Thread: Tại sao Đảng CSVN được nhân dan VN và Thế Giới...ủng hộ ?

  
  1. #14761
    Join Date
    Jan 2018
    Posts
    1
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default

    chuc ban mua may ban dat

  2. #14762
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    11,643
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Tại sao Đảng CSVN được nhân dan VN và Thế Giới...ủng hộ ?

    Chuyện tội ác cộng sản Bùi Tín nói thì không sai



    CUỘC CHIẾN 'BIỆT VÔ TĂM TÍCH'
    T/g: Bùi Tín

    Cuộc nội chiến Nam - Bắc ở Việt Nam đã chấm dứt được mấy mươi năm, biết bao tài liệu sách báo, hồi ký đã được viết ra, biết bao tư liệu tuyệt mật của các bên đã được công bố, nhiều cánh cửa đã được mở ra để nhìn rõ bản chất, nguyên nhân, diễn biến, các góc cạnh của cuộc chiến.

    Trong suốt hơn 20 năm qua, tôi đã được đọc không biết bao nhiêu là sách báo, tài liệu của Ngũ Giác Đài, của Bộ Quốc phòng Liên Xô, Pháp, Anh, của Đệ Tam Quốc tế CS, các hồi ký của các tướng tá cả của Quân đội Nhân dân (QĐND) và của Quân lực VN Cộng Hòa, hồi ký về nhà tù CS, hồi ký về thuyền nhân, rồi những tài liệu tù mù thật giả lẫn lộn, phóng ra từ ổ đen tình báo Hoa Nam Trung Quốc. Vậy mà theo tôi vẫn còn nhiều «góc khuất» của cuộc chiến tranh rất nên làm rõ, để cuộc chiến được tái hiện đúng như nó từng diễn ra trên mọi khía cạnh.

    Có những sự kiện nhỏ bé ít người nói đến nhưng lại đóng vai trò rất lớn, có khi có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của cuộc chiến.

    Xin nêu lên một vấn đề làm thí dụ. Tôi tạm gọi vấn đề này là «cuộc chiến biệt vô tăm tích». Đó là tình trạng quân nhân trong QĐND miền Bắc khi đã lên đường vào Nam chiến đấu là cắt đứt mọi quan hệ với gia đình, bạn bè thân thuộc trong một thời gian dài, cho đến khi sống sót được trở ra miền Bắc.

    Có thể nói có
    hàng mấy triệu lượt quân nhân QĐND vượt tuyến như thế, và hàng triệu người đều ở trong hoàn cảnh như thế. Họ lên đường, rồi «biệt vô tăm tích», vì bưu điện Bắc - Nam bị cắt đứt hoàn toàn. Nhưng không hề có một văn bản nào ghi nhận thành chính sách «biệt vô tăm tích» như thế.

    Có lẽ rất hiếm quân đội nào trong thời chiến cùng gia đình họ chịu cảnh chia ly triệt để, kéo dài, chịu một cuộc tra tấn đày đọa tinh thần thâm hiểm đau xót triền miên như thế.

    Trong thời chiến tôi có dịp hỏi chuyện một số sỹ quan phi công Hoa Kỳ bị bắt, họ còn mang theo cả thư, ảnh vợ con, bố mẹ nhận được trước đó vài hôm từ Mỹ gửi sang Thái Lan hay Hạm đội 7. Họ chiến đấu ở xa hàng ngàn dặm mà mối quan hệ tình cảm được đều đặn. Quân nhân của chế độ Cộng sản miền Bắcnước ta chiến đấu trên đất nước mình mà cứ như bị tha hương, đến một tinh cầu nào xa lạ, không một lá thư nào, một hình ảnh nào.

    Bao nhiêu bà mẹ, ông bố, người vợ đêm nằm thương nhớ khôn nguôi người con, người chồng yêu quý của mình, thế rồi chỉ còn có cách nuốt nước mắt vào lòng, cầu Trời khấn Phật cho người thân «biệt vô tăm tích» của mình sống sót trở về.

    Các ông cha bà mẹ, người vợ ấy càng chua xót, đau đớn vì cái tỷ lệ sống sót trở về ngày càng hiếm hoi, «sinh Bắc tử Nam» đã thành số phận gần như thiên định, do cuộc chiến ở miền Nam hết sức ác liệt, dobộ phận lãnh đạo CS sùng bái bạo lực, sắt máu, có dã tâm quyết hy sinh không hạn độ sinh mạng công dân cả nước mình cho tham vọng nhuộm đỏ toàn thế giới của Đệ Tam Quốc Tế CS. Chiến tranh để dành độc lập, rồi «chống Mỹ cứu nước» chỉ là nhãn hiệu bề ngoài che đậy dã tâm trên đây.

    Nếu như đảng CS Việt Nam để cho quân nhân mình được phép liên lạc với gia đình, tổ chức ngành bưu điện quân sự tỏa rộng vào các chiến trường, theo tôi nghĩ, bộ mặt cuộc chiến đã khác hẳn. Chỉ riêng cảnh rùng rợn của chiến trường, số chết bị thương phía CS miền Bắc quá lớn, do quân đội miền Nam và lực lượng Hoa Kỳ có hỏa lực quá mạnh (từ trước năm 1964 chiến trường miền Nam, QĐ miền Bắc nói chung chưa đưa chiên xa vào miền Nam, pháo binh còn thưa thớt, không quân miền Bắc chưa hoạt động được) nên thường thương vong các trận đánh là 3/1, 5/1, có khi 10/1.

    Theo một số báo cáo tuyệt mật tôi được biết khi đi trong các đoàn quân sự cao cấp do tướng
    Võ Nguyên Giáp và tướng Văn Tiến Dũng dẫn đầu, với nhiệm vụ là bí thư báo chí của Bộ trưởng Quốc phòng, sau các đợt «Tổng tiến công và tổng nổi dậy» năm 1968, lực lượng QĐND bị tổn thất nặng hơn bao giờ hết, cơ sở nhân dân bị lộ, nhiều nơi bị mất trắng, có nơi phải đưa bộ đội chính quy miền Bắc vào làm bộ đội địa phương quận huyện. Nhiều đại đội, tiểu đoàn, cho đến cả trung đoàn phải giải thể, sáp nhập vào nhau, có khi đến 2 hay 3 lấn, phải lấy phiên hiệu A, B, C, như Trung đoàn 275 A, 275B, 275C. Ở Khu 5 hồi ấy sỹ quan tử trận nhiều phải đôn gấp tiểu đội trưởng lên đại đội trưởng, tiểu đoàn phó lên trung đoàn trưởng do miền Bắc cử vào không kịp.

    Nếu như thư từ thông suốt, các trận đánh thua tơi bời, chết bị thương như ngả rạ, người bị thương không được cứu chữa, người chết chôn vội rồi đơn vị di chuyển, giải thể không còn biết ở đâu, nếu như cả xã hội được thông tin từ chiến trận, biết rõ những thất bại chồng chất khi ấy thì hậu phương sẽkhông cho phép đảng đem con em mình vào lò thiêu sống như thế. Ở Hoa Kỳ khi các trận đánh qua màn TV đi vào phòng ngủ người dân, số tử vong lính Mỹ lên đến 50 ngàn trong 5 năm là toàn xã hội lên tiếng đòi chấm dứt chiến tranh.

    Tôi từng tham dự nhiều buổi tiễn đưa một số đơn vị vào Nam, khi qua binh trạm cuối «làng HO» thuộc đất Vĩnh Linh là anh em vĩnh biệt miền Bắc trong cảnh tượng xé lòng mà vẫn phải làm ra vẻ bình thản. Ai nấy đều giống nhau, hiểu nhau, cùng nhau đóng kịch. Lúc ấy không còn đường rút lui. Cứ như qua cầu bắc ngang sông là cầu bị cắt. Đã có một số anh em mất tinh thần, liều mạng, muốn quay lui, vào tù cũng được, nhưng không sao lọt. Vì trách nhiệm của các chính ủy đoàn, các chính trị viên, của các chi bộ là ngăn chặn hiện tượng «B tụt», «B tạt», «B quay», nghĩa là tìm cách lẩn vào rừng, tụt lại sau, tạt ra các bản người dân tộc, rồi tìm cách quay về nhà. Rất ít ai thoát được. Những anh em ấy bị truy lùng ráo riết, bị giải về hậu phương, bị tù đày không xét xử, cuối cùng ra tù còn phải chịu cuộc sống bị chính quyền CS phường xóm giám sát, khinh thị, cả họ hàng không sao ngẩng đầu lên được.

    Thời gian «biệt vô tăm tích» người thân của mỗi gia đình một khác, có khi 2, 3 năm, có khi 5, 6 năm, nhiều khi trên 10 năm, tùy chiến trưòng Trị Thiên, Tây Nguyên, Nam Bộ, hay chiến trường Lào, Miên.Không ai biết rõ con em mình ở nơi nào. Rất hiếm khi có những tin tức của bạn bè, đồng hương bị thương trở ra, được biết là người thân ở Khu 5 hay Nam Bộ, hay Tây Nguyên, còn sống, vắn tắt, sơ sài thế thôi. Những quân nhân tử trận được báo tử rất chậm, chậm 1 năm được coi là bình thường, có khi chậm đến 2, 3 năm, do các đơn vị di chuyển sâu, sổ sách luộm thuộm mất mát, các đơn vị chia ra, nhập vào, thay phiên hiệu, cán bộ tử thương. Vì lẽ ấy mà đến nay QĐND miền Bắc có đến 300 ngàn trường hợp quân nhân mất tích, không biết bị tử trận ngày nào, ở đâu.

    Đây là món nợ xã hội của đảng CS đối với nhân dân cho đến nay vẫn không sao trả được. Trong cuộc chiến tranh chống Pháp, con số chính thức của phía Pháp cho biết số tù binh bị phía Việt Nam bắt giam là 5.782 người, đã trao trả nhiều đợt là 3.290, số còn lại là 2.492 phía Việt Nam không giải thích được là sống chết ra sao, vì sao, ở đâu. Đối với tù binh là người Mỹ cũng vậy, số bị bắt giam là gần 2.000, được trao trả là 591 người, số còn lại là 1.350 hay là 1.469 người, (tùy theo tài liệu của Ngũ Giác Đài hay của Quốc hội Mỹ), phía Việt Nam vẫn không giải thích được.

    Đây là thêm chứng minh về lãnh đạo đảng CS cực kỳ vô trách nhiệm đối với sinh mạng con người trong chiến tranh, mặc dầu đã có những quy định quốc tế về trách nhiệm các bên đối với tù binh, về cấm tra tấn, về nuôi dưỡng, chữa bệnh, cho nhận thư từ gia đình, trao trả tù binh đầy đủ sau chiến tranh. Không thể để «biệt vô tăm tích» hàng ngàn trường hợp như thế.

    Có thể nói chính sách «biệt vô tăm tích» là quốc sách rất thâm và cực kỳ độc ác, phi nhân có tính toán của đảng CS trong thời chiến.

    Nó được thực hiện cùng với chính sách cắt đứt triệt để quan hệ Bắc - Nam trong suốt gần 30 năm chiến tranh, nhằm triệt hạ mọi tình cảm ruột thịt, gia đình, bạn bè ở 2 miền, đặc biệt là giữa hàng triệu bà con di cư từ Bắc vào Nam với người thân ngoài Bắc, buộc phải coi nhau là thù địch, cũng là để bóp ngẹt tinh thần phản chiến âm thầm của bà con ta ở cả 2 miền.

    Đây phải chăng cũng là một tội ác, trời không dung đất không tha, của đảng CS để làm nên cái gọi là toàn thắng giả tạo và tạm thời cách đây 40 năm?

    khinh bĩ bọn cộng sản 7 days ago
    Trong thời đại internet này thì người dân trong nước ai ai cũng đều biết là bọn Ba Đình đã giết chết hơn172.000 người miền Bắc trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956 và chôn sống hơn 6.000 người dân Huế năm 1968. Cho nên dù cho bọn Ba Đình có muốn bóp méo sự thật đến đâu đi nữa thì cũng không được. Thật sự thì sau 42 năm người miền Nam phần lớn vẫn còn ghê tởmkhinh bĩ bọn cộng sản, dĩ nhiên là càng ngày càng có thêm người miền Bắc được sáng mắt ra. Và hôm nay thì tôi thật sự khinh bĩ tênNguyễn Thiện Nhân và dòng họ của y.

    Lê Duẩn Đã Nướng hơn 60 Ngàn Quân Bắc Việt Trong tết mậu thân Như thế nào



    https://www.youtube.com/watch?v=cRBoG5Og2nI

    LÊ DUẨN-TRUNG QUỐC TỘI ÁC CHIẾN TRANH!”



    https://www.youtube.com/watch?v=R0HMyR4ezoc
    Last edited by NASA1517; 02-09-2018 at 09:19 AM.

  3. #14763
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    11,643
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Tại sao Đảng CSVN được nhân dan VN và Thế Giới...ủng hộ ?

    Quote Originally Posted by youngvietnamese View Post

    TƯỚNG PHẠM VĂN TRÀ NÓI VỀ THIỆT HẠI CỦA QUÂN ĐỘI BẮC VIỆT TRONG BIẾN CỐ MẬU THÂN 1968



    https://www.youtube.com/watch?v=qZFlCL5LiXY=
    Last edited by NASA1517; 02-09-2018 at 11:51 PM.

  4. #14764
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    5,779
    Thanks
    0
    Thanked 6 Times in 6 Posts

    Default Re: Tại sao Đảng CSVN được nhân dan VN và Thế Giới...ủng hộ ?

    Quote Originally Posted by NASA1517 View Post
    LẬT TẨY TRÒ BỊP TRÁO BÀI BA LÁ V/V HCM CỦA CSVN


    Tụi mày thường tuyên truyền Bác Hồ của tao ấu dâm, nhưng Bác Hồ lại được toàn dân VN ủng hộ đánh Pháp, Mỹ và băng đảng VNCH của tụi mày chạy te tua tơi tả trước năm 1975. Tại sao lại có chuyện kỳ lạ đến như vậy? Tụi mày giải thích cho tao nghe coi có lọt lỗ tai không?

  5. #14765
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    11,643
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Tại sao Đảng CSVN được nhân dan VN và Thế Giới...ủng hộ ?

    Quote Originally Posted by youngvietnamese View Post
    Tại sao lại có chuyện kỳ lạ đến như vậy?
    Cháu Phạm Văn Đồng tiết lộ chính Lê Duẩn và Lê Đức Thọ là hung thủ giết Hồ Chí Minh





    https://www.youtube.com/watch?v=CQa01P6msHg


    Có lẽ Lê Duẩn và Lê Đức Thọ ĐÃ BIẾT HỒ là ai nên đã tìm đủ mọi cách để ÁM SÁT HỒ nhiều lần nhưng bị hụt nhưng cuối cùng cũng giết được hắn bằng cách đầu độc thuốc cho đến chết!

  6. #14766
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    11,643
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Tại sao Đảng CSVN được nhân dan VN và Thế Giới...ủng hộ ?

    Quote Originally Posted by youngvietnamese View Post
    nhưng Bác Hồ lại được toàn dân VN ủng hộ đánh Pháp, Mỹ và băng đảng VNCH của tụi mày chạy te tua tơi tả trước năm 1975.



    Dĩ nhiên
    đó chỉ là tuyên truyền xuyên tạc bị nhồi sọ!


    Đó là vì cái đám "toàn dân" ở miền Bắc bị MÙ TỊT nên đã bị thèng Bác của mày LỪA GẠT để đưa con em của họ vào CHỔ CHẾT! Mày GIẢ VỜ bị ĐUÔI hay bị DỐT MÍT về Tiếng Việt mà KHÔNG HIỂU Bác Bùi Tín đã nói gì à?


    Có thể nói có hàng mấy triệu lượt quân nhân QĐND vượt tuyến như thế, và hàng triệu người đều ở trong hoàn cảnh như thế. Họ lên đường, rồi «biệt vô tăm tích», vì bưu điện Bắc - Nam bị cắt đứt hoàn toàn. Nhưng không hề có một văn bản nào ghi nhận thành chính sách «biệt vô tăm tích» như thế.

    Tại sao lại có chuyện kỳ lạ đến như vậy? Tụi mày giải thích cho tao nghe coi có lọt lỗ tai không?


    Tại sao à? Bác Hồ của mày chẵng những "chuyên Design" ẤU DÂMHúp TRINH Con Nít mà còn là người duy nhất cấu kết với Pháp để Pháp có cơ hội giết hại các "đồng chí cách mạng" của mình là Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai!

    Trong Lúc Giúp Bác mà Có Thai



    https://www.youtube.com/watch?v=br9dSf8Litg

    Đang ở cạnh bác Hồ giúp bác đánh máy mà lại có thai. Ai là tác giả vậy trời!!!


    Do đó Hồ ĐÉO có phải là người duy nhất "đánh" Pháp cả toàn dân 3 miền của đất nước VN và nhiều đảng phái Quốc Gia lẫn các đảng phái Cách Mạng! Biết như vậy là đủ rồi! NÓI LÁO chi cho nhiều cũng vô ích mà thôi!

    Tài Liệu Lịch Sử Hiện Đại đã chứng minh điều đó!

    Giai đoạn vào tháng 2/1946 Pháp cộng sản và HCM có những liên lạc mật thiết để đi tới mục đích bành trướng chủ nghĩa cộng sản tại Đông Dương, nghĩa là trước hết phải nhuộm đỏ cả nước Việt Nam.


    Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp rước Pháp cộng sản vào Hà Nội 3/1946

    no one listened to him except the french communist 2




    https://www.youtube.com/watch?v=AjJGaan3-Dg

    Nhà báo Walter Cronkite trong phim trên đã tuyên bố là không ai công nhận HCM ngoại trừ cộng sản Pháp.

    Hai bên Pháp và HCM liền bắt tay nhau ký Hiệp Ước Sơ Bộ ngày 6/3/1946, trong đó Pháp có quyền tối cao lãnh đạo Việt Minh về mặt quân sự, và công nhận “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” được “tự do” nghĩa là được một số quyền nhưng không được độc lập. Đểm quan trọng hơn hết là có điều khoản “thống nhất 3 kỳ” nghĩa là muốn nhuộm đỏ cả nước Việt Nam. Đây là hành động bán nước đầu tiên của HCM khi chịu sự điều khiển của Pháp trong hệ thống đệ tam quốc tế cộng sản.









    Tướng Pháp Leclerc, HCM, và Đại Sứ Pháp Sainteny nâng ly chúc mừng sau khi ký Hiệp Ước Sơ Bộ. Đây được xem như một hiệp ước bán nước và Hồ bị dân miền Bắc gọi là “Hồ Chí Minh bán nước.”


    Tại sao NÓI LÁO rằng "đánh" Pháp, mà lại cấu kết với Pháp để rước họ vào VN để cho họ có cơ hội đô hộ đất nước VN sau khi VN đã được Nhật Bản đã Trao Trả Độc Lập cho VN trong năm 1945? Sao lại có chuyện CỰC NGU đến vậy? Cái đầu đất BRAINLESS của mày giải thích cho tao nghe thử coi có lọt lỗ tai không nếu không rước Giặc vào nhà ngay từ đầu thì làm sao có chiện Giặc "bành trướng" ở nước ta như thèng TÀU CHỆT hiện nay đấy!

    Hội nghị Thành Đô, ngày 3-4/9/1990

    Theo nhận xét chung cho thấy, sau khi chứng kiến sự sụp đổ của chế độ cộng sản Đông Âu và Liên Sô, Việt Nam bắt đầu lúng túng nên không gì hơn là họp bàn với đàn anh Trung Cộng. Sự kiện lịch sử này xảy ra vào hai ngày 3 và 4 tháng 9, năm 1990 trong một buổi họp có tên là Hội Nghị Thành Đô.

    Tài liệu Wikipedia: Hội Nghị Thành Đô là cuộc hội nghị thượng đỉnh Việt-Trung trong hai ngày 3-4 tháng 9 năm 1990, tại Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên(Trung Quốc) giữa lãnh đạo cao cấp nhất hai Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam – Trung Quốc. Cuộc họp mặt này nhằm mục đích bình thường hóa quan hệ giữa hai nước và hai Đảng. Cho đến nay, nội dung và các thỏa thuận trong cuộc họp của đôi bên vẫn chưa được công bố,[1] tuy nhiên trên trang thông tin chính thức của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cho đăng hình ảnh chụp trong hội nghị, trong những cột mốc ngoại giao quan trọng.[2][3]


    Thành phần tham dự:





    Như tài liệu trên cho biết là nội dung hội nghị này chưa được chính thức công bố, nhưng Wikileaks đã nắm được tài liệu về hội nghị này và tung ra cách nay khoảng 7 năm. Có nhiều chương trình kế hoạch cho 2 bên, nhưng người Việt quan tâm nhất là nước Việt sẽ bị sát nhập vào Trung Cộng năm 2020 coi như thành một tỉnh tự trị.
    Hình ảnh minh chứng trên và những diễn biến xảy ra hằng ngày tại Việt Nam cho thấy Hội Nghị Thành Đô cùng nội dung của Wikileaks đưa ra là sự thật.


    Chúng mày ăn nói sao đây trong 2 năm nữa VN sẽ về tay thèng Tàu Chệt mà lại không vào tay của Pháp? Pháp KHÔNG còn đô hộ bất cứ quốc gia nào trên thế giới hiện nay nên MIỄN BÀN về nước Pháp! Nên bàn về thèng Giặc Phương Bắc đang cố tình xâm chiếm đất nước VN! Đó là chuyện quan trọng của đất nước VN hiện nay mà chúng mày cứ cố tình ĐÁNH LẠC HUỚNG để CHỐI TỘI cho lũ BA ĐÌNH BÁN NƯỚC HẠI DÂN!

    Học Bài Lịch Sử của nước Việt mà học hoài cũng KHÔNG XONG thì nàm sao mà tiếp thu được Lịch Sử Thế Giới!? Rõ ràng là nền giáo dục của XHCN TÀO LAO đã bị TỤT HẬU đến vậy là CÙN cho nên đã làm cho các thế hệ trẻ bị đi THỤT LÙI do không thể "thích nghi" được với Thế Giới Văn Minh Hiện Đại!Bởi chúng KHÔNG thể thoát ra được cái tư duy bị THUI CHỘT mà cứ mãi lòng vòng trong bóng tối LƯỜI BIẾNG ĐỘNG NÃO để đi tìm hiểu cho ra Sự Thật!

    Khi đã có những TÀI LIỆU chứng mình Sự Thật từ các cụ lão thành "cắt mạng" thì chúng vẫn
    quyết tâm NGU LÂU nên cố tình phủ nhận Sự Thật và KHÔNG dám chấp nhận Sự Thật! Bởi Sự Thật rất PHỦ PHÀNG sẽ làm cho chúng bị "vỡ mộng" về hình ảnh của một ông già DÂM TẶC nào đó mà chúng chỉ thấy qua trong hình mà thôi chớ chúng KHÔNG thực sự biết cái ông Tàu Hẹ nào đó tự nhiên vào VN tự xưng mình là "Cha Già Dân Tộc" thì ĐÉO có người Việt nào ở miền Nam tin cả bởi VN chỉ có Nguyễn Tất Thành mà thôi nhưng hắn đã bị chết trong tù từ năm 1932 rồi và Chính Phủ Nga đã công bố về việc chôn cất hài cốt của hắn ở bên nước Nga cho nên hà cớ gì phải ca tụng cái tên TỘI ĐỒ Dân Tộc đang nằm chìn ìn ở lăng Ba Đình để làm ô uế đất nước VN? Nên dùng cái đầu để "động não" mà đi tìm cho ra Sự Thật!




    Ngày nay khoa học, y khoa tiến bộ, muốn biết rõ người thật hay giả, con rơi con rớt chỉ cần giải nghiệm DNA và tướng mạo, vân tay, chiều cao v.v. sẽ tìm ra tông tích không khó. Nhưng vì sợ lộ tẩy chủ mưu tráo bài ba lá của đảng Cọng Sản Việt Nam, nên chưa cho phép thực hiện phương pháp giải nghiệm nói trên, chúng ta đành chào thua. Chờ thời gian “cái kim trong bọc vải sẽ có ngày lòi xì “.

    Đào Văn Nghệ - Đại Tá CS tiết lộ nhiều bí mật động trời về Đảng CS



    https://www.youtube.com/watch?v=-VoniQjAamI&t=13s
    Hồ Tàu hay Minh Việt?

    Danlambao - Người ta sẽ gọi ông ta là Minh nếu ông ta là người Việt. Gọi là Hồ như cách gọi dành cho người Tàu. Hồ là ai? Minh là ai? Tàu hay Việt? "Cha già" dân tộc nào? Khi mà Hồ Chí Minh được đảng CSVN đem ra làm mẫu mực cho lòng ái quốc thì "lòng" đó dành cho đất nước nào?

    Hồ Chí Minh đã chết những vẫn còn nằm đó giữa lòng thủ đô Hà Nội; vẫn ngự trị trên bàn thờ của hàng triệu đảng viên cộng sản và những kẻ cuồng Hồ; vẫn là khẩu hiệu múa may trên vạn nẻo đường; và yêu nước, đạo đức, lẫn cái gọi là "tư tưởng Hồ Chí Minh" vẫn được nhai đi nhai lại trên từng câu chữ băng rôn, diễn văn, nghị quyết... để đảng cầm quyền soi đường chỉ lối, nắm cổ dân Việt đi theo.


    Trong bối cảnh và hiểm họa của một thời kỳ Bắc thuộc mới được thực hiện qua âm mưu Hán hóa Việt Nam bởi Bắc Kinh lẫn Ba Đình, đi tìm câu trả lời cho nghi vấn Hồ là Tàu hay Minh là Việt lại càng trở nên là một điều cần thiết đối với chúng ta.

    Không phải về sau này nghi vấn thật giả về Hồ Chí Minh mới xuất hiện. Bài viết sau đây của tác giả Neal Stanford được đăng tải từ năm 1954, đã đưa ra một số giả thuyết về kẻ được xưng tụng là "cha già dân tộc" Việt Nam này. Danlambao gửi đến các bạn đọc trong thôn bản dịch của anh Trần Quốc Việt.

    *
    Neal Stanford * Trần Quốc Việt (Danlambao) dịch - Không chỉ là sự suy đoán vu vơ, tức những tin đồn nhà lãnh đạo phiến loạn Đông Dương, Hồ Chí Minh, đã chết. Những người giữ những chức vụ trách nhiệm và thạo tin ở Washington nghĩ có thể nhà lãnh đạo Việt Minh tài giỏi được đào tạo ở Mạc Tư Khoa này đã bị thay thế bởi một người khác giống hệt ông thay cho ông tại những vùng xa xôi mù sương ở Đông Dương.

    Nhiều sự việc xảy ra dường như củng cố giả thuyết như thế - mặc dù người ta đồng ý chúng hầu như không chứng minh được giả thuyết ấy. Thật ra một lý do mà phái thuộc quan điểm chính thức ở Washington muốn người Đông Dương phiến loạn này được mời đến Geneva khi cuộc hội đàm ở đấy đến lúc phải bàn về Đông Dương là thật sự để xem Hồ có phải là Hồ. Họ không nói ông ta không phải là Hồ. Nhưng họ không chắc chắn ông ta là Hồ.

    Cộng sản cần một Hồ, người thật hay, rất có thể, người giả, như một biểu tượng, vừa để đứng đầu phong trào của họ và là điểm quy tụ cho những người Đông Dương.

    Hồ Chí Minh trong thời gian dài, đã không xuất hiện cả trên tin tức và trên ảnh tin tức. Có những tin đồn ông đang ở Bắc Kinh, ông trở lại Mạc Tư Khoa, ông đang ẩn náu tại Vân Nam. Ông không biến mất khỏi tin tức, nhưng ông tan biến vào miền quê Châu Á xa xôi và suốt trong nhiều tháng trời chỉ còn là một cái tên. Rồi mùa xuân hay mùa đông vừa qua này Hồ - hay người nào đấy Việt Minh gọi là Hồ - xuất hiện ở Bắc Kỳ và nhân danh chế độ phiến loạn bắt đầu ra những tuyên bố và ra mặt nhiều lần. Sự biến mất của nhà lãnh đạo Việt Minh, sự vắng mặt lâu của ông, và sự xuất hiện trở lại bất ngờ của ông, tự chúng sẽ chứng minh được giả thuyết rằng đây là Hồ giả người mà đã trở lại như là biểu tượng chống thực dân Pháp và nhà lãnh đạo cộng sản đầy mưu mẹo. Nhưng người ta còn nhận thấy những điều khác.

    Điều thú vị và có thể quan trọng là những hình mới đây của Hồ - những hình chụp ông kể từ khi ông xuất hiện trở lại - không giống hệt lắm những hình chụp trước khi ông biến mất. Nghiên cứu những hình hiện nay và vừa qua cho thấy những sự khác nhau về diện mạo mà sẽ thật khó giải thích khi chỉ mới có nhiều tháng trôi qua. Ít nhất dưới mắt của những người đã quen biết Hồ trong quá khứ và bây giờ xem xét những hình hiện nay của ông, họ cũng có sự hoài nghi thật sự là người đã biến mất chính là người xuất hiện trở lại trên báo chí và hình ảnh. Về Hồ mới này là ai - nếu đúng là một Hồ mới - ta chỉ có thể suy đoán. Có thể biết đâu là anh hay em của Hồ - nhưng không có tài liệu nào nói ông có anh hay em rất giống ông. Có thể biết đâu là một người giả có vẻ mặt khá giống với người thật để đánh lừa hầu hết mọi người và như thế duy trì huyền thoại Hồ Chí Minh.

    Đã có sự gia tăng bạo lực và khủng bố trong vùng Việt Minh chiếm đóng mà chứng tỏ Tướng Võ Nguyên Giáp đã trở thành quyền lực thực sự trong những người phiến loạn. Ông và các đồng nghiệp của ông đàn áp đối lập, ngay cả khuyết điểm nhỏ nhặt nhất, một cách tàn bạo mà chứng tỏ một chế độ quân phiệt mà về mức độ nào đấy không hợp với tính cách của Hồ Chí Minh.

    Cho đến bây giờ không viên chức Mỹ nào có bằng chứng nhà lãnh đạo phiến loạn, Hồ, không phải là Hồ, hay bằng chứng ông hoặc đã chết, bị thủ tiêu, hay bị thay thế. Nhưng họ thật sự tin họ có đủ chứng cứ gián tiếp để nêu lên một nghi ngờ hợp lý về lý lịch của Hồ hiện nay. Có lẽ nếu có thể đồng ý rằng Hồ Chí Minh tham gia vào cuộc hội đàm Geneva với tư cách đại biểu của Việt Minh thì người ta có thể kiểm tra xem có đúng Hồ hiện nay là Hồ thật. Còn bây giờ ta chỉ có thể nói có sự hoài nghi không chắc chắn - những vẫn là sự hoài nghi về lý lịch của ông.

    Washington, 28/4/1954.

    Neal Stanford
    Nguồn:

    BáoThe Christian Science Monitor số ra ngày 28 tháng Tư năm 1954, trang 18. Tựa đề nguyên tác Who is Ho?


    (Bài tiếng Anh đã được tác giả xin phép để đăng trên Danlambao)

    Bản tiếng Việt:
    Trần Quốc Việt

    TB: Nếu cho rằng HCM đánh Pháp để giành độc lập cho dân tộc Việt Nam thì tại sao lại muốn giết cả dân Việt Nam để giành chiến thắng? Hành động này chỉ có thể giải thích là nước Việt Nam là bàn đạp cho Hồ bước lên vai trò lãnh tụ cộng sản và thi hành nhiệm vụ theo lệnh đàn anh Nga Tàu. Người dân Việt Nam chỉ là những con vật hy sinh. Đất nước dân tộc trở thành tro bụi, còn Hồ thì vẫn còn “tổ quốc” kia để trở về. T Lan (bút danh của HCM) trong quyển “Vừa Đi Đường….” có đoạn Hồ than thở khi bị quân Tưởng lùng bắt rằng phải tìm đường trở về “tổ quốc Liên Xô”.

  7. #14767
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    5,779
    Thanks
    0
    Thanked 6 Times in 6 Posts

    Default Re: Tại sao Đảng CSVN được nhân dan VN và Thế Giới...ủng hộ ?

    TB: Nếu cho rằng HCM đánh Pháp để giành độc lập cho dân tộc Việt Nam thì tại sao lại muốn giết cả dân Việt Nam để giành chiến thắng? Hành động này chỉ có thể giải thích là nước Việt Nam là bàn đạp cho Hồ bước lên vài trò lănh tụ cộng sản và thi hành nhiệm vụ theo lệnh đàn anh Nga Tàu. Người dân Việt Nam chỉ là những con vật hy sinh. Đất nước dân tộc trở thành tro bụi, còn Hồ thì vẫn còn tổ quốc kia để trở về. T Lan (bút danh của HCM) trong quyển Vừa Đi Đường. có đoạn Hồ thân thở khi bị quân Tưởng lùng bắt rằng phải tìm đường trở về tổ quốc Liên X.
    Tại vì thằng Pháp, thằng Mỹ mướn mày giết đồng bào trước nên Bác Hồ phải ra lệnh giết lại để tự vệ. Bây giờ chúng mày lại bôi nhọ nói xấu Bác Hồ nên không ai tin tưởng chúng mày cả.

  8. #14768
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    11,643
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Tại sao Đảng CSVN được nhân dan VN và Thế Giới...ủng hộ ?

    Quote Originally Posted by youngvietnamese View Post
    Tại vì thằng Pháp, thằng Mỹ mướn mày giết đồng bào trước nên Bác Hồ phải ra lệnh giết lại để tự vệ. Bây giờ chúng mày lại bôi nhọ nói xấu Bác Hồ nên không ai tin tưởng chúng mày cả.

    Vậy chắc hơn
    3 triệu đồng bào tại hải ngoại sẽ tin vào cái đầu đất NGU DỐT của mày chắc? Đừng có mơ hoang tưởng con ạ! Con nít con nôi bày đặt a dua NÓI LÁO VÔ ĐỘ! Trong lúc thằng TÀU CHỆT mướn chúng mày GIẾT HẠI đồng bào miền Nam thì tại sao chúng
    mày đều BỎ CHẠY vào các nước Tư Bản để "hạ cánh an toàn" mà sao không ở lại để "bảo vệ" người dân của mình mà còn NÓI LÁO một cách TRƠ TRẼN!?

    Hồ Chính Mi
    là ai thì TAO ĐẾCH CARE bởi Đất Nước VN chỉ có Nguyễn Tất Thành mà thôi nên chúng mày cứ nhắm mắt mà ca tụng những tên TỘI ĐỒ của dân tộc VN thì đích thị chúng mày ĐỒNG LÕA Bán Nước Hại Dân rồi còn gì nữa!


    GUILTY
    as CHARGED!



    "Cuộc đời sự nghiệp của tên cộng sản Hồ nhòe nhẹt, bẩn thỉu, nhem nhuốc nhưng nó đã được tuyên giáo trung ương đảng tô son trét phấn theo quy trình tư tưởng, đạo đức bệnh hoạn, quái đản trong các tác phẩm hư cấu bịa đặt, tự biên soạn, tự khen mình thánh thiện, tài giỏi của Hồ và do chính ông ta bịa đặt, làm ra, phát tán để dẫn dắt cán bộ, đảng viên vào mê lộ, tin Hồ đạo đức, văn minh…


    Ngày 18/3/1946 Hồ Chí Minh mang Pháp cộng sản về Hà Nội để bị người dân miền Bắc lên tiếng ngoài đường phố là “HCM bán nước!



    Tướng Pháp Leclerc, HCM,Đại Sứ Pháp Sainteny nâng ly chúc mừng sau khi ký Hiệp Ước Sơ Bộ. Đây được xem như một hiệp ước bán nước Hồ bị dân miền Bắc gọi là “Hồ Chí Minh bán nước.


    Nhiều tài liệu trên mạng đã chứng minh người cộng sản quốc tế HCM không thể "người vì dân vì nước". Nếu thật sự chống Pháp để giành lại độc lập thì không thể có hành động cầu cạnh Pháp – (Pháp cộng sản và Pháp cộng hòa) - về miền Bắc cùng chính phủ Hồ cai trị Việt Nam. Đó chính là mục tiêu "mượn tay Pháp cộng sản" để đi đến mục tiêu tối hậu là nhuộm đỏ Việt Nam và sau đó là Đông Dương theo lệnh đàn anh Liên Xô.


    Những hiện tượng xảy ra tại Pháp bắt đầu từ 2/6/1946 cho tới trung tuần tháng 9/1946 cho thấy nguyên do đưa đến cuộc chiến tranh Đông Dương đầu tiên vào tháng 12/1946. Đó chính là cuộc chiến tranh ý thức hệ, cuộc chiến chống cộng sản chớ không phải chống thực dân, mà Tổng Thống Richard Nixon đã nhấn mạnh trong cuốn "No More Vietnam: Communism, not colonialism, was the principal cause of the war in Indochina.

    Bút Sử
    2/6/2016
    Sources: Ho Chi Minh, William Duiker, 2000; Ho Chi Minh and His Vietnam, Jean Sainteny, 1970; Why Vietnam, Archimedes Patti, 1980; Britain in Vietnam, Peter Neville, 2007; No More Vietnam, Richard Nixon, 1985, Ho Chi Minh Tên Người Sáng Mãi, Hoàng Sơn Cường, 2008.



    Tội Đồ Hồ Chí Minh


    Thảm Sát Huế Mậu Thân 1968




    Đây là lý do vì sao Liên Hiệp Quốc họ luôn coi chế độ Cộng Sản là đối nghịch với toàn thể nhân loại



    https://www.youtube.com/watch?v=xhGthnv6c7U

    Minh Khai 1 day ago
    Niềm tự hào của
    đảng đĩ CSVN hcm được lọt vào Top của 13 tên đồ tể giết người nhiều nhất thế giới

    3. Ho Chi Minh



    Northern Vietnam
    The death toll:
    1.7 million
    Years in power: 24 (1945-1969)
    The
    most heinous crime: the Vietnam War
    Type of regime: communist
    Cause of death: heart failure
    Last edited by NASA1517; 02-10-2018 at 08:32 PM.

  9. #14769
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    5,779
    Thanks
    0
    Thanked 6 Times in 6 Posts

    Default Re: Tại sao Đảng CSVN được nhân dan VN và Thế Giới...ủng hộ ?

    Vậy chắc hơn 3 triệu đồng bào tại hải ngoại sẽ tin vào cái đầu đất NGU DỐT của mày chắc? Đừng có mơ hoang tưởng con ạ! Con nít con nôi bày đặt a đưa NI LỌ V ĐỘ! Trong lúc thằng TU CHỆT mướn chúng mày GIẾT HẠI đồng bào miền Nam thì tại sao chúng mày đều BỎ CHẠY vào các nước Tư Bản để "hạ cánh an toàn" mà sao không ở lại để "bảo vệ" người dân của mình mà còn NI LO một cách TRƠ TRẼN!?
    Tại vì thằng Mỹ đem quân xâm lăng VN trước nên thằng Tàu phải giúp chúng tao đánh lại thằng Mỹ. Thằng Tàu chỉ lợi dụng chúng tao đánh thằng Mỹ chứ nó không yêu thương gì chúng tao hết, chẳng qua là vì nó sợ thằng Mỹ mà thôi. Cái đầu ngu dốt của tụi mày chả có tí ti suy nghĩ nào hết, nên chúng mày bỏ chạy năm 1975 là phải rồi.

  10. #14770
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    11,643
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Tại sao Đảng CSVN được nhân dan VN và Thế Giới...ủng hộ ?

    Quote Originally Posted by youngvietnamese View Post
    Tại vì thằng Mỹ đem quân xâm lăng VN trước nên thằng Tàu phải giúp chúng tao đánh lại thằng Mỹ. Thằng Tàu chỉ lợi dụng chúng tao đánh thằng Mỹ chứ nó không yêu thương gì chúng tao hết, chẳng qua là vì nó sợ thằng Mỹ mà thôi. Cái đầu ngu dốt của tụi mày chả có tí ti suy nghĩ nào hết, nên chúng mày bỏ chạy năm 1975 là phải rồi.



    Nếu mày KHÔNG chứng minh được điều đó thì rõ ràng mày là CON ĐIẾM THÚI của TÀU CHỆT nên mày mới bênh vực cho thèng GIẶC TÀU CHỆT đang XÂM LĂNG đất nước VN là phải rồi nói đi đâu cho xa vào cái thời ăn lông ở lổ của thèng Cha Bần Cố Nông của mày bị Mỹ TIÊU DIỆT BANH XÁC là phải rồi chớ kêu ka cái giề!






    Mỹ KHÔNG tự nhiên đem quân xâm lăng VN như thèng CHÓ Bắc Kỳ Cộng Sản vừa NÓI LÁO vừa LA LÀNG!

    Mỹ không phải là quân xâm lược như bè lũ việt cộng tuyên truyền LÁO!



    Lâm Viên • 7 hours ago

    "Bên nào phát động chiến tranh"?

    Chính chúng nó
    VC chứ còn ai nữa. Là Hồ bả chó đảng cướp sạch của chúng nó. Là bọn "Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay nhuốm máu đồng bào". HCMđảng cs chó đẻ[CSCĐ] của hắn đã cố ý làm cho dân miền Bắc sống thiếu thốn, cực khổ. Kiểm soát dạ dày của người dân miền Bắc.. để chúng dễ dàng bắt những thanh niên miền Bắc chỉ có một tử lộ "Sinh Bắc Tử Nam".

    Từ
    cướp chính quyền Trần Trọng Kim đến cướp miền Nam... Bây giờ thì ăn chận tiền thế giới viện trợ cho VN, cướp đất đai của dân... Suốt đời chúng nó chỉ toàn làm chuyện cướp giật.

    Dân mình ơi. Hơn nửa thế kỳ bị chúng
    cướp rồi. Không lẽ tới đời cháu chắt chít... cũng vẫn để yên cho chúng cướp?





    Bằng chứng sờ sờ ngay trước mặt là TÀU CỘNG đã xâm chiếm khắp đất nước VN hiện nay mà chúng mày còn ngoan cố to mòm BỐ LÁO à?

    Con bò điên Việt cộng. Coi hình để biết vừa ngu vừa điên. Bộ chính trị Việt cộng bám chặt tàu. (bám cặt là chữ mới của Bùi hèn)


    "Thật
    nhục nhã cho những người cộng sản Việt Nam đã phải bấm bụng để nghe những lời giáo huấn, nhắc nhở từ những người có khác lịch sử và nguồn gốc dân tộc. Đặc biệt Tổng thống Donald Trump nói khá nhiều tới Việt Nam, và sự kiện Hai Bà Trưng khởi nghĩa dành độc lập tự chủ hơn 2000 năm trước (1) nhằm nhắc nhở ĐCSVN về giá trị Độc lập của đất nước Việt Nam mà sớm từ bỏ thái độ quì lạy được làm nô tài cho Thiên triều phương Bắc, cũng như dằn mặt Tập Cận Bình đang có mặt nơi đây về tinh thần chống giặc ngoại xâm của Dân tộc Việt Nam!"



    Trong cơn hoạn nạn mới thấy người văn minh tốt lành







    Sự vô cảm đồng lỏa của dân Việt Cộng trước một đồng loại bị mang ra thiêu sống !

    Thèng TÀU mới là thèng LỢI DỤNG thèng đàn em NGU DỐT VC dùng "Người Việt GIẾT HẠI Người Việt" chớ chúng ĐÉO có thương yêu gì người Việt cả bởi mưu đồ "đô hộ nước VN" của chúng từ 4000 năm trước chớ không phải từ bây giờ! Cái đầu đất NGU DỐT của mày KHÔNG XÀI ĐƯỢC ở các nước Văn Minh là phải rồi bởi chính môn Lịch Sử của nước nhà mày còn KHÔNG HIỂU BIẾT cho rõ ràng thì làm sao mà tiếp thu được Lịch Sử Thế Giới? Bởi thế cho nên chúng mày ĐÃ BỎ CHẠY KHỎI cái CHUỒN CHÓ của chúng mày từ năm 2005 cho đến nay là phải rồi chớ NÓI LÁO chi cho nhiều để tự làm NHỤC cho bản thân mình!







    Đích thị AI là "BỌN CƯỚP GIẬT MÌN và PHÁO KÍCH" để GIẾT HẠI Dân Lành thì 5 triệu Người Việt đang ở Suối Vàng đã rõ rùi! Đất nước của người ta đang được thanh bình thì há cớ gì tự mình đi cướp nước khác!? LOGIC DỐTNONSENSE! Càng NÓI LÁO là càng bị PHẢN TÁC DỤNG!





    Bằng chứng còn sờ sờ ra đó mà lũ DỐT MÍT vẫn ngoan cố CÃI CÙN!





    VC đặt mìn GIẾT HẠI Dân Lành rõ ràng!









    GIẶC từ miền Bắc vô đây



    https://www.youtube.com/watch?v=yD28_AfMtKY




    Last edited by NASA1517; 02-11-2018 at 02:21 PM.

  11. #14771
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    5,779
    Thanks
    0
    Thanked 6 Times in 6 Posts

    Default Re: Tại sao Đảng CSVN được nhân dan VN và Thế Giới...ủng hộ ?

    Lý đó vì sao Liên Hiệp Quốc họ luôn coi chế độ Cộng Sản là đối nghịch với toàn thể nhân loại
    Liên Hiệp Quốc coi chế độ Cộng Sản VN là bạn và luôn coi băng đảng VNCH của chúng mày là lính đánh thuê cho Mỹ và Pháp mới là chính xác. Vì vậy, nhân dân VN mới hợp lực với đảng Cộng Sản đánh đuổi băng đảng VNCH chúng mày ra khỏi miền Nam VN năm 1975. Trước năm 1954, chúng mày là lính đánh thuê cho Pháp, sau năm 1954, Pháp thua trận Điện Biên Phủ nên chúng mày ngả sang làm lính đánh thuê cho Mỹ để kiếm ăn bởi vì thằng Mỹ giàu nhất thế giới.

  12. #14772
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    11,643
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Tại sao Đảng CSVN được nhân dan VN và Thế Giới...ủng hộ ?

    Quote Originally Posted by youngvietnamese View Post
    Liên Hiệp Quốc coi chế độ Cộng Sản VN là bạn và luôn coi băng đảng VNCH của chúng mày là lính đánh thuê cho Mỹ và Pháp mới là chính xác. Vì vậy, nhân dân VN mới hợp lực với đảng Cộng Sản đánh đuổi băng đảng VNCH chúng mày ra khỏi miền Nam VN năm 1975. Trước năm 1954, chúng mày là lính đánh thuê cho Pháp, sau năm 1954, Pháp thua trận Điện Biên Phủ nên chúng mày ngả sang làm lính đánh thuê cho Mỹ để kiếm ăn bởi vì thằng Mỹ giàu nhất thế giới.

    POLITICALLY
    INCORRECT!

    Liên Hiệp Quốc coi chế độ Cộng Sản VN là "bạn DƯỚI HÁNG" của QUỐC TẾ và luôn coi "băng đảng VNCH"NHÂN TÀI của Thế Giới!'

    Bằng chứng
    còn sờ sờ ra đó mà lũ DỐT MÍT vẫn ngoan cố CÃI CÙN!





    "Uy tín của Việt Nam
    XHCN rất cao, được thế giới khâm phục", ai nói là không có?





    2 thèng Nga Tàu xem chúng mày là lính đánh thuê cho họ để thắng được Pháp ở Điện Biên Phủ mới là CHÍNH XÁC. Vì vậy, nhân dân VN ở miền Bắc bị NGU LÂU nên mới hợp lực với đảng Cộng Sản để XUA QUÂN vào miền Nam "đánh đuổi" băng đảng VNCH để hòng ĂN CƯỚPNÓI LÁO VÔ ĐỘ từ năm 1975 đến nay!

    Bằng chứng còn sờ sờ ra đóDỐT MÍT vẫn ngoan cố CÃI CÙN!






    Trước năm 1954, cái đám dân BẦN CỐ NÔNG của chúng mày là "lính đánh thuê" cho NGA TÀU...


    Bằng chứng còn sờ sờ ra đó mà lũ DỐT MÍT vẫn ngoan cố CÃI CÙN!





    Mấy thằng nga thực dân coi v+ như rác, đứng thọc tay túi quần xem bọn nô lệ !!

    Sau khi
    Cộng Sản NGA SÔ bị Mỹ Đánh cho TE TUA nên chúng mày ngả sang làm "lính đánh thuê" cho TÀU CHỆT để kiếm chát và "xung phong" làm NÔ LỆ TÌNH DỤC cho chúng và cả Thế Giới!

    Bằng chứng còn sờ sờ ra đó mà lũ DỐT MÍT vẫn ngoan cố CÃI CÙN!








    Nguyễn Thị Cẩu Nô 4 days ago
    Cả một bày đàn lũ tạp chủng Ba Đình hàng ngày
    sắp hàng ở
    Toà Đại Sứ, Tòa Lảnh Sự M xin giấy
    tờ để xin được đi
    Mỹ ăn bơ thừa, sữa cặn.
    Chúng
    bám vào gót giày của những người mà chúng
    từng gọi là
    "ngụy" để được đi theo Gót giày
    "ngụy" đạp cứt chó của Mỹ, vậy mà, đám cẩu nô
    Ba Đình bám lấy,
    vẫn khen là cứt chó Mỹ thơm hơn
    cức chệt vì có mùi đô la! Chắc là trong đám nầy,
    phải có tên phản quốc YOUNGVEM!!


    Chào mừng vịt nem nàm được cái đinh vít...
    các cháu theo gương boac hù...
    Last edited by NASA1517; 02-11-2018 at 03:14 PM.

  13. #14773
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    11,643
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Tại sao Đảng CSVN được nhân dan VN và Thế Giới...ủng hộ ?

    Một GƯƠNG SÁNG NGỜI dành cho thế hệ hậu sinh bị KÉM Kiến Thức về Lịch Sử Việt Nam để chứng minh Hồ Bả Chó là Tên TỘI ĐỒ DÂN TỘC! Hắn KHÔNG phải là người duy nhất "độc quyền" chống Pháp! Mà nói cho đúng rằng hắn là người duy nhất "rước" GIẶC PHÁP vào Nhà để Giết Hại chính đồng bào của mình! Pháp Thực Dân đã bị Nhật Bản Đảo Chánh từ đầu năm 1945 và BUỘC Pháp phải Trao Trả Độc Lập cho VN qua tay Vua Bảo Đại nên VN ĐÉO có nhu cầu "giành độc lập" trên xương máu của người dân một cách PHÍ PHẠM với nhiều cuộc chiến PHI LÝ và PHI NHÂN!

    Vụ Án Yên Bái: Không Thành Công Thì Thành Nhân

    Published: 10/02/2018 | By: VQ1



    I. Hoàn Cảnh Chính Trị Vào đầu Thế Kỷ 20

    Từ khi Pháp đặt nền đô hộ năm 1884 tại nước ta, dân chúng Việt Nam liên tiếp nổi lên tranh đấu chống Pháp giành độc lập. Lúc đầu, những cuộc khởi nghĩa bạo động nổ ra dữ dội khắp nơi trong nước, nhưng lực lượng quân sự Pháp được trang bị tối tân hơn, đã đàn áp mạnh mẽ và dẹp yên dần dần các cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần vương và Văn thân. Không thể chiến đấu bằng quân sự, các sĩ phu vào đầu thế kỷ 20 kiếm cách tranh đấu khác, chuyển qua vận động duy tân để canh tân đất nước, và từ đó tiến lên đòi hỏi độc lập.

    Cuộc vận động duy tân chia làm hai hướng: Phan Bội Châu chủ trương đưa sinh viên Việt Nam sang Nhật Bản du học để đào tạo cán bộ, đồng thời cầu viện Nhật Bản trở về phục quốc, và Phan Chu Trinh chủ trương phát động phong trào tân văn hóa trong nước, nâng cao dân trí, đề cao dân quyền, khuyến khích mở trường dạy chữ Quốc ngữ, phát triển nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, và thương nghiệp. Những hoạt động mạnh nhất theo đường hướng của Phan Chu Trinh là những tổ chức ở Quảng Nam, trường Dục Thanh cùng công ty Liên Thành ở Phan Thiết, và Ðông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội. Cả hai cuộc vận động Ðông du và Duy tân đều bị người Pháp tìm đủ mọi lý do để đàn áp, và cuối cùng bị tan rã năm 1908.

    Việt Nam đang sống yên lành trong truyền thống và trong khu vực của mình, nhưng từ giữa thế kỷ 19, Việt Nam ở thế chẳng đặng đừng càng ngày càng tham gia vào đời sống chính trị thế giới. Nguyên do là tại Âu Châu, vào thế kỷ 18, cuộc cách mạng kỹ nghệ đã làm cho các nước Âu Châu phát triển giao thương, bành trướng thế lực khắp thế giới vào đầu thế kỷ 19, và không nước nào còn có thể bế quan tỏa cảng. Các nước Âu Châu thi nhau đánh chiếm thuộc địa, thi hành chủ nghĩa thực dân đế quốc. Sang thế kỷ 20, nhu cầu giải phóng dân tộc làm nẩy sinh trào lưu hình thành các đảng phái chính trị hoặc các liên minh quốc tế để mưu cầu việc giải phóng dân tộc, như đảng Cộng Sản ở Âu châu, đảng Quốc Ðại (Congress party) ở Ấn Ðộ, Quốc Dân Ðảng (Kuo min tang) ở Trung Hoa… Những nhà yêu nước Việt Nam liền đi theo hướng đó, thành lập những đảng phái tổ chức theo lối phương tây, tranh đấu vừa bằng đường ngôn luận, nghị trường công khai, và vừa bằng phương thức bạo lực cách mạng bí mật.

    Ở ngoài nước, tại Trung Hoa, Tôn Văn(1) và Quốc Dân Ðảng đã thành công trong cuộc cách mạng Tân Hợi (1911), lật đổ nhà Mãn Thanh. Lúc đầu, cuộc cách mạng còn gặp nhiều trở ngại, nhưng đến năm 1927, thống chế Tưởng Giới Thạch đem quân bắc phạt, thống nhất Trung Hoa dưới chế độ dân chủ. Ðiều nầy càng làm nức lòng những phong trào hoạt động cách mạng Việt Nam.

    Trong khi đó, lãnh tụ Quốc Dân Ðảng Trung Hoa ở miền nam là Hồ Hán Dân đã giúp Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể cùng Phan Bội Châu tập họp các thành phần hoạt động cách mạng Việt Nam đang sống ở Trung Hoa, thành lập Việt Nam Quang Phục Hội tại Sa Hà (Quảng Châu, Trung Hoa) vào đầu năm 1912 (nhâm tý), do Cường Ðể làm hội trưởng và Phan Bội Châu làm tổng lý.(2) Quang Phục Hội đã hoạt động tích cực ở Trung Hoa cũng như ở Việt Nam, nhưng đều bị thất bại.Năm 1924, cũng tại Quảng Châu, những hội viên cấp tiến của Quang Phục Hội đứng ra thành lập Tâm Tâm Xã. Xã có nghĩa là tổ chức, “tâm tâm” là ý hợp tâm đầu, đồng tâm nhất trí. Tâm Tâm Xã đã giao trọng trách ám sát toàn quyền Martial Merlin (cầm quyền từ 10-8-1923 đến 27-7-1925) cho Phạm Hồng Thái khi Merlin ghé Quảng Châu ngày 18-6-1924 trên đường từ Nhật Bản về Việt Nam. Tối hôm đó, Merlin dự tiệc tại khách sạn Victoria, ở Sa Diện, tô giới ngoại quốc ở Quảng Châu. Phạm Hồng Thái giả làm phóng viên, ném vào chỗ ngồi của Merlin một quả bom, làm năm người tử thương, nhưng Merlin thoát hiểm. Phạm Hồng Thái bỏ chạy và nhảy xuống dòng Châu Giang tự tử. Vụ ám sát nầy gây một tiếng vang rất lớn trên chính trường quốc tế.

    Vào đầu năm 1925, do nhu cầu của tình hình, nhất là muốn nhờ sự giúp đỡ của Trung Hoa Quốc Dân Ðảng, Phan Bội Châu dự định cải đổi Việt Nam Quang Phục Hội thành Việt Nam Quốc Dân Ðảng. Ông chưa kịp hoàn tất đảng cương thì bị người Pháp bắt ngày 1-7-1925, đưa về Hà Nội.(3) Người bán tin cho Pháp bắt ông Lý Thụy tức Hồ Chí Minh, nhắm gạt bỏ ông ra khỏi chính trường, và giành lấy việc lãnh đạo những tổ chức chống Pháp ở Trung Hoa.

    Ở trong nước, sau sự thất bại của phong trào Duy tân và Ðông du, người Việt Nam quay qua bạo động chống Pháp trở lại, mà nổi bật nhất là cuộc nổi dậy của Phan Xích Long ở Sài Gòn năm 1913, cuộc khởi nghĩa tại Huế của Việt Nam Quang Phục Hội Trung Kỳ năm 1916 do vua Duy Tân (trị vì 1907-1916) đứng đầu, và cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên do Trịnh Văn Cấn và Lương Ngọc Quyến chủ xướng.(4)

    Tiếp đó, các đảng phái chính trị bắt đầu được hình thành. Lúc đầu, các đảng chính trị khá ôn hòa như đảng Lập Hiến (Parti Constitutionaliste) do các ông Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long, Trương Văn Bền, Phan Văn Trường lập năm 1923 ở Sài Gòn; đảng Thanh Niên do một số giáo sư, ký giả thành lập năm 1926 cũng ở Sài Gòn, xuất bản tờ Jeune Annam (Tân An Nam), nhưng bị đóng cửa ngay; đảng Phục Việt do các ông vừa tân học như Nguyễn Văn Phùng, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Xuân Chữ và vừa cựu học như Ngô Ðức Kế, Lê Văn Huân… thành lập năm 1925 tại Bắc Kỳ (đảng nầy sau đổi tên thành Tân Việt Cách Mạng Ðảng năm 1927).

    Lúc nầy dư luận Việt Nam sôi nổi vì hai sự kiện quan trọng:

    Thứ nhất, sau khi bị bắt tại Trung Hoa vào tháng 7-1925, Phan Bội Châu bị Pháp đem về giam ở ngục thất Hỏa Lò, Hà Nội, bị đưa ra xét xử trước hội đồng đề hình và bị kêu án khổ sai chung thân. Phong trào dân chúng phản đối lan rộng khắp nước. Toàn quyền Alexandre Varenne (cầm quyền 18-11-1925 đến 22-8-1928) phải ân xá Phan Bội Châu và đưa ông vào Huế an trí tháng 12-1925.

    Thứ nhì, Phan Chu Trinh về nước năm 1925, sống và diễn thuyết ở Sài Gòn, rồi qua đời ngày 24-3-1926. Dân chúng trên toàn quốc làm lễ tang và truy điệu ông một cách rầm rộ. Chính trong hoàn cảnh sôi động nầy, Việt Nam Quốc Dân Ðảng được thành lập.

    II. Việt Nam Quốc Dân Ðảng

    Tại Hà Nội, năm 1926 Phạm Tuấn Lâm (Dật Công), Phạm Tuấn Tài (Mộng Tiên) Hoàng Phạm Trân (Nhượng Tống) cùng nhau thành lập Nam Ðồng Thư Xã.(5)

    Năm sau có thêm Nguyễn Thái Học Hồ Văn Mịch gia nhập vào thư xã nầy. Nam Ðồng thư xã chuyên xuất bản các loại sách chính trị phổ thông giúp dân chúng làm quen với tư tưởng cách mạng. Những sách đầu tiên thường do Phạm Tuấn Tài soạn, viết về các nhà cách mạng Trung Hoa như Tôn Dật Tiên, và Ấn Ðộ như Gandhi, về cách mạng thế giới, chủ nghĩa quốc gia…Về sau, sách do thư xã nầy in ra đều bị cấm và bị tịch thu, nhưng các nhân vật trong Nam Ðồng Thư Xã vẫn tiếp tục hoạt động và vận động cùng nhau thành lập một đảng cách mạng. Cuối tháng 10-1927, chi bộ đầu tiên được thành lập do Nguyễn Thái Học làm chi bộ trưởng, gọi là chi bộ Nam Ðồng Thư Xã, làm cốt lõi để đi vận động khắp nơi. Trong vòng một tháng, tổ chức nầy phát triển thêm được 18 chi bộ ở rải rác 14 tỉnh Bắc Kỳ và bắc Trung Kỳ. Cuối cùng, lợi dụng dịp lễ Thiên Chúa Giáng Sinh, dân chúng đi lại sinh hoạt động đúc náo nhiệt, việc kiểm soát an ninh của Pháp không thể chu đáo, một đại hội được triệu tập vào lúc 8 giờ tối ngày 25-12-1927, tại nhà ông Lê Thành Vị, làng Thể Giao, thành phố Hà Nội. Lúc đầu hội nghị tiến hành theo đúng chương trình dự định, nhưng vào giữa cuộc họp, có tin báo động cuộc họp đã bị mật thám Pháp theo dõi, đại hội phải tạm thời giải tán; các thành viên bí mật di chuyển đi chỗ khác, và tái họp vào lúc 2g30 sáng 26-12 ngay tại trụ sở Nam Ðồng Thư Xã. Kết quả đại hội đưa đến quyết định thành lập một đảng phái cách mạng lấy tên là Việt Nam Quốc Dân Ðảng (VNQDĐ) và bầu ra ban lãnh đạo tổng bộ lâm thời như sau:

    Chủ tịch: Nguyễn Thái Học

    Phó chủ tịch: Nguyễn Thế Nghiệp
    Uỷ ban tổ chức: Phó Ðức Chính (Trưởng ban), Lê Văn Phúc (Phó trưởng ban)
    Uỷ ban tuyên truyền: Nhượng Tống (Trưởng ban)
    Uỷ ban ngoại giao: Nguyễn Ngọc Sơn, Hồ Văn Mịch
    Uỷ ban tài chánh: Ðặng Ðình Ðiển, Ðoàn Mạnh Chế
    Uỷ ban giám sát: Nguyễn Hữu Ðạt, Hoàng Trác
    Uỷ ban trinh sát: Trương Ðình Báo, Phạm Tiềm
    Uỷ ban ám sát: Hoàng Văn Tùng
    Uỷ ban binh vụ: (còn trống) (6)

    Nguyễn Thái Học sinh năm quý mão (1902) tại làng Thổ Tang, tổng Lương Ðiền, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên,(7) con ông Nguyễn Văn Hách và bà Nguyễn Thị Quỳnh. Nguyễn Thái Học còn có một em gái là Nguyễn Thị Hiền, và ba em trai là Nguyễn Văn Nho, Nguyễn Văn Lâm, và Nguyễn Văn Nỉ. Lúc nhỏ, Nguyễn Thái Học học chữ Nho. Năm 1913, ông theo học tại trường Pháp Việt phủ Vĩnh Tường, rồi trường Pháp Việt thị trấn Việt Trì. Năm 1921, Nguyễn Thái Học trúng tuyển vào trường Cao Ðẳng Sư Phạm Hà Nội, nhưng học đến năm thứ ba thì Nguyễn Thái Học bỏ trường Sư Phạm, qua học trường Cao Ðẳng Thương Mại Hà Nội. Năm 1925, Nguyễn Thái Học gởi cho toàn quyền Alexandre Varenne một lá thư đề nghị cải cách công thương nghiệp Việt Nam, thiết lập một trường Cao Ðẳng Công Nghệ tại Hà Nội, và cho người Việt được mở trường học. Năm sau, ông viết một thư khác yêu cầu nhà cầm quyền Pháp cải tổ hành chánh, tạo điều kiện cho dân nghèo sống cuộc đời dễ chịu hơn, ban hành quyền tự do ngôn luận… Cả hai lá thư đều không được trả lời.(8)

    Ðang theo học trường Thương Mại, Nguyễn Thái Học gia nhập Nam Ðồng Thư Xã và dấn thân hoạt động cách mạng. Về đời tư, Nguyễn Thái Học có một người vợ tên là Nguyễn Thị Cửu do cha mẹ hỏi cưới theo tập tục xưa, nhưng hai người không hề sống chung. Khi bắt đầu hoạt động chính trị, Nguyễn Thái Học gởi thư xin lỗi cha mẹ về việc nầy và xin để cho bà Cửu đi lấy chồng khác.

    Mục đích và tổ chức của Việt Nam Quốc Dân Ðảng được nêu rõ trong điều lệ đảng. “Mục đích và tôn chỉ của Ðảng là làm một cuộc cách mạng quốc gia, dùng võ lực đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, để lập nên một nước Việt Nam Ðộc lập Cộng hòa. Ðồng thời giúp đỡ các dân tộc bị áp bức trong công cuộc đấu tranh giành độc lập của họ đặc biệt là các lân quốc: Ai Lao, Cao Miên.”(9)

    Về tổ chức, Việt Nam Quốc Dân Ðảng theo cách thức của Trung Hoa Quốc Dân Ðảng. Mỗi chi bộ gồm 19 người; đại biểu chi bộ họp thành tỉnh bộ; đại biểu tỉnh bộ họp thành kỳ bộ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, và Nam Kỳ).(10) Từ chi bộ tới kỳ bộ, mỗi cấp bốn ban: tài chánh, tuyên truyền, trinh thám, và tổ chức. Kỳ bộ cử 6 đại biểu vào tổng bộ. Tổng bộ là cơ quan lãnh đạo tối cao của đảng, đứng đầu là chủ tịch và phó chủ tịch đảng. Ngoài bốn ban trên, tổng bộ còn có thêm bốn ban: giám sát (tư pháp), binh vụ (quân sự), ngoại giao, và ám sát.Chương trình hành động của VNQDĐ được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn “phá hoại”, và giai đoạn “kiến thiết”.

    1. Giai đoạn phá hoại gồm ba thời kỳ:
    (1a) thời kỳ phôi thai: hoạt động bí mật, xây dựng đảng, kết nạp đảng viên;
    (1b) thời kỳ dự bị (sửa soạn): hoạt động nửa bí mật nửa công khai, phát triển tuyên truyền, tổ chức đảng; lập các đoàn: nông, công, binh, học sinh, sinh viên, thanh niên;
    (1c) thời kỳ hành động: dùng võ lực đánh đổ bộ máy thống trị thực dân phong kiến, lập nên chế độ Cộng Hòa Dân Chủ, mang độc lập tự do cho tổ quốc, hạnh phúc cho toàn dân.
    2. Giai đoạn kiến thiết cũng chia làm ba thời kỳ:
    (2a) thời kỳ quân chính: quân cách mạng chiếm đến đâu là thành lập ngay chính quyền cách mạng quân sự đến đó;
    (2b) thời kỳ huấn chính: tổ chức các cơ cấu dân chủ, hướng dẫn dân chúng quen với nếp sống dân chủ về các thể chế mới… Trong hai thời kỳ đầu nầy, áp dụng nguyên tắc “dĩ đảng trị quốc”;
    (2c) thời kỳ hiến chính: tổ chức phổ thông đầu phiếu, bầu cử Quốc dân đại hội, xây dựng hiến pháp và trao trả chính quyền lại cho toàn dân.(11)
    Thể thức kết nạp đảng viên quy định như sau: một người muốn vào đảng, phải có hai đảng viên cũ giới thiệu và bảo lãnh, phải qua sự điều tra trước của uỷ ban trinh thám ít nhất là nửa tháng, phải được toàn thể ban chấp hành chi bộ đồng ý, và sau cùng phải làm lễ tuyên thệ dưới sự chứng kiến của nhân viên tỉnh bộ.Tuy điều kiện kết nạp khá chặt chẽ, nhưng để phát triển đảng nhanh chóng, việc kết nạp đảng viên lúc đầu có phần dễ dãi, bị nhiều thành phần phức tạp trà trộn và từ đó nhiều bí mật đảng bị tiết lộ. Ðiều nầy làm hại đảng rất nhiều nên sau vụ ám sát René Bazin năm 1929, VNQDĐ phải cải tổ.

    III. Hoạt Ðộng Của Việt Nam Quốc Dân Ðảng

    1. Kiếm cách hợp nhất các đảng phái:
    Cơ quan tuyên truyền của đảng là báo Hồn Cách Mạng, in thạch bản, phát hành hạn chế và bí mật vì phải giữ an toàn cho đảng, nên chỉ ra được vài số rồi ngưng vào đầu năm 1929.(12) Một trong những việc làm đầu tiên của tổng bộ lâm thời là kiếm cách liên kết thống nhất với các đảng phái khác để xây dựng một đảng mới vững mạnh khả dĩ đương đầu với chính quyền Pháp. Quyết định nầy được đưa ra sau cuộc họp thường lệ của ban chấp hành lâm thời tổng bộ vào ngày 7-4-1928. Tổng bộ VNQDĐ đã cử Hoàng Văn Tùng liên lạc với Tân Việt Cách Mạng Ðảng, hậu thân của đảng Phục Việt, và cử Nguyễn Ngọc Sơn, Lê Văn Phúc giao thiệp với Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Ðồng Chí Hội. Ðại biểu các đảng họp với nhau nhiều lần nhưng không đạt được kết quả nào, nghĩa là không đi đến sự thống nhất được. Ðối với Tân Việt Cách Mạng Ðảng, đảng của Nguyễn Thái Học đòi thống nhất dưới tên VNQÐD;(13) còn Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Ðồng Chí Hội đòi đặt tổng bộ lãnh đạo ở nước ngoài để khỏi bị Pháp lùng bắt, trong khi VNQÐD chủ trương phải để tổng bộ ở trong nước để nắm vững tình hình hoạt động, gần gũi và chia xẻ bổn phận và trách nhiệm với đảng viên và quần chúng.(14) Cuối cùng không bên nào chịu nhường bên nào, nên các đảng tiếp tục hoạt động riêng lẻ.
    VNQDĐ tổ chức đại hội bầu ban chấp hành tổng bộ nhiệm kỳ 2 vào ngày 1-7-1928, tại nhà Nguyễn Ngọc Sơn ở Gia Lâm, Hà Nội vì theo điều lệ, cứ mỗi sáu tháng bầu lại ban chấp hành một lần. Nguyễn Thái Học tái đắc cử chức chủ tịch. Nguyễn Thế Nghiệp và Ðặng Ðình Ðiển rút lui khỏi ban chấp hành để lo nhiệm vụ khác.(15) Lần nầy có trung sĩ không quân Trần Văn Môn được cử làm trưởng ban binh vụ còn bỏ trống từ nhiệm kỳ lâm thời.

    2. Thành lập khách sạn Việt Nam: Trong phiên họp thường lệ ngày 7-8-1928, ban chấp hành tổng bộ nhiệm kỳ 2 quyết định thành lập tại Hà Nội một khách sạn lấy tên là “Khách sạn Việt Nam” để kinh tài và làm nơi liên lạc cho đảng. Vì ngân quỹ eo hẹp, VNQDĐ phải vay thêm tiền của ông Mai Du Lân, chủ nhiệm Thực Nghiệp Dân Báo, và của một người bà con ông Lê Thành Vị, mới đủ tiền thuê nhà của Thuận Thành Ký, số 38 phố Hàng Bông Ðệm làm trụ sở.Khách sạn Việt Nam chính thức khai trương ngày 30-9-1928. Ban đầu, khách sạn khá đông khách vì giá ở đây rẻ, thức ăn ngon, tiếp đãi ân cần. Rất tiếc khi khách sạn mở ra, nhà cầm quyền Pháp biết ngay mục đích của cơ sở nầy, nên cho người bí mật theo dõi. VNQDĐ cũng biết điều nầy nên chỉ dùng cơ sở nầy làm kinh tài và liên lạc chứ hoàn toàn không tổ chức hội họp ở đây hoặc để lại bút tích giấy tờ. Không bắt được chứng cớ gì, sở mật thám Pháp liền phao tin rằng khách sạn Việt Nam là nơi kinh tài cho hội kín, làm cho nhiều người sợ liên lụy, ít dám lui tới đó nữa.

    3. Liên lạc với Phan Bội Châu: Vào tháng 10-1928, Ðặng Ðình Ðiển được tổng bộ cử vào Huế vấn an Phan Bội Châu đang bị Pháp an trí tại đây, mời ông Phan giữ chức “Chủ tịch Danh dự Việt Nam Quốc Dân Ðảng”, và nhờ ông Phan giúp hai việc: 1) Yêu cầu ông Phan dùng uy tín và đạo đức cá nhân thuyết phục để thống nhất các đảng phái. 2) Yêu cầu ông Phan giúp đỡ về ngoại giao vì ông Phan quen biết nhiều với các chính khách ngoại quốc.Phan Bội Châu vui vẻ nhận lời. Trước khi chia tay, Phan Bội Châu giao cho Ðặng Ðình Ðiển một tấm danh thiếp phía sau đề bốn chữ “Khả dĩ đoạn kim ” (nghĩa là: có thể cắt vàng), để khi tổng bộ VNQDĐ cử người liên lạc, thì cầm tấm danh thiếp làm tin.(16) Phan Bội Châu lúc đó là một nhà chính trị uy danh cả trong lẫn ngoài nước. Sự hỗ trợ tinh thần của ông chứng tỏ ông đồng ý với đường lối của VNQDĐ, và hơn thế nữa, sự hỗ trợ nầy có thể hiểu là Phan Bội Châu thừa nhận Nguyễn Thái Học và những đồng chí của ông là những người kế thừa sự nghiệp giải phóng dân tộc của ông Phan. Nhờ thế, chỉ trong vòng vài năm, VNQDĐ đã phát triển mạnh mẽ rộng khắp mọi miền đất nước.(17)

    4. Phát triển đảng: Trong đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ba ngày 9-12-1928, Nguyễn Thái Học xin từ chức chủ tịch đảng. Theo đúng điều lệ, đại hội lần nầy bầu ba cơ quan độc lập: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nguyễn Khắc Nhu và Nguyễn Thái Học đắc cử chức chủ tịch và phó chủ tịch lập pháp; Nguyễn Thế Nghiệp và Lê Xuân Hy đắc cử chủ tịch và phó chủ tịch hành pháp. Ban tư pháp chưa cần thiết nên chưa được bầu. Tổng bộ mới quyết định mở rộng quan hệ ngoại giao, cử người vào Huế nhờ Phan Bội Châu viết thư giới thiệu để các phái bộ sang Trung Hoa, Nhật Bản tìm cách liên lạc với các đảng cách mạng bạn.Trong phiên họp nầy, Nguyễn Ngọc Sơn báo cáo cho biết đã liên lạc với nhóm Nguyễn An Ninh ở Sài Gòn nhưng thất bại.(18) Ngược lại, một chi bộ đặc biệt đã được thành lập tại Sài Gòn, và sáu chi bộ tại miền Ðông và miền Tây Nam Kỳ, trong đó có nhiều người được võ trang.

    Chi bộ đặc biệt tại Sài Gòn gồm có Trần Huy Liệu, chi bộ trưởng,(19) Ðỗ Xuân Viên, Nguyễn Hòa Hiệp, Nguyễn Phương Thảo, Võ Công Tồn tức Hội đồng Tồn, Nguyễn Hiền Lương, Cao Hữu Tạo, Phạm Hoài Xuân, và Hà Thuận Hồng.Theo tài liệu của sở Mật thám Ðông Dương, vào cuối năm 1928, trên toàn quốc VNQDĐ đã thành lập được 120 chi bộ, kết nạp được khoảng 1.500 đảng viên, trong số đó có 120 người thuộc giới quân sự.(20)

    5. Vụ ám sát René Bazin: Vào đầu thế kỷ 20, tại Bắc Kỳ, Pháp cho tổ chức mộ phu để cung ứng cho các đồn điền ở nam Ðông Dương cũng như cao nguyên nam Trung Kỳ, Nam Kỳ, Cambodge (Cambodia), và các đồn điền ở Nouvelle Calédonie (Tân Thế Giới), một thuộc địa Pháp ở tây nam Thái Bình Dương. Tay trùm mộ phu người Pháp nổi tiếng độc ác nhất lúc bấy giờ là René Bazin. Một khi đã được mộ, những người phu nầy bị xem như là nô lệ, bị bóc lột và hành hạ tàn nhẫn. Ngoài những mánh khóe tuyên truyền, lừa bịp, dụ dỗ, phỉnh gạt để mộ người, Bazin còn cho thủ hạ tìm cách bắt cóc thêm nhiều thanh thiếu niên đem xuống Hải Phòng, bỏ lên tàu gởi đi các nơi.

    Trước tình cảnh nầy, đảng viên VNQDĐ trong các xí nghiệp Hà Nội cử Nguyễn Văn Viên, uỷ viên Thành bộ Hà Nội, đến gặp các nhà lãnh đạo Tổng bộ, yêu cầu ra lệnh xử tử tên Bazin. Nguyễn Thái Học không đồng ý. Ông cho rằng nếu vội vã giết Bazin, nhà cầm quyền Pháp sẽ lập tức trả thù, khủng bố dữ dội, và kiếm cách bắt hết các đảng viên thì đảng sẽ tan rã. Ông yêu cầu các đảng viên phải bình tĩnh chờ đợi thời cơ thuận tiện lật đổ người Pháp thì vụ Bazin tự nhiên giải quyết. Khi Nguyễn Văn Viên trình bày lại ý kiến nầy với các chi đoàn, thì họ vẫn yêu cầu cấp trên cứu xét lại.

    Trong khi đó, Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Ðồng Chí Hội rải truyền đơn chống việc buôn bán nô lệ của Bazin. Ðể cạnh tranh với Ðồng Chí Hội và gây niềm tin trong giới công nhân nhắm phát triển đảng, tuy không được sự chấp thuận của tổng bộ, Nguyễn Văn Viên tự động theo dõi René Bazin. Nhân dịp Tết cổ truyền năm kỷ tỵ (1929), dân chúng đi lại mua bán đông đúc và đốt pháo ồn ào, Nguyễn Văn Viên cùng với hai đồng chí là Nguyễn Văn Lân và Nguyễn Ðức Lung (tức Ký Cao) quyết định thực hiện cuộc ám sát Bazin.

    Vào tối cuối năm mậu thìn (30 Tết), tức 9-2-1929, lúc 8 giờ tối, René Bazin vừa ra khỏi nhà tình nhân là Germaine Carcelle, ở số 110 phố Huế, chợ Hôm, Hà Nội, Nguyễn Văn Viên ra lệnh Nguyễn Ðức Lung đến trao cho Bazin một phong thư, trong đựng bản án tử hình, ngoài bì đề tên Hãng tàu thủy Bạch Thái Bưởi, và Nguyễn Văn Lân tiến đến, bắn hai phát súng kết liễu cuộc đời của tên chúa trùm buôn bán phu thợ.(21)

    IV. Pháp Khủng Bố

    Sau vụ ám sát nầy, Pháp bắt được một học sinh trường Albert Sarraut tên là Léon Sanh ở số 25 phố Hàng Ðào ngày mồng 4 Tết năm kỷ tỵ (13-2-1929). Trước đó Léon Sanh bị mật thám Pháp bắt quả tang đang rải truyền đơn tố cáo việc mộ phu của Bazin, và bị tòa Tiểu hình Hà Nội kết án sáu tháng tù treo. Do tiền án nầy, khi Bazin bị ám sát, mật thám liền khám xét nhà Léon Sanh. Mật thám tìm được một mẩu giấy nhỏ có ghi số 110, và một lá thư ông viết gởi vào Sài Gòn chưa gởi bưu điện, mà mật thám cho rằng chữ viết giống như tự dạng bản án tử hình Bazin. Bị tra khảo nặng nề, Léon Sanh nhận mình là thủ phạm giết Bazin, và khai một đồng phạm tên Trần Bình Nam, nhưng cảnh sát không tìm ra ai có tên nầy.

    Ra trước tòa, theo lời khuyên của luật sư, Léon Sanh cải cung. Cuộc giảo nghiệm của chuyên viên tòa án cho thấy tự dạng lá thư ông viết và chữ viết bản án tử hình Bazin khác nhau. Không có cơ sở để kết tội, Pháp vẫn tuyên bố đã bắt được thủ phạm vụ ám sát Bazin và tống giam Léon Sanh vào ngục thất Hỏa Lò, Hà Nội.(22)Do đã được chỉ điểm, ngày 17-2-1929, sở mật thám Pháp bắt một số khá nhiều đảng viên VNQDĐ. Khi những người nầy bị đưa qua tòa án, biện lý cuộc nhận thấy vấn đề trầm trọng hơn bình thường, nên đã báo cáo thẳng lên phủ toàn quyền. Toàn quyền Pierre Pasquier (23) liền ký nghị định thành lập hội đồng đề hình gồm có:Chánh hội đồng: Jules Brides, thanh tra hành chánh, chính trị Bắc Kỳ(24).

    Uỷ viên: Nicolas, biện lý, Delsalle, đốc lý Hà Nội, Guet, đại uý

    Lục sự: Arnoux Patrich
    Thông ngôn: Hoàng Hữu Phương
    Số đảng viên VNQDĐ bị bắt giam lên tới 227 người,(25) nhưng trước khi hội đồng đề hình quyết định xét xử công khai ngày 2-7-1929, 149 người được thả, chỉ còn 78 người phải ra tòa.Xét xử 78 người mà phiên tòa chỉ kéo dài từ 8 giờ sáng ngày 2-7 và kết thúc lúc 8 giờ tối 3-7, nghĩa là chỉ trong vòng hai ngày làm việc. Trong bản cáo trạng, có đoạn viết: ” …Các giáo viên, công chức, các binh sĩ là những cây cột chống đỡ mái nhà Ðông Dương. Việt Nam Quốc Dân Ðảng đã làm lay chuyển ba cây cột ấy. Nguy hiểm hơn nữa là những kẻ được họ rủ rê, vào thì vào, không vào cũng không một ai tố cáo với các nhà đương cuộc. Sự im lặng đó khác nào đồng lõa…”(26)

    Sau khi nghe các bị can khai báo và luật sư biện hộ, hội đồng đề hình tuyên án như sau:
    – 2 người trắng án (26a)
    – 3 người bị kết án vắng mặt (26b)
    – 26 người án tù treo từ 2 đến 5 năm (26c)
    – 47 người án tù cấm cố từ 2 đến 15 năm (26d)

    Ngoài án tù, mỗi người phải chịu thêm 5 năm biệt xứ. Những người bị kết án bị đưa đi phát vãng kể từ 24-8-1929 tại các ngục thất ở mạn thượng du Bắc Kỳ, và 23 người bị đày ra đảo Côn Lôn.(27)Về phần VNQDĐ, Nguyễn Thái Học và tổng bộ cho thanh trừng những kẻ phản đảng làm chỉ điểm cho Pháp, như Nguyễn Văn Kinh, Nguyễn Văn Ngọc, Phạm Thành Dương (tức Ðội Dương). Ðồng thời, Nguyễn Thái Học và tổng bộ cải tổ đảng, tu chính điều lệ trong đại hội đại biểu toàn quốc vào giữa tháng 5-1929 tại làng Ðức Hiệp, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

    Theo điều lệ mới, mục đích của VNQDĐ không thay đổi, nhưng tổ chức và chương trình hành động được sửa đổi cho hợp với hoàn cảnh mới. Từ nay, về tổ chức, cơ quan lãnh đạo tối cao của đảng là Tổng bộ Chiến tranh, mỗi chi bộ không quá mười người, mà phải là những người hăng say tư tưởng cách mạng, khi thuận tiện, các chi bộ biến thành “Nhóm chiến đấu”. Chương trình hành động trở nên gấp rút nên đại hội quyết định tổng khởi nghĩa trong thời gian ngắn sắp đến.

    Ðể chuẩn bị công cuộc khởi nghĩa, ngoài việc phát triển thêm những chi bộ chiến đấu, VNQDĐ còn ra lệnh tổ chức sản xuất vũ khí để trang bị nghĩa quân. Chẳng may, một số đảng viên không giỏi kỹ thuật sản xuất đã làm cho nhiều trái bom phát nổ, khiến mật thám Pháp đến bắt, đồng thời một số người phản bội chỉ điểm cho Pháp chỗ chôn giấu vũ khí. Số thiệt hại nầy lên khá cao. Theo thống kê của Pháp, từ cuối tháng 10 năm 1929 đến tháng 1-1930, mật thám Pháp đã khám phá được trước sau là 70 địa điểm chôn giấu vũ khí, truyền đơn, cờ xí, quân phục của VNQDĐ trên các tỉnh ở Bắc Kỳ.

    V. Cuộc Tổng Khởi Nghĩa Thất Bại

    Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, và Phó Ðức Chính bị mật thám vây bắt hụt tại làng Võng La, tổng Hạ Bì, huyện Thanh Thủy (Phú Thọ) ngày 8-12-1929. Tuy nhiên, để qua mặt Pháp, các ông lại triệu tập đại hội ngay tại Võng La ngày 26-1-1930, gồm khoảng 20 đại biểu các tỉnh miền Trung du Bắc Kỳ. Sau khi kiểm điểm tình hình, Nguyễn Thái Học tuyên bố:“… Người ta bảo: cần phải đứng trước ở chỗ không thua! Nhưng chúng ta thì đứng trước ở chỗ thua mất rồi! Thế nhưng liệu chúng ta hãy hoãn để tổ chức lại rồi mới đánh có được không? Tôi tin rằng không thể được! Cuộc đời là cả một canh bạc, gặp canh bạc đen, người ta có thể thua sạch hết cả vốn. Gặp thời thế không chiều mình, đảng chúng ta có thể tiêu hao hết lực lượng. Một khi lòng sợ sệt đã xen vào trong đầu óc quần chúng, khiến họ hết hăng hái, hết tin tưởng, thì phong trào cách mạng có thể nguội lạnh như đám tro tàn, rồi của sẽ không tiếp, người sẽ bị bắt lần, vô tình đã xô đẩy anh em vào cái chết lạnh lùng mòn mỏi ở các phòng ngục trại giam, âu là chết đi để lại cái gương hy sinh phấn đấu cho người sau nối bước. Chúng ta “không thành công thì thành nhân”, có gì mà ngần ngại. ” (28)Nguyễn Thái Học trình bày xong, một đảng viên tên là Trần Hải tiếp lời:Chúng ta có cả ngàn chi bộ dân sự, 4, 5 trăm chi bộ nhà binh, cùng sự ủng hộ của đồng bào, lực lượng chúng ta không đến nỗi yếu kém! Chúng ta đã đứng vào cái thế cưỡi cọp, không thể lùi bước được nữa! Tôi đề nghị đảng ta ra lệnh tổng khởi nghĩa.(29)

    Khi hỏi ý kiến để lấy quyết định chung, toàn thể những người có mặt trong hội nghị Võng La đều biểu quyết đồng tâm tổng khởi nghĩa, nhưng hội nghị nầy chỉ bàn thảo kế hoạch thực hiện ở Hưng Hóa, Lâm Thao, Phú Thọ và Yên Bái. Những tỉnh trung du nầy đặt dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Khắc Nhu.

    Sau đó một hội nghị khẩn cấp khác được Nguyễn Thái Học triệu tập tại làng Mỹ Xá, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương, mới phân công kế hoạch khởi nghĩa ở Sơn Tây, Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An, Bắc Ninh, Ðáp Cầu, Phả Lại. Các tỉnh miền đồng bằng do Nguyễn Thái Học điều động. Riêng tỉnh Sơn Tây do Phó Ðức Chính phụ trách. Tại Hà Nội, VNQDĐ xét thấy chưa đủ thực lực để khởi nghĩa, nên chỉ giao cho Ðặng Trần Nghiệp tức Ký Con (30) chỉ huy đoàn quân cảm tử làm nghi binh để cầm chân quân Pháp.

    Ngày trọng đại được chọn là tối mồng 9 rạng mồng 10-2-1930. Các nhà lãnh đạo chọn ngày nầy để khởi nghĩa vì mồng 10-2 dương lịch là mồng 1 Tết âm lịch năm canh ngọ. Nhân dịp Tết cổ truyền, dân chúng thường đi lại mua bán tấp nập, người Việt Nam lại có tập tục đốt pháo để mừng xuân, là cơ hội thuận tiện cho việc chuyển quân và vũ khí được dễ dàng. Tuy nhiên, vào phút chót, vì sự liên lạc khó khăn, việc tập họp đảng viên gặp trở ngại nên các tỉnh miền đồng bằng như Hải Dương, Hài Phòng, Kiến An cử người tìm gặp Nguyễn Thái Học, xin hoãn cuộc tổng khởi nghĩa đến ngày 15-2-1930. Nguyễn Thái Học liền phái người báo cho Nguyễn Khắc Nhu, nhưng đã quá trễ nên nhiều nơi vẫn nổi lên tối mồng 9-2. Một điều cần ghi nhận cuối cùng là trước ngày khởi nghĩa, đảng Cộng Sản Ðông Dương rải truyền đơn tố cáo Việt Nam Quốc Dân Ðảng sắp tấn công Bắc Kỳ; cô Giang đưa cho Nguyễn Thái Học xem truyền đơn nầy, nhưng Nguyễn Thái Học “lấy lòng quân tử đo bụng tiểu nhân”, không tin là những người cộng sản lại có thể làm như vậy được.(31)

    1. Tấn công Yên Bái

    Cuộc tấn công Yên Bái
    do Nguyễn Văn Khôi (Thanh Giang), Nguyễn Nhật Thân cùng cai khố đỏ Ngô Hải Hoằng (Cai Hoằng) chỉ huy. Nguyễn Thị BắcNguyễn Thị Giang lo chuyển vận vũ khí và tiếp tế đạn dược. Số đảng viên huy động từ các vùng lân cận về Yên Bái lên đến khoảng 300 người. Cơ sở quân sự của Pháp tại Yên Bái gồm hai trại: trại dưới nằm ở ngọn đồi trong thành phố do đại uý Jourdain chỉ huy, trại trên tọa lạc trên ngọn đồi xa thành phố, gọi là đồn cao, do thiếu tá Le Tacon chỉ huy.
    Lúc 1 giờ sáng 11-2, Ngô Hải Hoằng ra lệnh tấn công trại dưới, giết đại uý Jourdain, trung uý Robert, bốn trung sĩ Pháp, và hoàn toàn làm chủ tình thế lúc 4 giờ sáng. Nghĩa quân chuẩn bị tấn công đồn cao thì máy bay Pháp từ Hà Nội lên phản công. Nghĩa quân phải rút lui vào rừng. Chiều 11-2, Pháp xử tử tại chỗ hai cấp chỉ huy nghĩa quân bị Pháp bắt là Cai Nguyên, và Cai Tính.

    2. Tấn công Hưng Hóa, Lâm Thao

    Cuộc tấn công nầy do Nguyễn Khắc Nhu (1883-1930) chỉ huy. Nguyễn Khắc Nhu, còn gọi là Xứ Nhu vì trong một kỳ thi, ông đậu đầu xứ tại phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang, sinh quán của ông. Lúc 1 giờ sáng 11-2, Nguyễn Khắc Nhu ra lệnh tấn công và xung phong vào đồn Hưng Hóa, nhưng bên trong phòng thủ chặt chẽ nên không chiếm được. Ðến 3 giờ sáng, Nguyễn Khắc Nhu đổi hướng tấn công, đánh chiếm phủ Lâm Thao. Tri phủ Ðỗ Kim Ngọc bỏ trốn. Quân Pháp từ Phú Thọ tiến qua đánh trả. Nguyễn Khắc Nhu bị trọng thương, dùng lựu đạn tự sát nhưng không chết. Ông bị Pháp bắt, bèn tự tử ngay liền trong nhà giam Hưng Hóa.

    3. Chuẩn bị đánh Sơn Tây


    Sau khi thất bại ở yên bái, Phó Ðức Chính (1897-1930) trốn thoát về Sơn Tây. Ngày 13-2, Phó Ðức Chính cùng Cai Tân, Nguyễn Văn Khôi (Thanh Giang) họp tại nhà Quản Trạng, xã Nam Man, tổng Cẩm Hương, huyện Tùng Thiện, tỉnh Sơn Tây, để chuẩn bị lực lượng tấn công tỉnh nầy, thì bị quân Pháp đến bắt tất cả giải về Hà Nội, vì có kẻ chỉ điểm.

    4. Quấy rối Hà Nội


    VNQDĐ tự xét thực lực ở Hà Nội không đủ sức nổi dậy nên chỉ quấy rối đe dọa nhà cầm quyền Pháp mà thôi. Ðược tin Yên Bái khởi nghĩa, Lương Ngọc Tốn trong ban ám sát của VNQDĐ, tấn công viên đội cảnh sát gác cầu Long Biên. Ðặng Trần Nghiệp (Ký Con) và một số đảng viên chia nhau đi cắt đường dây điện thoại, ném bom vào một số cơ sở như ngục thất Hỏa Lò, trụ sở cảnh sát…Những hoạt động nầy không mấy hiệu quả và cũng ít gây tiếng vang. Ngược lại, nhà cầm quyền Pháp báo động khắp nơi, việc phòng thủ càng thêm chặt chẽ làm cho cuộc nổi dậy trở nên khó khăn hơn. VNQDĐ chuẩn bị tấn công Ðáp Cầu, Phả Lại, Kiến An, nhưng cuối cùng phải thoái lui vì lực lượng tập họp không đầy đủ đúng hạn, và cũng vì quân Pháp biết trước, canh phòng cẩn mật, phá vỡ những chỗ chôn cất vũ khí, và chận bắt các đảng viên.

    5. Tấn công Phụ Dực, Vĩnh Bảo

    Lúc 8 giờ tối, Hòa Quang Huy, Ðào Văn Thê (Giáo Thê) cùng Nguyễn Văn Hộ chỉ huy 40 đảng viên võ trang đánh úp huyện Phụ Dực, tỉnh Thái Bình. Viên tri huyện trốn thoát. Nghĩa quân tịch thu được một số khí giới, tập họp dân chúng để tuyên truyền. Sáng hôm sau, nghĩa quân dự trù kéo qua đánh Ninh Giang (Hải Dương), nhưng đợi mãi không thấy các cánh quân khác, nên cuối cùng tự giải tán.

    Tại Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương, ngày 15-2, nghĩa quân cử Trần Quang Diệu giả đến mật báo cho tri huyện Hoàng Gia Mô (cháu nội Hoàng Cao Khải) có một số quân cách mạng hội họp ở làng Cổ Am. Hoàng Gia Mô lo sợ liền đi báo đồn Pháp ở Ninh Giang (tỉnh Hải Dương). Họ Hoàng đi khỏi, nghĩa quân liền vào chiếm huyện lỵ Vĩnh Bảo mà không gặp sức kháng cự nào. Trong khi đó, trưởng đồn Ninh Giang cấp cho Hoàng Gia Mô sáu lính khố xanh, sáu súng trường và một số đạn. Họ Hoàng khôn ngoan cho xe chở lính về trước để thăm dò còn tự mình đi xe kéo tay theo sau. Xe chở lính bị tấn công, họ Hoàng biết được liền lẩn trốn, nhưng rồi cũng bị bắt, và bị nghĩa quân kết án tử vì tội tham ác. Thi hành xong bản án trên, nghĩa quân rút lui êm thấm.

    VI. Phản Ứng Của Pháp

    Nhà cầm quyền Pháp tại Bắc kỳ phản ứng giận dữ trước các cuộc tấn công của VNQDĐ. Tại Hà Nội, Pháp đóng cửa các công sở ngày 11-2, cho quân đội vũ trang đứng gác khắp các ngả đường, khám xét người qua lại. Pháp tăng phái quân đội đi cứu viện những tỉnh bị tấn công, gởi máy bay lên Yên Bái đẩy lui nghĩa quân ngày 11-2. Ngày 12-2, toàn quyền Pierre Pasquier dùng xe lửa lên Yên Bái dự tang lễ các sĩ quan Pháp bị giết trong cuộc khởi nghĩa của VNQDĐ. Trước khi xe lửa chở y đến Yên Bái khoảng 20 phút, hai trái bom được liệng vào phá sập một phần nhà ga.

    Ngày 16-2 Pháp cho năm phóng pháo cơ đến ném 57 quả bom loại 10 ký xuống khắp làng Cổ Am, đốt cháy rụi làng nầy, làm cho 21 thường dân thiệt mạng. Vào lúc bấy giờ, vũ khí chưa tân tiến như ngày nay, việc máy bay ném bom đốt làng là một cuộc tấn công vô cùng ghê gớm chưa từng thấy ở Việt Nam, làm cho mọi người khiếp đảm.

    Thống sứ Bắc Kỳ René Robin (32) gởi điện tín cho công sứ Pháp ở các tỉnh, trong đó có đoạn: “…Village Coam, province de Haiduong, où s’ était réfugiée bande rebelles ayant mis à mort sous préfêt de Vinhbao, a été bombardé hier par escadrille Hanoi. Vous prie donner large publicité et ajoute que tout village qui se mettra dans situation analogue subira impitoyablement le même sort.” (33) (tạm dịch:”….Làng Cổ Am, tỉnh Hải Dương, nơi bọn cướp ẩn trốn sau khi giết viên tri huyện Vĩnh Bảo, ngày hôm qua đã bị một tiểu phi đội Hà Nội đến dội bom. Yêu cầu các ông thông báo rộng rãi, và thêm rằng bất cứ làng nào làm như thế, đều sẽ chịu chung số phận không thương xót.”)

    Ngoài Cổ Am, Pháp còn cho quân đến đốt phá các làng mà Pháp nghi ngờ có sự hiện diện của VNQDĐ. Pháp cho người lùng bắt gắt gao đảng viên VNQDĐ cũng như tất cả những ai liên hệ đến VNQDĐ.Một điều bất lợi cho VNQDĐ là các lãnh tụ đảng dần dần bị bắt. Những nhà hoạt động cách mạng Việt Nam ở Trung Hoa cử Ðoàn Kiểm Ðiểm về nước quan sát tình hình, và mời Nguyễn Thái Học sang Trung Hoa lánh nạn một thời gian. Những đồng chí của Nguyễn Thái Học cũng khuyên ông nên ra nước ngoài, nhưng ông Nguyễn cương quyết từ chối đề nghị nầy, vì ông cho rằng ông phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về những biến động vừa qua, nên ông quyết ở lại trong nước lo cải tổ và xây dựng lại đảng, để làm tròn sứ mạng phục quốc.

    Sau cuộc họp tại làng Trụ Thôn, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Thái Học tiếp tục lên đường đi công tác, cùng một số đồng chí ngang qua đồn điền người Pháp tên Clébert ở làng Cổ Vịt huyện Ðông Triều tỉnh Hải Dương, thì bị các tuần phu bắt sáng ngày 20-2-1930. Nguyễn Thái Học bị đưa đến tòa sứ Hải Dương, rồi về Hà Nội. Trần Quang Diệu bị bắt vào tháng 5-1930 tại Thái Nguyên.Về phần Ký Con Ðặng Trần Nghiệp, ông bị người Pháp lùng bắt gắt gao ở Hà Nội, phải xuống Hải Phòng trốn tránh. Tại đây cũng không được yên, Ký Con đến Nam Ðịnh, và bị mật thám Pháp bắt vào giữa tháng 6-1930. Về sau, theo nguồn tin của một nhân viên sở mật thám Nam Ðịnh, ông Phán Tảo, thì chính một đảng viên Ðông Dương Cộng Sảng Ðảng đã chỉ điểm cho viên giám đốc nha Liêm Phóng Ðông Dương là Louis Marty; Marty liền ra lệnh cho mật thám Hà Nội xuống Nam Ðịnh bắt Ký Con, mà sở mật thám Nam Ðịnh không hay biết.(34)

    Sau khi Ký Con bị vào tù, những đảng viên còn lại đã họp nhiều lần để cải tổ đảng, nhưng rồi những nhà lãnh đạo cũng lần lượt bị người Pháp bắt như Lê Hữu Cảnh (tạm quyền lãnh đạo đảng), Lê Thị Thành, Nguyễn Xuân Huân (tháng 7-1930 tại Hải Phòng), Lê Tiến Sự, Nguyễn Ðôn Lâm, Phạm Văn Hể, Nghiêm Toản,(35) (tháng 8-1930), Hoàng Ðình Gị, Hoàng Ðình Vỹ, Ðỗ Thị Tâm, Nguyễn Thị Vân, Trần Xuân Ðộ (tháng 9-1930)…

    VII. Những Bản Án Của Hội Ðồng Ðề Hình


    Ngày 14-2-1930, nghĩa là 4 ngày sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái, toàn quyền Pierre Pasquier ký nghị định thành lập hội đồng đề hình do Poulet Osier, thanh tra chính trị hành chánh Bắc Kỳ, làm chánh án.

    1. Ngày 27-2-1930 tại Yên Bái: Hội đồng làm việc gấp rút, và họp phiên tòa đầu tiên vào ngày 27-2-1930 tại Yên Bái, đưa ra xét xử 15 bị cáo. Kết quả, hội đồng nầy đã tuyên án: một người 20 năm khổ sai, một người chung thân khổ sai, và 13 người bị tử hình. Ðệ trình bản án về Paris, trong số 13 án tử hình, tổng thống Pháp Gaston Doumergue (nhiệm kỳ 1924-1931) giảm chín án xuống chung thân khổ sai, còn bốn người y án tử hình, và bị lên máy chém tại Yên Bái sáng sớm ngày 8-3-1930 (tức mồng 9-2 canh ngọ). Bốn anh hùng đó gồm hai nông dân, quán làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao tỉnh Phú Thọ là Ðặng Văn Lương và Ðặng Văn Tiệp, và hai hạ sĩ quan thuộc binh đoàn Yên Bái là Nguyễn Thanh Thuyết và Ngô Hải Hoằng.

    2. Ngày 23-3-1930 tại Yên Bái: Hội đồng đề hình họp phiên khác cũng tại Yên Bái và cũng do Poulet Osier ngồi ghế chánh án xử 83 bị cáo gồm 1 phụ nữ, 37 thường dân và 45 binh sĩ. Người bị gọi ra thẩm vấn đầu tiên là Nguyễn Thái Học. Nguyễn Thái Học nhận hết trách nhiệm các cuộc khởi nghĩa là do ông lãnh đạo và xin xử tử một mình ông, những người khác chỉ thừa hành mệnh lệnh của ông. Nguyễn Thái Học định nói nhiều nữa về lý do chính trị cuộc khởi nghĩa, nhưng bị cắt ngang. Phó Ðức Chính tự nhận mình là uỷ viên tuyên truyền của VNQDĐ, tự tay thảo truyền đơn kêu gọi binh sĩ làm cách mạng, đưa ra kế hoạch tấn công, còn những người khác chỉ nghe theo lời ông mà thôi. Nguyễn Thị Bắc phản đối phiên tòa kịch liệt và nói rằng nếu người Pháp xét xử cô thì hãy về Pháp kéo đổ tượng Jeanne d’ Arc (36) xuống. Các chiến sĩ ra trước tòa đều can đảm xác nhận gia nhập VNQDĐ để đánh đuổi người Pháp, giành độc lập cho xứ sở.

    Bốn luật sư biện hộ Mandrette, Bona (người đã từng biện hộ cho Phan Bội Châu), Mayet, và Demistre yêu cầu tòa chỉ buộc tội những người chủ mưu, và khoan thứ cho những người tòng phạm. Hôm sau 24-3-1930, lúc 10 giờ, hội đồng đề hình tuyên án 39 tử hình, 33 khổ sai chung thân, 9 khổ sai 20 năm, 5 người bị đi đày trong đó Nguyễn Thị Bắc bị 5 năm. Nguyễn Thái Học đã chống án lên Hội đồng bảo hộ để các đồng chí của ông làm theo, nhắm làm nhẹ bớt án cho những người nầy. Riêng Phó Ðức Chính cương quyết không ký tên chống án, nói thẳng với viên chánh án:”Ðại sự đã không thành, chết là vinh, còn chống án làm gì vô ích! “(37)

    Trong nhà tù, Nguyễn Thái Học viết thư bằng chữ Pháp gởi cho quốc hội Pháp, và cho viên toàn quyền Ðông Dương. Lá thư gởi quốc hội Paris bị chận lại. Ký giả Louis Roubaud đã tóm lược lá thư nầy, sau đây là bản dịch:
    “Quý vị nghị sĩ,
    Theo lẽ công bằng: mọi công dân đều có quyền muốn đất nước mình được tự do. Theo tinh thần nhân bản: mọi cá nhân đều phải có bổn phận cứu giúp đồng bào cực khổ.
    Tôi thấy gì? Từ hơn sáu mươi năm nay, tổ quốc tôi bị lệ thuộc người Pháp. Ðồng bào tôi quằn quại dưới sự cai trị của các ông, dòng giống chúng tôi bị đe dọa tiêu diệt. Vậy tôi có quyền và có bổn phận bảo vệ quê hương tôi và đồng bào tôi.
    Ðể đạt đến mục đích nầy, tôi đã từng nghĩ cách hợp tác với các ông. Những thất bại liên tục đã cho tôi thấy rằng người Pháp không thực tâm muốn hợp tác, và tôi không bao giờ có thể phục vụ đồng bào tôi chừng nào các ông còn làm chủ quê hương tôi.
    Do đó, vào năm 1927, tôi đã đứng ra tổ chức một đảng quốc gia Việt Nam với mục đích: 1) đánh đuổi người Pháp ra khỏi lãnh thổ; 2) thành lập một chính quyền cộng hòa thật sự dân chủ.
    Cá nhân tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những biến cố chính trị do tôi tổ chức diễn ra trên quê hương tôi kể từ thời điểm đó. Chỉ cá nhân tôi thực sự là thủ phạm, tử hình tôi là đủ rồi. Tôi xin hãy ân giảm cho những người khác.
    Nói như vậy, tôi báo cho các ông biết rằng nếu người Pháp muốn chiếm đóng Ðông Dương một cách yên ổn, không bị bất cứ một phong trào cách mạng nào quấy rối, thì người Pháp phải: 1) Từ bỏ những phương pháp bạo lực vô nhân đạo; 2) Cư xử một cách thân hữu với người Nam; 3) Cố gắng giảm thiểu những khổ nạn tinh thần và vật chất bằng cách khôi phục lại cho người Nam những quyền cá nhân phổ thông: tự do đi lại, tự do học hành, tự do hội họp, tự do báo chí; 4) Ðừng dung dưỡng những công chức ăn hối lộ cũng như những tật xấu của họ; 5) Giáo hóa dân, phát triển thương mại và kỹ nghệ bản xứ.
    Xin quý vị nghị sĩ nhận nơi đây sự kính trọng của tôi.
    Kẻ thù của các ông,
    Nhà cách mạng Thái Học”(38)


    Bản án của hội đồng đề hình ngày 24-3-1930 được đệ trình về Paris. Tổng thống Gaston Doumergue giảm 26 án tử hình ra khổ sai chung thân, còn giữ lại 13 án tử hình. Chiều ngày 16-6-1930, mười ba tử tù được chuyển trại, chuẩn bị lên đường thọ hình. Trước khi rời Hỏa Lò, Nguyễn Thái Học vừa đi vừa hô to: “Chúng tôi đi trả nợ nước đây. Các anh em còn sống cứ công nào việc ấy nhé! Cờ độc lập phải nhuộm bằng máu! Hoa tự do phải tưới bằng máu! Tổ quốc còn cần đến sự hy sinh của con dân nhiều nữa, nhiều nữa! Rồi thế nào cách mạng cũng thành công! Thôi kính chào các anh em ở lại…”(39)

    Ðoàn tử tù được chở lên Yên Bái vào tối 16-6. Trên đường đi, Phó Ðức Chính nói đùa với anh em: “Chúng ta đến ga Yên Bái, chắc chắn sẽ được các đồng chí Lương, Tiệp, Thuyết, Hoằng, ra đón rước nồng hậu.”[Bốn người nầy đã bị xử tử ngày 8-3-1930 tại Yên Bái.] Còn Nguyễn Thái Học thì tranh luận với linh mục Dronet, được Pháp gởi theo để làm lễ cho những người sắp bị giết. Ông nói: “Chúng tôi có phạm gì đâu mà phải ăn năn thú tội.” Nguyễn Thái Học khẳng khái ngâm mấy câu thơ Pháp: “Mourir pour sa patrie/ C’ est le sort le plus beau/ Le plus digne d’ envie…” (Chết cho Tổ quốc/ Ðó là số phận đẹp đẽ nhất/ Cũng là số phận cao cả ước ao nhất…)(40)

    Sau đây là thứ tự mười ba liệt sĩ VNQDĐ đã lên máy chém tại Yên Bái từ 5 giờ sáng 17-6-1930:

    – Bùi Tử Toàn, 37 tuổi, nông dân, sinh quán làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ

    – Bùi Văn Chuẩn, 35 tuổi, thuộc binh đoàn Yên Bái (của Pháp)
    – Nguyễn An, 31 tuổi, thuộc binh đoàn Yên Bái
    – Hà Văn Lạo, 25 tuổi, thợ hồ
    – Ðào Văn Nhít, binh đoàn Yên Bái
    – Ngô Văn Du, binh đoàn Yên Bái
    – Nguyễn Ðức Thịnh, binh đoàn Yên Bái
    – Nguyễn Văn Tiềm, binh đoàn Yên Bái
    – Ðỗ Văn Sứ, binh đoàn Yên Bái
    – Bùi Văn Cửu, binh đoàn Yên Bái
    – Nguyễn Như Liên, tức Ngọc Tĩnh, 20 tuổi, học sinh, quán làng Cao Mại, phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ
    – Phó Ðức Chính
    – Nguyễn Thái Học

    Trước khi chết, tất cả đều chỉ mới hô được hai tiếng “Việt Nam” thì bị đao phủ thủ giật máy chém hạ xuống chém rơi đầu. Riêng Phó Ðức Chính thì yêu cầu được nằm ngửa để xem lưỡi dao rớt xuống như thế nào.(41)

    3. Ngày 26-5-1930 tại Phú Thọ: Poulet Osier chủ trì hội đồng đề hình xét xử 85 bị cáo, trong đó có một phụ nữ là Nguyễn Thị Lùn, người làng Chu Hóa, phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Sau ba phiên xử ngắn ngủi, hội đồng đề hình đã tuyên án 85 bị cáo trên đây như sau: 10 tử hình, 27 khổ sai chung thân, 37 cấm cố chung thân, 4 người 20 năm khổ sai, 3 người 20 năm cấm cố (trong đó có Nguyễn Thị Lùn), 1 người 5 năm khổ sai, 2 người bị phạt giam trong nhà trừng giới, 1 người được tha bổng.

    Bản án được gởi qua Paris, tổng thống Gaston Doumergue đã giảm năm án tử hình xuống khổ sai chung thân là các ông Bùi Văn Bồi, Nguyễn Ðắc Bằng, Nguyễn Văn Quế, Lê Ðình Cư, Vũ Văn Mô. Năm vị anh hùng lên án tử hình ngày 22-11-1930 tại Phú Thọ:

    – Nguyễn Văn Toại tức Ðồ Thúy, 33 tuổi, nguyên quán Lâm Thao, Phú Thọ

    – Trần Văn Hợp, nguyên quán Thanh Ba, Phú Thọ
    – Phạm Nhận tức Ðồ Ðiếc
    – Lê Xuân Huy, 31 tuổi, nông dân, nguyên quán Cổ Pháp, Bất Bạt, Sơn Tây
    – Bùi Xuân Mai, nông dân, nguyên quán Cổ Pháp, Bất Bạt, Sơn Tây.

    4. Ngày 5-8-1930 tại Hà Nội: Hội đồng đề hình họp tại pháp đình Hà Nội cũng do Poulet Osier ngồi ghế chánh án, xét xử 148 bị cáo. Sau hai ngày làm việc, hội đồng đã tuyên án ngày 9-8 như sau: 10 tử hình, 11 khổ sai chung thân, 4 khổ sai 10 năm, 2 cấm cố 10 năm, 3 người 5 năm tù ở, 116 bị phạt lưu chung thân, 2 phạt lưu 5 năm.Gởi qua Paris, tổng thống Pháp Gaston Doumergue đã giảm ba án tử hình xuống còn khổ sai chung thân là các ông Nguyễn Bá Tâm, Nguyễn Văn Liên, Mai Duy Xứng. Bảy tử tù còn lại lên máy chém đặt trước cổng ngục thất Hỏa Lò vào cuối năm 1930.
    Ðó là các liệt sĩ:
    – Ðặng Trần Nghiệp tức Ký Con,
    – Lương Ngọc Tốn tức Chánh Tốn,
    – Nguyễn Văn Nho (em ruột Nguyễn Thái Học),
    – Nguyễn Quang Triều,
    – Nguyễn Minh Luân,
    – Nguyễn Trọng Bằng,
    – Phạm Văn Khuê tức Cai Khuê.


    5. Ngày 7-11-1930 tại Hải Dương: Với chánh án Poulet Osier, hội đồng đề hình bắt đầu xử tại Hải Dương 193 bị cáo liên hệ đến cuộc nổi dậy ở Phụ Dực và Vĩnh Bảo. Sau bảy ngày, hội đồng đã tuyên án: 8 tử hình, 28 khổ sai chung thân, 1 cấm cố chung thân, 87 người lưu đày không kỳ hạn (trong đó có Lê Thị Thành), 20 khổ sai 20 năm, 7 khổ sai 15 năm, 1 tù treo 5 năm, 30 phát vãng 20 năm, 3 phát vãng 15 năm, 8 tha bổng. Tổng thống Pháp Gaston Doumergue giảm hai án tử hình qua khổ sai chung thân.

    Sáu án tử hình còn lại được thi hành cùng ngày 23-6-1931:

    – Trần Quang Diệu,
    – Vũ Văn Giáo tức Lý Giáo,
    – Trần Nhật Ðồng tức Cai Ðồng,
    – Nguyễn Văn Phúc (cựu binh) bị hành hình tại Hải Dương;
    – Lê Hữu Cảnh,
    – Nguyễn Xuân Huân
    (Lê Hữu Cảnh Nguyễn Xuân Huân vì là người Hà Nội nên bị đem về giết ở trước cổng ngục thất Hỏa Lò
    )

    6. Ngày 30-1-1931 tại Kiến An: Hội đồng đề hình xuống Kiến An họp trong hai ngày 30 và 31-1-1931, xử 190 bị cáo trong đó có 75 đảng viên Việt Nam Quốc Dân Ðảng, số còn lại thuộc Ðông Dương Cộng Sản Ðảng và một số tổ chức khác. Hội đồng đã tuyên bố trắng án 5 người, trong đó có Nguyễn Văn Lực, và 185 người bị kết án khổ sai có thời hạn, trong đó Vũ Văn Giản (sau là Vũ Hồng Khanh) bị kết án vắng mặt 20 năm khổ sai.

    Trong khi chờ đợi đưa đi Côn Ðảo, 9 tù nhân tổ chức vượt ngục, nhưng chỉ một mình Nguyễn Thế Long (đảng viên VNQDĐ, 20 năm khổ sai) trốn thoát. Ðốc lý Hải Phòng liền ra lệnh cùm tất cả các tù nhân còn lại. Ðảng viên VNQDĐ cùng nhau phản kháng kịch liệt, bị Pháp đàn áp đẵm máu, khiến 4 người chết và 8 người bị thương.

    7. Ngày 15-7-1930 tại Sài Gòn: Do những hoạt động rầm rộ của VNQDĐ ở Bắc Kỳ, nhà cầm quyền Pháp ở Sài Gòn theo dõi và bắt hết các uỷ viên trong ban chấp hành chi bộ đặc biệt VNQDĐ Sài Gòn, và đưa ra xét xử trước tòa đại hình Sài Gòn ngày 15-7-1930. Hôm sau, tòa tuyên án: 3 người bị 5 năm cấm cố lưu đày ra Côn Ðảo là Trần Huy Liệu, Cao Hữu Tạo và Nguyễn Phương Thảo,(42) 6 người từ 2 đến 4 năm tù giam tại Hà Tiên là Nguyễn Hòa Hiệp, Nguyễn Hiền Lương, Phạm Hoài Xuân, Hà Thuận Hồng, Võ Công Tồn tức Hội đồng Tồn, Phạm Xuân Viên.

    Vụ án Yên Bái năm 1930 tạm kết thúc ở đây. Trước hết, vụ án nầy làm nổi bật vai trò một công cụ pháp lý mới của Pháp là hội đồng đề hình (la commission criminelle). Theo thông cáo của nhà cầm quyền Pháp đăng trên báo Avenir du Tonkin [Tương lai Bắc Kỳ] ngày 2-7-1929 thì: “Hội đồng đề hình được thiết lập do sắc lệnh của tổng thống Pháp ký ngày 26-11-1896, là một tòa án đặc biệt thiết lập thay thế cho tòa án thường để xử những dân bản xứ hay đồng hóa, phạm những khinh hoặc trọng tội, liên quan tới nền an ninh của nền bảo hộ hoặc tới sự mở mang của nền thuộc địa.”(43)

    Như vậy hội đồng đề hình chỉ được thành lập ở các nước thuộc địa Pháp, là một tòa án chính trị không nằm trong hệ thống tư pháp dân chủ thông thường theo thể chế phân quyền, mà chỉ là một công cụ xét xử theo quyết định của nhà cầm quyền Pháp ở các thuộc địa. Nói cách khác, chỉ tại nước Pháp mới có pháp lý dân chủ, còn tại các nước thuộc địa là nền pháp lý thực dân. Nhà cầm quyền Pháp bày ra hội đồng đề hình tại các nước thuộc địa nhắm hợp thức hóa các bản án do nhà cầm quyền tự quyết định trước, mục đích tiêu diệt sức đề kháng của người bản xứ. Ðây là mặt trái của lý tưởng “Tự do, công bình, bác ái ” của cách mạng Pháp năm 1789. Khi chiếm các thuộc địa Bắc Phi (Algéria năm 1830, Morocco năm 1850, Tunisie năm 1881) và các thuộc địa Ðông Dương từ năm 1864, chính quyền Pháp thường hô hào khai hóa mở mang, nhưng thật sự chỉ để khai thác thuộc địa, và nhập cảng vào các nước thuộc địa hội đồng đề hình. Ði theo hội đồng nầy là chiếc máy chém tân kỳ do một người Pháp sáng chế (guillotine).(44)

    Những thành viên trong hội đồng đề hình do viên toàn quyền Pháp tại Ðông Dương bổ nhiệm. Những thành viên nầy không nhất thiết là người của cơ quan tư pháp, mà do viên toàn quyền tự lựa chọn. Chủ tọa hội đồng đề hình là một viên quan cai trị hạng nhất người Pháp; các hội viên gồm có công sứ địa phương nơi xảy ra vụ việc, viên biện lý có thẩm quyền tại nơi nầy, và một viên sĩ quan cấp bậc đại uý trở lên do viên tướng tư lệnh quân đội Ðông Dương chỉ định. Lục sự hội đồng nầy được chọn lựa trong số các tham tá lục sự tòa thượng thẩm.

    Hội đồng đề hình đã được thiết lập để xét xử vụ án Phan Bội Châu năm 1925, nay nhân vụ án Bazin năm 1929, nhà cầm quyền Pháp mới ra thông cáo giải thích lý do sự ra đời của hội đồng nầy, đủ chứng tỏ tình hình chính trị lúc đó trở nên nghiêm trọng.

    Sau một năm làm việc, các phiên tòa của hội đồng đề hình đã xét xử khoảng gần 1.000 đảng viên VNQDĐ, đưa đến 35 án tử hình, 145 khổ sai chung thân, đó là chưa kể những anh hùng đã hy sinh trong lúc làm nhiệm vụ, đã tự sát hay bị tra tấn đến chết, không thể thống kê hết được, và cũng chưa kể những bản án 20 năm trở xuống, cùng với những bản án lưu đày đến các miền rừng thiêng nước độc hay ra hải đảo.

    Những bản án của hội đồng đề hình năm 1930 đã đưa thế hệ đầu tiên của VNQDĐ lên máy chém hoặc khổ sai biệt xứ, nhưng ngược lại làm sáng ngời gương hy sinh cao cả của Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông trong VNQDĐ.

    Phải thẳng thắn nhìn nhận rằng lúc đó, về mặt tổ chức nói chung, VNQDĐ chưa hoàn bị để thực hiện cuộc tổng khởi nghĩa năm 1930, nhưng do hoàn cảnh phải gấp rút hành động, những nhà lãnh đạo VNQDĐ quyết định khởi nghĩa. Nguyễn Thái Học tiên đoán có thể thất bại, nhưng ông vẫn chọn con đường khởi nghĩa công khai chứ không trốn tránh để chờ đợi cơ hội nổi dậy. Ông là một người tân học, nhưng ông còn chịu nhiều ảnh hưởng của truyền thống Nho gia. Ông nghĩ rằng KHÔNG THàNH CÔNG THÌ THàNH NHÂN.

    Khi quyết định SÁT THÂN THàNH
    NHÂN (chịu chết để hoàn thành đạo làm người), Nguyễn Thái Học không hy sinh sai đường lạc lối như những người cộng sản đã viết.
    Có lẽ nên thêm ở đây thái độ của đảng Cộng Sản đối với sự hy sinh của những anh hùng Quốc Dân Ðảng. Ngày 17-6-1930, Nguyễn Thái Học hy sinh. Hôm sau, người yêu của ông là Nguyễn Thị Giang về làng Thổ Tang (Vĩnh Yên) báo tin cho gia đình Nguyễn Thái Học biết, rồi đến xóm Mới, xã Ðông Vệ, phủ Vĩnh Tường (cùng phủ với Thổ Tang) tỉnh Vĩnh Yên, đứng dưới cây bồ đề, dùng súng lục tự sát, chết theo người yêu. Ai cũng thương tiếc cô Giang và ngưỡng mộ cái chết hào hùng của cô gái Phủ Lạng Thương (Bắc Giang). Ðể dập tắt hào quang nầy, người cộng sản đã viết bài điếu cô Giang trong đó có những câu mỉa mai: “…Chết như chị đáng trách đáng cười, đường sinh tử còn chưa nhận rõ… Tình mà chi, tiết nghĩa mà chi, nỡ đeo đuổi sai đường chính lộ…”(45)

    Ai “đáng trách đáng cười”, ai sai đường chính lộ”, điều đó lịch sử và quốc dân Việt Nam đã phán xét. Riêng Nguyễn Thái Học, dầu không thành công, sự hy sinh của ông và các đồng chí trong VNQDĐ đã làm tròn đạo làm người đối với tổ quốc đang bị bảo hộ. Sự hy sinh của các anh hùng VNQDĐ là những viên gạch lót đường tích cực đóng góp vào việc thúc đẩy lịch sử cách mạng Việt Nam tiến dần đến cùng đích giải phóng dân tộc.

    Những cuộc khởi nghĩa chống Pháp từ khởi thủy cho đến cuộc nổi dậy Thái Nguyên năm 1917 ở Bắc Kỳ, bao gồm những người thuộc lớp cựu học lớn tuổi. Cuộc khởi nghĩa của VNQDĐ năm 1930 là cuộc khởi nghĩa đầu tiên được lãnh đạo bởi lớp thanh niên tân học trẻ tuổi, khoảng chừng 18 đến 30. Ðiều nầy chứng tỏ sự thất bại của người Pháp đã bỏ công tổ chức giáo dục, tưởng rằng có thể hướng dẫn thanh niên đi theo con đường của họ, không ngờ những người thuộc thế hệ mới, xuất thân từ các trường cao đẳng Pháp, vẫn nối gót cha ông, quyết chí chống Pháp giành độc lập.

    Cuộc khởi nghĩa Yên Bái đã gây một tiếng vang rất lớn trên chính trường Pháp cũng như ở Việt Nam. Tại Pháp, sinh viên và thợ thuyền tổ chức biểu tình chống đàn áp và tàn sát (massacre) tại Ðông Dương, nổi bật nhất là cuộc mít tin trước điện Elysée (văn phòng tổng thống Pháp) của hơn 100 Việt kiều đưa đến việc Pháp trục xuất 19 du học sinh về nước trong đó có Tạ Thu Thâu (1905-1945), sau nầy là lãnh tụ nhóm La Lutte (Chiến đấu), Trần Văn Thạch (1903-1945), Nguyễn Văn Tạo (1908-1970), Trần Văn Giàu. Nhiều ký giả và nhà văn Pháp đã lên tiếng chỉ trích chính sách tàn bạo của toàn quyền Pierre Pasquier.(46)

    – trong nước, tại Hà Nội, sinh viên bí mật lạc quyên giúp đỡ gia đình những người bị kết án.. Một số tờ báo ở Nam Kỳ công khai ca ngợi sự can đảm của những nhà cách mạng như tờ Thần Chung, Phụ Nữ Tân Văn. Nguyễn Thái Học bị Pháp bắt ngày 20-2-1930 và đang khi Pháp sửa soạn đưa ông ra trước hội đồng đề hình thì ngày 6-3-1930, Phụ Nữ Tân Văn đăng một bài giới thiệu sự nghiệp của Nguyễn Thái Học.(47)

    Trong sách Con rồng Việt Nam, cựu Hoàng Bảo Ðại viết: “Phạm Quỳnh được biết đến sau vụ Yên Bái năm 1930 nhờ bốn bài xã luận đăng trên báo France Indochine ở Hà Nội mà bài đầu tiên nhan đề: “Tiến tới một Hiến pháp”. Ông ta chỉ muốn trở lại cơ cấu tốt đẹp cũ. Nằm trong tinh thần hiệp ước bảo hộ, là nên trả lại cho hoàng gia sự cai trị nội bộ với một Hội đồng dân biểu. Tuy nhiên các thượng thư chỉ chịu trách nhiệm trước Ðức Vua mà thôi. Muốn thực hiện cải cách ấy, cần phải có sự tham gia của phái trẻ và tân học.”(48)

    Phạm Quỳnh, nguyên quán tỉnh Hải Dương, là tỉnh đã diễn ra những cuộc tấn công của VNQDĐ ở huyện Vĩnh Bảo, và là nơi có làng Cổ Am bị Pháp dùng máy bay bắn phá đốt hết cả làng. Các bài xã luận của Phạm Quỳnh mà cựu hoàng Bảo Ðại đề cập trên đây, lúc đầu đăng ở báo Pháp, sau đăng trên Nam Phong số 151, tháng 6-1930. Hòa ước ngày 6-6-1884 đặt Việt Nam dưới sự bảo hộ của Pháp, nhưng triều đình Việt Nam vẫn còn một số quyền nội trị. Những quyền nầy bị người Pháp tước bỏ dần dần, cho đến năm 1925 thì không còn gì cả.

    Phạm Quỳnh, một nhà hoạt động chính trị ôn hòa, đã yêu cầu người Pháp trở lại hòa ước 1884, trả lại một số quyền nội trị lại cho vua Việt Nam đã bị người Pháp tước bỏ, đồng thời xây dựng cho Việt Nam một hiến pháp làm nền tảng cho công cuộc cai trị quốc gia. Những yêu cầu nầy sau vụ Yên Bái là bước đầu ôn hòa nhất để làm căn bản tranh thủ độc lập dân tộc.(49)

    Một điểm nữa cần ghi nhận là khi mới thành lập, tổ chức VNQDĐ còn nhiều sơ hở nên thất bại. Những bản án khắc nghiệt của thực dân Pháp và những sự hy sinh anh dũng của Nguyễn Thái Học cùng các đồng chí đã tạo nên truyền thống anh dũng hy sinh tranh đấu vì dân vì nước của VNQDĐ, và là niềm tự hào của hằng hằng lớp lớp đảng viên VNQDĐ. Từ đó, VNQDĐ trở thành một sức mạnh chính trị đáng kể tiếp bước con đường tranh đấu cho lý tưởng tam dân chủ nghĩa (dân tộc, dân quyền và dân sinh), và đóng góp tích cực trong cuộc vận động vì độc lập tự do cho dân tộc.

    Quan trọng hơn cả là tác động của vụ án Yên Bái trong dòng vận động của lịch sử tranh đấu cận đại Việt Nam. Vào đầu thế kỷ 20, phong trào vận động sôi nổi từ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu cho đến cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917. Sau đó, nghĩa là từ khi thế chiến thứ nhất chấm dứt năm 1918 ở Âu Châu, Pháp rảnh tay tại chính quốc và siết chặt sự cai trị ở các thuộc địa, các phong trào chống Pháp ở Việt Nam chìm xuống trở lại, chỉ có một biến cố quan trọng đáng kể ở ngoài nước là cuộc ném bom giết hụt viên toàn quyền Merlin của Phạm Hồng Thái tại Quảng Châu (Trung Hoa) năm 1924.

    Chính trong không khí âm ỷ bình lặng đó, tiếng sấm động của cuộc khởi nghĩa của VNQDĐ và vụ án Yên Bái khốc liệt đã làm sôi động hẳn lên trang sử tranh đấu quyết liệt của người Việt Nam, hâm nóng lại bầu nhiệt huyết của người Việt, nhất là giới thanh niên, gieo rắc mầm giống cách mạng trên toàn quốc, và làm bùng lên ngọn lửa yêu nước và đấu tranh khắp nơi.

    Từ hào khí cuộc khởi nghĩa Yên Bái tháng 2 năm 1930, đảng Cộng Sản Ðông Dương mới vận động được dân chúng biểu tình tại Vinh, Bến Thủy (Nghệ An) ngày 1-5-1930cộng sảnVN thường gọi là biến cố Xô Viết Nghệ Tĩnh. Trong cuộc biểu tình nầy, số nạn nhân bị Pháp bắn chết là 6 người. Theo tài liệu của cộng sản VN, sau đó Pháp thả bom giết 217 nông dân tại Hưng Nguyên ngày 12-9-1930, và đàn áp sát hại 8 nông dân ở Tiền Hải (Thái Bình) ngày 14-10-1930.(50)

    Số thống kê trên đây trong sách
    Lịch sử Việt Nam tập 2 của nhà xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội không viện dẫn chứng cớ rõ ràng. Tài liệu và sách giáo khoa chính thức của cộng sản Hà Nội cũng không nêu được con số đảng viên cộng sản bị hy sinh trong biến cố nầy, và có thể nói đảng Cộng Sản chỉ núp trong bóng tối, đẩy dân ra làm bia đỡ đạn, chứ đảng Cộng Sản hoàn toàn không thiệt hại gì, trong khi đó Quốc Dân Ðảng đã hy sinh thật lớn lao.

    Số thống kê về thiệt hại của Quốc Dân Ðảng rất cụ thể vì dựa trên biên bản các hội đồng đề hình Pháp, mà hồ sơ còn lưu trữ, chứ không phải tự viết lấy như đảng Cộng Sản đã làm.

    Cũng chính do ảnh hưởng của VNQDĐ và sự hy sinh của những thanh niên anh hùng trong vụ án Yên Bái, phong trào thanh niên cứu tế nạn đói Ất Dậu (1945) dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim mới dễ dàng phát triển lớn mạnh.Cao trào yêu nước bùng lên do cuộc khởi nghĩa Yên Bái là động lực thúc đẩy công cuộc giải phóng đất nước khỏi tay thực dân Pháp.

    Năm 1945, tình hình chính trị Việt Nam sau thế chiến thứ nhì (1939-1945) là cơ hội thuận lợi để giành lấy
    độc lập tự do, nhưng Hồ Chí Minh đã phục vụ cho quyền lợi của quốc tế cộng sản, đưa dân tộc vào quỹ đạo Liên Xô và cuộc tranh chấp cộng sản tư bản, dẫn đến 30 năm chiến tranh trên đất nước thân yêu với những hậu quả khốc hại kéo dài mãi cho đến ngày hôm nay.

    Trần Gia Phụng
    Posted in Lịch Sử VNQDĐ

    Hồ Chí Minh, tay sai của Cộng sản quốc tế
    Last edited by NASA1517; 02-11-2018 at 04:59 PM.

  14. #14774
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    5,779
    Thanks
    0
    Thanked 6 Times in 6 Posts

    Default Re: Tại sao Đảng CSVN được nhân dan VN và Thế Giới...ủng hộ ?

    Một GƯƠNG SNG NGỜI dành cho thế hệ hậu sinh bị KM Kiến Thức về Lịch Sử Việt Nam để chứng mình Hồ Bả Chó là Tên TỘI ĐỒ DN TỘC! Hắn KHONG phải là người duy nhất "độc quyền" chống Pháp! Mà nói cho đúng rằng hắn là người duy nhất "rước" GIẶC PHAP vào Nhà để Giết Hại chính đồng bào của mình! Pháp Thực Dân đă bị Nhật Bản Đảo Chánh từ đầu năm 1945 và BUỘC Pháp phải Trao Trả Độc Lập cho VN qua tay Vua Bảo Đại nên VN ĐEO có như cầu "giành độc lập" trên xương máu của người dân một cách PHI PHẠM với nhiều cuộc chiến PHI LY và PHI NHAN!
    Mày muốn bảo vệ cho băng đảng bán nước VNCH của mày nên xuyên tạc lịch sử. Nhật Bản không buộc Pháp phải trao trả độc lập cho ai hết mà đã cùng với Pháp gây nên nạn đói năm 1945 giết hại 3 triệu người VN ở miền Bắc. Chính ông Hồ chí Minh đã qua Pháp đòi hỏi Pháp phải trả lại Độc Lập, Thống Nhất cho dân tộc VN chứ không có thằng Nhật nào ở đây hết. Mặc dù vua Bảo Đại đã thoái vị nhưng thằng Pháp vẫn ngoan cố không chịu trả nên ông Hồ Chí Minh đành phải phát động kháng chiến và đánh thắng Pháp tại Điện Biên Phủ năm 1954. Mày đã thua và bỏ chạy năm 1975 nên ngụy tạo lại lịch sử VN để mua chuộc lòng dân về phe mày, nhưng nhân dân VN đã biết hết rồi nên họ không nghe lời mày đâu con ạ.
    Last edited by youngvietnamese; 02-11-2018 at 06:12 PM.

  15. #14775
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    11,643
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Tại sao Đảng CSVN được nhân dan VN và Thế Giới...ủng hộ ?

    Quote Originally Posted by youngvietnamese View Post
    Mày muốn bảo vệ cho băng đảng bán nước VNCH của mày nên xuyên tạc lịch sử. ???

    Thời nay là thời KIỂM CHỨNG cho nên mắc mớ gì tao phải có nhu cầu xuyên tạc lịch sử? Ngay trên các trang mạng INTERNET toàn cầu người ta phát tán cả hàng triệu tài liệu cho nên tao ĐÉO RỔI HƠI mà đi xuyên tạc 3 cái lịch sử TÀO LAO của chúng mày chi nó tốn thời giờ vậy? Vào GOOGLE gỏ gỏ vài chữ là có ngay chứ gì! Đồ DỐT MÍT nên KHÔNG dùng được INTERNET ENGINE SEARCH!

    Nếu mày
    KHÔNG chứng minh được
    những điều mày TỰ BỊA RA để LỪA DỐI CHÍNH MÌNH
    thì rõ ràng mày là CON ĐIẾM THÚI của TÀU CHỆT nên mày mới bênh vực cho thèng GIẶC TÀU CHỆT đang XÂM LĂNG đất nước VN là phải rồi nói đi đâu cho xa vào cái thời ăn lông ở lổ của thèng Cha Bần Cố Nông của mày bị Mỹ TIÊU DIỆT BANH XÁC là phải rồi chớ kêu ka cái giề!



    Nhật Bản không buộc Pháp phải trao trả độc lập cho ai hết mà đã cùng với Pháp gây nên nạn đói năm 1945 giết hại 3 triệu người VN ở miền Bắc.

    SAI TỪA LƯA do HỘT DƯA BỊ LÉP! Chính Phủ Trần Trọng Kim kêu gọi đồng bào miền Nam chở lúa gạo ra Bắc để cứu đói cho người dân miền Bắc nhưng đích thị tên ĂN TRỘM GẠO với biệt danh "HỒ CHÍ PHÈO" khích động đám dân Bần Cố Nông đi ĂN CẮP LÚA GẠO để cho người dân miền Bắc bị NẠN ĐÓI để chúng "chụp cơ hội" đổ thừa cho Nhật cho Pháp! Miệng LƯỠI của con QUỶ SATAN VCLẬT LỘNG TRÁO TRỞ như thế nên câu chuyện Mị Dân về Nạn ĐÓI ở miền Bắc năm Ất Dậu KHÔNG thuyết phục được người miền Nam bởi chính người miền Nam đã cứu Nạn Đói cho người miền Bắc mà chúng còn XUYÊN TẠC như thế thì nói chi là Lịch Sử VN đã được chúng tùy tiện BÓP MÉO SỰ THẬT rồi còn TRÁO TRỞ nói người miền Nam "xuyên tạc" lịch sử?



    Xin mời bà con lật lại TRANG SỬ NHƠ NHỚP của Hồ Bả Chó trong Nạn Đói Ất Dậu 1941 ở miền Bắc ra sao nha! Có nhiều nhà báo đã viết từ nhiều năm qua và đã post ở trang này:

    http://www.datviet2.com/showthread.php?239471-L%E1%BB%9Di-th%C3%BA-t%E1%BB%99ii-kinh-ho%C3%A0ng-c%E1%BB%A7a-%C4%90%E1%BA%A3ng-C%E1%BB%99ng-S%E1%BA%A3n-Vi%E1%BB%87t-Nam/page33

    Giải ảo 3 - Hai triệu dân Việt chết đói năm 1945 là do Hồ đem gạo về Trung Cộng!




    Nguyễn Hồn Việt (Danlambao)- Khi đọc báo chí lề đảng mô tả về "nạn đói năm Ất Dậu" dưới đây, chúng ta cần tỉnh táo để thấy: Hiện thực nạn đói và các cảnh chết chóc đã được ghi lại là đúng thật, còn nguyên nhân đưa ra như: “chính sách vơ vét thóc gạo của phát xít Nhật và thực dân Pháp lúc bấy giờ cùng với thiên tai, mất mùa ở nhiều tỉnh đồng bằng Bắc Bộ là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến...” thì chúng ta cần xem lại. Ai dám khẳng định vào 1945 Hồ đã công khai tỷ lệ: Người Trung Hoa lấy 2/3 và ta lấy 1/3” thì trước đó năm 1943, 1944 Hồ không lén lút thực hiện việc này?

    Nhận xét:
    Dân chết đói do đâu?


    Vì đâu nên nỗi? Chính là do Hồ nói phải cung cấp gạo cho 18 vạn quân Tưởng, nhưng kỳ thực là Hồ đem gạo cung cấp cho Trung Cộng!

    Mấy năm thiếu gạo vì ai

    Làm dân ta chết mất hai triệu người
    Tầu cười (tích trữ gạo) Tây khóc (bị đảo chính) Nhật no
    Việt Nam hết gạo, chết co đầy đường. ” (5)

    Nhận xét: Ngay sau khi mới đọc Tuyên Ngôn “độc lập”, Hồ đã bày chuyện thảo luận với Trung Hoa về việc chở gạo từ Nam ra Bắc.” Có phải là cấp cho Tưởng hay là cấp cho CSTQ?

    Nạn đói 1945
    có lợi cho tổ chức nào?


    Hồ đã thực hiện một mưu đồ mà “Nhất cử lưỡng tiện”! đó là vừa đem được gạo về cho Trung Cộng, vừa làm cho dân Việt đói rồi Hồ hô hào: Phá kho thóc của Nhật” để cứu dân, thế rồi dân theo ai?

    Thật là ma mãnh!
    Thật là thổ phỉ!

    Thật là bỉ ổi!


    Chính ông Hồ chí Minh đã qua Pháp đòi hỏi Pháp phải trả lại Độc Lập, Thống Nhất cho dân tộc VN chứ không có thằng Nhật nào ở đây hết. Mặc dù vua Bảo Đại đã thoái vị nhưng thằng Pháp vẫn ngoan cố không chịu trả nên ông Hồ Chí Minh đành phải phát động kháng chiến và đánh thắng Pháp tại Điện Biên Phủ năm 1954.

    Thực Tế cho ta thấy: Chính ông Hồ đã đi đêm với Pháp và cầu cạnh Pháp ngay từ đầu sau khi Nhật Bản đã ĐẢO CHÍNH Pháp thì Pháp KHÔNG có nhu cầu trở lại VN nếu không do Hồ cấu kết với nhóm Cộng Sản Pháp thì dĩ nhiên KHÔNG có tên Nhật Bản nào ở đây hết bởi Hồ Bả Chó đích thị là TÊN BÁN NƯỚC mà hắn đã từng bị chính người dân miền Bắc CHỬI hắn là "Hồ Chí Minh Bán Nước!"

    TB: Nếu cho rằng HCM đánh Pháp để giành độc lập cho dân tộc Việt Nam thì tại sao lại muốn giết cả dân Việt Nam để giành chiến thắng? Hành động này chỉ có thể giải thích là nước Việt Nam là bàn đạp cho Hồ bước lên vai trò lãnh tụ cộng sản và thi hành nhiệm vụ theo lệnh đàn anh Nga Tàu. Người dân Việt Nam chỉ là những con vật hy sinh. Đất nước dân tộc trở thành tro bụi, còn Hồ thì vẫn còn “tổ quốc” kia để trở về. T Lan (bút danh của HCM) trong quyển Vừa Đi Đường .vừa LÁO XẠO!” có đoạn Hồ than thở khi bị quân Tưởng lùng bắt rằng phải tìm đường trở về tổ quốc Liên Xô”.

    Bằng chứng còn sờ sờ ra đó mà lũ DỐT MÍT vẫn ngoan cố CÃI CÙN!


    Tướng Pháp Leclerc, HCM,Đại Sứ Pháp Sainteny nâng ly chúc mừng sau khi ký Hiệp Ước Sơ Bộ. Đây được xem như một hiệp ước bán nước Hồ bị dân miền Bắc gọi là “Hồ Chí Minh bán nước.

    Mặc dù vua Bảo Đại đã thoái vị nhưng thằng Pháp vẫn ngoan cố không chịu trả nên ông Hồ Chí Minh đành phải phát động kháng chiến và đánh thắng Pháp tại Điện Biên Phủ năm 1954.

    Thực Tế cho ta thấy: Mặc dù vua Bảo Đại đã thoái vị nhưng thằng Hồ Bả Chó vẫn ngoan cố không chịu giữ lời hứa với các đồng chí cách mạng của mình để cùng nhau đuổi Pháp ra khỏi đất nước mà KHÔNG tốn sinh mạng của người dân nào cả! Mà ngược lại đẩy con em của người dân vào chổ chết với những cuộc chiến đẫm máu PHI LÝ để làm gì thì chính người dân VN ngày nay ai cũng đã thấy rõ rùi!

    Bằng chứng
    còn sờ sờ ra đó mà lũ DỐT MÍT vẫn ngoan cố CÃI CÙN!



    Minh Khai 1 day ago
    Niềm tự hào của
    đảng đĩ CSVN hcm được lọt vào Top của 13 tên đồ tể giết người nhiều nhất thế giới

    13 Bloody Dictators of the 20th Century

    http://oddstuffmagazine.com/13-bloody-dictators-of-the-20th-century.html


    3. Ho Chi Minh



    Northern Vietnam
    The death toll:
    1.7 million
    Years in power: 24 (1945-1969)
    The
    most heinous crime: the Vietnam War
    Type of regime: communist
    Cause of death: heart failure


    Những cuộc chiến ĐẪM MÁU PHI LÝ là do chính Hồ Chí Minh "phát động"CHỦ MƯU chia đôi đất nước theo sự "chỉ thị" của TÀU CHỆT để đánh thắng Pháp tại Điện Biên Phủ năm 1954 chớ Việt Minh bị THUA PHÁP TE TUA nên KHÔNG thể nào thắng Điện Biên Phủ nếu không có tập đoàn Cố Vấn và quân sự của Trung Cộng trực tiếp tham gia vào! Lịch Sử của Tàu Chệt đã công bố trên mạng INTERNET điều đó!



    Việc giúp đỡ bằng mọi cách...là trách nhiệm quốc tế mà Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc không thể thoái thác.
    Lưu Thiếu Kỳ, 1950

    Từ tháng Tư đến tháng Chín năm 1950, Trung Quốc gửi cho Viêṭ Minh số lượng lớn viện trợ quân sự và phi quân sự, gồm 14.000 súng trường và súng lục, 1700 súng máy và tiểu liên, 150 súng cối, 60 khẩu pháo, và 300 bazooka, cùng đạn dược, thuốc, quần áo và 2800 tấn thực phẩm (số liệu lấy từ quyển ‘Các dữ kiện lịch sử về vai trò nhóm cố vấn quân sự Trung Quốc trong cuộc đấu tranh giúp đỡ Việt Nam và chống Pháp’, xuất bản ở Trung Quốc 1990).


    Mày đã thua và bỏ chạy năm 1975 nên ngụy tạo lại lịch sử VN để mua chuộc lòng dân về phe mày???, nhưng nhân dân VN đã biết hết rồi nên họ không nghe lời mày đâu con ạ.

    POLITICALLY INCORRECT! SAI TỪA LƯA do NÓI LÁO VÔ ĐỘ! Càng NÓI LÁO thì càng NÓI SAI BÉT!
    Đừng có "suy bụng ta... mà ra cái bụng THAM TIỀN của mình đó nhe! Tao là công dânquốc gia Tư Bản nên Có Quyền Tự Do nói lên cảm nghỉ của riêng mình mà ĐẾCH cần 'mua chuộc" bất cứ ai cả! Ở Mỹ mà hoạt động nhận tiền HỐI LỘ là bị Ở TÙ đó nhe hông nên không ai có nhu cầu NÓI LÁO như mày
    cả!! Đồ DỐT MÍT! nước ngoài đã lâu mà đầu óc vẫn MÙ TỊT!

    Bản thân TAO
    KHÔNG HỀ THUA đám CHÓ MẤT DẠY như chúng mày bởi TAO ĐÉO có chạy đi đâu vào năm 1975? TAO đã từng ngồi dưới mái trường XẠO HẾT CHỔ NÓI từ năm 75-80 để chứng kiến một bày KHỈ RỪNG vào miền Nam quyết tâm ĐỐT Sách Sử của miền Nam để hòng NGỤY TẠO LỊCH SỬ để dễ bề LỪA GẠT đám con nít NGU MUỘI như chúng mày thì có đó con ạ!

    Môn Sử Học của miền Nam rất TRONG SÁNG nên học sinh không có nhu cầu NÓI LÁO để "Sĩ Diện HẢO"!

    Sách giáo khoa thời Việt Nam Cộng Hòa


    Cả một
    chế độ NGU ĐẦN vẫn KHÔNG thể LỪA GẠT được TAO thì mắc mớ gì TAO phải nghe những "con ếch ngồi đáy giếng lâu năm" như mày? Nhân dân VN thời nay đã khác thời xưa rồi bởi họ con cháu của họ đã được tiếp cận tin tức từ truyền thông ở nước ngoài và mở rộng kiến thức từ trên mạng INTERNET thì dĩ nhiên họ KHÔNG CÒN TIN vào cái MÒM LÁO của mày nửa rồi con ạ! Do cái "đỉnh cao bị TRÌ TỆ" của mày KHÔNG XÀI ĐƯỢCnước ngoài nên chúng mày KHÔNG CÓ trình độ để dùng được INTERNET ENGINE SEARCH để đi tìm hiểu mọi sự việc cho rõ ràng! Cũng chính vì sự LƯỜI BIẾNG ĐỘNG NÃO cho nên chúng mày bị THUA THIỆT về mọi mặt trong Xã Hội Văn MinhKHÔNG thể ngóc đầu lên nổi bởi bị TỤT HẬU về tư tưởng cũng như cách "đối nhân xử thế" quá KÉM CÕI!


    Thời buổi này là thời
    KIỂM CHỨNG cho nên không thể NÓI LÁO hoặc NÓI SUÔNG những lời BỊA ĐẶT để cố tình ĐÁNH TRÁO SỰ THẬT cho
    được bởi ở các quốc gia Tự Do Dân Chủ người ta"Tự Do Ngôn Luận" theo "tinh thần tư duy độc lập"không nhất thiết phải nghe theo lời chỉ thị của Chính Phủ bởi Chính Phủ cũng không có nhu cầu Bưng Bít Thông Tin nên mọi cá nhân được quyền độc lập tự chủ mà đi tìm hiểu cho chính mình mà ĐẾCH CẦN nghe con ẾCH nào cả! Mày có thấy hiện nay ở nước Mỹ có ai nghe theo cái Mụ Clinton hay không?

    Hồ Chí Minh Mang Pháp Về Lần Thứ Ba

    Hiện tại Việt Nam không ít người đang đề cập tới hai chữ “bán nước” liên quan tới vấn đề Đảng Cộng Sản Việt Nam dâng
    lãnh thổ, biển đảo cho Trung Cộng từ nhiều năm qua. Nay hiện tượng tàu HD 981 đang đóng tại vùng biển thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam bảo là khoan dầu với lý do hợp tác kinh tế, hay cũng là dấu hiệu chính trị báo cho dân biết Việt Nam đã và đang lệ thuộc đàn anh tới giai đoạn gần hoàn toàn mất nước. Hai chữ “bán nước” cho ngoại bang đã xuất hiện từ 3/1946 khi Hồ Chí Minh (HCM) mang Pháp cộng về Hà Nội để hợp tác mà người ta gọi đó là Pháp trở về Việt Nam lần hai. Khoảng 8 năm sau, tức sau ngày chia đôi đất nước, HCM trân trọng nài nỉ Pháp trở về Hà Nội lần nữa. Đây là lần thứ ba. Pháp này là ai, cũng như tại sao Hồ lại cần họ đến quá mức như vậy?

    Tại Pháp, khi sắp sửa trở về Việt Nam sau hội nghị Fontainebleau, HCM nhận những lời tuyên chiến. Dù là Pháp trở về tái chiếm để
    dẹp làn sóng đỏ, nhưng nguyên nhân của cuộc chiến vẫn là HCM. Có chiến tranh hay không là do quyết định của Hồ. Giáo sư Robert Templer, trong một lần về Việt Nam đến viếng lăng Hồ, sau vụ Trần Trường, đã có một bài viết về HCM và cho rằng chính Hồ đã phóng ra cuộc chiến làm chết hơn 3 triệu người.



    Tướng Pháp Leclerc, HCM,Đại Sứ Pháp Sainteny nâng ly chúc mừng sau khi ký Hiệp Ước Sơ Bộ. Đây được xem như một hiệp ước bán nước Hồ bị dân miền Bắc gọi là “Hồ Chí Minh bán nước.

    Sainteny
    người thiên tả, người ký với HCM Hiệp Ước Sơ Bộ và cùng nhau nâng ly chúc mừng, nhưng ít nhất đã trình bày một số sự thật về người quốc tế cộng sản này, sau nhiều năm hai bên qua lại.


    (Ho Chi Minh and his Vietnam, Sainteny, page 66) -Từ một mệnh lệnh trụ cột bí mật, Hồ Chí Minh phóng ra cuộc chiến đầy thống khổ. Bên cạnh Hồ là hình ảnh của Nikolai Lenin và Josef Stalin, những ông thầy của Hồ.

    Trở lại lúc
    HCM ở Pháp vào giai đoạn trung tuần tháng 9/1946.

    The night before Ho was to return to Vietnam, Salan said to him – and Ho must have known it was true- “We are going to fight each other, and it will be very difficult.” Indeed, Ho had told Sainteny and Marius Moutet, “If we have to fight, we will fight…You will kill ten of us and we kill one of you, but you will be the ones who grow tired.” (Ho Chi Minh, A Biography, Pierre Brocheux, 2007, page 120)

    Đêm trước khi Hồ trở về Việt Nam, ông Salan nói với Hồ, và Hồ đã phải biết đó là sự thật - “Chúng ta sắp đánh nhau, và nó sẽ rất là khó khăn.” Thật vậy, Hồ nói với Sainteny và Marius Moutet, “Nếu chúng ta phải đánh nhau, chúng ta sẽ đánh…Các ông giết mười người của chúng tôi và chúng tôi giết một người của các ông, nhưng phe các ông sẽ là những người trở nên mệt mỏi.”



    (Ho Chi Minh and his Vietnam, Jean Sainteny, 1972, page 66) -Ho Chi Minh và Jean Sainteny sau buổi họp với Georges Bidault vào tháng 7/1946

    Sự xung đột xảy ra bắt nguồn từ sự vận động ráo riết của thống đốc Đông Dương, Thierry d’Argenlieu, và phe cánh cộng hòa để lấy lại quốc hội từ tay phe thiên tả (Đảng Xã Hội và Cộng Sản Pháp) sau cuộc bầu cử ngày 2/6/1946.

    Trước đó, ngay trên đường bay tới Pháp, ngày 31/5/1946, và ghé dừng chân tại Ấn Độ, tướng Salan cũng đã báo cho Hồ biết rằng Đảng Cộng Sản Pháp đang trên đà thất thế và khuyên HCM nên “đầu hàng.” Tại Pháp, tinh thần và “tư tưởng cắc kè” của ông Hồ thể hiện rất rõ sau khi biết Hiệp Ước Sơ Bộ6/3/1946 bị vô hiệu hóa, nghĩa là mộng nhuộm đỏ ba miền Bắc Trung Nam tan theo mây khói. Cắc kè nghĩa là HCM chạy theo bất cứ thế lực nào đang nắm quyền, không cần biết lập trường của thế lực đó ra sao để chỉ đạt mục đích sau cùng.

    Một lần họp mặt với “kiều bào” tại Pháp trong một hội trường khá đông người, HCM ngồi cùng Phạm Văn Đồng trên “panel” đã tuyên bố những lời rất tốt đẹp về chính phủ vừa đắc cử (thủ tướng Georges Bidault) rằng “nước Pháp bây giờ là một nước Pháp mới” không còn thực dân nữa nên hai bên Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Pháp phải nên hợp tác nhau. Trong tinh thần rất là “hòa hoãn” của HCM, nhưng cuối cùng thì lập trường không bắt tay với cộng sản của phe Bidault đã thể hiện rõ rệt qua lời tuyên bố của tướng Salan trước mặt HCM.

    Ý định tái chiếm Đông Dương của Pháp đã xảy ra từ tháng 4, 1945, khi có đại hội tại San Francisco từ 25/4/1945 – 26/6/1945, gồm 50 quốc gia bàn về nhiều vấn đề sau thế chiến thứ hai chấm dứt. Qua việc quân đội Anh lãnh đạo bởi Tướng Douglas Gracey về Saigon chiếu theo hội nghị Potsdam, một số quân sĩ Pháp được người Anh thả ra từ những trại giam (Nhật bắt giam), và hiện tượng cuộc xung đột giữa quân Pháp và Việt Minh tại Saigon ngày 23/9/1945, cho thấy Anh cho phép Pháp dẹp làn sóng cộng sản đang bành trướng… Nhưng sau hội nghị Fontainebleau xảy ra từ 7-9, 1946, Pháp mới chính thức khai chiến với HCM và tái chiếm Đông Dương.

    Pháp có Hoa Kỳ hỗ trợ. Nhưng sau cuộc họp tại Berlin vào 2/1954 giữa các nước đồng minh, Pháp có ý định “ngưng chiến để bàn về hòa bình” với Hà Nội,HCM đã bằng lòng trên nguyên tắc. Tuy nhiên, PhápMỹ đã bị HCM lừa, thay vì vào bàn hội nghị vào ngày 8/5/1954 thì HCM lại tấn công biển người trận Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954. Cuộc chiến ý thức hệ từ 12/1946 tới 5/1954 kết thúc tại trận Điện Biên Phủ đa phần cũng nhờ sự cố vấn và viện trợ của Trung Cộng.

    Sau “chiến thắng” tình trạng điều hành những dịch vụ, cơ sở, hãng xưởng ở miền Bắc ra sao? HCM và các đồng chí của ông ta có thái độ gì? Xin trích một số dẫn chứng trong “Ho Chi Minh and his Vietnam, translation, 1972, Jean Sainteny.”

    Ho Chi Minh entered personally into the important debate and made every effort to retain the French.(page 137) – Cá nhân HCM tiến hành phiên họp quan trọng và ông ta làm mọi cách để giữ những người Pháp ở lại.

    Yet, Ho Chi Minh, like Pham Van Dong, continued to press for the French to return and take charge of their establishments (page 139) – Còn nữa, HCM, cũng giống như Phạm Văn Đồng, tiếp tục thúc đẩy việc người Pháp trở lại và lãnh trách nhiệm những cơ sở thiết lập của họ.

    Những tòa nhà, những nơi phục vụ công chúng vẫn do người Pháp điều hành, người Việt không đủ khả năng lãnh đạo như đường xe lửa, điện nước, bưu điện, điện thoại, dịch vụ hải cảng, hàng không, trường học, trường y khoa, bệnh viện, v.v.. Trong khi chờ đợi những “bạn bè” từ trời Âu như Czechoslovakia, Poland, Hungary, East Germany đến để giúp thì Hồ bắt buộc phải xử dụng bản chất “cắc kè” để cứu nguy tình trạng kinh tế, xã hội, học đường mà nền móng do Pháp thiết lập.

    Placed before the perspective of pursuing activities of capitalistic origin in a country of the most orthodox communism, most French enterprises abandoned the attempt. Ho’s effort in this direction had little effect ( page 136) – đặt tình trạng trước một phối cảnh nhằm hoạt động để phục vụ nền kinh tế tư bản một cách chánh hiệu mà lại ở trong một nước cộng sản chính thống, nên hầu hết những hãng xưởng kinh doanh bác bỏ đề nghị. Cố gắng đòi hỏi của ông Hồ trong việc muốn Pháp ở lại chỉ có một kết quả nhỏ thôi.

    Sainteny
    đến Hà Nội vào 8/1954 và đã nói chuyện với Phạm Văn Đồng liên quan tới việc cộng sản miền Bắc muốn duy trì người Pháp, mặc dù là trong 8 năm lúc nào cũng hô hào tuyên truyền phải chống Pháp “thực dân”, phải có độc lập…v.v


    Sau đó vài tuần,
    HCM muốn gặp Sainteny để mong thuyết phục nữa.
    …I expressed my frustration. “Well, now”, I said, “you wanted me to come here; you wanted France to return. Here I am. What do you expect of me?”
    “We have much to do,” he replied, “and cannot do everything at once. What we want is for you to take charge of the economic activity of this country. We need your enterprises, and we want them to remain.” ( page 137)

    Tôi biểu lộ sự khó chịu. Tôi nói “ Được rồi, bây giờ ông muốn tôi tới đây; ông muốn nước Pháp trở lại. Bây giờ tôi đây. Ông mong muốn tôi làm gì?"

    Ông ta (
    HCM) trả lời “Chúng ta có nhiều chuyện làm, và không thể làm tất cả trong một lần. Những gì chúng tôi muốn ông làm là lãnh trách nhiệm về những vấn đề kinh tế của quốc gia này. Chúng tôi cần những tổ chức kinh doanh của các ông, và chúng tôi muốn các thứ đó còn tồn tại."

    Như vậy thì hằng trăm ngàn thanh niên miền Bắc bị nướng trong 8 năm đánh Pháp đó để được kết quả là HCM năn nỉ Pháp ở lại miền Bắc duy trì cung cách làm kinh tế tư bản, thứ mà chủ nghĩa cộng sản của HCM chủ trương tiêu diệt đến tận gốc rễ!


    Kế hoạch của phe cộng sản thì khó lường. Kể cả đại sứ Liên Sô Lavritchev cũng đã gặp Sainteny để thúc đẩy việc duy trì nền móng kinh tế của Pháp tại miền Bắc. Sainteny bén nhạy khi nhận xét về Trung Cộng rằng họ có mặt khắp nơi ở miền Bắc, nhưng đặc biệt là về vấn đề liên lạc, hướng dẫn (especially in the vast area of “communication”).

    Con cắc kè HCM còn nhiều chiêu hiểm độc trong giai đoạn này. Một số ít người Pháp “thông cảm” với Hồ nên cũng ở nán lại, nhưng không lâu họ cũng bị theo dõi, nghi ngờ, kết tội, làm phiền…

    All or most of their staffs who tried to carry on in North Vietnam were subjected to so much persecution and shabby treatment that they were obliged to pack their bags and leave (page 140) –Tất cả hay hầu hết những nhân viên, họ cố gắng ở lại miền Bắc để duy trì công việc cũng bị ngược đãi nặng nề và bị đối xử tồi tệ nên họ cũng bắt buộc phải cuốn gói ra đi.

    Cơ xưởng làm về quặng mỏ ở Hongay ký kết với cộng sản ngày 8/4/1955 tiếp tục ở lại hành nghề, nhưng không lâu cũng bỏ cuộc. Những điều ghi trong thỏa thuận – tự do tư tưởng, tự do thể hiện quan điểm chính trị, tự do tôn giáo, tự do mua thực phẩm, tự do mua nhà đất, tự do đi lại - tất cả đã không được thực hiện. Thậm chí các linh mục và nhân viên còn bị cộng sản điều tra lý lịch gia đình, dòng họ.

    Sainteny kể một trong hằng trăm vụ xảy ra là một bà vợ của một kỹ sư hầm mỏ người Pháp bị đau răng mà phải chờ giấy phép mất 15 ngày mới được đi Hà Nội gặp nha sĩ chữa trị. Père Lena was not authorized to go to Hongay before the transfer (page 143) – Cha Lena không được phép tới Hongay trước ngày chuyển giao.

    Cộng sản nghi ngờ rằng các ông Cha làm công tác tình báo cho Hoa Kỳ nên đã ra một văn thư trả lời cho những người Pháp (đòi hỏi linh mục phục vụ cho họ về mặt tinh thần tại Hongay): French or Vietnamese dignitaries or priests have been persuaded to act, under cover of their priesthood, as reactionary agents of American imperialism. This was signed, Le Viet Huong (page 144).

    Cuối cùng thì các Cha bị trù dập nặng nề mà Sainteny phải tìm cách mang họ ra khỏi miền Bắc. Tác giả còn ghi là rất tiếc không giúp được gì cho các linh mục Việt Nam vì họ cũng bị ngược đãi. Trước Sainteny cứ tin là HCM không đến quá tồi tệ, nhưng sau vụ này thấy ra thêm bản chất con người quốc tế cộng sản này: I cannot believe that Ho Chi Minh approved of this policy of sabotage (page 148) -Tôi không thể tưởng là HCM chấp thuận một chủ trương tiêu diệt thế này.

    Các trung tâm có tầm vóc như Saint-Paul Clinic, Franco-Vietnamese hospital, Hanoi Medical School, Franco-Vietnamese Cancer Institute (điều hành bởi giáo sư bác sĩ và chuyên khoa người Pháp), L’ecole francaise d’Extrême-Orient, Lycée Albert Sarraut,v.v.. Đến 28/4/1965 thì trường Lycée Albert Sarraut là cơ sở sau cùng chấm dứt phận sự tại miền Bắc.

    Cộng sản có chủ trương rằng “giết lầm còn hơn tha lầm.” Như dẫn chứng trên dù ra công nài nỉ người Pháp ở lại miền Bắc sau ngày chia đôi đất nước, HCM vẫn nơm nớp lo sợ rồi cuối cùng vẫn dùng bạo lựckhủng bố để đối xử.

    Có thể tin được không khi ngày nay những chóp bu cộng sản thay phiên nhau qua Hoa Kỳ để cầu cạnh, không những về
    kinh tế mà còn cho người ta thấy như Hà Nội cũng muốn Mỹ giúp chống lại kẻ thù phương bắc. Bản chất lừa gạt vẫn còn đó. Như Sainteny đã nhận ra là khi yêu cầu Pháp ở lại miền Bắc để điều hành kinh tế thì đại sứ Liên Sô hối thúc Pháp chấp nhận, còn Trung Cộng thì lo vấn đề cố vấn cho HCM mà tác giả dùng chữ “communication” trong ngoặc kép.

    Chống Pháp rồi yêu cầu Pháp ở lại tiếp tục duy trì kinh tế tư bản, không những một lần mà nhiều lần nài nỉ như tác giả Sainteny đã ghi. Chống Mỹ với chiêu bài “Mỹ xâm lăng” khi Mỹ miền Nam làm đồng minh đẩy lùi làn sóng đỏ ra Bắc, rồi sau khi cưỡng chiếm xong miền Nam lại cứ tiếp tục xin Mỹ viện trợ từ kinh tế, y tế, nhân đạo…v.v.

    Kết quả của cuộc chiến từ 1946 đến 1975 là một xã hội đi xuống từ mọi mặt, một
    tầng lớp giàu sang trên xương máu của đồng bào. Nếu Pháp và Mỹ không giúp thì thiệt thòi nhiều nhất vẫn là đại đa số người dân, còn cộng sản đương quyền thì vẫn ngang nhiên làm “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, tự do cướp nhà đất, ăn hối lộ.

    Lãnh đạo đảng cộng sản dẫn đầu là HCM đã bán nước cho Pháp (Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946) rồi cho Trung Cộng sau vụ Điện Biên Phủ, và đàn em làm nhiệm vụ sau cùng là dâng trọn từ hồn tới vật thể cho đàn anh, sẵn sàng dâng hiến giang sơn của tổ tiên cho ngoại bang phương bắc, chỉ mong duy trì chế độ độc tài toàn trị gồm các thành phần lãnh đạo và ban bộ ăn theo…

    Phong trào “Không Bán Nước” đang được nở rộ ở Việt Nam, nhất là sau vụ tàu HD 981 của Trung Cộng đóng giàn khoan tại khu biển thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam. Không bán nước là ý niệm phải có của toàn dân, ngoại trừ cộng sản. Ngày nay đó không phải là ý niệm mà thực tế là Việt Cộng đã và đang bán nước. Vậy muốn còn nước Việt Nam để người dân sống trên mảnh đất không bị chi phối bởi ngoại bang, bởi tập đoàn tay sai Hà Nội, chỉ còn cách là giải thể chế độ độc tài bán nước hại dân.

    Những ngày tháng đó HCM mong muốn Pháp duy trì tại miền Bắc với mục đích kinh tế là chánh, mặc dù nó vô chính nghĩa khi từng hô hào rằng phải tiêu diệt tầng lớp trí thức, phải thiêu đốt chế độ tư bản.???

    Cho là
    Hồ lợi dụng ngắn hạn, nhưng trên thực tế thì rất lâu dài, bởi trong chế độ cộng sản với chủ trương ngu dân, kìm kẹp, tướt đoạt quyền báo chí, ngôn luận, phát triển tự nhiên thì làm sao xã hội tiến bộ được.? Thế nên các lãnh đạo cộng sản cứ phải đi chầu chực các quốc gia tự do dân chủ dài dài, lại còn gửi con cháu du học Hoa Kỳ thay vì Nga SôTrung Cộng. Ngày xưa thì đu giây giữa Nga Tàu, ngày nay thì dựa hẳn vào Tàu nhưng úp úp mở mở. Gần năm ngàn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam có lúc nào đen tối như giai đoạn gần 40 năm qua!

    Bút Sử
    June 26, 2014

    Sources: Ho Chi Minh and his Vietnam, Jean Sainteny, 1972; Ho Chi Minh A Biography, Pierre Brocheux, 2007.

    Last edited by NASA1517; 02-12-2018 at 02:58 AM.

  16. #14776
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    5,779
    Thanks
    0
    Thanked 6 Times in 6 Posts

    Default Re: Tại sao Đảng CSVN được nhân dan VN và Thế Giới...ủng hộ ?

    Quote Originally Posted by NASA1517 View Post
    Mặc dù vua Bảo Đại đã thoái vị nhưng thằng Pháp vẫn ngoan cố không chịu trả nên ông Hồ Chí Minh đành phải phát động kháng chiến và đánh thắng Pháp tại Điện Biên Phủ năm 1954.

    Thực Tế cho ta thấy: Mặc dù vua Bảo Đại đã thoái vị nhưng thằng Hồ Bả Chó vẫn ngoan cố không chịu giữ lời hứa với các đồng chí cách mạng của mình để cùng nhau đuổi Pháp ra khỏi đất nước mà KHÔNG tốn sinh mạng của người dân nào cả! Mà ngược lại đẩy con em của người dân vào chổ chết với những cuộc chiến đẫm máu PHI LÝ để làm gì thì chính người dân VN ngày nay ai cũng đã thấy rõ rùi!


    Toàn dân VN đã trông thấy rất rõ ràng, Bộ Đội Cụ Hồ đã đánh thắng giặc Pháp tại Điện Biên Phủ vào tháng 5 năm 1954, bắt sống hơn 11,000 lính Pháp tại đó, khiến cho Pháp phải ký kết Hiệp Định Geneva 1954 để rút hết quân ra khỏi VN, và trao trả lại Độc Lập, Thống Nhất về cho dân tộc VN năm 1956 bằng một cuộc Tổng Tuyển Cử Tự Do giữa hai miền Nam - Bắc.

  17. #14777
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    11,643
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Tại sao Đảng CSVN được nhân dan VN và Thế Giới...ủng hộ ?

    Quote Originally Posted by youngvietnamese View Post
    Toàn dân VN đã trông thấy rất rõ ràng, Bộ Đội Cụ Hồ đã đánh thắng giặc Pháp tại Điện Biên Phủ vào tháng 5 năm 1954, bắt sống hơn 11,000 lính Pháp tại đó, khiến cho Pháp phải ký kết Hiệp Định Geneva 1954 để rút hết quân ra khỏi VN, và trao trả lại Độc Lập, Thống Nhất về cho dân tộc VN năm 1956 bằng một cuộc Tổng Tuyển Cử Tự Do giữa hai miền Nam - Bắc.

    Đó là vì cái đám dân Bần Cố Nông từ miền Bắc do bị MÙ CHỮ nên chỉ thấy qua hình thức tuyên truyền chớ người dân ở miền Nam có được Dân Trí Cao nên ĐÉO ai tin 3 cái chiện BỊA ĐẶT TÀO LAO cả!

    Bộ Đội Cụ Hồ Bả Chó nào mà đánh được giặc Pháp tại Điện Biên Phủ? Toàn là 3 cái trò TRÍ TRÁ LÁO XẠO trong lúc cả quân sự Trung Quốc trực tiếp tham gia vào cuộc chiến mới thắng được Pháp! Sự kiện Lịch Sử như thế nào thì nói như thế đó vì chính Trung Cộng đã tuyên bố trên mạng từ khuya rồi mà đám VẸM DỐT vẫn còn ẢO TƯỞNG VIỄN VONGVỚ VẪN!



    Việc giúp đỡ bằng mọi cách...là trách nhiệm quốc tế mà Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc không thể thoái thác.
    Lưu Thiếu Kỳ, 1950

    "Từ tháng Tư đến tháng Chín năm 1950, Trung Quốc gửi cho Viêṭ Minh số lượng lớn "viện trợ quân sự" và phi quân sự, gồm 14.000 súng trường và súng lục, 1700 súng máy và tiểu liên, 150 súng cối, 60 khẩu pháo, và 300 bazooka, cùng đạn dược, thuốc, quần áo và 2800 tấn thực phẩm (số liệu lấy từ quyển ‘Các dữ kiện lịch sử về vai trò nhóm cố vấn quân sự Trung Quốc trong cuộc đấu tranh giúp đỡ Việt Nam và chống Pháp’, xuất bản ở Trung Quốc 1990).

    Vào tháng 5 năm 1954 thay vì ngồi vào bàn Hội Nghị để thương lượng về sự Hòa Bình một cách ôn hòa thì chúng nghe lời chỉ thị của thèng Tàu ChệtĐÁNH LÉN chớ ĐÉO có gì hay ho đâu mà tự hào!? Đã vậy còn ra chiêu trò LƯU MANH GIẾT HẠI gần 200,000 người dân miền Bắc vô tội trong Cuộc Cải Cách Ruộng Đất trong năm 1956 nên khiến gần 1 triệu ngưòi dân miền Bắc phải "bỏ phiếu" bằng chân để di cư vào Nam nên ĐÉO có ai THÈM tham gia vào cuộc "Tổng Tuyển Cử Tự Do GIẢ HIỆU" nào giữa hai miền Nam Bắc cả! Bởi ĐÉO có người dân thườngmiền Nam nào mà tự nhiên từ bỏ cái "Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền" của mình để đi sang miền Bắc làm NÔ NỆ cho thèng Chệt ở phương Bắc cả.. mà nếu có thì cá nhân đó hết sức là BỆNH TÂM THẦN HẠNG NẶNG!

    Bởi thế cho nên ĐÉO thấy có tài liệu nào chứng minh ngưòi dân thường miền Nam di cư ra Bắc để tham gia cho cái gọi là "Tổng Tuyển Cử Tự Do GIẢ HIỆU" đó ngoài mấy tên cán bộ gốc Bắc được cài cắm miền Nam sau Hiệp Định Geneva nên cuối cùng bị THUA ĐẬM thì phải trở ra Bắc mà thôi! Tài liệu lịch sử đã chứng minh rõ ràng như thế mà chúng vẫn ngoan cố PHỦ NHẬN SỰ THẬT!

    Cuộc di cư vĩ đại chạy trốn Cộng Sản 1954-1955




    Khoảng một triệu người dân miền Bắc di cư đến miền Nam Việt Nam trong những năm 1954–1955 theo những chuyến tàu do Pháp và Mỹ tổ chức.


    Tàu USS Montague của Hoa Kỳ đang chuẩn bị đón người di cư tại cảng Hải Phòng.

    "Sau Hiệp Định Geneva, hằng ngàn cán bộ cộng sản từ miền Bắc theo làn sóng di cư vào Nam hoạt động. Họ đã dàn dựng những cơ sở mọi nơi trong Nam gây rối loạn, đặt mìn, khủng bố người dân…Họ chờ có cuộc chiến tranh thật sự, đồng thời xua quânchuyển quân nhu quân cụ từ Bắc vào Nam dọc dải Trường Sơn."

    THỰC TẾ
    cho ta thấy:
    Một là CON YOUNG VẸM bị DỐT MÍT, hai là bị MÙ CHỮ nên KHÔNG đọc được tài liệu đã chứng minh! Ba là Quyết Tâm NGU LÂU nên CỐ ĐẤM ĂN XÔI để CHỐI TỘI TÀY TRỜI của Hồ Bả Chó!




    Bất cứ người dân miền Nam nào mà THẤY RÕ cái hình này là CHẠY CAO BAY XA ĐÉO có con ma nào THÈM cái gọi là cuộc "Tổng Tuyển Cử Tự Do GIẢ HIỆU" đó!

    hoàng Anh 3 days ago
    Ng bắc 54 vào nam chịu miệt thị từ dân nam kỳ từ những đứa trẻ nam kỳ gấp bội ng hoa ..ng hoa bị miệt thị 1 ng bắc 54 bị 2... Nhưng cúi cùng cũng thuận lòng nhau và an vui phát triển.....
    . nam kỳ ghét bắc kỳ 75 1 . Băc 54 ghét bắc kỳ 75 gấp 10....tôi từng nghe cô bắc 54 giọng tri thức phân biệt ông thầy giáo trẻ giọng bắc ông ta hỏi ." cô từ miền bắc vào lâu chưa ở nơi nào thế đồng hương ạ" bà ta nói...chú em là bắc 75 đúng ko? dốt nát, tôi là bắc 54 tri thức không thể nào là đồng hương được.
    Tại sao bầu cử thống nhất đất nước năm 1956 không thành?



    Trả lại
    lịch sử những gì của lịch sử


    Mai Tú Ân (Danlambao) - Trước giờ chúng ta thường được thông tin của lề đảng nói rằng, tại vì chính quyền VNCH của Tổng thống Ngô Đình Diệm không chấp nhận bầu cử để thống nhất vì sợ sẽ thất cử trước chính quyền VNDCCH của Chủ Tịch Hồ Chí Minh.

    Qua nhiều sự nghiên cứu trung thực của nhiều người thì kết luận lại là những người CS

    chỉ nói thật được một nửa... vbầu cử thống nhất đất nước năm 1956 này.

    Như mọi người đều biết, toàn bộ vùng núi phía Bắc giáp biên giới Trung Quốc đã lọt vào tay Việt Minh, và những người CS Trung Quốc, đã giành được toàn bộ Trung Hoa Đại Lục, đuổi quân Tưởng ra Đài Loan trước đó vào năm 1949. Biên giới hai nước CS đã mở toang cửa cho từng đoàn xe tải Trung Cộng chở hàng, vũ khí từ Liên Xô ùn ùn sang tiếp viện cho đồng mình mới là CSVN. Ngay trong chiến dịch Điện Biên Phủ thì cùng có trên 3000 cố vấn Trung Cộng tham chiến. (Đây là cái mấu chốt CON YOUNG VẸM KHÔNG THỂ NÓI LÁO cho rằng Bộ Đội Cụ Hồ đánh thắng Pháp mà không có sự tiếp tay của đàn anh TQ?)

    Cũng xin nói thêm về sự giúp đỡ của khối CS này cho Việt Minh. Thời điểm trước năm 1953- 54 khi đại nguyên soái Staline còn sống, thì mối quan hệ đặc biệt thân thiết giữa Stalin Mao Trạch Đông cũng như hai nhà nước CS này là vô cùng thân thiết. Chính vì sự giúp đỡ vật chất, khí tài, chuyên gia của Liên Xô đã giúp cho CS Trung Quốc của Mao thắng quân QDĐ của Tưởng Giới Thạch và chiếm toàn bộ đại lục. Nhưng kể từ khi Stalin chết năm 1953, những người kế thừa như Khorussop đã bất đồng quan điểm nghiêm trọng với Mao Trạch Đông, và dần dần hai nước từ bạn biến thành thù. Thậm chí 2 nước còn xảy ra xung đột biên giới năm 1967. Và CS Bắc Việt cũng chịu sự thất thường của mối quan hệ này cũng như sự viện trợ lên xuống tùy theo sự đóng băng của tình đồng chí giữa hai ông lớn CS. Nên có những sự kiện chính của đất nước Việt Nam trong thời gian này cũng chịu ảnh hưởng của mối quan hệ giữa hai ông lớn này. Đó là sự kiện Cải Cách Ruộng Đất và ký Hiệp Định Giơnevo 1954, chia đôi đất nước. Xin hẹn dịp khác sẽ trở lại vấn đề này.

    Khi Hiệp Định Giơnevơ được ký kết thì phía của Quốc Gia Việt Nam do Bảo Đại làm Quốc Trưởng và Ngô Đình Diệm làm thủ tướng đã ngần ngại không tham gia. Sau cùng thì cử ông Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ dẫn phái đoàn qua Giơnever.

    Khi Pháp chấp nhận ký hiệp định Genever 1954, thì chỉ có 7/9 nước tham gia ký Hiệp Định này. Và hai nước không ký chính là Hoa KỳQuốc Gia Việt Nam. Mặc cho Pháp thúc ép, và ngay cả QT Bảo Đại cũng thúc giục nhưng TTg Diệm vẫn cương quyết không chấp nhận ký hiệp định này, vì lý do như vậy sẽ chia cắt lâu dài đất nước. Ông đã chỉ đạo cho ngoại trưởng Trần Văn Đỗ, trưởng đoàn Quốc Gia Việt Nam dứt khoát không ký với một tuyên bố long trọng trước tất cả các đoàn để bảo lưu ý kiến rằng:

    "Việc ký hiệp định giữa Pháp và Việt Minh có những điều khoản gây nguy hại nặng nề cho tương lai chính trị của Quốc gia Việt Nam. Hiệp định đã nhường cho Việt Minh những vùng mà quân đội quốc gia còn đóng quân và tước mất của Việt Nam quyền tổ chức phòng thủ quốc gia. Bộ Tư lệnh Pháp đã tự ấn định ngày tổ chức tuyển cử mà không có sự thỏa thuận với phái đoàn Quốc Gia Việt Nam. Chính phủ Quốc gia Việt Nam yêu cầu Hội nghị Gienever ghi nhận một cách chính thức rằng, Việt Nam đã long trọng phản đối cách ký kết Hiệp định cùng những điều khoản không tôn trọng nguyện vọng sâu xa của người dân Việt. Chính phủ Quốc gia Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận rằng Chính phủ Việt Nam tự dành cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện Thống nhất, Độc lập, và Tự do cho toàn xứ sở."

    Quốc Gia Việt NamHoa Kỳ đã không ký cái Hiệp Định Genever 1954 tai họa đó khi các cường quốc và VNDCCH đã ký. Ông ngoại trưởng Trần Văn Đỗ đã bật khóc. TTg Ngô Đình Diệm thì tuyên bố treo cờ rủ vào ngày ký kết hiệp định vì biết trước sự chia cắt lâu dài đất nước. Và ông đã có một câu nói nổi tiếng:

    "Phải thống nhất đất nước trong tự do chứ không phải trong nô lệ"

    Vốn là người quá rành những thủ đoạn của những người CS ông đã từng bị CS cầm tù nên có lẽ Thủ Tướng Ngô Đình Diệm biết chắc rằng, CS sẽ tráo trở chứ không bao giờ nghiêm chỉnh thực thi hiệp định nào cả. Ông nói rằng chẳng bao giờ có chuyện những người CS lại phải ký những hiệp định hòa bình với người phía thế giới dân chủ cả, nếu họ không bị dồn vào chân tường. Và họ cũng chỉ ký vi tình thế nào đó bức bách thôi. Ngay khi chưa ráo mực thì họ sẵn sàng xé tan hết cho dù mấy cái Hiệp Định như HD Giơ ne vơ. Được sự ủng hộ về mọi mặt của Hoa Kỳ, ông cùng chính phủ Quốc Gia Việt Nam đã lao vào làm một khối lượng công việc khổng lồ như di dân vào Nam và ổn định nền kinh tế thời hậu chiến. Đây là thời điểm mà ông Diệm và bào đệ là ông Nhu làm việc đến 18 - 20 giờ mỗi ngày. Ông nói "phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống người dân khám khá lên là những lá phiếu xứng đáng để hai miền thống nhất."

    Ta sẽ sơ lược để tìm hiểu nhé. Thời điểm từ năm 1954, là năm ký Hiệp Định Giơnevơ cho đến năm 1956 là năm sẽ phải Tổng tuyển cử thống nhất hai miền, thì như các bạn đã biết là công cuộc Cải Cách Ruộng Đất đang "Long Trời Lở Đất" trên khắp lãnh thổ miền Bắc của VNDCCH.


    Rồi những cuộc di cư của hàng trăm ngàn đồng bào Công Giáo vào Nam vẫn tiếp diễn, khiến cho các vùng Công Giáo truyền thống như Bùi Chu, Phát Diệm... vắng tanh, chỉ còn các cha ở lại để giữ tài sản Nhà Thờ. Vùng tập kết tự do cho dân di cư ở vùng Hải Phòng vẫn hoạt động trong thời hạn 300 ngày. Ước tính có khoảng 900.000 ngàn đồng bào miền Bắc đã rời bỏ quê hương, mồ mả ông bà tổ tiên cùng nhà cửa ruộng vườn, gạt nước mắt bồng bế nhau đến khu vực tập kết tự do chờ tàu há mồm để di cư vào Nam. Số người di cư này, vốn có sự căm thù hiển nhiên với CS, cộng với các Giáo Phái Cao Đài, Hòa Hảo đều có mối căm thù không khoan nhượng với CS. Và hơn tất cả là tuyệt đại đa số người Miền Nam, miền Trung đều không ủng hộ CS. Và thực tế trong cuộc kháng chiến 9 năm thì Việt Minh không thành công ở các lãnh thổ miền Nam và miền Trung như ở Miền Bắc được. Các khối dân trên là một lực lượng gần như tất cả của Đệ Nhất VNCH đều ủng hộ tuyệt đối Chính phủ của ông Ngô Đình Diệm và hoàn toàn có thể giúp chính phủ thắng cử, nếu có một cuộc bầu cử công bằng.


    Ngược lại chỉ có khoảng 160.000 ngàn người của Việt Minh đã rời bỏ quê hương để tập kết ra Bắc. Bối cảnh thì như vậy, với sự tan hoang của cả nông thôn miền Bắc lẫn lòng dân sau 2 năm CCRĐ, cộng với truyền thống thắng cử của nền dân chủ trước nền độc đảng thì hẳn là ngược đời nếu cho rằng chính quyền Ngô Đình Diệm không dám Tổng tuyển cử vì sợ thất cửư???

    Việc cương quyết từ chối ký Hiệp Định chính thức ở Gioneve sẽ cho chính phủ của ông, như đã nói trong phần bảo lưu hội nghị, có "toàn quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện Thống nhất, Độc lập, và Tự do cho toàn xứ sở." Nói thẳng ra là ông đáp trả xứng đáng với miền Bắc bất cứ lúc nào, và bất cứ giá nào.

    Với sự cương quyết, không bao giờ khoan nhượng với CS, ông đã làm tất cả để mơ một ngày Lấp Sông Bến Hải, thống nhất đất nước trong tự do chứ không phải trong nô lệ.

    "Nhưng Trời cao quen thói má hồng đánh ghen", Ông đã ngã xuống khi ước mơ thống nhất chưa thành.

    Lịch sử ngắn ngủi sau đó đã chỉ ra rằng ông đã đúng, bởi khoan nhượng, hay hòa hoãn với CS tự sát. Như Winton Shusin đã nói, "một quốc gia hèn nhát, không dám đối đầu sanh tử với kẻ thù thì trước sau gì cũng bị kẻ thù đánh gục trong một cuộc chiến tranh."

    Và chúng ta hiểu vì sao một con người Kính Chúa yêu nước, nhưng năm đó luôn đau đáu trong lòng việc lớn nhất đời ông, đó là thống nhất đất nước, thu giang san về một mối rồi rũ áo từ quan để trở về dòng tu cũ để đọc kinh dâng lễ, lại từ chối việc bầu cử để thống nhất đất nước vào năm 1956 ấy. Bởi vì ông biết là cuộc bầu cử ấy sẽ không bao giờ có.

    Làm gì có chuyện chế độ CS miền Bắc lại cho phép cán bộ miền Nam tự do đi lại, căng quảng cáo, áp phích, tờ rơi hoặc gặp gỡ dân chúng miền Bắc để vận động tranh cử? Rồi loa đài phóng thanh cứ ra rả ca ngợi miền Nam, đả kích CS ngay trên đất Bắc? (Miền Bắc cũng được làm tương tự ở miền Nam). Tóm lại làm gì có câu chuyện viễn tưởng đó, và ông Diệm biết điều đó hơn ai hết.



    Và khi năm bầu cử 1956 đến, khi đó ông đã là Tổng Thống của nền Đệ Nhất Cộng Hòa, ông đã cương quyết bác bỏ mọi khả năng bầu cử để thống nhất hai miền. Vì ông luôn mạnh mẽ tin rằng, chính quyền CS của ông Hồ Chí Minh sẽ không nghiêm chỉnh thực hiện đầy đủ trách nhiệm để có một cuộc bầu cử hợp lệ, tự do công bằng. Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sau đó cũng đã liên tiếp đưa ra các đề nghị bầu cử để thống nhất đất nước theo Hiệp Định 1954, và thậm chí đưa ra Ủy Hội Giám Sát QT. Nhưng chính quyền Đệ Nhất Cộng Hòa của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã không trả lời. Rồi chiến tranh giữa hai miền nổ ra sau đó đưa đến bao cảnh tan nát điêu linh và kéo dài. Và bao giờ chính quyền VNDCCH cũng lên tiếng tố cáo chính quyền VNCH của TT Diệm là kẻ chịu hoàn toàn trách nhiệm vì không chịu tham gia bầu cử để thống nhất hai miền. Điều đó cũng không sai...

    Nhưng trong vòng thân tình với báo giới quốc tế thì ông cố vấn Ngô Đình Nhu bao giờ cũng cười ruồi mà rằng: "Các bạn có thể tiếc nuối bất cứ cái gì, nhưng đừng tiếc nuối câu chuyện bầu cử đó. Vì nó sẽ không bao giờ có cả. Chứ nếu có bầu cử thì cho dù chúng tôi có nhắm một mắt lại để cho họ (CS) gian lận bầu cử thì chúng tôi vẫn thắng tuyệt đối. Vì biết chắc rằng họ cũng phá đám nếu thấy rằng họ không thể thắng. Họ không bao giờ có thể thắng, nên không bao giờ có cuộc bầu cử đó".

    Mai Tú Ân

    Nguoi dan mien nam a year ago
    Nhờ không ký hiệp định nên miền nam và những người đồng bào miền bắc di cư 1954 đã hưởng được không khí tự do và hiểu thế nào là tự do để sau đó họ, sau 1975 chỉ cho người dân miền bắc bị CS kềm kẹp tư tuởng thế naò là tự do thật sự.



    Nhớ ngày quốc hận 20 tháng 7 (1954)




    HoustonTX a year ago
    Cám ơn tác giả đã cho thế hệ trẻ hiểu rõ vì sao tổng thống Ngô Đình Diệm không đồng ý tổng tuyển cử vào năm 1956? đối với cộng sản chỉ có giả dối, lừa bịp đồng bào thì sao có thể dân chủ bầu cử công bằng được nhỉ? nếu như không có Internet thì người dân vẫn còn bị chúng bịt mắt, bịt mồm luôn ca ngợi dân chủ bánh vẻ của chúng! Ngô Đình Diệm là người có tâm với đất nước tiếc là bị bọn tướng lảnh thân pháp giết chết nền đệ nhất cộng hoà, nếu không miền Nam sẽ không bị mất vào tay bọn bán nước cộng sản!



    JU MONG Sinh Sự a year ago
    Nếu như thời đó mà có internet và người dân 2 miền cùng nhau lên mạng như bây giờ thì chính cộng sản sẽ nói
    "Tổng tuyển cử thống nhất đất nước tự sát". Bằng chứng là nhờ có internet Hồ Chí Minh đã bị lộ hàng, cha già dân tộc trở thành cha già dâm tặc, vì dân vì nước trở thành tội đồ dân tộc, bác Hồ trở thành thằng bác ... Rõ ràng nhất là chỉ có mấy năm người dân lên mạng mà bây xuống đường không còn 'cờ máu quần què và hình con chó cụ'.


    Tre Làng a year ago
    Miền bắc chắc chắn thua vì: VNDCCH vừa CCRĐ dân oán hận ngút trời, đặc biệt là các tỉnh miền trung như Nghệ An( vụ Quỳnh Lưu) Thanh Hóa cũng bị đàn áp năm 1956, đồng bằng bắc bộ, riêng các tỉnh Hà Giang, Lai Châu, Sơn La không theo VNDCCH vì đến tận những năm 1960 vẫn còn là Khu tự trị, cán bộ cộng sản không lên nổi (tác phẩm Phía bên kia Cổng trời là một minh chứng các sắc tộc như HMong, Tày, Thái Dao... không theo cộng sản), có chăng chỉ một vài tỉnh như Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Cạn và Phú Thọ mà thôi.

    Last edited by NASA1517; 02-13-2018 at 12:17 AM.

  18. #14778
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    5,779
    Thanks
    0
    Thanked 6 Times in 6 Posts

    Default Re: Tại sao Đảng CSVN được nhân dan VN và Thế Giới...ủng hộ ?

    Quote Originally Posted by NASA1517 View Post
    Tại sao bầu cử thống nhất đất nước năm 1956 không thành?

    Tại vì thằng Mỹ xúi thằng Diệm không thi hành Hiệp Định Geneva 1954, nghĩa là không tổ chức Bầu Cử Thống Nhất đất nước với miền Bắc mà chỉ tổ chức bầu cử ở miền Nam để truất phế Bảo Đại mà thôi. Lịch sử đã rành rành ra đó mà chúng mày không đọc sao? Cần phải bắn vào đầu chúng mày thì họa may chúng mày mới tỉnh ra được chứ nói thì chúng mày không nghe đâu. Vì vậy nên nhân dân hai miền Nam - Bắc mới đánh đuổi chúng mày ngày 30 tháng 4 năm 1975 đấy. Chúng mày còn nhớ không?

  19. #14779
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    11,643
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Tại sao Đảng CSVN được nhân dan VN và Thế Giới...ủng hộ ?

    Quote Originally Posted by youngvietnamese View Post
    Tại vì thằng Mỹ xúi thằng Diệm không thi hành Hiệp Định Geneva 1954, nghĩa là không tổ chức Bầu Cử Thống Nhất đất nước với miền Bắc mà chỉ tổ chức bầu cử ở miền Nam để truất phế Bảo Đại mà thôi.

    "Tại vì " là do "ý kiến cá nhân" nói theo "cảm tính" tức OPINION! Chớ ĐÉO có phải là "Sự Kiện Lịch Sử" bởi nó KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ để thuyết phục được người khác! Ở Xã Hội Văn Minh KHÔNG ai nói lịch sử "bằng mòm"tùy tiện BỊA RA những chiện HOANG ĐƯỜNG!

    Bản thân ông Diệm KHÔNG HỀ THEO MỸ thì mắc gì phải nghe Mỹ xúi bậy? NONSENSE! LOGIC DỐT nên KHÔNG thuyết phục được những người am hiểu về Lịch Sử Việt Nam một cách công bằngnghiêm túc!

    Khi một cá nhân
    thật sự yêu đất nướcđồng bào của mình như ông Diệm thì tất nhiên phải có trách nhiệm hiểu biết về nguyện vọng của toàn dân để bảo vệ đất nước của mình thì hà cớ gì phải cuối đầu làm chư hầu cho quốc gia khác để ngheo theo họ như Hồ Bả Chó!?





    Tài Liệu đã chứng minh như thế mà còn NGOAN CỐ SỦA LÁO!







    "Phải thống nhất đất nước trong tự do chứ không phải trong nô lệ"



    Lịch sử đã rành rành ra đóchúng mày không đọc sao?

    HoustonTX a year ago

    Cám ơn tác giả đã cho thế hệ trẻ hiểu rõ vì sao tổng thống Ngô Đình Diệm không đồng ý tổng tuyển cử vào năm 1956? đối với cộng sản chỉ có giả dối, lừa bịp đồng bào thì sao có thể dân chủ bầu cử công bằng được nhỉ? nếu như không có Internet thì người dân vẫn còn bị chúng bịt mắt, bịt mồm luôn ca ngợi dân chủ bánh vẻ của chúng! Ngô Đình Diệm người có tâm với đất nước tiếc là bị bọn tướng lảnh thân pháp giết chết nền đệ nhất cộng hoà, nếu không miền Nam sẽ không bị mất vào tay bọn bán nước cộng sản!






    Cần phải bắn vào đầu chúng mày thì họa may chúng mày mới tỉnh ra được chứ nói thì chúng mày không nghe đâu.
    (LÁO
    thấy Pà Cố!
    Mày làm thử tao xem coi có bị Chính Phủ Mỹ ra tay "trục xuất" mày khỏi nước Mỹ hay không mà đòi dùng "bạo lực" để "KHỦNG BỐ" trên đất Mỹ!? Nên nhớ rằng mày đang dùng hệ thống INTERNET của nước Mỹ đó nhe hông! Đừng tưởng họ không biết mày nói gì đâu nha!)



    Phải cười té ghế để thấy lũ con nít VC rất thích làm "kịch hài" với 3 cái chiện trên trời dưới đất để chúng "tự sướng" trên "không gian ẢO" mà thôi chớ "ở đời thường" ĐÉO có đứa nào dám thò đầu ra ở các Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn Cộng Sản đâu nào? Chúng mà thò cái mõm CHÓ MẤT DẠY ra là bị NASA BẺ HẾT RĂNG không còn cái răng nào để NÓI LÁO nữa chớ ở đó mà ngồi chểm chệ trên "bàn phiếm" như con DẾ MÈN mà dạy đời người khác! "Áo mặc không qua khỏi đầu" đâu con ạ! Đừng tưởng cái bản chất ĐÊU NGOA MẤT DẠY HỖN LÁO với người lớn là có người khác ủng hộ đâu nhe!

    Hãy nhìn vào cái LIKE/THANKED trên diễn đàn này để thấy rõ chớ gì! Chớ đâu cần đi đâu cho xa! Chính mày tự "bắn" vào cái đầu đất NGU DỐT của mày chớ còn ai vô đây nữa?
    Join Date Aug 2005 Posts 5,718 Thanks 0 Thanked 6 Times in 6 Posts

    Chỉ có những đứa bị
    bệnh HOANG TƯỞNG mới nghĩ "chình độ DỐT NÁT" của chúng có thể làm gì được 3 triệu người Việt Hải Ngoại? Đừng có mơ với 3 cái chiện VIỄN VONG bởi XÃ HỘI VĂN MINH đã dạy cho con người ta biết sống THỰC TẾ chớ không ai có nhu cầu đi "ăn mày Dĩ Vãng" để tự mình làm khổ mình với 3 cái Hận Thủ ẢO TƯỞNG! Không ai làm gì mình hết mà suốt ngày vào diễn đàn để "tự sướng!"


    Vì vậy nên nhân dân hai miền Nam - Bắc mới đánh đuổi chúng mày ngày 30 tháng 4 năm 1975 đấy. Chúng mày còn nhớ không?

    Yup! Tao
    còn nhớ chứ! Nhớ RẤT RÕ từ khi tao còn ngồi dưới mái trường XẠO HẾT CHỔ NÓI để thấy cái đầu đất của con ĐĨ MẸ mày nó bị CỰC NGU nên nghe lời thèng TÀU CHỆT xúi BẬY để mang cái bụng CHỬA HOANG để đẻ ra cái "quái thai KINH DỊ" như mày nên ưa SỦA BẬY nên ngày nay chúng mày phải đi làm LAO NÔ khắp 5 châu!



    Mày còn nhớ từ năm
    2005 đến nay có đứa nào ngóc đầu lên nổi đâu? nên phải cố đâm ăn xôi cho sự THUA THIỆT của chính mình mà thôi! Cả chục năm không thấy đứa nào làm ra cái trò trống gì cho đất nước VN cả mà suốt ngày chỉ biết SỦA TÀO LAO với 3 cái chiện trên trời dưới đất do chúng "tự biên tự diễn" rồi tự sướng!

    Vì vậy nên đồng bào từ trong nước lẫn ngoài nước
    KHÔNG BAO GIỜ tin vào 3 cái Lịch sử DỐI TRÁ của một lũ KHỈ RỪNG vào Nam để ĂN CƯỚP Tài Sản của người dân miền Nam!

    Bằng chứng còn sờ sờ ra đóDỐT MÍT vẫn ngoan cố CÃI CÙN!




    ĐÉO có con ma nào THÈM cái gọi là "cuộc Tổng Tuyển
    Cử TÀO LAO" nào hết! Đó chỉ là khẩu hiệu tuyên truyền của những kẻ bị THẤT BẠI Ê CHỀ đã khiến cả gần 1 triệu người dân miền Bắc "bỏ phiếu" bằng 2 chân để di cư vào Nam với 2 chữ "Tự Do" đúng nghĩa! Yup! Nói có sách...mách có CHỨNG!




    THỰC TẾ
    cho ta thấy:
    Một là CON YOUNG VẸM bị DỐT MÍT, hai là bị MÙ CHỮ nên KHÔNG đọc được tài liệu đã chứng minh! Ba là Quyết Tâm NGU LÂU nên CỐ ĐẤM ĂN XÔI để CHỐI TỘI TÀY TRỜI của Hồ Bả Chó!




    Bất cứ người dân miền Nam nào mà THẤY RÕ cái hình này là sẽ CHẠY CAO BAY XA ĐÉO có con ma nào THÈM cái gọi là cuộc "Tổng Tuyển Cử Tự Do GIẢ HIỆU" đó!


    Bởi thế cho nên cả
    3 triệu người phải BỎ CỦA CHẠY ĐI LẤY NGƯỜI khi cái Đảng Cướp Sạch chúng nó VI PHẠM Hiệp Định Hòa Bình nên KHÔNG AI THÈM ở lại để làm "đầy tớ" cho chúng!


    Vì sao chủ nghĩa xã hội thất bại?

    Paul R. Gregory
    Hiếu Chân chuyển ngữ
    Theo Viet-Studies

    Khi Liên bang Xô viết gần sụp đổ, Francis Fukuyama tuyên bố chế độ dân chủ tự do đã chiến thắng chủ nghĩa xã hội kế hoạch hóa trong bài nhận định năm 1989 của ông, “Điểm tận cùng của Lịch sử?”. Hơn một phần tư thế kỷ sau đó, Liên xô quả thực đã tan rã. Phần lãnh thổ Đông Âu của nó bây giờ thuộc về Liên minh Âu châu. Trung Quốc có một nền kinh tế thị trường cho dù đất nước vẫn bị cai trị bởi một đảng duy nhất. Còn các nhà nước “xã hội chủ nghĩa” Bắc Hàn, CubaVenezuela đang trong đống đổ nát về kinh tế. Giờ đây, ít ai ủng hộ việc “quay lại Liên xô”. Nhưng đồng thời, nhiều người vẫn coi chủ nghĩa xã hội là một hệ thống kinh tế hấp dẫn. Hãy xem trường hợp ông Bernie Sanders (**) – một người công khai thừa nhận ủng hộ một nước Mỹ xã hội chủ nghĩa? – và rất nhiều người trẻ trưởng thành vào điểm chuyển giao giữa hai thế kỷ ưa thích chủ nghĩa xã hội hơn chủ nghĩa tư bản.

    Sự tương đồng về kỵ sĩ và con ngựa giải thích cho sự hấp dẫn kéo dài của chủ nghĩa xã hội. Những người xã hội chủ nghĩa tin rằng các chế độ xã hội chủ nghĩa đã chọn sai kỵ sĩ để cưỡi con ngựa xã hội chủ nghĩa đi tới chiến thắng xứng đáng với nó. Những kỵ sĩ tệ hại như Stalin, Mao, Fidel, Pol Pot, Hugo Chavez, và Hồ Chí Minh đã chọn những chiến thuật và chính sách dẫn con ngựa xã hội chủ nghĩa của họ đi trật đường. Nhưng trên thực tế, một cái nhìn vào cách thức Liên xô hoạt động lại bộc lộ rằng, chính bản thân con ngựa mới là vấn đề.

    Sau khi giành được quyền lực một thế kỷ trước và nắm giữ quyền lực thông qua một cuộc nội chiến, những người cộng sản Liên xô có ý định xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ chôn vùi chủ nghĩa tư bản. Sở hữu nhà nước và kế hoạch hóa khoa học sẽ thay thế cho tình trạng vô chính phủ của thị trường. Lợi ích vật chất sẽ dồn về phía giai cấp lao động. Một nền kinh tế công bằng sẽ thay cho sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản và con người mới xã hội chủ nghĩa sẽ nổi lên, những người đặt ưu tiên cho lợi ích của xã hội lên trên lợi ích cá nhân. Chuyên chính vô sản sẽ bảo đảm quyền lợi của giai cấp lao động. Thay vì bóc lột giá trị thặng dư từ người lao động, nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ lấy đồ cống nạp của các nhà tư bản để tài trợ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Những nền tảng căn bản của “con ngựa” Xô-viết đã được thiết lập vào đầu thập niên 1930. Theo hệ thống này, Stalin và bộ chính trị của ông ta đặt ra những ưu tiên chung cho các bộ công nghiệp và ủy ban kế hoạch nhà nước. Các bộ và các nhà kế hoạch làm việc cùng nhau để soạn ra các kế hoạch kinh tế. Cán bộ quản lý của hàng trăm ngàn nhà máy, công xưởng, cửa hàng thực phẩm và ngay đến các nông trại đều bị pháp luật bắt buộc phải hoàn thành kế hoạch mà cấp trên giao cho.

    Nhà nước Xô-viết khởi động nền kinh tế kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa của họ khi thế giới tư bản chủ nghĩa chìm sâu vào suy thoái, chiến tranh thương mại và lạm phát phi mã. Chính quyền Xô-viết khoe khoang về mức tăng trưởng chưa từng có trước đây. Các tổ hợp công nghiệp mới mọc lên từ số không. Các tạp chí đăng hình ảnh những công nhân vui sướng nghỉ ngơi trong những khu nghỉ mát đầy đủ tiện nghi. Thông điệp là: Phương Tây đang thất bại và hệ thống kinh tế Xô-viết là con đường đi tới tương lai.

    Khi cuộc cạnh tranh giữa chủ nghĩa tư bảnchủ nghĩa xã hội Liên xô trở nên rõ rệt trong thời Chiến tranh Lạnh, hoạt động nghiên cứu học thuật nghiêm túc về nền kinh tế Xô-viết cũng bắt đầu. Chương trình nghiên cứu bao quát của các học giả phương Tây nhắm vào “kế hoạch hóa khoa học” – những người xã hội chủ nghĩa tin rằng các chuyên gia kỹ trị có thể quản lý nền kinh tế tốt hơn là những lực lượng thị trường tự phát. Suy cho cùng, chẳng phải các chuyên gia thì hiểu biết hơn người mua người bán về chuyện cần sản xuất cái gì, như thế nào và cho ai sử dụng hay sao?

    Chính các nhà kinh tế học người Áo F.A. Hayek Ludwig von Mises là những người chống lại niềm tin này quyết liệt nhất. Trong sự phê phán có tính biểu tượng của họ, được trình bày trong hàng loạt công trình nghiên cứu từ thập niên 1920 đến 1940, họ đi đến kết luận rằng chủ nghĩa xã hội sẽ thất bại. Trong các nền kinh tế hiện đại, hàng trăm ngàn doanh nghiệp sản xuất ra hàng triệu sản phẩm. Quản lý một số lượng lớn như vậy là việc quá phức tạp mà không một cơ quan hành chính nào có thể phân bổ nguồn lực nổi, cho dù có sự trợ giúp của công nghệ máy tính tinh vi nhất. Kinh tế hiện đại do đó quá phức tạp và không kế hoạch hóa được. Không có thị trường và giá cả, các nhà hoạch định chính sách không biết được mặt hàng nào bị khan hiếm, sản phẩm nào dư thừa. Nếu tài sản thuộc về mọi người, thì những người quản lý tài sản cho xã hội sẽ phải theo những luật lệ nào?

    Giải pháp của người Xô-viết cho những vấn đề về tính phức tạp và thông tin là một kế hoạch quốc gia đặt mục tiêu sản xuất cho những khu vực kinh tế lớn chứ không phải cho những giao dịch cụ thể. Nói cách khác, thay vì bắt buộc nhà máy A phải giao cho nhà máy B 10 tấn dây cáp thép, các nhà kế hoạch đặt mục tiêu tổng số tấn dây cáp được sản xuất trong cả nước. Chỉ có một số mặt hàng đặc biệt – chẳng hạn như dầu thô, quặng nhôm, than nâu, điện năng và toa vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt – mới được lập kế hoạch như những giao dịch thật sự. Còn tất cả những mặt hàng khác chỉ được kế hoạch hóa theo số lượng thô, chẳng hạn như đặt mục tiêu dệt ra vài triệu mét vuông vải. Các đặc điểm của sản phẩm, kế hoạch giao hàng và thanh toán tiền chỉ được vạch ra ở những cấp thấp, và thường dẫn tới những kết quả thảm hại.

    Kế hoạch hóa khoa học kiểu Xô viết trong thực tế chỉ tác động tới một phần rất nhỏ sản phẩm. Vào đầu thập niên 1950, các cơ quan trung ương lập ra hơn 10.000 chỉ mục kế hoạch trong khi sản phẩm công nghiệp có đến hơn 20 triệu chỉ mục khác nhau. Các cơ quan trung ương lập ra những kế hoạch tổng quát cho các bộ công nghiệp, các bộ này lại đề ra những kế hoạch chi tiết hơn cho các “khu hành chính quan trọng”, nơi sẽ chuẩn bị kế hoạch cho các doanh nghiệp. Không bao giờ có yêu cầu các quan chức hàng đầu phải đưa ra kế hoạch sản xuất các sản phẩm đặc biệt nào đó.

    Để làm cho vấn đề thêm phức tạp, gần như tất cả mọi kế hoạch đều chỉ là “dự thảo”, có thể được thay đổi bất cứ lúc nào bởi các quan chức của đảng và chính quyền cấp cao hơn.. Sự can thiệp thường xuyên này, gọi là “giám sát”, là một điều phiền toái xảy ra từ ngày đầu tiên tới ngày cuối cùng của hệ thống Xô-viết, nhưng đó cũng là cột trụ cho công cuộc phân bổ nguồn lực.

    Các nhà kế hoạch trung ương chuẩn bị những kế hoạch sơ bộ cho một bộ phận nhỏ của nền kinh tế. Những “kế hoạch dự thảo” này lại kích hoạt “những trận chiến giành kế hoạch” to lớn khi các bộ và các doanh nghiệp tìm cách hoàn thành mục tiêu sản xuất của họ và đáp ứng các định mức giao hàng; tất cả những chuyện này đều có thể thay đổi bởi các cán bộ đảng và cán bộ địa phương vào bất cứ lúc nào.

    Như bộ trưởng công nghiệp nặng Sergo Ordzhonokidze than phiền vào năm 1930: “Tôi đoán họ nghĩ rằng chúng tôi là một lũ ngốc. Mỗi ngày họ cho chúng tôi từ nghị quyết này đến nghị quyết khác mà không có cơ sở nào cả”. Một nửa thế kỷ sau một nhà thầu quốc phòng ẩn danh cũng đưa ra lời than phiền tương tự: “Họ nhúng mũi vào mọi vấn đề. Chúng tôi bảo họ rằng họ đã sai, nhưng họ vẫn đòi phải làm theo cách của họ”.

    Nhiệm vụ của người quản lý được cho là rất đơn giản: Kế hoạch là pháp lệnh, công việc của người quản lý là hoàn thành kế hoạch. Nhưng kế hoạch cứ tiếp tục thay đổi. Hơn thế nữa, nó bao gồm nhiều nhiệm vụ khác nhau, chẳng hạn như giao hàng, sản lượng và phân loại.. Xuyên qua toàn bộ lịch sử của Liên xô, tổng sản lượng gộp (đo bằng tấn, mét hoặc toa hàng/dặm) là các chỉ tiêu kế hoạch quan trọng nhất và cũng dễ thao túng nhất. Các nhà sản xuất đinh chẳng hạn, mà sản lượng được tính theo trọng lượng, chỉ sản xuất các loại đinh to và nặng. Các nhà sản xuất máy kéo, cố gắng hoàn thành định mức máy kéo, bị phát hiện chỉ giao cho khách hàng những chiếc máy kéo không có động cơ; buộc khách hàng phải mua động cơ như mua phụ tùng. Các nhà sản xuất giày mà kế hoạch dựa trên số lượng giày làm ra chỉ sản xuất giày cùng một cỡ, cùng một màu, bất chấp nỗi khổ tâm của khách hàng. Những mục tiêu kế hoạch khác, chẳng hạn như áp dụng công nghệ mới hoặc làm giảm chi phí sản xuất, bị lãng quên vì bị coi là không có tác dụng giúp hoàn thành kế hoạch.

    Dưới chế độ kế hoạch hóa khoa học, cung cầu phải gần ngang nhau – và do ác cảm của họ đối với tính lộn xộn của thị trường, các nhà kế hoạch Xô-viết không thể cân đối cung cầu bằng cách nâng giá hoặc hạ giá. Thay vì vậy, họ soạn ra cái gọi là “cân đối vật chất”, sử dụng phép kế toán cổ xưa để so sánh những vật liệu nào đang có sẵn với những vật liệu cần có theo một nghĩa nào đó.

    Kế hoạch hóa cân đối-vật chất kiểu Xô-viết có rất nhiều khiếm khuyết. Ví dụ, chỉ có thể soạn ra một số sự cân đối – năm 1938 chỉ có 379 sự cân đối ở trung ương được chuẩn bị cho một thị trường có hàng triệu mặt hàng. Và rồi, những sự cân đối này lại dựa trên những thông tin méo mó.. Các nhà sản xuất hàng hóa trong phép cân đối này vận động để được phân bổ những mục tiêu thấp, che giấu năng lực sản xuất thật của họ. Những người sử dụng sản phẩm công nghiệp trong phép cân đối, ngược lại, lại khai vống lên những gì họ cần để bảo đảm việc hoàn thành kế hoạch của riêng họ.

    Hình dung ra một sự cân đối thích hợp là một công việc mệt mỏi – và các nhà kế hoạch Xô-viết không phải năm nào cũng sáng tác ra cái mới; thay vì vậy, họ áp dụng cách gọi là “kế hoạch hóa từ mức độ đã hoàn tất”, nghĩa là kế hoạch của mỗi năm là kế hoạch của năm trước đó cộng thêm một số điều chỉnh nhỏ.

    Vào đầu thập niên 1930, các cơ quan cung cấp phân phối nguyên vật liệu dựa trên những gì họ đã làm trong năm trước đó. Lướt nhanh đến thập niên 1980, cũng vẫn thấy cung cách làm việc như vậy. Khi một nhà sản xuất vật liệu nghề hàn muốn sử dụng tấm kim loại mỏng hơn thì câu trả lời chính thức là: “Tôi không quan tâm tới công nghệ mới. Cứ làm như cũ để mọi sự vẫn như cũ”. Kế hoạch hóa cân đối vật chất là kẻ thù của sản phẩm mới và công nghệ mới bởi vì chúng đòi hỏi phải làm lại một hệ thống các cân đối vốn đã rất mong manh. Các nhà kinh tế học Mỹ nghiên cứu sản xuất công nghiệp của Liên xô trong thập niên 1950 hết sức ngạc nhiên khi thấy những cỗ máy đã sản xuất vài thập niên mà không hề được cải tiến gì cả, một chuyện chưa từng nghe thấy ở phương Tây.

    Kế hoạch hóa cân đối vật chất là điểm yếu cơ bản nhất của hệ thống Xô-viết. Nó làm cho nền kinh tế Liên xô bị đông cứng lại. Sản xuất của mỗi năm là bản sao chép năm trước đó. Một cán bộ quản lý Liên xô năm 1985 sẽ cảm thấy hết sức thoải mái trong cùng doanh nghiệp đó vào năm 1935.

    Ngoài kế hoạch hóa cân đối vật chất, ngân sách mềm (soft budgets) cũng tạo thành một khuyết điểm nghiêm trọng khác. Nhà kinh tế học Janos Kornai của trường Đại học Harvard lớn lên ở Hungary dưới thời xã hội chủ nghĩa kế hoạch hóa. Nghiên cứu của ông, dựa trên những trải nghiệm trực tiếp, tập trung vào những thất thoát kinh tế diễn ra cùng với những giới hạn của ngân sách mềm. Theo Kornai, nếu doanh nghiệp không phải đối mặt với nguy cơ phá sản, chúng sẽ không tìm cách cắt giảm chi phí và tìm những chiến lược sinh tồn khác. Từ ngày đầu tiên của hệ thống Xô-viết, các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ đã hiểu rằng họ sẽ được tự động cứu nguy, nếu không nói là cứu ngay.

    Nguyên nhân ban đầu của chính sách ngân sách mềm là do hệ thống Xô-viết dựa trên kế hoạch sản lượng. Đầu ra của doanh nghiệp này là đầu vào của doanh nghiệp khác. Nếu kế hoạch sản lượng bị đổ vỡ thì toàn bộ kế hoạch sẽ thất bại. Đưa một doanh nghiệp ra khỏi nền sản xuất do làm ăn kém cỏi không đơn giản là một sự lựa chọn.

    Trong thực tế, các doanh nghiệp thua lỗ thường trả các khoản tiền hàng bằng trái phiếu ghi nợ (IOU). Các phiếu ghi nợ không được thanh toán đúng hạn sẽ nhiều lên dần rồi đạt tới quy mô khủng hoảng. Gosbank, tức ngân hàng nhà nước Liên xô – sẽ vào cuộc và giải quyết các hóa đơn chưa thanh toán bằng cách phát hành thêm tiền và tạo ra cái mà các quan chức ngân hàng Xô-viết gọi là “treo tiền” – đồng tiền chạy theo hàng hóa hơn là có hàng hóa để mua. Trong thực tế, việc kinh doanh chính của Gosbank trong những năm đầu tiên của hệ thống Liên xô là tổ chức những vụ cứu nguy tài chính. Khi một vụ cứu nguy này hoàn tất cũng là lúc bắt đầu tiến hành vụ cứu nguy kế tiếp.

    Vấn đề của chủ nghĩa xã hội không phải là kỵ sĩ tồi mà là chính con ngựa. Hệ thống kinh tế Xô-viết mắc nhiều chứng bệnh cuối cùng sẽ làm nó ngã quỵ. Bắt đầu từ cuối thập niên 1960, kinh tế Liên xô rơi vào cuộc suy thoái kéo dài, về sau được gọi là “giai đoạn trì trệ”. Mikhail Gorbachev được chọn làm tổng bí thư đảng Cộng sản Liên xô năm 1985 với cam kết rằng ông, một nhà cải cách cấp tiến, sẽ đảo ngược đà suy thoái này.

    Gorbachev đã thất bại cốt lõi của hệ thống kế hoạch hóa Xô-viết đã mục ruỗng. Bất chấp thiên hướng cải cách của ông, Gorbachev vẫn là một tín đồ của chủ nghĩa xã hội. Ông quyết tâm cứu vãn chủ nghĩa xã hội Xô-viết bằng cách làm cho nó giống với chủ nghĩa tư bản. Khi làm như vậy, ông đã tạo ra một nền kinh tế không phải là kế hoạch hóa, cũng không phải kinh tế thị trường – một cuộc tranh chấp đầy hỗn loạn, mà nhân dân Nga tới hôm nay vẫn buồn rầu gọi đó là “chủ nghĩa tư bản hoang dã”.

    Nguồn: Paul R. Gregory: Why Socialism Fails, Hoover Institution, 10/01/2018

    (*) Paul Roderick Gregory lấy bằng tiến sĩ kinh tế tại Đại học Harvard, làm nghiên cứu viên của Viện Hoover, giáo sư khoa kinh tế của Đại học Houston, Texas; giáo sư nghiên cứu tại Học viện Đức về nghiên cứu kinh tế ở Berlin; chủ tịch danh dự Ban Tư vấn quốc tế trường Kinh tế Kiev (Ukraine). Ông cũng đồng thời là giáo sư thỉnh giảng các trường Đại học quốc gia Moscow (Nga), Đại học Viadrina (Nga) và Đại học Tự do Berlin (Đức).

    (**) Bernie Sanders: Thượng nghị sĩ Dân chủ bang Vermont, Hoa Kỳ, thất bại trong cuộc tranh giành với bà Hillary Clinton tư cách đại diện đảng Dân chủ ra tranh cử tổng thống Mỹ trong cuộc bầu cử tháng 11-2016.

    Paul R. Gregory



    Last edited by NASA1517; 02-14-2018 at 02:51 AM.

  20. #14780
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    5,779
    Thanks
    0
    Thanked 6 Times in 6 Posts

    Default Re: Tại sao Đảng CSVN được nhân dan VN và Thế Giới...ủng hộ ?

    Mày còn nhớ từ năm 2005 đến nầy có đứa nào ngóc đầu lên nổi đâu? nên phải cố đâm ăn xôi cho sự THUA THIỆT của chính mình mà thôi! Cả chục năm không thấy đứa nào làm ra cái trò trống gì cho đất nước VN cả mà suốt ngày chỉ biết SỦA TAO LAO với 3 cái chiện trên trời dưới đất đó chúng "tự biên tự diễn" rồi tự sướng!
    Chúng tao đă góp phần vào việc xây dựng Xă Hội Chủ Nghĩa ngày càng vững mạnh hơn để khỏi phụ lòng Bác Hồ đă căn dặn trước khi Người lâm chung năm 1969. Vì vậy, nước VN của chúng tao đă buôn bán trao đổi với tất cả các nước trên thế giới để có GDP 226 tỉ đô la năm 2017. Còn GDP của chúng mày là bao nhiêu mà sao tao không nghe ai nhắc đến vậy?

Page 739 of 750 FirstFirst ... 239639689729730731732733734735736737738739740741742743744745746747748749 ... LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 4 users browsing this thread. (0 members and 4 guests)

Similar Threads

  1. CSVN Đàn Áp Nhân Dân
    By dxk in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 8
    Last Post: 02-05-2018, 12:44 PM
  2. CSVN Đàn Áp Tôn Giáo Và Nhân Dân
    By dxk in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 5
    Last Post: 02-05-2018, 12:42 PM
  3. Replies: 4
    Last Post: 02-05-2018, 12:27 PM
  4. Replies: 0
    Last Post: 07-02-2008, 01:12 PM
  5. CSVN nên cải cách bộ giáo dục
    By java in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 14
    Last Post: 02-15-2008, 10:32 PM

Tags for this Thread

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •