Page 3 of 43 FirstFirst 12345678910111213 ... LastLast
Results 41 to 60 of 847

Thread: Hội Thảo Trả Lại Sự Thật Lịch Sử Cho Viêt Nam Cộng Hòa.

  
  1. #41
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Hội Thảo Trả Lại Sự Thật Lịch Sử Cho Viêt Nam Cộng Hòa.

    Đặng Chí Hùng – Những sự thật cần phải biết – Sự thật về “chiến thắng mùa xuân thần thánh”

    Posted on September 25, 2012

    http://gianhlaiquehuongvietnam.files...mbao.jpg?w=300

    Đặng Chí Hùng (Danlambao) – Kính thưa bạn đọc DLB, cùng với loạt bài “Những sự thật không thể chối bỏ” đã đăng trên Danlambao thì tôi xin tiếp tục gửi đến bạn đọc loạt bài mới mang tựa đề “Những sự thật cần phải biết” bao gồm 30 bài. Những bài viết về “Những sự thật không thể chối bỏ” viết về những sự thật của nhân vật gián điệp, bán nước và giết người hàng loạt: Hồ Chí Minh. Loạt bài “Những sự thật cần phải biết” sẽ có 3 phần: Những sự thật về Việt Nam Cộng Hòa, Những sự Thật về đảng cộng sản Việt Nam và Những sự thật về những đệ tử của Hồ Chí Minh.
    Tại sao là “Những sự thật cần phải biết”? Vì tôi muốn tất cả những ai bị lừa dối, nhất là những thế hệ trẻ, biết những sự thật mà nó đáng lẽ ra phải được công nhận nhưng đã bị đảng cộng sản bóp méo nhằm mục đích cai trị độc tài tại Việt Nam. Đó cũng là một trong những việc để góp phần chấn hưng dân trí nhằm đem lại mùa xuân dân chủ của dân tộc.

    Phần 1: Những sự thật về Việt Nam Cộng Hòa

    Bài 1: Sự thật về “chiến thắng mùa xuân thần thánh”


    Trong bài 1 của phần 1 này tôi xin đề cập đến một sự thật của cái gọi là “Chiến thắng mùa xuân thần thánh” năm 1975 của quân đội Nhân dân Việt Nam – quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa (VNDCCH).
    Phải nói là gia đình tôi cũng có rất nhiều thương binh, liệt sỹ của chế độ cộng sản. Bản thân bố của tôi là một người lính cộng sản từ lúc tốt nghiệp cấp 3 cho đến lúc về hưu trí. Tuy nhiên tôi có nguyên tắc phải tôn trọng những gì là sự thật nên tôi không cho phép tôi tự lừa dối mình, tự lừa dối nhân dân bằng những luận điệu ca tụng giả tạo của đảng cộng sản. Chính vì vậy tôi xin phép được trình bày trong khuôn khổ bài này sự thật về “Chiến thắng mùa xuân thần thánh” năm 1975 để kết thúc bằng ngày 30/4 mà chính ông Võ Văn Kiệt phải thốt lên “Ngày của triệu người buồn”.
    Trong thất bại của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) trước VNDCCH có rất nhiều nguyên nhân chủ quan có, khách quan có. Nhưng trong khuôn khổ bài viết này tôi xin đề cập đến vấn đề chính yếu dẫn tới kết cục buồn cho một nền dân chủ non trẻ trước sự hung ác của chế độ cộng sản đó là: Vấn đề quân sự.
    Thật ra trước tôi đã có hàng trăm bài viết của các bên phân tích cuộc chiến 1975, nhưng ở bài viết này tôi xin vạch rõ cho bạn đọc thấy sự thất bại của VNCH không phải bởi họ kém, họ không anh dũng mà thực chất họ bị ép chết trong những mưu đồ chính trị, hay quân đội cộng sản anh hùng thần thánh mà chính bởi vì quân lực VNCH thời điểm từ sau năm 1973 đã bị tước bỏ khả năng chiến đấu, trong khi đó đối thủ của họ lại được tăng cường một cách khủng khiếp. Trong chiến tranh việc thua kém về quân số, về trang bị quân sự không thể phủ lấp được bằng chiến thuật hay sự anh dũng dù có cố gắng đến mấy. Chính quân đội cộng sản cũng đã trải qua điều này vì trước 1973, quận đội cộng sản dù cố gắng đến mấy cũng không thể đánh chiếm miền Nam dù họ có chiến thuật đánh du kích giúp bảo tồn lực lượng khá tốt.
    Bỏ qua các yếu tố của sai lầm chiến thuật như vội vã rút bỏ Tây Nguyên của ông Nguyễn Văn Thiệu hay sự sai lầm trong tổ chức trong cuộc rút lui quân đoàn 1 ở Huế và Đà Nẵng thì nguyên nhân sâu xa chính là vấn đề quân số và trang thiết bị của quân đội VNCH so với VNDCCH thời điểm năm 1975 là quá chênh lệch với cán cân nghiêng hẳn về VNDCCH. Vậy thì chẳng có chiến thắng thần thánh nào cả, chỉ là một sự tất yếu của kẻ có sức mạnh quân sự vượt trội với mưu toan đi xâm chiếm mà thôi.

    1. Người Mỹ đã bỏ Việt Nam Cộng Hòa:



    Chúng ta có thể thấy trong cuộc chiến tranh Việt Nam, đứng đằng sau VNCH là người Mỹ. Còn đứng sau VNDCCH là Liên Xô và Trung cộng. Cho đến trước năm 1973 thì quân đội cộng sản trong các chiến dịch đánh chiếm miền Nam, họ đều không thành công và chịu tổn thất nặng nề về cả trang thiết bị quân sự như năm 1968, 1972 (sẽ đề cập những sự thật này ở những bài sau). Vậy tại sao một chính thể dân chủ, tự do như vậy lại thất bại? Đó là họ bị chính đồng minh của họ quay lưng.

    Người Mỹ thật ra không thua trong cuộc chiến tại Việt Nam, họ từ bỏ người đồng minh VNCH bởi vì hai lý do: Họ không muốn tiếp tục một cuộc chiến hao tiền tốn của mà ở một đất nước đề cao tình nhân bản như Mỹ không cho phép. Và một phần nào đó là chính sách đối ngoại của ngoại trường H. Kissinger. Để chứng minh cho luận điểm này tôi xin được nêu rõ sau đây.

    Đầu tiên, Trong một bài viết của báo Thanh Niên – của đảng cộng sản Việt Nam có nhan đề “Mỹ bỏ rơi VNCH” có đường links sau:
    http://www.thanhnien.com.vn/pages/20...-roi-vnch.aspx
    Trong bài báo lấy tư liệu của CIA được chính những người cộng sản công nhận có viết:



    “Ngày 21.4, Tổng thống Thiệu từ chức ở Sài Gòn. Ngày 23.4, Tổng thống Ford đáp chuyên cơ đi News Orleans để diễn thuyết tại Đại học Tulane.

    Tình hình VN biến chuyển quá nhanh, và dư luận quốc tế cũng như cử tri Mỹ đang chờ đợi xem vị nguyên thủ cường quốc hàng đầu thế giới sẽ nói gì đây. Theo tài liệu thì chiều hôm đó, như để lấy thêm can đảm, Tổng thống Ford đã uống một ly cocktail trong tiệc chiêu đãi, rồi ông bước vào nơi mọi người đang chờ nghe diễn văn.

    Địa điểm Tổng thống Ford diễn thuyết là sân chơi bóng trong nhà của trường đại học, nơi đã có hàng ngàn sinh viên tụ họp chờ đợi. Ông chậm rãi, nhấn mạnh từng chữ: “Đối với Mỹ, chiến tranh VN đã kết thúc”.
    Chỉ cần nhìn vào câu nói của ông Ford cũng cho thấy với người Mỹ việc bỏ VNCH cho cộng sản xâm chiếm là điều hiển nhiên. Vậy thì VNCH có thua trong cuộc chiến cũng chỉ là một điều bình thường nằm trong toan tính của người Mỹ.

    Thứ hai, Nói đến việc bỏ rơi VNCH của Mỹ chúng ta cũng phải nhìn nhận ở các con số thực tế. Thực chất VNCH nhận viện trợ từ Mỹ gồm 2 phần đó là kinh tế và viện trợ quân sự. Xin nêu ra đây một ví dụ:
    “Viện trợ của Mỹ cho VNCH gồm hai phần, viện trợ kinh tế và viện trợ quân sự. Về viện trợ kinh tế, trong tài khóa 54-64 thì tổng số tiền là 2.121.000.000 USD (lúc bấy giờ), trong đó 2.025.000.000 là dưới hình thức không hoàn lại, 96 triệu là viện trợ tín dụng dài hạn.. Số tiền trên, 1.874.000.000 là nằm trong chương trình AID (Agency for International Development) và 247.000.000 thuộc chương trình Nông phẩm thặng dư hay với tên gọi “Thực phẩm cho Hòa bình””.
    Trong khi đó thì VNDCCH tuy nhân dân nghèo đói nhưng lại hầu như nhận được viện trợ quân sự từ chính quyền Xô Viết và Trung cộng? Tại sao nhân dân một nước nghèo đói lại không được chính quyền chăm lo kinh tế mà phải đi xin viện trợ quân sự để đánh nước khác có văn minh, có nền kinh tế, giáo dục phát triển mạnh hơn? Đó chính là mưu đồ nhuộm đỏ Việt Nam mà ông Hồ có nhiệm vụ thực hiện để dâng tặng Trung cộng, triệt tiêu nội lực dân tộc mà tôi đã dẫn chứng ở “Những sự thật không thể chối bỏ”. Và đây là những con số nói lên điều đó:
    “Trong khi đó, viện trợ cho VNDCCH đa phần là về mặt quân sự. Hai nước chính yếu nhất là LX và TQ, trong hai kế hoạch 5 năm, lần thứ nhất và thứ 2, con số như sau:
    - Thời kỳ 55-60: LX tặng 400 triệu rúp cũ, cho vay 510 triệu rúp cũ. TQ tặng 900 triệu NDT cho vay 300 triệu NDT.

    - Thời kỳ 60-65: LX tặng 20 triệu rúp cũ, cho vay 430 triệu rúp cũ. TQ cho vay 141,75 triệu rúp mới. Quy ra VNĐ (thời bấy giờ) thì VNDCCH đã nhận tổng viện trợ 4.229.786.023 VNĐ, trong đó viện trợ không hoàn lại là 1.524.599.823 VNĐ và vay tín dụng là 2.705.186.200 VNĐ”.
    Và những con số và điều khẳng định ưu thế được viện trợ hơn hẳn về mặt quân sự này cho thấy những gì thuộc về “thần thánh” chỉ là giả tạo. Một cỗ máy chiến tranh được bơm tiền kinh khủng như vậy sao lại nói là “Phải chống chọi với đế quốc sừng sỏ viện trợ tối đa quân sự cho Ngụy quân, ngụy quyền”?. Có gì là thiên tài không khi chiến thắng bằng một núi tiền được đổi bằng chính biển đảo của tổ quốc (xin đọc - Công hàm bán nước của Hồ Chí Minh – Phạm Văn Đồng ky năm 1958 – Những sự thật không thể chối bỏ phần 2).
    Bạn đọc có thể tìm hiểu những đoạn trích trong cuốn “Kinh tế Việt Nam” do Nhà Xuất bản Giáo dục xuất bản năm 2000 – một cuốn sách của đảng cộng sản Việt Nam.
    Thứ ba, Phía VNDCCH đã có những thông tin cho thấy họ biết VNCH đang bị Mỹ cắt giảm dần viện trợ theo thơi gian. Đây là báo cáo “Tình hình viện trợ của địch” của Cục nghiên cứu – Bộ tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam (VNDCCH) về tình hình viện trợ của Mỹ cho VNCH:



    Ngân sách năm 1969



    Ngân sách năm 1970

    Chỉ cần lấy ví dụ nhỏ đã cho thấy theo thời gian viện trợ về kinh tế và kỹ thuật, quân sự của Mỹ cho VNCH đã càng ngày càng giảm đi. Vậy thì một nước đang tứ bề thọ địch lại bị cắt giảm chi viện cả về kinh tế, quân sự phải chịu thua trước một nước kẻ cướp có gì là phi lý?

    Thứ tư, hãy nghe người Trung cộng nói gì về sự việc VNCH bị Mỹ bỏ rơi. Trong cuốn sách “Trung quốc và Đông Nam á” của hai tác giả La Cường – Kim Văn được xuất bản bởi Nhà Xuất bản Lý luận Trung ương Trung quốc trang 56 có đoạn “Trung hoa có công lớn trong việc đẩy Hoa Kỳ vào một thế bị động kinh tế cũng như quân sự trên chiến trường Việt Nam. Chính điều này dẫn đến hậu quả tất yếu của sự thoái lui hoàn toàn, bỏ mặc sống chết chính quyền Sài Gòn của Hoa Kỳ sau năm 1973. Quan trọng hơn chính việc này giúp cho VNDCCH giành ưu thế tuyệt đối trong cuộc đối đầu quân sự năm 1975…”.

    Vậy thì chung ta thấy được điều gì qua đoạn trích? Đó chính là việc người “anh em” của đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm biết điều đó và công nhận rằng chiến thắng của VNDCCH trước VNCH chỉ là một sự tất yếu khi Mỹ bỏ rơi đồng minh của mình. Không có cái gọi là thần kỳ của công lao của đảng hay ông Hồ ở đây.
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  2. #42
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Hội Thảo Trả Lại Sự Thật Lịch Sử Cho Viêt Nam Cộng Hòa.

    Đặng Chí Hùng – Những sự thật cần phải biết – Sự thật về “chiến thắng mùa xuân thần thánh”2

    Thứ năm, Liên Xô không phải không biết điều này, và chính họ là người cùng Trung cộng chỉ đạo cũng như hậu thuẫn trong Chiến dịch Mùa xuân năm 1975. Trong báo cáo tổng kết của quân đội Liên Xô năm 1977 có đoạn tại trang 20: “Sau khi chúng ta có đầy đủ báo cáo về sự thiếu hụt lực lượng, khí tài của quân đội VNCH do người Mỹ không muốn lún sâu vào chiến tranh Việt Nam thì thông tin đã kịp thời đến với phía VNDCCH. Chúng ta cũng có quyết sách đúng đắn khi gửi tới Hà Nội phái đoàn quân sự cao cấp để giúp chính phủ VNDCCH thêm sức mạnh quân sự kết thúc cuộc chiến Việt Nam…”
    Thế ra là người Liên Xô cũng đã biết, biết rất rõ và công nhận VNCH đã bị Mỹ bỏ rơi. Và họ đã thừa nhận tăng thêm quân sự cho VNDCCH để tiến chiếm miền Nam.

    Thứ sáu, có lẽ tôi không cần phải nhắc lại nhiều nhân chứng của phía VNCH mà tôi chỉ xin trích đoạn trong hồi ký: “Khi đồng minh tháo chạy” của ông Nguyễn Tiến Hưng – Giáo sư kinh tế tại trường đại học Howard, cuốn sách được xuất bản năm 2005 gồm 700 trang viết về những tài liệu rất trung thực lần đầu được công bố của chính phủ Mỹ, VNCH về cuộc chiến Việt Nam.



    Trong cuốn sách có đoạn viết:

    “Trở lại vấn đề lệ thuộc về vật chất, như chính TT Ford đã viết trong Hồi Ký của ông: chỉ tới đầu 1975, khi Quốc Hội Mỹ cắt hầu hết quân viện, Miền Nam mới mất một tỉnh đầu tiên trong suốt cuộc chiến, đó là Phước Long. Rồi từ Phước Long tới Ban Mê Thuột, tới Pleiku, Đà Nẵng và sau hết là Sàigòn. Có điều là trong năm 1974, tuy quân đội VNCH đã tiếp tục chiến đấu, nhưng kho đạn dự trữ đã được sử dụng gần hết. Vào thời điểm cuối cùng, số đạn tồn kho chỉ còn đủ cung ứng từ 30 tới 45 ngày. Thay vì được tiếp liệu đầy đủ như đã được cam kết, Hoa Kỳ từng bước một, đi đến quyết định cắt đứt luôn. Ấy là chưa kể số tiền viện trợ cần thiết để yểm trợ cho nền kinh tế. Nó đã vừa bị cắt xén, vừa bị mất giá (vì khủng hoảng dầu lửa), nên đã giảm xuống tới mức bi đát. Vì vậy, từ mùa hè 1974, không những khả năng chiến đấu đã kiệt quệ mà cả tinh thần của giới lãnh đạo, chỉ huy các cấp đã bắt đầu lung lay rồi. Càng ngày càng suy yếu đi nhanh, khi các đài phát thanh VOA, BBC liên tục đưa tin cắt viện trợ.”
    Vậy ta thấy được gì từ cuốn sách của một người trong cuộc nắm vững như ông Nguyễn Tiến Hưng? Đó là những sự thật cho thấy Mỹ đã bỏ rơi VNCH trong cuộc chiến với cộng sản cả về chính trị, kinh tế và đặc biệt là quân sự.

    Còn rất nhiều tài liệu của VNCH cho thấy sự thật phũ phàng đó. Tuy nhiên tôi xin không nêu nhiều mà chỉ cần lấy một ví dụ là đủ. Tôi muốn cho các bạn thấy một dẫn chứng cũng của phía cộng sản Việt Nam đã nói lên sự thật đó.
    Thứ bảy, chúng ta có thể thấy được thêm một sự khẳng định này qua đoạn trích dưới đây trong cuốn sách là hồi ký của tướng cộng sản Văn Tiến Dũng mang tựa đề “Đại thắng mùa xuân” có đoạn “Nhận thấy tình hình Mỹ không còn muốn chi viện cho địch, bộ chính trị và bộ tổng tham mưu họp khẩn trương thống nhất để tổng tấn công trên khắp miền Nam…”
    Qua đây chúng ta thấy điều gì? Đó là chính các vị tướng của cộng sản cũng nhận thấy Mỹ đã bỏ rơi VNCH và điều này cho thấy cái sự thật của “chiến thắng thần thánh” chỉ là lừa dối.

    Cũng cần phải nói thêm về việc lý do thứ hai trong việc VNCH bị thất bại trong cuộc chiến chính nghĩa bảo vệ nền tự do dân chủ trước sự xâm lăng cường bạo của cộng sản. Đó là sai lầm trong chiến lược ngoại giao của Mỹ cũng như cá nhân ngoại trưởng H. Kissinger. Điều này được thể hiện qua tài liệu đã được giải mật của chính phủ Mỹ. Đó là biên bản cuộc họp tại Bắc Kinh giữa Chu Ân Lai và H. Kissinger về vấn đề Việt Nam, Châu Á ngày 20 tháng 6 năm 1972 tại Bắc kinh. Trong buổi họp này, Tiến Sĩ Henry Kissinger, Phụ Tá An Ninh của Tổng Thống Richard M. Nixon, và Thủ Tướng Trung Cộng Chu Ân Lai đã thảo luận nhiều vấn đề thế giới và đặc biệt là giải quyết cuộc chiến Việt Nam. Tài liệu gồm 37 trang dưới đây cho thấy sức mạnh và ảnh hưởng của các cường quốc trên thế giới. Từ trang 1 đến trang 26, Hoa Kỳ và Trung Cộng bàn thảo về tương quan giữa các quốc gia cùng an ninh toàn cầu. Đặc biệt từ trang 27 đến trang cuối, Kissinger và Chu Ân Lai bàn luận kế hoạch giải quyết vấn đề Đông Dương. Khai thác sự rạn nứt Trung – Nga năm 1969, Hoa Kỳ muốn tái lập bang giao với Trung Cộng. Bang giao với Trung Cộng sẽ giúp Hoa Kỳ chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, lấy lại hết tù binh, giải quyết những bất ổn chính trị tại Hoa Kỳ và còn được khai thác thị trường to lớn trong lục địa. Để tái thiết ngoại giao với Trung Hoa, Kissinger đã nói với Thủ Tướng họ Chu: “Nếu chúng tôi sống chung được với một chính quyền cộng sản Trung Hoa, chúng tôi sẽ chấp nhận được ở Đông Dương”. Ngoài ra Kissinger cũng gián tiếp cam kết với Chu Ân Lai Hoa Kỳ không có ý định tiêu diệt hoặc đánh bại cộng sản Bắc Việt.

    Bạn đọc có thể tìm đọc nguyên bản tiếng Anh tại links sau:
    http://www.gwu.edu/~nsarchiv/NSAEBB/...%206-20-72.pdf

    Tam dịch một đoạn quan trọng trong số đó “Những Nhân Vật Tham Dự: Thủ Tướng Chu Ân; Lai Ch’iao Kuan-hua Phó Tổng Trưởng Ngoại Giao; Chang Wen-Chin, Phụ Tá Tổng Trưởng Ngoại Giao; Tang Wen-sheng, Chao-chu, Thông Dịch Viên Hai nhân viên ghi chú biên bản, Tiến Sĩ Henry A. Kissinger, Phụ Tá Tổng Thống về An Ninh Quốc Gia; Winston Lord, Nhân Viên Hội Đồng An Ninh Quốc Gia; John D. Negroponte, Nhân Viên Hội Đồng An Ninh Quốc Gia.

    Ngày và Giờ: Thứ Ba, ngày 20 tháng 6 nắm 1972, 2:05 – 6:05 chiều
    Địa Điểm: Đại Sảnh Đường Nhân Dân, Bắc Kinh.
    Dưới đây là cuộc đàm thoại, thương lượng và trả giá giữa Henry A. Kissinger Cố Vấn An Ninh của Tổng Thống Richard M. Nixon và Thủ Tướng Trung Cộng Chu Ân Lai về tương lai VNCH.

    Từ trang 27:



    Chu Ân Lai và Henry Kissinger

    Tiến Sĩ Kissinger: Đó không phải là ý định của chúng tôi. Chúng tôi không có ý định thành lập một chế độ công quản – nó đòi hỏi một hoàn cảnh khác thường để chúng tôi thực hiện điều này. Không phải là ý đồ của chúng tôi để tạo ra một chế độ công quản. Chúng tôi thực có ý định tạo dựng một bức tường ngăn chặn chủ nghĩa bành trướng, dù về chính trị hay là thực thể vật chất. Điều khiến chúng tôi quan ngại nhất là khi cường quốc khai thác những xung đột địa phương cho mục đích riêng của họ.

    Thủ Tướng Chu: Trong những phản đối của Nga Sô về bản thông cáo giữa chúng tôi với quí quốc hình như họ đặc biệt bày tỏ sự phản đối về nguyên tắc chung: “Không bên nào nên làm bá chủ.” Họ có nghĩ là điều đó nhắm vào họ không?

    Tiến Sĩ Kissinger: Họ không nói, nhưng hình như họ nghĩ rằng điều đó có thể nhắm vào họ. Chúng tôi cho rằng nó nhắm vào những quốc gia muốn tạo chế độ công quản. Tôi có một thắc mắc lý thú từ Ấn Độ – không biết Thủ Tướng có nghĩ vậy không. Họ nói rằng khi Á Châu – Thái Bình Dương không bao gồm Ấ Độ, vậy những gì chúng tôi nói tức là chúng tôi thỏa thuận để Trung Hoa công quản Ấn Độ (cười). Nên tôi nói với họ là không đúng. Tôi mong Thủ Tướng không phật ý.

    Thủ Tướng Chu: Ấn Độ là một quốc gia hết sức mập mờ. Đó là một quốc gia rất to lớn. Nhiều khi họ làm ra vẻ một quốc gia lớn, nhưng nhiều khi họ có mặc cảm tự ti.

    Tiến Sĩ Kissinger: Họ bị khống chế bởi ngoại bang qua gần hết lịch sử của họ.

    Thủ Tướng Chu: Vâng, đó có thể là một trong những nhân tố lịch sử. Và một nhân tố nữa là quá nhiều cạnh tranh vĩ đại trên thế giới. Bây giờ chúng ta sang tới vấn đề Đông Dương – – Tôi muốn nghe ông trình bày.

    Tiến Sĩ Kissinger: Thủ Tướng có nói ông có vài nhận định muốn nói với tôi. Có lẽ chúng ta nên đổi vị trí để Thủ Tướng phát biểu trước.

    Thủ Tướng Chu: Có những vấn đề cần tranh luận, và chúng tôi muốn nghe ông trước để biết giải pháp của ông cho vấn đề.

    Tiến Sĩ Kissinger: Thủ Tướng muốn gợi ý là sau khi nghe tôi trình bày tôi sẽ thuyết phục được khiến mọi tranh luận sẽ biến mất, và sẽ không còn điều gì thêm để Thủ Tướng phải nhận định?

    Thủ Tướng Chu: Tôi không có những dự tính đó, nhưng tôi thực sự mong sẽ giảm thiểu được những tranh luận.

    Tiến Sĩ Kissinger: Tôi sẽ trình bày sự thẩm định thật vô tư của chúng tôi. Tôi biết không hợp với ý Thủ Tướng, nhưng tôi nghĩ dù sao nó cũng ích lợi để Thủ Tướng hiểu quan điểm của chúng tôi về hiện tình. Và tôi sẽ trình bày tình hình từ khi Bắc Việt bắt đầu vụ tấn công ngày 30 tháng 3. Tôi tin rằng tôi đã giải thích vói Thủ Tướng những mục tiêu tổng quát của chúng tôi ở Đông Dương. Hiển nhiên không phải mục tiêu của chính phủ này là sẽ duy trì vĩnh viễn những căn cứ tại Đông Dương hoặc tiếp tục chính sách khởi xướng bởi vị tổng trưởng ngoại giao đã từ chối bắt tay Thủ Tướng. Không phải như vậy? chúng ta đang ở một giai đoạn lịch sử khác. Chúng tôi tin rằng tương lai quan hệ của chúng tôi với Bắc Kinh quan trọng vô biên cho tương lai của Á Châu hơn là những gì xảy ra tại Phnom Penh, tại Hà Nội hoặc ở Sài gòn. Chắc Thủ Tướng còn nhớ khi Tổng Thống Johnson đưa quân đội Hoa Kỳ vào Việt Nam ông biện minh rằng vì một phần những gì xảy ra tại Đông Dương đã được kế hoạch tại Bắc Kinh và là một phần của âm mưu thôn tính toàn cầu. Dean Rusk đã diễn đạt như vậy trong một bản tuyên bố. Rồi quí quốc tiến hành cuộc Cách Mạng Văn Hóa và không, với những gì tôi đọc, nhấn mạnh đến phiêu lưu ra ngoại bang.

    Với thực tế chúng ta đang ngồi họp trong phòng này đủ thay đổi nền tảng mục đích của cuộc can thiệp đầu tiên tại Đông Dương. Là người thừa hưởng cuộc chiến vấn đề của chúng tôi là tìm cách thanh toán nó với một phương thức không ảnh hưởng đến uy tín toàn cầu của chúng tôi và – – đây không phải là mối quan tâm chính của Thủ Tướng – – để ổn định nội bộ tại Hoa Kỳ. Nên chúng tôi đã chân thành cố gắng để chấm dứt chiến tranh, và Thủ Tướng có thể biết hoặc không biết, tôi đã đích thân khởi xướng thương lượng với Bắc Việt năm 1967 khi tôi còn ở ngoại biên của chính quyền khi không được quần chúng ưa thích, vì tôi tin rằng phải có một giải pháp chính trị để chấm dứt cuộc chiến. Rồi từ khi chúng tôi nắm chính quyền chúng tôi đã cố gắng chấm dứt cuộc chiến. Và chúng tôi hiểu, như tôi đã thưa với Thủ Tướng trước đây là, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một nhân tố vĩnh viễn trên bán đảo Đông Dương và có thể là một thực thể mạnh nhất. Và chúng tôi đã không có ý định tiêu diệt họ hoặc ngay cả đánh bại họ. Sau khi chiến tranh chấm dứt chúng tôi sẽ triệt thoái xa 12 ngàn dậm. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vẫn chỉ cách Sài gòn 300 dậm. Đó là một thực tế mà họ có vẻ không hiểu.

    Thủ Tướng Chu: Điều mà họ quan tâm tới là vụ gọi là Việt Nam Hóa chiến tranh của quí quốc.

    Tiến Sĩ Kissinger: Nhưng họ có một sự thiếu tự tin kỳ lạ. Chúng tôi đã cố gắng làm gì? Chúng ta hãy quên “họ là bậc thầy về phân tích những điểm khác nhau nhưng quên những khái niệm toàn bộ”. Chúng tôi đã cố gắng tách rời hậu quả quân sự ra khỏi hậu quả chính trị để rút ra khỏi vùng và để những thế lực địa phương tự xếp đặt tương lai của họ. Thật rất kỳ lạ, phía Bắc Việt đã cố níu chúng tôi ở lại để chúng tôi giải quyết vấn đề chính trị cho họ. Thí dụ như ngày 30 tháng 5 vừa qua, chúng tôi đã đề nghị là chúng tôi sẽ triệt thoái tất cả lực lượng nếu có sự ngưng bắn và hoàn trả các tù binh.

    Đúng là ngày 31, không phải 30. Phía Bắc Việt sẽ ở đâu ngày hôm nay nếu họ đã chấp thuận dề nghị này. Tại sao? Vì họ muốn chúng tôi lật đổ chính quyền và đặt để chính quyền của họ vào. Chúng tôi không thương lượng. Tôi cố gắng giải thích điều chúng tôi suy nghĩ.

    Hậu quả thực tế của những đề nghị của chúng tôi vẫn là để chúng tôi triệt thoái. Hậu quả thực tế của những đề nghị của họ là giữ chúng tôi ở lại.

    Họ có hỏi chúng tôi “có một đòi hỏi họ đưa ra mà chúng tôi đã không đáp ứng, không thể đáp ứng và sẽ không đáp ứng, dù phải trả với giá nào với những quan hệ khác”, và đó là chúng tôi lật đổ những nhân vật chúng tôi vẫn thường giao thiệp và cũng là những người tin tưởng ở chúng tôi, đã có một hành động nào đó. Đây không phải là sự ưa thích cá nhân của một nhân vật nào đó đối với những nhân vật liên hệ. Không phải vì chúng tôi muốn có một chính quyền thân Mỹ ở Sài gòn. Tại sao chúng tôi lại muốn một chính quyền thân Mỹ ở Sài gòn khi chúng tôi có thể sống với những chính quyền không thân Mỹ tại các quốc gia to lớn hơn nhiều ở Á Châu? Vì rằng một quốc gia không thể bị đòi hỏi để ràng buộc vào một hành động phản bội to lớn và coi đó như một nền tảng của chính sách đối ngoại.

    Thủ Tướng Chu: Ông nói triệt thoái những lực lượng. Ông muốn nói triệt thoái toàn bộ Lục quân, Hải quân, Không quân, các căn cứ và tất cả?

    Tiến Sĩ Kissinger: Năm ngoái khi tôi ở đây, Thủ Tướng đã hỏi tôi điều này. Tôi đã trình Thủ Tướng chúng tôi muốn lưu lai một số cố vấn. Rồi Thủ Tướng có nói một câu rất hay về hậu quả của cái mà Thủ Tướng gọi là “để cái đuôi ở lại.” Phần lớn do lời nói đó, chúng tôi, trong vòng một tháng, đã thay đổi đề nghị của chúng tôi nên bây giờ bao gồm luôn việc triệt thoái toàn bộ cố vấn trong những loại Thủ Tướng nêu lên bây giờ. Chúng tôi đã chuẩn bị triệt thoái tất cả lực lượng.

    ….”
    Qua đoạn dịch ngắn này chúng ta có thể thấy chính phủ Mỹ và đại diện là Kissinger đã bỏ rơi VNCH theo một chính sách ngoại giao mới với Trung cộng thì việc thua thiệt của VNCH chẳng có gì là lạ.

    Kết luận: Qua 8 dẫn chứng cụ thể chúng ta có thể thấy rằng chính quyền dân chủ, tự do đã không được đồng minh của mình tiếp trợ nữa và chính điều này là một trong các yếu tố khiến cho VNCH thất bại. Nhưng để nói rõ hơn chúng ta cùng xem phần dưới đây để thấy rõ hơn trong khi VNCH bị cắt giảm viện trợ kinh tế, quân sự đến tận cùng thì ngược lại phía VNDCCH được tăng cường kinh khủng thế nào.

    2. Chi viện khủng khiếp:
    Trong giai đoạn sau năm 1973, trong khi VNCH bị Mỹ bỏ rơi như đã chứng minh ở trên thì ngược lại phía VNDCCH lại được chi viện một cách khủng khiếp về mặt kinh tế nhưng đặc biệt tăng vọt về mặt quân sự. Điều này lý giải cho “Chiến thắng” của đảng cộng sản chỉ là một điều hết sức bình thường của kẻ mạnh so với kẻ đang yếu thế. Không phải lúc đó VNCH đang mạnh hơn VNDCCH như đảng cộng sản vẫn tuyên truyền.

    Thứ nhất, trong phần đầu, dẫn chứng thứ 5 tôi đã đề cập đến báo cáo của quân đội Liên Xô năm 1977 và họ đã công nhận gửi đoàn cán bộ cố vấn đề tăng thêm sức mạnh cho quân đội VNDCCH trong năm 1974. Và cũng báo cáo đó trang 23 có viết “Trong năm 1974, chúng ta đã chi viện thêm cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 100 xe tăng T54, một trung đoàn tên lửa phòng không SA-2, 300 tên lửa vác vai SA-7., 2 trung đoàn và cơ số đạn pháo 130 mm….” Như vậy trong khi VNCH bị cắt giảm viện trợ đến mức đạn không đủ bắn thì VNDCCH lại có thêm chi viện khổng lồ về quân sự đến thế. Vậy sức mạnh đâu phải nhờ “Đảng lãnh đạo”? Sức mạnh là do ưu thế về số lượng quân cụ vượt trội.

    Thứ hai, trong cuốn sách của tác giả N. Kolosov người Tiệp Khắc có viết về quan hệ giữa Tiệp Khắc và Việt Nam có đoạn “Trong năm 1973 cho đến 1975, quan hệ Tiệp – Việt được củng cố thêm bằng việc chúng ta xây dựng cho Việt Nam nhiều nhà máy cơ khí, chế tạo máy và đặc biệt để đáp lại yêu cầu của chính phủ Việt Nam. Chính phủ Tiệp Khắc đã gửi tặng các bạn Việt nam 50 chiếc xe vận tải quân sự, 1000 khẩu súng AK-47 do Tiệp Khắc sản xuất….” Cuốn sách có tên “Chặng đường đã qua” được in năm 1980.
    Như vậy rõ ràng trong giai đoạn sau khi ký hiệp định ngừng bắn sau mùa hè đỏ lửa 1972 thì cộng sản đã được tăng cường một cách tối đa không chỉ từ Liên Xô mà của cả khối xã hội chủ nghĩa. Vậy rõ ràng VNCH trong giai đoạn này đã phải đơn thương độc mã chống lại cả một guồng máy chiến tranh khổng lồ của cộng sản mà kẻ làm tay sai là VNDCCH.

    Thứ ba, trên Website dạy lịch sử của trường THPT Lý nhân- Tỉnh Hà Nam của chính quyền cộng sản Việt Nam có bài viết về quan hệ Việt Nam – Liên Xô cũng đã khẳng định:
    “Một trong những ủng hộ kịp thời và giá trị của Liên Xô đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam trong những năm 1965-1975 là viện trợ quân sự. Tên lửa “đất đối không” của Liên Xô đã được sử dụng lần đầu tiên tại Việt Nam vào ngày 24-7- 1965 và đã bắn rơi máy bay Mỹ.

    Trong giai đoạn 1965-1968, số hàng viện trợ quân sự của Liên Xô cũng tăng vọt: 226.969 tấn 6. Mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, khi cuộc chiến đấu của quân dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc diễn ra quyết liệt, chúng ta rất cần vũ khí, đạn dược, Liên Xô đã đưa gấp sang Việt Nam “100 khẩu súng chống tăng, 500 súng cối các loại, 400 dàn pháo phản lực và 45 chiếc máy bay chiến đấu” 7. Như vậy, trong hai năm 1966-1967, Liên Xô là nước cung cấp chủ yếu viện trợ quân sự cho Việt Nam. Tính ra, “Liên Xô đã cung cấp 500 triệu rúp trang thiết bị cho lực lượng quân sự Bắc Việt Nam (xấp xỉ 550,5 triệu USD)”8. Trong những năm 1969-1972, mức viện trợ quân sự của Liên Xô cho ta đạt 143.793 tấn. Chỉ riêng năm 1969, giá trị hàng viện trợ quân sự lên tới 1,1 tỷ rúp. Cùng với viện trợ quân sự, Liên Xô còn tích cực đào tạo giúp Việt Nam đội ngũ cán bộ quân sự giỏi, có thể vận hành được những vũ khí hiện đại do Liên Xô cung cấp. Riêng năm 1966, có 2.600 sĩ quan Việt Nam được đào tạo tại Liên Xô. Đồng thời, nhiều chuyên gia quân sự của Liên Xô cũng đã sang chiến trường Việt Nam trực tiếp giúp bộ đội Việt Nam về mặt kỹ thuật. Từ năm 1969-1971, Liên Xô đã ký với Việt Nam 7 hiệp nghị viện trợ và tăng cường hợp tác kinh tế, quốc phòng.
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  3. #43
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Hội Thảo Trả Lại Sự Thật Lịch Sử Cho Viêt Nam Cộng Hòa.

    Đặng Chí Hùng – Những sự thật cần phải biết – Sự thật về “chiến thắng mùa xuân thần thánh”3

    Từ năm 1973-1975, Liên Xô chuyển sang Việt Nam 65.601 tấn 9 hàng hậu cần và trang bị vũ khí, kỹ thuật. Đây là một trong những điều kiện đảm bảo cho quân dân ta đẩy mạnh các hoạt động quân sự và giành thắng lợi quyết định trên chiến trường, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris (1-1973) và đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ đi đến kết thúc. Liên Xô cũng không ngừng viện trợ kinh tế cho Việt Nam. Kể từ năm 1965, Liên Xô đã ký với Việt Nam nhiều hiệp định viện trợ và hợp tác. Riêng năm 1965-1966, Liên Xô đã chuyển sang Việt Nam khối lượng hàng hóa trị giá khoảng 38,5 triệu rúp 10. Trong năm 1968, Liên Xô đã viện trợ quân sự và kinh tế cho Việt Nam ước tính khoảng 543,3 triệu rúp (tương đương với 608,1 triệu USD)11. Như vậy, viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam trong năm 1968 đạt mức cao nhất, chiếm khoảng 50% viện trợ của các nước XHCN. Từ năm 1969-1972, Liên Xô và Việt Nam liên tiếp ký kết các hiệp định về việc Liên Xô viện trợ không hoàn lại, cho vay dài hạn, về trao đổi hàng hóa… phục vụ cho nhu cầu củng cố quốc phòng và phát triển kinh tế của Việt Nam. Trên tinh thần các hiệp định đã ký kết, Liên Xô cho Việt Nam vay khoản tiền ưu đãi là 152 triệu rúp không phải trả lãi. Năm 1973, Liên Xô đã xóa cho Việt Nam các khoản nợ cũ từ năm 1973 trở về trước (khoảng 1,3 tỷ rúp). Trong những năm 1974-1975, Liên Xô đã cố gắng giải quyết những nhu cầu thiết yếu của Việt Nam về lương thực, thực phẩm, xăng dầu, sắt thép…, góp phần tích cực phát triền kinh tế Việt Nam”

    Qua đoạn trích chúng ta thấy gì? Đó là một khối lượng khổng lồ viện trợ của Liên Xô dành cho Việt Nam cộng sản. Ngoài ra quan trọng hơn chung ta thấy, sau năm 1973 trong khi VNCH bị cắt giảm viện trợ thì VNDCCH lại được tăng viện thêm đáng kể và đặc biệt còn được xóa nợ. Vậy thì sức mạnh thật sự của “chiến thắng” năm 1975 của cộng sản phải được gọi là chiến thắng của Liên Xô thì đúng nghĩa hơn.

    Bạn đọc có thể tìm hiểu bài viết qua links:
    http://thptlynhan-hanam.edu.vn/forum/viewtopic.php? f=40&t=4202

    Thứ tư, Trên website của báo BBC Việt Ngữ có bản thống kê viện trợ của VNDCCH nhận được theo từng giai đoạn. Bài viết trích dẫn ngay bài viết của hai tác giả cộng sản thuộc viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, hai tác giả đó là Lê Quang Lạng và Trần Tiến Hoạt. Bài viết của hai tác giả trên có đoạn: “Tham luận ghi nhận trong 21 năm chiến đấu, Việt Nam đã “nhận được sự ủng hộ chí nghĩa, chí tình của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN anh em.”
    Bài viết thống kê những con số về vũ khí, đạn dược và trang bị kỹ thuật mà khối XHCN đã viện trợ:
    “Khối lượng hàng quân sự Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ từ năm 1955 đến 1975, qua từng giai đoạn:

    Giai đoạn 1955-1960: tổng số 49.585 tấn, gồm: 4.105 tấn hàng hậu cần, 45.480 tấn vũ khí, trang bị-kỹ thuật; trong đó, Liên Xô: viện trợ 29.996 tấn, Trung Quốc viện trợ 19.589 tấn.

    Giai đoạn 1961-1964: tổng số 70.295 tấn, gồm: 230 tấn hàng hậu cần, 70.065 tấn vũ khí, trang bị – kỹ thuật; trong đó, Liên Xô: 47.223 tấn: Trung Quốc 22.982 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác: 442 tấn.

    Giai đoạn 1965-1968: tổng số 517.393 tấn, gồm: 105.614 tấn hàng hậu cần, 411.779 tấn vũ khí, trang bị-kỹ thuật; trong đó, Liên Xô: 226.969 tấn, Trung Quốc: 170.798 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác 119.626 tấn.

    Giai đoạn 1969-1972: tổng số 1.000.796 tấn, gồm: 316.130 tấn hàng hậu cần, 684.666 tấn vũ khí, trang bị-kỹ thuật; trong đó, Liên Xô 143.793 tấn, Trung Quốc 761.001 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác 96.002 tấn.

    Giai đoạn 1973-1975: Tổng số 724.512 tấn, gồm: 75.267 tấn hàng hậu cần, 49.246 tấn vũ khí, trang bị – kỹ thuật; trong đó, Liên Xô: 65.601 tấn, Trung Quốc: 620.354 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác: 38.557 tấn.

    Tính tổng cộng qua 20 năm, theo thống kê chính thức của Việt Nam, số viện trợ mà Việt Nam nhận được là 2.362.581 tấn hàng hóa; khối lượng hàng hóa quân sự trên quy đổi thành tiền, tương đương 7 tỉ rúp.”
    Như vậy ta có thể thấy liên tục qua nhiều năm viện trợ quân sự của VNDCCH đến từ các nước cộng sản gần như không suy suyển mà thậm chí còn tăng lên. Vậy thì sự thật về sức mạnh quân sự đã thực sự nghiêng về phía cộng sản qua những con số biết nói đó.

    Bạn đọc có thể tìm hiểu qua links sau:
    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regi...amwaraid.shtml

    Thứ năm, trong cuốn sách “Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước -Thắng lợi và bài học” (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996) có viết: “Thắng lợi của chính sách ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh là thắng lợi của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; của chính sách ngoại giao trên tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, mềm dẻo, có tình, có lý. Chính vì vậy, ở vào thời điểm hai nước Liên Xô và Trung Quốc xảy ra những bất đồng quan điểm, vào lúc cuộc chiến tranh ở Việt Nam được Mỹ đẩy lên tới mức cao nhất, thì sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc cho cách mạng nước ta vẫn được bảo đảm.”
    Như vậy thì rõ ràng cộng sản Việt Nam đã công nhận họ luôn có sự ủng hộ, chi viện từ phía Liên Xô, Trung cộng dù trong bất cứ giai đoạn nào của cuộc chiến Việt Nam. Rõ ràng cho thấy ưu thế của VNDCCH hơn hẵn về chi viện so với VNCH.
    Kết luận: Qua 5 dẫn chứng cho thấy thực sự VNCH trong khi bị Mỹ bỏ rơi, cắt đứt viện trợ thì VNDCCH lại hoàn toàn ngược lại. Họ được tiền hô, hậu ủng từ cả khối cộng sản nhằm nhuộm đỏ Việt Nam với mức độ càng ngày càng khủng khiếp cho đến ngày 30/4/1975, ngày cả nước chính thức rơi vào vòng nô lệ chứ không còn chỉ là một miền Bắc nghèo khó nữa.

    3. Sức mạnh quân sự vượt trội:
    Trong quân sự, việc vượt trội về số lượng và chất lượng vũ khí đóng góp đến 80% chiến thắng nhất là trong chiến tranh hiện đại. Điều này được thể hiện rõ qua chiến tranh Việt Nam ở giai đoạn sau năm 1973.
    Có thể nói sau năm 1973 thì hiệp định Paris đã làm VNCH chịu thiệt thòi về chiến thuật khi họ phải chấp nhận để quân đội cộng sản được phép đóng quân trên đất của miền Nam. “Quân đội Mỹ và các đồng minh nước ngoài phải rút khỏi Việt Nam, Quân đội Nhân dân Việt Nam được ở lại miền Nam Việt Nam, chính quyền của Tổng thống Thiệu được quyền tồn tại trong một giải pháp hòa bình, trao trả tù binh không điều kiện trong vòng 60 ngày. “ (Trích theo khung sơ bộ của hiệp đinh – theo wiki:
    http://vi.m.wikipedia.org/wiki/Hiệp_định_Paris_1973).

    Tuy nhiên ngoài ra, trong khuôn khổ bài này tôi xin chứng minh một sự thật là ngoài việc bị cắt viện trợ, bị thiệt thòi về đất đai, chiến thuật sang năm 1973 thì quân lực VNCH thua bởi vì họ nắm thế yếu về cả số lượng người và cả tính năng vũ khí. Như vậy cái gọi là “chiến thắng thần thánh” chỉ là giả tạo và thực chất VNCH đã thua phần lớn do bản thân họ không được trang bại tốt hơn cộng sản.
    Trong phần 3 của loạt bài “Những sự thật không thể chối bỏ”, tôi đã chứng minh cho bạn đọc thấy cho đến trước 1968 thì quân lực VNCH không được trang bị súng M16 (súng trường tự động) mà chỉ được trang bị súng Carbine là súng trường bán tự động. Trong khi đó quân đội VNDCCH và cả lực lượng du kích kích miền nam của MTGPMNVN cũng được trang bị AK- 47 là súng trường tấn công tự động. Như vậy so về trang bị trước năm 1968 thì cộng sản cũng không phải là tầm thường như họ nói để nâng cao “tài năng” của quân đội VNDCCH.
    Trong cuộc chiến Việt Nam khi quân lực VNCH được sự tiếp vận đầy đủ họ vẫn chiến đấu tốt và không cho phép quân đội VNDCCH tiến chiếm miền Nam. Điển hình là cuộc chiến 1968 và 1972. Như vậy họ đâu có “hèn” như cách tuyên truyền của đảng cộng sản? Hãy nhìn xem quân lực VNCH có gì trong tay so với quân đội VNDCCH.

    Nói đến chiến tranh Việt Nam chúng ta phải nhìn nhận thời điểm đó chưa có vũ khí Lazer, có tên lửa Tomahaws hay các loại vũ khí điện tử như hiện nay thì việc chiếm ưu thế về lục quân có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Nói thế để chung ta thấy sự thật quân lực VNCH thua thiệt thế nào so với quân đội VNDCCH. Hãy làm vài so sánh sau đây.

    Thứ nhất, về xe tăng – thiết giáp là vũ khí khá quan trọng của lục quân trong chiến tranh. Quân lực VNCH được trang bị xe tăng M41, M48, và xe thiết giáp M113, V100. Xe thiết giáp M113 và V100 là xe thiết giáp có vỏ hợp kim nhôm hoặc thép mỏng dễ bị bắn cháy bằng B40, B41 của quân đội VNDCCH. Thực chất đó là xe chiến đấu hạng nhẹ và không thể so sánh với lớp thép dầy của xe chiến đấu bộ binh hạng trung của BMP 1 và BMP2 có trong quân đội cộng sản. Đặc biệt khi đối đầu thì M113 hay V100 không có hệ thống tên lửa chống tăng như BMP do LX sản xuất nên không thể là đối thủ của BMP.



    Khi nói đến xe tăng chiến đấu chủ lực thì quân lực VNCH chỉ được trang bị xe tăng hạng trung M48 và hạng nhẹ M41. So với T54-55 của quân đội VNDCCH thì xe tăng hạng nhẹ M41 không thể sánh nổi. Duy nhất chỉ có M48 có thể coi làm tạm sánh ngang với các thông số của T54-T55 như “nòng pháo của T54 là 100 còn M48 là 90″. Nhưng thực chất thì quân lực VNCH lại không có nhiều M48 để đương đầu với T54-55. Theo thống kê cho đến năm 1975 thì quân lực VNCH chỉ có 162 M48A3 còn lại 221 M41. Trong khi quân đội VNDCCH khi tấn công miền Nam năm 1975 dùng 365 xe tăng T54 (Trích” Tài liệu quân sử Việt Nam – Nhà Xuất bản QĐND Việt Nam tập 2, trang 92). Như vậy về số lượng gần tương đương nhau nhưng chất lượng theo thông số kỹ thuật của xe tăng VNCH không được bằng VNDCCH.



    Bên cạnh đó, quân đội VNCH không được trang bị xe tăng lội nước chuyên nghiệp như T-59, K63, PT76 của quân đội VNDCCH được Liên Xô và Trung cộng viện trợ. Và một điều rất quan trọng đó là xe tăng của quân lực VNCH phải chống chọi với không chỉ xe tăng mà con là tên lửa chống tăng AT3, Pháo, B41, B40, DKZ… của quân đội VNDCCH. Trong khi đó quân lực VNCH chi được trang bị duy nhất M72 để chống tăng.

    Thứ hai, Nói đến chiến trường bộ binh vào giai đoạn chiến tranh Việt Nam thì pháo binh là một yếu tố quan trọng. Trên thực tế quân đội VNCH chỉ được trang bị pháo 105mm và 155 mm có tầm xa tác xạ không quá 15 km. Họ có được trang bị pháo 175mm nhưng chỉ với số lượng không đáng kể. Với số lượng chỉ có khoảng 1500 khẩu pháo có tầm bắn ngắn ngủi đó so với gần 2500 khẩu pháo 130 mm có tầm bắn 30 km thì thật là quá sức chênh lệch. Thật ra tầm bắn của 105mm, 155mm bên phía quân đôi VNCH chỉ ngang bằng so với tầm bắn của khoảng 1000 khẩu 122mm của quân đội VNDCCH. Ngoài ra quân đội VNDCCH còn được trang bị rất nhiều loại pháo và súng cối từ 80mmm, 85mm…

    Thứ ba, Quân lực VNCH có ưu thế về không quân với rất nhiều loại máy bay như UH1, A37, L19, C130, C119, A-H1, F5… nhưng phía VNDCCH bù lại có sức mạnh về phòng không cực mạnh do Liên Xô chi viện như pháo phòng không 122 mm, pháo 12, 7mmm, tên lửa SA-1, SA-2, tên lửa phòng không vác vai SA-7. Như vậy rõ ràng ưu thế không quân của VNCH đã bị giảm xuống đáng kể trước đối phương có hệ thống phòng không dày đặc và hiện đại ở thời điểm đó mà ngay cả không quân Mỹ cũng bị tổn thất nghiêm trọng. Như vậy một lần nữa ta thấy sự thật quân lực VNCH không được trang bị hiện đại như quân đội VNDCCH.

    Trong một chiến tranh như chiến tranh Việt Nam, ở một thời điểm quyết định như năm 1975 mà không được tiếp liệu đầy đủ, vũ khí thua thiệt cả về Xe tăng, Pháo binh và ngang ngửa về Không quân đối đầu với Phòng không thì liệu có chiến thắng được không? Câu trả lời là gần như không thể trong khi cả số lượng con người cũng thua thiệt.

    Năm 1975, theo số liệu từ hồi ký “Đại thắng mùa xuân” của Đại tướng QDNDVN Văn Tiến Dũng, toàn bộ Quân lực VNCH gồm có 1.351.000 quân, trong đó có 495.000 quân chủ lực, 475.000 quân địa phương, 381.000 quân “phòng vệ dân sự” có vũ trang, gồm 13 sư đoàn chủ lực, 18 liên đoàn biệt động quân.
    Theo Walter J. Boyne, toàn bộ Quân lực Việt Nam Cộng hòa gồm có 750.000 người, trong đó 229.000 là lực lượng chiến đấu nòng cốt để chống lại gần 500.000 quân Giải phóng ở miền Nam bao gồm cả các lực lượng chính quy và du kích, trong đó có hơn 200.000 bộ đội chính quy mà hơn 80.000 quân đã ở lại miền Nam sau Hiệp định Paris.

    Như vậy chúng ta có thể thấy điều gì? Đó là thực tế số quân nhân chiến đấu chủ lực của quân lực VNCH cũng không thể bằng số quân của quân đội VNDCCH tiến đánh miền Nam được tiếp vận đầy đủ và vũ khí khá hiện đại tại thời điểm đó.
    Kết luận: Đảng cộng sản thường tuyên truyền là họ chiến thằng VNCH bằng “Chân sắt, vai đồng” hay nói cách khác là huyền thoại về những con người cộng sản nhưng thực chất không phải vậy. Chiến thằng của cộng sản Việt Nam trước VNDCCH trong quân sự là do họ có quân số và ưu thế và tính năng vũ khí hơn hẳn VNCH.

    Kết luận chung:



    Việt Nam Cộng Hòa là một chế độ dân chủ non trẻ ở Việt Nam. Một chế độ dân chủ tự do non trẻ nhưng đã được những thành tựu đáng khâm phục dù còn nhiều sai sót. Tôi đã có dịp so sánh ở bài 3 của “Những sự thật không thể chối bỏ” nhưng tôi sẽ còn chứng minh sâu thêm về thành tựu của VNCH đạt được ở một bài sau này nữa.
    Quân lực VNCH tuy thua trận nhưng không phải thua theo cách mô tả của cộng sản đó là hèn kém và nhu nhược. Họ có những anh hùng tuẫn tiết như tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng… Và quân đội VNDCCH không hề chiến thắng bằng “tinh thần” hay “đại thắng thần kỳ” như họ tuyên truyền. Người thua vì họ ít quân, vũ khí kém hiện đại và bị đồng minh bỏ rơi về cả kinh tế, chính trị lẫn quân sự. Kẻ thắng cũng thực chất được trang bị qua hiện đại, nhiều về số lượng mà thôi. Một người yếu thế bị ép phải thua và một kẻ được trang bị vũ khí với chủ trương đi cướp giật thì ắt hẳn phần thua là ai thì bạn đọc cũng tự hiểu.

    Tôi viết bài 1 này không có ý bênh vực cho sự thất bại của quân lực VNCH. Thất bại là thất bại, và người thất bại cũng có lỗi trong thất bại của mình. Tuy nhiên, lịch sử phải công tâm và rõ ràng. Tôi chỉ muốn thông qua bài viết này cho các bạn đọc trẻ tuổi thấy hai điều: VNCH không phải là những người lính nhu nhược và kém tài, họ gần như bắt buộc phải thua trong cuộc chiến bảo vệ dân chủ không cân sức. Và không có sự thần kỳ hay tài năng của đảng cộng sản hay anh hùng của Quân đội Nhân dân Việt Nam như đảng cộng sản vẫn tuyên truyền về Lê Văn Tám hay Nguyễn Văn Bé. Một quân đội anh hùng không thể khom lưng đứng nhìn Trung cộng bắt giữ, đánh dập đồng bào ngư dân trên chính quê hương mình như hiện nay. Họ chiến thắng không phải vì họ tài giỏi mà thực chất họ được đặt vào cái thế “Kiểu gì cũng thắng”.

    26/09/2012
    Đặng Chí Hùng
    http://gianhlaiquehuongvietnam.wordpress.com/
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  4. #44
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Hội Thảo Trả Lại Sự Thật Lịch Sử Cho Viêt Nam Cộng Hòa.

    Những sự thật không thể chối bỏ (phần 2) - Hồ Chí Minh và vai trò trong công hàm 1958




    Đặng Chí Hùng (Danlambao) - Để nối tiếp chuỗi bài về những sự thật không thể chối bỏ, tôi xin trình bày về các vấn đề: Có hay không công hàm 1958, công hàm đó có phải là công hàm bán nước hay không và vai trò của ông Hồ Chí Minh trong công hàm bán nước 1958 cho Trung cộng. Từ trước đến giờ chúng ta luôn coi nó là tác phẩm của ông Phạm Văn Đồng. Nhưng sự thực có phải thế không. Vấn đề này không mới nhưng nó được chứng minh theo hướng mới và quan trọng hơn là vai trò của ông Hồ trong sự kiện này. Tôi xin trình bày dưới bài viết này.

    A. Sự thật về công hàm 1958:

    1. Tuyên bố của phía Trung cộng về chủ quyền ở HS-TS của VN:

    Ngày 4 tháng 9 năm 1958, chính phủ Trung cộng mà đại diện là thủ tướng Chu Ân Lai tuyên bố về chủ quyền hải đảo của Trung cộng. Tuyên bố này được thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội Nhân Dân. Đây là các links dẫn chứng về tuyên bố này của Trung cộng:

    Bản tiếng Trung: http://www.law.hku.hk/conlawhk/sourcebook/10032.htm
    Bản tiếng Anh: http://www.law.hku.hk/clsourcebook/10033.htm

    Nội dung của tuyên bố trên của Trung cộng được dịch ra tiếng Việt như sau:

    Trước hết là bản dịch của dịch giả Trần Đồng Đức:

    Công bố của chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa về lãnh hải ngày 4 tháng 9 năm 1958

    Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc (Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa)

    Đại biểu ủy viên thường vụ đại hội nhân dân toàn quốc liên quan việc phê chuẩn quyết nghị công bố lãnh hải của chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa

    (Ngày 4 tháng 9 năm 1958 đại hội ủy viên thường vụ đại biểu nhân dân toàn quốc hội nghị thứ 100 thông qua)

    Quyết nghị

    Ngày 4 tháng 9 năm 1958 đại hội ủy viên thường vụ đại biểu nhân dân toàn quốc hội nghị thứ 100 thông qua quyết định phê chuẩn về tuyên bố lãnh hải của chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa

    Đính kèm: Công bố của chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa về lãnh hải

    Chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa tuyên bố:

    * Một: Lãnh hải của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa rộng 12 hải lý. Quy định này áp dụng cho toàn bộ lãnh thổ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa, bao gồm Trung Quốc đại lục cùng với duyên hải của các hải đảo, với Đài Loan cùng các hòn đảo xung quanh cách đại lục bằng hải phận quốc tế, những hòn đảo của khu vực Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và những gì thuộc về những hải đảo của Trung Quốc.

    * Hai: Lãnh hải của Trung Quốc đại lục và duyên hải của các đảo được tính theo đường thẳng nối liền những điểm mốc ven bờ làm đường biên cơ sở, thủy vực từ đường biên cơ sở này hướng ra ngoài 12 hải lý là lãnh hải của Trung Quốc. Phần nước thuộc đường biên cơ sở này hướng vào bên trong, bao gồm vịnh Bột Hải, phần trong hải vực Quỳnh Châu, đều là phần nội hải của Trung Quốc. Các đảo thuộc đường biên cơ sở này hướng vào trong, bao gồm đảo Đông Dẫn, đảo Cao Đăng, đảo Mã Tổ, đảo Bạch Khuyển, đảo Điểu Khưu, đảo Kim Môn lớn nhỏ, đảo Nhị Đảm, đảo Đông Định đều thuộc về các đảo thuộc nội hải của Trung Quốc.

    * Ba: Tất cả phi cơ và thuyền bè quân dụng của ngoại quốc, chưa được chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa cho phép, không được tiến nhập vào lãnh hải vào không gian trên lãnh hải. Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào vận hành tại lãnh hải của Trung quốc, phải tôn trọng pháp lệnh hữu quan của chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

    * Bốn: Dựa trên nguyên tắc quy định 2, 3 áp dụng cho cả Đài Loan cùng các hòn đảo xung quanh, những hòn đảo của khu vực Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và những gì thuộc về những hải đảo của Trung Quốc. Đài Loan và Bành Hồ địa khu hiện nay đang bị Mỹ dùng vũ lực xâm chiếm. Đây là hành vi phi pháp xâm phạm chủ quyền và sự toàn vẹn của lãnh thổ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Đài Loan và Bành Hồ đang chờ đợi để thu hồi, chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa sử dụng tất cả những phương pháp thích đáng tại một thời điểm thích đáng để thu phục những khu vực này, đây là chuyện nội bộ của Trung Quốc, không cho phép ngoại quốc can thiệp.

    (Chú ý ở đây: Tây Sa và Nam Sa là cách gọi của Trung Cộng về HS-TS của Việt Nam)

    Nội dung bản dịch này là chính xác bản thân chúng ta có thể kiểm chứng. Tôi xin nêu ra đây một minh chứng bản dịch này là chính xác vì vấn đề chính trong tuyên bố Trung cộng tuyên bố về chủ quyền HS-TS đã được tờ Đại Đoàn Kết (Báo của trung ương đảng cộng sản Việt Nam công nhận). Đây là links của bài báo đó trên tờ Báo Đất Việt(Chi nhánh của BQP cộng sản):

    http://quocphong.baodatviet.vn/Home/...156665.datviet

    Trong bài viết của báo Đại Đoàn Kết có đoạn: Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4/9/1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam).

    Kết luận 1: Trung quốc rõ ràng đã tuyên bố HS-TS là của họ trong tuyên bố 4/9/1958 của Chu Ân Lai.Cả dư luận lẫn đảng cộng sản Trung quốc, cộng sản Việt Nam công nhận.

    2. Công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng:

    Ngay sau khi tuyên bố của Trung cộng về việc HS- TS là của họ thì ông Phạm Văn Đồng lúc đó là thủ tướng Việt Nam Dân Chủ cộng hòa (VNDCCH) tiến hành việc đưa ra công hàm ký ngày 14/9/1958. Công hàm này có bản photocopy như sau:



    Công hàm này ngoài ra thời điểm đó còn được các tờ báo Nhân dân thời điểm đó đưa tin (Báo nhân dân là cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Việt Nam). Đây là hình ảnh của Báo nhân dân đã đưa tin về sự kiện này:



    và ngay sau đó thì sáng ngày 21.9.1958, ông Nguyễn Khang, Đại sứ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Trung Quốc, đã gặp Cơ Bàng-phi, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và đã chuyển bức công hàm của ông Phạm Văn Đồng đến ông Chu Ân Lai.

    http://1.bp.blogspot.com/-ZI22tEBH5b...aoNhanDan2.jpg

    Trước đó, năm 1956, ông Ung Văn Khiêm, nhân tiếp phái đoàn ngoại giao TQ, Thứ Trưởng bộ Ngoại Giao có tuyên bố với Li Zhimin, tham tán sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam: chiếu theo tài liệu VN thì HS và TS thuộc về TQ.

    Ông Lê Lộc, Chủ Tịch Châu Á Sự Vụ, nhân có mặt cũng nói vào: Theo sử liệu VN thì HS và TS thuộc TQ từ thời nhà Tống. Sự việc này tạp chí Beijing Review ngày 18 tháng Hai năm 1980 đã có đăng lại trong bài "Chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc trên các đảo Tây Sa và Nam Sa".

    Năm 1977 cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng giải thích quan điểm của ông về công hàm này như sau: "đó là thời chiến nên phải nói như vậy thôi".

    Sau đó ông Nguyễn Mạnh Cầm, nguyên Bộ Trưởng bộ Ngoại Giao, trong một cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 2 tháng 12 năm 1992 nói như sau: “Các nhà lãnh đạo của ta lúc trước xác nhận về Hoàng Sa và Trường Sa như vậy là do theo hiệp định Genève năm 1954 về vấn đề Đông Dương thì tất cả lãnh thổ từ vĩ tuyến thứ 17 trở vào Nam là thuộc chính quyền miền Nam, kể cả hai quần đảo này."

    Kết luận 2: Căn cứ vào nội dung đưa tin của tờ báo chính thức của đảng cộng sản Việt Nam, và những gì nội dung đọc được trên công văn chính thức của ông Phạm Văn Đồng thì có thể kết luận. Những gì ông Đồng công nhận tuyên bố HS- TS của Trung cộng là có thật. Đây hoàn toàn là thông tin từ cơ quan của đảng cộng sản Việt Nam tuyên bố.

    3. Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam lúc đó:

    Trong thời điểm Trung cộng tuyên bố chủ quyền của mình tại HS-TS (vốn của Việt Nam) thì nước Việt chúng ta chia làm hai. Miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) theo đường lối cộng sản độc tài. Miền Nam là Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) theo đường lối dân chủ tự do. Lúc này các hòn đảo HS-TS đang thuộc quyền kiểm soát của VNCH. Chúng ta phải nhìn nhận rằng dù là VNCH hay VNDCCH nắm giữ đều có một điểm là: HS-TS là của Việt Nam. Nó chưa bao giờ là chủ quyền của Trung cộng.

    Thời điểm này, miền nam đang tiến hành chính sách “Người cày có ruộng” và phát triển kinh tế của tổng thống Ngô Đình Diệm. Miền bắc cũng tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội với sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Cộng. Ngoài ra chính phủ VNDCCH dưới sự lãnh đạo độc tài của đảng cộng sản đang muốn tranh thủ sự hậu thuẫn từ LX, TC để tiến hành chiến tranh với VNCH.

    Điểm chính ở đây là cả công bố của phía Trung cộng và công hàm của ông Phạm Văn Đồng đều diễn ra sau khi VNCH tiến hành công bố tái xác lập về chủ quyền của VNCH tại HS-TS. Tuyên bố chủ quyền của VNCH diễn ra vào tháng 4 năm 1956. Như vậy VNCH đã tiếp bước các tiền nhân giữ đất biển bao đời của Việt Nam và tuân thủ việc công khai chủ quyền sau hiệp định Geneve 1954. Đảng cộng sản Việt nam đã không vì lợi ích của dân tộc mà 2 năm sau đó, công khai ủng hộ kẻ thù cướp đoạt trái phép lãnh thổ Việt Nam. VNCH chỉ chịu mất chủ quyền trên đảo HS năm 1974 sau trận hải chiến mà ai trong chúng ta cũng biết về người anh hùng Ngụy Văn Thà. Sự kiện này tôi xin không cần nhắc lại. Tôi xin cung cấp thêm về tài liệu của phía bộ ngoại giao VNCH phản đối công khai việc làm phi pháp của Trung cộng:



    4. Kết luận chung về sự kiện này:

    Tôi xin nêu lên quan điểm chứng minh rằng công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng là công hàm phi pháp và bán nước.

    Qua kết luận 1 và kết luận 2 chúng ta thấy một điều hiển nhiên. Trung cộng tuyên bố sai phạm về chủ quyền của mình tại HS- TS. Ông Phạm Văn Đồng là thủ tướng VNDCCH lúc đó đã không những phản đối mà lại công nhận điều tuyên bố sai phạm là đúng. Như vậy đã tiếp tay cho kẻ thù xâm phạm chủ quyền Việt Nam. Đây là công hàm bán nước.

    Ngoài ra, tôi xin chứng minh các luận điệu biện hộ của phía đảng cộng sản Việt Nam sau khi bị lộ tẩy công văn này là càng sai trái và ngoan cố.

    Đầu tiên, Trên trang chủ Biendong.net (trang của chính phủ và những người cộng sản Việt Nam) có bài (Links: http://biendong.net/binh-luan/236-v-...a-trng-sa.html). Trong đó có đoạn: Công hàm nêu trên của Phạm Văn Đồng có hai nội dung hết sức đơn giản và rõ ràng, đó là ông Phạm Văn Đồng ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý và chỉ thị cho các cơ quan Việt Nam tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố.

    Trong công hàm của ông Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Chu Ân Lai đã nêu.

    Do vậy, chỉ xét về câu chữ thôi cũng dễ dàng nhận thấy rằng mọi suy diễn cho rằng ông Phạm Văn Đồng đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc và không có cơ sở pháp lý.

    Bài này viện ra lý do việc ông Đồng chỉ công nhận 12 hải lý chứ không nêu rõ việc HS-TS là của Trung cộng. Tôi xin đưa ra luận giải như sau. Đúng là về câu chữ không có HS-TS của Trung quốc trong công hàm của ông Phạm Văn Đồng. Nhưng tại sao chính phủ VNDCCH không phản đối nội dung tuyên bố của phía Trung Cộng? Trong công hàm ghi rõ “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hòa Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung quốc."

    Về nguyên tắc công văn cấp nhà nước không thể có sự nhập nhèm đúng và sai, nhất là vấn đề lãnh thổ. Vậy khi tuyên bố của đối phương bao gồm cả phần đất của mình, không lý nào đảng cộng sản và chính phủ VNDCCH lại không biết. Và cũng không thể trả lời mập mờ như thế.

    Vấn đề tôi xin nêu ở đây. Nếu là chủ trương bán nước thì đã quá rõ. Còn nếu biện hộ là tuyên bố chung chung thì cũng không thể được vì một chính phủ làm việc lại vô trách nhiệm ra những tuyên bố sai trái như vậy cũng hoàn toàn không thể vô can. Dù là cố tình hay “Vô ý” như cách lý giải của đảng cộng sản hiện nay cũng có tội với dân tộc.

    Thứ hai, có một số ý kiến nói công hàm 1958 không được quốc hội Việt Nam thông qua.Trên biendong.net có đoạn: Sự thực là công hàm nêu trên của Phạm Văn Đồng không được đưa ra để Quốc hội Việt Nam xem xét thông qua. Cho tới nay Trung Quốc cũng không đưa ra được bất kỳ chứng cứ gì minh chứng là Công hàm của Phạm Văn Đồng đã được Quốc hội Việt Nam thông qua.

    Nếu viện lý do này thì chúng ta thấy rằng ông Phạm Văn Đồng đã vi hiến và quốc hội do đảng cộng sản dựng lên cũng vô trách nhiệm. Lý do này có thể chấp nhận việc không qua quốc hội là đúng vì thực ra quốc hội VN là của cộng sản. Các đại biểu quốc hội là nghị gật nên việc không thông qua không phải là vô lý. Việc Một thủ tướng vi hiến, một quốc hội vô trách nhiệm với đất đai của tổ quốc cũng là có tội với dân tộc, bán nước. Vì đây là vấn đề đất đai biển đảo quan trọng. Không cho phép bất cứ cá nhân nào làm việc như vậy.

    Thứ ba, Có ý kiến biện luận rằng lúc đó 2 đảo HS-TS là chủ quyền của VNCH chứ không phải của VNDCCH nên tuyên bố của ông Đồng không có gì sai. Trong bài báo của đại đoàn kết có viết:

    Trong Công hàm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì điều đó là không cần thiết, bởi theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).

    Về lý do này chúng ta lại thấy sự sai trái của phía đảng cộng sản Việt Nam. Ở đây dù là đất của VNCH hay VNDCCH đều là phần đất của lãnh thổ Việt Nam. Như vậy dù nó có quản lý dưới tay ai cũng vẫn là của người Việt Nam chứ không phải của Trung cộng.

    Đảng cộng sản tuyên bố chiến tranh với miền nam là để giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Việc thống nhất này bao gồm cả việc lấy đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Vậy thì tại sao họ đã nghĩ được phần đất miền nam là của Việt Nam thống nhất, sao lại không nghĩ chủ quyền của Việt Nam bao gồm cả HS-TS. Chỉ có một lý do duy nhất đó là HS-TS là của Trung cộng (vì họ đã bán cho Trung Cộng) hoặc lý do thống nhất đất nước là lừa bịp. Dù lý do bán đất đảo hay lý do thống nhất lừa bịp (tôi sẽ có bài sau này) cũng có tội với dân tộc.

    Thứ tư, trong dư luận bấy lâu nay có tin rằng (không chính thức nhưng từ miệng của các bộ đội cộng sản lão thành) lúc đó Trung Cộng mạnh, giúp VNDCCH nên công hàm trên nhằm mượn tay Trung Cộng để lấy HS-TS từ tay VNCH cho VNDCCH. Lý do này cũng sai.Vì từ trước đến nay qua 4000 năm lịch sử giữ nước chúng ta chưa bao giờ quên mộng xâm lăng của giặc Tàu. Đảng cộng sản nếu dùng mưu đó cũng là phạm tội “Cỏng rắn cắn gà nhà”, tiếp tay cho kẻ thù. Như vậy đảng cộng sản và ông Đồng đã không đặt vấn đề dân tộc lên hàng đầu mà chỉ đặt lợi ích của “Đảng cộng sản anh em” lên trên. Ngoài ra nếu viện dẫn lý này tại sao cho đến giờ phút này Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không tuyên bố rõ ràng Trung Cộng xâm chiếm HS-TS hay chỉ dừng lại ở những câu chung chung như nhai lại của các phát ngôn viên ngoại giao. Hay cụ thể là việc đàn áp biểu tình chống xâm lược.

    Kết luận chung
    : Rõ ràng với công hàm 1958, đảng cộng sản Việt Nam và ông Hồ, ông Đồng đã bán nước cho Trung Cộng. Dù có biện luận dưới 4 lý do hiện nay đảng cộng sản đang rêu rao cũng đều hoặc vô lý, hoặc cũng có tội với dân tộc.

    B. Vai trò của ông Hồ Chí Minh trong sự kiện công hàm 1958:

    Công hàm thì ký tên ông Phạm Văn Đồng, thủ tướng VNDCCH lúc đó. Từ trước đến nay chúng ta chỉ trích ông Đồng. Điều này đúng. Tuy nhiên chỉ là nửa sự thật. Vai trò của ông Hồ trong sự kiện này rất lớn. Tôi xin chứng minh sau đây.

    1. Về hệ thống chính trị của đảng cộng sản Việt Nam:

    Về hệ thống chính trị của Việt Nam, trên wiki:
    (links: http://vi.wikipedia.org/wiki/Chính_trị_Việt_Nam) có đoạn: Cách tổ chức chính trị ở Việt Nam được sắp xếp theo trục dọc với Đảng Cộng Sản giữ địa vị trên hết, không như mô hình tam quyền phân lập như các tổ chức chính phủ dân chủ nghị viện khác...

    Hiến pháp 1992 tái khẳng định vai trò ưu tiên của Đảng Cộng sản tuy nhiên cũng theo bản hiến pháp đó thì Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và là tổ chức duy nhất nắm quyền lập pháp. Cơ quan này có trách nhiệm to lớn trong việc giám sát mọi chức năng của chính phủ.

    Bộ chính trị với 15 thành viên hiện nay, được bầu ra vào tháng 1 năm 2011 và do Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đứng đầu, quyết định chính sách của chính phủ; Ban Bí thư gồm 10 người giám sát việc thi hành chính sách hàng ngày. Dù đã có một số nỗ lực nhằm giảm sự chồng chéo giữa các vị trí của đảng và chính quyền, cách quản lý này hiện vẫn đang được áp dụng và mở rộng.

    Như vậy bỏ qua vấn đề số thành viên (khác so với 1958) thì lúc nào vai trò của đảng cộng sản cũng là số 1, mà đại diện cho đảng cộng sản cầm quyền mọi quyết định là Bộ Chính trị. Chính phủ mà đứng đầu là ông Phạm Văn Đồng không thể thông qua một quyết định một quyết định to lớn liên quan đến như vậy.

    Tôi xin dẫn chứng thêm về vai trò của bộ chính trị với nhà nước. Đây là đoạn trên trang của đảng cộng sản Việt Nam.

    (Links: http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/Ne...cn_id=339033):

    Nhà nước Việt Nam có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị được quy định bởi chức năng và nhiệm vụ của nó trong hệ thống chính trị, trong đời sống xã hội và được thể hiện trong mối quan hệ giữa Nhà nước với Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị. Nhà nước thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành hiến pháp, pháp luật và chính sách làm công cụ quản l‎ý nhà nước đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

    Trong hệ thống chính trị nước ta, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là trụ cột, là công cụ tổ chức thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội. Đó chính là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Mặt khác, Nhà nước chịu sự lãnh đạo và thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Đảng lãnh đạo Nhà nước thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân.

    Kết luận 1: Như vậy chúng ta khẳng định rằng quyết định của ông Đồng không thể không thông qua đảng cộng sản nhất là bộ chính trị của đảng cộng sản Việt Nam.

    2. Ông Hồ Chí Minh có vai trò gì?

    Công hàm của ông Phạm Văn Đồng thủ tướng nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, vì vậy công hàm chỉ có thể được gởi đến Chu Ân Lai sau khi đã được thông qua, được sự đồng ý và chấp thuận của Bộ Chính Trị. Ông Hồ Chí Minh lúc đó là Tổng Bí Thư kiêm Chủ Tịch nhà nước, nghĩa là ông đứng đầu BCT và đứng đầu chính phủ. Vậy không thể có chuyện ông Hồ không biết, không có ý kiến gì. Chính ông Đồng (trong trích dẫn của tôi ở phần trên đã nói: “đó là thời chiến nên phải nói như vậy thôi"). Vậy rõ ràng ông Đồng thừa nhận công hàm đó là có thật, ông phải thông qua ai nó mới được chuyển đi cho phía Trung Cộng? Đó chính là ông Hồ Chí Minh.

    Qua hệ thống chính trị và vai trò chúng ta đã biết ông Hồ Chí Minh trong những năm đó thì không thể có chuyện ông Hồ không biết, không thông qua cho công hàm ông Đồng ký. Nếu giả sử ông Đồng không thông qua quốc hội, không thông qua ông Hồ và bộ chính trị liệu ông Đồng có bị trừng trị hay không? Rõ ràng là ông Đồng sẽ bị trừng trị. Nhưng trên thực tế ông Đồng lại yên vị và khỏe mạnh, không tỳ vết. Như vậy ta có thể kết luận ông Hồ đã đồng thuận với việc ký công hàm này.

    Rõ ràng Phạm Văn Đồng đã không tự mình quyết định. Ông chỉ làm nhiệm vụ thông tin cho phía Trung Cộng biết “Chính phủ VNDCCH tán thành…” cho dù bản thân ông có muốn tán thành hay không. Chính phủ đó do Hồ Chí Minh đứng đầu và đó là một Chính phủ do Đảng lãnh đạo! Về mặt Đảng, ông Hồ cũng là nhân vật chóp bu: Chủ Tịch kiêm Tổng Bí Thư Đảng. Quyền lực của Tổng Bí Thư Đảng cùng với BCT Đảng luôn luôn là quyền tuyệt đối.

    Tôi xin ví dụ một ví dụ nhãn tiền ngay trước mắt. Quốc hội Việt Nam bàn cãi, tha hồ đưa ra nghị quyết này khác. Nhưng khi Đảng bảo rằng Đảng đã quyết, thì chuyện Quốc Hội cãi nhau, rồi đồng thuận, rồi đưa ra Nghị quyết… đều trở thành trò hề. Cụ thể trong vụ Bauxite Tây Nguyên là một trong trăm ngàn ví dụ.

    Ông Hồ là chủ tịch nước, kiêm tổng bí thư. Mọi quyết định nếu không do ông và bộ chính trị chỉ đạo thì một chức vụ hữu danh vô thực (thời điểm đó) của ông Đồng không làm gì được.

    Vậy dù có vai trò chủ đạo hay chỉ là đồng thuận thì ông Hồ cũng có tội đồng lõa với ông Đồng ký một văn bản bán nước, công nhận chủ quyền kẻ thù trên phần đất của chính quê hương.

    Ngoài ra, có một số ý kiến cho rằng thời điểm đó ông Hồ bị ông Lê Duẩn “nhiếp chính” và chèn ép. Họ đổ tội cho ông Lê Duẩn ép ông Hồ làm việc này. Tôi xin trả lời cho các bạn hai vấn đề. Thứ nhất thời điểm đó ông Duẩn chỉ là cán bộ không thực sự có vai trò to lớn trong lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Theo wiki(links: http://vi.wikipedia.org/wiki/Lê_Duẩn):

    Cuối năm 1957, ông ra Hà Nội, vào Ban Bí thư Trung ương Đảng, chủ trì công việc của Ban Bí thư và là Phó Ban chuẩn bị văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng.

    Tháng 9/1960, tại Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, giữ chức Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương.

    Như vậy thì ông Duẩn mãi năm 1960 mới có vai trò chính trị đáng kể, còn 1957 - trước 1960 ông đơn thuần chỉ là cán bộ của ban bí thư chứ chưa phải la Bí thư thứ nhất như sau này. Vai trò chính trị vẫn trong tay ông Hồ. Ông Hồ chỉ thực sự bị cô lập, vai trò ông Duẩn chỉ thực sự rõ rệt sau năm 1960.

    Tiếp theo, con người ông Lê Duẩn lại là con người có tư tưởng chống Trung cộng. Ông Duẩn cũng là một nguyên nhân chính trong cuộc chiến biên giới phía Bắc với Trung cộng. Ông Lê Duẩn chủ trương thân Liên Xô và chống Tàu nên phía Trung cộng đã rất tức giận trước các hành động cứng rắn của ông. Tất nhiên là cuộc chiến này còn nhiều nguyên nhân. Nhưng thực sự ông Lê Duẩn là cái gai trong mắt Trung Cộng, vì thế bảo ông Duẩn ép ông Hồ đồng ý công hàm 1958 là điều vô lý.

    Qua bài này tôi đã chứng minh một sự thật là ông Đồng và ông Hồ đã thông qua công hàm 1958 để bán tổ quốc Việt Nam cho Trung Cộng. Vai trò của ông Hồ là hết sức rõ rệt trong sự kiện này. Chúng ta có thể thấy đảng cộng sản Việt Nam mà đại diện trong sự kiện này là ông Hồ và ông Đồng là những tội đồ của dân tộc.

    Đặng Chí Hùng
    danlambaovn.blogspot.com
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  5. #45
    Join Date
    Feb 2010
    Posts
    8,593
    Thanks
    1
    Thanked 11 Times in 11 Posts

    Default Re: Hội Thảo Trả Lại Sự Thật Lịch Sử Cho Viêt Nam Cộng Hòa.

    Ngày 1975 là ngày đánh dấu sự sụp đổ của bè lũ tay sai bán nước...rước voi về dầy mã tổ.

  6. #46
    Join Date
    Mar 2012
    Posts
    604
    Thanks
    0
    Thanked 4 Times in 3 Posts

    Default Re: Hội Thảo Trả Lại Sự Thật Lịch Sử Cho Viêt Nam Cộng Hòa.

    Quote Originally Posted by vkyeunuoc1 View Post
    Ngày 1975 là ngày đánh dấu sự sụp đổ của bè lũ tay sai bán nước...rước voi về dầy mã tổ.

  7. #47
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    13,048
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Hội Thảo Trả Lại Sự Thật Lịch Sử Cho Viêt Nam Cộng Hòa.

    [QUOTE=vkyeunuoc1;1395301]Ngày 1975 là ngày đánh dấu sự sụp đổ của miền Nam do bè lũ tay sai Vịt Cộng bán nước và CƯỚP Chính Quyền! Chúng rước voi về dầy mã tổ để cuối đầu làm NÔ LỆ cho TÀU CỘNG! Cũng ngày này mà Đảng Cướp Mafia Vịt Cộng "giải phóng" cái kiếp NGHÈO ĐÓI của chúng ở miền Bắc! Lịch Sử đã ghi rõ ràng rùi còn cố tình cãi chầy cãi cối chi cũng vô ích!

    1954 - 1975 by Elvis Phuong
    http://www.youtube.com/watch?v=wTZPlQYD-CY






    Last edited by NASA1517; 11-04-2012 at 11:45 AM.

  8. #48
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    8,759
    Thanks
    13
    Thanked 57 Times in 53 Posts

    Default Re: Hội Thảo Trả Lại Sự Thật Lịch Sử Cho Viêt Nam Cộng Hòa.

    Quote Originally Posted by Kieusa View Post
    Những sự thật không thể chối bỏ (phần 2) - Hồ Chí Minh và vai trò trong công hàm 1958








    Công hàm này ngoài ra thời điểm đó còn được các tờ báo Nhân dân thời điểm đó đưa tin (Báo nhân dân là cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Việt Nam). Đây là hình ảnh của Báo nhân dân đã đưa tin về sự kiện này:




    Công hàm Phạm văn Đồng Việt cộng bán đảo biển chiếm Miền Nam

  9. #49
    Join Date
    Mar 2012
    Posts
    604
    Thanks
    0
    Thanked 4 Times in 3 Posts

    Default Re: Hội Thảo Trả Lại Sự Thật Lịch Sử Cho Viêt Nam Cộng Hòa.

    Công hàm Phạm văn Đồng Việt cộng bán đảo biển chiếm Miền Nam

  10. #50
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    13,048
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Hội Thảo Trả Lại Sự Thật Lịch Sử Cho Viêt Nam Cộng Hòa.

    Quote Originally Posted by cuongusa.2007 View Post

    Tàu KhựaKẻ Thù Truyền Kiếp của Nhân Dân VN! Tàu Khựa Ông Nội của Hồ Tặc! Hồ Tặc là tên Tội đồ Sát Thủ của Nhân Dân VN! Chống Hồ Tặc là Chống Tàu Khựa! Tẩy Chay Tàu Khựa là Tẩy Chay Hồ Tặc thì Nhân Dân VN mới có cơ hội TIẾN LÊN với Xã Hội Tự Do Dân Chủ! Chấm Hết!





    Một thương mướp thúi sau hè.
    Hai thương cái cộng rau muống èo uột ngô nghê.
    Ba thương 'Ổ chuột' vổ về.
    Bốn thương "ngân khố"
    lủn lổ xổ nghề...ma cô
    !

    Việt Piêu,



  11. #51
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Hội Thảo Trả Lại Sự Thật Lịch Sử Cho Viêt Nam Cộng Hòa.

    Ông Cao Xuân Vỹ kể chuyện Cộng sản và Đệ nhất Cộng Hòa ở VN

    Minh Võ

    Ông Cao Xuân Vỹ kể chuyện Cộng sản và Đệ nhất Cộng Hòa ở VN




    Ngày mai, 02.11.2012, tròn 49 năm, ngày Tổng thống Gioan Baotixita Ngô Đình Diệm và cố vấn Giacôbê Ngô Đình Nhu bị giết tại Chợ Lớn, Sài Gòn. Thời đệ nhất Cộng hòa đã qua 49 năm, nhưng rất ít người Việt Nam trong nước nói về giai đoạn này, làm cho giới trẻ VN, nhất là giới trẻ ở Miền Nam không biết chính xác và đầy đủ về giai đoạn này. Đây là trách nhiệm của những người nhận mình là sử gia, là người làm lịch sử.



    Nhân dịp kỷ niệm này, VRNs xin đăng lại cuộc phỏng vấn giữa ký giả Minh Võ và ông Cao Xuân Vỹ đã được công bố trên trang Việt Thức, ngày 14.06.2012, để giúp giới trẻ trong nước có thêm cơ hội tìm hiểu lịch sử nước mình.
    ———–
    Như đã hứa, ông Cao Xuân Vỹ, sau ba lần vào cấp cứu và điều trị tại bệnh viện, đã vui lòng dành cho chúng tôi một cuộc phỏng vấn để cống hiến bạn đọc một số hồi ức và kỷ niệm của ông trong thời gian đi theo Việt Minh kháng chiến rồi về hợp tác với chính phủ Ngô Đình Diệm với tư cách là người phụ tá thân cận của ông Ngô Đình Nhu, bào đệ và là cố vấn chính trị của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

    1. Hỏi: Thưa ông, nghe nói ông cùng quê Nghệ An với ông Hồ Chí Minh?
    Đáp: Phải. Tôi người làng Thịnh Mỹ, phủ Diễn Châu ở về phía biển, còn ông Hồ ở xã Kim Liên huyện Nam Đàn về phía núi.

    2. Hỏi: Ông có thể cho biết gia đình ông có liên hệ gì với gia đình ông Hồ không?
    Đáp: Tôi được biết ông cố tôi là cụ Cao Xuân Dục, thượng thư bộ học thuộc triều đình Huế có giúp đỡ thân phụ ông Hồ là Nguyễn Sinh Sắc về tài chính và khuyến khích, giúp đỡ ông ấy nhiều trong việc học hành để có thể đi thi và đậu phó bảng. Một phần vì ông Nguyễn Sinh Sắc là bạn học với ông nội tôi là Cao Xuân Tiếu. Đây là hình căn nhà ông nội tôi cho ông cử Sắc. (Ông Vỹ đưa xem hình căn nhà.)

    3. Hỏi: Có tài liệu của phía Cộng Sản, như của Sơn Tùng và Nguyễn Đắc Xuân nói, khi thấy ông Nguyễn Sinh Sắc thi hỏng khoa Ất Mùi, (năm 1895), ông Cao Xuân Dục đã giúp cho ông Nguyễn Sinh Sắc được vào Huế, để có phương tiện và đủ sách vở hầu tiếp tục việc học và có thể thành đạt. Điều này có đúng không?
    Đáp: Đúng. Ông cố tôi còn can thiệp để cho ông Nguyễn Sinh Sắc, dù không phải là con quan cũng được vào học ở Quốc Tử Giám. Đến khoa thi năm Tân Sửu (1901) chánh chủ khảo Cao Xuân Dục thấy khóa sinh Sắc không trúng tuyển đã cho lệnh xét lại bài thi của 4 thí sinh để rồi xin vua Thành Thái cho ông ta đậu phó bảng. Khóa ấy có 9 tiến sĩ, 13 phó bảng. Ông Sắc đậu phó bảng thứ 11.

    4. Hỏi: Hồi còn nhỏ ông có biết về hoạt động của Cộng sản ở quê nhà và có chứng kiến các cuộc nổi dậy của Cộng Sản thường được gọi là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh không?
    Đáp: Có. Phong trào này mạnh nhất ở hai huyện Nam Đàn và Thanh Chương. Nhiều người bị chết oan. Cộng Sản đã giết hai tri phủ. Vì thế phản ứng của chính quyền bảo hộ cũng rất quyết liệt. Pháp đem bom thả cũng giết nhiều người, trong số ấy có cả Cộng Sản lẫn thường dân. Cha tôi có kể lại rằng để đối phó với phong trào này, ông Nguyễn Hữu Bài, thượng thư bộ Lại của Triều Đình Huế, (tương đương với chức thủ tướng thời nay), đã cho áp dụng một kế hoạch chiêu dụ Cộng Sản khá thành công. Lúc ấy ông cố tôi cùng ở trong nội các Nguyễn Hữu Bài.

    5. Hỏi: Khi Việt Minh cướp chính quyền ông ở đâu? và có ủng hộ họ không?
    Đáp: Lúc ấy tôi đang học ở Hà Nội. Tôi nhớ là mấy tháng trước khi Việt Minh cướp chính quyền, thanh niên sinh viên Hà Nội chúng tôi rất hăng hái ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, vì là chính phủ của Việt Nam độc lập đầu tiên, dù phải nhờ có người Nhật lật đổ người Pháp. Nhưng chúng tôi rất phấn khởi và đã ủng hộ hết mình. Tiếc rằng bỗng nhiên chính phủ này từ chức ngày 7 tháng 8 (1945). Thật khó hiểu. Tuy từ chức nhưng chính phủ Trần Trọng Kim vẫn xử lý theo lệnh nhà vua. Khi mà Việt Minh tới trám vào chỗ trống chính trị này thì chúng tôi đã đi theo Việt Minh. Chúng tôi không biết Việt Minh là Cộng Sản. Thực ra lúc ấy chả mấy người biết Việt Minh là Cộng Sản.

    6. Hỏi: Ông có gặp ông Hồ bao giờ không?
    Đáp: Có. Hồi ấy tôi ở trong phong trào thanh niên sinh viên tranh đấu. Chúng tôi được hai ông Hoàng Minh Giám và Phan Mỹ giới thiệu để gặp ông Hồ ở Bắc Bộ Phủ. Lúc ấy ông ấy có cái vẻ bề ngoài rất ân cần và dễ mến. Về sau tôi mới hiểu tại sao ông ấy đã chiêu dụ được nhiều người đi theo ủng hộ Việt Minh. Cho đến giờ này tôi vẫn nghĩ ông ta thật là thông minh và xảo quyệt. Lại được tay Võ Nguyên Giáp cũng rất thông minh trợ tá đắc lực. Tôi học với Võ Nguyễn Giáp 4 năm, Tôi biết ông ta rất rõ. Ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường đã tỏ ra sắc sảo và quả đoán… Rất “độc tài”. Nhưng dầu sao Võ Nguyên Giáp không thể sánh được với Ngô Đình Nhu. Còn Phạm Văn Đồng thì không đáng là học trò Ngô Đình Nhu.

    7. Hỏi: Rồi tại sao ông lại bỏ Việt Minh?
    Đáp: Vì chúng tôi kết án ông Hồ đã ký thỏa ước mồng 6 tháng 3, nhượng bộ Pháp quá nhiều. Hơn nữa họ đã hãm hại nhiều người yêu nước bất đồng chính kiến. Chúng tôi chạy sang phía Việt Cách của các ông Nguyễn Hải Thần và Nghiêm Kế Tổ…

    8. Hỏi: Khi nào thì các ông rời Hà Nội?
    Đáp: Liền khi cuộc chiến giữa Việt Minh và Pháp bùng nổ ngày 19-12-46. Lúc ấy ông Hồ và đại bộ phận Việt Minh chạy lên Việt Bắc kháng chiến. Thì chúng tôi gồm 36 nhà trí thức và thanh niên sinh viên tranh đấu chạy vào khu Tư, gồm Thanh Nghê Tĩnh, để cùng với một số Việt Minh ôn hòa lập một phòng tuyến mới phi Cộng Sản chống thực dân và giúp dân mở mang về kinh tế và văn hóa. Có thể nói Liên Khu Tư lúc ấy như là một khu tự trị.

    9. Hỏi: Ông có thể cho biết tên một số trong 36 nhà trí thức mà ông bảo đã rời Hà Nội vào Liên Khu Tư sau kháng chiến bùng nổ không?
    Đáp: Tôi còn nhớ chẳng hạn có Luật Sư Trần Chánh Thành, các ông Trần Hữu Dương, Hồ Đắc Điềm, Phạm Thành Vinh, sau này trở thành rể của ông Hồ Đắc Điềm, ông Nguyễn Duy Quang, người của ông Bảo Đại, ông Phan Huy Xương, anh của bác sĩ Phan Huy Đán tức Phan Quang Đán, ông Tôn Thất Trạch v.v… Các ông này về sau đã hợp tác với thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ông Trần Chánh Thành từng là bộ trưởng phủ thủ tướng, với ông Tôn Thất Trạch là đổng lý văn phòng. Ngoài ra, về phía thường dân tôi nhớ còn có bà Hòa Tường là một thương gia giầu có ở phố Hàng Đào cũng đi theo. Tôi xin nói thêm ông biết điều này, là những vị này và tôi hồi đầu theo Việt Minh. Nhưng tất cả đều không phải Cộng Sản. Và ngay từ 1930 thì đã có hai phe cùng chống Pháp một bên là Đảng Cộng Sản, lúc ấy chưa có Việt Minh. Một bên là các nhân vật và tổ chức quốc gia phi Cộng Sản trong đó ngoài những người như ông Ngô Đình Diệm đã bắt đầu hoạt động từ đó, còn có các chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng, mà đảng trưởng là Nguyễn Thái Học và 13 đồng chí đã bị Pháp xử bắn.

    10. Hỏi: Khi nào ông rời Liên Khu Tư vào Sài Gòn và gặp ông Ngô Đình Nhu?
    Đáp: Chúng tôi rời Liên Khu Tư ra Hà Nội. Chứ chưa vào Sài Gòn. Lúc ấy là vào khoảng đầu năm 1953. Ông Hồ Chí Minh theo lệnh Stalin và Mao Trạch Đông khởi sự chuẩn bị mở chiến dịch giảm tô và cải cách ruộng đất. Có người thân trong Việt Minh cho chúng tôi biết. Nên tìm đường chạy trước. Về sau trong họ tôi có nhiều người có chút tư điền bị đem ra đấu tố. Chị ruột tôi cũng bị giết. Tôi “dinh Tề” qua ngả Phúc Nhạc, Phát Diệm là khu an toàn tự trị dưới quyền trông coi của Đức giám mục Lê Hữu Từ. Khó khăn lắm mới tới được Hà Nội. Hà Nội lúc ấy đang sống an bình dưới chính quyền Bảo Đại. Tôi đi thoát được là nhờ có người chú họ ở trong tổ chức Việt Minh cấp cho một giấy thông hành. Ở Hà Nội tôi gặp lại các ông Đặng Văn Sung, Phan Huy Quát từng hoạt động chung với chúng tôi thời 1945.

    Trong thời gian còn ở Liên Khu Tư chúng tôi nghe biết cán bộ Cộng Sản trong tổ chức Việt Minh chịu ảnh hưởng rất lớn bởi cán bộ Trung Cộng. Sau khi Mao Trạch Đông chiếm trọn lục địa vào cuối năm 1949, ông ta đã bắt Hồ Chí Minh gửi một số lớn cán bộ Việt Cộng sang Tầu để tẩy não, cải tạo tư tưởng, bắt học tập chủ nghĩa Mao-ít. Vì cái chủ nghĩa này mà các chiến dịch giảm tô và cải cách ruộng đất đã đẫm máu với những vụ con tố cha, vợ tố chồng và nông dân tàn sát lẫn nhau thật rùng rợn. Làng tôi có ông hàn Lương biết mình sắp bị đưa ra đấu tố đã nhảy xuống giếng tự tử, vậy mà đội cải cách đã lôi xác ông lên để đấu cái thây ma. Chúng đánh nát bấy cái thây ấy. Tôi mong có người thâu thập những tin tức khắp nước về cuộc Cải Cách Ruộng Đất thời gian đó để cho mọi người biết Cộng Sản dã man chừng nào.

    11. Hỏi: Khi nào thì ông gặp ông Ngô Đình Nhu?
    Đáp: Cuối năm 1953. Tôi vào Sài Gòn thì gặp lại ông Trần Chánh Thành. Ông Thành giới thiệu tôi với ông Nhu. Ông Thành vào Sài Gòn năm 1952 cùng một lượt với phần lớn trong số 36 nhà trí thức đã vào Liên Khu Tư để kháng chiến chống Pháp nhưng bất hợp tác với Việt Minh. Lúc gặp lại tôi thì ông Thành đang làm cho tờ báo Xã Hội của ông Nhu, đồng thời tập sự luật sư với Luật Sư Trương Đình Du…

    12. Hỏi: Theo chỗ chúng tôi biết thì ông Ngô Đình Nhu từng có 5 nhiệm vụ quan trọng: một là dân biểu Quốc Hội, hai là Cố Vấn Chính Trị của Tổng Thống, ba là thủ lãnh Thanh Niên Cộng Hòa, bốn là Tổng Bí Thư đảng Cần Lao Nhân Vị, và sau hết vào năm cuối cùng ông còn là chủ tịch ủy ban liên bộ về Ấp Chiến Lược. Vậy ông ấy có một lực lượng nhân sự nào đáng kể để giúp thi hành chừng ấy nhiệm vụ không? Ví dụ ông ấy có mấy văn phòng? Có bao nhiêu nhân viên được ăn lương?
    Đáp: Ông ấy chỉ có một mình thiếu tá Phạm Thu Đường làm chánh văn phòng, thường được gọi là chánh văn phòng ông Cố Vấn. Và dưới quyền thiếu tá
    Đường chỉ có 5 nhân viên, hầu hết tự túc. Không có ngân khoản nào dành cho ông Cố Vấn. Và phải nói thực khó hiểu là chính chức Cố Vấn này cũng chẳng được một văn kiện nào bổ nhiệm hay quy định nhiệm vụ. Thực tế ông Nhu chỉ giúp việc cho riêng ông Diệm với tư cách là phụ tá cho Tổng Thống. Người ta thấy việc ông làm thì gọi ông là Cố Vấn vậy thôi. Vì thế ông không có quyền hạn và nhiệm vụ gì chính thức.
    Còn về thủ lãnh Thanh Niên Cộng Hòa, thì ông chỉ thị cho chúng tôi, phải tự túc. Mọi đoàn viên đều tự nguyện và tự túc theo tinh thần cách mạng. Cho nên cũng chẳng có quyền lợi gì.
    Về văn phòng dân biểu, ông cũng không có. Thực ra ông ấy rất ít đi họp Quốc Hội. Chỉ khi nào có vấn đề chính sách quan trọng như Ấp Chiến Lược chẳng hạn, hay vấn đề “Giáo Dục nhân bản”, vấn đề “kinh tế tư hữu cơ bản” v.v.. thì ông mới tới trình bày mà thôi. Cho nên mọi thứ một mình ông cáng đáng. Tôi thật phục sức làm việc của ông Nhu.

    13. Hỏi: Thế còn chức chủ tịch ủy ban liên bộ về Ấp Chiến Lược thì sao? Có văn thư nào quy định không?
    Đáp: Chức này thì có. Nhưng cũng chỉ là một thông tư của phủ Tổng Thống gửi đến các bộ, để việc ông chủ tọa các phiên họp Ủy Ban Liên Bộ được danh chính ngôn thuận. Ông Nhu quan niệm chương trình Ấp Chiến Lược là một cuộc cách mạng xã hội và chính trị, chứ không phải chỉ là một chiến lược để đối phó với sự xâm nhập và khủng bố của Cộng Sản mà thôi. Ông thúc đẩy các tỉnh trưởng khai hóa người dân quê theo tinh thần tam túc, nghĩa là tự túc về tư tưởng, tự túc về tổ chức và tự túc về kỹ thuật, để có thể làm chủ cuộc đời mình, làm chủ được xã hội, không bị lệ thuộc vào bên ngoài, vào ngoại bang.
    Ông để rất nhiều thì giờ đích thân soạn những bài thuyết trình có tính lý luận cao dành cho các cấp lãnh đạo chính phủ và cán bộ cao cấp, chỉ cho họ cách thức đưa những tư tưởng cao vào đầu óc thường dân qua những hình ảnh và ngôn ngữ bình dân dễ hiểu. Mục đích của ông là tiến dần tới một xã hội có tổ chức cao, có đầy đủ các phương tiện truyền thông, giao tế, kinh tế, văn hóa cao trong đó mỗi con người, “mỗi nhân vị”, đều được quan tâm đồng đều, chứ không biến con người thành những “cái đinh, con ốc” trong một guồng máy xã hội theo kiểu Cộng Sản. Ông tin tưởng rằng phương pháp đó về lâu về dài sẽ làm cho CS phải đầu hàng. Chứ không phải chỉ dựa vào những hàng rào giây kẽm gai. Dĩ nhiên ban đầu thì việc rào ấp là cần thiết để giữ cho Ấp Chiến Lược được an toàn trước sự phá hoại và tấn công của du kích CS. Quốc sách Ấp Chiến Lược mà thành công thì Cộng Sản sẽ thành cá bị tát ra khỏi ao, nằm trên đất.

    14. Hỏi: Về đảng Cần Lao Nhân Vị, nó thành hình ra sao, và ai là những đồng chí cốt cán nhất của ông Nhu?
    Đáp: Hai người cùng với ông Nhu sáng lập ra đảng Cần Lao Nhân Vị là các ông Trần Quốc Bửu và Huỳnh Hữu Nghĩa. Nhưng ban đầu các ông không gọi tên đảng là Cần Lao mà gọi là đảng Công Nông. Nhưng vì không muốn gợi ý về cái liên minh công nông của Cộng Sản, nên về sau các ông đổi ra là Cần Lao. Còn vế Nhân Vị thì sau nữa mới thêm vào theo đề nghị của ông Nhu. Ông Bửu, chủ tịch Liên Đoàn Lao Công có kinh nghiệm về đấu tranh nghiệp đoàn, đã quen ông Nhu khi còn ở bên Pháp. Và ông Huỳnh Hữu Nghĩa một tín đồ Cao Đài, là cố vấn chính trị của tướng Trình Minh Thế. Ông Nghĩa đã giúp ông Nhu chinh phục được tướng Thế, chứ không phải như có người Mỹ cho rằng ông Nhu có được ông Thế là nhờ đại tá Edward Lansdale. Ông Lansdale có can thiệp để quân của tướng Thế được hợp thức hóa và trả lương như Quân Đội Quốc Gia thì đúng. Người nào bảo Lansdale dùng tiền mua Tướng Thế là cố tình xuyên tạc để hạ uy tín của một vị tướng kiên cường anh dũng, thanh liêm mà anh em ông Diệm rất quý trọng. Khi nghe tin tướng Thế tử trận Tổng Thống Diệm đã ngất xỉu. Điều này tướng Lansdale có ghi trong hồi ký.
    Văn phòng Tổng Bí Thư đảng Cần Lao cũng do một mình Thiếu Tá Phạm Thu Đường quán xuyến, kiêm nhiệm.

    15. Hỏi: Ông Ngô Đình Diệm có giữ vai trò gì trong đảng Cần Lao không?
    Đáp: Không. Ông ấy hoàn toàn ở ngoài và trên đảng Cần Lao. Với ông Diệm chỉ có Tổ Quốc và Quốc Dân. Tôi còn nhớ khoảng năm 1956, Tổng Thống gọi tôi vào bảo tôi lên cao nguyên đèo heo hút gió để quan sát nghiên cứu tìm ra những địa điểm thích hợp để lập các khu dinh điền, hòng đưa người kinh lên trấn giữ địa điểm mà ông bảo là vô cùng quan trọng về mặt chiến lược. Tôi thấy mình đi thì ông Nhu thiếu một trợ lý. Lại cũng hơi ngán cảnh cô đơn ở nơi xa lạ. Tôi bèn thưa với Tổng Thống: Công tác đoàn thể của ông Cố Vấn đang thiếu người. Tổng Thống nói: Đoàn thể gì. Dẹp. Tuy nhiên rồi ông cũng đấu dịu. Cứ đi đi. Thỉnh thoảng tôi sẽ lên với anh… Cũng cần thêm rằng ông Diệm rất quan tâm đến vùng cao nguyên. Ông thường nói: giữ được cao nguyên thì giữ được miền Nam. Và ông tìm cách đưa nhiều cán bộ và những người dân có kinh nghiệm với Cộng Sản lên đó lập nghiệp.

    16. Hỏi: Ông nghĩ gì về việc chính phủ Ngô Đình Diệm tổ chức trưng cầu dân ý truất phế ông Bảo Đại?
    Đáp: Nhiều người chê ông Diệm, là nhà Nho mà bất trung, không giữ lời thề trung thành với cựu hoàng. Nhưng tôi thấy không đúng. Trước hết chính cựu hoàng bảo ông Diệm chỉ thề trước Thánh Giá trung thành với Tổ Quốc. Thứ nữa, khi cựu hoàng triệu ông sang Pháp, ông Diệm đã sẵn sàng lên đường, dù biết sang đó sẽ mất chức thủ tướng.
    Nhưng chính nhóm liên khu Tư chúng tôi đã thuyết phục ông, gần như làm áp lực với ông, để ông bỏ ý định sang Cannes . Chúng tôi xúm vào yêu cầu ông ở lại lấy cớ tình hình không cho phép vắng mặt. Chúng tôi phải nói với thủ tướng rằng nếu Cụ bỏ chúng tôi lại mà đi một mình thì sinh mệnh chúng tôi ai sẽ lo? Chúng tôi đã bỏ tất cả vào đây là vì cụ, vì tin cụ sẽ bảo vệ phần đất tự do còn lại này, bảo vệ chúng tôi. Nay cụ nỡ lòng nào bỏ chúng tôi, bỏ đất nước này cho Thực dân, Cộng Sản? Rồi nhiều đoàn thể họp nhau lại đặt ông Diệm trước sự việc đã rồi là tự ý hạ bệ ông Bảo Đại. Cuộc trưng cầu dân ý của chính phủ Ngô Đình Diệm tổ chức sau đó chỉ là để hợp pháp hóa hành động của chúng tôi.

    17. Hỏi: Có sử gia Mỹ bảo ngày 22 tháng 8 năm 1963, Thanh Niên Cộng Hòa đã tấn công chùa Xá Lợi cùng với Cảnh Sát và Lực Lượng Đặc Biệt. Điều này có đúng không?
    Đáp: Hoàn toàn bịa đặt. Tổ chức này không phải để dùng vào những việc như vậy. Nó là tổ chức phi vũ trang mà.

    18. Hỏi: Sử gia Mark Mayor viết trong tác phẩm Triumph Forsaken rằng gần ngày đảo chính, tỉnh trưởng Định Tường báo cáo với ông Nhu rằng đại tá Có là phụ tá của tướng Đính rủ ông ta làm đảo chính. Ông Nhu hỏi lại tướng Đính, thì tướng Đính xin đi chém đầu Có. Ông có biết vụ này không?
    Đáp: Không cần tỉnh trưởng Định Tường báo cáo thì ông Nhu đã biết rồi. Nhưng ông muốn cứ để vậy để theo dõi.

    19. Hỏi: Khi ông cùng ông Nhu đi gặp Phạm Hùng ở Bình Tuy, ông Nhu có cho ông biết hai người họ bàn chuyện gì không?
    Đáp: Lúc ấy thì không. Chỉ biết chúng tôi cùng đến Quận Tánh Linh ở đây có một vùng do Cộng quân kiểm soát. Ban đầu cứ tưởng đi săn cọp như mọi khi. Nhưng đến nơi ông Nhu bảo chúng tôi ở ngoài, còn ông đi về phía trước độ vài trăm mét. Có Phạm Hùng chờ ở đó. Sau này về nhà tôi cũng không tiện hỏi ông Nhu. Nhưng qua những gì ông tự ý nói ra vào một lúc nào đó thì, nội dung câu chuyện trên một tiếng đồng hồ, gồm nhiều điều cho đến nay vẫn chưa được tiết lộ. Có một điều mà phía họ rất quan ngại, nếu không bảo là sợ, rất sợ chương trình Ấp Chiến Lược. Họ yêu cầu cho biết ai là người chủ trương và mục đích để làm gì? Ông Nhu trả lời: đó chỉ là một chủ trương của chính phủ nhằm bảo vệ sinh mạng và tài sản của người dân, ngăn ngừa sự xâm nhập, phá phách của du kích các ông… Các ông bảo cán bộ đừng tìm cách đánh phá làng xã, thì chúng tôi sẽ bỏ luật 10/59. Cán bộ các ông có thể về sống với dân lành tại các ấp…

    Về các điều kiện để hiệp thương thì nhiều lần Tổng Thống Diệm đã nói, phải có 6 giai đoạn:
    - Bắt đầu bằng việc cho dân hai miền trao đổi thư tín tự do.
    - Rồi cho dân qua lại tự do
    - Thứ 3 là cho dân hai bên được tự do chọn đinh cư sang bên kia nếu muốn
    - Thứ 4 mới đến giai đoạn trao đổi kinh tế. Ví dụ miền Nam đổi gạo lấy than đá của miền Bắc chẳng hạn.
    - Qua được các giai đoạn đó rồi mới tiến tới hiệp thương.
    - Và sau cùng là tổng tuyển cử.

    http://www.chuacuuthe.com/images/Untitled37.jpg

    Có lần ông Nhu tính với chúng tôi: Ông dự đoán rằng, nếu cho dân tự do chọn nơi định cư, thì căn cứ theo tình trạng về tự do dân chủ tồi tệ và kinh tế kiệt quệ của miền Bắc lúc ấy, sẽ có khoảng 3 triệu người dân sẽ dần dần vào định cư ở miền Nam. Vì vậy “mình” phải chuẩn bị đất cho dân. Ông cũng tính rằng hiện dân số miền Bắc có tới 23 triệu, trong khi dân số miền Nam chỉ có 17 triệu. Nếu có được 3 triệu dân Bắc vào định cư ở miền Nam thì dân số 2 bên sẽ cân bằng. Bầu cử tự do, với sự giám sát của Quốc Tế thì chắc mình sẽ thắng.

    20. Hỏi: Lần ông tháp tùng ông Nhu đi dự lễ đăng quang của quốc vương Ma-rốc năm 1962, ông có cho biết là sau đó các ông đến Paris gặp ông Pinay, đại diện Tổng Thống Charles De Gaulle, bàn chuyện hiệp thương với ông Hồ. Lúc ấy có mặt giáo sư Bửu Hội không?
    Đáp: Dĩ nhiên là có. Vì Giáo sư Bửu Hội là đại sứ của VNCH ở Ma-rốc, và là bạn học với ông Nhu ở bên Pháp. Ông Bửu Hội lại từng là cố vấn cho Hồ Chí Minh. Nên trong việc này, có thể nói vai trò của ông Bửu Hội cũng quan trọng không kém ông Nhu. Ông Nhu và chúng tôi ở khách sạn Grillon cả tháng. Cuộc tiếp xúc xảy ra nhiều lần mà hầu như lần nào cũng có sự hiện diện của giáo sư Bửu Hội. Ông Nhu cho biết lúc ấy ông Hồ Chí Minh đã nhờ ông Jean Sainteny xin Tổng Thống De Gaulle giúp. Ông Hồ biết là ông De Gaulle đang có chủ trương trung lập Đông Dương, lại hận Mỹ đã “hất cẳng” Pháp. Ông Hồ nhờ Sainteny xin Tổng Thống De Gaulle can thiệp để tiếp xúc với Sài Gòn. Tổng Thống Pháp rất sốt sắng trong việc này. Sau chuyến đi này ít tháng thì xảy ra vụ ông Nhu “đi săn cọp” ở Tánh Linh.

    21. Hỏi: Gần ngày đảo chính đại sứ Cabot Lodge có điện đàm với Tổng Thống Diệm. Lúc đó ông có ở bên cạnh Tổng Thống không?
    Đáp: Không.

    22. Hỏi: Trong cuốn Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cựu đại tá Nguyễn Hữu Duệ viết rằng ông ta xin phép Tổng Thống đem xe tăng thiết giáp lên bộ tổng Tham Mưu để bắt các tướng và dẹp đảo chính. Nhưng Tổng Thống không cho. Ông có biết chuyện này không?
    Đáp: Lúc ấy tôi đang ở bên Tổng Thống Diệm và ông Nhu tại dinh Gia Long. Chính tôi nghe điện thoại của ông Duệ và trình lên Tổng Thống.
    Tổng Thống la tôi: Các anh muốn gì? Ở với tôi bấy lâu mà không hiểu ý tôi sao? Dân Nghệ An các anh chỉ thích làm loạn. Đem quân đội chống quân đội là cách bảo vệ tổ quốc hả?
    Tôi thưa: Nhưng người ta đánh mình thì mình phải đánh lại chứ Tổng Thống. Chẳng lẽ để phải chết sao?
    Ông quát lên: Chết thì đã sao.
    Đúng, đối với ông chết thì đã sao. Nhưng đối với chúng ta thì cái chết của ông là cái chết dần của miền Nam. Ông còn nói quân đội là để bảo vệ tổ quốc chứ không phải để bảo vệ cá nhân Tổng Thống.
    Ông bảo tôi liên lạc với ông Trương Vĩnh Lễ, chủ tịch Quốc Hội yêu cầu cho triệu tập Quốc Hội để ông ra từ chức trước Quốc Hội, hòng tránh cảnh đổ máu. Nhưng tôi gọi ông Lễ 4 lần không được. Lúc ấy không phải chỉ có Lữ Đoàn xin lên tấn công tổng hành dinh của nhóm đảo chính. Mà còn có cả một đại đội biệt kích thuộc Lực Lượng Đặc Biệt đi hành quân ở Tây Ninh vừa về đến Sài Gòn cũng báo cáo là lực lượng phòng vệ của các tướng đảo chính ở Tổng Tham Mưu rất yếu, đại đội biệt kích xin phối hợp với 2 tiểu đoàn của Lữ Đoàn Phòng Vệ phủ Tổng Thống để đột kích vào bắt hết các tướng đảo chính. Tướng Nguyễn Văn Phú, lúc ấy còn là Thiếu Tá đã tiếp xúc với tôi về việc này. Nhưng như vừa nói. Tổng Thống không chấp thuận.
    Viên đại úy đại đội trưởng Biệt Kích đề nghị cho lực lượng của Lữ Đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống có xe bọc thép dẫn đầu tiến tới bao vây bộ Tổng Tham Mưu, còn đại đội của anh ta sẽ đột kích bọc hậu từ phía sân vận động vào bắt sống các tướng. Tôi rất buồn bực và lấy làm khó hiểu tại sao ông cụ lại không cho đánh. Ông Nhu ngồi cạnh đó cũng chẳng nói gì.

    23. Hỏi: Theo ông trong số các tướng lãnh lúc ấy ai có khả năng nhất?
    Đáp: Tôi hầu như không tiếp xúc với các tướng. Ngay cả Phó Tổng Thống cũng vậy. Hầu như chẳng bao giờ gặp. Nhưng tôi có nghe ông Nhu nói ông Nguyễn Văn Thiệu, lúc ấy mang lon đại tá, là một tư lệnh (sư đoàn 5) giỏi nhất. Ông Nhu có nhận xét đó sau khi nghe ông Thiệu thuyết trình ở hội trường Suối Lồ Ồ.
    Còn các tướng thì rất sợ Tổng Thống Diệm mỗi khi phải thuyết trình cho ông về tình hình an ninh. Bởi vì ông nắm vững tình hình và nhất là địa hình địa vật… địa lý của từng vùng. Kiến thức về quân sự của ông cũng rất uyên bác. Tôi được biết, khi mới về nước làm thủ tướng, ông đã yêu cầu tổng lãnh sự ở Hồng Kông mua cho ông tất cả tác phẩm của Mao Trạch Đông, Chu Đức, Lâm Bưu, Bành Đức Hoài để đọc và bắt ông Nhu phân tích nghiên cứu trình lên.

    24. Hỏi: Nghe nói ông bà Nhu có một biệt thự đẹp lắm ở Đà Lạt. Ông có tới đó bao giờ không?
    Đáp: Ông nói đến cái biệt thự này, tôi lại nhớ tới cái ông luật sư Trương Phú Thứ ở Seattle. Ông ấy muốn tìm cách phỏng vấn bà Ngô Đình Nhu mà không sao được. Chẳng rõ tại sao ông ta biết nhà tôi, tìm đến xin tôi giới thiệu với bà Nhu. Tôi biết đã từ lâu bà ấy ẩn dật không muốn báo chí nhắc tới. Nhưng tôi biết bà ấy hãy còn quyến luyến ngôi nhà hai phòng ngủ của một người Pháp, bỏ hoang đã lâu mà anh em chúng tôi hùn tiền mua cho ông bà ấy vào khoảng năm 1960, mà không đủ tiền sửa chữa, cho nên đến khi ông Nhu bị sát hại và bà Nhu sống lưu vong, cũng mới chỉ sửa được phân nửa.
    Tôi bảo ông Thứ hãy về Việt Nam, lên Đà Lạt chụp ảnh ngôi nhà ấy rồi mang theo sang Pháp, tìm cách đưa tấm hình đó tận tay bà Nhu thì may ra bà ấy cho gặp. Thì quả thật chắc ông đã biết, ông Thứ đã viết một bài cho tờ Văn Nghệ Tiền Phong nói về bà Nhu ở tuổi gần bát tuần sống như một nhà tu ở Paris. Tôi mong ông Thứ có dịp phổ biến tấm hình này để độc giả thấy cái “ngôi biệt thự xinh đẹp” của ông bà Nhu.

    25. Hỏi: Thống tướng Maxwell Taylor, Đại sứ Frederick Nolting và nữ ký giả Marguerite Higgins đều nói được Tổng Thống Diệm tiếp hơn kém khoảng 5 giờ đồng hồ. Ông có biết điều đó và có ý kiến gì không?
    Đáp: Lúc ấy nhiều người nói tổng thống tiếp khách lâu quá. Tôi có trình ông, bảo người ta phê bình tổng thống độc thoại!
    Ông cười. Ông bảo: Người Mỹ họ ít hiểu về dân tôc mình về lịch sử của nước mình. Mình phải lợi dụng lúc họ chịu nghe để nói cho họ hiểu chứ. Mấy người này đều chăm chú nghe tôi và đặt nhiều câu hỏi. Tôi phải trả lời cho họ chứ.

    26. Hỏi: Gần ngày đảo chính Tổng Thống có mời ông bà Đại Sứ Mỹ lên Đà Lạt nghỉ tại biệt điện của Tổng Thống và dự dạ tiệc thân mật. Ông có biết họ thảo luận về việc gì không?
    Đáp: Tôi có biết và nhớ là Tổng Thống đề nghị chính phủ Mỹ thông cảm những khó khăn của miền Nam và đừng ép ông phải cải cách gấp rút. Ông cũng hứa sẽ xem xét những đề nghị của chính phủ Mỹ một cách nghiêm chỉnh. Nhưng cần phải có thời gian. Phía ông Lodge thì nằng nặc đòi Tổng Thống phải đưa ngay ông Nhu ra ngoại quốc. Nhưng dĩ nhiên không bao giờ Tổng Thống nhượng bộ điều này được.

    27. Hỏi: Xin ông tha lỗi, ông là Phật tử chứ ạ? Và trong vụ Phật Giáo có ai nhờ ông làm trung gian để thương lượng giàn xếp giữa chính quyền và bên Phật Giáo đấu tranh không?
    Đáp: Phải, tôi là Phật tử đã quy y… – Ông vào phòng lấy ra một cuộn giấy mở cho tôi thấy tờ PHÁI QUY Y rồi nói tiếp – Tôi quy y với thầy Thích Minh Châu. Khi vụ Phật Giáo xảy ra tôi có ra Huế gặp thầy Thích Trí Thủ để nhờ thầy can thiệp với Thượng Tọa Thích Trí Quang… nhưng Hòa Thượng Trí Thủ nói bây giờ các thầy trẻ học thức nhiều, họ có đường lối riêng, các sư già chúng tôi nói họ không nghe. Nên không kết quả. Nhiều người khác cũng can thiệp nhiều ngả khác, cũng không hơn gì. Hồi ấy còn cả một ủy ban của chính phủ gồm nhiều Phật tử đứng đầu là phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ cố gắng dàn xếp. Nhưng bên Phật Giáo tranh đấu chỉ muốn lật đổ chính phủ thôi. Nên họ cố đưa ra những yêu sách không cách nào làm được. Tôi rất ân hận là không giúp gì được với tư cách là một Phật tử.

    28. Hỏi: Theo ông thì ai cố ý giết hai ông?
    Đáp: Theo tôi thì người ra lệnh trực tiếp là tướng Dương Văn Minh. Còn ông Minh có nhận lệnh ở trên nào không thì không biết. Sở dĩ tôi dám quả quyết ông Minh, là vì chính ông Minh sai cận vệ của ông ta là đại úy Nguyễn Văn Nhung cùng đi với tướng Mai Hữu Xuân, để “thi hành nhiệm vụ”(!). Và Nhung đã leo lên xe bọc thép trong đó có hai anh em Tổng Thống. Nhung là một tay giết người không gớm tay, y còn khắc dấu vào cán dao găm mỗi lần giết được một người. Ngay tối mồng hai y còn khoe “con dao lịch sử” của y với con của tướng Đôn cơ mà. Đó là theo chính lời của tướng Đôn thuật lại trong Việt Nam Nhân Chứng. Còn tướng Xuân thì khi “đi đón ông cụ” về và ông cụ đã chết rồi, đã tới trước Dương Văn Minh giơ tay làm dấu, miệng nói: “Mission accomplie” (Nhiệm vụ hoàn thành). Cứ theo những lời trên của tướng Đôn, thì không nghi ngờ gì người chủ trương và ra lệnh giết hai ông là tướng Big Minh.

    29. Hỏi: Thời gian quấy rầy ông đã quá dài. Nhất là trong lúc ông còn bịnh nhiều. Xin cám ơn ông đã mất công trả lời những câu hỏi của chúng tôi. Và nếu có thể được xin ông cho một cảm tưởng chung về Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu.
    Đáp: Tôi cũng xin cám ơn ông đã tốn công đi từ xa đến để cho tôi được có dịp nói lên vài điều trong số những gì mình còn nhớ được về thời gian dài phục vụ Đất Nước bên cạnh hai nhân vật lịch sử mà tôi hằng kính mến. Cứ mỗi lần nhớ đến hai cụ, tôi đều ngậm ngùi xót xa. Nhất là đối với cụ Diệm. Ông quá ngay thẳng, quá quân tử, quá rộng lượng, lúc nào cũng nghĩ tới làm cho dân được ấm no hơn. Vậy mà người ta nỡ hãm hại ông. Không phải chỉ có những ngày giỗ hai ông tôi mới khóc.
    ——-
    Cụ Vỹ dằn cơn xúc động bắt tay tôi khi tôi từ biệt ra về…

    Minh Võ

    http://bacaytruc.com/

    Lannguyen xin cảm ơn http://bacaytruc.com/thật nhiều.
    Lannguyen

  12. #52
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Hội Thảo Trả Lại Sự Thật Lịch Sử Cho Viêt Nam Cộng Hòa.

    Sự hình thanh nền Cộng Hoà và chế độ VNCH tại Việt Nam

    Friday, 26 October 2012 06:36 Written by Thiện Ý



    • Thấm thoát mà đã 56 năm(1956-2012), nền cộng hoà được thiết lập tại Việt Nam với bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà ban hành ngày 26-10-1956 tại Miền Nam Việt Nam, đối kháng với chế độ độc tài toàn trị cộng sản Bắc Việt mang bảng hiệu giả mạo “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà”, bảng hiệu mà Hồ Chí Minh đã dựng lên sau cái gọi là Cách Mạng Tháng 8 năm 1945 cướp được chính quyền bằng xảo thuật.

    • Giả mạo về một nền dân chủ cộng hoà, vì trước sau đều chỉ nhằm mục đích lừa bịp công luận thế giới để tìm hậu thuẫn quốc tế, ru ngủ nhân dân, trong khi thực chất cũng như thực tế vẫn là độc tài cộng sản phản dân chủ.

    • Và vì vậy, có thể nói nền cộng hoà thực sự đã chỉ được thiết lập và thực hiện tại Việt Nam kể khi Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà được ban hành ngày 26-10-1956. Vì nền cộng hoà ấy đã là nền tảng cho một chế độ chính trị chủ quyền thuộc về toàn dân, một chế độ dân chủ cả hình thức lẫn nội dung, dù phôi thai còn nhiều khuyết tật, song đã phản ánh đúng ý nghĩa của từ ngữ Cộng Hòa và ý nguyện của toàn dân Việt Nam.

    Hôm nay, nhân ngày 26-10- 2010, nghĩ về Hiến pháp Việt Nam Cộng Hoà ban hành ngày 26-10-1956, chúng tôi muốn gửi bài viết này đến quý độc giả người Việt Nam không cộng sản trong cũng như ngoài nước, đề cùng tự hào với quá khứ rằng chúng ta đã chọn đúng nền tảng một chế độ chính trị phù hợp với ý nguyện của toàn dân và tin tưởng mãnh liệt ở tương lại, rằng nhất định chúng ta sẽ thiết lập được một chế độ dân chủ trên nền tảng cộng hoà đã được xác lập 56 năm qua tại Việt Nam.Nội dung bài viết lần lượt trình bầy:

    1.- Bối cảnh hình thành Nền Cộng Hòa tại Việt Nam.
    2.- Nền Cộng Hòa và Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm
    3.- Nền Cộng Hòa và các bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa.
    4.- Nền Cộng Hòa và các chế độ Việt Nam Cộng Hòa (Đệ nhất và Đệ Nhị VNCH)

    I/- BỐI CẢNH HÌNH THÀNH NỀN CỘNG HÒA TẠI VIỆT NAM. Như quý độc giả đã biết, sau Thế Chiến Hai, chủ nghĩa thực dân cũ đã buớc vào thời kỳ suy tàn,xu thế giải thực đã buộc các đế quốc từng có nhiều thuộc địa như Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan ….. đã phải lần lược trao trả độc lập cho các nước bị trị. Điển hình là một số nước trong vùng như Ấn Độ và Hồi Quốc được Đế Quốc Anh trao trả độc lập năm 1947; Indonesia được Hà Lan trao trả độc lập năm 1949; Triều Tiên được Nhật trao trả độc lập năm 1945; Lào và Cao Miên Pháp trao trả độc lập năm 1953. . . Do đó, theo nhận định của nhiều sử gia và học giả nghiên cứu chính trị và lịch sử, thì chẳng cần cuộc kháng chiến gian khổ 10 năm do đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) phát động và chủ đạo tiến hành (1945- 1954) làm hao tổn nhiều xương máu nhân dân, tàn phá tài nguyên đất nước vô ích, để có được cái gọi là “Chiến thắng Điện Biên lịch sử”(7-5-1954), thì thực dân Pháp sớm muộn cũng phải trao trả độc lập cho Việt Nam cũng như nhiều thuộc địa khác. Chẳng qua Hồ Chí Minh và Cộng đảng Việt Nam tiến hành cuộc chiến tranh này, chỉ là lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân, dùng chiêu bài độc lập dân tộc để chiếm quyền thống trị đất nước, để áp đặt chế độ độc tài đảng trị CS, theo chủ trương bành trướng lãnh thổ, nhuộm đỏ tòan cầu của cộng sản quốc tế, đứng đầu là hai tân đế quốc Đỏ Nga – Tầu Thật vậy, trên thực tế, trước áp lực của xu thế giải thực, thực dân Pháp đã phải lùi từng bước, trao trả độc lập từng phần cho Việt Nam, qua các Hiệp Định Vịnh Hạ Long ngày 5 tháng 6 năm 1948, “đề cử” hòang đế Bảo Đại làm Quốc Trưởng, và Pháp thừa nhận Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Quốc Trưởng Bảo Đại như là một quốc gia độc lập nằm trong Liên Hiệp Pháp. Ngày 8 tháng 3 năm 1949 Tổng Thống Pháp Vicent Auriol và Quốc Trưởng Bảo Đại đã ký “Thỏa Ước Elysée”.

    Theo đó, Pháp hứa sẽ xây dựng cho Việt Nam một quân đội quốc gia chống cộng. Đây là khởi điểm của sự thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, gốm có các binh lính và sĩ quan “Khố Xanh Khố Đỏ” của Pháp chuyển qua. Chính những sĩ quan có xuất thân này, đã nắm vận mệnh quốc gia sau khi đảo chánh lật đổ Tổng Thống Diệm, cho đến ngày Miền Nam mất vào tay cộng sản (30-4-1975).

    Thề rồi, cuối cùng thực dân Pháp cũng đã phải trao trả độc lập hòan tòan cho Việt Nam. NhưngViệt Nam có số phận không may đã rơi vào thế gọng kìm của một chiến lược quốc tế mới, với cuộc chiến tranh ý thức hệ (cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa), nên đất nước bị qua phân theo Hiệp Định Genève ngày 20-7-1954, do sự áp đặt của các cường quốc, trái với nguyện vọng quốc dân Việt Nam.

    Hệ quả là một nửa nước Miền Bắc rơi vào tay đảng Cộng sản Việt Nam, thiết lập “Nền Chuyên Chính Vô Sản” , trên đó xây dựng chế độ độc tài tòan trị cộng sản, với quyền thống trị độc tôn, độc quyền của đảng CSVN, một công cụ chiến lược của hai tân đế quốc đỏ Nga-Tầu .

    Nửa nước Miền Nam Việt Nam được trao trả cho chính quyền chính thống quốc gia Việt Nam, thiết lập nền Cộng Hòa trên đó xây dựng chế độ tự do dân chủ, tức Việt Nam Cộng Hòa, với sự hổ trợ của Hoa Kỳ và các đồng minh Thế Giới Tự Do trên nguyên tắc, song trên thực tế đã bị Hoa Kỳ biến thành công cụ chiến lược của mình, một công cụ ngay tình khác với công cụ tri tình cho Nga- Tầu của Cộng đảng VN và chế độ Cộng sản Bắc Việt.

    Vì đảng Cộng sản Việt Nam vốn là một công cụ bành trướng của cộng sản quốc tế, đứng đầu là Nga Tầu lúc đó, nên đã phát động và tiến hành cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn để thôn tính Miền Nam Việt Nam.
    Chính quyền chính thống quốc gia và nhân dân Miền Nam,trong thế chẳng đặng đừng đã phải làm tiền đồn chống cộng cho Hoa Kỳ và Thế giới tự do, buộc lòng phải thực hiện cuộc chiến tranh tự vệ để ngăn chặn, đẩy lùi cuộc chiến tranh xâm lược đó của Cộng sản Bắc Việt, để bảo vệ phần đất tự do Miền Nam, trong ý hướng giữ vững độc lập quốc gia, chủ quyền dân tộc, để vừa chiến đấu chống cuộc xâm lăng của CSBV, vừa nỗ lực xây dựng thành công chế độ dân chủ pháp trị Việt Nam Cộng Hòa, tiến tới thống nhất đất nước, không phải bằng bạo lực quân sự, mà bằng sự ưu thắng của chế độ dân chủ Việt Nam Cộng Hòa và nền kinh tế phát triển phồn vinh ở Miền Nam, trên chế độ độc tài tòan trị CS và nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu ở Miền Bắc .
    Nghĩa là Việt quốc chúng ta, muốn tiến tới tình trạng như Nam Bắc Hàn hiện nay, mà sự thống nhất Hàn Quốc một cách hòa bình, với sự ưu thắng của Nam Hàn dân chủ phồn vinh trên Bắc Hàn độc tài cộng sản nghèo đói và lạc hậu, chỉ còn là vấn đề thời gian. Chính vì mục tiêu và lý tưởng vừa nêu, Nền Cộng Hòa đã được xác lập tại Việt Nam, trên đó xây dựng chế độ dân chủ Việt Nam Cộng Hòa thay thế cho chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại nhiều thế kỷ trước đó tại Việt Nam.

    II/- NỀN CỘNG HÒA VÀ CỐ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM:
    Theo tự điển Hán Việt của học giả Đào Duy Anh, Cộng Hòa (Republic:Cộng đồng, dân chúng)có ý nghĩa như là nền tảng cho một chế độ dân chủ, “Chế độ Cộng Hòa” (Repubican Regime)với “Chủ quyền quốc gia thuộc về tòan dân”. Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm được coi là người khai sáng Nền Cộng Hòa như thế tại Việt Nam.

    Sử liệu cận đại Việt Nam ghi nhận các sự kiện có ý nghĩa sau đây: ngày 7 tháng 7 năm 1954, chí sĩ Ngô Đình Diệm đang sống lưu vong ở hải ngọai đã về nước chấp chánh theo sự ủy thác của Vua Bảo Đại trong ngôi vị Thủ Tướng Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam, để chống cộng và nếu cần chống cả thực dân và phong kiến để bảo vệ tổ quốc (Như hồi ký của cựu hòang Bảo Đại đã viết).

    Vì xu thế thời đại, Thủ Tướng Diệm không thể duy trì thể chế quân chủ chuyên chế, nên với sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ đứng đầu phe Thế giới tự do (Thời kỳ chiến tranh ý thức hệ) và 18 đòan thể chính trị (Hội Đồng Cách Mạng Quốc gia), họp tại Dinh Độc Lập đã quyết định thiết lập chế độ Cộng Hòa, theo xu thế thời đại, đáp ứng ý nguyện của quốc dân, qua cuộc trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955 truất phế vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng của nền quân chủ chuyên chế Việt Nam thiết lập nhiều thế kỷ trước đó, tôn vinh Thủ Tướng Ngô Đình Diệm là Tổng Thống đầu tiên chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Để có căn bản pháp lý, ngày 26-10-1955 Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã ban hành Hiến Ước Tạm Thời Số 1, và ngày 23 tháng 1 năm 1956 đã ký ban hành Dụ Số 8 thiết lập Quốc Hội Lập Hiến định hướng cho chế độ Cộng Hòa sẽ được xác lập.

    Trên căn bản các văn kiện pháp lý hành chánh này, nhân dân Miền Nam lần đầu tiên được cầm lá phiếu với tư cách là người dân một nước độc lập, bầu người đại diện vào Quốc Hội Lập Hiến để thay mặt mình sọan thảo ra một bản hiến pháp dân chủ trên nền tảng Cộng Hòa đầu tiên. Trong vòng 9 tháng sau, Quốc hội do dân bầu này đã hòan thành bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa và ngày 26 tháng 10 năm 1956,Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã ký ban hành bản hiến pháp đầu tiên làm căn bản thíêt lập các định chế quốc gia, với tam quyền phân lập và cơ cấu của một chính quyền cộng hòa với chủ quyền quốc gia thuộc về tòan dân.

    III/- NỀN CỘNG HÒA VÀ CÁC BẢN HIẾN PHÁP VIỆT NAM CỘNG HÒA.
    Như trên đã trình bầy Nền Cộng Hòa là nền tảng của một chế độ chính trị với chủ quyền quốc gia thuộc về tòan dân, theo học thuyết chính trị dân chủ Phương Tây, tương tự quan niệm dân chủ Phương Đông “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, đều lấy “Dân làm gốc”.
    Tiếc rằng, quan niệm dân chủ này chỉ có trong sách vở trong chế độ “Quân chủ chuyên chế” , thực tế Vua vẫn là tối thượng, chủ quyền quốc gia thuộc về vua, chứ không phải của tòan dân. Cũng như trong “nền chuyên chính vô sản” chủ quyền quốc gia thuộc về đảng cộng sản, quyền “Làm chủ của nhân dân” chì là bánh vẽ.
    Vì vậy muốn chủ quyền quốc gia thuộc về tòan dân, cần xây dựng một chế độ dân chủ trên nền tảng Cộng Hòa. Để thiết định chế độ Dân Chủ Cộng Hòa này, cẩn có một bản Hiến Pháp, một văn kiện pháp lý căn bản qui định rõ quyền lợi nghĩa vụ người dân và chính quyền, trong tương quan với các cơ quan công quyền, với các viên chức được người dân ủy quyền qua lá phiếu trong các cuộc bầu cử tự do, cử người đại diện cho dân, làm nhiệm vụ công bộc ăn lương của nhân dân, điều hành guồng máy công quyền quốc gia, từ thượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ sở, theo ý nguyện của người dân, sao cho xã hội ổn định, phát triển, quốc gia phú cường, mọi tầng lớp nhân dân có điều kiện phát triển đồng đều, “cộng đồng đồng tiến”, có đời sống sống ấm no, tự do mưu cầu hạnh phuc riêng (cá nhân) cũng như chung (tập thể).

    Trong ý hướng trên, bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên được sọan thảo và ban hành ngày 26-10-1956 và bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa thứ hai đuơc ban hành ngày 1-4-1967. Bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa 26-10-1956 được sọan thảo dựa trên hai nền tảng triết lý và chính trị.
    Nền tảng triết lý là triết học duy tâm, lấy con nguời là trung tâm, là chủ thể xã hội và là đối tuợng phục vụ của xã hội.
    Nền tảng chính trị là chủ nghĩa nhân vị, trên đó thiệt lập chế độ cộng hòa với chủ quyền quốc gia thuộc về toàn dân,các quyền dân chủ, dân sinh và nhân quyền được tôn trọng và bảo vệ .
    Chủ đích của các nhà lập hiến khi chọn chủ nghĩa Nhân Vị làm nề tảng cho chế độ Cộng Hòa để soạn thảo ra Hiến Pháp hữu thần Việt Nam Cộng Hòa là để đối kháng với triết học duy vật và chủ nghĩa Cộng Sản vô thần, là nền tảng hiến pháp của chế độ vô thần Cộng sản Bắc Việt, vốn coi con nguời là sản phẩm, là công cụ của xã hội, cá nhân phải phục vụ xã hội và quyền lợi cá nhân phải hy sinh cho quyền lợi tập thể (thực chất cũng như thực tế là hy sinh cho quyền lợi của một tập đòan thống trị là Đảng CSVN), trong một xã hội mà những nguời cộng sản muốn thiết lập, đó là xã hội “Xã hội chủ nghia”, giai đọan đầu của xã hội cộng sản.

    Tham vọng của các nhà lập hiến Việt Nam khi chọn chủ nghĩa Nhân Vị làm nền tảng cho chế độ Cộng Hòa đối kháng với chủ nghĩa cộng sản Bắc Việt làm nền tảng cho chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (giả hiệu) như là một võ khí lý luận để đánh bại đối phương về mặt ý thức hệ, song song với nỗ lực quân sự đập tan cuồng vọng xâm lăng Miền Nam của Cộng sản Bắc Việt lúc bấy giờ, và nỗ lực xây dựng phát triển chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật,văn hóa, xã hội để chứng tỏ tính ưu việt của chế độ Cộng Hòa dân chủ ở Miền Nam trên chế độ độc tài đảng trị cộng sản ở Miền Bắc. Với võ khí lý luận là chủ nghĩa Nhân Vị và chế độ Cộng Hòa, các nhà lập hiến Việt Nam Cộng Hòa tin rằng, nguời dân sẽ thấy đuợc hai con đuờng “Nhân vị chủ nghĩa” và “Cộng sản chủ nghia” dẫn đến mục tiếu tối hậu hòan tòan trái nguợc:

    Chủ nghia nhân vị “Xây dựng một xã hội vì con nguời,tôn trọng phẩm giá con nguời và xã hội phải phục vụ lợi ích tối thuợng của con nguời”. Trong khi chủ nghĩa cộng sản “xây dựng một xã hội Vì đảng cộng sản, nô dịch và xã hội hóa con nguời, biến con nguời thành công cụ phục vụ xã hội(thực chất là phụng vụ giai cấp thống trị), nhân vị bị hạ thấp ngang tầm lòai vật”(theo lý luận và thực hành Duy vật biện chứng của CS).

    Đồng thời, chủ nghĩa Nhân Vị sẽ là nền tảng cho chế độ chính trị Cộng Hòa, để bảo đảm được nhân vị và các nhân quyền căn bản của người dân. Trong bối cảnh cuộc chiến tranh chống cộng bảo vệ nền Cộng Hòa và chế độ dân chủ VNCH, chủ nghĩa Nhân Vị giúp nguời dân phân biệt đuợc mục tiêu và lý tuởng tranh đấu tối hậu của nguời Việt Quốc gia là thiết lập cho kỳ đuợc một chế độ dân chủ cộng hòa là vì nhân vị và phẩm giá con người, vì hạnh phúc của nhân dân, quyền dân chủ dân sinh và nhân quyền được bảo đảm với tam quyền phân lập, trái nguợc với chế độ độc tài tòan trị cộng sản độc tài, độc tôn và độc quyền thống trị của đảng CSVN, vì quyền lợi của giai cấp thống trị là các cán bộ đảng viên CS.

    Chính vì vậy mà chủ thuyết nhân vị đuợc xác tín qua phần “Mở Đầu” của Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa ngày 26-10-1956 như sau:
    “ Tin tuởng ở sự truờng tồn của nền văn minh Việt Nam, cần có trên nền tảng duy linh mà tòan dân đều có nhiệm vụ phát huy; “ Tin tuởng ở giá trị siêu việt của con nguời mà sự phát triển tự do. Điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi họat động quốc gia. . .”.
    Như vậy, chính trên nền tảng chủ nghĩa Nhân Vị, Quốc hội Lập Hiến đầu tiên của Quốc Gia Việt Nam đã sọan ra bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên,(hòan tòan khác với cái gọi là Hiến pháp Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Cộng sản Bắc việt “ngụy cộng hòa”), và đã đuợc Thủ Tướng Ngô Đinh Diệm, sau trở thành vị Tổng Thống đầu tiên chế độ Việt Nam Cộng Hòa, đã ký ban hành ngày 26-10-1956.
    Nội dung Bản Hiến Pháp này,ngòai phần “Mở Đầu”, gồm 10 Thiên và 98 Điều thể hiện rõ Nguyên tắc phân quyền:
    Thiên thứ nhất quy định những “Điều khỏan căn bản”; Thiên Thứ Hai: “Quyền lợi và Nhiệm vụ nguời dân”; Thiên thứ ba:“Tổng Thống”; Thiên thứ tư: “Quốc Hội”; Thiên thứ năm “Thẩm Phán”; Thiên Thứ sáu “Đặc biệt Pháp Viện”; Thiên Thứ Bẩy “Hội ĐồngKinh Tế Quốc gia”; Thiên thứ tám “Viện Bảo Hiến”; Thiên Thứ Chín “Sửa Đổi Hiến Pháp” và Thiên Thứ muời “Các Điều Khỏan Chung”.

    Cuộc đảo chánh quân sự ngày 1-11-1963, với sự trợ giúp của ngọai bang đã đưa đến cái chết thảm thương cho Cố Tổng Thống Ngô Đinh Diệm, nguời có công khai sáng nền Cộng Hòa Việt Nam.
    Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa ngày 26-10-1956 bị hủy bỏ cùng với sự cáo chung nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa.
    Sau những năm bất ổn chính trị, xã hội xáo trộn do các phe phái chính trị quân sự tranh giành quyền lực (1963-1967) Bản Hiến Pháp Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa đã được Quốc Hội Lập Hiến thông quan ngày 18-3-1967 và đã được Tướng Nguyễn Văn Thiệu trong tư cách Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc gia ban hành ngày 1-4-1967.

    Cuộc bầu cử ngày 3-9-1967 đã đưa Tướng Nguyễn Văn Thiệu lên ngôi vị Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, là vị Tổng Thống thứ hai của nền Cộng Hòa Việt Nam. Ngày 5-4-1975,truớc áp lực của ngọai bang và biến chuyển của tình thế, Tổng Thống Thiệu đã phải từ chức và trao quyền cho Phó Thổng Thống Trần Văn Hương theo qui định của Hiến Pháp.

    Chưa đầy một tháng sau, ngày 28-4-1975, Tổng Thống Trần Văn Huong, vị Tổng Thống thứ ba và cũng là vị Tổng Thống cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa theo Hiến Pháp, do áp lực của tình thế, đã lại phải từ chức để trao quyền ngoài dự liệu của Hiến Pháp cho Tướng Dương Văn Minh làm nhiệm vụ khai tử chế độ đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa theo sự đạo diễn, sắp xếp của ngọai bang, như ông ta đã từng theo lệnh ngọai bang cầm đầu nhóm đảo chánh phá đổ chế độ Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa, sát hại Tổng Thống Diệm, người khai sáng nền Cộng Hòa Việt Nam 12 năm trước đó (1963-1975)

    Nếu so sánh tổng quát hai bản Hiến Pháp chế đô đệ nhất và đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa, cả hai có nền tảng chung là Cộng Hòa, cùng vận dụng nguyên tắc phân quyền theo học thuyết chính trị dân chủ Phương Tây, trong việc thiết lập và điều hành các định chế quốc gia và guống máy công quyền, nhằm thể hiện “Quyền lực quốc gia thuộc về tòan dân” và bảo đảm các nhân quyền và dân quyền cơ bản của công dân được tôn trọng, bảo vệ và hành xử.

    Nhưng khác là Hiến pháp 26-10-1956 dựa trên hai nền tảng chủ nghĩa nhân vị và học thuyết dân chủ Phương Tây để thiết lập chế độ Cộng Hòa, với nguyên tắc phân quyền, còn bản Hiến Pháp 1-4-1967, chỉ dựa trên nền tảng chủ thuyết chính trị dân chủ Phương Tây để thiết lập chế độ Cộng Hòa. Nếu so sánh nội dung thì Hiến pháp VNCH ngày 1-4-1967 hòan chỉnh hơn Hiến Pháp 26-10- 1956, với các định chế quốc gia và cơ cấu tổ chức chính quyền có nhiều điểm giống Hiến Pháp Hoa Kỳ nên có tính dân chủ cao hơn, như phân định rõ Tổng Thống nắm quyền hành pháp, Quốc Hội lưỡng viện (Thượng viện và Hạ viện)lập pháp và Tối cao Pháp Viện nắm quyền tư pháp, thể hiện rõ quyền lực quân bình của nguyên tắc tam quyền phân lập.

    Trong khi, Hiến pháp 26-10-1956, chỉ có quyền hành pháp mạnh (Tổng Thống) và lập pháp yếu(Quốc Hội) là thể hiện qua cơ chế, còn tư pháp chỉ quy định như một đòan thể (Thẩm phán đoàn) không có tính cơ cấu mạnh. Thế nhưng, việc vận dụng Hiến Pháp vào thực tế thì có lẽ, Hiến Pháp VNCH 26-10-1956 có thể là phù hợp hơn trong bối cảnh đất nước đang có chíến tranh lúc bấy giờ(cần một hành pháp mạnh), với trình độ ý thức dân chủ người dân chưa cao và đối phương CS có thể lợi dụng quyền dân chủ rộng rãi để lũng đọan chính quyền, quân đội và các lực lương an ninh của VNCH, như thực tế cho thấy.

    IV/- NỀN CỘNG HÒA VÀ CÁC CHẾ ĐỘ VIỆT NAM CỘNG HÒA. Như vậy nền cộng hòa thể hiện rõ mục tiêu chống cộng bấy lâu nay của người Việt Quốc gia hay là người Việt Nam không cộng sản là để nhằm thành đạt mục tiêu tối hậu là xây dựng một chế độ dân chủ đích thực, chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã được xác lập tại Việt Nam, đánh dấu bằng sự ra đời của bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa 26-10-1956.

    Chế độ đó là chế độ đệ nhất và đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa kế tiếp nhau (1956-1975). Ngày 30-4-1975, cộng sản Bắc Việt đã cưỡng chiếm Miền Nam, vi phạm trắng trợn Hiệp Định Paris ngày 27-1-1973 , tức vi phạm luật pháp quốc tế, trước sự đồng lõa, phủi tay của đồng minh Hoa kỳ, và sự làm ngơ của quốc tế, cụ thể là các cường quốc đế quốc đóng vai trò trung tâm quyền lực thế giới bảo đảm việc thực thi Hiệp Định Paris, thông qua tổ chức Liên Hiệp Quốc, vốn là công cụ của họ, do họ dựng lên và vì quyền lợi ưu tiên của họ, nhân danh nền hòa bình thế giới áp chế các dân tộc nhược tiểu. Sau đây là nguyên văn Điều 15, Chương V.

    “Vấn đề thống nhất Việt Nam và vấn đề quan hệ giữa Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam” (Bản tiếng Việt) của Hiệp Định Paris ngày 27-1-1973: Điều 15:Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thỏa thuận giữa Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam, không bên nào cưỡng ép hoặc thôn tính bên nào và không có sự can thiệp của nước ngòai. Thời gian thống nhất sẽ do Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam thỏa thuận.
    Trong khi chờ đợi thống nhất:
    a) Giới tuyến quân sự giữa hai miền tại vĩ thuyến thứ mười bẩy chỉ là tạm thời và không phải là một ranh giới về chính trị hoặc về lãnh thổ, như quy định trong đọan 6 của Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơ-ne-vơ năm một nghìn chín trăm năm mươi tư.
    b) Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam sẽ tôn trọng khu phi quân sự ở hai bên giới tuyến quân sự tạm thời..
    c) Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam sẽ sớm bắt đầu thương lượng nhằm lập lại quan hệ bình thường về nhiều mặt. Trong các vấn đề sẽ được thương lượng, có vấn đề thể thức đi lại dân sự qua giới tuyến quân sự tạm thời.
    d) Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam sẽ khôngtham gia bất cứ liên minh quân sự hoặc khối quân sự nào và không cho phép nước ngòai có căn cứ quân sự, quân đội, cố vấn quânsự và nhân viên quân sự trên đất mình, như Hiệp định Giơ-ne-vơ năm một nghìn chínm trăm năm mươi tư về Việt Nam quy định.”

    Đọc Điều 15 trên đây, người ta không khỏi liên tưởng đến việc tiếp xúc bí mật giữa Cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu và Phạm Hùng, một lãnh tụ Cộng Đảng Việt Nam lúc đó đang làm nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến tranh thôn tính Miền Nam, vào thời điểm Chính quyền Ngô Đình Diệm bị áp lực nặng nề nhất của Hoa Kỳ (62-63), muốn mưu tìm một giải pháp thương lượng hòa bình giữa người Việt (Quốc gia) và người Việt (Cộng sản).

    Việc làm này có thể chỉ là động tác giả của ông Nhu như môt thủ thuật chính trị nhằm cảnh cáo Hoa Kỳ rằng nếu ép chúng tôi quá, chúng tôi sẽ trực tiếp nói chuyện với đối phương, trên tinh thần người Việt nói chuyện với người Việt để chấm dứt xung đột,(bằng sự duy trì nguyên trang qua phân lãnh thổ tạm thời, với hai chế độ trên hai miền hiệp thương tương tự như quy định của Điều 15 Hiệp Định Paris vừa nêu, chứ không nhất thiết phải “Dâng Miền Nam cho CSBV” như sự gán ghép chủ quan để kết tội và làm lý cớ lật đổ của một số người có định kiến với cá nhân TT. Diệm và chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa) .

    Đây có thể coi là một viễn kiến có giá trị thực tiễn, tương tự như ý hướng quy định trên của bản Hiệp Định Geneve 1954. Nhưng việc làm này đã là quá sớm đối với Hoa Kỳ, nên đã bị Hoa Kỳ kết án và làm một trong những lý cớ xúi dục nhóm Tướng tá làm cuộc đảo chánh lật đổ và sát hại Tổng Thống Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu như mọi người đã biết. Vì lúc đó người Mỹ chưa muốn chấm dứt mà muốn mở rộng và trực tiếp tham chiến và chỉ đạo chiến tranh, để những nhà tư bản quân sự, quốc phòng Mỹ có thêm thời gian tiêu thụ cho hết những vũ khí đạn dược còn tồn đọng sau Chiến tranh Thế Giới II và cần môi trường thử nghiệm thêm các lọai vũ khí mới.

    Tổng Thống Ngô Đình Diệm, người tha thiết và cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc, không muốn chiến tranh lan rộng có hại cho đất nước, không muốn đối phương xuyên tác chính nghĩa chống cộng của chính quyền quốc gia, song đã là bức cản trở mà Hoa Kỳ cần phải lọai trừ bằng mọi cách, với những lý cơ giả tạo, như các tài liệu được giải mât sau này cho thấy.

    Như thế là Chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã bị cưỡng tử về mặt thực tế, song chúng tôi cho rằng vẫn tồn tại về mặt pháp lý căn cứ theo Điều 15 và nhiều điều khỏan khác trong Hiệp Định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình cho Việt Nam. Chế độ Việt Nam Công Hòa chỉ không tồn tại trên đất nước Việt Nam trong tư thế một quốc gia với đầy đủ ba yếu tố cấu thành: lãnh thổ, chính quyền và dân chúng, song vẫn tồn tại về mặt pháp lý, với thực tế là hầu hết bộ phận đầu não chính quyền, và một số khá đông (nay ước chừng 3-4 triệu) các thế hệ quân, dân, cán chính của chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã kịp di tản ra nước ngòai trước ngày 30-4-1975, hay chậy trốn chế độ CS sau này, trong thân phận lưu vong, vẫn không bỏ cuộc, đã quy tụ lại tại hải ngọai tiếp tục cuộc chiến đấu chống cộng, với cùng mục tiêu đánh đổ chế độ độc tài cộng sản, thành đạt mục tiêu tối hậu là tái lập chế độ Dân Chủ trên nền Nền Cộng Hòa đã được xác lập tại Việt Nam từ năm 1956;và hiện vẫn tồn tại trên đất nước Việt Nam, trong lòng hơn 85 triệu nhân dân Việt Nam với khát vọng tự do dân chủ, vì các quyền tự do, dân chủ, dân sinh, nhân quyền đã và đang bị “nền chuyên chính vô sản” với chế độ “Độc tài tòan trị cộng sản” cướp đọat và chà đạp.
    Khát vọng này đã và đang được nhân dân trong nước thể hiện ngày một lan rộng và mạnh mẽ qua các cuộc đấu tranh đòi dân chủ, dân sinh, nhân quyền, tức đòi tái lập nền Cộng Hòa đã được xác lập trước đây,bởi chính quyền Quốc gia chính danh,kế thừa lịch sử dựng nước và giữ nước của tiền nhân; trái với chính quyền cộng sản ngụy danh, kế thừa lịch sử bành trướng quyền thống trị thế giới của cộng sản quốc tế, phản dân hại nước, như mọi người đều biết qua việc làm của họ, kề từ khi những môn đồ đầu tiên, đứng đầu là Hồ Chí Minh tình nguyện làm môn đồ của cộng sản quốc tế, du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam, tụ đảng từ ngày 3-2-1930 làm công cụ thực hiện nghĩa vụ quốc tế cộng sản để mở mang bờ cõi cho các tân đế quốc đỏ Nga-Tầu, phá họai tòan diện đất nước, để lại hậu quả nghiêm trọng nhiều mặt, lâu dài cho dân tộc Việt Nam, mà mai hậu sẽ mất nhiều thời gian và công sức dọn dẹp, tái tạo.

    • KẾT LUẬN:
    Tóm lại, như vậy là cuộc chiến đấu anh dũng của quân dân Miền Nam bảo vệ chế độ dân chủ Việt Nam Cộng Hòa đã thất bại, song chỉ là thất bại tạm thời, có tính giai đọan. Vì sau đó và cho đến nay, cuộc chiến đấu chống cộng sản độc tài để tái lập chế độ cộng hòa trên cả nuớc vẫn đang tiếp diễn.
    Đây là giai đọan chống cộng cuối cùng vì dân chủ, cho nền cộng hòa Việt Nam của nguời Việt Quốc gia hay là nguời Việt Nam không cộng sản trong cũng như ngòai nuớc.
    Thực tế đã và đang ngày một khẳng định chính nghĩa “Cộng Hòa”(Chủ quyền quốc gia thuộc về toàn dân) tất thắng ngụy nghĩa “Cộng sản” (Chủ quyền quốc gia thuộc về đảng CSVN) Nhân dân Việt Nam nhất định sẽ thiết lập đuợc nền “Đệ Tam Cộng Hòa” trên tòan cõi Việt Nam trong một tương lai không xa, với một Bản Hiến Pháp Cộng Hòa “thể hiện đuợc nguyện vọng của nhân dân (Việt Nam), từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan”, như từng đuợc khẳng định trong lời “Mở Đầu” của bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa tiên khởi ngày 26-10- 1956.

    Năm mươi sáu năm qua, mục tiêu chống cộng để thực hiện lý tướng thiết lập cho kỳ được môt chế độ dân chủ cộng hòa trên quê hương đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta vẫn kiên định. Chúng ta tạm thời thất bại trong giai đọan chiến đấu bảo vệ chế độ Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến tranh Quốc-Công vừa qua (1954-1975), song không chỉ có niềm tin mãnh liệt mà cả thực tế đã và đang ngày một khẳng định:
    Chân lý tất thắng, chính nghĩa quốc gia tất thắng ngụy nghĩa cộng sản. Nền cộng hòa nhất định sẽ thay thế nền độc tài chuyên chính cộng sản hiện nay tạiViệt Nam trong tương lai không xa. Kỷ niệm 56 năm ngày thành lập nền Cộng Hòa Việt Nam vào thời điểm này, ngòai mục đích tưởng niệm và ghi ơn những người đã có công thiết lập nền cộng hòa Việt Nam, như Cố TổngThống Ngô Đình Diệm và các dân biểu Quốc Hội Lập Hiền đã sọan thảo ra bản Hiến Pháp Việt Nam Công Hòa ngày 26-10-1956, chúng ta còn tưởng nhớ và ghi ơn hai vị Tổng Thống kế nhiệm Nguyễn Văn Thiệu và Trần Văn Hương ( dù các vị Tổng Thống ai cũng có những khiếm khuyết sai lầm về lãnh đạo khi còn tại chúc, song đều một lòng thực tâm bảo vệ nền Cộng Hòa Việt Nam), cũng như các Tướng lãnh, quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu hy sinh để bảo vệ nền Cộng Hòa non trẻ ấy.

    Đồng thời, cũng là dịp nhắc nhở chúng ta về mục tiếu chống cộng để thành đạt lý tưởng xây dựng môt chế độ dân chủ cộng hòa đích thực trên quê hương Việt Nam hậu cộng sản, chứ không nhằm thay thế chế độ độc tài cộng sản bằng một chế độ độc tài không cộng sản. Vì thực tế, đã có những biểu hiện cho thấy một số cá nhân và một số chính đảng quốc gia, đòan thể chống cộng ở Hải ngọai nói chung, Houston nói riêng, dường như đã coi nhẹ mục tiêu tối hậu này của sự nghệp chống cộng. Do đó đã có những chủ trương, họat động và cách ứng xử thiếu khôn ngoan, có tính “Độc tài không cộng sản” với những chiến hữu và đồng hương cùng bè quốc gia dân tộc, phái tự do dân chủ cộng hòa, có chung mục tiêu chống cộng với mình, chỉ vì khác quan điểm và phương thức chống cộng.

    Thực tế điều này đã tác hại rất lớn đến sức mạnh đòan kết, niềm tin tất thắng vào “Chính nghĩa Quốc gia” của quần chúng và các lực lượng lãnh đạo công cuộc chống cộng ở hải ngọai cũng như trong nước.
    Do đó cần phải được chấn chính kịp thời, nếu chúng ta, những cá nhân hay đòan thể muốn chống cộng vì dân chủ và chống cộng để thắng cộng, chứ không phải chống cộng để lấy tiếng, chống cộng mà chơi, chống cộng chỉ để cho vơi bớt thù hận, dù cộng sản thực tế quả đã gây và để lại quá nhiều thù hận trong lòng mỗi người Việt chúng ta.

    Nhưng chúng ta không chống cộng vì thù hận mà vì lòng yêu nước muốn đem lại những điều tốt đẹp cho Đất nước, cho tự do, dân chủ và hạnh phúc thật sự cho quốc dân Việt Nam thế hệ hiện tại cũng như tương lai, và cho sự trường tồn của Dân Tộc Việt.

    Thiện Ý

    Houston, ngày 26 tháng 10 năm 2011.

    Hiệu đính ngày 26-10-2012

    http://www.vietvungvinh.com/index.ph...lieu&Itemid=83

    Lannguyen xin cảm ơn Thiện Ý và http://www.vietvungvinh.com thật nhiều.
    Last edited by Lannguyen; 11-08-2012 at 12:56 PM.
    Lannguyen

  13. #53
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Hội Thảo Trả Lại Sự Thật Lịch Sử Cho Viêt Nam Cộng Hòa.

    Những Tên Giết Người Man Rợ

    Nguyễn Thanh Ty

    http://www.youtube.com/watch?v=cqK4uuk8m-4

    nhân chứng sống cho biết Hoàng Văn Giàu= Hoàng nguyên Nhuận đi chôn sống dân Huế!!

    ...mấy thằng du kích VC. Trong đám đó tôi còn thấy anh Hoàng Văn Giàu nữa. Anh Hoàng Văn Giàu là một sinh viên học ở Huế.

    Tôi phải sống mà chứng kiến những sự tàn sát theo lệnh của thầy Tôn Thất Dương Tiềm tại thành phố Huế, tại ngã tư Nguyễn Thành và Mai Thúc Loan tại khu thượng thành đó.

    Sáng ngày mồng 2 Tết khi VC xuất hiện, nó bắt đầu xách ra... nó bắt ở đâu không biết, nó bắt ra được 5 người, nó trói tay sau lưng, một số còn mặc áo quần ngủ, một số mặc áo quần bình thường, mặc áo pijama, bộ đồ ngủ - đang ngủ ở nhà nó xách ra. Đến trưa trưa 11, 12 giờ ngày mồng 2 Tết, tôi thấy mấy thằng du kích nó dắt ra, dắt ra. Có mấy thằng loong toong VC nằm vùng cỡ như Hoàng Văn Giàu chạy theo đít, chạy theo, chạy theo, ra tới ngay chỗ cửa Đông Ba. Người ta trói cả rồi, bắt đầu đứng sắp hàng, xoay lưng vô thượng thành - thành cao lắm. Tôi thấy ông Tiềm sắp đủ 5 người, sắp lần lần 1, 2 ,3 ,4, bắt đầu 5 người. Tôi thấy đông, chạy tới tôi coi. Tôi cũng núp núp mà tôi coi. Tôi thấy ông Tiềm ra lệnh cho thằng cán bộ VC nói tiếng Bắc. Thằng đó mới ra lệnh cho thằng VC mặc bộ đồ quần đùi đen, bắt đầu giương súng bắn...

    Tết Mậu Thân và những kẻ có máu lạnh

    Nguyễn thanh Ty


    Từ tết Mậu Thân, 1968, đến tết Mậu Tý năm nay, 2008, thời gian tròn chẵn 40 năm. Bốn mươi năm, gần nửa thế kỷ, nửa đời người, đã biết bao nhiêu vật đổi sao dời, song người dân miền Nam, vẫn không làm sao quên được một cái Tết hãi hùng, kinh khiếp mà Việt cộng đã tạo nên, đã đang tay tàn sát dân lành vô tội một cách man rợ nhất trong lịch sử cổ kim trên khắp miền Nam Việt Nam.

    Nhất là ở Huế - Thừa Thiên, đã có khoảng sáu ngàn người bị thảm sát dã man. Họ đã bị Việt cộng giết bằng những cán cuốc đập vào đầu hoặc bị chôn sống.

    Cứ mỗi lần Tết đến là xứ Huế lại đắm chìm trong bầu không khí u buồn với màu khăn trắng tang tóc của nhiều ngàn gia đình có thân nhân bị Việt cộng sát hại.

    Các đám tang tập thể vào các năm 1968-1969 là hình ảnh người ta không thể nào quên. Trong bài viết “Mass Murder, Mass Burial” của nhà báo Tito V.Carballo, đăng trên VietNam Bulletin vào năm 1969 có đoạn mô tả:

    “Dưới ánh mặt trời chói chang, những dãy quan tài được xếp thành từng hàng ngay ngắn. Bên trong mỗi quan tài đóng vội này là những gì còn sót lại của các thi hài được tìm thấy. Khoảng 15.000 người, trong áo tang trắng, đứng chịu trận dưới trời nắng chang chang. Một ai đó âm thầm khóc, một ai khác khóc to vật vã. Thỉnh thoảng họ lại nhìn nhau như thể đang tìm một lời an ủi, rằng đây không phải là sự thật, đây chỉ là một giấc chiêm bao.”

    Suốt hai mươi sáu ngày trong tháng giêng, ngày nào, chỗ nào cũng có đám giỗ. Khắp nơi, người dân Huế đều tổ chức cúng giỗ cho người thân của mình trước bàn thờ khói nhang nghi ngút.

    Tiếng khóc than kể lể của người dân Huế nghe vang vọng cả một trời sầu thảm.

    Cùng lúc đó, mĩa mai thay, bên cạnh tiếng khóc than đớn đau của người dân thì Việt cộng lại “hồ hởi phấn khởi” rầm rộ tổ chức ăn mừng “chiến thắng Mậu Thân”.

    Thật đúng với câu “Chỉ có loài súc vật mới có thể quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại để thản nhiên trau chuốt bộ lông của mình”

    Họ đã ngoãnh mặt trước nỗi khổ đau của đồng bào mà cùng nhau hả hê ca ngợi “chiến công hiển hách” của mình khi tấn công vào miền Nam và thi nhau kể lể thành tích sát nhân của mình.

    Năm nay, năm Mậu Tý, tại Sài Gòn, những con người Việt cộng lại càng tổ chức rầm rộ hơn nữa, rất trọng thể, để mừng ngày mà họ gọi là “lễ lớn kỷ niệm 40 năm cuộc tổng tiến công Xuân Mậu Thân”.

    Họ khoe rằng, buổi lễ có tới mười ngàn người tham dự rất “hoành tráng” gồm “4000 quần chúng, 1.500 dân quân tự vệ, 2.349 người tham gia diễu binh, 1.700 người tham gia diễu hành nghệ thuật quần chúng...”

    Trong buổi lễ, Phạm văn Hải, Phó chủ tịch Ủy ban MTTQ TP.HCM cao giọng khẳng định rằng:

    “Năm tháng sẽ qua đi nhưng với cả nước, với miền Nam thành đồng, với TP mang tên Bác Hồ kính yêu, chiến công của cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 sẽ mãi mãi sống trong lòng các thế hệ người Việt Nam, vì đó là đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng, là khí phách Việt Nam...”

    Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy TP. HCM, phát biểu khoa trương:

    “Cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân năm 1968 đã tạo “một cú choáng đột ngột” với địch ở miền Nam..., là điểm son chói lọi của lịch sử Việt Nam.”

    Cuộc thảm sát xảy ra cho Huế mùa Xuân năm 1968 mà Việt cộng hiện nay vẫn còn hãnh diện khoe khoang là “chiến công sống mãi trong lòng các thế hệ trẻ” là “đỉnh cao của chủ nghĩa” là “điểm son chói lọi” là những thành tích gì?

    Đó là nỗi kinh hoàng đối với người dân Huế. Đó là vết thương chưa khô máu. Đó là vết sẹo chưa lành vẫn còn đau thốn tim can mỗi khi có ai nhắc đến.

    Chúng ta hãy giở lại trang sử cũ, Tết Mậu Thân, để nhìn lại những “những bộ lông” mà Việt cộng đã “trau chuốt” lập nên xem nó chói lọi đến độ nào và tạo đỉnh cao tới đâu.

    Lẫn trong tiếng pháo nổ rền đón mừng năm mới, đêm 30 rạng ngày 31 tháng 1 năm 1968, Việt cộng đã đồng loạt bất ngờ nổ súng tấn công 4 thành phố lớn, trọng tâm là Sài Gòn, Gia Định và Huế, 37 thị xã và hàng trăm quận lỵ, thị trấn của miền Nam.

    Việt cộng tưởng đâu lợi dụng yếu tố bất ngờ giây phút thiêng liêng trong đêm giao thừa, toàn thể quân dân miền Nam đang long trọng đón rước tổ tiên, ông bà về ăn Tết với con cháu, giáng một đòn sinh tử chớp nhoáng xuống miền Nam để có thể “ăn chắc” như ông Hồ muốn “Xuân này chiến thắng ắt về ta”.

    Nhưng, thiên địa bất dung gian, mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên, chỉ hơn một tuần lễ sau, quân lực VNCH đã bẻ gẫy tất cả các nổ lực của Cộng quân và đã đánh bật chúng ra khỏi các thành phố và các thị xã mà chúng chiếm được lúc đầu.

    Chỉ trong mấy ngày, quân Việt cộng đã trả một giá quá đắt: 32 ngàn bị thương vong và khoảng 5.800 bị bắt.

    Riêng thành phố Huế, Cộng quân cố liều chết, chiếm giữ lâu nhất là 26 ngày.

    Ngày 25 tháng 2, những lực lượng cuối cùng của Việt cộng bị đẩy lui ra khỏi thành phố Huế.

    Trong 26 ngày bị vây hãm, Việt cộng không còn khả năng chiến đấu, trước khi tháo chạy, đã điên cuồng say máu giết hại người dân lành để trả thù.

    Bao nhiêu người dân Huế bị Việt cộng sát hại?

    Theo những báo cáo của các cuộc cảnh sát các xã thuộc 13 quận của thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, do các xã báo cáo, khoảng 5.300 nạn nhân bị chôn sống tại tỉnh Thừa Thiên.

    Tại thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, 22 địa điểm tìm được là các mồ chôn tập thể. Trong 22 địa điểm này, người ta đếm được 2.326 sọ người. Các gia đình kê khai có người chết và mất tích lên đến 4000 người.

    Người ta ước tính khoảng 6000 người.

    (Nguyễn Phúc Liên Thành, Phó Trưởng Ty Cảnh sát Đặc biệt Lực lượng Cảnh sát Quốc gia tỉnh Thừa Thiên và Nguyễn Lý Tưởng, cựu Dân biểu Khu vực Thừa Thiên.)

    Nơi đầu tiên tìm thấy các nạn nhân Việt cộng là sân trường Trung Học Gia Hội vào sáng ngày 26 tháng Hai, tổng cộng có 170 xác. Mấy tháng sau, người ta tìm thấy thêm 18 nơi chôn tập thể, lớn nhất là khu ở gần chùa Tăng Quang, 67 thi thể, Bãi Dâu, 77, khu chợ Thông, khoảng 100, khu lăng tẩm, 201, Thiên Hàm khoảng 200, Đồng Gi, khoảng 100. Tổng cộng khoảng 1.200 thi thể tìm thấy trong những hầm hố lấp vội vã.

    Dần dần các ngôi mộ tập thể được tìm thấy khắp nơi. Tại quận Phú Thứ, những vùng đồi cát Lệ Xá tây, làng Văn Hoà, Xuân Dương. Quận Vinh Lộc. quận Nam Hòa.

    Nhiều nhất là tìm thấy ở những đồi cát của ba làng Vinh Lưu, Lệ Xá đông và Xuân Ô. Hơn 800 người được tìm thấy ở khu nầy.

    Ở khe Đá Mài tìm được 428 bộ xương...

    Thành phần nào bị giết?

    Ông Nguyễn Lý Tưởng kể:

    “Cộng sản bắt đi trên 500 người, thanh niên từ 15, 16 tuổi đến ông già 60, 70 bị đưa đi giam ở chùa Từ Đàm. Đến đêm, họ bị dẫn đi lên đường núi và qua sông. Sau đó tàn sát hết mọi người trong tư thế bị trói.”

    Ông Liên Thành nhớ lại:

    “Riêng tại quận ba, Việt cộng bắt đi hơn 500 người đang trốn trong Dòng Chúc Cứu Thế, dẫn đi hết, rồi chôn sống. Tội nghiệp nhất là một số nạn nhân hoàn hoàn không dính dáng gì đến chính quyền. Ngoài ra trong số này có một người rất tiếng tăm là Thượng Nghị sĩ Trần Điền. Ngoài ra, tại vùng Phủ Cam, bốn ngày sau khi Việt cộng chiếm Huế, nhà thờ lớn Phủ Cam bị ập vào, bắt đi 300 thanh niên sau này được tìm thấy xác ở vùng phía tây Nam Hòa, tức vùng núi dọc khe Đá Mài, lăng Gia Long”

    Việt cộng giết người dân vô tội bằng cách nào?

    Hãy nghe một nhân chứng còn sống sau 40 năm thuật lại:


    “Sau chùa Diệu Đế, chúng nó đưa về phiá Gia Hội, sống xung quanh mấy nhà dân. Chúng bắt chúng tôi đi khiêng vác trong vòng mấy ngày sau, thì bắt đầu tôi thấy phía bên chỗ Đông Ba, máy bay bắn xuống dữ lắm. Tụi tôi thấy chắc là phản công rồi, lính VNCH mình phản công chúng nó rồi. Tôi cũng cầu nguyện, cầu nguyện, nhưng không phải là đi dân công đâu quý vị ơi. Đến tối đó, nó phát cho mấy cái cuốc, nó nói bây giờ đi đào mấy cái hào, cái hầm. Tại vì máy bay bắn xuống quá, tôi nghĩ chắc nó sai tụi tôi đi đào mấy cái hầm để cho tụi nó núp, giống như công sự, núp để tránh đạn tránh bom. Tụi tôi mười mấy thằng còn xác vác cuốc đi đào, cũng đào, đào, nghĩa là tối xuống đi đào, đào. Cái hố bề sâu xuống là một thước, bề ngang bằng một sải tay, một sải tay ngang, cứ đi tới, đi tới, một thằng một khúc, cứ đào. Đào cứ nối liền nhau, nối liền nhau. Đào xong cái này rồi bắt đầu đi đào cái khác, như là đào tuyến công sự đó mà.

    Nhưng quý vị biết không, sau khi đào xong lúc 3 giờ sáng, lần đầu tiên tôi thấy nó dẫn ra một đám người từ xa trong bóng tối. Những người này khi tiến tới gần, bấy giờ tôi mới thấy là tay trói về phía sau, cột trùm, cột dính vào với nhau bằng sợi dây điện thoại màu đen đen. Nó cột trùm, người ta dắt ra , dắt ra. Mỗi toán nó dắt ra như vậy là khoảng 14, 15 người. Những cái hố chúng tôi đào cũng vừa cái khoảng đó. Nó mới bắt những người đó đứng xoay lưng về cái hố. Còn nhiệm vụ chúng tôi thì chúng tôi đang đứng, đang đào đất, tay chúng tôi đang cầm cuốc. Nó mới sắp hàng những người kia, những người mà nó bắt, bị cột sợi dây điện thoại, dính trùm với nhau.

    Số người này, một số mặc đồ ngủ hoặc mặc bộ đồ thường, có người mang dép, có người đi chưn, kể cả những người mặc quần xà loỏn. Nó sắp người ta xoay lưng về cái hố mà chúng tôi đào (ông T thở mạnh như bị ngộp thở, khóc thút thít), rồi cái thằng cán bộ VC mặc áo trắng và quần cán bộ chính quy, đội nón cối, nó đọc, nó đọc bản án tội ác của những người đó. Nó nói những người đó có tội với nhân dân, có tội với cách mạng. Nó vừa đọc xong bản án thì thằng du kích VC, thằng đứng đầu mặc quần xà loỏn, quần đen áo đen, nó lấy súng AK bắn người đầu tiên, nó bắn rào, nó bắn rafale. Ông này bị trúng, ông lật ngược ra, đằng sau đâu có cái gì đâu, là cái hố!”

    Ổng té xuống, quý vị biết không, mấy người sau đâu có trúng đạn gì đâu, cũng lăn xuống. Lăn và lộn, lộn vòng xuống, lật ngửa ra. (Ông T khóc rống lên) Nó bắt tôi lấp! Nó kêu lấp, lấp, lấp lẹ! (vẫn khóc) Tôi không lấp, nó đánh tôi. Tôi nhìn mấy người đó, tôi khóc, tôi khóc, khóc, khóc!

    Không! Người ta còn sống mà lấp đi! Không! Thôi nó dọng báng súng tôi, súng AK nó dọng, nó dọng đằng sau xương sống tôi (vừa thở như bị ngộp, vừa khóc).

    Chưa được, nó quay mũi lưỡi lê nó đâm tôi, nó đâm ba sườn tôi. Trời ơi, máu me nó đâm! Mấy thằng, thằng nào cũng khóc, nó đánh, nó đánh. Tôi phải lấp, phải lấp. Tôi lấp đồng bào tôi (khóc nức nở). Trời ơi, trời ơi, Thượng Đế coi này! Bây giờ tôi nhớ tôi có tội quá. Tôi nhớ mấy con mắt đồng bào, mấy người dưới hố ngó tôi. Trời, trời, trời, trời ơi VC ơi là VC! Không lấp thì nó đánh! Lấp thí bà con tôi chết! Thôi, thôi, lạy Phật, lạy trời, lạy Thượng Đế. Chưa có thằng nào nó tàn ác như vậy...

    ( Nam Dao thực hiện phỏng vấn. Tamthuc.com)

    Hầu hết những hố chôn tập thể tìm thấy được, các xác nạn nhân đều bị trói từng chùm với nhau cả. Và đa số đều bị đập bể đầu vì cán cuốc.

    Được hỏi vì sao Việt cộng lại tàn sát đồng bào man rợ đến như vậy, một trung tá Việt cộng bị bắt tên Hoàng Kim Loan, thành ủy viên hoạt động bí mật tại Huế 20 năm trả lời:

    “ Đây là chủ trương bạo lực cách mạng của cấp trên chỉ thị. Thứ hai, trên đường rút lui, do không thể đem theo tù nhân, nên phải giết. Người Cộng sản chúng tôi có chủ trương thà giết lầm hơn bỏ sót”

    Được hỏi tại sao không bắn họ, cho họ viên đạn còn dễ hơn lấy cuốc đập đầu và đẩy xuống hố, Loan nói:

    “Đạn chúng tôi để bắn Mỹ Ngụy. Đạn đâu để bắn những đám người như vậy.”

    Vì sao Việt cộng lại điên cuồng tàn sát người dân Huế?

    Trong bài viết mới đây, 30/01/2008, “ Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 – Nét đặc sắc của Chiến tranh Nhân dân”, Nguyễn mạnh Hưởng (CS trong nước) đã thú nhận:

    “ ...Để thắng kẻ địch, chúng ta phải phát huy cao độ ưu thế và sức mạnh của chiến tranh nhân dân, quân và dân ta phải có quyết tâm sắt đá...Quần chúng nhân dân trên các mặt trận nổi dậy có tổ chức, với khí thế quyết tâm cao, đặc biệt là tại thành phố Huế, quần chúng đã hăng hái tham gia vào các lực lượng chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong thành phố. Với 26 ngày đêm chiếm giữ thành phố Huế, thắng lợi của quân dân ta là nguồn vũ to lớn, thúc dục các đơn vị lực lượng vũ trang và nhân dân trên khắp các chiến trường tiến công và nổi dậy, tiêu diệt địch và dành quyền làm chủ...”

    Cái mà cán bộ Hưởng gọi là “sức mạnh nổi dậy của quần chúng” thực tế đã trả lời cay đắng cho mộng tưởng. Người dân Huế đã không những không nổi dậy, không hưởng ứng mà lại ùn ùn lánh nạn cùng nhau chạy về phía quân đội VNCH để được bảo vệ.

    Đó là lý do khiến cho quân Việt cộng tức giận điên cuồng nổi lên thú tánh, giết người trả thù cho hả gan.

    Ông Trần Tiễn San, trung úy tiểu đoàn 39 Biệt Động quân đã tham gia tái chiếm Huế, kể lại:

    “ Lúc đánh ở Vỹ Dạ, lực lượng chính của Việt cộng không còn nữa. Nhưng khó đánh vô cùng. Mình tiến từ nhà này sang nhà khác, nhà thì có kẽm gai, bờ tường. Mình thì bên này, dân chúng bên kia, họ thấy là đâm đầu chạy qua...”

    Đây là chủ trương của Hà Nội, là dùng bạo lực cách mạng trấn áp dân Huế. Hà Nội tin là khi họ chiếm Huế, người dân Huế sẽ nổi dậy theo họ. Đó là một đánh giá sai lầm.

    Người Huế sợ Cộng sản vô cùng. Vô cùng sợ. Khi Việt cộng tràn vô Huế, họ đến đâu, dân chúng bỏ chạy đến đó. Mà chạy thì họ bắn. Đó là sự thật. Những ai sống tại Huế thời đó đều biết.”

    Hà Nội đã đánh giá sai lầm người dân Huế qua các báo cáo láo, nịnh bợ, tâng công của những tên nằm vùng ở Huế.

    Những tên nằm vùng đó là ai?

    Ngày nay thì mọi ngưòi đều đã nhẵn mặt những tên: Đóa, Tiềm, Tường, Phan, Xuân... Đó là những hung thần ác sát và năng nổ nhất trong việc chỉ điểm lùng bắt những ai không theo hoặc chống chúng.

    Chúng ta nghe tiếp nhân chứng sống kể lại tội ác của một nhân vật điển hình trong số bọn này:

    “Tôi xin kể với chị Nam Dao nghe là đến ngày mồng 2 Tết, mở mắt ra thì thấy VC đi vòng vòng. Người đầu tiên tôi thấy là ông thầy tôi, ông Tôn Thất Dương Tiềm. Ông dạy môn Việt văn cho lớp đệ tam chúng tôi, mà bây giờ gọi là lớp 10. Tôi đang học lớp đệ tam thì khi đó ông dạy tôi Việt văn. Thầy dạy tôi thế nào là thương đồng bào, yêu tổ quốc, yêu quê hương. Ông Tiềm là người mở cho tôi con đường thấy rõ được bổn phận của thanh niên là phải làm gì cho quê hương. Nhưng quý vị biết không, trời đất ơi, chính ông Tiềm lại là người dạy cho tôi thế nào là tàn ác của VC! Ông Tiềm là người vác súng K54, dưới thì ông mặc quần xanh xanh của cán bộ chính quy, trên thì ông mặc áo màu trắng, áo sơ mi.

    Tôi thấy ông Tiềm lúc đó đang chỉ huy những người cũng mặc áo trắng, mặc quần bộ đội, tức là cán bộ, đeo súng K54 làm làm gì đó, nói sầm nói sì gì đó, sau đó mấy người đó mới chỉ trỏ cho mấy người mặc bộ đồ đen, tức là mấy thằng du kích VC. Trong đám đó tôi còn thấy anh Hoàng Văn Giàu nữa. Anh Hoàng Văn Giàu là một sinh viên học ở Huế.

    Tôi phải sống mà chứng kiến những sự tàn sát theo lệnh của thầy Tôn Thất Dương Tiềm tại thành phố Huế, tại ngã tư Nguyễn Thành và Mai Thúc Loan tại khu thượng thành đó.

    Sáng ngày mồng 2 Tết khi VC xuất hiện, nó bắt đầu xách ra... nó bắt ở đâu không biết, nó bắt ra được 5 người, nó trói tay sau lưng, một số còn mặc áo quần ngủ, một số mặc áo quần bình thường, mặc áo pijama, bộ đồ ngủ - đang ngủ ở nhà nó xách ra. Đến trưa trưa 11, 12 giờ ngày mồng 2 Tết, tôi thấy mấy thằng du kích nó dắt ra, dắt ra. Có mấy thằng loong toong VC nằm vùng cỡ như Hoàng Văn Giàu chạy theo đít, chạy theo, chạy theo, ra tới ngay chỗ cửa Đông Ba. Người ta trói cả rồi, bắt đầu đứng sắp hàng, xoay lưng vô thượng thành - thành cao lắm. Tôi thấy ông Tiềm sắp đủ 5 người, sắp lần lần 1, 2 ,3 ,4, bắt đầu 5 người. Tôi thấy đông, chạy tới tôi coi. Tôi cũng núp núp mà tôi coi. Tôi thấy ông Tiềm ra lệnh cho thằng cán bộ VC nói tiếng Bắc. Thằng đó mới ra lệnh cho thằng VC mặc bộ đồ quần đùi đen, bắt đầu giương súng bắn.

    Trong đó tôi thấy có ông Quế ở tại đường Nguyễn Thành. Ông này hồi trước làm cảnh sát gì đó, bây giờ đã già rồi....”

    40 năm, sau ngày bàn tay đẫm máu đồng bào Huế, những tên này không biết có hối hận ăn năn về tội ác của mình hay không, nhưng chúng luôn chối bai bải về tội ác của mình. Đứa nào cũng nói với tác giả “Giải khăn sô cho Huế” bà Nhã Ca rằng “chúng tôi chớ hề biết về các vụ thảm sát này và chúng tôi rất đau buồn”.

    Hãy nghe tác giả “Giải khăn sô cho Huế” kể lại:

    ...Về “những nhân vật thật”, nêu đích danh chỉ có anh Lê Văn Hảo, thị trưởng Huế Mậu Thân do phía quân giải phóng cử ra. Anh Hảo nay đã tị nạn cộng sản tại Pháp, đã chính thức lên án việc quân giải phóng tàn sát dân Huế hồi Tết Mậu Thân. Nhân vật thứ hai trong sách mang tên Phủ là nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, nguyên Tổng Thư Ký Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Và Hòa Bình Thành Phố Huế thời Tết Mậu Thân. Ðây là chức vụ “phụ trách công việc chính trị” có nghĩa là “xếp” của cả chức thị trưởng. Năm 1997, anh Tường đã đến Paris, lên tiếng trên đài RFI, nói về - xin trích nguyên văn: “nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Ðó là một sai lầm không thể nào biện bác được...” Anh cũng đã công khai “gửi lời cám ơn sự khách quan của chị Nhã Ca dành cho tôi” và nói nguyên văn rằng “Giải Khăn Sô Cho Huế đối với tôi, vẫn là một bút ký hay viết về Huế Mậu Thân; hàng chục năm qua đọc lại, tôi vẫn còn thấy quặn lòng.” Văn bản lời anh Tường trả lời cuộc phỏng vấn của chị Thụy Khuê đài RFI hiện còn lưu trên internet, ai cũng có thể đọc được. Nhân vật thứ ba trong sách có tên là Ðắc, theo lời kể mà tai tôi nghe, liên quan tới cái chết đau thương của người bạn tên là Mậu Tý. Nhà báo Nguyễn Ðắc Xuân, một phụ tá của anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, có viết bài phản bác, nói là anh không hề liên quan.

    Cả ba nhân vật kể trên, đều đã có lòng đích thân đến gặp tôi trước ngày chúng tôi rời Saigon sang Thụy Ðiển.” .

    Thủ phạm của vụ thảm sát là ai? Ai chịu trách nhiệm?

    Đã 40 năm qua, đã 40 lần Việt cộng tổ chức ăn mừng, ca hát trên xác chết của hơn 6000 nạn nhân ở ở Huế, nhưng bọn chúng vẫn không hề nhận tội của mình đã ra lệnh tàn sát người dân Huế vô tội. Vậy ai là sẽ là kẻ chịu trách nhiệm về những cái chết oan khuất của nhiều ngàn người Huế trong tết Mậu Thân?

    Đa số dư luận ở Huế đều nói rằng chính những thành phần thiên Cộng tại Huế, là đám sinh viên, đã thoát ly lên mật khu năm 1966 trong các phong trào sinh viên tranh đấu phải chịu trách nhiệm. Trong số này có những tên được đồng bào chỉ đích danh nhiều lần gồm có Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Lê văn Hảo, Tôn thất Dương Tiềm, Tôn Thất Dương Kỵ, Nguyễn văn Đóa...

    Cả ông Lê văn Hảo từng là Chủ tịch Ủy Ban Nhân dân Cách Mạng Thừa Thiên vào thời ấy, bây giờ cũng chối tội:“Đó không phải là sự thật lịch sử. Tôi chỉ là một con tin(!) trong thế kẹt, phải nhận một chức vụ để bảo tồn sự sống còn để mong có ngày về với vợ con thôi. Chứ tôi nói thật, trong Tết Mậu Thân, vai trò của tôi hoàn toàn thụ động... Sự việc diễn tiến như vậy thì mình đi theo Cách Mạng thôi.”

    “Khi lên trên núi, tôi biết ngay Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam chỉ là một trò bịp bợm, một tổ chức hữu danh vô thực của Cộng sản mà thôi, do Hà Nội chỉ đạo. Mà họ có dấu điều đó đâu.”

    Thực ra cái bọn trí thức chồn lùi như Hảo, Tường, Phan, Xuân, Tiềm, Đóa... chỉ là bọn cò mồi ăn theo, nói leo, vượt thoát lên mật khu đã trở về thực hiện một số vụ hành quyết, chôn sống bạn bè để trả thù cá nhân còn thì làm công việc chỉ điểm để cho bọn Bắc Việt bắt bớ.

    Theo ông Bùi Tín, cựu đại tá CS, đang tị nạn Cộng sản tại Pháp, “giữ một thái độ công bằng, nói có bằng chứng, không biết không nói, không yêu nên tốt, ghét nên xấu” theo cách nói của ông:

    “ Riêng Mậu Thân, tôi biết Tổng Cục Chiến tranh Chính trị có in một chỉ thị - truyền đơn 10 điều kỷ luật chiến trường, đại để là: phục tùng mệnh lệnh, vào vùng giải phóng không quấy nhiễu dân, không lấy cây kim sợi chỉ của dân, làm dân vận, kẻ địch bỏ súng không được tự động giết ... Khi Thủy quân lục chiến cùng VNCH phản công, bộ đội được lệnh rút lên núi phía Tây Huế, cũng có lệnh giải theo tù binh lên núi, nhưng không được để tù binh thoát, lộ bí mật quân sự, chính đại tá Lê Minh, tư lệnh thành Huế ra Hà Nội kể cho tôi nghe chuyện này và cho biết các đại đội và tiểu đoàn đều có thủ tiêu tù bình. Tướng Trần văn Quang tư lệnh quân khu Trị Thiên-Huế chỉ bị “phê bình” khi chuyện tàn sát “hàng ngàn” tù binh đã xảy ra.

    Hơn nữa, các đơn vị trừ gian của ngành an ninh, công an, bảo vệ quân đội đi theo các mũi tiến quân mới là những đơn vị trực tiếp tàn sát nhiều tù binh, họ dựa vào bọn cơ hội - học sinh, sinh viên nằm vùng làm chỉ điểm, tâng bốc là giác ngộ, yêu nước, cách mạng, bọn này lộng hành để cố chứng minh lòng “hăng hái cách mạng” và có khi trả thù cá nhân. Họ tàn sát, gây không khí khủng bố để hăm dọa toàn dân. Tôi cũng nói rõ đảng cộng sản hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi cuộc tàn sát trong chiến tranh, vì họ đã giáo dục căm thù kiểu nhồi sọ có hệ thống, tự nhận là có cả một nền khoa học giáo dục về căm thù giai cấp, coi quân lực miền Nam là kẻ thù không đội trời chung..”

    Đã 40 năm qua, mỗi lần Tết đến, người miền Nam dù trong hay ngoài nước, nhất là người dân Huế, không ai là không đau lòng nhớ lại cái Tết Mậu Thân kinh hoàng đẫm máu. Chỉ riêng những con người cộng sản có máu lạnh mới thản nhiên tổ chức ăn mừng, nhảy múa, “hát trên những xác người”.

    Thử hỏi một người còn có chút lương tri và nhân tính liệu có thể nào trở lại Bãi Dâu để mà vỗ tay ca hát, ăn mừng chiến thắng như có người đã từng: “Chiều đi lên Bãi Dâu, hát trên những xác người, tôi đã thấy những hố hầm đã chôn vùi thân xác anh em, xác người nằm trôi sông, trôi trên ruộng đồng, xác người nằm bơ vơ dưới mái hiên chùa, trong giáo đường, trền thềm nhà. Xác người nằm quanh đây, trong mưa lạnh. Bên xác người già yếu có xác còn ngây thơ...”

    Đó là xác của những tên “phản cách mạng” “thành phần ác ôn có nợ máu với nhân dân” như lời phát biểu của tên đao phủ thủ Hoàng Phủ Ngọc Phan đã chủ trương giết lầm hơn bỏ sót đó ư?

    Sau Tết Mậu Thân, với thảm trạng nhiều ngàn người dân vô tội ở Huế bị Cộng sản trói tay từng chùm với nhau đem chôn sống tập thể hoặc dùng đánh cuốc vào đầu nạn nhân vỡ sọ chết hàng loạt rồi vùi lấp trong các hố để trả thù, người ta càng rùng mình ghê rợn nhận rõ chân tướng loài Cộng sản là một loại ác thú có hình dáng giống người, nhưng không có tim, lại có máu lạnh, thích giết hại và ăn thịt đồng loại.

    Riêng kiểu giết người bằng cách dùng cuốc đập đầu là phương pháp độc nhất vô nhị dã man của Cộng sản đã được tên Bộ trưởng Công An Trần Quốc Hoàn dùng để giết cô Nông thị Xuân, người vợ hờ của “Bác Hồ muôn vàn kính yêu” để phi tang vụ Bác làm cho cô có con. Phương pháp này truyền cho bọn MTGPMN, một thời, dùng để lùng giết, thủ tiêu viên chức Xã Ấp VNCH ở các vùng nông thôn hẻo lánh, hoặc dùng để khủng bố dân chúng không tiếp tế cho chúng.

    Tết Mậu Thân, Việt Cộng lại áp dụng đại trà giết dân lành tại Huế. Và bọn Khờ Me đỏ Pol Pot cũng áp dụng kiểu này ở Cămpuchia để giết hại hàng triệu dân mình. Cộng sản thì ở đâu cũng ác độc giống nhau.

    Mỗi độ tết về, dù nhà cầm quyền Cộng sản cố tình tổ chức rình rang, “hoành tráng” cách mấy chăng nữa để gọi là ăn mừng chiến thắng Tết Mậu cũng vẫn không cách gì che đậy được tội ác của mình với toàn thể nhân dân Việt Nam nói riêng, nhân loại nói chung.

    Năm 1975, khi mới tiến vào miền Nam, nghĩa trang trên núi Ba Tầng, còn gọi là núi Bân, nơi an táng khoảng 400 thi hài tìm được nơi khe Đá Mài vùng Đình Môn Kim Ngọc lập tức bị Cộng sản đập phá tan hoang để hòng bôi xóa vết tích tội ác của mình, cũng đủ nói lên cái “đạo đức cách mạng” mà hiện nay nhà nước ta đang phát động học tập. Oan khiên và thảm thay cho người chết hai lần.

    Đào Hiếu, một sinh viên miền Nam đã từng một thời với Huỳnh tấn Mẫm, Nguyễn tấn Tài, Cao thị Quế Dương, Võ thị Thắng v.v...... nhẹ dạ, ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, đã sớm sáng mắt sáng lòng, nhận ra mặt thật của đảng CS, đã tố cáo sự man rợ tàn ác của Cộng sản trong nhiều tác phẩm của mình.

    Trong cuốn tự truyện mới nhất, 2008, nhan đề “Lạc đường”, Đào Hiếu đã vạch rõ:“ Hóa ra thiện hay ác, văn minh hay man rợ không phải do dân tộc mà là do chính quyền. Chính quyền man rợ sẽ đẩy dân tộc mình vào man rợ”.

    Đào Hiếu muốn nói cái chính quyền man rợ nào ở đây?

    Nguyễn Thanh Ty

    Lannguyen xin cảm ơn Nguyễn Thanh Ty và http://www.vietvungvinh.com thật nhiều.
    Lannguyen

  14. #54
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Hội Thảo Trả Lại Sự Thật Lịch Sử Cho Viêt Nam Cộng Hòa.

    Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm: Người đã lưu dấu bước chân lịch sử trên đảo Hoàng Sa

    Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

    Người chuyển bài : Kim Phạm




    Khi nói đến chủ quyền của hai quần đảo Hoàng sa và Trường Sa, thì cho dù là phía đảng Cộng sản Hà Nội, và ngay những người đã và đang chống đối người đã sáng lập ra Thể Chế Cộng Hòa, và cũng là vị Tổng Tư Lệnh Đầu tiên của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa; đồng thời là người lãnh đạo Nền Đệ Nhất Việt Nam: Cố tổng Thống Ngô Đình Diệm, cũng không phủ nhận được những sự kiện đã được khắc ghi vào vào bia đá của lịch sử:

    Ngoài những sự kiện lịch sử hiển nhiên ấy, thì không một ai phủ nhận được một chúng tích lịch sử về chủ quyền trên đảo Hoàng Sa. Đó là, tấm hình chụp Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã đi thăm viếng đồng bào tại Cù Lao Lý Sơn, tức Cù Lao Ré, thuộc quần đảo Hoàng Sa.

    Quả đúng như thế, vì ngay sau khi ổn định được những nạn sứ quân cát cứ, vượt qua những thử thách, khó khăn do những âm mưu của ngoại nhân cố tình phá hoại, cho đến ngày bầu cử Quốc Hội Lập Hiến, vào ngày 4-3-1956; sau đó, Bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa, do Quốc Hội Lập Hiến biểu quyết ngày 20-10-1956, đã được ban hành ngày 26-10-1956, với đầy đủ Tam quyền Phân lập: Lập Pháp - Hành Pháp và Tư Pháp.

    Lịch sử đã khắc ghi, năm 1954, căn cứ theo Hiệp định Genève về Việt Nam, thì trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của nước Việt nam Cộng Hòa. Tháng 4-1956, khi quân Pháp rút khỏi miền Nam Việt Nam, quân đội của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã ra tiếp thu cácđảo và quần đảo trên Biển Đông. Kể từ 1956, về pháp lý và trên thực tế chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục có nhiều hành động công khai để khẳng định trước cả thế giới về chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:

    Ngày 22-8-1956, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã đổ bộ lên các đảo chính của quần đảo Trường Sa, dựng cột đá chủ quyền và treo lá Cờ vàng Ba Sọc Đỏ trên các đảo. Ngày 22-10-1956, Sắc lệnh số 143/NV của Tổng thống Ngô Đình Diệm đã thay đổi địa giới các tỉnh và tỉnh lỵ tại miền Nam. Trong danh sách các đơn vị hành chính theo Sắc lệnh đó có Bà Rịa-Vũng Tàu được đổi thành tỉnh Phước Tuy và đảo Hoàng Sa (Sắc lệnh chú thích là Spratly) trong quần đảo Trường Sa thuộc về tỉnh Phước Tuy cùng tên với quần đảo Hoàng Sa (Paracels) ở phía bắc. Ngày 13-7-1961, Sắc lệnh số 174/NV của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa: Ngô Đình Diệm đã đặt quần đảo Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Thừa Thiên, (nay thuộc tỉnh Quảng Nam).

    Ngoài những sự kiện ấy, để khẳng định một cách đanh thép trước cả thế giới về chủ quyền của nước Việt Nam Cộng Hòa trên các quần đảo Hoàng Sa. Vì thế, nên vào năm 1961, chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã đích thân ra thăm viếng Cù Lao Ré (tức Cù Lao Lý Sơn), như tấm hình chụp ở phía trên của bài viết, là một chứng tích, để mãi mãi, đời đời cho hậu thế còn tưởng nhớ đến những bước chân lưu dấu lịch sử của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

    Và ngoài những sự kiện lịch sử ấy, trong khi ở ngoài Bắc, của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, thì chẳng riêng là "lịch sử" do đảng Cộng sản viết, mà những kẻ được cho là "nhà báo, nhà văn-nhà thơ đã từng viết về đất nước Việt Nam là: "từ Hà Giang hoặc từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau". Nhưng tại đất nước Việt Nam Cộng Hòa, chính phủ đã cho in những con tem có in hình một bản đồ của nước Việt Nam trọn vẹn từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau; và Bộ Quốc Gia Giáo Dục Đệ nhấtViệt Nam Cộng Hòa còn có những sách Giáo Khoa, cho học sinh từ lớp tư, lớp ba ở bậc tiểu học phải học về địa lý như sau:

    Nước Việt Nam hình cong chữ S, từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau; hoặc bài thuộc lòng:

    Từ Nam Quan, đến Cà Mau

    Non sông gấm vóc, nghèo giàu kết thân.

    Yêu nhau như thể tay chân,

    Ra ngoài chị ngã, em nâng ngay vào.

    Núi kia ai đắp nên cao,

    Tình Dân Tộc, nghĩa Đồng Bào thiết tha.

    Cùng nhau chung một mầu da,

    Cùng dòng máu Việt, một nhà Lạc Long.

    Chúng ta dòng giống Tiên Rồng,

    Đừng quên rằng: Bắc-Nam-Trung một nhà.

    Qua những bài học cho học sinh từ bậc tiểu học, đã cho mọi người hiểu được: Chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa đã KHÔNG ký vào Hiệp định Genève, 1954 về Việt Nam, cho nên không chấp nhận sự chia cắt đất nước. Bởi vậy, nên Tổng Thống Ngô Đình Diệm của Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa đã có mưu cầu Bắc tiến, để giải cứu đồng bào miền Bắc đang phải sống dưới chế độ Cộng sản vô thần, mà qua đó, chúng ta đã từng nghe nhạc sĩ Lam Phương đã viết lên những lời tha thiết :

    "Anh cùng em xây một nhịp cầu, để mai đây, quan Nam về Thăng Long đem thanh bình về sưởi ấm muôn lòng".

    Lịch sử vốn như ánh mặt Trời. Vì thế, cho nên bàn tay của con người không bao giờ che khuất được những sự thật lịch sử ấy. Nên biết và nên nhớ: Sắc lệnh của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa: Ngô Đình Diệm đã công bố vào ngày 13/7/1961, trước cả thế giới, với Sắc lệnh này, chính phủ của Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa đã khẳng định chủ quyền về quần đảo Hoàng Sa. Đồng thời cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng đã cho xây dựng Bia Chủ Quyền trên cả quần đảo Trường Sa.

    "Ẩm thủy tư nguyên", hay Uống nước nhớ nguồn - Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Vậy, những người đã và đang núp dưới chiếc bóng và cũng là vầng hào quang của nước Việt Nam Cộng Hòa-Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ-Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa- Chiến Sĩ Cộng Hòa và các tổ chức "chính trị- tranh đấu" dưới danh nghĩaViệt Nam Cộng Hòa. Tất cả những người ấy, nếu còn có chút lương tri của một con người thật sự, thì không bao giờ cho phép mình được quên rằng: Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm; Người đã tận hiến cả đời mình đối với Tổ Quốc và Dân Tộc - Người đã khai sáng Thể Chế Cộng Hòa Việt Nam, và là người đã từng khẳng định trước cả thế giới về chủ quyền của nước Việt Nam Cộng Hòa trên cả hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa; và cũng chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm; Người đã lưu dấu bước chân lịch sử trên đảo Hoàng Sa.

    Paris, 14/10/2012

    Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

    Lannguyen xin cảm ơn Hàn Giang Trần Lệ Tuyền thật nhiều.
    Lannguyen

  15. #55
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    8,759
    Thanks
    13
    Thanked 57 Times in 53 Posts

    Hội Thảo Trả Lại Sự Thật Lịch Sử Cho Viêt Nam Cộng Hòa.


  16. #56
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    8,759
    Thanks
    13
    Thanked 57 Times in 53 Posts

    Hội Thảo Trả Lại Sự Thật Lịch Sử Cho Viêt Nam Cộng Hòa.

    Tổng Lãnh Sự Mỹ Thăm Nghĩa Trang Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa.



    Ông Lê Thành Ân, Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn, được ông Nguyễn Đạc Thành, chủ tịch hội Vietnamese American Foundation, hướng dẫn thăm và thắp hương tưởng niệm tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, nơi nhiều thập niên qua đã bị Việt cộng đập phá và chỉ mơi cuối năm ngoái được cho trùng tu một phần ở Nghĩa Dũng Đài.

    C
    ùng đi có 2 người từ Bộ Ngoại Giao Mỹ. Trong lá thư do ông Nguyễn Trần Đàm, Phó Chủ Tịch kiêm Tổng Thư Ký VAF, phổ biến có nói trùng tu là kết quả sau 5 năm âm thầm vận động của VAF, trong đó có việc tìm kiếm và cải táng gần 500 mộ “Tù Cải Tạo,” hình ảnh lưu ở trang Tình Đồng Đội (http://www.tinhdongdoi.org).

    Trích Việt Báo.

  17. #57
    Join Date
    Mar 2008
    Posts
    6,232
    Thanks
    2
    Thanked 13 Times in 13 Posts

    Default Re: Hội Thảo Trả Lại Sự Thật Lịch Sử Cho Viêt Nam Cộng Hòa.

    lịch sử việt Nam viết lại 2013 .. cho ai đọc .. . chó nó đọc ..bọn côn đồ cộng sản sẽ đón đọc ..

  18. #58
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    8,759
    Thanks
    13
    Thanked 57 Times in 53 Posts

    Re: Hội Thảo Trả Lại Sự Thật Lịch Sử Cho Viêt Nam Cộng Hòa.

    Tiểu bang Virginia ra nghị quyết công nhận Ngày Nam Việt Nam.


    NGHỊ-QUYẾT LƯỠNG VIỆN DO THƯỢNG-VIỆN KHỞI XƯỚNG SỐ 455

    Chỉ-định ngày 30/4 năm 2013 và những năm kế-tiếp, là Ngày Công Nhận
    Nam Việt Nam ở Virginia
    Được Thượng-viện đồng-thanh chấp thuận ngày 21/2/2013
    Được Hạ-viện đồng-thanh chấp thuận ngày 22/2/2013

    XÉT VÌ, những người Mỹ gốc Nam Việt Nam, một dân-tộc oai hùng và cần mẫn, hiện là nhóm người Mỹ gốc Á lớn thứ tư trên đất Mỹ; và

    XÉT VÌ, một cuộc di-cư vĩ-đại của người Việt miền Nam đã sang Hoa-kỳ khi bạo-quyền cộng-sản chiếm xong Việt-nam Cộng-hòa sau ngày Sài-gòn thất thủ vào năm 1975; và

    XÉT VÌ, cho đến phút chót, những binh sĩ trong Quân-lực VNCH đã kiên-cường chiến-đấu để bảo-vệ nền tự do của họ một cách tài-tình, táo-bạo và can-đảm, như trường-hợp Lữ-đoàn III Kỵ-binh QLVNCH đã chứng-minh sự dũng-cảm và tài-nghệ trong chiến-đấu đến độ được lãnh Huy-chương của Tổng-thống Hoa-kỳ dành cho một đơn-vị; và

    XÉT VÌ, gần 60 nghìn chiến-sĩ Hoa-kỳ đã hy-sinh trong Chiến-tranh VN và 224 nghìn binh sĩ QLVNCH đã nằm xuống để bảo-vệ quốc gia của họ; và

    XÉT VÌ, mặc dầu sự hy-sinh của người Mỹ rất to lớn ở VN, một số trận chiến khắc nghiệt nhất--kể cả cuộc chiến dã-man sau khi Hoa-kỳ đã rút khỏi VN--đã được gánh vác chủ-yếu bởi các đồng-minh Nam Việt Nam của chúng ta; và

    XÉT VÌ, cuộc Tổng-công-kích Tết Mậu-thân 1968 của CS là nhằm bẻ gãy ý-chí chống lại CS của quân dân Miền Nam, Quân-lực VNCH đã chống trả quyết-liệt, và không một đơn-vị nào bỏ chạy hay tan hàng; thật vậy, đến ngay cảnh-sát cũng hăng say chiến-đấu, dùng súng lục chống lại quân chính-quy của địch được võ-trang đầy đủ; và

    XÉT VÌ, cùng với bộ-binh, thủy-quân, không-quân, và TQLC Hoa-kỳ, Quân-lực VNCH đã tận-diệt bộ-đội du-kích của Việt-Cộng, loại-trừ hẳn thành-phần này ra như một binh-đội còn có khả-năng chiến-đấu trong phần còn lại của cuộc chiến; và

    XÉT VÌ, hầu hết các đơn-vị chiến-đấu của Hoa-kỳ đã rời VN vào năm 1972, các đơn-vị QLVNCH đã tiếp-tục chiến-đấu rất hào-hùng chỉ với một sự giúp đỡ tối-thiểu của Mỹ, đánh bại cuộc Tổng-công-kích Mùa Hè Đỏ Lửa năm ấy, một cuộc xâm-lăng quy-mô và quy-ước trên toàn miền, có chiến-xa T-54 của Liên-Xô dẫn đường; và

    XÉT VÌ, chính chiến-thắng của QLVNCH vào Mùa Hè Đỏ Lửa đã buộc Bắc-Việt phải chấp nhận kết-thúc chiến-tranh qua thương thảo; và

    XÉT VÌ, tiếc thay, vào năm 1974 Hoa-kỳ đã rút cầu bằng cách giảm gần hết yểm-trợ quân-sự, kể cả không-lực, cắt nghiêm-trọng việc cung-cấp dầu xăng và đạn-dược cho Quân-lực VNCH--giờ đây bị bóp nghẹt bởi thiếu hết quân-trang quân-cụ trong khi chiến-xa và pháo-đài chỉ được phát một số-lượng rất nhỏ đầu đạn, có khi xuống đến vài quả trong một ngày, thậm chí đến các bộ truyền tin cũng không cả có pin để xử dụng; và

    XÉT VÌ, việc thắt chặt các đường dây tiếp-tế cho Quân-lực VNCH đã làm suy sụp tinh-thần và khả-năng chiến-đấu của họ, làm cho việc chiến-đấu hữu hiệu của ngay những đơn-vị can trường nhất của Miền Nam cũng không thể thực-hiện được trước cuộc xâm-lăng chót của quân Bắc-Việt, vào lúc đó vẫn được cung-cấp đầy đủ bởi đồng-minh Trung-Cộng và Liên-Xô của họ; và

    XÉT VÌ, bởi tất cả mọi người có liên-hệ với Mỹ hay chính-quyền VNCH rất lo ngại về viễn-ảnh trả thù tệ-hại của CS nên vào phút chót, trong khi quân-đội CS tràn xuống miền Nam vào mùa Xuân năm 1975, 125 nghìn nhân-viên then chốt của VNCH đã được không-vận từ Miền Nam sang các trại tỵ nạn ở Hoa-kỳ; và

    XÉT VÌ, ngay trong lúc binh lính Mỹ và nhân-viên Sứ-quán Hoa-kỳ được trực-thăng đến đón thì có những bà mẹ VN kinh hãi ném ngay con mình vào tay những người hoàn-toàn xa lạ, chỉ để mong làm sao cho con mình thoát được cảnh tắm máu sắp xảy ra; và

    XÉT VÌ, chế-độ kinh-hoàng xuất hiện gần như tức-khắc nên người Việt miền Nam đã trong tuyệt-vọng trốn chạy bạo-quyền sát sinh CS, đưa đến khoảng 2 triệu người đã tìm cách trốn khỏi "thiên-đường nhân-dân" do CS Bắc-Việt hứa hẹn; và

    XÉT VÌ, đi bằng những con thuyền mỏng manh, chặt nứt, rất nhiều người miền Nam đã liều lĩnh ra khơi, đi vào sóng gió bão táp của Biển Đông, đem lại cái chết của hàng trăm ngàn người bị lật thuyền, chìm xuống đáy đại-dương; mặc dầu vậy, những con số khổng-lồ người Việt miền Nam vẫn tiếp-tục ra đi từ năm 1975 đến giữa thập niên 1980; và

    XÉT VÌ, cũng bắt đầu từ 1975 và kéo dài hàng thập niên sau đó, hơn một triệu người miền Nam--đặc-biệt là các cựu-sĩ-quan và công-chức chính-phủ--bị đưa vào các trại tập trung mà được gọi một cách hiền lành là các trại "học tập cải tạo," nơi đó nhiều ngàn người đã bị "cải tạo" đến chết luôn; và

    XÉT VÌ, những trại tập trung của CS được nổi tiếng qua các chế-độ khổ-sai tàn-bạo, nhồi sọ về chính-trị, và những nhiệm-vụ chết người như đi chân đất dò mìn, không hề qua những thủ-tục cáo buộc tội-trạng hay xét xử trước tòa án; và

    XÉT VÌ, những điều-kiện trong trại tệ hại đến mức nhiều người sống sót cho rằng gần một phần ba các tù-binh đã chết trong thời-gian bị cầm tù; và

    XÉT VÌ, con số di-cư của người Việt miền Nam sang Hoa-kỳ lên tới đỉnh-điểm vào năm 1992 khi, sau hàng thập niên bị tra tấn, nhiều người sống sót từ các trại tập trung nói trên cuối cùng mới được thả ra và bảo trợ bởi gia-đình họ sang xứ này; và

    XÉT VÌ, sau khi chịu cực-hình qua nhiều năm khổ đau và ngược-đãi không thể tưởng-tượng nổi, những người miền Nam đã trốn được khỏi quê hương đã tỏ ra tài-năng và thông minh vượt bực để trở thành một nhóm người dám vào thương-trường và tìm đường thăng-tiến, giải-quyết chóng vánh những bước đầu nghèo khó sau khi đến Hoa-kỳ; và

    XÉT VÌ, ngày nay, 82 phần trăm người Việt miền Nam có mặt ở Hoa-kỳ là những người sinh trưởng ở đây hay là người đã có quốc-tịch Hoa-kỳ, một tỷ-lệ rất cao trong mọi nhóm di-dân có quốc-tịch; và

    XÉT VÌ, qua nhiều thập niên, những người Mỹ yêu nước gốc Nam Việt Nam này đã đóng góp đáng kể vào nước Mỹ với trí-tuệ, tài-năng, quyết-tâm và lòng trung-thành của họ, với không ít con em đang phục-vụ một cách hãnh-diện trong Quân-lực Hoa-kỳ; do đó,

    Thượng-viện QUYẾT-NGHỊ, với sự đồng-thuận của Hạ-viện,

    Là Đại-nghị-viện Virginia sẽ lấy ngày 30 tháng Tư 2013 và cùng ngày này trong những năm kế-tiếp, làm Ngày Công Nhận Nam Việt Nam ở Virginia; và

    QUYẾT-NGHỊ TIẾP,

    Là Thư-ký Thượng-viện chuyển một bản của Nghị-quyết này tới Hiệp-hội Thương mại Á-châu ở Virginia và Nghị-hội Toàn-quốc Người Việt tại Hoa-kỳ đặng cho những thành-viên của hai tổ-chức này được biết về quyết-định của Đại-nghị-viện Virginia về vấn-đề này; và

    CUỐI CÙNG QUYẾT-NGHỊ,

    Là Thư-ký Thượng-viện đưa việc chỉ-định ngày này lên Trang Nhà Điện Tử của Đại-nghị-viện Virginia.


    Nguyễn Ngọc Bích dịch
    Springfield, VA
    Đêm 28-29 tháng 3, 2013

  19. #59
    Join Date
    Mar 2008
    Posts
    6,232
    Thanks
    2
    Thanked 13 Times in 13 Posts

    Default Re: Hội Thảo Trả Lại Sự Thật Lịch Sử Cho Viêt Nam Cộng Hòa.

    XÉT VÌ...dân tộc việt Nam quá nghèo , chiến tranh triền miên , để lại sẽ bị cộng sản giết vì liên hệ đến hoa kỳ. thôi thì phải cắn răng nhận đám người tị nạn cộng sản , thấy chúng là bị dị ứng ..làm tại Viaga..

  20. #60
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    13,048
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Hội Thảo Trả Lại Sự Thật Lịch Sử Cho Viêt Nam Cộng Hòa.

    Quote Originally Posted by cucucon View Post
    XÉT VÌ...dân tộc việt Nam quá nghèo , chiến tranh triền miên , để lại sẽ bị cộng sản giết vì liên hệ đến hoa kỳ. thôi thì phải cắn răng nhận đám người tị nạn cộng sản , thấy chúng là bị dị ứng ..làm tại Viaga..



    Nói đi nói lại không bằng nói SỰ THẬT! XÉT ra thì dân tộc Việt Nam đầy đủ tài nguyên quý giá cho nên bọn Ba Tàu Chệt đua nhau chạy vào Việt Nam mần ăn cho nên từ đó có mưu đồ thôn tính đất nước Việt Nam..Nhưng đã bị Vua Quang Trung Nguyễn Huệ đánh cho một phát chí tử càn quét hết bọn Ba Tàu Chệt ra khỏi đất nước Việt Nam! Nhưng Mẹ ui! Thèng Chó Chệt Mao lại có mưu đồ dụ dỗ thèng Hồ Chó Minh mở cửa cho chúng nó vào thôn tính VN thêm một lần nữa để chúng có cơ hội CƯỚP Đảo Biển và Tài Nguyên Quý Giá của Việt Nam cho nên từ đó đất nước VN dưới sự lãnh đạo của bọn Bần Cố Nông CS Bắc Kỳ DỐT thì VN mới "bị" nghèo là phải thui! Chứ thời Đế Quốc Pháp Mỹ vào VN đã có công tái thiết xây dựng cho đất nước VN được trở thành "Hòn Ngọc Viễn Đông" cho nên thèng Ba Tàu Chệt ganh tỵ và luôn có mưu đồ thôn tính trọn cả đất nước VN cho đến ngày hôm nay vẫn chưa chịu buông tha!

    Còn đám người tị nạn CS ngày nay đã trở thành những công dân thành đạt vẽ vang toàn cầu và họ có được một tinh thần tư duy độc lập với tính trách nhiệm cao để giúp ích cho xã hộicác cộng đồng Việt và Tây Phương! Chứ họ đâu có rãnh rang mà ngồi đây để NỔ DỐT như bọn dân ở lậu vô học như chúng bây đâu! Bộ chúng bây ganh tỵ sao mà lại cứ suốt ngày ra rả những lời mị dân để tuyên truyền giùm cho CS à!???


Page 3 of 43 FirstFirst 12345678910111213 ... LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •