Page 1 of 3 123 LastLast
Results 1 to 20 of 59

Thread: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

  
  1. #1
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    Tôi Đi “Cải Tạo”
    1975 – 1984
    Hồi Ký
    của
    Nguyễn Văn Thái
    Tác giả giữ bản quyền



    Kính dâng hương hồn:
    Thày & Mẹ, để ghi nhớ công ơn sinh thành và
    dưỡng dục con nên người hữu dụng.

    Kính tặng:
    Giáo Sư Nguyễn Ngọc Diễm, người thày kính mến, đã giúp em trau giồi Anh Ngữ suốt thời gian em bị giam ở trại Nam Hà A.
    Và, khi sang định cư ở Mỹ, thày đã là nguồn động lực mạnh mẽ
    thúc đẩy em tiếp tục việc học.

    Riêng tặng:
    Trần Thị Lang, người bạn đời của tôi, đã cùng chia vui sẻ buồn
    với tôi trong suốt cuộc sống vợ chồng.

    Cho các con thương yêu của ba:
    Nguyễn Thị Thanh-Trúc,
    Nguyễn Kỳ-Quan,
    Nguyễn Minh-Quân,
    Nguyễn Thị Thanh-Vân, và
    Nguyễn Thị Thanh-Điệp



    Lời Nói Đầu

    Hồi ký này được khởi viết từ tháng 4 năm 2008 trên trang nhà Thư Viện Việt Nam (Thư Viện Toàn Cầu, www.thuvienvietnam.com; www.tvvn.org). Một người bạn và tôi (Biệt danh Minhcanh) cùng phối hợp viết nó dưới nhan đề “Chuyện bên lề cải tạo”. Bạn tôi (Biệt danh Sauvanco) bắt đầu đăng chuyện này từ đầu tháng 3/2008. Tôi đọc được mấy bài thì nhận ra anh là người ở cùng một đội với tôi tại Trại 5/Thác Bà. Chúng tôi liên lạc với nhau và anh đã khích lệ tôi đóng góp bài vở cho thêm phần phong phú. Nghe lời anh, tôi viết, và đã viết xong phần của mình vào ngày 30/10/2008. Sau đó thì một số hội viên TVVN đã gợi ý cho tôi in thành sách để phổ biến. Vì thế, tôi sửa chữa những bài tôi đã viết trên trang nhà Thư Viện Việt Nam, và đồng thời viết thêm phần đầu của những ngày tháng bị tù mà khi viết trên TVVN tôi chưa đề cập đến. Tôi phải ghi nhận rằng cuốn hồi ký này được đầy đủ hơn cũng là nhờ vào một số chi tiết mà tôi lấy ra từ những bài viết của bạn Sauvanco. Đã 33 năm trôi qua (1975 – 2008), tôi không thể nhớ chính xác ngày tháng của các sự kiện. Vì vậy, xin quí độc giả xem như ngày tháng nêu trong sách này chỉ có tính tương đối mà thôi. Đây chỉ là chuyện của một người tù bình thường, trong những hoàn cảnh bình thường. Theo tôi biết thì có rất nhiều người tù đã từng trải những tình huống thật là đặc biệt; họ có nhiều đau khổ và nghiệt ngã mà, nếu đem ra so sánh thì câu chuyện tù đày của tôi chẳng là gì cả. Rất tiếc là họ đã không viết ra được vì một lý do nào đó. Yếu tố thời gian và không gian trong hồi ký cũng nên được quan tâm. Những sự việc (tôi kể) chỉ thích hợp ở thời điểm và nơi chốn đã xảy ra mà thôi. Cùng một trại tù nhưng thời gian khác nhau, thì chắc chắn là có sự khác biệt về cung cách của Việt Cộng đối xử với tù nhân rồi. Mong rằng hồi ký này sẽ giúp ít nhiều hiểu biết cho các bạn trẻ về chính sách tù đầy mà Việt Cộng đã áp dụng cho các sĩ quan, cán bộ và công chức của chế độ Việt Nam Cộng Hòa dưới cái tên mỹ miều là “Học tập cải tạo”. Các bạn trẻ nên nhớ một điều sau đây: Bản chất của cộng sản là dối trá, dã man, và tàn bạo. Mà, đã là bản chất thì chẳng bao giờ thay đổi được. Nếu chúng có thay đổi, thì chỉ là sự thay đổi cái vẻ bên ngoài cho phù hợp với tình thế lúc đó để chúng được sinh tồn. Chính vì hiểu như vậy mà học giả Hồ Hữu Tường (cựu Dân Biểu Việt Nam Cộng Hòa) đã có nhận xét về sự thay đổi nhân sự trong guồng máy cai trị của bọn cộng sản, rằng đó chỉ là “Tuồng cũ, đào kép mới” (*). Và, cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng đã nói một câu, rằng “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, mà hãy nhìn những gì chúng làm” để diễn tả tính gian manh, quỉ quyệt của Cộng Sản. (*) Trích trong bài “Hồ Hữu Tường, Người Chết U Uẩn” của Đỗ Thái Nhiên, Đặc San Tù Nhân Chính Trị Quân-Dân-Cán-Chính Việt nam Cộng Hòa, phát hành năm 2008.
    Nguyễn Văn Thái. Arlington, TX, ngày 15 Tháng 11 năm 2008



    Mục Lục

    Lời Nói Đầu............................................ ......................................... 3
    Chương 1: Sài-Gòn tháng 3, 4, và 5 năm 1975 5
    Chương 2: Một năm ở Long Giao, Long Khánh 14
    Chương 3: Chuyến tầu ra Bắc............................................. .......... 46
    Chương 4: Hồ Thác Bà, Yên Bái (Tỉnh Hoàng Liên Sơn) 53
    Chương 5: Trại Vĩnh Quang B, huyện Tam Đảo,
    tỉnh Vĩnh Phú.............................................. ................................... 99
    Chương 6: Trại Vĩnh Quang A, huyện Tam Đảo,
    tỉnh Vĩnh Phú.............................................. ................................. 154
    Chương 7: Trại Nam Hà A và C, tỉnh Hà Nam Ninh 187
    Chương 8: Trở về mái nhà xưa.............................................. ...... 244
    Đôi Lời Tri Ân............................................... .............................. 258
    Phụ Bản: Hình Ảnh............................................. ........................ 261
    Tiểu Sử.............................................. ........................................... 265



    Chương 1

    Sài-Gòn tháng 3, 4, và 5 năm 1975
    1.1. Chuyển về Pháo Binh Biệt Động Quân Tháng 10/1974, tôi tốt nghiệp khoá Pháo Binh Cao Cấp (khoá Tiểu Đoàn Trưởng) tại trường Pháo Binh Dục Mỹ, Nha Trang. Tôi chọn về Tiểu Đoàn 72 Pháo Binh thuộc Sư Đoàn 7 Bộ Binh vì chỉ có các tiểu đoàn Pháo Binh của SĐ7BB là đang thiếu sĩ quan, mà lại ở gần nhà tôi (Thủ Đức) nhất. Có nhiều đơn vị pháo binh ở rất gần nhà tôi nhưng thời gian này họ không nhận những người như bọn tôi.



    Súng đại bác 105 ly, M101, Tầm bắn xa 11,000 mét
    Nguồn: phaobinhvnch.com
    Người trong hình không phải là tác giả.


    Tiểu Đoàn Trưởng TĐ72 PB khi đó là Thiếu Tá Đặng Hữu Thịnh. Ông giao cho tôi coi Pháo Đội A của tiểu đoàn. Vùng hoạt động của Pháo Đội A là các quận Mỏ Cày và Giồng Trôm thuộc tỉnh Bến Tre. Vì tình hình chiến thuật, Pháo Đội A phải phân tán thành ba trung đội, ở ba vị trí khác nhau. Tôi đi cà nhỏng, mỗi trung đội tôi ở ít ngày; nếu lười thì chọn trung đội nào có vị trí tốt nhất thì ở. Trong lúc tôi đang ở với trung đội trú đóng tại Đồng Gò (nằm trên đường từ tỉnh lỵ Bến Tre đi về quận Giồng Trôm), tôi xin Thiếu Tá Thịnh đi phép về thăm gia đình. Trung Sĩ Vũ Ngọc Sinh, một đệ tử ruột của tôi khi tôi còn ở Sư Đoàn 25 Bộ Binh, nghe tin tôi về nhà, ghé thăm và cho biết là Biệt Động Quân đang có kế hoạch thành lập thêm Liên Đoàn 9 BĐQ; liên đoàn này có nhiệm vụ phòng thủ vòng đai Thủ Đô Sài-Gòn. Sinh biết được tin này là vì hiện nay Sinh đang làm việc tại Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Biệt Động Quân. Sinh bảo tôi: - Thày xin về coi Pháo Đội 9 của Liên Đoàn 9 BĐQ đi, em có ông cậu (Thiếu Tá Nghi) làm Trưởng Phòng 1 Bộ Chỉ Huy Pháo Binh/Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, em sẽ nói ông ấy giúp cho. Tôi hỏi Sinh: - Chỉ huy trưởng, chỉ huy phó, và trưởng ban Hành Quân & Huấn Luyện ở PB/BĐQ là những ai? - Trung Tá Đặng Toàn làm chỉ huy trưởng; Trung Tá Nguyễn Xuân Áng làm chỉ huy phó, còn Thiếu Tá Nguyễn Kim Oánh làm trưởng ban Hành Quân & Huấn Luyện. - Ba người này đều biết tôi hồi tôi mới ra trường về Tiểu Đoàn 5 Súng Cối, thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Nhất là Thiếu Tá Oánh với tôi coi nhau như anh em vậy. - Vậy thì sáng mai thày lên Bộ Chỉ Huy gặp mấy ông ấy đi; thày phải làm lẹ kẻo có nhiều người ngấp nghé lắm đấy. - Được, sáng mai tôi sẽ lên gặp họ. Sáng hôm sau, tôi lên gặp Trung Tá Toàn, sau vài câu xã giao, tôi vào đề: - Thưa Trung Tá, tôi nghe nói Biệt Động Quân sắp sửa thành lập thêm một liên đoàn nữa, tôi muốn xin Trung Tá cho tôi về coi pháo đội của liên đoàn đó. - Hiện giờ cậu đang ở đâu? - Thưa Trung Tá, tôi đang coi Pháo Đội A của Tiểu Đoàn 72 Pháo Binh. - Cậu ở đó lâu chưa? - Thưa chưa. Tôi vừa học xong khoá Pháo Binh Cao Cấp hồi tháng 10/74, tôi mới ở đó chừng hơn ba tháng. - Sao không thích ở Tiểu Đoàn 72 PB nữa? - Thưa Trung Tá, các trung đội ở đó xé lẻ, tôi đâu có dịp để phát huy khả năng chỉ huy của mình; tôi muốn về bên Biệt Động Quân để tôi luôn luôn có 6 khẩu đại bác dưới tay thì thích hơn. (Tôi đâu có dám nói rõ sự thực là xin về để được gần nhà). - Theo kế hoạch thì tất cả quân số của pháo đội tân lập được lấy từ các đơn vị di tản từ miền Trung. Tuy nhiên, để tôi xin ông tướng (Trung Tướng Nguyễn Xuân Thịnh) một ngoại lệ xem sao, hy vọng là được. - Vâng, nhờ Trung Tá để ý giúp cho. Thấy đã đủ, tôi cám ơn Trung Tá Toàn và chào ông rồi ra ngoài nói chuyện với Thiếu Tá Oánh. Thiếu Tá Oánh (*) nói với tôi: - Ông xin về đây làm gì? Tôi đang “lo bắt” (chạy chọt) tiểu đoàn pháo binh 155 ly ở Cần Thơ, và dự tính sẽ xin ông về làm phó cho tôi đấy. - Thì tôi cứ xin về BĐQ trước, khi nào ông về coi tiểu đoàn 155 ly, mình tính lại mấy hồi. - Tôi nói vậy thôi, còn tùy ông quyết định. (*) Ngày mới ra trường, tôi ở trung đội của ông Oánh chừng sáu tháng, khi đó ông còn là thiếu úy. Tôi không phải là trung đội phó của ông Oánh mà là một Sĩ quan Tiền sát (1) .Hai chúng tôi cư xử với nhau rất thân tình, tôi coi ông như một người anh. Vì thế, chúng tôi không gọi nhau bằng cấp bậc, mà cứ ông ông, tôi tôi với nhau trong lúc nói chuyện. TT Oánh sang Mỹ theo danh sách “H.O.”, định cư tại Utah, ông đã chết bệnh mấy tháng trước khi tôi có được số điện thoại của ông ấy! (1) Sĩ quan Tiền sátlà sĩ quan pháo binh, đi hành quân cùng với bộ binh, giúp cho đơn vị trưởng bộ binh trong việc điều chỉnh tác xạ pháo binh. Mỹ gọi SQ Tiền sát là Forward Observer –FO. Trong đệ nhị thế chiến, khi quân đội Mỹ sang giúp tướng Charles de Gaulle giải phóng nước Pháp, quân Mỹ gọi sĩ quan tiền sát là DLO (Detached Liaison Officer; Chữ DLO được Pháp hoá, thành ra DéLO. Sau này những sĩ quan Việt Nam trong quân đội Liên Hiệp Pháp (trước 1954) đã Việt hoá chữ DéLO, thành ra Đề Lô. Một sĩ quan Pháo binh, Vũ Ngự Chiêu, đã viết một cuốn sách mang tựa đề là “Đời Pháo Thủ” vào thập niên 1960, trong đó có một chương nói về “nghiệp đề lô” để mô tả công việc và cuộc sống của một tiền sát viên PB. Một số sĩ quan thời còn quân đội Liên Hiệp Pháp lại nghĩ rằng chữ DéLO có xuất xứ từ chữ Pháp. Nếu nó có gốc là tiếng Pháp thì phải viết là OLD (Officier de Liaison Détaché) mới đúng chứ. Sau đó tôi gặp Trung Sĩ Sinh, cho Sinh biết rõ tình hình, và nhắc Trung Sĩ Sinh nói chuyện với ông cậu của Sinh. Hết phép, tôi trở lại TĐ72PB được mấy bữa thì Thiếu Tá Oánh gọi điện thoại báo cho tôi biết là công việc xong rồi. Ông bảo tôi phải làm đơn xin thuyên chuyển theo hệ thống quân giai cho hợp lệ. Tôi nộp đơn xin thuyên chuyển, và vài tuần sau tôi nhận được lệnh thuyên chuyển về Liên Đoàn 9 BĐQ, hiệu lực kể từ ngày 15/3/1975. Tôi xin Thiếu Tá Thịnh cho tôi bàn giao gấp để kịp về Bộ Chỉ Huy Pháo Binh/Biệt Động Quân. Tôi trình diện Trung Tá Toàn và nhận công tác là hàng ngày phải có mặt tại Long Bình để tiếp nhận quân sĩ, quân trang và quân dụng cho pháo đội. Mỗi buổi sáng, tôi cưỡi xe Lambretta (scooter) chạy lên trại Đào Bá Phước (đường Tô Hiến Thành); vào gặp Trung Tá Toàn nhận chỉ thị. Sau đó chạy thẳng về Long Bình làm nhiệm vụ của mình tại hậu cứ của Liên Đoàn 7 Biệt Động Quân vì LĐ7BĐQ là liên đoàn “mẹ”, yểm trợ việc thành lập Liên Đoàn 9 Biệt Động Quân. Lúc này tình hình chiến sự đang rối ren, quân số di tản từ miền Trung về trình diện rất ít, mỗi ngày chừng vài ba người. Hơn một tuần sau, tôi mới nhận được 6 khẩu đại bác 105 ly, nhưng ngày hôm sau lại phải bàn giao cho đơn vị khác vì đại bác của họ đã bị hư hại. Buổi chiều mỗi ngày, chừng 5 giờ, thấy không còn quân nhân nào tới trình diện, tôi lại cưỡi xe chạy về nhà tôi (Tam Hà, Thủ Đức).


    Xe Lambretta, scooter (Hình minh họa)


    Đầu tháng 4/1975, Bộ Tổng Tham Mưu/Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa quyết định thành lập 2 sư đoàn Biệt Động Quân, mang danh hiệu Sư Đoàn 101 BĐQ và Sư Đoàn 106 BĐQ. Sư Đoàn 101 BĐQ, do Đại Tá Nguyễn Thành Chuẩn làm tư lệnh, gồm có 3 Liên Đoàn 7, 8, và 9 BĐQ. Như vậy, tôi thuộc quân số của Sư Đoàn 101 BĐQ. Mang tiếng là dân Biệt Động Quân nhưng tôi chưa kịp nhận được tháng lương nào từ sổ lương của Biệt Động Quân thì đã phải giã từ vũ khí. Cái mũ nâu Biệt Động Quân của tôi chưa kịp dính mồ hôi thì đã bị vợ tôi cắt ra làm thành miếng lót bình bông. Nhìn thấy vợ tôi làm như thế, tôi nhận ra rằng vợ tôi đã bị lây bệnh sợ Việt Cộng của mẹ tôi rồi. Vợ tôi không muốn để cho bọn Việt Cộng có cớ mà hạch sách này nọ khi chúng nhìn thấy trong nhà có cái gì dính dáng đến người lính Miền Nam trước đây. Thậm chí vợ tôi còn gom góp tất cả những tấm hình tôi mặc quân phục, gói lại và cất vào một nơi kín đáo! Sự việc cứ thế diễn ra mỗi ngày cho đến ngày 27 tháng 4/1975 là tôi không thể đi Long Bình được nữa. Chiến sự đã tiến đến sát Sài-Gòn rồi. Bom đạn nổ inh ỏi ở hướng Hố Nai, Long Bình, Biên Hoà. Tôi ngồi ở nhà, ôm cái radio để theo dõi tình hình chiến sự. Lúc này, tôi mới thấy sự có mặt của tôi ở nhà là một diễm phúc cho gia đình tôi; tránh cho mẹ và vợ con tôi khỏi phải lo lắng sợ sệt trong lúc dầu sôi lửa bỏng thế này. Nhìn gia đình mình, bất chợt tôi lại nghĩ đến các đồng đội của mình, họ đang ở một nơi nào đó, đang ẩn núp trong hố chiến đấu, và đang anh dũng chống lại những đợt tấn công của Việt Cộng (*) trong một trận chiến không cân xứng; quân số của địch gấp sáu bẩy lần quân Việt Nam Cộng Hòa; súng đạn của chúng được khối Cộng Sản yểm trợ tối đa trong khi vũ khí và đạn dược của quân ta càng ngày càng cạn dần mà không có nguồn tiếp liệu bổ sung. Thật tội nghiệp cho các đồng đội của tôi! Gia đình của họ đang từng giây từng phút trông chờ tin của họ, đang lo lắng cho sự sống còn của họ! Tôi muốn khóc! (*) Ghi chú: Trong sách này, tôi dùng hai chữ “Việt Cộng” để chỉ chung bọn Cộng Sản Việt Nam, cả Nam lẫn Bắc. Trước 1975, người Mỹ và người ngoại quốc đã không rành âm mưu của đảng Cộng Sản Việt Nam, cho nên họ gọi bọn Cộng Sản ở Miền Nam là Việt Cộng, và gọi bọn Cộng Sản ở Miền Bắc là Quân Đội Bắc Việt. Họ đâu có hiểu rằng “Việt Cộng” cũng chỉ là một công cụ của đảng Cộng Sản Việt Nam, và hoàn toàn chịu sự điều khiển của đảng Cộng Sản Việt Nam. Vì thế mà, vào năm 1976, sau khi chiếm trọn Miền Nam, đảng Cộng Sản Việt Nam đã khai tử Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam vì vai trò chính trị của nó không còn cần thiết nữa. Mười giờ sáng ngày 30/4/1975, đài phát thanh Sài-Gòn phát đi lệnh buông súng đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh. Thôi rồi! Thế là hết! Một trang sử bi đát đã mở ra cho toàn thể dân, quân, cán, chính của Việt Nam Cộng Hòa! Hơn mười năm quân ngũ của tôi, hợp cùng những người trai thời loạn, chiến đấu để bảo vệ Miền Nam thân yêu, bây giờ trở thành công dã tràng rồi.
    Dã tràng xe cát bể đông,
    Nhọc nhằn mà chẳng nên công chuyện gì! (Ca dao)
    Last edited by Satrung; 01-02-2013 at 08:10 AM.

  2. #2
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)
    1.2. “Bộ đồ này tao mặc để đi trình diện.”

    Nghe xong lệnh đầu hàng, tôi cảm thấy hụt hẫng và uất ức. Tôi muốn hét lớn lên nhưng lại sợ mẹ và vợ con tôi hoảng hồn nên đành nén cơn giận. Bình thường, tôi đã ít nói; bây giờ lại ít nói hơn. Vợ tôi nấu cơm ăn sớm hơn mọi ngày. Ăn xong, tôi lủi thủi đi ra hậu cứ của Tiểu Đoàn Trâu Điên (Thủy Quân Lục Chiến) để xem tình hình vì nghe mấy đứa cháu nói rằng dân chúng đang vào lấy đồ đạc trong trại Trâu Điên. Trên đường ra trại Trâu Điên, tôi gặp một vài xe Jeep quân đội (của Việt Nam Cộng Hòa bỏ lại) chạy tới chạy lui, trên xe cắm lá cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (lúc đó cờ đỏ sao vàng chưa lộ liễu xuất hiện). Ngồi trên xe là mấy tên con nít, cỡ 15 – 16 tuổi, cánh tay phải cột một băng mầu đỏ, mỗi đứa cầm ở tay một khẩu súng M-16 (cũng của QL/VNCH bỏ lại). Mặt đứa nào cũng vênh vênh váo váo, thấy mà ghét. Thỉnh thoảng chúng lại bắn chỉ thiên mấy phát, như cố tình cho dân chúng biết có sự hiện diện của “ta đây”. Vài ba bữa sau, tôi đã nghe đâu đó nhóm chữ “Việt Cộng 30 tháng Tư” để ám chỉ tụi này. Nhìn dân chúng khuân đồ từ trại đi ra, tôi nghĩ đến những chiến sĩ của Tiểu Đoàn Trâu Điên. Họ đã từng là mối lo sợ của bọn Việt Cộng mỗi khi chúng đụng đầu với họ. Bây giờ họ ở đâu? Chắc cũng lủi thủi như tôi lúc này, hoặc nếu người nào bất hạnh mà bị thương tích vào giờ thứ 25 này thì tội nghiệp họ quá! Nước mắt tôi lại muốn trào ra. Tôi phải cố trấn tĩnh sự xúc động bằng cách tự nhắc nhở mình, rằng đàn ông con trai gì mà mau nước mắt thế, phải bình tĩnh và can đảm để chuẩn bị đối phó với những tình huống khó khăn sắp tới chứ. Trong khi tôi còn đang đứng tần ngần trước cổng trại thì nghe tiếng thằng cháu gọi: - Cậu Thái ơi, có ông bạn của cậu đang ngồi chờ ở nhà. Cậu lên xe, cháu chở cậu về cho lẹ. Tôi ngồi lên phía sau xe để nó chở tôi về nhà. Tôi không biết bạn nào mà giờ này lại tới gặp tôi. Khi vào trong nhà thì mới biết người đó là Nguyễn Kinh Dzoanh, bạn chí thân của tôi. Dzoanh nhập ngũ cùng khóa với tôi nhưng thuộc ngành Quân Vận, và đang làm việc tại căn cứ Long Bình (tỉnh Biên Hoà). Tôi hỏi Dzoanh: - Sao mày không “doọc” (vọt chạy)? Tao tưởng em rể mày ở Hải Quân thì mày có điều kiện chạy chứ? - Mấy hôm nay, đường từ Long Bình về Sài-Gòn không có an ninh, tao muốn về cũng chẳng được. Sáng nay nghe lệnh đầu hàng, tao nhìn qua nhìn lại chẳng thấy tên nào hết, tao quýnh quá, bây giờ lái xe Jeep về thì sợ tụi Việt Cộng nó xin tí huyết cho nên không dám. Tao đi lòng vòng mấy căn nhà, tao thấy có cái mô-bi-lét cà tàng này, tao đạp thử thấy máy nổ nhưng xăng gần hết. Tao vội hút xăng ở xe Jeep ra, rồi kiếm tí nhớt pha vào và đổ đầy bình xe mô-bi-lét. Nhờ vậy mà về được tới đây đó. Thấy Dzoanh có cái túi xách để bên cạnh, tôi hỏi: - Mày có cái gì trong túi mà tao thấy cồng kềnh thế? - Trên đường đi, tao phải mặc đồ dân sự cho “an toàn xa lộ” nhưng đi trình diện tụi nó (Việt Cộng) thì tao phải mặc đồ nhà binh, có lon lá đàng hoàng để cho tụi nó biết là mình đâu có hèn. Trong túi này là một bộ đồ trận, và đôi giầy trận. Bộ đồ này tao mặc để đi trình diện đấy. Thôi bây giờ tao phải về kẻo thày mẹ tao lo (Nhà Dzoanh ở Gò Vấp). Khi bạn tôi đi khỏi một lúc lâu, tôi mới sực nhớ ra là không mời Dzoanh ăn cơm. Thực là bậy hết sức. Lúc này đầu óc tôi rối bời nên bị lú lẫn rồi! Từ sáng tới lúc Dzoanh ra khỏi nhà tôi (quá trưa), chắc chắn là Doanh chưa ăn cái gì.Tôi thật ân hận về sự thiếu sót tồi tệ này nhưng chắc là Dzoanh không để tâm đâu. Kể từ ngày đó cho đến khi vào tù ở Long Giao, hai đứa tôi gặp nhau một lần ở dọc đường trong lúc hai đội đi lao động ngược chiều nhau. Dzoanh gọi tôi, vội vàng dúi cho tôi mười đồng và nói: “Tao mới được về phép mấy ngày, lý do là mẹ vợ chết. Thôi tao đi, sẽ nói chuyện sau.” Năm 1984, khi nghe tin tôi được về, Dzoanh tới thăm. Lúc này hai đứa mới nói được đủ điều mà mình muốn nói. Dzoanh kể lại chuyện ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tan hàng như sau: Mấy ngày đầu tháng 5/1975, tao chán quá, cứ nằm ở nhà hết thở ngắn lại thở dài. Rồi một hôm, ông già vợ cho người sang gọi vợ chồng tao tới nhà ông ấy ăn cơm gia đình. Vừa đến cửa nhà, tao giật mình khi nhìn thấy một cái “ô-tô con”của Việt Cộng đậu ngay trước cửa. Đã lỡ trớn, tao phải bước vô nhà vì nghĩ rằng chả lẽ ông già vợ lại dụ mình sang cho bọn Việt Cộng bắt. Nếu chúng muốn bắt thì tới thẳng nhà tao, chứ đâu cần phải làm cái trò rẻ tiền này. Qua khỏi cổng thì thấy một thằng cối (lính VC)đang nằm đu đưa trên chiếc võng cột vào giữa hai cây ở trước nhà, dưới gốc cây có dựa một cây AK-47 (loại súng tiểu liên của Tiệp Khắc); chắc cu cậu là tài xế, nằm đó vừa để canh chừng cái xe vừa canh gác cho xếp của nó đang ở trong nhà. Vào tới trong nhà, tao thấy hai anh “cán”, hơn bọn mình vài ba tuổi là cùng, nhưng không biết rõ cấp bậc gì vì họ không đeo lon. Tao nghĩ ít ra anh “cán” này cũng có cấp bậc lớn thì mới có xe riêng chứ. Ông già vợ giới thiệu với tao hai anh “cán” này là vai anh của vợ tao nhưng là anh em bà con xa (bắn ca nông bẩy ngày chưa tới). Tao thật sững sờ vì từ trước tới nay, có khi nào tao nghe bên vợ nói có người thân ở phía Việt Cộng đâu. Trong bữa cơm, tao chỉ ngồi nghe chứ không nói. Sau bữa cơm, bọn họ ra về, tao nói với ông bà già vợ rằng : “Từ nay, khi có hai anh này tới đây thì xin bố mẹ đừng gọi con qua như hôm nay; con với họ ở hai chiến tuyến khác nhau, chúng con không thể nói chuyện với nhau một cách thoải mái được. Khi nào có họ thì đừng có con.” Tiếp đến là bọn mình đưa đầu vào tù ở trại Long Giao, tỉnh Long Khánh. Có một sự ngẫu nhiên là, một trong hai người “anh họ xa” lại là trại trưởng trại tù của tao. Một hôm đang khi làm việc, tao được gọi về “làm việc” với trại trưởng; tao hoang mang chẳng hiểu có chuyện gì với mình đây. Khi vào tới văn phòng trại trưởng thì mới biết người này chính là “anh họ xa” của vợ tao, lúc này có mang cấp bậc trung tá đàng hoàng, cho nên tao cũng đỡ lo phần nào. Anh này chỉ ghế cho tao ngồi,cho biết rằng vợ tao ở nhà vẫn mạnh khỏe và mở gói thuốc Quân Tiếp Vụ của VNCH mời tao hút. Sau vài câu trao đổi xã giao, anh ta yêu cầu tao làm ăng ten cho trại. Nghe vậy, tao từ chối ngay, nói rằng tao không có khả năng làm điều đó, “Anh hãy tìm người khác mà giao công tác.” Nghe vậy anh ta tỏ ra thất vọng và tỏ ý cho tao trở về đội làm việc lại bằng cách lấy ra một bao thuốc Quân Tiếp Vụ còn mới, đẩy tới trước mặt tao và bảo “Chú cầm về mà hút”; tao không nhận, nói cám ơn rồi ra khỏi văn phòng. Sau vụ này, tao rất khổ tâm vì anh em trong đội tỏ thái độ lạnh nhạt và e dè với tao vì họ nghĩ rằng tao đã có gì gì với bọn Việt Cộng! Còn một chuyện nữa là, vài tuần sau, trong lúc đang làm việc, tao được quản giáo bảo là phải về nhà kiếm bộ quần áo nào khá nhất, mặc vào và lên trình diện Ban Chỉ Huy Trại ngay. Lần này tao lại thắc mắc không biết chuyện gì nữa đây? Nếu được thả thì tại sao không bảo tao thu dọn đồ đạc cá nhân đem theo, mà chỉ có ăn mặc chỉnh tề thôi? Khi tới cửa văn phòng thì thấy có một cái “ô tô con” loại dân sự đang đậu sẵn ở đó. Vào trong văn phòng thì thấy một ông già cỡ tuổi bố vợ tao, ăn mặc lịch sự đang ngồi nói chuyện với Trại Trưởng. Thấy tao vào, ông già vội nói ngay là: “Chú lên đây để bảo lãnh cho cháu về dự đám tang của mẹ vợ cháu, bà ấy mới mất, cháu đi ngay bây giờ với chú kẻo trễ.” Tao chẳng hiểu ông này là chú như thế nào, chỉ biết ỡm ờ cho qua chuyện. Còn ông chú này thì trước khi đưa tao ra xe, ông phải để lại thẻ đảng cho văn phòng trại giữ. Đi theo xe tao, còn có một thằng cối (lính VC) để canh chừng trong thời gian tao ở nhà. Nhưng canh chừng cái con mẹ gì, khi về nhà, tao cho nó tí tiềm còm để nó đi ra ngắm phố; mấy con khỉ về rừng, thấy cái gì cũng lạ mắt cho nên mê đi ngắm phố lắm. Còn tao thì muốn đi đâu thì đi, miễn là đừng đi ra khỏi Sài-Gòn là êm. Nói thêm về ông chú như sau: Sự thực thì ông này chẳng có họ hàng gì cả. Ngày xưa khi còn ở ngoài Bắc thì ông này là người giúp việc cho ông nội của vợ tao, về tuổi tác thì ông cũng ở lứa tuổi hơn kém bố vợ tao ít nhiều cho nên bố vợ tao kêu ông là chú; có lẽ là chú vai em, chứ không phải là vai cha chú. Ông chú này sau đó đi theo Việt Minh, kháng chiến chống Pháp, rồi lỡ trớn theo Cộng Sản luôn. Tuy vậy ông vẫn còn giữ được tình người; vì thế sau khi Cộng Sản chiếm được miền Nam, ông vào tìm gặp con của chủ cũ tức là bố vợ tao. Nghe nói lúc này (1975) ông đang giữ một chức vụ khá lớn, Vụ Trưởng của một Vụ nào đó. Vì thế ông có đủ uy tín để bảo lãnh cho tao về dự đám tang của mẹ vợ tao. (Hết lời kể của Dzoanh) Nguyễn Kinh Dzoanh được thả năm 1980, vượt biển năm 1983 nhưng thất bại, bị bắt và bị tù thêm hơn một năm nữa, rồi được thả trước tôi mấy tháng. Gia đình Dzoanh sang Mỹ sau tôi, theo danh sách H.16 vào tháng 5/1993; hiện nay đang ở Little Saigon. Hai chúng tôi thỉnh thoảng vẫn gọi cho nhau nhưng chưa có dịp gặp mặt nhau từ ngày sang Mỹ.


    1.3. Đập chết chó
    Trong những ngày sôi động cuối tháng 4/75, một số đồng bào vùng Hố Nai, Gia Kiệm tản cư về Sài-Gòn để tránh bom đạn. Trong những người này, một số về khu vực tôi ở để tá túc ít ngày. Trước cổng nhà tôi, phía bên kia đường là nhà dòng nữ tu Salesiene (còn gọi là dòng Don Bosco nữ). Các sơ người Ý cũng mở rộng cửa nhà dòng cho một số người tị nạn tá túc. Khi chiến cuộc đã ngã ngũ, số người tị nạn lại bồng bế nhau trở về nhà mình. Có một người, khi chạy loạn, đem theo một con chó lai giống chó Đức, rất đẹp, nặng chừng 7-8 pounds. Khi trở về nhà, có lẽ họ nghĩ rằng không còn thích hợp để nuôi chó trong tình huống này nữa (vì họ là dân Bắc Kỳ di cư 1954, đã rành Việt Cộng quá rồi), họ cho mẹ tôi con chó đó và dặn mẹ tôi nhớ chăm sóc con chó cẩn thận; vừa nói mà họ vừa rơm rớm nước mắt vì phải xa con chó. Mẹ tôi dĩ nhiên là thích con chó lắm rồi. Mẹ tôi ẵm bế, cưng chiều nó ghê lắm. Ban đêm con chó phải nằm ngủ ngoài nhà. Buổi sáng, khi tôi mở cửa thì thấy mấy cái quai dép, quai guốc đều bị cu cậu cắn nát. Tôi giận quá, quật cho nó một roi. Mẹ tôi thấy vậy, la tôi: “Nó giống như con nít, nó biết gì mà mày đánh nó như quân hằn quân thù vậy? Mày phải dậy nó dần dần chứ.” Nếu như mẹ tôi ngưng tại đây thì không sao; nhưng mẹ tôi đâu có chịu tha tôi, còn la tôi thêm nữa. Mẹ tôi đã quên một điều là tôi lúc này đang muốn điên lên, đang muốn đập phá lung tung vì uất ức chứa đầy trong lòng; tôi không còn là tôi nữa. Tôi cầm ngay cái búa ở góc nhà, phang một nhát vào đầu con chó; nó giẫy giẫy vài cái rồi chết luôn. Mẹ tôi thấy vậy càng la to hơn. Tôi bỏ đi ra ngoài cho mẹ tôi la vào không khí. La chán, mẹ tôi lấy vài bộ quần áo ra nhà chú em tôi ở. Nhà chú em tôi chỉ cách nhà tôi chừng 500m. Mẹ tôi ở đó luôn cho đến ngày tôi đi trình diện “cải tạo”. Trước khi đi, tôi không ra chào mẹ tôi vì nghĩ rằng bà cụ còn đang giận; vả lại mình “đi học có mười ngày” thôi, để khi “học” xong sẽ ra xin lỗi mẹ tôi cũng chưa muộn. Khi xe chở bọn năm người chúng tôi đi trình diện, chạy ngang qua nhà chú em, tôi thấy mẹ tôi đang ngồi trước cửa với thằng con trai của chú em, tôi chỉ giơ tay vẫy vẫy. Đâu có ngờ, đó là lần nhìn thấy mẹ tôi lần cuối cùng, lần vẫy tay cuối cùng với mẹ. Mẹ ơi, con còn thiếu mẹ một lời xin lỗi vì đã làm mẹ buồn. Bây giờ mẹ đã về bên kia thế giới, xin mẹ hãy tha lỗi và phù hộ cho con, mẹ nhé.

    (còn tiếp)

  3. #3
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    1.4. “Học tập 3 ngày”

    Ủy Ban Nhân Dân (UBND) xã thông cáo rằng tất cả “ngụy quân” từ cấp chuẩn úy trở xuống phải trình diện UBND xã để học tập đường lối chính sách của chính phủ “Cách Mạng,” thời gian là ba ngày. Lúc đó chúng tôi cũng nghi ngờ, rằng tụi nó nói ba ngày, chứ chắc gì ba ngày. Thế rồi sau ba ngày học tập, chúng cho “ngụy quân” trở về đúng như thông cáo. Thấy vậy, tôi yên lòng để chuẩn bị cho ngày trình diện sắp tới của mình vì nghĩ rằng mình cũng sẽ phải đi “học tập” ít ngày rồi về thôi. Ngón đòn “Học tập 3 ngày” thật là độc, Việt Cộng dùng nó để nhử chúng tôi (sĩ quan) vào rọ một cách dễ dàng. Sau ba ngày học tập đường lối chính sách của “Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam”, bọn chúng cho tất cả binh sĩ và hạ sĩ quan (kể cả cấp chuẩn úy) trở về với gia đình. Thấy vậy, chúng tôi tin tưởng rằng bọn chúng sẽ làm đúng như thông cáo sẽ áp dụng cho chúng tôi nay mai. Ai dè đây chỉ là một mưu kế, tạo niềm tin nơi chúng tôi, để chúng tôi không sợ hãi mà sẵn sàng ra trình diện. Thế là chúng hốt tất cả chúng tôi (sĩ quan từ thiếu úy trở lên) vào rọ một cách ngon lành. Khi hiểu ra chuyện thì đã quá muộn! Ai trong chúng tôi khi nghe lệnh trình diện học tập, đem tiền ăn cho 10 ngày (*) cho sĩ quan từ thiếu úy đến đại úy, đều mừng rơn. Mười ngày mà nhằm nhò gì, vèo một cái là hết 10 ngày, rồi về nhà tính sau. Hạn chót trình diện cho sĩ quan cấp úy là 27/6/1975. Nhóm bạn chúng tôi năm người, gồm Nguyễn K. S., Nguyễn Tiến Xuyên, Đỗ Đình Quỳ, Phùng Bá Vi, và tôi - Nguyễn Văn Thái, rủ nhau đi trình diện chiều ngày 26/6/1975. (*) Sĩ quan từ cấp thiếu tá trở lên đã có lệnh đem tiền ăn cho 1 tháng. Họ đã phải đi trình diện trước cấp úy chúng tôi.


    Chương 2

    Một năm ở Long Giao (Tỉnh Long Khánh)

    2.1. Bắt đầu của “Học tập 10 ngày”

    Chúng tôi được chỉ định trình diện tại trường nữ trung học Lê Văn Duyệt, Gia Định. Nhưng khi tới nơi thì họ không nhận thêm vì thiếu chỗ. Họ bảo chúng tôi tới trình diện tại Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ. Khi chúng tôi tới nơi, trời đã nhá nhem tối. Ngoài cổng có một tên bộ đội ngồi gác. Nó cho chúng tôi mang đồ đạc vào trong và tới một căn phòng tiếp nhận mà bên ngoài cửa cũng có hai tên bộ đội ôm súng, ngồi gác; mặt mũi chúng tỏ rõ vẻ đằng đằng sát khí. Tôi thấy những người tới trước cũng gần chật căn phòng, mặt người nào cũng lộ rõ vẻ đăm chiêu. Căn phòng gần một trăm con người mà im lặng như tờ. Tôi huých khuỷu tay vào Đỗ Đình Quỳ và nói nhỏ: “Không xong rồi, chuẩn bị tinh thần đi là vừa.” Quỳ gật đầu, tỏ ý hiểu lời tôi nói. Chúng tôi được dẫn tới một căn gần sát với nơi bán đồ ăn cho sinh viên trước đây. Hai vợ chồng người bán hàng là nhân viên cũ của trường. Hai ông bà vẫn tiếp tục ở lại trong trường, và bây giờ bán vài ba món như cà phê, mì gói, và thuốc lá cho chúng tôi. Hai ông bà tỏ ra rất sợ sệt và dường như lo lắng cho tương lai của chúng tôi vì họ đã chứng kiến những chuyến xe chở sĩ quan cấp tá ra đi vào ban đêm. Bà chủ quán lợi dụng lúc vắng người, nói nhỏ cho tôi biết rằng trước đây đã có nhiều chuyến xe chở “các ông” (chắc là sĩ quan cấp tá , tôi nghĩ) đi ban đêm mà chẳng biết đi đâu. Đêm đầu tiên chúng tôi, năm người, căng mùng nằm túm tụm với nhau trong một góc buồng. Thấy không khí có vẻ căng thẳng cho nên chúng tôi chẳng ai nói chuyện với ai, mỗi người trở về với suy nghĩ riêng tư của mình. Nằm trằn trọc mãi mà tôi chưa ngủ được; đó đây thỉnh thoảng lại có tiếng thở dài. Chắc hẳn hầu hết đều có chung một nỗi băn khoăn, lo lắng như tôi: Có đúng là “học tập 10 ngày” không đây? Rồi tôi tự trả lời mình, rằng một tương lai đen tối đang chờ trước mặt. Nếu vậy thì đời mình tàn rồi! Bây giờ tôi mới thấy là đã dại dột, không nghe lời mẹ tôi hối thúc, rằng phải lo mà trốn đi. Nếu nghe lời mẹ tôi mà tìm đường trốn thì biết đâu giờ này tôi đang ở một trạm tiếp cư nào đó ngoài nước Việt Nam rồi. Tôi không tìm cách trốn vì nghĩ đến mẹ già và vợ con; mình không thể đang tâm mà đi một mình được. Những ngày cuối tháng Tư, tôi không phải hành quân hoặc trú đóng xa nhà, việc đi lại của tôi được tự do, nếu muốn thì tôi có thể lo cho bản thân của mình được. Còn việc đưa cả gia đình đi thì ngoài khả năng của tôi. Tôi nghĩ, thà chết cả nhà còn hơn là chỉ lo thoát thân cho riêng mình. Bây giờ nghĩ lại mới thấy là mình đã phạm một sai lầm quá lớn, đã không được ở gần gia đình mà còn mang thân tù tội. Thậm chí mẹ tôi chết tôi cũng không được về đưa xác mẹ đến nơi an nghỉ cuối cùng! Đúng là “Không có cái dại nào giống cái dại nào!” Tôi thường tự phụ rằng tôi là dân Bắc Kỳ di cư 1954, tôi hiểu Việt Cộng hơn những người bạn Miền Nam của tôi. Chữ “Việt Cộng” tôi dùng với nghĩa rộng, tức là Cộng Sản Việt Nam nói chung, chứ không phải với nghĩa hẹp như truyền thông ngoại quốc thường dùng để chỉ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, phân biệt với Cộng Sản Miền Bắc Việt Nam.Tôi cũng thường tự phụ rằng tôi đã đọc qua một vài cuốn sách viết về Cộng Sản, mà coi thường những lời khuyến cáo của mẹ tôi - một bà già nhà quê, thất học. Bây giờ nằm đây, vắt tay lên trán suy nghĩ, tôi mới thấy rằng mẹ tôi hiểu Việt Cộng hơn tôi nhiều, qua linh cảm và kinh nghiệm sống của bà. Tôi cố dỗ giấc ngủ để còn có sức cho ngày hôm sau. Cuối cùng thì tôi cũng ngủ được một giấc ngắn. Buổi sáng thức dậy, tôi và các bạn nhìn nhau và nói với nhau bằng cái lắc đầu chán nản. Ngoại trừ anh Nguyễn K. S. (lớn tuổi nhất trong bọn) thì tỏ ra không có vẻ gì là lo lắng cả. Tôi nghĩ anh S. có bản lãnh hơn tụi tôi khi đối phó với những tình huống bất ngờ, và tôi thầm khâm phục anh. Sau này, khi biết rõ ngọn nguồn, tôi mới thấy rằng lòng khâm phục của tôi đã đặt không đúng chỗ. Cái anh chàng S. này kín miệng thật! Sau khi chúng tôi tới trại Long Giao được hơn một tháng, một buổi chiều sau giờ ăn cơm, anh S. tới gặp tôi và cho biết là “Ngày mai tôi được về, Thái có nhắn gì không?” Tôi chỉ nhờ S. cho gia đình tôi biết tôi vẫn bình yên, thế thôi. Tôi rất ngạc nhiên vì sao S. lại được về sớm thế? Không có lời giải đáp, mà chỉ đoán già đoán non cho tới khi tôi được tha (1984) thì mới biết rằng: Trong thời gian S. làm Sĩ Quan Hành Quân (ban 3) tại Tiểu Khu Phước Tuy. Vợ con của S. sống trong trại gia binh của Tiểu Khu. Ông cậu của S. là một cán bộ Việt Cộng, được S. chứa chấp tại nhà mình trong trại gia binh để ông này hoạt động mà không ai có thể ngờ được. Chuyện S. có cung cấp tin tức hành quân của Tiểu Khu cho ông này hay không thì tôi không biết. Tuy nhiên, cứ lẽ thường mà suy, thì làm sao tránh khỏi. Vì có công hợp tác với Việt Cộng mà S. được về sớm. Trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, S. mang cấp bậc đại úy, nhưng khi được thả về địa phương, S. mang cấp bậc thiếu úy (?) của Việt Cộng và làm việc ở trên xã. Khi tôi được thả thì S. đã giải ngũ và làm trong ban “Thương Binh và Xã Hội” của xã sở tại. Nhà của S. ở phía trong nhà tôi, dù đi làm hay đâu, S. bắt buộc phải đi qua nhà tôi. Vì thế chúng tôi thường hay gặp mặt nhau. S. tỏ ra ngượng ngập mỗi lần gặp tôi. Còn tôi, chỉ gật đầu chào lấy lệ; hết còn thân thiện như xưa nữa rồi. Làm sao mà tôi có thể chơi với một tên “ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng Sản” như thế được chứ? Từ ngày có chính sách cho những người ở tù trên ba năm được đi Mỹ, S. lại càng tỏ ra mắc cở với bọn tôi. Khi bất chợt gặp nhau ở ngoài đường, S. chỉ gật đầu một cái rồi đi cho lẹ. Và, dĩ nhiên là S. tiếc rẻ vì không đủ điều kiện để ra đi như chúng tôi. Thôi, có làm có chịu S. ơi, “bạn” đã hơn bọn tôi là không chịu cảnh tù đầy khốn khổ, thì bây giờ “bạn” phải kém bọn tôi vì không được hưởng tự do hoàn toàn ở một đất nước văn minh nhất thế giới chứ. Câu thành ngữ “Trời cao có mắt” đem áp dụng cho trường hợp của “bạn” thì không sai được. Anh Nguyễn Tiến Xuyên trong nhóm năm người đi trình diện, hiện ở Cali, mới đây (10/2008) nói với tôi: “Trông thấy S. hằng ngày ở trần, mặc quần xà lỏn, đạp xe đi lòng vòng trong ấp mà nản quá, chẳng giống con giáp nào cả!” Chắc hẳn hiện nay S. cũng vậy thôi, làm sao mà khá hơn được cơ chứ?

    2.2. Chuyển về trại Long Giao

    Chúng tôi ở Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ một ngày. Ngày hôm đó, cơm nước do nhà hàng Soái Kình Lâm ở Chợ Lớn đem tới. Cơm và đồ ăn tạm đủ, chỉ trừ vài ba người ăn khoẻ thì thấy hơi thiếu nhưng không ai dám kêu ca gì cả. Có người đứng sắp hàng sau tôi nói nhỏ: “Chà, Cách Mạng chơi sang quá ta! Đãi chúng mình cơm Tầu nữa chứ.” Nghe vậy nhưng tôi vẫn không quay lại và cũng không muốn góp chuyện vì sợ bị vạ miệng; tốt hơn hết là càng ít nói càng tốt. Khoảng 7 giờ tối, chúng tôi đươc lệnh tập họp và mang theo hết đồ đạc cá nhân. Một tên Việt Cộng (chắc là sĩ quan nhưng không mang cấp bậc) ra sân điểm danh và chia từng toán 25 người. Nhóm năm người chúng tôi đứng nối đuôi nhau để hy vọng là sẽ cùng ở một chỗ với nhau. Ai dè, nó cứ đếm 25 người là tách ra thành một nhóm, vì vậy tôi bị tách ra khỏi bốn người kia, và từ đó, tôi không được ở chung với những người bạn cùng xóm nữa. Khoảng chín giờ đêm, một đoàn xe Molotova (loại xe truck của Liên Xô) vào sân. Chúng tôi, 25 người lên một xe, chật cứng. Khi đã đủ, xe được kéo mui xuống, phủ kín, ở trong không thể nhìn ra ngoài được. Chúng tôi cảm thấy ngộp thở vì không đủ không khí. Đến khi xe bắt đầu lăn bánh, nhờ có gió lùa qua mấy kẽ hở mà chúng tôi mới thấy đỡ ngộp được phần nào. Xe chạy một lúc thì chúng tôi ít nghe tiếng động bên ngoài, chúng tôi đoán là xe đã ra khỏi thành phố nhưng không biết đi đâu. Đến tờ mờ sáng hôm sau, xe chạy chậm dần và ngừng lại. Mui xe được kéo lên và chúng tôi được lệnh xuống xe. Vài người, trước đây đã từng phục vụ ở Sư Đoàn 18 Bộ Binh, nhận ra ngay đây là khu trại gia binh của Sư Đoàn 18, gọi là Long Giao thuộc tỉnh Long Khánh.
    (còn tiếp)

  4. #4
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    2.3. Ổn định chỗ ở

    Cứ 4 xe (100 người) được chỉ định vào một dãy nhà gia binh mà Việt Cộng gọi là lán (*). Tôi ở Lán 2 ( còn gọi là Đội 2) do anh (Mai văn ?) Ca, đại úy Pháo Binh, làm lán trưởng. Anh Ca thuộc lớp sĩ quan già, khi đó anh cũng đã hơn bốn mươi. Anh người miền Nam, tính tình hiền hoà dễ mến. Đây chỉ là nhận xét lúc ban đầu, khi còn ở Long Giao với nhau. Sau này tôi không biết anh đi đâu, và cũng chẳng biết anh có còn giữ được phong cách cũ, hay là đã bị biến chất vì hoàn cảnh đẩy đưa. Năm 2006, tôi về Oakland, Cali chơi mấy tháng và được một người bạn cùng xóm cho tôi số điện thọai của anh Ca, dường như anh ở San Jose thì phải. Tôi gọi cho anh nhưng anh không nhận ra tôi. Tôi phải nhắc anh nhớ lại một vài sự kiện đặc biệt như chuyện tôi đánh lộn với anh Thiệp nên bị nhốt vào “conex” (quân đội Mỹ dùng để chứa hàng tiếp liệu, container) hai ngày. Dần dần rồi anh mới nhớ ra tôi và nói: “À, Thái Pháo Binh, tôi nhớ ra rồi.” Anh Ca bây giờ đã lớn tuổi, giọng nói không còn mạnh như xưa nữa rồi. Anh có mời tôi ghé chơi, nhưng ngày hôm sau tôi phải trở về Texas cho nên không thể tới thăm anh được. (*) Lán = nhà nhỏ làm bằng tre lá trong rừng. Việt Cộng dùng chữ “lán” để chỉ một căn nhà tập thể cho nhiều người ở chung, tương tự như chữ “barrack” của Mỹ. Lán thường xây cất bằng vật liệu nhẹ vì nó không có mục đích sử dụng lâu dài. Kích thước của lán cũng thay đổi tùy theo tình hình. Thường thường, lán có kích thước là 5 mét x 20 mét ( 16 ft x 66 ft). Mỗi gian nhà, trước đây dành cho một cặp vợ chồng binh sĩ, bây giờ là chỗ ở của một tổ - 11 người. Tổ tôi gồm có các anh Hải (bác sĩ), Yên, Bình, Liên, Hưng, Thiệp, Truyện, Oánh, Tê, Đào Ngọc Tỉnh, và tôi - Nguyễn Văn Thái. Sở dĩ đến nay tôi còn nhớ được đủ tên của 10 người kia là nhờ có câu thiệu (**) (**) Thiệu = bài học thuộc lòng để cho các võ sinh nhớ các thế võ trong một bài võ mà luyện tập cho có thứ tự, lớp lang. Câu thiệu này do anh Tê nghĩ ra, anh nói:
    - Này Thái, tôi vừa nghĩ được một câu thiệu, gồm đủ tên 11 người của tổ mình, để mai sau mình chỉ cần đọc câu thiệu này là nhớ được tên của mọi người trong tổ.
    - Anh thử đọc lên xem nào.
    - Này nhé, “Liên tỉnh Thái Bình – Hưng Yên hãi (Hải) truyện Thiệp Oánh (đánh) Tê”.
    Anh giải thích thêm:
    - Tên của bác sĩ Hải được đổi thành Hãi - dấu ngã - bởi vì đa số dân Trung và Nam thường lẫn lộn dấu hỏi và dấu ngã. Tên anh Oánh, có nghĩa là đánh vì người Nam phát âm chữ đánh thành ra oánh.
    - Như vậy có lý đấy, anh nên phổ biến cho mọi người biết.
    - Dĩ nhiên rồi.
    Tôi chẳng biết có ai trong tổ tôi còn nhớ câu thiệu này không. Riêng tôi thì không thể quên được. Nhất là câu thiệu này lại trở thành một câu “tiên tri”, nói trước về vụ đánh lộn giữa tôi và anh Thiệp:
    “…Thiệp oánh Tê.” Mà tê là phát âm của chữ T, là vần đầu của tên tôi (Thái). Chuyện đánh lộn sẽ nói sau. Bây giờ trở lại việc ổn định chỗ ở.
    Gian nhà trong trại gia binh có bề ngang 3 mét (10 ft), chiều sâu 6 mét ( 20 ft, từ vách tường đằng trước tới vách tường phía sau). Sáu mét chia đều cho 11 người, thì mỗi người được 55 cm (22 inches). Chia xong chỗ nằm, chúng tôi đi tới những nhà bỏ hoang, những bãi rác để nhặt nhạnh bất cứ cái gì có thể ghép thành cái sạp ngủ cho mình. Tôi phát giác ra những thùng gỗ đựng đạn pháo binh 105 ly mà trước đây Sư Đoàn 18 Bộ Binh dùng để chứa đất/cát trong các vọng gác hoặc vị trí chiến đấu. Tôi và anh Đào Ngọc Tỉnh kéo những thùng gỗ đó ra, đổ đất ra, rồi đem về làm sạp ngủ cho hai người. Hai chúng tôi, nhờ vậy mà có được cái sạp ngủ tương đối bằng phẳng, đỡ bị đau lưng. Những người khác thì gặp thứ gì lấy thứ đó; người thì cái cánh cửa, người thì miếng ván ép. Cuối cùng thì tổ tôi cũng xong được chỗ nằm ngay đêm đầu tiên. Anh Đào Ngọc Tỉnh và tôi nằm sát nhau. Anh nằm sát vách phía trong (gần nhà bếp), kế đến là tôi. Hai chúng tôi chọn nằm gần nhau là vì cùng binh chủng Pháo Binh. Ngày tôi ra trường Pháo Binh, học khóa Pháo Binh Trung Cấp (Pháo Đội Trưởng), thì anh Tỉnh dạy chúng tôi môn Địa Hình (Đo đạc và tính toán tọa độ các vị trí đặt súng, vị trí mục tiêu…) Anh Tỉnh gia nhập quân đội từ ngày còn ở ngoài Bắc. Anh lớn tuổi hơn tôi nhiều, nhưng cấp bậc chỉ là đại úy vì mãi sau này anh mới đi học khóa sĩ quan. Anh đã từng ở tù Việt Cộng ở ngoài Bắc cho nên anh có khá nhiều kinh nghiệm sống của một người tù. Anh dạy tôi cách cắt tóc bằng kéo, cách đan rổ rá bằng tre hay nứa, cách bện dây thừng bằng những sợi chỉ bao gạo hoặc bao cát, và cách nấu cơm bằng chảo gang lớn, v.v…
    Nhờ những tài vặt đó mà tôi đỡ vất vả phần nào. Anh rất đầm tính và coi tôi như một người em. Đôi lần, tôi bực với anh, không thèm nói chuyện với anh nhưng chỉ được vài ngày là anh lại kiếm cách gợi chuyện với tôi, rồi hai người vui vẻ trở lại. Bọn tôi người nào cũng mong cho hết “mười ngày học tập”; người thì thăm dò xem gạo nhà bếp còn ăn được bao lâu để từ đó suy ra ngày về; người thì nhìn vào đống củi mà bọn bộ đội chở tới, rồi thắc mắc “Chỉ 10 ngày thôi, mà sao nó chở tới nhiều củi thế?” Tóm lại, mỗi người đều tìm ra một cái chỉ dấu nào đó, để từ đấy đoán ra ngày về. Trong khi đó thì anh Tỉnh lẳng lặng đi kiếm mấy giây rau lang (khoai lang) đem về, và cuốc đất ở phía sau nhà bếp (khoảng cách phía sau giữa hai dãy nhà) để trồng lang. Tôi hỏi:
    - Bộ ông muốn ở đây trường kỳ chắc?
    Anh nhìn tôi với ánh mắt có vẻ thương hại cho cái khờ của tôi và nói:
    - Rồi sẽ biết, ở đấy mà tin “mười ngày”. Khoai lang tớ trồng có củ rồi cũng chưa chắc đã được về đâu. Đừng có ham! Hãy gìn giữ sức khỏe. Nghe anh nói vậy, tôi thấy thật nản! Tuy nhiên vẫn còn cố tự biện minh để đánh lừa mình rằng Việt Cộng ngày xưa ở Miền Bắc khác. Bây giờ cả nước thống nhất rồi, lẽ nào nó vẫn vậy. Thời gian cứ dần trôi, và càng ngày tôi càng thấy anh Tỉnh có lý. Đôi khi vui chuyện, tôi hỏi anh Tỉnh:
    - Bà xã ông chết mấy năm rồi, sao ông không kiếm bà khác để “điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa”? Bộ ông chán “cái sự đời” rồi à? Anh Tỉnh nhìn tôi, cười tủm tỉm, không trả lời thẳng câu hỏi của tôi, mà đọc lên một đôi câu đối như sau:
    Già năm mươi tuổi, chưa đeo kính,(*)
    Thức suốt năm canh, chỉ sợ gà.
    (*) Giải thích riêng cho các bạn trẻ kém tiếng Việt: Đeo kính; nói lái theo kiểu Bắc Kỳ, có nghĩa là sợ làm tình. Sợ gà; nói lái theo lối Bắc Kỳ, là gạ sờ. Năm canh = năm canh giờ; một đêm có 5 canh giờ, mỗi canh giờ bằng hai giờ thời nay (120 phút); ý nói là cả đêm. Nhân lúc cao hứng, anh lại đố tiếp:

    - Tớ đố Thái, trong truyện Kiều, câu nào nói rằng nàng Kiều có bầu?
    - Chà! Khó quá! Hồi còn đi học, tôi chỉ chuyên về môn toán. Còn về thơ văn thì tôi bết lắm. Thôi, đàn anh giảng cho nghe đi.
    - Này nhé:
    Thất kinh nàng chửa biết là làm sao,
    Thuốc mê đâu đã rước vào,
    Mơ màng một giấc chiêm bao biết gì…

    Tôi phản đối:
    - Ý cụ Nguyễn Du chỉ muốn nói là nàng Kiều hoảng hốt (thất kinh) cho nên không (chửa) biết phải làm gì; chứ đâu có ý nói là nàng bị mất (thất) kinh - điềm báo là nàng có bầu (chửa).
    - Ai chả biết vậy, nhưng đây là câu đố giải trí mà. Tụi ngoại quốc học tiếng Việt, gặp phải những câu như thế này, chắc cũng phải nhức đầu đấy.
    - Chả cần phải là người ngoại quốc, mà ngay cả người Việt, đã có ai dám tự hào là giỏi tiếng Việt chưa? Nếu nói có, là nói phét. Bây giờ tôi hỏi anh nhé;
    - Tại sao người ta lại dùng mạo từ “con” cho con sông, con dao; mạo từ “cái” cho cái hồ, cái thớt?
    Anh Tỉnh suy nghĩ một hồi rồi lắc đầu chịu thua:
    - Tớ chịu thua rồi, Thái nói ra xem nào.
    - Anh chịu thua rồi nhé, như vậy tỉ số là một đều nghe chưa đàn anh? Tiếng Việt có những qui tắc bất thành văn; chẳng hạn như cách dùng mạo từ “con” và “cái” mà tôi vừa nêu ra. Luật chung là, cái gì nhúc nhích, động đậy được thì dùng mạo từ “con”; cái gì không động đậy, nhúch nhích thì dùng mạo từ “cái”. Nước sông luôn luôn chảy, cho nên gọi nó là con sông. Nước hồ ở tình trạng tĩnh (inactive), không chảy đi đâu cả cho nên được gọi là cái hồ. Cũng vậy, dao luôn xê dịch theo động tác của người sử dụng nó, nên được gọi là con dao. Trái lại, thớt chỉ nằm dưới để chịu trận cho nên mới gọi là cái thớt. Xin anh nhớ một điều là luật nào thì cũng có luật trừ để áp dụng trong vài trường hợp đặc biệt; thí dụ như “cái xe” nó chạy tới chạy lui nhưng không gọi là “con xe” mà là cái xe.
    - À thì ra thế; bây giờ tớ mới hiểu tại sao cái ấy của đàn ông thì gọi là con c…; còn cái ấy của phái nữ thì gọi là cái l…

    Cả hai chúng tôi cùng cười và chấm dứt mục tán dóc ở đây. Anh Tỉnh và tôi ở cùng tổ với nhau suốt một năm ở Long Giao. Khi ra Bắc, chúng tôi ở cùng trại (Trại 5 - Hồ Thác Bà, Hoàng Liên Sơn) nhưng khác đội. Tôi ở Đội 3, đội hắc ám nhất; còn anh ở Đội 5, không phải đi chặt nứa, cho nên đỡ khổ hơn. Dù ở hai đội khác nhau nhưng đã có lần, hai chúng tôi cùng làm việc chung với nhau khoảng mười ngày. Chả là, trại muốn đan mấy cái nong để phơi thóc lúa. Cái nong có hình dạng như một cái đĩa phẳng, đường kính chừng 1 mét rưỡi (5 ft). Đan nong thì cần phải có hai người. Do đó anh Tỉnh đề nghị với trại biệt phái tôi sang làm thợ vịn cho anh. Từ sau khi chuyển trại về Vĩnh Quang B, tỉnh Vĩnh Phú, tôi không biết anh đi đâu. Sau này khi được thả, tôi hỏi thăm thì biết anh được về trước tôi và đã chết bệnh mấy tháng trước rồi. Biết anh chết, tôi thấy buồn vô tả! Thế là mình đã mất một vị đàn anh đáng mến rồi! Anh Tỉnh ơi! Tôi tin rằng, ở dưới suối vàng, anh hiểu được tôi đang nghĩ đến anh. Và, tôi xin dùng những dòng chữ này làm nén hương lòng, để tỏ sự kính mến của tôi đối với anh, anh nhé.
    (còn tiếp)

  5. #5
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    2.4. Ăn gạo mục
    Một năm ở Long Giao, chúng tôi chưa phải ăn cơm độn, vẫn ăn gạo 100%. Tuy nhiên mấy tháng đầu, chúng tôi phải ăn gạo mục. Đây là số gạo tồn kho ở trong các chiến khu và ở các kho dọc đường mòn Hồ Chí Minh để nuôi quân. Bây giờ Việt Cộng chiếm trọn miền Nam, chúng có điều kiện được ăn gạo tốt. Do đó số gạo tồn kho trong rừng được chở ra cho các trại tù tiêu thụ. Số gạo này, vì điều kiện tồn trữ không đúng, hầu hết là bị mốc hoặc bị mục. Tôi phải chứng kiến cái cảnh gạo mốc, gạo mục hằng ngày vì tôi là chuyên viên nấu ăn cho đội. Theo qui định của đội thì mỗi tổ (11 người) phải luân phiên làm bếp một tuần lễ. Duy có người nấu đồ ăn (là tôi) thì không có luân phiên. Như vậy tổ nhà bếp kể cả tôi là 12 người. Chừng vài tháng sau, khi một số anh em đã biết nấu đồ ăn (không phải là nấu cơm), tôi được trả về sinh hoạt bình thường với tổ của tôi. Gạo mốc thường dính chùm năm ba hạt với nhau có mầu xanh xanh; gạo mục cũng dính chùm với nhau và thường có một vài con sâu nằm ở giữa chùm gạo đó. Xin nói rõ là, sâu chứ không phải mọt. Con sâu gạo có hình thù như con giòi trong đống phân nhưng kích thước nhỏ hơn. Trong gạo cũng có mọt, nhưng ít hơn là sâu. Khi đổ gạo từ trong bao (trăm kg /220 pounds) ra chảo để vo, gạo chưa mục thì chìm dưới nước; gạo mục thì nổi trên mặt nước. Nếu vớt bỏ gạo mục ra, thì còn gì nữa để nấu cơm. Chúng tôi phải lấy tay vò vò cho mấy cục gạo rời ra, chờ một lúc cho gạo lắng xuống, rồi nhẹ nhàng vớt mấy cái váng/bọt/sâu ra ngoài, gạn hết nước đục ra, và đổ nước mới vào chảo để nấu cơm.

    Vì thế, trong cơm thường lẫn những con sâu nhưng không sao, ăn vào cũng “chẳng chết thằng Tây nào” cả. Ăn loại gạo này chừng vài tháng là thấy đã có một số anh em bị phù thũng rồi. Một số người có mang theo vi-ta-min B1 hoặc vi-ta-min tổng hợp thì thoát được hoặc bớt được phù thũng. Những người không có thuốc thì chịu trận thôi. Thỉnh thoảng, trại mua bí đỏ (bí ngô) về cho nhà bếp. Lúc đầu nhà bếp còn gọt vỏ trước khi nấu; về sau chẳng cần gọt vỏ làm gì cho tốn công; cứ để cả vỏ, xắt lát ra nấu luôn. Làm như thế là để tận dụng lượng vi-ta-min B1 trong quả bí.

    Những người có vóc dáng to lớn là những người mau bị sụm (sụp đổ) nhất. Thân thể to lớn mà ăn vài chén cơm gạo mục mỗi bữa thì xuống sức nhanh lắm.Tôi có tầm vóc xương xương, nhỏ con, cho nên tránh được bệnh phù thũng này. Nhỏ con và ăn ít, trong lúc này, là hạnh phúc lắm đấy vì ít bị dày vò bởi cái đói.

    2.5. Khai báo lý lịch
    Sau khi chỗ ở đã ổn định, chúng tôi bắt đầu cho việc khai báo lý lịch. Giấy, bút và mực do trại cung cấp. Giấy là loại giấy tái chế, vàng khè. Mực là những viên mực nhỏ cỡ bằng hạt đậu xanh, phải ngâm với nước và để một vài tiếng cho mực tan ra hết thì mới dùng được. Ngòi bút bằng kẽm, có hình giống như chiếc lá tre. Nhìn những thứ văn phòng phẩm này, tôi liên tưởng đến những ngày ở ngoài Bắc, khi tôi còn “mặc quần thủng đít” đi học. Than ơi! “Đánh thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay” là như thế này đây! Đang từ giấy viết trắng tinh trở thành giấy tái chế vàng khè. Đang là bút máy Parker, bút bi hiệu Bic, bây giờ chuyển sang mực tím pha nước để viết bằng ngòi bút sắt.

    Tờ khai lý lịch đòi hỏi chúng tôi phải khai rất là chi tiết. Về bản thân, phải khai tất cả mọi hoạt động từ năm 1945. Những ai lớn tuổi thì phải khai việc làm của mình từ lúc có trí khôn (cỡ bẩy, tám tuổi). Về họ hàng, phải khai ba đời (bản thân, cha mẹ, và ông bà), cả bên nội và bên ngoại. Ví dụ như tôi, tôi phải khai về bố mẹ, ông bà nội và ngoại; tôi phải khai các anh chị em ruột. Tôi cũng phải khai về vợ và họ hàng của vợ như vậy. Chúng tôi được một tuần lễ để ngồi khai lý lịch. Người nào người nấy mệt đừ vì phải vận dụng trí nhớ của mình. Tôi cũng mệt chẳng kém gì ai.

    Tôi nghĩ có hai việc phải làm là trước hết mình phải khai sao cho đơn giản bằng cách dùng hai chữ “không nhớ”. Thứ đến là phải lén làm một bản sao và dấu kỹ để dùng cho những lần khai kế tiếp; làm như vậy có hai cái lợi, một là lần sau khỏi phải suy nghĩ nhức đầu, cứ lấy bản sao ra chép lại; hai là bản khai sau này sẽ phù hợp với bản khai trước. Việc phòng xa của tôi không vô ích vì chỉ mấy ngày sau khi nộp tờ khai lý lịch, chúng tôi được tập họp trên hội trường. Tên trại trưởng tuyên bố là: “Các anh chưa thành thật khai báo, các anh phải về viết lại lý lịch của các anh.” Đa số nghe thấy khai lý lịch lại thì méo mặt, lại mất thêm một tuần lễ đau đầu nữa. Riêng tôi thì “khỏe re con bò kéo xe.” Tôi chỉ việc kín đáo lấy bản sao ra, rồi ghi lại là xong. Bọn chúng bắt khai đi, khai lại nhiều lần để chúng so sánh xem những lần khai có giống nhau không, và từ đó chúng tìm ra sự gian dối của tù nhân.

    Thêm vào đó, chúng còn dùng “cò mồi” (decoy-duck/stool-pegeon), thường thường mỗi lán một con “cò mồi”. Trong lúc chúng tôi đang cặm cụi viết, chúng cho người gọi một con “cò mồi” lên văn phòng trại “làm việc”. Chừng vài giờ sau chúng cho “cò mồi” trở lại lán và giả vờ sợ sệt, rồi rỉ tai cho một vài người, rằng “Chẳng dấu được Cách Mạng cái gì cả, họ biết hết, tôi không khai báo có một sự kiện xảy ra ở đơn vị của tôi mà họ biết ngay, họ gọi tôi lên văn phòng để lưu ý tôi phải khai cho đủ.” Nhiều người yếu bóng vía sau khi nghe tin này, không dám giấu giếm gì nữa.

    Chuyện khai lý lịch diễn ra rất thường trong những tháng đầu ở tù. Mỗi lần khai lý lịch, tôi lại bỏ bớt đi một vài chi tiết để cho những lần khai sau đơn giản hơn. Tôi đã dự trù sẵn một câu trả lời nếu chúng phát hiện ra tôi khai không đúng với lần trước. Câu trả lời đó là “Trí nhớ của tôi mỗi ngày mỗi kém, vì thế tôi đã quên không khai điều đó. Bây giờ được cán bộ nhắc nhở thì tôi xin khai thêm vào cho giống lần trước.” Rất may là tôi chưa phải dùng đến câu trả lời này bao giờ.

    2.6. Thảo luận tổ

    Mấy tháng đầu, chúng tôi phải trải qua những buổi tối (đôi khi cả ban ngày) thảo luận tổ. Thảo luận tổ có nghĩa là ngồi quây thành vòng tròn trong phòng của mình, lần lượt mỗi người phải kể tội của mình đối với “Cách Mạng”. Đồng thời cũng phải cho nhận xét và phê bình những người đã phát biểu trước mình, xem họ có thành thật khai báo tội lỗi hay còn giấu giếm điều gì nữa. Nếu nói là mình vô tội sẽ bị tên quản giáo cảnh cáo ngay. Hắn nhấn mạnh: “Các anh người nào cũng có tội với nhân dân và Cách Mạng. Anh là bác sĩ, bảo là vô tội vì không tham dự bắn giết Cách Mạng hả? Anh chăm sóc, chữa lành bệnh, lành vết thương để cho lính ngụy mau xuất viện, trở lại đánh phá Cách Mạng, đó không phải là tội à? Anh là Tuyên Úy Công Giáo/Phật Giáo mà bảo là vô tội vì chỉ giúp lính ngụy về phần tinh thần, anh không cầm súng bắn lại Cách Mạng là không có tội hả? Lính ngụy chiến đấu hăng say, gây nhiều thiệt hại cho quân đội nhân dân, chính là vì tinh thần chúng cao; mà tinh thần chiến đấu của chúng cao là vì tuyên úy các anh đấy. Anh bảo anh vô tội vì là ngành Quân Nhu, chỉ biết cung cấp áo quần cho lính ngụy, không cầm súng bắn quân đội nhân dân là không có tội hả? Có đấy, tội của anh là tội đã giúp cho bọn lính chiến đấu của ngụy được ấm áp; mà sự ấm áp làm cho binh lính ngụy được khỏe mạnh trong lúc chiến đấu, gây thêm khó khăn cho Quân Đội Nhân Dân. Đó, tội ở đó chứ còn ở đâu nữa? Tóm lại, tất cả các anh, người nào cũng có tội, có nợ máu với nhân dân.”

    Nghe hắn nói, chúng tôi bấm chân nhau ngụ ý rằng “no medicine” - hết thuốc chữa! Thôi thì cứ phải cố gắng nghĩ ra một vài tội gì để cho nó không hạch hỏi gì thêm, tránh được phiền phức. Riêng tôi, trong những lúc tâm sự với anh Đào Ngọc Tỉnh, tôi đã hiểu ra rằng “Ngày về xa lắm người ơi!” cho dù mình có khai báo thế nào đi nữa.

    Vả lại, bọn Việt Cộng là kẻ “thắng trận” (có đánh đâu mà thắng, chúng tôi rút đi/buông súng theo lệnh, trước khi bọn chúng tới cơ mà). Vì thế tôi mới dùng ngoặc kép cho chữ thắng trận. Một sự thắng trận không vinh quang. Chúng “thắng trận” vì các nước lớn sắp xếp để cho chúng thắng trận. Ấy vậy mà chúng cứ dương dương tự đắc là kẻ thắng trận. Từ đó, chúng nói thánh nói tướng, một tấc lên tới trời, nghe mà giận tím gan.

    Tôi nghĩ thầm, đằng nào mình cũng ở tù mút chỉ rồi, sợ gì mà không nói cho nó biết rằng ta đây đâu có hèn như bọn bay tưởng. Cho nên đến lượt tôi, tôi kể tội của mình như sau:

    “Trong hơn mười năm quân vụ của tôi, tôi đã tham dự vào việc chống phá Cách Mạng một cách tích cực. Bằng chứng là, không kể các loại huy chương khác, mà chỉ kể Anh Dũng Bội Tinh thôi (một loại huy chương dành cho chiến công ngoài mặt trận), tôi được trao thưởng 6 cái tất cả, gồm 1 Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Vàng (*), 1 ADBT với Ngôi Sao Bạc, và 4 ADBT với Ngôi Sao Đồng. Một trận mới nhất, xảy ra vào tháng 2/1975, khi đó tôi đang ở với một trung đội Pháo binh (hai khẩu 105 ly) tại Đồng Gò, nằm trên đường đi từ tỉnh lỵ Bến Tre (Kiến Hoà) đến quận Giồng Trôm. Một hôm, vào khoảng nửa đêm, toán Nghĩa Quân đi phục kích cách chỗ tôi chừng hơn một cây số (1 mile), phát hiện ra có khoảng ba bốn trăm quân Cách Mạng đi ngang họ, ở ngoài đồng trống. Họ chỉ có một tiểu đội chừng mười người cho nên phải nằm im không dám nhúch nhích, rồi gọi máy về báo cho trung đội Pháo binh của tôi và xin tác xạ. Thời gian này, lệnh của Tiểu Khu Kiến Hoà cho phép mỗi khẩu đại bác chỉ được bắn 1 quả đạn/một ngày. Như vậy, trung đội Pháo Binh của tôi chỉ bắn được hai quả. Mà, bắn hai quả thì giống như là gãi ngứa, chứ ích lợi gì. Người trung đội trưởng hỏi tôi để xin quyết định. Tôi hỏi trong kho có còn đạn thặng dư (không có ghi trong sổ báo cáo đạn dược) không. Rất may là kho còn khoảng năm chục quả đạn dư, tôi quyết định cho bắn nhưng căn dặn “ngày mai” chỉ báo cáo tiêu thụ hai quả thôi. Sau vài quả đầu điều chỉnh, toán nghĩa quân báo là trúng mục tiêu rồi, tôi cho bắn thêm 20 quả nữa. Sáng hôm sau, dân trong ấp cho biết rằng hồi đêm, bộ đội Cách Mạng vào ấp, trưng dụng mấy chục chiếc xe bò để chở xác chết. Như vậy là tôi đã phạm tội nặng với “Cách Mạng”. Ấy vậy mà giờ đây tôi vẫn được “Cách Mạng” khoan hồng, cho tôi “học tập cải tạo” để trở thành một công dân tốt trong một xã hội mới.” Lời phát biểu của tôi đạt yêu cầu của tên quản giáo; hắn không nói gì và chỉ định người kế tiếp phát biểu. Từ đó về sau, mỗi lần phải khai lại lý lịch và tội trạng, tôi đều viết với một nội dung giống như tôi vừa kể trên đây.

    (*) Thẩm quyền ban tặng huy chương như sau:
    - Tư Lệnh Lữ Đoàn có quyền ban tặng ADBT với ngôi sao đồng. - Tư Lệnh Sư Đoàn có quyền ban tặng ADBT với ngôi sao bạc. - Tư Lệnh Quân Đoàn có quyền ban tặng ADBT với ngôi sao vàng.

    Thực ra thì, lời khai công – báo tội của chúng tôi cũng có một phần ảnh hưởng đến thời hạn giam giữ chúng tôi. Bằng chứng là các bạn tôi, trong nhóm năm người cùng đi trình diện, như anh Phùng Bá Vi có cùng cấp bậc với tôi, và có gần 15 năm quân vụ, thuộc ngành Quân Vận, đã được thả trước tôi gần hai năm. Kế đến là anh Nguyễn Tiến Xuyên, có 13 năm quân vụ, là Quan Sát Viên phi cơ L.19, ngành Bộ Binh, cũng được thả trước tôi hai năm. Rồi đến anh Đỗ Đình Quì, cùng khoá với tôi nhưng không gián đoạn quân vụ như tôi, anh có 12 năm quân vụ, cũng được về trước tôi hai năm. Do đó, tôi bị giam giữ lâu hơn các bạn tôi là do tôi đã khai ra nhiều chiến công mà tôi lập được cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

    Tuy được thả sau các bạn tôi, tôi vẫn không cảm thấy gì là hối tiếc vì đã khai báo đầy đủ các chiến tích của mình. Ở một khía cạnh nào đó, người ta có thể nói là tôi dại dột, không biết che dấu những việc làm của mình. Riêng tôi thì nghĩ rằng, tôi đã có cơ hội nói cho bọn Việt Cộng biết rằng tôi không hèn, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không hèn như chúng tưởng. Chúng tôi chỉ bị thất thế mà thôi. Cái gì cũng phải có cái giá của nó; nói lên được điều đó mà phải trả giá bằng hai năm tù (lâu hơn các bạn tôi) thì cũng chẳng lấy gì làm ân hận. Ai bảo tôi rằng làm như vậy là “ngu”, thì tôi cũng vui vẻ chấp nhận cái “ngu” này.

    “Thảo luận tổ” đôi khi cũng còn được dùng để nhận xét và phê bình một cuốn phim mà bọn Việt Cộng vừa chiếu cho chúng tôi xem. Phim của Việt Cộng toàn là loại phim tuyên truyền rẻ tiền, chẳng có một chút gì gọi là nghệ thuật cả. Tôi còn nhớ được tên vài cuốn phim như Trẻ Mãi Không Già, Mùa Gió Chướng, và Đứa Con Đất Củ Chi; nhưng tôi không nhớ nổi truyện phim. Tôi còn nhớ một điều là có hai tài tử Miền Nam đóng vai chính trong phim Đứa Con Đất Củ Chi; đó là Nguyễn Chánh Tín và Thiên Trang. Còn một cuốn phim nữa mà tôi quên tên nhưng lại nhớ có một nhân vật đóng vai trung úy (?) Cảnh Sát của Miền Nam thời cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Trong khi mỗi người phải nói lên nhận xét và suy nghĩ của mình sau khi xem phim này (dĩ nhiên là Việt Cộng chỉ muốn được khen), tôi đã nghĩ ra được một cớ để không phải khen cuốn phim cà chớn đó. Tới lượt tôi phát biểu, tôi nói rằng: “Nhân vật đóng vai trung úy (?) Cảnh Sát đã đeo lon không đúng với thời điểm của truyện phim. Thời ông Ngô Đình Diệm, sĩ quan Cảnh Sát chưa đeo lon với hình hoa mai. Nếu tôi nhớ không lầm thì, sau năm 1965, lon Cảnh Sát mới có hình hoa mai mà thôi. Đây là một sơ xuất nhỏ nhưng nếu người đạo diễn lưu ý một chút thì cuốn phim hay hơn.” Tên quản giáo không bắt bẻ gì được, cho qua luôn.

    (còn tiếp)

  6. #6
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    2.7. Mười bài học chính trị
    Sau vài lần khai lý lịch, chúng tôi bắt đầu chương trình học tập 10 bài chính trị. Thời hạn “10 ngày cải tạo đã qua” mà ngày về chưa thấy ló dạng. Bây giờ chúng tôi lại bấu víu vào thời gian học 10 bài chính trị. Trung bình mỗi bài phải kéo dài 1 tuần lễ. Như vậy 10 bài hết 10 tuần lễ. Từ đó chúng tôi hy vọng rằng xong 10 bài thì sẽ được về, và chúng tôi chờ, mong sao cho mười bài học chóng qua để được về với gia đình. Ngoài ra, cũng có người vẫn theo dõi số lượng gạo chở tới nhà bếp để dựa vào đó mà suy đoán ngày được về của mình.

    Khi đã học được 9 bài rồi, mà lại thấy mấy xe gạo chở tới kho nhà bếp thì bọn tôi bắt đầu hoang mang, tự hỏi rằng “Chỉ còn có một bài nữa thôi, mà tại sao lại chở tới nhiều gạo như vậy?” Câu hỏi không có lời giải đáp. Mọi người nhìn nhau ngao ngán. Anh Đào Ngọc Tỉnh bảo tôi:
    - Đây mới chỉ là trang đầu thôi, quyển sách này còn nhiều trang lắm, họ lật tới trang nào thì mình biết trang đó thôi.
    Tôi bực mình hỏi lại anh:
    - Ông đã “rành sáu câu” (biết rõ) như vậy, tại sao không doọc (vọt) sớm, mà phải ở lại chịu trận?
    - Số phần cả, “Bởi số, chạy sao cho khỏi số”, không nhớ sao?
    - Không lẽ tất cả sĩ quan QL/VNCH đang ở đây đều có số giống nhau à?
    - Cái này nó liên quan tới tử vi, lý số; hôm nào rảnh, tớ sẽ giải thích cho; thôi lo làm bài thu hoạch đi.

    2.8. “Quân đội và nhân dân ta anh hùng.”
    Tôi chỉ còn nhớ một bài có tên là “Đế quốc Mỹ là kẻ thù số 1 của nhân ta.” Trong lúc giảng bài, bọn giảng viên Việt Cộng luôn luôn dùng tiếng “thằng” đằng trước tên của những người không thuộc phe của chúng. Tất cả những Tổng Thống Ford, Tổng Thống Thiệu, Phó Tổng Thống Kỳ, Phó Tổng Thống Hương v.v… đều được tặng thêm chữ “thằng”, nghe thật là chướng tai, nhưng phải chịu chứ biết làm gì bây giờ?

    Một hôm có tên giảng viên cao hứng, nói rằng: “Các anh bây giờ cần phải từ bỏ cái lối suy nghĩ cũ mà các anh đã bị các tư tưởng phản động đầu độc, chẳng hạn như tư tưởng của thằng Phước…”

    Nghe tên “thằng Phước” chúng tôi ngớ người ra, nhìn nhau như ngầm hỏi “thằng Phước” là thằng nào. Mãi tới lúc về phòng mình, mới có một anh phát giác ra rằng “thằng Phước” tức là Sigmund Freud (*), một nhà phân tâm học nổi tiếng.
    Tôi nói lớn:
    “Vậy là từ nay phải nhớ thằng Phước là thằng Frớt nghe các bạn.”

    (*) Freud, đúng ra phải đọc là /Froi/ nhưng người Việt Nam bị ảnh hưởng của tiếng Pháp gần 100 năm cho nên cứ tưởng nó là tiếng Pháp. Vì thế hầu hết người Việt phát âm Freud thành /frớt/. Mấy tên Việt Cộng, răng đen mã tấu, biến nó thành ra “Phước”.

    Cứ sau mỗi bài học, chúng tôi phải làm một bài “thu hoạch” (một bài khảo sát về sự hiểu biết sau bài vừa học). Bài thu hoạch không làm ở hội trường, mà về làm tại phòng ngủ của mình, thường là được một ngày, có khi hai ngày, để viết thu hoạch. Một bài học, mà tôi quên tựa đề, trong đó nói về sự anh hùng của “nhân dân ta”. Tên giảng viên ba hoa khoác lác về sự anh hùng của “Cách Mạng”:

    Nào là, “Quân đội Nhân dân là quân đội bách chiến bách thắng, đã từng đánh thắng ba tên đế quốc đầu sỏ Pháp, Nhật, và Mỹ.” Nào là, “Ngay cả những đồng chí du kích gái cũng còn bắn rơi máy bay cánh cụp cánh xoè của giặc Mỹ.”
    Nào là, “Anh hùng lái máy bay Phạm Tuân đã cho máy bay của mình núp ở trong mây, chờ cho máy bay của giặc Mỹ đến gần, anh mới bay ra bắn rơi máy bay Mỹ.”
    Rồi hắn kết luận, “Đất nước ta có rất nhiều anh hùng, ra khỏi ngõ là gặp anh hùng, chỗ nào cũng có anh hùng vì thế mà thằng Tây, thằng Mỹ phải bỏ chạy, thằng Dương Văn Minh phải đầu hàng.”

    Như thường lệ, chúng tôi cũng được một ngày để viết bài thu hoạch. Tôi nghĩ mà ấm ức trong lòng vì bây giờ tụi nó tưởng nó là kẻ “thắng trận” (xin nhớ thắng trận có ngoặc kép) cho nên muốn nói gì thì nói. Trong bài thu hoạch (nói về nhân dân ta anh hùng), tôi nghĩ ra được một cách nói xỏ tụi nó mà nếu tụi nó biết, cũng chẳng có cớ để trừng phạt tôi. Sau khi tôi đã đóng vai con vẹt, lập lại những điều mà tên giảng viên đã nói trên hội trường để chứng tỏ rằng mình có nghe và hiểu rõ bài học. Tôi viết: “Nhờ có bài học này mà tôi mới sáng mắt ra. Trước đây, tôi cứ tưởng chỉ có Mỹ là nhất; bây giờ thì thấy Mỹ còn thua xa Liên Xô về kỹ thuật chế tạo máy bay. Máy bay của Mỹ, như Thần sấm, Con ma, Cánh cụp cánh xoè, nếu tắt máy là coi như bổ nhào xuống đất. Máy bay Mỹ bắt buộc phải nổ máy thì mới tiếp tục bay trên không được. Trái lại, kỹ thuật chế tạo máy bay của Liên Xô thật là tuyệt vời; khi máy bay tắt máy mà vẫn ở trên không được. Nhờ kỹ thuật siêu đẳng này mà anh hùng Phạm Tuân đã núp ở trong mây, chờ cho máy bay của giặc Mỹ tới gần thì cho máy bay nổ máy và lao ra bắn máy bay của giặc. Giặc lái Mỹ không thể ngờ là máy bay Liên Xô có khả năng tắt máy núp trong mây như vậy. Vì thế anh hùng Phạm Tuân đã thắng giặc lái Mỹ dễ dàng.”

    Tôi viết như trên để cho tụi nó biết rằng: “Tao biết tỏng là tụi bay chỉ nói phét” thôi. Làm gì có chuyện máy bay tắt máy mà có thể ở trên không được?”


    Về anh hùng tí hon Lê Văn Tám (*), tôi viết: “Anh hùng tí hon Lê Văn Tám đã đạt được thành công trong việc tự biến mình thành cây đuốc sống, rồi chạy vào kho đạn của giặc Pháp để đốt kho đạn; gây thiệt hại nặng nề cho giặc Pháp. Anh hùng Lê Văn Tám đã điều nghiên kỹ trước khi hành động để biết rằng tụi lính gác Pháp ban đêm thường hay uống rượu, say khướt, đến sáng lên phiên gác vẫn chưa hết say; mà nếu có hết say thì lại ngủ gà ngủ gật, đâu có còn tỉnh táo để canh gác. Vì thế anh hùng Lê Văn Tám mới có thể chạy từ cổng vào tới kho đạn (khoảng cách hơn 50 mét, phỏng chừng 170 ft) mà giặc Pháp chưa kịp phát hiện. Nếu như gặp bộ đội cụ Hồ canh gác, họ luôn luôn tỉnh táo, thì họ sẽ bắn gục Lê Văn Tám ngay khi Tám qua khỏi cổng rồi. Tóm lại, Lê Văn Tám vừa có can đảm, vừa có sự khôn ngoan, điều nghiên địch tình trước khi hành động, nên đã thành công vẻ vang.”

    (*) Lê Văn Tám là tên một nhân vật tưởng tượng trong một câu chuyện tuyên truyền rẻ tiền do Việt Cộng viết ra để xúi trẻ con ăn cứt gà. Có tài liệu nói là “kho xăng”, có tài liệu nói là “kho đạn”, nhưng chi tiết này không quan trọng đối với bài viết này, xăng hay đạn cũng chẳng sao.
    Bọn Việt Cộng cứ lập đi lập lại nhiền lần, riết rồi người ta tưởng đó là chuyện thật. Thậm chí truyện này còn được đưa vào chương trình học sử, bậc tiểu học của Việt Cộng, và cái tên “Lê Văn Tám” cũng được dùng để đặt cho trường học, công viên… Chuyện này vô lý vì, làm sao mà Lê Văn Tám có thể chạy được một quãng đường dài hơn 50 mét mà không bị lính gác bắn chết? Vả lại, liệu một đứa trẻ 10 tuổi có thể chạy được một quãng đường dài như thế trong lúc toàn thân đang bị cháy như ngọn đuốc không? Lính gác đui hoặc ngủ gục nên đã không nhìn hoặc không nghe thấy gì sao? Thay vì nói rằng câu chuyện vô lý (sức mấy mà dám nói, muốn mập mình sao?) thì, tôi đã viết “khen ngợi” Tám như trên. Nếu bọn Việt Cộng hiểu ra ngụ ý của tôi rằng “tụi mày chỉ nói phét” thì cũng chẳng làm gì được tôi.

    2.9. Đánh lộn.
    Chuyện đánh lộn giữa Thiệp và tôi (Thái) xảy ra đúng như câu thiệu có tính “tiên tri” do anh Tê đặt ra như đã kể ở trên, xin lập lại ở đây: Liên Tỉnh Thái Bình – Hưng Yên Hãi Truyện Thiệp Oánh Tê.

    Tên bác sĩ Hải đổi thành Hãi (dấu ngã) cho câu văn hợp lý. Phần lớn người Nam hoặc Trung thường hay lẫn lộn hai dấu hỏi và ngã. Oánh có nghĩa là đánh, theo cách phát âm của người miền Nam. Tê là tên của anh Tê, nhưng ở đây hiểu Tê như là phát âm vần T của người miền Bắc, và là vần đầu của tên tôi (Thái).

    Chừng hai, ba tháng sau khi chúng tôi tới ở Long Giao thì chuyện này xảy ra. Trong tổ tôi, Thiệp là người to lớn nhất, cao hơn 1,70 mét. Thiệp thường khoe rằng anh ta có “Đệ nhị đẳng huyền đai” môn phái Tae Kwon Do và đã từng làm huấn luyện viên võ thuật trước khi nhập ngũ. Thiệp còn cho biết rằng trước đây anh đã từng là đại đội trưởng đại đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Nếu chỉ vậy thôi thì cũng chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Đằng này, thái độ cư xử của Thiệp đối với anh em trong tổ mới là nguyên nhân dẫn đến đánh lộn. Thiệp thường hay xửng cồ, nạt nộ mỗi khi không vừa ý một điều gì. Khi chơi cờ tướng mà bị thua, Thiệp hay đập tay xuống sàn gỗ hoặc mặt bàn, khiến cho quân cờ nảy lên hoặc xê dịch khỏi vị trí của nó. Mọi người trong tổ thấy chướng mắt nhưng đều nín nhịn vì “tránh voi chẳng xấu mặt nào.” Riêng tôi, tôi cũng bắt chước mọi người, nín nhịn cho qua. Tuy nhiên, trong thâm tâm, tôi không sợ Thiệp và chờ dịp thuận lợi tôi sẽ cho anh ta một bài học. Qua thái độ của tôi, Thiệp cũng biết rằng tôi không sợ anh ta mặc dù tôi nhỏ con hơn Thiệp. Tôi không sợ Thiệp vì qua mấy tháng cùng ở và cùng làm việc với nhau, tôi đã có một sự đánh giá khá đúng về Thiệp. Hai mu bàn tay của Thiệp (chỗ khớp nối các ngón tay với mu bàn tay) đã biến thành chai cứng do công phu tập luyện đấm bao cát mà có. Khi hai chúng tôi đi khiêng gạo với nhau, bao gạo 100 pounds, chỉ đi một quãng ngắn là tôi đã thấy hơi thở của Thiệp trở nên dồn dập; chứng tỏ rằng công lực của Thiệp không có nhiều. Tôi nghĩ rằng cái “Đệ nhị đẳng huyền đai” của Thiệp chỉ là nói phét. Giỏi lắm là đai đen trơn mà thôi.

    Một buổi sáng, một nửa tổ tôi đi khiêng gạo, trong đó có Thiệp. Tôi không phải đi vì nằm trong phân nửa còn lại, sẽ làm việc khác. Thiệp vào phía trong nhà bếp, tự ý lấy cái gióng (quang) do tôi làm bằng dây kẽm gai mà không hỏi tôi. Khi Thiệp ra tới cửa trước, tôi hỏi:
    - Ê Thiệp, anh có biết cái gióng này là của ai không?
    - Đếch thèm biết, có ở đây thì tôi lấy xài, được không?
    - Cái gióng này do tôi làm, anh muốn xài thì phải hỏi tôi.
    - Đ.M. tao không hỏi thì mày làm gì được tao?
    - Này, đừng ăn nói lỗ mãng, anh không được nói Đ.M. với tôi nghe.
    - Tao cứ nói đấy.
    - Thử nói lại coi.
    - Đ… Thiệp vừa mở miệng nói được chữ Đ…. thì lãnh ba cú đấm liên hoàn vào miệng (tay phải vừa rút ra thì tay trái đã tới miệng; tay trái vừa rút ra thì tay phải lại tới miệng). Thiệp không kịp đỡ. Tuy nhiên, tôi không dùng hết sức mạnh của tay tôi. Cả tổ đứng vây xung quanh hai đứa tôi để xem nhưng không ai can vì họ đều không ưa Thiệp.

    Tôi đứng dựa lưng vào cái cột ngoài hàng hiên; Thiệp đứng bên cạnh bàn ăn cơm của tổ (mặt bàn ghép bằng gỗ thùng đạn pháo binh 105 ly, bề ngang chừng 80 cm, chiều dài hơn 2 mét). Khoảng cách giữa Thiệp và tôi hơn một mét. Thiệp chửi tôi trong khi tôi chỉ đứng nhìn anh ta:
    - Đ.M. Mày là thứ gà mái đá gà cồ, về Sài-Gòn, mày sẽ biết tay tao (Thiệp nói vậy, vì hầu hết mọi người lúc đó đều nghĩ rằng khi học xong 10 bài thì sẽ được cho về). Vừa nói, Thiệp vừa đưa tay lên sờ môi; môi của Thiệp đã sưng vếu lên và có ít máu miệng chảy ra tay. Có lẽ Thiệp mắc cở với những người xung quanh cho nên anh ta quyết định đánh tôi để gỡ danh dự. Thiệp đập mạnh tay xuống mặt bàn ăn rầm một cái; mặt bàn gẫy sụm xuống vì ván ghép không được chắc. Thiệp tiến lại phía tôi, vẻ mặt đanh lại, tỏ dấu quyết ăn thua đủ. Tôi lùi mỗi khi Thiệp tiến lên. Ở trước cửa phòng ngủ của tổ, có lót một tấm vỉ sắt có lỗ (PSP, loại dùng cho quân đội làm sân bay dã chiến) chạy từ hiên nhà ra tới mép đường. Tôi định bụng là sẽ nhường Thiệp cho tới khi tôi lùi hết chiều dài tấm vỉ sắt (hơn 3 mét – 10 ft). Tới đầu vỉ sắt, tôi dừng lại. Thiệp thấy khoảng cách đã vừa tầm tay thì đưa tay phải ra định chụp tóc của tôi, nhưng anh ta đã chậm rồi. Tay Thiệp chưa đụng vào tóc tôi thì tôi đã trùn người xuống, xoay một góc 90 độ, ngược chiều kim đồng hồ; đồng thời dùng đòn ngũ phong (đánh bằng cùi chỏ) đánh vào mạng sườn bên trái của Thiệp. Bị trúng đòn nặng, Thiệp chưa kịp phản ứng gì thì tôi đứng lên, dùng hai tay đấm liên hoàn vào mặt của Thiệp. Thiệp chịu được ba bốn quả đấm thì hết nổi, ngã bật ngửa ra phía sau; nhưng tôi chưa ngừng, mà còn sấn tới định tặng cho Thiệp mấy cú đá nữa. Lúc này, anh Hải (tổ trưởng) và mấy người nữa mới chạy tới, người thì giữ tôi lại, người thì đỡ Thiệp đứng dậy đưa vào trong buồng.

    Vì xảy ra đánh lộn, anh tổ trưởng giao cho người khác dẫn nhóm khiêng gạo đi; anh phải ở nhà viết báo cáo sự việc cho quản giáo; tôi ngồi trong phòng chờ lệnh. Còn anh Thiệp vì bị rụng hai cái răng cửa, máu chảy ra nhiều, và mặt mũi sưng húp cho nên tự mình lên bệnh xá xin thuốc. Cán bộ bệnh xá thấy Thiệp như vậy, hỏi lý do và cho người báo ngay cho cán bộ quản giáo của đội tôi. Chừng nửa giờ sau thì quản giáo và hai tên vệ binh mang súng AK-47 xuống phòng tôi, đọc lệnh phạt biệt giam tôi vào conex (*) chờ điều tra rồi sẽ có quyết định sau. Tôi đi theo quản giáo và hai tên vệ binh tới conex ở ngoài gần hàng rào kẽm gai. Chúng mở cửa conex và bảo tôi vào bên trong, xong, khóa cửa lại. Bữa cơm trưa và chiều, tổ trưởng cắt cử người đưa cơm cho tôi.

    (*) Giải thích: Conex là tiếng dùng trong quân đội Mỹ để chỉ cái thùng sắt lớn (container), chứa vật liệu, kích thước cỡ 6’ x 7’ x 7’, cửa có khoen để khoá. Khi Việt Cộng dùng làm nhà biệt giam, chúng đục một ô nhỏ ở phía trên cho tù nhân thở, nhưng không thể chui ra được.
    Hình 1

    Conex là cái thùng nầy (phía sau những công nhân Việt của hãng thầu
    xây cất RMK thời chiến tranh Việt Nam).
    Hình 1 do hội viên Thư Viện Việt Nam (bạn Phạm Thắng Vũ) có nhã ý góp thêm vào cho cuốn hồi ký này để giúp quí vị độc giả biết hình dạng của conex. Ba hình bên dưới (gọi chung là Hình 2) là do hội viên Thư Viện Việt Nam (bạn Trai sau rieng) đã sưu tầm và có nhã ý giúp tôi nêu rõ hình ảnh của cái conex. Xin hãy đọc mấy lời anh viết sau đây: Chào anh minhcanh, Để giúp cho hậu thế (sau này) và những người bạn trẻ, những đồng bào chưa từng và chưa tưởng tượng nổi hình ảnh cái conex, và cảm giác bị nhốt trong conex như thế nào. Xin phép anh tôi đăng lại một vài bức ảnh trong cuốn phim Vượt Sóng để độc giả dễ hình dung hơn. Chỉ là hình ảnh bổ sung để diễn tả cái conex, không phải ăn cắp tác quyền của hình ảnh phim Vượt Sóng. Mong quý độc giả thông cảm. Trân trọng,
    Hình 2



    Phía trước conex có cánh cửa kiên cố

    (Hết phần giải thích)
    (còn tiếp)

  7. #7
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    Conex bên cạnh đã có người đang bị giam ở đó. Thấy có tiếng động, anh ta lên tiếng:
    - Chào anh bạn, anh bị nhốt vì tội gì vậy?
    - Tôi mới đánh lộn vài giờ trước đây, nên bị nhốt.
    - Cả hai người cùng bị nhốt à?
    - Không, chỉ có mình tôi thôi.
    - Sao lạ vậy?
    - Chẳng có gì là lạ cả. Thằng cha đó ba trợn, bị tôi hạ nốc ao (knock out). Tụi Việt Cộng coi như tôi đánh nó, và nó là nạn nhân. Thế còn anh bị nhốt vì lý do gì?
    - Tôi lén dạy mấy anh em tập Thái Cực Đạo; tụi nó biết, nghi rằng tụi tôi luyện tập với ý đồ phản động, vì thế tôi bị nhốt. Tụi nó ngán mấy người biết võ. Kinh nghiệm cho tôi biết, nếu mình “có nghề” thì đừng để tụi nó biết.
    - Anh bị nhốt đã lâu chưa?
    - Hơn một tuần rồi; chưa biết khi nào được ra.
    - Thôi ráng giữ gìn sức khỏe nhé. Mình sẽ nói chuyện tiếp sau.

    Rồi, chúng tôi trở lại với những suy nghĩ riêng tư của mình. Vào ngồi trong conex, buổi trưa thì nóng như cái lò bánh mì, buổi tối khi sương xuống thì lạnh cắt da. Tuy vậy tôi không cảm thấy lo sợ, vì vụ đánh lộn này hiển nhiên là đột xuất chứ không phải vì lý do chính trị (bất đồng chính kiến) như bọn Việt Cộng nghi ngờ. Vả lại, tôi nghĩ vụ đánh lộn này đã làm thỏa lòng nhiều người trong lán (đội) - từ anh lán trưởng trở xuống đội viên; cho nên tôi tin là họ sẽ nói tốt cho tôi khi họ được hỏi tới. Và, đúng như tôi suy nghĩ, sau hai ngày hai đêm ở conex, tôi được thả ra và phải viết một bản kiểm điểm nộp cho quản giáo. Thế là êm ru bà rù, tôi lại hát bài khỏe re con bò kéo xe. Về đến phòng, tôi thấy Thiệp được nghỉ đi lao động, nằm trên sạp, hai mắt tím bầm và mặt mũi còn sưng húp. Lúc này tôi đã hết cơn “Tặc giăng nổi giận” rồi; tôi hỏi Thiệp đã dùng thuốc gì rồi; Thiệp cho biết bệnh xá chỉ cho có tí nước muối về rửa thôi. Tôi cũng chẳng có thuốc gì giảm đau cho Thiệp uống. Tôi chạy xuống nhà bếp xin họ mấy muỗng muối hột, đem về phòng và rang muối cho thật nóng, rồi lấy miếng giẻ bọc muối lại để thoa lên những chỗ sưng. Khi nào muối nguội, tôi lại rang tiếp và cứ thế lập lại nhiều lần. Nhờ vậy, những vết bầm tím bớt đi dần dần. Ngày hôm sau trở đi, vì tôi phải đi lao động cho nên tôi chỉ làm cho Thiệp vào buổi tối mà thôi. Chừng một tuần lễ thì Thiệp hết được nghỉ lao động và phải ra đi làm với tổ. Nhìn bề ngoài thì chỉ còn thấy mắt hơi tim tím, nhưng tôi biết bên trong, Thiệp còn bị đau vài ba tuần lễ nữa vì cú đánh cùi chỏ của tôi vào mạng sườn, mỗi lần hít thở là bị đau. Điều này chỉ có mình tôi và Thiệp biết thôi nhưng chẳng ai muốn nói ra. Thiệp thì mắc cở, còn tôi thì dại gì mà khai báo rằng mình “có nghề” để cho tụi Việt Cộng để ý.

    Khu tôi ở gồm có rất nhiều lán (dãy nhà) chia làm hai phần, cách nhau bởi một con đường lớn. Con đường này được tụi tôi đặt cho cái tên là “Đại Lộ Thống Nhất”. Chiều chiều, sau bữa cơm là giờ thoải mái nhất, chúng tôi thường từng nhóm hai ba người đi dạo trên đường này, vừa đi vừa trò chuyện và để gặp những bạn cũ nhưng hiện ở khác lán. Mấy người bạn cùng xóm với tôi, ở chung với nhau trong một lán, chỉ có mình tôi là lẻ loi mà thôi. Chuyện gì đặc biệt ở một lán, thì chỉ sau một buổi chiều là các lán xa gần đều rõ. Do đó chuyện tôi đánh lộn cũng đã đến tai mấy người bạn cũ của tôi.

    Một buổi chiều, tôi ra “Đại Lộ Thống Nhất”, đi một quãng thì gặp anh Nguyễn Tiến Xuyên. Anh nói:
    - Ê Thái, thằng Vi (Phùng Bá Vi) về lán nó nói bô bô rằng một thằng chẳng có đai gì mà hạ nốc-ao (knock out) một thằng đai đen đệ nhị đẳng đấy.
    Tôi bảo Xuyên:
    - Thằng đó mà đệ nhị đẳng cái con khỉ gì; giỏi lắm là nó được đai đen trơn thôi. Vả lại, vào đây nó bị mấy tháng ăn đói rồi, thì còn sức đâu để mà đánh với đấm nữa.
    - Còn tin này nữa, tớ mới đọc báo, thấy toà xử thằng Phái (em trai tôi) 5 năm tù, Thái có biết không?
    - Không biết, thôi đành phó thác cho Trời, chứ làm gì được bây giờ?

    Sau đó chúng tôi nói chuyện linh tinh cho đến khi trời tối (*) thì ai về lán đó chuẩn bị đi ngủ.

    (*) Suốt một năm ở Long Giao, cửa phòng ngủ của chúng tôi không bị khóa vào ban đêm. Vì thế, nhiều khi chúng tôi ra ngồi phía trước hè nói chuyện cho đến khuya mới vô ngủ. Chúng tôi chỉ tránh không đi lạng quạng ở ngoài vì sợ bọn lính gác bắn ẩu mà thôi.

    Một buổi trưa, vài ngày sau khi tôi được ra khỏi conex, trong lúc tôi đứng sắp hàng chờ lãnh cơm cho tổ, có một anh ở cùng lán nhưng khác tổ, tương đối lớn tuổi, đứng sau tôi mấy người. Anh vọt lên, cầm bàn tay tôi nắn nắn, bóp bóp; tôi cứ để yên xem anh ta làm gì. Nắn một lúc, anh nói với mấy người đứng gần tôi rằng:
    - Tay thằng cha này mềm xèo, mà sao lại đánh gẫy răng thằng kia, kể cũng lạ.
    Tôi nói lớn cho họ nghe chung, rằng:
    - Răng nó đã lung lay sẵn rồi, đụng nhẹ một cái thì răng rớt ra, chứ làm sao tay tôi đủ mạnh để đánh gẫy răng nó?

    Tôi nói vậy cho qua chuyện và cũng để che dấu “nghề” của tôi. Ngu sao mà khoe ra? Thực ra, ngày xưa, khi tôi tập đấm bao cát xong, tôi phải ngâm hai bàn tay vào rượu thuốc chừng mươi mười lăm phút cho thuốc ngấm vào da thịt bàn tay. Nhờ vậy mà da tay tôi không bị chai cứng như những người khác. Còn nữa, cũng sau khi tôi được ra khỏi conex vài ngày, một anh bạn khác cũng cùng lán nhưng khác tổ (tôi quên tên, chỉ biết người anh hơi thiếu thước tấc và có nước da ngăm ngăm), đến gặp tôi. Anh vừa cười vừa hỏi:
    - Anh có biết Thiệp có biệt danh là gì không?
    - Làm sao tôi biết được?
    - Trước khi đi lính, Thiệp ở khu trường đua Phú Thọ (Sài-Gòn), nổi tiếng trong đám du đãng với cái tên là “Thiệp chộp” đấy.
    - Sao lại là Thiệp chộp?
    - Anh ta luyện hai bàn tay rất cứng. Khi anh ta muốn đánh ai, anh ta giả vờ đến xin người đó cho mồi thuốc; trong lúc người kia vô ý thì Thiệp dùng bàn tay cứng chắc của mình, chộp cổ áo đối phương cứng ngắt, và tay kia đánh đối phương.
    - Thế lỡ đối phương của Thiệp không hút thuốc thì làm gì có hộp quẹt để mồi thuốc?
    - Dân du đãng đứa nào chả hút thuốc.
    - Thế à? Vậy là tôi may mắn không bị chộp bởi Thiệp đấy. Tôi biết anh bạn này muốn khai thác tôi, xem “ngón nghề” của tôi ra sao nhưng tôi chuyển sang đề tài khác một lúc rồi chấm dứt câu chuyện. Nhờ vậy, tôi biết thêm một chút dĩ vãng của Thiệp.

    Tôi và Thiệp còn ở chung một tổ thêm vài ba tháng nữa, sau đó Việt Cộng xáo trộn nhân sự, hai chúng tôi không còn ở chung nữa.


    2.10. “Mấy chị không phải dân làm rẫy.”

    Khi tôi được thả về, vợ tôi kể lại chuyến đi tìm tôi ở Long Giao như sau:
    “Khi nhận được lá thư đầu tiên anh gửi về, cho biết là anh đang ở Long Giao, địa chỉ là L16- T1, em chuẩn bị đi tìm anh, may ra thì gặp. Em hỏi thăm chị Ngọc (*) về cách thức đi Long Giao vì trước đây chị ấy có thời gian đi theo chồng ở Long Khánh. Hai đứa tụi em sắp xếp, vài ngày sau thì lên đường. Chị Ngọc và em cùng đi Long Khánh và tá túc ở nhà một bà bạn hàng của chị Ngọc khi xưa. Bà bạn hàng của chị Ngọc có một người bà con ở gần trại Long Giao. Sáng sớm hôm sau, bà bạn chị Ngọc cho đứa con của bà dẫn em về nhà người bà con của bà ấy. Còn bà ấy và chị Ngọc ở lại Long Khánh chờ em. Nó dẫn em vào một xóm, mà đứng ở bìa xóm có thể nhìn thấy người làm việc ở gần hàng rào trại tuy không rõ nét; khoảng cách phỏng chừng một cây số (2/3 mile). Ở xóm cũng đã có một số người đang chờ để tìm cách gặp thân nhân như em. Vì cùng cảnh ngộ nên chúng em dễ thân nhau; tính ra cũng trên mười người. Chúng em rủ nhau băng qua rẫy, tiến gần về phía trại. Khi còn cách trại chừng hơn trăm mét (hơn 300 ft) thì đứng lại chờ thời. Mãi tới gần hai giờ chiều thì thấy có một toán tù xuất hiện ở gần bờ rào, do một thằng bộ đội dẫn đi. Bọn em ai cũng đầy hy vọng là có người thân của mình ở trong đó. Nhưng hy vọng đó tiêu tan nhanh chóng vì khi nhóm tù đến gần thì chúng em thấy họ còn rất trẻ, chắc chắn không phải là các anh rồi. Một người trong bọn em đưa ra ý kiến rằng ai có thuốc lá thì bỏ ra một gói, hối lộ cho tên bộ đội để hỏi thăm tin tức, rồi ‘chúng mình sẽ hùn tiền trả cho chủ nhân gói thuốc đó’. Em có mang theo cho anh mấy gói thuốc thơm Sa-mít (thuốc loại nhất, nhập từ Căm Bốt), em lấy ra một gói, đưa cho chị đại diện để chị làm nhiệm vụ lấy tin. Tên bộ đội thấy gói Sa-mít thì sáng mắt lên, tỏ ra cởi mở. Thấy vậy, cả bọn túm lại gần để hỏi thăm. Hắn cho biết nhóm tù này là tù hình sự; còn tù sĩ quan QL/VNCH thì làm ở phía trong nhưng hôm nay không có tù sĩ quan đi làm ở ngoài này (có lẽ hôm đó chúng tôi ở trại để học chính trị; ghi chú của Thái). Bọn em nghe xong, thấy nản quá. Vả lại, thấy đã về chiều, chúng em bàn nhau để lại một ít đồ ăn, mà không thể để lâu được, cho nhóm tù hình sự này. Tên bộ đội cũng dễ dãi cho nhóm tù hình sự ra nhận mà chia nhau ăn. Chúng em trở lại xóm, ngủ đêm ở đó. Trong nhóm này có ba chị cũng có chồng ở L16-T1, kể cả em là bốn người; chúng em ngủ tại nhà người bà con của bạn chị Ngọc. Sáng hôm sau, bọn em dậy sớm, chia nhau mỗi người một việc; người thì nướng khô cá sặt; người thì nướng lạp xưởng; người thì mua gạo của chủ nhà và nấu cơm, vừa để ăn, vừa để vắt một ít cho các anh. Công việc chuẩn bị xong, bà chủ nhà bảo rằng chúng em ăn mặc kiểu thành phố thì không hợp; bà cho mỗi người mượn một bộ đồ làm rẫy, vai vác cuốc, đội nón lá, rồi theo bà đi sâu vào gần sát trại vì bà có mấy công đất ở trong đó. Chúng em tới vòng rào ngoài cùng, tên lính gác nhìn mặt từng người; hắn cho bà chủ nhà đi tiếp vào phía trong rẫy; còn bọn em bị nó chặn lại và nói rằng: ‘Các chị không phải là dân làm rẫy, các chị vác cuốc nhưng chẳng biết cuốc đâu, các chị không được vào.’ Bọn em năn nỉ muốn gẫy lưỡi cũng không lay chuyển được nó; đem thuốc Sa-mít ra dụ nhưng nó vẫn không cho vào. Chúng em rủ nhau đi vòng quanh phía ngoài, xem có bóng dáng gì của các anh không. Cuối cùng, đành chào thua số phận, quay về trong xóm để chuẩn bị ra lộ kịp đón xe đò kẻo trời tối. Em thì đón xe về Long Khánh gặp chị Ngọc; còn các chị kia thì đón xe về Sài-gòn. Thế là hai ngày tới trại tìm anh coi như công dã tràng!”

    (*) “ Chị Ngọc” là gọi theo tên chồng, Trần Ngọc – khoá 23 Pháo Binh. Nhà Ngọc ở kế nhà tôi. Ngày đi trình diện, Ngọc không nhập nhóm với chúng tôi, mà đi chung với mấy bạn trẻ. Vì vậy, Ngọc không bị giam chung với chúng tôi. Vợ của Ngọc đi với vợ tôi lên Long Khánh với vai trò dẫn đường; vì thế mà khi vợ tôi đi Long Giao, thì vợ của Ngọc ở lại Long Khánh. Hiện nay, gia đình Ngọc đang ở Oakland, Cali. Năm 2006, nhân dịp vợ chồng tôi đi Oakland ở chơi hai tháng với vợ chồng đứa con gái thứ tư của tôi (gọi theo người Nam, là thứ Năm), chúng tôi đã tới thăm vợ chồng Ngọc vài ba lần.


    2.11. Hơn hai tháng hồi hộp
    Một ngày, vào buổi trưa, các lán (đội) được thông báo không đi lao động. Mỗi lán cử hai người (lán trưởng và lán phó) đi dự một phiên xử án. Những người còn lại, được tập trung vào một sân rộng để nghe truyền thanh về vụ xử án. Chúng tôi hoang mang, không biết ai bị đem ra xử đây. Bọn Việt Cộng dàn dựng một tòa án “Quân Sự Mặt Trận” cho vụ xử này; cũng có chánh án, có ủy viên công tố, nhưng không có luật sư bào chữa. Qua loa phóng thanh, chúng tôi được biết phạm nhân là anh Lê Đức Thịnh, đại úy, huấn luyện viên trường Quân Báo Cây Mai (Sài-Gòn). Bản cáo trạng kể rằng anh Thịnh đã lén gửi thư về nhà, dặn dò con của anh phải nhớ báo thù cho anh. Sau này được biết là, trong khi đi lao động ở ngoài hàng rào trại, anh lén đưa một lá thư cho người tài xế xe Lam (Lambretta ba bánh), nhờ anh này gửi thư về cho vợ con anh. Xui xẻo cho anh, người tài xế xe Lam không phải là “phe ta”; hắn đem thư này cho công an. Do đó, anh Thịnh bị bắt giam vào conex cũng khá lâu.


    Xe Lambretta ba bánh (hình minh họa)

    Phiên xử chỉ là bầy ra cho “có vẻ”, thế thôi, vì bản án đã được quyết định từ trước. Buổi sáng trước khi xử, bọn chúng đã cho đào sẵn một cái huyệt ở gần nơi xử án. Đồng thời, chúng cho anh Thịnh ăn một bữa cơm khá hơn bình thường. Có lẽ anh Thịnh không biết rằng mình bị xử tử, vì theo như mấy người đi dự phiên tòa thì, anh Thịnh không bị bịt mắt, mà chỉ bị trói tay thôi; và anh tỏ ra bình thản. Khi được nói, anh Thịnh còn ca ngợi sự “khoan hồng của Cách Mạng” và hứa sẽ “học tập cải tạo” tốt. Chúng tôi dự đoán rằng anh Thịnh sẽ bị tăng thêm mấy năm án tù nữa thôi. Ngờ đâu, tòa tuyên án tử hình. Khi vừa tuyên án xong, tên vệ binh (đứng cạnh anh) dùng khăn bịt miệng anh ngay, và tiếp theo là bịt mắt. Anh Thịnh có muốn chửi bới bọn chúng cũng chẳng làm gì được nữa. Sau đó toà tuyên bố giải tán. Chúng tôi cũng giải tán luôn. Chỉ chừng 15 phút sau, khi các người đại diện chưa về tới lán, chúng tôi đã nghe được mấy tiếng súng nổ. Thôi rồi! Một linh hồn vừa lìa khỏi xác! Mọi người nhìn nhau ngán ngẩm cho cái số phận mong manh của mình. Tôi thầm xin Chúa mau đưa linh hồn anh Thịnh về nơi vĩnh phúc. Vĩnh biệt Thịnh!

    Về đến phòng, tôi nghĩ đến mình mà lo ngay ngáy. Chả là trước đây vài tuần, tôi cũng đã gửi lén một lá thư về cho gia đình. Dạo này, chúng tôi đã học xong 10 bài chính trị; chúng tôi đi lao động phía gần hàng rào trại. Hơn nữa, bọn lính gác cũng lơ là, cho nên các bà vợ tù đôi khi gặp may, cũng gặp được chồng mình. Các bà này thường lén lút nhận thư của bọn tôi nhờ chuyển. Tôi đã gửi thư theo cách đó. Bình thường thì an toàn, vì các bà đều là “phe ta” cả. Nhưng biết đâu đấy, lỡ ra các bà ấy bị công an xét hỏi, rồi lòi ra mấy cái thư lén đó thì sao đây? Vì thế, tôi chỉ lo, lỡ ra thư của mình nằm trong trường hợp xui xẻo đó thì lãnh đủ. Từ sau ngày anh Thịnh bị xử bắn, lòng tôi rối bời, ăn không ngon ngủ không yên mặc dù thư của tôi không gay gắt hằn học như của anh Thịnh. Đại ý trong thư, tôi chỉ nói tình trạng đói khổ, và nhắc vợ tôi đừng tin những gì bọn nó (Việt Cộng) nói. Tình trạng hồi hộp của tôi kéo dài hơn hai tháng thì tôi nhận được thư nhà, nói bóng gió cho tôi hiểu là đã nhận được lá thư gửi lén của tôi. Tôi thở phào nhẹ nhõm và lòng thầm cảm tạ Chúa đã giúp tôi tai qua nạn khỏi. Tôi nghĩ, không phải chỉ một mình tôi mang tâm trạng lo âu, mà còn nhiều người, đã gửi thư lậu cùng thời với tôi, cũng không tránh khỏi hồi hộp nếu trong thư của họ có nội dung “phản động”. Số phần của anh Thịnh thật là xui xẻo. Tội của anh đâu đến nỗi bị xử tử nhưng vì sự việc xảy ra đúng vào lúc mà bọn Việt Cộng cần một con dê tế thần. Chúng cần phải xử bắn một người để ngăn ngừa những mầm mống chống đối trong trại sau vụ án “Nhà Thờ Vinh Sơn” đầu năm 1976 ở Sài-Gòn.

    (còn tiếp)

  8. #8
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    2.12. Anh em gặp nhau
    Từ hôm gặp anh Xuyên trên “Đại Lộ Thống Nhất” trong trại Long Giao, biết tin em trai tôi bị kết án 5 năm tù, tôi yên tâm hơn vì chắc chắn rằng em tôi đã không bị xử tử. Em tôi (Phái) đã bị bắt đêm hôm 1 tháng 5 năm 1975, bị đưa lên xã vì bọn Việt Cộng nằm vùng muốn giết Phái. Bình thường thì những người như Phái chỉ phải lên xã học tập 3 ngày rồi được về nhà làm ăn. Nhưng, Phái bị tụi nằm vùng thù ghét vì tính hung hăng con bọ xít của tuổi trẻ.

    Khi tới tuổi quân dịch, Phái xin gia nhập Nghĩa Quân để được gần nhà, và thuận tiện cho việc trông coi tiệm chụp hình của mình. Sau đó Phái xin biệt phái sang làm phó trưởng ấp, phụ trách về an ninh trong ấp. Vì còn trẻ và lại được ông trưởng ấp cho đi tàu bay giấy nên Phái hoạt động rất hăng trong công tác lùng bắt thanh niên trốn quân dịch. Hầu hết những thanh niên trốn quân dịch là dân địa phương (rất ít khi là gốc Bắc Kỳ di cư); trong số đó cũng có lẫn lộn một số Việt Cộng nằm vùng. Đó là lý do mà bọn này căm thù Phái.

    Sau lệnh đầu hàng ngày 30/4/1975 của Tổng Thống Dương Văn Minh, những tên Việt Cộng nằm vùng xuất đầu lộ diện. Chúng là những thằng chăn bò, chăn trâu, thợ hồ v.v… mà hầu hết là những đứa đã từng bị Phái bắt đưa về quận về tội trốn quân dịch. Giữa đêm 1 tháng 5 năm 1975, bọn Việt Cộng trên xã tới gõ cửa nhà Phái, còng tay và dẫn đi. Một người hàng xóm của chú ấy chạy vào báo cho tôi biết việc Phái bị bắt. Từ lúc đó, cả nhà tôi không ai ngủ được vì đều nghĩ rằng Phái sẽ bị giết ngay trong đêm. Mẹ tôi bảo cả nhà đọc kinh, xin Đức Mẹ Maria cứu giúp; sức riêng chúng tôi thì không làm được gì.

    Trời vừa sáng, tôi sang nhà chú Khái (phía sau nhà tôi), nhờ chú ấy đạp xe đi từ chợ Tam Hà lên tới xã Tam Bình, và nhìn kỹ dưới ruộng hai bên lề đường xem có thấy xác chết của Phái không. Chú Khái cỡ tuổi với em tôi, nhưng không phải đi quân dịch vì lý do mẹ goá con côi. Khái chỉ lo làm ăn nên không lo lắng gì khi thời thế thay đổi. Còn tôi, lúc này ít khi dám ra khỏi nhà để tránh tai bay vạ gió. Đến gần trưa, Khái trở về cho biết là không thấy gì dọc theo ruộng rẫy hai bên vệ đường. Tôi yên tâm phần nào, và ra bảo vợ chú em lên xã hỏi thăm tin tức. Vợ chú đi ngay. Mới đầu tụi nó (Việt Cộng) nói không biết. Sau đó gặp một tên bộ đội Miền Bắc thì được nó chỉ cho chỗ giam Phái nhưng không cho gặp mặt. Vợ chú em tôi nhờ tên bộ đội này chuyển cho Phái một ổ bánh mì, và ra về.

    Sau này, nghe Phái kể lại là “Hôm đó tụi nó tính đánh cho em chết luôn. Em không còn ngồi dậy được nữa và mong cho tụi nó bắn em ngay để bớt đau đớn. Nhờ có tên bộ đội Miền Bắc ở đó; hắn không cho bọn kia đánh tiếp và bảo đem giam em lại.” Vợ chú Phái về cho tôi biết tin trên, tôi nghĩ phải tìm cách gì để tụi nó chuyển Phái ra giam ở huyện thì mới mong thoát khỏi ăn đòn tiếp. Tôi chợt nghĩ tới tướng Trần Văn Trà, Chủ Tịch Ủy Ban Quân Quản thành phố Sài-Gòn (mà chúng đã đổi tên là thành phố Hồ Chí Minh). Tôi thảo một lá thư gửi cho tướng Trà, trong thư, tôi dựa vào “Chính sách khoan hồng 7 điểm” của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam, và nói đại ý rằng: “ Theo như chính sách khoan hồng thì mọi người thuộc chế độ cũ, từ cấp tướng trở xuống đều được khoan hồng, trong khi Phái chỉ là một viên chức xã ấp hạng thấp nhất, tương đương như một binh sĩ, mà lại bị bắt và đã bị hành hạ dã man và hiện đang bị giam tại xã. Đây chỉ là hành động trả thù cá nhân và đi ngược với chính sách của chính phủ, gây mất lòng tin cho dân chúng. Nếu như Phái có tội thì xin được đưa ra xử công khai để chứng tỏ sự quang minh chính đại của chính phủ.”

    Thảo xong lá thư, tôi đưa cho vợ chú em và bảo viết lại lá đơn bằng chính nét chữ của mình. Sau khi viết lại, thì xé bỏ lá thư do tôi thảo ra để phi tang. Ngoài bì thư đề gửi cho Thượng Tướng Trần Văn Trà, Chủ Tịch Ủy Ban Quân Quản thành phố Hồ Chí Minh; rồi đem ngay ra ty bưu điện Thủ Đức gửi. Trong khi chờ đợi kết quả lá thư vừa gửi, mỗi sáng vợ của Phái mang đồ ăn tiếp tế cho chồng ở xã, nhưng vẫn không được gặp mặt. Đồ tiếp tế thường là bánh mì. Một hôm tên bộ đội gác cửa nói với vợ của Phái “Chị tiếp tế đồ ăn gì mềm mềm để chồng chị dễ ăn.” Tôi biết ngay, đây là dấu chỉ, cho biết quai hàm và răng của Phái bị đánh, đau không thể nhai được. Năm ngày sau khi gửi lá thư cho tướng Trà, vợ chú em tôi lên xã tiếp tế cho chồng như thường lệ, thì được biết Phái đã được chuyển ra nhà giam huyện Thủ Đức. Tôi thêm an tâm vì từ nay Phái không còn bị ăn đòn trả thù nữa. Nhà tù ở huyện cho tù nhận đồ tiếp tế dễ hơn một chút nhưng vẫn không được gặp mặt thân nhân. Tôi vội lật cuốn sách thuốc chỉ dẫn về cách thức trị các thương tích mà tôi có sẵn trong nhà. Trong sách có đầy đủ các toa thuốc để chữa trị cho từng vùng bị thương trên cơ thể. Đầu tiên, tôi dùng toa trị cho “Bị thương toàn thân”; ra tiệm thuốc bắc mua hai thang để uống hai ngày. Mỗi ngày tôi dặn vợ của Phái, sắc một thang, để cho cạn còn chừng một chén thì lấy ra, chờ cho thuốc nguội bớt đi, rồi chứa thuốc vào bịch ny-lông, nhớ kèm theo ống nhựa để hút. Phải nói là cà phê sữa, chớ nói là thuốc. Vợ chú làm y lời tôi. Ngày hôm sau, vợ chú sắc chén thuốc thứ hai và cũng làm như lần trước. Sang ngày thứ ba, tôi đổi sang toa thuốc “Bị chấn thương vùng mặt” để giúp em tôi bớt đau đớn quai hàm, có thể nhai đồ ăn đễ dàng. Phương thức sắc thuốc và tiếp tế cũng vẫn vậy. Tới sáng ngày thứ tư, gặp tên lính gác hắc ám; nó không cho đem cà phê vào vì “Tù mà còn cà phê với cà pháo à?” Vợ Phái về cho tôi biết tin trên; tôi bảo đừng lo, vài giờ nó đổi phiên gác thì đứa khác sẽ cho nhận. Đúng như lời tôi nói, lần sau ra tiếp tế thì được trót lọt. Sau bốn ngày rồi, tới ngày thứ năm, tôi đổi sang toa thuốc “Bị chấn thương vùng ngực”; cũng vẫn 2 thang cho hai ngày. Bây giờ mỗi lần tiếp tế, tụi nó cho tù ra nhận đồ ăn và trả lại giỏ xách, đồ đựng thức ăn của ngày hôm trước, nhưng vẫn không được phép nói với nhau lời nào. Lần này, trong quai giỏ xách có dấu một mẩu giấy ghi “Cà phê ngon lắm, gửi tiếp.” Tôi rất mừng vì biết rằng thuốc đã có công hiệu. Tôi tiếp tục chọn các toa thuốc để chữa trị cho Phái. Cứ hai ngày đổi sang toa thuốc khác một lần. Từ chấn thương vùng ngực, tới vùng bụng, tới đầu, rồi tới vùng tay chân, và cuối cùng, tôi trở lại toa ban đầu “Bị thương toàn thân”, uống 10 ngày liền, mỗi ngày một thang. Những mẩu giấy thông tin mật vẫn có mỗi ngày. Do đó tôi biết đầy đủ về kết quả của những toa thuốc. Cho đến một ngày, Phái cho biết “Thích cà phê đen hơn cà phê sữa”; chứng tỏ rằng hầu như Phái đã hồi phục.

    Tôi chẳng biết gì về chữa bệnh bằng thuốc bắc nhưng việc xảy ra như vậy, tôi bắt buộc phải làm do sự suy luận hoàn toàn của riêng mình; nghĩa là tôi phải đóng vai ông lang băm, chưa qua một trường lớp huấn luyện nào cả. Ngay như câu “Cơm ba bát, thuốc ba thang” để chỉ ra tiêu chuẩn ăn cơm và uống thuốc, mà tôi cũng không theo được. Tôi chỉ cho em tôi uống hai thang, rồi phải đổi sang toa thuốc khác vì nghĩ rằng thời giờ quá cấp bách cho nên phải giảm đi số thang thuốc cần uống kẻo không kịp thì sao. Quí vị rành về Đông Y, xin đừng chấp ông lang băm này, quí vị nghe xong rồi bỏ. Cũng may là những ngày Sài-Gòn mới mất, thuốc bắc chưa đến nỗi khan hiếm lắm, cho nên còn đủ các vị thuốc mà tôi cần. Sự việc em tôi khỏi các chấn thương, có lẽ, là do quyền năng của Đức Mẹ Maria. Ngài đã đáp ứng lời khẩn cầu hằng ngày của mẹ tôi mà chữa lành cho em tôi. Đúng là “phước chủ, lộc thày.” Bệnh nhân vì có phước mà khỏi bệnh, nhưng ông lang băm lại được tiếng là mát tay.

    Trở lại việc em tôi bị kết án 5 năm tù, câu chuyện khó tin nhưng có thực. Đầu tiên là vợ của em tôi bị tụi công an huyện gọi ra điều tra. Chúng đưa lá thư ra và hỏi ai đã viết thư này cho tướng Trà. Vợ của Phái trả lời là chính cô ấy viết. Nó đưa giấy bút và đưa lá thư đó, bảo cô ấy viết lại y như vậy để nó xem nét chữ có giống nhau không. Trên lá thư, cô ấy đọc được mấy lời phê của tướng Trà rằng “Chính quyền địa phương phải giải quyết vụ này, không được làm mất chính sách của chính phủ Cách Mạng.” Nhờ vậy mà Phái được bọn Việt Cộng xã đưa ra giam ở huyện. Khi viết lại lá thư xong, chúng thấy đúng là chữ viết của cô ta; chúng quay qua điều tra hướng khác, rằng:
    - Ai đã chỉ dẫn cho chị viết lá thư này?
    - Có một anh bộ đội vào tiệm hình của tôi xem hình của khách mà tôi treo trên tường; tôi than thở với anh ta có cách nào giúp cho chồng tôi ra tù không; anh ta chỉ cho tôi cách viết và gửi thư, và tôi làm theo anh ta chỉ dẫn.
    - Chị có hình của anh bộ đội đó ở tiệm không?
    - Không, anh ấy chỉ vào xem hình rồi bỏ đi, không chụp hình nào cả.

    Chúng thấy không khai thác được gì, chúng cho vợ của Phái về. Mấy ngày sau, chúng vào tiệm hình và khám xét lung tung, cũng chẳng có chứng cớ gì thêm cho chúng. Tuy nhiên, chúng không chịu thua đâu. Chúng âm thầm bầy mưu tính kế để giết em tôi một cách “hợp pháp, không vi phạm chính sách của chính phủ Cách Mạng,” mà chỉ sau ngày xử án chúng tôi mới biết. Riêng tôi chỉ biết điều này sau khi đã được ra khỏi tù.

    Một tuần trước ngày xử án, mỗi buổi tối, xe phóng thanh đi khắp các ấp, kêu gọi mọi người phải đi dự phiên toà sẽ diễn ra ngày … tháng … “Toà Án Nhân Dân” là tiếng chúng dùng để giết người nhưng đổ thừa cho nhân dân xử án (không phải bọn chúng). Trong đám nhân dân, tụi nó gài sẵn một ít cò mồi, chia ra đứng rải đều trong đám dân chúng. Bọn cò mồi này sẽ hô “Đả đảo - Nhất trí …” để lôi kéo đám đông làm theo chúng. Ai đã từng xem phim “Chúng Tôi Muốn Sống” thời cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm thì biết rõ kiểu xử án này. Trong phiên toà có hai phạm nhân, một người phạm tội cướp của giết người; người thứ hai là em tôi, phạm tội “tham nhũng hối lộ, tàng trữ vũ khí bất hợp pháp, và hãm hiếp một thiếu nữ 16 tuổi nhiều lần trong ba năm liền do đơn tố cáo của nạn nhân [sic].”

    Chúng không thể xử em tôi về tội chống phá Cách Mạng, nếu làm vậy là đi ngược lại chính sách khoan hồng của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam. Công tố viên đọc tội trạng của từng người, sau đó yêu cầu toà xử tử hình cả hai. Kẻ phạm tội giết người thì mọi người đều “nhất trí”. Tới lượt em tôi, một bà trung niên người Miền Nam, sau này được biết tên bà là Nguyễn Thị Thơm (*) đứng ngay dậy xin có ý kiến trước khi bọn cò mồi kịp hô “nhất trí”. Khi được toà cho phép phát biểu, bà nói đại ý rằng:

    a) Về tội tham nhũng hối lộ, Phái chỉ là một Nghĩa Quân đảm trách chức vụ phó trưởng ấp. Nếu có tham nhũng thì cái tham nhũng của Phái cũng chỉ bằng hạt cát so với cái tham nhũng của một số tướng tá của quân “Ngụy” mà thôi. Nếu vì tội này mà Phái bị tử hình thì có lẽ phải xử tử tất cả những người kia trước đã. Vì thế, xin toà tha cho Phái tội này.

    b) Về tội tàng trữ vũ khí bất hợp pháp, bà không có ý kiến, xin để cho toà xét xử.

    c) Về tội hiếp dâm một thiếu nữ 16 tuổi nhiều lần trong ba năm liền thì thật là vô lý. Khi bị hiếp một hai lần đầu, tại sao không la lên ngay mà đợi cho đến bây giờ, ba năm sau mới la? Điều này chứng tỏ là có sự ưng thuận của đôi bên; cho nên kết án tử hình về tội này là không đúng.

    Khi bà vừa nói dứt thì dân chúng vỗ tay nhiều quá. Mấy người đứng xung quanh bà xúm lại công kênh bà lên để tỏ lòng khâm phục sự can đảm của bà. Đám cò mồi thấy vậy đành im re.

    Ghi chú: (*)Trong những bản đã phổ biến trước đây, tôi (tác giả) đã nói đôi điều không đúng về bà Thơm. Rất may là nhân dịp bà Thơm về Dallas, ghé thăm và ở lại nhà chú em tôi một ít ngày, tôi đã có hân hạnh gặp mặt bà tại nhà Phái vào ngày 08 tháng 5 năm 2010. Bà Thơm cho tôi biết rằng chồng bà là Thượng Sĩ Nhất Biệt Động Quân, tên là Đinh Văn Hoa và là cư dân huyện Thủ Đức. Mặc dù đã ngoài 80 tuổi, bà vẫn còn trí nhớ rất tốt và bà đã kể lại cho tôi diễn tiến phiên xử án năm đó. Những gì tôi viết trên đây là theo lời kể của bà.

    Được thể, một bà nữa – Bà Đoan, ở cùng ấp Tam Hà với chúng tôi, đứng lên nói tiếp, cũng cho rằng lời tố cáo Phái là hoàn toàn bịa đặt, xin toà cho Phái một cái án thật nhẹ. Dân chúng lại vỗ tay rầm rầm để hưởng ứng lời bà Đoan. Thấy vậy, bọn Việt Cộng vào nghị án lại, sau đó tuyên án Phái bị 3 năm cải tạo, còn người kia thì vẫn tử hình.

    Bọn Việt cộng mượn danh nghĩa nhân dân để giết người. Mà, bây giờ nhân dân không đồng ý thì chúng phải lùi một bước; lùi để sau này tiến mấy bước thì chưa ai biết. Theo sự thường thì, nhân dân trong cái gọi là Toà Án Nhân Dân thường là những người hiền lành, chất phác. Họ đến dự chỉ vì bắt buộc phải đến dự; số người hiếu kỳ, đến dự để thoả tính tò mò thì cũng có nhưng không phải là đa số. Đám dân chúng này đều là những người thụ động; họ bị lèo lái bởi đám cò mồi. Trong phiên toà xử em tôi, sự việc đã xảy ra không bình thường. Hai người dân đã đứng lên phản đối bản án với sự vỗ tay tán thưởng của cả đám đông. Vì thế, em tôi đã thoát khỏi bản án tử hình.

    Có một điều đặc biệt là, hai bà đứng lên bênh vực em tôi đều không có sự liên hệ gì với gia đình tôi. Bà Thơm ở thị trấn Thủ Đức trong khi gia đình tôi ở ấp Tam Hà, cách bà cả hai cây số. Động cơ nào đã thúc đẩy bà đứng lên bênh vực em tôi? Không ai biết. Sau vụ án này, bà bị làm khó dễ đủ điều. Khi bà nghe tin em tôi được tha đầu năm 1981, bà ghé nhà thăm hỏi em tôi một lần duy nhất nhưng không dám ở lâu, “chỉ đứng năm ba phút” rồi bà phải đi ngay. Em tôi vượt biển, sang Mỹ năm 1983 và định cư tại Dallas.

    Bà Thơm cũng sang Mỹ năm 1983 do con bảo lãnh, định cư ở Virginia. Tuy nhiên người này không biết rằng người kia cũng đã ở bên Mỹ rồi. Mãi tới năm 1992, bà Thơm về thăm Việt Nam, hỏi ra thì mới biết rằng Phái cũng đang ở Mỹ. Bà cho thân nhân của Phái số phôn của bà, và từ đó hai người thỉnh thoảng liên lạc với nhau.

    Người thứ hai là bà Đoan. Tuy là người cùng một ấp, cùng một giáo xứ, nhưng gia đình tôi chỉ biết bà, chứ không quen thân. Mà, nếu có quen biết nhau từ trước, gia đình tôi cũng không dám có ý định nhờ bà đứng ra bênh vực em tôi trước toà án. Tâm trạng của mọi người trong thời gian này đều hoang mang, sợ sệt. Lo sợ cho chính bản thân và gia đình mình còn chưa xong, thì tâm trí đâu mà lo lắng cho người khác? Ai muốn mang vạ vào thân lúc này? Vậy thì cái gì đã khiến bà tự ý đứng lên bênh vực em tôi? Không ai biết.

    Sau này, tôi thường nhắc em tôi rằng: “Hai bà ấy là người đã sinh ra chú lần thứ hai đấy; chú phải nhớ mà ‘sống thì tết và chết thì giỗ’ cho phải đạo làm người.” Năm 1987, khi đó tôi đã có mặt ở nhà; anh Sơn (bạn tôi, và ở cách nhà bà Đoan vài căn) tới chơi và cho biết: Bà Đoan mới làm đơn khiếu nại xã ấp về điện nước chi đó. Không ngờ tụi nó (Việt Cộng) thù dai thật! Nó bảo bà Đoan rằng: “Bà còn một tội to lắm đấy; bà có biết rằng vì bà mà chúng tôi không giết được thằng Phái không?”

    Vợ tôi kể, sau vụ án, mẹ tôi thường nói, đây là phép lạ của Đức Mẹ Maria. Chính Đức Mẹ đã xui khiến hai bà ấy nói ra như vậy. Tôi cũng có cùng ý nghĩ như mẹ tôi vì, nếu không thì, không có câu giải đáp cho câu hỏi về “nguồn động lực thúc đẩy” trên đây.

    Bây giờ trở lại chủ đề “Anh em gặp nhau”. Chúng tôi đang có vài ngày không lao động, ở nhà làm bài “thu hoạch”. Chúng tôi ngồi viết; viết chán thì ra ngoài đi lòng vòng cho đỡ căng thần kinh. Trong lúc tôi đang cặm cụi viết thì anh Liên (*) chạy vào cho tôi biết là có em tôi đang chờ ở ngoài hàng rào.

    (*)Liên là trung úy Pháo Binh, cũng là cư dân Thủ Đức nhưng không phải Tam Hà, mà là trại Bắc Ninh. Liên không cùng tổ với tôi, mà ở tổ bên cạnh. Chúng tôi thân nhau vì cùng binh chủng.

    Nghe Liên nói, tôi vội chạy ra hàng rào, chỗ em tôi đang chờ. Hôm nay, đội của Phái làm tạp dịch ở bãi đất bên ngoài hàng rào trại tôi. Anh em tay bắt mặt mừng. Phái nói:
    - Em bị kết án 5 năm (*), nhưng họ nói nếu lao động cải tạo tốt thì sẽ được về sớm.
    - Chú đừng tin tụi nó mà đi vào con đường làm hại bạn bè, đồng đội. Phải giữ gìn sức khỏe, đừng có cố sức mà chết uổng đấy.

    Ghi chú: (*) Bọn Việt Cộng thật là xảo trá và quỉ quyệt! Trong phiên toà, bọn chúng thấy khí thế của dân chúng lên cao cho nên chúng không dám kết án nặng, mà chỉ “ba năm cải tạo” thôi. Tới khi xong việc, dân chúng ai về nhà nấy rồi, chúng lại giở giọng, đổi thời hạn 3 năm thành ra 5 năm.

    Nhìn xuống dưới chân, tôi thấy em tôi đi đôi guốc tự chế, bằng hai miếng gỗ và miếng vỏ xe đạp làm quai. Tôi tháo đôi dép râu mà tôi đang mang, đưa cho Phái, rồi bảo em tôi chờ để tôi chạy về phòng lấy mấy viên thuốc Cloroquine (ngừa sốt rét). Tôi đưa cho Phái 10 viên Cloroquine và dặn khi nào tới vùng nước độc, mỗi tháng uống một viên để ngừa sốt rét ngã nước. Phái chỉ cho tôi khu nhà mà Phái (tù hình sự) đang ở. Chỗ chúng tôi đang đứng nhìn sang cũng khoảng 50 mét (hơn 150 ft). Hàng rào khu tù hình sự và hàng rào khu tôi được phân cách nhau bằng một ngã tư của hai đường đất đỏ tương đối lớn. Hai bên đứng nói chuyện với nhau thì khó vì thế tôi dặn Phái, mỗi buổi chiều sau giờ cơm, ra gần góc đường. Bên này, tôi cũng làm như vậy. Nếu cần nhắn gửi gì thì viết vào mẩu giấy, rồi cột vào cục đá, ném qua ném lại cho nhau. Chúng tôi tiếp tục liên lạc với nhau qua phương thức này chừng một tháng thì Phái bị chuyển trại, không biết đi đâu.

    Năm 1991, khi tới Dallas, anh em gặp lại nhau, Phái cho tôi biết: “Nhờ có mấy viên thuốc ngừa sốt rét anh cho, mà em thoát chết vì sốt rét đấy. Ở Long Giao được ít lâu, tụi nó chuyển bọn em lên trại Bù Đốp (Phước Long). Đội em chết gần một nửa vì sốt rét. Những người còn sống thì cũng dính sốt rét. Chỉ có em là không sao cả. Khi anh Lộc, bạn anh, được về, tới nhà tìm em và chuyển lời nhắn của anh rằng phải trốn ra nước ngoài càng sớm càng tốt. Thế là em tìm cách vượt biển ngay, rất may là đi một lần được trót lọt ngay. Nếu bị thất bại thì không biết sẽ ra sao?” Hiện giờ gia đình của chú em tôi đang ở Coppell, Texas (vùng Dallas). Không ngờ “tên hãm hiếp phụ nữ” này bây giờ đã trở thành bố của một linh mục, thụ phong năm 1999.

    (còn tiếp)

  9. #9
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    2.13. Chính sách 12 điểm
    Mười bài chính trị đã học xong, chúng tôi người nào cũng mong ngóng xem có dấu hiệu gì là sắp được về hay không. Chúng tôi vẫn đoán già đoán non ngày về của mình dựa vào sự tiếp tế gạo, vào các công tác xây cất, hoặc vào công việc trồng tỉa. Nhưng, mọi dự đoán đều sai bét.

    Một hôm, anh lán trưởng đem về một bản “Chính sách 12 điểm của chính phủ”. Chúng tôi chuyền tay nhau đọc để tìm hiểu xem nó là chính sách gì đây. Phải công nhận bọn Việt Cộng chơi chữ rất tài tình. Chẳng hạn chúng bảo “Mang theo tiền ăn và đồ dùng cho 10 ngày,” thì ai cũng nghĩ là thời gian “học tập” sẽ là 10 ngày. Đến khi quá hạn 10 ngày, có người thắc mắc thì chúng trả lời: “Chúng tôi bảo các anh mang theo tiền ăn 10 ngày, chứ chúng tôi không bảo các anh sẽ học tập 10 ngày. Các anh phải mang tiền ăn 10 ngày vì trong thời gian đầu, nhà nước chưa có khả năng lo cho các anh, các anh phải tự túc trong 10 ngày đầu. Sau đó thì nhà nước sẽ lo cho các anh; như vậy là lô-gíc rồi.”

    Nghe trả lời như thế, chúng tôi ngán ngẩm thở dài. Mắc lừa rồi! Hết thuốc chữa – No medicine! Chính sách 12 điểm này cũng vậy. Chúng dùng chữ rất khéo léo; khiến cho người nào đọc xong, cũng tự đánh giá tội trạng của mình dựa theo 12 tiêu chuẩn (điểm) của chính sách, và kết luận rằng, cứ coi như mình là loại nặng tội nhất, thì cũng chỉ 3 năm là được tha. Thôi thì ráng chịu đựng cho qua ba năm. Riêng anh Đào Ngọc Tỉnh thì vẫn giữ vững lập trường của anh: “Đây mới chỉ là mấy trang mở đầu thôi, sẽ còn những trang kế tiếp.” Thời gian đã chứng minh rằng anh Tỉnh có lý.

    2.14. Chuẩn bị chuyển trại
    Đầu tháng 5/1976, toàn trại có một đợt “biên chế” (sắp xếp lại nhân sự). Tất cả các bác sĩ được tập họp thành một nhóm và vài ngày sau được đưa đi nơi khác. Chẳng biết họ đi đâu. Bệnh xá cũng dẹp tiệm, không còn khám bệnh phát thuốc nữa. Nói cho oai vậy thôi, chứ thuốc đâu ra để mà phát? Nhưng dù sao, sự hiện diện của bệnh xá (nếu còn) cũng là một chút hy vọng cho những người yếu bóng vía.

    Tổ tôi có một anh mới được chuyển tới. Tôi không nhớ tên anh vì thời gian ở chung rất ngắn. Anh người miền Trung, cấp bậc đại úy, nằm cạnh tôi. Khi anh mới chuyển đến, anh còn đang bị cảm sốt. Con mắt của anh chứng tỏ anh là một người yếu thần kinh. Con mắt là cửa sổ của tâm hồn mà. Anh không ăn được cơm cho nên tôi thường chừa phần gạo của anh, đem về phòng nấu cháo và ép anh ăn (Thời gian này, tôi đang có nhiệm vụ nấu cơm cho đội). Khi nghe tin bệnh xá dẹp tiệm, anh càng tỏ ra lo sợ. Tôi luôn phải trấn an anh, rằng có bệnh xá thì anh cũng chẳng có thuốc mà uống đâu; vài ba viên xuyên tâm liên thì nhằm nhò gì. Rồi bệnh của anh cũng dần dần thuyên giảm và hết.

    Vậy mà anh đối lại với tôi thì khác. Chỗ nằm của chúng tôi, mỗi người chừng 55 cm (22 inches). Do đó, mỗi lần vài người bạn của tôi đến chơi, thường ngồi lấn sang phần nằm của anh. Lần đầu không sao, nhưng sang đến lần thứ hai thì anh dùng một que gỗ, đặt giữa ranh giới chỗ nằm của hai người. Thấy vậy, chúng tôi rủ nhau ra ngoài hè ngồi nói chuyện. Đúng là gặp thứ “thày chạy” rồi. Nói theo kiểu tiếng Tây lai căng, là phi-ní-lô-đỉa (Fini l’eau dire = hết nước nói)!

    Anh Đỗ Đình Quỳ (trong nhóm 5 người cùng đi trình diện với nhau) làm trong tổ lò rèn của trại. Quỳ cho biết, tổ lò rèn đã có lệnh ngưng mọi công tác sản xuất và chuẩn bị dẹp tiệm. Đây là dấu hiệu thứ hai, cho biết sẽ có một cuộc chuyển trại lớn sắp đến. Lợi dụng lúc rảnh rỗi, anh Quỳ làm cho tôi một cái kéo hớt tóc. Cái kéo trông không đẹp mắt nhưng rất sắc bén vì nó được làm bằng loại thép dẻo của “nhíp” xe quân đội (Thanh thép có độ dẻo, dùng để giảm xóc cho xe). Mỗi khi chuyển trại đều có khám xét đồ đạc cá nhân. Cái kéo là vật bén nhọn sẽ bị tịch thu ngay. Vì thế, tôi phải cột cái kéo trên cánh tay, gần sát nách để qua mặt bọn cán bộ khám xét. Cái kéo này đã là phương tiện giúp tôi trò chuyện riêng tư với bạn bè trước mắt bọn ăng-ten (chỉ điểm) trong thời kỳ hắc ám nhất ở Trại 5 (hồ Thác Bà, Hoàng Liên Sơn). Thời kỳ đó, dù ở cùng đội, cùng tổ mà ngồi nói chuyện riêng giữa hai người hơi lâu một chút là sẽ bị ăng-ten báo cáo ngay. Có cái kéo, khi tôi muốn nói chuyện riêng tư với ai, tôi chỉ cần lôi anh ấy ra, vít đầu xuống hớt tóc; thế là nói chuyện thoải mái. Tụi ăng-ten, dù có biết ý đồ của tôi, cũng chẳng có lý do chính đáng để báo cáo.

    Một số bạn cũ nhớ đến tôi cũng nhờ việc hớt tóc này; điển hình là anh Vũ Ngự Chiệu, hiện ở Houston, TX. Khi có số điện thoại của tôi, Chiệu gọi và nói rằng: “Khi nói đến Thái hớt tóc là tôi nhớ lại ngay hình dạng và cung cách của anh ngày ở Trại 5, vì tôi là khách hàng của anh mà.” Ấy vậy mà khi tôi e-mail cho anh tấm hình mới nhất của tôi, anh nói:

    “Thật không ngờ anh đã thay đổi nhiều quá! Nếu không được báo trước thì, tôi không thể biết người trong hình là anh đấy. Tôi bèn rà soát lại, từ trên trở xuống; bắt đầu từ tóc. Tóc anh bây giờ trắng phau trông như tiên ông, lại hói đầu nữa; ngày xưa anh đâu có hói. Anh lại đeo kính trắng, kết hợp với trán hói, trông có vẻ sa-văng lắm (tiếng Pháp, savant = thông thái). Khi nhìn tới cái miệng cười của anh thì thấy không thay đổi. Giả như anh không cười, thì chắc chẳng có gì là giống như xưa nữa. Hơn nữa, bây giờ anh phát tướng rồi; ngày xưa anh ốm tong ốm teo, bây giờ đầy đặn hẳn ra. Hai tay anh lại hơi khuỳnh ra như có vẻ đang kên xì-po (vênh mặt thách thức) người ta vậy.”

    Tôi trả lời anh:
    - Bây giờ tôi khác xưa là đúng thôi; ba mươi hai năm rồi chứ ít sao? (1976 – 2008). Hồi đó, sau khi hết mùa chặt nứa, tụi nó (Việt Cộng) kiểm tra sức khoẻ, tôi cân được 38 kg (84 pounds), hiện nay vì bị Đế quốc Mỹ bóc lột mà tôi cân được 132 pounds đấy. Trong những ngày chờ chuyển trại, chiều chiều chúng tôi, từng nhóm, ra đi dạo trên “Đại Lộ Thống Nhất”, đông như đi trẩy hội. Không biết là sẽ bị đưa đi đâu, và tương lai sẽ ra sao, nhưng trước mắt là có được một thời gian thư giãn, thì cứ hưởng đi đã, rồi tới đâu hay tới đó.



    Chương 3

    Chuyến tầu ra Bắc

    3.1. Lên xe
    Rồi chuyện phải đến đã đến. Hôm đó là ngày 25 tháng 6 năm 1976, chúng tôi vừa ăn cơm chiều xong thì có lệnh tập họp, mang theo đồ đạc cá nhân ra sân. Khi chúng tôi đã sẵn sàng, bọn quản giáo xuống, bắt đầu mục khám xét đồ đạc. Trước khi mang đồ ra sân, tôi chạy vội vào nhà cầu, cột cái kéo hớt tóc lên cánh tay, phía gần nách; sau đó mặc áo lại và theo đồng đội ra sân. Tôi đã qua mặt bọn quản giáo, giấu được cái kéo và mang nó theo. Công việc khám xét xong thì trời bắt đầu tối. Chúng tôi được chia ra từng nhóm 25 người. Tôi nghĩ ngay rằng tụi tôi sẽ được chở đi bằng xe Molotova, 25 người cho một xe, giống như ngày từ Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ về Long Giao. Bây giờ lại đoán mò; người thì bảo sẽ đi Katum (Phước Long); người thì bảo sẽ ra miền Trung v.v…

    Chừng 9 giờ đêm, đoàn xe tới. Mỗi nhóm 25 người lên một xe. Khi mọi người đã ở trên xe, tài xế và vệ binh kéo bạt phủ kín. Không khí chỉ vào qua mấy lỗ nhỏ trên nóc xe; chúng tôi bắt đầu cảm thấy ngộp thở; trong lòng mong cho xe mau chạy để có gió thổi, đưa không khí vào xe nhiều hơn. Chờ chừng hơn nửa tiếng, xe bắt đầu lăn bánh. Trời bên ngoài tối thui, xe lại bị che kín, chúng tôi chẳng biết đoàn xe đi hướng nào. Quá nửa đêm, xe từ từ ngừng lại; mui xe được vén lên; báo hiệu đã tới nơi. Nhìn ra ngoài thì thấy bến tầu Tân Cảng (còn gọi là New Port, trên sông Sài-Gòn), chúng tôi được lệnh xuống xe và sắp hàng, ngồi chờ. Cách chúng tôi chừng 200 mét (độ 700 ft) là con tầu biển mang tên Sông Hương, đang lừng lững trước mặt, như thể đang chờ để nuốt chúng tôi vào bụng của nó.

    3.2. Xuống tầu
    Trong đời tôi, chắc không thể quên được chuyến tầu có một không hai này. Dù đến nay đã 32 năm qua (1976 – 2008) mà như nó vẫn như mới xảy ra hôm nào đây thôi. Chúng tôi chờ chừng hơn một giờ thì được lệnh lên tàu. Lên tầu bằng một cầu gỗ rất hẹp và đung đưa rất dễ sợ. Đi trước tôi khoảng chừng mười người, có một anh (không rõ lý lịch), chẳng hiểu là anh ấy cố tình hay là vô ý, đã rớt xuống sông trong lúc anh đang ở giữa cầu. Một vài tiếng kêu nho nhỏ “Có người rớt xuống sông." Mặc dầu vậy, chúng tôi vẫn phải tiếp tục tiến về phía trước. Chẳng thấy có phản ứng gì về phía những người áp giải chúng tôi. Chúng tôi vào trong khoang tầu là chẳng còn biết gì thêm. Chắc hẳn anh đó đã thoát khỏi nợ trần ngay đêm hôm đó rồi!

    Tầu Sông Hương là tầu chở hàng nhưng tôi không biết nó có bao nhiêu khoang. Có người nói rằng tầu Sông Hương chở được ba ngàn người, như vậy nó có thể có 6 khoang. Mỗi khoang rộng chừng 15m x 15m (tương đương với 2.500 SF). Chúng tôi cứ bị dồn hoài, dồn hoài cho đến khi không còn nhúc nhích được nữa mới ngưng. Tôi ước chừng mỗi người chỉ được chừng gần 5 SF, tức là khoảng chừng 500 người cho một khoang tầu (2500 SF / 5 SF = 500 người). Chúng tôi chỉ có thể ngồi bó gối và dựa vào túi đeo lưng của mình. Không ai có thể duỗi chân thẳng ra được. Năm người chúng tôi ngồi cạnh nhau mới nghĩ ra một cách là gom tất cả đồ đạc của 5 người lại, xếp thành một hàng dọc chừng 5 FT, dùng để thay phiên nhau mà ngả lưng cho đỡ mệt. Bốn người còn lại thì ngồi tán gẫu cho quên đời, chờ đến phiên mình ngả lưng.

    Trong nhóm 5 người này, tôi còn nhớ được tên 4 người; đó là Thiếu Tá Đặng Ngọc Bách (khóa 7 Pháo Binh), Nguyễn Trãi (khóa 22 Pháo Binh), Nguyễn Xuân Thu (không rõ cấp bậc và binh chủng), và tôi - Nguyễn Văn Thái (khóa 14 Pháo Binh).

    Anh Bách là đàn anh của tôi; hai chúng tôi quen biết nhau từ trước. Tôi có một ít kỷ niệm với anh Bách trước khi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tan hàng. Khi Sư Đoàn 25 Bộ Binh thành lập thêm một Tiểu đoàn Pháo binh 105 ly thứ ba, tức sẽ là Tiểu Đoàn 253 Pháo Binh. Anh Bách về làm Pháo Đội Trưởng Pháo Đội Chỉ Huy. Tôi làm Sĩ Quan Truyền Tin và sau làm Quyền Sĩ Quan Hành Quân & Huấn Luyện của tiểu đoàn. Đầu năm 1970, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có kế hoạch thành lập Pháo Binh Diện Địa. Anh Bách được chọn làm Chỉ Huy Trưởng PB/Tiểu Khu Long An. Anh Bách rủ tôi sang làm phó cho anh ấy vì hai người đã hiểu nhau thì làm việc dễ dàng hơn. Tôi đồng ý.

    Rồi một hôm, anh Bách chở tôi lên Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 (Biên Hòa) gặp Đại Tá Hồ Nhựt Quan, khi đó đang làm Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Quân Đoàn 3, để xin ông cho tôi về làm phó cho anh Bách. Đại Tá Quan cho biết không có gì trở ngại. Thế là tôi bắt đầu công tác huấn luyện cho các quân nhân có lệnh thuyên chuyển về Pháo Binh Tiểu Khu Long An.
    Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 253 PB lúc này đang ở Chi Khu Bến Lức, có nhiệm vụ làm đơn vị “Mẹ” cho Pháo Binh/Tiểu Khu Long An. Tôi vừa làm công việc của TĐ253PB, vừa chuẩn bị cho Pháo Binh/Tiểu Khu Long An xuất quân.

    Đến ngày lễ xuất quân của PB/TK Long An, có Đại Tá Quan tới chứng kiến. Khi vừa bước xuống xe, ông gọi anh Bách lại nói nhỏ gì đó trong lúc tôi đang đứng trên bục điều khiển buổi lễ. Bất chợt, tôi liếc nhìn anh Bách, anh nhìn lại tôi và lắc đầu ra dấu có gì trục trặc rồi đây.
    Buổi lễ xuất quân diễn tiến không lâu. Khi vào hội trường dự tiệc liên hoan, anh Bách ghé tai nói nhỏ với tôi:

    - Việc của toa(*) không xong rồi, thằng Trung Úy Q. nó tiêu lòn(**) hay quá; nó đá toa văng rồi.
    - Thật vậy sao?
    - Chứ sao nữa?Thôi, toa ráng chờ dịp khác đi nhé.
    - Tôi đâu có ham chức phó mà chờ; tôi xin sang làm phó cho ông là để ông vui thôi; không được sang thì đâu phải do lỗi của tôi nữa. Thôi cứ coi như số phần nó như vậy. Tôi chỉ tức một điều là “Thằng còng làm, thằng thưỡn ăn”. Đáng lẽ ra, thằng Q. phải về đây lo chuyện huấn luyện binh sĩ và chuẩn bị lễ xuất quân chứ. Thế mà giờ này chẳng thấy mặt mũi nó đâu.

    (*) Anh Bách thường dùng tiếng “ toa – moa” ( Tiếng Pháp, toi – moi) để nói chuyện với tôi; còn tôi thì dùng “ông – tôi” khi nói chuyện với anh. Chúng tôi không gọi nhau bằng cấp bậc.

    (**) Tiêu lòn là tiếng lóng (slang) dùng trong quân đội Miền Nam trước đây để chỉ hành vi luồn lọt, nịnh bợ, hoặc đút lót/mua chuộc (bribe) cấp trên để xin xỏ một ân huệ nào đó.

    (còn tiếp)

  10. #10
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    Thêm một kỷ niệm nữa với anh Bách khi anh đang làm Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Tiểu Khu Long An.

    Lúc đó tôi đang làm Pháo Đội Trưởng Pháo đội A/TĐ253PB. Tôi có 3 trung đội, trong đó, Trung đội 3A do Trung Úy Nguyễn Văn Lắm làm Trung Đội trưởng, đóng tại Chi Khu Bến Lức, ngay cạnh Quốc Lộ 4. Trung đội 2A do Thiếu Úy Nguyễn Văn Đắt làm Trung Đội trưởng, đóng tại xã Lương Hoà (cũng thuộc Chi Khu Bến Lức). Tôi thường ở Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn (lúc này đã dời về Củ Chi) vì Trung đội 1A đóng gần Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn. Đôi khi tôi ghé Bến Lức ở với Trung đội 3A dăm ba ngày.
    Một hôm, tôi đang ở Bến Lức thì Thiếu Úy Đắt (Lương Hoà) gọi máy về xin đi phép. Trong pháo đội tôi lúc đó không còn sĩ quan có đủ khả năng thay thế Đắt vì đa số là họ mới ra trường hoặc mới mang lon thiếu úy. Nếu tôi cho một trong những người này tới thay Thiếu Úy Đắt, lỡ có chuyện gì xảy ra thì tôi lãnh đủ. Tôi nghĩ, chỉ còn có tôi vào thay cho Đắt là không sao cả. Kẹt một cái là, muốn vào Lương Hoà, phải đi bằng máy bay trực thăng; mà trực thăng giờ này kiếm đâu ra. Đường thủy thì cũng phải chờ mấy ngày mới có “mở đường” (đi lục soát và giữ an ninh giao thông) một lần mặc dù từ Bến Lức tới Lương Hoà chừng 5 -6 km (4 miles). Không hiểu sao khi đó tôi lại nổi máu anh hùng rơm, quyết định làm một chuyện thật nguy hiểm mà chẳng ai bắt buộc. Tôi gọi máy sang Chi Khu Bến Lức, hỏi về tình trạng con đường đất chạy cặp theo bờ sông vào Lương Hoà. Tôi hỏi họ, vào ban ngày (ban đêm thì khỏi nói) tụi Việt Cộng có hay xuất hiện dọc theo con đường đất vào Lương Hoà không. Họ cho biết ban ngày thì chưa khi nào thấy; vả lại ban đêm thỉnh thoảng Chi Khu cũng cho đi phục kích ở đó. Họ cho biết hôm nay cũng không thấy có dấu hiệu gì của Việt Cộng ở đó cả. Thế là tôi quyết định đi bộ một mình vào Lương Hoà. Xe Jeep và tài xế, tôi cho nằm chờ tại Bến Lức. Trước khi đi, tôi chỉ thị cho trung đội ở Lương Hoà cũng như ở Bến Lức, mỗi trung đội cho một khẩu đại bác hướng nòng về con đường tôi sẽ đi. Trong khi tôi đi, mỗi trung đội cử người lên đài quan sát, dùng ống nhòm theo dõi tôi đi (hai bên đường là đồng trống). Nếu thấy có người xuất hiện với vũ khí, hoặc khả nghi, tiến về phiá tôi thì tự động bắn để cho bọn chúng bỏ chạy và cũng để tôi chạy thoát thân; cứ bắn khỏi cần xin phép ai, tôi sẽ chịu trách nhiệm. Trên đường đi, tôi mặc bộ đồ trận, mũ lưỡi trai. Cây súng Colt 45 (.45 Colt pistol), tôi không dám đeo bình thường, mà dắt nó trước bụng để tránh cho Việt Cộng nhìn thấy. Tôi đi mất hơn một giờ thì vào tới Lương Hoà. Khi tới nơi, nghĩ lại thấy sao mà mình ngu quá! Có ai bắt mình phải làm như thế đâu. Tại sao không chờ vài ngày nữa có tầu mở đường, rồi đi theo vào đây thì có chết thằng Tây nào đâu? Đời lính, chậm đi phép năm mười ngày là chuyện nhỏ mà. Tôi tự chửi thầm rằng “Điếc không sợ súng, lỡ bị Việt Cộng cắt cổ thì vợ con mày thiệt thòi, chứ ai vào đây nữa, đồ ngu!”

    Trong khi tôi đang bực mình vì sự ngu xuẩn của mình thì, có tiếng Tiểu Khu Trưởng/Tiểu Khu Long An trên hệ thống truyền tin. Vị này có thói quen là mỗi khi có hành quân, ông bắt tất cả các đơn vị ở dưới đất phải vào tần số liên lạc của ông trong lúc ông đang bay C&C (Command and Control). Thiếu Úy Đắt đang bắn (một khẩu thôi) theo sự điều chỉnh pháo binh của ông ấy. Tôi nghe ông ấy gọi về rằng: “Gần lại mười (mét), bắn hiệu quả.”

    Ủa! sao lại có cái kiểu “gần lại mười” thế này? Về trái, hay về phải mười (mét) thì được, nhưng “ xa hơn” hay “gần lại mười” thì không thể được. Khi điều chỉnh về tầm xa thì, con số nhỏ nhất được phép là 50 mét mà thôi.
    Vì thế tôi bảo Thiếu Úy Đắt đưa máy cho tôi, và làm bộ như không biết người điều chỉnh là ông ấy, tôi nói: “Pháo binh không có cái kiểu điều chỉnh về tầm xa mười mét; Tôi sẽ bắn hiệu quả cho anh theo yếu tố cũ.”

    Hệ thống truyền tin rè rè mà không thấy ông ấy lên tiếng. Chắc ông ấy quê độ (mắc cở) với các đơn vị bộ binh ở dưới đất. Thiếu Úy Đắt tiếp tục bắn thêm mấy quả nữa rồi thôi. Vài bữa sau, Thiếu Tá Bách gọi tôi, bảo tôi sang tần số nội bộ để nói chuyện riêng. Anh hỏi tôi:
    - Hôm nọ toa làm gì mà xếp “Tặc giăng nổi giận” vậy?
    Tôi kể lại sự việc cho anh Bách nghe. Anh nói:

    - Xếp bảo moa ký giấy phạt “thằng Trung Đội Trưởng” ở Lương Hòa vì lý do vô lễ với thượng cấp. Moa đoán là chỉ có toa, chứ thằng Đắt thì làm sao nó dám liều mạng như vậy được?
    - Thế rồi ông tính sao?
    - Dễ thôi; moa làm giấy phạt toa 7 ngày “trọng cấm” (*); rồi gửi cho xếp một bản để xếp vừa lòng. Moa không để (giấy phạt) trong hồ sơ của toa đâu.
    - Cám ơn ông. Ông ấy thích dợt le với thuộc cấp, ra cái điều ta đây giỏi điều chỉnh pháo binh. Công việc điều chỉnh pháo binh là của thằng Sĩ Quan Liên Lạc PB; còn việc nói trong máy truyền tin là của thằng âm thoại viên. Đằng này, ông ấy ôm lấy cả hai việc một lúc. Đã thế lại không rành về phương pháp điều chỉnh PB nữa.
    - Ai chả biết vậy, nhưng đôi khi toa cũng phải “tránh voi chả xấu mặt nào” chứ; ai lại phạng thẳng thừng như vậy. Thôi nhé, trở lại tần số liên lạc bình thường nghe.

    (*) “Trọng cấm” là một hình thức phạt nặng đối với hàng sĩ quan.

    Trở lại chuyện đi tầu ra Bắc; khi tầu cập bến Hải Phòng, anh Bách và tôi bị phân tán, mỗi người đi một nơi. Cho đến gần cuối năm 1978, tôi gặp anh Bách một lần ở bờ hồ Thác Bà trong khi đội của anh đi lao động ngang qua chỗ chúng tôi đang vác gạo từ phà vào kho của trại. Từ đó đến nay, không biết anh ở phương trời nào nữa. Về Nguyễn Xuân Thu cũng vậy, khi lên cảng Hải Phòng là bị phân tán và từ đó không có tin gì của Thu nữa. Hôm gặp Nguyễn Trãi trong ngày Đại Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị tại Garland, TX, ngày 4 tháng 10, 2008 vừa qua, Trãi nói: “Em còn nhớ rõ, anh dặn hai đứa tụi em (Trãi & Thu) phải đứng sát với nhau để khỏi bị xé lẻ; nhưng xui cho thằng Thu là, khi sắp hàng để phân chia từng nhóm 50 người thì em lại là người thứ 50, thằng Thu thứ 51, cho nên nó bị tách sang nhóm sau. Đúng là người tính không bằng trời tính.” Nguyễn Trãi bây giờ đang ở Houston, trong người mang đủ thứ bệnh, trông già trước tuổi. Đến nỗi con gái út của tôi (cùng đi dự Đại Hội) đã phải thốt lên:
    - Sao trông chú Trãi lại già hơn ba vậy?
    - Tại vì lúc nào chú ấy cũng chịu khó làm việc, không có lười biếng như ba đâu. Cũng vì tính siêng năng mà, ở trong tù, thời gian đi chặt nứa, chú ấy đôi khi còn làm vượt chỉ tiêu nữa. Vì thế nó đã ảnh hưởng nhiều tới sức khỏe của chú.

    Sáng sớm ngày 26/6/1976, tầu hụ còi và rời bến. Khi tầu ra tới biển, chúng tôi tìm cách đoán xem tầu chạy hướng nào. Ngày đầu chưa ai xác định được hướng tầu chạy. Sang ngày thứ hai thì nhờ có ánh mặt trời, chúng tôi đã biết biết chắc là bị đưa ra Bắc rồi. Mỗi sáng, Việt Cộng thòng vòi nước xuống cho chúng tôi lấy nước. Mọi người phải tận dụng chai lọ, ca cóng của mình để chứa nước uống trong ngày. Sau nước tới màn thực phẩm. Thực phẩm chủ yếu là mì gói mà bọn Việt Cộng lấy được trong kho của mấy chú ba Tầu Chợ Lớn. Hình như có một ngày chúng phát lương khô Trung Cộng mà chúng gọi là lương khô tổng hợp. Việt Cộng đứng trên miệng khoang tầu, ném các thùng đồ ăn xuống để chúng tôi chia nhau. Nhìn cảnh này tôi có cảm tưởng rằng mình giống như mấy con gấu chó ở vườn Bách Thảo Sài Gòn đang được dân chúng ném đồ ăn xuống hầm cho chúng vậy!

    Khoang tầu có một cầu thang đi lên boong tầu. Ở lưng chừng cầu thang, Việt Cộng hướng dẫn tụi tôi kê một cái thùng phuy (200 lít – 50 gallons) dùng làm nơi tiêu và tiểu; khi thùng gần đầy thì chúng bắt tụi tôi đem lên boong đi đổ. Đi đổ phân hôi rình mà nhiều người tình nguyện đi đổ bởi vì muốn được lên boong tầu cho tầm mắt được mở rộng.

    Đi cầu là cả một vấn đề! Khoảng cách tối đa từ chỗ mình ngồi tới chỗ đi cầu là 15 mét (50 ft) nhưng muốn tới được đó cũng mất ít nhất là 20 phút vì phải lách tránh những người khác. Những người không may mà phải ở phía dưới "cầu tiêu" thì thường phải hứng nước tiểu rớt xuống đầu. Thấy tình cảnh này, tôi không dám ăn uống nhiều , chỉ ăn cầm chừng để được sống qua mấy ngày đi biển. Nước cũng không dám uống nhiều, tuy nhiên việc đi tiểu thì dễ giải quyết hơn, bằng cách dùng bao ny lông, sau khi xong thì mở nắp bao ny lông cho nó chảy từ từ xuống hầm sàn tầu. Tầu chở hàng thường có phần trống ở dưới sàn tầu để chứa nước, tránh cho hàng khỏi bị ướt khi có nước tràn vào. Nhờ vậy mà trong ba ngày bốn đêm (?) tôi không phải đi cầu lần nào cho tới khi...


    3.3. Lên bờ
    Tầu Sông Hương đã đến Hải Phòng. Tuy nhiên, chúng tôi không được lên bờ tại bến cảng chính – nơi có nhiều tầu thuyền ngoại quốc ra vô – vì chúng (Việt Cộng) không muốn cho ai biết việc chúng đưa chúng tôi ra Bắc. Hải Phòng có nhiều bến phụ, dùng cho tầu bè loại nhỏ. Những bến này thường vắng vẻ.

    Khi lên bờ, tôi chỉ thấy có duy nhất là chiếc tầu Sông Hương chở chúng tôi mà thôi. Chỗ lên bờ của chúng tôi là bến Hạ Lý (theo sự hiểu biết của một số anh đã từng sống ở Hải Phòng trước năm 1954). Chúng tôi lên bờ lúc đó vào khoảng 9-10 giờ đêm. Bước chân lên bến là chúng tôi thấy một đoàn công an đã chờ sẵn. Bọn công an này rất nặng về phần trình diễn: Đứa nào cũng mũ "kết", đồ bốn túi ủi láng coóng, giầy đen thấp cổ bóng lộn (có lẽ kiến bò cũng phải trượt té, giống như thời kỳ chúng tôi còn học ở quân trường). Rồi mỗi đứa lại dắt theo một con chó bẹc giê to tổ chảng, so với vóc dáng của mấy tên công an thì chẳng cân xứng tí nào cả. Chúng đứng cách nhau độ 20 mét (60 ft), mặt gườm gườm như đang muốn ăn thịt tụi tôi vậy. Có đứa thì mặt cứ vênh lên, ra cái điều ta đây. Tôi nghĩ có lẽ vì mặc cảm tự ti cho nên chúng phải cố làm ra cho có vẻ ta đây cũng văn minh như ai, đâu có dép râu “như tụi bay tưởng”.

    Một tên công an cầm loa phóng thanh, nói lớn:
    “Chào mừng các anh đã đặt chân lên Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa. Lúc nữa các anh sẽ được làm thủ tục nhập cảnh.”

    Uả! Sao lạ vậy? Cùng một nước Việt Nam mà lại có màn lập thủ tục nhập cảnh nữa à? Sau này mới hiểu ra “thủ tục nhập cảnh” của tụi nó có nghĩa là chích ngừa. Chúng tôi chẳng ai biết là ngừa cái gì nữa. Trên bến có một số bàn kê sẵn, có y tá mặc áo choàng trắng ngồi chờ sẵn. Bọn chúng cho chúng tôi ngồi thành hàng, mỗi nhóm là 100 người, sẽ tới bàn chỉ định để chích ngừa. Tôi chẳng biết đó là thuốc ngừa bệnh gì; trong lòng nghĩ thầm rằng, không chừng nó lại chích cho mình một loại thuốc độc nào đó; thuốc không giết mình ngay nhưng dần dần sẽ có tác dụng lên cơ thể thì sao? Chỉ có trời biết! Đến bây giờ , tôi còn sống nhăn răng thì chắc đó không phải là thuốc độc rồi.

    Sau màn chích ngừa, chúng tôi được phát mỗi người một bịch ny-lông, trong đó có hai trái chuối tiêu (chuối già) nhỏ, một củ khoai lang luộc và ba tờ giấy bản (loại giấy xấu nhất, màu vàng khè, dùng để lau chùi). Chúng cho bọn tôi đi tiêu, đi tiểu ở một hố dài (giống như giao thông hào) đã đào sẵn ở gần bến tầu mà tôi thấy đã có dấu phân mới, chắc là của những chuyến tầu trước. Qua mấy ngày không đi tiêu, tôi bị bón nặng, rặn hết sức cũng không được. Cuối cùng tôi phải nhờ "chị năm" (bàn tay năm ngón) giúp tôi moi từng viên nhỏ bằng hạt bắp, cứ thế cho đến khi hết "hạt bắp" thì phần còn lại mới từ từ ra được. Tôi thở phào nhẹ nhõm vì đã trút được một gánh nặng. Người ta bảo “Thứ nhất tắm sông, thứ nhì ỉa đồng,” nhưng tôi chẳng cảm thấy cái thú ỉa đồng lúc này vì tâm trạng đâu có yên ổn, phải cố gắng làm sao cho “công việc” chóng xong kẻo đang dở chừng mà nó thổi còi tập họp thì khổ lắm.

    Khi mọi người đã xong xuôi, bọn công an kêu tập họp, rồi phân chia từng nhóm 50 người (đủ cho một toa xe lửa) để chuẩn bị đi tiếp. Chúng tôi đi bộ chừng 15 phút thì ra tới chỗ xe lửa đậu, và chúng tôi lên xe. Một số bạn cùng đi chuyến tầu với tôi thì nói khác. Anh Nguyễn Quang Ngọ kể rằng khi tầu cặp bến, tù lên bờ và ngay lập tức, tù được chia từng nhóm nhỏ và chuyển sang loại tầu há mồm loại nhỏ (có người gọi là phà). Sau đó tầu nhỏ chở tù đi tiếp trong một con sông nhỏ, cũng mất khoảng trên một giờ thì cặp bến; tù lên bờ và làm các thủ tục như đã kể trên. Anh Vũ Ngự Chiệu và Dương Ngọc Phú kể rằng tầu Sông Hương không cặp sát bến, mà đậu ở ngoài xa. Tù được chuyển xuống xà lan, rồi xà lan đưa tù vào bờ. Thậm chí xà lan cũng không vào sát bờ được; tù phải lội một quãng rồi mới lên bờ được. Anh Phú nói rằng anh có một kỷ niệm khó quên trong lúc anh lội vào bờ như sau: Trong lúc đang lội, một cái dép Nhật (loại dép bằng cao su xốp, có quai hình chữ V ngược) bị kẹt dưới bùn, anh quay lại mò mẫm tìm dép; nhưng dép của mình không thấy, mà lại vớ được một cái dép râu (làm bằng vỏ xe hơi mà bọn Việt Cộng gọi là dép Bình-Trị-Thiên), chắc là của người nào đó đi chuyến trước bị mất. Thôi thì dép râu cũng được, miễn là có dép. Anh Võ Tấn Tài và Nguyễn Tiến Xuyên thì kể lại sự việc lên bờ giống như trường hợp của tôi, nhưng giờ giấc lên bờ thì khác nhau. Các anh lên bờ sớm hơn tôi. Nên nhớ rằng đằng sau mỗi bến, cách độ 70 – 100 mét (200 – 300 ft) là có đường rầy xe lửa, và xe lửa đã chờ sẵn ở đó để chở tù.

    Sao lạ vậy? Cùng một chuyến tầu mà mỗi người kể lại khác nhau. Có vô lý không? Không đâu. Lý do là vì tầu Sông Hương chở trên dưới ba ngàn người, tạm coi như có sáu khoang (chỉ phỏng đoán thôi); mỗi khoang chừng 500 người. Mấy bến tầu phụ không đủ chỗ tiếp nhận một lúc ba ngàn người. Vì thế, bọn Việt Cộng chỉ cho một khoang (500 người) lên một bến, rồi lại cho 500 người kế tiếp lên một bến khác. Cứ thế cho đến khi đổ hết tù lên bờ thì tầu Sông Hương quay trở về Miền Nam chở chuyến kế tiếp.

    (còn tiếp)

  11. #11
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    Chương 4
    Hồ Thác Bà, Yên Bái, tỉnh Hoàng Liên Sơn

    4.1. Hồ Thác Bà
    Đêm đã gần về sáng, chúng tôi được dẫn đi bộ từ chỗ chích ngừa tới chỗ xe lửa đang đậu, đi mất chừng 15 phút là tới. Chúng tôi bị dồn lên các toa xe lửa chở súc vật; trong toa xe còn dính bê bết phân bò, mùi hôi nồng nặc. Chúng tôi ngồi trên sàn tầu vì toa chở súc vật làm gì mà có ghế. Tầu chạy dằn qua xốc lại, chúng tôi phải ráng mà bấu víu vào nhau cho khỏi té. Cửa lên xuống không bị đóng lại nhưng có một tên vệ binh đeo súng đứng ngay tại cửa; có lẽ hắn đứng đó là để tránh phải ngửi mùi phân bò trong toa tầu. Hai bên hông toa, ở phía trên cao, có mấy ô trống nhưng không đủ gió lùa vào để đẩy mùi xú uế ra ngoài; không khí thật là ngột ngạt và khó thở.

    Xe lửa chạy, tờ mờ sáng thì tới ga Gia Lâm (gần Hà Nội) rồi dừng lại. Mỗi toa được lệnh cử hai người đi lãnh đồ ăn trong ngày cho cả toa. Đồ ăn gồm có bánh mì, thịt chà bông (Miền Bắc gọi là ruốc) và đường trắng. Xe chạy tiếp. Trên toa xe lửa tôi đi, có một anh bị bí đường tiểu tiện mấy ngày liền cho nên anh đi không được, anh vừa bò vừa kêu la thảm thiết vì tức bọng đái. Hai người bạn anh phải cho anh quàng tay vào vai rồi dìu anh lết đi. Bọn lính áp giải chẳng có hành động nào để giúp anh, mà chỉ nói “Ráng khắc phục, tới nơi tập trung sẽ được chữa.” Xe lửa ở Việt Nam là loại tồi tệ nhất thế giới, nó dằn xóc kinh khủng, càng làm cho người bệnh đau đớn hơn. Sau khi hết chặng đường đi bằng xe lửa, tôi không hiểu người bệnh đó nhập với nhóm nào và đi về đâu. Không hiểu anh có qua khỏi cơn ngặt nghèo ấy không, hay là bị bể bọng đái và đã gửi xác đâu đó ở Miền Bắc rồi?

    Xe chạy tiếp, đến trưa thì tới ga Yên Bái. Chúng tôi xuống xe và được dẫn đi bộ một quãng phố tương đối dài. Bọn Việt Cộng đã dàn dựng sẵn một màn kịch, cho dân chúng đứng đầy hai bên lề đường để nhìn rõ mặt bọn “Mỹ-Ngụy”. Cứ cách vài ba chục mét, lại có một du kích gái (mượn chữ của Việt Cộng), tay cầm súng lăm lăm như muốn ăn tươi nuốt sống chúng tôi. Đám dân chúng, đủ cả già trẻ lớn bé, vừa la hét, vừa chửi bới, vừa ném đá vào chúng tôi. Một vài người trong bọn tôi bị trúng đá, u đầu sứt tai, ráng mà chịu trận. Nhục nhã quá! Nghĩ tới một câu mà tôi cùng đồng đội thường hát ở quân trường năm xưa, “Ta anh hùng, đời đời Lục Quân Việt Nam” mà tủi thân quá! Bây giờ đâu còn “ta anh hùng” nữa, mà là một đoàn người ôm hận “thất trận” đang lầm lũi đi giữa trưa nắng dưới con mắt canh chừng của những kẻ được coi là “người thắng trận”. Tôi đưa tay lên quệt nước mắt nhưng nếu người ngoài nhìn thấy, thì sẽ tưởng rằng tôi vuốt mồ hôi vì đang đi bộ giữa buổi trưa. Tôi đang mang tâm trạng con cọp bị nhốt trong cũi sắt của Thế Lữ:
    ………………………………………
    Còn đâu những đêm vàng bên bờ suối,
    Ta say mồi, đứng uống ánh trăng tan.
    ……………………………………….
    Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu!

    Quãng đường đi bộ cũng khá dài; vì thế bọn chúng để rải rác hai bên đường mấy vại nước vối (nấu bằng lá cây vối, người bình dân Miền Bắc thường dùng để uống thay cho nước trà). Rồi chúng tôi tới một bãi đậu đầy xe Molotova, đang chờ sẵn để chở chúng tôi. Mọi người lên xe và được chở tới nhà máy thủy điện Thác Bà. Tới đây thì trời đã gần tối, chúng tôi ngủ lại qua đêm quanh khu vực nhà máy thủy điện (có lẽ là đêm 30/6/1976).

    Sáng hôm sau, chúng tôi xuống bến ca-nô cạnh nhà máy thủy điện. Ca nô chạy trên hồ Thác Bà chừng 3 – 4 tiếng thì táp vào bờ, chúng tôi bắt đầu đi bộ, leo dốc và leo dốc để hơn một giờ sau thì ngừng lại tại mấy lán (căn nhà dài) mới được ai đó dựng lên sơ sài bằng tre và nứa. Lán chỉ có mái và sạp ngủ bằng nứa, xung quanh còn trống trơn. Ai đã từng ở miền quê ngoài Bắc thì, thoạt nhìn mấy cái lán này là nghĩ ngay đến mấy dẫy nhà bán hàng ở những chợ quê khi xưa. Họ cho biết đây là nơi lập trại của chúng tôi (Trại 5).

    Chúng tôi được chia ra làm 5 nhóm, mỗi nhóm 50 người ở vào một lán, tổng cộng là 250 người. Chúng tôi nhận phần “cơm” trưa, thực ra là ngô (bắp) tẻ, có màu vàng mà nhìn xa thì cứ nghĩ là “Hôm nay nhà nước chào mừng tù Miền Nam bằng xôi đậu xanh.” Khi đến gần thì mới bật ngửa ra, đó là bắp tẻ (bắp nếp có mầu trắng và dẻo hơn). Ở đấy mà ham! Xôi với chẳng xôi! Ăn “xôi đậu xanh” xong, chúng tôi cùng nhau sắp xếp chỗ ngả lưng, chuẩn bị cho một giấc ngủ mà chắc chắn là phải thoải mái hơn những ngày ngồi tầu, đi xe. Đây là đêm đầu tiên tại Trại 5, Liên Trại 4, thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn, có lẽ là đêm 01/7/1976. Hầu hết người nào cũng ngủ như chết sau mấy ngày di chuyển mệt mỏi.

    Khi tôi tỉnh dậy thì trời đã gần sáng, chim rừng kêu inh ỏi trên sườn núi ngay phía bên kia đường mòn (đường ở vùng này chỉ vừa đủ rộng cho một người đi). Trong số những tiếng chim kêu, có một loại mà tôi nghe như là “bắt vô trói cột”. Tôi thầm nghĩ tới thân phận mình, đúng là mình bị tụi nó “bắt vô trói cột” rồi, hết đường cựa quậy! Một số bạn tù khác thì lại diễn giải tiếng chim kêu đó như là một lời nhắn nhủ “khó khăn khắc phục”. Thôi thì “bắt vô trói cột” hay “khó khăn khắc phục” cũng đều là những điều chẳng tốt lành gì cho chúng tôi cả! Tôi tự nhủ, hãy chuẩn bị tinh thần để đối phó với những cay đắng và khắc nghiệt sắp tới.

    Vị trí nhốt tù ở bờ hồ gồm có 3 trại là 3,5,và 7. Trại tôi ở là Trại 5, nằm giữa Trại 3 và Trại 7. Tôi đứng ở Trại 5 có thể nhìn rõ Trại 3 và Trại 7. Trại 5 gần với Trại 7 hơn; đứng ở Trại 5, tôi có thể nghe được tiếng nói lớn ở bên Trại 7. Nói về vị trí cao thấp thì, Trại 7 ở cao nhất, kế đến Trại 5, rồi đến Trại 3. Cả ba trại nằm dọc theo bờ hồ, ngay dưới chân một dẫy núi đá tai mèo; đá có mũi nhọn hoắt và rất sắc; sườn núi dốc đứng. Từ hàng rào trại tới chân núi cách nhau chừng trên năm chục mét (gần 200 ft). Chúng tôi đi chặt cây, đốn nứa về làm nhà đều phải leo lên dẫy núi này, leo cao cỡ chừng hơn trăm mét thì hết dốc đứng, có thể đi lại trên đó tìm cây để chặt.

    Mấy tháng sau, Trại 5 dời sang một vị trí khác ở phía bên kia bờ hồ. Có lẽ là ba trại ở liền nhau quá, không đủ rộng cho ba trại canh tác. Cuối năm 1978, Trại 5 lại dời vị trí một lần nữa, trở ngược lại khu vực chúng tôi đã dựng trại khi mới ra Bắc. Tuy nhiên, lần này chúng tôi nhập chung với thành phần còn lại của Trại 3, đang chờ chúng tôi ở đó để chuẩn bị di chuyển về Vĩnh Phú trước khi bọn Tầu "cho một bài học." Cả ba Trại 3,5, và 7 thuộc Liên Trại 4, Đoàn 776. Sở dĩ Việt Cộng gọi tên là đoàn 776 vì nó được thành lập tháng 7/1976 để quản lý tù Việt Nam Cộng Hòa từ Miền Nam chuyển ra.

    Ba trại nằm trong phạm vi xã Cẩm Nhân, Yên Bái, tỉnh Hoàng Liên Sơn. Lương thực và thực phẩm do Liên Trại 4 cấp phát. Chúng tôi phải đi khiêng về. Thời gian đi từ trại tới liên trại mất chừng hai tiếng đồng hồ. Lúc đi thì không sao nhưng khi trở về thì thật là vất vả. Hai người khiêng một bao gạo 45 hoặc 50 ký (100 - 110 pounds), đi trên một quãng đường núi gập ghềnh dài 6 – 7 cây số (4 – 5 miles) là một điều khó khăn đối với chúng tôi. Sau chuyến khiêng gạo đầu tiên, hầu hết mọi người đều bị sưng ở bàn chân và nhất là ở hai mắt cá chân. Người nào cũng đi cà nhắc; có người bị nặng quá phải chống gậy mới đi lại được. Chúng tôi phải xin dầu nóng của bạn bè để thoa bóp cho đỡ đau. Do đó ngày hôm sau chúng tôi phải khai bệnh để được nghỉ ở nhà. Những lần khiêng gạo kế tiếp thì tình trạng đau chân giảm đi dần dần vì lâu ngày chân cẳng của chúng tôi đã thích nghi được với hoàn cảnh khó khăn của mình.


    4.2 . Vị trí đầu tiên của Trại 5
    Những cái lán (dãy nhà), do ai đó vừa mới dựng sẵn để tiếp đón chúng tôi, rất là sơ sài. Lán chỉ có hai mái và một dãy sạp ngủ; tất cả đều bằng tre nứa trên rừng. Nếu trời mưa to gió lớn thì mọi người sẽ bị ướt như chuột ngay. Ấy là chưa kể đến gió rét vì lán không có vách che. Vì thế, công việc trước mắt là phải làm lại nhà ở ngay.

    Ngay sáng ngày hôm sau (2/7/76), cán bộ quản giáo tới chỉ thị cho đội tôi (và đội nào cũng thế) phân công lên núi chặt cây về cất nhà. Chúng tôi được phát mỗi người một con dao tông (một loại dao dùng để chặt cây, dài cỡ 15”, bản rộng cỡ 2.5” và nhỏ dần đi về phía chuôi dao, có cán sắt liền với thân dao). Mỗi người được phân công khác nhau. Người thì phải chặt cây làm cột, người thì chặt cây làm kèo, người thì chặt cây làm xà ngang, người thì chặt nứa làm mái lợp, vách che xung quanh và sạp ngủ. Nói chung, tất cả vật liệu cất nhà đều bằng cây rừng, không có lấy một cọng kẽm hoặc một cái đinh.

    Một anh bạn mà tôi không nhớ tên, đã nói đùa (nói nho nhỏ để tụi nó khỏi nghe) một cách cay cú, nhái theo một bài học chính trị ở Long Giao, rằng: “Đúng là đất nước ta tiền rừng, bạc biển nhỉ; rừng cho ta tất cả; đâu có tốn đồng xu nào mà bọn mình cũng có dinh thự ở, thấy chưa? Đảng là số một mà!”

    Tôi được giao cho việc chặt mấy cây vầu về làm nóc nhà và làm đà cho sàn ngủ. Vầu còn được gọi là luồng (thuộc chủng loại nứa nhưng to lớn, đường kính gốc cây trung bình từ 3.5” đến 4”. Thứ này có nhiều ở cao tuốt trên núi. Chiều cao của cây từ 10 đến 15 mét (30 – 45 ft). Tôi phải chặt cho cây đổ xuống, chặt bỏ bớt phần ngọn vì nó mỏng dễ bị dập; chỉ lấy đoạn gốc dài chừng 6 mét (18 -20 ft). Mỗi ngày, tôi chặt hai cây mà cũng phải vất vả lắm mới đưa nó về tới trại được.

    Đường đi xuống là dốc đá lởm chởm, cây cối chằng chịt, mà cây luồng thì dài. Do đó tôi phải lựa cho cây luồng luồn lách qua đám cây rừng. Có những chỗ, tôi phải đứng ở trên cao, lao cho cây luồng phóng xuống phía dưới, rồi mon men leo xuống chỗ cây luồng vừa rơi. Công việc phóng luồng (những người khác thì phóng cây) này rất nguy hiểm cho những bạn tù xung quanh. Trước khi phóng luồng, chúng tôi phải hô lớn vài ba lần “Coi chừng cây xuống, coi chừng cây xuống,” rồi nhìn cho kỹ mới dám phóng cây xuống. Cẩn thận như vậy mà tôi nghe nói bên Trại 3 có người bị thương đấy. Trại 5 tụi tôi, bị thương thì không có nhưng đôi lần có người chết hụt chỉ trong gang tấc.

    Công việc cất nhà mất khoảng mười ngày mới xong. Trong thời gian này, trại tôi có hai người chết (hình như đều là cấp trung tá); một chết vì ăn trái cây độc trên rừng, có lẽ vị này không phải là lính tác chiến, chưa từng học về mưu sinh thoát hiểm, thấy trái cây là ăn bừa phứa cho nên lãnh đủ. Kinh nghiệm cho biết rằng, trái cây rừng mà chim ăn được thì người ăn không sao. Còn vị kia, nghe nói là vì quá thất vọng nên đã uống thuốc tự tử.

    Hết làm nhà thì quay sang làm hàng rào vây xung quanh trại; tù tự dựng rào nhốt mình. Đúng ra thì hàng rào ở đây chỉ là làm cho có lệ vì tụi Việt Cộng biết chắc rằng chẳng cần hàng rào chúng tôi cũng không trốn đi đâu được. Về cách xưng hô, bọn Việt Cộng bắt chúng tôi gọi tụi nó bằng “cán bộ” từ thằng nhỏ tới thằng lớn. Còn xưng hô giữa tù với tù, chỉ có hai tiếng “anh” và “tôi”, ngoài ra không được dùng các cấp bậc cũ hoặc các danh xưng như ông, chú, bác v.v… để gọi nhau. Bọn chúng kỵ nhất là gọi nhau bằng bác vì dường như chúng muốn biến chữ “bác” thành độc quyền cho ông cố nội của tụi nó, đang nằm chình ình trong “lăng” ở Ba Đình. Lệnh là như vậy nhưng trong chỗ riêng tư, chúng tôi vẫn có cách xưng hô với nhau để thích ứng với hoàn cảnh này. Chúng tôi gọi xếp cũ hoặc những người đáng kính bằng “ông thày, hay thày”; các linh mục thì gọi là “bố hoặc cụ”; các người lớn tuổi hơn được gọi là bác (theo nghĩa Bắc Kỳ, là anh mà những người đã có vợ con thường dùng để xưng hô với nhau). Tóm lại, chúng tôi xưng hô với nhau tùy theo tình cảm và hoàn cảnh riêng của từng người.

    Bản đồ vị trí ba trại:
    Trại 3, Trại 5, và Trại 7 khi mới ra Bắc

    Nguồn: Google Maps/Satellites, được ghi chú thêm bởi tác giả.
    Tháng 11/2009

  12. #12
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    4.3. “Cán bộ đi đái/đi ỉa.”
    Nhà cầu thường làm cách xa khu nhà ở chừng 50 mét (hơn 150 ft). Ban ngày thì không sao nhưng ban đêm đi lạng quạng thì dễ bị ăn đạn AK-47 của lính gác. Vì thế, bọn chúng chỉ thị là ban đêm, mỗi khi muốn đi tiêu hoặc đi tiểu, tù nhân phải đứng ở cửa buồng hô lớn “Báo cáo cán bộ, tôi đi ỉa,” hoặc “Báo cáo cán bộ, tôi đi đái.” Tụi tôi nghĩ mà ấm ức trong lòng nhưng phải chịu cái kiểu báo cáo đó. Riết rồi có anh nghĩ ra sáng kiến là cắt xén lời báo cáo thành ra là “Cán bộ đi đái,” hoặc “Cán bộ đi ỉa.” Câu báo cáo bây giờ mang ý nghĩa khác hẳn ý nguyên thủy: Cán bộ đi ỉa, chứ không phải tù nhân đi ỉa đâu nhé. Ban đêm, lính gác nghe ba chớp ba nhoáng cũng chẳng để ý đến sự khác biệt về ý nghĩa này. Mà, nếu nó có hoạnh họe thì mình vẫn trả lời tỉnh bơ là “Tôi có báo cáo cán bộ đàng hoàng nhưng có lẽ tôi nói nhanh, cán bộ không nghe kịp đấy thôi.” Trả lời như vậy cũng ổn, nó chẳng làm gì được mình. Tôi chưa từng nghe nói đến trường hợp nào bị hạch hỏi về lối báo cáo trên.

    Trong cảnh tù đầy, cũng có lúc mình được làm “cán bộ” chứ dở sao. Đó là lúc tù đi ỉa hoặc đi đái.


    4.4. “Cải tạo gì, tù đấy.”
    Quản giáo đội tôi là Trung Úy Phòng, giọng nói có vẻ là dân Bùi Chu hoặc Thái Bình vì những tiếng nói ngọng, như con trâu thành con tâu; làm việc thành ra nàm việc…

    Một hôm có màn khám đồ đầu tiên khi chúng tôi ở Miền Bắc, lúc Phòng khám đến anh Đức, hắn thấy anh Đức có cỗ tràng hạt, hắn nói nhỏ với anh Đức “Anh dấu cái lày (này) đi, đừng để người ta thấy.” Anh Đức lợi dụng cơ hội, hỏi Phòng xem bọn chúng tôi sẽ phải “học tập cải tạo” ở đây bao lâu thì được về với gia đình; Phòng nói: “Cải tạo gì, tù đấy, hãy gìn giữ sức khỏe.”

    Sau đó anh Đức kể lại cho tôi biết việc này. Hai chúng tôi đoán rằng Phòng gốc là người Công Giáo, tới tuổi phải đi lính (Việt Cộng gọi là đi nghĩa vụ quân sự) rồi lên tới trung úy, chứ không phải là Cộng Sản rặt. Dân vùng Bùi Chu và vùng Thái Bình giáp với Bùi Chu, phần lớn là Công Giáo mà.

    Cũng cần nói thêm là mục đích lần khám đồ này là để tịch thu tất cả thuốc Tây của chúng tôi để “dùng cho bệnh xá của trại” vì khẩu hiệu “Một người vì mọi người; mọi người vì một người.” Chúng giải thích, “Thuốc của các anh thì dùng cho các anh; ai có bệnh thì bệnh xá sẽ dùng số thuốc này để chữa cho họ.” Câu giải thích nghe có vẻ hợp lý lắm nhưng thực tế thì ai kiểm soát được số thuốc đó? Bọn chúng đang đói thuốc Tây; nhìn thấy thuốc Tây là đứa nào cũng sáng mắt lên; thuốc mất là cái chắc, khỏi cần phải đoán.

    Sau màn tịch thu thuốc Tây, chừng ba tuần sau, chúng ra lệnh tập trung tất cả đồng hồ và vàng bạc, lập danh sách và giao cho trại giữ. Chúng áp dụng biện pháp này là để phòng ngừa chúng tôi dùng nó làm phương tiện trốn trại. Tôi phải nạp một cái đồng hồ Citizen hai “cửa sổ” (có ô chỉ ngày trong tháng và ngày trong tuần), một sợi giây chuyền vàng đeo Thánh Giá, và một nhẫn cưới. Những món này được chuyển giao cho Trại Vĩnh Quang B khi chúng tôi được bàn giao cho công an giam giữ; và chúng đã trả lại khi tôi làm đơn xin lấy lại nhân dịp vợ chồng bà chị Cả (Miền Nam là chị Hai) của tôi ra thăm ở Vĩnh Quang B. Tôi không bị mất món gì. Đồ đạc của những bạn tù khác thì tôi không biết ra sao.

    Việt Cộng khám xét kỹ như vậy mà vẫn có người qua mặt được bọn chúng đấy; người đó là anh Điều. Anh Hoàng Viết Điều (khóa 23 Pháo Binh), mới đây, kể với tôi rằng anh không nạp đồng hồ cho tụi nó, mà giữ lại cho tới khi về Trại Vĩnh Quang B thì anh lén gửi vợ của một người bạn (nhân dịp thăm nuôi) đem về cho gia đình. Tôi hỏi “Bằng cách nào mà tài vậy?”

    Anh giải thích:
    -Dễ thôi. Em bỏ đồng hồ vào cái lon (sữa bò) đựng xà bông, ở phía trên đồng hồ là một cục xà bông tắm. Cục xà bông này dùng làm đồ ngụy trang, không bao giờ dám xài. Mỗi khi có khám xét đồ, em rưới một ít nước vào cục xà bông cho nó ướt, làm như thể mình vừa mới xài cục xà bông này vậy. Hộp xà bông để ngay trước mắt tụi nó nhưng không khi nào chúng nó nghi ngờ gì cả. Khi vợ của một người bạn ra thăm nuôi, em nhờ anh bạn này mang hộp xà bông theo để “tắm rửa” và đã qua mặt được tụi công an trại dễ dàng.

    Nhân đây, tôi nói thêm đôi chút về anh Điều. Điều và tôi đã có thời gian cùng ở Sư Đoàn 25 Bộ Binh nhưng khác tiểu đoàn. Điều ở Tiểu Đoàn 251 Pháo Binh, tôi ở Tiểu Đoàn 253 Pháo Binh. Vậy mà tôi chỉ biết Điều khi hai người cùng ở một đội với nhau tại Trại Vĩnh Quang B. Điều và Phạm Ngọc Quế (khóa 24 Võ Bị Đà Lạt) là một cặp bài trùng. Hầu như suốt thời gian ở tù (7 năm), hai người luôn luôn ở chung với nhau. Hai anh có mối thân tình từ khi chưa đi tù vì ở cùng một xóm. Điều có bàn tay rất khéo, anh đã tự làm một cái muỗng ăn cơm bằng một miếng i-nốc lượm lặt ở Long Giao mà nếu không biết thì ai cũng nghĩ rằng nó là một cái muỗng đúc. Điều mắc bệnh bao tử, vì thế anh rất kỹ trong việc ăn uống. Suốt thời gian ở chung với Điều, chưa bao giờ tôi thấy Điều kiếm chác cái này cái kia để ăn thêm như tôi đâu (Việt Cộng gọi là cải thiện linh tinh). Hôm nào phải ăn bắp (ngô) thì Điều coi như bị mất ngủ. Chúng tôi ăn vèo một cái là hết phần bắp của mình. Điều thì trái lại, anh ngồi rỉ rả bóc vỏ từng hạt bắp trước khi cho vào miệng nhai. Khi anh ăn xong phần bắp của mình thì cũng là lúc kẻng báo thức đi làm buổi chiều. Buổi tối thì nhiều khi kẻng đi ngủ (9:00 giờ tối) mà anh vẫn chưa ăn hết phần bắp của mình. Tôi nằm cách anh một người (chừng 2 ft) mà còn nghe được tiếng bóc vỏ lách tách và tiếng nhai nhóp nhép của anh (vì đêm khuya yên ắng cho nên âm thanh vang xa). Những lúc như vậy, tôi phải cố gắng giỗ giấc ngủ cho mau để tránh phải nghe những âm thanh mà nó có ma lực đánh thức cái bao tử lép xẹp của mình. Hiện giờ, anh Điều và gia đình đang ở Carrollton, Dallas, Texas; cách nhà tôi 1 giờ lái xe. Phạm Ngọc Quế cũng ở Carrollon, TX, và cách nhà Điều chừng 15 phút lái xe. Ở trong tù, hai anh vẫn giữ được một lối sống rất là tư cách cho nên không ai có thể chê trách hai anh được điều gì cả. Ngay như quản giáo cũng không có ác cảm với hai anh vì hai anh rất khéo “nín thở qua sông” (là thành ngữ mà bọn Việt Cộng hay dùng khi phê bình về thái độ của tù nhân).


    4.5. Vài sự kiện
    250 người ăn một con gà toi. Chừng hai tuần sau khi đến Bắc (Trại 5/Liên Trại 4), một buổi sáng sớm, Ban Chỉ Huy trại kêu nhà bếp cho người lên lấy thực phẩm. Đó là một con gà chết vì cúm, nặng chừng 1 kg (hơn 2 lbs) mà bọn Việt Cộng không thèm ăn; thay vì quẳng đi thì chúng đưa xuống cho tù ăn. Nhà bếp vặt lông sạch sẽ rồi băm nhuyễn ra, sau đó trộn vào một thau muối hột (chừng 5 kg – hơn 10 pounds) màu vàng khè vì chưa được tinh lọc. Muối và gà bằm được đem xào lên cho thịt gà đủ chín. Thế là hôm đó tụi tôi được ăn thịt gà – món gà bằm xào muối - mỗi người được hơn một muỗng canh. Mỗi khi trại cho ăn thịt hoặc cá, Việt Cộng gọi là “có tươi.” Món gà bằm xào muối này cũng là “có tươi” đấy!

    Câu ếch. Nội quy trại nào cũng có mục “Cấm cải thiện linh tinh,” tuy nhiên việc áp dụng chặt hay lỏng tùy thuộc cá tính của quản giáo và, nhất là, của đội trưởng (người tù được Ban Chỉ Huy trại chọn lựa). Những ngày đầu, chúng tôi không bị o ép nhiều cho nên việc tìm kiếm đồ ăn thêm tương đối thoải mái. Hết giờ làm việc, chúng tôi tìm mọi cách để kiếm bất cứ thứ gì có thể ăn được để có thêm chất đạm cho cơ thể. Người thì câu cá, người thì câu ếch, kẻ thì bắt dế. Câu ếch tương đối dễ ăn hơn vì nước hồ Thác Bà, khi có mưa, thường dâng cao ngập tới chân hàng rào nứa quanh trại. Ếch thường núp trong các bụi rậm quanh hàng rào, đứng trong hàng rào chỉ cần thò cần câu ra chừng 1 mét (hơn 3 ft) là có thể câu được rồi. Cần câu ếch cũng không đòi hỏi tinh xảo như cần câu cá, chỉ cần một cái que nhỏ trên đầu cột một sợi dây câu (bằng chỉ của bao cát), lưỡi câu thì làm bằng kim băng hoặc kẽm nhỏ là được, mồi câu thì lại càng dễ nữa: chỉ cần bứt vài bông hoa màu vàng là ăn tiền rồi. Nhờ vậy mà một số người có ếch nhái ăn lai rai. Tôi không có tay câu ếch, cứ bị sảy hoài, mười lần giật may ra trúng được một lần. Tuy vậy cũng có cái hay là giúp mình quên đi nỗi lo lắng về bản thân cũng như gia đình trong chốc lát.

    Ăn thịt dơi nướng. Chiều chiều, lúc trời nhá nhem tối, dơi bay ra từng đàn, chao tới đảo lui trong sân trại. Tôi nghĩ ra cách bắt dơi để ăn thịt. Cơ thể tôi (và cũng như của mọi người) bây giờ cần có chất đạm; bất cứ con gì nhúc nhích cũng có thể ăn được. Tôi lấy một cây nứa nhỏ, dài chừng 2 mét (6 ft); tôi đập ngọn cây nứa và xòe nó ra như những nan quạt giấy bằng cách đan mấy que ngang để giữ chúng ở vị thế cái quạt giấy xòe ra. Đó là vũ khí bắt dơi của tôi. Đứng ở sân, tôi chờ cho đàn dơi bay ngang rồi giơ cây nứa lên đập. Cứ tưởng là dễ bắt nhưng không phải vậy đâu vì dơi tránh né rất tài tình. Tuy vậy, mỗi lần ra tay cũng bắt được vài con. Một anh bạn, rành về cách ăn thịt dơi, chỉ cho tôi lối làm thịt dơi không hôi như sau: Khi lột da dơi xong, phải lấy cục hoi ở nách dơi ra; mỗi nách dơi có một cái hạch nhỏ như hạt gạo, có mầu hơi nâu, cắt bỏ nó đi là thịt dơi sẽ thơm ngon. Tôi làm theo chỉ dẫn của anh; sau đó dùng que tre xiên con dơi vào, rồi đem nướng. Con dơi sau khi đã lột da, trông không khác gì một con chim sẻ. Thịt dơi nướng lên, có mùi thơm phức. Có lẽ là cơ thể mình đang thiếu chất đạm, nên mình cảm thấy mùi nó thơm. Không hiểu lúc tôi đang viết những dòng này, thực phẩm ê hề, thì thịt dơi nướng như vậy có còn thơm nữa không?

    Viết thư lần đầu. Ở được một tháng thì chúng tôi được phép viết thư về gia đình với lời dặn dò rằng “Trong thư, các anh không được cho gia đình biết nơi các anh đang ở.” Tôi suy nghĩ mãi, cố tìm cách nói sao để gia đình có thể biết được rằng tôi đang bị giam ở Miền Bắc. Ai đã ở tù đều biết rằng thư viết xong bỏ vào phong bì nhưng không được dán lại. Quản giáo sẽ đọc kiểm duyệt trước, nếu không vi phạm thì hắn sẽ dán phong bì lại và cho chuyển thư đi. Tôi chấp nhận rủi ro: một là để cho gia đình biết nơi bị giam, hai là thư bị xé bỏ. Nếu bị xé bỏ thì đợt gửi thư sau cũng được viết tiếp, chỉ chậm hơn bạn bè một đợt thư thôi. Vì thế, ở góc trên bên phải tờ thư, tôi ghi dòng chữ hơi nhỏ hơn bình thường và cũng không đậm nét như bình thường: “Hoàng Liên Sơn, ngày…tháng…”. Nhưng trong phần nội dung thư thì tuyệt nhiên “tuân giữ lệnh trên”, không hề đả động gì đến nơi giam giữ cả . Nộp thư cho quản giáo xong, mấy ngày sau tôi không thấy hắn nói gì đến thư. Tôi chờ cho đến khi nhận được thư gia đình gửi tới, báo rằng đã nhận được thư của tôi. Thế là tôi yên tâm vì mục đích đã đạt được.


    4.6. “Không cứu người chết đuối.”
    Chuyện xảy ra trong tháng thứ nhất ở Trại 5. Một hôm, anh Nguyễn Văn Cử (đại úy Quân Cảnh) và anh Nguyễn Trãi (đại úy Pháo Binh, hiện ở Houston, TX) được chỉ định đi lấy cây về cất nhà. Cả hai anh đều bơi giỏi cho nên rủ nhau bơi qua bên kia bờ hồ, dễ kiếm cây hơn và tránh phải leo núi. Trãi kể rằng: Hai người đều có một cái thùng đạn đại liên (cỡ 12” x 8” x 7”) mang theo để bỏ áo quần vào trong, vừa làm phao bơi, vừa tránh cho quần áo khỏi bị ướt. Cử chết không phải là do "bị vọp bẻ" đâu, mà do Cử sơ ý khi đóng nắp thùng đại liên đựng quần áo. Cử đã vô ý, để cho một cái vạt áo (?) mắc kẹt giữa cái nắp và cái thành trên của thùng đạn, khi bơi được một chút thì nước ngấm vào thùng đạn theo cái vạt áo đó, thùng đạn bây giờ đầy nước cho nên đã kéo anh Cử chìm xuống và chết đuối.

    Khi vớt được xác Cử lên thì thấy rằng cái thùng đại liên được cột chặt vào người của Cử; do đó Cử không thể gỡ bỏ thùng đạn ra để thoát hiểm được. Khi Trãi thấy Cử chìm khá lâu thì nghi rằng Cử bị vọp bẻ và chết đuối; Trãi nhìn quanh thì thấy có một người đàn ông trung niên đang chèo bè nứa gần đó, anh kêu cứu nhưng ông ấy trả lời là “Không cứu người chết đuối.” Có lẽ là, dân địa phương ở đây tin rằng khi thủy thần đã bắt người nào đó phải chết đuối mà nếu ai cứu người đó, thì chính người cứu sẽ bị thế mạng. Thấy tuyệt vọng, Trãi chạy về trại báo cáo để trại cho người ra tiếp cứu.

    Sau này, tôi gặp lại Nguyễn Trãi ở Houston năm 2006, Trãi cho biết thêm rằng: “Em rất lo sợ sau cái chết của anh Cử. Em bị trại gọi lên ‘làm việc’ nhiều lần vì họ nghi cho em đã âm mưu ám hại anh Cử vì lý do chính trị. Căn cứ vào lời hỏi cung thì em đoán rằng Cử là người đã hoạt động cho cộng sản từ khi anh ta còn đang là đại úy Quân Cảnh trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Bọn nó nghi ngờ rằng em đã biết hoạt động bí mật của Cử trước đây, và bây giờ em lợi dụng thời cơ này để ám hại Cử.” Đây chỉ là suy đoán của Trãi thôi, chưa chắc đã phải như vậy.

    Ngày còn chế độ Việt Nam Cộng Hòa, bọn Việt Cộng (bị nhốt trong các trại tù Miền Nam) thường thanh toán đồng bọn của chúng khi biết được người này “phản đảng, làm tay sai cho Mỹ-Ngụy.” Bây giờ chúng nghĩ rằng chúng tôi cũng có lối hành xử như bọn chúng. Vì thế, mỗi khi có sự chết chóc (như trường hợp anh Cử) hoặc đánh lộn gây thương tích nặng (như trường hợp của tôi ở Long Giao), thì chúng phải điều tra cho ra ngọn nguồn. Đó là điều dễ hiểu thôi.
    (còn tiếp)

  13. #13
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    4.7. Trốn trại
    Một tháng sau khi đến đất Bắc, Trại 5 có một vụ trốn trại đầu tiên. Người trốn trại nằm cạnh tôi, là anh Trần Văn Cả (đại úy, khoá 10 Thủ Đức, binh chủng Pháo Binh).

    Buổi chiều trước khi trốn trại, sau khi ăn cơm xong, anh Cả khều tôi ra xa và nói nhỏ với tôi rằng đêm nay anh sẽ trốn trại. Anh cho biết là anh sẽ đi cùng ba người nữa gồm hai người ở Trại 3 (cách Trại 5 độ chừng 500 mét – 1/3 mile), còn anh và anh Vân thì ở Trại 5. Anh Vân, cấp bậc thiếu tá, khoá 14 Thủ Đức, lúc đó đang làm trong đội nhà bếp nên đã dấu được một ít muối để dùng khi trốn trại. Anh Cả nhờ tôi, đúng 12 giờ đêm thì đánh thức anh dậy để tới điểm tập trung đúng hẹn.

    Tôi không hiểu lý do gì đã khiến anh Cả dám thổ lộ kế hoạch trốn trại với tôi. Vì tôi có đeo đồng hồ (lúc này chưa bị thâu giữ) để báo cho anh biết giờ giấc? Vì tôi là người Công Giáo, đáng tin cậy? Hay vì tôi nằm sát anh, lỡ có gì mà tôi hô hoán lên thì cuộc trốn trại sẽ bị đổ bể? Tới lúc viết bài này, tôi vẫn chưa có câu trả lời.

    Thời gian đầu, bọn tù chúng tôi được phân công vào rừng chặt cây, chặt nứa về làm nhà ở và hội trường. Tù nhân đi từng nhóm và không có vệ binh canh giữ. Vì thế tù nhân của ba trại (3, 5, và 7) thường gặp nhau trong rừng khi đi chặt cây. Đó là cơ hội thuận tiện để anh Cả liên lạc và sắp đặt kế hoạch trốn trại với hai người bạn ở bên Trại 3.

    Đêm hôm trốn trại, tôi phải thức trắng vì phải tỉnh thức để canh giờ gọi anh Cả dậy. Tôi chắc rằng anh Cả cũng không thể ngủ được nhưng vì anh không có đồng hồ nên phải nhờ tôi báo giờ. Khoảng 11:30 đêm, tôi nhắc anh chuẩn bị. Anh xếp ít quần áo lên chỗ anh nằm và lấy mền phủ lên, làm như có người đang trùm mền mà ngủ để nếu có vệ binh vào lán rọi đèn kiểm soát sẽ không phát hiện ra sự vắng mặt của anh. Đúng 12:00 đêm, tôi bấm tay anh để báo đã đến giờ hành sự. Hai người nắm chặt tay nhau một lúc để ngầm nói lời từ biệt nhau. Một chút xúc động đến trong tôi, lo lắng cho số phận của anh không biết sẽ ra sao, biết đâu khi anh vừa chui ra khỏi rào thì bị phát giác và… tôi không dám nghĩ tiếp. Rồi, anh biến.

    Từ lúc anh ra khỏi chỗ nằm, tôi phập phồng lo sợ. Tự thâm tâm, tôi ước mong sao cho việc trốn trại của anh được trót lọt. Tôi cũng thầm cầu xin Thượng Đế đừng để cho tên vệ binh nào vào lán kiểm soát chúng tôi. Tôi rất mừng vì trời đã gần sáng mà không thấy động tĩnh gì, cả ở Trại 5 cũng như bên Trại 3. Tôi nghĩ nếu hai anh bên Trại 3 bị đổ bể thì thế nào tôi cũng nghe được tiếng súng báo động từ Trại 3.

    Tôi đợi cho đến lúc có kẻng báo thức, tôi làm bộ thức dậy như thường lệ và hô lớn cho cả lán đều nghe “Có người trốn trại, có người trốn trại!” Đội trưởng (tôi quên tên) chạy tới chỗ tôi và biết chắc là anh Cả đã trốn trại. Đội trưởng phải vội vã lên Ban Chỉ Huy trại báo cáo sự việc.

    Năm ngày sau, chúng tôi chứng kiến 4 tù nhân bị trói đi ngang qua doanh trại tiến về phía Ban Chỉ Huy trại. Nhóm trốn trại đã bị bắt lại và bọn cai tù giam họ biệt lập với chúng tôi. Được ít lâu sau thì nghe nói nhóm trốn trại đã được đưa đi trại khác, và tôi không biết gì thêm cho đến năm 2005… Tình cờ tôi đọc được một bài viết của Huy Phương nói về anh Trần Văn Cả. Tôi được biết thêm là anh Cả còn trốn trại thêm hai lần nữa và cũng ly kỳ hơn lần trốn trại ở Trại 5 . Nhờ số điện thoại do Huy Phương viết trong bài, tôi gọi cho anh Cả nhưng anh không còn nhớ gì về người đã từng canh giờ cho anh. Tôi phải nhắc lại một số sự kiện trước và trong khi trốn trại, anh mới nhớ và nhận ra tôi. Độc giả nào muốn biết thêm về hai lần trốn trại sau của anh Cả, xin vào www.tvvn.org, chọn Diễn Đàn, chọn Quân Lực VNCH, chọn Ngũ hổ tướng….Vinh danh QLVNCH, chọn trang 4, Chân dung một H.O.: Trần Văn Cả.


    4.8. “Đừng trốn trại, chúng tôi khổ lắm!”

    Sau khi cuộc trốn trại thất bại của nhóm anh Trần Văn Cả, chúng tôi vẫn vào rừng chặt cây về sử dụng như thường, vẫn đi tự do trong rừng mà không có vệ binh canh gác. Vì thế việc gặp dân và nói chuyện với họ cũng thoải mái. Dân ở đây gồm có hai thành phần. Một, là dân tộc thiểu số (Tầy/Nùng, hoặc Mèo). Những người này nói tiếng Việt không rành và họ cũng ngại tiếp xúc với chúng tôi vì bị Việt Cộng tuyên truyền xuyên tạc. Hai, là những người Kinh (miền xuôi) bị chỉ định cư trú sau khi họ được ra khỏi tù. Những người này gồm những người giầu có và những quân nhân công chức trước 1954 phục vụ cho chính quyền Quốc Gia Việt Nam; nhưng sau Hiệp Định Genève (20/7/1954), vì một lý do nào đó mà họ không di cư vào miền Nam Việt Nam, ở lại Miền Bắc để “lãnh cái búa” của Hồ Chí Minh và bè lũ. Những người này thì rất thương cảm hoàn cảnh tù tội của chúng tôi, khi có dịp họ cũng thích chuyện trò với chúng tôi.

    Một hôm, vài người trong nhóm đi chặt cây rừng gặp một người dân (người Kinh, bị chỉ định cư trú). Người này cho biết rằng mỗi khi có tù trốn trại, dân trong vùng rất khổ sở vì phải ngưng tất cả mọi công việc thường ngày để tập trung nỗ lực đi tìm bắt kẻ trốn trại, phải tìm bắt cho bằng được thì mới trở lại công việc thường ngày được. Vì thế ông ta khuyên chúng tôi không nên trốn trại vì địa thế vùng này không thể trốn thoát đâu, mà còn làm khổ cho dân chúng quanh đây nữa, “các ông đừng trốn trại, chúng tôi khổ lắm!”

    Những người dân trong vùng, sau một thời gian, đã biết lịch trình đi lãnh thực phẩm của chúng tôi. Từ trại đi lên xã Cẩm Nhân chỉ có một con đường mòn duy nhất, họ biết chắc chúng tôi phải đi trên con đường ấy. Cho nên có khi thì mấy trái chuối, có khi thì nắm cơm nếp, khi thì mấy củ khoai lang luộc được kín đáo để bên vệ đường và họ làm bộ đi ngược chiều với chúng tôi để khi tới giáp mặt chúng tôi, họ nói nhỏ cho chúng tôi biết có đồ ăn dấu ở phía trước. Công việc này phải làm kín đáo vì khi đi lãnh thực phẩm, luôn luôn có vệ binh đi kèm. Nếu sơ sẩy thì lại xôi hỏng bỏng không.


    4.9. Ăn “nhộng ong”
    Khi mới ra Bắc, Trại 5 ở cùng dãy với Trại 3 và Trại 7, một bên là hồ Thác Bà, một bên là dãy núi đá tai mèo lởm chởm và sắc cạnh. Khi đi rừng chặt cây, vừa ra khỏi trại là phải leo những dốc núi cao 4 - 5 chục mét (150 ft) để đi sâu vào trong. Càng đi sâu càng phải leo cao hơn. Chặt cây trên núi đá đã là khó khăn, mà đem cây về trại còn khó khăn hơn nhiều. Hôm nào phải chặt cây dài thì đem cây xuống rất vất vả vì cây bị vướng vít tứ phía rất khó xoay trở. Nhiều khi phải thả cây xuống từ trên cao 2 - 3 chục mét (100 ft), nếu không la lớn để báo động cho những người xung quanh thì rất dễ gây tai nạn chết người. Trại tôi chưa xảy ra tai nạn chết người vì thả cây nhưng suýt chết thì có.

    Hàng ngày có một tổ (10 hoặc12 người) được chỉ định đi đào sắn (khoai mì) về cho nhà bếp. Phía bên kia bờ hồ bạt ngàn là những đồi sắn do ai đó đã trồng từ lâu, cây sắn trung bình cao khoảng 3 mét (10 ft), thân cây to cỡ bắp tay người lớn, chứng tỏ rằng sắn đã trồng hơn hai năm rồi. Vì không ai làm cỏ cho nên cỏ cao ngập đầu người, muốn nhổ sắn phải vạch cỏ ra cho trống gốc sắn thì mới nhổ được. Từ trại phải dùng bè nứa bơi sang bên kia bờ hồ (rộng chừng 1 km, tương đương 0.6 mile). Chúng tôi đã phải làm sẵn những cái bè bằng cây luồng. Tùy theo cây luồng lớn nhỏ, một cái bè cần chừng 7, 8 cây luồng dài độ 4 mét. Hai người đi chung một bè để đỡ mất sức chèo, và để có người tán gẫu trong khi chèo bè. Chỉ tiêu cho mỗi người là hai sọt sắn một ngày, sọt cũng do mình tự đan và đựng được chừng 35 – 40 pounds sắn. Có khi chỉ nhổ hai gốc sắn là đủ một sọt rồi.

    Khi đi lấy sắn, luôn có một vệ binh chịu trách nhiệm canh gác tù nhân. Tuy nhiên vì biết chắc chúng tôi không thể trốn được cho nên vệ binh thường đi theo chúng tôi ra tới bờ hồ, đợi cho mọi người lên bè ra khơi là hắn xách súng đi chơi cho tới chiều hắn mới trở về đón chúng tôi và dẫn vào trại. Nhổ sắn thì không khó nhưng hay gặp phải ong vàng. Cỏ cây um tùm rất thích hợp cho ong làm tổ, tổ nào cũng to tổ chảng, đường kính từ 10 inches đến 15 inches. Ngày đầu có một vài người bị ong chích sưng mặt mũi vì đụng vào tổ của chúng. Về sau rút kinh nghiệm là phải coi chừng xem có tổ ong nào ở quanh chỗ nhổ sắn trước khi nhổ.

    Tôi nhớ ra rằng ong rất sợ khói. Mỗi khi thấy một tổ ong, tôi dùng đầu củi đang cháy, thổi tắt ngọn lửa đi, nó sẽ cho khói. Tôi cầm cây khói và khom người đi từ từ về phía tổ ong, ong ngửi mùi khói là rủ nhau bỏ tổ bay ra xa. Chờ cho chúng bay đi hết, tôi giật mạnh cho tổ ong rơi ra. Thế là tôi đã có một ngày khá nhiều chất đạm. Mang tổ ong ra đống lửa có sẵn (Khi lên đồi sắn việc đầu tiên là chúng tôi kiếm cây khô, nhóm lửa để hút thuốc lào), tôi úp mặt tổ ong trên đống lửa đang cháy, chỉ vài ba phút sau lấy ra và moi những con “nhộng” (ong chưa mọc cánh, trông giống như mấy con giòi nhưng to bằng đầu đũa ăn cơm) trong các lỗ của tổ ong, cho vào miệng nhai. Những con nhộng chỉ mới hơi tai tái thôi nhưng lúc đó tôi không thấy ghê mà trái lại, khi nhai nát con nhộng trong miệng thì tôi cảm thấy nó ngon tuyệt, béo ngậy. Đôi khi không hên, gặp những tổ ong mặc dù to lớn nhưng đã mọc cánh gần hết thì chỉ được một ít nhộng thôi. Một vài người thấy tôi làm như vậy cũng bắt chước làm theo. Ăn nhộng ong trở nên phổ biến.

    Đi nhổ sắn thời gian này không khó khăn khổ cực gì. Chúng tôi nhổ trong buổi sáng là đủ chỉ tiêu. Còn lại buổi chiều, ngồi nghỉ, hút thuốc lào và chờ cho đến gần hết giờ làm việc mới rủ nhau xuống bè nứa, chèo về trại. Cái khổ là khổ trong lòng, lo âu không biết cuộc đời sẽ đi về đâu! Cứ cái đà này thì chừng nào mới thấy lại được những người thân yêu của mình? Kẻ Bắc người Nam, đường xa diệu vợi, thư từ cũng khó khăn, nội dung thư viết toàn những điều giả dối: nào là an tâm (làm sao mà an tâm được?), nào là được đối đãi tử tế (khó lắm!), nào là ăn uống đầy đủ (vậy mà cứ thấy con gì nhúc nhích là ăn để có thêm chất đạm!). Những người có niềm tin tôn giáo thì chỉ còn biết trông cậy vào đấng Tối Cao để vơi đi phần nào phiền muộn.
    (còn tiếp)

  14. #14
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    4.10. Trại 5 dời đi vị trí mới
    Trong vòng vài ba tháng, chúng tôi đã tạo dựng cho mình được một căn nhà tương đối vững chắc và kín đáo. Chúng tôi có thể an tâm chờ đợi cái rét của mùa đông năm 1976 sắp tới nay mai. Nhưng số phần chưa cho chúng tôi được như vậy.

    Một buổi sáng, quản giáo (Trung Úy Phòng) từ trên Ban Chỉ Huy trại xuống gặp đội trưởng của đội tôi. Hai người nói chuyện riêng với nhau một lúc, rồi đội trưởng tập họp cả đội để nhận công tác trong ngày. Đội trưởng cho biết là sẽ có dời trại đi chỗ khác. Công việc chuẩn bị được bắt đầu ngay hôm nay. Mỗi tổ phải đóng một cái bè nứa lớn, đủ để chở cả tổ.

    Chúng tôi chia nhau leo lên núi chặt luồng (một loại nứa lớn), đem về ghép bè. Chiều dài cây luồng phải dài cỡ 5 mét. Như vậy, khi ghép thành bè, thì cái bè có chiều dài là 5 mét. Muốn cho bè có khả năng chở được cả tổ 10 người (*) thì phải ghép nhiều cây luồng với nhau. Tổ tôi không làm bè lớn, mà chia làm hai, mỗi nhóm 5 người cho một bè. Đóng bè nhỏ thì dễ dàng hơn; và khi đi trên mặt nước sẽ nhanh hơn vì ít bị sức cản của nước. Có tổ thì chia hai, 4 người và 6 người; làm như vậy thì số tay chèo không bị lẻ, mỗi bên bè hai người hoặc ba người.

    (*)Tôi không nhớ là thời gian này một đội có mấy tổ, 4 hoặc 5. Nếu là 5 tổ thì mỗi tổ có 10 người.

    Sau hơn một tuần chuẩn bị, trại bắt đầu di chuyển. Chúng tôi chèo bè mất hơn một giờ thì cặp bờ hồ phía bên kia. Lên bờ và làm lại từ đầu như ngày mới đến Thác Bà. Cũng phân chia nhau vào rừng chặt cây về làm nhà. Công việc kéo dài cả tháng mới xong.


    4.11. Đội trưởng Phạm Ngọc Diêu

    Diêu có cấp bậc thiếu tá, khóa 14 Thủ Đức, nhưng không phải là chính quy, mà là sĩ quan Bảo An. Thời điểm 1964 trở về trước, ngoài số sinh viên sĩ quan chính quy, còn có sĩ quan Bảo An (bán chính thức) cùng học một chương trình huấn luyện như nhau. Điều khác biệt là, sinh viên sĩ quan chính qui ra trường với cấp bậc chuẩn úy, lương sơ khởi là 3,260 (?) đồng một tháng nhưng có phụ cấp vợ con; vì thế người có vợ con sẽ lãnh tiền nhiều hơn người độc thân. Ngược lại, sinh viên sĩ quan Bảo An ra trường với cấp bậc thiếu úy, lương tháng hơn bốn ngàn (tôi không nhớ rõ) nhưng không có phụ cấp vợ con; ai cũng lãnh lương như nhau, trừ trường hợp khác cấp bậc.

    Về điều kiện thi tuyển cũng khác nhau. Từ trước năm 1961, cả chính qui hay Bảo An đều đòi hỏi trình độ học vấn là lớp Đệ Nhị (lớp 11). Tuy nhiên, sự thi tuyển đối với ngành chính qui khó khăn hơn, vì nhiều người dự thi, mà số tuyển dụng thì có hạn. Bên ngành Bảo An, ít người thi hơn, nên cơ may trúng tuyển cao hơn nhiều.

    Từ khóa 12 Thủ Đức trở đi (1961), bên ngành chính qui đòi hỏi phải có bằng Tú Tài 1 trở lên mới được nạp đơn. Người có bằng Tú Tài 1 cũng chỉ có trình độ lớp Đệ Nhị, nhưng đã thi đậu kỳ thi cuối năm học, tức là thuộc loại học sinh giỏi. Đậu được bằng Tú Tài 1 không phải là dễ ở thời điểm này; thường thường tỉ số thí sinh đậu toàn quốc là 20/100 mà thôi. Còn bên ngành Bảo An, điều kiện vẫn như trước.

    Xin mở dấu ngoặc ở đây: Theo như kế hoạch thì, từ khóa 12 Thủ Đức, bên chính qui đều là những người có bằng Tú Tài 1 trở lên bị gọi động viên. Đây là khóa sĩ quan động viên đầu tiên dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Ai lớn tuổi phải đi trước; ai nhỏ tuổi đi sau. Vì thế lớp sĩ quan động viên khóa 12 Thủ Đức đều là những người lớn tuổi. Kẹt một điều là, một số những người bị gọi động viên khóa 12, vì có gốc lớn hoặc vì chạy chọt cho nên được hoãn hoặc được miễn dịch. Do đó, số người trình diện theo lệnh động viên không đủ cho khóa 12. Để bù đắp vào chỗ trống này, bộ Quốc Phòng (?) cho phép nhận thêm những người không có bằng Tú Tài 1 mà có đơn tình nguyện, được thi vào học khóa 12 Thủ Đức. Sự việc này dẫn tới sự cách biệt khá xa về tuổi tác cũng như về trình độ văn hoá trong đám sinh viên sĩ quan chính qui. Những người bị động viên thường là các giáo sư đại học, giáo sư trung học, trưởng phòng hoặc trưởng ty trong các cơ quan của chính phủ và, dĩ nhiên họ là những người lớn tuổi. Trong khi những người tình nguyện thì ở vào lứa tuổi 19 – 20, chán học, vào lính để thỏa chí tang bồng hồ thỉ. Vì thế, cái cảnh thày và trò ở ngoài đời, bây giờ cùng học chung một khóa sĩ quan với nhau đã từng xảy ra. Kể từ khóa 12 trở đi thì, cái cảnh thày phải chào trò cũng đã từng xảy ra vì trò tình nguyện đi học khóa 11, còn thày thì bị động viên khóa 12; trò là huynh trưởng cho nên thày gặp huynh trưởng là phải chào. Nếu ở ngoài đời, thày lỡ có điều gì làm phật ý trò, thì đây là cơ hội để trò trả thù; trò sẽ tìm dịp để bắt lỗi thày (quên không chào huynh trưởng, chẳng hạn), bắt thày hít đất, nhẩy xổm, hoặc chạy quanh sân cờ cho bõ ghét, cho “biết thế nào là lễ độ”.

    Tóm lại, riêng nhóm sinh viên sĩ quan chính qui của khóa 12 Thủ Đức gồm có ba thành phần như sau:

    a) Thành phần bị (*) động viên, chiếm đa số, là những người lớn tuổi, có trình độ học vấn cao. Hoặc, ít ra cũng phải có bằng Tú Tài 1 nhưng trước khi nhập ngũ họ đã từng giữ các chức vụ trưởng phòng, trưởng ty của một cơ quan nào đó.

    b) Thành phần tình nguyện, có bằng Tú Tài 1 trở lên, họ còn rất trẻ, cỡ trên dưới 20, chán học, muốn nhập ngũ để thỏa chí tang bồng hồ thỉ. Số người này rất ít.

    c) Thành phần tình nguyện, không có bằng Tú Tài 1, và hầu hết cũng ở tuổi trên dưới 20. Họ nhập ngũ vừa để thỏa chí làm trai và cũng vừa là một lối thoát cho họ vì đường học vấn lận đận. Những người này phải qua một kỳ thi sát hạch, nếu đậu thì mới được vào học.

    (*) Ghi chú: Tôi dùng chữ “bị” để chỉ tính cách thụ động (passive voice) và tiêu cực (negative) của chủ từ. Bởi vì, những người thuộc thành phần (a) trên đây, có ai muốn nhập ngũ đâu. Họ đang làm việc ở những nơi không gươm đao súng đạn, lại gần gũi gia đình, có ai lại muốn nhập ngũ cơ chứ. Họ là những người bị động viên, chứ không thể nói là được động viên. Chữ “được” cũng có tính cách thụ động (passive voice) nhưng hàm ý tích cực (positive). Do đó nói là “được động viên” sẽ không thích hợp. Nói như vậy không có nghĩa là họ không yêu nước. Bộ, cứ đi lính mới là yêu nước sao? Ai cũng yêu nước nhưng mỗi người có một cách yêu nước khác nhau. Họ không thích đi lính thì dùng chữ “bị” là hợp lý. Tuy nhiên, khi đã khoác áo chiến binh rồi, thì họ lại thể hiện lòng yêu nước của họ theo kiểu nhà binh, đánh giặc chết bỏ, đôi khi còn hăng hơn cả mấy người tình nguyện nữa. Sau một thời gian sống trong quân ngũ, nhiều người trong số bị động viên lại cảm thấy thích đời lính hơn và không muốn xin giải ngũ sau khi đã ở đủ 4 năm trong quân đội. Có người nói rằng thời hạn 3 năm trong quân đội thì được giải ngũ (nếu muốn). Điều này không đúng, mà phải là 4 năm. Bằng chứng hả? Có ngay đây. Tiểu đoàn tôi (TĐ52PB), khóa 12 Thủ Đức có anh Nguyễn Bảo Ngôn và anh Trần Hữu Quảng; anh Ngôn giải ngũ trước tôi 1 năm vì anh nhập ngũ trước một năm (giữa năm 1961); anh Quảng tử trận 6 tháng trước khi được giải ngũ. Khoá 13 có anh Phùng, giáo sư Trung học Trần Lục, giải ngũ trước tôi 6 tháng (tháng 3/1966); tôi là người thay thế anh, làm Sĩ quan Truyền Tin Tiểu Đoàn khi anh giải ngũ. Kế đến là khóa 14 Thủ Đức, có anh Hưng, giáo sư Trung học Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho) và tôi (thuộc loại tình nguyện nhập ngũ); hai chúng tôi cùng giải ngũ tháng 9/1966. Tất cả chúng tôi đều phải ở trong quân đội đủ 4 năm, chứ không phải 3 năm. Nếu sau 3 năm được giải ngũ thì anh Quảng đã không tử trận vì khi anh chết, anh đã phục vụ trong quân đội được 3 năm rưỡi rồi. Ngoài ra, tiểu đoàn tôi còn có anh Lê Văn Hội, khóa 14 Thủ Đức, cũng thuộc loại tình nguyện như tôi nhưng không xin giải ngũ. Tưởng cũng nên nói thêm để các bạn trẻ hiểu rõ hơn, rằng: Cùng là bị gọi nhập ngũ nhưng có hai cách gọi khác nhau; chữ “Động viên” dùng cho những người sẽ vào học trường sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức hoặc trường hạ sĩ quan (nếu đương sự không có bằng Tú Tài mà chỉ có bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp ); còn chữ “Quân dịch” dùng cho hàng binh sĩ.

    Từ năm 1964 (thời chính phủ Nguyễn Khánh) thì không còn Bảo An nữa; tất cả đều thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và hưởng qui chế như nhau về cấp bậc và lương bổng. Tôi phải dài dòng như trên để nói lên trình độ học vấn của Phạm Ngọc Diêu. Diêu cư xử với cựu chiến hữu của mình không còn tình huynh đệ chi binh nữa. Bây giờ Diêu tự coi mình ở vị thế cao hơn và dùng mọi sáng kiến để đem lại lợi ích cho “Cách Mạng” với mục đích là mong được thả về sớm. Quản giáo mới của đội (từ ngày trại sang vị trí mới) là Thiếu Úy Ngân. Ngân nhờ có Diêu mà khỏe re, ít khi hắn cần xuất hiện; mọi thứ đều có Diêu lo hết. Chúng tôi tối nào cũng bị ngồi ngoài sân cho đến kẻng báo ngủ (9 giờ tối) để nghe Diêu phê bình kiểm điểm mọi người về công tác lao động trong ngày. Diêu còn “cán bộ” hơn cả cán bộ. Thật đúng là một tên hắc ám. Diêu có tật nói dài, nói dai, nói dở; hắn nói đến nỗi sùi cả bọt mép. Dở là cái chắc, vì có ai muốn nghe hắn thở ra cái giọng điệu sặc mùi Việt Cộng đâu. Hắn cố bắt chước bọn Việt Cộng dùng những tiếng mới, như: khắc phục khó khăn, đảm bảo yêu cầu, khẩn trương lao động, giúp đỡ nhau tiến bộ, ba dòng thác cách mạng, sợi chỉ đỏ xuyên suốt, v.v…, mới nghe đã thấy mệt rồi.

    Riêng Đội 3 chúng tôi, Diêu ra lệnh “Không ai được quan hệ linh tinh” (nói chuyện riêng với nhau hoặc gặp gỡ nhau). Ai cần mượn cây kim sợi chỉ của người nào, cũng phải xin phép Diêu trước khi đến gặp người đó, kẻo lại bị kết tội “quan hệ linh tinh”. Trong lần nhận bưu phẩm đầu tiên, tôi có được nửa ký cà phê (hơn 1 pound) mà không dám chia sẻ cho ai ngoại trừ anh Nguyễn Xuân Hiếu là người cùng tổ và chúng tôi cùng ngồi ăn cơm chung với nhau. Tôi có một anh bạn học từ lúc nhỏ - anh Kiểm. Tôi ở Đội 3, Kiểm ở Đội 1. Hai đội chỉ cách nhau có một con đường (và cũng là sân luôn). Tôi biết Kiểm rất ghiền cà phê mà không dám cho. Vì nếu cho thì chắc chắn sẽ bại lộ ngay vì làm sao có thể dấu được mùi cà phê cơ chứ. Và, một anh bạn ở Tổ 4 (cùng đội tôi) cũng ghiền nặng cà phê. Anh tới năn nỉ tôi cho anh cái bã cà phê để anh nấu lại xái nhì. Nhưng tôi cũng không dám cho vì anh nằm cách Diêu có mấy người thôi; chắc chắn là Diêu sẽ biết. Nếu mà muốn cho bạn bè thì bắt buộc phải hối lộ cho Diêu - điều mà tôi không thích. Bây giờ ngồi nghĩ lại, tôi tự trách mình rằng “Mày là thằng hèn nhát; việc gì mà phải sợ nó đến như vậy?” Mà, lúc đó tôi hèn thật. Thì cứ cho bạn mình uống, chẳng lẽ nó giết được mình sao? Anh Kiểm đã ra người thiên cổ khi còn trong tù. Mặc dù anh chưa hề mở miệng xin tôi cho anh cà phê nhưng tôi tự cảm thấy mình đã thiếu sót với anh. Còn anh bạn ở Tổ 4 kia, chắc anh cũng thông cảm mà không còn giận tôi nữa.

    Diêu muốn cho Đội 3 trở thành con chim đầu đàn của trại để hắn trở thành đội trưởng đầu đàn, cho nên hắn còn bắt chúng tôi sắp xếp giường chiếu giống như là ngày chúng tôi còn học ở quân trường. Mỗi buổi sáng, trước khi ra khỏi trại, người nào cũng phải kéo chiếu lại cho thật ngay ngắn. Ở đầu giường thì phải dùng một cái chăn (mền) đỏ, mà khi chúng tôi mới ra Bắc được cấp phát mỗi người hai cái, gói mùng và cái mền đỏ thứ hai vào bên trong. Phải gói làm sao cho cái mền bọc bên ngoài có góc cạnh vuông vức giống như một cái hộp hình khối chữ nhật mầu đỏ ở đầu giường. Chưa hết đâu, mọi người phải gióng hàng cho tất cả các “hộp” trên đầu giường phải thẳng hàng với nhau. Không ai được cao hơn hay thấp hơn những người bên cạnh. Chúng tôi rất bực mình với cái kiểu kiếm điểm của Diêu nhưng chẳng ai dám có phản ứng gì. Sự không có phản ứng gì, ở một khía cạnh nào đó, được coi là hèn nhát; nhưng ở một góc nhìn khác, thì được coi như là một cách sống khôn ngoan, nín thở qua sông, bắt chước Hàn Tín (chui qua háng) để mà sống còn, chờ dịp phục hận. Thời điểm này là lúc đen tối nhất trong cuộc đời của chúng tôi, không thấy có le lói một chút ánh sáng hy vọng nào cả. Biết làm gì hơn là nhẫn nhục chờ thời, miễn là đừng có hành vi “đâm sau lưng chiến sĩ” là tốt rồi. Tôi nghe ai đó nói rằng Diêu được về sớm, vượt biển và định cư ở Úc. Trong thời gian ở đảo, chờ đi định cư, Diêu bị ăn đòn về tội đã quay lưng lại với đồng đội khi còn trong tù. Không biết đây có phải là vì họ ghét mà phao ra tin đó hay không? Cho đến bây giờ, tôi cũng chẳng biết Diêu đang ở đâu, bên Mỹ hay bên Úc? Nếu còn sống, giờ này Diêu đã ăn năn xám hối chưa nhỉ? Nhưng dù sao thì Diêu vẫn còn khá hơn nhiều lần tên Bùi Đình Thi - người đã đánh đập Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, xin xem Tôi Phải Sống của Linh Mục N.H. Lễ.
    (còn tiếp)

  15. #15
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    4.12. Ông Hoàng già

    Đội tôi chỉ có một người tên là Hoàng, tôi không nhớ họ. Ông Hoàng là một trong vài người lớn tuổi nhất đội cho nên chúng tôi thường gọi ông là Hoàng già. Dần dần chữ “già” trở nên gắn bó với cái tên của ông. Khi nói đến ông mà không kèm theo chữ “già” thì tự nhiên thấy thiêu thiếu một cái gì đó.

    Ông Hoàng già là dân Bắc Kỳ di cư 1954. Có lẽ ông cũng “rành sáu câu” (hiểu rõ) về bọn Việt Cộng quá rồi cho nên ông rất ít khi trò chuyện với ai. Ông rất hiền lành, duy có điều là không bao giờ ông làm việc đạt chỉ tiêu (để giữ gìn sức khỏe mà). Vì thế, trong những buổi tối phê bình lao động, Phạm Ngọc Diêu luôn nhắc đến tên ông. Một buổi tối, Diêu gay gắt phê bình sự chây lười lao động của ông. Diêu nói:

    - Anh Hoàng kể từ nay phải khắc phục khó khăn để cố gắng đạt được chỉ tiêu lao động hằng ngày do trại ấn định (Diêu ấn định thì đúng hơn là trại ấn định). Nếu anh Hoàng còn ngoan cố thì tôi sẽ đề nghị cắt bớt khẩu phần ăn của anh và đồng thời phạt giam anh vào nhà kỷ luật.

    Kẻng báo ngủ (9 tối) mà Diêu chưa cho đội nghỉ. Thấy vậy, ông Hoàng già đứng phắt dậy, không cần theo thủ tục giơ tay xin phát biểu như thường lệ, ông chỉ tay vào mặt Diêu và nói:

    - Này Diêu, tao mà chết ở đây do mày hành hạ, tao sẽ hiện hồn về bóp cổ cho mày chết lè lưỡi ra nghe chưa? Tao sẽ không tha mày đâu.

    Nói xong, ông Hoàng ngồi xuống. Cả đội sửng sốt vì thái độ bất ngờ của ông Hoàng. Những lúc bình thường, ông hoà nhã với mọi người, mà sao hôm nay ông lại làm dữ vậy? Con giun xéo lắm cũng quằn, ông đã bị dồn vào đường cùng rồi cho nên ông không biết sợ là gì nữa. Diêu thấy tình thế bất lợi cho hắn, nên đã cho đội giải tán, đi ngủ. Mọi người thở phào nhẹ nhõm vì đã qua một buổi tối nặng nề.

    Từ đó về sau, Diêu cũng bớt phần nào hung hãn trong việc kiểm điểm và phê bình hằng ngày. Hắn cũng có vẻ ngán ông Hoàng già cho nên cũng bớt chĩa mũi dùi vào ông như trước đây. Riêng ông Hoàng già, ông chưa có dịp để bóp cổ tên Diêu vì, ít ra là, cho tới năm 1990, ông Hoàng vẫn còn sống nhăn răng; ông chưa thành ma để bóp cổ Diêu được. Anh Vũ Ngự Chiệu có lần đã gặp ông ở Sài-Gòn trong những ngày tháng anh chờ đợi đi Mỹ (năm 1990). Không hiểu ông Hoàng có đi Mỹ, hay là ngại vì tuổi già, không đi, mà vẫn còn ở Việt Nam chăng?


    4.13. Tổ trưởng vòng xoắn
    Tổ trưởng Tổ 3/Đội 3 là anh Tiếu. Anh gốc là Lực Lượng Đặc Biệt, người miền Trung. Anh rất hiền hoà và đối xử tử tế với anh em trong tổ. Khi Trại 5 sang vị trí mới này, được chừng vài tháng thì có dịch kiết lỵ. Nhiều người bị dính chấu (tiếng lóng, mắc bịnh) trong đó có anh Tiếu. Nhân có ngày lễ (tôi không nhớ là lễ gì), trại giết trâu mừng lễ. Anh Tiếu vẫn còn đang bịnh, có người khuyên anh không nên ăn thịt trâu nhưng anh không nghe vì “ngàn năm mới có một thuở” thì làm sao bỏ qua được. Anh cứ ăn và hôm sau anh đã từ giã cõi trần chỉ vì mấy miếng thịt trâu ngày hôm trước. Anh ra đi, để lại mối thương tiếc ngậm ngùi cho đồng đội của anh. Ông Trời có bất công không, khi người hiền thì phải chết, mà kẻ ác thì vẫn sống hùng sống mạnh?

    Đồng thời, ở Đội 4 cũng có một anh ra đi. Đó là anh Tường, khoá 15 Pháo Binh. Anh Tường quê ở Xóm Mới, Gò Vấp, Gia Định. Tường đã có thời gian cùng chung đơn vị với tôi, ở Tiểu Đoàn 52 Pháo Binh, thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Còn một người nữa thoát chết là anh Nguyễn Văn Diện, sẽ kể sau.

    Sau khi anh Tiếu chết, anh Tân (Bắc Kỳ di cư 1954) được chỉ định làm tổ trưởng Tổ 3, thay cho anh Tiếu. Anh Tân cũng hiền hoà nhưng có điều anh hơi “nhát đèn”. Có lẽ là anh yếu thần kinh. Người ta nói “Con mắt là cửa sổ của tâm hồn”; cứ nhìn con mắt của anh thì biết ngay anh không có ý chí mạnh mẽ. Lúc Tân nhận chức tổ trưởng, cũng là thời kỳ đầu của mùa chặt nứa. Đội trưởng Phạm Ngọc Diêu ra chỉ tiêu, mỗi người phải chặt 5 bó nứa lớn một ngày (kích thước sẽ mô tả sau). Mỗi bó nứa là 10 cây. Tân nẩy ra sáng kiến để xác định xem đội viên có chặt nứa đúng kích thước ấn định không, bằng cách dùng dây rừng khoanh thành một vòng tròn để đo chu vi bó nứa. Bó nứa nào nhỏ, có thể lọt qua vòng tròn dễ dàng, tức là không đạt chỉ tiêu. Bó nứa phải lớn hơn vòng tròn, hoặc ít ra là phải vừa khít với vòng tròn thì mới đạt yêu cầu. Những bó nứa không đạt thì chủ nhân của nó phải đi chặt bó khác. Cách kiểm tra nứa của Tân gây rất nhiều khó chịu cho mấy người trong Tổ 3 của Tân nhưng không ai dám phản đối. Họ chỉ nhạo báng Tân bằng cách gọi Tân là “Tổ trưởng vòng xoắn.”

    Đúng ra thì, tổ trưởng không có nhiệm vụ kiểm tra nứa. Đây là nhiệm vụ của đội trưởng. Vì thế 3 tổ kia, tổ trưởng chẳng cần kiểm tra gì cả. Chúng tôi cứ việc đem nứa đến cho đội trưởng kiểm tra. Tân làm như vậy là để kiếm điểm với đội trưởng; ra cái điều ta đây tích cực trong chức năng tổ trưởng.


    4.14. Mùa chặt nứa
    Trại 5 có năm đội gồm các Đội 1, 2, 3, 4, và 5. Đội 1 và Đội 3 có nhiệm vụ chặt nứa. Hai đội cùng một nhiệm vụ như nhau nhưng Đội 1 dễ thở hơn nhiều nhờ có đội trưởng thuộc “phe ta”. Đó là anh Huỳnh Văn Chờ, khóa 20 Võ Bị Đà lạt. Tôi thấy những người trong Đội 1 vẫn tỏ ra thảnh thơi (so với Đội 3 thôi) trong khi Đội 3 chúng tôi phờ râu trê. Tôi gặp lại anh Chờ trong chuyến bay từ Việt Nam sang Thái Lan ngày 19 tháng 6 năm 1991 (Tôi nhớ rõ ngày này vì nó là ngày Quân Lực – 19/6, khi chúng tôi chưa buông súng). Gia đình hai chúng tôi cùng ở một phòng trong vòng một tuần lễ, rồi chúng tôi cùng đi máy bay một ngày (25/6/1991) sang Mỹ nhưng không nhớ là có cùng một máy bay không.

    Trước khi bắt đầu "chiến dịch," bọn tôi được huấn luyện cách chặt nứa và bó nứa, được biết thế nào là nứa loại 5, nứa loại 7. Nứa loại 5 (nứa năm) phải có đường kính ít nhất là 5 cm (2 inches) trở lên, họ không ấn định đường kính tối đa là bao nhiêu, nhưng ai chặt nứa to thì phải vác nặng, vậy thì ai ngu gì mà chặt nứa to. Nứa loại 7 (nứa bẩy hay còn gọi là nứa tép) đường kính từ 2 đến 3 cm (0.8 đến 1.2 inch). Nếu chọn chặt nứa 7 thì chỉ tiêu là 6 bó, mỗi bó 20 cây và chiều dài là 4 mét (13 ft). Nếu chọn nứa 5 thì chỉ tiêu là 5 bó, mỗi bó 10 cây và chiều dài 5 mét (16.5 ft). Cây nứa ở phần gốc phải chặt bằng 4 nhát dao ở sát cái mắt nứa cuối cùng, không được chặt bằng hai, ba, hoặc một nhát dao. Nếu chặt chỉ bằng một nhát dao thì gốc nứa trông giống như đầu một cái đòn càn (đòn xóc). Chỉ được buộc hai lạt cho một bó nứa, một lạt phải cách phần gốc nứa là 20 cm (8 inches), còn lạt buộc ở phần ngọn thì cách ngọn chừng 1 mét (3.3 ft). Người nào buộc lạt sát phần ngọn quá thì khi "xuống núi", lạt sẽ bị móc vào cọc hoặc các gốc cây (đã chặt) làm trở ngại di chuyển. Ngoài ra, riêng Đội 3, Diêu còn đưa ra khẩu hiệu "Đi không về có," nghĩa là mỗi ngày, mỗi người phải mang về trại 4 cây nứa lớn, đường kính từ 5 cm trở lên. Sau khi đã chất nứa thành đống, nói theo kiểu Việt Cộng là đã nghiệm thu nứa xong, đội trưởng kiểm điểm nhân số và cho về trại, trên vai mỗi người vác 4 cây nứa lớn.


    4.15. Anh Mẫn mập

    Tôi không nhớ họ của anh mặc dù đã có thời ở cùng đơn vị và hai năm ở Trại 5, Thác Bà. Mẫn không phải là dân pháo binh, mà là Sĩ Quan Tài Chánh của Tiểu Đoàn 52 Pháo Binh, Sư Đoàn 5 Bộ Binh, hồi tôi mới ra trường. Mẫn cũng cùng khoá 14 Thủ Đức với tôi. Mẫn có máu Tầu, khi ở cùng đơn vị, Mẫn mập mạp với cái bụng to, trông giống chệt hơn là Việt. Rồi thời thế thay đổi, hai người lại ở chung một đội, tuy nhiên chúng tôi chưa thân nhau để có thể gọi là bạn được. Anh Mẫn là người to béo quá cỡ và rất chậm chạp, hầu như ít khi anh đủ chỉ tiêu vì thế anh mới lấy trộm nứa của người khác (mà tổ trưởng Tiếu phát hiện). Có lần tôi thấy anh kéo một bó nứa quá to, chỉ có 10 cây nhưng là cây to cho nên nó nặng gấp hai lần bó nứa thường. Lý do là vì anh không thể leo cao cho nên anh đã chặt lại cái phần nặng (phần giữa) của cây nứa mà người khác bỏ lại sau khi họ đã chặt lấy phần ngọn rồi. Có người đã từng nhìn thấy, có lần Mẫn vừa kéo nứa xuống núi vừa khóc, thật tội nghiệp!

    Anh Nguyễn Xuân Hiếu cho biết, Hiếu đã đôi lần gặp Mẫn ở Cali và nói “Bây giờ (2008) trông nó mập lắm, dáng đi ục à ục ịch vì phải đeo một cái thùng nước lèo khá lớn trước bụng.” Cũng mừng cho anh vì ngày còn chặt nứa, tôi không nghĩ rằng Mẫn sẽ qua khỏi “con trăng này”.


    4.16. Mánh của Phạm Ngọc Diêu
    Đội trưởng Phạm Ngọc Diêu không leo chặt nứa bao giờ nhưng vẫn có nứa để báo cáo với cán bộ rằng mình cũng đủ chỉ tiêu (dù chỉ tiêu nhỏ hơn chúng tôi), cái mánh như sau: Khi kiểm tra (quality control) nứa của anh em trong đội, anh ta chỉ cần moi ra một vài bó nứa hơi bị ngắn một chút và phán rằng nứa không đủ chỉ tiêu, thế là nạn nhân phải chặt lại bó khác và Diêu lấy bó nứa "không đủ chỉ tiêu" đó cho mình. Qua vài ngày đầu, tôi biết cái mánh của Diêu cho nên tôi đã chuẩn bị một cái gậy vừa dùng để chống, vừa làm thước đo. Rồi tôi chờ dịp Diêu đang có "cái thước" trong tay, tôi chạy lại vờ hỏi "Anh Diêu, cho tôi mượn cái thước của anh để làm mẫu được không?" Tôi so thước của Diêu với thước của tôi và dùng dao khắc cái dấu ngay trước mặt Diêu. Như thế là ngầm bảo cho Diêu biết rằng tôi đã dùng đúng thước của anh rồi nhé. Từ hôm đó về sau, Diêu không đo nứa của tôi khi tôi tới giao nạp nứa nữa.


    4.17. "Chân còn nhịp nhịp là chưa chết."
    Một buổi chiều sau khi đã đưa hết nứa vào bãi để chờ ngày đóng bè giao hàng, cả Đội 3 tập họp điểm danh trước khi về trại. Lúc đó mới phát hiện ra là Tổ 1 của tôi còn thiếu một người, nhìn qua nhìn lại thì thấy vắng mặt anh Trần Văn Hiệp. Thế là cả đội chia nhau từng nhóm hai hay ba người, đi ngược trở lên các đồi nứa để tìm anh Hiệp. Chúng tôi hỏi nhau xem ai là người chặt nứa gần khu anh Hiệp chặt. Chúng tôi vừa đi vừa gọi lớn tiếng và lo lắng không biết chuyện gì đã xảy ra với anh, nứa đâm lủng bụng? rắn cắn? trăn quấn? hay là trúng gió?

    Khoảng chừng nửa giờ sau thì nghe hô lớn "Tìm thấy rồi," có tiếng hỏi "Có sao không?" Khi nghe được tiếng "không" thì chúng tôi mới thấy hết lo. Anh Hiệp ngồi dậy và kéo một bó nứa xuống núi, hai bó còn lại thì bọn tôi kéo phụ anh cho lẹ, chứ để anh làm một mình thì phải vài giờ nữa mới xong. Anh bạn (quên tên) trông thấy Hiệp đầu tiên kể rằng "Tớ đi quần quanh đây gọi hoài mà nó chẳng thèm trả lời, đến khi nhìn thấy nó nằm nhưng chân cứ nhịp nhịp thì biết chắc là nó còn sống, thật hết biết cái thằng lì lợm!"

    Anh Hiệp (Đ/U) còn rất trẻ, xuất thân trường Thiếu Sinh Quân. Có lẽ anh là người mà Đội Trưởng Diêu ghét nhất. Anh lầm lì ít nói, không chống đối ra mặt nhưng chống đối bằng cách tiêu cực: rất ít khi anh làm đủ chỉ tiêu dù là việc gì. Vì thế Tổ 1 chúng tôi thường phải "ngồi đồng" (ngồi thành vòng tròn) để phê bình kiểm thảo anh về việc chây lười lao động. Ngay tối hôm đó, tổ tôi phải "ngồi đồng" để phê bình và phải “đề xuất” (đề nghị) cho anh Hiệp bị cắt thêm 3 kg gạo một tháng. Anh Hiệp nói: "Tiêu chuẩn gạo của tù là do nhà nước ấn định, không ai có quyền cắt phần ăn của tôi được." Kết quả ra sao sau đó thì tôi không còn nhớ rõ nữa.

    Bạn Hiệp ơi, nếu bạn đọc được những dòng này thì xin bạn biết cho rằng: Mặc dù lúc đó chúng tôi không được vui bởi cứ phải "ngồi đồng" vì bạn, bạn đã làm mất đi những thời giờ quí báu mà lẽ ra chúng tôi được hưởng để nghỉ ngơi sau một ngày vật lộn với "giặc nứa", nhưng không phải vì vậy mà chúng tôi khinh bạn, ngược lại, chúng tôi khâm phục lòng quả cảm và tính kiên trì của bạn, chúng tôi HÈN hơn bạn nhiều, bạn xứng đáng là đứa con yêu của trường mẹ - trường Thiếu Sinh Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
    (còn tiếp)

  16. #16
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    4.18. Làm đơn xin ăn sắn 100%
    Sau khi đã đi chặt nứa chừng vài tháng, bọn tôi đã xuống sức rất nhiều, phần vì thiếu ăn, phần vì phải làm quá sức. Thời gian này, buổi sáng và trưa ăn sắn (khoai mì) luộc, buổi chiều thường được ăn cơm, mỗi người được chừng hai chén cơm nhỏ (gạt ngang mặt chén), ăn xong mà vẫn tưởng như mình chưa ăn!

    Anh Trần Văn Luông, một đại úy còn rất trẻ, hình như trước 30/4/75 anh Luông làm ở Trung Tâm Khai Thác An Bài Điện Tử/Bộ Tổng Tham Mưu, hết chịu nổi cái đói nó hành hạ; anh Luông viết một tờ đơn gửi lên trại để xin trại cho anh ăn sắn 100% thay vì bữa cơm bữa sắn. Sau này anh tâm sự với tôi rằng dù sao thì sắn vẫn lâu tiêu hơn là gạo hẩm, nó giúp cho bao tử của anh có cảm giác đầy đầy cái bụng một chút.

    Vài ngày sau khi đơn của anh Luông gửi đi thì vào một buổi sinh hoạt tối, cán bộ quản giáo (Thiếu Úy Ngân) xuống đội tham dự và giải thích về chính sách khoan hồng của “Cách Mạng.” Rồi, Ngân nói về cái đơn xin ăn sắn của anh Luông, Ngân nói đại ý rằng anh Luông đã gián tiếp phản đối “Cách Mạng” rằng “Cách Mạng” đã để tù phải ăn đói đến nỗi chịu hết nổi phải xin ăn sắn 100%; trại không bao giờ chấp thuận yêu cầu của anh Luông đâu. Ngân nói vòng vo tam quốc rất dài và sau cùng kết thúc bằng một cái lệnh là anh Luông phải làm bản tự phê bình về việc này. Đây mới chỉ là màn dạo đầu cho một đòn thâm hiểm sắp sửa xảy ra.

    Độ hơn một tuần sau, anh Luông bị bắt tại trận khi anh đang nhổ trộm một gốc sắn. Anh Luông bị đưa về đứng giữa sân trại một buổi , trên vai vác một gốc sắn còn dính đầy củ. Khi trời tối, anh bị đưa thẳng vào nhà kỷ luật. Độ một tuần lễ thì anh được thả về sinh hoạt chung với đội. Trong chỗ riêng tư, anh Luông cho tôi biết rằng mỗi đêm anh bị một tên bộ đội tới đánh anh một trận. Có một đêm duy nhất, khi thấy bộ đội mở cửa là anh đã chuẩn bị nhận đòn, nhưng thật là bất ngờ khi anh nghe người bộ đội này nói rằng "Đêm nay tôi được lệnh tới đánh anh nhưng tôi tha cho anh đấy, nhớ đừng để ai biết đấy." Nói xong người bộ đội này bỏ đi.

    Anh Nguyễn Xuân Hiếu, mới đây (2008), cho tôi biết rằng thỉnh thoảng có gặp Trần Văn Luông ở Cali và nói: “Dạo này hắn để râu, trông giống như Hồ Chí Minh; chỉ khác một chút là mặt của HCM thì đầy đặn, còn mặt hắn thì xương xương. Hắn ăn mặc xuề xoà giống như mấy ông già miền Lục Tỉnh vậy.”


    4.19. “Biết bơi mà bầy đặt giả vờ."
    Một buổi chiều cuối tháng 11/76, trời se se lạnh, tổ tôi (Tổ 1) có nhiệm vụ đóng bè nứa vì số lượng nứa chất trên bãi đã đủ cho một bè nứa lớn rồi. Sau khi đã đóng bè xong thì trại sẽ giao hàng cho người mua (một hợp tác xã nào đó ở Hà Nam Ninh). Hôm nay tổ tôi không phải chặt nứa nhưng phải vào rừng kiếm đủ số giây leo đem về để đóng bè vào buổi chiều. Tổ chia ra hai nhóm, một nhóm ở trên bờ vận chuyển nứa xuống nước, một nhóm phải lội xuống nước để kết những bó nứa thành bè. Người nào cũng ngại phải lội xuống nước vì lạnh mà cơ thể quá thiếu năng lượng nên cái lạnh càng ác liệt hơn.

    Các tổ kia thì chuyển nứa từ kho xuống chỗ đóng bè. Anh Trần Văn Luông bị nằm trong nhóm phải lội xuống nước. Anh khiếu nại là anh không biết bơi (có chỗ nước sâu ngập đầu người) thì sao lội xuống nước được. Nghe anh Luông nói vậy, tổ phó Lê Văn San (*) hứ lên một tiếng và nói "Biết bơi mà bầy đặt giả vờ." Tên vệ binh đứng cạnh đó nghe San nói thế, liền gọi anh Luông đến và đánh anh Luông; hắn dùng báng súng và cả nòng súng AK 47 thúc vào người anh Luông cho đến khi anh té xuống và nằm quằn quại dưới đất nó mới ngưng. Nhìn thấy cảnh anh Luông bị đánh mà tôi cảm thấy dợn tóc gáy. Không hiểu nếu là tôi thì không biết có chịu nổi trận đòn đó không? Thời gian ở Đội 3/Trại 5, anh Luông là người thường bị ăn đòn nhiều nhất. Những trận đòn đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ của anh sau này.

    Người thứ nhì thỉnh thoảng bị ăn đòn là anh Trần Văn Hiệp, cựu Thiếu Sinh Quân, mà tôi đã đề cập trước đây. Chắc hai anh còn nhớ những gì đã xảy ra cho mình nhiều hơn là tôi nhớ.

    (*) Lê Văn San xuất thân từ một khóa sĩ quan Đặc Biệt (Trung sĩ có đủ thâm niên quân vụ, và có đơn xin thì được cho đi học khóa này). Khi ra trường, San sang ngành Lực Lượng Đặc Biệt. San có cái đặc biệt là khi đọc sách thì không bao giờ đeo kiếng trắng, nhưng mỗi lần có hội hè đình đám thì San đeo cặp mắt kiếng trắng để làm dáng trí thức. Chắc chắn kiếng của hắn chỉ là “bản mặt song song” (mắt kiếng không có độ). Cái đặc biệt thứ hai nữa là, mỗi khi họp tổ về bất cứ lý do gì, San luôn luôn để bên cạnh một cuốn sách, lúc thì cuốn Tư Bản Luận, lúc thì một tác phẩm dầy cộm do Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, hoặc Hồ Chí Minh v.v… viết. Lê Văn San lúc nào cũng tỏ ra ta đây là người tiến bộ. Chưa ai bắt được bằng chứng là San làm ăng-ten, nhưng hầu như mọi người trong đội đều nghĩ rằng hắn làm ăng-ten cho Việt Cộng. Tôi có gặp Lê Văn San vài lần tại văn phòng Dịch Vụ Xuất Ngoại ở đường Nguyễn Trãi (Chợ Lớn). San thấy tôi thì chạy tới hỏi chuyện nhưng tôi trả lời cho qua và lảng đi chỗ khác, không thèm nói chuyện với hắn.


    4.20. Chuyên ăn uống
    Khi đói bụng, nhất là cái đói triền miên trong tù, chúng tôi luôn luôn nghĩ đến ăn. Không được ăn thực sự thì mình tưởng tượng. Thỉnh thoảng tôi được ăn những món ngon miệng trong giấc mơ. Lúc tỉnh dậy, tiếc rằng sao giấc mơ không kéo dài thêm cho mình thưởng thức chút nữa, thật là uổng. Khi đi lao động, chúng tôi người nào cũng đeo theo một túi “cái bang” (dùng chữ trong chuyện kiếm hiệp của Kim Dung, đó là loại túi tự làm, có dây đeo choàng qua vai) để trên đường đi, hoặc ở chỗ làm, nếu thấy cái gì có thể ăn được là phải nhanh tay chụp lấy, bỏ vào túi để khi thuận tiện đem ra ăn. Đói quá, thèm đủ mọi thứ cho nên chúng tôi nghĩ ra cách “ăn hàm thụ” (ăn bằng lỗ tai, nghe kể chuyện ăn).

    Đội tôi có anh Giai (thiếu tá) là người nhớ nhiều món ăn nhất. Anh Giai có vóc dáng cao hơn bình thường, người miền Nam và có nụ cười dễ mến. Anh Giai cho chúng tôi “ăn hàm thụ” mỗi buổi sáng trên đường đi đến địa điểm chặt nứa. Anh nhớ nhiều về các món ăn, và cách kể chuyện của anh cũng rất hấp dẫn, tôi thường đi gần với anh để nghe được hết những món ăn anh kể. Có điều là khi nghe anh kể thì khoái cái lỗ nhĩ và dĩ nhiên là bao tử tiết ra dịch vị "khống" lại càng làm cho mình thấy đói nhiều hơn. Tôi sực nhớ ra một câu nói của bạn tôi - Nguyễn Tiến Hanh: "Ông có thấy con chó này còn hạnh phúc hơn bọn mình không?"

    Một buổi sáng, trên đường đi chặt nứa, anh Nguyễn Tiến Hanh (khoá 15 Pháo Binh) nhìn thấy một con chó đang vờn vờn một mẩu sắn luộc, sau đó nó bỏ đi mà không thèm ngó đến mẩu sắn ấy, anh Hanh đi chậm lại một bước (vì tôi đi sát sau anh), ghé vào tai tôi nói nhỏ câu trên. Tôi cũng đồng cảm với anh vì mình là con người mà không hạnh phúc bằng con chó đó. Muốn có sắn ăn cho đầy bụng mà không được trong khi con chó vờn mẩu sắn rồi bỏ đi, than ôi!

    Có lần, Hanh còn nói với tôi rằng: “Nhà văn Vũ Trọng Phụng đã viết một câu Ở đời mà có cơm ăn thì thật là hạnh phúc. Lúc đó, tôi (Hanh) chưa đói cho nên chưa cảm thấy thấm thía. Bây giờ mình đói, mình mới thấy Vũ Trọng Phụng thật là có lý.” Thật đúng là “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay.”( thơ Nguyễn Du) Những người chưa từng trải cái đói thì chỉ hiểu nó một cách lờ mờ, họ không thể cảm nhận được sự dằn vặt, sự cào cấu của bao tử đâu. Thậm chí, những người ở tù một hai năm cũng chưa thể thấm đủ cái đòn đói này, và, dĩ nhiên họ cũng chưa thể cảm nhận đầy đủ sự khốn khổ vì đói. Các con tôi, đôi khi chê món này mẹ nấu dở, món kia mẹ nấu không ngon. Tôi bảo chúng: “Nếu các con được bọn Việt Cộng huấn luyện cho một khóa cải tạo chừng dăm bảy năm, thì các con sẽ hết chê ngay.”


    4.21. "Nó muốn làm con chim đầu buồi."

    Sau khi chặt nứa được vài tháng, số nứa đã đủ để đóng một cái bè lớn trao cho hợp tác xã miền xuôi. Ngày đóng bè, ba tổ 2, 3, và 4 có nhiệm vụ chuyển nứa từ kho xuống chỗ đóng bè. Ngoại trừ tổ 1 của tôi không phải chuyển nứa nhưng phải vào rừng kiếm dây leo đủ để đóng một cái bè nứa lớn. Sau khi ba tổ kia đã chuyển được một số nứa thì tổ 1 mới bắt đầu đóng bè. Phần vì quá mệt mỏi, phần vì đó là lần đầu tiên phải đóng bè, cột buộc lọng ngọng rất chậm, cho nên trời tối lúc nào không hay, tối thì tối vẫn phải đóng bè cho xong mới được về trại. Trên đường về trại, mỗi người phải cầm một cây đuốc (bằng nứa khô, thiếu gì) để soi đường mà đi.

    Khi về còn cách trại chừng 300 mét (1,000 ft) thì đã nghe tiếng kẻng đi ngủ (9 giờ tối) ở trại rồi. Ba trăm mét là tính theo đường chim bay, trên thực địa thì chúng tôi phải đi một vòng cung theo đường chân đồi trước khi vào trại, vì thế đường thành ra dài hơn hai lần 300 mét. Đi sau tôi là anh Lương Văn Quang (hiện giờ ở Cali). Tôi quay lại nói với anh Quang, "Kẻng ngủ rồi mà mình còn ở đây," anh Quang chửi thề nho nhỏ chỉ đủ cho tôi nghe thôi (sức mấy mà dám nói lớn, chỉ trừ khi muốn mập mình): "Đ.M. Nó muốn làm con chim đầu buồi mà.” Anh Quang đã biến chế cái khẩu hiệu "Con chim đầu đàn" thành "Con chim đầu buồi." Tiếng buồi là một danh từ có tính tục tĩu của người miền Bắc dùng để chỉ cái dương vật của người đàn ông. Chả là, trước khi đi khai thác nứa, Ban Chỉ Huy trại đưa ra một đợt thi đua cho 5 đội để chọn lấy một đội xuất sắc nhất cho mang danh hiệu "Con chim đầu đàn" của trại. Phạm Ngọc Diêu mê làm "con chim đầu đàn" khiến cho đội viên phải ngắc ngư con tầu đi! Vào đến trại, chúng tôi vội vàng chia cơm rồi vội vã ăn cho thật nhanh. Ăn xong, không cần rửa ráy gì cả, chỉ sơ sơ phủi bụi ở chân rồi đi ngủ để chuẩn bị cho một ngày đen tối kế tiếp.
    (còn tiếp)

  17. #17
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    4.22. "Các anh đi lao động phải có khí thế."
    Sau vài ba tháng chặt nứa, hầu hết mọi người đều đã xuống sức. Gần nửa đội thường phải chống gậy trên đường đi làm. Chống gậy có cái lợi là giúp cho bước đi của mình thêm vững chãi, và, đôi khi bất thình lình gặp con rắn, con trăn nào xuất hiện thì "phe ta" dùng gậy làm vũ khí để tiêu diệt "địch quân" ngay tức khắc để có thêm chất đạm (Việt Cộng gọi là có tươi, đây là một sáng chế mới của các đỉnh-cao-trí-tuệ-loài-người, để chỉ thịt, cá, tôm, cua trong bữa ăn).

    Một buổi sáng, trước khi đội đi chặt nứa, tên trung úy trại phó ra trước đội, giải thích cho bọn tôi về chính sách khoan hồng cải tạo của “Cách Mạng”. Y nói đủ thứ chuyện và sau chót đến chuyện chống gậy đi làm, y nói: "Các anh chống gậy như vậy là có ý đồ xấu, các anh muốn nói cho nhân dân biết rằng các anh đang bị hành hạ, bị bỏ đói đến nỗi các anh không còn đi đứng vững vàng nữa mà phải chống gậy mới đi nổi. Bắt đầu từ bây giờ, tôi không muốn thấy ai chống gậy ra khỏi trại nữa, các anh đi lao động phải có khí thế."

    Thế là người nào có gậy phải bỏ lại tại chỗ, trước khi xuất trại. Phần lớn chúng tôi đã mất sức rất nhiều. Mỗi khi bước lên bậc tam cấp thường phải để một chân lên bậc phía trên rồi dùng tay chống vào đầu gối (phía trên) để đưa chân kia lên. Thịt trong người đã tiêu đi gần hết, chỉ còn da bọc xương. Xương bàn toạ chỉ còn lớp da mỏng bọc bên ngoài cho nên rất khó khăn (đau mông) khi ngồi bình thường. Cách ngồi tương đối dễ chịu là ngồi nghiêng để cho sức nặng của cơ thể chịu trên đùi trái hoặc đùi phải của mình, tránh cho xương bàn toạ đụng chạm tới chỗ ngồi.

    Có một điều lạ lùng là khi đã leo tới chỗ có nứa để chặt, và đã có dăm ba cây nứa ngả xuống rồi, đồng thời đã nghe được tiếng chặt nứa của những người xung quanh, thì lúc đó tự nhiên thấy hăng lên và quên mất cái mệt của mình. Có lẽ trường hợp này cũng giống như một người lính trước khi đụng trận thì còn sợ sệt nhưng khi đã có tiếng súng nổ, đã ngửi thấy mùi thuốc súng toả ra từ nòng súng, và nhất là khi đã thấy một đồng đội của mình nằm xuống thì lúc đó người lính hết còn biết sợ là gì nữa.


    4.23. Anh Nguyễn Phước Bảo Thận
    Tổ tôi có anh Nguyễn Phước Bảo-Thận. Nguyễn Phước để chỉ dòng dõi hoàng tộc của nhà Nguyễn (Gia Long). Bảo Thận là tên và thứ bậc trong dòng tộc. Anh Thận mang chữ Bảo tức là ngang vai vế với hoàng tử Bảo Long (con vua Bảo Đại). Anh Thận trước đây là thiếu tá (quận trưởng?), mang kiếng cận nặng. Dáng người anh nhỏ thó và có nước da ngăm đen. Anh Thận là một trong những người làm việc ít khi đạt chỉ tiêu nhưng vì anh hiền lành và không tỏ ra bướng bỉnh với đội trưởng cho nên cũng đỡ bị Diêu chèn ép.

    Anh Thận có một cái đặc biệt mà tôi không thể quên được, đó là: Khi ngồi ăn cơm, anh luôn luôn dùng một cái khăn trắng phủ trên hai đùi. Có một thời gian, trại cho tù ăn bột mì thay gạo. Nhà bếp nhào bột mì, rồi nặn thành cục, khi thì cục tròn gần như cái bánh bao, lúc thì có hình dạng dài như cái bánh mì, rồi đem luộc. Thường thường, mỗi bữa, mỗi người được một cái. Hầu hết người nào cũng ăn vèo một cái là xong bữa ăn. Anh Thận thì trái lại, anh ngồi ngay ngắn, lấy khăn trắng ra, phủ lên hai đùi; sau đó anh dùng một con dao (do anh tự chế bằng tre) cắt bánh mì ra từng miếng nhỏ giống như quân súc sắc (đổ xí ngầu), rồi anh dùng cái tăm tre lớn, xâm từng cục đưa lên miệng nhai thật kỹ trước khi nuốt. Khi anh ăn xong bữa trưa thì cũng gần tới lúc kẻng báo thức để chuẩn bị đi làm buổi chiều. Chỗ ngồi ăn cơm của tổ tôi được phân chia rõ rệt, ai chỗ nào thì cứ chỗ ấy mà ngồi vì đó cũng là chỗ của mình để bát đũa và đồ đựng cơm. Anh Thận ngồi cách tôi một người (Nguyễn Xuân Hiếu) vì thế mà tôi và Hiếu biết rõ cung cách ăn uống của anh.

    Có lần Hiếu và tôi đã ăn xong, đứng dậy, mà anh Thận vẫn còn đang từ tốn cắt bánh mì (luộc). Hiếu vừa cười mỉm vừa lắc đầu, nói nhỏ vào tai tôi, “Con cháu của vua chúa có khác, còn bọn mình là gốc cu- li (*) thì chơi theo kiểu cu-li.”

    (*) Cu-li là chữ Pháp đã được Việt hóa từ lâu, người Việt miền Bắc hay dùng với hàm ý khinh rẻ những người làm công việc nặng nhọc bằng chân tay; coulis/coolie = phu; ví dụ như: phu khuân vác, phu kéo xe, phu quét đường v.v…Tiếng Anh cũng có chữ coolie,và được giải thích như sau: An unskilled laborer or porter usu. in or from the Far East hired for low or subsistence wages (Merriam-Webster Collegiate Dictionary).



    4.24. Một ngày "làm việc"
    "Làm việc" có nghĩa là bị gọi đi thẩm vấn về một chuyện nào đó. Hai chữ "làm việc" đối với bọn tôi không những là chẳng ưa thích mà còn là một nỗi hoang mang nữa. Một buổi sáng, trong lúc xếp hàng chuẩn bị đi chặt nứa thì đội trưởng Phạm Ngọc Diêu kêu tên tôi và bảo tôi hôm nay ở nhà "làm việc với cán bộ." Tôi không hiểu mình đã vi phạm điều gì trong nội quy của trại mà phải ở nhà "làm việc". Một số anh em trong đội nhìn tôi với ánh mắt ái ngại. Ông Thanh già (dân Phú Nhuận) đứng cạnh tôi, ghé vào tai tôi nói nhỏ, "Chuẩn bị tinh thần đi, nó sẽ quần (quay, hạch hỏi) ông đấy."

    Sau khi đội tôi ra khỏi trại, tên quản giáo (Thiếu Úy Ngân) từ trên Ban Chỉ Huy trại đi xuống và bảo tôi đi theo hắn lên phòng của hắn. Vào trong nhà, hắn chỉ cái ghế ở trước mặt và bảo tôi ngồi xuống ghế. Ngoài mặt tôi vẫn làm tỉnh nhưng trong bụng thì đánh lô tô vì chưa hiểu nguyên do "làm việc" hôm nay là gì. Ngân mở đầu bằng cách nói về vợ con tôi rằng, "Trại đã liên lạc với địa phương và được báo cáo là vợ con anh bây giờ đã ổn định rồi, do đó anh phải an tâm cải tạo để mau được về với vợ con anh..." Sau đó hắn đi vào vấn đề chủ yếu hôm nay, hắn hỏi:

    - Anh đang học đạo, phải không?

    Nhờ câu hỏi này, tôi hết còn lo sợ gì nữa vì chuyện này sai hoàn toàn. Tôi sực nhớ lại vài đêm trước đây tôi và anh Nguyễn Xuân Hiếu (hiện ở Cali) đã đàm luận đôi điều về Kinh Thánh trước khi ngủ. Và, tôi cũng biết chắc chắn người báo cáo (ăng ten) là Lê Văn San vì anh Hiếu nằm giữa, tôi và San nằm hai bên Hiếu. Anh Hiếu nói, tôi nghe được thì San cũng nghe được. Có điều khác một chút là anh Hiếu quay về phía tôi nên tôi nghe được 100%, còn San không nghe được đủ những gì Hiếu nói. Vả lại, San ghét tôi nhất vì tôi khinh hắn ra mặt do thái độ "cỏ đuôi chó" (*) của hắn. Thái độ nịnh bợ Việt Cộng của hắn thì hầu như mọi người đều biết. Ngoài San ra, những người nằm gần tôi đều có thiện cảm với tôi và họ cũng không phải là ăng ten.

    (*) “Cỏ đuôi chó” là một tiếng lóng (slang), chỉ những kẻ theo thời, gió chiều nào ngả theo chiều đó.

    Tôi bắt đầu phản công bằng câu hỏi:

    - Cán bộ bảo rằng tôi học đạo, cán bộ muốn nói là đạo nào vậy?
    - Đạo ông Giêsu, chứ còn đạo nào nữa?
    - Thưa cán bộ, học đạo là vi phạm nội quy của trại, thế thì truyền đạo có vi phạm nội quy không?

    Ngân khựng lại một chút để suy nghĩ, rồi trả lời:

    - Học đạo hay truyền đạo đều vi phạm nội quy cả.
    - Thế tại sao người ta chỉ báo cáo cho cán bộ là tôi học đạo, còn người giảng đạo thì không báo cáo, như thế là họ ghét tôi mà báo cáo, chứ họ đâu có báo cáo đúng sự thực?
    - Tôi sẽ làm việc với người giảng đạo sau. Bây giờ, anh cho biết là anh đã học đạo tới đâu rồi, đã sắp làm phép "giải tội" (**) chưa?

    (**)Bên đạo Công Giáo thì việc đầu tiên của người muốn gia nhập là phải học giáo lý. Sau khi đã thông hiểu giáo lý, người đó sẽ được chịu phép rửa để trở thành tín hữu Công Giáo. Còn phép giải tội (bây giờ gọi là phép hòa giải) chỉ dùng cho những người đã là tín hữu Công Giáo rồi. Người tín hữu này phải vào một phòng kín để kể tội của mình cho vị linh mục nghe; vị linh mục căn cứ vào những tội vừa nghe để khuyên bảo và hướng dẫn cho người này làm những điều cần thiết để tránh tái phạm). Đáng lẽ ra, hắn phải hỏi là tôi đã chịu phép rửa chưa mới đúng.


    Tôi phải cố nín cười vì câu hỏi ngớ ngẩn của Ngân, và trả lời hắn:

    - Thưa cán bộ, tôi là người Công Giáo gốc, ông cố tổ của tôi đã là Công Giáo, truyền cho tới đời tôi, vậy thì tại sao tôi phải học đạo ở đây? Cán bộ có trong tay đầy đủ lý lịch của tôi, trong đó tôi luôn luôn kê khai tôi là người Công Giáo mà. Người nào đã báo cáo rằng tôi đang học đạo là người bố lếu bố láo, cố tình hại tôi mà thôi.

    Ngân thấy tôi nói cứng, hắn còn vớt vát thêm:

    - Anh là đạo gốc, vậy anh có thuộc kinh không?
    - Tôi thuộc rất nhiều kinh , cán bộ muốn tôi đọc kinh gì , tôi sẽ đọc cho cán bộ nghe.

    Tôi nghĩ thầm trong bụng, mày biết chó kinh gì mà bảo tao đọc. Đúng như tôi nghĩ, hắn nói:

    - Anh đọc thử một kinh, kinh gì cũng được, để tôi nghe xem sao.
    - Thưa cán bộ, tôi sẽ đọc kinh "Lạy Cha", kinh này do chính Đức Chúa Giêsu truyền dạy trong lúc Ngài đang đi giảng đạo. Thế rồi tôi đọc hết kinh "Lạy Cha" và còn thêm lời bàn "Mao Tôn Cương" cho hắn nghe nữa. Hắn thấy đã đủ và chẳng có lý do gì hạch hỏi thêm, hắn cho tôi về và nhắc nhở rằng "Anh cố gắng học tập tốt để mau về với gia đình nhé."

    Tôi đã thoát được một ngày "làm việc" và đỡ được chỉ tiêu 50 cây nứa lớn (5 bó) cho ngày hôm đó.


    4.25. Hơn một tuần lễ ăn sắn no
    Xin nói ngay ăn no là do có dịp tự kiếm chác, chứ sức mấy mà bọn Việt Cộng cho ăn no. Sau khi chúng tôi đã làm xong nhà ở (tại địa điểm mới của Trại 5) thì Đội 3 phải làm một số công việc phụ để hoàn chỉnh xung quanh trại. Một trong những công tác đó là dẫn nước (sạch) từ một mạch nước trên sườn núi cho chảy vào khu vực nhà bếp của trại.

    Mỗi buổi tối, chúng tôi ngồi ngoài sân để cho đội trưởng Phạm Ngọc Diêu nhận xét và phê bình công tác trong ngày, sau đó đến phần phân chia công tác cho ngày hôm sau. Chúng tôi thường phải ngồi chịu trận cho tới khi có kẻng ngủ mới được vô nhà. Một buổi tối, trong công tác cho ngày hôm sau, Diêu chỉ định tôi và anh Lương Văn Quang có nhiệm vụ đi chặt luồng về làm máng dẫn nước vào trại. Luồng là một loại cây gần giống như cây nứa nhưng to, dày, và cao hơn nứa nhiều. Đường kính của nó trung bình từ 4 đến 5 inches, chiều cao từ 30 đến 50 ft. Chỉ tiêu cho mỗi người là hai cây luồng/một ngày (không ấn định chiều dài).

    Tôi nói nhỏ với anh Quang, "Sáng mai trước khi xuất trại, anh xuống nhà bếp mồi một điếu thuốc lá và cố gắng giữ lửa mang ra khỏi trại, phần khác để tôi tính." Cũng may là chúng tôi còn được vài gói thuốc lá Sông Cầu mà trại mới phát, do đó chúng tôi sẽ dùng nó để thực hiện kế hoạch này. Tôi chưa ngủ vội mà phải mò mẫm tìm cái quần rách của tôi , xé ra và bện thành một cái nùi giẻ giữ lửa.

    Sáng hôm sau, khi vừa ra khỏi trại, chúng tôi kiếm chỗ khuất để tránh vệ binh gác trên chòi nhìn thấy, hai đứa mồi lửa từ điếu thuốc lá sang cái nùi giẻ để mang theo tới chỗ chặt luồng. Chúng tôi nâng niu nùi giẻ y như là rước đuốc thiêng Olympic vậy. Chúng tôi leo qua mấy ngọn đồi bạt ngàn là sắn (do ai đó trồng từ lâu), cây cao khỏi đầu người. Tôi cào cào lớp đất mỏng thì đã thấy củ. Hai chúng tôi leo lên đỉnh đồi, quan sát bốn phía xem có bộ đội đi tuần không. Thấy êm , tôi dặn anh Quang đứng lại trên đỉnh đồi để canh gác, có gì khả nghi thì ho lên mấy tiếng để tôi phi tang dấu vết.

    Tôi chọn phía sườn đồi khuất tầm nhìn của mọi người, chọn một gốc sắn dễ ăn nhất, tay trái tôi giữ thân cây sắn cho thật chắc để khi chặt ngọn sắn không bị lay động, tay phải tôi cầm con dao tông, chặt một nhát xéo 45 độ cho thân đứt lìa gốc, hai tay tôi giữ phần ngọn đã chặt cho thật ngay ngắn và từ từ hạ nó xuống đất, nhấn nó sâu xuống đất rồi lấy thêm đất vun vào gốc để giữ cho ngọn sắn (vừa chặt) đứng vững như cây bình thường, làm như vậy để nếu có ai ở xa thì không thể nhận biết có tôi đang hoạt động ở đây. Sau đó tôi đào sơ sơ gốc sắn vừa bị chặt và dùng hai tay rút cả chùm củ lên, dễ dàng. Tôi chặt củ và nhét vào bị cái bang (cái túi của người ăn mày trong tiểu thuyết của Kim Dung), còn gốc rễ thì chặt nhỏ và vùi xuống hố cho đỡ chướng mắt.

    Xong việc, hai đứa tôi mới đi tìm khu nào có luồng. Xin nói thêm là thời gian mới ra Bắc, chúng tôi còn nằm trong sự quản lý của bộ đội, dù sao nó cũng đỡ khắt khe hơn là công an. Vả lại, bọn Việt Cộng nghĩ rằng vùng Thác Bà này giống như là một cái rọ lớn, chạy đâu cho thoát. Vì thế, thả chúng tôi từng nhóm nhỏ vào rừng mà không cần có người đi canh chừng. Rất may là hai đứa tôi tìm được một khu có rất nhiều luồng và lại có suối nhỏ, nước trong vắt. Tôi nhận công tác chặt 4 cây luồng cho hai người (2 cây/người), cột lại đàng hoàng. Anh Quang dùng nùi giẻ nhúm lửa hút thuốc lào, dưới đống lửa là sắn. Công việc chặt luồng và nướng sắn xong rất nhanh. Hai đứa ngồi thưởng thức thành quả lao động của mình một cách thoải mái, hút thuốc lào, và tán gẫu cho đến chiều mới về trại. Chúng tôi trù tính là làm sao để khi về đến trại cùng lúc hoặc năm mười phút trước kẻng nghỉ việc. Sở dĩ chúng tôi không muốn về trại sớm quá vì sợ Phạm Ngọc Diêu biết rằng hắn ta đã ra chỉ tiêu thấp và, dĩ nhiên, hắn sẽ tăng chỉ tiêu lên 3-4 cây luồng/ngày thì không khá được.

    Chiều hôm đầu tiên, khi vào đến trại, tôi nói nhỏ với anh Nguyễn Xuân Hiếu, nhận phần cơm chiều của tôi và cứ việc ăn hết đi, miễn là phải kín đáo (vì tôi đã no sắn rồi). Tôi vội vã lấy cái lon sữa bò mà tôi thường dùng để đựng canh, cắt ra, đập cho phẳng thành một tấm vỉ thiếc, tôi dùng vài cái "đanh" tre mà tôi đã chuốt sẵn ở trong rừng. Gốc tre già vót thành cái que nhọn cũng tạm dùng được để đục lỗ trên tấm thiếc. Có điều là, cái lỗ đục bằng đanh tre không có gờ sắc cạnh để mài củ sắn. Tôi nghĩ đến cái kéo hớt tóc của tôi; tôi lấy kéo ra, dùng mũi kéo đục thử vài lỗ thì thấy lỗ có cạnh sắc hơn, bào sắn sẽ lẹ làng hơn. Cứ thế tôi tiếp tục đục cho xong cái bàn bào sắn. Cái mũi kéo có bị cùn thì tôi mài lại mấy hồi; tôi là thợ mài dao mà, lo gì.

    Đến ngày thứ hai, chúng tôi đã có đầy đủ dụng cụ để hành sự: Mội cái vỉ kẽm có lỗ để mài sắn thành bột, một bao cát để đựng củ sắn vừa nhổ lên, một con dao làm bằng gốc tre già để lột vỏ sắn (dao tông to quá, khó lột vỏ sắn), và dĩ nhiên là không quên cái nùi giẻ giữ lửa. Khi lên tới đồi sắn, chúng tôi cũng làm như ngày hôm trước nhưng lần này tôi nhổ hai gốc thì mới đầy một bao cát (nặng chừng 25 pounds). Sau đó chúng tôi đi tới chỗ chặt luồng.

    Hôm nay và những ngày kế tiếp, chúng tôi thay đổi nhiệm vụ: Anh Lương Văn Quang, chặt luồng và bó thành hai bó, sau đó nhóm lửa hút thuốc lào. Còn tôi, mang bao sắn xuống suối, lột vỏ, rửa sạch, sau đó bào sắn thành bột nhỏ, vỏ sắn được vùi sâu dưới lòng suối. Công việc cuối cùng của tôi là chặt một số ống nứa còn tươi (phần ngọn cây nứa), dồn bột sắn vào cho gần đầy ống nứa. Chúng tôi xếp những ống nứa này, theo chiều đứng, vào giữa đống lửa, đợi cho đến khi nào ống nứa bị cháy gần hết phía ngoài thì lấy ra. Khi lột vỏ nứa thì bên trong là một thỏi bột sắn nướng hình trụ vàng ươm và thơm phức, giống như một ổ bánh mì mới ra lò. Chúng tôi ăn no, số còn dư thì dấu đem về trại để ăn đêm và chia sẻ cho một vài bạn thân. Cứ thế tiếp diễn cho đến ngày chúng tôi đã lấy đủ luồng cho máng nước thì không còn được đi lấy luồng nữa.

    Về chiều dài cây luồng thì không ấn định là bao nhiêu, tuy nhiên hai đứa tụi tôi đồng ý với nhau là chọn chiều dài cây luồng sao cho coi được, để khỏi bị kiểm điểm, chiều dài cỡ 7 mét (hơn 20 ft) là được rồi, không chặt dài quá, vừa nặng vừa khó vác đi trong rừng. Những cây luồng có thể làm máng nước được thường cao từ 45 đến 50 ft, chúng tôi phải chặt gần sát gốc cho cây ngả xuống, rồi bỏ đi chừng 10 ft phần gốc (dày và nặng), lấy phần giữa 20 ft và bỏ phần ngọn. Anh Quang và tôi đã trải qua những ngày chặt luồng huy hoàng vì được ăn no sắn. Bây giờ, khi nói chuyện qua điện thoại, thỉnh thoảng chúng tôi nhắc lại chuyện ăn bánh sắn nướng khi xưa. Cũng nhờ có những kỷ niệm này mà chúng tôi không quên được nhau dù đã qua hơn ba chục năm rồi.
    (còn tiếp)

  18. #18
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    4.26. Người chưa tới số chết
    Mấy tháng đầu ở vị trí mới, Trại 5 có dịch kiết lỵ, gây tử vong cho một số người. Trại không có thuốc trị bệnh này. Người nào bị bệnh, được trại cho nghỉ lao động và được ăn cháo nấu bằng gạo với mấy hạt muối, ngoài ra không còn gì khác. Người nào thoát khỏi bệnh là do họ có tính miễn dịch cao. Người nào yếu sức thì coi như đi tầu suốt (chết).

    Tôi còn nhớ được hai người đã chết vì bệnh này. Người thứ nhất là anh Tiếu, tổ trưởng Tổ 3, cùng Đội 3 với tôi. Tôi ở Tổ 1. Anh Tiếu chết lẹ vì đang lúc anh còn bệnh mà anh ăn thịt trâu. Cũng như mọi người, vì lâu quá không có chất thịt trong người, gặp dịp trại giết trâu ăn mừng lễ (?), anh Tiếu không thắng nổi cơn cám dỗ, anh liều mạng ăn hết phần thịt trâu của anh mặc dù đã có lời khuyên can của bạn bè. Vì thế anh đã từ giã đồng đội để về bên kia thế giới. Người thứ hai là anh Tường ở Đội 4. Tôi nhớ anh Tường vì trước đây đã có thời gian hai chúng tôi cùng ở Tiểu Đoàn 52 Pháo Binh/Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Tường khoá 15 Thủ Đức, sau tôi một khoá. Anh Tường là người vùng Xóm Mới, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định. Mấy ngày trước khi anh chết, tôi được gặp anh lần chót trong khi tôi đi ra nhà vệ sinh “thăm lăng bác” (đi cầu, một lối nói chế giễu của kẻ sa cơ lỡ vận). Từ đội tôi đi cầu, phải đi ngang qua Đội 4. Thấy anh đứng dựa cửa, tôi nán lại hỏi thăm anh vài câu. Lúc đó anh đã xuống sắc rất nhiều rồi, tôi nghĩ rằng rất ít hy vọng cho anh sống sót. Vài ngày sau thì nghe tin anh đã ra đi vĩnh viễn!

    Người bị kiết lỵ mà chưa tới số chết là anh Nguyễn Văn Diện. Tôi và Diện cùng ở Đội 3 nhưng khác tổ, Diện tổ 2, tôi tổ 1. Diện cũng là đại úy Pháo Binh nhưng sau tôi nhiều khóa. Diện thuộc giáo xứ Hoàng Mai, Xóm Mới, quận Gò Vấp. Tôi chỉ biết Diện khi hai người cùng ở Đội 3, Trại 5, hồ Thác Bà nhưng chưa có sự thân tình. Vì thế chúng tôi rất ít trò chuyện với nhau; nhất là thời gian chặt nứa, phần vì mệt mỏi, phần vì bị đội trưởng Phạm Ngọc Diêu kiểm soát khắt khe việc trò chuyện riêng tư.

    Diện cũng như mọi người bị bệnh, được nghỉ lao động và được ăn cháo nấu bằng gạo trong khi chúng tôi phải ăn sắn luộc. Ăn cháo trắng mà không có thuốc trị bệnh thì cũng chẳng ích gì. Qua một vài ngày bệnh, Diện nằm liệt giường, tiêu tiểu tại chỗ, mùi hôi xông lên nồng nặc. Mùi hôi hấp dẫn đám ruồi nhặng bu lại đầy người mà Diện không đủ sức để đuổi chúng đi.

    Một buổi sáng, trong khi chúng tôi đi lao động, tên cán bộ trực trại đi các nhà để kiểm soát. Hắn thấy Diện nằm thoi thóp trên giường thì động lòng trắc ẩn. Hắn gọi nhân viên phụ trách bệnh xá lên hỏi tại sao có người bị bệnh nặng như thế mà không chuyển lên bệnh viện (ở Cẩm Nhân?) để chữa trị. Rồi hắn chỉ thị phải đưa anh Diện đi ngay trong ngày. Khi đội tôi vừa trở về đến trại thì 4 người trong tổ của Diện được giao cho việc khiêng Diện đi bệnh viện ngay. Diện được để nằm trên một cái cáng, mỗi đầu một người khiêng. Cứ đi một quãng thì lại đổi hai người khác vào khiêng; đi không nghỉ để đến bệnh viện càng sớm càng tốt. Nhờ vậy mà anh Diện được cứu sống.


    4.27. Muốn ăn ớt cũng phải hối lộ
    Trên đường tới địa điểm chặt nứa (khoảng 7 km/5 miles) có dăm ba nhà của người Tầy (Nùng) ở gần vệ đường. Ngoài hàng rào nhà nào cũng có nhiều cây ớt mọc hoang, trái chín đỏ au. Chúng tôi thèm ăn ớt cho nên lợi dụng lúc vệ binh không để ý, xẹt vào bứt dăm ba trái bỏ túi về ăn cho cuộc đời thêm cay. Sau này, dân Tầy biết chúng tôi thích ớt, họ thường nhổ cả cây ớt bỏ gần vệ đường cho bọn tôi dễ dàng nhặt bỏ vào túi.

    Chừng vài ngày sau, đội trưởng Phạm Ngọc Diêu nói trước đội rằng lấy ớt như vậy là vi phạm nội quy trại (cấm cải thiện linh tinh), từ nay cấm không ai được lấy ớt dọc đường nữa. Vài bữa sau, trên đường đi, tôi thấy một cây ớt nằm gần mé đường, tôi chụp đại và chia cho mấy người đi gần với tôi mỗi người mấy trái để "ăn lấy thảo", còn bao nhiêu tôi vặt bỏ vào túi. Anh Lương Văn Quang nói nhỏ vào tai tôi, "Coi chừng thằng Diêu, nó nhìn thấy rồi đấy". Tôi bảo anh Quang, "Đừng lo, nó thuộc loại nhòng mà" (nhòng là một loại chim gần giống như con sáo/cưỡng chuyên môn ăn ớt).

    Chiều hôm đó, trước bữa cơm tối, tôi tới dúi (kín đáo) vào tay Diêu dăm trái ớt, Diêu vội bỏ vào túi. Thế là tôi yên tâm thưởng thức ớt chiến lợi phẩm, và cho anh Quang biết là "nhòng" có ớt ăn rồi, khỏi lo. Tối hôm đó trong giờ kiểm điểm công tác trong ngày, không thấy Diêu đả động gì tới việc lấy ớt dọc đường ngày hôm đó, thế là thoát.


    4.28. Một tuần lễ có "tươi"
    Xin lập lại, chữ "tươi" Việt Cộng dùng để chỉ thịt, cá, tôm, cua. Ngày nào có ăn thịt, cá thì tụi nó gọi là ngày có tươi. Hồi tôi còn nhỏ, tôi đã được thấy người dân quê dùng cái DẬM để bắt các loại tôm, tép, và cá nhỏ ở ven sông hoặc bờ ao, bờ hồ. Cái dậm có hình dạng gần như cái rổ/rá nhưng vành của nó không tròn trịa như cái rổ mà có hình dạng gần như là bầu dục với một bên là đường thẳng. Ta có thể tưởng tượng là nếu nhìn thẳng vào trong lòng của cái dậm thì cái vành dậm trông giống như là một cái cánh cung đã được căng dây (cung). Cái dậm có cán dài độ 1 mét rưỡi (5 ft), người đánh dậm đứng ở dưới nước, sát bờ ao/hồ/sông, chụp cái dậm xuống nước phía trước mặt, chân phải đạp vào một ống tre (cũng có chiều dài tương đương với mặt dậm và cũng có tay cầm, tay cầm gắn vào hai đầu ống tre tạo thành 1/2 vòng tròn). Động tác đạp ống tre là để dồn tôm tép cho chúng chạy vào trong lòng dậm, sau đó nhấc dậm lên và gom tôm tép cho vào giỏ, cứ thế tiếp tục cho đến khi nào đủ ăn thì nghỉ.

    Ở bờ hồ Thác Bà, có rất nhiều tép và cá bống nhỏ cỡ đầu đũa ăn cơm thường lẩn quẩn phía dưới những đám bèo (lục bình). Tôi sực nghĩ tới cái dậm. Tôi sẽ đan một cái "dậm", tôi không thể đan thành một cái dậm hẳn hoi, nhưng tôi sẽ đan một cái rổ lớn, đường kính độ 80 cm (gần 3 ft), sau đó uốn cái vành rổ tương tự như vành dậm. Tôi phải lợi dụng lúc đi rừng, kiếm vật liệu đan rổ, sau khi đã đủ vật liệu thì phải bỏ ra một ngày Chủ Nhật (không phải đi rừng) đan cho xong cái dậm rồi đem ra bờ hồ dìm sâu xuống nước để chờ sử dụng.

    Đội 3 nằm giữa Đội 1 và Đội 5, Đội 1 ở trên cùng, kế đến là Đội 3, rồi đến Đội 5 (nằm phía bờ hồ). Mỗi đội ở một căn nhà (lán), hai bên hông lán có chái (patio) đùng để bàn ăn, đội có 4 tổ, mỗi tổ có một chái ngay sát nơi ngủ của tổ. Tổ 1 của tôi nhìn về hướng Đội 1, cách Đội 1 một cái sân (cũng là đường đi), đường đi nằm cao hơn nền lán của tôi độ chừng 70 cm (hơn 2 ft), do đó chỗ chúng tôi ngồi ăn cơm ở chái (patio) tương đối kín đáo (và kín gió cho việc nấu nướng).

    Anh Nguyễn Tiến Hanh (khoá 15 PB), anh Nguyễn Xuân Hiếu (khoá 17 PB) và tôi (khóa 14 PB) là ba người cùng ở một tổ. Chúng tôi lập thành nhóm "Ba chàng Ngự Lâm Pháo Thủ" để kiếm thêm tôm tép cho bữa ăn bằng cái dậm. Khi đội đi lao động về tới trại, thay vì như mọi khi chúng tôi ra bờ hồ tắm giặt thì bây giờ đổi lại: 1) Anh Hanh là người ở lại lán để nhận phần ăn của ba người, đồng thời dùng nứa khô và lon gô (hộp đựng sữa Guizgo) để nấu sẵn nước sôi (1/3 lon). 2) Anh Hiếu mang theo một cái ca và một cái rổ nhỏ cùng đi với tôi ra bờ hồ. 3) Tôi lãnh nhiệm vụ đánh dậm, được mẻ nào tôi chuyền ngay cho anh Hiếu để làm sạch sẽ. Cứ thế cho đến khi được gần đầy lon gô thì thôi. Thành quả lao động gồm đủ thứ như tép (nhiều nhất), tôm, cá bống con, đôi khi có cả cá lóc nhỏ, và cua nữa. Vào đến trại, chỉ việc đổ tôm tép vào lon nước sôi và nấu tiếp một vài phút là đã ăn được rồi vì tôm cá nhỏ rất mau chín , gia vị là muối mà thôi, tuy vậy ba đứa tụi tôi ăn mà cảm thấy như đi ăn nhà hàng Soái Kình Lâm ở Chợ Lớn vậy.

    Được độ một tuần lễ thì bị ăng ten báo cáo cho đội trưởng Diêu biết. Thế là trong một buổi tập họp, Diêu tuyên bố từ nay cấm không ai được bắt tôm tép ngoài hồ vì đó cũng là vi phạm nội quy trại. Một tuần lễ huy hoàng chấm dứt. Cái dậm của tôi vẫn nằm im lìm dưới đám bèo, và từ nay chắc hết cơ hội được đem ra dùng lại nữa.

    4.29. Anh Dương Văn Hoanh và việc trồng lúa nước
    Nếu không có ai nhắc đến tên anh Hoanh thì chắc chắn là tôi đã quên hẳn anh rồi. Lý do cũng dễ hiểu bởi vì mặc dù Hoanh và tôi ở cùng đội, nhưng hai chúng tôi không quen biết nhau từ trước. Vả lại, lúc ở cùng Đội 3, hai người không ở chung một tổ. Và, anh Hoanh sống rất khép kín cho nên không có cái gì in đậm vào óc tôi. Đến một hôm, trong khi trò chuyện với anh Lương Văn Quang ở Cali, Quang nhắc đến thời gian cầy bừa chung với Hoanh, thì hình ảnh anh Hoanh lại hiện lên trong đầu tôi như còn mới vậy. Mọi thứ, từ dáng người, nụ cười và phong cách của anh trong những ngày tháng ở Trại 5, đều lần lượt hiện ra thật là rõ nét.

    Có thời gian Đội 3/Trại 5 phải đi trồng lúa nước. Anh Hoanh và anh Lương Văn Quang ở tổ cầy bừa cùng với Lê Văn San. Tổ cầy bừa khi đó lo chuẩn bị đất để cho Đội 3 trồng lúa nước ở khu ruộng trên đường đi về xã Cẩm Nhân. Anh Hoanh tương đối còn trẻ, tính tình hiền hoà không làm mất lòng ai. Tôi chưa hề nghe anh than vãn hoặc chửi thề khi nào. Do đó anh không bị đội trưởng Diêu để ý. Tôi cũng chưa thấy anh kiếm chác đồ ăn linh tinh như tôi bao giờ. Tôi biết chắc một điều là không bao giờ anh phản bội anh em trong đội để kiếm điểm như Lê Văn San.

    Anh Lương Văn Quang đã cho tôi biết thêm đôi điều về anh Hoanh vì hai người đã từng đi cầy/bừa với nhau một thời gian. Theo lời kể của anh Quang thì: Anh Hoanh quê ở Mỹ Tho, xã Long Định. Anh thuộc Phi đoàn 219 Trực Thăng. Trong một lần hai máy bay trực thăng đụng nhau, anh Hoanh là người duy nhất sống sót. Hiện giờ anh Hoanh đang làm thợ tiện ở Houston nhưng vì một lý do riêng tư, anh Hoanh rất ít tiếp xúc với bạn bè cũ. Vì anh Hoanh là dân miền Tiền Giang cho nên anh chèo đò thuộc loại siêu đẳng.

    Trại 5 không có xuồng nhưng có bè nứa bề ngang chừng 0,80 cm (gần 3 ft). Anh không chèo bè bằng tay, mà bằng hai chân. Bè của anh có một cái ghế tự chế bằng nứa; anh ngồi dựa lưng trên ghế, hai tay buông lơi một cách thoải mái; còn hai chân anh đặt vào cán chèo, và cứ thế hai chân anh đẩy tới đưa lui, điều khiển cái bè quay trái quẹo phải trông rất thiện nghệ, mà lại đi nhanh hơn là người chèo bằng tay. Ngoài cái tài chèo bè, Hoanh còn rất giỏi về cầy bừa. Trong tổ cầy bừa thì Hoanh đóng vai chính; còn anh Quang và Lê Văn San chỉ là thợ vịn mà thôi. Khi tổ cầy bừa đã chuẩn bị đất xong, cả đội bắt đầu công việc cấy lúa.

    Trước hết là phải đi nhổ mạ ở một mảnh ruộng không xa, bó lại thành từng bó nhỏ rồi gánh tới ruộng để cấy. Mỗi gốc lúa phải cách nhau, ngang cũng như dọc, là 20 cm (8 inches). Một gốc lúa gồm chừng bốn năm cây mạ. Chúng tôi dàn hàng ngang cho hết bề ngang của ruộng, mỗi người phải phụ trách một khoảng để có thể trồng bên trái vài ba gốc, bên phải vài ba gốc. Đội trưởng Diêu có sáng kiến để cho những gốc lúa được thẳng hàng bằng cách lấy dây rừng nối lại thành một sợi dây dài đủ bề ngang ruộng; mỗi đầu dây cột vào một cái cọc tre; hai người đi sát hai bờ vừa cấy vừa có nhiệm vụ căng dây và cắm cọc. Khi đội đã cấy xong một hàng thì sợi dây lại được nhổ lên để đưa tới hàng kế tiếp, và chúng tôi đi giật lùi. Cứ thế cho tới khi nào cấy xong thì chúng tôi lại sang mảnh ruộng khác.

    Đã gọi là trồng lúa nước thì ruộng phải có nước. Nước chỉ ngập đến trên mắt cá chân một chút thôi. Tuy nhiên vẫn có đỉa. Tôi là người sợ đỉa hạng nặng cho nên trước khi lội xuống ruộng, tôi phải xỏ chân vào bít tất (vớ). Muốn cho chắc ăn, tôi phải xỏ hai lần bít tất để cho đỉa lớn, đỉa nhỏ đều phải đứng bên ngoài mà khóc. Đỉa ở đây không nhiều bằng những nơi sau này mà tôi đã từng ở. Từ ngày Trại 5 giải tán, tù nhân được phân tán đi nhiều nơi khác nhau, tôi không còn biết Hoanh đi những nơi nào, và cũng quên anh luôn nếu không có anh Quang nhắc lại chuyện đi cầy ngày đó.
    (còn tiếp)

  19. #19
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    4.30. Đi gặt lúa nương

    Trại 5 có trồng một ít lúa nương (lúa trồng trên sườn đồi theo kiểu người thiểu số), vừa nếp vừa tẻ. Đến mùa gặt hái, Đội 3 được nghỉ mấy ngày chặt nứa để lo việc gặt lúa. Chúng tôi phải tự trang bị cho mình một cái gùi. Gùi là một cái giỏ bằng tre hoặc mây. Nó là một dụng cụ để đựng đồ khi di chuyển trên đường rừng núi, rất thích hợp cho dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Họ thường dùng gùi, đeo sau lưng để mang đồ đạc khô như khoai, sắn, trái cây…

    Khi đan gùi, tôi nói nhỏ với anh Lương Văn Quang là hãy cố gắng đan cho các nan gùi thật khít, đừng để kẽ hở. Lúc đầu anh Quang chưa hiểu ý tôi nhưng anh vẫn cố gắng đan cho nan gùi thật khít với nhau, theo như lời tôi dặn. Buổi đầu tiên đi cắt lúa, mỗi người phải cắt lúa đủ cho đầy (có ngọn) cái gùi của mình là coi như đủ chỉ tiêu. Khi về trại thì đội trưởng Diêu đứng tại kho để kiểm nhận, tôi theo dõi cách thức kiểm nhận lúa của Diêu, hắn ta dường như không để ý từng gùi, mà chỉ đứng cho có mặt để chờ mọi người đổ lúa xong là về lán nghỉ.

    Lần kế tiếp, tôi nói với anh Quang là mình phải ngụy trang để cho phần dưới của gùi trống rỗng càng nhiều càng tốt bằng cách chống mấy ngọn lúa như lớp dàn giá để đỡ những bông lúa ở trên, phần trên gùi thì sắp xếp sao cho có vẻ như là thật đầy để qua mặt Diêu. Lúc đó anh Quang mới hiểu tại sao phải đan gùi cho thật khít. Nhờ cái mánh này mà hai đứa tôi đỡ phải gùi nặng trong khi leo đồi. Có những chỗ, đồi thật dốc, nếu phải cắt nhiều lúa thì phải leo dốc lâu hơn, và dĩ nhiên là mệt hơn. Tôi và anh Quang chỉ cắt nhấp nháy là đã đầy gùi rồi. Chúng tôi có quyền nghỉ. Nghỉ, ở đây, không có nghĩa là ngồi khơi khơi nói chuyện đâu. Nếu làm như vậy, sẽ tạo nghi ngờ cho Diêu ngay. Khi đầy gùi rồi, anh Quang và tôi cũng vẫn làm, nhưng làm à ới; đôi khi cắt giùm cho người nào đi bên cạnh vài ba cọng lúa vì “gùi của tôi đầy rồi, cho anh đấy.”

    Không biết có còn ai khác làm như hai đứa tôi không? Biết đâu đấy, các “tư tưởng lớn” thường gặp nhau mà. Bạn nào đã làm vậy thì hãy mau mau "thành thực khai báo để Cách Mạng khoan hồng cho, mau được về với gia đình."

    Gùi lúa về giao tại kho cũng chưa phải là hết ngày đâu. Đội trưởng Diêu có nhiều sáng kiến lắm! Hắn tuyên bố "Làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm," và ra lệnh cho chúng tôi sau khi cơm chiều xong, cả đội phải xuống hội trường (dùng tạm làm nhà kho) để đạp lúa, tức là dùng chân vò cho hạt lúa tách rời khỏi cọng lúa. Thường thì phải dùng chân trần mới có thể đạp lúa được; mọi thứ giầy dép đều vô dụng cả. Vì thế, da chân không thể tránh khỏi trầy xước, tạo ra ngứa ngáy khó chịu. Chúng tôi phải đạp cho tới gần giờ đi ngủ (9:00 tối) mới được cho nghỉ để chia nhau mấy mẩu sắn luộc gọi là phần ăn bồi dưỡng. Người nào cũng vội vã ăn cho chóng xong, rồi lau chùi chân tay sơ sơ và đi ngủ cho lại sức. Trại 5 trồng lúa nương không nhiều do đó công việc này chỉ diễn ra chừng ba bốn ngày là xong và chúng tôi lại trở về với việc chặt nứa.


    4.31. Hiếu "hòn"
    Xin nói trước với bạn nào đã biết rõ về Hiếu "hòn" thì đừng nên tiết lộ gì thêm ngoài những gì tôi viết dưới đây để tránh cho đương sự khỏi bị lộ diện. Tôi giới hạn tối đa những gì mà người khác có thể đoán ra Hiếu "hòn" là ai, chẳng hạn như ngành nghề, binh chủng, khoá học và địa điểm của khách sạn. Mô tả sơ qua về anh Hiếu, anh là một người nói năng rất điềm đạm và đầm tính, vẻ mặt trông rất hiền lành. Nếu anh mặc cái áo linh mục vào thì không ai bảo anh là linh mục giả cả. Anh là người rất chung tình với bạn bè vì thế tôi rất quí mến anh. Tuy bề ngoài là như vậy nhưng bên trong thì quỉ quái lắm. Anh thuộc loại "lù đù vác lu chạy" đó. Thành ngữ “Chiếc áo không làm nên thày tu” đem áp dụng cho anh Hiếu là không sai tí nào. Tại sao anh lại có biệt danh là Hiếu "hòn"?

    Thời trai trẻ anh chịu khó nghiên cứu về tình dục, vì thế anh rành "sáu câu" lắm. Anh thuộc loại “uyên bác” về ba mươi sáu kiểu, ngày xưa tụi tôi thường gọi là “Tờ răng xít mốt” (tiếng Pháp, trente six modes). Anh cũng tìm hiểu tất cả các điểm nhạy cảm trên cơ thể người đàn bà để khi xung trận, anh dễ dàng đưa họ đến trạng thái đê mê, ngất ngư con tầu đi.

    Trong một khoá học, anh dẫn mấy thằng đàn em (học trò của anh) đi thực tập tại một khách sạn. Anh điều đình mãi mới có được một "chị em ta" đồng ý làm "trợ huấn cụ" cho bài giảng về tình dục của anh với giá gấp ba lần bình thường. Anh chỉ dẫn cho bọn đàn em thấy một cái hạch nhỏ trong bộ phận sinh dục nữ và cho biết rằng đó là một điểm rất nhạy cảm của người nữ. Cái hạch nhỏ trông giống như là một hòn đảo, vì thế anh gọi nó là hòn đảo thần tiên. Xong việc, khi trở về trường, bọn đàn em thường đem "hòn đảo thần tiên" ra bàn tán, dĩ nhiên là không thể thiếu tên anh trong đó. Chữ "Hiếu" gắn liền với "hòn đảo thần tiên" từ ngày ấy. Sau này, họ chỉ giữ lại chữ "hòn" để ghép với chữ "hiếu" thành ra "Hiếu hòn" cho ngắn gọn.

    Khi vào tù, một số đàn em của anh nhớ lại chuyện xưa tích cũ, vẫn dùng biệt danh “hòn” cho anh để phân biệt với những người khác có tên Hiếu như anh. Bây giờ, khi tôi nhắc lại chuyện xưa, anh chỉ cười hề hề, "Mình đã giã từ vũ khí rồi, súng đã quẹo qui-lát (*) rồi, nhắc lại làm gì nữa bạn ơi."

    (*)Tiếng Pháp, culasse = cái khóa nòng súng; tiếng Anh gọi là breech; QL/VNCH có thuật ngữ riêng, breech = cơ bẩm.


    4.32. Hết mùa chặt nứa
    Việc gì rồi cũng phải tới hồi kết cuộc. Việc chặt nứa cũng không ra ngoài qui luật tự nhiên này. Khoảng giữa năm 1978, đội trưởng Diêu thông báo rằng, "Đội ta sắp chấm dứt chặt nứa." Nghe tin này lòng tôi bỗng nhẹ hẳn đi, thế là sắp sửa thoát khỏi một giai đoạn đen tối nhất của cuộc đời tù tội rồi. Sau này dù có làm gì, thì tệ lắm cũng chỉ như chặt nứa là cùng. Vì thế tinh thần tôi phấn chấn hẳn lên và đã ảnh hưởng tốt đến sức khoẻ của mình.

    Chấm dứt chặt nứa không phải vì rừng đã hết nứa, mà cũng chẳng phải vì hết nhu cầu về nứa. Rừng nứa bạt ngàn mà chỉ có hai đội (2 x 50 = 100 người) thì chặt đến bao giờ cho hết được? Về nhu cầu thì các hợp tác xã ở miền xuôi lúc nào mà chả cần tới nứa, nhất là lại mua được giá rẻ, nước sông công tù mà. Lý do chấm dứt chặt nứa là vì bọn Việt Cộng dự tính cho chúng tôi lùi sâu về phía nam để chuẩn bị tránh "bài học" mà Tầu Cộng sắp sửa giảng dậy. Mà "bài học" đó đã thực sự xảy ra hồi tháng 2/1979 trong khi chúng tôi đang ở trại Vĩnh Quang B (Vĩnh Phú) rồi. Nếu như không có "bài học" của Tầu Cộng đầu năm 1979 thì không biết Đội 3/Trại 5 chúng tôi còn phải chặt nứa đến bao giờ. Và nếu vậy thì biết đâu tôi không còn sống nữa để bây giờ có thể ngồi gõ máy kể lại chuyện xưa hầu qui vị! Cảm tạ Thượng Đế!

    Hơn tuần lễ sau khi chúng tôi nghỉ chặt nứa, có một toán y sĩ của Hà Nội (?) xuống khám sức khoẻ tổng quát cho cả trại. Lúc này tôi cân nặng 38 kg (84 lbs) so với chiều cao của tôi là 1,60 mét (5’ 4”); trông tôi giống như bộ xương cách trí biết đi, tuy nhiên tinh thần thì vẫn còn vững mạnh. Công việc thường ngày của trại không còn tính cách xây dựng nữa mà chỉ để duy trì sinh hoạt hàng ngày. Đội thì đi đào sắn đem về cho nhà bếp, đội thì đi chặt củi (nứa) cho nhà bếp, đội thì lo trồng rau xanh, đội thì lo việc sạch sẽ quanh trại.

    Đội tôi được giao công tác chặt nứa về làm củi vì đã có sẵn tay nghề rồi. Chỉ tiêu giao cho mỗi người hai bó nứa, chiều dài độ chừng 1,50 mét (5 ft) và chu vi bó nứa cỡ chừng một vòng tay ôm. Nứa làm củi thì không kén chọn gì cả, vì vậy chỉ cần ra khỏi trại chừng 300 mét (0.2 mile) là có nứa rồi. Đối với Đội 3 tụi tôi thì đây chỉ là chuyện nhỏ, thường làm dư giờ nhưng phải đợi cho đến gần hết giờ nghỉ việc buổi chiều mới tà tà vác nứa về nạp.

    Trong thời gian này có sự sắp xếp lại nhân sự, Việt Cộng gọi là biên chế. Một số anh em phải chuyển đi trại khác. Rồi một số anh em ở những trại khác chuyển tới Trại 5. Tôi thuộc thành phần ở lại, chờ những người trại khác chuyển tới, và vẫn tiếp tục lao động cầm chừng trong vòng một tháng, rồi lại chuẩn bị bè mảng, trở lại phía bờ hồ bên kia để sáp nhập với một số người đang chờ đợi ở Trại 3 (không phải Đội 3).

    Số người mới tới, nhập với Đội 3, hầu hết là cấp thiếu tá. Họ nghe kể chuyện chặt nứa của Đội 3 trước đây, đều lè lưỡi vì theo họ nói thì ở trại cũ, chỉ tiêu của họ chừng mười cây nứa một ngày thôi, mà cũng chẳng đòi hỏi kích thước khó khăn như ở Trại 5 này. Vì thế, đối với họ, hai bó củi nứa/1 ngày bây giờ là cũng hơi nặng rồi. Mà thật vậy, khi đi chung với họ chặt củi nứa, thấy họ chặt rất là vất vả mặc dù không phải là loại nứa kén chọn. Trong số mấy người mới tới, tôi còn nhớ tên một người, đó là anh Bôn, cấp bậc thiếu tá. Tôi nhớ tới anh vì anh cùng binh chủng Pháo Binh với tôi. Từ trước, chúng tôi không biết nhau vì mỗi người ở mỗi Vùng Chiến Thuật khác nhau.

    Anh Bôn rất hiền và nói năng rất là từ tốn cho nên tôi có thiện cảm với anh ngay từ vài ngày đầu. Anh Bôn hay may vá lỉnh kỉnh trong lúc rảnh. Anh thấy tôi có một cái kim khâu lớn, loại dùng để may bao tải, anh rất mê nó và nài nỉ tôi đổi lấy cơm của anh. Vài tháng trước đó, vợ tôi gửi cho tôi một bộ đồ khâu vá của binh sĩ Mỹ, trong đó có đủ kim chỉ để may vá khi ở trong rừng. Tôi thích nhất là cái kim may vải bao bố, vì thích hợp với hoàn cảnh của chúng tôi. Lỗ kim lớn cho nên dễ dùng với sợi chỉ bao bố hoặc bao cát. Nghe anh đề nghị đổi chác, tôi rất khó nghĩ vì không muốn đổi. Nếu từ chối, lại sợ anh buồn. Tôi chỉ còn cách nói cao giá để anh bỏ ý định đó đi. Tôi ra giá là ba chén cơm, lấy làm ba ngày, mỗi ngày một chén. Anh suy nghĩ một hồi rồi lắc đầu từ chối. Thế là xong.

    Tuy nhiên, bây giờ ngồi nghĩ lại, giả thử anh đồng ý đổi thì tôi tính sao đây? Lấy ba chén cơm của anh trong khi anh cũng đang đói như mình thì có nhẫn tâm không? Chả lẽ lại bớt xuống cho anh còn một hoặc hai chén cơm thôi, khó lắm! khó lắm! Cũng may mà anh đã từ chối để tôi không phải ở trong cảnh khó xử. Tôi cũng không hiểu lúc đó, trong thâm tâm, anh nghĩ gì về tôi. Một thằng bất nhân? Một tên coi miếng cơm nặng hơn tình huynh đệ chi binh? Thôi, anh nghĩ gì thì đó là quyền của anh. Hai chúng tôi chỉ ở gần nhau chừng hơn một tháng, rồi mỗi người mỗi nơi; cho đến bây giờ tôi không còn gặp lại anh Bôn nữa.

    Khi sang tới và nhập vào Trại 3, Phạm Ngọc Diêu không còn làm đội trưởng nữa vì hắn đã được chuyển đi nơi khác trước khi chúng tôi sang Trại 3. Cũng là trại tù nhưng khi tới Trại 3 là tôi cảm thấy một bầu không khí thật là dễ thở vì không còn sự có mặt của hung thần Diêu nữa.


    4.33. Con sâu làm giầu nồi canh (không phải rầu)
    Chúng tôi mới ở tù được hơn hai năm nhưng trong cơ thể đã thiếu chất đạm đến mức trầm trọng rồi. Nhìn thấy bất cứ con gì nhúc nhích mà biết rằng ăn vào không nguy hiểm đến tính mạng thì chúng tôi không còn e ngại hoặc ghê tởm như thời kỳ trước năm 1975. Mức độ e sợ hay ghê tởm cũng còn tùy thuộc vào cá tính của mỗi người. Không phải người nào trong chúng tôi cũng có thể cùng ăn được một thứ “con gì nhúc nhích” như nhau đâu.

    Trước đây, tôi cũng như mọi người đều công nhận rằng “Con sâu làm rầu nồi canh.” Thấy trong tô canh có một con sâu nổi lều bều là tôi hết dám ăn, mặc dù con sâu đã được vớt ra bỏ đi rồi. Thế nhưng những ngày tháng trong tù, tôi lần lần hết còn sợ nữa, mà trái lại còn nghĩ rằng con sâu trong tô canh ít ra cũng cho mình một chút chất đạm, và còn tự biện luận rằng con sâu rau đâu có ăn gì khác ngoài lá rau non, vậy thì tại sao lại sợ nhỉ? Nói vậy chứ, ngay lúc đang viết điều này mà bảo tôi ăn tô canh có lẫn một vài con sâu thì chắc tôi chịu thua thôi. Có lẽ đây cũng là lẽ tự nhiên, khi cơ thể đã đầy đủ dưỡng chất thì nó bắt đầu trở nên khó tính, nó phải chọn lựa thứ gì ngon mới chịu ăn chứ.

    Trại 5 có một đội (Đội 4) phụ trách trồng “rau xanh” cho trại (Ngày xưa chỉ nói một chữ rau là đủ nhưng bây giờ Việt Cộng gọi là “rau xanh”; vậy chứ cà chua, cà rốt, cà tím, củ cải đỏ… thì gọi là rau gì?). Trong đội có một anh trung tá Không Quân, trẻ tuổi và đẹp trai, anh tên là N. (xin miễn viết rõ tên, và cũng xin quí vị thuộc quân chủng Không Quân hiểu cho rằng tôi không hề có ý bôi bác KQ đâu nhé, cảm phục quí vị còn chưa đủ nữa là…). Anh N. hằng ngày phải đi bắt sâu rau, anh mang theo một lon gô (hộp đựng sữa bột Guigoz) để đựng sâu rau. Mỗi ngày anh lấy chừng hơn phân nửa lon sâu rau và khi về trại, anh chỉ cần chế “nước sôi” vào lon rồi lắc lắc lon một lúc cho sâu rau tái đi để ăn cho tăng thêm chất đạm. Do vậy tôi thường đùa với bạn bè rằng bây giờ phải nói “Con sâu làm giầu nồi canh” mới đúng. Chữ “nước sôi” tôi để trong ngoặc kép là vì nó không thực sự có độ sôi đủ 100 độ C (212° F) đâu. Nước sôi nấu bằng chảo, miệng rộng, lại không có nắp đậy, củi cháy không đủ lớn thì làm sao nước sôi được. Khi múc nước chia cho các đội thì nước chỉ chừng 70 độ (158° F) là tối đa. Khi về tới đội, chia cho mọi người thì chắc chỉ còn nóng chừng 60 độ (140° F) là cùng. (còn tiếp)

  20. #20
    Join Date
    Apr 2011
    Posts
    134
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Hồi Ký "Tôi đi 'cải tạo'"

    (tiếp theo)

    4.34. Giáng Sinh năm 1976
    Lễ Giáng Sinh thứ nhất ở trong tù là Giáng Sinh năm 1975, khi đó tôi đang bị giam ở Long Giao. Lòng tôi bồn chồn lo lắng, không biết bây giờ mẹ già, vợ dại, và con thơ sinh sống ra sao; tôi chẳng có tin tức gì cả. Đêm trước lễ Giáng Sinh (24/12), tôi cố lắng nghe xem có tiếng chuông giáo đường nào ở vùng này không nhưng chẳng nghe thấy gì. Buồn quá, tôi nằm trằn trọc mãi đến gần sáng mới thiếp đi được một chút. Chưa đâu, lễ Giáng Sinh năm 1976 mới gây cho tôi một ấn tượng khó có thể quên được.

    Lễ Giáng Sinh năm 1976 là Giáng Sinh đầu tiên của những năm tù đầy ở Miền Bắc. Tôi tới Trại 5 (Hoàng Liên Sơn) ngày 01/7/1976. Tính đến ngày lễ Giáng Sinh 1976 là đã được gần 6 tháng rồi. Lúc này Trại 5 đã dời sang phía bên kia hồ Thác Bà, không còn ở gần với Trại 3 và Trại 7 như trước nữa. Ngày 24/12 năm đó, chúng tôi vẫn phải đi rừng như thường lệ, không có một chỉ dấu gì cho biết là ngày hôm sau sẽ được nghỉ lễ Giáng Sinh. Bọn Cộng Sản Việt Nam mới “đuổi giặc Mỹ,” chiếm Miền Nam được hơn một năm, chúng đang dương dương tự đắc là kẻ chiến thắng, tất cả những gì có liên quan đến Tây phương và Công Giáo đều dị ứng đối với chúng. Vì thế làm gì có chuyện được nghỉ lễ Giáng Sinh! Thậm chí, chúng không muốn cho chúng tôi dùng hoặc nói chữ “Chúa Nhật”, mà phải đổi ra là “Chủ Nhật”.

    Đêm 24/12, ở đây, lại càng không thể hy vọng nghe được tiếng chuông giáo đường vì rất nhiều nhà thờ đã biến thành nhà kho hoặc hợp tác xã rồi. Giáo dân chỉ còn biết thờ Chúa trong lòng. Mùa đông năm 1976 cũng là mùa đông rét nhất so với những năm trước (sau này do nghe được dân địa phương kể như vậy). Thật đúng với ý nghĩa câu hát “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời…” Tôi nằm co ro chẳng ngủ được, phần vì không đủ chăn (mền); phần vì nhà ngủ trống trải, gió bấc lùa vào trong nhà qua các khe hở; phần vì nhớ tới và lo lắng cho gia đình trong hoàn cảnh nghiệt ngã này không biết vợ tôi xoay trở ra sao! Mãi tới gần sáng thì trời bắt đầu mưa. Mưa ở đây mùa này không phải là mưa rào mà là mưa dầm gió bấc, mưa dai dẳng nhưng không lớn. Nghĩ vậy nên tôi mừng thầm là may ra mình sẽ được nghỉ lao động ngày 25/12 vì trời mưa.

    Sau khi thức dậy, làm vệ sinh cá nhân, nhìn ra ngoài, trời vẫn mưa. Đội trưởng Phạm Ngọc Diêu khoác áo mưa chạy lên nhận chỉ thị của quản giáo. Một lúc sau, Diêu trở về lán. Ai cũng tưởng là sẽ được nghỉ vì trời mưa. Không dè! Diêu hô “Tập họp đi lao động.” Mọi người chưng hửng vì hy vọng một ngày nghỉ đã bị tiêu tan. Chúng tôi vội vã tìm bất cứ thứ gì có thể che mưa được thì lấy ra khoác vội vào người và chạy ra xếp hàng dưới mưa. Trong khi các đội khác vẫn ngồi trong nhà nhìn ra chúng tôi như để ngầm chia sẻ sự xui xẻo của chúng tôi vì họ đã được thông báo là họ được nghỉ lao động. Hôm nay đội chúng tôi phải đi phát quang con đường mòn từ cổng trại chạy về hướng xã Cẩm Nhân. Như vậy đủ chứng tỏ rằng Diêu lên gặp quản giáo là để xin cho đội đi lao động, chứ không phải là nhận chỉ thị của quản giáo.

    Chúng tôi lầm lũi đi ra khỏi trại dưới mưa. Lòng tôi dâng lên một niềm chua xót, chua xót cho tình đồng đội. Kẻ thù không thương mình đã đành, đằng này chính đồng đội của mình (đội trưởng Diêu) chỉ vì muốn kiếm điểm, muốn “làm con chim đầu buồi” (tôi mượn câu nói của anh Lương Văn Quang) nên đã bắt chúng tôi phải dầm mưa gần trọn ngày 25/12. Trại đâu có bắt đi làm khi trời mưa, bằng chứng là các đội khác không phải đi lao động ngày hôm đó. Tên đồng đội này còn ác ôn hơn cả mấy tên quản giáo nữa!


    4.35. Chuyện khó tin nhưng có thật
    Trại 5 trở lại phía bên kia hồ Thác Bà để sáp nhập với Trại 3 và chuẩn bị di chuyển về phía nam trước khi có chiến tranh với Tầu (2/1979). Ở đây tôi có dịp quen biết một số bạn mới của Trại 3 trong đó có một số trở thành bạn thân của tôi sau này, gồm có các anh Hồ Đắc Thái (vượt biển, chết), Vũ Cao Hiến (khóa 24 Võ Bị Đà Lạt, vượt biển, chết), Nguyễn Chánh Vi (Phi công trực thăng, vượt biển, chết), Võ Tấn Tài (khóa 11 Thủ Đức, hiện ở Houston, Texas) và còn nữa nhưng tôi không nhớ hết. Anh Võ Tấn Tài kể cho tôi một chuyện rất là đặc biệt mà tôi sẽ lặp lại dưới đây. Xin lưu ý là tôi sẽ không nêu tên thật của các nhân vật chính để tránh phiền lụy cho họ (nếu có); ngay cả địa danh và thời gian tôi cũng không đề cập đến. Tôi nói rằng “chuyện có thật” vì người trong chuyện là đàn em của anh Tài. Anh Tài chỉ biết rõ sự thực sau khi được ra khỏi tù và gặp lại đàn em ở Sài-Gòn. Kể từ đây tôi tạm gọi đàn em của anh Tài là X.

    Anh X là một trung úy, trẻ tuổi, độc thân. Anh X cũng bị đưa ra Bắc cải tạo như ai, chứng tỏ X thuộc thành phần “có nhiều nợ máu với nhân dân.” Khi còn ở ngoài Bắc, có thời kỳ anh Tài và X ở chung một trại. Và, anh Tài chỉ biết được rằng X bị teo hai giò, không thể đi lại tự nhiên mà phải nhờ người cõng. Vì vậy mà X được thả ra khỏi tù sớm hơn bình thường. Từ đó hai người không còn liên lạc với nhau nữa. Bẵng đi một thời gian, sau khi anh Tài ra khỏi tù thì một hôm anh Tài gặp một bạn đồng ngũ. Người bạn này cho anh Tài biết rằng “Thằng X hiện giờ đang làm chủ một cơ sở kinh doanh nhỏ tại Sài-Gòn.” Anh Tài chưa tin cho lắm vì anh nghĩ rằng X bị “liệt” hai chân thì làm sao mà làm ăn gì được. Nhưng người bạn này nói rằng X vẫn bình thường, chứ có bị liệt gì đâu. Anh Tài muốn cho chắc ăn nên nhờ luôn người bạn này dẫn đi gặp X ngay để xem thực hư thế nào.

    Khi gặp mặt thì đúng là X “liệt giò” trước đây. Nhưng tại sao X lại hết bệnh kỳ lạ như vậy? Bây giờ X mới thú thực với anh Tài như sau: Trong những dịp đi lao động, anh có quen một gia đình người thiểu số. Gia đình này có mấy người con trong đó có một cô con gái. Cô gái có tình ý với anh X, cả bố mẹ cô cũng rất mến X và tận tình giúp đỡ. Mỗi lần đi chặt cây, X ra nhà cô gái, hai người trò chuyện với nhau suốt cả ngày (có làm gì thì chỉ trời biết) trong khi mấy đứa em cô gái vào rừng chặt cây mang về cho X. Tới giờ về, X chỉ cần vác cây về trại nạp là xong. Bố mẹ cô gái bày mưu tính kế, giúp cho X được thả sớm bằng cách cho X. uống một loại thuốc lá cây. Sau khi uống thuốc, hai chân của X dần dần teo lại chỉ còn da bọc xương. Do đó X được cho làm việc nhẹ ở trại nhưng dần dần X làm bộ liệt giò luôn, không thể đi lại được nữa mà phải nhờ người khác cõng. Trại theo dõi một thời gian, đủ thấy là chân của X không còn có thể hồi phục được nữa, trại đề nghị lên cấp trên phóng thích anh. Gia đình cô gái vẫn luôn luôn theo dõi X, đồng thời mua chuộc cán bộ trại tạo dễ dãi cho X được lui tới nhà cô gái.

    Khi biết X sắp sửa được thả, bố mẹ cô gái móc nối với cán bộ trại để mỗi tuần vài lần, mấy đứa em của cô gái tới cõng X về nhà cô chơi. Nói là ra nhà cô gái chơi nhưng thực sự là để chữa bệnh cho X. Họ đào một cái hố giống như huyệt chôn người nhưng nông hơn, cho X nằm xuống hố rồi họ phủ lên người X nhiều loại lá cây, chỉ chừa cái đầu là không bị phủ kín. X phải nằm như thế mỗi lần mấy giờ đồng hồ. Sau khi đã đủ đô (dose) thì ngưng. Bây giờ X đã cảm thấy trong người khỏe ra nhưng nhìn bên ngoài, hai chân vẫn chưa có dấu hiệu gì thay đổi. Tiếp theo, họ viết cho X một toa thuốc bắc và dặn X khi về đến Sài-Gòn thì bốc thuốc theo toa này mà uống cho đến khi bình phục. X đã làm theo lời dặn và trước mặt anh Tài bây giờ không phải là “thằng X liệt giò” khi xưa nữa. Còn chuyện ân tình giữa X và cô gái thì anh Tài quên hỏi cho nên không biết ra sao.


    4.36. Xin cải tạo thêm
    Công Sản Việt Nam rất ngu dốt về quản trị đất nước nhưng chúng lại thuộc loại đứng đầu thế giới về lưu manh, xảo trá, và bịp bợm. Nhiều người cũng như nhiều nước đã từng bị chúng cho ăn đòn “lừa”. Bài này tôi chỉ giới hạn nói về ngón đòn “lừa” mà chúng áp dụng với các sĩ quan và công chức của Việt Nam Cộng Hòa trước đây thôi.

    Ngay sau ngày 30/4/1975, bọn chúng có “Chính sách 7 điểm” về khoan hồng để trấn an dân chúng Miền Nam. Chính sách là vậy nhưng ở địa phương thì chúng vẫn thi hành những vụ bắt bớ, thủ tiêu, hoặc xử bắn những người “có nợ máu với nhân dân.” Người em trai của tôi đã bị bắt ngay đêm ngày 1/5/1975 và bị một trận đòn thù tưởng rằng không sống nổi chỉ vì tội đã làm “Phó trưởng ấp, phụ trách về an ninh.” Chuyện em tôi bị bắt đã được kể chi tiết ở Chương 2 trên đây rồi.

    Ít ngày sau thì chúng kêu gọi “ngụy quân” từ chuẩn úy trở xuống phải tới phường/xã học tập 3 ngày. Sau 3 ngày học tập, chúng cấp giấy chứng nhận và cho họ về. Đâu có ai dè đây là ngón đòn để nhử các sĩ quan từ thiếu úy trở lên để họ đưa cổ vào tròng. Một thông cáo kêu gọi các sĩ quan từ đại úy trở xuống, mang theo mười ngày ăn, đi trình diện “học tập”. Một thông cáo khác kêu gọi các sĩ quan từ thiếu tá trở lên, mang theo 1 tháng tiền ăn, đi trình diện “học tập.” Ai cũng nghĩ là mình sẽ đi “học” 10 ngày hoặc 1 tháng (tùy theo cấp bậc của mình) rồi sẽ được trở về với gia đình giống như các cấp nhỏ đi 3 ngày rồi về. Lầm to! Lầm to! Chúng đã chơi một đòn ngoạn mục, hốt trọn gói các sĩ quan và công chức Việt Nam Cộng Hoà.

    Sau thời hạn 10 ngày hoặc một tháng, có người nêu thắc mắc thì được giải thích rằng: “Chúng tôi bảo các anh mang tiền ăn 10 ngày (hoặc 1 tháng) là vì lúc đầu chúng tôi chưa thể lo liệu ăn uống cho các anh được, các anh phải tự túc về ăn uống, sau đó Nhà Nước sẽ lo cho các anh, chứ chúng tôi đâu có bảo rằng thời hạn học tập của các anh là 10 ngày (hoặc 1 tháng) đâu.” Hết cãi! Chưa hết đâu. Vài ba tháng sau khi vào rọ, lại có “Chính sách 12 điểm” giải thích cho việc “học tập cải tạo”. Bọn chúng đã chơi chữ trong bản Chính Sách này để cho chúng tôi tự xét tội của mình. Đọc hết 12 điểm thì đa số đều nghĩ rằng nặng lắm thì mình cũng chỉ phải “học tập” 3 năm thôi. Một ông bạn già nằm cạnh tôi (anh Đào Ngọc Tỉnh, đại úy Pháo Binh) nói nhỏ với tôi: “Tụi nó mới mở mấy trang đầu thôi, chúng sẽ mở những trang kế tiếp sau, đừng tưởng bở.” Trong thâm tâm tôi lúc đó cũng chưa tin hẳn những gì anh Tỉnh nói nhưng càng về sau càng thấy anh có lý. Anh Tỉnh đã từng phục vụ trong quân đội Liên Hiệp Pháp và anh cũng đã nếm mùi tù Cộng Sản trước ngày di cư vào Nam (1954) cho nên anh đã hiểu tụi nó nhiều.

    Trong lúc mọi người trông ngày trông tháng, mong cho chóng đến ngày hết “học tập” thì anh Tỉnh lặng lẽ cuốc miếng đất trống nằm giữa hai dãy nhà trại gia binh (Long Giao) để trồng giây rau lang. Anh Tỉnh rất tốt với tôi, anh dạy tôi cắt tóc bằng kéo, đan rổ rá, bện dây thừng bằng chỉ của bao cát, cắt lốp xe làm dép râu (chắc hẳn mấy cái tài vặt này anh học được khi bị tù trước năm 1954). Anh Tỉnh cùng ra Bắc, ở cùng Trại 5 (hồ Thác Bà) với tôi nhưng ở khác đội, tôi Đội 3, anh Đội 5. Anh được thả trước tôi chừng một năm. Từ khi rời khỏi Thác Bà, hai chúng tôi không còn gặp nhau nữa. Khi ra khỏi tù thì mới biết là anh đã chết mấy tháng sau khi được thả. Tôi nhắc đến anh ở đây với lòng thương kính của một “thằng em” mặc dù trước đây tôi chưa hề xác nhận trước mặt anh vị thế “thằng em” này. Tôi mượn những dòng chữ này nói về anh để coi như là một nén hương lòng dâng lên anh, anh Tỉnh nhé.

    Gần cuối năm 1978, chúng tôi đã ở trong rọ hơn ba năm rồi. Chắc là bọn Cộng Sản biết rằng chúng tôi đang thắc mắc về Chính Sách 12 điểm (Nói ỡm ờ rằng sau ba năm sẽ được tha, còn ai không được tha thì sẽ phải đưa ra tòa án xử). Vì thế, chúng lại bầy ra một trò mới - học tập chính trị một tuần lễ. Trước khi bắt đầu vào học tập, cán bộ trại tập họp bọn tôi lại, cho biết “Các anh sẽ có một đợt học tập quan trọng, trong thời gian học tập các anh sẽ được bồi dưỡng để động não (*), các anh phải cố gắng học tập tốt…” Hắn nói tràng giang đại hải nhưng tôi chỉ nhớ tóm tắt đại khái như vậy thôi.

    (*) Bồi dưỡng có nghĩa là mỗi bữa ăn được thêm tí thịt hoặc tí cá và không phải ăn độn khoai lang hoặc khoai mì (sắn). Việt Cộng dùng chữ “Động não” để chỉ sự vận dụng trí óc để suy nghĩ.

    Một toán giảng viên (từ đâu không rõ) tới ở trại trong suốt tuần lễ học tập. Về nội dung các bài học, bọn này nói về tình hình đất nước chưa được ổn định, xã hội chưa hết tàn dư chế độ cũ, nhà nước còn phải lo giải quyết nhiều vấn đề khó khăn… Kế đến là: “Các anh học tập đã có tiến bộ nhưng chưa tiến bộ đủ, sợ rằng nếu bây giờ nhà nước cho các anh về, các anh sẽ bị chao đảo và dễ đi vào con đường sai trái, có hại cho bản thân các anh, gia đình các anh v.v… Vì thế các anh phải xác định và đánh giá mức độ tiến bộ của các anh.”

    Mục đích của tuần lễ học tập này là bọn chúng muốn đánh tan cái ý nghĩ “ba năm được về” và chuẩn bị tư tưởng cho chúng tôi chấp nhận cảnh sống tù đầy lâu hơn bằng cách lèo lái cho chúng tôi tự mình xin cải tạo thêm (không thời hạn) cho đủ tiến bộ. Nói theo kiểu của anh Đào Ngọc Tỉnh thì tụi nó bắt đầu mở sang một trang mới đấy. Sau khi hết bài, chúng bắt bọn tôi phải làm mỗi người một bản “thu hoạch” (một hình thức kiểm tra xem mình đã hiểu gì sau bài học).

    Anh Lương Văn Quang hỏi tôi: “Mình viết gì bây giờ, chả lẽ xin ở tù thêm?” Tôi trả lời: “Mình phải viết thật dài, ít nhất là 5 tờ giấy thếp (tương tự như legal paper), thiếu giấy nó cho thêm, cứ ghi tất cả những câu nói mà bọn nó giảng để tỏ ra mình có chăm chú học tập, nhưng không nên viết mạch lạc, mà phải viết tùm lum tà la để tạo cho chúng nó có cảm tưởng là mình dốt hơn chúng. Và, cái quan trọng là mình không xin học tập thêm. Về phần tôi thì tôi sẽ kết thúc bài thu hoạch rằng sau hơn ba năm cải tạo, tôi tự thấy đã đủ tiến bộ rồi, tôi đã thông hiểu tường tận đường lối chính sách của ‘Cách Mạng’, tôi cam đoan chấp hành các luật lệ của chính quyền địa phương, và bây giờ mong muốn được nhà nước cho về sinh sống với gia đình. Tuy nhiên, nếu ‘Cách Mạng’ thấy cần phải giữ tôi lại để cải tạo lâu hơn thì đó là quyền quyết định của ‘Cách Mạng’, chứ không phải của tôi.”

    Chúng tôi không có đọc bài thu hoạch của nhau nhưng tôi nghĩ rằng anh Quang cũng viết đại khái theo cái ý nêu trên: không tự nguyện xin “học tập cải tạo” thêm. Tôi nghĩ rằng bọn chúng muốn dùng những bài “thu hoạch” này như là một lá bùa hộ mạng để nếu vợ con chúng tôi khiếu nại, hoặc bị Quốc Tế lên án, thì chúng sẽ có bằng chứng để trả lời rằng chúng tôi (những tù nhân) “tự nguyện xin học tập thêm”, chứ tụi nó đâu có muốn giam giữ chúng tôi lâu. (Còn tiếp)

Page 1 of 3 123 LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Replies: 0
    Last Post: 08-24-2011, 06:22 AM
  2. Replies: 0
    Last Post: 07-06-2011, 05:35 AM
  3. "Tuyệt phẩm" theo phong cách "trẹo chân"
    By thienthanyeu9x in forum Xóm Nhà Lá
    Replies: 0
    Last Post: 06-28-2011, 05:53 AM
  4. "Bị" VC khen nhưng "tổng thống" John McCain ngậm bồ hòn nín thinh
    By KennedyPresiden in forum Khoa Học Chính Trị ( Political Science )
    Replies: 3
    Last Post: 07-23-2008, 01:42 PM
  5. "Bị" VC khen nhưng "tổng thống" John McCain ngậm bồ hòn nín thinh
    By KennedyPresiden in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 6
    Last Post: 07-23-2008, 01:32 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •