11 chỉ có một đội, anh Thiện vừa làm buồng trưởng vừa làm đội trưởng. Còn những buồng khác thì tôi không rõ.

    Đội tôi được giao cho nhiệm vụ trồng cói (lát). Ruộng cói ở ngay dưới chân núi nhưng từ trại xuống tới ruộng cũng phải mất hơn nửa tiếng đồng hồ vì phải qua một cái dốc. Ra khỏi cổng trại, quẹo trái một chút là bắt đầu đổ dốc vì trại được xây cất trên lưng chừng núi. Núi ở đây là núi đá vôi, không có cây lớn mà chỉ lác đác dăm ba bụi cây con. Núi có độ dốc cao, chứ không thoai thoải, gây khó khăn cho người gánh gồng. Vượng sún, mặc dù cao tới 1, 7 mét mà vẫn gặp khó khăn khi xuống núi với một gánh đồ nghề nấu nướng trên vai. Có hôm cái quang phía sau móc vào chỏm đá, làm đổ tung hết soong nồi ra ngoài; báo hại anh nào hôm đó có lon bột Bích Chi, hay chè cháo gì đó mà nhờ Vượng sún nấu thì coi như mất tiêu; bắt đền ai bây giờ? Chỉ nhìn nhau cười trừ thôi nhưng trong lòng khổ chủ chắc cũng thấy hơi xon xót đấy.

    Xuống tới chân núi là bắt đầu đi trên một con đê, bề ngang cỡ hơn năm mét (gần 20 ft), chiều dài thì khá dài, có thể hơn một cây số (2/3 mile). Đê này cũng do tù đắp, nước sông công tù mà. Con đê chia ruộng cói ra làm hai phần. Nước dưới ruộng có độ sâu ngập tới đầu gối, và dĩ nhiên là lắm đỉa. Đỉa ở đây khá lớn, thường dài cỡ 15 cm (6 inches). Khi nó bơi, ở trên nhìn xuống, nhiều khi tôi cứ tưởng là lưng của con cá mương. Ở miền quê tôi, loại cá mương này thường đi từng bầy, thân nó dài cỡ 15 – 20 cm, thịt của nó rất dở. Chúng thường quanh quẩn ở mấy cái cầu ao để chờ đồ ăn khi người ta ra cầu ao rửa ráy. Mỗi khi anh em chúng tôi giành giật nhau cái gì, mẹ tôi thường la, “lau chau như cá hau (cá mương) đớp cứt.”

    Ba ngày đầu, chúng tôi chưa phải trồng cói, mà lên núi chặt cây về làm lều trú mưa nắng vì chúng tôi phải làm việc thông tầm (nói theo kiểu Việt Cộng), tức là làm một lèo từ sáng cho đến chiều mới về trại. Việc làm lều tự ai nấy lo; làm một mình một lều, hoặc hai, ba, bốn người chung nhau một lều. Tối đa là bốn người thôi vì trên núi không có cây to để dựng lều lớn. Phải kiếm mỏi mắt, trèo lên mấy mỏm đá, nhiều khi trầy trật tay chân mới kiếm được vài cây cỡ bằng cái chuôi dao để làm cột. Mái lều thì kiếm được cái gì, phủ lên cái đó. Người kiếm được tranh thì lợp tranh, kẻ kiếm được lá thì lợp lá, ai kẹt quá thì cắt cỏ phủ lên, miễn là che được mưa nhỏ và nắng buổi trưa. Tất cả lều được cất dọc theo một bên đê, trông thật buồn cười vì không cái nào giống cái nào, to nhỏ, cao thấp đủ cả. Sang ngày thứ tư, chúng tôi phải làm một cái lều tương đối lớn cho quản giáo và vệ binh trú mưa nắng như chúng tôi vậy.

    Trời bắt đầu vào thu, gió ở ngoài đồng trống thổi vào đã có mòi lạnh rồi. Giờ nghỉ giải lao, ngồi trong lều “bắn một phát bazoka” (hút thuốc bằng điếu cầy) thấy phê cách gì đâu! Có người phê quá, mắt lờ đờ, hai tay bắt chuồn chuồn (mấy ngón tay vê vê giống như đang bắt chuồn chuồn), nước miếng nhểu ra, trông chẳng giống ai. Kể cũng lạ, mấy người say như vậy mà lại không chịu ngồi yên đâu. Họ thường cố gắng cầm ống điếu treo lên cột nhưng có cầm trúng cái điếu đâu; điếu ở chỗ này mà tay lại đưa ra chỗ khác thì làm sao mà cầm trúng điếu được. Khi họ hết say, nói cho họ biết thì họ chỉ cười nhưng chứng nào vẫn tật nấy, chẳng thể bỏ được.


    7.18. Tự cho mình nghỉ bệnh

    Khi lều chõng đã làm xong, chúng tôi chưa trồng cói ngay được vì ruộng để lâu nên có nhiều cỏ. Mấy ngày đầu, chúng tôi dàn hàng ngang từng khu ruộng, vơ vét hết cỏ xung quanh bờ cũng như ở dưới ruộng. Công việc này đều phải lội xuống nước, ngập tới đầu gối. Để chống đỉa, tôi phải kiếm một cái quần dài, vải dày để mặc, hai ống quần được cột chặt nơi mắt cá chân bằng một sợi dây vải chắc. Cột bằng dây cao su thì vô ích vì khi xuống nước dây cao su sẽ bị dãn ra và đỉa chui vào được. Áo tôi mặc cũng phải dài tay và cột chặt nơi cổ tay. Như vậy là tương đối an toàn rồi. Hai bàn chân không được che đậy nhưng khi lội xuống ruộng thì sẽ chìm dưới bùn, đỉa cũng khó cắn. Hai bàn tay trần thì cũng dễ dàng tránh đỉa vì di động liên tục, và nếu đỉa có bám vào thì cũng dễ phát giác. Thời gian tôi làm cỏ thì ít nhưng thời gian tôi canh chừng mấy con đỉa thì nhiều. Được cái là cỏ ở dưới nước, mình có bỏ sót thì quản giáo cũng khó phát giác. Có lẽ người nào cũng làm như tôi nhưng chẳng ai nói ra mà thôi. Trang bị kỹ như vậy cho nên tôi chưa bị đỉa cắn lần nào trong mấy ngày làm cỏ.

    Tuy nhiên, vì chân tôi ngâm nước liên tục mấy ngày nên gót chân tôi nứt ra, rất dễ bị chảy máu. Một buổi sáng sớm, gặp phải trời lạnh, gót chân phải của tôi nứt ra lớn hơn. Nhìn xuống chân, tôi thấy rướm máu và bước đi thấy đau hơn mọi khi. Tôi quyết định khai bệnh để xin nghỉ một ngày. Muốn cho chắc được nghỉ, tôi lấy lưỡi dao cạo rạch mạnh một cái ở ngay chỗ nứt, cho nó sâu hơn và rộng hơn, rồi nặn cho máu chảy thêm ra đầy gót chân. Đội tôi hôm đó có tôi và một người nữa khai bệnh (không nhớ tên). Hai chúng tôi cầm sổ khai bệnh ra sân trại chờ khám.

    Mỗi buổi sáng, trước giờ đi lao động, tên cán bộ bệnh xá và Bác Sĩ Thịnh ra sân trại khám bệnh cho những người khai bệnh. Tôi thấy anh Nguyễn Văn Diện (đại úy Pháo Binh, đã chết sau khi qua Mỹ, và tôi đã nói về anh trước đây) cũng cầm sổ khai bệnh chờ khám như tôi. Diện được gọi khám trước, khám xong Diện trở về buồng. Đến lượt tôi được gọi lên khám là gần chót. Có lẽ vì số người nghỉ bệnh hôm nay hơi nhiều nên tên cán bộ bệnh xá không cho tôi nghỉ. Người bạn cùng đội, vì được khám trước tôi nên được nghỉ. Tôi tức quá, bảo người kia rằng: “Anh đem sổ bệnh về cho anh Thiện, đừng nói gì đến tôi, để tôi tính.” Anh bạn cùng đội mang sổ bệnh về buồng. Còn tôi thì đi tới buồng của anh Diện. Tôi không nhớ Diện ở buồng số mấy, mà chỉ biết buồng của Diện nhìn thẳng ra cổng trại. Diện được nghỉ bệnh, tôi cho Diện biết là tôi không được nghỉ nhưng cứ nghỉ bừa đi, đến đâu thì đến. Hai đứa tụi tôi nằm nói chuyện, dự tính sẽ nấu thêm cơm, ăn với nhau buổi trưa vì Diện mới được gia đình tiếp tế. Vừa nói chuyện, tôi vừa phải nhìn ra cổng trại xem đội tôi đã ra khỏi cổng chưa. Khi thấy đội tôi đã ra khỏi trại, tôi yên tâm hơn, chắc rằng mình đã nghỉ gỡ được một ngày. Đâu có dè…

    Chừng hơn một tiếng sau, anh Đức (thiếu úy Không Quân, về Việt Nam theo tàu Việt Nam Thương Tín, làm ở Ban Văn Hoá của trại) vào buồng Diện. Đức thấy tôi liền nói: “Trời ơi, anh Thái! Anh làm em đi kiếm muốn chết đây. Thằng quản giáo đội anh bắt anh Thiện và em phải đi tìm anh cho bằng được. Thôi anh đi về buồng anh đi, để em đi báo cho anh Thiện biết; anh nhớ về ngay nhé.” Tôi thấy trốn không được rồi. Tôi trở về buồng chờ anh Thiện (đội trưởng).

    Chừng 15 phút sau, anh Thiện vào, thấy tôi anh nói:
    - Ông trốn đâu mà sao hay dữ vậy? Tôi và thằng Đức đi kiếm khắp các buồng đấy.
    - Tôi ở buồng của bạn tôi, chứ tôi đâu có trốn ai.
    - Thằng quản giáo coi sổ bệnh, thấy ghi là anh không được nghỉ, quân số đi làm thiếu một người, nó biết là anh trốn ở nhà. Nó bảo đội phó dẫn đội đi làm, còn tôi phải ở trại tìm anh rồi ra ruộng sau.
    - Anh thấy chân tôi nứt nẻ như thế này thì ra ruộng làm cái gì đây?
    - Thôi ông cứ ra ngoài đó rồi tính sau.
    - Thì mình đi.

    Anh Thiện và tôi cùng nhau ra ruộng. Tới nơi, tôi đứng ở ngoài, còn anh Thiện vào lều báo cáo với quản giáo. Anh Thiện trở ra bảo tôi vào “làm việc” với quản giáo, còn anh thì phải ra ruộng làm với đội. Tôi vào gặp quản giáo (trung úy Công An), Hắn hỏi tôi:

    - Tại sao anh bỏ không đi lao động?
    - Báo cáo cán bộ, chân tôi như thế này (tôi giơ chân lên) mà bệnh xá không cho tôi nghỉ, tôi ra đây cũng chẳng làm được gì, do đó tôi tự ý nghỉ.
    - Không được, anh làm như thế là vi phạm nội qui trại. Nếu trên bệnh xá không cho anh nghỉ thì anh cứ đi làm rồi tôi sẽ bố trí cho anh làm công việc thích hợp, như thế có tốt hơn không?
    - Tôi chỉ sợ ra đây, tôi phải lội xuống ruộng thì gót chân tôi còn bị nặng hơn nữa. Nếu tôi biết cán bộ nương tay thì tôi đâu có trốn làm gì. Vậy tôi xin rút kinh nghiệm.
    - Được rồi, anh phải rút kinh nghiệm, đừng có tái phạm nữa. Bây giờ tôi bố trí cho anh làm anh nuôi, còn anh Vượng sẽ phụ với anh nấu ăn cho đội.
    - Vâng, cám ơn cán bộ.
    - Anh ra gặp anh Vượng, bắt tay vào việc đi.
    - Vâng.

    Tôi ra bếp (cách lều quản giáo chừng hai chục mét – 65 ft), Vượng sún thấy tôi, nói nhỏ:
    - Đ.M., sáng nay thằng “chèo” (tiếng lóng gọi công an) nó làm dữ. Bây giờ sao rồi?
    - Bây giờ ta làm xếp của nhà ngươi chứ sao.
    - Ngon dữ ta!
    - Ngon chứ sao? Bây giờ tôi phải bắn một phát bazoka (hút thuốc lào bằng điếu cày) cho “phẻ” cái đã, rồi mình nói chuyện sau nghe.

    Tôi đã đánh một nước bài liều, không ngờ lại đạt kết quả tốt. Tốt cho tôi mà chẳng ảnh hưởng gì tới ai. Trước đây Vượng sún làm bếp một mình, bây giờ có tôi làm bếp thì Vượng sún vẫn không mất việc. Trái lại, công việc của Vượng sún sẽ nhẹ bớt đi. Còn tôi thì hết phải lo lắng về mấy con đỉa ở dưới ruộng cói rồi.
    (còn tiếp)

  10. #50
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    7.19. Đánh lộn
    Hút xong điếu thuốc lào, Vượng sún và tôi phân chia công việc nấu nướng. Vượng sún có nhiệm vụ gồng gánh đồ nghề nấu ăn, đi và về; khi ra tới “địa điểm hành lễ” thì Vượng múc một nồi nước để tôi nấu nước uống cho anh em trong đội; rồi Vượng đem gạo xuống ruộng vo sạch, đổ vào nồi với đầy đủ nước cho tôi nấu cơm. Sau bữa ăn buổi trưa, Vượng phải rửa ráy nồi niêu soong chảo cho sạch sẽ; thế là xong công việc của Vượng.

    Nhiệm vụ của tôi là nhóm lửa, nấu nước, nấu cơm và chia cơm cho đội. Mỗi ngày, Vượng chỉ làm một chút là xong bởi vì nước ăn uống và rửa ráy ở ngay dưới bờ đê. Dọc theo con đê, có những hố sâu do đất bị đào lên đắp đê, có thể coi như những cái ao nhỏ hình chữ nhật. Nước ở đây rất trong, có điều là lắm đỉa. Vo gạo mà sơ ý là dễ có mấy chú đỉa lẫn vào gạo để biến nồi cơm thành cơm đỉa.

    Vượng làm xong việc là chui vào lều nằm khểnh, hút thuốc lào hoặc đôi khi ngủ. Vượng tỏ ra thích công việc này lắm vì hợp với bản tính hơi lười của một anh chàng “dài đòn” (tiếng lóng để chỉ người có chiều cao, lưng dài) – Dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm, các cụ ta thường nói vậy. Bù lại, Vượng có cái miệng khéo nói, nói đến nỗi con cua trong hang cũng phải bò ra, chứ đừng nói gì đến người nghe.

    Còn tôi thì chụm lửa. Chụm lửa và giữ cho lửa cháy, ở giữa cánh đồng trống nhiều gió với một mớ củi tươi, rất là khó khăn. Ngồi nấu cơm mà nước mắt nước mũi chảy ra như là người đang khóc. Cảnh này xảy ra hằng ngày. Một hôm, Vượng sún ra bếp hút thuốc, thấy tôi như vậy, hắn nói giỡn:

    - Bộ nhớ vợ hay sao mà khóc vậy?
    - Thôi đừng hỏi lớ nữa. Ông đã trải qua những ngày “gian khổ” này rồi, mà còn bày đặt ngây thơ cụ.
    - Mẹ cái thằng Th. Nó lấy củi cho vợ của xếp (quản giáo) thì lấy củi khô. Còn củi tươi thì nó dành cho bọn mình.
    - Thì nó muốn kiếm điểm với xếp chứ gì?
    - Ông phải nhắc nhở nó mới được. Cứ tiếp tục kiểu này thì không khá được.

    Đang nói thì lửa tắt, tôi lại chổng mông lên thổi. Vượng thấy vậy bỏ về lều nằm tiếp. Vật lộn với củi lửa mãi rồi nồi cơm cũng gần cạn nước. Tôi đảo cơm lần chót rồi đậy vung lại, chờ cơm chín. Đang khi đó thì Th. vác bó củi (dĩ nhiên là còn tươi) về đến bếp, vất bó củi xuống đất, đang định bỏ đi về trại. Th. dáng người cao lớn và có da có thịt hơn Vượng sún. Hắn được chọn làm người đi lấy củi. Nhiệm vụ của Th. là, mỗi ngày phải cung cấp đủ củi nấu cho vợ của quản giáo và cho đội. Th. làm xong thì về trại nghỉ cho tới ngày hôm sau. Th. rất ít nói nhưng trong đội không ai ưa vì lối sống của hắn mặc dù chưa khi nào hắn cải cọ với ai trong buồng. Lúc nào Th. cũng lủi thủi một mình vì không có bạn, cả ở trong đội cũng như ngoài đội.

    Trở lại câu chuyện tôi đang kể. Tôi thấy Th. giợm bước đi, tôi gọi hắn đứng lại:

    - Anh Th., lại đây coi này (tôi chỉ vào mặt tôi); anh thấy mỗi lần nấu cơm là mắt mũi tôi thế này đây; bận sau anh chịu khó kiếm củi khô hoặc nếu không thì anh phải chặt gối đầu để cho tôi đỡ khổ một chút được không?
    - Làm gì có củi khô mà kiếm.
    - Thì tôi đã nói rằng nếu không có củi khô thì anh chặt gối đầu, để mấy ngày sau là nó tạm khô rồi.
    - Tôi chỉ chặt như vậy, chịu hay không chịu, mặc anh.
    - Tôi nói chuyện tử tế với anh, mà anh lại nói cù nhầy như vậy hả?
    - Tôi nói thế đấy, làm gì thì làm.

    Thấy hắn có vẻ thách thức. Lại nghĩ đến câu Vượng nói “Nó lấy củi khô cho vợ của xếp” (mà không biết có đúng không), khiến tôi nổi sùng. Tôi nghĩ nhanh trong đầu: Thằng này to con nhưng chắc chắn là không “có nghề” (võ), bản tính lại nhát, cho nên tôi quyết định phải đánh cho nó biết tay mặc dù tay nó đang cầm con dao chặt củi. Tôi nói:

    - Anh thách tôi phải không?
    - Thách đấy.

    Hắn chưa nói hết câu, thì tôi đã dùng đòn song chỉ (hay song sỉ, tức là dùng hai ngón tay trỏ và giữa để chọc vào mắt đối thủ), đánh ra nửa vời thì biến thành đòn ngũ phong (mạnh như 5 ngọn gió, mấy anh Tầu Phù thường hay đao to búa lớn mà, dù biết rằng đối thủ cao tay hơn mình, mà vẫn nói mạnh “gặp ta là ngươi tới số” nhưng trong bụng thì đánh lô tô), tức là dùng cùi chỏ đánh vào mạng sườn hắn. Dùng đòn này để vừa đánh vừa nhập nội (áp sát vào người đối thủ) để loại trừ khả năng sử dụng con dao của hắn. Biết là hắn nhát nhưng mình vẫn phải đề phòng, biết đâu hắn khùng lên, chém bậy thì mình lãnh đủ.

    Hắn bị cú đòn ngũ phong, lẽ ra thì hết đánh lại tôi, nhưng hắn rất mạnh, vẫn còn đủ sức ôm chặt lấy tôi và đẩy tôi về phía bếp đang còn nhiều than hồng. Trong khi đó thì cái xương sống của tôi lại làm reo, kêu lên một tiếng “cục”. Tôi nghĩ, chết mẹ rồi, cái xương sống của mình bị chấn thương trong thời gian chặt nứa ở hồ Thác Bà, bây giờ vì vận động mạnh đột ngột cho nên nó trẹo khớp trở lại, mình không chơi đòn bẩn thì sẽ bị nó đẩy vào bếp, bị phỏng lửa là cái chắc. Tôi lẹ làng luồn bàn tay phải của tôi xuống, chụp hạ bộ của hắn và xiết lại. Chỉ cần một cái xiết thôi là hắn buông lơi sức đẩy và kêu lớn:

    - Cứu tôi với! Cứu tôi với! Nó bóp dái tôi.

    Quản giáo và tên vệ binh ở trong lều chạy ra. Tôi nghĩ, có quản giáo tới thì Th. sẽ không dám chém mình nữa, tôi buông tay ra khỏi hạ bộ của hắn. Quản giáo nói với tôi:

    - Tại sao anh lại đánh anh Th. ?
    - Báo cáo cán bộ, anh ấy lấy củi tươi về cho tôi nấu cơm, tôi yêu cầu anh ấy lấy củi khô thì anh nổi xung và thách tôi muốn làm gì thì làm. Anh ấy ỷ mình to lớn muốn đánh tôi thì tôi phải đánh lại.
    - Tôi ở trong lều nhìn ra, tôi thấy anh đánh anh Th. trước; anh phải bỏ tính hung hăng của anh đi. Tôi thấy anh dùng toàn là “đòn quyết định” không à.
    - Báo cáo cán bộ, tôi nhỏ con như thế này mà dám hung hăng với ai. Anh ấy gây sự với tôi mà trên tay lại cầm dao nữa, thì tôi phải “tiên hạ thủ vi cường” chứ (tiên hạ thủ vi cường = ra tay trước để có thế mạnh; chẳng biết tên quản giáo có hiểu được câu này nghĩa là gì không). Tôi chẳng biết “đòn quyết định” là gì mà chỉ đánh bừa phứa vì bản năng sinh tồn thôi.
    - Rõ ràng là anh biết nghề (võ), anh đánh ra những “đòn quyết định”, tôi thấy mà.
    - Nếu tôi có nghề, thì tôi đâu có bị anh ấy đánh tôi trẹo xương sống như thế này (tay tôi chỉ vào ngang hông, và thực sự lúc ấy tôi thấy ngang thắt lưng tôi bị đau, không đứng tự nhiên được. Thấy tôi bị đau thật, quản giáo quay qua bảo Th.
    - Anh Th. lấy củi xong rồi, thì về trại nghỉ đi. Còn anh Thái ở đây chờ về trại cùng với đội, rồi lên Ban An Ninh làm việc.

    Nói xong, quản giáo và vệ binh quay trở lại lều. Th. cầm con dao chặt củi, lầm lũi đi về trại. Không ai biết rằng Th. bị ăn một cú đòn (ngũ phong) mà mỗi khi thở mạnh là sẽ rất đau, ngoại trừ tôi và chính anh Th. Cái đau này kéo dài ít nhất cũng phải cả tuần thì mới hết.

    Mọi người trong đội, khi nghỉ ăn trưa, chỉ biết rằng tôi đánh nhau với Th. Và “bị Th. đánh cho trẹo xương sống”. Vì thế họ nhìn tôi với cặp mắt thương cảm. Chiều đến, trở về trại, tôi được anh đội trưởng (Thiện) dìu tôi đi lết bết phía sau, càng ngày càng bỏ xa đội. Cuối cùng thì hai chúng tôi cũng tới Ban An Ninh phía trước cổng trại. Anh Thiện dìu tôi vào trong phòng thì thấy Sĩ Quan An Ninh Trại (Thiếu Úy Thịnh) đã ngồi chờ sau bàn làm việc. Anh Thiện báo cáo sự việc cho T/U Thịnh. Thịnh hỏi tôi nguyên do sự việc. Tôi kể chi tiết sự việc xảy ra hồi sáng, nhưng tôi không đả động gì đến việc Th. lấy củi khô cho vợ quản giáo, lại càng không dám nói rằng tôi đánh Th. vì ghét thái độ xun xoe của Th. với quản giáo. T/U Thịnh thấy tôi đau lưng thì có lẽ cũng nghĩ rằng tôi bị Th. đánh cho nên không có thái độ cứng rắn với tôi. Hắn chỉ nói: “Từ nay các anh đừng có đánh nhau như thế này nữa,” rồi cho tôi vào trại, chẳng thấy hắn nói gì đến việc viết tờ kiểm điểm như mọi khi.

    Anh Thiện dìu tôi về tới buồng thì mọi người đã ăn cơm xong, chờ giờ vào buồng. Lòng tôi áy náy vì đã làm cho anh Thiện phải mất thời giờ vì tôi. Anh Thiện có cái hay là anh không hề tỏ ra một chút gì khó chịu về việc này. Tôi và anh chỉ mới biết nhau từ ngày ở Trại C trở về Trại A, nhưng dường như anh có cảm tình với tôi. Tình cảm của anh với tôi được xác nhận chỉ sau khi anh ra khỏi tù (năm 1987?). Ra tù được vài tuần, hai anh chị chở nhau bằng xe Honda ghé thăm vợ chồng tôi (cách nhà anh 15 km – 10 miles). Chúng tôi gặp nhau một lần đó rồi thôi vì người nào cũng có việc riêng phải làm khi mới ra tù. Tôi đoán rằng anh không đi Mỹ vì anh có mấy người con vượt biển và đã được nhập cư ở Hòa Lan từ ngày anh còn ở trong tù.

    Lúc kẻng vào buồng, Vượng sún từ ngoài chạy về để chuẩn bị vào buồng. Vượng nói nhỏ với tôi: “Yên tâm đi, có thuốc rồi.” Tôi chưa hiểu rõ ý câu nói của Vượng cho tới lúc đã khoá cửa buồng, Vượng móc ở túi ra một mẩu nhỏ có mầu đen đen, đưa cho tôi và nói:

    - Lấy chút nước, uống mật gấu vào cho mau khỏi.
    - Ở đâu mà có vậy?
    - Tôi sang gặp Đại Tá Phạm Bá Hoa vì tôi biết ông có mật gấu. Tôi ca “Bài ca con cá” (năn nỉ) với ông ấy để kiếm một mẩu về cho bồ uống đấy. Giá mà có chút rượu đế thì nó dẫn thuốc mạnh hơn. Bây giờ dùng nước đun sôi cũng được.

    Tôi lấy nước uống thuốc ngay tức khắc. Nhờ vậy mà cái đau giảm đi rõ rệt và chỉ vài ngày sau là lưng tôi gần như bình thường. Khi hai chúng tôi được ra khỏi tù, Vượng thường ghé nhà tôi chơi và được vợ tôi tiếp đãi nồng hậu vì biết Vượng đã xử tốt với tôi khi còn trong nhà tù. Vượng hiện giờ đang ở Cali với vợ và một con trai. Đối với niên trưởng Phạm Bá Hoa, tôi vẫn nợ niên trưởng một lời cám ơn. Thời gian ở Trại Nam Hà, tôi biết nhưng chưa từng gặp niên trưởng lần nào. Niên trưởng cũng chẳng biết tôi là ai, mà chỉ biết một kẻ đau lưng qua Vượng, bạn tôi. Niên trưởng đã không tiếc một món thuốc quí hiếm mà đã san sẻ cho tôi chữa trị. Tôi ghi nhận lòng tốt của niên trưởng. Và, tôi dùng những dòng này coi như là một lời cám ơn muộn màng gửi đến niên trưởng.

    Anh Th. có lấy củi khô về cho vợ của quản giáo thì trắng đen vẫn chưa rõ. Có ai nhìn thấy đâu, mà chỉ là suy đoán khi nhìn thấy cử chỉ xun xoe của Th. mỗi khi gặp quản giáo. Không phải riêng tôi, mà đa số anh em trong đội đều có cùng ý nghĩ như vậy. Vì thế khi biết Th. bị tôi hạ đo ván vì đòn “bóp dế” thì tỏ vẻ hài lòng. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy tôi cũng hơi quá nóng. Nếu điềm tĩnh hơn một chút thì sự việc đâu đến nỗi nào. Biết đâu anh Th. chỉ là người bị hiểu lầm mà thôi. Nếu vậy, thật đáng tiếc! Thôi, hãy xí xóa cho tôi nghe, anh Th.

    Lần đánh nhau với anh Th. là lần thứ hai và cũng là lần cuối trong thời gian ở tù của tôi. Chắc từ nay chẳng còn lần đánh nhau nào nữa để mà kể hầu quí vị độc giả; sắp hết hơi rồi, thì còn đánh nhau với ai chứ?

    Anh Thiện chắc giờ này đang sống bình yên với gia đình ở Hoà Lan. Nếu anh đọc được những dòng này thì xin anh hiểu cho rằng tôi vẫn luôn nhớ đến anh. Cầu xin Thượng Đế ban phước lành cho anh chị và các cháu.
    (còn tiếp)

  11. #51
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    7.20. Gợi nhớ một cuộc tình
    Việc trồng cói của đội tôi kéo dài chừng gần hai tháng thì xong. Tới lúc chấm dứt trồng cói, tôi cũng chưa biết hình thù cây cói ra sao, tròn méo thế nào, vì tôi phụ trách nấu nuớng cho đội. Bây giờ đội tôi làm các công việc linh tinh, lúc thì làm cỏ ở vườn bí, khi thì làm cỏ vườn khoai mì v.v…

    Làm cỏ bí đỏ (bí ngô), tôi lại có dịp hái trộm trái bí về ăn; còn sắn thì chưa có củ cho nên tôi không sử dụng được “nghề của chàng”. Bí đỏ ở đây có đủ cỡ, già – non – to - nhỏ đều có cả, tha hồ cho tôi chọn lựa. Người nấu nước nấu cơm cho đội bây giờ là một anh đại úy Cảnh Sát (quên tên). Tôi và anh hợp tác với nhau để lấy trộm bí. Tôi có nhiệm vụ lấy bí bỏ vào sọt cho anh. Anh có nhiệm vụ gánh bí vào trại. Trái bí nằm gọn trong sọt, bên trên được ngụy trang bằng những dụng cụ nấu ăn. Được cái là cách thức kiểm soát tù trước khi vào cổng trại bây giờ không có gì là gắt gao cả. Vì thế, chúng tôi chưa lần nào bị bắt vì tội lấy trộm bí. Bữa ăn của chúng tôi bây giờ thường là bí nhiều hơn cơm; đói ăn rau, đau uống thuốc mà. Chúng tôi được no bụng trong suốt thời gian làm cỏ bí, có lẽ cả chục ngày là ít.

    Trong đội tôi, có anh Văn (quên họ), anh có vóc người ốm tong ốm teo nhưng lại mê đá banh. Vào những buổi cuối tuần, dân mê đá banh thường tổ chức đá banh trên sân trại. Sân nhiều đá dăm hơn đất, mà không có cỏ cho nên cầu thủ thường hay bị trầy trật tay chân. Văn luôn luôn thủ vai giữ gôn (thủ thành/thủ môn). Mỗi lần như vậy, Văn phải mặc nhiều lớp áo và quần; đầu gối và khuỷu tay còn được bó thêm nhiều lớp vải cho chắc ăn, trông thật buồn cười. Văn còn nhỏ tuổi và rất hiền hoà. Văn cũng có một cái răng cửa bị sún nhưng không ai gọi anh là Văn sún cả.

    Một hôm, Văn hỏi chuyện tôi:

    - Trông anh giống một người bạn của tôi, tên Thừa, anh có bà con gì với Thừa không?
    - Thiếu gì người tên Thừa, anh nói rõ hơn được không?
    - Thừa có thời gian làm Phường Trưởng ở Khánh Hội, sau đổi về Tiểu Khu Phước Long và thoát chết trong trận Việt Cộng chiếm Phước Long.
    - Nếu vậy thì đúng là em trai tôi đấy. Anh quen Thừa ra sao?
    - Hồi ở trong Nam, tôi bị giam chung với Thừa. Chúng tôi chơi thân với nhau. Sau, tôi bị ra Bắc và không biết Thừa bị đưa đi đâu?
    - Thừa vẫn ở trong Nam nhưng tôi không rõ bị giam ở đâu.

    Sau lần nói chuyện này, Văn và tôi trở nên thân nhau hơn và Văn coi tôi như một người anh vậy. Một hôm, Văn có thăm nuôi từ trong Nam. Văn mang đồ tiếp tế về buồng, trong đó có một cái thùng các-tông còn dán tên người nhận, và người gửi (từ Mỹ). Tôi liếc đọc tên người nhận và giật mình: Đúng là “nàng” rồi, vì họ và tên của “nàng” kết hợp với nhau thì không thể nhầm lẫn với những tên thông thường khác như Kim Dung, Thúy Phượng, Ngọc Lan v.v…

    Tôi ghi nhớ và chờ lúc thuận tiện, tôi hỏi Văn xem liên hệ với “nàng” như thế nào. Văn nói rằng chẳng biết người này là ai, có thể là gia đình Văn kiếm được thùng giấy này ở đâu đó, có thể là chợ trời ở Sài-Gòn, rồi dùng nó đựng đồ tiếp tế cho Văn thôi. Thế là tôi hết hy vọng biết thêm gì nữa về “nàng”. “Nàng” ở đây là người yêu cũ của tôi. Kể từ đây những tên tôi dùng đều là tên giả, để tránh ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình nàng vì chắc chắn gia đình nàng đã sang Mỹ theo danh sách “HO”, ngoại trừ trường hợp người chồng của nàng đã ra người thiên cổ trong một trận đánh nào đó, hoặc ở một trại tù nào đó. Cái thùng các-tông kia, hôm đó, đã khiến tôi nhớ lại một khúc phim quá khứ mà nó đã xảy ra hai chục năm trước (1963 -1983):

    Cũng vào đầu mùa thu năm 1963, tôi mới ra trường và được chỉ định về một đơn vị thuộc Quân Đoàn 3. Ông Tiểu Đoàn Trưởng cho tôi về phụ tá cho một thiếu úy ở cách Sài-Gòn độ 40 km (gần 30 miles). Xế chiều thì tôi tới nơi chỉ định. Thiếu Úy G. bảo tôi nghỉ ngơi, đợi “Mình ăn cơm chiều xong, tôi dẫn anh ra xóm chợ chơi, ở đó tôi có quen gia đình bác Chín rất tử tế.”

    Đúng như lời hẹn, ăn uống xong xuôi, T/U G. bảo tôi lên xe Jeep và ông lái xe ra nhà bác Chín. Xe tới trước cổng nhà, nhìn vào, tôi thấy hai cô gái đang đánh vũ cầu trong sân. Tôi ước chừng, cô lớn khoảng 15, và cô nhỏ khoảng 11 tuổi. Hai cô thấy chúng tôi thì gật đầu chào rồi lại tiếp tục đánh cầu. Hai chúng tôi vào nhà chào bác Chín và ngồi xuống nói chuyện. Thiếu Úy G. hỏi bác Chín gái:

    - Uả bác ! Hai cô nào đang đánh cầu ngoài sân vậy bác?
    - Hai đứa mới ở Sè- Goòng dìa (về) đây hổm rày dì (vì) trường học bị đóng cửa, học hành chi được.
    - Hai cô đó là gì của bác?
    - Là cháu. Chúng nó là dì cháu với nhau chứ không phải chị em đâu. Con lớn là dì, con nhỏ là cháu. Ở Sè-goòng lóng rày (dạo này) biểu tình quá trời, học trò phải nghỉ học hớt (hết) ráo. Chúng nó dìa đây chơi, chừng nào hớt biểu tình thì dìa lại trển.

    Sau đó thì chúng tôi đổi đề tài nói chuyện, chẳng chuyện nào ra chuyện nào. Bác Chín gái bảo chúng tôi ở chơi để bác làm đồ gì nhậu lai rai. Chúng tôi từ chối vì T/U G. có vài việc chưa làm xong. Ngồi chơi chừng 30 phút, chúng tôi cáo từ, ra về. Ra tới sân, tôi còn xin đánh một ván cầu lông với cô gái lớn để có dịp nhìn rõ “người đẹp” hơn. Trên đường về trại, T/U G. hỏi tôi:

    - Anh thấy cô lớn thế nào?
    - Cô ấy có vẻ đẹp của Thúy Vân trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du, (rồi tôi đọc luôn) “Vân xem trang trọng khác vời / Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang / Hoa cười ngọc thốt đoan trang / Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.”
    - Chà chà! Mới bỏ ghế nhà trường có khác, còn nhớ bài vở dữ ta!
    - Thì mình cũng phải thuộc vài câu “tủ” để lỡ gặp người đẹp còn trổ tài tán tỉnh chứ. Cứ lấy ý của cụ Nguyễn Du rồi khai triển cho rộng ra là đã có thể đưa người đẹp lên mây xanh rồi.
    - Vậy chịu rồi hả? Chịu thì tôi sẽ “yểm trợ hỏa lực” tối đa cho.
    - Có chịu thì cũng phải tốn nhiều tạ gạo (*) nữa. Bây giờ mà lạng quạng thì chỉ có nước “vác chiếu ra toà” vì tội dụ dỗ gái vị thành niên đấy Thiếu Úy ơi.
    - Thì cứ chịu đi đã, rồi mình tiến tới dần dần đâu có sao. Nhưng bây giờ thì phải làm ngay, kẻo mai mốt em về Sài-Gòn là mất cơ hội đấy.
    - Đàn anh nói vậy, thì mình bắt đầu ngay từ ngày mai đi.
    - Rồi nhé, mai bắt đầu.

    (*) Xin giải thích thêm cho các bạn trẻ: Một tạ = 100 kg = 220 pounds

    Thiếu Úy G. là người chân chất, đã có vợ và hai con. Ông không màng gì đến những chuyện “mèo mỡ” (trai gái), mà chỉ muốn giúp tôi cơ hội có bạn gái sớm để bớt cô đơn thôi. Mới gặp tôi lần đầu mà ông đối với tôi như là quen biết nhau đã lâu, tiếc rằng hai năm sau, ông đã ra người thiên cổ trong một trận đánh ở miền Trung! Sáng hôm sau, ông chở tôi đi ăn sáng, rồi ghé nhà bác Chín. Ông bảo tôi:
    - Từ nay đến ngày “em” về Sài-Gòn, ăn sáng xong, tôi sẽ chở anh tới nhà bác Chín, bỏ anh tại đó rồi tôi vào trại làm việc, chiều tôi ra chở về. Cứ coi như là anh đang còn nghỉ phép, chưa tới đơn vị, đừng có lo.
    - Nếu vậy thì tốt quá rồi, cám ơn Thiếu Úy.

    Vậy là tôi có thừa cơ hội trò chuyện với “em” để tìm hiểu thêm. Nói theo kiểu Việt Cộng bây giờ là “đi sâu, đi sát”. “Em” tên là HT; còn cô cháu, 11 tuổi tên là T. Ngày nào ba chúng tôi cũng chơi vũ cầu, người nào thua phải ra ngồi chờ. Dĩ nhiên là tôi luôn luôn nhận phần thua về mình để “nâng cao tinh thần quân sĩ” chứ.

    Cứ thế chừng vài tuần, HT đã trở nên dạn dĩ hơn. Và chúng tôi “tình trong như đã, mặt ngoài còn e.” Tôi thuộc loại ít mồm ít miệng cho nên bác Chín gái cũng tỏ ra có thiện cảm với tôi. Còn bác Chín trai thì sức khỏe kém và rất hiền; bác chẳng để ý gì đến chuyện của người khác, ai làm gì mặc ai. Tình cảm giữa hai đứa chúng tôi không lọt qua được cặp mắt tinh đời của bác Chín gái. Một hôm, bác hỏi tôi:

    - Thế nào, ông có chịu con HT không, để tui (tôi) làm mai cho?
    - Thưa bác, con mới ra trường, lương của con chưa đủ cho một mình con, bây giờ thêm vợ nữa thì chỉ có chết.
    - Lo gì ông, bộ ông sợ phải nuôi con HT hả?
    - Thế thì ai nuôi HT khi đã là vợ của con?
    - Nó là con út trong nhà; mấy đứa anh của nó đang học ở bên Pháp; nhà nó dư giả, lo gì tiền bạc.
    - Bác nói vậy, thì con biết vậy, nhưng cứ để từ từ đã, con sẽ nhờ bác sau.

    Xin mở ngoặc ở đây: Người miền Nam, khi mới quen sơ sơ thì hay dùng tiếng “ông”, nhưng khi đã trở thành người thân trong gia đình thì “ông” xuống “thằng” ngay lập tức. Bác Chín gái gọi tôi bằng “ông” là vậy. Tôi có một vị đàn anh, cùng khóa với Th/U G. lấy vợ người miền Nam. Ông ấy kể lại rằng, mấy lần đầu, ông bà già vợ cứ một điều Thiếu Úy, hai điều Thiếu Úy. Thế mà vừa làm l ăn hỏi xong, ông già vợ phang liền một câu: “Thằng Hai đâu, lại đây biểu coi.” Người miền Nam là thế đấy.

    Được vài tuần thì HT và cháu T phải trở về Sài-Gòn học vì các trường đã được phép mở cửa trở lại sau một thời gian biểu tình chống chính phủ Ngô Đình Diệm của Phật Giáo, sinh viên và học sinh. Tuy vậy, mỗi tháng HT cũng về quê chơi để có dịp gặp tôi. Thỉnh thoảng, tôi được đi phép, cũng ghé thăm HT nhưng không tại nhà HT, mà là nhà chị B, chị họ của HT. Nhà chị B ở trong một cái hẻm nối liền hai đường Phan Thanh Giản và Trần Quốc Toản. Từ nhà chị B tới nhà HT ở đường Phan Thanh Giản chừng 400 mét (1/4 mile). Mỗi lần tôi tới thì anh U, em chị B, chạy qua báo cho HT biết và chừng 15 phút sau là hai chúng tôi gặp nhau. Lúc đó, mọi người trong nhà chị B đều kín đáo bỏ đi nơi khác, dành căn phòng khách cho hai đứa chúng tôi tự do trò chuyện.

    Lần chót tôi gặp HT tại nhà bác Chín, tôi cho HT biết ít bữa nữa tôi sẽ đổi về Biên Hoà. Trước khi chia tay, HT tháo hai cái vòng trong bảy cái đang đeo ở tay, tặng cho tôi. Tôi nhận lấy và bỏ vào bóp để lúc nào cũng mang theo trong người cho chắc ăn. Và để mỗi khi nhìn thấy nó là sẽ nhớ đến HT.

    Mẹ tôi là người cổ hủ và có nhiều thành kiến với con gái “Nam Kỳ quấc”, và cũng không ưa người ngoài Công Giáo, dù Nam hay Bắc. Mẹ tôi lại có thói quen hay lục bóp của tôi, trong lúc tôi đang ngủ, để kiểm soát xem tôi còn tiền hay hết. Nếu hết, mẹ tôi sẽ cho thêm một ít vào bóp để tôi tiêu vặt. Lần này, mẹ tôi khám phá ra hai cái vòng của HT tặng, mẹ tôi biết ngay là tôi đang có bạn gái nhưng mẹ tôi không hỏi thẳng tôi, mà lại nói bóng nói gió để nhắc nhở tôi phải chọn vợ theo tiêu chuẩn của mẹ tôi: “Con gái Nam ăn nói bộc tuệch bộc toạc (có sao nói vậy, không giữ ý tứ). Con gái Bắc thì nó còn biết giữ gìn lời ăn tiếng nói, lại có lòng chung thủy (chưa chắc ạ). Mấy đứa theo đạo (Công Giáo) để lấy vợ lấy chồng cũng chẳng hay ho gì. Mày không nghe người ta nói: ‘Lạy Chúa Ba Ngôi, khi lấy được vợ, tôi thôi nhà thờ à?’ Liệu liệu đấy, đừng có bạ đâu lấy đó là không được đâu con ạ.”

    Mẹ tôi thích loại gái Bắc Kỳ, Công Giáo, và “ri cư” cơ, loại gái mà trong bụng thì thích muốn chết nhưng ngoài miệng cứ nói “em chả, em chả”. Rõ là dối lòng! nhưng mẹ tôi lại cho đó là “giữ ý tứ” đấy. Tôi chỉ biết ngồi nghe, vì giải thích cũng bằng thừa. Để rồi tôi tìm cách.
    (còn tiếp)

  12. #52
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    Tôi nghĩ khó mà thuyết phục được mẹ tôi nếu như tôi quyết định cưới HT. Nàng vừa là người Nam, vừa không phải là Công Giáo. Tôi nghĩ, tôi lấy vợ cho tôi, chứ đâu có lấy cho mẹ tôi (khó vừa thôi chứ). Mẹ tôi đang mong mỏi có cháu nội bồng, cùng lắm là chúng tôi cưới nhau rồi dẫn nhau đi mút chỉ, đợi đến khi có cháu nội cho bà bồng thì đưa cháu về là xong ngay, bà cụ sẽ quên hết mọi sự.

    Vấn đề gay go là sự khác biệt tôn giáo. Nếu như HT chịu theo đạo Công Giáo thì tôi chẳng sợ. Chẳng biết ý kiến của HT ra sao. Mấy năm quen biết nhau, chưa bao giờ chúng tôi nói với nhau câu “Anh yêu em” hay là “Em yêu anh”, nhưng đều hiểu rằng tình yêu giữa hai người đã chín mùi. Cần gì phải nói ra cơ chứ. Tuy nhiên, tôi phải tìm hiểu xem tình yêu của HT đã cao đến mức “Thương nhau thì mấy sông (em) cũng lội, mấy đèo (em) cũng qua” chưa. Nếu HT đã đạt tới mức đó, tôi sẽ tự quyết định mà không chiều theo ý của mẹ tôi nữa. Tôi chờ dịp thuận tiện để tìm hiểu điều này.

    Từ ngày về Biên Hoà, nếu không bận hành quân, tuần nào tôi cũng về thăm nhà và ghé thăm HT. Có lần vì bị cấm trại, hai ba tuần tôi chưa được nghỉ phép, HT và cô bạn lên Biên Hòa thăm tôi vào một buổi chiều. Hai cô lên đúng lúc tôi đang làm Sĩ Quan Trực tại cổng Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn. Tôi tiếp hai người ngay tại phòng trực và đợi cho đến khi xuống phiên trực thì cả ba chúng tôi trở về Sài-Gòn. Rất may là hôm đó tôi đã có sẵn giấy phép trong tay, chỉ chờ xuống phiên là đi ngay.

    Về đến bến xe đò Bà Chiểu, chúng tôi đi taxi về nhà HT nhưng không dám cho xe đậu trước cửa, mà phải đậu tại ngã ba Cao Thắng - Trần Quốc Toản cho hai cô xuống, rồi đi bộ về nhà để không cho ba má HT biết. Còn tôi thì ngồi lại trên taxi, tiếp tục đi về nhà.

    Một lần chúng tôi hẹn nhau đi chơi Lái Thiêu. Nhân dịp này, tôi cũng muốn thử xem tình yêu của HT đến mức nào rồi. HT chờ tôi tại ngã ba Cao Thắng - Trần Quốc Toản. Khi tôi tới, HT leo lên xe tôi và hai người cùng nhau về vườn cây Lái Thiêu. Chúng tôi vào vườn, mua trái cây và ngồi ăn ngay dưới gốc cây sum suê bóng mát, thật là thơ mộng. Những câu chuyện của đôi trai gái yêu nhau chẳng ra đâu vào đâu, chẳng có đầu, cũng chẳng có đuôi. Ấy vậy mà vẫn cảm thấy thú vị. Ăn chán rồi, chỉ ngồi nói chuyện thôi. Trong khi trò chuyện, tay phải tôi quàng qua vai HT, vừa mơn trớn vừa đi sâu dần dần xuống vùng đồi núi, chu du khắp nẻo để khảo sát địa hình địa vật. HT cũng biểu đồng tình bằng cách dùng cái nón lá của nàng che trước đầu gối để tránh người ngoài nhìn thấy bàn tay di động của tôi. Bàn tay tôi hoạt động thoải mái vì đã có lá chắn cho nó rồi.

    Trai gái mới lớn, khi cọ xát xác thịt thì rất dễ bị kích thích. Chúng tôi cũng không ngoại lệ. Tôi nhận thấy hơi thở của HT càng lúc càng dồn dập, và giọng nói đã lạc đi, báo hiệu nàng đã bị kích thích nhiều rồi. Tôi cũng chẳng hơn gì, người tôi nóng bừng và cảm thấy “nó” đòi hỏi mạnh. Mặc dù đường từ đây ra khách sạn Lái Thiêu đâu có bao xa, tuy nhiên, tôi tự nhủ lòng rằng thôi nhé, tới đây là giới hạn, không được đi quá trớn nữa, chuyện đâu còn có đó, lỡ ra duyên phận không thành thì nàng còn “cái nghìn vàng” dành cho người chồng chứ. Tôi hỏi HT:

    - Năm nay thi Tú Tài 2 xong, mình làm đám cưới nha em?
    - Sao gấp vậy? Em còn muốn học thêm nữa mà.

    Tôi nghĩ thầm, cưới xong rồi, em sẽ trở thành “học sanh” thay vì học sinh. Đi theo anh miết, ở đấy mà học. Tuy vậy, tôi cũng trả lời:

    - Thì cưới xong rồi, em học tiếp, đâu có trở ngại gì. Em cứ ở nhà đi học, lâu lâu anh về phép là được rồi. Tuy nhiên, có điều này hơi trở ngại?
    - Điều gì? Anh nói lẹ lên đi.
    - Đó là sự khác biệt tôn giáo giữa hai đứa mình. Em có chấp nhận theo đạo Công Giáo với anh không?
    - Em không biết. Má bảo sao thì em theo vậy.

    Tôi lại nghĩ thầm, nếu má bảo em không được theo đạo Công Giáo mà em nghe theo lời má thì hỏng bét rồi. Như vậy là HT chưa đạt tới mức “mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.” Câu trả lời mà tôi mong đợi ở HT là “Ba má không cho, em vẫn cứ lấy anh.” Tôi còn đang suy nghĩ thì HT nhìn đồng hồ, rồi nhắc tôi: “Tới giờ em phải về rồi. Sáng nay em xin phép ba má sang nhà bạn một lúc thôi. Về trễ, sợ ba má rầy chết.” Hai đứa chúng tôi ra xe, và tôi chở nàng về, tới ngã ba Cao Thắng - Trần Quốc Toản thì dừng lại cho nàng xuống, đi bộ về nhà. Tôi quay đầu xe trở về nhà.

    Trên đường về, tôi cứ bị ám ảnh bởi câu “Má bảo sao thì em theo vậy.” Tôi quyết định, mình phải dứt khoát, chứ không lừng chừng được: Chấm dứt cuộc tình. Từ đó tôi không ghé thăm HT như thường lệ nữa. Ít bữa sau, tôi đổi đi Long Thành nhưng không cho HT biết địa chỉ mới. Cuộc tình của chúng tôi thế là hết. Có lẽ HT chẳng hiểu nguyên do gì mà tự nhiên tôi ngưng ngang xương như thế. Tôi còn thiếu HT một lời giải thích trước khi chia tay.

    Mười năm sau, đầu năm 1973, Pháo Đội của tôi lại có dịp về hành quân nơi “thôn xưa”. Ổn định công việc xong, tôi ghé thăm bác Chín. Bác Chín gái nhận ra tôi ngay:

    - Chèng đéc ơi! Ông đi đâu mà lâu dzữ (dữ)? Cả chục năm rồi?
    - Thưa bác, đúng là cả chục năm rồi; Pháo Đội của con về đây ít bữa, con ghé thăm sức khỏe hai bác. Bác trai đâu rồi?
    - Ổng chớt (chết) mấy năm rồi. Nhà bây giờ vắng goe (hoe) à!
    - Con xin chia buồn với bác nhé. Thế còn HT bây giờ ra sao hả bác?
    - Nó chờ ông goài (hoài), chờ riết rồi nó phải lấy chồng.
    - Chồng HT làm gì hả bác?
    - Chồng nó cũng là sĩ quan, đại úy như ông đấy.
    - Chúng con không có duyên số, đành vậy thôi bác. Nhưng con cũng mừng là HT đã có chồng, con hết còn áy náy nữa.
    - Mai mốt có guởn (rảnh), ông ra ăn một bữa cơm với tui nghe.
    - Thưa bác, lúc nào con định ăn cơm, con sẽ báo trước cho bác một ngày nhé.
    - Ừa; ông đã có dzợ (vợ) con gì chưa?
    - Thưa bác rồi, một gái hai trai.

    Hai bác cháu tôi tiếp tục dăm ba câu chuyện nữa, rồi tôi xin bác cho tôi vào thắp nhang vái bác trai, xong, tôi cáo từ và hẹn sẽ ra ăn cơm ở nhà bác nay mai. Nhưng cái hẹn đó không bao giờ xảy ra, vì ngay hai bữa sau, đơn vị của tôi lại phải chuyển đi nơi khác mà cũng không kịp ra từ giã bác. Khúc phim dĩ vãng cũa tôi đến đây tạm ngưng vì đã đến giờ đi lãnh cơm rồi.

    Bây giờ bình tâm, ngồi viết lại chuyện này, tôi tự hỏi mình:
    “Quyết định dứt tình với HT như vậy có hấp tấp không?” - Dám có lắm.
    “Đòi hỏi một câu trả lời đúng như ý mình muốn, có cố chấp không?” - Dám có lắm.

    Bởi vì khi đó HT mới 18 tuổi, cái tuổi ăn chưa no lo chưa tới, chưa có kinh nghiệm tình trường. Nàng chỉ trả lời theo phản ứng tự nhiên của một người con trong một gia đình gia giáo, muốn làm gì cũng phải xin phép cha mẹ. Câu trả lời lúc đó của nàng là hợp lý quá đi chứ. Ấy vậy mà nó lại có tác dụng ngược!

    Vả lại, HT là con gái út trong gia đình, trên nàng còn có mấy anh trai. Cái chuyện lo nhang khói cho tổ tiên đâu có phải là trách nhiệm của nàng. Dù HT có theo đạo Công Giáo thì cũng chẳng ảnh hưởng gì đến việc cúng giỗ Tổ Tiên. Vì thế, chắc chắn là ba má nàng chẳng cản trở gì đâu. Nhất là ba má nàng lại là người Miền Nam, tính tình phóng khoáng, chứ đâu có cổ hủ như mẹ tôi. Vịn vào câu trả lời của HT mà quyết định dứt tình thì rõ ràng là hồ đồ quá đi chứ. Có lẽ là tại duyên số cho nên sự việc đã diễn ra như vậy. Cho nên, tôi mượn ý của một câu hát trong một bài ca (mà tôi quên tên) để nói rằng “Chẳng phải tại anh, mà cũng chẳng phải tại em, bởi vì duyên số nên hai đứa mình chia tay.”

    Nếu HT có tình cờ đọc được bài viết này, thì hãy coi đây là một lời giải thích muộn màng của tôi. Muộn còn hơn không, phải không HT? Cầu mong HT có một gia đình đầm ấm.


    7.21. Sinh hoạt cuối tuần
    Cuối tuần ở đây (Việt Nam) không giống như cuối tuần ở Mỹ, tức là chỉ tính từ chiều ngày Thứ Bảy tới chiều ngày Chủ Nhật thôi. Chúng tôi ai cũng mong đến cuối tuần để có một ngày vui chơi với bạn bè. Như tôi đã nói trước đây, bây giờ nhắc lại, là kể từ 1980, dường như bọn Việt Cộng đã dự tính một cái gì đó, cho nên chúng đã áp dụng một chính sách đối xử mới với tù nhân Việt Nam Cộng Hòa. Chúng không còn khắt khe trong công việc làm cũng như những sinh hoạt trong trại.

    Những nguồn tin do gia đình thăm nuôi cho chúng tôi biết, rằng hiện nay Việt Cộng và Mỹ đang có sự điều đình về việc giải quyết sự giam giữ chúng tôi. Vì thế chúng phải chuẩn bị sẵn để khi chúng tôi được thả ra, chúng tôi sẽ có một ngoại hình tương đối coi được. Muốn vậy, thì một mặt chúng không ép chúng tôi làm quá sức (lao động khổ sai) như trước đây để tránh bị chết vì kiệt sức; một mặt chúng nâng cao phần dinh dưỡng để tăng thêm sức khỏe cho tù nhân bằng cách cho gia đình tù nhân tiếp tế thả giàn, ai có bao nhiêu cho nhận bấy nhiêu, chúng có mất gì đâu, mà lại được tiếng là nhân đạo. Thật đúng với câu “Của người, phúc ta”! Nhờ vậy, tù nhân hồi sức một cách nhanh chóng.

    Ngay cả những người thuộc loại “con bà phước” (không có tiếp tế) cũng được hưởng lây cái chính sách dễ dãi này vì các bạn bè của họ sẽ giúp đỡ và chia sẻ thực phẩm cho họ. Thậm chí, nếu không có bạn bè nào giúp đỡ, thì ít ra họ cũng được hưởng những phần cơm của trại phát mà những người kia không cần đến. Từ nay không còn cái cảnh đói triền miên như những năm tháng trước nữa. Bọn Việt Cộng, mỗi khi có một chính sách gì mới thì đều cho những thành phần có liên quan học tập để mà thi hành. Vì thế mà tất cả bọn cai tù, từ trên xuống dưới đều có chung một cách đối xử mới với tù nhân: dễ dãi về mọi mặt. Điều chúng nó quan tâm bây giờ là giữ đừng để chúng tôi làm loạn trong trại, và làm sao đừng để có thêm người nào chết trong tù nữa. Đây chỉ là suy luận chủ quan của tôi nhưng chắc không sai đâu. Do đó dẫn đến sự thoải mái tinh thần cho chúng tôi vào những ngày cuối tuần.

    Tuy nhiên, đừng nhìn thấy vậy mà nghĩ rằng bọn Việt Cộng thương chúng tôi đâu nhé. Bản chất của chúng là luôn luôn căm thù những ai không cùng chí hướng với chúng, nếu giết được thì chúng chẳng tha đâu. Sở dĩ bọn chúng để chúng tôi được thoải mái cả về tinh thần lẫn thể chất vì bị áp lực của thế giới, và chúng đang có kế hoạch “thả ra và tống khứ” chúng tôi ra khỏi nước. Làm như vậy, chúng có lợi đôi ba đàng: (a) Được tiếng với thế giới là có chính sách đối xử nhân đạo với tù nhân, bằng chứng là khi được thả, người nào cũng có một dáng dấp tạm coi được, (b) Không giam giữ chúng tôi nữa, sẽ được lợi trong bang giao quốc tế (nhất là với Hoa Kỳ). Hoa Kỳ sẽ viện trợ dưới một hình thức nào đó cho bọn chúng, và (c) “Tống khứ” chúng tôi ra ngoại quốc là để giảm thiểu những mầm mống chống đối trong nước mà chúng tôi là thành phần đáng ngại nhất. Câu tục ngữ “Không bắt được mày thì tha mày làm phước” thật đúng với cung cách của bọn Việt Cộng lúc này.

    Chúng tôi thường họp lại thành từng nhóm (ăn uống), lớn nhỏ khác nhau. Nhóm thì ba người, nhóm thì năm bảy người. Có nhóm kết hợp theo binh chủng (cùng ở một binh chủng). Có nhóm kết hợp theo quê quán. Có nhóm kết hợp theo quân trường, như Võ Bị Đà Lạt, Thủ Đức, Đồng Đế. Có nhóm kết hợp theo đơn vị, thường là cấp sư đoàn; nhóm này thường là đông người nhất, do một vị tướng (tư lệnh cũ) làm “chủ xị” (đóng vai trò cung cấp đồ ăn), nhân số phải trên dưới hai chục người bởi vì trong một sư đoàn có rất nhiều binh chủng (như pháo binh, quân cụ, quân nhu, quân y, truyền tin v.v…) Vì vậy, một người có thể gia nhập được nhiều nhóm, chẳng hạn như một người là Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, Binh chủng Pháo binh, thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh, thì có thể cùng một lúc gia nhập nhóm Sĩ Quan Thủ Đức, nhóm Binh chủng Pháo binh, nhóm Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Và như vậy, một ngày anh ta phải “chạy sô” ba nơi mới xong.

    Nhóm tôi có ba người, kết hợp theo kiểu “hỗn hợp binh chủng” vì mỗi người ở một binh chủng khác nhau. Ba người là Nguyễn Văn Vượng (Vượng sún) - Bộ Binh; Nguyễn Phán - Biệt Động Quân; và tôi – Pháo Binh. Ba người bọn tôi cùng ở với nhau từ các Trại Hồ Thác Bà (Hoàng Liên Sơn/Yên Bái), tới Trại Vĩnh Quang B, tới Vĩnh Quang A, rồi bây giờ tới Nam Hà A. Thêm vào đó là, hiện giờ, chúng tôi ở cùng đội và nằm sát bên nhau; tôi nằm sát vách tường, tới Vượng sún, rồi tới Nguyễn Phán. Chúng tôi tối lửa tắt đèn đều có nhau. Đó là lý do kết nhóm của chúng tôi.

    Các nhóm đều có các bữa ăn uống vào ban ngày, thường là suốt ngày Chủ Nhật. Trái lại, nhóm của tôi thường tổ chức ở trong buồng, sau khi cửa buồng đã được khóa chặt. Ban ngày, ba chúng tôi xé lẻ và mỗi người đi theo ý riêng của mình. Nguyễn Phán (khóa 24 Võ Bị Đà Lạt) thường hay tham dự ăn uống với các đàn anh Đà Lạt. Vượng sún thì đi tùm lum tà la, chỗ nào vui là có mặt, vui đâu chầu đấy, chẳng cần biết binh chủng, đơn vị hay gì gì khác vì giao thiệp của Vượng sún rất rộng rãi, từ các vị tướng tới các thành phần tép riu. Tôi cũng đi lang bang đó đây, lúc thì đi nghe nhạc, lúc thì sang các buồng khác đấu láo với bạn bè. Ba chúng tôi, mỗi tuần có hai buổi tối ngồi lại với nhau: một, Thứ Bảy và một, Chủ Nhật.

    Vượng sún có cái đặc biệt là, chiều thứ bảy, đi lao động về, cơm nước xong là đi mút chỉ cho đến khi nào nghe tiếng kẻng vào buồng mới chạy về. Nếu trước kẻng, ai cần gặp Vượng thì không biết hắn ở đâu mà tìm. Cái thứ hai đáng cho tôi nhớ là, đi đâu thì đi, làm gì thì làm nhưng khi về buồng, bao giờ Vượng cũng mang về cho tôi một cuốn tự điển Anh-Việt do nhà xuất bản Khoa Học Hà-Nội phát hành. Loại tự điển này, hầu như người nào từ Trại Hà-Tây về đây đều có. Nghe nói họ đổi một bộ đồ tù (giống như bộ bà ba) lấy một cuốn khi còn ở Trại Hà-Tây. Tôi có quyền xài cuốn tự điển này cho đến chiều Chủ Nhật thì Vượng mang đi trả trước khi đóng cửa buồng. Tôi cũng chẳng cần biết Vượng mượn của ai, miễn là có để xài. Vượng cứ làm như thế hàng tuần cho tới khi chúng tôi cùng được thả một lượt, vào cuối tháng 8/1984. Tôi cũng chẳng hiểu tại sao Vượng tự nguyện làm như thế trong khi tôi chẳng có gì cho Vượng. Tôi thuộc loại gần như “trên răng, dưới cù lẳng” thì lấy gì mà cho cơ chứ. Điều thứ ba để tôi không quên được Vượng sún là (như tôi đã kể trước đây) khi tôi bị đau khớp xương sống do đánh nhau với anh Th., ngay chiều hôm đó Vượng tự ý đi xin mật gấu của Đại Tá Phạm Bá Hoa, đem về cho tôi uống. Tôi nào có biết Đại Tá Hoa có mật gấu mà xin. Cái tình mà Vượng dành cho tôi đã làm cho tôi thực sự cảm động và không khi nào tôi có thể quên được.
    (còn tiếp)

  13. #53
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    Nguyễn Phán là người trẻ nhất trong nhóm. Từ ngày có các nhóm ăn uống nhiều, nhu cầu nấu nướng tăng theo. Muốn nấu thì phải có củi. Thế là Phán có thị trường bán củi. Trước đây, trại chỉ cho phép đem củi vào trại mỗi tuần hai lần, Thứ Ba và Thứ Sáu. Bây giờ thì lệnh đó bị lơ là cho nên mang củi vào trại ngày nào cũng được. Trong buổi lao động, Phán dành phần lớn thời giờ đi lấy củi để khi về trại mang theo. Số củi này, Phán đem sang buồng mấy vị tướng, tá, bán hoặc đổi chác. Nhờ đó, bộ ba chúng tôi có tiền để mua bánh kẹo, trà, cà phê, và thuốc hút. Nhóm chúng tôi chỉ có “nhẩm xà” (uống trà), chứ không ăn uống; buổi tối ăn uống ở trong buồng rất bất tiện, chỉ trừ một vài trường hợp đặc biệt mà thôi, như một trong ba người có thăm nuôi chẳng hạn. Tôi là người vô dụng nhất trong nhóm. Đi làm thì ỷ đã có người lấy củi rồi, tôi không lấy. Ở nhà thì hầu hết thời giờ dành để vật lộn với cuốn tự điển mà Vượng mượn giùm cho. Có giúp chăng, thì chỉ là đốt cái bếp dầu hôi tự chế tại trại (*) và đặt lon nước lên bếp cho nó sôi để pha trà. Tôi không làm một mình, mà còn có “co-pilot” Vượng phụ giúp nữa. Cứ thế, chúng tôi vui vẻ sống với nhau để quên đi những ngày tháng xa gia đình, quên đi những băn khoăn về vợ, về con, và về những người thân yêu đang ngàn trùng xa cách, ít ra là trong những ngày cuối tuần.

    Nhân đây, tôi xin đi ra ngoài đề một chút để nói thêm một kỷ niệm giữa tôi và Vượng sún. Vào mùa đông năm 1983, trời rất lạnh. Chúng tôi phải mặc hai ba lớp áo quần mà vẫn lạnh. Khi mới ra Bắc, mỗi người được phát hai cái mền đỏ mỏng. Đa số chúng tôi đã “hóa phép” một trong hai cái mền thành mắm tôm, gạo hoặc thuốc lào rồi. Vượng và tôi cũng vậy, mỗi người chỉ còn một cái thôi, không đủ chống lạnh. Chúng tôi nghĩ cách đắp chung mền; muốn vậy thì hai người phải nằm chung một cái mùng và phải nằm đảo đầu: Đầu tôi quay xuống chân Vượng và đầu Vượng quay xuống chân tôi. Nhờ hơi ấm của hai người cộng lại và có hai lớp mền mà chúng tôi có những giấc ngủ ngon. Rất may là hai người đều không có bệnh thối chân, nếu có, thì chẳng biết có áp dụng kiểu nằm đổi đầu này được không.

    (*) Cái bếp này do anh Dũng (có biệt danh là Dũng khấc) chế tạo. Anh dùng những lon đựng đồ ăn thăm nuôi mà chế ra. Mới đầu, anh chế ra cho riêng anh xài. Nhiều bạn thân thấy đẹp, đem vật liệu tới, nhờ anh làm giúp (miễn phí). Sau đó nhiều người biết tài của anh, nhờ anh làm có trả công bằng bất cứ đồ ăn gì mà họ có. Anh cũng làm một cái tặng tôi nhưng tôi không xài ở trại mà để dành chờ ngày được tha, đem về nhà làm kỷ niệm. Gia đình anh Dũng ở Chợ Nhỏ, Thủ Đức (Bên ngoài hàng rào trường Bộ Binh Thủ Đức. Anh cùng về một chuyến với tôi và nghe nói hiện giờ anh đang ở Utah.

    Nói về các nhóm mà không nói tới nhóm “Du ca” thì thật là một thiếu sót. Nhóm này gồm những người biết chơi đàn, biết ca hát. Vào ngày Chủ Nhật, nhóm du ca hoạt động mạnh nhất. Họ đi hát dạo, giúp vui cho toàn trại nhưng không phải là cùng một lúc. Thường thường, một ngày họ chỉ hát được tối đa là hai địa điểm (buồng): sáng một, chiều một. Tuần sau, họ lại đổi địa điểm khác. Ai muốn nghe họ hát thì tự tìm hiểu họ hát ở “rạp” nào mà mò đến. Trong nhóm du ca này, đa số là những người đến từ Trại Vĩnh Quang B và Vĩnh Quang A. Một số người mà tôi còn nhớ được là các anh:

    Đến từ Vĩnh Quang B
    Vũ Cao Hiến, còn rất trẻ, khoá 24 Võ Bị Đà Lạt, đại úy Biệt Động Quân. Hiến sáng tác nhạc, biết chơi đàn ghi-ta, và biết ca nữa. Hiến thường ca những bài do chính anh làm ra và thỉnh thoảng cũng có ca những bản (tù ca) của người khác sáng tác. Hiến đã ra người thiên cổ trong một chuyến vượt biển sau khi cưới vợ được ít tháng.

    Nguyễn Phan Đệ, gốc Thiết Giáp. Đệ không sáng tác nhạc (theo sự hiểu biết của tôi) mà chỉ hát thôi. Đệ rất vui tính và anh luôn luôn có giọng cười sảng khoái. Tôi có cảm tưởng là Đệ không biết buồn là gì. Đệ được tha sau tôi, cuối năm 1987. Ít tháng sau khi được tha, Đệ vượt biển nhưng thất bại, chạy thoát, không bị bắt. Chuyến vượt biển này, Đệ cùng đi với một cô bạn (con gái của một vị cùng ở tù tại Trại Nam Hà với chúng tôi) và Đệ kể:

    - Hai đứa phải chui vào bụi rậm núp gần cả đêm, chờ cho tụi công an biên phòng đi khỏi, rồi mới chui ra khỏi bụi, chạy tiếp.

    Tôi hỏi:

    - Thế bồ ở trong bụi với cô bạn lâu như vậy, bồ có táy máy gì không đấy?
    - Làm gì có, cha nội.
    - Thôi đi, ai bắt được ma ăn cỗ? Trông mặt bồ gian lắm, tôi chẳng tin được.

    Cả hai chúng tôi cùng cười, rồi Đệ chuyển sang đề tài khác. Ngày gia đình tôi ra phi trường làm “phi nhân” (mượn chữ của Chu Tất Tiến), Đệ cùng với Trần Cao Chánh, Chương còm/hói, và Bình bốt đi tiễn đưa. Đệ đi Mỹ sau tôi vài năm (không rõ) vì Đệ không liên lạc gì với tôi từ dạo ấy. Tôi có cảm nghĩ là Đệ sẽ cưới “cô bạn chui vào bụi rậm”; và tôi mới được một người bạn cho biết rằng Đệ đã cưới cô bạn đó trước khi đi Mỹ. Đệ ơi, bạn cưới vợ như vậy sớm lắm cũng phải là cuối năm 1991 (sau khi tôi đã đi Mỹ); chắc chắn là bạn phải sống trong cảnh cha già, con mọn rồi; cứ như ta đây, làm sớm nghỉ sớm, bây giờ thấy khỏe re.

    Nguyễn Duy Côn (tôi không nhớ chắc họ của Côn), bạn bè thường gọi anh là “Du côn”. Côn gốc Biệt Động Quân và còn trẻ. Ấy vậy mà anh có con gái lớn lắm, lớn hơn con gái của tôi nữa, có lẽ nó phải sanh năm 1965. Tôi và Côn không có mối thân tình, mà chỉ biết nhau trong thời gian ở tù chung thôi. Côn có một giọng hát mạnh đặc biệt.

    Hồ Đắc Thái, đại úy Quân Pháp, người Huế. Anh Thái không biết đàn hát gì, mà chỉ làm mấy bài thơ để cho Vũ Cao Hiến phổ nhạc. Đôi khi Thái đặt lời cho những bản nhạc của Hiến. Tôi còn nhớ vài câu đầu trong một bài thơ của Thái mà Hiến đã phổ nhạc, như sau:
    Nơi tôi ở, đất cằn không mầu mỡ,
    Thung lũng buồn, vây kín cả tương lai.
    Thời gian qua đi, riêng tôi ngừng lại,
    Có biết đâu (về) thế giới bên ngoài! (*)

    Bài này còn dài lắm, nhưng tôi không thể nhớ hết được. Anh Thái làm bài thơ này sau khi tới Trại Vĩnh Quang B gần một năm. Hai dòng đầu ám chỉ Trại Vĩnh Quang B, tỉnh Vĩnh Phú. Khi đang thai nghén bài thơ/nhạc này, Thái và Hiến thường trao đổi ý kiến để gọt dũa (giũa) lời thơ nốt nhạc với nhau. Tôi biết điều này, vì thỉnh thoảng hai anh trao đổi ý kiến trước mặt tôi. Đối với hai anh, tôi là “phe ta đáng tin cậy” mà. Hồ Đắc Thái cũng được thả cùng đợt với tôi. Thái vượt biển sau khi ra tù ít lâu, và đã làm mồi cho cá biển vùng vịnh Thái Lan rồi!

    (*) Ghi chú: Theo Tạ Quang Hoàng (TQH), Chuyện tù kể từ trại Nam hà, 2008, thì bài này được sáng tác tại trại Nam Hà. Điều này hoàn toàn sai vì TQH đã đi khỏi trại Nam Hà năm 1979; và chúng tôi chỉ tới Nam Hà vào cuối năm 1982 thì làm sao ông biết được.

    Anh Thanh (không nhớ họ), thiếu tá Không Quân. Anh Thanh vừa biết chơi đàn ghi-ta, vừa biết ca. Tôi không biết nhiều về anh vì anh ở khác buồng với tôi. Tôi chỉ thấy anh thường đi cặp với Hiến, Đệ, và Côn trong những buổi du ca tại các buồng.

    Phạm Dư Chất, đại úy Quân Pháp. Tôi không thấy anh chơi đàn bao giờ cho nên không dám quyết đoán là anh biết hay không. Anh chỉ ca mà thôi. Giọng ca của anh rất khỏe và ấm. Anh thỉnh thoảng mới tham dự trong đám du ca và anh chỉ hát những bản nhạc tiền chiến mà thôi. Tôi chưa bao giờ nghe anh hát “tù ca” cả (có lẽ là anh hơi “lạnh cẳng” như một vài bạn của tôi đã nhận xét, và tôi cũng có cùng nhận xét như họ). Viết tới đây, tôi sực nhớ một câu thơ tếu của Võ Ý (trung tá Không Quân) như sau:

    Long legs never tired,
    Cold feet never die.

    Ông diễn nghĩa sang tiếng Việt (tôi nhớ không chính xác lắm) rằng:

    Trường túc bất tri lao, (Nữa đi anh, “ấy” nữa đi anh, em chấp anh đấy)
    Lạnh cẳng chết được sao? (Ta cứ ở trên cao, nhấn nút cho bom rơi thì sức mấy mà trúng đạn phòng không của Việt Cộng nhỉ?)

    Ghi chú: Chữ trong ngoặc đơn là do tôi “phụ đề Việt Ngữ” đấy.

    Anh Chất ưa hát trong buồng vào buổi tối, khi cửa buồng đã khoá kín. Ở Nam Hà, có một thời gian tôi nằm cách anh hai người, ở tầng trên. Anh nằm sát vách, còn tôi nằm ngay chỗ cửa sổ buồng. Ban đêm nhìn qua cửa sổ xuống vùng nước mênh mông bên dưới (sau này một phần nhỏ trồng cói), tôi có cảm tưởng như mình đang nhìn vịnh Hạ Long (Bắc Việt), mặt nước lấp lánh ánh sao trời, điểm thêm mấy ngọn núi đá đen thui nhô lên khỏi mặt nước, lại có những đốm sáng di động chầm chậm nữa (có lẽ là dân chúng thắp đèn đi bắt cá thì phải); cảnh vật trông cũng hữu tình lắm nếu mình không mang tâm trạng của một người đang chịu cảnh tù đầy.

    Đến từ Trại Vĩnh Quang A

    Anh Đinh Quốc Trực, thiếu tá Không Quân. Tôi không biết gì về anh Trực ngoài việc thấy anh thường tham gia đám du ca ở Nam Hà. Dường như không có ai trong nhóm du ca đến từ các trại Tân Lập, hoặc từ nhóm người cũ của Trại Nam Hà (trước tháng 11/1982, là thời gian chúng tôi chuyển tới).

    Những bài hát thường là do chính họ sáng tác, hoặc do một người tù nào đó sáng tác rồi truyền miệng cho họ. Chỉ truyền miệng thôi, ai mà dám ghi chép, lãnh cái búa sao. Chúng tôi gọi những bài hát này là “Tù Ca”. Về mặt văn chương và nhạc lý, tôi không có khả năng đánh giá. Tuy nhiên, về mặt ý nghĩa mà bản nhạc chuyên chở thì phải nói là “Đạt”.

    Bản nhạc nào cũng diễn tả được tâm tư tình cảm của tù nhân. Bản thì nói lên nỗi bi phẫn của những người trai thời loạn, nửa đường đứt gánh, bị làm kẻ chiến bại bởi vì không phải mình kém tài, không phải mình hèn nhát, mà là do sự sắp đặt của các nước lớn.

    Bản thì diễn tả nỗi niềm u uất của một tù nhân khi vợ ra thăm nuôi, gặp nhau mà chẳng nói ra được những lời mà mình muốn nói. Bản thì mô tả cảnh lao động khổ sai trong khi bụng đói cào cấu, đói bủn rủn tay chân, đói mờ con mắt.

    Tóm lại, mỗi bản nhạc một vẻ, làm cho người nghe cứ tưởng như nó đang diễn tả cảnh cơ cực, lầm than và cay đắng của chính bản thân mình mà ở một thời điểm nào đó mình đã từng trải. Tôi đã từng thấy trong đám thính giả, có vài người nước mắt chạy vòng quanh vì không cầm được xúc động.

    Anh Nguyễn Quang Ngọ cho tôi biết là Đinh Quốc Trực, khi biết mình sắp chết vì bệnh ung thư, đã cùng với người con trai của anh, thâu vào CD một số những bản tù ca của Vũ Cao Hiến mà Trực còn nhớ. Vì vậy mà, sau khi Trực từ giã cõi đời, các thân hữu của anh đã có được đĩa nhạc này.
    (còn tiếp)

  14. #54
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    7.22. Một đêm giao thừa
    Cái tết Nguyên Đán đầu tiên của tôi ở trại Nam Hà A là khoảng tháng 2/1983. Đây là một cái tết vui nhộn nhất kể từ ngày đi ở tù. Trước hết phải nói về hoạt náo viên.

    Cặp bài trùng Nguyễn Văn Tỷ và Trần Văn Hòa (tôi không chắc lắm về họ của Hoà) có cái hên là luôn luôn ở cùng buồng với nhau từ Trại Vĩnh Quang B. Về Nam Hà cũng vậy. Cả hai đều là phi công (trực thăng?). Tỷ dáng người hơi cao hơn bình thường, hơn 1,70 mét (5 ft 10 in) ), còn Hòa thì thấp hơn và có nước da hơi đen nên có biệt danh là Hoà đen. Tỷ ít nói nhưng có óc khôi hài kha khá. Tôi ở chung buồng với cặp này khá lâu khi còn ở Trại Vĩnh Quang B. Bây giờ lại cùng buồng với nhau ở Nam Hà.

    Cách đây chừng ba tháng (9/2008), anh Lương Văn Quang (ở Cali) cho tôi biết rằng Tỷ cũng đang ở Cali, trước kia thì Tỷ lái máy bay, bây giờ Tỷ cũng lái nhưng là lái máy may. Tệ hơn nữa là Tỷ không được làm phi công chính mà chỉ được làm phi công phụ cho vợ thôi, đảm trách về việc cắt chỉ và lái xe đi nhận và giao hàng may gia công. Tôi nói đùa với Quang rằng: “Như vậy là bà xã của Tỷ giỏi quá, vừa lái máy may vừa lái phi công (Tỷ), khi lái phi công thì bà ấy chỉ cần một phi đạo cỡ cái giường đôi, không cần phải có ‘phi đạo chạy dài’ mà bà ấy vẫn dư sức ‘cất cánh bay cao’ rồi.”

    Trở lại Trại Nam Hà. Mấy ngày trước tết, trại phát khẩu phần tết cho chúng tôi, gồm có bánh ngọt, mứt, kẹo, thuốc lá, và trà. Vậy là người nào cũng có cái để mà vui xuân, ngay cả người nghèo nhất – con bà phước – cũng đỡ cảm thấy lạc lõng khi xuân về. Những người có thăm nuôi, có tiền thì tha hồ mua sắm những mặt hàng do “căng-tin” (quầy bán hàng) của trại cung cấp. Mấy người phụ trách về “căng-tin”, trong những ngày này rất bận rộn vì phải lập danh sách mua hàng trước cả nửa tháng để còn có đủ thời gian cho trại đi mua hàng về theo đơn đặt hàng. Những người khác thì lo tích trữ củi để đủ dùng cho những ngày nghỉ tết. Ngoài ra, còn có dịch vụ bán củi do mấy người thuộc loại con bà phước đảm trách. Bên khu buồng cấp tướng, có một vị đại tá “con bà phước” chuyên lo cung cấp củi cho buồng của mấy vị tướng tá.

    Một vài vị tướng cựu Tư Lệnh Sư Đoàn, được gia đình tiếp tế đầy đủ thì chẳng phải lo gì cả. Các ông ấy chỉ cần rỉ tai cho một thuộc cấp cũ của mình, rằng sẽ tổ chức ăn tết vào ngày đó giờ đó, thì các đàn em sẽ thông báo cho nhau, và chia nhau lo lắng mọi chuyện từ A đến Z cho ngày họp mặt. Vị tướng ấy chỉ cần mở “kho tiếp liệu” cung cấp thực phẩm theo yêu cầu là xong.

    Buồng tôi cũng vậy, người nào cũng chuẩn bị sẵn sàng để ăn tết, tuy nhiên không ồn ào lắm. Tôi thấy anh Tỷ thường hay rủ rỉ rù rì với Hòa đen. Hòa cười nhiều hơn là nói. Hai anh này đang dự tính cái gì hơi có vẻ bí mật, tôi không biết. Tỷ thường ngồi một mình viết cái gì đó trên những mẩu giấy nhỏ. Sau này mới vỡ lẽ ra là anh chơi trò “Hái lộc đầu xuân”. Trên mỗi mẩu giấy ghi một câu, có thể gọi là một cái lệnh thì đúng hơn.

    Chiều tối ngày ba mươi tết, khi cửa buồng đã khoá lại, chúng tôi từng nhóm lo việc chuẩn bị đón giao thừa. Mỗi nhóm thế nào cũng phải có một cái lò nấu nước bằng dầu hôi. Dầu hôi thì phải lo mua bán đổi chác trước mấy ngày rồi. Lò nấu đều là loại tự chế bằng các lon đựng thực phẩm. Mỗi lò chế một kiểu tùy sự khéo tay của người chế ra nó nhưng công dụng thì như nhau, đều có thể nấu nước sôi được. Khi đã có nước sôi, trà được pha ra và từng nhóm từng nhóm quây quần lại với nhau, nhâm nhi bánh trà và hút thuốc. Nhóm nào “giầu có” thì có cả rượu uống nữa (Căng tin trại có bán rượu mơ hay rượu mận gì đó, tôi không nhớ).

    Rượu và trà vào rồi, thì lời phải ra, chỗ nào cũng cười nói um xùm. Bây giờ là lúc Tỷ bắt đầu làm việc. Tỷ (từ sàn ngủ trên leo xuống) đứng giữa buồng, tuyên bố: “Anh em nghe đây, đêm nay chúng ta không ngủ, chúng ta sẽ vui chơi suốt đêm nghe.” Hầu như cả buồng đều hô “Đồng ý.” Tỷ cầm cái nón vải lật ngược mà bên trong là những mẩu giấy “mệnh lệnh” và nói: “Chúng ta bắt đầu bằng trò chơi hái lộc đầu năm, người nào bốc được “lộc” thì phải đọc lớn cho mọi người nghe, và sau đó thi hành, không được khiếu nại. Khi xong việc thì người đó chỉ định người kế tiếp ra hái lộc.”

    Tỷ mượn dịp này để chọc phá một số người mà thường ngày có lối sống hơi khác thường. Ví dụ như: anh X khá lớn tuổi và luôn luôn có vẻ đạo mạo thì Tỷ sẽ viết một cái lệnh cho người hái lộc như sau: “Bạn hãy đến mời anh X ra giữa nhà, anh X làm ngựa và bạn làm kỵ mã, bạn điều khiển ngựa đi từ đầu buồng đến cuối buồng.” Thế là cả buồng lại được một trận cười thoải mái. Cũng có cái “lệnh” không có ý chọc phá mà chỉ muốn giúp vui cho mọi người. Trường hợp này xảy ra cho anh Nguyễn Phan Đệ. Anh Đệ là người trong nhóm du ca, anh hát khá hay, muốn Đệ hát thì Tỷ viết lệnh như sau: “Bạn đến anh Y (loại trùm sò, keo kiệt) nhận hai cái kẹo, đem đến mời anh Đệ ăn kẹo để anh Đệ hát một bài giúp vui đêm nay.” Người nào hái lộc, gặp phải lệnh này thì khỏe quá.

    Đệ thi hành lệnh ngay, anh chàng ăn xong kẹo thì bắt đầu, nhưng Đệ không hát một mình mà lại yêu cầu cả buồng cùng hát, theo sự hướng dẫn của Đệ. Bài hát vỏn vẹn có hai câu như sau:

    Mười lăm giây đồng hồ, ngồi nhớ má thấy mồ, buồn như con cá rô bơi lội trong lu!
    Mười lăm giây đồng hồ, ngồi nhớ má thấy mồ, buồn như con cá rô đang lội trong hồ! (lặp lại hai ba lần)

    Cả buồng cùng hát theo, và tự nhiên không khí vui nhộn chùng xuống. Một vài tiếng lào xào: “Đ.M. Nó hát kiểu này chẳng khác gì hát “Xuân này, nếu con không về, chắc mẹ buồn lắm…, ai mà vui được.” Tôi không biết là Đệ sáng chế ra bài này hay mượn tạm của ai nữa. Anh Tỷ thấy không khí khác lạ, liền chuyển tiết mục qua người kế tiếp ngay.

    Tôi nhớ lại, khi còn ở Trại Vĩnh Quang B, đêm đón giao thừa, đầu năm 1980, lúc này kỷ luật trại đã nới lỏng chút ít rồi, Tỷ cũng đã chơi một trò tương tự. Buồng tôi có anh B., đại úy Thủy Quân Lục Chiến, gốc Tầu lai. Anh B. rất hiền, chỉ có tội trùm sò (keo kiệt) và ăn ở bẩn thỉu nhất buồng (Tầu mà, không bẩn thì không phải Tầu) cho nên B. chẳng có bạn. Trước tết chừng một tháng, vợ B. ra thăm nuôi nhưng B. không chia sẻ với ai bất cứ món gì của anh. Đêm giao thừa, Tỷ viết một cái lệnh cho người hái lộc như sau: “Bạn mang một cái đĩa đến gặp anh B., lấy một đĩa kẹo, đủ chia cho cả buồng, rồi bạn mời mọi người ăn kẹo mừng xuân.”

    B. nghe được lệnh này thì méo mặt nhưng cũng phải thi hành thôi. (Buồng tôi lúc đó có hai đội, mỗi đội 30 người, vậy là B. mất đứt 60 viên kẹo, đau bụng lắm chứ! Chúng tôi ở lâu với nhau trong một căn buồng chật hẹp cho nên chúng tôi biết rất rõ ai đang có cái gì. Vì thế, anh Tỷ biết B. có kẹo là điều dễ hiểu).

    Trở lại không khí tết buồng tôi ở Nam Hà. Chúng tôi tiếp tục chơi cho đến khi hết “lộc” thì chuyển sang hát “nhạc vàng”. Nguyễn Phan Đệ là ca sĩ chính, rồi đến anh Phạm Dư Chất. Lúc này Đệ không hát tù ca (vì bản nào cũng buồn) mà hát nhạc vàng chính hiệu “Bà lang Trọc”. Ai ở Miền Bắc trước 1954 thì biết bà lang Trọc vì bà nổi tiếng về môn thuốc ho gia truyền của bà. Nhiều người cũng tham gia ca hát mặc dù giọng hát không hay.

    Anh Phạm Dư Chất chuyên hát mấy bản nhạc tiền chiến, những bản vô thưởng vô phạt (cho chắc ăn mà). Anh rất ít khi hát nhạc vàng. Anh thường hay hát một bản, mà tôi quên mất tên, trong đó có câu “Nhìn về đường cố lý ( quê xưa), cố lý xa xôi….” (Sau này một hội viên Thư Viện Việt Nam, bạn Phạm Thắng Vũ, cho biết, đó là bản Thuyền Viễn Xứ của Phạm Duy). Mỗi khi nghe anh hát bài này (mà phải nghe khi ở Trại Nam Hà vào thời điểm 1983 cơ), tôi thấy có một cảm giác khó tả trong tôi. Nó đưa hồn tôi về thành phố Nam Định đầy ắp những kỷ niệm mà tôi đã sống thời niên thiếu; nhớ về các thày/cô và ngôi trường Bến Ngự thân yêu, gần nhà thờ Khoái Đồng; nhớ hồ La-két (*) - nơi tôi thường cùng bạn bè mò tôm ăn sống tại chỗ. Tôi đã xa thành phố Nam Định 29 năm rồi (1954 – 1983); bây giờ ngồi đây, chỉ còn cách nó chừng ba bốn chục cây số mà không thể nào về thăm nó được; hỏi sao không buồn?

    Tới mục “nhạc vàng” thì mấy tên công an gác ở ngoài buồng cũng đến nghe ké và còn cổ võ chúng tôi hát nhiều thêm để chúng thưởng thức. Thường thì mỗi buồng một tên gác nhưng đêm nay, có đứa xuống ca gác mà vẫn ngồi lại nghe nhạc. Bọn này thường rất trẻ và rất thích nghe “nhạc vàng”. Đối với chúng, nhạc vàng là tất cả những bài tình ca của Miền Nam trước 1975, chứ không phải nhạc vàng theo nghĩa nguyên thủy mà các nhạc sĩ Miền Nam đặt ra. Dĩ nhiên là chúng tôi hát “nhạc vàng” chứ, và đôi khi chúng tôi cũng “đánh du kích”: hát những bài như “Cờ Bay Trên Cổ Thành Quảng Trị… Cờ bay cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu … ; hoặc Việt Nam - Việt Nam…nghe từ vào đời ; hoặc Tiếng Gọi Công Dân…Này công dân ơi đứng lên đáp lời sông núi…” nhưng vẫn không có chuyện gì xảy ra cả. Thỉnh thoảng, chúng lại hỏi xin chúng tôi nước trà và thuốc lá để vừa nhâm nhi ly trà nóng, vừa phì phèo điếu thuốc trên môi, vừa thưởng thức “nhạc vàng”, giúp chúng quên đi phiên gác đêm giao thừa lạnh lẽo và xa nhà. Đây đúng là một đêm “sống chung hoà bình” giữa cai tù và tù Việt Nam Cộng Hòa.

    Hát chán, chúng tôi, từng nhóm nhỏ, nói chuyện vui, ai có chuyện gì thì đóng góp chuyện đó. Những người không biết gì thì “dựa cột mà nghe”. Nhờ vậy mà chúng tôi đã qua một đêm giao thừa vui vẻ; quên đi sự nhớ nhà, nhớ vợ, nhớ con trong giờ phút thiêng liêng này mà thường ngày nó luôn luôn lảng vảng trong đầu của mình.

    (*) Tên hồ “La-két”, tiếng Pháp là Laquette, là một danh từ riêng, chỉ tên người.


    7.23. Thăm nuôi lần thứ tư
    Trước đây tôi đã quên, không kể về lần thăm nuôi do vợ chồng bà chị Cả (chị Hai) của tôi ra thăm, sau chuyến thăm nuôi của vợ tôi chừng 3 tháng, lúc còn ở Trại Vĩnh Quang B. Bây giờ cho nó qua luôn để kể về chuyến thăm nuôi này. Vì vậy tôi gọi lần này là lần thứ tư, khi tôi đang ở Nam Hà. Tôi cũng không mong đợi lần thăm nuôi này vì theo thư từ của vợ con tôi thì vợ tôi chưa có khả năng đi thăm tôi lúc này.

    Vào khoảng cuối tháng 7/1984, một buổi sáng, trước giờ đi lao động, tôi được gọi tên ở nhà vì có thăm nuôi. Tôi nghĩ, chắc lại là ông anh rể tôi (anh K.) chứ không là ai khác. Lần thăm nuôi trước ở Vĩnh Quang A, khi ra về, anh K. nói với tôi rằng khi nào nhận được tiền của chú em tôi từ Mỹ gửi về thì anh sẽ ra thăm tôi. Qua thủ tục khám xét ở cổng trại (cũng chỉ khám lấy lệ thôi), tôi được dẫn ra nhà thăm nuôi, cách trại gần 100 mét (hơn 300 ft).

    Người thăm nuôi tôi là anh K., đúng như tôi dự đoán. Một người nữa đi thăm chồng trên cùng một chuyến xe lửa với anh K. là vợ của anh Phạm Duy Tuệ. Anh Tuệ là cựu Dân Biểu Việt Nam Cộng Hòa và cũng là học trò của GS Diễm thời trung học. Dù vậy, tôi cũng chẳng quen biết anh Tuệ cho đến khi về đây (Nam Hà). Anh Tuệ ở trong Ban Dịch Thuật của trại cho nên anh có rất nhiều sách tiếng Anh. Những sách tôi đọc, hầu hết là do anh cho mượn, qua trung gian của GS Diễm mà thôi, chứ tôi chưa từng một lần gặp anh. GS Diễm nói với tôi rằng: “Tuệ ngày xưa cũng là học trò của tôi, em cần sách tiếng Anh để đọc thì tôi nói với Tuệ cho mượn mà đọc.”

    Nhà thăm nuôi hôm đó chỉ có hai người, đó là vợ anh Tuệ và anh rể tôi. Tôi ra trước anh Tuệ chừng 20 phút. Anh K. giới thiệu chị Tuệ với tôi, sau đó anh em tôi trò chuyện riêng với nhau trong lúc chị Tuệ chờ chồng ra sau. Thỉnh thoảng tôi bắt gặp chị Tuệ nhìn trộm tôi nhưng tôi cũng không bận tâm vì còn phải chú tâm vào câu chuyện của hai anh em tôi. Ở đây, cũng giống như ở Trại Vĩnh Quang A, tôi chẳng thấy cán bộ phụ trách thăm nuôi đâu cả. “Trật Tự Trại” là Nguyễn Thành Th., đưa tôi ra nhà thăm nuôi rồi để tôi ở đó. Chúng tôi tự động xáp vô nói chuyện. Chúng tôi nói chuyện xong được một lúc lâu thì Th. ra và hỏi tôi đã xong chưa, nếu xong rồi, Th. đưa tôi vào trại trước, trong khi vợ chồng anh Tuệ vẫn tiếp tục nói chuyện. Vợ chồng lâu ngày gặp nhau thì thiếu gì chuyện để nói, nói bằng lời, nói bằng mắt, và chắc chắn việc nói bằng tay chân cũng phải xảy ra trong lúc nhà thăm nuôi chỉ có hai vợ chồng; quí vị tha hồ tượng tượng. Chúng tôi thì trái lại, cùng là “đực rựa” với nhau cho nên chẳng có gì nhiều để nói, chán phèo!

    Đồ đạc thăm nuôi của tôi cũng chẳng có gì nhiều, khoảng 30 kg (hơn 60 pounds) là cùng. Tuy nhiên, ở đây cho nhận tiền nên tôi có được một món tiền kha khá (không nhớ là bao nhiêu). Nhờ vậy mà một tháng sau, lúc tôi được thả, tôi có tiền chi tiêu thoải mái trong mấy ngày đi đường. Thái độ của Th. đối với tôi cũng thay đổi hẳn. Từ ngày ở Vĩnh Quang B, rồi tới Vĩnh Quang A, Th. cậy thế làm Trật Tự Trại cho nên coi thường mọi người, nhất là đối với tôi thì Th. tỏ ra không ưa tôi tí nào cả vì có bao giờ tôi nói chuyện với hắn đâu. Nhưng lần này thì khác, khi vào đến cổng trại, Th. nói với tôi: “Anh mang đồ về buồng luôn đi, cứ coi như em đã khám đồ của anh rồi.” Tôi cám ơn hắn rồi mang đồ về buồng. Tôi tự hỏi, uả sao lạ vậy? Tự nhiên Th. lại không khám xét đồ tiếp tế của tôi, và lại còn đổi giọng, xưng “em” ngọt xớt với tôi. Rồi tôi tự trả lời, có lẽ hắn sợ, “Lỡ ra tình thế thay đổi” hoặc được thả về cùng ngày với tôi thì bọn tôi sẽ “làm thịt” hắn chăng. Cho đến khi viết những dòng này, tôi cũng chưa có câu giải đáp.

    Trở lại chuyện chị Tuệ. Khi tôi được thả về nhà, vợ tôi nói rằng vợ tôi cũng biết chị Tuệ ra Nam Hà nhưng vợ tôi không gửi ké cái gì, vì trước đó vài ba tuần vợ tôi đã gửi ké một ít đồ cho em trai của Phán rồi (Nguyễn Phán nằm trong nhóm ba người của bọn tôi). Chị Tuệ cho vợ tôi biết là chị đã gặp tôi ở Nam Hà, và thấy tôi vẫn khỏe. Khi đó, vợ tôi mới biết là anh K. ra Bắc thăm tôi mặc dù nhà anh K. và nhà tôi chỉ cách nhau chừng 500 mét thôi. Thời gian này gia đình hai bà chị tôi và vợ tôi vẫn còn đang ở trong tình trạng đối đầu, không thèm nhìn mặt nhau.

    Chị Tuệ và vợ tôi cùng ở trong nhóm chạy hàng lậu ở Sài-Gòn. Hai người thân nhau là chuyện dĩ nhiên. Chị Tuệ kể lại là trên tầu hoả, chị gặp anh K. Hỏi ra thì chị biết anh K. là anh rể tôi. Anh K. không biết chị nhưng chị biết rất rõ chuyện xích mích giữa vợ tôi và hai bà chị tôi. Vì thế, chị Tuệ giả vờ như không biết gì về vợ tôi để khai thác tin tức từ anh K. Bây giờ thì sự thắc mắc của tôi về cái nhìn trộm của chị Tuệ tại nhà thăm nuôi hôm đó đã được giải đáp.

    Anh Tuệ được tha sau tôi mấy năm, hình như anh phải ở hơn 13 năm tù. Nghe nói, anh đi định cư tại Canada, đoàn tụ với con, chứ không đi Mỹ. Nếu anh Tuệ đọc được chuyện này, có gì tôi nói không đúng về anh thì xin cải chính vì lâu ngày rất có thể tôi nhớ sai một vài điều về anh. Nhân tiện, xin cám ơn anh về những cuốn sách mà anh cho tôi mượn qua trung gian của thày Diễm.
    (còn tiếp)

  15. #55
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)
    Chương 8
    Trở về mái nhà xưa



    Ngày trở về, anh bước lê

    Trên quãng đường đê đến bên lũy tre,
    Nắng vàng hoe, vườn rau trước hè cười đón người về…
    -Nhạc sĩ Phạm Duy-

    8.1. Danh sách không tên
    Mấy anh trong Ban Văn Hóa của trại rỉ tai cho chúng tôi biết, “Có lẽ sẽ có đợt thả tù nay mai,” dựa vào cái danh sách mà các anh được lệnh phải viết. Ban Văn Hóa không có máy chữ cho nên mọi thứ giấy tờ đều phải viết tay. Vì thế mấy người có hoa tay, viết chữ đẹp thì được chọn vào Ban Văn Hóa của trại. Tôi không nhớ anh Trưởng Ban Văn Hóa tên là gì, chỉ biết rằng anh là người Bắc di cư 1954, dáng người hơi cao và có nước da tai tái; tạm gọi anh là X cho tiện. Tôi chỉ nhớ được một người, phụ tá cho Trưởng Ban, tên là Đức, cấp bậc thiếu úy, binh chủng Không Quân. Đức còn rất trẻ và bị tù về tội “Trở về Việt Nam bằng tầu Việt Nam Thương Tín” mà tôi đã nói đến trước đây.

    Anh X cho một số thân hữu biết rằng trại giao cho Ban Văn Hóa viết một danh sách tù, trên dưới một trăm người. Danh sách không có đề mục nhưng anh X đoán đó là danh sách tù được tha kỳ này. Anh X lý luận rằng, trong danh sách không có ai có cấp bậc cao hơn đại úy, và lại còn có mục địa chỉ của vợ con/cha mẹ thì chắc hẳn là danh sách được tha chứ còn gì nữa.

    Tin này loan đi rất lẹ, hầu như người nào cũng biết. Những người có cấp bậc từ đại úy trở xuống thì hy vọng nhiều hơn cho nên tìm cách gặp anh X để hỏi xem sao. Tiếc rằng danh sách khá dài, anh X không thể nhớ hết. Vả lại, còn có nhiều người trùng tên cho nên anh X không thể trả lời được hết ngoại trừ một số thân hữu của anh mà thôi. Tôi biết anh X nhưng không thân với anh nên tôi nghĩ là hỏi anh cũng bằng thừa, tôi không hỏi.

    Mấy ngày sau, trong lúc tôi đang đứng ở gần cửa buồng tôi, anh X từ ngoài bước vào để thăm một người bạn của anh. Thấy tôi đứng đó, anh dừng lại và nói với tôi: “Anh Thái có tên trong danh sách đấy.” Có lẽ trong trại chỉ có hai người tên Thái, đó là Nguyễn Văn Thái và Hồ Đắc Thái. Anh Hồ Đắc Thái ở trong nhóm Du Ca cho nên anh X đã biết rõ rồi; còn người thứ hai phải là tôi chứ còn “ai trồng khoai đất này” nữa. Vì thế mà anh dễ nhớ chăng. Nghe vậy, tôi cám ơn anh nhưng trong lòng vẫn chỉ hy vọng 50% thôi, vì danh sách không có đề mục, thì biết nó là danh sách gì mà ham.

    Một tuần sau, có tin, một phái đoàn ở Trung Ương về trại làm việc. Và hai ngày sau thì mỗi buổi sáng, một số người được gọi tên ở nhà để “làm việc với phái đoàn.” Những người được gọi lên “làm việc” hai ngày đầu đều là những người nằm trong danh sách mà ban Văn Hóa đã viết (do anh X xác nhận). Vì thế, tôi nghĩ rằng nay mai cũng sẽ đến lượt mình. Những người đã làm việc xong đều nói rằng họ cũng chưa biết tương lai ra sao bởi vì phái đoàn không nói rõ cho họ biết cái mà họ muốn biết (được tha hay không).

    Tuy nhiên, nhìn vẻ mặt của những người đã được “làm việc”, tôi thấy người nào cũng tỏ ra phấn khởi lắm. Nhóm ba người bọn tôi là Vượng sún, Nguyễn Phán và tôi thì chỉ có Vượng sún và tôi được gọi tên ở nhà “làm việc”, còn Nguyễn Phán bị lọt sổ, ở tù thêm ba năm cho đến cuối năm 1987 được tha cùng đợt với Nguyễn Phan Đệ.

    Khi tôi vào gặp phái đoàn, mới biết rằng bọn chúng đã nghiên cứu kỹ từng hồ sơ của chúng tôi trước khi gặp mặt. Nhất là về cuộc sống của vợ con chúng tôi, chúng biết rõ từng chi tiết. Tôi ngồi nói chuyện với một tên công an cỡ ngang tuổi tôi. Hắn mở hồ sơ của tôi để trước mặt hắn, liếc xuống và nói:
    - Mừng cho anh có một gia đình ổn định. Anh có hai đứa con lớn hiện đang ở Mỹ. Còn hai đứa nhỏ hiện giờ đang được đi học, chúng nó học khá lắm. Vợ anh và hai đứa nhỏ hiện giờ đang có cuộc sống đầy đủ. Như vậy anh phải biết ơn “Cách Mạng” không những đã giáo dục anh thành một công dân tốt của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa mà còn lo cho cả gia đình anh có cuộc sống ổn định. (Tôi nghĩ thầm, còn lâu ạ)
    - Cám ơn cán bộ đã cho tôi biết những tin phấn khởi này.
    - Anh nghĩ sao về chính sách khoan hồng và cải tạo của Cách Mạng đối với các anh?
    - Nhờ chính sách khoan hồng của Cách Mạng mà những sĩ quan của chế độ Việt Nam Cộng Hòa trước đây không bị “tắm máu”. Chúng tôi vẫn còn sống, mà lại còn được giáo dục trở thành công dân tốt phục vụ cho đất nước qua chính sách “học tập cải tạo”. Tôi ghi ơn Cách Mạng.
    - Nếu như Cách Mạng cho anh về với gia đình, anh sẽ làm gì?
    - Thưa cán bộ, tuổi của tôi đã khá lớn, vả lại cán bộ cứ nhìn tôi thì biết ngay là sức khỏe của tôi không được tốt. Vì thế tôi chỉ có một mong ước là nếu được nhà nước cho về, tôi chỉ ở nhà lo công việc vặt trong nhà để vợ tôi rảnh rang hơn trong việc kiếm ăn cho gia đình.
    - Những năm cải tạo vừa qua đã đủ để giúp anh trở thành một công dân tốt chưa?
    - Thưa cán bộ, không những đủ mà còn quá đủ là khác. Tôi đã thấu hiểu đường lối chính sách của nhà nước từ rất lâu rồi. Và, từ chỗ tôi không biết gì về lao động chân tay, bây giờ tôi biết cầy, biết cuốc, biết trồng khoai, trồng sắn, chăn trâu, gánh nước, v.v…, cái gì tôi cũng làm được hết.
    - Anh nói rằng chỉ ở nhà lo công việc vặt giúp vợ anh, nhưng biết đâu có những người đến móc nối với anh, lôi kéo anh gia nhập một tổ chức phản động nào đó để đánh phá Cách Mạng thì sao, anh có dám từ chối không?
    - Thưa cán bộ, tôi dứt khoát từ chối.
    - Thế anh không sợ bọn chúng sẽ ám hại anh à?
    - Tôi chẳng sợ vì bây giờ đất nước đã ổn định, vả lại nhà nước đã có sẵn một mạng lưới tình báo nhân dân rất hữu hiệu, bọn chúng hở ra một chút là chính quyền địa phương biết liền, chúng chẳng làm được gì đâu mà sợ.
    - Sau khi bọn chúng đến móc nối, anh có báo cáo cho chính quyền địa phương biết không?
    - Dĩ nhiên là phải báo cáo ngay chứ.
    - Như thế là tốt, để tôi cho anh một ám số, khi anh được về với gia đình, mỗi khi anh phát hiện một âm mưu phản động nào, sẽ viết một báo cáo và bỏ vào một “hộp thư chết”, anh sẽ được biết sau khi về địa phương, chúng tôi sẽ có người tới lấy báo cáo của anh.

    Tôi nghĩ nhanh: Căn cứ vào những câu hỏi của tên này, thì chắc chắn là tôi nằm trong danh sách được tha rồi. Chẳng lẽ chỉ do một vài câu đối đáp này mà nó lại đảo ngược cái quyết định tha hay sao? Đây chỉ là một hành dộng vớt vát, gỡ gạc của bọn chúng để may ra còn chiêu dụ được một ít người hợp tác với chúng trước khi chúng thả bọn tôi mà thôi. Vì thế tôi không sợ. Tôi trả lời nó:
    - Thưa cán bộ, như tôi đã trình bày, rằng tôi bây giờ không có sức khỏe và cũng lớn tuổi rồi. Điều mong ước của tôi là “ở nhà đuổi gà cho vợ” để sống hết quãng đời còn lại của mình. Tôi không thiết tha đến bất cứ một công việc gì khác. Tôi chọn lối sống như vậy cũng là cách thể hiện tinh thần của một người công dân tốt dưới chế độ xã hội chủ nghĩa rồi.

    Thấy không lung lạc được tôi, hắn nói:
    - Thôi được, anh cố gắng học tập tốt để được hưởng chính sách khoan hồng của Cách Mạng, mau được về đoàn tụ với gia đình. Buổi làm việc của anh đến đây là xong, anh có thể về buồng được rồi.
    - Cám ơn cán bộ, chào cán bộ.

    Tôi đứng lên và ra khỏi phòng phỏng vấn. Tôi gặp Vượng sún sau đó và hỏi xem Vượng bị tụi nó phỏng vấn ra sao. Vượng cho biết cũng đại khái những câu hỏi như của tôi vậy. Tôi nghĩ, đối với tôi thì Vượng chẳng giấu diếm gì cho nên tôi hỏi tiếp:
    - Ông có bị tụi nó gài cho mình nhận một ám số để dùng cho hộp thư chết không?
    - Có.
    - Vậy ông có nhận không?
    - Thì mình cứ nhận bừa đi; sau này về địa phương, mình đếch thèm làm thì đã sao?
    - Tớ từ chối ngay, nó cũng đâu có ép buộc được mình.

    Như vậy, tôi có thể kết luận được rằng người nào lên “làm việc” cũng đều bị gài cho nhận một ám số. Tuy nhiên, nếu tôi hỏi những người không thân tình, thì chắc gì họ đã nói thật như Vượng sún. Và, tôi biết, khi Vượng được về với gia đình, Vượng đã thực hiện câu “đếch thèm làm gì” mà có sao đâu. Còn những người khác, biết đâu vì sợ sệt mà phải báo cáo như đã được chỉ thị trước khi được thả. Nhưng tôi nghĩ, họ cũng đầy đủ khôn ngoan để viết những báo cáo vô thưởng vô phạt.


    8.2. Chuẩn bị lên đường
    Bình thường, các đội tập họp điểm danh ngay phía trước cửa buồng trước khi xuất trại đi lao động. Nhưng hôm nay, các buồng được thông báo là ra tập trung tại sân trại để chờ đi lao động. Tôi nghĩ ngay đến việc đọc danh sách tha. Tôi nói nhỏ với Vượng sún:
    - Ê bồ, chuẩn bị lỗ tai để nghe đọc tên nhé.

    Vượng trả lời nhỏ, đủ để mình tôi nghe thôi:
    - Mình thuộc loại “sáng tai họ, điếc tai cầy” mà. Gì chứ cái đó thì phải lắng tai nghe cẩn thận.

    Sau khi cả trại đã ngồi đầy đủ ở sân trại, một cán bộ trại (tôi không còn nhớ là Trung Úy Thịnh (mới lên trung úy), Thiếu Úy Lực, hay là Trại Trưởng) cầm tập giấy ra trước chúng tôi và tuyên bố đây là lệnh tha, tiếp theo hắn đọc tên từng người trong danh sách. Cả sân trại có mấy trăm con người mà im phăng phắc, không nghe một tiếng động. Mọi người đều hồi hộp chờ đợi và mong cho tên mình được xướng lên. Nhìn những người đã được đọc tên, tôi thấy tất cả đều là những người đã được gọi lên “làm việc” mấy ngày trước đây, tôi an tâm hơn và chờ đợi. Vượng và tôi đều được gọi tên.

    Khi hết danh sách, tên cán bộ chỉ thị cho các đội báo cáo xuất trại đi lao động. Những người vừa được đọc tên thì ở nhà và có hai ngày để chuẩn bị lên đường. Trở lại buồng, bây giờ chỉ toàn là những người được tha. Chúng tôi vừa chuẩn bị hành trang vừa cười nói um xùm. Ai còn nhiều đồ tiếp tế thì đem phân chia cho những thân hữu còn ở lại. Chúng tôi phải hoàn trả hai cái mền đỏ mà khi mới ra Bắc được cấp phát. Rất ít người còn đủ hai cái mền vì đã đem một cái đổi lấy đồ ăn từ hồi nảo hồi nào rồi. Thế rồi đâu cũng vào đó, trả một cái cũng chẳng làm sao cả. Điều này chứng tỏ là bọn cán bộ trại muốn làm một cú vơ vét cuối cùng; vét được chừng nào hay chừng đó, vì những cái mền đó đem giặt sạch sẽ rồi bán ra ngoài thì cũng kiếm được kha khá đấy. Nếu như thu lại mền là do lệnh từ Trung Ương thì ai trả thiếu sẽ bị trừ tiền nhưng điều này đã không xảy ra.

    Buồng tôi cũng có khá nhiều người về đợt này vì trong buồng đa số là cấp đại úy. Tôi chỉ nhớ tên được mấy người, như anh Hồng, Nguyễn Văn Dụ (hỗn danh là Dụ lé vì có mắt lé), Vượng sún, và cụ Doãn . Anh Doãn ngang tuổi của tôi nhưng bị gọi là cụ Doãn vì tướng anh giống như một cụ già, không có gì là tinh nhanh cả. Ấy vậy mà nghe nói hồi xưa anh làm việc trong Tiểu Khu Gia Định, anh đi làm bằng xe hơi riêng đấy. Hồi đó, cấp đại úy đi làm bằng xe hơi riêng (không phải xe Jeep quân đội) là bảnh lắm rồi, và thường được xếp vào loại “Dân Cậu” đấy.

    Chúng tôi được thông báo đi lãnh gạo và tiền đi đường. Mỗi người được 2,4 kg gạo (0,6 kg x 4 ngày) và 12 đồng (3 đồng x 4 ngày). Vượng nói với tôi:
    - Nghe mấy bà thăm nuôi nói rằng trên xe lửa họ chia từng ô, mỗi ô cho bốn người, mình kiếm hai người nữa cho đủ bốn nhé?
    - Ừ, bồ thấy buồng mình có ai nên chọn?
    - Tôi thấy Dụ lé (Biệt Động Quân) và cụ Doãn nhập bọn được đó.
    - Cụ Doãn vừa mới có thăm nuôi trước tôi ít ngày, cụ ấy dư sức đi một mình, hoặc cụ ấy có thế làm đầu tầu của một nhóm khác, ta nên kiếm người khác.
    - Vậy thì thay cụ Doãn bằng Hồng vì Hồng thuộc loại “con bà phước”, đã lâu rồi không có thăm nuôi.
    - Như thế được rồi, bồ hỏi xem Dụ và Hồng có đồng ý nhập bọn với mình không.
    - Bảo đảm là họ đồng ý; với 12 đồng làm sao họ tiêu đủ trong bốn ngày đi đường.

    Vượng chạy tới hỏi ý kiến hai bạn kia và trở về cho tôi biết là xong rồi. Thế là nhóm tôi gồm có bốn người: Vượng, Dụ, Hồng, và tôi. Chúng tôi phân chia công việc sau khi đã lãnh gạo về buồng. Buổi chiều trước ngày lên đường, phải nấu cơm vắt. Ba người kia nấu cơm vắt, tôi có nhiệm vụ vắt cơm. Cơm nấu đủ ăn cho hai ngày, số gạo còn dư để lại cho những bạn chưa được về đợt này. Ngoài ra, Vượng còn phải mang theo cái lò nấu bằng dầu hôi và một cái lon guy-gô để phòng khi tầu bị kẹt thì chúng tôi có đồ nghề pha trà nhâm nhi với nhau. Chia công tác xong, chúng tôi tự do làm việc riêng của mình. Việc chính của chúng tôi bây giờ là đi chào chia tay với bạn bè và tham dự các bữa cơm tiễn đưa do bạn bè tổ chức. Cụ Doãn và tôi được anh Đội Trưởng (Thiện) đãi một bữa ăn chia tay. Anh Nguyễn Chánh Vi và (Nguyễn Văn ?) Chiến, khóa 20 Đà Lạt, cũng mời tôi ăn cơm chia tay nhưng lại trùng giờ với bữa cơm của anh Thiện cho nên bữa cơm không thành. Anh Vi được tha sau tôi vài năm và vượt biển, chết vì bị hải tặc bắn ở vịnh Thái Lan. Anh Chiến, nghe nói hiện ở Cali, bà xã anh Chiến làm nghề thày bói, cũng có tiền tiêu xài thoải mái nhưng tôi không có liên lạc.

    Lòng tôi khi đó nửa vui nửa buồn. Vui, vì sắp từ giã chốn lao tù để về gặp lại vợ con thương yêu của mình mặc dù biết rằng mình vẫn chưa thoát hẳn, mà chỉ được ra ở cái nhà tù lớn hơn, nhưng ít ra cũng được ở gần vợ con của mình. Buồn, vì nhìn thấy những khuôn mặt không vui của bạn bè còn phải ở lại tiếp tục cảnh tù đầy, biết ngày nào họ mới được tha đây?

    (còn tiếp)

  16. #56
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    8.3. Ngày lên đường
    Buổi sáng trước khi lên xe, chúng tôi được tập trung tại sân trại và từng người được gọi tên nhận “Giấy Ra Trại”. Giấy Ra Trại ký ngày 19 tháng 8 năm 1984 nhưng lúc chúng tôi nhận giấy đã là ngày 21 tháng 8 rồi. Tôi nhẩm tính, nếu cộng thêm 4 ngày đi đường, thì tôi về đến nhà ngày 25 tháng 8. Như vậy tôi xa nhà đúng 9 năm và hai tháng chẵn vì tôi “đưa đầu vào rọ” ngày 26 tháng 6 năm 1975. Và, thầm cảm ơn Thượng Đế đã cho tôi qua khỏi quãng thời gian đen tối và nghiệt ngã nhất của đời tôi mà thân thể vẫn còn toàn vẹn khi về với gia đình. Tôi đã thoát được cái cảnh, đại loại như “Anh trở về trên đôi nạng gỗ; anh trở về dang dở đời em!” (Nhạc Phạm Duy). Thật là hú vía!

    Đoàn xe từ từ lăn bánh, rời bỏ lại các bạn thân thiết của tôi, rời bỏ căn buồng mà tôi đã từng có nhiều kỷ niệm vui buồn cùng bạn bè. Thôi nhé, tạm biệt các bạn, vĩnh biệt Nam Hà.

    Tới bến phà Phủ Lý, đoàn xe phải dừng lại khoảng nửa tiếng để chờ qua sông. Bây giờ là lúc tôi làm nhiệm vụ của người thủ quỹ. Tôi mua bốn gói thuốc lá thơm Sa-pa cho mỗi người một gói, phì phèo trong lúc chờ đợi qua phà. Ở trong tù, chúng tôi thường hút thuốc lào hoặc thuốc rê. Bây giờ hút loại thuốc lá thơm thì thấy nó nhẹ hều, không làm cho người hút cảm thấy đê mê và bủn rủn tay chân. Tuy nhiên nó lại tạo cho tôi một cái cảm giác sảng khoái khác, hít một hơi dài, ém hơi thật lâu, rồi từ từ nhả ra từng vòng khói nhỏ nối đuôi nhau bay lên cao, hai mắt lim dim nhìn lên bầu trời trong xanh đang có những đám mây trắng lững lờ trôi trên không trung, cộng thêm với nỗi vui “được sổ lồng” thì cũng thú vị lắm chứ. Thật đúng là người vui thì cảnh cũng vui, “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (thơ Nguyễn Du).

    Qua phà, xe chở chúng tôi chạy về hướng Bắc. Đó là hướng đi về Hà Nội. Trước đó, tôi chưa biết là chúng tôi sẽ lên xe lửa ở ga nào. Nếu là ga Nam Định thì xe phải chạy về hướng Nam. Bây giờ xe chạy hướng Bắc, tức là phải đi Hà Nội, và sẽ lên tầu vào Nam tại ga Hàng Cỏ. Vào khoảng 5 giờ chiều, đoàn xe ngưng tại sân ga Hàng Cỏ. Tên công an tháp tùng tập họp chúng tôi trên sân ga, dặn dò chúng tôi không được đi đâu xa nhà ga và cho biết sáng hôm sau sẽ có tầu hỏa, vé tầu đã được trại mua sẵn rồi. Nói xong, hắn biến mất cho đến sáng hôm sau mới thấy mặt.

    Trời còn sáng, chúng tôi đi lang thang mấy dẫy phố gần nhà ga. Giờ này cũng thấy đói bụng rồi, bốn người bọn tôi vào một tiệm phở để ăn tô phở đầu tiên sau những năm dài xa gia đình. Chủ tiệm phở là một phụ nữ trung niên chạy ra mời chào véo von. Chúng tôi gọi mỗi người một tô phở đặc biệt. Khi phở đem ra mới biết là nó còn thua cả tô phở thường ở Sài-Gòn khi xưa, chỉ vài ba lát thịt bò mỏng dính đặt trên bánh phở và một ít rau thơm cắt nhỏ bỏ ngay trên tôi phở, không có cái kiểu một đĩa rau thơm và giá sống để trên bàn như Sài-Gòn. Có cái đặc biệt là mỗi bàn đều có một chén nhỏ mì chính (bột ngọt) để sẵn cho thực khách ăn thêm. Đây là cái gu (tiếng Pháp đã được Việt hóa, goût = sở thích, khẩu vị) của người miền Bắc sau năm 1954. Trước 1954, không có cái kiểu này đâu.

    Chúng tôi ngồi ăn mà cứ bị quấy rầy bởi bà chủ. Đôi ba lần bà ấy tới mời ăn thêm món này, thêm món kia; món nào bà ấy cũng quảng cáo là ngon lắm. Mỗi khi chúng tôi từ chối thì lại nhận được một cái nguýt dài và trong miệng bẩm bẩm điều gì không rõ. Có lẽ bà chửi thầm chúng tôi là dân “trùm sò” (keo kiệt)? Mà lúc đó chúng tôi trùm sò thiệt. Trùm sò ở cái cảnh này thì có chết thằng Tây nào đâu mà ngán.

    Ở Sài-Gòn ngày xưa, cũng như ở Mỹ bây giờ, thực khách kêu món gì thì đưa ra món đó, chứ đâu có cái kiểu mời chào gây khó chịu cho thực khách như vậy. Tôi thấy bà chủ tiệm nói ngọng, chữ N thành L và ngược lại. Tôi biết chắc bà này là dân ruộng mới về Hà Nội thôi. Tôi hỏi bà ta để trắc nghiệm:

    - Chắc là bà chủ sinh quán tại Hà Nội này, phải không?
    - Chả nói rấu (giấu, mới đúng) gì các ông, từ đời cha đời ông tôi đã ở Hà Lội rồi.
    - Thế trước đây ông cụ thân sinh ra bà cũng bán phở à?
    - Không đâu, bố tôi tước (không có chữ R) đây nàm nục nộ đấy (làm lục lộ, bây giờ Việt Cộng gọi là công nhân cầu đường).

    Thấy đã đủ, tôi làm bộ quay sang hối mấy bạn tôi ăn lẹ lên kẻo phở nguội đi mất ngon. Bà ta biết ý, bỏ vào trong quầy. Tôi nói với các bạn (đều là dân Bắc Kỳ di cư) rằng: “Các ông thấy không, con mẹ này sống dưới Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) cho nên nó Xạo-Hết-Chỗ-Nói, dân Hà Nội gốc mà nói ngọng như thế à? Hà Nội ngày xưa được mệnh danh là đất ngàn-năm-văn-vật, là nơi có ngôn ngữ văn hoa bóng bẩy, là nơi mà người đối với người bằng những cung cách thanh tao và nhã nhặn. Tiếc rằng, từ ngày bọn khỉ lên làm người, Hà Nội đã không còn là Hà Nội nữa! Đã hết rồi cái thời mà người Hà Nội thường biểu hiện niềm tự hào của mình bằng câu ca dao, rằng:
    Chẳng thơm cũng thể hoa nhài,
    Dẫu chẳng thanh lịch cũng người Tràng An.


    8.4. Một đêm tại ga Hàng Cỏ
    Bọn tôi ăn phở xong, lại cùng nhau đi lòng vòng qua mấy dãy phố quanh nhà ga. Trời hôm nay mát mẻ và quang đãng, mà sao phố xá không thấy gì là nhộn nhịp cả. Đó đây, chỉ thấy vài ba người phu quét đường mà thôi. Lâu lâu mới thấy một cái xe hơi chạy ngang, mà toàn là xe chở cán bộ cao cấp, chứ chả thấy người dân nào ngồi trên xe. Nhà cửa thì trông mà rối con mắt. Tường nhà, có lẽ từ ngày Việt Minh tiếp thu Hà Nội chưa quét vôi lại lần nào; chỗ thì loang lổ, chỗ thì rêu mốc xanh lè. Trên các lan can tầng lầu thì ôi thôi, họ phơi đủ thứ, xú chiêng (nịt ngực phụ nữ), xì líp, áo thung, lung tung cả lên, chẳng còn tí nào là mỹ quan cả. Thật là nản! Thế mà Hồ Chí Minh đã từng phét lác rằng, “Đánh thắng giặc Mỹ ta sẽ xây đựng bằng mười ngày nay.” Mười đâu không thấy, mà chỉ thấy một phần mười của “ngày nay”!

    Trời đã tối, chúng tôi quay lại sân ga để dọn chỗ ngủ qua đêm. Sân ga không trải xi măng, mà là tráng nhựa đường giống như mặt đường xe chạy. Sân ga bây giờ vắng vẻ, quay đi quay lại chỉ thấy toàn là người trong bọn tôi mà thôi. Ban ngày, sân ga hấp thụ sức nóng mặt trời, bây giờ là lúc nó nhả hơi nóng ra. Thêm vào đó là mùi nước tiểu xông lên nồng nặc. Lại còn mấy đống rác lác đác trên sân ga tạo thành cái mùi mà tôi không thể gọi tên nó là gì. Vượng sún nói bâng quơ:

    - Trải tấm vải ra nằm cho đỡ mỏi lưng cái đã.

    Tôi bảo Vượng:

    - Đố bạn nằm được đó. Nóng như thế này thì chỉ có nước ngủ ngồi thôi.
    - Ngủ ngồi thì ngủ ngồi chứ sợ cái đếch gì.

    Tôi thấy trong bụng đã đói, mà chắc các bạn tôi cũng vậy. Tôi đề nghị lấy cơm vắt ra ăn với muối mè cho chắc cái bụng trước khi ngủ. Bữa cơm này, chúng tôi ăn không có tiêu chuẩn, ai muốn ăn bao nhiêu mặc sức mà ăn. Ăn xong, chúng tôi trải tấm lót, gấp lại nhiều lần cho có đủ độ dày để cản bớt được hơi nóng ở dưới đất xông lên. Cả bọn ngồi đâu mặt lại với nhau tán dóc, anh nào ngủ được thì cứ ngủ. Chúng tôi cũng bàn nhau chuẩn bị cho buổi sáng lên tầu. Vượng sún lên tiếng trước:

    - Bọn mình phải chọn một ô cho bốn đứa trên xe lửa, không cho tên nào khác xen vào.

    Dụ lé tiếp lời:

    - Ê! Xe lửa đi về hướng nam, nếu ngồi phía bên phải tầu thì sẽ lãnh đủ cái nắng buổi chiều đấy nghe. Mình phải chiếm một ô bên trái tầu, như thế mình chỉ bị nắng buổi sáng thôi, đỡ hơn nhiều.

    Tôi góp ý:

    - Lé nói đúng. Bây giờ mình phân nhiệm như sau nhé: Lúc tầu ghé bến, Dụ lé và anh Hồng (*) có nhiệm vụ leo lên xe, đi người không cho nhẹ nhàng, đồ đạc gom lại tôi giữ và chuyển lên sau, hai bạn chọn một ô bên trái tầu như ý kiến của Lé. Việc này đúng chỉ số của Lé rồi, Biệt Động Quân mà lị. Còn Vượng sún thì cao nhất bọn, Sún phải đứng ở dưới để khi Lé chiếm được mục tiêu thì Sún chuyền đồ qua cửa sổ cho anh Hồng và Lé. Tôi đứng ở dưới tiếp tay với Sún chuyển đồ lên xe. Như thế được chưa các bạn?

    (*) Anh Hồng xấp xỉ tuổi bọn tôi, anh rất có tư cách nhưng tôi chưa có dịp chơi thân với anh. Vì thế, tôi phải dùng lời lẽ đứng đắn khi nói chuyện với anh.

    Cả ba người đều đồng ý với tôi. Như vậy sáng mai cứ thế mà thi hành. Sau đó chúng tôi nói chuyện tầm phào với nhau. Trong câu chuyện, chúng tôi không tránh được sự liên tưởng đến việc vợ chồng. Vượng quay sang hỏi tôi:

    - Ê! Thái, đêm đầu tiên sau nhiều năm xa vợ, ông có khả năng “đêm bảy ngày ba, vào ra không kể” không?
    - Mi họi chi lạ rựa? Giờ này thì sức đâu mà đêm bảy, ngày ba cơ chứ. Mình có muốn cũng không được. Chắc là lực bất tòng tâm rồi, tuy nhiên ta phải cố gắng chứ bạn. Đêm đầu, giỏi lắm cũng chỉ bắn được vài ba phát là mệt đứ đừ rồi.
    - Ông nói đúng đấy. Bây giờ thì làm sao mà bẩy-ba với bẩy-bốn được.
    - Phải nhờ bà xã tẩm bổ cho ít ngày thì may ra mình mới “phục vụ” bà ấy khá được. Tôi thì đã có sẵn “thềm bắn” rồi. Còn bạn thì ráng mà “ăn chay” cho tới khi nào kiếm được “thềm bắn” nhé, đừng có lạng quạng mà “đi bán sữa” (bệnh tiểu ra mủ) thì bỏ mẹ đấy. (**)
    - Kẹt quá thì mình dùng “chị năm” (bàn tay năm ngón, thủ dâm) chứ sao. À, ông có nhớ cái câu gì mà trong đó có câu “đi xa mới về” không hả?
    - Câu đó chỉ áp dụng cho mấy bà vợ, chứ đâu có áp dụng cho bọn đực rựa mình.
    - Ông có nhớ, đọc hết nghe coi.
    - Câu đó để diễn tả cái cảm giác thích thú của mấy người vợ, rằng “Thứ nhất rượu đã ngà ngà, thứ nhì chàng ở phương xa mới về.” Khi mà chàng hơi ngà ngà say thì chàng “ấy” đạt chỉ tiêu lắm, nhưng say quá đến nỗi phải cho chó ăn chè (ói mửa) là không có điểm đâu nghe. Cũng vậy, chàng ở xa mới về thì chàng rất hăm hở, không có cái kiểu xìu xìu ển ển, chán thấy mồ.

    (**) Trong thời gian Vượng ở tù, vợ của Vượng vượt biển và được ghi nhận là mất tích. Vì thế tôi mới nói là Vượng chưa có “thềm bắn”.

    (còn tiếp)

  17. #57
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    8.5. Lên tầu xuôi Nam
    Mặc dù đêm hôm trước ngủ được rất ít, nhưng sáng nay ai trong chúng tôi cũng dậy sớm, và mặt người nào người nấy tươi như rói vì đang cùng có một tâm trạng háo hức muốn cho mau về với gia đình. Tôi nhắc mấy bạn trong nhóm “bốn thằng” là nên ăn chút cơm vắt muối mè cho vững bụng trước khi lên tầu nhưng ba người kia làm lơ. Thấy vậy tôi cũng không ăn luôn. Tên công an tháp tùng bây giờ mới thấy ló mặt ra. Hắn cho biết là xe lửa Thống Nhất sắp tới, chúng tôi sẽ ngồi chung với nhau trên một toa tầu, số còn dư thì ngồi sang toa kế bên. Hắn cho biết là hắn sẽ hướng dẫn cho chúng tôi toa nào phải lên. Hắn cũng cho biết luôn rằng hắn đi theo chúng tôi vào tới trong Nam, rồi mới trở ra Bắc.

    Tiếng còi báo hiệu tầu đang đi tới. Khi biết toa tầu dành cho mình rồi, Dụ lé và anh Hồng nhanh chóng làm nhiệm vụ và chiếm được mục tiêu như ý muốn. Tôi chuyền mấy cái ba lô cho Vượng sún để Vượng đưa qua cửa sổ cho Dụ lé. Công việc của chúng tôi diễn tiến rất lẹ làng trong khi những người khác còn đang chen nhau leo lên cửa vì họ bị vướng víu mấy cái ba lô đeo trên lưng. Tôi và Vượng đứng hút thuốc, chờ cho mọi người vào hết trong toa tầu rồi mới khệnh khạng leo lên.

    Tầu từ từ lăn bánh ra khỏi ga và tăng dần tốc độ. Đường rầy xe lửa ở Việt Nam thuộc loại cổ lỗ sĩ, bề ngang chỉ cách nhau có 80 cm (32 inches) trong khi ở các nước tiên tiến, nó có khoảng cách là 1,2 mét (48 inches). Đầu máy xe cũng cũ kỹ cho nên nó chạy rất chậm. Tôi đoán chừng vận tốc tối đa chỉ vào khoảng trên dưới 40 km/giờ (gần 30 miles). Thôi thì có còn hơn không, miễn là nó đừng trở chứng dọc đường và đưa chúng tôi về tới nhà bằng yên.

    Xe về đến ga Nam Định thì ngừng lại chừng 30 phút. Một nhóm con buôn chừng dăm ba người leo lên tầu và hỏi mua bất cứ thứ gì mà chúng tôi có. Mùng, mền, gà-men nhà binh v.v… đều được hỏi mua. Tôi đã thấy vài ba người bán được áo quần rồi. Vượng, Dụ và anh Hồng đều có một vài món để bán nhưng chưa thấy họ bán. Tôi hỏi thì Vượng nói để từ từ, vào tới Thanh Hoá, Nghệ An bán cũng chưa muộn. Cùng lúc đó, một nhóm bán cơm dĩa và các thứ đồ ăn tới mời chào giống như một cái chợ. Vượng sún muốn ăn lắm rồi nhưng còn kẹt phải tiêu thụ hết mấy nắm cơm vắt nên còn lưỡng lự. Tôi biết ý nên hỏi Vượng: “Ê bồ, xem cơm còn ăn được không hay là bị thiu rồi, nếu thiu thì bỏ đi cho rồi.” Vượng chỉ chờ có thế, làm bộ ngửi ngửi rồi nói thiu rồi. Tôi bảo: “Thiu rồi, thì quẳng đi chứ còn tiếc rẻ gì nữa, lúc nữa tới ga kế tiếp bọn mình sẽ mua cơm ăn.”

    Chúng tôi tới ga Thanh Hoá thì trời đã gần trưa. Chúng tôi mua cơm dĩa ăn mặc dù trên tầu cũng có một toa bán đồ ăn. Ăn cơm dĩa do dân chúng đem lên bán thì ngon hơn và đồng thời cũng giúp cho người dân kiếm được chút cháo. Ba chàng Vượng, Dụ, và Hồng cũng bán được một vài món đồ cá nhân tại ga này, vì vậy họ cũng có được chút tiền còm tiêu riêng như mua kẹo, bánh, hoặc mua nước tắm ở mấy nơi xe ngừng lại. Như vậy, tôi chỉ phải chi tiền ra cho mấy bữa ăn chính thôi. Trong bữa cơm chiều, chúng tôi cũng mua cơm dĩa của mấy em bé mang lên mời chào.

    Trong lúc đang ăn thì mấy em bé đó bị nhân viên trên tầu đuổi xuống, không cho chúng bán hàng trên tầu vì chúng làm như vậy là dành mất khách hàng của tầu. Chúng chạy tán loạn, tôi thấy một em bị vấp té làm cho những miếng thịt gà rô-ti văng xuống đất gần toa xe lửa. Nó nhặt lên, lấy tay phủi phủi cho hết bụi bám vào thịt rồi lại bỏ lên mâm đi bán tiếp. Tôi nghĩ, có lẽ mỗi ngày cũng phải có dăm bảy đứa bị văng đồ ăn xuống đất như thế. Tôi chỉ cho Vượng và Dụ coi, rồi nói: “Trông thấy như vậy ớn quá! Các bồ có nhìn thấy mấy mảng phân khô ở gần chỗ thịt gà rớt xuống không? Thôi từ giờ, tôi chỉ ăn cơm trên tầu, dù sao nó cũng đỡ dơ hơn. Còn các bồ, nếu muốn ăn cơm do mấy đứa nhỏ bán thì cứ tiếp tục, gọi lên mua rồi tôi trả tiền cho, đừng lo.” Các bạn tôi chắc cũng không dám tiếp tục ăn cơm do dân bán nên đồng ý từ bữa sau là tới toa bán cơm để ăn.

    Chợt nghĩ lại, tôi tự rủa thầm: “Rõ cái đồ khỉ! Trong những năm tháng tù đầy, nhiều lúc mày đói mờ con mắt, đói bủn rủn tay chân, đói quay đói quắt. Những lúc đó, mày chỉ ao ước có bất cứ cái gì ăn được là hạnh phúc lắm rồi. Mày đã từng ăn cá chết trôi trên hồ Thác Bà mà thịt của nó đã rữa ra gần hết một nửa. Mày đã từng tìm bắt những con nhái, bỏ vào bếp lửa nướng vội vàng, rồi lấy ra phủi phủi cho hết tro và ăn nó một cách thích thú. Thế mà bây giờ, vừa mới ra khỏi tù vài ngày đã trở chứng, bày đặt sạch với bẩn, rõ chán! Chưa hết đâu, những ngày tháng trong tù, mày thương vợ, nhớ vợ, và thèm…vợ. Mày ước ao được về với vợ để giải toả những cái khát khao đó. Mày liệu hồn đó, đừng có cái trò chê bai đồ ăn nấu không ngon, cà phê thì pha lạt nhách, áo quần (em) mặc lôi thôi, chuyện phòng the (em) không xuất sắc v.v… Đừng có được voi đòi tiên con ạ.”

    Trời đã tối, chúng tôi lo chỗ ngủ. Một ô dành cho bốn người gồm có một cái bàn vuông nhỏ để ở giữa, mỗi bên là một cái ghế gỗ dài cỡ 1 mét (hơn 3 ft) dùng cho hai người ngồi. Ngồi thì ổn rồi nhưng còn nằm thì sao cho đủ đây? Tôi có mang theo cái võng tự chế bằng bao gạo, tôi lấy ra mắc lơ lửng bên trên mặt bàn; thế là xong phần của tôi. Vượng sún dài đòn (cao) nhất thì chọn nằm dưới gầm ghế, đầu quay vào trong, hai cẳng thò ra ngoài, choán luôn lối đi giữa lòng tầu; như vậy cũng gây trở ngại lưu thông cho những người khác; nhưng biết làm sao hơn. Mà, không phải chỉ có một mình Vượng làm như vậy đâu, nhiều người khác cũng bắt chước làm theo. Anh Hồng và Dụ lé thì mỗi người nằm trên một cái ghế. Tuy Dụ và Hồng không cao nhưng cũng không thể nằm thẳng cẳng ra được. Hai anh phải nằm quay đầu vào lòng tầu, và hai chân gác lên thành tầu mới được. Thế là chúng tôi có thể ngủ theo cách đó trong mấy đêm trên tầu.

    Nếu đem so sánh chuyến tầu về Nam của chúng tôi với những chuyến đi ra Bắc thăm nuôi chồng của những bà vợ tù, thì tôi thấy chuyến về Nam này của chúng tôi quá nhẹ nhàng. Chúng tôi đi với số đông, ngồi cùng một toa tầu, hành trang lại quá gọn nhẹ, tiền bạc cũng chẳng có gì, cho nên chúng tôi không phải bận tâm lo lắng mất trộm mất cắp. Trong khi các bà vợ tù thường thường chỉ đi một mình hoặc vài người là cùng, hành lý lại cồng kềnh vì nhiều đồ tiếp tế, tiền bạc không nhiều thì ít cũng phải có mang theo, lại ngồi chung một toa tầu gồm đủ thành phần hành khách, biết ai ngay ai gian đây. Đó là những mối lo ngay ngáy trong lòng mà các bà không thể tránh được. Việc ra Bắc tiếp tế cho chồng của các bà đáng để cho tôi phải ngả nón khâm phục.

    Qua một ngày trên tầu, đã đến lúc cơ thể của nhiều người có nhu cầu bài tiết. Hình như mỗi toa đều có một phòng vệ sinh, thế mà đôi lúc cũng phải chờ một vài người mới tới phiên mình. Chắc chỉ có xe lửa của Việt Nam mới có loại nhà vệ sinh này thôi. Tôi chẳng biết các nước chậm tiến như Lào, Căm bốt, Ăng gô la v.v… có phòng vệ sinh như tầu lửa Thống Nhất này không. Trong phòng vệ sinh chỉ có một cái bàn ngồi (có hai chỗ cho hai bàn chân), ở giữa là một cái lỗ thủng để cho chất phế thải rơi thẳng xuống vệ đường xe lửa. Đây là một sáng kiến độc đáo, đỡ tốn nước và đỡ tốn công dọn dẹp. Phía trong cửa, trước mặt người ngồi, có ghi hàng chữ lưu ý “Cấm đi cầu khi xe ngừng tại ga.” Giả như xe ngừng tại ga chừng 1 giờ (mà chuyện này rất thường xảy ra) thì làm sao mà người ta nhịn nổi cơ chứ. Hơn nữa, khi tầu đang chạy, nó lắc bên này qua bên kia, người trong nhà cầu phải dùng hai tay vịn chắc vào chỗ nào đó để giữ thăng bằng. Do đó, rất khó cho người ta “xả bầu tâm sự” ra ngoài được. Tôi là một trong số những người đó. Tôi không dám vô nhà cầu lần thứ hai nữa. Vì thế tôi phải tự ý ăn bớt đi, chỉ đủ cầm hơi trong những ngày trên tầu để tránh phải dùng đến nhà cầu. Cũng chính vì vậy mà tại những nơi tầu ngừng, lại là nơi người ta sử dụng nhà cầu nhiều nhất. Mặt đường xe lửa gần sân ga nhan nhản những mảng phân khô, thấy mà phát ớn!

    Ngoài một toa tầu mà trên đó hoàn toàn là bọn chúng tôi, toa nối tiếp cũng có một số anh em trong nhóm tù vừa được thả, ngồi lẫn với những hành khách khác. Nhóm này tuy ít nhưng hoạt động có vẻ xôm tụ hơn nhiều vì có mấy người biết ca hát như các anh Phạm Dư Chất và Nguyễn Duy Côn v.v… Sau khi đã ổn định chỗ ngồi trên tầu, các anh này bắt đầu ca hát, phần lớn là hát các bài tù ca, kế đến là nhạc vàng. Chẳng biết tên công an tháp tùng bọn tôi ngồi toa nào mà chúng tôi không thấy mặt hắn. Do đó các “ca sĩ” hát thả dàn, chẳng sợ gì cả. Thính giả ái mộ gồm các bà, các cô đi buôn hàng chuyến theo tầu. Nhìn dáng dấp mấy bà này, tôi đoán phần lớn họ là vợ, em, hoặc là cháu của các sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tôi đoán vậy vì thấy rằng các bà các cô đó vẫn còn phảng phất chút gì của một thời nữ sinh Đồng Khánh, Trưng Vương, Gia Long, hoặc Lê Văn Duyệt. Các bà nghe một cách say mê, và đem tới bánh kẹo hoặc bất cứ thứ gì họ có để cổ võ cho những “ca sĩ” này.

    Sau khi tầu chạy vào địa phận Miền Nam trước đây (phía nam vĩ tuyến 17) thì thái độ của dân chúng đối với chúng tôi khác hẳn. Họ nhìn chúng tôi bằng con mắt đầy thiện cảm pha chút vui mừng khi biết chúng tôi mới được tha. Nếu như chúng tôi vào Miền Nam với cái còng số 8 trên tay, như một số bạn tôi đã từng trải, thì hẳn là họ thương chúng tôi nhiều hơn. Một vài bạn tôi kể rằng khi mấy người bán dạo biết có tù cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trên tầu, họ truyền miệng cho nhau rất nhanh, và rồi đủ thứ đồ ăn được ném lên tầu cho những “chiến sĩ Cộng Hoà” gặp cảnh sa cơ lỡ vận. Tình thương của họ được thể hiện bằng những cái bánh ú, những bịch kẹo, những ghim mía, những gói thuốc lá, v.v…Như vậy làm sao chúng tôi không xúc động được chứ? Đây đúng là một phần thưởng tinh thần quí giá dành cho chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mặc dù chúng tôi đã không làm tròn nghĩa vụ gìn giữ đất nước mà Tổ Quốc trao phó. Chúng tôi đâu có ai muốn để mất nưóc vào tay Cộng Sản nhưng bắt buộc phải buông súng do sự sắp đặt của các nước lớn mà tiêu biểu là Hoa Kỳ và Trung Cộng.

    Mỗi buổi chiều, khi tầu ngừng ở một ga nào đó, bọn tôi ghé vào mấy nơi bán nước tắm. Nước được bán theo từng thau hoặc từng sô (tiếng Pháp đã Việt hoá, seau = thùng) cỡ hơn 10 lít nước. Có lần tôi ghé mua nước tắm mà người chủ không lấy tiền khi biết chúng tôi mới ra khỏi tù. Điều đó làm cho tôi thật là cảm động vì biết rằng mình vẫn còn được người dân Miền Nam thương mến.


    8.6. Ga Đà Nẵng
    Tầu tới ga Đà Nẵng vào lúc gần trưa. Sân ga bây giờ biến thành một hồ nước sau một trận mưa lớn lúc sáng sớm. Khi chúng tôi tới thì mưa đã tạnh khá lâu rồi. Nước ngập gần nửa bánh xe lửa. Muốn xuống xe, đi mua bán cái gì, vừa bước ra khỏi cửa là phải lội nước, ngập gần tới đầu gối của những người có chiều cao vừa phải. Do đó ít có ai bước ra khỏi tầu. Kẹt một cái là tầu ngừng ở ga này lâu hơn tại các ga trước đây, cỡ 1 tiếng rưỡi mới chạy tiếp. Tuy vậy, ai muốn mua gì cũng chẳng khó vì đã có một đội ngũ bán hàng rong dành nhau leo lên tầu, mời chào khách mua hàng.

    Mặt nước ở sân ga đục ngầu, nổi lều bều đủ thứ rác rưởi, chuột chết, và phân người vừa tươi vừa khô. Ngồi ăn cái gì ở trên tầu, nếu nhìn xuống mặt nước thì độ ngon miệng sẽ bị giảm đi rất nhiều. Tôi không dám ăn uống gì tại ga này, cần gì thì đợi đến ga kế tiếp sẽ tính. Vả lại, bọn tôi ít ăn vặt, chủ yếu là ăn cơm; mà cơm thì đã có bán trên tầu, chẳng tội gì phải lo.

    Rồi cũng tới lúc tầu phải lăn bánh, đưa chúng tôi ra khỏi nơi nhớp nháp này. Tầm mắt chúng tôi lại được mở rộng để ngắm cảnh đồng quê hai bên đường. Lồng ngực lại được hít thở chút ít không khí trong lành khi tầu chạy ngang những vùng đồng ruộng bao la. Tốc độ của tầu vẫn bình thường nhưng sao tôi thấy nó chậm quá. Đây chỉ là lý do tâm lý thôi, khi mình mong ngóng điều gì thì mình có cảm tưởng như là điều đó lâu tới.
    (còn tiếp)

  18. #58
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    8.7. Ga Xuân Lộc/Long Khánh
    Tầu vừa ngừng trong sân ga, đội ngũ bán hàng rong tràn vào trong tầu chào hàng tíu tít. Hàng ở đây hầu hết là các loại trái cây tại địa phương. Nhìn những giỏ chôm chôm đỏ ối hoặc vàng tươi mà nước miếng muốn nhểu ra rồi. Tôi mua chừng mươi ký để bốn người bọn tôi cùng ăn cho đã cơn thèm. Hơn chín năm trời mới được ăn một bữa chôm chôm, sao mà nó ngon chi lạ! Chúng tôi vừa ăn xong thì cũng là lúc tầu chuyển bánh chạy tiếp.

    Trời đã về chiều, nhắm chừng đã đói bụng, chúng tôi dẫn nhau đến toa bán cơm để ăn bữa cơm chót trên tầu trước khi tạm biệt nhau, mỗi người một ngả biết bao giờ mới gặp lại nữa. Thật vậy, từ ngày hôm đó cho đến nay (2008), tôi chưa từng gặp lại hai anh Dụ và Hồng, chẳng biết bây giờ hai anh đang ở đâu. Chỉ có Vượng sún và tôi là vẫn còn thường xuyên gặp nhau mà thôi. Về nhà chừng một năm thì Vượng cưới vợ. Hiện giờ vợ chồng Vượng ở Cali, có một đứa con trai bằng tuổi với đứa con gái út của tôi, sinh năm 1986. Vì vợ tôi sinh nó sau khi tôi ra tù cho nên vợ tôi thường nói đùa với mấy bà bạn rằng: “Con bé này theo ba nó từ Miền Bắc về đây để được ăn cơm gạo Miền Nam đấy.”


    8.8. Mẹ ơi! Ba đã về!
    Khi tới Biên Hòa, tôi hỏi nhân viên trên tầu xem họ có ngừng ở ga Thủ Đức không. Họ cho biết rằng tàu không ngừng hẳn vì không được phép. Tuy nhiên, tới ga Thủ Đức, tầu sẽ chạy chậm lại để cho một số con buôn bỏ hàng lậu xuống. Tầu chạy rất chậm, dư sức nhảy xuống đất được. Thế là tôi yên tâm, vì điểm đến của tôi là Thủ Đức, không phải Sài-Gòn.

    Tầu giảm tốc độ dần dần khi bắt đầu tới dốc Quán Con Gà Quay, tôi đưa ba lô của tôi cho Vượng giữ để ném xuống đất cho tôi. Tôi đi người không ra cửa, đứng chờ sẵn để khi tầu tới ngang hồ tắm Ngọc Thủy là nhảy ra. Vượng đã ném ba lô xuống cho tôi. Tôi nhặt ba lô khoác lên vai, lúc đó vào khoảng 8 giờ rưỡi tối. Tôi đi bộ theo đường rầy xe lửa chừng 50 mét (hơn 150 ft) thì ra tới đường Lái Thiêu, quẹo phải và đi bộ về nhà. Đường về nhà tối thui, lác đác vài ba nhà bên vệ đường còn để cửa, ánh sáng lọt ra ngoài, soi rọi được một chút mặt đường. Hồi trước 1975, con đường này có đủ ánh sáng, và vào giờ này, người ta vẫn còn đi lại nhộn nhịp. Bây giờ sau hơn chín năm “hoà bình, thống nhất” rồi, mà sao nó có vẻ ảm đạm thế này! Vì ai nên nỗi? Hồ Chí Minh và bè lũ của hắn chứ còn ai nữa.

    Trên đường về nhà, tôi phải đi qua nhà bà chị thứ ba (chị Tư, gọi theo người Nam) của tôi. Nhà bà cách nhà tôi chừng 500 mét. Nghe gõ cửa, bà ra mở cửa. Vừa thấy tôi, bà đã nước mắt giọt vắn giọt dài. Nói được dăm ba câu, bà vội chạy sang nhà bà chị thứ tư (chị Năm, vợ anh K., người ra Bắc thăm tôi hai lần). Chỉ một chút xíu là đủ mặt hai bà chị và hai ông anh rể. Hai bà chẳng hỏi thăm gì đến cảnh tù đày của tôi, mà chỉ chú tâm vào việc phê phán, kể tội vợ tôi. Nào là “Nó bây giờ hỗn hào lắm, chẳng coi hai chị ra cái gì cả”; nào là “Cậu phải dạy vợ cậu cho nó biết kính trên nhường dưới”; v v… Tôi cứ để cho các bà ấy nói chán, nói cho xì bớt trái bóng tức giận trong khi đầu tôi đang nghĩ đến câu tục ngữ “Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng.” Mấy bà chị, mấy cô em chồng còn dữ dằn hơn là bọn giặc Tầu cơ mà. Thói thường nó là như vậy.

    Thấy các bà đã nói đủ, tôi bảo rằng:

    - Chuyện đâu còn có đó, cứ để từ từ rồi em sẽ tính; bây giờ cũng đã trễ, em về nhà rồi mai mốt nói chuyện với các anh chị sau.

    Các bà tỏ ý muốn đi theo vào nhà tôi nhưng tôi cản lại vì không muốn cho hai bà chị đến nhà lúc này, dễ có nguy cơ ầm ĩ chòm xóm lúc đêm hôm. Và, nhất là sẽ ảnh hưởng xấu đến cái đêm mà “Chàng ở phương xa mới về” - một đêm hứa hẹn có nhiều điều tuyệt vời: tôi sẽ… , và tôi sẽ… Tiếc rằng ngòi bút của tôi bất lực mất rồi; xin quí vị độc giả giầu óc tưởng tượng hãy nghĩ thêm để bổ túc cho cái “tôi sẽ” nhé. Tôi đâu có dại gì để mấy bà ấy vào nhà tôi phá đám chứ. Hai bà đành chịu thua. Rồi, tôi nhờ anh K. đi với tôi vì tôi có chủ ý gây bất ngờ cho vợ con tôi.

    Tới cổng, tôi đứng phía sau anh K., và để cho anh K. gọi cổng. Lúc đó cũng gần mười giờ đêm rồi, vợ con tôi đã tắt đèn đi ngủ. Anh K. phải gọi đến lần thứ ba mới thấy cửa hé mở. Đứa con gái thứ tư của tôi nhận ra bác K. của nó. Nó trở vào nhà lấy chìa khóa ra mở cổng (từ cổng tới nhà cách nhau hơn mười mét – hơn 30 ft). Tôi vẫn đứng núp phía sau anh K. Con gái tôi mới có hai tuổi lúc tôi đi ở tù, bây giờ nó đã hơn 11 tuổi rồi. Nó chỉ biết tôi qua hình ảnh của tôi trước 1975; mà những hình ảnh đó thì khác xa với hình dạng của tôi lúc này. Khi trước thì đẹp trai, bây giờ trông hom hem như ông cụ. Đã thế, tôi lại để thêm bộ ria mép trông chẳng giống ai cho nên nó làm cho tôi càng khác những hình ảnh ngày xưa. Tôi nghĩ rằng con gái tôi sẽ không nhận ra tôi đâu. Tôi đợi cho nó mở cổng lớn hơn, tôi bước lên đứng ngang với anh K. nhưng vẫn không nói gì. Ấy vậy mà nó vừa thấy bóng tôi là nó ôm chầm lấy tôi ngay, kêu lên một tiếng “Ba” thật lớn. Thế mới biết, tình máu mủ ruột thịt thật là thiêng liêng. Con gái tôi đã có linh cảm ngay rằng tôi chính là bố của nó mặc dù anh K. và tôi chưa ai nói gì cả. Nó vừa ôm tôi chặt cứng, vừa ngoái đầu vào trong nhà, hô lớn: - Mẹ ơi! Mẹ ơi! Ba đã về! Ba đã về!
    (Hết phần hồi ký)



    Đôi Lời Tri Ân


    Đạo lý của người Việt dạy tôi rằng ăn quả thì phải nhớ kẻ trồng cây, hoặc khi uống nước thì phải nhớ đến nguồn. Khi mình được hưởng cái gì, thì mình phải biết ơn những người đã tạo ra nó. Ngày hôm nay, tôi còn khỏe mạnh và tỉnh táo, được ngồi trong một căn phòng ấm cúng, có đủ tiện nghi, để viết lại chuyện tù đầy của tôi. Tôi được sống vui vẻ dưới một mái nhà cùng với vợ con trên một đất nước văn minh và tự do nhất thế giới. Tôi không thể quên ơn tất cả những người đã giúp cho tôi có một cuộc sống như hôm nay để tôi hoàn thành bài hồi ký này. Tôi chỉ xin nêu một số người tiêu biểu mà thôi.

    Trước hết tôi phải ghi nhận công ơn của bà Khúc Minh Thơ. Bà Thơ cùng một số thân hữu đã thành lâp Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị (HGĐTNCT) vào tháng 8 năm 1977. Bà đã vận động với Quốc hội, Chính quyền, và Chính giới Hoa Kỳ để đánh động lương tâm người Hoa Kỳ cho họ nghĩ tới trách nhiệm cứu vớt những sĩ quan, cán bộ, và công chức của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa mà họ đang bị bọn Cộng Sản Việt Nam giam giữ trong những điều kiện khắc nghiệt. Nhờ vậy mà sau khi Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) đưa ra sáng kiến thành lập ODP (Orderly Departure Program) năm 1979 để giúp những người Việt ra đi một cách hợp pháp thì chính quyền Hoa Kỳ cũng thành lập ODP, và họ đã nghĩ ngay đến việc cứu những người đang bị giam giữ trong các trại tù cải tạo.

    Đây là chính sách của Hoa Kỳ; cho nên dù có hay không có bà Thơ và HGĐTNCT thì chắc chắn chúng tôi cũng vẫn được cứu ra và được đưa sang định cư tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, ở đây tôi muốn nói đến lòng thương người (tù cải tạo), tinh thần phục vụ vô vị lợi, và sự kiên trì vận động của bà Thơ khiến cho chính quyền và nhân dân Mỹ đã thay đổi thái độ mà tích cực hơn trong việc cứu giúp chúng tôi. Sự vận động của bà và hội GĐTNCT như là một chất xúc tác để cho tiến trình cứu tù cải tạo được xảy ra nhanh hơn. Hơn nữa, những tin tức về sự vận động cứu tù của bà đã được truyền về Việt Nam, và vợ con chúng tôi đã đem tin này cho chúng tôi trong những dịp thăm nuôi. Đây đúng là một món ăn tinh thần quí báu mà chúng tôi cần có trong lúc đang bị giam giữ. Nhờ vậy mà chúng tôi cảm thấy không bị bỏ quên, tinh thần phấn chấn, và nuôi hy vọng rằng một ngày không xa, chúng tôi sẽ được cứu ra.

    Người thứ hai mà tôi cần phải ghi ơn là ông Robert Funseth. Ông được chính quyền Hoa kỳ cử sang Việt Nam thương lượng về việc thả tù Việt Nam Cộng Hòa. Nếu là người khác, mà không phải là ông Robert Funseth, thì không biết tương lai chúng tôi sẽ ra sao. Ông Funseth đã kiên trì điều đình với bọn Việt Cộng nổi tiếng gian manh vì chúng rất lươn lẹo và tráo trở; chúng đòi hỏi nhiều điều kiện vô lý. Nếu ông không có tấm lòng bác ái đối với chúng tôi thì chắc gì ông đã có đủ kiên nhẫn để đạt được sự ký kết một văn kiện với Cộng Sản Việt Nam ngày 30 tháng 7 năm 1989 mở đầu cho việc định cư chúng tôi sau khi được thả ra khỏi tù. Nếu là người khác điều đình thì có thể chúng tôi vẫn được tha nhưng không sớm sủa như vậy đâu.

    Thứ ba là Giáo Sư Nguyễn Ngọc Diễm, người Thày kính mến của tôi. Trong những năm tháng ở trại tù Nam Hà, nhờ có Thày hướng dẫn mà khả năng Anh Ngữ của tôi đã tăng lên rất nhiều. Khi sang định cư tại Hoa Kỳ, nhờ những lời khích lệ của Thày mà tôi đã lấy được văn bằng Cao Học về Quản Trị Kinh Doanh (MBA). Sau chót là, trong quá trình sửa chữa cuốn hồi ký này trước khi nó được in thành sách, Thày đã phân tích tỉ mỉ và đóng góp rất nhiều ý kiến quí báu giúp cho nó có một nội dung và hình thức như hiện nay. Người ta nói “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” – người dạy mình một chữ/nửa chữ cũng đáng là thày rồi; thế mà GS Diễm đã dạy tôi rất nhiều, hỏi sao tôi có thể quên ơn Thày được?

    Thứ tư là người bạn đời của tôi. Trong hơn chín năm tù đầy của tôi, vợ tôi một lòng chung thủy với chồng. Và, vợ tôi đã vững tay chèo chống con thuyền gia đình qua khỏi những “cơn phong ba bão táp” của cuộc đời do bọn khỉ đội lốt người gây ra. Nhờ vậy mà khi tôi được thả ra khỏi nhà tù, gia đình tôi vẫn nguyên vẹn và tràn đầy hạnh phúc trong cảnh “một mái nhà tranh, hai trái tim vàng”. Tôi dùng nhóm chữ “mái nhà tranh” để nói lên cảnh eo hẹp tài chính của gia đình tôi trước khi chúng tôi đi Mỹ. Việt Cộng vào, thì còn gì nữa đâu mà không nghèo? Đúng như câu nói “Mất nước là mất tât cả.” Nhưng rất may! Tôi chưa mất tất cả; tôi vẫn còn đủ vợ con; như vậy không hạnh phúc sao? Xin cám ơn người bạn đời của tôi.

    Thứ năm là lời cám ơn dành cho các bạn tôi và quí vị độc giả (hội viên Thư Viện Việt Nam). Nhờ sự khích lệ quí báu của các bạn và quí vị độc giả mà tôi đã viết được hết tập hồi ký này, mà đôi khi, vì một lý do riêng, tôi đã có ý định ngừng viết nửa chừng.

    1) Bạn tôi gồm có các anh: - Võ Tấn Tài, hiện ở Houston, TX - Nguyễn Trãi, Houston, TX - Vũ Ngự Chiệu, Houston, TX - Nguyễn Khoát Hải, Seattle, WA - Nguyễn Xuân Hiếu, CA - Lương Văn Quang, CA - Nguyễn Quang Ngọ, Arlington, TX - Dương Ngọc Phú, Arlington, TX.

    2) Độc giả (hội viên Thư Viện Việt Nam) thì khá nhiều nhưng tôi chỉ biết được một số ít người đã báo danh thôi, đó là các bạn có biệt danh sau đây: - Traisaurieng - Yeuthuong - KhoaiTim - 228 - Phamthangvu - 8charner - Daonguyen - Transon101 - nhabe1988 - Violet.

    Lời cám ơn đặc biệt dành cho hai hội viên Traisaurieng và Phamthangvu. Hai bạn Traisaurieng và Phamthangvu, ngoài những lời khích lệ, còn cung cấp cho tôi những tấm hình chụp cái conex để tăng thêm phần phong phú cho tập hồi ký này.

    Tôi cũng phải nói lên lời cám ơn với một người bạn tôi (ẩn danh) mà trong suốt quá trình sửa chữa tập hồi ký này không những đã đóng góp nhiều ý kiến rất hữu ích mà còn giúp tôi sửa chữa những lỗi chính tả nữa.

    Sau hết, tôi cũng không quên ghi nhận sự đóng góp công sức của con gái tôi, Nguyễn Thị Thanh-Điệp, về việc giúp tôi sử dụng computer trong suốt thời gian tôi viết tập hồi ký này. Xin Thượng Đế ban phúc lành cho tất cả mọi người.
    HẾT
    Sửa chữa lần đầu, xong ngày 15/12/2008
    Sửa chữa lần thứ hai, xong ngày 12/3/2009
    Sửa chữa lần chót, xong ngày 28/9/2010
    Nguyễn Văn Thái

    (còn tiếp)

  19. #59
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo và hết)

    Phụ Bản: Hình Ảnh


    Từ trái qua phải. Người đứng thứ hai là Nguyễn Văn Thái
    Chụp tháng 2-1963 tại trường Pháo Binh, Dục Mỹ, Nha Trang.





    Thời gian làm thông dịch viên cho hãng thầu RMK-BRJ
    Tại Kho Hàng Trung Ương Thủ Đức (Saigon Major Depot Island)





    Chụp tháng 2/1973 tại sân nhà.
    Bào thai trong bụng mẹ là đứa con gái 11 tuổi, ra mở
    cổng khi tôi về tới nhà.




    Chụp ngày 19 tháng 6 năm 1991
    Tại phi trường Tân Sơn Nhất cùng các bạn đi tiễn chân.
    Từ trái qua phải: Nguyễn Phan Đệ, Chương hói, Nguyễn Văn Thái,
    Trần Cao Chánh, và Bình bốt.





    Nguyễn Văn Thái và hiền thê.
    Chụp ngày 04 tháng 10 năm 2008
    Đi dự Đại Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị
    Tại Garland, Texas.





    Tiểu Sử






    Sinh năm 1938 tại Nam Định, Bắc Việt.

    Cựu Đại Úy Pháo Binh, Khóa 14 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, QL/VNCH.

    Ở tù CS từ tháng 6/1975 đến tháng 8/1984.

    Tới Mỹ định cư ngày 25/6/1991, theo danh sách H. 07

    Năm 1999, Tốt nghiệp Cử Nhân Quản Trị Kinh Doanh,
    (Bachelor of Business Administration - BA), Chadwick University, Alabama.

    Năm 2005, Tốt nghiệp Cao Học Quản Trị Kinh Doanh,
    (Master of Business Administration – MBA) Chadwick University, Alabama.

    Từ 2000 đến 2004: Làm Đại Diện Bảo Hiểm (Insurance Agent) cho
    công ty Farmers Insurance Group tại Carrollton, Texas.

    Từ tháng 4/2004 đến nay: Nghỉ hưu tại Arlington, Texas.

Page 3 of 3 FirstFirst 123

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Replies: 0
    Last Post: 08-24-2011, 06:22 AM
  2. Replies: 0
    Last Post: 07-06-2011, 05:35 AM
  3. "Tuyệt phẩm" theo phong cách "trẹo chân"
    By thienthanyeu9x in forum Xóm Nhà Lá
    Replies: 0
    Last Post: 06-28-2011, 05:53 AM
  4. "Bị" VC khen nhưng "tổng thống" John McCain ngậm bồ hòn nín thinh
    By KennedyPresiden in forum Khoa Học Chính Trị ( Political Science )
    Replies: 3
    Last Post: 07-23-2008, 01:42 PM
  5. "Bị" VC khen nhưng "tổng thống" John McCain ngậm bồ hòn nín thinh
    By KennedyPresiden in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 6
    Last Post: 07-23-2008, 01:32 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •