Page 2 of 3 FirstFirst 123 LastLast
Results 21 to 40 of 43

Thread: Tìm Hiểu Về Đức Chúa Trời Qua Thánh Kinh

  
  1. #21
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Đức Chúa Trời Qua Thánh Kinh

    Đấng Mở Cửa Lạ Lùng

    Những cửa nào Ngài mở ra thì không ai có thể đóng lại được (Khải Huyền 3:7).

    Những cửa nào được Đức Chúa Trời mở ra luôn khiến tôi không ngăn được sự kinh ngạc. Cho dù với tất cả trình độ học vấn cao cấp, các tổ chức khổng lồ, cùngø những máy điện toán siêu đẳng, loài người không bao giờ có thể hoạch định, vận dụng hay kết hợp trong một triệu năm về những gì mà Thiên Chúa có thể chỉ làm trong chốc lát. Sự sáng tạo vũ trụ là một ví dụ căn bản. Ngài đã có thể phán dựng toàn thể vũ trụ hiện hữu trong một phần triệu giây, nhưng hiển nhiên Đấng Thượng Đế đã chọn dùng sáu ngày cho một mục đích đặc biệt.

    Sức mạnh làm việc trong quyền phép của Ngài cũng không hề thay đổi trên mặt đất hầu giúp cho con dân Ngài hoàn thành được Sứ Mạng Lớn. Một ví dụ là những gì được xảy ra tại cựu Liên bang Xô-Viết. Thật là phép lạ của những phép la. Vào dịp lễ Phục-sinh năm 1990, tôi đã đứng tại tòa nhà quốc hội bên trong các bức tường của điện Cẩm-Linh để trình bày về sứ điệp tình yêu và sự tha thứ của Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu Thé Giê-Su cho một đám đông khoảng 6,000 người Liên-Xô. Và nhà cầm quyền đảm bảo với tôi về một con số khán giả phỏng chừng 250 triệu người đang xemqua truyền hình cùng ít nhất 100 triệu người đang nghe qua máy phát thanh! Cái quốc gia to lớn này đã từng chối bỏ Cứu Chúa Giê-Su và sự hiện hữu của Thượng Đế trong hơn 70 năm, nay đang nghe về Ngài. Tất cả sự việc này dã do lời mời của nhà cầm quyền và họ cũng nhận trả các chi phí cho thời gian truyền hình! Và tại chỗ này tôi công bố cho họ biết rằng “vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài hầu cho hễ ai tin Con ấy thì sẽ không bị hư mất, nhưng được sự sống đời đời.” Họ đã nhận được một tin báo của sự sống không phải một tin báo về sự chết mà họ đã phải nghe trong nhiều thập niên qua.

    Những con người đó đã chối bỏ các lẽ thật của Kinh-thánh trong nhiều thế hệ. Họ đang đói khát Lời của Thiên Chúa. Qua nhiều cuộc truyền giáo khác nhau trong nước Liên-Xô, Các sự thăm dò đã cho thấy có khoảng từ 80 tới 90 phần trămnhững người tham dự các công cuộc truyền giáo khác nhau đã đáp ứng lại lời hứa đó bằng sự tiếp nhạân Cứu Chúa Giê-Su vào đời sống mìnhï. Đã có một đợt luà quét vĩ đại của Đức Thánh Linh trải qua vùng cựu Liên Bang Xô-Viết sau cuộc giải kết của nó. Dĩ nhiên cũng như phần còn lại của thế giới, vẫn còn nhiều sự hung ác ở đó. Nhưng Lời Chúa Trời đã được trồng tại đây và hàng triệu người đã nói “xin nhận” với Chúa Cứu Thế Giê-Su. Dù cho cánh cửa thông thương với bên ngoài có bao giờ bị đóng trở lại thì Thiên Chúa đã có người của Ngài ở đó để nối tiếp công việc.

    “Đấng mở thì không ai có thể đóng được, Đấng đóng thì không ai có thể mở được.” (Khải 3:7 bản NTL).

    Bill Bright
    Lannguyen

  2. #22
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Đức Chúa Trời Qua Thánh Kinh

    Người Xoát Vé Xe-Lửa Thô Lỗ

    Có bao giờ bạn mang sự hằn học trong người đối với ai đó và chỉ một va chạm nhỏ nhoi cũng khiến bạn nổ tung ra?

    Câu chuyện về một người mua vé hạng chót của một hãng hoa xa lớn. Không biết rằng mình bước vào toa hạng sang đặc biệt, ông ta vô tình ngồi lên chỗ của người khác. Người kiểm soát sau khi xét vé đã măùng nhiếc ông thật tàn nhẫn. Khi người đàn ông xuống xe lửa, một hành khách khác đã hỏi, “Này, tại sao anh không đấm vào mũi cái tên xoát vé đó? Hoặc ít ra cũng phải báo cáo về hắn lên giới thẩm quyền bên trên chứ? “Ồ không.” Người khách cao nhã trả lời, “Nếu con người đó có thể chịu đựng nổi chính mình suốt cả cuộc đời, thì chắc chắn tôi có thể chịu đựng ông ta trong vài phút.”

    Hãy đối diện điều này, hầu như người ta dễ nóng giận mỗi lúc. Và thường thì sự thù nghịch trong lòng tự bộc lộ ra qua các lời nói và hành động. Kinh Thánh Gia-cơ đoạn 3, câu 8-12, công bố: “Nhưng không có ai chế ngự được cái lưỡi, là một vật dữ phóng túng, đầy chất độc hại người. Khi này nóđược dùng để ca ngợi Chúa và Cha chúng ta, và khi khác nó thốt ra những lời nguyền rủa con người là kẻ đã được tạo dựng theo hình ảnh Đức Chúa trời. Từ một cái miệng mà phát ra cả lời phúc lành lẫn rủa sả. Thưa anh chị em không nên làm thế. Dòng nước từ một mạch lại chảy ra nước ngọt lẫn nước đắng sao? Có thể nào anh chị em hái trái ô-liu từ cây vả hay trái vả từ cây nho không? Không thể được và anh chị em không thể múc nước ngọt từ một bể nước mặn.” (bản NLT).

    Có một số điều tự làm ô nhiễm hơn cả các lời độc hại phát ra từ nơi sâu thẳm của một trái tim cay đắng. Có lẽ chúng ta nên luôn nhớ đến những lời dạy của Thiên Chúa:

    “Hãy thận trọng để đừng có ai hụt mất ân sủng của Đức Chúa Trời và để đừng cho rễ đắng đâm ra gây rối ren và làm ô uế nhiều người” (Hêbơrơ 12:5, bản NIV)

    “Lưỡi có thể nuôi dưỡng hoặc giết chết đời sống” (Châm ngôn 18:21, bản NLT).

    “Lời nói tử tế như là mật ong,dịu ngọt cho tâm hồn và khoẻ mạnh cho thân xác” (Châm ngôn 16:24, bản NLT)

    Bill Bright
    Lannguyen

  3. #23
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Đức Chúa Trời Qua Thánh Kinh

    Không Cần Giấy Căn Cước

    “Tôi coi hết thảy mọi điều khác là không giá trị gì khi so với sự thâu đạt vô giá của việcï nhận biết được Chúa của tôi là Đấng Cứu Thế Giê-Su” (Philíp 3:8a, phiên bản Đời Mới).

    Một ngày kia, cô Linda bước vào ngân hàng để lãnh ra tiền mặt. Do vị trí đứng chờ trong hàng, cô ngẫu nhiên bước đến chỗ của một nhân viên thâu ngân không quen biết. Linda tự hỏi không biết người này có chấp nhận cái ngân phiếu hay không. “Bà có giâùy tờ xác nhận nào không? Người thâu ngân yêu cầu. “Có”, cô Linda trả lời. Đương khi cô tìm thẻ bảo đảmvề trương mục ngân hàng của mình trong ví thì người quản đốc ngân hàng rảo bước ngang qua. “Chào Linda” ông đón tiếp, đoạn nói cùng nhân viên thâu ngân “Đừng lo ngại. Đây chính là Linda như lời cô nói. Côlà bạn thân của tôi.”

    Những tình bạn thân thiết và bền chặt làm cho đời sống chúng ta trọn vẹn, đầy đủ, và có gíá trị. Chúng ta đều học biết phải đầu tư thì giờ và công sức vào những sự giao kết này để giữ chúng được tốt đẹp và mạnh mẽ. Nhưng có điều gì có thể nhận được tưởng thưởng nhiều hơn là sự nuôi dưỡng một mối tương giao cá nhân thân thiết với chúa Cứu Thế tuyệt diệu của chúng ta? Bất cứ ai học Lời thánh của Đức Chúa Trời đều thu nhận kiến thức mẫn tuệ về Thượng Đế. Nhưng người ta phải tiếp nhận Đấng Cứu Thế Giê-Su làm Người Giải Cứu và làmChúa của cá nhân mình thì mới thực sự có được mối liên kết mật thiết với Ngài. Có phải thật lạ lùng khi chúng ta có thể nhận được một tình bằng hữu thân thiết riêng tư với Đấng Sáng Tạo vũ trụ? Thế gian này không có một chút hiểu biết nào về đạo Cơ Đốc thực sự là những gì, bằng không, họ đã chạy đến với Đấng Cứu Thế, để biết và phục vụ Ngài. Và bất hạnh thay, nhiều người Cơ Đốc cũng không biết gì hơn. Quan trọng như thế nào trong việc biết Đấng Cứu Thế? Phao Lồ trả lời: “Tôi coi hết thảy mọi điều khác là không giá trị gì khi so với sự thâu đạt vô giá của việcï nhận biết được Chúa của tôi là Đấng Cứu Thế Giê-Su. Tôi đã bỏ đi mọi điều khác, coi chúng hết thảy như rác rưởi, hầu cho tôi có được Cứu Chúa Giê-Su và trở nên một với Ngài. Tôi không còn kể đến sự công bình của riêng mình hay bởi khả năng vâng giữ luật pháp, nhưng tôi tin cậy Chúa Cứu Thế đã giải cứu tôi. Vì đường lối của Đức Chúa Trời để làm chúng ta nên công chính với Ngài tuỳ thuộc nơi đức tin. Kết quả là tôi có thể biết được Đấng Cứu Thế và kinh nghiệm được năng quyền siêu việt đã làm Ngài sống lại từ cõi chết” (Philíp 3:8-1).

    Chúng ta đọc thấy trong thư tín 2 Phie-rơ đoạn 1 câu 2: “Nguyện xin ân điển và sự bình an càng được gia thêm hơn nữa cho anh em bởi sự nhận biết Đức Giê-Su là Đức Chúa Trời và Cứu Chúa của chúng ta” (bản Đời Mới). Đây cũng là lời cầu ngưyện của tôi cho các bạn: Để các bạn sẽ đến và biết Ngài “càng được gia thêm hơn nữa”.

    Dr Bill Bright
    Lannguyen

  4. #24
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Đức Chúa Trời Qua Thánh Kinh

    Sống Ðắc Thắng

    Tác Giả: Mục sư Cố Nguyễn Bá Quang

    "Quyền phép Ðức Chúa Trời đã ban cho chúng ta mọi điều thuộc về sự sống và sự tin kính, khiến chúng ta biết Ðấng lấy vinh hiển nhơn đức mà gọi chúng ta, và bởi vinh hiển nhơn đức ấy, Ngài lại ban lời hứa rất quý rất lớn cho chúng ta, hầu cho nhờ đó anh em được lánh khỏi sự hư nát của thế gian bởi tư dục đến, mà trở nên người dự phần bổn tánh Ðức Chúa Trời." (II Phierơ 1:1-4)

    Chúng ta đang sống trong những tháng đầu năm 1999. Nếu Chúa Giê-xu chưa tái lâm, thì đầu năm tới chúng ta sẽ bước vào năm 2000, mở đầu một niên kỷ mới và cũng là một thiên niên mới.

    Trong năm qua, quí vị và tôi đã sống như thế nào cho Chúa? Chúng ta đắc thắng hay thất bại trong đời sống tâm linh?

    Phúc âm Mác 3:13-19 cho biết khi Chúa Giê-xu lập 12 vị sứ đồ đầu tiên và sai họ đi giảng đạo thì Ngài "ban cho quyền phép đuổi quỉ". Tại sao Chúa Giê-xu ban cho các sứ đồ quyền phép đuổi quỉ? Vì Ngài biết trong cuộc chiến tâm linh, họ sẽ phải đương đầu với ác quỉ, nhưng Ngài muốn họ đắc thắng. Khi Chúa Giê-xu thành lập Hội Thánh, Ngài cũng tuyên bố: "Các cửa âm phủ chẳng thắng được hội đó" (Mathiơ 16:18). Ngày nay, Chúa cứu chúng ta cũng cùng mục đích nầy: đó là Ngài muốn chúng ta phải sống một cuộc đời đắc thắng cho Chúa.

    Kinh Thánh cho biết chúng ta có những kẻ thù rất nguy hiểm là ma quỉ. Thư Ê-phê-sô 6: 12 chép rằng "Vậy, chúng ta đánh trận chẳng phải cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền, cùng thế lực, cùng vua chúa của thế gian mờ tối nầy, cùng các thần dữ ở các miền trên trời". Kẻ thù của chúng ta là chúa quỷ Sa-tan và các quỉ sứ của nó. Sa-tan và các quỉ nguyên là các thiên sứ đã sa ngã. Dù sa ngã, nhưng ma quỉ vẫn là những thần linh mà sức người của chúng ta không thể địch nỗi.

    Nhưng trong các câu tiếp theo, Chúa cũng nói cho chúng ta biết rằng chúng ta có thể thắng ma quỉ "nhờ sức toàn năng của Ngài". Chúa cũng trang bị cho chúng ta "mọi khí giới của Ðức Chúa Trời" để chúng ta có thể "đứng vững mà địch cùng mưu kế của kẻ dữ". Nói cách khác, muốn chiến thắng ma quỉ, chúng ta phải nhờ đến sức toàn năng của Ðức Chúa Trời và sử dụng vũ khí tâm linh của Chúa ban cho.

    Trong phần mở đầu của thư II Phi-e-rơ, vị sứ đồ đã chỉ cho chúng ta thấy một yếu tố rất quan trọng của đời sống đắc thắng. Ðó là chúng ta chẳng những được Chúa tha thứ tội lỗi và đổi mới mà chúng ta còn được "trở nên người được dự phần bản tánh của Ðức Chúa Trời" (câu 4).

    Ðiều nầy có nghĩa gì?

    Ðược cứu bởi quyền phép của Ðức Chúa Trời
    Câu 3 chép rằng "Quyền phép Ðức Chúa Trời đã ban cho chúng ta mọi điều thuộc về sự sống và sự tin kính khiến chúng ta biết Ðấng lấy vinh hiển và nhơn đức mà gọi chúng ta."

    Tất cả mọi con cái Chúa đều được Chúa cứu bởi quyền phép của Chúa, chứ không phải bởi bất cứ điều gì nơi con người chúng ta. Không ai được cứu vì học giỏi, hay thông minh… Cũng không người nào được cứu vì khổ công tu luyện, làm lành lánh dữ, tích tụ được nhiều công đức v.v… Lý do là vì tất cả mọi người đều là tội nhân trước mặt Chúa, và trước tiêu chuẩn thánh khiết tuyệt đối của Ðức Chúa Trời, mọi công đức của chúng ta chỉ là một chiếc áo dơ bẩn mà thôi. Sự cứu rỗi không bao giờ là hậu quả của một đời sống đạo đức, nhưng khi đã được cứu rỗi, chúng ta bắt buộc phải sống đạo đức thánh thiện.

    Phúc âm Giăng 1:12 chép: "Nhưng hễ ai đã nhận Ngài (Chúa Giê-xu) thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Ðức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài." Chỉ có quyền phép của Chúa Giê-xu mới biến chúng ta từ địa vị tội nhân trở thành con cái Ðức Chúa Trời. Chỉ có quyền phép của Ðức Chúa Trời mới có thể hoán cải, đổi mới cuộc đời của quí vị và tôi khi chúng ta thành khẩn ăn năn tội lỗi và tin Chúa Giê-xu.

    Quí vị đã thực sự kinh nghiệm ơn cứu rỗi bởi quyền phép của Ðức Chúa Trời qua sự chết của Chúa Giê-xu để chuộc tội cho quí vị chưa? Nếu không bởi quyền phép của Chúa thì dù siêng năng đi nhà thờ, dâng hiến, học Kinh Thánh, cầu nguyện v.v… cũng chưa thật sự được cứu.

    Mặt khác, Ðức Chúa Trời lấy quyền phép của Ngài để cứu rỗi chúng ta, chẳng những để tha tội chúng ta và nhận chúng ta làm con cái Ngài, nhưng Ngài còn muốn chúng ta phải sống thánh thiện nữa. Chúa muốn chúng ta phải có nếp sống tin kính phù hợp với địa vị làm con của Ngài. Do đó, không kinh nghiệm quyền phép của Ðức Chúa Trời thì không thể sống đắc thắng. Thiếu kinh nghiệm quyền phép của Chúa, thì đời sống tin kính của chúng ta giống như một chiếc xe có đủ máy móc nhưng không có xăng. Là con cái Chúa, chúng ta thử nhớ lại để xem có phải những thất bại trong đời sống theo Chúa của chúng ta là vì chúng ta cố gắng sống bằng sức riêng của mình không?

    Quyền năng của Chúa trong đời sống của chúng ta lúc nào cũng là kết quả của một đời sống gần gũi Chúa qua cầu nguyện, học lời Chúa, và thực hành lời Chúa. Có người đưa ra hình ảnh về đời sống đắc thắng của con cái Chúa là bàn tay năm ngón của chúng ta: ngón cái là cầu nguyện, ngón trỏ là học Kinh Thánh, ngón giữa là cầu nguyện thêm, ngón áp út là thực hành lời Chúa, và ngón út là cầu nguyện nữa.

    Ðược dự phần bản tánh của Chúa.
    Vì mục đích của Ðức Chúa Trời cứu rỗi chúng ta là muốn chúng ta phải sống đắc thắng, nên Ngài đã lấy "vinh hiển và nhơn đức" mà gọi chúng ta như phần cuối của câu 3 chép.

    Chúa lấy vinh hiển và nhân đức mà gọi chúng ta có nghĩa gì? Có nghĩa đơn giản là Chúa rất thương yêu chúng ta và muốn những người được Chúa cứu hưởng sự vinh hiển của Ngài. Nhưng qua câu 4, sứ đồ Phi-e-rơ hướng dẫn chúng ta bước vào một vấn đề thần học rất quan trọng. Ðó là nhờ sự vinh hiển và nhân đức của Chúa mà chúng ta "được lánh khỏi sự hư nát của thế gian bởi tư dục đến, mà trở nên người dự phần bản tánh Ðức Chúa Trời".

    Quí vị có thấy mỗi lần được phóng lên không gian, các phi hành gia phải mặc những bộ quần áo đặc biệt không? Họ bắt buộc phải mặc những bộ áo đặc biệt nầy để thích hợp với môi trường sinh sống trong không gian. Các phi hành gia không thể mặc quần áo thường mà đi ra ngoài không gian được vì sẽ chết ngay. Cũng vậy, chúng ta không thể mang thân xác tội lỗi hư hoại nầy mà vào thiên đàng được. Do đó, khi trở thành con cái Chúa, thì Chúa cũng khiến chúng ta được "dự phần bản tánh Ðức Chúa Trời."

    Trong ơn cứu rỗi của Chúa ban cho chúng ta, có hai giáo lý vô cùng quan trọng:

    Thứ nhất là phép lạ tái sinh.

    Người thật sự tin theo Chúa Giê-xu sinh ra một lần thứ hai theo thể thiêng liêng tức được dự phần bản tánh Ðức Chúa Trời. Giăng 3:6 chép: "Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt; hễ chi sanh bởi Thánh Linh là thần". Chữ "thần" ở đây là được dự phần bản tánh thần linh của Ðức Chúa Trời. Và vì được dự phần bản tánh Ðức Chúa Trời nên chúng ta mới có thể chiến thắng ma quỉ. Ma quỉ không sợ chúng ta, nhưng sợ Chúa. Ma quỉ có thể thắng con người nhưng không thể thắng được Chúa. Do đó, khi chúng ta được dự phần bản tánh của Ðức Chúa Trời thì làm sao thất bại trong cuộc chiến tâm linh được?

    Thứ hai là tất cả những người thực sự tin Chúa đều được hợp nhất với Ngài.

    Phúc âm Giăng 15 nói Chúa là gốc nho, con cái Ngài là những nhánh nho. Nhánh nho tiếp nhận nhựa sống từ gốc nho. Ðời sống tâm linh của con cái Chúa cũng xuất phát từ sự sống của Chúa Giê-xu. Sứ đồ Phao-lô đã diễn đạt chân lý nầy một cách rất rõ ràng trong thư Ga-la-ti 2:20 như sau: "Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Ðấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Ðấng Christ sống trong tôi; nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của Con Ðức Chúa Trời là Ðấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi."

    Nhiều con cái Chúa thường hay quên rằng mình đang mang bản tánh Ðức Chúa Trời nên đã thất bại liên miên trong cuộc chiến tâm linh.

    Trong 10 năm liên tiếp, ông Jesse Ortiz mắc chứng bệnh quên (amnesia). Ông ta quên không nhớ mình là ai, tên gì, và ở đâu. Ông đi lang thang hết nơi nầy đến chỗ khác, ai thuê gì làm nấy để sống, ngủ trên các vĩa hè. Trong thời gian lang bạt, có người vui miệng đặt cho ông ta một tên mới là Danny Castillo.

    Một ngày nọ, tại thành phố Tucson, AZ, ông bị một người đánh cho một trận nhừ tử. Nhưng không ngờ đây lại là một phước hạnh cho ông ta. Vì bị người kia đánh mạnh vào đầu, nên trí nhớ của ông được phục hồi. Ông nhớ mình tên gì, có chị em ở chỗ nầy chỗ nọ. Cuối cùng, một người bạn đã liên lạc được với chị em ông, và mới biết rằng 10 năm nay cả nhà cầu nguyện cho ông được trở về nhà. Ông Jesse Ortiz hiện nay đã về nhà, sống với thân nhân, được chăm sóc và thương yêu. Nhưng điều quan trọng hơn hết là ông biết mình là ai.

    Có lẽ một số con cái Chúa đang mắc chứng bệnh quên này. Vì quên không nhớ Chúa đã lấy vinh hiển và nhân đức của Ngài mà gọi chúng ta, vì quên không nhớ chúng ta được dự phần bản tánh của Ngài, nên lắm khi chúng ta đã sống theo dục vọng chứ không sống bởi quyền năng của Chúa ban cho hầu có thể "lánh khỏi được sự hư nát của thế gian" và sống đắc thắng cho Chúa mỗi ngày.

    Cố Mục sư Nguyễn Bá Quang
    Lannguyen

  5. #25
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Đức Chúa Trời Qua Thánh Kinh

    Psalm 119:

    9 How can a young man keep his way pure?
    By living according to your word.

    We are drowing in a sea of impurity. Everywhere we look we find temptation to lead impure lives. The psalmist asked a question that troubles us all. How do we stay pure in a filthy environment? Where can we find that strength and wisdom? By reading God's Word and doing what it says.

    Thi Thiên 119:

    9 Ngươi trẻ tuổi phải làm sao cho đường lối mình được trong sạch? Phải cẩn thận theo lời Chúa.

    Chúng ta đang chìm trên một biển cả trần gian đầy sự dơ bẩn, sự ô uế . Chúng ta nhìn tất cả mọi nơi đếu nhận thấy sự cám dỗ đưa đến một cuộc sống không trong sạch. Tác giả Thi Thiên đã đặt một câu hỏi làm bận tâm tất cả chúng ta. Làm sao chúng ta có thể giữ sự trong sạch tinh khiết khi đầy sự dơ bẩn vây quanh? Chúng ta sẽ tìm được sức mạnh và sự khôn ngoan ở đâu? Hãy đọc Lời Chúa và thực hành theo Lời dạy của Ngài.
    Lannguyen

  6. #26
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Đức Chúa Trời Qua Thánh Kinh

    Lý do chúng ta sống trong một xã hội mà giá trị thật đang bị đảo lộn vì nhân thế luôn chống nghịch lại Đấng sáng thế "Đức Chúa Trời", Đấng đã tạo dựng vũ trụ và loài người chúng ta, ban cho chúng ta đầy đủ phương tiện và dịp tiện để sống và tiến mãi trong chương trình của Ngài, nhưng loài người lại dùng phương tiện và dịp tiện của Đấng ban cho, trở thành kiêu ngạo và chống lại Đức Chúa Trời! Các nước chống nhau, gia đình phân rẽ nhau và đây là lý do tại sao khắp nơi đầy dẫy những hành vi điên cuồng, mà phụ nữ và trẻ em Việt Nam của chúng ta lại phải bị số phận như vậy? Tất cả chỉ vì tiền, mà tiền là cội rễ của mọi điều ác!

    Lan xin trở lại với câu chuyện Ađam tại vườn Ê-đen nhé ? Phật giáo và nhiều khoa học gia cho rằng cuộc sáng tạo của Đức Chúa Trời " Sáng Thế ký chương 1" chỉ là huyền thoại, nhưng Kinh Thánh dạy rằng từ Ađam phạm tội trái lệnh Đức Chúa Trời, từ lầm lỗi, loài người đi sâu vào tội lỗi, Lời Chúa ghi lại:

    [Vì mọi người đều đã phạm tội thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trởi " Rô-ma 3: 23"]

    ...Và tứ đó ...lòai người đua nhau vào con đường tự hủy.Nghĩ xem Đức Chúa Trời đã tạo dựng một thế giới tốt đẹp, dựng nên loài người và ban cho quyền lựa chọn tự do, Ađam và Eve là người toàn hảo, Đức Chúa Trời ban cho Ađam quyền tự do vâng theo hay nghịch lại lời Ngài và Ađam đã quyết định nghe theo lời của kẻ cám dỗ hơn là Lẽ Thật, Chân Lý của Ngài, Ađam sa ngã, ngày nay chúng ta phải chịu khổ vì Ađam phạm tội từ Sáng thế, tại sao chúng ta vẫn còn bị trừng phạt đến ngày nay, và điều khó hiểu là Ađam lại phạm tội trong một môi trường toàn hảo! Đức Chúa Trời ban cho Ađam và tất cả chúng ta quyền tự do đó, chúng ta phải đối diện với 2 con đường, tự do trở thành vô nghĩa nếu chỉ có một lối đi thôi! Tự do chọn lựa và quyết định hành động.

    Ađam hoàn toàn, vô tội, lịch sử nhân loại như tờ giấy trắng và Ađam viết vào đó cho dòng dõi của mình ... một tương lai. Đức Chúa Trời đã tạo đựng Ađam toàn hảo theo hình ảnh của Ngài, Ngài ban cho linh hồn và tâm trí và cho Ađam quyền tự do xử dụng tâm trí, linh hồn theo ý mình. Và Ngài chờ xem Ađam sẻ làm gì với free will đó .

    Nhưng tiếc thay, Ađam đã quyết định sai và dùng quyền tự do Chúa ban để chọn con đường sai lầm vì Ađam muốn như vậy!

    Ađam đã viết vào tờ giấy trắng tương lai của con cháu ông hai chữ "tội lỗi", chúng ta phải lãnh hậu quả " Do tội của Ađam, mọi người bị kết án" (Rô-ma 5: 18).

    Loài người đổ tội này cho Đức Chúa Trời về tình trạng bi thương từ bao ngàn năm nay, họ bảo rằng thà đừng có Đức Chúa Trời huyền thoại của người Cơ đốc, nhân thế sẽ sống dể và an bình hơn, Lan không nghĩ như vậy! Lan ước mong và nguyện cầu Chúa cảm động lòng tất cả quý bạn trở về với Chúa. Lan sẽ cầu nguyện cho tất cả đồng bào Việt Nam cũng như khắp nơi được nghe, tin, ăn năn và báp-têm để được sự sống đời đời mà Đức Chúa Trời đã hứa (Giăng 3: 16)

    Trong tình yêu Chúa Cứu Thế Jeus,

    Lan
    Lannguyen

  7. #27
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Đức Chúa Trời Qua Thánh Kinh

    Ảnh Hưởng của Cơ Đốc Nhân
    -Ma-thi-ơ 5-13-16-

    Người La Mã có câu ngạn ngữ: “Không có gì hữu ích bằng mặt trời và muối.” Muối quý giá đến nỗi trong quân đội La-mã và một số quốc gia đã dùng muối để phát lương như người ta phát tiền lương cho nhân công hiện nay. Vì thế, mới có từ “Salarium” trong tiếng Latinh và từ “Salary” trong tiếng Anh.
    Muối là một gia vị cần thiết trong đời sống. Những dân tộc sống ở miền rừng núi rất cần đến muối coi muối là một phương thuốc thần diệu. Những công dụng của muối trong việc chế tạo các món ăn, các bạn đều biết đến vì chúng ta đều dùng đến nó hàng ngày.
    Còn ánh sáng thì khỏi phải nói, đó là nhu cầu tối cần của con người và muôn vật.

    1. Muối của Thế Gian (muối của đất)
    a. Muối và ý nghĩa của muối


    Càng ngày người ta phát hiện ra nhiều loại muối có cần thiết cho đời sống con người. Trước đây thường dùng là muối từ nước biển, nhưng ngày nay người ta phát hiện thêm những nguồn sản xuất muối từ các mỏ muối trong lòng đất gọi là muối mỏ, muối khoáng; hay từ cây thực vật gọi là saloni... Vừa qua nhiều vùng làm muối kêu than giá muối hạ mà nhà nước Việt Nam lại nhập đến 100 ngàn tấn muối từ nước ngoài, và họ được trả lời là Việt Nam chưa đủ công nghệ máy móc sản xuất muối công nghiệp... Điều đó cho thấy muối là quan trọng thế nào trong cuộc sống hàng ngày của con người.
    Trong Thánh Kinh, đặc biệt là Kinh Thánh Cựu Ước thì muối được đề cập với những ý nghĩa sau đây:
    Muối là dấu hiệu hay là bằng chứng cho giao ước của Đức Chúa Trời vàÄ con người khi dâng tế lễ cho Đức Chúa Trời (Lê-vi Ký 2:13; Dân Số Ký 18:19)
    Ä Muối dùng để trị liệu và chữa lành như Ê-li-sê đã làm để làm trong sạch nguồn nước bị nhiễm độc (II Các Vua 2:20-21)
    Dùng làm lương và phát lương như cácÄ vật khác, như tiền lương, thực phẩm tối cần (E-xơ-ra 4:14)
    Còn Kinh ThánhÄ Tân Ước đề cập đến muối như là vật hay phương tiện đưa người ta đến sự cứu rỗi, hay hoà thuận với Đức Chúa Trời. Và cách sống trọn vẹn, ảnh hưởng tốt đến người khác.

    b. Các ngươi là muối của đất

    Chúa Giê-xu ví sánh chúng ta, những người tin danh Ngài và theo Ngài, hay gọi chung là Cơ Đốc Nhân là “muối”, hay “muối của đất”. Điều này có nghĩa gì?
    Theo điều chúng ta khảo sát về tầm quan trọng và ý nghĩa trên chúng ta biết Ngài bảo chúng ta phải mang vị mặn của muối để biến đổi, làm ảnh hưởng đến nhiều người. Chúng ta giữ vai trò làm thế giới đầy gian ác, tội ác và hỗn độn này được tươi mới, giữ cho nền đạo đức của xã hội được cân bằng và tràn đầy nhựa sống.
    Đời sống khi chúng ta từ khi bắt đầu theo Chúa trở nên mặn mòi, trở nên như những hạt muối mặn để ảnh hưởng tốt cho thế giới này. Muốn được vậy chúng ta cần phải chịu tan chảy ra, nếu muối không chịu tan chảy ra, không ảnh hưởng đến người khác thì chưa đúng tiêu chuẩn của hạt muối mà Chúa nói ở đây; giống như hạt muối cần ăn sâu vào cá, vào thức ăn, thịt, rau quả thế nào thì chúng ta phải có ảnh hưởng như vậy thế ấy. Đời sống chúng ta với Chúa càng mặn nồng bao nhiêu thì chúng ta sẽ ảnh hưởng tốt cho xã hội bấy nhiêu.
    Trong Kinh Thánh cho chúng ta biết nếu mình là muối thì phải có những tác dụng cụ thể như sau đây:
    Lời nói có ân hậu, có tác dụng làmü người khác hoà thuận với Đức Chúa Trời. Lời nói gây dựng, lời nói an ủi, khích lệ. Và thường xuyên biết cảm tạ thay vì oán trách. (Cô-lô-se 4:6)
    Cách sốngü đạo có làm người khác biết về Chúa không qua mình, trong lòng mình có làm hoà thuận với mọi người không hay luôn muốn tranh cãi và hờn giận nhau (Mác 9:49-51)

    c. Song nếu mất mặn đi, thì sẽ lấy giống chi mà làm cho mặn lại? Muối ấy không dùng chi được nữa, chỉ phải quăng ra ngoài và bị người ta đạp dưới chân.

    Chúng ta thường nghe những câu như: "Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư." Hoặc: "Tay bưng dĩa muối chấm gừng, gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau." Phẩm vị của muối là mặn, nếu có vị cay, chua, đắng thì người ta không gọi đó là muối mà gọi là đường, bột ngọt, hay gì đó... Tôi còn nhớ lúc cha tôi trước khi rãi phân ra đồng ông thường rải các loại phân ra trên thảm để trộn chúng với nhau, có loại phân mà nhìn rất giống là muốn như là phân, ăn vào là coi như toi...
    Đời sống và phẩm vị của người tin nhận Chúa Giê-xu nếu không còn vị mặn của muối mà Chúa Giê-xu nói thì dẫu tên gọi nó là muối như trở nên vô ích, trở nên không còn ảnh hưởng gì cho người khác nữa. Trước xã hội người đó có cũng như không có, giống như họ, không còn tác dụng giúp đỡ ai, cứu giúp ai khỏi cảnh nguy vong và điêu tàn...
    Có ít nhất là ba bài học về muối chúng ta thấy được qua lời dạy của Chúa:

    a). Muối là một chất khác với mọi chất khác trên đời.
    Đang khi người ta ca tụng những vẻ mỹ miều hay những lời ngon ngọt, Chúa Giê-xu khẳng định chúng ta chỉ là những hạt muối. Muối có thể không có gì hấp dẫn nhưng thật cần thiết. Nó là chất tăng hương vị cho xã hội, và giữ cho thế gian đỡ đi sự băng hoại, sa đoạ không lường ngày nay.
    b). Sở dĩ muối mặn vì đó là tính chất của muối.
    Đây là điều hiển nhiên nhưng rất quan trọng. Ta không thể tạo một tác dụng một ảnh hưởng nào nếu chất mặn trong ta không còn nữa. Chúng ta không thể giả vờ hay cố gắng làm muối nhưng chúng ta phải thật sự là muối. Phải có chất mặn ta mới có thể ảnh hưởng và thay đổi xã hội, con người trong xã hội này. Người theo Chúa không phải cố gắng để là muối nhưng tự nhiên để cho sức mạnh của Đức Chúa Trờ hành động trong chúng ta để chúng ta mang lấy chất mặn và ảnh hưởng cho đời.
    c). Hãy nhớ rằng không ai trong chúng ta sống mà lại không ảnh hưởng đến người khác.
    Ảnh hưởng tốt cũng như ảnh hưởng xấu. Hãy đặt câu hỏi nầy: Khi người khác gần ta, đời sống của họ có được thay đổi để trở nên tốt đẹp hơn hay ta là một ảnh hưởng xấu cho họ? Con cái của ta, bạn bè của ta, người chung quanh ta học được gì từ nơi ta hay ta chỉ là một gánh nặng, một cái gì bực mình cho người chung quanh?

    Không cần nói ai trong chúng ta cũng biết có bao nhiêu điều xấu vây hãm chúng ta mỗi ngày. Chúng ta làm gì trước làn sóng tội ác? Hãy trở nên những hạt muối mặn để tạo hương vị cho đời và giúp cho cuộc đời nầy đỡ đi băng hoại. Hạt muối được hình thành bởi một tiến trình đặc biệt của thiên nhiên thể nào thì cũng vậy, đời sống của chúng ta cần được quyền năng của Thiên Chúa đụng đến, biến đổi cuộc đời chúng ta, biến chúng ta thành những hạt muối mặn để tạo ảnh hưởng cho đời, để làm trọn thiên chức Thiên Chúa trao phó cho chúng ta. Thiên chức đó là làm muối cho trần gian.
    Lannguyen

  8. #28
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Đức Chúa Trời Qua Thánh Kinh

    Ảnh Hưởng của Cơ Đốc Nhân[TT]
    -Ma-thi-ơ 5-13-16-

    2. Ánh Sáng của Thế Gian
    a. Ánh sáng và ý nghĩa thuộc linh


    Ban ngày và ban đêm, ánh sáng và bóng tối đều do Đức Chúa Trời dựng nên đều tốt lành cả. Ánh sáng để giúp con người và mọi vật hoạt động, còn bóng đêm giúp mọi thứ đều được nghỉ ngơi và tĩnh dưỡng.
    Trên đời có nhiều thứ ánh sáng: ánh sáng vật lý, ánh sáng văn hoá, ánh sáng khoa học, ánh sáng tâm linh. Ðể nhìn ra ánh sáng, cần có một khả năng nào đó. Ðể thấy ánh sáng vật lý, chỉ cần có đôi mắt bình thường. Nhưng để nhìn thấy ánh sáng khoa học, phải có một số vốn kiến thức cần thiết. Ðể thấy ánh sáng văn hoá, cần được khai tâm mở trí. Và để thấy được ánh sáng tâm linh, cần được chính Đức Chúa Giê-xu chiếu rọi vào.

    Ở phân đoạn này ánh sáng mà Chúa nói đến có ý nghĩa khác. Thế giới chúng ta sống đầy dẫy tội lỗi và gian ác, đầy băng hoại, nên Chúa ví đó là bóng tối của tội lỗi, rất đáng sợ. Còn chính Chúa là ánh sáng của thế gian, soi dẫn con người trở lại con đường chân lý, công bình, thánh khiết của Đức Chúa Trời. Chính Ngài làm ứng nghiệm lời tiên tri Ê-sai 9:1-2 “Ðất Sa-bu-lôn và Nép-ta-li, Ở về trên con đường đi đến biển, bên kia sông Giô-đanh, tức là xứ Ga-li-lê thuộc về dân ngoại, dân ấy ngồi chỗ tối tăm, đã thấy ánh sáng lớn; Và trên những kẻ ngồi trong miền và dưới bóng sự chết, thì ánh sáng đã mọc lên.” (Ma-thi-ơ 4:15-16).

    b. Các ngươi là sự sáng của thế gian

    Chúng ta không phải là ánh sáng, các giáo chủ của các tôn giáo không phải là ánh sáng; vì chỉ có Đức Chúa Giê-xu là nguồn ánh sáng, là ánh sáng thật (Giăng 14:6).
    Nhưng tại sao Chúa nói: “các ngươi là ánh sáng của thế gian”? Trong xã hội lúc bấy giờ người Pha-ri-si và người lãnh đạo tôn giáo cho mình là ánh sáng của thế gian, họ sống đời sống đạo đức và rập khuôn theo luật pháp từng chữ. Nhưng dưới mắt Chúa họ chỉ là giả hình vì họ sống không như lời họ nói, họ nói một đàng nhưng làm một nẽo. Mà trước mắt Chúa thì những người theo Chúa mới là “sự sáng của thế gian”. Họ vốn không phải là chân lý và sự sáng nhưng họ theo Chúa, và trở nên môn đồ của Chúa Giê-xu thì họ phản chiếu ánh sáng của Ngài ra. Họ đặt Chúa Giê-xu làm Chúa, làm vua của lòng mình thì Chúa Giê-xu ngự trong lòng họ nên chính Ngài thông qua đời sống họ được chiếu sáng.

    c. Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy

    Ánh sáng mà Chúa nói đến đây của mọi môn đồ Đấng Christ là có ý muốn nói ảnh hưởng về niềm tin và sự cứu rỗi mà họ nhận được đến nhiều người khác. Nó cần phải thể hiện và bày tỏ niềm tin, đức tin và sự cứu rỗi cho nhiều người. Bày tỏ không phải chỉ là nói bằng lời nói mà thôi, mà còn bằng hành động, bằng chính cách sống mình. Thông đời sống mình nhiều người sẽ biết về Chúa và tiếp nhận Chúa; và vinh hiển thuộc về Đức Chúa Trời.

    Nếu “muối” ướp cho đời, “muối” phải biết chấp nhận hoà tan, biến mình đi trong chất mặn vị kỷ, để hiến dâng cho đời hương vị thơm ngon, mặn nồng của quảng đại, vị tha. Nếu “ánh sáng” chiếu soi trần gian, “ánh sáng” phải ở trên cao, vượt trên mọi danh vọng, tiền tài, lạc thú. Không phải để khoe khoang, tự kiêu, nhưng là để “tôn vinh Cha, Đấng ngự trên trời” (Ma-thi-ơ 5: 13-16).
    Lạy Chúa Giê-xu, Chúa gọi chúng con là "muối" và "ánh sáng", có nghĩa là Chúa phong chức cho chúng con, để chúng con lên đường truyền giáo. Xin cho những bước chân chúng con đi tới, đều rộn rã tiếng cười, nồng nàn tình yêu thương, và thắm đậm tình con người. Xin cho môi trường chúng con sống, luôn ngập tràn ánh sáng tình yêu, hy vọng và bình an của Chúa. Amen!

    Bài học Tin Lành VN từ Hàn Quốc
    Lannguyen

  9. #29
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Đức Chúa Trời Qua Thánh Kinh

    Ánh Sáng cho Trần Gian

    -Giăng 1:1-12-

    Việt Nam là một nước thuộc vùng khí hậu nhiệt đới, có 2 mùa rõ rệt: mùa nắng có nhiệt độ cao, nắng chan hòa kéo dài 6 tháng; mùa mưa có mưa rào từng cơn xen kẽ với những lúc có nắng chứ nắng không hoàn toàn biến mất, cho nên trong dân gian ta đã có câu “sau cơn mưa trời lại sáng” hoặc có nhà thơ đã viết “hết mưa rồi, là nắng hửng lên thôi”. Ánh nắng có một vai trò quan trọng trong cuộc sống của chúng ta, nó làm cho cây cối xanh tốt. Nắng là một phương thuốc khử trùng hữu hiệu. Dưới tác động của ánh nắng, tiền chất vitamin D nằm dưới da sẽ trở thành vitamin D giúp chúng ta tránh được bệnh còi xương. Ở đâu có nắng thì sự sống ở đó trở nên tươi tốt hơn. Trong đó ánh sáng khả kiến và tia hồng ngoại là điển hình về khả năng tốt cho con người.
    Ngày nay trong khoa học dùng phương pháp ánh sáng để giúp đỡ và chữa trị nhiều bệnh mà không gây đau đớn hay tác dụng phụ như tia laser. Vừa qua Việt Nam đã ứng dụng kỷ thuật “ánh sáng” này để chữa bệnh ung thư rất hiệu quả.
    Còn trong đời sống hàng ngày không ai trong chúng ta không dùng đến ánh sáng và những ứng dụng của nó. Ví dụ như để chiếu sáng trong nhà mình chúng ta sử dụng một hay nhiều ánh đèn trong nhà, phòng. Hoặc chúng ta dùng củi hay ga để tạo lửa (một loại của ánh sáng) để đun và nấu ăn.
    Nhưng ngày nay, ánh sánh nhân tạo, hay ánh sáng đèn điện gây nhiều bệnh tật, nên các bác sĩ khuyên nên có phòng làm việc hay nhà phải thoáng và để ánh sáng mặt trời chiếu vào...

    I. Sứ giả chuẩn bị cho “Cội Nguồn Sự Sáng”

    1. Các tiên tri và nhiều nhân vật trong Kinh Thánh là người chuẩn bị cho “Nguồn Sáng” hay Sự Sáng thật.

    Trong Kinh Thánh rất nhiều nhân vật với các chức vụ khác nhau như vua, thầy tế lễ, tiên tri, thầy thông giáo... đã từng tỏ ra mình không phải là “Sự Sáng” mà chỉ là người đi trước hay người đi rao truyền “Sự Sáng” mà thôi.
    Trong đó, Giăng Báp-tít là một người vào đúng thời Chúa Giê-xu. Với cách sống đạo đức và gương mẫu của ông, cùng lời giảng khiến người ta ăn năn đã làm một số đông người từ các hạng người khác nhauk tìm đến để chịu ăn năn tội lỗi và phép báp-tem bằng nước. Và nhiều người, đặc biệt là hàng giáo phẩm của tôn giáo Giu-đa cho rằng ông là Đấng Mê-si, tức là “Cội Nguồn Sự Sáng” nên đến tìm hỏi ông có phải thật như vậy không. Và ông khẳng khái nói rằng: “Ta là tiếng kêu trong đồng vắng: Hãy ban đường của Chúa cho bằng, như đấng tiên tri Ê-sai đã nói” (Giăng 1:23). Tức ông chỉ xưng nhận mình là một sứ giả của Sự Sáng hay chỉ là người đi làm chứng rằng Sự Sáng (tức Đức Chúa Giê-xu) sẽ đến. Chỉ có Ngài là Sự Sáng thật mà thôi.

    2. Các bậc vĩ nhân là người chuẩn bị cho “Nguồn Sáng” hay Sự Sáng thật.

    Trong lịch sử cũng có nhiều vĩ nhân với cương vị của thủ lĩnh của một quốc gia hay nhiều quốc gia, hoặc với cương vị giáo chủ của các tôn giáo.
    Vua đầu tiên của đế quốc hùng mạnh nhất trong lịch sử là vua Nê-bu-cát-nết-sa đã chịu công nhận Đức Chúa Trời là Sự Sáng thật, là Đấng sống đời đời, uy quyền Ngài là uy quyền còn mãi mãi, nước Ngài từ đời nọ đến đời kia (Đa 4:34).
    Hay Phật Thích Ca cùng đã từng dạy các môn đệ của mình trong một đêm trăng sáng. Ông nói rằng: “Ta không phải là trăng. Nhưng ta chỉ trăng cho các ngươi. Vậy, các ngươi tự thắp đuốt mà tìm”. Điều đó chứng tỏ ngài cũng không phải là Sự Sáng, mà chỉ là người đi tìm Sự Sáng mà thôi.

    II. Đức Chúa Giê-xu và những hình bóng về sự sáng
    trong sự kiện Ngài giáng sinh và thành nhục thể

    1. Sự kiện ánh sáng chói lọi của Chúa trong đêm giáng sinh


    Trong đêm giá rét của khí trời xứ trung đông, ngày nóng-đêm lạnh. Trong đêm khuya của mùa xuân hay hạ với nhiều đồng cỏ xanh, các mục đồng vì công việc nuôi sống bản thân phải giữ chiên nơi giữa đồng hay những động đá (người chăn chiên thường theo bầy chiên tìm đồng cỏ nên có khi phải đi cả một hay hai tháng mới về. Vì vậy, trong túi da họ mang theo có nhiều thứ ăn khô và nước uống). Họ đang than thân trách phận bọt bèo của kiếp sống làm thuê làm mướn. Họ đang trông chờ và hy vọng một sự thay đổi cuộc đời khi Đấng Cứu Thế giáng lâm. Sự trông đợi và khẩn cầu ấy của họ Chúa đã nghe và Ngài đã đáp lời.
    Lúc ấy, là kỳ soát sổ, có thể tạm xem như là ngày bầu cử của quốc gia; nhưng đây là cuộc điều tra dân số đầu tiên có tính cách quốc tế trong lịch sử. Đế quốc La-mã muốn kiểm tra dân các nước thuộc địa để bắt lính, hay bắt đóng thế thân. Với sự kiện này thì không chỉ một tỉnh, một nước xôn xao và ồn ào mà là cả thế giới (với quan điểm thế giới quan lúc ấy). Vậy mà các anh (các bác thì đúng hơn) mục đồng cũng như chẳng hay biết điều gì cả ngoài việc chăn chiên thuê, một công việc rất là thấp của xã hội lúc bấy giờ.
    Khi mà không ai quan tâm, người thân và xã hội không ai còn nhớ mình nữa thì Chúa vẫn nhớ đến. Ngài đến tìm và báo tin cho họ sứ điệp vui mừng và hân hoan nhất của cả nhân loại đó là sự kiện Chúa Giê-xu giáng sinh. Đức Chúa Trời sai một thiên sứ (rất có thể là Gáp-ri-ên) đến báo tin cho họ trong sự vinh quang của Chúa. Họ rất sợ hãi. Sợ hãi vì nhiều lý do. Thứ nhất, lần đầu tiên họ thấy thiên sứ Chúa trong sự vinh quang. Thứ hai, họ nghĩ họ hèn hạ không xứng đáng. Thứ ba, họ biết tội lỗi của mình là thế nào; nếu Chúa đến phán xét thì họ không thể đứng vững. Thứ tư, vì họ nghĩ sự hèn mọn mình làm sao thể ứng hầu trước Chúa hay thiên sứ Ngài...
    Biết điều đó nên thiên sứ phán cùng họ: “Đừng sợ, vì này ta báo cho các ngươi một tin lành, sẽ là sự vui mừng lớn trong muôn dân; ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu Thế, là Christ, là Chúa.”.
    Sự kiện vĩ đại này, người trông đợi và hy vọng nơi Ngài sẽ được Ngài đến để báo tin và phương cách tìm kiếm Ngài.
    Bạn có phải là người đang thất vọng chăng? có phải bạn là người đang thất nghiệp chăng? Có phải chăng bạn là người đang đau khổ và sợ hãi chăng? Bạn hãy đặt niềm tin nơi Chúa ngay hôm nay thì bạn sẽ được Ngài ban cho sự cứu rỗi cùng toàn thể sự bình an và hy vọng. Ngài chính là Sự Sáng đã đến thế gian cho những ai đang trông đợi như vậy.

    2. Sự kiện ánh sáng của ngôi sao dẫn đường các bác sĩ đông phương tìm Chúa

    Thế thì, chỉ những người nghèo khó và thất vọng mới được Chúa cho tìm gặp Chúa sao? Không, với những người có sự hiểu biết và nghiên cứu sâu rộng nhưng lòng vẫn chờ mong Đấng làm Vua trên muôn vua, là cội nguồn Sự Sáng như các nhà bác học đông phương thì Ngài cũng đã tìm đến với họ. Họ được Chúa báo tin ấy thế nào Kinh Thánh không ghi rõ ràng cụ thể như các mục đồng, nhưng họ chắc chắn được chỉ dẫn bằng cách khác. Họ theo học thức của mình trong vấn đề nghiên cứu, đặc biệt một trong những lãnh vực uyên bác của họ là ngành thiên văn. Họ tìm ra một ngôi sao lớn và lạ mà họ tin chắc là Đấng Cứu Thế, là Sự Sáng thật đã ra đời. Bởi họ tin chắc như vậy, nên chuẩn bị sẵn sàng mọi hành trang cho chuyến hành trình dài đăng đẳng của họ. Quả thật, Đức Chúa Trời dùng ánh sao diệu kỳ đó để báo tin cho họ.
    Nếu đó là sự hoang tưởng thì họ là người ngu nhất thế giới, vì bỏ bao thời gian, công khó để chỉ tìm để thờ một hài nhi bé nhỏ trong căn nhà nghèo nàn. Nhưng họ biết chắc niềm tin của mùnh, họ quyết tâm lần theo ánh sao lung linh, diệu kỳ đó họ vượt ngàn dặm rừng núi, sa mạc trong nhiều tháng năm để đến thờ lạy một Cứu Chúa của cả hoàn vũ này.

    Bạn có phải là người học thức và uyên bác của xã hội chăng? Bạn có bao giờ trông đợi và tìm kiếm Chúa thật lòng chăng? Bạn có sẵn sàng từ bỏ cách không tiếc nuối tiền bạc, sức lực, thời gian để tìm kiếm và theo Chúa chăng? Bạn sẵn sàng để theo sự hướng dẫn của Chúa cách diệu kỳ không? Vậy thì, ngay hôm nay bạn hãy nhìn xem ánh sao ấy, ánh sao ấy chính là Đức Chúa Giê-xu theo hình bóng của Ngài (Dân 24:17). Bạn hãy sẵn sàng và phó thác cho Ngài ngay hôm nay thì bạn chẳng bao giờ hối hận với quyết định ấy đâu. Hãy đến và thờ lạy Đức Chúa Giê-xu là Sự Sáng thật, đến thế gian để cứu chúng ta khỏi tội lỗi và đời sống tăm tối.

    III. Mục đích của Sự Sáng khi đến thế gian

    1. Ngài là Nguồn Ánh Sáng, Ngài tham gia công cuộc sáng tạo hoàn vũ


    Sáng thế ký 1:1 và Giăng 1:1 cho biết Đức Chúa Giê-xu là nguồn ánh sáng, và Ngài đã cùng tham gia với Đức Chúa Cha, Đức Thánh Linh trong việc dựng nên cõi hoàn vũ. Ngài đã có kế hoạch chiếu sáng không chỉ là ánh sáng trắng ban đầu, hay ánh sáng của các thiên thể mà là ánh sáng của chính mình Ngài. Vì vậy, trong Khải huyền 22:5 cho biết Ngài chính là ánh sáng đó cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
    2. Ngài là Sự Sáng thật, soi cho mọi người sanh ra ở thế gian

    Ngài vì yêu thương nhân loại, thay vì Ngài có khả năng xoá bỏ cõi hoàn vũ này để thiết lập cõi hoàn vũ khác cách dễ dàng bằng lời phán Ngài. Nhưng Ngài không coi những vật Ngài tạo ra như đồ chơi hay một tấn tuồng cải lương, hay phim ly kỳ. Mà Ngài thật sự yêu thương thế giới đang bao trùm trong bóng đen tội lỗi, vô phương thoát ra. Chính Ngài đến để soi ánh sáng tình yêu ấy cho muôn dân trên thế gian này. Ngài đã chết thế tội lỗi con người. Ngài mang đến cho thế gian Sự Sáng, đó là ánh sáng cứu rỗi.
    Nhưng khi Ngài đến có hai phản ứng con người đã đối đãi với Ngài. Thứ nhất, số ít đã nghe tiếng Ngài và bằng lòng nhận biết tội lỗi mình và nhận lấy sự cứu rỗi của Chúa. Bóng tối lui đi thế nào khi ánh sáng đến; thì người nhận biết tội lỗi và ăn năn cũng vậy ánh sáng của Chúa sẽ chiếu rọi người ấy.
    Ngược lại, số đông lại từ chối và ghen ghét, thậm chí đóng đinh Ngài trên cậy thập tự. Tại sao như vậy, vì họ biết mình đang sống trong bóng tối nên sợ Ngài đến thì mọi việc tội lỗi họ bị khui ra thì mất hết. Vì vậy, họ vì thiếu hiểu biết và lòng tràn ngập tội lỗi mà chối Chúa cách công khai, hoặc bán công khai.
    Bạn là người thế nào trước mặt Chúa, bạn có đồng ý và thừa nhận tội lỗi của mình để được tha thứ không? Bạn có muốn đời sống bạn được thanh tẩy hết tất cả gian ác không? Hãy đến với Chúa ngay giờ này thì Ngài sẽ chiếu sáng bạn.

    3. Tiếp nhận Sự Sáng, và trở thành dòng dẫn ánh sáng cho mọi người

    Một căn phòng hay căn nhà đầy bóng tối muốn hết bóng tối và bụi bặm thì bạn phải mở tất cả các cửa ra để ánh sáng tràn vào; hoặc bạn phải bật đèn lên thì bóng tôi lui đi ngay. Vậy thì bóng tối không thế đuổi đi được nếu không nhận ánh sáng.
    Tiếp nhận Sự Sáng, tức tin nhận Đức Chúa Giê-xu cũng vậy. Bạn phải đồng ý mở cửa lòng mình ra để đón Chúa vào lòng. Tức là bạn thừa nhận mình là tội nhân trước mặt Chúa và xin Ngài tha thứ, và xin Ngài ngự trị tấm lòng bạn ngay.
    Bạn có đồng ý tiếp nhận Chúa ngay bây giờ chăng? Sau khi tiếp nhận Chúa thì không chỉ bạn giữ cho mình, mà bạn bắt đầu nói hay truyền ánh sáng đó cho những người xung quanh bạn nữa. Bạn có muốn là ngọn hải đăng để đem nhiều người đang chơi vơi trong bóng đêm mit mù của biển đời chăng? Hãy hứa nguyện với Chúa rằng bạn sẽ là ngọn hải đăng, chiếu ánh sáng Ngài ban cho người đang tìm kiếm ánh sáng về bến bờ bình an.

    Muốn thật hết lòng.

    Bài học Tin Lành VN từ Hàn Quốc
    Lannguyen

  10. #30
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Đức Chúa Trời Qua Thánh Kinh

    Dân Gọi Bằng Danh Ta

    -II Sử Ký 7:14-

    Miền quê Việt Nam thường đặt tên con cái rất là bình dị, đôi khi trở thành rất là mắc cười vì chẳng có ý nghĩa gì hết. Nhưng đó là tên thường gọi; tuy nhiên cái tên ấy vô tình mình người ấy phải mang suốt đời, thỉnh thoảng mắc cỡ khi bị gọi trước mặt người khác phái, người yêu. Miền Bắc Việt Nam khi sinh con trai thường đặt tên là ‘thằng cu’, còn con gái thì đặt tên ‘cái gái’… Miền Nam Việt Nam khi sinh con trai thường đặt tên là ‘thằng tí, thằng tèo’, còn con gái thì đặt tên ‘con mén’…
    Đặt tên và đổi tên là những điều mà trong lịch sử và thực tế gặp rất nhiều. Có người có đến hàng chục cái tên. Lấy vài ví dụ ở Việt Nam:
    ĐịaÄ danh, đất nước: nước Việt Nam có những tên như Lạc Việt » Âu Lạc » Hồng Bàng » Giao Chỉ » Đại Cồ Việ t» Đại Việt » An Nam » Việt Nam.
    Nhân vật: NguyễnÄ Sinh Cung » Nguyễn Tất Thành » Hồ Chí Minh
    Điều đó cho thấy đặt tên rất quan trọng, qua cái tên có thể nhận thức một phần nào về phẩm chất người ấy. Chính vì vậy, trong Kinh Thánh chúng ta có thể gặp một số người đã được chính Chúa đổi tên cho. Ví dụ: Áp-ram (cha cao quý) » Áp-ra-ham (cha của nhiều dân tộc); Gia-cốp (nắm gót chân) » Y-sơ-ra-ên (vật lộn cùng Đức Chúa Trời); Si-môn con Giô-na (người nghe) » Sê-pha hay Phi-e-rơ (hòn đá, vầng đá)

    1. Bối cảnh câu Kinh Thánh

    Sa-lô-môn làm lễ khánh thành đền thờ bằng đá đầu tiên để đặt danh Chúa tại Giê-ru-sa-lem rất long trọng. Đó là điều Đức Chúa Trời đã vui lòng nhận lấy. Song không phải vì đền thờ nguy nga tráng lệ, mà là tấm lòng Sa-lô-môn lúc ấy biết nương dựa nơi Chúa. Và Chúa cũng biết sau này dân Y-sơ-ra-ên bị sa ngã, và chính Sa-lô-môn cũng vậy nên Ngài hiện ra cùng ông trong ban đêm để dạy ông và dân sự biết con đường mình sẽ đi.
    Đây là câu Kinh Thánh có giá trị vô cùng quan trọng không chỉ cho dân Y-sơ-ra-ên và Sa-lô-môn ngày xưa thôi, mà còn ảnh hưởng đến chúng ta ngày nay và tương lai hậu thế chúng ta nữa.

    2. Phân tích câu Kinh Thánh

    a. Vấn đề đặt ra
    1). “Nhược bằng”: Trong hoàn cảnh mà tai nạn xảy ra, trong hoàn cảnh mà không còn có thể nhờ cậy vào ai đi nữa. Trong lúc nhớ lại Chúa, Đấng mà mình đã từ chối và quên lãng.
    2). “Dân sự ta là dân gọi bằng danh ta”: dân sự gọi bằng danh của Chúa vốn ban đầu chỉ về dân Y-sơ-ra-ên, là dân mà Ngài đã kêu gọi từ một người là Áp-ra-ham. Dân Y-sơ-ra-ên đã trong nhiều năm tháng nương cậy và thờ phượng Đức Giê-hô-va Đức Chúa Trời, Đấng Sáng Tạo và là Đấng Tự Hữu và Hằng Hữu.

    Nhưng sau đó phần đông họ bỏ Chúa và từ chối Ngài, chính Đức Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời Ngôi Hai đã xuống trần gian để chết chuộc tội lỗi nhân loại, nhưng người Do Thái đã từ chối Ngài và họ cũng đại diện cho hàng tỷ người trên thế giới đóng đinh Ngài trên cây thập tự giá.
    Chính Đức Chúa Giê-xu đã làm một giao ước mới bằng chính huyết Ngài rằng hễ ai tin Ngài là Đấng Cứu Thế chết thế tội lỗi mình, lấy đức tin và xưng nhận thì được gọi là con cái Đức Chúa Trời, và sống trong nước Đức Chúa Trời. Nước này hoàn thành khi Chúa Giê-xu trở lại thế gian này. Và hết thảy người lấy lòng tin mà nhận lấy nước Đức Chúa Trời thì gọi là “dân Y-sơ-ra-ên thuộc linh” hay “dân gọi bằng danh Chúa”
    b. Phần thuộc về con người, dân sự Chúa

    1). “Hạ mình xuống”: tấm lòng khiêm nhường trước mặt Chúa là điều cần thiết đầu tiên và hơn hết. Cảm biết mình là thấp kém và nhỏ bé, là người có tội là một điều không phải ai cũng có. Chỉ khi trong hoàn cảnh thất bại, thử thách, khó khăn, cùng khốn thì mới dễ nhận ra mình là nhỏ bé, thấp kém, tội lỗi.

    Trong hoàn cảnh này, xin đừng bỏ cuộc, đừng huỷ mình như bao nhiêu người bỏ mình: họ huỷ mình trong rượu chè, thuốc phiện, gian dâm, hay tự xác. Trái lại, hãy chạy đến với Chúa, hạ mình xuống ăn năn tội, và kêu cầu Chúa. Ngài chắc chắn không bỏ anh chị em đâu. Chúa không làm tắt ngọn đèn sắp cạn dầu, không làm dập nát cây sậy bị gẫy.

    2). “Cầu nguyện”: Rất có thể trong nhiều hoàn cảnh thất vọng, đau buồn không ai hiểu được bạn, hãy khóc với Chúa như người con thơ dại, và tỏ hết mọi điều đầy trăn trở đó cho Chúa. Hãy nói cho Ngài hết mọi sự, đừng giấu giếm hay che đậy, bênh vực mình. Và hãy yên lặng chờ nghe tiếng Chúa nói. Ngài sẽ nói cách ngọt ngào và êm dịu với bạn.

    3). “Tìm kiếm mặt ta”: Chúa phán “Các ngươi sẽ tìm ta, và gặp được, khi các ngươi tìm kiếm ta hết lòng.” (Giêr 29:13) Ngài không phải ở xa hay trốn ở đâu để bắt chúng ta tìm Ngài. Ngài ở khắp mọi nơi, bên cạnh chúng ta từng phút giây mà chúng ta không thấy, hay không để ý tới. Chúng ta đã bận rộn quá, tính toán nhiều quá đến nổi không còn để thời gian, hay chỗ nào cho Chúa cả. Chúng ta có thể bỏ hàng giờ ngồi xem TV hay đi chơi cùng bạn bè, nhưng không để giờ nào cho Chúa nên anh chị em không thấy Chúa ở đâu.

    4). “Trở lại”: Đó là thái độ đúng đắn nhất, ăn năn tin nhận Chúa.
    Có hai người hành khách ngồi chung trong một chuyến xe lửa từ Tô-ri-nô đến Paris.
    Vào một ngày mùa đông, bầu trời xam xám không một tia sáng mặt trời, xe lửa chạy tới biên giới nước Pháp thì tuyết bắt đầu rơi, bên ngoài trời giá lạnh, nhưng trong xe hơi ấm của lò sưởi rất dễ chịu, thêm vào đó là tiếng máy đều đặn như tiếng nhạc ru ngủ cho cuộc hành trình thêm thoải mái. Một trong hai người hành khách tỏ vẻ băn khoăn lo lắng lạ thường, mỗi lần tới một nhà ga người ấy lại giật mình đứng phắt lên, đến gần cửa nhìn nhà ga và đọc lớn tên sân ga rồi ông lại trở về ghế ngồi và thở dài một cách thảm não. Sau nhiều trạm như thế, người bạn bên cạnh lên tiếng hỏi với tất cả sự quan tâm và tế nhị: - Có điều gì làm ông khó chịu hoặc ông bị đau chăng?
    Ông ta thở dài một cách thảm não và nói: - Tôi không đau ốm gì cả, chỉ có điều là tôi đã lấy sai chuyến xe. Nó đang chạy ngược chiều với hướng của tôi định đi, lẽ ra tôi phải xuống xe từ những trạm trước kia rồi để đổi sang chuyến xe khác, nhưng tôi không có can đảm bước xuống giữa làn mưa tuyết trắng xóa, ngồi trong xe với hơi ấm như thế này dễ chịu hơn.

    Quý vị và các bạn thân mến,
    Thái độ của người hành khách áy náy bất an ấy tượng trưng cho thái độ ù lì thường ngày cản trở chúng ta trong việc ăn năn thống hối để cải tà quy chánh. Người hành khách trong xe lửa lẽ ra phải can đảm bước xuống nhà ga để đổi sang chuyến xe lửa khác. Cũng giống như người biết mình đang đi lạc đường phải quay trở lại chính lộ. Biết mình đang tiến trên con đường tội lỗi, phải mau quay trở về con đường thiện, nhưng lại không có đủ can đảm cởi bỏ những thói quen cũ hoặc những tiện nghi vui sướng tạm bợ của đời sống không tốt lành. Như thế, mỗi lúc lại càng đi xa hơn đích điểm mà mình muốn nhắm tới và rồi than vắn thở dài có ích lợi gì đâu.
    Thống hối cải tà quy chánh đòi hỏi sự can đảm dứt khoát, dù biết phải trả giá rất cao. Qua miệng các ngôn sứ, chúng ta được biết Đức Chúa Trời nhân từ và đầy lòng thương xót luôn chờ đợi các tội nhân ăn năn thống hối trở về với Ngài.
    5). “Bỏ con đường tà”: Trở về là hành động ăn năn, quay đi 180o nên không còn thấy hay đi còn đường cũ nữa. Chúa Giê-xu rất nhân từ, Ngài tha thứ mọi tội lỗi cho người phạm tội nhiều nhất đi nữa, nhưng Ngài phán bảo rằng: “Đừng phạm tội nữa”. Đó là thái độ dứt khoát cần có để theo Chúa và tăng trưởng.

    c. Phần của Chúa

    1). “thì ta”: Ngài phán và xác định cách rõ ràng. Khi con người, hay bất cứ ai làm điều như trên thì chính Ngài, Đức Chúa Trời sẽ chủ động làm mọi việc phục hồi lại địa vị làm con cái của Ngài cho chúng ta. Đức Chúa Trời là Đấng Thành Tín, tức Đấng giữ lời hứa muôn đời.

    2). “ở trên trời”: Đây không có nghĩa là Ngài chỉ ở trên các tầng mây, mà là một địa vị của một Đấng quyền năng, Toàn năng sẽ bắt đầu chính Ngài làm việc đón tiếp chúng ta về nhà, giống như người con về nhà Cha vậy.

    3). “sẽ nghe”: Ngài lắng nghe mọi lời cầu nguyện của chúng ta, dầu lời nói trong nghẹn ngào, trong nước mắt đi nữa, thậm chí chúng ta không biết nói gì chỉ biết khóc với Chúa thì Ngài cũng nghe trong lòng chúng ta về nổi khó khăn của chúng ta.

    4). “tha thứ tội chúng nó”: Điều đầu tiên để nối lại mối quan hệ cha-con đó là Ngài lột bỏ chiếc áo bẩn do tội lỗi chúng ta, Ngài mặc cho chúng ta chiếc áo công bình được dệt bằng chính huyết báu của Ngài. Ngài tha thứ hết mọi tội lỗi chúng ta. Dù tội đỏ như hồng điều cũng sẽ trắng như tuyết, dù đỏ như son sẽ trở nên trắng như lông chiên (Ê-sai 1:18)

    5). “cứu xứ họ khỏi tai vạ”: Ngài sẽ ngưng cơn thạnh nộ của Ngài vì tội lỗi chúng ta. Giải cứu chúng ta khỏi mọi hoàn cảnh khó khăn và tai vạ. Ngài làm thay đổi hoàn cảnh để giải cứu chúng ta. Không có việc gì mà Ngài làm không được. Không có việc gì khó quá cho Ngài.
    Trong đời vua Ê-xê-chia vì sự kiêu ngạo và dân sự phạm tội nên Đức Chúa Trời cho phép họ gặp tai nạn. San-chê-ríp vua A-si-ri đến đánh và xâm lược nhiều nước, cũng đến mà đánh thành nữa. Không nước nào ngăn được vua San-chê-ríp. San-chê-ríp gởi thư đến chiêu dụ Ê-xê-chi-ên đầu hàng. Lúc ấy, vua Ê-xê-chi-ên và dân sự mới thức tỉnh, hết thảy hạ mình xuống và ăn năn, khóc lóc trước mặt Chúa cách thảm thiết. Bên ngoài quân A-si-ri chế nhạo và phỉ báng Chúa và dân sự Ngài.
    Vì sự ăn năn ấy Đức Chúa Trời đoán nghe, và tha tội cho họ. Ngài sai một thiên sứ trong một đêm vào trại quân A-si-ri đang khi họ ngủ mê, vì Chúa khiến họ ngủ đêm mà giết 18 vạn 5 ngàn người (cỡ dân số một tỉnh). Sáng ra người ta thấy toàn là xác người. San-chê-ríp sợ hãi trở về và bị con trai ông giết chết trong khi đang quỳ lạy trong đền thần Nít-roc.

    Quả thật, Đức Chúa Trời sẽ giải phóng chúng ta và dân tộc chúng ta khỏi ách đô hộ của tội lỗi. Và Ngài giải cứu chúng ta mọi tai vạ.
    Hãy mạnh dạn trong đoàn dân thánh của Đức Chúa Giê-xu. Hãy hạ mình, cầu nguyện, tìm kiếm Chúa, ăn năn trở lại, bỏ con đường tội lỗi thì Ngài chắc chắn thăm viếng chúng ta. Và như thế chúng ta thực sự là dân tộc được phước, là dân gọi bằng danh của Đức Chúa Trời.

    Muốn thật hết lòng.

    Bài học Tin Lành VN từ Hàn Quốc
    Lannguyen

  11. #31
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Đức Chúa Trời Qua Thánh Kinh

    Con Tàu Cứu Rỗi

    -Sáng Thế Ký 7:1-24-

    “Đại Hồng Thuỷ” với nhiều truyền thoại khác nhau ở nhiều nước và nhiều dân tộc:
    * Ba-by-lôn: Một vị vua tên là Xisuthros đã được một thần cảnh cáo phải đóng tàu, đem bạn hữu, bà con, mọi loài thú vật vào đó, cũng đủ thứ lương thực cần thiết. Liền đó, vua này đóng một chiếc tàu thật lớn, tên cạn xứ Ạc-mê-ni. Khi nước lụt rút rồi, vua thả nhiều chim ra; đến lần thứ ba, chúng không trở lại nữa. Vua bèn ra khỏi tàu, dựng một bàn thờ và dâng tế lễ.
    * Ai Cập: Các thần đã tẩy uế trái đất bằng cơn nước lụt, chỉ có mấy người chăn chiên chạy lên núi thoát nạn.
    * Hy-lạp: Deucation được cảnh cáo rằng các thần sắp làm nước lụt trên trái đất vì cớ sự gian ác gớm ghiếc của nó. Ông bèn đóng một chiếc tàu, và tàu tấp trên núi Paenassus. Ông thả một con bò câu ra hai lần.
    * Ấn độ: Manu được cảnh cáo, bèn đóng một chiếc tàu, nhờ đó một mình ông được thoát nạn nước lụt tiêu diệt muôn loài.
    * Trung quốc: Fa-he người sáng lập nền văn minh Trung hoa đã cùng vợ, ba con trai và ba con gái thoát nạn nước lụt xảy ra vì cớ loài người đã dấy nghịch cùng Thượng Đế.
    * Úc châu: một nạn nước lụt lớn, có 8 người nhờ chiếc xuồng mà thoát nạn.
    * Mê-xi-cô: Một người cùng vợ con nhờ chiếc tàu mà được cứu khỏi nạn nước lụt bao phủ trái đất.
    * Peru - Nam Mỹ: Một người nam và một người nữ được cứu trong một cái thùng nổi trên mặt nước lụt.
    * Đảo Groenland: Có lần trái đất nghiêng đi, mọi người chết đuối, trừ ra một người nam và một người nữ; về sau, họ lại sanh ra người trên mặt đất.
    * Việt nam: Sơn tinh (thần núi) và Thuỷ tinh (thần nước) dành nhau một người vợ, và đánh nhau hàng năm. Thuỷ tinh dâng nước hòng giết chết Sơn tinh, gây ra lụt lội.
    Những truyền thuyết trên tuy là hư cấu, nhưng hết thảy đã nói lên rằng “Đại Hồng Thuỷ” là có thật trong lịch sử con người. Chỉ có Kinh Thánh là mô tả rõ ràng nguyên nhân, quá trình, và kết quả của cơn nước lụt lớn đó.
    1. Đại Hồng Thuỷ
    a. Nguyên nhân

    Sáng 6:11-12 cho biết nguyên nhân của đại hồng thuỷ là do con người và muôn vật ăn ở bại hoại trước mắt Đức Chúa Trời, đó là vì con người tự làm mình bại hoại, từ bỏ Đấng Sáng Tạo mà thờ lạy đủ các loài, các thứ mà Đức Chúa Trời lấy làm gớm ghiếc. Và Đức Chúa Trời muốn tẩy sạch thế giới này bằng nước, hòng loại bỏ tội lỗi khỏi mặt đất. Điều đó cho biết tội lỗi lúc bấy giờ đã đến mức ghê gớm cỡ nào.
    Theo nghiên cứu của các nhà lịch sử Huế là nơi thờ rất nhiều đền đài, hình tượng, là nơi được gọi là cố đô, là nơi tụ hội của nhiều hình tượng. Đức Chúa Trời đã nhiều lần dùng những cơn nước lụt để làm tẩy sạch tội ác và hình tượng tại đó. Song con người không biết ăn năn trở lại với Chúa, trái lại tiếp tục xây dựng lại càng nhiều hơn để thờ lạy. Đó là điều mà có thể thấy rõ phần nào nguyên nhân của những cái gọi là thiên tai. Thật ra đó không phải là thiên tai, mà đúng ra gọi là nhân tai, những tai vạ mà nguyên nhân là con người tự làm ra để chọc giận Đức Chúa Trời. Song bởi lời hứa và ân điển Ngài, nên chỉ là những lần cảnh cáo khiến con người quay lại với Chúa mà thôi.
    b. Quá trình

    1). Đóng tàu:
    Con tàu, đúng ra nó giống một cái hộp khổng lồ thì đúng hơn, có kích thước như sau:
    Chiều dài:ü 300 thước ~ 150 mét
    Chiều ngang: 50 thước ~ 25 métü
    Chiều cao: 30 thướcü ~ 15 mét, chia làm 3 tầng, có một cửa sổ duy nhất.

    Con tàu đóng bằng các tấm ván của câu gô-phe (là loại cây mà thân cây có nhiều nhựa, có thể dễ dính vào nhau) kết lại, sau đó trét nhựa chai cho nước không lọt vào. Đó là phương cách đóng tàu thời xưa.
    Đặc biệt con tàu này được đóng không phải là bên cạnh bờ sông, hay bãi biển, mà là đóng trên núi cao, nơi có nhiều cây rừng. Và do 4 người nam đó là Nô-ê và 3 con trai. Họ đóng trong khoảng thời gian 120 năm (tính từ ngày Chúa ban lệnh đóng tàu cho Nô-ê: Sáng 6:3).

    2). Trận lụt:

    Đây là trận lụt lớn nhất và lâu nhất có một không hai của trái đất. Vì vậy, tên gọi của trận lụt là “Đại Hồng Thuỷ”. Thời gian tổng cộng tính từ ngày vào tàu đến ngày ra tàu là 1 năm 10 ngày. Chia làm 3 giai đoạn.
    Giai đoạn 1: 40 ngày đêm(1ü tháng 10 ngày) mưa như sối sả từ trời và nước từ các biển dâng lên. (Sáng 7:12)
    Giai đoại 2: Mưa tạm ngưng, nhưng trong vòng 150 ngày (5 tháng) sauü thì nước bắt đầu rút dần hết trên các núi non.
    Giai đoạn 3: Phải đợi 180ü ngày (6 tháng) thì nước rút hết, đất bắt đầu khô và mới ra khỏi tàu được.
    c. Kết quả
    Trái đất một lần đã bị phán xét một lần bởi nước vì tội lỗi. Trái đất được tái tạo nên mới. Tất cả hình tượng và sự bại hoại, cùng mọi công trình của hàng thế kỷ của con người xây dựng theo ý riêng mình đều không còn gì cả.
    Có người nói rằng sao Đức Chúa Trời ác quá? Đức Chúa Trời đã thực hiện sự công bình của Ngài. Hết thảy con người thời đó trừ gia đình Nô-ê là còn được gọi là biết và kính sợ Chúa, thay thảy đều từ chối Chúa và phỉ báng Ngài, xem Ngài như không có hiện diện, lời cảnh cáo của Ngài qua gia đình Nô-ê bị mọi người khinh khi và chế nhạo. Ngài đã nhịn nhục với họ, và Ngài cho họ cơ hội cuối cùng để ăn năn trong thời hạn 120 năm, đó là thời gian đóng tàu. Vậy mà không một ai trở lại với Chúa. Thì không thể nói Chúa là không công bình, mà phải nói là con người sao quá ngoan cố và cứng lòng đến thế.

    Ngay cả gia đình của Nô-ê hết thảy 8 người, song họ được cứu không phải nhờ họ công bình thực sự đâu, mà là do sự thương xót, và ân điển Chúa rất lớn của Ngài ban cho. Vì vậy, trong lòng họ thực sự vẫn còn tội lỗi. Ngài đã biết trước điều đó khi Nô-ê dâng tế lễ cho Chúa, lòng của họ có thể bắt đầu tự kiêu, cho mình hơn hết thảy mọi người nên được Chúa cứu. Và vì vậy, sau đó họ tiếp tục sanh ra nhiều dòng dõi không kính sợ Chúa, nên mới có sự kiện lộn xộn các thứ tiếng tại tháp Ba-bên.
    Và lòng yêu thương Ngài chờ đợi chúng ta lần nữa trở về với Chúa trước khi Ngài phán xét lần cuối cùng bằng lửa. Thời gian Ngài đến không phải 120 năm, mà là bất cứ lúc nào. Đó là lý do để thương xót chúng ta, và khiến chúng ta sẵn sàng đi với Chúa bất cứu lúc nào.

    2. Con tàu trong cơn đại hồng thuỷ và hình bóng về Đấng Christ

    a. Con tàu cứu rỗi


    Con tàu Nô-ê đóng là con tàu cứu được mạng sống của bất cứ ai, bất cứ vật gì, con gì bằng lòng bước vào tàu. Vì vậy, con tàu Nô-ê đóng được gọi là con tàu cứu rỗi.
    Chính Đức Chúa Giê-xu là hình bóng của con tàu đó, hễ ai bước vào trong Ngài thông qua việc bước vào Hội Thánh Chúa thì được cứu rỗi. Cửa cứu rỗi chính là Chúa. Phải bước qua cửa đó, tin nhận và xác quyết điều đó mới được cứu.
    Có thể nhiều người nhìn thấy con tàu đó hình dạng như cái hộp to, đặt trên núi thì khi dễ dàng, và không chịu bước vào để được cứu khỏi cơn đại hồng thuỷ thế nào, thì giống như thế những ai nhìn và xem Chúa Giê-xu và đạo của Ngài giống nhỏ bé và bị nhiều chê bai mà không chịu bước vào thì cũng như vậy.

    b. Phương cách vào tàu

    Bằng cách duy nhất là tin sự phán xét của Chúa, và bằng lòng bước vào tàu. Chúng ta lưu ý vài điểm sau:
    Con tàu đặt trên núi: đó là nơi cao, cần phải trả giá mới đến được. Nhưng đó là nơi nói lên rằng ai cũng có thể thấy và biết. Tức là nếu muốn theo Chúa phải trả giá, phải bước đến chỗ đặt con tàu là chính Chúa Giê-xu. Chúa Giê-xu được rao giảng khắp mọi nơi, vậy hễ ai đồng ý mời Ngài vào lòng và chúng ta vào Ngài qua lời xưng nhận niềm tin, và sống trong Ngài thì được như vậy.
    Con tàu Nô-ê chỉ có một cửa vào. Bước vào cửa tàu trên ngọn núi giữa trời nắng oi bức để mong ước và tin tưởng sẽ sống trong cơn lũ lụt là điều không đơn giản và không dễ dàng. Cũng vậy, tin Chúa Giê-xu và biết rằng mình sẽ được vào sự sống vĩnh cửu và khỏi sự phán xét trong hoàn cảnh xã hội mà người ta cho rằng vũ trụ này không thể nào, trái đất này, đất nước này không bao giờ bị huỷ diệt là điều không đơn giản y như thế.
    c. Bất an và hư mất của người ngoài tàu và đảm bảo cho người trong tàu

    Chính Đức Chúa Trời là Đấng đóng cái cửa cứu rỗi sau thời gian Ngài cho phép. Người bên ngoài không thể vào trong, và người bên trong không thể ra ngoài được. Trong ngày phán xét người được vào thiên đàng không thể xuống địa ngục, và người từ địa ngục không thể vào thiên đàng là như vậy.
    Đối với người trong tàu thì hoàn toàn được bình và và đảm bảo sự cứu rỗi. Không còn thấy cảnh hư hoại thế giới. Vào ngày Chúa Giê-xu trở lại cũng vậy, Ngài sẽ lau ráo mọi dòng nước mắt của bạn và tôi.
    Hàn quốc hiện nay là quốc gia duy nhất còn lại trên thế giới bị chia đôi tháng 2 nước: Nam Hàn và Bắc Hàn. Trong vòng mấy tuần lễ người trong nam có thể ra bắc, người ngoài bắc có thể vô nam. Nhưng sau hiệp định và vạch tuyến phân chia đôi quốc gia thì gần hơn 50 năm người nam muốn ra bắc không được, người bắc vào nam cũng không được; tuy rằng hiện nay 1 năm được 1 lần khoảng vài chục ông bà cụ già được phép mà thôi.
    Con tàu duy nhất - Đức Chúa Giê-xu là Đấng Cứu Thế duy nhất

    * Con tàu cứu rỗi duy nhất


    Có rất nhiều tàu, bè, thuyền, ghe, xuồng.... lúc bấy giờ, nhưng chỉ có con tàu Nô-ê đóng trên núi trong vòng 120 năm mới đảm bảo sự cứu rỗi mạng sống.
    Có rất nhiều giáo chủ, tôn giáo ở thế gian, nhưng chỉ có Đức Chúa Giê-xu vốn là Đức Chúa Trời quyền năng, hạ mình làm người giáng thế để chịu chết thay thế con người tội lỗi mới đủ quyền và đảm bảo cho sự cứu rỗi mạng sống chúng ta.
    * Cánh cửa cứu rỗi duy nhất

    Có rất nhiều cửa có thế bước vào, biết bao nhiêu toà nhà sang trọng, bao nhiêu cửa hàng quý giá, bao nhiêu hàng quán, và hàng hà cửa... nhưng chỉ bước vào cửa của con tàu Nô-ê thì mới được sống.
    Có rất nhiều nơi chúng ta bước vào, có rất nhiều tôn giáo, rất nhiều lãnh vực quý vị chọn lựa, song chỉ có bước vào cửa là chính Chúa Giê-xu thì mới nhận được sự cứu rỗi chắc chắn mà thôi. Chính Ngài là cửa chân thật, là con đường sự sống.
    * Sự bình an duy nhất trong tàu

    Có rất nhiều nhà cao cửa rộng, nhiều nơi rất nguy nga, giàu sang, đầy đủ song không đem lại niềm vui và bình an thật của con người. Sau những giây phút sung sướng rồi lại khổ sở, sau những phút giây cười đùa là những giây phút khóc than, sau những giây phút đứng trong đám đông mà lòng hoàn toàn cô đơn... Hãy đến với Đức Chúa Giê-xu thì sự bình an chân thật sẽ đến trên quý vị.
    Có một câu chuyện về "Sự bình an" như sau: Một vị vua treo giải thưởng cho nghệ sĩ nào vẽ được một bức tranh đẹp nhất về sự bình an. Nhiều họa sĩ đã cố công. Nhà vua ngắm tất cả các bức tranh nhưng chỉ thích có hai bức và ông phải chọn lấy một.

    Một bức tranh vẽ hồ nước yên ả. Mặt hồ là tấm gương tuyệt mỹ vì có những ngọn núi cao chót vót bao quanh. Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây trắng mịn màng. Tất cả những ai ngắm bức tranh này đều cho rằng đây là một bức tranh bình an thật hoàn hảo.

    Bức tranh kia cũng có những ngọn núi nhưng những ngọn núi này trần trụi và lởm chởm đá. Ở bên trên là bầu trời giận dữ đổ mưa như trút kèm theo sấm chớp. Ðổ xuống bên vách núi là dòng thác nổi bọt trắng xóa. Bức tranh này trông thật chẳng bình an chút nào. Nhưng khi nhà vua ngắm nhìn, ông thấy đằng sau dòng thác là một bụi cây nhỏ mọc lên từ khe nứt của một tảng đá. Trong bụi cây một con chim mẹ đang xây tổ. Ở đó, giữa dòng thác trút xuống một cách giận dữ, con chim mẹ đang an nhiên đậu trên tổ của mình... Bình an thật sự. Nhà vua công bố: "Ta chấm bức tranh này! Sự bình an không có nghĩa là một nơi không có tiếng ồn ào, không khó khắn, không cực nhọc. Bình an có nghĩa ngay chính khi đang ở trong phong ba bão táp ta vẫn cảm thấy sự yên tĩnh trong trái tim. Ðó mới chính là ý nghĩa thật sự của bình an.

    Muốn thật hết lòng.

    Bài học Tin Lành VN từ Hàn Quốc
    Lannguyen

  12. #32
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Đức Chúa Trời Qua Thánh Kinh

    Báo Đáp Ơn Cha Mẹ

    -Xuất Ê-díp-tô Ký 20:12; Châm Ngôn 1:8-9; 23:22,25;
    Cô-lô-se 3:20; Ê-phê-sô 6:2-3-

    Câu chuyện vui: “Hối Thúc Mẹ Chết Cho Nhanh”


    Bà mẹ của người nhà căn hộ bên phía đông chết, con trai của bà ta không khóc bi ai não nùng, nên bị người hàng xóm chỉ trích là bất hiếu.
    Ðứa con trai của người nhà căn hộ bên phía tây thấy như vậy, liền nói với mẹ nó:
    - "Mẹ à, tại sao mẹ không mau chết cho rồi? Nếu mẹ chết đi, con nhất định phải đau đớn, rất buồn phiền mà than khóc mẹ". (Chuẩn Nam tử)
    Cha mẹ chết mà không khóc, chưa chắc đã là bất hiếu, và khóc lóc thảm thiết lúc cha mẹ chết thì chưa chắc đã là có hiếu. Bởi vì có rất nhiều đứa con khi cha mẹ còn sống thì không lo phụng dưỡng để báo hiếu, đến khi cha mẹ chết đi thì lại khóc bù lu bù loa, khóc thảm thiết, thì có ích gì chứ? Hối thúc mẹ mau chết, thì trên đời này hiếm thấy, dù là đứa con bất hiếu chăng nữa. Nhưng khi cha mẹ bệnh hoạn lâu ngày không thuyên giảm, mà con cái muốn cha mẹ chết cho mau bèn giết đi là những chuyện có thật đã xảy ra trên thế giới ngày nay, thế giới của tiến bộ và tự do dân chủ. Khi bạn mong cho cha mẹ chết sớm để khỏi gánh nặng, để khỏi ảnh hưởng đến công ăn việc làm, và để trút đi "cục nợ", thì bạn nên nghĩ lại, ai đã sinh ra bạn, ai đã nuôi bạn sống đến ngày hôm nay, ai đã vì bạn mà thức khuya dậy sớm.v.v... Nếu bạn đã tìm được câu trả lời, thì chính con cái của bạn sẽ đối xử rất có hiếu với bạn, như bạn ngày hôm nay đã đối xử rất có hiếu với cha mẹ bạn vậy.

    1. Cách báo hiếu của các dân tộc và tôn giáo

    a. Các dân tộc trên thế giới báo hiếu
    Các dân tộc trên thế giới có những cách báo hiếu đối với cha mẹ khác nhauk, có dân tộc khi cha mẹ mình chết thì đem bỏ vào rừng cho thú ăn; có dân tộc đãi cả làng ăn thịt của cha mẹ mình; có dân tộc khi cha mẹ mình chết đem treo lên cây cho đến khi chim trời rĩa hết thịt; có dân tộc lại đào hài cốt cha mẹ mình sau một năm, lấy xương rữa rồi xếp lại chôn chỗ khác... Nhưng đại bộ phận các dân tộc đều chôn cất cha mẹ mình trong lòng đất.
    Trong những năm tháng trước đây việc thiêu người chết là một điều gọi là bất hiếu, nghèo thì nghèo nhưng không nỡ thiêu xác cha mẹ rồi rãi tro ngoài sông, biển. Điều đó thế giới Âu châu rất là phản đối. Nhưng ngày nay khi điều tra về việc sau khi chết có muốn thiêu hay không thì đa số đều chấp nhận được. Có thể vì đất ít người đông, hay có thế ý thức hệ đã thay đổi.

    b. Các tôn giáo trên thế giới báo hiếu

    Những lý do báo hiếu cha mẹ bằng cách huỷ xác hay giữ xác đều là xuất phát từ quan điểm tôn giáo hơn. Từ những ngày xa xưa nền văn minh Ai Cập đã hình thành ý thức hệ về việc con người sẽ được sống lại từ thân xác đang có nên cố hết sức ướm xác sao cho không bị hư nát. Từ đó nên có tục ướm xác trong những kim tự tháp.
    Trong tôn giáo của các nước Paslestin thì lại chôn cất trong những hang đá, trong hầm trên núi. Và họ cũng tin như vậy.
    Riêng các nước châu Á thì 3 tôn giáo lớn là Phật giáo, Khổng - Mạnh giáo và Ấn độ giáo từ xưa cho rằng con người sẽ luân hồi, nghĩa là thay đổi thành người khác, kíp khác nên phải giữ xác cho kỹ. Và 3 tôn giáo này gọi chung nhóm là hoà đồng tôn giáo.
    c. Người Việt thường báo hiếu
    Người Việt Nam thường báo hiếu theo 3 tôn giáo chính là Phật giáo, Nho giáo và Đạo ông bà. Và hiện nay người ta bắt đầu hiểu về chữ hiếu xuất phát từ Thượng Đế.
    1). Phật giáo nói về quan điểm báo hiếu: Phật giáo du nhập vào Việt Nam vào thế kỷ III do các thương gia Ấn độ đến. Với Phật giáo, Vu-Lan-Bồn là một phương pháp báo hiếu có hiệu quả nhất. Theo hòa thượng Thích Thiện Hoa, « Vu-Lan-Bồn là phiên âm theo tiếng Phạn. Người Trung Hoa dịch là : « giải đảo huyền », nghĩa đen là cổi trói người bị treo ngược ; nghĩa bóng là cứu vớt những kẻ đau khổ nặng nề như đang bị treo ngược. Việc báo hiếu có nhiều cách nhưng không ngoài hai phương diện: vật chất và tinh thần tức là lo cho cha mẹ miếng ăn thức uống, áo quần, chỗ ở và làm cho tinh thần cha mẹ được nhẹ nhàng cao thượng và đi dần đến chỗ giải thoát.
    2). Nho giáo nói về quan điểm báo hiếu: Trong sách Trung dung, Khổng tử nói hiếu là: «Kính kỳ sở tôn, ái kỳ sở thân, sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn, hiếu chi chí giã » (nghĩa là : kính những người cha mẹ đã tôn trọng, yêu những người cha mẹ đã yêu mến, thờ cha mẹ lúc chết rồi cũng như lúc hãy còn, ấy là hiếu đến rất mực vậy). Khổng-tử cũng nói về trường hợp cha mẹ làm điều sai trật: «Sự phụ mẫu cơ gián, kiến chí bất tòng, hựu kính bất vi, lao nhi bất oán.» (thờ cha mẹ thì khi cha mẹ có làm điều gì lầm lỗi, con phải tìm cách êm-đềm dịu-dàng mà can-ngăn, thấy cha mẹ không nghe, thì lại kính mà không trái lễ, dẫu có phải điều đau đớn khó nhọc cũng không oán giận”.
    Tăng tử nói: “Hiếu hữu tam: đại hiếu tôn thân, kỳ thứ phất nhục, kỳ thứ năng dưỡng”, nghĩa là: Hiếu có ba điều: đại hiếu phải tôn thân, sau nữa không làm điếm nhục, sau nữa mới nuôi dưõng.

    2. Hiếu thảo theo Lời Đức Chúa Trời phán dạy

    a. Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi, hầu cho ngươi được sống lâu trên đất mà Giê-hô-va Ðức Chúa Trời ngươi ban cho (Xuất 20 :12)
    Đây không chỉ là một lời khuyên bình thường mà là một giao ước muôn đời của Đức Chúa Trời cho con người. Trong quan hệ người với người thì quan hệ tối cần thiết là hiếu kính cha mẹ, nếu không giữ giao ước này thì mọi quan hệ người với người bị phá vỡ. Dầu người đó có là gì, và thế nào đi nữa thì không hiếu kính cha mẹ thì coi như người ấy phạm luật pháp và điều răn của Đức Chúa Trời.
    « Nếu muốn trở nên người cha, người mẹ tốt trước hết phải là người con hiếu thảo ». Phạm điều răn, đáng bị chết đó là tội đánh cha mẹ, chưởi cha mẹ, cha mẹ già không chăm sóc. Đó không chỉ là đạo đức mà là cơ cấu cần thiết của một xã hội Chúa muốn.

    Lưu ý : Phước hạnh cặp theo điều răn này là được sống lâu, được trường thọ khi còn trên đất.
    b. Hỡi con, hãy nghe lời khuyên dạy của cha, chớ bỏ phép tắc của mẹ con; Vì ấy sẽ như một dây hoa trên đầu con, giống như những vòng đeo quanh cổ của con. Hãy nghe lời cha đã sanh ra con, chớ khinh bỉ mẹ con khi người trở nên già yếu. Ước gì cha và mẹ con được hớn hở, và người đã sanh con lấy làm vui mừng. (Châm Ngôn 1:8-9; 23:22,25)

    Người thầy giáo đầu tiên của con cái chính là cha, là mẹ vì vậy giáo dục của cha mẹ từ khi con cái còn nhỏ là điều rất quan trọng. Kinh Thánh cho biết: “hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo; dầu khi nó trở về già, cũng không lìa khỏi nó” (Châm ngôn 22:6). Con cái biết nghe lời khôn ngoan của cha mẹ thì giống như được đeo những vòng dây hoa, điều đó có ý nghĩa cho sự thành công trong cuộc sống của chính người con đó.
    Và hiếu thảo cũng là việc phụng dưỡng cha mẹ, đến tuổi cha mẹ về già không còn làm gì nỗi thì cũng một lòng kính nễ và phụng dưỡng.
    Câu chuyện “Cái sọt”

    “Có một gia đình kia, trong nhà có một ông cụ già không làm gì nổi, nhà cũng không mấy dư giả. Hai vợ chồng mới bàn với nhau bằng cách nào bỏ ông cụ đi, một vài lần người chồng cầm dao định giết cha như không nỡ. Và cuối cùng mới bàn một cách. Người chồng đan một cái sọt rất to. Người con của anh ta còn nhỏ nhưng cũng thấy cha đan sọt to nên hỏi anh là đan sọt làm gì. Anh ta nói ông nội muốn đi chơi nên đan sọt để đưa cụ đi chơi. Đan sọt xong anh ta mới đến chỗ ông cụ nằm để bỏ ông cụ vào. Ông cụ già rất nổi giận khi thấy con trai mình đối xử với mình như thế, nhưng thấy mình trở nên vô ích lợi cho gia đình nó nên đành lòng trong nước mắt để con mình bỏ vào sọt. Anh chàng mang sọt vào rừng định để cha dưới gốc cây, để một ít thức ăn rồi ra về. Vừa bước ra khỏi sân nhà thì thằng con nhỏ của anh ta chạy ra khỏi chỗ núp của nó sau khi nghe cha và ông nội trò chuyện, chạy theo tạm biệt ông nội và nói với cha: ‘cha đem ông nội đi rồi nhớ đem sọt về cho con’, thấy lạ anh mới hỏi: ‘để làm gì hả con’, đứa trẻ trả lời: ‘để lúc cha già như ông nội, con cũng đem cha vào rừng như cha đã làm cho ông nội, đến lúc đó khỏi mất công đan sọt khác’ nghe đến đó anh ta sựt tỉnh, đem bố vào nhà xin lỗi cha già, và đốt cái sọt đi”

    3. Hỡi kẻ làm con, mọi sự hãy vâng phục cha mẹ mình, vì điều đó đẹp lòng Chúa. (Cô-lô-se 3:20)
    Trong gia đình tin kính Chúa, đây là điều rất quý giá và cần thiết.

    Câu chuyện Tiến sĩ Hugh F. Pyle kể lại. Lúc hồi còn nhỏ xíu. Mẹ cậu hướng dẫn cậu rất kỷ lưỡng. Mẹ cậu thường hay kỷ luật phạt mỗi khi làm sai. Chẳng hạn phạt bắt quỳ gối, không cho đi dạo chơi, không dẫn đi ăn "McDonald's" chẳng hạng. Thay gì ngoan ngoãn thì mỗi tuần đều được đi ăn Mcdonald's. Nhưng phạm kỷ luật thì sẽ không được đi ăn tiệm. Từ nhỏ mẹ cậu đã dạy dỗ mỗi khi đến nhà thờ. Lúc học trường Chúa nhật xong, lên chuẩn bị vào chương trình thờ phượng, mẹ cậu dạy rằng: phải đi tiểu, uống nước cho đầy đủ và luôn luôn ngồi gần bên bà trong lúc thờ phượng. Không được quây qua quây lại, đi ra đi vào trong giờ thờ phượng. Nhất định phải ngồi yên trong vòng một tiếng đồng hồ. Mỗi lần mà cậu muốn ra ngoài để cùng chơi với các bạn bè cùng tuổi, thì bà bấm tay cậu bảo hãy ngồi yên lặng. Những cậu bé con người khác, nó cứ chạy long tong khắp nơi trong nhà thờ mà cha mẹ chúng không chịu la chúng. Cậu thấy mà thèm muốn giống đám bạn trai ấy. Nhưng dần dần cậu lớn lên và hiểu được sự kỷ luật của cha mẹ là có giá trị uốn nắn con cái trở lên người hủ dụng cho gia đình, nhà Chúa và cho xã hội mai sau. Hiện nay Dr. Hugh F. Pyle là một vị mục sư đầy ơn của Chúa.

    Thế thì đối với cha hay mẹ không tin Chúa, không làm theo chân lý Chúa dạy thì có vâng lời không? Thờ cúng cha mẹ khi cha mẹ qua đời giống như tục lệ từng có có phải là hiếu thảo, là vâng phục cha mẹ không? Đây là một câu hỏi khó. Để trả lời điều này chúng ta cần biết người chết mà không tin kính và tin Chúa có sở nguyện gì cho con cháu: Lu-ca 16:27-31. Tất cả người không được cứu cũng đều mong ước chúng ta vâng phục Chúa và thờ kính Chúa. Trung với Chúa tức là hiếu với cha mẹ vậy.

    « Trọn trung thờ Chúa đạo làm trai,
    Chữ hiếu làm con dễ dám sai.
    Vẫn hiếu với trung là vốn một,
    Mà trung cùng hiếu chẳng toàn hai.
    Thà rằng mất hiếu trung cùng Chúa,
    Hễ đã không trung, hiếu với ai ?
    Chữ hiếu ấy tình, trung ấy nghĩa,
    Bên trung bên hiếu nặng hai vai. »

    Kết luận, “Hỡi kẻ làm con cái, hãy vâng phục cha mẹ mình trong Chúa, vì điều đó là phải lắm. Hãy tôn kính cha mẹ ngươi (ấy là điều răn thứ nhất, có một lời hứa nối theo), hầu cho ngươi được phước và sống lâu trên đất.” (Ê-phê-sô 6:1-3)
    Món quà mà cha mẹ chúng ta mong muốn nhận được là gì? Niềm mong ước lớn nhất của các bậc làm cha mẹ là con cái hiếu thảo, vâng theo sự khuyên bảo, hướng dẫn của cha mẹ. Nếu quý vị còn sống gần cha mẹ, hãy bày tỏ lòng tôn kính và hiếu thảo qua những chăm sóc nhỏ nhặt và tế nhị, tránh nói hay làm điều gì khiến cha mẹ buồn phiền và đau lòng. Ðừng nhắc lại những lỗi lầm của cha mẹ trong quá khứ, cũng đừng xem cha mẹ như là gánh nặng mình phải mang. Nếu còn sống dưới sự bảo bọc của cha mẹ, chúng ta hãy để ý lắng nghe lời khuyên bảo của cha mẹ. Cha mẹ có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống, vâng lời cha mẹ sẽ giúp chúng ta tránh được nhiều vấp váp trong đời. Ðức Chúa Trời cũng biết điều mà các bậc cha mẹ trông mong nơi con cái nên Ngài đã truyền mạng lệnh sau: "Hỡi kẻ làm con cái, hãy vâng phục cha mẹ mình trong Chúa, vì điều đó là phải lắm. Hãy tôn kính cha mẹ ngươi, hầu cho ngươi được phước và sống lâu trên đất" (Ê-phê-sô 6:1-3). Lời Chúa cũng dạy: "Hỡi kẻ làm con, mọi sự hãy vâng phục cha mẹ mình, vì điều đó đẹp lòng Chúa" (Cô-lô-se 3:20).

    Lòng hiếu thảo và vâng lời của con cái là điều mang lại cho cha mẹ sự thỏa nguyện sâu xa, khiến các bậc sinh thành thấy mình có một vị trí quan trọng trong cuộc đời con, hữu ích cho con. Vì thế, dù học cao hay tài giỏi đến đâu, dù làm được nhiều tiền và phải cung cấp cho cha mẹ, là con, chúng ta cần luôn luôn tôn kính và hiếu thảo đối với cha mẹ. Ðây là điều bậc cha mẹ nào cũng trông mong nơi con, và là món quà giá trị hơn hết mà chúng ta có thể biếu cho các bậc sinh thành.

    Bài học Tin Lành VN từ Hàn Quốc
    Lannguyen

  13. #33
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Đức Chúa Trời Qua Thánh Kinh

    Bản Chất của Hội Thánh

    -Công vụ các sứ đồ 6:1-7-

    Hình ảnh một ca sĩ ca ngợi Chúa mà tôi thấy cảm động trong những ngày gần đây là nữ ca sĩ, một người mất cả hai cánh tay, một chân. Mọi việc từ ca hát đến công việc nhà đều làm bằng bàn chân còn lại. Nhưng cô lúc nào cũng ca ngợi Chúa và luôn cảm thấy hạnh phúc. Cô phục vụ Chúa với điều Chúa cho là tấm lòng nhân hậu và môi miệng ngợi khen Chúa.

    Bản chất của Hội Thánh gồm 5 yếu tố quan trọng: 1). Giảng luận 2). Giáo dục 3). Truyền giảng(truyền giáo) 4). Thông công 5). Phục vụ.

    1. Sự cần thiết của 5 yếu tố căn bản của bản chất Hội Thánh

    Hội Thánh là thân thể của Đấng Christ. Ngài là đầu của Hội Thánh. Vì vậy, chúng ta cần chăm sóc Hội Thánh vì chúng ta là một phần trong thân thể đó. Và những yếu tố căn bản đó chúng ta cần và phải lưu tâm để phát triền Hội Thánh

    1). Giảng luận: tức giải bày Lời Ðức Chúa Trời cách rõ ràng, cụ thể để mọi người trong Hội Thánh biết và giữ theo ý Chúa. Và vì giảng luận cũng là một cách rao báo Lời Ðức Chúa Trời nên trong Hội Thánh không thể thiếu yếu tố này. Về phương pháp có 2 cách: qua lời giảng giải Lời Chúa bằng lời, và giảng giải Lời Chúa thông qua các thánh lễ: Tiệc Thánh, Báp-têm.

    2). Giáo dục: tức dạy dỗ, hướng dẫn học niềm tin căn bản, căn bản Kinh Thánh, và huấn luyện. Đây là yếu tố không thể thiếu hoặc quên lãng được. Qua việc giáo dục thì Hội Thánh mới tăng trưởng được. Giống như khi trồng cây thì phải chăm sóc, bón phân, tưới nước thì mới lớn lên và có kết quả được.

    3). Truyền giảng(truyền giáo): Đây là tiêu chuẩn căn bản của sự phát triển. Trong lịch sử Hội Thánh lúc nào Hội Thánh quan tâm, bắt đầu đi truyền giảng thì Hội Thánh mới tiến triển và trở nên thuần khiết hơn. Ngược lại chỉ giáo dục mà không truyền giáo thì chỉ gây nên nhiều cuộc tranh luận không cần thiết, và Hội Thánh sẽ trở nên tổ chức hoá, mất đi bản chất thuần khiết của mình.

    4). Thông công hay còn gọi là sự giao lưu, quan hệ mật thiết với nhau trong Hội Thánh và ngoài Hội Thánh. Hội Thánh nhỏ thì vấn đề này được đề cao vì dễ quan tâm. Nhưng khó khăn là Hội Thánh càng lớn rộng thì vấn đề này thường bị sao lãng, hay đúng hơn là không có sự thông công chặt chẽ với nhau được. Vì vậy, dù sao đi nữa thì cần sự thông công hơn hết. Điều đó giống như các xương khớp muốn cử động và làm việc thì cần những cái lắt léo, tức những cái khớp xương gân.

    5). Phục vụ: là một trong những bước đầu của công tác hầu việc Chúa, hay là làm việc. Trước là bản thân có ý thức tốt hơn, có nhận thức mình là một phần trong đó, thứ hai là phục vụ lẫn nhau. Ngưiờ này phục vụ người khác về vấn đề này thì người khác phục vụ mình vấn đề khác. Chính Ðức Chúa Giê-xu đã làm gương phục vụ cho chúng ta. Trước khi Ngài hoàn thành chức vụ mình trên đất thì Ngài rửa chân cho các môn đồ và dạy họ phải phục vụ lẫn cho nhau.

    2. Hội Thánh đầu tiên đã thực hiện thế nào?

    Hội Thánh đầu tiên vớI 12 sứ đồ cùng các môn đồ khoảng 120 người. Ban đầu Hội Thánh từ A đến Z đều do các sứ đồ lo toan. Nhưng Hội Thánh phát triển quá nhanh trong vòng chưa đầy 1 năm đã lên đến hơn 5 ngàn người (cỡ Hội Thánh tài trợ ĐôngShin), nên các sứ đồ không làm xuể nữa nên có sự tranh chấp về vấn đề thông công và phục vụ. Mà nếu các sứ đồ lo việc thông công, phục vụ thì công tác giảng dạy, cầu nguyện, truyền giảng bị mất tính chính xác. Vì vậy, Hội Thánh đầu tiên kể từ đoạn 6 bắt đầu thay đổi về nhận là cần cả 5 yếu tố, và cần bổ sung cho nhau, không thể bỏ sót yếu tố nào. Nên cần thêm nhiều người có danh tốt, đầy dẫy Ðức Thánh Linh, trí khôn để giao công việc này cho.
    Ở đây chúng ta cần lưu ý là không phải các sứ đồ không lo việc thông công và phục vụ, cũng không phải những người được giao việc này không rao giảng Lời Chúa đâu. Chúng ta thấy nhiều chấp sự như Ê-tiên, Phi-líp, A-na-nia… giảng dạy, làm báp têm… Vậy thì, đây chỉ nói lên việc nhận trách nhiệm chính mà thôi.

    3. Hội Thánh ngày nay sẽ học và tiến hành thế nào?

    Ngày nay rất đa dạng về hình thức, nhưng sau khi đối chiếu thì vẫn cần thiết 5 yếu tố này mới gọi là Hội Thánh tăng trưởng. Nhiều chi hội thiếu yếu tố này, yếu tố khác nên thành ra phát triển không điều, hay phát triển một thời gian lại dường như chậm lại, hay dậm chân tại chỗ.
    Hội Thánh Hàn quốc phát triển được như ngày nay cũng là trước hết Ðức Chúa Trời hành động và bở ân điển; sau đó là biết vận dụng cả 5 yếu tố này. Về giảng luận thì anh chị em nếu biết tiếng Hàn thì đi đâu cũng nghe hay đọc được nhiều bài giảng, và Hàn Quốc mang tiếng tăm là quốc gia có nhiều tài liệu về các bài giảng nhất (sách bài giảng, băng bài giảng, đài phát thanh…). Về giáo dục thì Hàn Quốc có nhiều trường thần học nhất châu á. Về truyền giáo trong và ngoài nước, công tác gởi giáo sĩ đi nhiều quốc gia. Về việc thông công và phục vụ thì vào loại được đánh giá cao.
    Còn Hội Thánh người Việt chúng ta tại đây còn non trẻ vì chưa đáp ứng đủ các yếu tố này, thậm chí chưa yếu tố nào hoàn thành cả. Chỉ mới giống em bé mới tập đi mà thôi, nên chưa thể tập chạy được. Cảm tạ Chúa em bé này đang bắt đầu đi từng bước rồi, đang tập nói…

    Anh chị em thân mến!
    Chúng ta thật sự là anh chị em của một Cha Thiên Thượng, là các phần của một thân là Ðức Chúa Giê-xu, và giao thông cùng nhau bởi ân điển của Ðức Thánh Linh. Chúng ta cần ý thức mình còn là trẻ thơ, ao ước và phấn đấu tiến bước. Hy vọng chúng ta là những người cường tráng, lấy vai gánh vác vai trò trong Hội Thánh Ðức Chúa Trời.
    Muốn được như vậy thì trước hết chúng ta đặt trọn lòng trông cậy mình nơi Chúa. Và siêng năng tập luyện theo khả năng Chúa cho mình. Ai làm được việc gì cứ xung phong mà làm. Kinh Thánh chép” “Mọi công khó của anh em trong Chúa không vô ích đâu”. Ai có sức thì dùng sức, ai có trí khôn thì dùng sự khôn ngoan để tìm phương cách phục vụ, ai có tấm lòng thì dùng tấm lòng, ai có giọng thanh tiếng tốt thì dùng môi miệng… Chúa cho chúng ta khối óc, bàn tay, tấm lòng, môi miệng… thì cứ khả năng mà phục vụ Chúa.

    Nguyện Ðức Chúa Trời thấy công khó anh chị em mà chúc phước và giúp anh chị em phát triển tài năng anh chị em có.

    Bài học Tin Lành VN từ Hàn Quốc
    Lannguyen

  14. #34
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Đức Chúa Trời Qua Thánh Kinh

    Hạnh Phúc Vô Biên

    Trong đời sống lúc nào mà chúng ta không ước mơ, và không điều gì làm chúng ta thỏa mãn hoàn toàn. Chúng ta đi tìm một hạnh phúc vô biên, tìm sự bình an!
    Cuộc sống được tạo nên bằng những điều trái ngược. Khi không còn những điều trái ngược thì đó là cái chết. Vì thế nên có người đã sống vội vàng, bất cần ngày mai, sống tuyệt vọng trước vận mệnh cuộc đời!
    Nhưng:

    Thiên Chúa không ngừng đi tìm kiếm con người, và Ngài cho những dấu hiệu để mỗi chúng ta có thể nhận ra Ngài. Ngài còn mời gọi chúng ta bằng những tiếng gọi âm thầm nhưng quyết liệt.. Ngài đang hiện diện sống động giữa con dân Ngài và đang hoạt động mãnh liệt trong tâm hồn con dân của Ngài.

    Khi Chúa Cứu Thế Jesus giáng sinh tại Bết-lê-hem thuộc Giu-đê vào thời vua Hê-rốt, có mấy nhà thông thái từ phương đông đến Giê-ru-sa-lem hỏi thăm: “Vua Do Thái mới hạ sinh ở đâu? Vì chúng tôi thấy ngôi sao Ngài bên phương đông nên đến để tôn thờ Ngài.” Chúa đã dẫn đường họ đến tìm Ngài bằng ánh sao, Chúa đã đến với chúng ta trong mọi biến cố của cuộc sống.

    Không ai trong chúng ta có thể biết trước được những gì sẽ xảy ra cho thế giới, cho đất nước mình sinh sống, hay cho gia đình và cá nhân của mình. Chúng ta đi tìm một hạnh phúc vô biên đó là sự bình an trong Chúa, có nghĩa là ngay chính khi đang ở trong phong ba bão táp ta vẫn cảm thấy sự yên tĩnh trong trái tim. Đó mới chính là ý nghĩa thật sự của bình an trong Chúa.

    Ngài đã đến như ngọn gió mát, thổi vào cuộc đời chúng ta. Hãy để Chúa Thánh Linh mở toang cánh cửa tâm hồn, không còn nhát sợ nhưng can đảm chiến đấu với thử thách, khổ đau trong cuộc sống, nếu mỗi chúng ta biết lắng nghe lời phán dạy thầm lặng nhưng mạnh mẽ của Chúa Thánh Linh , thì chúng ta sẽ thấy những biến đổi kỳ diệu nhờ ân phúc của Ngài.

    Chúa không phải là một trong những phương thế mà chúng ta chỉ nghĩ tìm đến Ngài sau khi đã thất bại nhiều lần trong cuộc đời. Chỉ trong và nhờ Ngài chúng ta mới tìm thấy được niềm vui không bao giờ tàn , đó là sự bình an thật, mọi hoàn cảnh no hay đói, dư dật hay túng bấn, với Đấng ban sức mạnh từ Quyền Năng của Ngài chúng ta sẽ chịu được tất cả.

    Cuộc sống của con dân Chúa, mỗi ngày chỉ có ý nghĩa và đáng sống khi biết hy sinh như Chúa đã hy sinh vì chúng ta, bởi vì chỉ có hy sinh và quên mình con người mới cảm nhận được niềm vui đích thực, và yếu tố ấy cũng nằm ở trong tầm tay của mỗi người chúng ta, niềm vui là hoa quả của tình yêu, bởi vì yêu thương thực sự, chúng ta mới cảm nhận được niềm vui.

    Chúa Cứu Thế Jesus đã chiến thắng tử thần, khôi phục quyền làm con Thiên Chúa, và giải phóng chúng ta khỏi ách nô lệ tội lỗi, ma quỉ.

    Trong những phút giây, mỗi lần tương giao với Chúa, qua cầu nguyện và qua Lời Ngài là Kinh Thánh , dưới ánh Thần Quang ấy, chúng ta luôn nghe vang vọng lời yêu thương của Ngài. Chúa đã chết thay cho chúng ta, mặc dầu chúng ta không xứng đáng với ơn cao cả ấy, tại sao chúng ta lại không dám chết cho chính mình, từ bỏ tội lỗi để bước theo chân Ngài?

    Chúa chúng ta vô hình, nhưng Ngài là đồn lũy kiên cố vì Ngài là Đấng cầm quyền cả vũ trụ này. Nếu Ngài không cho phép thì một sợi tóc trên đầu chúng ta cũng không ai có thể làm cho rụng xuống được. Chúa tạo dựng không phải để sống cô đơn, nhưng để sống với Chúa trong tình yêu thương đầm ấm. Tương giao mỗi ngày với Chúa là cách sống tốt đẹp tuyệt đối theo ý của Chúa.

    Giăng 1: 12 Những ai tiếp nhận Ngài, nghĩa là tin danh Ngài, thì Ngài ban cho quyền trở nên con Đức Chúa Trời.

    Trước khi sáng tạo vũ trụ đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. Ngay từ ban đầu Ngài đã ở cùng Đức Chúa Trời. Chưa ai trông thấy Đức Chúa Trời bao giờ, chỉ Con Một Đức Chúa Trời ở tận trong lòng Cha mới giải bày được Đức Chúa Trời cho chúng ta.

    Ngôi Lời đã giáng thế làm người, cư ngụ giữa chúng ta, tràn đầy ân sủng và chân lý. Nhờ sự phong phú của Ngài, chúng ta được hết ân phúc nầy đến ân phúc khác.Thật vậy, Kinh Luật được ban hành qua Môi-se, còn ân sủng và chân lý được hình thành qua Chúa Cứu Thế Giê-su.

    Ngài rọi ánh sáng vào công việc của mỗi chúng ta, Ngài thấu rõ tâm tư, thái độ, ý chí, nguyện vọng của chúng ta, Ngài sẽ giúp chúng ta, để chúng ta mãi mãi có được hạnh phúc vô biên trong Chúa từ hôm nay cho đến cõi vĩnh hằng.
    Lannguyen

  15. #35
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Đức Chúa Trời Qua Thánh Kinh

    Dấu Hiệu Của Thời Đại Ngày Nay



    Những chuyến bay đêm thường không thú vị lắm. Suốt chặng đường bay, nhìn ra ngoài cửa bạn chỉ thấy toàn một màu tối sẫm. Hầu hết hành khách đều ngủ, hay ít ra là ngồi trong trạng thái thư giãn, vì vậy cũng khó cho bạn làm quen. Nhưng ít ra bạn cũng có thời gian đọc sách hay suy tư.

    Tôi đã nghĩ nhiều về thời đại chúng ta đang sống giống như những chuyến bay đêm như thế nào? Đặc biệt khi máy bay của bạn gần đến nơi hạ cánh. Bạn bắt đầu thấy những điểm sáng. Lúc đầu chỉ loáng thoáng, rồi càng lúc càng nhiều hơn. Thình lình ánh sáng đèn chan hòa khắp nơi và bạn biết mình sắp về đến nhà.
    Kinh Thánh bật điểm sáng về thời gian của chúng ta đang sống. Kinh Thánh cho biết khi bạn thấy những chuyện chắc chắn nào đó xảy ra, đó là những dấu hiệu của thời điểm. Bạn có thể biết rằng mình sắp đến gần cuối đường. Ngày nay, chúng ta có những chứng cớ rõ ràng là thời điểm của hành tinh này sắp hết.
    Hãy xem lời dự đoán trong Kinh Thánh, “Sẽ có các điềm lạ trong mặt trời, mặt trăng, cùng các ngôi sao; còn dưới đất, dân các nước sầu não rối loạn vì biển nổi tiếng om sòm và sóng đào. Người ta nhân trong khi đợi việc hung dữ xảy ra cho thế gian, thì thất kinh mất vía, vì các thế lực trên trời sẽ rúng động” (Lu-ca 21:25-26). Bạn hãy nhìn xem những sự việc đang xảy ra trên chính trường thế giới cũng như sự đổi thay của thiên nhiên. Có bao nhiêu cuộc chiến tranh tương tàn, giông bão, sóng thần, động đất, và những tai ương, thảm họa khác cứ dồn dập để báo hiệu cho chúng ta biết thời gian không còn bao lâu nữa trên trái đất này.
    Kinh Thánh cũng dự đoán những hiện tượng xã hội trên thế giới “Vì người ta đều tư kỷ, tham tiền, khoe khoang, xấc xược, hay nói xấu, nghịch cha mẹ, bội bạc, không tin kính, vô tình, khó hòa thuận, hay phao vu, không tiết độ, dữ tợn, thù người lành, lường thầy, phản bạn, hay nóng giận, lên mình kiêu ngạo, ưa thích sự vui chơi hơn là yêu mến Đức Chúa Trời” (2 Ti-mô-thê 3:2-4).

    Những hiện tượng khác cũng được tiên đoán trong lãnh vực lao động và kinh tế như, “Anh em đã thâu trữ tiền của trong những ngày sau rốt! Kìa, tiền công con gặt gặt ruộng anh em, mà anh em đã ăn gian, nó kêu oan và tiếng kêu của con gặt đã thấu đến tai Chúa. . .” (Gia-cơ 5:3, 4). Nghe giống như một bản tin tức buổi chiều phải không bạn?
    Chúng ta đang hướng về đâu?
    Trên đây chỉ là một số trong rất nhiều dấu hiệu được báo trước trong Kinh Thánh nói về thời kỳ của chúng ta. Những người biết nghĩ ở khắp nơi đang thắc mắc “Tất cả những việc này có ý nói gì?” và “Thế giới của chúng ta hiện đang làm gì?”
    Kinh Thánh nói, “Cũng vậy, khi các ngươi thấy những điều ấy xảy ra, hãy biết nước Đức Chúa Trời gần đến” (Lu-ca 21:31).
    Trong khi không một ai có thể biết ngày và giờ Chúa trở lại, chúng ta có thể biết ngày ấy đang gần kề. Và hãy nhớ những lời Chúa Giê-su dạy, “Vậy, hãy tỉnh thức luôn và cầu nguyện, để các ngươi được tránh khỏi các tai nạn sẽ xảy ra, và đứng trước mặt Con người” (Lu-ca 21:36).
    Hãy đón nhìn những tia sáng. Chúng là những tín hiệu cho bạn biết hành trình của bạn sắp chấm dứt. Và nếu Chúa Giê-su là vị phi công của bạn, bạn có thể yên tâm có một cuộc hạ cánh an toàn!

    By Bob DuBose
    Ngọc Anh phỏng dịch
    Lannguyen

  16. #36
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Đức Chúa Trời Qua Thánh Kinh

    ĐứcChúa Trời đã chọn chúng ta

    RÔ-MA 8: 8. Ai sống theo xác thịt thì không thể nào làm đẹp lòng Đức Chúa Trời.

    Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lạI làm ích cho những người yêu kính Đức Chúa Trời, tức là những người được kêu gọi theo mục đích của Ngài. Vì những người Ngài đã biết trước thì Ngài cũng đã định trước cho họ nên giống như hình ảnh Con của Ngài để Con này trở thành con cả giữa nhiều anh chị em. Những người nào Ngài đã định trước thì Ngài cũng đã kêu gọi; những người Ngài đã kêu gọi thì Ngài cũng đã làm cho trở nên công chính, người nào Ngài đã làm cho công chính thì Ngài cũng đã tôn vinh.

    Trước khi sáng tạo vũ trụ, Đức Chúa Trời đã chọn chúng ta trong Chúa Cứu Thế để chúng ta trở nên thánh hóa không có gì đáng trách trước mặt Ngài.Vì yêu thương và theo mục đích tốt đẹp của ý định Ngài, Đức Chúa Trời đã tiền định cho chúng ta làm con nuôi của Ngài nhờ Chúa Cứu Thế Giêsu. Vì chúng ta là tác phẩm của Đức Chúa Trời, được tạo nên trong Chúa Cứu Thế Giê-su để làm những việc thiện lành, là việc Đức Chúa Trời đã chuẩn bị trước cho chúng ta để theo đó mà tiến hành.

    Bấy giờ vua phán với những người ở bên phải: ‘Hỡi những người được phước của Cha Ta, hãy đến thừa hưởng vương quốc đã được sắm sẵn cho các con từ khi sáng tạo thế giới.

    Thưa anh chị em, những người yêu dấu của Chúa, chúng tôi phải luôn luôncảm tạ Đức Chúa Trời về anh chị em vì Đức Chúa Trời đã chọn anh chị em từ ban đầum để được cứu rỗi nhờ Thánh Linh thánh hóa và nhờ tin chân lý.Cũng vì thế Ngài đã dùng Phúc Âm của chúng tôi kêu gọi anh chị em để anh chị em được hưởng vinh quang của Chúa Cứu Thế Giê-su, Chúa chúng ta.

    Nhưng anh chị em là dân tộc được lựa chọn, vị tế lễ của hoàng gia, một dân thánh, con dân thuộc về Đức Chúa Trời để anh chị em rao truyền các công việc lạ lùng của Ngài là Đấng đã kêu gọi anh chị em ra khỏi chốn tối tăm để vào nơi sáng láng diệu kỳ của Ngài.
    Và để cho biết sự giàu có vinh quang Ngài trên những bình được thương xót mà Ngài đã chuẩn bị sẵn để được vinh quang, tức là chúng ta, những ngườI được kêu gọi không phải chỉ từ trong người Do Thái mà từ các dân tộc khác nữa.
    Như Ngài có phán trong Ô-sê: “Ta sẽ gọi kẻ không phải dân Ta là dân Ta, Kẻ chẳng được yêu dấu là yêu dấu, Đấng đã dâng hiến chính mình cho chúng ta, để cứu chuộc chúng ta khỏi mọi điều gian ác và tẩy sạch để biến chúng ta thành một dân tộc thuộc riêng về Ngài, một dân sốt sắng làm các việc lành. Chúng ta nên nhắm mục đích đoạt được giải thưởng, là sự kêu gọi thiên thượng của Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu Thế Giê-su.

    Bài học theo Thánh Kinh

    Lannguyen

  17. #37
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Đức Chúa Trời Qua Thánh Kinh

    Câu hỏi:

    Như thế nào được gọi là một con người thuộc linh?

    Trả lời:

    Cảm ơn bạn đã chia sẻ thắc mắc của bạn cho chúng tôi. Câu hỏi của bạn là định nghĩa thế nào là một con người thuộc linh. Chúng tôi hiểu rằng ngày nay Cơ Đốc Nhân khắp nơi đang có những ý niệm khác nhau, cái nhìn khác nhau khi nói đến một tín đồ "thuộc linh" hay "thiêng liêng". Có người cho rằng một tín đồ thuộc linh là người tham gia tích cực các hoạt động hội thánh, đọc Kinh Thánh nhiều, cầu nguyện nhiều, giỏi kiến thức Kinh Thánh, dẫn dắt nhiều người về với Chúa... Chúng tôi không muốn đi xa hơn trong sự đánh giá tính chân xác của những quan niệm này. Chúng tôi chỉ xin được trở về với Kinh Thánh để tìm kiếm câu trả lời.

    Người thuộc linh là người sống theo Thánh Linh. Rôma 8:5-17 cho chúng ta sự phân biệt giữa một người sống theo xác thịt và một người sống theo Thánh Linh. Câu 5 và 8 chép: "Thật thế, kẻ sống theo xác thịt thì chăm những sự thuộc về xác thịt; còn kẻ sống theo Thánh Linh thì chăm những sự thuộc về Thánh Linh... Về phần anh em, nếu thật quả Thánh Linh Đức Chúa Trời ở trong mình, thì không sống theo xác thịt đâu, nhưng theo Thánh Linh; song nếu ai không có Thánh Linh của Đấng Christ, thì người ấy chẳng thuộc về Ngài." Thế thì "sống theo Thánh Linh" là như thế nào? Đời sống "sống theo Thánh Linh" chăm những sự thuộc về Thánh Linh. Đời sống ấy quan tâm đến sự làm đẹp lòng Đức Chúa Trời, làm theo sự dạy dỗ của Ngài trong Kinh Thánh. Đời sống ấy xem luật pháp Đức Chúa Trời và nguyên tắc sống theo Kinh Thánh là quan trọng hơn những ý muốn, suy tính, lý luận của riêng mình. Nói tóm lại, đời sống đó muốn làm theo ý muốn Đức Chúa Trời mà ý muốn đó chính là sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Đời sống này khác biệt với đời sống theo xác thịt, chuyên chú làm thỏa mãn những ham muốn ý thích của dục vọng, tư kỷ, cái tôi, bãn ngã tội lỗi. Chúng ta có thể từng trải cuộc chiến nội tại giữa "những điều ưa muốn của xác thịt" và "những điều ưa muốn của Thánh Linh" Tuy nhiên, người "thuộc linh" để Thánh Linh làm chủ trong đời sống mình để khước từ những ưa muốn của bản ngã tội lỗi mà vâng phục những ý muốn của Thánh Linh.

    Thứ hai, con người thuộc linh sẽ biểu hiện những trái của Thánh Linh trong đời sống mình. Galati 5:22 có chép: "Nhưng trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhơn từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ." Tất nhiên, chúng ta biết rằng không ai trong chúng ta đạt đến sự trọn vẹn của những điều này đang khi còn sống trong xác thịt này. Mức độ một người "thuộc linh" đến đâu được chứng tỏ bằng những kết quả của Thánh Linh bày tỏ ra trong chính đời sống người đó được dư dật đến đâu. Nếu chúng ta nói nhiều về những sự thiêng liêng nhưng đời sống không hề làm theo những điều đó thì chúng ta chưa phải là một người "thuộc linh" thật.

    Thứ ba, người thuộc linh có trong lòng nhận được sự bảo đảm về sự cứu rỗi mình. Người đó cảm biết mình là con Đức Chúa Trời và vui mừng không lo sợ khi nghĩ đến ngày mình phải đối diện với Đức Chúa Trời. "Thật anh em đã chẳng nhận lấy thần trí của tôi mọi đặng còn ở trong sự sợ hãi; nhưng đã nhận lấy thần trí của sự làm con nuôi, và nhờ đó chúng ta kêu rằng: A-ba! Cha! Chính Đức Thánh Linh làm chứng cho lòng chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời." (Rôma 8:15-16) Người thuộc linh hiểu rằng những ngày trên đất này chỉ là tạm bợ và họ trông đợi một quê hương đời đời phước hạnh trọn vẹn dành cho mình trên trời "Nhưng họ ham mến một quê hương tốt hơn, tức là quê hương ở trên trời; nên Đức Chúa Trời không hổ thẹn mà xưng mình là Đức Chúa Trời của họ, vì Ngài đã sắm sẵn cho họ một thành." (Hêbơrơ 11:6) "Hỡi kẻ rất yêu dấu, anh em như người ở trọ, kẻ đi đường, tôi khuyên phải kiêng những điều xác thịt ưa thích, là điều chống trả với linh hồn." (1Phierơ 2:11)

    Trên đây là những tóm tắt căn bản về ý niệm "con người thuộc linh". Theo đó, chúng ta thấy vấn đề của một con người thuộc linh không phải là vấn đề của những gì bên ngoài mà là vấn đề của một tấm lòng có Thánh Linh làm chủ và sống theo sự hướng dẫn của Ngài. Chúng tôi tin rằng mỗi một con cái thật của Chúa, có Thánh Linh trong lòng và được Ngài biến cải đời sống đều PHẢI là một con người thuộc linh. Vì nếu ai không thuộc về Thánh Linh Đức Chúa Trời thì không phải là con cái Chúa. Dù rằng mỗi chúng ta càng ngày càng tăng trưởng trong sự "thuộc linh" của mình, nghĩa là càng theo Chúa, chúng ta sẽ càng đắc thắng những ham muốn xác thịt và sống theo những sự ưa muốn của Thánh Linh hơn. Tuy nhiên, về căn bản, đã là con cái Chúa thật, mỗi chúng ta đều phải là một con người thuộc linh. Con cái Chúa dễ bị "hoa mắt" bởi những định nghĩa về một tín đồ thuộc linh sai lệch dựa trên những gì bên ngoài. Có người cũng dùng những sự tuyên bố có vẻ thuộc linh và thiêng liêng để phục vụ cho những mục tiêu của cá nhân bản ngã của mình. Chúng ta cũng hay bị sa đà vào những ý niệm về "con người thuộc linh" theo thói quen cách nghĩ của chúng ta mà không chân xác với sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Cầu xin Chúa cho mỗi chúng ta trở về với Lời Chúa để xác định đúng hướng đi cho đời sống tâm linh của mình.

    Tin Lành nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến. (Mathiơ 24:14)


    http://tinlanh.com
    Lannguyen

  18. #38
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Đức Chúa Trời Qua Thánh Kinh

    TIN LÀNH THẬT LÀ GÌ?

    Tin Lành thật là gì? Không có câu hỏi nào quan trọng hơn mà thế giới ngày hôm nay phải đối diện. Thật vậy, bởi chỉ có Tin Lành thật mới cung cấp câu trả lời để cứu chúng ta khỏi phải trãi qua cõi đời đời dưới cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Vì vậy, khi chúng ta tìm hiểu để nhận ra Tin Lành thật, chúng ta sẽ cố gắng tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi sau đây: Tin Lành thật được hình thành và xác định bởi thẩm quyền nào? Sứ điệp của Tin Lành thật là gì? Mệnh lệnh của Tin Lành thật là gì?

    Chúng ta nghe nhiều loại bài giảng khác nhau; chúng ta đọc Kinh Thánh chỗ nầy chỗ nọ; đại khái chúng ta nghe nhiều điều tốt về Tin Lành. Chúng ta nghe làm thế nào để bước đi như những Cơ đốc nhân; chúng ta thấy những qui tắc trong Kinh Thánh mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta hầu làm ích cho con người. Nhưng, chúng ta bắt đầu tự hỏi, cấu trúc cơ bản của Tin Lành Chúa Giê-xu Christ là gì? Chúng ta có thể dẹp bỏ điều thứ yếu để đối diện với điều thật thiết yếu, là cốt lõi của Tin Lành không?

    Để thật sự biết Tin Lành là gì, trước tiên chúng ta phải định rõ thẩm quyền nào đã kếu cấu và xác định Tin Lành này. Điều nầy là cần thiết vì bản chất của Tin Lành thật được định nghĩa và củng cố bởi thẩm quyền thiêng liêng của nó. Trên thực tế, bản chất của mỗi tôn giáo, giáo phái, hệ thống tư tưởng được định rõ và xây dựng bởi thẩm quyền mà hệ thống tôn giáo đó công nhận.

    Thí dụ, người theo Hồi Giáo có thể ao ước muốn biết làm thế nào để sống như một tín hữu Hồi Giáo tốt. Vì vậy họ cẩn thận tham khảo kinh Koran, một quyển sách mà người Hồi Giáo tin rằng Đức Chúa Trời phán trong đó. Vì vậy kinh Koran là thẩm quyền bằng văn tự hình thành nguyên tắc cơ bản của Hồi Giáo, là đạo Hồi. Do Thái Giáo chính thống có một thẩm quyền khác. Nó bao gồm cái mà chúng ta gọi là Cựu Ước, kèm theo những tác phẩm của giáo hội tổ tiên xem là được hà hơi thiêng liêng. Đó là thẩm quyền tạo nên bản chất và đặc tính của Do Thái Giáo. Về một phương diện khác, người Mormon (Mặc-Môn) có thẩm quyền thiêng liêng của Kinh Thánh, cộng với sách của Mormon, mà họ tin rằng được hà hơi thiêng liêng. Bởi vì sách của Mormon đến sau Kinh Thánh nên trở thành cái bóng che phủ cả Kinh Thánh. Nghĩa là những người theo đạo Mormon xem xét những gì họ đọc trong Kinh Thánh dưới ánh sáng của những gì họ tìm thấy trong kinh của Mormon.

    Tương tự, người Công Giáo La Mã vẫn đi theo một "tin lành" khác. Thẩm quyền hình thành và xác định "tin lành" của họ bắt đầu với Kinh Thánh. Nhưng những sách Apocrypha (ngụy kinh) khác cũng là một phần của thẩm quyền đó, như là khải tượng của Joan ở Arc, khải tượng của Fa-ti-ma, và những lời nói xem là không hề sai lầm của Đức Giáo Hoàng. Tất cả những điều nầy được xem như là thần thánh, rồi cùng nhau họ tạo ra thẩm quyền tạo nên đặc tính của "tin lành" Công Giáo La Mã.

    Cũng vậy, "phong trào ân tứ" có thẩm quyền của nó. "Tin lành" đó tin rằng Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời nhưng cũng tin nơi khải thị thiêng liêng qua những khải tượng, tiếng phán, hoặc tiếng lạ, mà sự mở rộng thẩm quyền của những điều nầy vượt qua cả Kinh Thánh. Vì vậy, nó có thẩm quyền của nó là Kinh Thánh, cộng với những sứ điệp mà người ta cho là nhận được từ Thượng Đế qua những giấc mơ, khải tượng và tiếng lạ. Điều nầy mở rộng thẩm quyền hình thành và xác định đặc tính của "tin lành" quyền phép.

    Xin ghi nhớ rằng mỗi lần chúng ta có một thẩm quyền khác, chúng ta cũng có một loại "tin lành" khác. Nói một cách khác, mỗi "tin lành" được xây dựng và xác định bởi thẩm quyền của nó. Vì vậy khi thẩm quyền khác nhau, chính những "tin lành" đó cũng khác nhau.

    Nhưng Tin Lành thật của Chúa Giê-xu Christ là gì? Ai mới có thể cứu nhân loại khỏi tội lỗi của họ? Thẩm quyền thiêng liêng đã cấu tạo và xác định Tin Lành đó là gì? Đây là một vài câu trong những câu hỏi có tính chất khẳng định mà giáo hội ngày hôm nay phải đối diện, bởi vì chúng ta đang sống trong thời đại khi mà những "tin lành" đang phát triển nhanh. Xoay qua hướng nào chúng ta cũng tìm thấy những loại "tin lành" khác nhau. Thật vậy, chúng ta tự hỏi, làm sao tôi có thể thật sự biết rằng tôi đang đi theo một Tin Lành thật?

    Một định nghĩa đôi khi được đưa ra để mô tả Tin Lành thật trong I Giăng 4:2. Chúng ta đọc thấy, nếu chúng ta xưng rằng Đấng Christ đã đến trong xác thịt thì chúng ta bởi Đức Chúa Trời. Nhưng khi chúng ta đọc trong Luca 4:34, những ma quỉ cũng nhận rằng Chúa Giê-xu Christ đã đến trong xác thịt và chúng vẫn ở dưới cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Vì vậy định nghĩa cá biệt đó đứng một mình có thể không thỏa đáng trong mọi trường hợp. Chúng ta cần phải biết nhiều hơn về những định nghĩa và nội dung của Tin Lành. Vì thế, chúng ta cần phải tìm ra thẩm quyền thiêng liêng thiết lập và xác định đặc tính và bản chất của Tin Lành thật.

    Kinh Thánh chỉ rõ ra rằng chỉ có Kinh Thánh và toàn bộ Kinh Thánh là thẩm quyền thiết lập Tin Lành của Chúa Giê-xu Christ. Khải Huyền 22:18-19 nói rõ: Tôi ngỏ cho kẻ nào nghe lời tiên tri trong sách nầy: nếu ai thêm vào sách tiên tri nầy điều gì, thì Đức Chúa Trời sẽ thêm cho người ấy tai nạn đã ghi chép trong sách nầy. Và kẻ nào bớt điều gì trong những lời ở sách tiên tri nầy, thì Đức Chúa Trời sẽ cất lấy phần họ về cây sự sống và thành thánh, mà đã chép ra trong sách nầy.

    Bởi lời tuyên bố trên Đức Chúa Trời đã thiết lập những qui luật của Tin Lành thật. Nó được giới hạn chỉ trong một mình Kinh Thánh mà thôi.

    Vì vậy, Kinh Thánh là thẩm quyền thiêng liêng thật. Đó là thẩm quyền duy nhất và trọn vẹn hình thành nên Tin Lành của Chúa Giê-xu Christ chúng ta. Vì là thẩm quyền thiêng liêng, vì đến từ Đức Chúa Trời nên Kinh Thánh có uy quyền tuyệt đối trên đời sống chúng ta. Chúng ta phải đọc một cách khao khát; chúng ta phải học Kinh Thánh một cách sốt sắng với tinh thần sẵn sàng vâng phục. Và nếu chúng ta khám phá ra trong đời sống mình có bất cứ loại thói quen nào, hoặc bất cứ loại giáo lý nào đi ngược lại với Lời của Đức Chúa Trời, là con cái của Đức Chúa Trời, trong chúng ta sẽ có ao ước mạnh mẽ để thay đổi thói quen hoặc giáo lý đó, để rồi chúng ta sẽ nên trung tín với Lời của Đức Chúa Trời hơn.

    Nếu chúng ta đi theo một thẩm quyền hẹp hơn hoặc rộng hơn sự duy nhất và toàn bộ của Kinh Thánh thì chúng ta không đi theo Tin Lành của Kinh Thánh. Không cần biết sự thánh khiết của nó biểu lộ ra như thế nào, một "tin lành" như vậy sẽ không dẫn đến sự cứu rỗi.

    Bây giờ chúng ta biết rằng Kinh Thánh là thẩm quyền thiết lập Tin Lành thật, nhưng chúng ta tự hỏi trọng tâm sứ điệp của Tin Lành thật là gì? Chúng ta có thể nói rằng Tin Lành là bức thư yêu thương của Đức Chúa Trời gửi cho loài người mà nhờ nó chúng ta mới có thể trở nên công bình, biết được tình yêu của Đức Chúa Trời, bước vào một đời sống sung mãn, hoặc học tập sống cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể suy nghĩ đến nhiều câu Kinh Thánh mô tả và thậm chí kết tinh nên tính chất căn bản của Tin Lành.

    Thật vậy, dù sao đi nữa, tôi nghĩ rằng chúng ta có thể tìm thấy sự tóm lược trong Giăng 3:16 là ý nghĩa cốt yếu của Tin Lành. Câu Kinh Thánh nầy dẹp bỏ tất cả những điều khác để đi ngay đến sứ điệp cốt yếu. Chúng ta đọc: "Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hể ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời."

    Thường thường những nhà thần học chú trọng đến phần đầu của câu: "Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian . . ." Đó là một câu tuyệt vời giới thiệu với chúng ta một lẽ thật lạ lùng mà Đức Chúa Trời với tình yêu cao cả đã cung cấp sự cứu rỗi cho tất cả ai tin nhận nơi Đức Chúa Giê-xu Christ. Nhưng tình yêu của Đức Chúa Trời và sự cứu rỗi mà Ngài ban cho một cách rộng rãi sẽ không được hiểu đầy đủ trừ khi chúng ta cũng hiểu được ý nghĩa của chữ "hư mất" tìm thấy sau đó ở trong câu nầy. Ít khi chúng ta nghe được một bài giảng dựa trên câu, ". . . không bị hư mất . . . ." thế nhưng câu ấy cũng là một phần cần thiết của Tin Lành.

    Khi chúng ta tra cứu Thánh Kinh, chúng ta tìm thấy chữ "hư mất," như được dùng trong Giăng 3:16, không có nghĩa là "sự hủy diệt." Trong tiếng Anh khi chúng ta nói "Tôi bị hư mất," chúng ta nghĩ đến sự chết, hoặc chấm dứt không còn tồn tại. Nhưng trong Kinh Thánh chữ "hư mất" có một định nghĩa khác. Kinh Thánh nói với chúng ta rằng tiền công của tội lỗi là sự chết (Rô-ma 6:23). Và sự sống như đang chết theo quan niệm của Đức Chúa Trời là tồn tại suốt cõi đời đời trong địa ngục. Đó là thảm trạng của loài người phản loạn. Đó là ý nghĩa của sự hư mất.

    Nan đề khủng khiếp nhất của loài người đó là tất cả chúng ta đều là tội nhân. Xin nhớ Rô-ma 3:10-11: "Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không. Chẳng có một người nào hiểu biết, chẳng có một người nào tìm kiếm Đức Chúa Trời." Tấm lòng của con người bẩm sinh là gian ác một cách liều lĩnh, như chúng ta đọc trong Giê-rê-mi 17:9.

    Vì chúng ta phạm tội - dầu vỏn vẹn chỉ có một tội - chúng ta sẽ bị hư mất. Bởi vì chúng ta được dựng nên theo ảnh tượng của Chúa, Đức Chúa Trời xem mỗi một con người chúng ta chịu trách nhiệm hoàn toàn trước mặt Đức Chúa Trời về những hành động trong đời sống chúng ta. Đức Chúa Trời đã chỉ định ngày tận thế khi đó chúng ta sẽ bị xét đoán. Kinh Thánh nói trong sách Hê-bơ-rơ 9:17, "... theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét ...." Ngoài Tin Lành, tất cả chúng ta là những tội nhân, tất cả chúng ta đều trên đường đi vào địa ngục.

    Sự thật khủng khiếp nầy không thể nhìn thấy được bằng đôi mắt thường của chúng ta bởi vì chúng ta không thể nhìn được vào tương lai. Những gì chúng ta nhìn thấy được bằng đôi mắt xác thịt không phải là toàn bộ câu chuyện. Thực tế, những điều đó lại rất nông cạn và thứ yếu trong toàn bộ câu chuyện. Thí dụ, có thể chúng ta có một người bạn vừa qua đời. Chúng ta thấy ông ta được những người bạn khác quan tâm khi ông còn sống. Khi ông ta chết, ông được tán dương như là một người vĩ đại nhất trong đám tang, và rồi tất cả chúng ta mỗi người đều đi lo việc riêng mình và quên ông ta đi. Nhưng nếu ông ấy qua đời ngoài Tin Lành, nghĩa là chưa được cứu, điều kế tiếp mà ông nhận thức được là ông đang đứng trước Ngôi phán xét của Đức Chúa Trời, nơi đó ông ta phải trả lời về mỗi tội lỗi mà mình đã phạm; và tội lỗi thì nhiều vô số kể. Bất cứ tội lỗi nào trong những tội lỗi nầy đều có thể kết án ông ta đi vào cõi hình phạt đời đời. Đối với ông ta không còn lối thoát, không có ân xá, không có giảm án, không có lối thoát nào.

    Trên thế giới mỗi ngày có khoảng 200.000 người chết. Chúng ta ý thức rằng hầu hết trong số 200.000 người chết nầy không được cứu và điều kế tiếp mà họ sẽ nhận biết là họ đang đứng trước Ngôi phán xét của Đức Chúa Trời, là đối tượng cho sự hình phạt đời đời. Bấy giờ chúng ta mới nhận thức được sự khủng khiếp vì mức độ ghê gớm của nó.

    Thỉnh thoảng chúng ta nghe về một trận động đất mà trong đó có 50.000 người chết. Chúng ta nghe về những cuộc chiến có 700.000 hoặc 800.000 người bị giết. Chúng ta nghe về những việc vô nhân đạo giữa con người với con người. Chúng ta nghe về những cơn đói kém giết hại hàng ngàn người. Nhưng những điều đó không có nghĩa lý gì so với thảm kịch khủng khiếp nhất mà loài người đang đối diện mỗi ngày.

    Sự kinh khủng của cách đối xử dã man giữa con người với con người, của sự đói kém, của chiến tranh, hoặc của bất cứ cuộc khủng hoảng nào, cũng chỉ xảy đến cho sự chết về thể xác mà thôi. Nhưng sự chết về thể xác thì chính nó không phải là điều khủng khiếp. Điều khủng khiếp là sau khi chết là sự phán xét. Công lý hoàn hảo của Đức Chúa Trời đòi hỏi hình phạt đời đời là sự đền trả cho tội lỗi.

    Đáng buồn thay chúng ta thường không được nghe giảng về phần nầy của Tin Lành. Phần đó đặt nặng về sự quở trách, sự buồn bã và rất nghiêm túc. Phần đó thật khủng khiếp cho đến nỗi chúng ta muốn quên đi. Chúng ta thích nói về tình yêu của Đức Chúa Trời hơn. Chúng ta thích nói về đời sống đạo đức hơn. Chúng ta ưa thích nói về đủ loại vấn đề hơn là sự dạy dỗ rất quan trọng nầy của Tin Lành.

    Tuyệt diệu thay, sự thật rằng địa ngục đang chờ đợi con người không phải là toàn bộ câu chuyện. Nếu Đức Chúa Trời viết ra Kinh Thánh chỉ để nói cho chúng ta biết rằng chúng ta đang đi vào địa ngục, thì chúng ta cũng vẫn có thể ngợi khen Đức Chúa Trời vì ít nhất Ngài đã cảnh cáo chúng ta. Nhưng hiểu biết đó không làm được gì tốt hơn cho chúng ta, bởi vì tất cả chúng ta là tội nhân. Vì cớ những tội lỗi của chúng ta, cuối cùng của chúng ta vẫn là đi vào hỏa ngục. Nhưng dệt vào tấm lụa Tin Lành của Chúa Giê-xu Christ, giống như sợi chỉ vàng chạy xuyên suốt toàn bộ Kinh Thánh, là sứ điệp của hi vọng. Đó là sứ điệp mà chúng ta có thể biết được tình yêu của Đức Chúa Trời bởi tin cậy vào Chúa Giê-xu Christ như là Cứu Chúa của chúng ta. Đó là một phương diện khác của Tin Lành, phần trung tâm của Tin Lành trình bày: "Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hể ai tin Con ấy, không bị hư mất, mà được sự sống đời đời."

    Tại sao nếu chúng ta tin nhận Ngài thì chúng ta sẽ không đi vào địa ngục? Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Đấng Christ đã trở nên tội lỗi vì cớ chúng ta! Chúng ta đọc trong II Cô-rinh-tô 5:21 "Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời." Hoặc, như Ê-sai 53:6 chép, "Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người" (nghĩa là hết thảy những ai giao trọn đời sống mình trong Ngài).

    Đó là sứ điệp chính của Tin Lành. Không có sứ điệp nào khác có thể so sánh được với điều nầy. Bắt đầu với sự thật khủng khiếp rằng con người đầy tội lỗi và đang tiến dần vào địa ngục, nhưng thêm vào đó là một tin tuyệt vời rằng tất cả chúng ta là những người kêu xin sự thương xót từ nơi Chúa Giê-xu Christ và phó thác trọn đời sống mình nơi Ngài có thể thoát được địa ngục bởi Ngài đã trở nên tội lỗi cho chúng ta. Ngài gánh lấy tội của chúng ta như là người thay thế, Ngài đứng trước Ngôi phán xét của Đức Chúa Trời khi Ngài đứng trước mặt Bôn-xơ Phi-lát. Ngài đã bị kết án có tội vì cớ tội lỗi của chúng ta, Đức Chúa Trời đã giáng sự đoán phạt của Ngài trên Chúa Giê-xu đến mức độ tương đương với sự hình phạt trong hỏa ngục đời đời của mỗi chúng ta là những người tin nhận Ngài. Bằng cách nầy Ngài đã đền trả cho tất cả mọi tội lỗi của chúng ta. Ngài đã làm thỏa mãn sự công bình trọn vẹn của Đức Chúa Trời đó là đòi hỏi sự khổ hình đời đời nơi địa ngục như là hình phạt cho tội lỗi. Kể từ khi tội lỗi của chúng ta được đền trả, địa ngục không còn hăm dọa chúng ta nữa. Chúng ta không còn ở dưới luật pháp lên án rằng chúng ta phải đi vào địa ngục. Bây giờ chúng ta ở đưới ân điển. Bởi ân điển của Đức Chúa Trời chúng ta trở thành con cái của Đức Chúa Trời. Chúng ta đã rời bỏ địa phận của ma quỉ (chúng ta thuộc về nước đó trước khi chúng ta được cứu), chúng ta trở thành công dân của Vương Quốc của Chúa Giê-xu Christ.

    Tuy nhiên, thực tế thật bi thảm, giáo hội ngày hôm nay đã thiếu cảnh giác về sứ điệp nầy đến một mức độ báo động. Điều nầy thật sự xảy ra phần nào trong suốt lịch sử hội thánh, nhưng nó đặc biệt xảy ra ngày nay. Hiển nhiên, vẫn có những trường hợp ngoại lệ. Ngợi khen Đức Chúa Trời cho những trường hợp ngoại lệ! Giáo hội đã đánh mất tính nhạy cảm với bản chất chính của Tin Lành ở một mức độ cao. Rất nhiều người giảng không còn nói đến địa ngục nữa. Trong thực tế, có lần tôi nghe một nhà thần học từ một trường thần đạo có uy tín nói rằng địa ngục "giống như ở trong một chiếc máy bay chỉ bay vòng vòng." Nói một cách khác ông ta chế nhạo địa ngục. Tốt hơn ông ta nên đọc lại Phục Truyền Luật Lệ Ký đoạn 28. Ông ta nên đọc lại Khải Huyền đoạn 14, trong đó nói rằng "Khói của sự đau đớn chúng nó bay lên đời đời" (câu 11). Tốt hơn ông ta nên đọc lại Ma-thi-ơ đoạn 13, Mác đoạn 9, và Ma-thi-ơ đoạn 25, trong đó Chúa Giê-xu nói đến những điều giống như, "là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng" (Ma-thi-ơ 13:42); "nơi sâu bọ của chúng nó chẳng hề chết" (Mác 9:44); và chỗ Ngài nói về sự đoán phạt đời đời (Ma-thi-ơ 25:46). Lý do duy nhất chúng ta không thường xuyên đọc những khúc Kinh Thánh đó vì nó quá đáng sợ. Nhưng thà chúng ta bị hoảng sợ nếu chúng ta chưa được cứu, bởi vì địa ngục là có thật.

    Nhưng bạn biết không, nếu ai đó không muốn đối diện với sứ điệp trọng tâm của Kinh Thánh vì họ không muốn nói về địa ngục thì họ sẽ làm gì với Tin Lành? Đáng buồn thay, chúng ta nhận thấy rằng những nhà thần học bắt đầu thay đổi sứ điệp của Tin Lành để thỏa mãn ham muốn của chính họ. Họ bắt đầu làm ra Tin Lành thuộc về chính trị. Thí dụ, họ nói, "Cơ Đốc Giáo phải được tự do khỏi áp bức về chính trị." Hoặc, họ bắt đầu dạy một "tin lành" kinh tế nói rằng Cơ Đốc Giáo phải có đủ thực phẩm để ăn và có một nền kinh tế bảo đảm. Hoặc họ làm cho nó trở thành một "tin lành" tập trung vào sức khỏe về thể xác bằng cách nói rằng mục tiêu của "tin lành" là sức khỏe tốt và có đời sống sung sướng hạnh phúc trên trái đất nầy.

    Ba điều khát vọng mà mọi con người đều tìm kiếm là sự tự do về chính trị, bảo đảm về kinh tế, và sức khỏe tốt. Cả loài người đều tìm kiếm những điều nầy bằng cách nầy hoặc cách khác. Chúng ta không cần phải gọi mình là Cơ Đốc Nhân để có những loại mục tiêu nầy. Trong thực tế những khát vọng nầy đều không có mối liên hệ trực tiếp đến Tin Lành của Chúa Giê-xu Christ, nghĩa là Tin Lành về vấn đề tâm linh thật. Chúng ta hãy xem tại sao lại như vậy.

    Trong Lu-ca đoạn 16, Đức Chúa Trời cho chúng ta thí dụ về người giàu và La-xa-rơ. Có lẽ chúng ta đều quen thuộc với thí dụ đó. Kinh Thánh tiết lộ rằng người giàu có tất cả những gì tiền bạc có thể mua được. Chắc chắn chúng ta có thể giả định như vậy, bởi vì tất cả điều gì ông ta có đến từ tiền bạc, ông ta phải có nhiều tự do về chính trị. Cũng vậy, theo lệnh của ông ta, ông ta có thể có những bác sĩ hay nhất và những người chăm sóc giỏi nhất để ông ta có thể hưởng thụ tối đa sức khỏe tốt. Không nghi ngờ gì cả, ông ta có một nền kinh tế vững chắc và mọi thứ theo nó. Nếu bất cứ ai có vẻ không cần đến sứ điệp của Tin Lành, đó là người giàu nầy. Ông ta có vẻ có mọi sự cho ông ta.

    Mặt khác, Đức Chúa Trời nói về La-xa-rơ. La-xa-rơ không có gì cả; ông ta là một người ăn xin. Kinh tế ông ta không bảo đảm. Ông ta không có tiền để đi bác sĩ khám bệnh, mặc dầu ông ta rất cần được chữa bệnh. Có lẽ ông ta ngủ ngoài đường phố và không có đủ đồ ăn hoặc ăn những thức ăn không ra chi. Làm gì thì làm, thân thể ông ta cũng đầy ghẻ lở. Ông ta có một sức khỏe rất là thấp kém. Chắc chắn, một người ăn xin có thể bị đá bởi những người đi qua lại. Ông ta không có một an ninh gì về chính trị. Ông ta được xem như thuộc tầng lớp hạ lưu. Ông ta không là gì cả. Nếu bất cứ ai cần có một "tin lành" thuộc về trần thế nầy, đó là La-xa-rơ. Khi câu chuyện tiếp tục, chúng ta biết rằng cả hai La-xa-rơ và người giàu đều chết.

    Một cách thình lình Đức Chúa Trời cất bỏ bức màn để cho thấy bức tranh thật của hai người nầy khi họ sống suốt trong cõi đời đời. Chúng ta tìm thấy điều gì? Chúng ta nhận thấy rằng La-xa-rơ, người mà không có được những nhu cầu thiết yếu nhất của con người, đang nghỉ ngơi đời đời trong lòng của Áp-ra-ham. Điều nầy ngụ ý nói rằng ông ta đang ở một chổ cao tốt nhất, một ơn phước tốt nhất. Đó là hình ảnh được cứu và được ở đời đời trong Vương Quốc của Chúa Giê-xu Christ.

    Mặt khác, ở đâu chúng ta có thể tìm thấy người giàu có nầy, người mà có đủ mọi thứ loài người mong muốn ở trên trái đất? Trong thí dụ nầy, chúng ta thấy ông ta trong địa ngục, khóc lóc một cách đắng cay với Ông tổ Áp-ra-ham để "sai La-xa-rơ, nhúng đầu ngón tay vào nước, đặng làm cho mát lưỡi tôi; vì tôi bị khổ trong lửa nầy quá đổi" (câu 24). Đó là bức tranh của tính chất khủng khiếp một cách tuyệt đối của địa ngục, và người giàu sẽ ở đó đời đời.

    Ai trong hai người nầy thật sự cần Tin Lành? Ai trong những người nầy thật sự thiếu thốn?

    Nếu bạn đến với La-xa-rơ bằng một "tin lành" thuộc về chính trị hoặc "tin lành" xã hội, cố gắng cho ông ta thuốc men hoặc cung hiến cho ông ta một kinh tế bảo đảm, điều đó có thể thay đổi địa vị của ông ta trên Thiên đàng không? Câu trả lời là không. Trong một mức độ nào đó ông ta không cần, Tin Lành thật và đời đời mới quan hệ. Dĩ nhiên, như là một con người, ông ta có thể chịu đựng với một chút thức ăn. Như là một người, ông ta có thể sống với một chút lòng thương hại. Nhưng trong mức độ nào đó, sự liên quan với Đức Chúa Trời mới quan hệ - đó là nhu cầu thật của con người - ông ta không cần gì khác hơn.

    Đồng hóa sứ điệp Tin Lành với tham vọng thuộc về chính trị, kinh tế, và văn hóa đã làm cho "Tin Lành Cơ-đốc-giáo" đáng bị đả kích, đặc biệt đối với nhiều nhà lãnh đạo của nhiều quốc gia. Khi chúng ta mang ra một sứ điệp, tỉa sửa theo sự ham muốn của con người, nó không còn dính líu gì với Tin Lành của Chúa Giê-xu Christ, chúng ta bước vào những khu vực hoạt động mà trở thành mối đe dọa với những người lãnh đạo chính trị. Rất đáng tiếc khi tôi phải nói rằng trong quá khứ (và vẫn còn xảy ra ngày hôm nay), những nhà truyền giáo đi đến Trung Quốc và nhiều quốc gia khác truyền bá "tin lành" mang nặng mùi vị văn hóa Tây Phương của họ. Vì vậy sứ điệp "tin lành" họ mang ra trở thành liên kết với sự giàu có về vật chất hoặc những loại tự do chính trị nào đó. Nhưng đó không phải là Tin Lành của Kinh Thánh. Đáng buồn thay những nhà truyền giáo nầy cùng nhau đưa ra những sự kiện sai. Họ bắt đầu xen vào những vấn đề của những quốc gia mà họ được sai đến, những nhiệm vụ xã hội mà họ không có trách nhiệm và không có liên quan gì đến sứ điệp thật của Tin Lành.

    Thực tế Tin Lành không liên quan gì đến loại lãnh đạo mà quốc gia đó có. Nó không có liên quan gì dưới hệ thống chính trị của đời sống một dân tộc. Dù nó tuyên bố rằng Đức Chúa Trời đưa người lãnh đạo nầy lên, hạ người kia xuống. Nó tuyên bố rằng công dân của bất cứ quốc gia nào cũng được đòi hỏi phải vâng phục những nhà cầm quyền trên họ. Nhưng nó không bảo rằng phải vâng lời chính phủ loại nầy hơn là chính phủ loại kia.

    Kinh Thánh thì không quan tâm về hoàn cảnh kinh tế của những người nghe về Tin Lành. Trong thời gian Chúa Giê-xu thi hành chức vụ, và khi các sứ đồ được sai đi, sự đối xử vô nhân đạo của con người đối với con người lúc đó có không? Thật sự là có. Có nhiều người nô lệ bị đánh đập cách thảm thương và ngược đãi. Có kinh tế bấp bênh không? Thật sự có chớ. Ngày đó không có những tàu cứu trợ. Chắc chắn là có người chết vì đói. Có ai cần được chữa lành một cách khẩn cấp mà không được chữa chăng? Thật sự là có.

    Một số người hiểu lầm công tác của Chúa Giê-xu khi Ngài chữa lành người bệnh. Đấng Christ đã không đến với một "tin lành" mà hứa hẹn sức khỏe tốt. Ngài đơn giản làm những phép lạ chữa lành như những bằng chứng rằng Ngài là Đức Chúa Trời để cho chúng ta những thí dụ lịch sử qua đó chúng ta có thể thấy được đặc tính thuộc linh của Tin Lành. Đó là những câu chuyện thuộc về đất mang ý nghĩa thuộc về trời. Sau khi Đấng Christ lên thập tự giá và các sứ đồ qua đời, chúng ta không tìm thấy gì thêm trong Kinh Thánh có liên quan đến sự chữa lành thể xác. Tin Lành thì liên quan đến sự chữa lành thuộc linh: ". . . lại nhơn những lằn đòn của Ngài mà anh em được lành bịnh. Vì anh em vốn giống như con chiên lạc. . ." (I Phi-e-rơ 2:24-25). Tin Lành phải liên quan đến sự chữa lành bệnh tội lỗi của linh hồn chúng ta.

    Vì vậy sứ điệp của Tin Lành là loài người đang trên đường đi vào địa ngục, nhưng bất cứ ai tin cậy nơi Đấng Christ đều có thể nếm biết được tình yêu của Đức Chúa Trời.

    Khi chúng ta được cứu, chúng ta được dời từ địa phận của ma quỉ, nơi chứa đựng tất cả những người không được cứu trên thế gian, bất cứ họ ở đâu, bất luận họ thuộc về hệ thống chính trị nào. Chúng ta được chuyển vào Vương Quốc của Chúa Giê-xu Christ, đó là quốc gia thuộc về tâm linh được thành hình bởi những tín hữu đã được tái sanh, bất kể ý thức hệ chính trị, hoặc sự khác nhau của văn hóa hoặc điều gì khác. Sự cứu rỗi không có dính líu gì đến những quốc gia thuộc về chính trị.

    Nhiều nhà thần học bẻ gãy những sự thật của Kinh Thánh liên quan đến bản chất của Tin Lành khi họ cố gắng hiểu ý nghĩa của sự hiệp một của Cơ-đốc-giáo. Ê-phê-sô 4:4-5 dạy chúng ta rằng: "Chỉ có một thân thể, một Thánh Linh, như anh em bởi chức phận mình đã được gọi đến một sự trông cậy mà thôi; chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép báp têm . . ." Sự hiệp một nào mà Đức Chúa Trời muốn nói ở đây? Những nhà thần học có ý tốt nhưng bị hướng dẫn sai lầm trong khi cố gắng giải thích sự hiệp một nầy, họ cố gắng gán ghép những khái niệm xa lạ vào trong Tin Lành. Họ tin tưởng một cách thật tình rằng chúng ta là một trong đức tin và một trong phép báp têm khi chúng ta có cùng một sự tự do về chính trị, hoặc kinh tế giàu có bằng nhau.

    Nhưng Tin Lành thật không có liên quan gì đến hoạt động chính trị. Nó không có dính líu gì đến những tham muốn về kinh tế hoặc những ham muốn về sức khỏe tốt. Nó nhìn xa hơn những điều nầy. Khi chúng ta có Tin Lành thật, dầu chúng ta sống ở Liên Xô, Trung Quốc, Đức Quốc, Nam Mỹ, Hoa Kỳ, hoặc bất cứ quốc gia nào khác, chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép báp têm. Đó sự hiệp một về thuộc linh. Đó là đức tin trong đó chúng ta hiểu rằng tội lỗi chúng ta được rửa sạch. Về thuộc linh, chúng ta được hòa thuận với Đức Chúa Trời. Về thuộc linh, chúng ta biết rằng chúng ta không bị kết án đi vào địa ngục mà chúng ta có sự sống đời đời. Về thuộc linh, chúng ta trở nên cùng một thân mặc dù chúng ta không có sự liên hệ với nhau về chính trị, kinh tế, hay là văn hóa.

    Chúng ta không nên rơi vào cái bẩy mà nhiều người đã rơi vào. Họ đọc trong Cựu Ước về tất cả những vàng và bạc của Sa-lô-môn, họ đọc về những sự giàu có của Áp-ra-ham, cũng như sự thịnh vượng về vật chất của nhiều người khác. Rồi họ kết luận, "Bạn thấy không, đó là những gì xảy ra khi chúng ta được cứu. Tin chắc rằng chúng ta sẽ có vật chất tương tợ như vậy khi chúng ta được cứu." Nhưng họ sai lầm trong sự nhận thức về sự sắp đặt kiểu mẫu và mô hình trong Kinh Thánh của Đức Chúa Trời. Dân tộc Do Thái trong thời Cựu Ước là một phần trong câu chuyện trần gian, một bức tranh thuộc về lịch sử chỉ về ý nghĩa thuộc linh của Hội Thánh thời Tân Ước, đó là làm con cái của Đức Chúa Trời nghĩa là thế nào. Sự thịnh vượng về vật chất của dân tộc Do Thái thời kỳ Cựu Ước là câu chuyện trên đất mà nó chỉ đến ý nghĩa thuộc về trời và trong đó những người tín hữu trong Đấng Christ trở nên thịnh vượng về phần tâm linh, linh hồn họ được nuôi dưỡng một cách phong phú bằng Bánh Hằng Sống là chính Chúa Giê-xu. Những thùng rượu được đổ đầy tràn trong thời Cựu Ước là một vở kịch trần gian chỉ về dòng huyết đầy tràn của Đấng Christ, đền trả hoàn toàn cho tất cả tội lỗi của chúng ta. Bất cứ sự tự do thuộc về lịch sử nào của dân tộc Do Thái thời xưa cũng đều là biểu tượng cho sự thật rằng trong Đấng Christ chúng ta được tự do khỏi ách nô lệ của tội lỗi và ma quỉ.

    Dầu sao đi nữa, vấn đề là trí óc tội lỗi tồi tệ của chúng ta ưa tìm đến những sự việc trước thuộc về lịch sử (mà đối với Đức Chúa Trời chỉ là hình ảnh và kiểu mẫu mà thôi) và làm cho chúng trở nên bản chất của Tin Lành. Điều đó phục vụ cho bản chất xác thịt tự nhiên của chúng ta. Điều đó cung cấp những gì mà tất cả mọi người đều muốn: tự do chính trị, tự do kinh tế, và sức khỏe tốt.

    Nhưng đó không phải là Tin Lành! Nếu chúng ta cố gắng làm cho Tin Lành khớp vào hình ảnh đặc trưng thuộc về vật chất của Cựu Ước, chúng ta cũng phải dâng những của tế lễ mà những tín hữu trong thời Cựu Ước đã dâng. Nói một cách khác, chúng ta trực tiếp phủ nhận rằng Đấng Christ đã đến! Trong Tân Ước chúng ta không tìm thấy bất cứ sự tham khảo nào giảng dạy về tự do chính trị, kinh tế bảo đảm, hoặc sức khỏe tốt. Toàn bộ bản chất của Tin Lành là tự do về tâm linh trong Đấng Christ. Tự do khỏi điều gì? Đó là tự do khỏi cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời! Nó không có dính líu gì đến chính trị của thế giới nầy! Nói một cách đơn giản, chúng ta được dời ra khỏi địa phận của ma quỉ. Luật pháp không còn đưa chúng ta vào địa ngục nữa. Chúng ta được tự do trong Đấng Christ. Chúng ta có sự sống đời đời. Đó là tính chất của Tin Lành. Đó là sứ điệp duy nhất mà chúng ta rao giảng.

    Bây giờ chúng ta đến điểm thứ ba cần được xem xét. Chúng ta đã xem đến thẩm quyền thành lập và xác định Tin Lành, chúng ta đã xem đến sứ điệp của Tin Lành. Bây giờ chúng ta xem xét mệnh lệnh của Tin Lành.

    Một cách rõ ràng, Đức Chúa Trời đã ra mạng lệnh bảo chúng ta phải mang sứ điệp Tin Lành đến cho cả thế giới: "Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người" (Mác 16:15). Chúa Giê-xu ban ra lệnh nầy; đó không phải là một sự lựa chọn. Đó không phải là việc chúng ta sẽ làm nếu thuận tiện, hoặc nếu chúng ta thích. Mệnh lệnh cấp bách của Kinh Thánh đó là chúng ta phải đi khắp thế giới để giảng Tin Lành. Chúng ta là đại sứ của Đấng Christ đối với thế giới đang mang bệnh tội lỗi nầy - Đấng Christ đang mời gọi mọi người qua chúng ta.

    Hãy nhớ, Chúa Giê-xu nói rằng Ngài đến để tìm và cứu kẻ bị mất (Lu-ca 19:10). Ngài có dân ở Trung Quốc mà Ngài đã đến tìm để cứu. Ngài có dân ở Mỹ Quốc mà Ngài đã đến tìm để cứu. Ngài có dân ở Đức Quốc, ở Liên Xô, và ở trong mỗi quốc gia trên thế giới. Chúng ta không biết họ là ai, nhưng chúng ta biết qua Kinh Thánh rằng họ là những người đã được biên tên vào sách sự sống của Chiên Con từ trước khi sáng thế. Vì vậy chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời tự buộc trách nhiệm cho Ngài phải cứu những người nầy.

    Những đại sứ thật của Đấng Christ là những tín hữu đã thật sự được sanh lại. Họ là những người duy nhất hiểu được bản chất thật của Tin Lành. Họ đã đối diện với sự thật về địa ngục, bởi vì họ học cách đặt để niềm tin vào Kinh Thánh một cách âm thầm. Họ là những người được ban cho công tác diệu kỳ (đó là một mệnh lệnh mà cũng là một đặc ân tuyệt vời) là đem Tin Lành đến cho thế giới. Chúng ta không được viện cớ. Chúng ta phải làm việc nầy bằng bất cứ hoàn cảnh nào mà Chúa cho phép chúng ta.

    Nhưng chúng ta phải chắc chắn rằng chúng ta đang rao truyền Tin Lành của Kinh Thánh, không phải "tin lành" của Châu Âu hoặc "tin lành" của Hoa Kỳ, hay là "tin lành" của Mễ-tây-cơ hoặc bất cứ "tin lành" sai lạc nào khác. Khi chúng ta tập trung vào những điều cốt yếu căn bản, Tin Lành thật chắc chắn là bình thường cho mọi quốc gia. Nó luôn giống nhau trên mọi quốc gia mà chúng ta đang sống. Tất cả chúng ta đều có cùng một liều thuốc tâm linh chính xác giống như nhau cho nhu cầu tâm linh giống nhau. Chúng ta cần được giải thoát khỏi tội lỗi qua huyết của Đấng Christ. Sau khi chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi, biết rằng Đấng Christ gánh chịu địa ngục cho chúng ta, rồi sau đó ngay cả nếu chúng ta sống phần còn lại của đời mình ở trong trại tập trung, chết mòn bởi những sự đánh đập và đói khát, chúng ta vẫn có tất cả. Dù chúng ta có tồn tại chỉ giống như La-xa-rơ là một người ăn xin chỉ có chó đến liếm ghẻ, dù chúng ta được sống trong cung điện với tất cả những phúc lành của thế gian nầy hay không, điều đó không khác biệt chi cả. Nếu chúng ta được cứu, chúng ta biết rằng chúng ta có được điều tốt đẹp cao quí nhất mà chúng ta chưa từng có.

    Kinh Thánh cũng nói rằng chúng ta phải yêu thương người lân cận như chính mình (Lu-ca 10:27). Nhưng yêu người lân cận như chính mình có nghĩa gì? Trong Giăng 13:34 Chúa Giê-xu nói, "Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy." Điều đó thiết lập bản chất của tình yêu khi chúng ta yêu nhau. Chúng ta phải yêu những người xung quanh như Đấng Christ đã yêu chúng ta.

    Tính chất tình yêu của Đấng Christ cho bạn và tôi là gì? Có phải Ngài đã mang đến cho chúng ta sự bảo đảm về kinh tế, sự tự do chính trị, hay là sức khỏe tốt không? Ngài có làm những điều đó cho La-xa-rơ không (Lu-ca 16)? Câu trả lời là không. Chắc chắn là không. Trong tình yêu của Ngài cho chúng ta, Ngài phó mạng sống của Ngài. Ngài chịu đựng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời, điều đó tương đương với sự trãi qua muôn kiếp trong địa ngục, hầu cho chúng ta có sự sống đời đời và chính chúng ta khỏi phải đi vào địa ngục.

    Chúa Giê-xu khuyên giục, " . . . các ngươi hãy yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi . . ." (Giăng 13:34). Nếu Đấng Christ mong muốn ban cho tôi sự sống đời đời mà Ngài phải lên thập tự giá và chịu đựng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời để tôi được cứu, nếu sự mong muốn đó là trung tâm điểm tình yêu của Ngài, thì sự mong muốn đó phải là trung tâm điểm tình yêu của tôi cho những người khác.

    Khi chúng ta nhìn ra thế giới, chúng ta sẽ thấy một điều, một nỗi ám ảnh khủng khiếp bám chặt tâm hồn chúng ta, đó là địa ngục đang vồ lấy đời sống của những người chưa được cứu trên thế giới. Bởi vì hầu hết những người chết không được cứu, với tỷ lệ gần 200.000 người một ngày, địa ngục đang đạt đến trọn thời điểm của nó. Đó là lẽ thật mà chúng ta nên nhận biết. Đó là lẽ thật mà Đấng Christ đã thấy khi Ngài bước đến thập tự giá. Trong tình yêu của chúng ta cho những người xung quanh, chúng ta muốn cảnh cáo họ: "Bạn không thấy điều đó sao? Bởi vì tội lỗi của bạn, địa ngục đang đến và địa ngục thì có thật. Nhưng có một con đường để thoát khỏi, đó là qua Chúa Giê-xu Christ. Trong tình yêu của tôi cho bạn, tôi muốn điều tốt nhất cho bạn. Dĩ nhiên, tôi có thể tốn một ít tiền để giúp đỡ cho bạn trong nhiều cách. Nhưng nếu bạn qua đời mà không được cứu, cho dù là cuộc đời của bạn được kéo dài ra bởi vì bạn được cho uống thuốc kháng sinh hoặc bất cứ là cái gì đi nữa, thì nó có sự khác biệt gì? Bạn vẫn phải chết, và sau khi chết sẽ đến sự đoán xét. Bạn không thể thấy điều đó sao? Nếu bạn trở thành một tín hữu trong Đấng Christ, khi đó hoàn cảnh thể xác, hoàn cảnh chính trị, hoàn cảnh sức khỏe của bạn, tất cả cùng với nhau đều không quan trọng nữa. Bạn giống như La-xa-rơ. Bạn vẫn có điều tốt cao quí nhất. Bạn cũng có được sự cứu rỗi." Mong muốn điều nầy cho những người khác là tình yêu thật.

    Chú ý rằng Chúa Giê-xu nói, "Yêu người lân cận như chính mình." Nhưng tôi yêu tôi như thế nào? Điều tốt cao quí nhất mà tôi có thể mong muốn cho chính tôi là gì? Có phải tôi được thạnh vượng hơn về vật chất không? Có phải điều đó là tốt nhất cho tôi không? Tất cả không nghĩa lý gì. Trong thực tế, nó có thể cám dỗ tôi khỏi phục vụ Chúa cách mà tôi đáng phải làm. Còn việc nổi tiếng thì sao? Để có tên tuổi? Bất cứ điều gì mà thế giới khao khát? Câu trả lời là không. Không có một điều nào trong những điều đó là tốt và cao quí nhất. Điều tốt nhất cho tôi là những gì tôi mong muốn cho những người khác. Vậy điều đó là gì? Điều mà tôi cần biết chắc đó là tôi đã được cứu. Đó là tôi phải chắc rằng những tội lỗi của tôi đã được đền trả, vì vậy việc đi vào địa ngục không có thể xảy ra cho tôi khi tôi qua đời.

    Có ai đang sống trên mặt đất nầy nghĩ rằng họ có thể trốn thoát sự chết không? Thế giới nầy tồn tại khooảng 13 ngàn năm, chỉ có hai trường hợp ngoại lệ (Hê-nóc và Ê-li), mỗi con người từng bước trên mặt đất nầy đều chết - mọi người. Không ai thoát khỏi. Điều nầy chiếu theo qui luật của Thánh Kinh rằng: "theo như đã định cho loài người, phải chết một lần, rồi chịu phán xét" (Hê-bơ-rơ 9:27). Điều nầy có nghĩa rằng sẽ xảy đến cho tôi - dĩ nhiên, trừ khi Chúa đến trước. Vì vậy nếu tôi thật sự yêu thương chính tôi, tôi sẽ không khao khát những gì của thế giới nầy nữa. Tôi sẽ không khao khát có một chổ tốt hơn một chút trên thế giới nầy. Bởi vì trong mức độ mong muốn những điều đó, tôi đang xa khỏi con đường tốt nhất cho tôi. Mối quan tâm quan trọng đầu tiên của tôi là tôi phải khẳng định chắc chắn rằng tôi là con cái của Đức Chúa Trời, đó là tôi được cứu. Chỉ khi nào tôi nhận biết rằng tất cả những điều khác là không quan trọng. Thật ra thì không có sự khác nhau về việc tôi có bao nhiêu quần áo, tôi lái loại xe gì, ngay cả tôi có hay là không có một chiếc xe, hoặc là tôi đang sống trong hoàn cảnh nào. Tất cả những điều nầy thật sự không có một loại giá trị lâu dài nào cả.

    Như là một điều hiển nhiên, Đức Chúa Trời tuyên bố trong Rô-ma 12:1, "Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em." Trong Cựu Ước dân Do Thái được ra lệnh phải dâng một phần mười, nghĩa là dâng mười phần trăm trong tất cả lợi tức của họ. Đó là cách để cung cấp cho những thầy tế lễ. Nhưng trong Tân Ước Đức Chúa Trời muốn tất cả mọi thứ. Phần mười trong Cựu Ước chỉ là thí dụ cho chúng ta chỉ về thực tế Đức Chúa Trời muốn tất cả. Đức Chúa Trời nói một cách đơn giản rằng, "Ta muốn tất cả những gì của ngươi, tất cả những tài sản của ngươi, tất cả tiền bạc của ngươi, tất cả sức lực của ngươi, để công việc của ngươi là đại sứ của Đấng Christ có thể hoàn tất." Công việc đó là trình bày Tin Lành cứu rỗi quí báu cho thế giới đang tiến vào địa ngục.

    Chúng ta có thể bắt đầu thấy được lẽ thật rõ hơn không? Sợi chỉ vàng chạy xuyên suốt Kinh Thánh là sứ điệp của sự cứu rỗi. Bất cứ lúc nào chúng ta rời bỏ sợi chỉ đó hay là trọng tâm đó, chắc rằng chúng ta không còn có Tin Lành của Kinh Thánh nữa. Chúng ta sẽ có một "tin lành" mà được phác họa bởi sự suy nghĩ của con người, và rồi chúng ta sẽ rơi vào những phiền phức khi chúng ta cố gắng mang nó đến những quốc gia khác trên thế giới. Một "tin lành" mà nói về kinh tế hoặc chính trị một cách sai lầm thì sẽ bị chống đối, đặc biệt là bởi những nhà cầm quyền chính trị mà họ cảm thấy một cách hợp lý rằng sự cai trị của họ đang bị đe dọa bởi những "tin lành" chính trị hoặc xã hội nầy.

    Hiển nhiên, Tin Lành thật cũng bị chống đối. Đối với con người nó đáng bị đả kích. Con người không thích nghe nói là họ đang đi vào địa ngục. Không ai muốn nghe điều đó cả. Nó đáng bị đả kích đối với suy nghĩ của con người tự nhiên khi nghe rằng con người không làm gì được để có thể tự cứu lấy mình. Sự cản trở đó chỉ có thể được thay đổi trong lòng của những ai trở nên được cứu bởi sự kêu xin cùng Đức Chúa Trời: "Lạy Chúa, xin thương xót con, vì con là kẻ có tội!" Để làm được điều đó, con người cần phải có đức tin giống như con trẻ đặt vào Chúa Giê-xu Christ, là Đấng mà đã từng bước đi trên mặt đất nầy cách nay gần hai ngàn năm. Điều đó cũng có nghĩa là cái bản ngã của tôi phải bị phá vỡ đi. Nó làm tiêu tan thái độ tự cao của tôi. Nó làm tiêu tan mọi thứ của con người tôi.

    Nhưng đó là lý do duy nhất mà Tin Lành thật bị đả kích. Mong rằng "tin lành" mà chúng ta trình bày sẽ không bao giờ bị những nhà cầm quyền chính trị chống đối bởi vì chúng ta đang giảng dạy về văn hóa và chính trị của quốc gia thuộc về chính trị, "tin lành" như vậy không thể là Tin Lành của Kinh Thánh.

    Khi chúng ta trở thành con cái của Đức Chúa Trời, chúng ta đã đến để nhận biết điều cao quí nhất trong đời sống của chúng ta là được cứu khỏi từ cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời; địa ngục không còn bắt lấy chúng ta nữa. Chúng ta sẽ không bao giờ phải đứng trước Ngôi phán xét của Đức Chúa Trời và trả lời cho tội lỗi của chúng ta. Đấng Christ đã trả tất cả. Chúng ta được che chở bởi Ngài. Chúng ta đọc trong Giăng 5:24 rằng ai tin nơi Ngài sẽ không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống. Và trong tình yêu của chúng ta đối với những người khác, đó là điều tốt mà chúng ta nên ao ước một cách thật tình nhất của cho họ. Đó là sứ điệp mà Đức Chúa Trời ban lệnh cho chúng ta phải mang một cách trung tín đến cho cả thế giới.

    Khi chúng ta sống đời sống của tín hữu, trung tín vâng theo mạng lệnh đem Tin Lành ra khắp thế giới, Kinh Thánh đòi hỏi chúng ta phải bước đi một cách khiêm nhường. Tấm gương của chúng ta là Chúa Giê-xu Christ; chúng ta đọc về Ngài rằng, Ngài nhu mì và hạ mình. Vì vậy chúng ta phải sẵn sàng để khi bị mắng nhiếc chúng ta không mắng nhiếc lại, chúng ta sẵn sàng chấp nhận bất cứ điều gì chống lại chúng ta một cách nhẫn nại, và sẵn sàng nhường danh vọng lại cho bất cứ ai muốn. Hãy để cho ai đó có được tất cả danh dự thế gian. Con cái Chúa, những ai mà đã trở thành công dân của Vương Quốc Đấng Christ, là phải bước đi một cách khiêm nhường.

    Nhưng tại sao vậy? Tại sao chúng ta phải bước đi khiêm nhường? Trước hết vì Chúa đã truyền lệnh như vậy. Chúa Giê-xu đã đến không chỉ là tấm gương cho chúng ta, nhưng cũng là Vua của chúng ta, Ngài nhu mì và hạ mình. Ngài đã từ bỏ mọi vinh hiển trên thiên đàng, và đã mang vào thân xác của con người tội lỗi, con người phản loạn. Rồi Ngài mang hết tội lỗi của chúng ta. Không có ai tự hạ mình xuống giống như Chúa Giê-xu Christ, Ngài đã thiết lập Vương Quốc của Ngài bằng sự đi lên thập tự giá. Chúng ta là những người tin nhận Ngài, thì ở trong Vương Quốc của Ngài, Ngài là Vua cai trị chúng ta và ra lệnh cho chúng ta phải bước đi một cách khiêm nhường và thành thật. Chúng ta cũng sẵn sàng để bị sỉ nhục. Chúng ta phải sẵn sàng bước đi như là những người khiêm nhường nhất trên trái đất nầy.

    Bên cạnh đó, chúng ta bước đi rất khiêm nhường bởi vì chúng ta không có công gì trong sự cứu rỗi của chính chúng ta. Không có gì để chúng ta khoe khoang được. Chúng ta không thể nói, "Ô, bạn biết không, chuyện thật là như vầy, Đức Chúa Trời nhìn tôi và thấy rằng tôi tốt hơn người khác một chút, vì vậy Ngài quyết định cứu tôi." Không đời nào! Như trong Ê-phê-sô 2:1-3 chỉ rõ, chúng ta chết trong tội lỗi mình, chúng ta là những người đi theo ma quỉ và chạy theo những ham muốn của xác thịt giống như những người khác. Chỉ bởi lòng thương xót của Đức Chúa Trời, chỉ bởi ân điển của Ngài mà Ngài đã cứu chúng ta. Là Cơ đốc nhân chúng ta tự hỏi rằng, "Ô, làm sao có thể được, rằng tôi được làm con cái của Đức Chúa Trời, rằng tôi có sự sống đời đời, vì thế mà tôi không sợ ai cả? Không bận tâm đến những gì xảy ra cho tôi, tôi biết rằng khi tôi qua đời, tôi sẽ được vào thiên đàng, vào trong sự vinh hiển của Chúa Giê-xu Christ, và tôi được tất cả mọi sự. Tất cả những gì tôi muốn làm đó là sống một đời sống trong sự phục vụ Ngài. Tôi thật sự muốn hi sinh đời sống tôi, dâng nó lên trên bàn thờ tế lễ. Sự cảm động nôn nóng tôi muốn cho người khác có thể nghe về Tin Lành để họ cũng biết được sự cứu rỗi tuyệt vời mà Đức Chúa Trời ban cho một cách rộng rãi."

    Không phải chúng ta có một Cứu Chúa tuyệt vời hay sao? Khi chúng ta thật sự biết rõ được Tin Lành là gì, không phải chúng ta có một Tin Lành kỳ diệu sao? Chúng ta chỉ có thể đứng đó ngạc nhiên về vinh hiển của Đức Chúa Trời khi Ngài làm vinh hiển chính Ngài qua loại Tin Lành nầy. Vì vậy chúng ta phải chắc rằng chúng ta đặt để sứ điệp của Tin Lành nầy trước tiên trong suy nghĩ và trong lòng chúng ta. Nếu chúng ta tìm thấy rằng bất cứ lúc nào "tin lành" mà chúng ta rao giảng có những điều bắt đầu khác với Tin Lành thật, chúng ta hãy kêu xin với Đức Chúa Trời, "Chúa ôi, xin tha thứ cho con vì con có những thứ khác trong đầu khi con bày tỏ Tin Lành mà con đã cố gắng tỉa sửa theo những ham muốn xác thịt của con." Tin Lành thật là đây nầy: Tôi muốn sự cứu rỗi tuyệt vời nầy cho tất cả mọi người khác, bởi vì tôi biết rằng tôi đã được cứu, tôi không cần thêm gì nữa trên thế giới nầy cho riêng bản thân tôi.

    Harold Camping
    Tin Lành nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến. (Mathiơ 24:14)

    http://tinlanh.com
    Lannguyen

  19. #39
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    12,583
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Đức Chúa Trời Qua Thánh Kinh

    Tôi muốn post bài này để cho tất cả các tín đồ đạo Tôn Giáo đọc để đề phòng những kẻ VGCS nằm vùng mượn danh Phật Tử để làm ô uế Giáo Lý Nhà Phật! Xin ĐỪNG mắc bẫy vào sự đá kích lòng Hận Thù Chia Rẽ Tôn Giáo của VGCS... vì đạo lý nhà ai nấy giữ ...không liên quan tới những bài báo có tính cách mị dân để "khuấy động" lòng tin của người của khác! Sự Thật thì mích lòng! Bản thân cá nhân nào đọc ở đâu những bài báo nào có tính cách "mị dân" và "đầu độc" giới trẻ qua các văn chương "bài bác, mạ lỵ, và thóa mạ" đạo Tôn Giáo để lật đổ niềm tin của các đạo Tôn Giáo thì trách nhiệm của các quý vị đọc giả là phải "giải độc" ngay tức khắc! Lấy độc trị độc thì chúng ta mới "duy trì" và "giữ gìn nguồn gốc" của Dân Tộc Việt một cách nghiêm túc! Xin Cám Ơn nhiều!

    Trích từ Yahoo:

    Trần Chung Ngọc là ai? Tại sao ông hay chỉ trích KITÔ giáo?

    vào trang sachhiem.net, thấy những bài viết của ông đa phần là chỉ trích Chúa Giêsu và Kitô Giáo. Theo mình biết, ông là Phật tử đã quy y tam bảo.Vậy ông chỉ trích như vậy nhằm mục đích gì? Những gì ông trích dẫn trong bài viết có đúng sự thật không?

    Vào đây tham khảo:
    http://www.sachhiem.net/TCN/Ndir.php

    Le đã trả lời 5 năm trước
    Không phải đâu bạn ơi, một Phật Tử đã quy y tam bảo KHÔNG bao giờ chỉ trích tôn giáo khác, vì nếu như thế người đó KHÔNG còn xứng đáng là Phật Tử nữa vì đã KHÔNG nghe lời PHẬT. Hiện nay có một thế lực đen tối đang nhắm đến việc chia rẽ tôn giáo. Trong cộng đồng này có người dùng lời lẽ rất thô tục để ma lị người TCG nhưng đó không phải là Phật Tử đâu. Bạn đừng để cho mình lọt vào bẫy chia rẽ tôn giáo.


    Le anh K đã trả lời 5 năm trước


    Quan điểm giáo lý Phật và cá nhân mình luôn phản đối chyện Phật tử đi chỉ trích tôn giáo khác.

    Nhưng dù Ông Ngọc có là Phật tử đi nữa thì trước hết ông cũng là con người và là người gốc Việt

    Ông viết bài tất cả đều ký tên Trần Chung Ngọc chứ ko phải dùng Pháp Danh. Rõ ràng Ông KHÔNG đứng trên quan điểm của Phật tử mà viết. (hầu như Ông ta ko viết bài nào với mục đích (hay có ý) so sánh Phật giáo Kitô giáo)


    Chân dung cư sĩ Phật Giáo: cs.Minh Mẫn, cs.Trần Chung Ngọc - đều là thứ mất dạy như nhau!?

    PtsDesigner đã hỏi 2 năm trước

    Có lẽ ở tiêu đề tôi dùng từ "mất dạy" không hợp lắm với 2 vị cư sĩ này. Bởi một ông đã già đến ~80 tuổi (TCN), một ông kia cũng khoảng ngoài 50 tuổi, cái tuổi dạy dỗ con-cháu-chắt. Nhưng ở tuổi ngần ấy mà vẫn mang kè kè bản chất DÂM LOẠN tự tâm thì các ông dạy gì cho lũ cháu đàn con?! Tấm gương các ông để lại cho con cháu là thế nào?

    Đây là 2 vị cư sĩ thuộc loại đức cao vọng trọng ở Phật Giáo VN. Các bạn cứ tìm với từ khóa là tên của họ kèm tên các web Phật giáo VN (như: daophatngaynay, phattuvietnam, quangduc, chuaphuclam, thuvienhoasen, hoangphaphanoi...) sẽ thấy xuất hiện nhan nhản. Các bạn cũng sẽ thấy 2 vị cư sĩ này được tán dương, được trọng vọng, được thần tượng bởi các Phật tử tới mức nào.

    Các ông đều là cư sĩ Phật Giáo (tu hành Phật Pháp tại gia). Hằng ngày vài chục năm qua các vị cư sĩ ấy vẫn miệt mài tu tập Phật Pháp để nuôi dưỡng Phật Tâm.

    Và kết quả chính là Phật Tâm có được qua tu học Phật Pháp là đây:

    (Không có thời gian rỗi để đọc và thu thập nhiều dẫn chứng, có lẽ không cần nhiều, chỉ 1 điển hình là đủ nhận ra Phật Tâm là thế nào).

    * Lời lẽ có thể xem là "khẩu Phật" xuất phát từ "Phật tâm" của cư sĩ Phật giáo Trần Chung Ngọc:

    Cha nói là Chúa nói, Cha chơi là Chúa chơi tức là thêm sức cho con dân “C” đến gần với Chúa…Cha lắp đít con nít là Chúa lắp đít… ” [đó là ý Chúa, amen ]

    http://nhandanvietnam.wordpress.com/2011...

    Lời lẽ này bởi cư sĩ Phật giáo Trần Chung Ngọc trên sachhiem ngày 21/09/'08, trên dongduongthoibao ngày 23/09/'08 và trên nhandanvietnam ngày 20/09/'08.

    * Ý tưởng và lời lẽ từ Phật tâm của cư sĩ Phật giáo Minh Mẫn:

    Bài viết về "đạo Mẫu" có chút ít liên quan tới[B] Phật Giáo[/B], không liên quan gì đến Công Giáo nhưng vị cư sĩ này lại chủ tâm chèn hình của ĐGH Gioan Phaolo II vào với mấy dòng chữ dung tụcdâm đãng thế này: Pope J Paul II - ta bị lột màng não rồi. Giám đốc Cty nhà thổ Vatican, bệnh viện Vati chuyên lột màng não con chiên để vá màng trinh, giá bèo.

    http://minhmancusi.blogspot.com/2011/1/h...

    Chúa Giê-su có dạy: “Lòng có đầy thì miệng mới nói ra”. Tu Phật Pháp miệt mài nhưng lòng có đầy sân si, DÂM ĐẢNG nên mới tuôn xả ra như thế.

    Tôi nghĩ tôi không cần bình luận gì thêm. Những tấm gương sáng cho con cháu và các Phật tử khác noi theo là đấy!


    TRAVEL đã trả lời 2 năm trước

    Chúa jesus có nói : " Ngươi chỉ thấy cọng rơm trong mắt người khác,mà không nhìn thấy cây đà trong mắt của ngươi .Đồ đạo đức giả ". Đừng phán xét ai để người ta phán xét lại ngươi. Hỡi tôi tớ Chúa.

    Cư sĩ Trần Chung Ngọc dốt nát về khoa học hay tự mình thêm bớt bậy bạ vào Kinh Thánh?
    đã hỏi 3 năm trước

    Tình cờ tôi đọc được bài viết "Khoa học trong Kinh Thánh" của cư sĩ Trần Chung Ngọc đăng trên trang ĐẠO PHẬT NGÀY NAY, qua những đoạn viết bá láp, tôi thấy ông cư sĩ Ngọc chẳng hiểu biết gì về KiTô giáo, lại còn cái trò thêm bớt, cắt xén, xuyên tạc Kinh Thánh cho phù hợp mục đích hạ cấp, bẩn thỉu của ông ta.

    http://www.daophatngaynay.com/vn/dien-da...

    Ví dụ Điển hình là 1 đoạn trong bài viết của ông ta:

    "...Nếu chúng ta đọc cuốn Kinh Thánh của Ki Tô Giáo thì chúng ta sẽ thấy trong đó Gót nói về khoa học đại khái như sau: Trái Đất ra từ nước và làm nên ở giữa nước (2 Peter 3:5); Trái Đất đứng yên (1Chron. 16:30);..."

    Trong (2 Peter 3:5) mô tả như sau: Từ lâu đã có Trời và Đất, và Đất từ Nước mà ra và nhờ Nước mà đứng vững do lời của Thiên Chúa.


    Chỉ có mỗi chữ Đất (Lục địa) từ Nước mà ra. Trần Chung Ngọc Ngọc cả gan thay đổi Kinh Thánh bằng cách bê quả Địa Cầu (thay cho Lục địa) vào để mà phá rối.

    Nhớ ko lầm thì Trần Chung Ngọc từng bắt bẻ "KiTô giáo cho rằng Thế giới dẹt và bằng phẳng". Như vậy thì làm gì có chuyện KiTô giáo cho rằng "quả Địa Cầu tròn ra từ nước và làm nên ở giữa nước". Tư tưởng gian manh của Trần Chung Ngọc đã tạo ra 1 trò hề mâu thuẫn .

    Vậy thực hư ra sao :

    Sách Khoa Học Trái Đất của GS.TS Lưu Đức Hải ghi nhận:

    Địa cầu từ ngày thành lập, trải qua không biết bao lần đổi thay địa chất, đại dương và khí hậu. Vỏ trái đất nguội dần, đại dương và biển cả thành lập, ban đầu nước biển còn ngọt, về sau mặn dần do tích tụ muối khoáng rữa từ đất đá của lục địa. Sau đó Đất liền nổi lên thành lục địa.

    Như vậy Kinh Thánh nói Đất từ Nước mà ra có gì gọi là sai ko?

    Cho đến ngày nay, nhiều người tin rằng giáo hội chủ trương rằng trái đất thì bằng phẳng cho đến khi khoa học hiện đại chứng minh là nó hình tròn.

    Trên thực tế, người Hy Lạp xưa và Kitô Hữu thời trung cổ đều biết rằng trái đất thì tròn. Họ quan sát thấy thân tầu buồm thì biến dạng trước đỉnh cột buồm. Họ cũng thấy rằng khi nguyệt thực, trái đất tạo nên bóng tròn trên mặt trăng. Vũ trụ học của thần học gia Dante thời trung cổ được dựa trên ý tưởng khối cầu của trái đất. Bởi thế ý nghĩ cho rằng giáo hội tin là trái đất bằng phẳng, đó là một pha chế của những người tuyên truyền chống tôn giáo vào thế kỷ mười chín.

    Trong (1Chron. 16:30) mô tả: Chúa thiết lập địa cầu, địa cầu chẳng lay chuyển. Từ "chẳng lay chuyển" nghĩa là "bền vững mãi". Thực tế ở ngoài Vũ trụ có rất nhiều hành tinh đã bị hủy diệt trước đó, như những hành tinh quỹ đạo đi sát Mặt Trời bị thiêu rụi hay như hiện tượng sao lùn trắng xé toạc cả 1 hành tinh. Kinh Thánh thuật lại lời Thiên Chúa đã phán Địa Cầu sẽ ko bị hủy diệt cho tới ngày Cánh chung

    Thế nhưng Trần Chung Ngọc ko ngại bản chất bỉ ổi, vô liêm sỉ xuyên tạc rằng "Kinh Thánh nói quả Địa Cầu đứng yên"

    Vậy xin hỏi : Tổng biên tập trang Đạo Phật Ngày Nay có óc có tim để suy xét trước khi đăng bài ko?


    Xin mời tất cả đọc giả đọc bài này để suy gẫm xem tên Trần Chunh Ngọc hạng người nào!


    "[B]Chúa Giê-su Là Ai? Giảng Dạy Những Gì?"[/B] của Trần Chung Ngọc.

    Năm qua (2002), làng văn hóa Việt Nam ở hải ngoại vừa có thêm một "tác phẩm" mới, nhằm "mở mang dân trí" để góp phần vào việc tạo "điều kiện tất yếu cho sự tiến bộ quốc gia". "Tác phẩm" này có tựa đề "CHÚA GIÊ-SU LÀ AI? GIẢNG DẠY NHỮNG GÌ?" do nhà "trí thức được đào tạo trên căn bản lương thiện" Trần Chung Ngọc "khảo luận" qua các tài liệu và Thánh Kinh, và do Giao Điểm xuất bản vào mùa Xuân 2002.

    Trong phần "Lời nói đầu", Tác giả khẳng định: "Tôi không chủ trương hận thù hay chia rẽ, nhưng tôi quan niệm rằng sự mở mang dân trí là điều kiện tất yếu của sự tiến bộ quốc gia, và sự hòa hợp trong các khối dân tộc chỉ có thể có khi chúng ta hiểu rõ tín ngưỡng của nhau và tìm những phương cách để cùng nhau chung sống trên đất nước thân yêu của chúng ta. HẬN THÙ CHIA RẼ bắt nguồn từ sự THIẾU hiểu biết chứ không từ sự hiểu biết những sự thực tôn giáo." (Trang V - CGSLAGDNG). Thật là một tâm tình rất đáng ngưỡng phục!

    Tuy nhiên, sau khi lướt qua "tác phẩm" CGSLAGDNG (CHÚA GIÊ-SU LÀ AI? GIẢNG DẠY NHỮNG GÌ?) của Trần Chung Ngọc, tôi thật sự thất vọng, một nỗi thất vọng lớn, và tiếc cho $15 đã bỏ ra mua "sách". Cái mà Giao Điểm giới thiệu: "thuộc loại nghiên cứu ở trình độ cao của một trí thức đã được đào tạo trên căn bản lương thiện và trong tinh thần khoa học của một khoa học gia, một nhà Vật Lý học", thực chất chỉ là một tổng hợp rác rưởi tư duy của những nhà "trí thức" hoang tưởng.

    Những "lý luận" của các nhà "trí thức" này nếu dùng để viết một bài văn nghị luận bậc trung học còn không đáng để được điểm trung bình. Cách trưng dẫn và giải thích Kinh Thánh của những "trí thức gia" này cho thấy rõ sự vô trí của họ. Trần Chung Ngọc chỉ làm công việc "lượm rác" trong những đống phế thải của tư tưởng nhân loại, vậy mà Giao Điểm lại huênh hoang gọi đó là một "tác phẩm thuộc loại nghiên cứu ở trình độ cao của một trí thức đã được đào tạo trên căn bản lương thiện và trong tinh thần khoa học của một khoa học gia, một nhà Vật Lý học". Thử hỏi, ngày hôm nay, nếu chúng ta muốn tìm hiểu về thực chất của XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, chúng ta sẽ đi tìm tài liệu ở đâu? Phải chăng chúng ta sẽ gom góp các tác phẩm của những cây viết của nhà văn chế độ cũ, cóp nhặt những đoạn ưng ý nhất của các tác giả đó, đem in thành một cuốn "sách", đặt cho nó cái tên: "XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Là GÌ? Đã Chiến Đấu Như Thế Nào"? Hai điểm nổi bật nhất trong "tác phẩm" CGSLAGDNG của Trần Chung Ngọc là:

    1) Thật ra Trần Chung Ngọc mượn tên Chúa Jesus để đánh phá Công Giáo. Hơn một nửa những gì Trần Chung Ngọc "viết" trong đó là đả kích Công Giáo. Chính chỗ này nói lên sự "lương thiện" của Trần Chung Ngọc. Sợ rằng, tiếp tục lấy tựa đề đả kích Công Giáo thì sẽ không "ăn khách" nữa, bởi giáo dân Công Giáo đâu có thừa tiền để bỏ ra nghe người ta chửi mình, còn Phật tử thuần thành thì đâu có chấp nhận sự sân si bài xích tôn giáo của người khác theo kiểu "đấu tố" một chiều của cộng sản. Ngay trong mấy trang đầu của cuốn "sách", Trần Chung Ngọc đã cho đăng hình của Giáo Hoàng John Paul II và hình vẽ cảnh linh mục Công Giáo thiêu sống thổ dân từ chối theo đạo. Những cái hình này có liên quan gì đến Chúa Jesus và sự giảng dạy của Chúa?

    Có thể nào, viết một cuốn sách lấy tên là "Đức Phật và Phật Pháp" rồi cho đăng hình mấy sư đeo mắt kính đen, ngồi xe jeep Mỹ, hút thuốc lá Mỹ, "chỉ đạo" những cuộc biểu tình chống Mỹ? Có thể nào đem chuyện "bàn thờ Phật xuống đường", hoặc chuyện mấy sư hổ mang, mấy dâm tăng ra để thóa mạ Phật Thích Ca Phật Pháp? Thiết tưởng, một trí thức, lại là một trí thức "được đào tạo trên căn bản lương thiện" phải biết thế nào là một việc làm lương thiệnkhông lương thiện. Thiết tưởng, một Phật tử thuần thành, lại là một "trí thức" Phật tử, không thể nào mở miệng, đặt bút để thóa mạ một ai. Nói lên một sự thật, khác với nhân danh sự thật để thóa mạ "chúng sinh".

    Trong quan điểm chân chính của Phật giáo: "Chúng sinh là Phật chưa thành!". Có thể nào, một Phật tử lại nhân danh này, nhân danh nọ (mở mang dân trí, đoàn kết dân tộc, bảo tồn văn hóa ...) là những cái "danh" tự nó cũng KHÔNG thật (theo thuyết Vô Ngã) để nhục mạ những vị "Phật sẽ thành"? Sự ngã mạn, biên kiến của Trần Chung Ngọc đối với Cơ đốc giáo nói chung, đối với Công Giáo La mã nói riêng, đã cho người đọc thấy rõ, Trần Chung Ngọc KHÔNG phải là một Phật tử thuần thành. Bởi lẽ, một Phật tử chân chính, cho dù không có tri thức cao về văn hoá, về Phật học, cũng biết là thái độ, lời ăn tiếng nói, bài viết của Trần Chung Ngọc KHÔNG xứng hợp với những ai tự cho mình là con Phật. Một cái miệng tụng niệm "Đức Phật đã thành", không thể nào thoát ra những lời ngã mạn, đê tiện, hạ nhục những vị "Phật sẽ thành".


    2) Tôi xin đăng lại nguyên văn phát biểu trên giấy trắng mực đen của Trần Chung Ngọc, để quý bạn đọc tự thẩm định:

    "Chính quyền Việt Nam cần phải ý thức được cái hiểm họa Ki Tô, Ca Tô cũng như Tin Lành, nếu không muốn truyền thống dân tộc và văn hóa của Việt Nam bị xóa sạch trong tương lai, rơi vào vòng nô lệ Vatican hay Tin Lành, bình phong tôn giáo của các đế quốc tư bản Âu Mỹ." (Trang 10, CGSLAGDNG)

    Tôi muốn hỏi Trần Chung Ngọc là chắc ông ta rất đau khổ khi phải sống trong "vòng nô lệ" Tin Lành trên đất nước "đế quốc tư bản" Mỹ này chăng?

    Chứ Trần Chung Ngọc không muốn cho dân tộc Việt Nam "chịu" đau khổ trong "vòng nô lệ" Vatican như dân Ý hoặc trong "vòng nô lệ" Tin Lành như dân Mỹ. Đến lúc nào Trần Chung Ngọc sẽ viết "sách" kêu gọi giải phóng nhân dân Ý và nhân dân Mỹ, để thành toàn "nghĩa vụ quốc tế" ???

    Nhưng, chính Trần Chung Ngọc lại tự mình mâu thuẫn với chính mình khi cũng trong bài "Lời Nói Đầu" Trần Chung Ngọc viết rằng: "Sự hòa hợp tôn giáo trong các nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ, nơi đây có vô số những sách viết về mọi tôn giáo, là một tấm gương để chúng ta soi vào." (Trang V - CGSLAGDNG). Thật là lạ lùng cho lối tư duy của "trí thức" Trần Chung Ngọc. Chỉ cách nhau 12 trang giấy, Trần Chung Ngọc vừa "soi" vào tấm gương hòa hợp tôn giáo ở các nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ xong, thì lại lớn tiếng cảnh báo chính quyền cộng sản Việt Nam coi chừng bị rơi vào "vòng nô lệ" Vatican hay Tin Lành, bình phong tôn giáo của các đế quốc tư bản Âu Mỹ." Vậy,

    Trần Chung Ngọc viết tiếp:

    "Chính quyền và người dân Việt Nam cần ý thức được tầm quan trọng của sự mở mang dân trí. Nếu không muốn mang tội với dân tộc trong lịch sử Việt Nam, chính quyền Việt Nam cần đẩy mạnh nỗ lực mở mang dân trí. Đây chính là sách lược then chốt để ngăn chặn sự xâm nhập văn hóa Việt Nam qua những luận điệu mê hoặc hoang đường của Ki Tô Giáo, đồng thời là cái chìa khóa để mở rộng cánh cửa tiến bộ về mọi mặt của nước nhà." (Trang 11 - CGSLAGDNG)

    Trong phần "Lời Giới Thiệu" của Giao Điểm (không biết do ai viết hay cũng do chính Trần Chung Ngọc viết) có đoạn sau đây:

    "Trong Chương II, Giáo sư Trần Chung Ngọc đã dẫn từ Thánh Kinh, Tân Ước, thuần túy từ Tân Ước, những lời Chúa Giê-su nói và những hành động của Người, và đưa ra một phân tích tổng hợp mà chúng tôi tin chắc quý bạn chưa bao giờ được nghe hoặc biết đến, vì người ngoại đạo cũng như người trong đạo thường không đọc Thánh Kinh, và dĩ nhiên, chẳng có ai mang những điều này ra giảng trong các nhà thờ." (Lời Giới Thiệu - CGSLAGDNG)

    Chắc chắn là những lời giải thích xuyên tạc, vô trí thức về Thánh Kinh thì tín đồ Cơ đốc giáo chẳng muốn nghe. Nhưng nói là "người trong đạo thường không đọc Thánh Kinh" thì thật là không biết phải đánh giá "trí thức" của các "đại trí thức gia" Giao Điểm như thế nào! Tự xưng là "trí thức" đuợc đào tạo trên căn bản lương thiện không biết rằng nếp sống đạo của Cơ đốc nhân dựa trên mối tương giao mật thiết với Đức chúa Trời bằng hai yếu tố bất khả phân ly: sự cầu nguyện và sự đọc Kinh Thánh. Cầu nguyện được gọi là hơi thở tâm linh, còn Kinh Thánh được gọi là thức ăn tâm linh của người theo Chúa. Đời sống đức tin của người theo Chúa chỉ có thể tăng trưởng khi người ấy cầu nguyện và đọc Kinh Thánh.

    Những sách giải kinh, những bài giảng về các câu Kinh Thánh Trần Chung Ngọc dẫn trong Chương II của cuốn "sách" CGSLAGDNG, nhiều đến nỗi hầu như một người không có đủ thời gian để mà đọc cho hết, vậy mà các "trí thức" Giao Điểm dám nói khơi khơi là "người ngoại đạo và người trong đạo thường không đọc Thánh Kinh, và dĩ nhiên, chẳng có ai mang những điều này ra giảng trong các nhà thờ." Các "trí thức" Giao Điểm hình như không thèm biết cái "sự thật" Kinh Thánh là một cuốn sách được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất trên thế giới, được in ra nhiều nhất trên thế giới, và thay đổi cuộc đời của nhiều người nhất trên thế giới. Nếu người trong đạo và ngay cả người ngoài đạo không đọc Kinh Thánh (chẳng biết Trần Chung Ngọc, quý "trí thức gia" Giao Điểm, và quý "trí thức gia" được Trần Chung Ngọc đăng, thuộc về người trong đạo hay người ngoài đạo?) thì Kinh Thánh được dịch và in ra để làm gì, từ năm này sang năm khác, và giá bán một quyển Kinh Thánh hoặc các sách giải kinh, các sách thần học không phải là rẻ, nếu so với các loại sách khác. Ở đây, chỉ nói để mà so sánh chứ không phải để khen chê, con số các cơ sở Phật Học Viện trên toàn thế giới cũng không nhiều bằng con số các Thần Học Viện chỉ riêng tại nước Mỹ; Con số các nhà sách Phật Học trên toàn thế giới gom lại cũng không nhiều bằng con số các nhà sách Thần Học chỉ trong một tiểu bang CA hoặc TX của Mỹ (cứ vào internet để search thì rõ). Con số kinh sách, giảng luận Phật Học được in ra trên toàn thế giới, cũng không nhiều bằng chính bản thân cuốn Kinh Thánh được in ra, chứ chưa nói đến các sách vỡ thần học và giải kinh!

    Tôi muốn nói cho Trần Chung Ngọc và nhà "trí thức" Giao Điểm nào đó viết lời giới thiệu cho Trần Chung Ngọc, biết rằng bất kỳ một câu Kinh Thánh nào Trần Chung Ngọc dẫn trong phần II của cuốn CGSLAGDNG, cũng đều được "người trong đạo" phân tích, giảng luận ít nhất là 10 lần hơn bất kỳ một câu kinh Phật nào được Phật tử phân tích và thuyết giảng. Tôi thách thức Trần Chung Ngọc "khảo cứu" một câu kinh Phật được phân tích và thuyết giảng nhiều nhất, được ghi lại trên giấy trắng mực đen, để xem câu kinh đó được phân tích và thuyết giảng bao nhiêu lần; rồi tôi sẽ chứng minh bằng sách vỡ, bất kỳ một câu Kinh Thánh nào mà Trần Chung Ngọc dẫn trong phần II của cuốn CGSLAGDNG, cũng đều được phân tích và giảng dạy ít nhất là 10 lần hơn câu kinh Phật đó.

    Ở đây, không phải tôi muốn đưa ra sự hơn thua về tính "phổ thông" của kinh Phật kinh Chúa. Nhưng tôi chỉ muốn nói cho Trần Chung Ngọc và các "trí thức" Giao Điểm biết rõ: Người tín đồ Cơ đốc giáo chân chính đọc, phân tích, giảng dạy, và thực dụng Kinh Thánh mỗi ngày trong đời sống của họ. Đó là lẽ sống của đời họ! Và, điều đó được chứng minh bằng không biết bao nhiêu sách vỡ đã ghi lại kết quả của sự đọc, phân tích, và giảng giải Kinh Thánh của tín đồ Cơ đốc. Tín đồ Cơ đốc chân chính tin theo Chúa Jesus không chỉ dựa trên lời tường thuật trong Kinh Thánh, mà còn là dựa vào quyền năng thay đổi lòng người của Kinh Thánh. Nếu Kinh Thánh có lý thuyết hay đến đâu, lý luận có thuyết phục đến đâu, nhưng những người tín đồ Cơ đốc không kinh nghiệm được những điều Kinh Thánh dạy trong chính tâm linh họ: "Sự bình an thiên thượng" mà thế gian không thể hiểu; "Năng lực thắng được sự cám dỗ làm điều dữ và năng lực làm trọn những điều lành"; "Sự tiêu tan của mặc cảm tội lỗi sau khi hưởng ân cứu rỗi của Chúa"; "Tình yêu thiên thượng khiến một người có thể tha thứ và yêu thương ngay chính kẻ thù của mình"; v.v... thì họ không vì đức tin mà chịu tử đạo cả hàng triệu người đâu! Những Cơ đốc nhân được gì khi họ bỏ hết mọi sự tiện nghi, sung túc trong một thế giới văn minh để đến với những con người cùi phung, lỡ lói, tật bệnh thiếu nghèo trong chốn rừng sâu núi thẳm? (Những con người mà "Phật tử" Trần Chung Ngọc gọi là "còn đóng khố" hàm ý miệt thị họ là bán khai, ngu dốt, thất học!). Ai vinh danh họ? Phần thưởng nào, huy chương nào được trao tặng cho họ? Động cơ nào? sức mạnh nào thúc đẩy và giúp họ trung thành với nghĩa cử dấn thân cao đẹp đó cho đến cuối cuộc đời? Chỉ có một câu trả lời thỏa đáng: Chúa Cứu Thế Jesus Christ mà họ tin nhận đó, thật sự là Chân Lý, là Tình Yêu, là Sự Sống đang sống trong chính họ, là động cơ và sức mạnh để trái tim họ tan chảy ra trước đau khổ, nhục nhằn của đồng loại. Lý trí bình thường của một con người cũng nhận ra được điều này! Câu: "người ngoại đạo và người trong đạo thường không đọc Thánh Kinh, và dĩ nhiên, chẳng có ai mang những điều này ra giảng trong các nhà thờ." thật sự là câu nói vô căn cứ của một người vô trí thức.

    Trong "Lời nói đầu", Trần Chung Ngọc viết: "Sự thật là sự thật, sự thật không có tính cách bè phái và tuyệt đối không thiên vị. Lương tâm trí thức của bất cứ người Việt Nam nào quan tâm đến vấn đề tôn giáo là phải tôn trọng sự thật trong các tôn giáo, bất kể sự thật đó như thế nào. Trong thời đại này, chúng ta phải có can đảm đối diện với sự thật dù sự thật đó không hợp ý ta hay mang đến cho chúng ta ít nhiều phiền muộn." (Trang IV & V - CGSLAGDNG)

    Tôi ngờ rằng người viết "Lời giới thiệu" cho Trần Chung Ngọc không phải là một người "trí thức" Việt Nam, bởi người đó không dám "tôn trọng" sự thật là Cơ đốc nhân xem việc đọc Kinh Thánh là nhu cầu sống chết, sự thật là Kinh Thánh được in và dịch ra nhiều nhất trên toàn thế giới. Hoặc giả, người đó là một "trí thức" Việt Nam nhưng KHÔNG có lòng quan tâm đến vấn đề Tôn Giáo, mà chỉ quan tâm làm sao cho "Đảng" đắc lợi trong việc khuấy động hận thù giữa Phật Giáo Công Giáo.

    Tôi cũng ngờ là Trần Chung Ngọc tuy nói vậy mà không phải vậy. Chính trong phần "Dẫn nhập" Trần Chung Ngọc đã dịch "Justification by Faith" ra Việt ngữ là: "Đức Tin biện minh cho tất cả" đủ để cho thấy trình độ "trí thức" và mức độ "lương thiện" của tác giả trong sự quan tâm đến tôn giáo. (Justification by Faith là giáo lý về "sự xưng nghĩa bởi đức tin" của Cơ đốc giáo) "Đức Tin biện minh cho tất cả" có nghĩa là gì? Phải chăng, Trần Chung Ngọc muốn gieo rắc vào đầu người đọc một ấn tượng sai lầm về lẽ đạo quan trọng của Cơ Đốc Giáo? Dịch "bậy" một cách đầy ác ý như vậy là một sự cố tình "chơi chữ" của Trần Chung Ngọc.

    Trần Chung Ngọc muốn lập lờ trong sự một từ hai nghĩa của "justify và justification" trong Anh ngữ. (Justify = to show a sufficient lawful reason for an act done. Justification = the act, process, or state of being justified by God - Merriam Webster's Collegiate Dictionary - Được xưng công nghĩa bởi đức tin nghĩa là một tội nhân được Đức Chúa Trời xưng là sạch tội khi người ấy tin nhận rằng Đức Chúa Jesus đã chết trên thập tự giá để trả nợ tội thế cho người ấy.) Nếu một người thử dịch "Đức Tin biện minh cho tất cả" ra Anh ngữ, dịch một cách nghiêm chỉnh, sát nghĩa, sẽ thấy được cái ác ý của Trần Chung Ngọc. Nhưng, tôi cũng không ngạc nhiên đâu, bởi vì câu nói: "Cứu cánh biện minh cho phương tiện" là câu kinh nhật tụng của người cộng sản. Trần Chung Ngọc có vì quen miệng, hoặc vì "tâm đắc" với ý nghĩa của câu kinh cộng sản ấy mà cố tình dịch "bậy" cũng là điều tự nhiên.

    Trong suốt cuốn "sách", Trần Chung Ngọc không ngớt mạ lỵ các tín đồ của Đấng Christ như là những người "tầm thường, ngu dốt, thất học" và tìm cách đề cao Phật Giáo (chắc có hậu ý để cho Công Giáo "đánh trả" vào Phật Giáo). Thế nhưng khi nhắc đến các tác giả Cơ đốc người Việt như Tiến sĩ Lê Anh Huy, Tiến sĩ Phan Như Ngọc, "Cựu Đại Đức Phật Giáo" Nguyễn Huệ Nhật (xuất thân đại học Vạn Hạnh), thì Trần Chung Ngọc "phe lờ" học vị của những tác giả này. Làm như thể Lê Anh Huy, Phan Như Ngọc, Nguyễn Huệ Nhật là những "tín đồ Cơ đốc tầm thường, ngu dốt, thất học, và cuồng tín chỉ biết nhắm mắt nghe theo lời giảng của các mục sư mà không hề tự mình đọc Kinh Thánh". Chính điểm này cũng nói lên cái "trí thức lương thiện" của Trần Chung Ngọc. Tôi không biết Trần Chung Ngọc sẽ có đủ can đảm để viết rằng nhà khoa học Isaac Newton, một tín đồ Cơ đốc chân thành - cha đẻ của định luật vật lýTrần Chung Ngọc phải mài đũng quần trên ghế của nhà trường để học, để thán phục, để mang cái học đó ra truyền lại cho người khác - cũng là "một tín đồ Cơ đốc tầm thường, ngu dốt, thất học, và cuồng tín chỉ biết nhắm mắt nghe theo lời giảng của các mục sư mà không hề tự mình đọc Kinh Thánh" hay không! (theo tài liệu của Giao Điểm thì Trần Chung Ngọc là một khoa học gia, một nhà vật lý học, từng dạy vật lý trong một đại học ở Mỹ). Ở đây, tôi không có cái ý "khoe khoang bằng cấp" giùm cho những tác giả nói trên, nhưng vì Trần Chung Ngọc không ngớt mạ lỵ tín đồ Cơ đốc như là những kẻ tầm thường, ngu dốt, thất học, mê tín và cuồng tín nên tôi mới nêu ra cái điểm nổi bật về "trí thức" và "lương thiện" biết tôn trọng sự thật của Trần Chung Ngọc.

    Thật ra, tôi không muốn dính vào những thứ rác rưởi Trần Chung Ngọc đã cất công thu thập một cách rất là "tâm đắc", (nói một tín ngưỡng là đúng hoặc sai theo nhận định chủ quan của mình, khác với việc mạ lỵ một tín ngưỡng). Nếu Phật Thích Ca tuyên bố là có đến 84,000 pháp môn để qua đó một người có thể tìm đến chân lý, thì Trần Chung Ngọc và các "trí thức" Giao Điểm là ai để phán định Cơ đốc giáo không thuộc một trong 84,000 pháp môn ấy? Tôi nói đây, là theo quan điểm và lý luận chính tông của Phật Giáo! Cho nên, bài bác, mạ lỵ một tôn giáo, một "pháp môn" mà tự mình chưa hề bao giờ chứng nghiệm, tức là chỉ tuôn ra những thứ rác rưởi, xuất phát từ ngã mạnbiện kiến! Nhưng, xét ra, cũng nên "tản mạn" một chút về những điều "tâm đắc" của Trần Chung Ngọc như là một hình thức "tái chế" những rác rưởi trong tâm linh của ông ta thành một thứ "phân bón" hầu sau này, sẽ hữu dụng trong việc giúp ông tăng trưởng đức tin mà tôi mong rằng một ngày nào đó, ông sẽ tìm gặp trong Chúa Cứu Thế Jesus Christ, trước khi quá muộn. Bên cạnh đó, cũng nên có một bài nhận định về cuốn "sách" của Trần Chung Ngọc để giúp hóa giải những chất độc vô thần, phỉ báng tôn giáo, phỉ báng Đức Chúa Trời, Trần Chung Ngọc cùng nhóm Giao Điểm đang hung hăng, điên cuồng gieo rắc.

    Trong những bài kế tiếp, tôi sẽ chỉ đề cập đến những "hiểu biết" ấu trỉ của nhà "trí thức lương thiện" Trần Chung Ngọc xoay quanh hai tiêu đề "Chúa Jesus là ai?" "Chúa Jesus giảng dạy những gì?" Mặc dù đó chỉ là "diện" của cuốn "sách", còn "điểm" của cuốn "sách" là tấn công vào giáo hội Công Giáo, nhưng xin để cho quý vị giáo dân và hàng giáo phẩm Công Giáo lên tiếng về phần đó. Tôi nghĩ, Trần Chung Ngọc "ghét" Kinh Thánh là vì trong đó có một câu như sau: "Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng: Không có Đức Chúa Trời." (Thi Thiên 14:1 & 53:1). Kinh Thánh gọi nhà "trí thức đã được đào tạo trên căn bản lương thiện và trong tinh thần khoa học của một khoa học gia, một nhà Vật Lý học" nhưng vô thần Trần Chung Ngọc là một kẻ ngu dại nên Trần Chung Ngọc "ghét cay ghét đắng" Kinh Thánh, nhất là sách Thi Thiên, và "căm thù" vua Đa vít, là người ghi lại câu đó. Nếu Đức Chúa Trời đã gọi những kẻ vô thần chỉ nói thầm trong lòng rằng không có Đức Chúa Trời là "kẻ ngu dại", thử hỏi, những kẻ vô thần nói ra miệng, viết thành "sách" rằng không có Đức Chúa Trời, như Trần Chung Ngọc và nhóm Giao Điểm còn "ngu dại" đến đâu.

    Cũng xin mở ngoặc nơi đây để nói riêng với các bạn đọc Phật Giáo chân chính. Câu: "Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng: Không có Đức Chúa Trời." là tuyên phán của Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta chấp nhận có Đức Chúa Trời, thì Ngài há không có quyền "mắng" Trần Chung Ngọc là ngu dại hay sao, khi Trần Chung Ngọc không nhận thức nổi sự thực hữu của Đấng đã tạo dựng ra ông? Còn nếu lý luận rằng Đức Chúa Trời không có thật, Kinh Thánh là sản phẩm mạo danh Chúa, thì có gì khiến cho Trần Chung Ngọc phải nổi nóng, nếu Trần Chung Ngọc thật sự là một Phật tử? Chắc các bạn đều rõ thái độ của Phật Thích Ca như thế nào, khi có người đến mắng chửi xối xả vào mặt Phật, ngay trước sự chứng kiến của hàng đệ tử! Trong giao tiếp thường ngày của tôi, tôi quen biết nhiều người là Phật tử, cá nhân tôi, đã từng tu theo Phật Pháp, nhưng trong mười Phật tử tôi gặp, không có đến một người chấp nhận mình là "vô thần", nghĩa là không tin nhận có một Đấng Cao Siêu Tuyệt Đối, làm ra và tể trị vũ trụ này. Tùy theo quan niệm, tư duy của mỗi người, Đấng ấy có thể được gọi là Ông Trời, là Đấng Tạo Hóa, hay được gọi là Đức Chúa Trời trong đức tin của người Cơ đốc! Họa hoằn lắm, tôi mới gặp những "trí thức" phật tử vô thần. Phật Thích Cabác bỏ một "Đức Chúa Trời" bị nhân cách hóa theo quan niệm của các dân tộc mê tín, theo tâm cảnh mình, tự dựng ra một "Đức Chúa Trời" để thờ phượng của thời điểm lịch sử lúc bấy giờ; nhưng Phật Thích Ca không phủ nhận một Đức Chúa Trời, vượt ngoài, không-thời-gian và vật chất! Bởi, chính Phật Thích Ca, gọi đích Danh Ngài là: Chân Lý! Khoảng 500 năm sau, Đấng Chân Lý đó, khi đến kỳ hạn đã ấn định, nhập thế làm người để dẹp bỏ các "Thần" do loài người dựng nên và mạc khải cho loài người một Chân Thần, qua thân vị Chúa Cứu Thế Jesus!

    Tôi thành thật khuyên bạn đọc đừng bỏ ra $15 để mua cuốn "sách" CGSLAGDNG của Trần Chung Ngọc , phí tiền! Trong những bài viết kế tiếp, tôi sẽ tổng kết nội dung của "sách" ấy. Nhưng nếu bạn đọc muốn biết chính xác, Trần Chung Ngọc đã mượn danh Phật tử để làm những việc không lương thiện như thế nào thì việc bỏ ra $15 để mua cuốn "sách" của Trần Chung Ngọc về đọc cũng chẳng phải là không đáng!

    Cá nhân tôi, chưa hề quen biết gì với Trần Chung Ngọc, nếu xét về tuổi đời, có lẽ Trần Chung Ngọc xứng là bậc cha chú của tôi. Nếu gặp mặt ông ngoài đời, tôi sẽ lễ phép khoanh tay cúi đầu kính chào ông. Nếu ông có lớn tiếng chửi mắng tôi vì cho là tôi ngu dốt, vong bản khi tin theo Chúa Jesus thì tôi cũng chẳng buồn giận gì ông và cũng sẽ không dám vô lễ với ông. Nhưng khi ông đã lợi dụng chữ nghĩa để gieo rắc những nọc độc của sự DỐI TRÁ, có thể làm hại đến biết bao linh hồn của đồng bào tôi, dân tộc tôi, thì tôi nhận thấy mình cũng như bất kỳ ai biết tôn trọng công lý và sự lương thiện, đều có trách nhiệm "giải độc". Trong tiến trình giải độc đó, việc quan trọng và cần thiết là phải lột mặt nạ của kẻ gieo rắc chất độc. Kẻ gieo rắc chất độc, dù mặc áo y tế, dùng ngôn ngữ của bác sĩ, thì vẫn là kẻ sát nhân. Cho nên, xin bạn đọc thông cảm với tôi, nếu tôi có gọi đích danh Trần Chung Ngọc là một "trí thức" vô trí và bất lương , đội lốt Phật tử, Mặt khác, tôi thật sự xót xa cho số phận tâm linh của Trần Chung Ngọc. Tôi có thể nói mà không thẹn với lòng mình và với Chúa Cứu Thế Jesus Christ Chúa,Đức Chúa Trời của tôi rằng: "Nếu có phải đánh đổi tất cả những gì tôi có, ngay cả mạng sống của tôi, để chắc chắn là Trần Chung Ngọc thật lòng tin nhận Chúa Jesus như tôi, tôi sẽ không ngần ngại!" Linh hồn của Trần Chung Ngọc hoặc của bất kỳ một ai, rất là quý báu trước mặt Đức Chúa Trời. Chính Chúa Jesus tuyên bố, cả thế gian này cũng không xứng với giá trị của một linh hồn! Còn về lẽ thật cứu rỗi của Cơ đốc giáo, thì Trần Chung Ngọc không cần phải được nghe giảng nữa. Kinh Thánh gọi những người như Trần Chung Ngọc là đui mù tâm linh. Chúng ta không thể cố gắng chiếu ánh sáng vào trong một đôi mắt đã đui mù rồi mong cho đôi mắt ấy tiếp nhận ánh sáng. Chỉ trừ khi, vì lòng nhân từ thương xót của Chúa mà Ngài chữa lành chứng đui mù tâm linh cho Trần Chung Ngọc, thì ông ta mới nhận biết Chúa. Chúng ta hãy cầu xin điều đó cho Trần Chung Ngọc.

    Nguồn: http://www.vnnclub.com/showthread.ph...#ixzz2tsJYT4Rv

  20. #40
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Đức Chúa Trời Qua Thánh Kinh

    Là Muối Của Đất

    Các con là muối của đất; song nếu mất mặn đi thì lấy giống chi làm cho mặn lại? Muối ấy không dùng chi được nữa, chỉ phải quăng ra ngoài và bị người ta đạp dưới chân” (Ma-thi-ơ 5:13).
    Ở Hoa Kỳ, muối là vật dụng rẻ tiền nhất. Chỉ 50 cents có thể mua một hộp muối lớn. Có lẽ vì muối nhiều và dễ kiếm nên muối rẻ. Tuy rẻ tiền nhưng chức năng của nó thật quan trọng. Vì nếu không, Đấng Hóa Công đã không tạo ra những đại dương khổng lồ để chứa chất muối.

    Pliny nói, “Không có muối nhân loại không thể duy trì sự sống.” Tính chất hữu dụng của muối, như chúng ta biết, rất đa năng. Từ thời xưa người ta đã biết dùng nước muối để rửa cho thai nhi khi vừa chào đời. Muối được dùng để tẩy rửa, khử trùng, giúp vết thương mau bình phục. Muối còn được dùng ướp thịt cá, làm tăng hương vị mặn mà của các món ăn, đặc biệt là các món truyền thống Việt Nam.

    Cũng như các hợp chất trong thiên nhiên, muối là một hợp chất bao gồm hai nguyên tố chính là chất Sodium và Chloride. Hai nguyên tố hóa học này khi kết hợp với nhau tạo ra loại muối mà chúng ta thường dùng ướp thịt cá và nêm nếm thức ăn. Nhưng nếu hai chất này bị tách rời ra—giả sử như nếu không có Sodium, Chloride sẽ trở thành chất gas rất độc, và người ta chỉ có thể dùng chất gas Chloride làm chất tẩy.

    Đạo của Đấng Cứu Thế cũng như muối, là một hợp chất bao gồm hai nguyên tố căn bản là Tình Yêu và Lẽ Thật. Tính chất đạo sẽ mất đi nếu một trong hai nguyên tố này bị mất. Người ta không thể nhận ra đạo Chúa nếu thiếu tình yêu hoặc lẽ thật. Nếu đạo Chúa chỉ có Tình Yêu mà không có Lẽ Thật nó sẽ trở thành mù quáng, lệch lạc—thuyết giáo nào cũng tin, thần nào cũng thờ. Mặt khác, lẽ thật mà không nêm thêm tình yêu thường thì khô khan, lạnh lùng, quá khích, nếu không nói là cuồng tín, và như vậy nó như chất tẩy chloride, chỉ dùng để tiêu hủy bất cứ vật gì nó chạm đến. Chỉ nói về lẽ thật mà không nêm thêm tình yêu, chắc chắn sẽ dẫn dắt người đi dần xa Phúc Âm, vì căn bản của Phúc Âm là tình yêu. Khi tình yêu và lẽ thật được kết hợp trong tâm hồn thì người tin đạo sẽ trở thành điều mà Đức Chúa Jêsus đã nói, “Là Muối Của Đất.”

    Nếp sống của một số người Cơ Đốc cũng như cách hành đạo của trường phái Biệt Lập (dòng Pharisees) thời trước: thường cách ly, không thích hòa đồng, ít bạn. Giao tiếp với ai cũng sợ người ta làm hư mình. Chứ không nghĩ rằng mình cần đến gần, hòa vào để làm chứng, truyền bá Phúc Âm cho người chưa biết Chúa. Động từ LÀM CHỨNG thường là một loại động từ vốn mờ ảo trong quyển từ điển của tín đồ Cơ Đốc. Thỉnh thoảng nó chỉ được gợi lên một cách mơ hồ, nên người tin suốt đời bị cô đọng như muối tại Biển Chết. Đức Chúa Jêsus phán, “Các con là muối của đất.” Muối là để rải ra, để dung hòa, trộn vào mọi lãnh vực của cuộc sống, với một mục đích duy nhất là làm cho đời sống, tình người, tình đạo thêm mặn mà.

    Nếu muối không được rải ra, nếu không được dùng đến, muối trở thành vô dụng, cô đọng như Biển Muối tại vùng Trung Đông—nó là biển hồ chỉ thu thêm mà không ban phát nên độ mặn của nó mặn đến nỗi không một loại sinh vật nào có thể sống trong nó được. Trạng thái vô sinh bất động của nó biến những vùng bình nguyên xung quanh trở nên khô khan cằn cỗi.

    “Các con là muối của đất” – được Đức Chúa Jêsus gọi là ‘muối’ là một đặc ân thiêng liêng. Trước kia, con người cũ của ta tội lỗi, trụy lạc, thoái hóa bao nhiêu, thì giờ đây khi trở thành con cái Đấng Cứu Thế, chúng ta trở thành hữu dụng cho đời và cho nước của Chúa.

    Trước kia, không biết lẽ thật, cuộc đời của chúng ta cứ tưởng như một thoáng phù du, cố sống cho hết những năm dài cô đơn, tủi nhục. Nay biết được Chúa là “đường đi, lẽ thật, và sự sống,” đời sống ta như nở hoa—ta muốn sống và tranh thủ sống, để góp một cánh tay đắc lực cho việc truyền bá Tin Lành cứu rỗi.

    Trước kia, ta chỉ là một người quanh năm đầu tắt mặt tối để thỏa đáp cái tôi phức tạp của mình. Nay nhờ Chúa nêm vào đời ta tình yêu mặn nồng của Ngài, ta biết liên tưởng và quan tâm đến người đồng loại, ta cảm được hạnh phúc vì đã giác ngộ và tìm thấy chân lý sống.

    Nhờ Tình Yêu và Lẽ Thật của Chúa mà đời sống ta được đổi mới. Ta không chỉ là những người Cơ Đốc hiền lành, mà là những người Cơ Đốc hay làm việc lành. Ta không còn là gánh nặng cho đời, hoặc là sao quả tạ chiếu vào cuộc đời kẻ khác, mà là phước hạnh cho bất cứ ai ta gặp, là muối không hề mất vị mặn, là sao Bắc Đẩu dẫn bước lữ khách.

    Các con là muối của đất. Đức Chúa Jêsus phán lời này để khuyến khích, nâng đỡ tinh thần của các môn đồ, vì Chúa biết cũng như Ngài, các môn đệ sẽ bị người đời khinh miệt, bị khổ nạn, nhưng chính sự gian truân đau khổ mang lại vị mặn, nguồn phước hạnh cho nhân loại. Lúc Chúa Jêsus phán lời này, đứng xung quanh Ngài chỉ có vọn vẹn 12 sứ đồ. Làm sao 12 người có thể là muối cho cả thế gian được? Đúng, họ không thể hoàn thành sứ mạng quá lớn và khó khăn như vậy nếu họ dùng võ lực và gươm giáo. Vì như chúng ta biết, gươm giáo không thể làm bạn đồng hành với Phúc Âm được. Nhưng vì họ đã vâng lời Chúa, âm thầm hành động như muối. Với quyền phép của Đức Thánh Linh mười hai hạt muối từ từ thẩm thấu vào tâm hồn nhân loại, để ngày nay trong nhân loại có trên 1.5 tỉ hạt muối Cơ Đốc.

    Nguyện Thánh Linh Chúa tác động, phục hồi, tăng thêm độ mặn mà trong đời sống đạo của mỗi chúng ta.


    Mục sư Ngô Duy Cường


    Lannguyen

Page 2 of 3 FirstFirst 123 LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Replies: 1
    Last Post: 04-08-2013, 02:38 PM
  2. Tụng Kinh Vu Lan và Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu Ân
    By Tinh.Nhi in forum Tìm hiểu Về Phật Giáo
    Replies: 0
    Last Post: 04-06-2012, 04:05 PM
  3. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa 4/4
    By Nonregister in forum Tìm hiểu Về Phật Giáo
    Replies: 0
    Last Post: 01-15-2012, 05:58 PM
  4. Kinh Lăng Nghiêm Là Kinh Ngụy Tạo Chăng?
    By NonregisterC in forum Tìm hiểu Về Phật Giáo
    Replies: 15
    Last Post: 10-02-2011, 10:19 PM
  5. Kinh Tế
    By cu_ti_2006 in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 0
    Last Post: 02-08-2008, 03:55 AM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •