Page 5 of 6 FirstFirst 123456 LastLast
Results 81 to 100 of 108

Thread: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

  
  1. #81
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    11,984
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    [QUOTE=ChanhPhap84;1365395]Tớ đã bảo những tu sĩ Đại Thừa là dâm ô , ăn sung mặc sướng , nhưng so với các Linh mục , GM , HY , GH của Roma thì PG chỉ đếm con số lẽ đầu ngón tay ,chuyện ô nhục kéo dài của Hòa Thượng Thích Chánh Lạc - Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo kiêm Tổng Ủy Viên Nội Vụ và Hoằng Pháp của Văn Phòng II Viện Hóa Đạo mới với hai chị em là Hồ Thị Thu và Hồ Thị Thi (vị thành niên)không có ai ngạc nhiên cả . Tu mà thích hưởng thụ dù Kito hay PG thì thân xác đòi hỏi là không tránh khỏi. ChánhPhập84 mới là con tép riu!

    "Việt gian CS chúng nó lưu manh thô bạo bất nhân bất nghĩa cho dù Phật hay Chúa chúng nó vẫn không tha."

    Tôn Nữ Hoàng Hoa

    PHẬT KHÔNG CÓ TRONG CHÙA


    Đức Phật không phải là thần linh, không ban phước giáng hoạ cho bất kỳ một ai.

    Trong kinh sách của Phật giáo, những lời dạy quý báu có thể giúp đỡ chúng ta vượt qua những cơn sóng gió của cuộc đời, vượt qua những bước thăng trầm của thế sự, được ghi chép khắp nơi, chẳng hạn như trong "Luận Bảo Vương Tam Muội", chúng ta có "Mười Điều Tâm Niệm" cần nên thường xuyên chiêm nghiệm, suy tư, nghĩ tưởng luôn luôn, để mỗi khi "bát phong" ập đến, nghĩa là sóng gió của cuộc đời dồn dập xảy ra, chúng ta có thể đối phó, ứng xử một cách dễ dàng hơn, không bị nhận chìm trong biển nước mắt của phiền não và khổ đau.

    *Trên thế gian này, cuộc sống đầy dẫy những sự bất trắc, bất như ý, con người phải bon chen quanh năm suốt tháng để sống còn, phải tranh đấu một cách vất vả để vươn lên, để vượt qua những cơn sóng gió của cuộc đời, những bước thăng trầm của thế sự. Con người thường mang tâm trạng hoang mang, âu lo, sợ hãi khi hướng về tương lai, không biết rồi đây ngày mai mình sẽ ra sao, cuộc đời của mình sẽ như thế nào, chuyện gì sẽ xảy ra cho mình và người thân của mình? Cho nên con người thường mong muốn mọi chuyện được bình yên, suông sẻ, may mắn, chuyện gì cũng đều tốt đẹp như ý. Lòng mong muốn cao độ đó thường dẫn tới sự cầu nguyện, van xin Trời Phật ban cho những điều mơ ước vượt tầm tay, tưởng chừng như ngoài khả năng của con người.

    Chúng ta cần nên biết rằng: Đức Phật không phải là thần linh, không ban phước giáng hoạ cho bất kỳ một ai. Cũng không có lý do nào Đức Phật ban phước lành cho riêng mình, mà không ban cho người khác. Thực ra, đạo Phật giảng dạy nhiều phương pháp hành trì, gọi là "vô lượng pháp môn", để giúp con người tự lực, mạnh mẽ vượt lên trên mọi sóng gió phiền não, khổ đau của cuộc đời, bước ra khỏi vòng trầm luân sanh tử, tự tạo cuộc sống an lạc và hạnh phúc cho chính mình. Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:"Hãy tự thắp đuốc lên mà đi. Thắp lên với Chánh Pháp". (Hỗng phải tên ChánhPhập Tà Kiến mang số84 đâu nhe!) Nghĩa là chúng ta hãy tự thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ của chúng ta, bằng cách học hiểu những lời dạy của Đức Phật, và đem áp dụng trong cuộc sống hằng ngày, để thấy được sự mầu nhiệm của Chánh Pháp, để tự cứu mìnhgiúp đỡ người khác. Chứ Đức Phật hỗng dạy đi phỉ bángmạ lị người khác vô tội vạ chỉ vì những tin đồn đãi vu khống cáo gian, từ các chiện tiểu thuyết giả tưởng đó nheo!




    MƯỜI ĐIỀU TÂM NIỆM


    Tỳ Khưu Thích Chân Tuệ


    Mười điều tâm niệm trong "Luận Bảo Vương Tam Muội":

    Điều 1: Nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không bệnh khổ, vì không bệnh khổ thì dục vọng dễ sanh. Hãy lấy bệnh khổ làm thuốc thần.

    Điều 2: Ở đời đừng cầu không hoạn nạn, vì không hoạn nạn thì kiêu xa nổi dậy. Hãy lấy hoạn nạn làm giải thoát.

    Điều 3: Cứu xét tâm tánh thì đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo. Hãy lấy khúc mắc làm thú vị.

    Điều 4: Xây dựng đạo hạnh thì đừng cầu không ma chướng, vì không ma chướng thì chí nguyện không kiên cường. Hãy lấy ma quân làm bạn đạo.

    Điều 5: Việc làm đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì lòng khinh thường kiêu ngạo. Hãy lấy khó khăn làm thích thú.

    Điều 6: Giao tiếp thì đừng cầu lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa. Hãy lấy kẻ tệ bạc làm người giúp đỡ.

    Điều 7: Với người thì đừng mong tất cả thuận theo ý mình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng. Hãy lấy người chống đối làm nơi giao du.

    Điều 8: Thi ân đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp là thi ân có ý mưu đồ. Hãy coi thi ân như đôi dép bỏ.

    Điều 9 : Thấy lợi đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì si mê phải động. Hãy lấy sự xả lợi làm vinh hoa.

    Điều 10 : Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là nhân ngã chưa xả. Hãy lấy oan ức làm cửa ngõ đạo hạnh.

    Điều 1: Điều thứ nhứt trong "Mười Điều Tâm Niệm" dạy rằng: "Nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không bệnh khổ, vì không bệnh khổ thì dục vọng dễ sanh. Hãy lấy bệnh khổ làm thuốc thần". Tại sao vậy? Bởi vì khi nào con người còn mang tấm thân tứ đại, thì còn đau khổ vì bệnh tật. Tấm thân tứ đại bao gồm các yếu tố đất, nước, gió, lửa, thường xuyên chống trái nhau, gây đau đớn, khổ sở cho con người. Người nào có phước nhiều thì ít bệnh. Người nào ít phước, kém phước, bạc phước thì bệnh tật triền miên. Cho đến khi hết duyên ở đời, con người phải ra đi, nhưng tấm thân tứ đại này thì để lại, tan rã và trở về với tứ đại trong trời đất. Cát bụi lại trở về với cát bụi, thế thôi! Người nào tạo phước nhiều thì ra đi dễ dàng, nhẹ nhàng, êm thắm. Người nào tạo nghiệp nhiều thì ra đi khó khăn, hành hạ thân xác, khổ lụy người thân…

    Con người không ai mong cầu bệnh khổ, cho dù cầu mong không bệnh khổ, nhưng bệnh khổ vẫn cứ đến. Nếu không có bệnh khổ, con người khỏe mạnh thường sinh dục vọng khó kềm chế. Thỏa mãn những dục vọng này, con người gây thêm biết bao nhiêu là ác nghiệp, để rồi phải đền trả, cho nên phải lăn lộn trong biết bao nhiêu kiếp luân hồi sanh tử, bao giờ mới có thể dứt, có thể thoát ra được? Bởi vậy cho nên, Đức Phật dạy chúng ta đừng cầu không bệnh khổ, nên coi bệnh khổ như là món thuốc thần, là tiên dược để điều trị những dục vọng trong tâm thức của chúng ta. Dục vọng càng nhiều chừng nào, con người càng phiền não và khổ đau chừng ấy. Đạo Phật là đạo cứu khổ nhân loại. Phật Pháp có công năng điều trị tâm bệnh của chúng sanh. Chúng sanh có muôn ngàn tâm bệnh thì Phật Pháp có tám muôn bốn ngàn pháp môn đối trị.

    Chẳng hạn như người hay tham lam, bỏn xẻn thì pháp đối trị là hạnh bố thí. Người nào hiểu được hạnh bố thí đem lại vô lượng vô biên phước báu và thực hành được hạnh bố thí hằng ngày thì tâm tham lam, bỏn sẻn sẽ giảm đi nhiều. Chẳng hạn như người hay nóng giận thì pháp đối trị là quán từ bi. Con người tăng trưởng tâm từ bi được thì những cơn nóng giận sẽ giảm đi rất nhiều. Cặp mắt của người có tâm từ bi, luôn luôn thương nhìn cuộc đời, cư xử nhẹ nhàng, dễ dãi với mọi người chung quanh, khó nổi cơn sân với những lỗi lầm, sai trái của người khác, không lợi dụng lòng từ bi của mọi người. Các bậc phụ huynh cần có tâm từ bi quảng đại mới có thể giữ gìn được hạnh phúc trong gia đình. Các nhà giáo cần có tâm từ bi quảng đại mới có thể thương yêu, dạy dỗ học sinh như con ruột của chính mình. Các nhà tu cần có tâm từ bi quảng đại mới có thể thương xót chúng sanh đang trầm luân đau khổ, phát nguyện tu hành tinh tấn để tự độ và độ tha, sẵn sàng hy sinh, phục vụ nhân loại.

    Chẳng hạn như người hay cố chấp, sống để dạ chết mang theo những lời người khác nói mích lòng thì pháp đối trị là tâm hỷ xả. Người nào hiểu được rằng chứa chấp càng nhiều trong tâm thức của mình thì càng bị trầm luân trong sanh tử luân hồi, trong phiền não và khổ đau, chẳng ích lợi gì, bèn cố gắng phát triển tâm hỷ xả, tự khắc sẽ cảm thấy khinh an, nhẹ nhàng, mắt sẽ nhìn cuộc đời một cách lạc quan hơn, cuộc sống sẽ an lạc hơn.

    *


    Điều 2: Điều thứ hai trong "Mười Điều Tâm Niệm" dạy rằng: "Ở đời đừng cầu không hoạn nạn, vì không hoạn nạn thì kiêu xa nổi dậy. Hãy lấy hoạn nạn làm giải thoát". Tại sao vậy? Bởi vì van xin cầu khẩn thực sự có được gì đâu. Con người kiếp trước tạo ít phước báo, gây nhiều nghiệp báo, cho nên cuộc sống kiếp này mới gặp nhiều hoạn nạn, bất trắc, bất như ý. Muốn cuộc sống bớt hoạn nạn, vui nhiều hơn khổ, con người cần tích cực tu tâm dưỡng tánh, làm phước tạo phước kiếm phước nhiều hơn, đừng làm người khác đau khổ, dù bằng hành động, lời nói hay ngay cả trong ý nghĩ cũng vậy. Chúng ta nên nhớ rằng: chỉ có phước báo mới có thể che chở chúng ta qua những cơn hoạn nạn mà thôi. Không có Trời Phật nào cứu chúng ta khi gặp hoạn nạn đâu. Cũng như chỉ có chiếc ghe mới có thể chở chúng ta qua sông mà không bị thấm nước vậy.

    Con người không ai cầu mong hoạn nạn, cho dù mong cầu không hoạn nạn, nhưng hoạn nạn vẫn cứ tới, nguyên do là chúng ta phải đền trả những nghiệp báo đã tạo từ trước, không ai có thể tránh khỏi. Những người nào sống ở trên đời không gặp hoạn nạn, làm việc gì cũng thành công dễ dàng, người đó thường sanh tâm kiêu căng, ngạo mạn, phách lối, tiêu xài xa xỉ, khinh thường thế nhân, nghi kỵ mọi người, khiến mọi người xa lánh, không ai muốn gần gũi, thân cận, vì chẳng ích lợi gì. Khi gặp hoạn nạn, con người thường không còn tâm kiêu căng, vì kiêu căng thì gặp nạn, không còn xa hoa phung phí, tâm không còn duyên theo cảnh trần, không còn dễ nổi lòng tham lam, không còn dễ sân hận, không còn si mê lầm lẫn, bởi vì tham thì gặp nạn, sân thì gặp nạn, ngu thì gặp nạn. Nghĩa là hoạn nạn giúp cho con người sớm giải thoát khỏi những trói buộc của tham lam, sân hận, si mê, ngã mạn, nghi kỵ, chính là nghĩa đó vậy.

    Hơn nữa, trong cuộc sống phức tạp, nhiều khi gặp hoạn nạn này, có thể chúng ta tránh được hoạn nạn khác lớn hơn. Thí dụ như có người vì thua bạc nên mất vé tàu đi du lịch, cho nên thoát chết, vì chuyến tàu đó bị chìm đắm ngoài biển khơi. Nghĩa là có khi trong hoạn nạn, chúng ta có thể tìm được sự may mắn, hay bài học, hoặc kinh nghiệm nào đó vậy. Không có chuyện gì hoàn toàn xui xẻo, không có chuyện gì hoàn toàn may mắn cả. Chẳng hạn như trúng số độc đắc có thể giúp chúng ta mua nhà, tậu xe, làm ăn buôn bán, cũng có thể gây bất hòa trong gia đạo, làm cho gia đình tan nát, hay trộm cướp viếng thăm, hoặc mừng quá… tắt thở luôn!

    Chẳng hạn như tù tội gian khổ, đối với bậc thánh nhân phi phàm, là cơ hội tốt nhứt để rèn luyện tâm tánh, để suy tư sáng tác những tác phẩm để đời. Biết bao nhiêu bậc vĩ nhân, hiền triết trên thế giới, xuất thân từ ngục tù. Đối với kẻ hèn yếu, hoạn nạn chính là địa ngục trần gian, nhận chìm họ trong biển khổ đau, phiền não!

    *


    Điều 3: Điều thứ ba trong "Mười Điều Tâm Niệm" dạy rằng:"Cứu xét tâm tánh thì đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo. Hãy lấy khúc mắc làm thú vị". Tại sao vậy? Bởi vì tâm tánh của chúng ta, vì duyên theo cảnh trần, cho nên không cố định, thường xuyên thay đổi. Gặp cảnh thuận lòng vừa ý, tâm trạng của chúng ta vui tươi, hớn hở, hỷ hạ, hân hoan, hài lòng. Gặp cảnh trái tai gai mắt, tâm trạng của chúng ta nổi sóng gió ngay, nhẹ thì còn giữ được trong lòng, nặng thì phun ra miệng những cơn bực dọc, tức tối. Gặp đối phương biết nhẫn nhịn, thì mọi việc còn có thể êm xuôi, qua chuyện. Gặp phải người cứng cổ, cang cường, ngoan cố, thì câu chuyện không biết sẽ kết thúc như thế nào?
    Có thể người đi nhà thương hay vào nhà xác, còn người khác đi nhà tù.

    Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật có dạy: "Căn bản của sanh tử luân hồi là vọng tâm. Căn bản của bồ đề niết bàn là chơn tâm". Nghĩa là tâm tánh của chúng ta luôn luôn xao xuyến, loạn động, bất an, được gọi là "vọng tâm", tức là tâm vọng động vì duyên theo cảnh trần. Lúc tâm trạng buồn thảm, thê lương, thì chúng ta cảm thấy cảnh vật chung quanh cũng chẳng có gì vui vẻ cả. Trái lại, khi trong lòng thấy vui, có niềm hoan hỷ, chúng ta cảm thấy cảnh vật chung quanh dường như đang chia xẻ niềm vui hân hoan đó với chúng ta.

    Chính vọng tâm là căn bản của sanh tử luân hồi. Tại sao vậy? Bởi vì vọng tâm lúc vui lúc buồn, lúc thương lúc ghét, lúc tốt lúc xấu, lúc nghĩ chuyện đông lúc nghĩ chuyện tây, lúc nghĩ chuyện hiện tại, lúc nghĩ chuyện quá khứ, vị lai, lúc vầy lúc khác, lúc có lúc không, lúc còn lúc mất, sanh diệt liên miên trong từng sát na, trong từng giây phút, ví như con ngựa chạy lung tung linh tinh lang tang khắp chốn, ví như con vượn chuyền từ cành cây này sang cành cây khác khắp nơi vậy.

    "Vọng tâm" là động lực chính dẫn dắt chúng sanh tạo nghiệp trong vòng sanh tử luân hồi. Muốn tâm được an, mỗi khi vọng tâm khởi lên, chúng ta nhận biết ngay, dừng lại lập tức, đừng theo đuổi nó, thì được giải thoát khỏi những hệ lụy ưu phiền sau đó, phiền não và khổ đau sẽ không đến. Khi sống ở đời, tiếp xúc với mọi cảnh, mọi sự, mọi việc, vẫn sinh hoạt như bao nhiêu người khác, nhưng tâm vẫn như như, an định, không xao xuyến, không loạn động, tức là chúng ta đang sống trong cảnh giới niết bàn, an lạc, tịch diệt, nói cách khác, lúc đó chúng ta sống với "chơn tâm" đó vậy. Chơn tâm ví như mặt biển yên lặng, phẳng lờ, rộng rãi, bao la bát ngát. Vọng tâm ví như những ngọn sóng do gió thổi gây nên, gió nhẹ sóng nhỏ, gió mạnh sóng to. Sách có câu:

    Tâm buồn cảnh được vui sao,
    Tâm an dù cảnh ngộ nào cũng an”.

    Tục ngữ cũng có câu: "Dò sông dò biển dễ dò. Đố ai lấy thước mà đo lòng người". Nghĩa là tâm tánh của con người biến thiên không cùng, lòng dạ con người còn khó dò hơn sông hơn biển, cho nên khi cứu xét tâm tánh, chúng ta không thể nào tránh được những khúc mắc. Chúng ta đừng nản lòng vì những khúc mắc đó. Bởi vì chính những khúc mắc đó giúp chúng ta thêm nhiều thú vị, hăng hái hơn trên bước đường tu tâm dưỡng tánh, xả bỏ những tạp niệm, vọng tâm, loạn tưởng. Chúng ta luôn luôn thúc liễm thân tâm trong từng giây phút, đừng để vọng tâm dối gạt, nghĩ rằng mình tu đã khá lắm rồi, đã hiền thiện lắm rồi, đã đạt được điều này điều nọ. Có những lúc chúng ta làm những điều bất thiện, lợi mình hại người, kiện thưa người khác, đòi bồi thường bạc triệu, đó là lòng tham lam. Chúng ta đem bố thí hay cúng chùa vài chục bạc, vọng tâm dối gạt mình: thế là xong, hết tội rồi! Trong thiền tông, chư Tổ dạy chúng ta phải "sống trong tỉnh thức", hay "sống trong chánh niệm", chính là nghĩa đó vậy.

    *


    Điều 4: Điều thứ tư trong "Mười Điều Tâm Niệm" dạy rằng:"Xây dựng đạo hạnh thì đừng cầu không ma chướng, vì không ma chướng thì chí nguyện không kiên cường. Hãy lấy ma quân làm bạn đạo". Tại sao vậy? Bởi vì ma chướng ở đây có nghĩa là những lời khen tiếng chê, là danh thơm hay tiếng xấu. Nếu chúng ta có thể coi những người khen chê như những người giúp đỡ chúng ta trên bước đường tu tập, rèn luyện tâm tánh, thì chính họ là bạn đạo, là thiện hữu tri thức, là Bồ-tát nghịch hạnh, là giám khảo trên đường đạo của chúng ta vậy. Bởi vì ma chướng ở đây cũng có nghĩa là những sóng gió của cuộc đời, những chuyện phiền não khổ đau, những chuyện thị phi phải quấy, những chuyện bất trắc bất như ý, những chuyện lăng xăng lộn xộn hằng ngày. Thông suốt được như vậy, chí nguyện của chúng ta mới kiên cường, không thoái chuyển, khi gặp lời khen hay tiếng chê, danh thơm hay tiếng xấu, khi gặp bát phong của cuộc đời, và tâm trí của chúng ta mới không bị dao động.

    Chúng ta không ai mong cầu ma chướng, cho dù cầu mong không ma chướng, nhưng ma chướng vẫn cứ tới đều đều. Trên đời này có thiếu gì những kẻ luôn luôn dòm ngó người khác, để vạch lá tìm sâu, để bới lông tìm vết, trong khi bản thân họ thì đủ thứ thói hư tật xấu. Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng có dạy: "Khi lên tiếng phê bình lỗi của người khác, thì lỗi của mình đã ở ngay bên chân rồi đó vậy". Tuy nhiên, dù ma chướng có tới thường xuyên cỡ nào, nếu biết tu tâm dưỡng tánh, chúng ta cũng có thể chấp nhận được, chịu đựng được, coi đó như là những thử thách cần thiết để nhắc nhở chúng ta rèn luyện tâm tánh, chuyển hóa cuộc sống từ phiền não khổ đau thành an lạc hạnh phúc. Sách có câu: "Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả. Anh hùng hào kiệt có hơn ai", chính là nghĩa đó vậy.

    *


    Điều 5: Điều thứ năm trong "Mười Điều Tâm Niệm" dạy rằng: "Việc làm đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì lòng khinh thường kiêu ngạo. Hãy lấy khó khăn làm thích thú". Tại sao vậy? Bởi vì việc làm nào càng khó khăn, càng gian khổ bao nhiêu, mà chúng ta có thể vượt qua, đạt được thành công, thắng lợi, thì việc làm đó càng vinh quang, hiển hách bấy nhiêu. Chẳng hạn như bài toán càng khó khăn bao nhiêu, khi giải được, tìm được kết quả, càng thích thú bấy nhiêu. Việc làm nào dễ thành chỉ là những việc làm tầm thường, không có giá trị cao, hoặc người thực hiện có thừa khả năng, cho nên dễ sanh ra khinh thường mọi việc, kiêu ngạo, coi trời bằng nắp vung.

    Ở trên thế gian có nhiều việc rất khó khăn, ít người thành đạt, chẳng hạn như thi đậu bằng cấp này, bằng cấp kia, tìm ra món thuốc điều trị mới, phát minh ra máy móc hiện đại, tối tân, sáng chế ra cách thức làm việc khoa học hơn, đem lại năng suất cao hơn. Các bậc anh hùng cứu quốc, có thể đem lại độc lập, tự do, no ấm cho một dân tộc, không phải ai ai cũng có thể làm được một cách dễ dàng. Trên phương diện xuất thế gian, việc tu tâm dưỡng tánh cũng vậy, nếu ai ai tu tập sơ sài, cũng có thể thành Phật được, thì quả vị Phật đâu còn giá trị bao nhiêu. Một vị Phật ra đời đem lại phước báu, ích lợi cho biết bao nhiêu chúng sanh, trong biết bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp, không thể nghĩ bàn.

    *


    Điều 6: Điều thứ sáu trong "Mười Điều Tâm Niệm" dạy rằng: "Giao tiếp thì đừng cầu lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa. Hãy lấy kẻ tệ bạc làm người giúp đỡ". Tại sao vậy? Bởi vì những mối lợi, dù nhỏ dù lớn, trên thế gian, cũng đều là những mục tiêu tranh giành, chiếm đoạt của bao nhiêu người. Người đời thường không ngại dùng đủ mọi thủ đoạn, để tranh danh đoạt lợi, cho nên bất chấp đạo nghĩa, luân lý, tình thương, quan hệ. Con người sẵn sàng thượng đội hạ đạp, chà đạp mọi người chung quanh, chỉ vì chút danh lợi nhỏ nhoi. Danh lợi ở đời ví như những miếng mồi câu cá. Cá nhỏ tới ăn miếng mồi liền bị cá lớn đớp gọn. Cá lớn đớp cá nhỏ xong, thì bị lưới lên ghe ngay tức thì…

    Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy: "Khi tới ngã ba đường, nếu thấy cái cây đầy trái chín mọng, không ai hái ăn, thì nên hiểu rằng đó là trái độc". Nghĩa là ở đời không có mối lợi lớn nhỏ nào dành sẵn cho mình hưởng, hay người khác đem dâng tặng mình, mà không có cái bẫy rập độc hại bên trong, bên dưới, hay phía sau, chờ đợi người tham lam, mê muội, thiếu suy nghĩ. Người đời thường thả con tép để bắt con tôm. Người nào tham lợi lớn, ham lời nhiều, thường hay bị lợi dụng, bị sập bẫy một cách dễ dàng, ví như cá thường hay cắn câu vậy. Cũng như những người không cố gắng tu tâm dưỡng tánh, không chịu học hiểu Chánh Pháp một cách trung thực, không làm lợi ích gì cho chúng sanh, cho đạo pháp, chỉ tham danh lợi, thích sự sung sướng, thì quả báo, nghiệp báo tới liền sau đó.

    Trong phạm vi gia đình, nếu vợ chồng con cái giao tiếp với nhau hằng ngày mà không biết thương yêu nhau, không biết nghĩ đến nhau, không biết hy sinh cho nhau, người nào cũng chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng mình, chỉ nghĩ đến sự sung sướng bản thân, thì còn gì là đạo nghĩa vợ chồng, còn gì là tình cha con, còn gì là mẫu tử tình thâm, còn gì gọi là hạnh phúc gia đình?
    Trong phạm vi xã hội, trong lúc giao thiệp tiếp xúc hằng ngày, người nào chỉ nghĩ đến, chỉ mong cầu lợi mình, bất chấp hại người, người đó làm sao sống hòa thuận, yên ổn, vui vẻ với những người chung quanh? Người quá ích kỷ như vậy làm sao kết bạn được với ai, làm sao sống cuộc đời hạnh phúc? Hạnh phúc thực sự chỉ có với những người biết hai chữ "hy sinh" mà thôi. Trong cuộc đời, những kẻ ích kỷ, tệ bạc, chỉ biết lợi mình, bất chấp hại người, chẳng kể nhân tình, chẳng màng đạo nghĩa, nhiều không biết bao nhiêu mà kể cho xiết. Nhưng chính những người như vậy lại là kẻ giúp đỡ người biết tu tâm dưỡng tánh, để rèn luyện tâm tánh của mình.

    Có gặp những kẻ tệ bạc như vậy mà tâm trí của chúng ta vẫn như như, bất động, bình tĩnh, thản nhiên, mới biết được công phu tu tập của mình đến đâu. Nếu tất cả mọi người đều tốt, đều hiền thiện, đều biết đạo nghĩa, thì chúng ta đâu biết tâm mình ra sao? Bởi vậy cho nên, người nào thực sự muốn phát tâm tu học, thì ngay cuộc đời này, ngay cõi ta-bà ngũ trược ác thế này, chính là trường tu tốt nhứt vậy, không cần phải đợi vãng sanh Tây phương cực lạc mới chịu bắt đầu tu. Tại sao vậy? Bởi vì cõi Tây phương cực lạc, như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy trong Kinh A Di Đà, là nơi chỉ toàn bậc Thánh nhơn, chư thượng thiện nhơn câu hội, đâu cần phải tu làm gì nữa, đâu có chỗ chứa hạng phàm phu không chịu tu.

    *


    Điều 7: Điều thứ bảy trong "Mười Điều Tâm Niệm" dạy rằng:"Với người thì đừng mong tất cả thuận theo ý mình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng. Hãy lấy người chống đối làm nơi giao du". Tại sao vậy? Bởi vì sách có câu "năm người mười ý", đâu ai có ý kiến giống ai, mỗi người thường có ít nhứt hai ý kiến trong cùng một vấn đề, nay vầy mai khác, thì làm sao bắt buộc người khác phải thuận theo ý mình? Tại sao mình lại không thuận theo ý người khác? Con người vì sự cố chấp, chấp chặt như vậy cho nên phiền não và khổ đau dài dài!

    Trong gia đình, nếu người chồng hay người vợ cố chấp, bảo thủ ý kiến của riêng mình, thì làm sao gia đình đó có hạnh phúc được? Cái gì của mình cũng đúng, cũng hay, cũng nhứt cả, thì làm sao chịu nghe ý kiến của người khác? Cha mẹ và con cái thuộc hai thế hệ khác nhau, thì tức nhiên ý kiến, suy nghĩ, hoàn cảnh, môi trường sinh hoạt, tất cả đều khác nhau, không thể khai trừ nhau, cho nên phải tùy thuận nhau mà sống, mới có được hạnh phúc trong gia đình. Trong thập đại nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền, điều thứ chín dạy: "Hằng thuận chúng sanh", chính là nghĩa đó vậy. Tuy nhiên, tùy thuận chúng sanh không có nghĩa là một người trong gia đình có lòng tham lam, xúi giục cả gia đình tham lam theo, bất chấp thủ đoạn, lợi mình hại người.

    Trong phạm vi xuất thế gian, người tu theo pháp môn này chê bai pháp môn khác cũng đều không đúng. Tại sao vậy? Bởi vì đạo Phậtnhiều pháp môn tương ứng, thích hợp, tùy theo căn cơ, trình độ, hoàn cảnh, sở thích của mỗi người, để mọi người đều có thể tu tập được. Chúng ta không nên nghĩ mọi người phải tu như mình, hành như mình, mới là đúng. Ý nghĩ như vậy, tư tưởng như vậy chỉ làm cho chúng ta càng ngày càng trở nên kiêu căng, phách lối, ngạo mạn, chê người, khinh đời. Trái lại, chúng ta nên giao du với những người chống đối, trái ý, để luôn luôn suy xét, hoàn chỉnh ý kiến của mình, chuyển hóa tâm tánh của mình, để học hỏi thêm cái hay cái tốt của họ. Nhờ có những người nghịch ý, chống đối như vậy chúng ta bớt lòng kiêu căng. Ví như chiếc xe có máy móc để chạy, cũng cần có cái thắng mới hữu dụng vậy. Nếu không có cái thắng, chắc chắn có ngày cũng lọt xuống hố mà thôi.
    *


    Điều 8: Điều thứ tám trong "Mười Điều Tâm Niệm" dạy rằng: "Thi ân đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp là thi ân có ý mưu đồ. Hãy coi thi ân như đôi dép bỏ". Tại sao vậy? Bởi vì chúng ta thi ân, làm ơn vì lòng tốt, chứ không phải vì muốn được cám ơn, nhớ ơn hay đền ơn. Làm ơn mà muốn được cám ơn, muốn được nhớ ơn, nghĩa là con người còn bản ngã, còn vì danh tiếng mới chịu làm. Làm ơn mà muốn được đền ơn, nghĩa là con người còn bản ngã, còn vì lợi lộc mới chịu làm. Làm ơn như vậy chẳng có phước báu gì, chẳng được người khác mang ơn, mà còn chuốc lấy oán hờn, thù ghét, chuốc lấy ưu phiền, bực tức, khi gặp mặt kẻ vô ơn, bạc nghĩa. Làm ơn như vậy rõ ràng là có mưu đồ, làm ơn thì ít, mà muốn được đền ơn gấp bội phần. Chẳng hạn như khi đến phúng điếu, giúp đỡ tang quyến người khác chẳng bao nhiêu, lại muốn được "trả công bội hậu" ở nước thiên đàng, thì quả là tham lam quá xá.

    Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật có dạy: "Thi ân, bố thí bất trụ tướng, phước đức bất khả tư lượng". Nghĩa là chúng ta làm ơn bố thí, nhưng không chấp mình là người ban ơn làm phước, không thấy có người thọ nhận việc phước mình làm, không nhớ mình làm phước giúp đỡ điều gì, không tính mình giúp đỡ bao nhiêu người. Được như vậy, chúng ta sẽ ăn ngon ngủ yên, tâm trí không bất an vì những chuyện phước đã làm, vì gặp những người vô ơn, không tiếc nuối những vật đã đem cho, không ân hận đã giúp đỡ lầm người. Làm ơn có nghĩa là làm phước, tạo phước bòn phước, cứu đời giúp người, khi cần thiết, lúc hoạn nạn, chỉ vì lòng tốt, vì tâm lượng từ bi, vì muốn chuyển hóa tâm tánh của chính mình, thì như vậy mới có thể làm ơn được lâu dài, giúp được nhiều người, nhiều lần và phước báu vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn. Sách có câu: "Thi ân bất cầu báo đáp", chính là nghĩa đó vậy. Hàng phục được tâm ý, chuyển hóa được tánh tình như vậy, chúng ta mới có thể phát nguyện độ tất cả chúng sanh, mà không thấy có chúng sanh nào được độ.

    Cho nên Đức Phật dạy hãy coi thi ân như đôi dép bỏ, làm ơn làm phước xong rồi thì quên ngay đi, bỏ qua liền, đừng ghi nhớ trong tâm thức cho thêm phần nặng nề. Được như vậy, chúng ta mau tiến đến chỗ giác ngộ và giải thoát.

    *


    Điều 9: Điều thứ chín trong "Mười Điều Tâm Niệm" dạy rằng: "Thấy lợi đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì si mê phải động. Hãy lấy sự xả lợi làm vinh hoa". Tại sao vậy? Bởi vì lợi lộc trên đời thường do tranh đấu, giành giựt, bon chen, bất chấp mọi thủ đoạn, bất chấp nhơn nghĩa, bất chấp đạo lý, mới có được. Lợi lộc không từ trên trời rơi xuống, không ở dưới đất trồi lên. Khi thấy có lợi lộc, cả khối người nhào vô, sẵn sàng chà đạp, gạt gẫm, loại trừ, giết hại lẫn nhau để chiếm đoạt cho bằng được.

    Nhiều khi lợi lộc quá lớn lao, có thể khiến cho con người đánh mất lương tri, sẵn sàng thanh toán người thân lẫn kẻ thù, chỉ nhằm đoạt được mục tiêu mà thôi. Chẳng hạn như một thái tử âm mưu sát hại phụ hoàng để chiếm ngai vàng, con cái giết hại cha mẹ để đoạt gia tài, bạn bè cáo gian để hại nhau, chiếm đoạt tài sản, vợ con người khác. Con người vì ham lợi lộc cho nên chuyện gì cũng dám làm, coi lợi lộc như vinh hoa phú quí cần phải có trên thế gian, để ngẩng mặt nhìn đời cho có oai phong ngon lành. Chính vì thế tâm si mê phải động, sai khiến con người làm tất cả mọi chuyện để thỏa mãn lòng tham lam của mình. Con người khi thấy lợi lộc liền nhúng tay vào, mà chẳng cần biết hậu quả ra sao? Đó chính là tâm si mê vậy.

    Các sòng bạc được mở ra khắp nơi, chính là những cái bẩy khổng lồ nuốt tiền của những người nhẹ dạ ham vui tham tiền, hình như ai ai cũng biết vậy, nhưng có rất nhiều người nuôi tham vọng là mối lợi to lớn ở các sòng bạc đó, biết đâu may mắn đến với mình, cho nên mạnh mẽ nhào vô … lãnh đủ. Có nhiều người tán gia bại sản, nợ nần tứ tung, nhưng vẫn không chừa, vẫn không không biết sợ. Tục ngữ có câu: "Cờ bạc là bác thằng bần. Cửa nhà bán hết nợ nần tứ tung". Có cửa nhà để bán trả nợ là còn có phước đó. Người nào muốn tu tâm dưỡng tánh thì phải xả bỏ tâm tham lợi, tâm si mê, phải biết sống cuộc đời thiểu dục tri túc, ít muốn và biết thế nào là đủ, tâm mới được khinh an, thơi thới, nhẹ nhàng, cuộc sống mới được an lạc, cuộc đời mới được hạnh phúc.

    Trong Kinh Di Giáo, Đức Phật có dạy:

    Tri túc chi nhơn tuy ngọa địa thượng du vi an lạc.
    Bất tri túc giả thân xử thiên đường diệc bất xứng ý.

    Nghĩa là người biết thế nào là đủ, không tham lợi lộc, thấy lợi lộc không nhúng tay vào, tuy nằm trên đất nhưng vẫn thấy an lạc hạnh phúc, bình yên vui vẻ. Chỉ cần "biết" đủ, thì đã quá đủ rồi. Trái lại, người nào không "biết", thì không bao giờ thấy đủ, tấm thân tuy được ở trên thiên đường, tiền rừng bạc biển, giàu sang sung sướng, nhưng tâm ý vẫn chưa thỏa mãn, cố gắng kiếm cho thiệt là nhiều tiền vẫn chưa chịu thôi, chưa chịu ngưng, chưa chịu an hưởng tuổi già gần đất xa trời. Sách cũng có câu:

    Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc.
    Tri nhàn tiện nhàn đãi nhàn hà thời nhàn.

    Nghĩa là "biết" thế nào là đủ, tức thời được đầy đủ ngay lập tức, không cần phải đợi đến lúc có thiệt nhiều tiền mới thấy đủ. Bao nhiêu mới gọi là nhiều đối với người không biết đủ? "Biết" thế nào là nhàn, tức thời được nhàn nhã ngay lập tức, không cần phải đợi đến già, hay lúc nào hết. Nói tóm gọn là "biết" đủ thì đủ, "biết" nhàn thì nhàn. Không "biết" thì cực khổ tấm thân vậy thôi.
    *


    Điều 10: Điều thứ mười trong "Mười Điều Tâm Niệm" dạy rằng: "Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là nhân ngã chưa xả. Hãy lấy oan ức làm cửa ngõ đạo hạnh". Tại sao vậy? Bởi vì con người kiếp trước tạo ít phước báo, gây nhiều nghiệp báo, cho nên kiếp này mới gặp nhiều điều oan ức. Cho nên khi gặp chuyện oan ức, không cần phải than trời trách đất gì cả. Muốn cuộc sống bớt những điều oan ức trái ngang, con người cần tích cực tu tâm dưỡng tánh, cần cố gắng làm phước nhiều hơn, cố tránh đừng gieo tiếng oán, đừng loan truyền tin đồn, đừng vu oan giá họa, đừng làm đau khổ cho người khác, dù cho đó là kẻ thù của mình, kẻ mình không ưa cũng vậy.

    Người nào nói xấu mình, mình bèn tìm đủ cách nói xấu lại, cho bỏ ghét. Người nào hại mình, mình bèn tìm đủ cách hại lại nặng hơn, cho đáng đời. Người nào không chịu giúp mình, không tốt với mình, mình bèn tìm đủ mọi cách trả thù, cho hả giận, rỉ tai biêu riếu, vu khống cáo gian, vu oan giá họa, kiện cáo tụng đình, cho chúng chết luôn, cho chúng mạt luôn, khỏi ngóc lên nổi. Mình cho rằng người ta xấu xa, người ta ác độc, người ta bất chính, người ta bất lương, người ta bất thiện, người ta bất nhơn, người ta ác đức, người ta dã man, mà mình cũng làm y như vậy, chỉ khoác danh nghĩa "trả thù", thì mình có khác gì người ta đâu? Phản ứng y chang những điều người đời làm cho mình thực là dễ dàng.

    Còn như nhịn được mới thực là khó khăn vô cùng. Nhịn được như vậy chứng tỏ chúng ta không còn chấp mình nhận chịu khổ đau, không còn chấp người tạo đau khổ cho mình, tức là chúng ta đã thấu rõ và hành được "giáo lý vô ngã" của đạo Phật. Trong giáo lý vô ngã của đạo Phật, không có cái gì là "Ta", nên không có gì là "của Ta". Đó chính là triết lý cao thượng vô cùng mà chúng ta cần phải nghiên cứu, tìm hiểu cho thấu đáo, để khi gặp chuyện oan ức trên thế gian này, chúng ta vẫn giữ được tâm trí bình tĩnh, thản nhiên. Được như vậy, oan ức chính là cửa ngõ tiến vào con đường đạo hạnh.

    Người nào có nhiều "tự ái", thường cho rằng ta đây là nhứt, cái gì của mình cũng đứng nhứt, cái gì liên quan đến mình cũng nhứt, chấp nhứt từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ nhặt, chẳng bao giờ chịu nghe lời khuyên, thường thấy lỗi lầm của người khác, không bao giờ cho là mình có lỗi gì cả, bất cứ chuyện gì xảy ra cũng tìm đủ mọi cách, viện đủ lý lẽ, đổ lỗi người này, đổ thừa người kia, tại thế này, bị thế khác, chứ không bao giờ tại mình, bởi mình, do mình mà chuyện sai trái xảy ra cả! Người như vậy chính là người có "tâm chấp ngã" quá cao. Cho nên người đó vẫn còn luẩn quẩn trong vòng sanh tử luân hồi. Tại sao vậy? Bởi vì những người như vậy rất nhạy cảm, phản ứng nhanh lẹ, khi tiếp xúc với cảnh trần đời. Một lời nói vô tình, một ý kiến trái nghịch, một việc làm không vừa ý, một cử chỉ vụng về của người khác, tất cả đều có thể khiến cho những người như vậy nổi sân, bực tức, khó chịu, gây gổ, phê phán, bình phẩm, chỉ trích, miệt thị, hơn thua, sống để dạ, chết mang theo.

    Nghĩa là vọng tâm của họ khởi lên đều đều mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút, mỗi giây. Những người như vậy thường xuyên sống trong tâm trạng bất an, vọng động, thậm chí đau khổ nhiều thứ, nhiều mặt bởi vì kho tàng tâm thức chứa nhóm quá nhiều phiền não.

    * * *


    Tóm lại, chúng ta nên biết rằng ngoài biển khơi lúc nào cũng có gió thổi, tùy theo gió nhẹ thì sóng nhỏ, gió to thì sóng cả. Tâm của chúng ta ví như mặt biển cả, tùy theo "bát phong" của thế gian thổi đến, chẳng hạn như lúc thịnh lúc suy, lúc khen lúc chê, lúc danh dự, lúc tủi nhục, lúc sung sướng lúc đau khổ, đối với người không biết tu tâm dưỡng tánh thường để cho lòng nổi sóng, chìm đắm trong vui mừng tột độ, hay đau khổ triền miên. Còn đối với người quyết tâm tu tập thì cố gắng giữ gìn tâm ý bất động, bất loạn, như như, bình tĩnh, thản nhiên trước mọi phong ba của cuộc đời. Được như vậy, chắc chắn đời sống an lạc, hạnh phúc, tâm linh giác ngộ, giải thoát. Đó là cảnh giới niết bàn, tịch diệt, chính là mục đích cứu kính của đạo Phật.

    Chư Tổ có dạy:

    "Nếu chấp nhận trở ngại thì lại thông suốt,
    mà mong cầu thông suốt thì sẽ bị trở ngại".

    Chúng ta đừng cầu không bệnh khổ, đừng cầu không hoạn nạn, đừng cầu không khúc mắc, đừng cầu không bị ma chướng, đừng cầu lợi cho mình, đừng cầu tất cả đều thuận theo ý mình, đừng cầu được báo đáp, đừng cầu không bị oan ức. Tại sao vậy? Bởi vì cầu nguyện thực sự có được gì đâu, chỉ làm cho tâm trí chúng ta thêm rối loạn khi gặp nghịch cảnh, bất trắc mà thôi. Chúng ta hãy cùng suy gẫm câu chuyện sau đây:

    Có một bà lão đến gặp Thiền sư Triệu Châu thưa hỏi, cầu nguyện cách nào có thể giúp bà, kiếp này chuyển được phiền não khổ đau thành an lạc hạnh phúc, kiếp sau được lên thiên đàng, không đọa địa ngục? Thiền sư Triệu Châu dạy bà khấn nguyện như thế này: Tôi nguyện đời đời kiếp kiếp chấp nhận sống trong đau khổ, chấp nhận địa ngục, còn an lạc hạnh phúc và cõi thiên đàng xin dành cho người khác

    Ngày nay, người tu học theo đạo Phật nên dấn thân trong mọi sự trở ngại, không quản khó khăn, không sợ trắc trở. Cho nên trở ngại, khó khăn, trắc trở không thể cản được bước đường tiến tu, không làm cho chúng ta chán nản, sờn lòng, muốn xa lánh cõi đời, mong cầu về cõi cực lạc sung sướng cho dễ tu hơn. Chánh Pháp chí thượng nhờ vậy mới được sáng tỏ. Chúng ta cần tích cực tu tâm dưỡng tánh, mở mang trí tuệ bát nhã, "chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách". Nghĩa là khi thấy được, hiểu được, "biết" được một cách rõ ràng tấm thân tứ đại, ngũ uẩn này là không thực, là giả tạm, nay còn mai mất, muốn duy trì, giữ gìn mãi mãi cũng không được, muốn trẻ mãi không già cũng chẳng được, muốn khỏe mãi không đau cũng chẳng được, "biết" được như vậy, hiểu được như vậy, thấy được như vậy, thì khổ ách nào mà chẳng qua. Nếu chúng ta thực sự thấy được tất cả các pháp trên thế gian này đều không thực, không tự tánh, không cố định, không tồn tại vĩnh viễn, thì khi đó chúng ta đủ khả năng vượt qua mọi sóng gió của cuộc đời, vượt qua tất cả mọi khổ ách, đáo bỉ ngạn, đến được bờ giác ngộ và giải thoát vậy.




    Tỳ Khưu Thích Chân Tuệ
    Last edited by NASA1517; 09-05-2011 at 09:34 PM.

  2. #82
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    Những lời tố cáo lạm dụng trẻ em lan tràn khắp Giáo hội Công giáo ở Âu châu Associated Pressđăng ngày 19/03/2010 Dublin - Lắm khi chỉ là một tiếng kêu trong hoang vắng, nhưng rồi có thể phồng lớn thành một đòi hỏi tìm sự thật của toàn bộ quốc gia. Từ Ái Nhĩ lan đến Đức, nhiều nạn nhân bị lạm dụng tình dục trong Giáo hội Công giáo La Mã tại Âu châu, cuối cùng đã phá vở những cấm kỵ xã hội và đương đầu với hàng giáo phẩm [bằng cách] bắt họ phải đối diện với ma quỷ.

    Ái Nhĩ Lan là quốc gia đầu tiên tại Âu châu đương đầu với cái thói tục toàn cầu của Giáo hội bao che cho những linh mục [phạm tội] ấu dâm tránh khỏi pháp luật và công luận. Nhưng bây giờ thì cái di sản che dấu sự kinh hoàng thời thơ ấu đó đang bị đem ra đối chất trên những vùng đất khác của lục địa Âu châu – mà không nơi nào cay đắng hơn tại Đức, quê hương của Giáo hoàng Benedict XVI.

    Sự tràn lan mới đây của những lời tố cáo tại Hà Lan. Áo và Ý làm cho những nhà phân tích và giới tăng lữ tự hỏi không biết vụ xì-căng-đan còn ăn sâu đến đâu, quốc gia nào sẽ là địa bàn sắp tới, và liệu làn sóng kiện cáo có bắt các giáo phận Âu châu tuyên bố phá sản như đã xảy ra cho đồng đạo của họ tại Mỹ không ? Ông David Quinn, giám đốc Viện Iona, một cơ quan nghiên cứu Thiên Chúa giáo nhằm xiễn dương các giá trị gia đình trong một nước Ái Nhĩ Lan đang càng lúc càng nguội lạnh với Công giáo, nói rằng “Các bạn phải cầm bằng rằng sự bao che hành động lạm dụng thì xảy ra khắp nơi, bằng cách nầy hay bằng cách khác. Một trường hợp lạm dụng mới có thể xãy ra ngay ngày mai trong một nước mới nào đó”.

    Ông Quinn ghi nhận rằng những câu chuyện lạm dụng có hệ thống về thể xác, tình dục và tâm thần đã được âm thầm loan truyền từ nhiều thập niên nay trong xã hội Ái Nhĩ lan, nhưng chỉ được khai quật lên vào giữa thập niên 1990’ khi nguyên cậu bé phụ lễ Andrew Madden và nguyên em bé mồ côi Christine Buckley công khai hóa chúng bằng những vụ kiện để phơi bày sự thật về Linh mục và nữ tu đã giày vò họ mà lại không bị trừng phạt gì cả.

    Tự truyện “Altar Boy …” [Trẻ Phụ lễ…] của Andrew Madden và
    Thông tin tràn ngập trên Internet phanh phui tội ác lạm dụng tình dục
    của giới Tu sĩ Công giáo

    Như đê vỡ, [hai vị nầy] đã mở cữa cho 15,000 lời tố cáo trong một quốc gia có 4 triệu dân. Theo lệnh của chính phủ, ba cuộc điều tra đã làm cả quốc gia bị sốc và ghê tởm, và nhà nước đã phải trả gần một tỉ Euro (gần 1.5 tỉ Mỹ kim) để giàn xếp các vụ án. Ông Quinn cho rằng “Tất cả kéo về một câu hỏi: Nạn nhân đầu tiên đã lấy can đảm để đem vụ việc ra ánh sáng từ khi nào ? Có vẽ như sự cố khởi động đó, tiếng nói cô đơn đó đã dám nói lên điều mà số đông đã giữ im lặng từ quá lâu. Đó cơ bản là điều đang xảy ra bây giờ tại Đức. Và tiếp theo là có thể xảy ra tại Tây Ban Nha, tại Poland, tại bất kỳ đâu

    Vào tháng Giêng [năm 2010], một trường Dòng Tên ưu tú tại Berlin [Đức] tuyên bố rằng họ biết trong quá khứ, đã có 7 trường hợp lạm dụng trẻ em và trường đã chỉ định bà Ursula Raue làm một nhân viên điều tra để tìm bằng chứng. Chỉ trong vài tuần, bà đã thu thập được những câu chuyện thống khổ từ lâu bị lấp liếm của hơn 100 cựu sinh viên bị những đấng Dòng Tên lạm dụng, và 60 trường hợp bị Cha sở sách nhiễu [tình dục].
    Giáo sư về Truyền thông của Đại học Munich và bình luận gia về các sự kiện Công giáo là bà Petra Dorsch-Jungsberger nói rằng “Tôi luôn luôn nghĩ rằng đến một lúc nào đó, làn sóng nầy sẽ ập vào chúng ta”. Bà ghi công giới truyền thông Đức đã loan tin đầy đủ về xì-căng-đan lạm dụng tại Ái Nhĩ lan – một Phúc trình vào tháng 11/2009 về mấy thập niên che đậy của Tổng Giáo phận Dublin liên hệ đến khoảng 170 Linh mục – với những tình tiết xúc động đầy cảm hứng như tại Đức. Bà cho rằng “Một khi cánh cửa đã bị mở ra, thì những nạn nhân khác sẽ thấy rằng họ có thể bước lên và nói: Chúng tôi cũng bị như thế”.

    Trong những tuần mới đây, những tố cáo mới về lạm dụng tình dục tại Đức đã xuất hiện gần như mỗi ngày và lan về vùng Bavaria, nơi trú quán của Giáo hoàng Benedict, cũng như lan vào Ban nam Hợp xướng Regensberg do người anh của Giáo hoàng điều khiển. Giáo hoàng Benedict nguyên là Tổng Giám mục Joseph Ratzinger tại thành phố Munich từ năm 1977 đến năm 1982, và nhiều câu hỏi đang được chú tâm vào vai trò của Giáo hoàng, nếu có, trong việc chuyển đổi các Linh mục phạm ấu dâm đến những họ đạo khác thay vì phải trao họ cho pháp luật.
    Trong một cuộc phỏng vấn phổ biến vào ngày thứ Bảy [6/3/2010], một vị Linh mục Trưởng Tu viện người Thụy Sĩ nói rằng đã có 60 người cho biết họ là nạn nhân bị lạm dụng của các Linh mục Công giáo Thụy Sĩ. Cha Martin Werlin thuộc Chủng viện Benedictine tại Einsiedeln nói với nhật báo Thụy Sĩ Aargauer Zeitung rằng những luận điệu nầy đã được trình lên Hội đồng Giám mục Thụy Sĩ và Hội đồng đang mở cuộc điều tra.

    Hôm thứ bảy, Vatican đã lên án điều mà họ gọi là nỗ lực kéo Giáo hoàng Benedict XVI dính vào những xì-căng-đan đang lan rộng của các Linh mục ấu dâm trên quê hương Đức của Giáo hoàng, và Vatican cho rằng từ lâu, Giáo hoàng đã đối phó với những trường hợp lạm dụng với lòng can đảm.

    Trong những cuộc phỏng vấn riêng biệt khác, cả phát ngôn viên Tòa thánh lẫn Công tố viên Tòa thánh trong những vụ giáo phẩm lạm dụng tình dục trẻ em đều tìm cách bảo vệ Giáo hoàng. Phát ngôn viên Vatican là Cha Federico Lombardi tuyên bố với Đài phát thanh Vatican Radio rằng “Trong những ngày vừa qua, rõ ràng đã có những người cố gắng, với một thái độ hung hăng bền bỉ, tại Regensburg và Munich, tìm những yếu tố để kéo cá nhân Giáo hoàng dính dự vào vấn đề lạm dụng tình dục”.

    Cha Fergus O’Donoghue, biên tập viên tạp chí Studies của Dòng Tên Ái Nhĩ Lan cho rằng vào thời đó, điều không tránh được là các Giám mục, kể cả Giám mục Ratzinger, đã xử lý nội bộ (in-house) các lời tố cáo những Linh mục lạm dụng tình dục. “Vào thời điểm đó, Giáo hoàng cũng không khác gì các Giám mục khác. Chính sách của Giáo hội lúc đó là giữ cho mọi việc yên lặng - giúp mọi người, nhưng tránh xì-căng-đan. Tránh xì-căng-đan đã là một vấn nạn to lớn của Giáo hội.” Cha O’Donoghue nói thêm rằng “Dĩ nhiên là có bao che và giấu diếm”. Nhưng tệ hại nhất là “thái độ vô tình một cách có hệ thống đối với những nạn nhân”.

    Tại Hà Lan, một cựu nạn nhân nội trú Công giáo bị lạm dụng tình dục đang dẫn đầu một chiến dịch để quy kết trách nhiệm. Ông Bert Smeets, 58 tuổi, đã thành lập hội Mae Culpa (“Lỗi tại Tôi”), một tập hợp những nạn nhân đi sưu tầm chứng từ của hàng trăm nạn nhân bị lạm dụng, và hội đang hâm nóng một vụ kiện chống lại Giáo hội Công giáo Hà Lan.
    Giáo hội đã xin lỗi các nạn nhân và thiết lập một cuộc điều tra do một cựu bộ trưởng theo Tin Lành điều khiển. Ông Smeets khước từ nỗ lực đó vì cho là “một cuộc che dấu điển hình của Vatican”. Ông nói rằng Giáo hội bị áp lực là nhờ những cuộc điều tra năng động về lạm dụng tại Ái Nhĩ Lan và Hoa Kỳ.

    Trong những vùng đông tín đồ Công giáo tại Âu châu, những xì-căng-đan lạm dụng tình dục trẻ em đã làm ô uế cá nhân các Linh mục và ngay cả một Tổng giám mục Ba Lan, nhưng vẫn chưa bung rộng ra thành một phong trào quần chúng. Tại Tây Ban Nha, hơn cả tá Linh mục bị kết án lạm dụng trẻ em trong những thập niên vừa qua, và có thể hai trường hợp ở tầm mức lớn đang thu hút sự chú ý của mọi người.
    Cho đến gần đây, Ái Nhĩ Lan là quốc gia Công giáo tương đối nhiệt tình nhất tại Âu châu. Nữa tá chũng viện của Ái Nhĩ Lan đã xuất khẩu Linh mục đi khắp thế giới. (Vậy mà) chỉ trừ một chũng viện, tất cả bây giờ đều bị đóng cửa, điều nầy minh họa tình trạng tàn lụi nhanh chóng của số lượng tín đồ đi dự lễ vì kinh tế phát triển và phong trào thế tục hóa lan rộng.

    Ông Quinn, vị giám đốc viện nghiên cứu tại Dublin, ghi nhận rằng một vài giáo phận Ái Nhĩ Lan đã công khai cảnh báo rằng họ đang gặp khó khăn chi trả tiền bồi thường cho các vụ tố cáo lạm dụng. Tại giáo phận Kells ở miền Đông Nam, ngôi nhà của vị Tổng giám mục đã phải xin thiếu nợ mới.
    Ông Quinn nói “Giáo hội nhiều của nhưng ít tiền”, ghi nhận rằng Giáo hội là sở hữu chủ địa ốc lớn nhất Ái Nhĩ Lan nhưng lại ít tiền mặt trong ngân hàng. Ông nói Vatican cũng vậy, có ít tiền mặt hơn quỹ tài trợ của một đại học Mỹ hạng cao.

    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  3. #83
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    11,984
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    [
    QUOTE=ChanhPhap84;1365442]Những lời tố cáo lạm dụng trẻ em lan tràn khắp đất nước của Cộng Hòa Xả Hội Chủ Nghĩa Chồn Lùi!



    Đảng viên: Từ con đường tham nhũng đến mua dâm trẻ em!

    Vụ án mua dâm: Nguyễn trường Tô XXX cùng lúc 2 em dưới vị thành niên?






    Những ngày qua, dư luận xã hội nóng lên bởi vụ án "Hiệu trưởng mua dâm học trò"Hà Giang. Những người có lương tri thật sự sững sờ khi hai bị cáo Nguyễn Thúy HằngNguyễn Thị Thanh Thúy khai trước Tòa: Ngoài bị cáo Sầm Đức Xương, một số vị trong bộ máy chính quyền tỉnh Hà Giang, huyện Vị Xuyên, một số doanh nhân còn sinh hoạt tình dục với các cháu nhiều lần... Tiến sĩ - Luật sư Trần Đình Triển, Trưởng văn phòng luật sư Vì Dân thuộc Đoàn luật sư Hà Nội cam đoan những điều Hằng Thúy khai trước tòa hoàn toàn đúng sự thật. Ông Triển cũng đã có văn bản kiến nghị khẩn cấp gửi tới các cơ quan Trung ương và các cơ quan báo chí xung quanh vụ việc này.


    Luật sư Trần Đình Triển cho biết, rất nhiều lời khai của các cháu dưới vị thành niên trong vụ án không có người giám hộ. Theo trình bày của cháu Hằngcháu Thúy thì cán bộ điều tra bắt các cháu kí khống vào các bản khai, bản cung rồi điều tra viên tự viết lại nội dung; các cháu này bị ép buộc viết văn bản từ chối luật sư bào chữa. Có dấu hiệu giả mạo chữ kí chữ viết của người giám hộ trong một số văn bản...

    Liên quan trong vụ việc này, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vị Xuyên cũng mắc một số sai phạm: Việc lấy lời khai của các bị can về hình thức, thủ tục không đúng pháp luật. Kiểm sát viên kí văn bản khi chưa có quyết định phân công của Viện trưởng VKSND huyện Vị Xuyên.

    Theo trình bày của bị cáo và người giám hộ, Biên bản phiên tòa sơ thẩm (của TAND huyện Vị Xuyên) là tạo dựng, không đúng với nội dung, diễn biến phiên tòa. Xét xử sơ thẩm, các bị cáo dưới vị thành niên không có luật sư và người bào chữa; không giải quyết yêu cầu chính đáng mời luật sư của bị cáo Sầm Đức Xương. Tại phiên tòa phúc thẩm (TAND tỉnh Hà Giang ngày 20/1/2010): Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không tuyên bố lí do, không công bố Hội đồng xét xử, không cần hội ý hoặc nghị án đã đơn phương tuyên bố hoãn phiên tòa. Cả hai cấp toà đều xử kín, các nhà báo không được tham dự trực tiếp mặc dù vụ án cần phải được xét xử công khai, thể hiện có sự khuất tất trong hoạt động tư pháp ở Hà Giang trong vụ án này.

    Tiến sĩ - Luật sư Trần Đình Triển cho rằng, vụ án có dấu hiệu oan saibỏ lọt tội phạm: 15 cháu gái từ 13 - 17 tuổi bị gạ gẫm, ép buộc tình dục trong vụ án này đều là nạn nhân, tính chất gần tương đồng nhau, đều bị cưỡng ép, dụ dỗ, khống chế, đe dọa buộcphải quan hệ tình dục hoặc lôi kéo người khác phục vụ cho nhóm người của Sầm Đức Xương. Nếu gọi cho đúng tội danh thì phải là "cưỡng dâm" hoặc "hiếp dâm trẻ dưới vị thành niên". Luật sư Trần Đình Triển gửi kèm theo văn bản kiến nghị khẩn cấp đơn kêu cứu của hai bị cáo HằngThúy, trong đó có ghi rõ tên, số điện thoại chức vụ của một số cán bộ cấp tỉnh, huyện, doanh nhân tại Hà Giang đã từng quan hệ tình dục với các cháu.





    Ông Nguyễn Trường Tô, Chủ tịch Tỉnh Hà Giang, người xuất hiện trong cả hai danh sách mua dâm em Hằng và Thúy.



    Danh sách khách mua dâm của Thúy:


    1. Ông Hùng – Giám đốc Ngân hàng Chính sách Tỉnh – ĐT: 0913271307

    2. Ông Tô – Chủ tịch UBND Tỉnh – ĐT: 0913271133

    3. Ông Tấn – Công an Tỉnh (em của 1 Giám đốc CA Tỉnh) – ĐT: 0912061622

    4. Ông Định – Phó Chủ tịch Huyện Vị Xuyên

    5. Ông Thành – Giám đốc Doanh nghiệp – ĐT: 0912144888

    6. Ông Dũng – Lái xe Bưu điện Tỉnh




    Danh sách khách mua dâm của Hằng:



    1. Ông Sầm Đức Xương – Hiệu trưởng trường Việt Lâm.

    2. Ông Nguyễn Trường Tô – Chủ tịch Tỉnh Hà Giang

    3. Ông Đinh Xuân Hùng – Giám đốc Ngân hàng Chính sách Tỉnh Hà Giang

    4. Ông Bích – Trưởng Ban tổ chức Công an Tỉnh

    5. Ông Tiến – Công an Tỉnh Hà Giang

    6. Ông Hướng – Cán bộ Hải quan của khẩu Thanh Thủy

    7. Ông Minh – Cán bộ Công an Tỉnh Hà Giang


    Mặc dù chủ tọa phiên tòa và một số cán bộ lãnh đạo tỉnh Hà Giang cho rằng đây mới chỉ là thông tin một chiều, song dư luận thật sự ngỡ ngàng, căm phẫn trước những lời khai của bị cáo trước Tòa. Những người theo dõi phiên tòa đều cho rằng, những lời kêu cứu và tố cáo của các cháu là đều có cơ sở, bởi các cháu khai rất chi tiết về hình dáng, biển số xe, số điện thoại, chức danh, cơ quan, văn phòng làm việc của các đối tượng, trong đó bất ngờ nhất là lại rơi vào vị đứng đầu UBND tỉnh Hà Giang?!

    Nếu đây là sự thật thì xã hội đã bị "giáng một đòn chí mạng" bằng sự tha hóa về nhân cách của những chức sắc, doanh nhân ở Hà Giang trong vụ án này. Dư luận căm phẫn, đòi hỏi các cơ quan tư pháp phải ra tay trừng trị, cho dù những kẻ phạm tội là ai, ở bất cứ cương vị nào. Những cơ quan, cá nhân vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng nói trên cũng cần phải bị xử lí nghiêm khắc theo pháp luật.

    Luật sư Trần Đình Triển kiến nghị, cho hai cháu Hằng Thúy tại ngoại, tuyên bố các cháu là người bị hại chứ không phạm tội "môi giới mại dâm" và có biện pháp bảo vệ tính mạng các cháu… Đề nghị cơ quan điều tra Bộ Công an hoặc Viện Kiểm sát nhân dân tối cao rút vụ án này lên để trực tiếp điều tra, với sự giám sát của các cơ quan chức năng và các tổ chức có liên quan.



    Một số hoạt động của ông Tô:


    Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Trường Tô và các đại biểu tham quan

    điểm đóng quân của Đại đội I tại khu vực diễn tập





    Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Trường Tô phát biểu tại buổi làm việc với lãnh đạo xã.


    Bình luận:

    Ngay từ lúc VN tiến hành mở của thì Đảng đã đoán biết được là "cơ hội và thách thức" sẽ đi kèm với nhau, cơ hội để hội nhập kinh tế, tận dụng vốn, sự phát triển của KHKT..nhưng cũng đi kèm với đó là các "thách thức" đó là các nguy cơ thách thức về tệ nạn xã hội, sự diển biến hòa bình..

    Không ngờ các tệ nạn ngấm nhanh đến thế, đến cả các bác Đảng viên có lập trường tư tưởng cách mạng vửng chắc cũng không cưởng lại nổi sức hút của tiền bạc, quyền lực, ham muốn dục vọng..đúng là "giặc" tệ nạn này nguy hiểm không kém gì giặc ngoại xâm. Mà sao VN mình ko "tử hình" hết mấy các thằng quan tham đi nhỉ?

    Sao lại để cho nó "tham nhủng" tích góp tiền của khi còn đương chức rồi chịu mấy năm án tù treo hoặc tù thiệt 1 hay 2 năm rồi về hưởng thụ. Cứ làm mạnh như bên TQ bắn bỏ hết mấy thằng đó cho rồi, VN mình lại còn cứ lưu luyến cái tình đồng chí, đồng nác gì nữa..chán phèo!


    Nếu tử hình hay bắn bỏ, các đồng chí ấy không còn gì vương vấn nữa khai ra một dây đằng sau thì chết. Phản đối án tử hình. Ủng hộ tù treo, tiến tới đóng tiền cho tại ngoại.(Việt Nam mà)


    (Ban Mai Xanh biên tập và tổng hợp)
    Last edited by NASA1517; 09-06-2011 at 11:11 PM.

  4. #84
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    11,984
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    Vụ án mua dâm: Bản chất đạo đức suy đồi của một hệ thống, cả một xã hội?


    Một vụ án nhưng có thể nói lên bản chất đạo đức suy đồi của một hệ thống, thậm chí là cả một xã hội chắc sẽ khó tin nhưng nếu suy ngẫm vụ án Hiệu Trưởng Mua Dâm ở Hà Giang bạn sẽ thấy rõ điều đó:

    1) Đạo đức của giáo dục:

    Giáo dục xuống cấp nghiêm trọng, trò bán dâm để mua điểm, thầy mua dâm để cho điểm, mà lại giữ chức Hiệu Trưởng nữa cơ chứ? Vậy cái chức đó do đâu mà có? Do đạo đức do khả năng hay do mua bằng tiền? Tại sao học trò là những đứa trẻ chưa trưởng thành lại rơi vào con đường như thế? Giáo dục dạy học sinh như thế nào? Câu hỏi xin để các bạn tự suy ngẫm.

    2) Đạo đức của cán bộ:

    "Danh sách đen" chưa được công bố nhưng trong đó luật sư bào chữa nói rằng có cả những cán bộ cao cấp của tỉnh, có cả ông NTT (rất có thể là Nguyễn Trường Tộ Chủ Tịch Tỉnh), cán bộ mua trinh nữ sinh, tiền đâu mua? Bằng tiền luơng hay bằng tham nhũng mà có thể chi hàng triệu trong 1 cuộc vui vẻ? Những cán bộ có đạo đức như thế tại sao lại đường làm cán bộ? Vì họ có nhân thân tốt chăng? Vì họ là Đảng viên chăng? Câu hỏi xin để các bạn tự suy ngẫm.

    3) Đạo đức của Tòa Án và cơ quan điều tra:

    Báo chi và các chứng cứ là luật sư cung cấp chứng minh cơ quan điều tra đã làm giả hồ sơ, bắt ký tên trên một tờ giấy trắng rồi tự điền nội dung vô? Cơ quan điều tra làm thế vì mục đích gì? Bao che cho ai? Vì sao phải bao che? Tòa án không cho công bố danh sách đen? Ngắt lời bào chữa của luật sư để bảo vệ cho ai? Cơ quan thi hành pháp luật mà còn như thế thì pháp luật Việt Nam sẽ ra sao?

    Kết luận:

    Do vụ án nghiêm trọng liên quan đến nhiều cán bộ cao cấp của tỉnh nên bè đảng bọn chúng ra sức bao che cho nhau từ trên xuống dưới, từ làm giả hồ sơ, sắp xếp bản án nhưng nhờ có các luật sư can thiệp (đó là lý do vì sao đa số những nhà dân chủ phản động đều là luật sư)




    Vậy thử hỏi những dân đen ở các tỉnh bị bọn quan chức lộng hành cướp đất cướp đai biết thưa kiện ai? Vì cả tỉnh bọn chúng bao che cho nhau cùng một bè lứa cả đó là lý do vì sao hằng ngày vẫn luôn có rất nhiều dân oan từ các cụ già, em nhỏ dẫn nhau lên các cơ quan trung ương thưa kiện mà bị cho là các thế lực phản động giật dây. Đúng là tội cho dân Việt quá!

    TIỀN PHONG ONLINE - 9h sáng nay 1/2, TAND tỉnh Hà Giang tuyên hủy án sơ thẩm vụ án Sầm Đức Xương, nguyên Hiệu trưởng trường THPT Việt Vinh, Vị Xuyên mua dâm nữ sinh.



    Sầm Đức Xương tại phiên tòa phúc thẩm. Ảnh : PV


    Hội đồng xét xử nhận định, các cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm đã có những thiếu sót và vi phạm trong quá trình thực hiện điều tra, truy tố và xét xử.

    Vụ án được giao lại cho Cơ quan điều tra Công an huyện Vị Xuyên thụ lý, xác minh, điều tra lại từ đầu.

    Sau ba ngày xét xử và nhiều ngày nghị án, tòa phúc thẩm TAND tỉnh Hà Giang cũng đi đến quyết định được dư luận và đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ.

    Dấu hiệu mua dâm của số VIP trong “danh sách đen” cũng đã được đưa vào hồ sơ vụ án để xác minh điều tra. Các đối tượng Sầm Đức Xương, Nguyễn Thúy Hằng Nguyễn Thị Thanh Thúy được đưa ra.

    Bình luận:

    Trong bất kì 1 xã hội nào cũng có điểm tối. Điều quan trọng là chúng ta phải biết cách hạn chế những điểm tối đó. Trong những năm gần đây chúng ta biết bao nhiêu vụ án tham ô, mua dâm .... bị phanh phui...
    Vậy những sự kiện đó là tốt hay xấu? Câu hỏi xin để các bạn tự suy ngẫm.


    (Ban Mai Xanh biên tập và tổng hợp)




  5. #85
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng


    CÔNG GIÁO TÂY PHƯƠNG ĐÃ TỈNH
    CÔNG GIÁO VIỆT NAM VẪN CÒN MÊ

    Trần Chung Ngọc


    Phần II

    Công Giáo Việt Nam Vẫn Còn Mê

    Trước hết, tôi xin giải thích từ “mê”. Từ những tài liệu trích dẫn của Giáo hoàng Công giáo cũng như của các giới chức có thẩm quyền trong Ki Tô Giáo trong Phần [I], chúng ta biết rằng:
    -Công giáo đã công nhận Big Bang là nguồn gốc của vũ trụ, Tiến Hóa là nguồn gốc của con người, và không làm gì có tội tổ tông, không làm gì có thiên đường trên các tầng mây, không làm gì có hỏa ngục dưới lòng đất. [Giáo Hoàng John Paul II đã công nhận trước thế giới]
    -Chúa Giê-su thực ra chỉ là một thường dân Do Thái sống với ảo tưởng mình là con Thượng đế của người Do Thái và được Ki Tô Giáo tôn lên làm Chúa Cứu Thế. [Russell Shorto: Kết luận của đa số học giả ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô đã nghiên cứu về nhân vật Giê-su trong 200 năm nay]
    -Tất cả những gì viết trong bốn Phúc Âm về Giê-su sinh ra từ một nữ trinh, đã làm những phép lạ, chịu đóng đinh để chuộc tội cho nhân loại, chết đi rồi sống lại và bay lên trời, chỉ là những huyền thoại của dân tộc Do Thái trong thời bán khai. [Kết luận của một số Linh mục, Mục sư và các nhà Thần Học Ki Tô Giáo và đa số các học giả nghiên cứu về Ki Tô Giáo]
    -Từ những sự thực này, Tây phương đã thức tỉnh và thoát ra khỏi ngục tù tâm linh của Ki Tô Giáo, đưa đến sự suy thoái của Ki Tô Giáo trên thế giới [Giáo hoàng Benedict XVI và Hội Đồng Giám Mục Âu Châu đã thú nhận và than phiền nhiều lần].
    Như vậy, những ai còn tin vào những điều không thể tin được, bất cứ vì lý do gì, đều có thể nói là vẫn còn đang ở trong cơn “mê”, mê muội. Đưa lên những sự kiện trên không phải là vấn đề vi phạm tự do tín ngưỡng mà là vấn đề thuộc lãnh vực học thuật [scholarship] trong thế giới Tây phương và sự thực về tình trạng Công giáo đang xảy ra ở Tây phương cũng như ở khắp nơi trên thế giới. Tôi không phản đối hay dè bỉu những người tự chọn sống trong sự mê muội. Đó là quyền của họ nhưng tôi thấy họ thực sự đáng thương. Do đó, điều mà tôi, và chắc chắn có rất nhiều người khác muốn làm, là giúp những người này thức tỉnh để họ có thể thoát ra khỏi sự u mê không những không có ích lợi thực tế gì cho họ mà nhiều khi còn có hại cho xã hội vì sự cuồng tín của họ bắt nguồn từ sự u mê. Đây là điều mà các trí thức cũng như một số lãnh đạo tôn giáo Tây phương đã làm trong mấy trăm năm nay qua những tác phẩm nghiên cứu của họ, đối với quần chúng Tây phương. Đối với các tín đồ Công giáo Việt Nam, chúng ta muốn giúp cho họ thức tỉnh, theo kịp đà tiến hóa của nhân loại, là chuyện của chúng ta. Còn họ có để cho chúng ta giúp không là chuyện của họ. Nếu họ muốn sống trong vòng trói buộc tâm linh vì một niềm hi vọng không tưởng là sau khi chết sẽ được lên thiên đường là quyền của họ. Nhưng hi vọng càng cao thì sự thất vọng càng lớn, nhất là khi mà niềm hi vọng đó lại đặt vào một cái gì không có thực và do đó chỉ là một ảo tưởng và trở thành vô vọng...
    Sau đây là một sự thật đau lòng. Tất cả những tài liệu trên về sự suy thoái của Ki Tô Giáo nói chung, Công Giáo nói riêng, đã nói rõ hơn gì hết sự thức tỉnh của Tây phương. Trong khi đó thì Công Giáo Việt Nam vẫn còn đang trong cơn mê, mê mẩn về những giáo lý mà Tây phương không còn tin, không còn theo, đang phế thải dần dần. Vì vậy, trong khi đa số dân chúng Tây phương không còn đi lễ nhà thờ nữa, có nơi chỉ còn có 2% đi lễ nhà thờ ngày Chủ Nhật, thì ở Việt Nam và trong những cộng đồng Công giáo ở hải ngoại, giáo dân vẫn đi lễ nhà thờ nườm nượp, vì tin lời bề trên dọa rằng không đi lễ nhà thờ là một tội trọng, và tin rằng đó là điều kiện để được lên một thiên đường không có thực sau khi chết. Ở một vài giáo xứ Công Giáo ở Việt Nam, giáo dân còn nghe lời các bề trên, đi lễ nhà thờ hai ba lần một ngày, sáng tối cầu nguyện xin cho. Họ không hề biết rằng tất cả chỉ là mánh mưu của giới chăn chiên dùng để kiểm soát, nắm giữ đầu óc con chiên.
    Trong khi dân chúng Tây phương đã thẳng thắn lên tiếng phê bình những việc là sai trái, vô đạo đức của Giáo hoàng Benedict XVI thì tinh thần nô lệ “bề trên” còn rõ rệt trong cộng đồng Công giáo Việt Nam khi chúng ta vẫn thấy trên vài diễn đàn truyền thông Công giáo, tín đồ Công giáo Việt Nam vẫn thường ca tụng “Đức Thánh Cha” Benedict XVI, không cần để ý ông ta là một người đã nổi tiếng là vô đạo đức. Ông Giáo hoàng này đã bị quần chúng chống đối hầu như ở bất cứ nơi nào ông ta tới vì những lời phán bậy của ông ta, và sinh viên đại học Sapienza ở Rome, Ý, đã ngăn chận, không cho ông ta đến nói láo ở đại học của họ như trước.
    Sau đây là vài sự kiện điển hình: Giáo Hoàng Benedict XVI, đã công du Nam Mỹ, tuyên bố mục đích chuyến đi là để “chiếm lại lòng tin của những tín đồ Công giáo” [To win back Catholics]. Ngài chú trọng đến Ba Tây (Brazil) vì nơi đây mỗi năm có tới 600000 [sáu trăm ngàn] tín đồ Công giáo bỏ đạo, theo sự thú nhận của các giám mục Ba Tây, ghi bởi John Cornwell, một trí thức Công giáo, trong cuốn Đức Tin Đổ Vỡ: Giáo Hoàng, Giáo Dân, và Số Phận của Công Giáo (Breaking Faith: The Pope, The People, and The Fate of Catholicism).
    Mục đích chuyến đi Nam Mỹ của Benedict XVI, như trên đã nói, là để kéo tín đồ bỏ đạo trở lại đạo. Nhưng thay vì làm sao để cho các tín đồ Công giáo “lấy lại niềm tin và trở lại đạo” Ngài lại dùng một sách lược ngu xuẩn của các thừa sai khi xưa, phê bình hạ thấp các tín ngưỡng địa phương và huênh hoang cho rằng Công giáo đã đến Nam Mỹ để văn minh hóa người dân ở đây.
    Theo tin của hãng Reuters thì lãnh tụ những thổ dân Brazil cảm thấy xúc phạm vì những lời bình luận “kiêu căng và vô lễ” của Benedict XVI là Giáo hội Công giáo La mã đã đến Nam Mỹ để thanh tẩy họ, và [nếu họ] làm sống lại những tôn giáo truyền thống của họ thì đó là một bước đi giật lùi. [1]
    Cố tình gian dối xuyên tạc bẻ queo lịch sử, Benedict XVI cũng còn cường điệu cho rằng: Giáo hội không áp đặt trên thổ dân Nam Mỹ đạo Công giáo mà là chính những thổ dân này đã đón tiếp (sic) những linh mục Âu Châu trong thời đất nước của họ bị chinh phục vì họ đã “âm thầm khao khát” (sic) Ki Tô Giáo. [2] [Giáo hoàng nói nhảm, thời đó, toàn thể lục địa Mỹ Châu cũng như Á Châu, có ai biết gì về cái gọi là Ki Tô Giáo đâu]
    Không có gì có thể sai sự thực hơn là những lời gian dối cố ý xuyên tạc lịch sử, bẻ queo sự thật của Benedict XVI. Bởi vì bất cứ ai có đôi chút hiểu biết về những cuộc chinh phục Nam Mỹ của các nước Công giáo cũng phải biết rằng Giáo hội Công giáo đã đứng đàng sau những cuộc xâm chiếm thuộc địa ở Nam Mỹ cũng như ở mọi nơi khác của thực dân Âu Châu đưa đến kết quả là hàng triệu thổ dân ở Mỹ Châu chết vì bị tàn sát, bệnh tật do người Tây phương mang tới, và chính sách nô lệ của Tây phương, kể từ khi Columbus đến Mỹ Châu vào năm 1492.. Các linh mục đã ban phúc lành cho những chinh phục quân Tây Ban Nha (Priests bless the Spanish conquistadors) trong cuộc chiến tiêu diệt thổ dân. Đây là những sự kiện lịch sử. Điều đáng nói ở đây là Benedict XVI đã nói ngược lại những điều mà năm 1992 giáo hoàng John Paul II đã xin lỗi thổ dân Nam Mỹ và thú nhận những sai lầm trong việc truyền bá phúc âm đến Mỹ Châu. [Pope John Paul II spoke in 1992 of mistakes in the evangelization of native peoples of the America].
    Nhưng đối với những người hiểu biết ít nhiều về Giáo hội Công giáo La Mã thì những gì Benedict XVI nói ở Brazil không có gì là lạ, vì xuyên tạc lịch sử, bẻ queo sự thật vốn là sách lược lắt léo cố hữu của Vatican và các tay sai bản địa.
    Trước đây, Benedict XVI, khi còn là Hồng Y Ratzinger, ông ta đã phê bình Phật Giáo bằng một câu vô đạo đức tôn giáo nếu không muốn nói là vô giáo dục. Gần đây, Benedict XVI, trong thông điệp “Spe Salvi”, còn nói một câu rất láo lếu và hỗn xược đối với mấy tỷ người không theo Công giáo như sau: “Dù có bao nhiêu thần minh đi nữa, họ sống “không có Thiên Chúa” và hệ quả là họ thấy mình sống trong một thế giới tối tăm, đối diện với tương lai mịt mù.”
    Một con người như vậy chỉ đáng để chúng ta khinh bỉ, đừng nói đến kính trọng, dù ông ta là một Giáo hoàng hay là gì gì đi chăng nữa.. Nhưng vì ông ta có một khối tín đồ đồ sộ ngu ngơ rất cuồng tín ở dưới, và trên danh nghĩa là nguyên thủ của một quốc gia, nên trên bình diện ngoại giao quốc tế, nhiều nước vẫn coi ông ta như một nguyên thủ quốc gia.
    Nếu ông ta được phép đến Việt Nam để đẩy mạnh sự cuồng tín của đám giáo dân Việt Nam thì rất có thể ông ta cũng nói láo lếu như trên đối với hơn 90% người dân Việt Nam không theo Ki-Tô Giáo. Nhà Nước Việt Nam nên coi chừng cái con người vô đạo đức không đáng để ai kính trọng này và không đáng để Nhà Nước phải đón tiếp này, đừng vì lẽ gì mà cho phép ông ta đặt chân lên đất nước Việt Nam, vì qua kinh nghiệm vừa qua ở Brazil, ông ta có tới Việt Nam cũng không phải vì thiện chí ngoại giao, mà chỉ để khích động sự cuồng tín trong đám tín đồ thấp kém, và rất có thể ông ta sẽ lập lại sách lược của các thừa sai Công giáo trong thế kỷ 17-19, xuyên tạc lịch sử và nói bậy giống như ở Brazil, mạ lỵ truyền thống tín ngưỡng của người Việt Nam như ông ta đã nói về tín ngưỡng của các thổ dân Nam Mỹ ở Brazil. Ông ta biết rằng vì ông ta là Giáo hoàng nên ông ta muốn nói gì cũng được, không ai có thể làm gì được ông ta, nhiều nhất là chỉ có thể lên tiếng phê bình, nhưng ông không quan tâm vì thủ đoạn của ông là “phương tiện biện minh cho cứu cánh.Thủ đoạn của ông ta là cố tình nói ngược cho mục đích đã định rồi nếu cần thì sẽ nói suôi để làm dịu sự chống đối. Nhưng ảnh hưởng tác hại của những lời nói láo lếu này đã gây ra rồi, vài lời nói suôi đãi bôi không thể vớt vát lại bao nhiêu. Và đó là thủ đoạn mà các vị chủ chăn Công Giáo thường áp dụng. Mà không phải chỉ có Benedict XVI. Giáo hoàng tiền nhiệm, John Paul II, cũng đã nhiều lần sử dụng thủ đoạn bất chính này. Bằng chứng là viết láo lếu về Phật Giáo trong cuốn “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng”, rồi khi Phật Giáo phản đối thì sai một thuộc hạ ra nói vài lời xin lỗi đãi bôi và coi như không có chuyện gì xảy ra, vì mục đích đen tối đã đạt. Giáo hoàng hay không, nói láo vẫn là nói láo, nói bậy vẫn là nói bậy, và những lời nói láo nói bậy này đã đi vào sử sách.
    Sự mê mẩn của Công giáo Việt Nam cũng thấy rõ khi Công giáo ở Việt Nam hân hoan đón tiếp cúi đầu hôn nhẫn Hồng Y Bernard Law, không hề quan tâm rằng ông Hồng Y vô đạo đức này đã bắt buộc phải rời khỏi giáo phận Boston vì tội bao che các linh mục loạn dâm và ấu dâm. Nhưng sách lược của Vatican là luôn luôn bảo vệ các chức sắc của họ dù rằng họ đã phạm tội, cho nên Law được gọi về Vatican trao cho một chức vụ với mức lương $12.000 một tháng. Có bao nhiêu linh mục Việt Nam có được mức lương này. Chúng ta thấy tinh thần nô lệ và sự mù quáng tôn giáo của Công giáo Việt Nam không còn chỗ nào để nói, coi rác rưởi là đồ trân quý..
    Giáo dân Công giáo Việt Nam bị bưng bít thông tin, bị tiếp tục nhồi sọ về sự cao quý không hề có của “hội thánh Công giáo” cũng như của giới chăn chiên, cho nên khó có thể tin là cái đạo của họ lại có thể suy thoái một cách trầm trọng như trên ở ngay trong cái nôi của Công giáo là Tây phương, và rất hãnh diện là tín đồ Công giáo Việt Nam vẫn giữ vững đức tin, “vâng lời đức thánh cha” kiên trì đi trong đường hầm, hi vọng có thể nhìn thấy ánh sáng le lói của Chúa Giê-su ở cuối đường hầm như Giáo hoàng của họ hứa hẹn, vẫn còn tin vào những điều mà Tây phương đang phế thải, và chẳng cần nói chúng ta cũng biết họ thuộc lớp người nào, nếu không phải là những lớp người ở trong những ốc đảo dân trí thấp kém nhất trong xã hội ở một số nước nghèo, nhỏ, kém phát triển. Điều này không lạ, vì họ là hậu duệ của lớp người theo đạo đầu tiên, mà lớp người này đều là những người đánh cá, hay nông dân nghèo đói, vô học, như Linh Mục Trần Tam Tĩnh đã ghi nhận trong cuốn “Thập Giá Và Lưỡi Gươm”. Khai thác sự cuồng tín lạc hậu này, các “cha nhà thờ” Việt Nam vẫn nườm nượp xuất ngoại, mở tiệc ăn mừng quyên tiền giáo dân để về xây nhà thờ, hay để làm những chuyện mà giáo dân không hề biết, nơi quê nhà. Nhưng không tin là một chuyện, còn tình trạng suy thoái thực sự của giáo hội Công giáo hoàn vũ lại là một chuyện khác.
    Chắc quý độc giả không tin là Công giáo Việt Nam vẫn còn u mê như vậy, vì vượt ngoài sự tưởng tượng của con người trong thời đại ngày nay. Không hẳn vậy, một thí dụ điển hình là ở Việt Nam: trong một thư của 12 môn đồ của linh mục Nguyễn Hữu Trọng đệ lên Giáo hoàng John Paul II và Hồng Y Phạm Đình Tụng năm 1998, có nói đến một số vấn nạn trong nội bộ Công giáo Việt Nam trong đó chúng ta có thể đọc được vài đoạn điển hình sau đây:
    “Nhiều Linh Mục VN thường thường hễ lên tòa giảng là thao thao bất tuyệt lên giọng dạy đời, chửi bới giáo dân, dùng lời Chúa xỏ xiên đàng này đàng khác, hoặc văn chương lả lướt, ăn nói bạt mạng, chọc quê chọc cười cho giáo dân vui tai…Dòng ta lại có Linh Mục Phạm Thanh Quang giảng thì hết xẩy, nổi tiếng nói nhiều, nói dai, nói dài, nói dở, chẳng ăn nhập gì với lời Chúa, bạ đâu tán đó, Hồng Lâu Mộng, Tề Thiên, Bao Công, BBC... chị em ta chào mời ở đường Tú Xương ra sao, ông bê vào bài giảng hết trọi... Ai có dịp đi lễ của Linh Mục Chân Tín đều cảm thấy bị nghe đường lối chính trị của ông mà ông cho đó là lời Chúa... Các Giám Mục, Linh Mục của chúng ta thường làm ngược lời Chúa, tranh thủ quyền lực, tiền tài, cấu kết với các thế lực để mở mang nước Chúa, nên đã sa vào con đường sắc dục một cách bệnh hoạn, quấy rối tình dục bừa bãi, trẻ không tha, già không thương, làm cho Linh Mục sao nhãng việc truyền giáo và ham mê việc truyền giống.Giáo phận Saigon có một số giáo xứ nổi tiếng về truyền thống có các linh mục truyền giống như Xóm Chiếu, Thị Nghè, Vườn Xoài, Tân Định... Hội đồng giáo xứ Tân Định biết rõ các LM bê bối của mình, nhưng không dám làm gì cả, sợ mang tiếng.
    Các cha đẹp trai, "cơm Đức Chúa Trời ngon, con Đức Chúa Trời đẹp", lắm tiền, nhiều quyền, no cơm ấm cật, không ai kiểm soát được…“tối làm tình sáng làm lễ”; “Khi Giáo dân trình lên Bề trên những yếu đuối của các Linh Mục thì thường được dạy bảo rằng: "các con đừng nói hành các cha kẻo mắc tội với Chúa, đừng xét đoán các cha kẻo bị Chúa phán xét." Nghe dạy như thế, nhiều giáo dân sợ hãi vô cùng, phải nhắm mắt làm ngơ trước những đồi bại của các Linh Mục ma giáo, khéo che đậy và nịnh bợ các Đấng Bề trên!”.
    Đây là một tài liệu quý giá xuất phát từ nội bộ Công Giáo Việt Nam, đã được đăng trong cuốn Tại Sao Không Theo Đạo Chúa, Tuyển Tập 2, trang 154-171, Ban Nghiên Cứu Đạo Giáo phát hành, Texas, 1998. Các “bề trên” ở Việt Nam vẫn còn luôn luôn đưa luận điệu “Cha cũng như Chúa” ra làm con ngoáo ộp để đe dọa tín đồ, nhốt các tín đồ thấp kém vào trong khuôn phép, và cũng cho thấy trình độ của giáo dân ra sao mà không dám nói đụng đến các cha vì sợ mắc tội với Chúa, bị Chúa phán xét không cho lên thiên đường. Quả thật là tội nghiệp. Trong khi đó thì trên nước Mỹ, chính giáo dân Công Giáo đã truy tố các Linh mục can tôi loạn dâm và ấu dâm. Hơn 5000 “Chúa thứ hai” trên đất Mỹ đã bị truy tố về những tội danh trên, một số đang ngồi tù, và Giáo hội đã phải bỏ ra hơn 2 tỷ đô la để bồi thường cho các nạn nhân tình dục của các “Chúa thứ hai”. Vụ việc các Linh mục loạn dâm không chỉ xẩy ra trên nước Mỹ mà còn xẩy ra trên khắp thế giới trong những cộng đồng Công Giáo, kể cả ở nước Đức, quê hương xứ sở của Giáo Hoàng. Tệ hại hơn nữa, người ta đã phanh phui ra là các Linh mục đã cưỡng dâm các nữ tu, chị em tâm linh của họ, trên 23 quốc gia, và một số trường hợp đã đưa các nữ tu đi phá thai. Chúng ta nên nhớ, theo sự dạy bảo các giáo dân Việt Nam của các “bề trên” thì Giáo Hoàng chính là “đại diện của Chúa ở trên trần” [Vicar of Christ], và linh mục chính là các “Chúa thứ hai” [Alter Christus], có quyền tha tội cho con chiên trong khi chính họ đã phạm tội khủng khiếp hơn con chiên, chứ không phải là người thường như mọi người.
    Thế mà, gần đây, trên một vài diễn đàn truyền thông của Công giáo Việt Nam chúng ta còn thấy đăng tin: Giáo hoàng Benedict XVI rất lấy làm khổ tâm vì những vụ linh mục lạm dụng tình dục tràn lan trên thế giới. Tin này muốn nói là Giáo hoàng là người rất mực đạo đức, khổ tâm trước những việc đồi bại của các linh mục. Nhưng khổ tâm làm sao được khi chính ông ta, Giáo hoàng Benedict XVI, khi còn là Hồng Y Ratzinger, đã có văn kiện chính thức cho các giám mục trên thế giới phải bao che những vụ bê bối về tình dục của các “Chúa thứ hai”. Theo tin của AP ngày 24 tháng 3, 2010, thì: Tài liệu của Nhà thờ [ở Wisconsin] và Vatican cho thấy, Hai Giám mục ở Wisconsin yêu cầu văn phòng ở Vatican chỉ đạo bởi Hồng y Joseph Ratzinger – nay là Giáo hoàng Benedict XVI – để cho họ lập một vụ xử của Giáo hội về một linh mục phạm tội gạ gẫm tình dục khoảng 200 bé trai bị điếc, nhưng Vatican ra lệnh phải ngưng vụ xử. [3]
    Hiện nay, vụ giới chăn chiên loạn dâm và ấu dâm, với sự bao che của chính Giáo hoàng Benedict XVI và một số Hồng Y, Tổng Giám Mục ở các giáo phận v..v.. đang nổ ra như pháo trên khắp thế giới. Người ta còn đòi Giáo hoàng Benedict XVI phải từ chức vì đã che dấu và bao bọc cho những linh mục loạn dâm. Bản tin tổng hợp trên sachhiem.net ngày 26 tháng 3, 2010 có đoạn như sau:
    Qua điểm tin từ những tờ báo nổi tiếng tại : Anh quốc, Pháp quốc, Ý, và Hoa Kỳ ...nhà bình luận có tên là Richart de la Cure kết luận như sau :
    ..."Đạo công giáo đang đi vào ngỏ cụt, và hao tốn, vị giáo hoàng hiện nay bất lực kèm theo lo lắng nay mai sẻ bị thải hồi, và nhất là thế giới nguyền rủa, căm thù ...mà từ trước đến nay Vatican thường tuyên bố .." đạo công giáo là một tôn giáo bác ái và Yêu thương hay thường gọi là công giáo hoàn cầu "...nay đang trên con đường lụi bại và nhục nhả.
    Đó là đạo đức của Ratzinger. Sách lược bao che này đã được thi hành cho đến khi sự việc không thể bưng bít che dấu được nữa cho nên Tòa Thánh mới phải thú nhận là trong “hội thánh Công giáo” có vấn nạn rất nghiêm trọng về các “Chúa thứ hai“ loạn dâm, và Giáo Hoàng mới tỏ ý khổ tâm về vấn nạn này. Sự đạo đức giả và vô liêm sỉ của ông ta đã lên đến mức không còn gì để nói, khi ông ta nói là đã rất khổ tâm về vấn nạn này. Cho nên ngày nay, người dân Âu Mỹ đã đặt vấn đề: Thực ra Công giáo có phải là một tôn giáo “thánh thiện, duy nhất, tông truyền” hay không, Giáo hoàng có phải là đại diện của Chúa trên trần không, và Linh mục có phải là Chúa thứ hai không? Câu trả lời nằm trong câu hỏi. Nhưng đối với những tín đồ Công giáo Việt Nam vẫn còn đang cơn mê thì những thắc mắc trí thức trên không phải là vấn đề cần phải quan tâm, Giáo hoàng vẫn luôn luôn là “đức thánh cha”, và linh mục là “đức cha” mà họ phải nhắm mắt tuân phục trong “đức vâng lời”.
    Qua những chính sách mê hoặc nhồi sọ của Giáo hội về một cái bánh vẽ “cứu rỗi” trên trời, Giáo hội Công Giáo đã thành công dựng lên chức vụ linh mục như là một nhà độc tài trong cái gọi là “hội thánh”, ngự trị trên đám giáo dân thấp kém. Sự thành công này thực hiện được là nhờ giới linh mục đã cấy vào đầu óc tín đồ từ khi còn nhỏ những giáo lý phi thực tế như “Cha cũng như Chúa”, “Cha có quyền tha tội”, “Cha giữ chìa khóa thiên đường”, “Đụng đến Cha là bị Chúa phạt”, “hỏa ngục” v..v.. Thực tế cho cho chúng ta thấy rằng trong những ốc đảo Công Giáo dân trí còn thấp kém, giáo dân đã được đưa vào khuôn đúc phải hoàn toàn tuân phục ông linh mục một cách rất mù quáng. Linh mục kiểm soát và quyết định mọi việc cho giáo dân, từ việc đi lễ nhà thờ, học trường học nào, lập gia đình ra sao, nuôi nấng con cái như thế nào, đọc cái gì, và nếu tham dự chính trị thì phải theo sự chỉ đạo của linh mục.
    Nói tóm lại, với vai trò linh mục được giáo hội dựng lên, ảnh hưởng của linh mục trên giáo dân thật là to lớn, và những giáo dân thấp kém không có khả năng trí thức để đặt nghi vấn, đừng nói đến thay đổi. Ảnh hưởng này đặt nặng trên bờ vai của giáo dân từ ngày sinh cho đến ngày chết.
    Một nữ nhân Công Giáo ở miền Nam Ái Nhĩ Lan (miền Công giáo) tỉnh ngộ đã viết:
    “Những người nào chưa từng bị ở dưới cái ảnh hưởng này, mà từ nhỏ đã được cho phép tự do ngôn luận, tự do tri thức, và không thấy sự phân biệt giữa giáo sĩ và giáo dân, thì không thể, không bao giờ có thể hiểu được ảnh hưởng của các linh mục Công giáo La mã trên những giáo dân trong quốc gia của họ.” [4]
    Đúng vậy, nếu không có loại ảnh hưởng này, thì ở Việt Nam, năm 1954, Lansdale không thể thành công kéo 700000 giáo dân Công Giáo miền Bắc, đi theo Chúa và Đức Mẹ đã chạy trước, cha con kéo nhau chạy sau, di cư vào Nam để tránh Cộng Sản, và ở trong Nam, không thể có cảnh giáo dân Hố Nai, Gia Kiệm vác gậy gộc đi theo linh mục Hoàng Quỳnh làm loạn ở Saigon, hô to khẩu hiệu: “Thà mất nước, không thà mất Chúa”, cũng như cảnh giáo dân, kể cả con nít, nghe lời xúi dục bậy bạ của “bề trên” Ngô Quang Kiệt, vác gậy, búa, kìm, xà beng đi hiệp thông cầu nguyện xin cho ở Tòa Khâm Sứ, Thái Hà, Tam Tòa và cắm bậy cây thập ác ở Đồng Chiêm và trên đất công..
    Các hàng Giáo phẩm Công giáo thừa biết hơn ai hết là cầu nguyện xin cho chẳng bao giờ có kết quả, nhưng họ vẫn sử dụng mấy cái màn gọi là cầu nguyện hiệp thông để xách động quần chúng ngu dốt. Thật vậy, Nũ tu Công giáo Teresa ở Ấn Độ, được Công giáo quảng cáo tôn vinh như một bậc Thánh trong khi thực chất của bà Teresa chỉ là một tín đồ Công giáo cuồng tín, khai thác lòng thương người của quần chúng để kiếm nhiều triệu đô la, dấu kín trong những ngân hàng. Bà ta suốt ngày cầu nguyện nhưng rút cuộc cũng phải thú nhận là chẳng thấy hiệu quả gì. Sơ Susan Shields, từng phục vụ trong “Dòng Tu Thừa Sai Bác Ái” [sic] của Mẹ Teresa đã viết trong tờ Free Inquiry, số mùa đông 1998, tiết lộ rằng:
    Một phần nhiệm vụ của sơ là giúp trong việc giữ sổ sách về số tiền, lên đến nhiều triệu đô la, do những người có từ tâm đóng góp để bà Teresa làm việc "từ thiện" vì tin ở những lời tuyên truyền quảng cáo của dòng tu "Thừa sai bác ái", nhưng hầu hết những số tiền đó lại để trong nhiều ngân hàng khác nhau mà không dùng gì đến, trong khi các sơ hàng ngày phải đi ăn mày (beg) thức ăn của các thương gia địa phương, vì bà Teresa chủ trương "nghèo khổ" là một đức tính. Ngày nào xin không đủ thì các em mồ côi hoặc các bệnh nhân dưới sự "săn sóc" của hội "thừa sai bác ái" phải ăn đói. Đó là từ thiện hay sao? Với hàng triệu đô la nằm ì trong các ngân hàng mà bà Teresa vẫn thường xuyên kêu gọi đóng góp thêm cho công cuộc từ thiện của bà, thật là hoàn toàn vô nghĩa. [5]
    Ngoài ra, chúng ta có thể đọc trong cuốn “Tài Liệu Vatican II Với Những Ghi Chú, Bình Luận Của Những Giới Chức Có Thẩm Quyền Công Giáo, Tin Lành, và Chính Thống Giáo” [The Documents of Vatican II: With Notes and Comments By Catholic, Protestant and Orthodox Authorities, General Editor: Walter M. Abbott; p.336]
    Trong nhiều thập niên, mỗi năm vào tháng Giêng, Công giáo La-mã để ra 8 ngày để cầu nguyện cho sự thống nhất của Giáo hội [Ki Tô]. Cho đến năm 1959, ý tưởng chính trong những ngày đó, từ 8 đến 15 tháng 1, là hi vọng giáo dân Tin Lành sẽ “trở lại” Giáo hội chân thật duy nhất [nghĩa là Công giáo] và Chính Thống giáo sẽ không còn nữa. [6]
    Những ngày cầu nguyện hàng năm trên có mang lại kết quả gì không? Tin Lành vẫn là Tin Lành, Chính thống vẫn là Chính thống. Cho nên, chúng ta không lấy gì làm lạ khi thấy những màn hiệp thông cầu nguyện xin cho của Công giáo Việt Nam ở trong nước cũng như ở ngoại quốc chẳng mang lại một kết quả nào.Nhưng màn cầu nguyện hàng năm của Vatican cũng đã mang lại một kết quả ngoạn mục, đó là Chúa và Đức Mẹ đã đáp ứng như sau: mỗi ngày ở Nam Mỹ và Phi Châu có tới 8000 tín đồ Công giáo bỏ đạo để theo Tin Lành, nên giáo hoàng John Paul II đã mất bình tĩnh, và để lộ đạo đức tôn giáo chân thật của người chủ chăn Công giáo, người mà các tín đồ Công giáo vẫn thường gọi là “đức thánh cha” (Holy Father), “đại diện của Chúa Ki Tô trên trần” (Vicar of Christ), khi ông gọi những nhà truyền giáo Tin Lành ở những nơi đây là “những con chó sói đói mồi..gây bất hòa và chia rẽ trong những cộng đồng của chúng ta. (Newsweek, Feb. 12, 1996: John Paul II denounces them (the Protestant missionaries) as ravenous wolves...causing discord and division in our communities.).
    Nhưng chỉ vài năm sau, như tự tát vào chính mặt mình, ông ta đã thúc dục những giám mục của ông ta phải tăng gia nỗ lực đi cải đạo các tín đồ tôn giáo khác ở Á Châu. (BBC, Ibid.: The Pope called on the bishops to step up evangelisation in Asia).
    Chúng ta hãy đặt một câu hỏi: bản chất của những giám mục này có khác chi những nhà truyền giáo Tin Lành ở Nam Mỹ và Phi Châu mà ông ta đã gọi là “những con chó sói đói mồi gây bất hòa và chia rẽ”? Nếu những nhà truyền giáo Tin Lành đi cải đạo các tín đồ Công giáo, theo giáo hoàng John Paul II, là những con “Chó sói Tin Lành đói mồi”, thì những nhà truyền giáo Công giáo hay Tin Lành ở Á Châu hay đi đến Á Châu để cải đạo người khác phải chăng cũng chỉ là những con “chó sói Công giáo hoặc chó sói Tin Lành đói mồi”? Có gì khác biệt trong mục đích đi khuyến dụ người khác cải đạo của Tin Lành và của Công giáo?
    Đối với người phi Ki-Tô thì “chó sói Tin Lành” hay “chó sói Công giáo” hoàn toàn không có gì khác biệt, vì chúng có cùng một bản chất và cùng một mục đích, gây bất hòa và chia rẽ trong những cộng đồng phi Ki-Tô. Kinh nghiệm Việt Nam đã chứng tỏ sự truyền đạo Công giáo vào đất nước thân yêu của chúng ta, vốn vẫn sống trong tinh thần hòa hợp thuần nhất, đã gây ra những cảnh bất hòa, chia rẽ trong gia đình những kẻ tân tòng, và gây ra cảnh chia rẽ, Lương Giáo tàn sát lẫn nhau trong xã hội Việt Nam như Linh mục Lương Kim Định đã thú nhận. Và gần đây, sự truyền đạo Tin Lành trong một vài miền cao nguyên Việt Nam cũng đã gây ra những cảnh chia rẽ, xáo trộn trong xã hội. Ai có thể phủ bác được những sự kiện này, xin lên tiếng.
    Tôi xin quý độc giả để ý, từ “chó sói đói mồi” (ravenous wolves) là từ của giáo hoàng John Paul II gọi các nhà truyền giáo Tin Lành ở Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh chứ không phải là từ của tôi đưa ra. Tôi không hạ cấp đến độ gọi các nhà truyền giáo Ki Tô, Công giáo cũng như Tin Lành, là những con “chó sói đói mồi” mà chỉ phê bình và phân tích vấn đề.
    Trước tình trạng suy thoái thê thảm của Công giáo, để cứu giáo hội của Chúa, tín đồ Công giáo Việt Nam bèn xung phong đổ xô đi học nghề linh mục. Thật vậy, ở trường dòng Dubuque, Iowa, có 70 người theo học nghề linh mục thì có tới 43 người là Việt Nam, tỷ lệ hơn 60%. Đa số các tân linh mục ngày nay là Mít, Mễ, Ba Lan, Phi Luật Tân. Nhưng Giáo hoàng Benedict XVI lại không lấy đó làm vui, vì là “đại diện của Chúa Ki Tô trên trần” (Vicar of Christ) nên ngài biết hết, hiểu hết, và đã nhìn ra sự thật. Ngài phán: Niềm vui này đi kèm với một niềm cay đắng vì một số sẽ trở thành linh mục này chỉ tìm kiếm một đời sống thoải mái hơn. Trở thành linh mục, họ trở thành hầu như là một tộc trưởng của một bộ lạc, đương nhiên là họ được ưu đãi và có một đời sống khác[7]
    Nhưng Giáo hoàng không biết rằng làm linh mục Việt Nam thì đặc biệt hơn các linh mục Tây Phương nhiều, vì con chiên Việt Nam nổi tiếng là ngoan đạo, cho nên dù các linh mục có làm gì thì con chiên cũng không dám ho he. Một giám mục Việt Nam đã chẳng răn đe họ là: “Các con đừng có nói hành các cha mà mang tội với Chúa”“Đừng có phán xét các Cha để khỏi bị Chúa phán xét” hay sao. Nghe đến “mang tội với Chúa”“Chúa phán xét” là con chiên sợ rét run lên rồi, dù rằng Chúa đã chết cách đây 2000 năm và người ta đã tìm thấy bộ xương của “Chúa Cứu Thế” trong một tiểu quách ở Jerusalem, cùng với những bộ xương của vợ, Mary Magdalene, và của con, Judah, trong vài tiểu quách khác. Cho nên một số linh mục Việt Nam tự do thoải mái truyền giống thay vì truyền giáo (Xin đọc bức thư của nhóm đệ tử Linh Mục Nguyễn Hữu Trọng ở Việt Nam gửi giáo hoàng John Paul II và Hồng Y Phạm Đình Tụng), hay làm bất cứ điều gì khác mà không sợ con chiên tố khổ như ở Mỹ.]
    Tôi nghĩ rằng những tín đồ Công giáo Việt Nam nào còn có chút đầu óc thì cũng phải cảm thấy xấu hổ vì có một chủ chăn vô đạo đức như Benedict XVI mà mình vẫn được dạy phải cúi đầu “quên mình trong vâng phục”, và cảm thấy ngượng ngùng trước người ngoại đạo là tại sao mình vẫn còn ở trong một một đạo mà cái lịch sử tàn bạo ô nhục đẫm máu của nó là một sự kiện không thể chối cãi và các niềm tin trong đó đã không còn giá trị trong các xã hội văn minh tân tiến ngày nay. Tín đồ Công giáo không có cách nào để đặt mình ra ngoài những sự kiện lịch sử này, và dù muốn dù không, cái gánh nặng này sẽ còn tiếp tục đè nặng trên vai họ, dù họ có biết đến nó hay không. Nhưng điều bất hạnh là trên một số diễn đàn truyền thông Công giáo ở hải ngoại, chúng ta vẫn thấy các con chiên ngoan đạo tiếp tục tâng bốc ca tụng “Đức Thánh Cha” của họ, khoe chuyện phong thánh ở Ba Tây, theo truyền thống “mẹ Công giáo hát thì con Công giáo phải khen hay” từ nhiều đời cha truyền con nối của giáo dân Việt Nam, và vẫn huênh hoang tin rằng mình đang ở trong một “hội thánh”. Một số trí thức Công giáo vẫn tiếp tục ra công đề cao đánh bóng Công giáo là đạo của bác ái, của tình thương, và rất văn minh tiến bộ, không hề có chút mê tín nào, hiểu đạo bằng trí tuệ . Biết bao giờ họ mới thức tỉnh để nhận thức được rằng Ki Tô Giáo là một tôn giáo mê tín nhất hạng, là một sự đại lừa bịp đã đè nặng trên đầu nhân loại qua bao thế kỷ cho tới mấy thế kỷ gần đây, con người mới cất bỏ được gánh nặng đó trên đầu, và suy nghĩ lại tại sao mình còn cứ tự mình làm khổ mình, tiếp tục mang khối nặng đó trên đầu trên cổ..
    Ở Mễ Tây Cơ trước đây có luật cấm các Linh mục không được mặc áo chùng thâm ra đường và không được lập các trường học. Trong cuốn Freedom’s Foe – The Vatican, The Pioneer Press, London, Adrian Pigott, viết, trang 51: “Giáo sư đại học W. K. Clifford khuyến cáo: Nếu có một bài học lịch sử nào cho chúng ta thì đó là – Hãy giữ con cái tránh xa ông Linh mụcnếu không hắn sẽ làm cho chúng thành những kẻ thù của Nhân Loại.” [8] và đưa ra vài nhận định về linh mục như sau, trang 52:
    “Linh mục Công giáo La Mã chủ yếu là một điệp viên của Vatican, và bắt buộc phải chỉ đạo đàn chiên theo lệnh mà hắn ta nhận được từ những cố vấn chính trị của giáo hoàng. Hắn ta là cảnh sát của giáo hoàng – và cũng là người thu thuế của giáo hoàng…
    Thật là sai lầm đối với chúng ta khi qui trách quá đáng cho chính các linh mục, vì nhiều người trong họ là những người đáng kính mà có thể trong thâm tâm không thích phải thi hành nhiều hoạt động mà Vatican ra lệnh. [Theo lệnh của Vatican, giới giáo sĩ ở Đức, Ý và Pháp phải đứng ra ca tụng Hitler, Mussolini và Pétain (Pháp gian). Hồng Y Tổng Giám Mục ở Florence (Ý) còn hôn Mussolini trước quần chúng.] Nhưng kỷ luật sắt có thừa của Công giáo đến độ ảnh hưởng của linh mục Công giáo La Mã trên đàn chiên thường đưa đến cảnh khốn khổ “kẻ mù dẫn dắt người mù”. Là người Anh, người Mỹ, Peru, Ba Lan hay Cuba, giám mục và linh mục Công giáo đã hoàn toàn lệ thuộc Vatican để thi hành những huấn thị của những người ở trong cái Phòng Kín ở La Mã – ngay cả khi những lệnh đó có hại cho chính quốc gia của họ hay xúc phạm đến lý trí của họ. Nói cách khác, họ như là nô lệ trong hệ thống chính trị của Vatican. Không lạ gì, Công Giáo La Mã thành công nhất ở trong những nước thuộc Châu Mỹ La-Tinh, nơi đây người dân cả tin và mê tín; trong khi ở những nước miền Bắc, dân chúng có đầu óc độc lập, Công giáo chỉ là thiểu số.” [9]
    Những điều Adrian Pigott viết ở trên không phải là không có cơ sở nếu chúng ta chịu khó nghiên cứu sâu xa về Công giáo. Một trí thức Công giáo đạo gốc Việt Nam, Charlie Nguyễn, đã từng viết:

    Bảy triệu tín đồ Công giáo tại quốc nội là đạo quân thứ năm bản địa dưới sự lãnh đạo của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Hội đồng này do Vatican tuyển chọn và phong chức nên. Hội đồng Giám mục Việt Nam hiện nay gồm toàn những cán bộ tuyệt đối trung thành với Vatican. Họ sẵn sàng phản bội tổ quốc Việt Nam vì tổ quốc thật của họ là “nước Chúa Vatican”!.
    Giới linh mục dựa vào quyền năng thần thánh tự tạo của mình để làm phép ma thuật trong 6 bí tích của Công giáo, khai thác đầu óc yếu kém của tín đồ, và từ đó nắm giữ đầu óc tín đồ, chỉ đạo họ đi theo con đường “quên mình trong vâng phục” Vatican. Giáo hội Công giáo đã nhồi vào đầu óc tín đồ từ khi còn nhỏ, rằng tất cả những gì giáo hội bày đặt ra và bắt tín đồ phải tin đều là thật, và đó là những "bí tích" hay "nhiệm tích", nghĩa là những tích bí mật và màu nhiệm do Chúa đặt ra, cho nên tín đồ chỉ việc tin, không cần hiểu.
    Khi trí tuệ nhân loại chưa mở mang thì những cái gọi là "bí tích" hay “tín lý” (dogma) đó được tín đồ tin theo, không bàn cãi. Nhưng tiến hóa là một định luật của vũ trụ trong đó có con người, cho nên, với trình độ hiểu biết của con người ngày nay, những niềm tin mù quáng, vô căn cứ, hoang đường, phi lôgic, phản lý trí, phản khoa học v..v.. vào những "bí tích" trong Công Giáo không còn chỗ đứng nữa, ít ra là trong giới có học, trí thức và khoa học, ở trong cũng như ở ngoài giáo hội. Trong những xã hội Âu Mỹ, số người đi lễ nhà thờ giảm sút một cách rõ rệt. Điều này chứng tỏ những "bí tích" không còn hấp dẫn đối với những tín đồ có trình độ hiểu biết cao. Hiện tượng nhà thờ vắng khách ở Âu Châu là một sự kiện không ai có thể phủ nhận. Trong khi đó, tại những nước chậm tiến như Phi Châu, Nam Mỹ, Mễ Tây Cơ, Phi Luật Tân và một số ốc đảo ở Việt Nam cũng như trong những cộng đồng đông đảo người Việt di cư, trình độ dân trí còn thấp, cho nên tín đồ Công giáo vẫn còn đi lễ nhà thờ đông đảo và tin vào những cái gọi là "bí tích" mà Giáo hội dạy các tín đồ là do Chúa đặt ra, nhưng thực ra chỉ là Giáo hội đặt ra để tạo quyền lực tự ban cho giới chăn chiên trong việc kiểm soát và nắm giữ đầu óc tín đồ. Tuy nhiên, ngày nay có nhiều dấu hiệu cho thấy các quốc gia Phi Châu, Nam Mỹ và ngay cả trong những ốc đảo Công giáo ở Việt Nam, con người đã bắt đầu thức tỉnh, song song với sự mở mang dân trí trong những quốc gia này.
    Người Công giáo Việt Nam cần phải biết rõ nhiều hơn nữa về chính tôn giáo của mình để có thể thấy rằng, lệ thuộc Vatican, dù là về tâm linh là chuyện phi lý, không có cơ sở trong Thánh Kinh, khoan kể như vậy là tự đặt mình ra khỏi cộng đồng dân tộc, vì Vatican, như một quốc gia, là một ngoại bang, và như một tôn giáo, đã có một lịch sử đẫm máu hàng triệu người vô tội và một lịch sử không mấy tốt đẹp khi truyền vào Việt Nam, biến các tín đồ Công giáo Việt Nam thành tập đoàn những kẻ phản bội quốc gia, và gây nên sự bất hòa giữa Lương và Giáo mà theo Linh Mục Lương Kim Định, xem ra không sao xóa sạch được. Ngày nay, người Công giáo Việt Nam có khuynh hướng trở về với Dân Tộc, ít nhất là theo sự tuyên truyền của Giáo hội Công giáo. Nhưng đại khối dân tộc Việt Nam sẽ chưa vội tin những lời tuyên truyền của Giáo hội, mà sẽ để ý xem việc làm của Giáo hội có đi đôi với lời nói không. Qua những hành động huy động giáo dân, kể cả con nít và các bà già, tụ tập hiệp thông cầu nguyện bất hợp pháp ở một vài nơi như Tòa Khâm Sứ, Thái Hà, Tam Tòa v…v…, và vẫn cúi đầu tuân phục Vatican, thì chúng ta có thể thấy rõ là Giáo hội nói một đàng, làm một nẻo và không hề có thành tâm để trở về với dân tộc.. Đây là một vấn nạn mà người Công giáo Việt Nam nên để tâm suy nghĩ kỹ.
    Trong khi Ki Tô Giáo nói chung đang suy thoái trong các nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ thì Công Giáo và Tin Lành đều đặt nỗ lực vào việc mang những thứ đang dần dần bị phế thải ở Âu Mỹ để đi truyền đạo, xâm lăng văn hóa các nước Á Châu, trong đó có Việt Nam. Ở một vài địa phương ở Phi Châu và Á Châu, trong những vùng chậm tiến và nghèo khổ, nếu chỉ kể trên con số, Ki Tô Giáo lại có vẻ phát triển, tuy rằng những con số đó, so với mức gia tăng của dân số thì thực sự không phải là một dấu hiệu phát triển. Điều đáng buồn là có một số tín đồ Công giáo cũng như Tin Lành Việt Nam lại khoe khoang là số tín đồ của tôn giáo mình gia tăng, cũng như một số tân tòng Công giáo hay Tin Lành cũng khoe khoang là mình được vào trong “hội thánh”. Họ thường vinh hạnh khoe: nay có ông tu sĩ Phật giáo này bỏ Phật theo Chúa, mai có người kia làm chứng lời Chúa v..v.. nhưng tất cả đều chỉ là những nhân vật vô tên tuổi, không ai biết đến, và phần lớn là bịa ra làm chứng láo. Vấn đề là thực chất những điều này không phải là những điều đáng khoe khoang mà trái lại, đó là một sự biểu hiện của ô nhục và ngu đần (A badge of shame and ignorance). Tại sao? Vì thử hỏi, có gì đáng khoe khoang ở cái chuyện đi nhặt những niềm tin thuộc loại hoang đường mê tín mà Âu Châu và Mỹ Châu đang dần dần phế thải về làm của báu cho mình. Âu Châu và Mỹ Châu vốn là cái nôi của Ki Tô Giáo, nhưng ngày nay Ki Tô Giáo ở những phương trời này lại bị phá sản, như học giả Eliezer Berkovits đã viết về “sự phá sản đạo đức của nền văn minh Ki Tô Giáo và sự phá sản Tâm Linh của Ki Tô Giáo” (The moral bankrupcy of Christian civilization and the spiritual bankrupcy of Christian religion) trong cuốn “Đạo Do Thái Trong Thời Kỳ Hậu Ki Tô” (Judaism in the Post-Christian Era). Trong khi nhiều người đã thoát ra để tự thanh tẩy ký ức và để dứt bỏ sự dính líu của mình vào một tôn giáo có một lịch sử tàn bạo nhất thế gian, thì có người lại tự đâm đầu vào cái định chế tôn giáo mà lịch sử ô nhục của nó không ai có thể chối cãi. Đó có phải là điều đáng khoe hay là điều đáng thương hại và tội nghiệp?
    Giáo sư Nguyễn Văn Trung, một tín đồ Công giáo, đã nhận định về Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam: Tòa Thánh có đánh rắm cũng khen thơm đã nói lên sự thực về bản chất của Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam và cùng lúc, sự thành công của Giáo hội hoàn vũ đối với tuyệt đại đa số người Công giáo Việt Nam, một sự thực khá đau lòng đối với tuyệt đại đa số người dân Việt Nam trước sự bất hạnh của 7% dân số theo đạo, nạn nhân của sách lược “ngu dân dễ trị’ của một định chế hoàn toàn thế tục nấp sau bộ mặt tôn giáo. Charlie Nguyễn, một trí thức Công giáo đạo gốc, trong một gia đình theo đạo từ đầu, đã phải đau lòng mà viết rằng: Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam phải gánh phần lớn trách nhiệm trong việc nhốt những con chiên của mình vào những chuồng tâm linh tăm tối. Nhưng trách như vậy là Charlie Nguyễn đã lầm, vì đó là chính sách của Giáo hội Công Giáo hoàn vũ, và Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam chẳng qua chỉ gồm những thuộc hạ của Giáo hoàng và của tập đoàn chỉ đạo ở Vatican, và vì chính quyền lợi thế tục của họ mà họ phải duy trì chính sách này. Bởi vậy mà cho đến ngày nay mà tuyệt đại đa số tín đồ Công Giáo Việt Nam, kể cả một số trí thức Công Giáo, vẫn còn tin Giáo hoàng là đại diện của Chúa Giê-su trên trần, có quyền cho họ lên thiên đường hay tuyệt thông họ, và vẫn có những ông Linh mục như Linh mục Vũ Đức ở Detroit rao giảng: “Linh Mục là Chúa thứ hai” (Alter Christus), và sau khi được phong chức linh mục thì các linh mục “đương nhiên là Chúa Ki Tô” v..v.. Thật không có gì có thể lố bịch hơn. Đối với giới hiểu biết thì chẳng làm gì có Chúa thứ nhất, khoan nói đến hơn 5000 “Chúa thứ hai” đã từng đi cưỡng bách tình dục các nữ tu và trẻ con, cùng ăn cắp tiền của nhà thờ như tuần báo Time, số ngày 26 tháng 2, 2007, đã phanh phui, và phạm đủ mọi thứ tội như lịch sử đã ghi rõ.
    Đã đến lúc Công giáo Việt Nam cần phải thức tỉnh ra khỏi cơn mê, theo kịp đà tiến bộ trí thức của nhân loại, và nhận ra sự thật về Công giáo như Công giáo Tây phương. Người Việt Nam nổi tiếng là hiếu học, thông minh, chẳng lẽ lại cứ u mê mãi, không chịu học hỏi sự tiến bộ trí thức của thế giới hay sao? Do đó, Nhà Nước phải có bổn phận giáo dục người Công giáo để họ biết rõ sự thật về đạo Công giáo và hi vọng họ có thể trở về với dân tộc. Hiện nay trên thế giới và trên Internet có tràn ngập những tài liệu về Công Giáo, Nhà Nước cần phải phổ biến càng nhiều càng tốt những tài liệu này qua dịch thuật. Tài liệu bằng tiếng Việt Nam cũng không thiếu. Không có lý do gì mà Nhà Nước không cho phép xuất bản phổ biến những tài liệu này. Công giáo dù chiếm 7% dân số và tín đồ còn rất cuồng tín nhưng trong thời đại này cũng không có cách gì có thể ngăn chặn sự phổ biến những tài liệu nghiên cứu nghiêm chỉnh về Công giáo, những tài liệu đã được phổ biến rộng rãi trong thế giới Tây phương, trong những quốc gia có thể gọi là đa số theo Ki Tô Giáo. Tôi cũng hi vọng Nhà Nước Việt Nam hãy nghĩ tới tương lai xa của đất nước, đặt trọng tâm trên sự bảo tồn, gìn giữ nền văn hóa truyền thống của Việt Nam, và sáng suốt cho phép phổ biến những tác phẩm nghiên cứu về tôn giáo, mọi tôn giáo, đặc biệt là Ki Tô Giáo. Thực ra, không có gì phải lo ngại về vấn đề này vì trình độ người dân Việt Nam ngày nay đã đủ để có thể chấp nhận mọi sự kiện về tôn giáo. Nước Mỹ có khoảng 56% Tin Lành và 23% Công Giáo; Nước Pháp có khoảng 80% theo Công Giáo; Nước Anh phần lớn theo Anh Giáo; Nước Đức có 34% là Tin Lành, 34% là Công Giáo v..v.., nhưng trong các nước này, có tràn ngập những tác phẩm nghiên cứu về Ki Tô Giáo nói riêng, về mọi tôn giáo nói chung, được phổ biến rất rộng rãi, và tuyệt đối không xảy ra vấn đề xung đột giữa các tôn giáo hay các hệ phái Ki Tô khác nhau. Đây là một tấm gương mở mang dân trí mà Việt Nam cần phải noi theo trong thời đại mới ngày nay.
    Người Công giáo Việt Nam có thể tự thức tỉnh. Nhưng thức tỉnh như thế nào? Dễ thôi, chỉ cần xem Công giáo Tây phương đã thức tỉnh như thế nào. Sau đây là một số nhận thức để Công giáo Việt Nam có thể thoát ra khỏi sự mê muội:
    Nhận thức được rằng: không có quốc gia Viiệt Nam thì không có người Công Giáo Việt Nam. Vậy bổn phận trên hết của người dân là phải đối với quốc gia dân tộc. Tổng Thống Mỹ Kennedy, tín đồ Công Giáo, cũng đã phải tuyên bố trước quốc dân là nhiệm vụ chính của ông ta là phục vụ nước Mỹ, không phải là Vatican, và Quốc hội Mỹ cũng như người dân Mỹ thường xuyên kiểm điểm đường lối chính trị của ông ta. Không thể vì niềm tin tôn giáo của mình mà từ bỏ quốc gia, phản bội dân tộc, điều mà Công giáo Việt Nam đã làm trong quá khứ, nhất là khi niềm tin đó thuộc loại không thể chứng thực vì những sự thật hiển nhiên đã được phơi bày. Đã đến lúc Công giáo Việt Nam cần phải sám hối về những hành động phản bội dân tộc của Công giáo trong quá khứ mà lịch sử đã ghi rõ và long trọng thề trước Chúa của Công giáo là sẽ không tái phạm. Sự lệ thuộc và tuân phục Vatican là bức tường đá ngăn cách giữa Công giáo Việt Nam và dân tộc. Công giáo Việt Nam phải có can đảm phá đổ bức tường đó. Đây là điều kiện tất yếu để Công giáo thực sự trở về với dân tộc như Công giáo đã từng tuyên truyền.
    Nhận thức được rằng: Giáo hoàng John Paul II đã chính thức công nhận trước thế giới Big Bang là nguồn gốc của vũ trụ, Tiến Hóa là nguồn gốc của con người, và không làm gì có tội tổ tông, không làm gì có thiên đường trên các tầng mây, không làm gì có hỏa ngục dưới lòng đất. Như vậy, mang con trẻ đi rửa tội là chuyện mê tín, và hi vọng lên thiên đường sau khi chết chỉ là một ảo vọng.
    Nhận thức được rằng: Chúa Giê-su thực ra chỉ là một thường dân Do Thái sống với ảo tưởng mình là con Thượng đế của người Do Thái và được Ki Tô Giáo tôn lên làm Chúa Cứu Thế. [Russell Shorto: Kết luận của đa số học giả ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô đã nghiên cứu về nhân vật trong 200 năm nay]. Do đó vai trò cứu chuộc hay cứu rỗi của Chúa Giê-su chỉ là mánh mưu của Giáo hội để mê hoặc tín đồ, không làm gì có thực. Cũng vì vậy mà Giám mục John Shelby Spong đã đòi phải dẹp bỏ vai trò cứu thế (rescuer) của Giê su [Xin đọc bài “Giê-su Như Là Đấng Cứu Thế: Một Hình Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ”: http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN37.php , của Giám mục John Shelby Spong] , và Linh Mục James Kavanaugh đã coi vai trò cứu rỗi của Giê-su chỉ là một huyền thoại [Xin đọc bài “Huyền Thoại Cứu Rỗi” [http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN36.php,.] của Linh Mục James Kavanaugh.]
    Nhận thức được rằng: tất cả những gì viết trong bốn Phúc Âm về Giê-su sinh ra từ một nữ trinh, đã làm những phép lạ, chịu đóng đinh để chuộc tội cho nhân loại, chết đi rồi sống lại và bay lên trời, chỉ là những huyền thoại của dân tộc Do Thái trong thời bán khai. [Kết luận của một số Linh mục, Mục sư và các nhà Thần Học Ki Tô Giáo và đa số các học giả nghiên cứu về Ki Tô Giáo]
    Nhận thức được rằng: “bánh thánh” không phải sự biến thể của thịt và máu Chúa mà đó chỉ là trò ma thuật của giới chăn chiên để huyễn hoặc đầu óc cả tin của tín đồ. Không làm gì có chuyện một mẩu bánh làm bằng bột thường, sau khi được ông linh mục hoa tay làm phép, lẩm bẩm vài câu bằng tiếng La-Tinh – HOC EST ENIM CORPUS MEUM –, mẩu bánh đó đã được thánh hóa và trở thành đích thực là thịt và máu Chúa của họ. Đó là sự lừa bịp của giới chăn chiên chứ không phải là sự thực, và niềm tin vào đó không phải là niềm tin dựa vào “trí tuệ” mà chỉ là niềm tin mù quáng, thiếu hiểu biết. David Hume đã nhận định: Trong tất cả các tôn giáo thì tôn giáo vô lý và vô nghĩa nhất là tôn giáo mà những người hiến thân cho Chúa, sau khi đã tạo ra Chúa, lại đi ăn thịt Chúa của họ.(Of all religions, the most absurd and nonsensical is that whose votaries eat, after having created, their deity.) Để giúp các tín đồ Công giáo thức tỉnh, hiểu rõ về cái “bí tích” Ban Thánh Thể này, sau đây là nhận định của một tín đồ Công giáo Việt Nam đạo gốc, ông Charlie Nguyễn. Trong cuốn Công Giáo: Huyền Thoại & Tội Ác, ông Nguyễn viết, trang 9 – 11:
    Cũng như tại các nhà thờ Công giáo ngày nay, các linh mục làm lễ MISA, có nghĩa bữa tiệc tế thần Jehovah (Đức Chúa Cha) bằng thân xác của Đức Chúa Con (Jesus). Sau khi Chúa Cha ăn thịt Chúa Con xong thì đến phiên các cha cố và giáo dân cùng chia nhau ăn bánh thánh và uống rượu nho mà họ gọi là “rước lễ” hoặc “Phép Mình Thánh Chúa” (Corpus Christi). Giáo lý Công giáo buộc mọi tín đồ phải tin rằng lúc rước lễ là lúc họ đang ăn thịt thật và uống máu thật của Jesus đã chết thối cách đây gần 2000 năm! Đó là nghi lễ tôn giáo trọng đại của những người tự hào là “văn minh” đang sống trong một nước “mọi rợ” phương Đông là nước Việt Nam! Nhờ phúc đức của ông bà tổ tiên nhân hậu để lại nên dân tộc Việt Nam chỉ có khoảng 8% dân số hồ hởi phấn khởi chạy theo nền văn minh khoái khẩu món thịt người (Cannibal). Số còn lại 92% dân số Việt Nam may mắn đều là dân “mọi rợ” (theo nghĩa “mọi rợ” của sách kinh Công giáo dưới cặp mắt của các cố đạo thừa sai cũng như dưới cặp mắt mơ huyền của các cố đạo bản xứ mất gốc.)
    Theo sử gia Hislop thì cái ý nghĩ quái đản về sự ăn thịt Chúa của người Công giáo là học đòi tục lệ của tà giáo mọi rợ ăn thịt người... (The idea of eating the flesh of God was of cannibalistic inception)..
    Sử gia trứ danh Durant, với những bộ sử lớn lao của ông đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới, đã viết: “Niềm tin về sự biến thể của bánh và rượu thành thịt và máu của Chúa Jesus trong nghi lễ Công giáo La mã là một trong những nghi lễ cổ xưa nhất của những tôn giáo thời ăn lông ở lỗ” (The belief in transubstantiation as practiced in the Roman Catholic Church is one of the oldest ceremonies of primitive religion. – The Story of Civilization: The Reformation, p. 749)
    Có thể có một số người Công Giáo Việt Nam, vốn không bao giờ sử dụng đến đầu óc, cho rằng Charlie Nguyễn chẳng qua chỉ là một “phản đồ” tầm thường, không đáng kể. Không hẳn vậy, nhận định của Charlie Nguyễn rất sát với những nhận định của một số linh mục và học giả Công giáo như chúng ta sẽ thấy sau đây.
    Học giả Công giáo Joseph L. Daleiden, sau khi nghiên cứu về những niềm tin trong dân gian cổ xưa, đã viết trong cuốn Sự Mê Tín Cuối Cùng như sau:
    Đã có một thời tôi tin vào cái tục lệ sơ khai mà Cicero đã viết trong thế kỷ thứ nhất trước thời đại thông thường (thật lâu trước khi Ki-Tô Giáo thực hành tục lệ này): “Làm sao mà một người có thể đần độn đến độ có thể tưởng tượng được rằng cái mình ăn đúng là Thiên Chúa?” Điều biện bạch duy nhất của tôi là, đó là trước khi tôi phát triển khả năng suy lý mà ngày nay tôi có. Hơn nữa, tôi không có cách nào để biết rằng (vì nền giáo dục đặc biệtCa-Tô. TCN) những nhà nhân chủng học và các sử gia đã truy nguyên ra rằng, sự thực hành cái lễ tiết ăn thịt Thiên Chúa đã là tín ngưỡng của con người trong buổi sơ khai, tin rằng mình có thể có được những uy lực của những vật mà mình ăn.
    Sau cùng, tôi đã bị lừa bởi trò bịp trong môn nghĩa ngữ học rất thịnh hành trong bộ môn giả khoa học là siêu hình học. Từ “biến thể” (trong lễ ban thánh thể, cho rằng bánh và rượu sẽ biến thành thịt và máu Chúa do sự phù phép của linh mục. TCN) gây nên sự khá kinh sợ cho những đầu óc chất phác. Khi từ này lại do một người có thẩm quyền như một linh mục, mô tả tại sao bánh và rượu có thể đổi cái “thể” mà không đổi “tính chất” thì rất dễ làm cho người ta tin. Hơn nữa, ai mà chẳng thích trò ảo thuật. Nó chắc chắn là hấp dẫn hơn là đi đào sâu vào triết lý thực nghiệm của David Hume hay sự phân tích sắc xảo của Ludwig Feuerbach. Chính hai người này đã là những người đầu tiên vạch rõ điều hiển nhiên như sau: cho rằng một vật (thể) hiện hữu mà không có thuộc tính (tính chất) thì cũng ngớ ngẩn như là cho rằng ngược lại, nghĩa là có “tính chất” mà không có “thể”. (hãy chỉ cho tôi một cái “không có gì (nothing) mà lại dài”, hoặc “không có gì mà lại xanh hay cứng). Do đó, không có những vật thể hiện hữu riêng biệt nào có thể “biến thể” một cách có tính cách ảo thuật.(Tác giả viết đoạn này quá ngắn gọn nên hơi khó hiểu. Vấn đề tác giả muốn nói là: bánh và rượu có những tính chất riêng của nó, thí dụ như bánh thánh thì có vị của bột, và rượu thì có vị ngọt hoặc hơi chát của rượu. Tín đồ ăn bánh và uống rượu chỉ thấy vị (tính chất) của bánh và rượu, chứ không thấy vị của thịt và máu Chúa, cho nên chuyện “biến thể” là chuyện không tưởng. TCN). Một lần nữa, các nhà thần học đã thành công trong việc làm mê mẩn đầu óc con người bằng những từ vô nghĩa. Tất cả những bí tích, giống như những ngày lễ, biểu tượng của Ki Tô Giáo, chỉ là những toan tính đơn giản để thích nghi với những tín ngưỡng dân gian. Đối với những người không có thiên kiến, có đầu óc suy lý, thì chúng ta có tràn ngập những bằng chứng để đi tới kết luận này. [10]
    Linh mục Joseph McCabe cũng có cái nhìn khác về lễ ban Thánh Thể vì trong thời gian trên 20 năm, ông ta đã làm lễ này không biết bao nhiêu lần trong các nhà thờ. Trong cuốn Sự Thực Về Giáo Hội La Mã ông viết như sau:
    Bí tích ban Thánh Thể - nghĩa là, giáo điều về sự "hiện diện thực" của Chúa Ki Tô trong bánh và rượu đã được Thánh hóa - đích thực là niềm tin chính của Giáo Hội Công Giáo ...Vì trên cái sở hữu vô gíá về một đời sống thực của Thiên Chúa trong họ, và trên cái bản chất kỳ lạ của chế độ giáo hoàng, mà các tín đồ Công Giáo có thái độ ưu việt nực cười đối với tất cả phần còn lại của nhân loại. Và bí tích này là một trong những niềm tin ấu trĩ và điên rồ nhất được duy trì trong một tôn giáo văn minh.
    Giáo điều về lễ ban Thánh Thể của Giáo Hội thường không được rõ ràng. Không phải vì Giáo hội trình bày sai nhưng vì sự kiện là: một người ngoại đạo không tin được rằng bất cứ một con người hiện đại có học thức nào lại có thể tin được những điều như vậy. Họ biết Giáo hội dạy rằng có sự hiện diện đích thực của Thiên Chúa trong bí tích ban Thánh Thể. Đã quen thuộc với niềm tin rằng Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, họ không thấy một ý nghĩa trí thức to lớn nào trong bí tích này. Họ không biết, và không thể bị thuyết phục, rằng những tín đồ Công Giáo tin, và giáo hội của họ đoan chắc một cách giáo điều rằng, cái ở trước mắt họ rõ ràng là bánh và rượu, sau vài lời Thánh hóa, lại không phải là bánh và rượu, mà là chính nhục thân sống của Chúa Giê-su Ki-Tô, từ đầu tới chân.
    Trong buổi đầu của thời Trung Cổ, cũng như trong nhiều triệu tín đồ Công Giáo vô học ngày nay, giáo hội không cần tới một sự giải thích nào về sự biểu hiện của bánh và rượu, cũng như không cần tới một toan tính giải thích nào về tại sao nhục thân của Chúa Ki Tô cùng lúc ở trên thiên đường và hàng triệu nơi khác trên trái đất. Đối với những đầu óc như vậy, họ có thể tin bất cứ điều gì. Mọi giải thích cũng rườm rà như mọi lý luận.
    Thật là rất thuận tiện. Bằng một hoạt động siêu nhiên, trong buổi lễ, cái "thể" vô hình của bánh và rượu được thay thế bằng cái "thể" của nhục thân thực, sống động của Chúa Ki Tô. Còn về tại sao nhục thân của Chúa Ki Tô có thể cùng lúc ở hàng triệu nơi khác nhau, và toàn bộ nhục thân này hiện hữu trong một mẩu bánh, thì câu trả lời là - hãy cúi đầu tuân phục bí nhiệm của sự "biến thể". [11]
    Học giả Công Giáo người Pháp Henri Guillemin cho bí tích này là một trò ảo thuật của giáo hội bày đặt ra và viết trong cuốn Cái Giáo Hội Khốn Nạn (Malheureuse Église, 1992) như sau:
    "Bằng vài lời lẩm bẩm, giáo hội gài vào trong một mẩu bánh thân thể, thân thể thực sự bằng xương bắng thịt của Giê-su Ki Tô để cho tín đồ dùng qua đường ăn uống (tác giả muốn nói đến bí tích "ban thánh thể". TCN)". [12]
    Nhận thức được rằng: cái mà người Công giáo gọi là “thánh giá” thực ra chỉ là , tin rằng đó là biểu tượng “cứu rỗi”, nhưng không hề biết là cây gỗ hình chữ thập dùng để đóng đinh Chúa Giê-su chỉ tượng trưng cho một loại hình phạt tra tấn và hành quyết man rợ nhất của La Mã khi xưa. Như vậy có phải là mê tín dị đoan không? Nếu trong lịch sử loài người, chỉ có một mình Giê-su bị đóng đinh trên cái giá chữ thập thì may ra, may ra thôi, còn có người có thể tin đó là một biểu tượng “cứu rỗi” nếu họ nhắm mắt tin theo nền thần học của Ki Tô Giáo. Những Tân Ước viết rất rõ là Giê-su bị đóng đinh trên giá hình chữ thập cùng lượt với hai tên ăn trộm ở hai bên. Ngoài ra trong lịch sử còn có không biết bao nhiêu người cũng đã bị hành quyết như vậy. Vậy cái giá nào gọi là “thánh giá”, tại sao chỉ tôn sùng một cái giá mà Giê-su bị đóng đinh trên đó trong khi thực sự chẳng ai biết cái giá đó là cái nào, có gì khác biệt với các giá khác không. Và cái giá đó thánh ở chỗ nào. Một học giả nghiên cứu cổ sử Do Thái đã viết “Cây thập ác là biểu tượng của một cách hành hình man rợ, không phải là biểu tượng của cứu rỗi” [The cross is a symbol of barbarous torture, not salvation].
    Thật vậy, trong bài “Cái Khố Của Jesus Trên Thập Giá”, Charlie Nguyễn, một trí thức Công giáo đạo gốc, đã viết về cây thập giá như sau:
    Thập giá là một dụng cụ giết người hết sức dã man, thường được các đế quốc cổ Hy Lạp và cổ La Mã sử dụng. Đây là một loại cực hình đặc biệt mà người La Mã và Hy Lạp chỉ dùng riêng cho các nô lệ hoặc dân các nước thuộc địa nổi loạn chứ không áp dụng cho các công dân của họ. Trước khi bị đóng đinh, các tội nhân không phân biệt nam nữ, đều bị lột trần truồng, tuyệt đối không có một mảnh vải nhỏ nào che thân. [Do đó, cái khố Giê-su mang trên cây thập giá là sản phẩm nghệ thuật sau này để che đậy (cover-up) sự kiện Giê-su là người Do Thái đã cắt bì, theo giám mục Peter de Rosa trong cuốn Vicars of Christ. TCN] Khi bị treo trên thập giá, sức nặng của cơ thể làm cho các vết đinh đóng trên tay chân bị căng xé khiến tội nhân bị đau nhức cùng cực nhưng không chết. Tội nhân phải sống để chịu những cơn đau buốt liên tục hành hạ trong một thời gian dài. Chỉ khi nào tội nhân kiệt sức không thể nâng đầu lên được nữa thì đầu sẽ cúi gằm xuống khiến cằm đụng vào ngực. Lúc đó tội nhân sẽ từ từ bị nghẹt cổ họng và chết vì ngộp thở (air-suffocation) chứ không chết vì bị chảy hết máu. [Một hình ảnh khủng khiếp của nạn nhân trên cây thập giá như vậy mà người ta vẫn thản nhiên đeo lủng lẳng trên cổ đủ mọi cỡ lớn nhỏ của cây thập giá đó, và đi cắm bậy nó ở khắp nơi, những nơi không được phép cắm, coi nó như là một biểu tượng tôn giáo thiêng liêng, thật là khó hiểu và mê muội hết sức. TCN]
    Nhận thức được rằng: bí tích “rửa tội” bắt nguồn từ huyền thoại cổ xưa của dân tộc Do Thái về tội tổ tông do Adam và Eve truyền xuống. Nhưng ngày nay, trước những sự tiến bộ của khoa học đưa đến sự hiểu biết chính xác về nguồn gốc và tuổi của vũ trụ cùng con người là do sự tiến hóa của các sinh thể ban khai trải qua hàng tỷ năm mà chính Giáo Hoàng John Paul II cũng phải công nhận trước thế giới thuyết Big Bang và thuyết Tiến Hóa thì con người ngày nay đã nhận ra một sự thật, cất bỏ được cái gánh nặng “tội tổ tông” đã đè trên vai các tín đồ qua nhiều thế kỷ.
    Thật vậy, nhân loại không sinh ra trong tội lỗi, không ai cần đến sự “cứu rỗi” của Giê-su, như chính giám mục Tin Lành John Shelby Spong đã khẳng định trong cuốn Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Không Thì Chết (Why Christianity Must Change or Die) như sau:
    "Nhân loại chúng ta không sống trong tội lỗi. Chúng ta không sinh ra trong tội lỗi. Chúng ta không cần phải rửa sạch cái tì vết tội tổ tông trong phép rửa. Chúng ta không phải là những tạo vật sa ngã, sẽ mất đi sự cứu rỗi nếu chúng ta không được rửa. Do đó, một đấng cứu thế có nhiệm vụ khôi phục tình trạng tiền sa ngã của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước-thời-Darwin và một sự vô nghĩa sau-thời-Darwin." [13]
    Như vậy, mang đứa con nít sơ sinh chưa biết gì ngoài việc ngủ, ị, bú, tè, và khóc đến nhà thờ để cho mấy ông Linh mục rửa cái tội mà nó không hề có là chuyện mê muội lạc hậu.
    Nhận thức được rằng: “tuyệt thông” hay “dứt phép thông công” của Giáo hội thực sự là vô giá trị. Đối với những tín đồ thấp kém, nhẹ dạ, cả tin, "tuyệt thông" hay "dứt phép thông công" là một vũ khí hù dọa hữu hiệu, vì họ đã được nhồi vào đầu từ khi con nhỏ là muốn hiệp thông với Chúa thì phải đi qua các trung gian như Linh mục, Giám mục, Giáo hoàng hay "Tòa Thánh". Nhưng đối với giới trí thức, ngay cả trong giáo hội, thì đó chỉ là một biện pháp hù dọa đáng khinh, vì nó vô giá trị, vô nghĩa, lỗi thời, và nhất là dựa vào một quyền lực tự phong, không có một căn bản nào có thể thuyết phục được những người có đầu óc. Thật vậy, trong cuốn Thượng đế Chưa Chết: Từ Sự Sợ Hãi Tôn Giáo Đến Sự Tự Do Tâm Linh (God Lives: From Religious Fear To Spiritual Freedom), Linh Mục James Kavanaugh đã vạch rõ cho chúng ta thấy bản chất và ý nghĩa của "tuyệt thông" như sau, trang 39-40:
    Tôi thấy khó mà có thể tin được là trong thời đại kỹ thuật không gian này mà một đoàn thể tôn giáo (Ca-Tô giáo Rô-ma. TCN) lại có thể quá lỗi thời để tin rằng một hình phạt thuộc loại huyền thoại như vậy vẫn còn có ý nghĩa gì đối với con người.
    ...Tuyệt thông, trong nhiều thế kỷ, đã là vai trò của giới quyền lực đóng vai Thượng đế . Đó là sự chối bỏ sự tự do suy tư của con người một cách vô nhân đạo và phi-Ki-tô. Nhưng nhất là, nó đã là nỗ lực điên cuồng của một quyền lực, vì quá lo sợ mất đi quyền lực của mình, nên phải kiểm soát tín đồ thay vì hướng dẫn họ đi tới một tình yêu thương tự do và trưởng thành.
    Tuyệt thông toan tính biến sự thực chứng tôn giáo thành một trại huấn luyện quân sự trong đó sĩ quan phụ trách nhào nặn lên những người máy trung thành bằng cách làm chúng ngạt thở bởi giam hãm và sỉ nhục. Có thể những phương pháp này có nghĩa trong việc huấn luyện con người để chiến đấu ngoài mặt trận. Những phương pháp này thực là trẻ con và bất lương khi xử lý với sự liên hệ của con người đối với Thượng đế; nhưng thật không thể tin được là chúng vẫn còn tồn tại. [14]

    Tôi cho rằng từng ấy nhận thức cũng đủ để cho người Công Giáo Việt Nam có thể tự thức tỉnh, nếu họ muốn, thức tỉnh để cất bỏ được cái vòng kim cô “cứu rỗi” đã xiết chặt trên đầu, gánh nặng “Thiên Chúa’ đè trên vai, và nhất là những bàn tay sắt bọc nhung của Vatican đang xiết chặt yết hầu họ.
    Thật vậy, trong cuốn Thoát Ly Khỏi Thiên Chúa: Lấy Lại Khả Năng Tìm Hiểu (Freedom From God: Restoring The Sense of Wonder, Almador Pub., 2001), Mục sư Harry Willson viết, trang 55:
    "Trong đầu óc của rất nhiều người biết suy tư, lương thiện và có thiện chí, Ki Tô Giáo đã trở thành không còn thích hợp, vì nó đòi hỏi con người dự phần quá nhiều vào những điều vô nghĩa." [15]
    Harry Willson viết cuốn sách trên để khuyến khích tín đồ hãy theo gương ông, cất cái gánh nặng Thiên Chúa ra khỏi vai họ (Get God off your back). Ông coi đó là một sự giải phóng:
    Hãy nghĩ về hình ảnh Thượng đế đi vào một hố đen của thập niên 60 với "Thượng đế đã chết". Đừng kể đến phái bảo thủ Ki Tô vì trong đó không có sự suy tư. Đây là một cuốn sách đi vào qua cái hố đen ấy và đi ra ngoài đầu kia - đến sự giải phóng. Sự thách đố này là để cho những con người biết đọc và thích suy nghĩ, và còn có thể có khả năng thắc mắc, tìm hiểu. Không khí trong lành đó thật là kỳ diệu.
    Các bạn cũng có thể được tự do. Các bạn có thể bác bỏ cái quyền năng (của Thượng đế) đó, và dẹp bỏ những ngón tay đang bóp nghẹt yết hầu của các bạn. Để cho các bạn có thể thở![16]

    THAY LỜI KẾT:
    Chừng nào mà Công giáo Việt Nam vẫn còn mê, không chịu thức tỉnh, thì chừng đó Công Giáo Việt Nam sẽ vẫn là một vấn nạn cho Quốc gia Dân tộc Việt Nam. Những vụ Công giáo làm càn ở Tòa Khâm Sứ, Thái Hà, Tam Tòa, Đồng Chiêm v…v… nấp sau bộ mặt tôn giáo cho những mục đích chính trị và thế tục đã chứng tỏ rõ ràng như vậy.
    Trong hai Phần viết ở trên, chúng ta đã thấy rõ các tín đồ Công giáo đã bị lừa dối bởi một chính sách nhồi sọ tinh vi, xảo quyệt, của những giáo hội Công Giáo mẹ cũng như địa phương, khai thác sự yếu kém về tinh thần cũng như về hiểu biết. Trong quá khứ Công giáo đã thành công đưa ra cái mà họ gọi là “đức vâng lời” để nô lệ hóa tín đồ trong vòng “quên mình trong vâng phục” những thần quyền giả tạo tự phong của giới giáo sĩ như giám mục, linh mục trong Công Giáo, và vào vòng tin bướng tin càn vào những điều sai lầm, lỗi thời, hoang đường, phi lô-gic, phản lý trí, phản khoa học v..v.. trong Thánh Kinh, cũng như của Giáo hội, mà Giáo hội cho rằng không thể sai lầm vì đó đều là những lời mạc khải của Thiên Chúa,. Nhưng, như là một quy luật của thế gian, không có gì có thể ngăn cản được những bước tiến bộ trí thức của nhân loại, do đó, chúng ta đã biết, Công Giáo đang ở trong tình trạng suy thoái không phương cứu vãn.
    Trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại Công Giáo bắt buộc phải suy thoái, vì căn bản Công Giáo là một tôn giáo thuộc loại mê tín nhất thế gian, nhốt tuyệt đại đa số tín đồ vào một “đức tin” (faith) không cần biết không cần hiểu. Sự tiến bộ trí thức của nhân loại đã khiến cho không ít tín đồ và một số các vị lãnh đạo Ki Tô Giáo nhận ra sự thật cay đắng này. Những niềm tin căn bản của Ki Tô Giáo nói chung, ví dụ như chuyện Thiên Chúa sáng tạo ra vũ trụ trong 6 ngày cách đây khoảng 6000 năm, chuyện vườn địa đàng Eden, Adam và Eve sa ngã tạo nên tội tổ tông, Chúa Giê-su sinh ra từ một nữ trinh, bị đóng đinh trên thấp giá chết đi rồi sống lại sau ba ngày và rồi 40 ngày sau đó bay lên trời ngồi bên phải của Chúa Cha, khả năng chuộc tội và cứu rỗi của Giê-su v..v.., tất cả đều không còn giá trị trong giới hiểu biết và trí thức ngày nay. Bởi vậy nên một số các bậc lãnh đạo trong Ki Tô Giáo nói chung, Công giáo cũng như Tin Lành, cũng như một số học giả trí thức Ki Tô Giáo đã cố gắng nghiên cứu, viết sách, trình bày sự thật để giáo dục những tín đồ Ki Tô Giáo đáng thương của họ. Điều này đã góp phần lớn trong sự suy thoái của Ki Tô Giáo trên thế giới. Sau đây là vài kết quả nghiên cứu điển hình của họ.
    Cốt tủy của Công Giáo không phải là dạy tín đồ làm lành tránh ác như một số giáo dân kém hiểu biết thường đưa ra luận điệu “tôn giáo nào cũng tốt, cũng dạy người ta làm lành tránh ác” để bảo vệ tôn giáo của mình. Chúng ta đã biết theo Công Giáo cũng như Tin Lành dạy, con người được Chúa “cứu rỗi” không phải vì đã làm lành tránh ác, sự cứu rỗi tùy thuộc hứng của Thiên Chúa, muốn ban ân sủng cho ai thì cho. Điều kiện cần và đủ để được cứu rỗi là phải tin Chúa, nếu không tin thì dù làm lành tránh ác cách mấy đi chăng nữa thì cũng bị Chúa đầy xuống hỏa ngục để bị thiêu đốt bởi ngọn lửa vĩnh hằng. Trong thời Trung Cổ, những thập tự quân, được giáo hoàng giải mọi tội lỗi và cấp vé cho lên thiên đường sau khi chết, để đi tàn sát những người Hồi Giáo, Do Thái Giáo và Ki-Tô lạc đạo, nghĩa là những người không tin theo giáo lý Công Giáo, không thần phục Công Giáo. Vậy thì “làm lành tránh ác” ở chỗ nào?? Lịch sử Công giáo trong suốt 2000 năm nay là một lịch sử ô nhục với những cuộc “thánh chiến”, những tòa hình án xử dị giáo, những cuộc xâm lăng chinh phục các nước nghèo kém mở mang, và gần đây các vụ giới linh mục hiếp dâm các “sơ” trong 23 quốc gia và lạm dụng tình dục các trẻ em v..v… Vậy “làm lành tránh ác” ở chỗ nào.
    Cốt tủy giáo lý Ki Tô dựa vào nền thần học Ki Tô Giáo, và nền thần học này dựa vào sự diễn giải Thánh Kinh của giáo hội và những điều giáo hội bịa đặt ra. Đại để là dựa theo Cựu Ước, Chương Sáng Thế Ký: Chuyện vườn địa đàng nơi đây Adam và Eve ăn trái cấm nên tạo thành tội tổ tông, bị Chúa Cha theo đuổi phạt cả con cháu hết đời này đến đời kia. Rồi Thiên Chúa cho người con duy nhất là Giê-su xuống trần, chịu khổ nạn, bị đóng đinh trên cây thập giá để chuộc tội cho nhân loại. Và những người nào tin vào Giê-su thì sẽ được cứu rỗi phần hồn, lẽ dĩ nhiên là sau khi chết. Nhưng tất cả những chuyện hoang đường mê tín của thời bán khai này ngày nay đã không còn chỗ đứng trước sự hiểu biết của nhân loại, ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki-Tô, trừ những tín đồ có đầu mà không có óc.
    Nhìn vào số tín đồ trong các nước kém mở mang ở Phi Châu, Nam Mỹ và Phi Luật Tân ở Á Châu, chiếm hơn 70% tổng số tín đồ Công Giáo hiện nay trên thế giới, chúng ta thấy ngay tại sao Công Giáo có đông tín đồ: Vì tuyệt đại đa số các tín đồ này thuộc những thành phần thấp kém nhất trong xã hội, ít học, kém hiểu biết, ngây thơ, ngờ nghệch. Số tín đồ này có thể trong nhà có cuốn Kinh Thánh nhưng chỉ dùng nó làm vật hứng bụi (dust collector), chưa bao giờ mở cuốn Kinh Thánh ra đọc vì có đọc cũng không hiểu, và, ngoài việc đã bị nhồi sọ từ nhỏ, chỉ được nghe giảng trong nhà thờ những đoạn chọn lọc ngoài toàn bộ vấn đề (out of context) thuộc loại mê tín dị đoan của các linh mục chuyên nghề mê hoặc các tín đồ vốn không có nhiều đầu óc. Cũng vì vậy mà nhiều chuyên gia về tôn giáo đã phân tích vấn đề Ki-tô Giáo và cho rằng Ki-tô Giáo, đặc biệt là Công Giáo, chỉ gồm có ba hạng người:

    1). Tuyệt đại đa số tín đồ thuộc giai cấp cùng dân, thấp kém, ít hiểu biết. Đối với hạng người này, niềm tin vào lời hứa hẹn được Chúa làm cho sống lại, bất kể là đã chết từ bao giờ, cùng “Chúa” bay lên thiên đường, trong ngày phán xét là một sự an ủi lớn.
    2). Giới giáo sĩ (từ giáo hoàng trở xuống) xảo quyệt lợi dụng sự ngờ nghệch và lòng mê tín của đám giáo dân thấp kém để tự tạo quyền lực, đưa ra những “bí tích” như rửa tội, xưng tội, tha tội, ban thánh thể [ăn thịt và uống máu Chúa], quyền tuyệt thông [excommunication] v..v... , vơ vét của cải (gia tài của Vatican nay lên đến trên một ngàn tỷ đô-la, các giáo xứ ở Mỹ đã phải tiêu trên 2 tỷ đô-la để bồi thường cho các nạn nhân của trên 5000 linh mục loạn dâm.
    3.) Những học giả, nhà thần học thuộc loại bất lương trí thức (intellectual dishonesty) theo như nhận định của Alfred Loisy, Giáo Sư tại Viện Đại Học của Công Giáo ở Pháp từ 1889 đến 1908. Alfred Loisy thấy khó có thể tin là những học giả hiểu biết (learned scholars), đặc biệt là những đồng nghiệp Công Giáo của ông (his Catholic colleagues), vẫn tiếp tục biện hộ cho những điều mê tín thuộc loại siêu nhiên. Chúng ta hãy đọc một đoạn ngắn của Loisy:

    Trong vấn đề siêu nhiên được hiểu như vậy (như viết trong Kinh Thánh) chúng ta không thể tin vào phần nào, vì lý do rõ ràng là nó không có thực, là nó đã bị tan ra từng mảnh nhỏ, những mảnh này chỉ được giữ lại với nhau cho đến ngày nay bởi sự ngu đần của đám người cả tin, và bởi sự chủ tâm mù quáng của những nhà thần học không chịu nhìn vào những gì ở ngay trước mắt; chúng ta cũng không tránh khỏi nghi ngờ là những nhà thần học này đôi khi đã dự vai trò có thể xếp họ vào loại những kẻ theo chủ nghĩa cơ hội, những chính trị gia biện giải cho Ki Tô Giáo, những chiến thuật gia lý giải Kinh Thánh, thay vì xếp họ vào hạng những người thực sự và chính mình tin vào thuyết siêu nhiên giả dối này, cái thuyết mà có vẻ như họ đã quyết định áp đặt nó như một gánh nặng trường tồn trên những đầu óc cả tin. Chúng tôi bảo cho họ biết, một lần dứt khoát, rằng những tham vọng của họ là phi lý và cho rằng Kinh Thánh và Giáo hoàng không sai lầm là một sự chống lại, mà họ không được phép, đối với kiến thức đúng.” [17]

    Giáo hội ngoài mặt vẫn còn mạnh vì dựa vào khối đông tín đồ thấp kém ở dưới, đúng như định nghĩa của Thống Đốc Jesse Ventura của Bang Minnesota: “KiTô giáo là một sự giả dối trống rỗng và là một cặp nạng cho những người có đầu óc yếu kém cần đến sức mạnh trong số đông” (Christianity is a sham and a crutch for weak-minded people who need strength in numbers), do đó giáo hội Công giáo vẫn giữ thái độ tự tôn trịch thượng vô lối đối với các tôn giáo khác.

    Nhưng chúng ta đã biết, mất đi chỗ đứng trong thế giới Tây phương, Công Giáo Giáo cũng như Tin Lành đều có mưu toan bành trướng sang Á Châu, nơi đây ở một số nơi, con người còn đang sống trong cảnh khó khăn vật chất và thiếu hiểu biết. Họ là nhưng mồi ngon trong sách lược truyền đạo của Ki Tô Giáo. Đối với đất nước Việt Nam, đó là một hiểm họa cần phải phòng ngừa nếu chúng ta muốn bảo vệ và gìn giữ nền văn hóa truyền thống của Việt Nam. Không có lý do gì để cho người dân tiếp tục bị lừa dối để chấp nhận những đồ phế thải của Tây phương mà lịch sử đã chứng tỏ trái nghịch với truyền thống văn hóa và tôn giáo của Việt Nam.

    Nữ học giả Công Giáo Joane H. Meehl, sau khi đã nhìn thấy rõ chủ đích và những việc làm của Giáo hội Công Giáo từ thế kỷ 4 cho tới ngày nay, đã viết trong cuốn "Người Tín Đồ Công Giáo Tỉnh Ngộ" (The Recovering Catholic, Prometheus Book, 1995, trang 288):

    "Đạo Công Giáo chỉ thịnh hành và phát triển trong đám người nghèo và ngu dốt. Nó chỉ bị khắc phục bằng giáo dục (mở mang dân trí. TCN) và đời sống kinh tế thoải mái." (Catholicism thrives and grows among the poor and ignorant. It is overcome by education and economic well-being).
    Vậy biện pháp nào thích hợp nhất để bảo vệ và gìn giữ nền văn hóa truyền thống của Việt Nam? Tôi cho rằng, để tránh cái hiểm họa Công Giáo và Tin Lành, cái hiểm họa đã được chứng tỏ trong 2000 năm lịch sử của Ki Tô Giáo, đặc biệt là Công Giáo giáo , ở Việt Nam, ngoài việc cương quyết canh chừng, kiểm soát những phương cách truyền đạo bất chính, con đường hữu hiệu nhất là con đường mở mang dân trí. Qua con đường này, người dân sẽ biết rõ về bản chất và những sự thực về Ki Tô Giáo nói chung, Công Giáo Giáo nói riêng, và từ đó sẽ không còn bị mê hoặc bởi những lời truyền đạo giả dối, che đậy thực chất mê tín, hoang đường, phi lý của Ki Tô Giáo mà ngày nay thế giới Tây Phương đã nhận thức rõ và đang từ bỏ dần dần.

    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  6. #86
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    Mở mang dân trí, cập nhật hóa kiến thức thời đại, đây chính là một nhiệm vụ quan trọng trong thời đại ngày nay, không chỉ riêng của chính quyền mà là nhiệm vụ chung của mọi người dân Việt Nam nào còn có lòng với dân tộc, đất nước, còn trân quý truyền thống văn hóa và tôn giáo của Việt Nam. Tôi hi vọng giới trí thức, nhất là giới trẻ ngày nay, hãy nhận thức rõ tầm quan trọng của lãnh vực văn hóa này. Vì lợi ích của mọi người, và vì tương lai của dân tộc và đất nước, chúng ta hãy cùng nhau tích cực hoạt động trong đường hướng mở mang dân trí, giúp người dân nhận thức được những sự thật về các tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam.
    Chúng ta hãy thể hiện hạnh từ bi trong nhiệm vụ này. Từ là “Cho vui” và Bi là “Cứu khổ”. Giúp cho người dân mở mang đầu óc, cập nhật hóa kiến thức thời đại, nhận rõ chân thực, là mang đến cho họ một nguồn vui vô tận; giúp cho người dân nhận rõ tỉnh thức, không bị huyễn hoặc bởi những điều hoang đường, mê tín, cất bỏ lòng sợ hãi thần quyền, và thoát khỏi một tâm cảnh nô lệ ngoại quyền, đó chính là cứu khổ. Quý độc giả nào không đồng ý, xin mời lên tiếng.
    Tôi nghĩ, xã hội của chúng ta ngày nay không còn chịu những cảnh man rợ của Ki-tô giáo cách đây trên 250 năm ở Âu Châu và Mỹ Châu. Ngày nay, nói năng chống Ki-tô giáo, hay đúng hơn, nói lên những sự thật về Ki-tô giáo, không còn là một điều cấm kỵ và phải chịu đựng những sự bạo hành của Ki-tô giáo như trước. Đối với giới trí thức, đây là một bổn phận của những con người hiểu biết để giải hoặc quần chúng, giữ cho xã hội được lành mạnh. Sự xuất hiện của hàng ngàn tác phẩm mà Ki-tô giáo và những tín đồ cuồng tín liệt vào loại “chống Ki-tô giáo” là một bằng chứng cụ thể nhất về sự tiến bộ trí thức của nhân loại. Tác giả những cuốn sách này, trong đó có những giới cao cấp trong Ki-tô giáo, những giáo sư đại học, học giả, chuyên gia về tôn giáo v..v.. là những người đã nhận lãnh trách nhiệm dẫn dắt quần chúng thoát ra khỏi những mê hoặc và xiềng xích trí tuệ cũng như vật chất của Ki-tô giáo. Sự hiện hữu của những tác phẩm này trong những xã hội Ki-tô mà không gây ra một sự bất hòa, hỗn loạn nào trong xã hội vì lý do tôn giáo là một bằng chứng khác về sự tiến bộ trí thức của nhân loại, ít ra là ở trong những xã hội văn minh tân tiến. Đây là một trong những lý do để tôi viết bài này.
    Tôi ước mong những bậc cao minh ở trong và ngoài nước có lòng với dân tộc, nhất là các bạn trẻ, hãy tiếp tay cùng chúng tôi trong nhiệm vụ mở mang dân trí này. Chúng ta hãy làm với tất cả thiện tâm, tuyệt đối không vì thù hận hay vì bất cứ lý do nào khác ngoài sự lương thiện trí thức trong công cuộc nghiên cứu mọi khía cạnh của Ki Tô Giáo để phổ biến rộng rãi cùng người dân trong nước cũng như ở hải ngoại. Rất nhiều trí thức Âu Mỹ đã làm công việc giải hoặc Ki Tô Giáo này từ nhiều thập niên qua. Người Việt trí thức chúng ta nay dấn thân vào con đường này kể ra đã là quá muộn, lý do là vì hoàn cảnh đất nước trong hơn một thế kỷ qua không cho phép. Nhưng nay là lúc chúng ta phải bắt tay ngay vào nhiệm vụ bảo vệ nền văn hóa và những truyền thống tốt đẹp của dân tộc trước sự xâm lăng văn hóa của Ki Tô Giáo, một tôn giáo chỉ còn cái vỏ hào quang của quá khứ và đang dần dần bị phế thải ở phương trời Âu Mỹ.


    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  7. #87
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    11,984
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    [QUOTE=ChanhPhap84;1365585]
    CÔNG GIÁO TÂY PHƯƠNG ĐÃ TỈNH
    CÔNG GIÁO VIỆT NAM VẪN CÒN MÊ

    Còn cái đám Phật Giáo Xả Hội ĐEN cũng vẫn còn nốt! SAMETING!



    Vốn đã bị học lịch sử dốt rùi... nay tốn công đi sửa saihỗng có work đâu vì tuyên truyền dốt quá nên nó trở thành vô dụnghết hiệu quả rùi!


    Hết thời NỔ DỐT rùi nhãi con ranh vặt ui! Cái trí thức bèo nó bị trì trệ cho nên bị người ta quăng vào sọt rác rùi! Get Lost Stupid Moron!

    Đất nước của ... gì đây?

    PhoNang 2011/09/07


    Kỹ Vi Toàn Nghĩa (danlambao)

    - ...Một khi đạo đức của nền dân chủ đã mất, tính tham lam lọt vào các trái tim, cái hư hỏng lồng vào tất cả mọi ngóc ngách của xã hội, các ước vọng bị đổi mục tiêu: cái người ta vốn yêu thì người ta không yêu nữa, người ta vẫn thấy mình tự do, nhưng tự do làm trái pháp luật... mỗi công dân giống như một nô lệ trốn khỏi nhà chủ nô. Điều trước đây được coi là kỷ cương thì nay người ta coi là hà khắc. Cái trước đây được coi là luật thì nay họ coi là phiền nhiễu. Điều đáng lưu ý người ta coi là đáng sợ. Cách sống thanh đạm bị coi là thói hà tiện...

    Xem báo:

    - Sát thủ giết người cướp vàng, giết cả em bé 18 tháng tuổi...
    - Hàng ngàn người tập trung cướp nghêu...
    - Nạn mãi lộ cảnh sát giao thông hơn cướp cạn...
    - Mại dâm thản nhiên đón khách cả ban ngày...
    - Hàng ngàn học sinh thi đại học được điểm 0 lịch sử...
    - Ông "đường sắt cao tốc" thành chủ tịch quốc hội...
    - Thứ trưởng ngoại giao ta sang nước "lạ" xin lỗi vụ cắt cáp thăm dò dầu khí...
    - Chi tiền cho dự án khoa hoc: "nâng cao tính hấp dẫn của đảng"...
    - Bác Nguyên Ngọc (đất nước đứng lên - bắn pháp chảy máu ) - tiến sĩ khoa học Nguyễn Văn Khải (ozon), Tiến sĩ Nguyễn Quang A, Gs Nguyễn Huệ Chi..."bỗng
    dưng" trở thành "phản động"...
    - Thi trang phục "x mảnh "của nước "lạ" cho cụ Lý Thái Tổ xem (21-8)...
    - Ông "VINASHIN" trúng thêm nhiệm kỳ nữa...
    - Hai bác lãnh đạo VKS cấp huyện - dẫn Cave di du thuyền chơi trên sông Thêm, làm chết đuối mất một cô...
    - Boxit Tây Nguyên sẽ được xuất khẩu bằng máy bay (không cần đường bộ) ...
    - Ông điện ảnh "mượn" 40 tỉ đồng, bây giờ không tìm thấy ông ấy...
    - Học sinh lớp 10 giết người ngay tại cổng trường....
    - Cán bộ tỉnh X dùng hơn 100 bằng giả....
    - Quân đội nhân dân bỏ "Trung với nước" để "Trung với Y"...
    - ...

    Hôm qua, hôm kia ta là "đất nước 4 nghìn năm lịch sử - hạnh phúc trong tay ta đang nở hoa kết trái".

    Vậy mà hôm nay -
    đất nước của ...CÁI GÌ ĐÂY ! Thật sự hoang mang. Đợi mỗi ngày như đợi thêm bất công, đợi thêm tội ác.

    Tôi có đọc :"Một khiđạo đức của nền dân chủ đã mất, tính tham lam lọt vào các trái tim, cái hỏng lồng vào tất cả mọi ngóc ngách của xã hội, các ước vọng bị đổi mục tiêu: cái người ta vốn yêu thì người ta không yêu nữa, người ta vẫn thấy mình tự do, nhưng tự do làm trái pháp luật... mỗi công dân giống như một nô lệ trốn khỏi nhà chủ nô. Điều trước đây được coi là kỷ cương thì nay người ta coi là hà khắc. Cái trước đây được coi là luật thì nay họ coi là phiền nhiễu. Điều đáng lưu ý người ta coi là đáng sợ. Cách sống thanh đạm bị coi là thói hà tiện.

    Trước kia tài sản của mỗi công dân được coi như một phần sự giàu có quốc gia, thì nay kho tàng chung bị coi như sở hữu tư nhân. Nước cộng hòa chỉ là cái túitham cho một số người bòn rút, sức mạnh quốc gia chỉ còn là quyền lực một vài công dân...."

    (Tinh thần pháp luật montesquieu-trg 55-nxb giáo dục - đại học khoa học xã hội và nhân văn - bài giảng khoa luật).

    Ta hãy xem: "
    Dân chủ XHCN được thực hiện thông qua nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: - Có sự thống nhất giữa ba quyền: lập pháp, hành pháp , tư pháp" (Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, nxb lao động, trg 273 - 11-2010).

    Liệu tất cả các hệ lụy trên phải chăng đều có nguyên nhân từ cái: "sự thống nhất" này ?.

    "Sự thống nhất này" đã cho phép một nhóm người "chui ra khỏi cái chăn pháp luật". ?

    "Sự thống nhất này" đã cho phép một bộ phận "không có chức năng pháp luật" răn đe trước các cơ quan "có chức năng pháp luật", thậm chí răn đe cả quốc hội - cơ quan làm ra luật: "chưa đến mức đến mức phải chịu kỷ luật" (vụ VINASHIN)?

    "Sự thống nhất này" đã chứng tỏ rất rõ ràng: không còn cần tầng lớp luật sư trong thực thi pháp quyền tại Việt Nam (tham khảo các vụ án đã xử và đang xử, để thấy rằng có thể giải thể đại học luật).

    "Sự thống nhất này" đã đưa dến một xã hội phân hóa cao độ, đã cho phép một nhóm người "sống thử chủ nghĩa cộng sản "làm theo năng lực (thậm chí không cần năng lực) hưởng theo nhu cầu" - cả đất nước đã trở thành ruộng % của họ, và nhân dân là người làm công trên thửa ruộng đó. (tham khảo "bí thư tỉnh ủy").

    "Sự thống nhất này" đã cho phép làm ra cái tem: "PHẢN ĐỘNG" để dán vào bất cứ ai có ý kiến phản biện. Rất tự nhiên chính thể đã và đang chuyển sang chính thể chuyên chế: "Nếu trong chính thể dân chủ phải có đạo đức, chính thể quân chủ phải có danh diện ,thì trong chính thể chuyên chế phải có sự sợ hãi. Vì ở đây đạo đức là không cần thiết và danh diện sẽ là nguy hiểm." (Tinh thần Pháp luật - trg56).

    Chúng ta có hẳn một "Viện Triết", có hẳn một cơ quan "nghiên cứu về lý luận", sao không có ý kiến của một triết gia nào? Họ đang nghiên cứu cái gì ?!.

    Từ khi khối XHCN sụp đổ ta đã hoàn toàn khủng hoảng về mặt lý luận. Chấp nhận "cơ chế thị trừơng" (thực ra là chấp nhận phát triển theo con đường tư bản) chính là ta đã "thay đổi màu cờ". Vậy thì làm sao đem cái lý luận cũ áp vào một thể chế hoàn toàn khác? Phải biết rằng: "không phải ý thức quyết định đời sống, mà chính đời sống quyết định ý thức" (Các Mác-Ph.Ăngghen -tuyển tập - tập 1, trg 277 NXBST-1980).

    Theo quan điểm của tôi :

    Muốn xã hội công bằng và văn minh - phải có một nhà nước pháp quyền thực sự (nhớ chữ thực sự). Không phải pháp quyền "chỉ đạo".

    Lập pháp, hành pháp, tư pháp - không được dưới sự chỉ đạo của bất cứ nhóm người, thế lực nào.

    Phải làm nhiệm vụ chức năng hoàn toàn độc lập theo nguyên tắc của luật pháp.

    Có như vậy công bằng mới đủ chia cho 100 triệu dân ta mà phần của ai cũng to bằng nhau.

    Đây cũng là con đường TẤT YẾU VÀ DUY NHẤT của dân tộc.

    Thế lực nào chặn đường dân tộc CHẮC CHẮN SẼ DIỆT VONG.

    K
    Vi Toàn Nghĩa (danlambao)


  8. #88
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng


    Hôm qua, hôm kia ta là "đất nước 4 nghìn năm lịch sử - hạnh phúc trong tay ta đang nở hoa kết trái".

    Và hôm nay -đất nước của VN anh hùng đã đánh Mỹ cút ngụy nhào ...CÁI GÌ ĐÃ ĐƯA DÂN TỘC ANH HÙNG ĐÂY ! Thật sự bọn ngụy theo Kito giáo là để bán nước làm thân trâu ngựa . Linh mục , cố đạo Tây ba đời có ấu dâm cũng không dám mở lời theo bài dưới đây , ôi nhục nhã cho 8 triệu con chiên làm nô lệ tình dục cho bề trên mà không hổ thẹn .




    Nhưng Giáo hoàng không biết rằng làm linh mục Việt Nam thì đặc biệt hơn các linh mục Tây Phương nhiều, vì con chiên Việt Nam nổi tiếng là ngoan đạo, cho nên dù các linh mục có làm gì thì con chiên cũng không dám ho he. Một giám mục Việt Nam đã chẳng răn đe họ là: “Các con đừng có nói hành các cha mà mang tội với Chúa”“Đừng có phán xét các Cha để khỏi bị Chúa phán xét” hay sao. Nghe đến “mang tội với Chúa”“Chúa phán xét” là con chiên sợ rét run lên rồi, dù rằng Chúa đã chết cách đây 2000 năm và người ta đã tìm thấy bộ xương của “Chúa Cứu Thế” trong một tiểu quách ở Jerusalem, cùng với những bộ xương của vợ, Mary Magdalene, và của con, Judah, trong vài tiểu quách khác. Cho nên một số linh mục Việt Nam tự do thoải mái truyền giống thay vì truyền giáo (Xin đọc bức thư của nhóm đệ tử Linh Mục Nguyễn Hữu Trọng ở Việt Nam gửi giáo hoàng John Paul II và Hồng Y Phạm Đình Tụng), hay làm bất cứ điều gì khác mà không sợ con chiên tố khổ như ở Mỹ.]

    Tôi nghĩ rằng những tín đồ Công giáo Việt Nam nào còn có chút đầu óc thì cũng phải cảm thấy xấu hổ vì có một chủ chăn vô đạo đức như Benedict XVI mà mình vẫn được dạy phải cúi đầu “quên mình trong vâng phục”, và cảm thấy ngượng ngùng trước người ngoại đạo là tại sao mình vẫn còn ở trong một một đạo mà cái lịch sử tàn bạo ô nhục đẫm máu của nó là một sự kiện không thể chối cãi và các niềm tin trong đó đã không còn giá trị trong các xã hội văn minh tân tiến ngày nay
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  9. #89
    Join Date
    Jul 2010
    Posts
    48
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Lo xây cho lớn, còn giờ đâu tu ???

    Quote Originally Posted by Củ Khoai View Post
    Muốn Xây Chùa, đắp Tượng; tô son, mạ vàng ... (và gọi là Phật) cho to, cho lớn cho hoành tráng, hùng vĩ ... là phải hay sai?
    Vì Phật hay vì ông Thầy Tu Trụ Trì?

    Những người đang vận động bằng tất cả tâm huyết cho việc nầy
    (thay vì thực hành Lời Giáo Huấn của Ông Phật Thích Ca);


    Họ có còn là Phật Tử hay không?
    Liệu những vị "chân tu" nầy; ta có nên ủng hộ họ không?
    Khi ngày họ càng xa Đức Thầy?


    Ngu tôi nông cạn hiểu biết; kính thỉnh Bậc Trí Huệ giáo huấn cho.


    Bái!

    Thưa ... Phật đâu có ở trong Chùa!
    Ngu tôi tin vậy mà.
    Còn việc người nào, người ấy làm!
    Tui có nghe một Sư ông nói vầy : - Nếu có địa ngục, thì ở đó có nhiều cái "đầu trọc" hơn bất cứ chỗ nào khác!
    Bà con mình, ai biết Sư ông đó tên gì?! Vui lòng cho Quý Phật Tử xa gần được hay biết.

    Xin cám ơn nhiều.
    Hệ quả giáo dục như hiện nay của Bộ máy cầm quyền đã khiến cho
    những trẻ em trở nên vô cảm.
    Tôi phạm ngày càng trẻ hóa (vụ Lê Văn Luyện ở Bắc Giang)



  10. #90
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng


    Ở Mễ Tây Cơ trước đây có luật cấm các Linh mục không được mặc áo chùng thâm ra đường và không được lập các trường học. Trong cuốn Freedom’s Foe – The Vatican, The Pioneer Press, London, Adrian Pigott, viết, trang 51: “Giáo sư đại học W. K. Clifford khuyến cáo: Nếu có một bài học lịch sử nào cho chúng ta thì đó là – Hãy giữ con cái tránh xa ông Linh mụcnếu không hắn sẽ làm cho chúng thành những kẻ thù của Nhân Loại.” [8] và đưa ra vài nhận định về linh mục như sau, trang 52:

    “Linh mục Công giáo La Mã chủ yếu là một điệp viên của Vatican, và bắt buộc phải chỉ đạo đàn chiên theo lệnh mà hắn ta nhận được từ những cố vấn chính trị của giáo hoàng. Hắn ta là cảnh sát của giáo hoàng – và cũng là người thu thuế của giáo hoàng…

    Thật là sai lầm đối với chúng ta khi qui trách quá đáng cho chính các linh mục, vì nhiều người trong họ là những người đáng kính mà có thể trong thâm tâm không thích phải thi hành nhiều hoạt động mà Vatican ra lệnh. [Theo lệnh của Vatican, giới giáo sĩ ở Đức, Ý và Pháp phải đứng ra ca tụng Hitler, Mussolini và Pétain (Pháp gian). Hồng Y Tổng Giám Mục ở Florence (Ý) còn hôn Mussolini trước quần chúng.] Nhưng kỷ luật sắt có thừa của Công giáo đến độ ảnh hưởng của linh mục Công giáo La Mã trên đàn chiên thường đưa đến cảnh khốn khổ “kẻ mù dẫn dắt người mù”. Là người Anh, người Mỹ, Peru, Ba Lan hay Cuba, giám mục và linh mục Công giáo đã hoàn toàn lệ thuộc Vatican để thi hành những huấn thị của những người ở trong cái Phòng Kín ở La Mã – ngay cả khi những lệnh đó có hại cho chính quốc gia của họ hay xúc phạm đến lý trí của họ. Nói cách khác, họ như là nô lệ trong hệ thống chính trị của Vatican. Không lạ gì, Công Giáo La Mã thành công nhất ở trong những nước thuộc Châu Mỹ La-Tinh, nơi đây người dân cả tin và mê tín; trong khi ở những nước miền Bắc, dân chúng có đầu óc độc lập, Công giáo chỉ là thiểu số.” [9]

    Những điều Adrian Pigott viết ở trên không phải là không có cơ sở nếu chúng ta chịu khó nghiên cứu sâu xa về Công giáo. Một trí thức Công giáo đạo gốc Việt Nam, Charlie Nguyễn, đã từng viết:



    Bảy triệu tín đồ Công giáo tại quốc nội là đạo quân thứ năm bản địa dưới sự lãnh đạo của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Hội đồng này do Vatican tuyển chọn và phong chức nên. Hội đồng Giám mục Việt Nam hiện nay gồm toàn những cán bộ tuyệt đối trung thành với Vatican. Họ sẵn sàng phản bội tổ quốc Việt Nam vì tổ quốc thật của họ là “nước Chúa Vatican”!.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  11. #91
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    11,984
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    [QUOTE=ChanhPhap84;1365919]

    HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT
    THÀNH CÔNG - THÀNH CÔNG - ĐẠI THÀNH CÔNG

    Cái chính sách gian tham của Hồ Xí Thúi để cướp tài sản của dân miền Bắc chỉ vì y xuất thân từ một gia đình hạ cấp đói rách cho nên phải quyết tâm trả thù với người dân miền Bắc ngay trên đất đai của cha mẹ đẻ của y! Cho nên chiện này đếch có liên quan tới hai chế độ VNCH IVNCH II!

  12. #92
    Join Date
    Apr 2010
    Posts
    439
    Thanks
    2
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    Mình xin phép đưa lại bài "Tại sao tu hoài chưa giải thoát " vào đây:

    Bước chân vào đo Pht, ai ai cũng mun tìm cho mình con đường gii thoát trong kiếp làm người này. Nhưng ti sao tu hoài mà chưa gii thoát ? T thi đc Pht đến nay my ai đã hoàn toàn gii thoát. Có bao nhiêu nguyên nhân ? chúng ta hãy cùng xem có phải do những nguyên nhân chính sau đây hay không ?


    · Chưa buông xuống sạch ngoài đời.
    · Còn dính mắc vào pháp tu hành.
    · Dính mắc vào những thứ khác trong chùa hoặc ở nơi tu tập.
    · Dính mắc vào trạng thái tâm không niệm, tâm bất động và các trạng thái hỷ lạc khác.
    · Tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự không phải là tâm không niệm
    · Bị hôn trầm thùy miên.
    · Chưa có ý chí mạnh mẽ tìm cầu sự giải thoát
    · Không giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh


    Chúng ta hãy đi sâu vào phân tích 8 vấn đề này:


    1. Chưa buông xuống sạch ngoài đời.
    Người đến với đạo Phật đều hiểu câu nói này, nhưng mấy ai buông xuống được, vì còn vướn bận gia đình, tài sản lớn nhỏ, nghề nghiệp, tình cảm, tiền bạc của cải, sự hiểu biết, tư tưởng, những dục lạc thế gian, những việc làm từ thiện ngoài xã hội… Đó là xả phần thô, xả phần vi tế là xả khi sống đời sống độc cư.

    Chỉ cần buông xuống hết là đã gần như giải thoát rồi còn gì. Bạn có tin không. Đến cuối bài này bạn sẽ hiểu.

    2. Còn dính mắc vào pháp tu hành.
    Tại sao lại nói như vậy? Đạo Phật chỉ rõ cho chúng ta thấy chỉ có buông xuống sạch thì giải thoát. Vậy việc chính là buông xuống sạch, việc phụ là các pháp tu hành. Nhưng khi mọi người đến với đạo Phật thì “coi việc phụ làm việc chính”. Họ thường ôm pháp tu hành, bận rộn từ ngày đến đêm, từ lúc vào chùa đến lúc chết. Ví dụ như: ngồi thiền, gỏ mõ tụng kinh, niệm phật, tham công án, đọc thần chú, ôm pháp Thân Hành Niệm đi kinh hành suốt ngày, tu Định Niệm Hơi Thở gom tâm, nhiếp tâm vào đề mục nào đó, theo dõi hơi thở hay bụng phình xẹp, ngồi gò bó thân tâm khiến thân tâm bị ức chế dẫn đến tẩu hỏa nhập ma rơi vào các loại tưởng ma.

    Cuộc sống đã quá khổ, muốn vào đạo tìm sự giải thoát, đã buông xả sạch ngoài đời rồi, ai ngờ vào đạo lại phải ôm những cái khác vào, lại bị dính mắc tiếp vào pháp tu hành, bận rộn cả ngày lẫn đêm, ngày này qua ngày khác đến suốt đời, vậy thì làm sao gọi là giải thoát. Đâu cần phải công phu tu tập để chứng minh mình là người tu hành. Đời sống giới luật đức hạnh cũng đủ chứng minh mình là người tu hành rồi. Tại sao chúng ta không ngồi chơi sống độc cư một mình xả tâm cho sướng?. Do vậy, kính xin các vị tôn túc, Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức, và các hiền giả phật tử xem xét lại cách tu hành như hiện nay có thật sự đem đến giải thoát không hay là chỉ thêm gánh nặng cho người tu hành?


    3. Dính mắc vào những thứ khác trong chùa hoặc ở nơi tu tập
    Khi buông xả những phần thô ngoài đời, vào chùa chúng ta thường lại bị dính mắc pháp tu hành và những thứ linh tinh khác làm cho tâm càng chướng ngại thêm đó là: danh lợi trong chùa, tiền bạc, hơn thua, chuyện người khác, chuyện tu hành của người khác, chuyện đúng sai phải trái, chuyện tổ chức quản lý trong chùa, chuyện xây dựng, chuyện sữa chữa tu bổ chùa, làm công quả, chuyện giảng đạo (tu xong rồi tính sao), chuyện của phật tử, chuyện làm từ thiện, chuyện ăn uống, nấu nướng, v.v…

    Chỉ cần chúng ta hiểu rõ chùa cũng là một nơi thử thách khác, cũng không khác gì ngoài đời, đó chỉ là một không gian thu nhỏ lại của ngoài đời thôi, cuộc sống sinh hoạt cũng giống ngoài đời chứ không phải thiên đường gì cả, cũng đầy người có tham sân si như ta cả. Việc của ta là xả tâm. Tất cả mọi cảnh vật, chuyện xảy ra trong chùa cũng là những thử thách, là những đối tượng để ta tu tập xả tâm cho sạch. Nếu ta xác định vào đó tìm đường giải thoát thì không nên dính mắc vào bất kỳ chuyện gì cả, còn những chuyện khác có ban đời sống lo. Ai làm gì mặc kệ, “chuyện ta ta tu, chuyện họ họ lo”.

    Tu theo đạo Phật chỉ cần buông xuống sạch tất cả, sau đó tìm một chỗ thanh tịnh, yên tĩnh để sống:


    · Đời sống độc cư: là đời sống một mình trong một cái nhà nhỏ, không nói chuyện với ai để từ đó có thời gian nhìn lại tâm xả tiếp những niệm vi tế. Chỉ cần ngồi chơi tự nhiên” như người nhàn hạ, không làm gì hết, nghĩa là không cần ngồi thiền, xếp bằng, kiết già gì cả, ngồi sao cho thoải mái là được, nằm cũng được chứ sao, miễn tỉnh táo là được.
    · Giữ gìn giới luật đức hạnh đến suốt đời: đó là hạnh ăn một ngày một cử, không ăn uống phi thời, ngủ ít, ngủ không phi thời, sống 3 đức nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng vui vẻ, sống thiểu dục tri túc 3 y một bát, giữ gìn các giới luật như 10 giới thánh đức sa di.

    Do vậy, sau khi các bạn xả bỏ phần thô, hãy tìm một nơi yên tĩnh để sống đời sống độc cư, ở đâu cung cấp cho bạn một chổ như vậy thì quá là lý tưởng, vì chỉ có sống như vậy mới giải thoát hoàn toàn. Bài kinh “Sống Một Mình Như Con Tê Ngưu” đức Phật đã khuyên chúng ta rất rõ ràng. Chính độc cư là bí quyết của xả tâm và thiền định. Thiền viện Trúc Lâm, Làng Mai, thiền viện Đại Đăng hay chùa nào cũng được, miễn sao ở đó cung cấp cho bạn một căn nhà nhỏ để sống đời sống độc cư, một ngày một bữa ăn.

    Riêng tôi biết có một tu viện tại Trảng Bàng, gọi là Tu viện Chơn Như, khi đến đó các thầy sẽ cho bạn một căn nhà nhỏ, và đầy đủ mọi thứ cần thiết tối thiểu, kể cả quần áo, bát. Bạn không cần mang theo gì cả. Xả sạch ngoài đời tất cả, chỉ mang cái thân vào thôi. Không cần mang tiền vào, vì vào đó là phải giữ gìn giới luật thứ 10 trong giới sa di “không nên cất giữ tiền bạc”. Vào đó các bạn chỉ cần sống với 3 đức nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng, giữ gìn 3 hạnh là ăn, ngủ và độc cư.

    Vào đó các thầy sẽ dạy cho chúng ta những cách đi kinh hành để phá hôn trầm thùy miên, buồn ngủ, cách tu “Định niệm hơi thở” cho người mới để biết nhìn rõ quan sát từng tâm niệm. Sau khi thực hành thành thạo rồi thì chúng ta không cần ôm những pháp tu đó nữa, vì “chúng chỉ là vũ khí diệt giặc thôi, có giặc hôn trầm thùy miên buổn ngủ thì đem ra sử dụng, còn không thì thôi, ngồi chơi cho sướng.”

    Khi sống một mình thì chúng ta đừng ôm pháp nào tu hết, sống đời sống bình thường như một người bình thường trong một căn nhà nhỏ, như đi “an dưỡng” vậy đó, đến giờ thì ăn, đến giờ thì ngủ, ngoài ra thì chỉ cần ngồi chơi xả tâm. Tâm khởi niệm nào dục hay ác pháp thì đuổi đi, niệm thiện thì làm cho sanh và tăng trưởng, niệm không thiện không ác thì kệ nó. Đuổi bằng phương pháp "Như Lý Tác Ý." Một trong những câu tác ý hữu hiệu nhất là "Tâm bất động, thanh thản an lạc và vô sự". Ngồi chơi tự nhiên như vậy, dần dần tâm sẽ ly dục ly ác pháp và trở nên bất động thanh thản an lạc và vô sự.


    4. Dính mắc vào trạng thái tâm không niệm, tâm bất động và các trạng thái thanh tịnh hỷ lạc khác.
    Chính ngay khi tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự bắt đầu xuất hiện, người tu hành dễ dàng dính mắc vào các trạng thái không niệm, trạng thái thanh tịnh, thích nó, sợ mất, bám tâm vào nó, quán thân để tâm bất động kéo dài, ngồi thường theo dõi hơi thở để tâm bất động được kéo dài, ngồi nhìn tâm bất động, rồi bị nó dẫn đi sai đường luôn. Do vậy chúng ta phải cẩn thận, dù là trạng thái gì, lân lân, không có niệm hay hỷ lạc nào người tu hành đều buông bỏ, không bám vào, không cố giữ lấy nó, vẫn ngồi chơi tự nhiên, vẫn quan sát tâm như trước. Càng xả tâm nhiều thì trạng thái tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự sẽ kéo dài.


    5. Trạng thái tâm bất đông thanh thản an lạc và vô sự không phải là tâm không niệm.
    Trước tiên chúng ta cần phải biết niệm là gì? Niệm có 2 loại: (trích từ bức tâm thư thầy giải đáp cho tu sinh về tâm bất động)
    · Niệm là tư duy suy nghĩ.
    · Niệm là chỉ biết mọi vật đang xảy ra xung quanh chúng ta.


    Vậy biết niệm nào là đúng, niệm nào là sai?
    · Niệm đúng là tư duy suy nghĩ những điều thiện.
    · Niệm sai là tư duy suy nghĩ những điều ác.
    · Niệm là chỉ biết mọi vật xung quanh chúng ta mà không bị lôi cuốn theo mọi vật là đúng.
    · Niệm là chỉ biết mọi vật xung quanh chúng ta mà bị lôi cuốn theo mọi vật là sai.

    Tâm không niệm thiện, niệm ác là tâm bị ức chế ý thức, khiến ý thức không hoạt động, nên người tu tập lạc vào thiền tưởng như các sư thầy Lạt ma Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia, Việt nam, Lào, Mông Cổ, Miến Điện, Ấn độ,...

    Tóm lại, tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự không phải là tâm không niệm. (trích từ bức tâm thơ ngày 22/10/2010)

    6. Bị hôn trầm thùy miên
    · Càng buông xả nhiều thì hôn trầm thùy miên sẽ giảm nhiều, vì khi giảm tham sân, dục và các ác pháp khác thì tâm si cũng giảm theo.
    · Càng dụng công tu tập gò bó thân tâm nhiều thì càng bị hôn trầm thùy miên do thân tâm phải làm quá sức mệt mỏi, tâm thì bị lịm và lặng luôn, thân thì bị đuối sức rồi gục.
    · Ngồi chơi tự nhiên thì đầu óc tỉnh táo như một người bình thường, nếu có hôn trầm thùy miên thì đi kinh hành, hết hôn trầm thùy miên rồi ngừng lại nghỉ ngơi, chứ không nên xác định đi 30 phút, 1 tiếng, 2 tiếng hay cả ngày. Đi càng nhiều thân càng mệt mỏi, sức khỏe càng cạn kiệt, đuối sức, tu như vậy là ức chế thân rồi. Ngồi ngay thẳng không nên nhắm mắt, gom tâm, tập trung tâm, nhiếp tâm khiến cho tâm bị ức chế, sau đó lịm và lặng luôn.
    · Do ăn ngủ phi thời, ăn ngày 2-3 bữa, đi ngủ và thức dậy không đúng giờ.
    · Thích ngồi, làm biếng, không siêng năng đi kinh hành,

    7. Chưa có ý chí mạnh mẽ tìm cầu sự giải thoát
    · Chưa buông sả sạch, vẫn còn ham vui, ham nhiều chuyện, tham danh lợi, và những thứ linh tinh khác.
    · Không tin thầy, không tin lời thầy dạy đưa đến sự giải thoát.
    · Không tự tin chính mình sẽ đạt được sự giải thoát trong đời này.


    8. Không giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh
    Điều quan trọng nhất mà chúng ta quên nhắc tới đó là nghiêm chỉnh giữ gìn giới luật. Người tu hành tìm đường giải thoát khi bước chân vào chùa ít nhất phải giữ gìn 10 giới đức Sa Di. Chính giới luật đức hạnh này sẽ là nền tảng căn bản giúp cho người tu hành xả tâm, ly dục, ly ác pháp, sống đời sống thanh tịnh tự nhiên. Không sống giữ gìn nghiêm chỉnh giới luật thì việc tu hành chỉ mất công và thời gian, phí một đời người.

    Người sống không giữ gìn giới luật thì không phải là đệ tử của đức Phật Thích Ca mà là đệ tử của Phật khác. Ai tu theo Phật Thích Ca, muốn giải thoát trong cuộc đời này không thể bỏ qua Giới Luật. Chính giới luật là con thuyền đưa chúng ta đến bờ giải thoát. Chúng ta hãy thử xét qua trước 10 giới thánh đức Sa Di tại đây xem mình đã thông suốt chưa?

    Đó gọi là buông xả sạch không còn dính mắc vào bất kỳ cái gì hay pháp tu nào,không bị những chướng ngại khác trong thân tâm và đã thông những tư tưởng tiêu cực bi quan.

    “Thường người ta đến đạo Phật nghĩ rằng phải tu hành mới được giải thoát, phải ôm pháp nào đó tu để được giải thoát, phải tu để có thần thông, phải nhập thiền định để có Tam Minh Lục Thông, phải niệm Phật giữ tâm không niệm để tiếp tục sang một thế giới khác tu tiếp, phải thông suốt các công án, phải ngồi thiền, phải ôm pháp Thân Hành Niệm, tu pháp Định Niệm Hơi Thở, phải theo dõi hơi thở, theo dõi bụng phình xẹp, hay chú tâm vào đề mục nào đó, phải học những cái gì đó cao siêu, những tư tưởng cao siêu thoát tục để ra giảng dạy, chính những tư tưởng như vậy là đã làm mất sự giải thoát rồi trong hiện tại rồi.”.

    Đức Phật đã nói: “Đạo ta không có thời gian, đến để mà thấy”. Nghĩa là khi bước chân vào đạo Phật tu đúng, buông xả sạch thì giải thoát ngay rồi chứ đâu cần phải dụng công từ sáng đến tối, từ ngày này qua ngày khác, từ ngày đầu tiên vào chùa đến ngày chết, từ kiếp này sang kiếp khác, từ thế giới này đến thế giới khác.

    Chúng ta hãy cùng xem lại thử có giải thoát không?


    · Ngồi thiền, gom tâm, nhiếp tâm, chú tâm vào đề mục, vào cơ thể, vào hơi thở, gò bó thân làm cho thân tâm bị ức chế đau nhức lưng, chân, nhức đầu,… thì sao gọi là buông xả, sao gọi là giải thoát.
    · Tụng kinh gỏ mỏ, niệm Phật thì mỏi miệng, mỏi tay, mỏi chân, mỏi lưng, đầu phải nhớ kinh, phải học kinh, làm ồn hàng xóm và những nhà xung quanh, v.v…
    · Luyện đọc thần chú mỏi miệng, ùm òm ồn ào.
    · v.v…

    Chắc các bạn đã từng nghe những câu chuyện thời đức Phật. Sau khi nghe đức Phật thuyết pháp, liền có nhiều người chứng đạo. Tại sao vậy? vì pháp Phật rất cụ thể đơn giản. Họ hiểu được chỉ cần buông xả tất cả, sống đời sống đạo đức, không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sinh là tâm đã giải thoát, khi họ hiểu được rồi, họ quyết chí theo Phật, sống đời sống đức hạnh như Phật thì họ đã giải thoát rồi. Họ đâu có ngồi thiền, tụng kinh, gỏ mõ, đọc thần chú,... để được giải thoát. Chỉ cần hiểu phải buông xả sạch là tâm đã giải thoát.

    Do vậy, kính thưa các bạn, tu theo đạo Phật dễ dàng và đơn giản vậy thôi, không có cao siêu, trừu tượng, khó hiểu hay khó làm đâu. Ai tu cũng được, người già đến 80, 90 tuổi vẫn tu được. Chỉ cần có tri kiến nhân quả”, buông xuống hết là giải thoát.


    “Buông xuống đi, buông xuống đi
    Vạn Pháp vô thường, buông xuống đi”

    Sau khi đọc bài này chúng ta đã thấy rõ con đường giải thoát không khó, nó nằm trong tầm tay của chúng ta, chúng ta hãy buông xuống hết.

    Có câu hỏi làm sao biết được ngồi chơi như vậy là giải thoát?

    Bạn đã buông xả hết rồi, bạn thử hỏi bạn có còn tham sân si không? Bạn đang sống với tâm không tham, không sân, không si, không mạn, không nghi. Bạn đã chặt bỏ tất cả kiết sử rồi. Tâm bạn lúc này đã dần dần từ từ bất động, thanh thản an lạc và vô sự. Đó là trạng thái của tâm niết bàn rồi còn gì, bạn đang sống với tâm niết bàn thì có chết sẽ tương ưng với Niết bàn.

    Khi các bạn học Tứ Diệu Đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Chân lý thứ 3 là Diệt, đức Phật đã xác định khi diệt hết tham sân si mạn nghi, trạng thái tâm không còn tham sân si gọi là Niết bàn, chính là trạng thái tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự. Đức Phật đâu có nói phải nhập định, phải có tam minh, phải có thần thông mới gọi là niết bàn.

    Định, Tam Minh là kết quả của đời sống đức hạnh giới luật. Giới luật đức hạnh là đối tượng để cho chúng ta tu tập, còn Định và Tam Minh là kết quả của sự buông xả sạch không còn hạt bụi nào. Chứ Định và Tam Minh không phải là đối tượng để ta tu tập. Mọi người nhằm, thường nhắm vào Định và Tam Minh Lục Thông mà tu tập, bỏ qua Giới Luật đức hạnh cho nên tu hoài không thấy giải thoát. Tu không biết lúc nào giải thoát, cứ nghĩ phải tu nhiều đời nhiều kiếp, phải qua thế giới của các chư Phật mà tu tiếp. Những tư tưởng đó đã hại chúng ta không tìm thấy sự giải thoát trong hiện tại.

    Tu mà không cần giới luật đức hạnh là tu rơi vào tưởng định, phát sinh tưởng tuệ, tưởng mình đã chứng đạo, tuệ đó cũng có tam minh ngủ thông nhưng vẫn còn tái sinh luân hồi như các vị Lạt Ma Tây Tạng, bởi vì dục và tham sân si vẫn còn, còn thì tự nhiên phải tương ưng với thế giới tham sân si của chúng ta thôi. Còn đối với đức Phật đã diệt hết tham sân si thì có muốn luân hồi cũng không được, vì có còn tham sân si đâu mà tương ưng với thế giới của chúng ta. Đức Phật chỉ có thể tương ưng với Niết bàn thôi.

    Tóm lại, sự giải thoát ở ngay trước mắt chúng ta, muốn giải thoát hay không là tùy ở mỗi người. Không ai ép hay khuyến dụ ai đi con đường nào. Tự mỗi người chúng ta biết phải chọn con đường nào là sáng suốt cho cuộc đời của mình.

    Kính chúc tất cả các bạn buông xả sạch trong đời sống hiện tại, để được sự giải thoát ngay đúng như lời đức Phật dạy: "Pháp ta không có thời gian, đến để mà thấy".

    (Bài này chỉ để tham khảo, khi tu tập cần phải có vị thầy có kinh nghiệm tu tập dẫn dắt và hướng dẫn)
    Last edited by phimanh; 02-29-2012 at 05:56 PM.

  13. #93
    Join Date
    Apr 2010
    Posts
    439
    Thanks
    2
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    THIỀN XẢ TÂM



    Đến với đạo Phật ai cũng biết đạo Phật là đạo trí tuệ. Trí tuệ được nói đến đây là sự hiểu biết đúng hay còn gọi là chánh kiến. Có sự hiểu biết đúng để ngăn và diệt ác pháp, làm cho sanh và tăng trưởng thiện.



    Do vậy thiền của đạo Phật là thiền xả tâm, chứ không phải là ngồi thiền để nhập định. Thiền xả tâm là xả tất cả dục và ác pháp, tâm trở nên toàn thiện. Chính tâm toàn thiện này là tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự. Chính tâm toàn thiện này là tâm đang ở Tứ Niệm Xứ. Sống được với tâm toàn thiện này trên Tứ niệm xứ kéo dài được 7 ngày đêm thì sẽ có Tứ Thần Túc. Tứ Thần Túc là 4 thần lực giúp cho người tu hành muốn nhập định nào thì sẽ nhập được định đó, muốn có tuệ nào thì sẽ có tuệ đó, muốn thấy quá khứ, vị lai nào thì sẽ thấy được quá khứ vị lai đó,… Những Định và Tuệ của thiền xả tâm do truyền lệnh từ Tứ Thần Túc mà có. Chứ không phải do ngồi thiền để nhập định.


    Do vậy mới có câu Định và Tuệ do Giới sanh ra. Giới luật là đạo đức đức hạnh, là những oai nghi tế hạnh giúp cho người tu hành sống trong thiện pháp. Chỉ khi sống trong thiện pháp thì mới có đủ thần lực truyền lệnh để nhập Định.


    Người nào hiểu sai rằng để có Định và Tuệ thì phải ngồi thiền, phải cột 6 căn lại để tâm yên lặng, phải gom tâm, phải nhiếp tâm vào một điểm nào đó, vào một chổ nào đó, vào một đối tượng nào đó, hay là cố giữ tâm thanh tịnh, giữ tâm không cho khởi niệm thiện niệm ác, giữ tâm trong trạng thái bất động thanh thản an lạc và vô sự,…thì sẽ bị tẩu quả nhập ma. Người tu hành sẽ bị rơi vào các trạng thái tưởng do ức chế thân tâm, dẫn đến các bệnh thần kinh, rơi vào các trạng thái ảo tưởng thấy ánh sáng hào quang, thấy hình ảnh Chúa, Phật, Phật bà Quang Âm, người thân, ma quỷ, nghe được tiếng dạy, tiếng nói, tiếng thì thầm của thần thánh, Chúa Phật, ma quỷ,…và còn nhiều trạng thái bệnh hoạn khác.


    Vậy người tu thiền xả tâm thì phải tu như thế nào?


    Xả tâm là ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện. Chứ không phải xả thiện xả ác. Bài Tứ Chánh Cần đức Phật đã dạy: “Ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện.” Đức Phật không dạy ngăn thiện diệt thiện, mà ngược lại Ngài dạy vẫn cần sanh thiện tăng trưởng thiện.


    Do vậy người tu hành theo đạo Phật chỉ cần lo ngăn ác diệt ác pháp, và sanh thiện và tăng trưởng thiện, chứ không phải không cho khởi niệm thiện niệm ác.


    Vậy thì quá dễ dàng, người tu vẫn sống bình thường như mọi người nhưng không dính mắc và ác pháp là được, còn đối với điều thiện thì làm cho sanh và tăng trưởng chúng.


    Sống bình thường là sống như thế nào? Là sống như một người bình thường, ngồi chơi, nếu tâm khởi niệm dục và ác pháp thì quán vô lậu để thấy nó đem đến đau khổ, nguy hiểm cho mình, cho người và cho chúng sinh như thế nào. Sau đó tác ý đuổi chúng đi. Một trong những câu tác ý hữu hiệu nhất là "Tâm bất động, thanh thản an lạc và vô sự"


    Như trên có nói “Ngồi chơi, nếu tâm khởi niệm dục và ác pháp thì quán vô lậu…” chứ không nói rằng “Ngồi chơi, chú ý, để ý tâm có khởi niệm dục và ác pháp…” Ý của tôi muốn nhắc rằng chúng ta cứ ngồi chơi tự nhiên đừng chú tâm vào xem tâm khởi niệm gì, cứ ngồi chơi tự nhiên, chỉ cần biết tâm khởi niệm gì thì đem niệm đó ra quán xét ác hay thiện. Đừng chú tâm, để ý tâm. Vì khi chúng ta chú ý, để ý tâm là chúng ta đang ức chế tâm vào một đối tượng nào đó, đó là cách ức chế tâm, sẽ làm cho tưởng thức hoạt động và sẽ dẫn đến những triệu chứng bệnh hoạn, tẩu quả nhập ma,…


    1. Ngồi chơi như một người bình thường biết rõ mọi vật xung quanh, mọi người xung quanh làm gì, nghe được tất cả mọi âm thanh nhưng không dính mắc vào là tu đúng, dính mắc vào là tu sai.


    2. Ngồi chơi tâm khởi niệm dục và niệm ác mà tâm không dính mắc là tu đúng, dính mắc là tu sai.


    Ví dụ:
    · Mắt thấy cây có nhánh hoa màu vàng, chúng ta chỉ cần biết vậy thôi. Nếu tâm khởi nghĩ ra hái, đem vào trong phòng cho thơm, cho đẹp thì tâm đã dính mắc, đã phóng dật, đó là tu sai.
    · Tai nghe tiếng bước chân đi của một người bạn đồng tu, chúng ta chỉ cần biết như vậy thôi thì là tu đúng. Còn nếu tâm khởi nghĩ ra muốn gặp nói chuyện hay hỏi han gì người bạn đó, đứng dậy ra gặp người đó, thì đã sai rồi, đã dính mắc, đã phóng dật rồi.
    · Ngồi chơi tâm khởi niệm nhớ lại lúc sáng có ai đó nói oan ức cho mình về chuyện làm cái gì đó sai thì mình quán nhân quả ngay để xả niệm đó xuống. Quán nhân quảlà thấy đó là nhân quả, do lúc trước ta cũng hay đổ oan cho người khác cho nên ngày nay ta cũng bị người khác đổ oan. Sau khi quán nhân quả chúng ta khởi niệm hãy thương yêu và tha thứ cho họ. Đó là tu đúng. Nếu chúng ta nhớ đến sự oan ức lúc sáng, khởi niệm sân giận, tìm cách trả thù, tìm cách minh oan, tìm cách mách thầy hay người quản lý,…thì đó là tu sai.
    · Ngồi chơi nhớ đến của cải tài sản mà khởi nghĩ nhớ nhung, nghĩ cách làm giàu, nghĩ cách kiếm tiền thêm, nghĩ cách sanh lợi thêm,…đó là tu sai. Còn chúng ta nghĩ cách xả bỏ tài sản đó vì biết nó là rắn độc, chỉ làm cho con người trở nên nô lệ, làm cho con người mất đi nhân tính,…đó là tu đúng.
    · Ngồi chơi thấy một chiếc xe hơi đẹp đời mới chạy qua, khởi nghĩ muốn có nó, muốn chạy thử, đó là tu sai. Nếu chúng ta khởi nghĩ mọi vật là vô thường, nay đẹp ngày mai cũng sẽ tàn phai, cũng bị đụng bị trầy sướt, bị hư hỏng, nó giống như một cái hộp sắt chở người thôi, không còn ham muốn nữa, đó là tu đúng.
    · Ngồi chơi thấy người làm vườn đang làm cỏ, nếu chỉ biết như vậy thôi thì là tâm không bị dính mắc, là tu đúng. Nhưng nếu ta khởi nghĩ rằng, người đó làm chậm quá, làm cách đó không hiểu quả, họ muốn kéo dài thời gian, làm biếng,…đó là tâm đã phóng dật, đã dính mắc, là tu sai.


    Tóm lại, thiền xả tâm là một pháp tu xả tâm dục và ác pháp, không để cho tâm dính mắc vào bất kỳ dục lạc và ác pháp nào, kể cả những pháp xung quanh và mọi người xung quanh.


    Tu thiền xả tâm như vậy là chỉ ngồi chơi như một người bình thường không có cột 6 căn vào bất kỳ đối tượng nào để tâm thanh tịnh. Vẫn để tâm thoải mái tự do như một người bình thường, nhưng tỉnh táo biết rõ từng tâm niệm thiện ác để xả những niệm dục và ác pháp xuống, còn niệm thiện thì quán sâu để hiểu rõ thêm.


    Ví dụ đang ngồi chơi nhớ lại lúc cảnh đang đi xe buýt có thấy một ông già nhường chổ ngồi cho một bà lão. Mình tư duy thêm, ông lão đã già mà còn có tình thương như vậy, còn mình trẻ thì cần phải noi gương ông, lần sau dù thấy ai (trẻ em, người trẻ, phụ nữ, người lớn tuổi ) mình cũng nên nhường chổ ngồi.


    Hoặc nhớ lại trên xe buýt có một người không có tiền đi xe bị đuổi xuống. Mình tư duy, lần sau nếu thấy trường hợp đó thì mình nên bỏ tiền ra trả tiền vé cho người đó,…


    Sống bình thường xả tâm giúp cho người tu luôn sống với ý thức, xả tâm bằng ý thức, bằng tri kiến nhân quả hay tri kiến giải thoát đem đến sự giải thoát ngay trong hiện tại. Xả đến đâu là thấy rõ sự giải thoát ngay đến đó. Đúng như lời Phật dạy: “Đạo ta không có thời gian, đến để mà thấy”. Chỉ cần hiểu và tu đúng thì sẽ cảm nhận được sự giải thoát ngay trong kiếp hiện tại, chứ không cần phải chờ nhiều đời nhiều kiếp.


    Còn nếu chúng ta hiểu sai, sống với tà kiến, chưa thông suốt cách thức tu hành, chỉ lo ngồi thiền để nhập định, lo cột 6 căn (mắt, tai mũi miệng thân ý) vào đối tượng nào đó, lo gom tâm, nhiếp tâm để cho tâm thanh tịnh, lo giữ tâm thanh tịnh, lo không cho khởi niệm thiện niệm ác,…thì cách thức tu hành đó sẽ không mang đến một kết quả nào. Sẽ không thấy sự giải thoát, do vậy sẽ dẫn đến chuyện bị lừa gạt rằng phải tu nhiều đời nhiều kiếp, phải cố gắng tụng kinh niệm Phật để sau khi chết được Phật rước về Tây Phương Cực Lạc tu tiếp.


    Do vậy bước vào đạo Phật người phật tử nên nghiên cứu kỹ những cách tu hành, cách nào đem đến kết quả thực tế nhất, không làm khổ mình, khổ người thì nên theo. Còn không nghiên cứu thông suốt trước thì sẽ bị mất thời gian, mất cả một kiếp người, thật là uổn phí.
    (Bài viết này được trích từ bài giảng ngày 23/02/2012 tại đây)


    Mời các bạn nghiên cứu về "Niệm" tại đây.

  14. #94
    Join Date
    Apr 2010
    Posts
    439
    Thanks
    2
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    BUÔNG XUỐNG SẠCH

    Người đến với đạo Phật khi giác ngộ được chân lý Tứ Diệu Đế sẽ quyết trong cuộc đời này đi tìm sự giải thoát cho chính mình. Chân lý thứ hai đã nói rõ nguyên nhân khổ của cuộc đời này là dục – ham muốn. Vậy muốn không còn ham muốn thì chúng ta nên buông xuống hết. Buông là buông cái gì? Có rất nhiều, nói chung là phải buông xuống sạch tất cả. Nghĩa là không màng đến chuyện đời nữa, Không màng đến đời nữa nghĩa là những gì dính dáng đến đời sống, chúng ta buông xuống hết. Cụ thể như:



    • Không nuôi loài vật nào hoặc trồng bất kỳ cây thực vật gì.
    • Từ bỏ mọi nghề nghiệp, mọi hiểu biết, mọi kinh nghiệm sống,…kể cả những việc làm từ thiện.
    • Không để ý đến chuyện đời nữa. Nghĩa là những gì xảy ra hằng ngày, ngoài xã hội, trong nước hay quốc tế. Chúng ta không cần để ý đến nữa. Do vậy, không cần đọc báo, xem TV, nghe đài, lên mạng vào internet, không gặp bất kỳ ai, không bàn chuyện với bất kỳ ai.
    • Từ bỏ những tham muốn đi chơi du lịch, thăm viếng danh lam thắng cảnh, khu giải trí, khu mua sắm trong và ngoài nước, xem phim ảnh, xem ca nhạc, xem kịch,...
    • Buông xuống mọi lời nói đúng sai phải trái của mọi người. Quán nhân quảđể buông xuống hết, tất cả đều là nhân quả, do chúng ta đã tạo nhân trong quá khứ cho nên ngày nay có người nói này nói nọ, đối xử tốt, xấu với ta như vậy. Buông xuống hết bằng 3 đức nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng; luôn sống thương yêu và tha thứ; cung kính và tôn trọng tất cả mọi người.
    • Sống đời sống cắt ái ly gia, không gia đình, không thân bằng quyến thuộc hoặc bạn bè, sống một mình độc cư, không tiếp xúc, nói chuyện với bất kỳ ai. Chỉ có đời sống độc cư mới giúp cho chúng ta buông xả sạch. Người tu hành không sống độc cư thì dù cho tu muôn ngàn kiếp cũng không bao giờ giải thoát.
    • Sống diệt những tâm ác như tâm nghi ngờ, tâm kiêu mạn, tâm sân, tâm si, vén sạch màn ngũ triền cái, cắt đứt những sợi dây kiết sử, đoạn diệt thập ác, giữ gìn và tăng trưởng thập thiện,...
    • Từ bỏ mọi dục lạc thế gian. Dục lạc thế gian thường gồm có 5 cái chính: ăn, ngủ, sắc, danh và lợi.



    1. Không nghĩ đến hoặc thích ăn bất kỳ món ăn nào. Không tự nấu ăn nữa, mà chỉ đi xin ăn, ai cho gì ăn cái đó. Thời nay người tu hành không đi khất thực như thời đức Phật, vào chùa hay tu viện được cho ăn, cho ăn gì thì ăn cái đó, ăn để mà sống, sống để tu, ăn một ngày một bữa, nhất quyết không ăn uống phi thời ngày 2-3 bữa. Ngoài bữa ăn chính ra chỉ uống nước lã, không uống nước trái cây, mật ong hay sữa. Quán thực phẩm bất tịnh để ly tham ăn.
    2. Ngày ngủ 5 tiếng, tối 4 tiếng, trưa 1 tiếng. Ngủ đúng giờ, thức đúng giờ, giờ nào ra việc đó. Chưa làm chủ cái ngủ thì làm sao làm chủ cái tâm được.
    3. Từ bỏ mọi tình ái yêu đương nam nữ, không tham sắc dục, quyết đoạn tuyệt tâm tham muốn sắc dục, quan hệ nam nữ. Không nghĩ đến người yêu củ, không luyến ái bất kỳ ai. Quánthân bất tịnh, thân vô thường để xa lìa tâm tham sắc dục. Không lui tới những nơi đông người tụ tập hội họp. Tránh xa người khác phái.
    4. Từ bỏ mọi danh vọng, bằng cấp, học vị, từ bỏ mọi nghề nghiệp cả ngoài đời lẫn ở nơi tu hành. Không cần đi học để lấy bằng cấp, không cần đọc sách để thêm hiểu biết nữa. Không đứng ra tổ chức làm từ thiện, gom quỹ hoặc thành lập nhóm từ thiện. Khi chưa tu hành giải thoát xong thì không ra làm thầy sư giảng pháp dạy người khác tu tập,…
    5. Từ bỏ mọi của cải, tài sản, tiền bạc. Không nghĩ đến cách kiếm tiền, làm giàu, không nói đến chuyện kiếm tiền, buôn bán, đầu tư bất động sản,…không sở hữa bất kỳ tài sản, của cải nào, giao hết lại cho người thân. Quyết chí sống đời sống như đức Phật thiểu dục tri túc, ba y một bát. Không cất giữ tiền bạc.


    -
    Quan trọng nhất là con đường đưa đến giải thoát Bát Chánh Đạo - chân lý thứ tư trong Tứ Diệu Đế. Đây là tám con đường mà hành giả phải nương tựa vào, lấy đó làm kim chỉ nam để thực hành hằng ngày, hằng tháng, hằng giây không được lơ là. Chính tám con đường này giúp cho hành giả không rơi vào tám đường tà là tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm và tà định.


    Đến với đạo Phật, chúng ta đã biết rõ chỉ buông xả sạch thì sự giải thoát nằm trong tằm tay của chúng ta trong một đời này. Do vậy buông xả là việc chính của sự tu tập ly dục ly ác pháp. Chứ không phải ngồi thiền, không phải ngồi thiền lâu, không phải tụng kinh lạy Phật, không phải đọc thần chú, không phải thờ lạy nhiều thần thánh hay nhiều Phật, không phải đến Tây Phương Cực Lạc,…

    Chỉ cần chọn được một tu viện (ví dụ: tu viện Chơn Như) hay chùa nào cung cấp cho chúng ta một nơi để sống độc cư trọn vẹn, cho ăn một ngày một bữa, giới luật nghiêm chỉnh, thì chúng ta xin vào đó. Lập hạnh quyết chí tu hành xả bỏ mọi chướng ngại pháp trong tâm, từ bỏ mọi ràng buộc ái kiết sử, không hơn thua với đời, với người, không màng đến chuyện người khác làm gì, sống ra sao, nói gì,… thì sự giải thoát của các bạn ngay trước mắt, không cần phải đợi lâu. Tâm của các bạn là tâm giải thoát, tâm bất động thanh thản an lạc vô sự - đó là chân lý thứ ba trong Tứ Diệu Đế.


    Hiểu rõ cần buông xả cái gì, phương pháp tu tập xả tâm thì chúng ta cứ việc sống độc cư một mình, ngồi chơi tự nhiên như người nhàn hạ rảnh rỗi không có việc gì làm. Không gò bó thân tâm. Khi có niệm khởi cám dỗ, xúi dục hoặc lôi kéo chúng ta chạy theo những dục lạc ham muốn, ác pháp thì chúng ta không làm theo, không nghe theo. Đó là chúng ta đang ly dục ly ác pháp. Nhiều lần không làm theo những niệm dục lạc hay ác pháp đó, các niệm dục và ác pháp từ từ thưa dần và biến mất hẳn. Tâm sẽ trở nên TỰ NHIÊN bất động,thanh thản an lạc và vô sự.


    Chỉ ngồi chơi thôi, ngồi chơi giữ đầu óc tỉnh táo, tỉnh giác biết rõ tất cả mọi vật, mọi việc xảy ra bên ngoài, tỉnh giác biết rõ mọi tâm niệm khởi lên bên trong nhưng không bị dính mắc vào đó là tu xả tâm, là đang buông xả, là tu đúng.


    Tu theo đạo Phật chỉ đơn giản như vậy thôi, không phải công phu tu tập gì cả, chỉ ngồi chơi sáng suốt tỉnh giác. Khi thấy hôn trầm thùy miên, vô ký, ngoan không đến thăm thì đứng dậy đi kinh hành cho tỉnh lại. Không nên tham các trạng thái thanh tịnh, không bám giữ các trạng thái thanh tịnh hay bất động. Không nên ngồi lâu quá 30 phút, cứ 30 phút thì đứng dậy đi kinh hành qua lại cho tỉnh táo vài phút là đủ. Nếu trước 30 phút mà tâm lờ mờ buồn ngủ thì nên đứng dậy ngay.


    Tóm lại, việc buông xả được tóm tắt qua những bài kệ sau, ai buông xả được thì sự giải thoát ngay trước mắt.


    Buông xuống đi, hãy buông xuống đi
    Bất động thanh thản chẳng sầu bi

    Buông xuống đi, còn lo chi nữa

    Giải thoát đây rồi, buông xuống đi.


    -o0o-


    Buông xuống đi, hãy buông xuống đi

    Chớ giữ làm chi có ích gì

    Thở ra chẳng còn chi lại nữa?

    Vạn pháp vô thường, buông xuống đi!


    -o0o-


    Buông xuống đi, hãy buông xuống đi

    Tâm hồn thanh thản chẳng sầu bi.

    Cuộc đời ngăn ngủi trong chớp mắt,

    Còn có vui gì chẳng bỏ đi!


    -o0o-


    Buông xuống đi, hãy buông xuống đi!

    Trò đời như mộng có còn chi.
    Tứ đại trả về cho tứ đại,

    Thanh thản an nhàn lúc phân ly!


    -o0o-

    Buông xuống đi, hãy buông xuống đi!

    Chớ giữ làm chi có ích gì?

    Ôm vào đau khổ muôn vàn tận,

    Buông xuống ngay liền, vạn khổ đi!

    -o0o-


    Buông xuống đi, hãy buông xuống đi!

    Chấp giữ thân tâm có ích gì?

    Thở ra chẳng còn chi lại nữa,

    Thân tâm vô thường, buông xuống đi!


    -o0o-

    Buông xuống đi, hãy buông xuống đi!

    Chớ diệt ý thức có ích gì!
    Ý làm chủ, dẫn đầu các pháp,

    Lợi ích vô cùng sao bỏ đi!


    -o0o-


    Tác ý đi, hãy tác ý đi!

    Bất động thanh thản chẳng sầu bi.

    Tác ý đi, còn lo chi nữa?

    Giải thoát đây rồi, tác ý đi!



    Mời các bạn đọc tiếp bài "Tưởng và cách khắc phục"
    tại đây.

    Last edited by phimanh; 05-23-2012 at 11:53 AM.

  15. #95
    Join Date
    Apr 2010
    Posts
    439
    Thanks
    2
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    TRÍ TUỆ THẾ GIAN CÓ PHẢI LÀ TRI KIẾN GIẢI THOÁT HAY KHÔNG ?




    Hỏi: Kính bạch Thầy, sự suy tư trong việc làm, để làm việc không thất bại, đó có phải là trí tuệ hay không? Trí tuệ đó có bằng tri kiến giải thoát trong Đạo Phật không? Xin Thầy chỉ dạy cho chúng con được rõ .


    Đáp: Sự suy tư trong hành động để làm việc không gặp thất bại, đó là tri kiến thế gian, nó thường mang theo những hành động thiện và ác, nên khi biến ra hành động việc làm thường mang theo quả khổ vui của tri kiến đó, nó không phải là tri kiến giải thoát của Đạo Phật, nó là tri kiến dính mắc khổ đau, còn tri kiến dùng để quán xét xả tâm diệt ngã, ly dục ly ác pháp, đó là tri kiến dùng để tu tập Định Vô Lậu trong từng tâm niệm, từng hành động việc làm để xả tâm tham ưu, phiền não, do sự quán xét tư duy này nên tâm được giải thoát an vui, thanh thản và vô sự đó là tri kiến giải thoát.


    Tu tập trong tâm niệm và việc làm, tức là tu tập Thân Hành Niệm, đó là một pháp môn đệ nhất của Đạo Phật về việc chánh niệm tỉnh thức, nhưng đây là giai đoạn đầu của pháp Thân Hành Niệm.
    Tu tập Định Vô Lậu, giúp chúng ta sống trong chánh niệm diệt trừ tà niệm.
    Tu tập Định Chánh Niệm Tỉnh Giác, là giúp chúng ta tỉnh thức phá trừ si mê hôn ám và thường sống trong thiện pháp. Để xác định một lần nữa về trí tuệ thế gian và trí tuệ giải thoát. Trí tuệ là sự hiểu biết và tư duy đều giống nhau cả. Nhưng sự tư duy suy nghĩ một điều gì mà do lòng ham muốn và nghiệp tham, sân, si thúc đẩy thì đó gọi là trí tuệ thế gian; còn sự tư duy, suy nghĩ đó mà đi ngược lại với lòng ham muốn và nghiệp tham, sân, si thì đó là trí tuệ giải thoát, còn gọi là tri kiến giải thoát.


    Do sự phân tích và xác định này, thì tri kiến giải thoát không phải ngoài trí tuệ thế gian mà có, không phải do tu tập Thiền định mà sanh ra theo kiểu Thiền Đông Độ đã nghĩ tưởng. Ngồi yên lặng không niệm thiện niệm ác, tức là không có vọng tưởng thì trí tuệ phát sanh. Trí tuệ đó, không phải là trí tuệ giải thoát mà là tưởng tuệ.


    Có một câu chuyện xảy ra trong thế kỷ này, người ta ca ngợi về Thiền Đông Độ một cách huyền thoại:
    Họ nói rằng trong thời chiến tranh Việt Nam có một vị Đại Sứ Mỹ C.B.L. khi được Tổng Thống Mỹ đưa sang Việt Nam để giải quyết vấn đề Phật Giáo năm 1962-1963, thì Ông phải đi sang Nhật Bổn học Thiền một khoá rồi mới đến Việt Nam giải quyết. Người ta bảo rằng mỗi khi có gặp một vấn đề khó khăn không giải quyết được, thì Ông tọa Thiền khoảng 30 phút là trí tuệ Ông phát ra và hôm sau Ông giải quyết sự việc một cách tốt đẹp, đó cũng là một trò lừa bịp.


    Khi nghe trong Kinh điển Đức Phật dạy: “Giới sanh định, định sanh tuệ”. Do định sanh tuệ, rồi người ta lại tưởng ra và hiểu một cách sai lệnh về định, cho rằng: ngồi Thiền giữ tâm không vọng tưởng là định và khi ngồi im lặng được không vọng niệm xen vào thì trí tuệ phát sanh, trí tuệ này do định sanh rất thông minh. Người ta chưa biết định là gì, nên đã hiểu lầm chữ định sanh tuệ trong nhà Phật.


    Chữ định trong nhà Phật, là chỉ cho tâm ly dục ly ác pháp, nếu tâm chưa ly dục ly ác pháp thì tri kiến đó là tri kiến thế gian, còn tâm đã ly dục ly ác thì tri kiến ly dục ly ác pháp đó là tri kiến giải thoát, tri kiến giải thoát tức là định, tức là tâm ly dục ly ác pháp, tâm ly dục ly ác pháp là tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh tức là tâm bất động, tâm bất động tức là định, định tức là tri kiến giải thoát. Như vậy, Đức Phật gọi định sanh tuệ, chứ không phải ngồi như con cóc không niệm thiện niệm ác rồi mới phát sanh trí tuệ. Đó là, một sự hiểu sai lệch, hiểu theo tưởng tri của các nhà học giả xưa và nay.



    Hằng ngày, con tu tập diệt ngã xả tâm, ngăn ác diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện pháp là con đã tu tập tri kiến giải thoát. Nhờ tu tập trí tuệ tri kiến giải thoát này tâm con nhuần nhuyễn, bén nhạy, phản ứng tự nhiên, khi gặp các ác pháp khiến tâm con thanh thản và an lạc thì đó gọi là tri kiến giải thoát. Cho nên, một sự tư duy suy nghĩ nào, mà khiến cho tâm ly dục ly ác pháp là trí tuệ tri kiến giải thoát của con chứ không phải ngồi Thiền mà phóng ra trí tuệ đó được.


    Muốn có trí tuệ tri kiến giải thoát, thì ngày nào con cũng tu tập quán xét, suy tư để đẩy lùi các chướng ngại pháp trong thân tâm đó là con tu tập rèn luyện trí tuệ tri kiến giải thoát, nó lớn mạnh dần theo sự tu tập của con là con đã khắc phục được tâm tham ưu khổ não của mình, tức là con khắc phục được sanh tử luân hồi.


    Những việc tu tập này Đức Phật gọi là Thiền định: “Này các Thầy Tỳ Kheo, đối với các pháp ác bất thiện chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng… Đối với các pháp ác, bất thiện đã sanh, khởi lên ý muốn đoạn tận, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng…Đối với các pháp thiện chưa sanh, khởi lên ý muốn làm cho sanh khởi, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng… Đối với pháp thiện đã sanh, khởi lên ý muốn làm cho an trú, không cho vong thất, làm cho tăngtrưởng, làm cho quảng đại, tu tập, làm cho viên mãn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng…” Trên đây, là một bài Kinh trong 37 phẩm trợ đạo mà Đức Phật đã dạy chúng ta tu Thiền định thuộc Tăng Chi Bộ Kinh Tập 1, trang 82, bài 14-17, tựa là Thiền Định.


    Tóm lại, từ định sanh ra trí tuệ tri kiến giải thoát thì phải ở trong thân hành niệm mà tu tập. Nhờ có tu tập pháp Thân Hành Niệm, thì mới đủ năng lực đẩy lùi các ác pháp và nội lực tham dục, sân dục và si dục. Những dục tham, sân, si này rất mạnh, nếu một người tu hành mà không hành pháp Thân hành Niệm thì chẳng bao giờ có nội lực để đương đầu với nội lực ác pháp tham, sân, si, chúng có một sức mạnh kinh khủng là vì chúng ta đã tập tham, sân, si nhiều đời nhiều kiếp chứ không phải có một đời này.


    Thân Hành Niệm, là một tên pháp môn chỉ gồm chung nhiều pháp môn tu tập, rèn luyện về trí tuệ tri kiến giải thoát về nội lực bảy Giác Chi, về lệnh Tứ Như ý Túc.


    Do sự suy tư tu tập này, chúng ta suy ra mới thấy rõ đường lối tu tập của Đạo Phật là chuyển từ tri kiến thế gian để trở thành tri kiến giải thoát, từ tri kiến giải thoát chuyển thành tâm ly dục ly ác pháp từ tâm ly dục ly ác pháp chuyển thành tuệ Tam Minh, chứ không phải từ sự yên lặng nào mà sanh ra được.


    Đạo Phật, là đạo trí tuệ, là đạo chuyển hóa tâm phàm phu trở thành tâm Thánh.


    Vậy, các con có muốn mình, có trí tuệ tri kiến giải thoát hay không?.
    Muốn được như vậy không phải dễ đâu!
    Phải bằng nước mắt, xương và máu của chúng ta, có nghĩa là chúng ta phải chết đi một lần và sống lại.
    Nếu không có sự quyết tử ấy, thì cuộc đời tu hành của chúng ta hoài công vô ích mà thôi.


    Bởi, tâm Thánh không thể dành cho những kẻ còn ham sống sợ chết, đàng nào rồi các con cũng phải chết, nhưng chết trong đau khổ và mãi mãi khổ đau. Ngược lại, người sống mà như đã chết, thì sẽ sống mãi, sống mãi muôn đời và không còn khổ đau nữa.

    (Trích Đường về xứ Phật tập I)


    Muốn biết pháp Thân Hành Niệm tu như thế nào, xin mời các bạn tải ebook "Muốn tu chứng đạo phải tu pháp môn nào ?"

  16. #96
    Join Date
    Apr 2010
    Posts
    439
    Thanks
    2
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    Tại Sao Tâm Luôn Luôn Động


    Trong kinh
    "Tứ Diệu Đế" Đức Phật đã nói rõ "Bản chất của cuộc đời này là khổ đau", “Nguyên nhân khổ chính là dục”. Dục nghĩa là tham muốn. Khi sống còn có tham muốn thì tâm luôn luôn động, không bao giờ bất động. Do có quá nhiều tham muốn, tâm con người không bao giờ ngừng suy nghĩ, tính toán, lo lắng, bất an, sợ hãi và buồn phiền. Khi sống không còn tham muốn thì tâm sẽ bất động. Ví dụ:


    1. Tâm tham muốn ăn uống món này món nọ, lúc nào cũng nghĩ đến ăn uống, thích ăn nhiều lần, thích ăn vặt, ăn phi thời, đi đâu làm gì cũng nghĩ đến ăn uống, thích đi chợ, thích nấu chế biến món ăn, thích ăn những món ăn bổ dưỡng,...
    2. Tâm tham ngủ, ngủ hết giờ này đến giờ khác, ăn xong rồi ngủ, nướng qua nướng lại,...ngủ phi thời, giờ nào ngủ cũng được.
    3. Tâm tham muốn có vật này vật nọ, thấy vật nào đẹp cũng thích, thấy người khác có vật gì thì cũng muốn có, thích mua sắm, để dành, tích trữ,…
    4. Tâm tham muốn danh vọng, quyền lực, chức vị, bằng cấp, bằng khen,… muốn có địa vị cao hơn người khác. Ham thích lảnh đạo, chỉ đạo người khác, thích người khác nghe theo ý của mình, muốn người khác nghe lời mình, làm theo ý mình, muốn người khác tôn sùng mình, tự cho mình là đúng, là giỏi, là tài, là thông minh, độc tài, độc đoán, độc quyền, thích phán xét, bình luận, châm biếm, thích so sánh mình với người khác, chỉ trích người khác, kiêu căng, tự mãn, cao ngạo, xem thường người khác,...
    5. Tâm tham muốn có nhiều tiền, trúng số, may mắn, buôn bán giàu có, có nhiều của cải tài sản, nhà cửa, đất đai, thích đầu tư, tích trữ, muốn giàu có hơn người khác, muốn làm giàu bằng con đường cờ bạc, đánh đề, cá độ, buôn lậu, khai gian trốn thuế, lừa gạt người khác,...
    6. Tâm tham muốn học nhiều môn, muốn hơn người khác, muốn giỏi hơn người khác, muốn thông minh, muốn hiểu biết nhiều hơn người khác.
    7. Tâm muốn có người yêu, có vợ, có chồng, có con, có cháu, có gia đình, có người thân, có nhiều bạn bè, có nhiều quan hệ rộng,…
    8. Tâm muốn nuôi các loài vật, muốn trồng nhiều loại bông hoa đẹp,…
    9. Tâm muốn làm cái này, cái nọ, không thích ở yên một chổ, thích hoạt động tay chân, thích lái xe đi đây đó,…
    10. Tâm ham thích sáng tạo, chế tạo, phát minh, cải tiến, nghiên cứu, viết sách, viết thơ, viết truyện, viết lách…
    11. Tâm ham thích đi chơi đây đó, đi du lịch, đi dã ngoại, đi ra biển, leo núi, thích chụp hình, thích vẽ tranh, đánh đàn…
    12. Tâm thích xem phim ảnh, nghe ca nhạc, thích tài tử, thích ca sĩ, vào mạng internet,…
    13. Tâm thích uống rượu bia nhậu nhẹt, ăn chơi, thích đời sống hưởng thụ của vua chúa,…
    14. Tâm thích người khác phái, thích ghét ai đó, giận ai đó, oán hận ai đó, trách móc ai đó, lo lắng cho ai đó, nhớ thương ai đó hoặc các loài vật nào đó, …
    15. Tâm nhiều chuyện, thích để ý chuyện người khác, tò mò chuyện người khác, không biết giữ kín chuyện, hay phóng đại nghe một nói hai, thích tụ họp đông người bàn chuyện thiên hạ, thích bàn chuyện kinh tế, chính trị, quốc tế, chuyện đông, chuyện tây,...
    16. Tâm muốn có sức khỏe tốt, có thân hình đẹp, cao, nở nang, gương mặt đẹp, tướng tốt, ...
    17. Tâm thích những vật đẹp nhất, sang nhất, hiếm có nhất, cổ nhất, có giá trị nhất,...
    18. Tâm ham thích những chuyện tâm linh huyền bí, siêu hình, ham thích những trạng thái vắng lặng, tưởng là thiền định rồi bám vào, ham thích những khả năng siêu nhiên, những công năng đặc biệt, thần thông,...
    19. Tâm ham thích những thú vui chơi, giải trí,...
    20. Tâm ham thích thờ lạy tôn thờ thần thánh,...
    21. Tâm ham thích làm việc từ thiện giúp đỡ người, phóng sanh,...
    22. V.v…


    Do sống trong những tham muốn trên mà con người luôn phải đấu tranh, tự vệ, sợ hãi, lo lắng và phiền muộn. Nói đến cái sợ thì con người sợ đủ thứ trên đời: sợ nghèo, sợ đói, sợ già, sợ lúc về già không ai chăm sóc, sợ không có người thân bên cạnh, sợ bệnh, sợ đau đớn, sợ uống thuốc, sợ bác sĩ, sợ chết, sợ thất nghiệp, sợ xa nhau, sợ bị bỏ rơi, sợ chia tay, sợ bị mất người thương yêu, sợ gặp người mình không thích, sợ gặp kẻ thù, sợ bị hại, sợ bị mất của cải tài sản, sợ trộm cắp, sợ bị sát hại, sợ bị hãm hiếp, sợ thua người khác, sợ bị mất công danh lợi lộc, sợ ma, sợ quỷ, sợ thần thánh, sợ cô đơn lẻ loi, sợ bóng tối, sợ sống một mình, sợ sự yên tĩnh, sợ người khác không làm theo ý mình, sợ đi xe, sợ độ cao, sợ tốc độ, sợ ánh sáng, sợ khổ cực, sợ mất ngủ, sợ không ăn được, sợ người khác khinh chê, sợ những lời đàm tiếu, sợ người khác nói xấu, nói cái sai, cái lỗi của mình, sợ các loài vật, ...

    Khi sống trong sợ hãi, tâm sẽ mất lòng tin vào chính mình và người khác, luôn nghi ngờ, nghi kỵ nhau, nghĩ xấu về nhau, luôn tìm đủ mọi cách đạt được những gì mình muốn và có lợi cho mình. Sống trong những tâm tư như vậy, con người luôn phải tư duy suy nghĩ tìm đủ mọi cách để đạt được những gì mình muốn, bất chấp mọi thủ đoạn dù là giết người, trộm cắp, lường gạt, nói dối, ly gián, hãm hại nhau,...


    Chỉ có ai biết sống đời sống như đức Phật Thích Ca, buông xuống sạch tất cả, sống khất thực từng ngày, ít muốn biết đủ, luôn ly dục ly ác pháp thì tâm sẽ tự nhiên thanh tịnh và trở nên bất động, thanh thản an lạc và vô sự.

    Sự bất động, thanh thản an lạc và vô sự của tâm là do từ bỏ những tham muốn của mình chứ không phải do ngồi thiền, tụng kinh, hay niêm Phật. Đúng như lời Phật dạy trong chân lý thứ 3 của Tứ Diệu Đế - diệt dục thì tâm sẽ ở trạng thái bất động, thanh thản an lạc và vô sự. Trạng thái này gọi là Niết Bàn.

    Để giúp cho tâm trở nên bất động thì phương pháp "Như Lý Tác Ý" rất quan trọng. Phương pháp này giúp cho tâm từ từ thuần phục trở về với chánh đạo, xa lìa tà đạo. Thiếu phương pháp Như lý tác ý thì tâm thường bị những ham muốn lôi kéo, không còn làm chủ mình nữa, lúc đó con người luôn sống trong nô lệ của những dục lạc tham muốn thế gian.

    Ví dụ: khi tâm tham muốn ăn thêm ngoài giờ ăn chính, thì ta nhắc thầm trong đầu: "tâm phải bất động thanh thản an lạc và vô sự, không được tham ăn"

    Tóm lại, muốn tâm không còn động nữa thì chỉ cần sống ly dục, ly ác pháp.


    Để rõ hơn các bài liên quan, các bạn chỉ cần click vào những dòng chữ màu xanh phía trên.
    Last edited by phimanh; 08-25-2012 at 07:38 AM.

  17. #97
    Join Date
    Apr 2010
    Posts
    439
    Thanks
    2
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    KHÔNG DÍNH MẮC

    Dính mắc là tham đắm vào một điều gì đó, vào ai đó mà không tách rời được, không bỏ được, bị lôi kéo, bị thu hút như một lực hút vô hình.

    Khi dính mắc thì con người thường sống làm khổ mình, khổ người và khổ các loài chúng sinh khác.

    Làm sao hiểu được để mà không dính mắc? Khi hiểu được mọi pháp là vô thường, là luôn thay đổi, là không có gì bất biến, hay bất di bất dịch cho nên chúng ta buông bỏ tất cả. Khi buông bỏ tất cả, không chấp vào bất kỳ cái gì thì chúng ta không còn dính mắc, không còn trụ ở bất kỳ điều gì, vật gì, chính bản thân hay ai thì chúng ta không còn chấp trước nữa.

    Vậy thường con người dính mắc vào điều gì, vào ai hay cái gì?


    1. Dính mắc vào hoàn cảnh môi trường xung quanh, không vừa ý cái này, không vừa ý cái kia, sống không biết nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng. Ví dụ như chổ ở có muỗi, kiến, các loài côn trùng, rắn, rít, bò cạp, cuốn chiếu,...nhiều quá. Chổ ở tối ẩm, ít nắng, hoặc nắng nhiều quá,...
    2. Dính mắc vào những người sống xung quanh. Ví dụ: họ làm biếng làm việc, kéo dài thời gian, chỉ ngồi chơi cho hết ngày rồi về. Hoặc người này tu như thế này là không đúng, người kia cũng vậy. Hoặc người quản lý này không có đạo đức, đức hạnh mà được làm quản lý,...
    3. Dính mắc vào ý kiến, lời nói, việc làm của người khác.Ví dụ: cách quản lý tiền bạc của tu viện, chùa không minh bạch, việc làm của người quản lý không đúng với những gì thầy dạy,...
    4. Dính mắc vào những nghi ngờ xấu về người khác.
    5. Dính mắc vào những đánh giá, nhận xét, phát xét chủ quan của chính mình.
    6. Dính mắc vào những gì nghe, thấy hoặc đọc được. Khi nghe ông A nói về ông B như thế này, thế kia là tự nhiên bị dính mắc vào những lời nói đó rồi tìm cách đi tìm hiểu có phải đúng như vậy không ? đánh giá, nhận xét, phán đoán mọi việc theo ý của mình đúng sai phải trái,...
    7. Dính mắc vào những định kiến, thành kiến, kiến chấp của mình về người khác. Tính cách của mỗi người luôn thay đổi, không có gì là không thay đổi. Hôm qua họ keo kiệt bủn xỉn, nhưng hôm nay có thể họ đã biết mở rộng tấm lòng ra bố thí, chia sẻ,...
    8. Dính mắc vào tư tưởng, quan niệm, quy định của người khác, của tôn giáo, của các đảng phái chính trị, của các tổ chức công đoàn, tập thể,...
    9. Dính mắc vào những lỗi lầm, cái xấu, cái sai trong quá khứ của mình hoặc ai đó. Có thể lúc xưa người đó hay sân, nhưng hiện tại có thể họ đã thay đổi rồi, chúng ta không nên cố chấp mà phải biết mọi việc là vô thường, không có gì bất biến trên đời này cả.
    10. Dính mắc vào những chuyện quá khứ, tương lai.
    11. Dính mắc vào những hiểu biết, kinh nghiệm của mình của người.
    12. Dính mắc vào sự chê khen, thành bại, được mất, tốt xấu, vui buồn, đúng sai, phải trái, thật giả, có không, ngon dở, giàu nghèo, nam nữ, thiện ác, chánh tà, đẹp xấu, mắc rẻ, ưu khuyết, quá khứ tương lai, yêu hận, thương ghét, hạnh phúc đau khổ,....
    13. Dính mắc vào cách đối xử, cư xử của người khác.
    14. Dính mắc vào cái nhìn, sự nhận xét, đánh giá của người.
    15. Dính mắc vào hình tướng, cách ăn mặc, điệu bộ, cử chỉ,...của người.
    16. Dính mắc vào cái thân, cái ngã, chấp cái thân là của mình, suốt ngày lo cho nó, chăm sóc cho nó, vì nó mà thương giận, sân, oán, hận,...
    17. Dính mắc vào của cải tài sản, tiền bạc, chức vị, bằng cấp, vị trí, tình cảm, người thân quen, ăn uống, ngủ nghỉ, mua sắm, ...
    18. Dính mắc vào sự hơn thua, vào vị trí đứng đầu, vào vị trí cao nhất, vào danh hiệu, vào sự đoạt giải, vào thắng thua,...
    19. Dính mắc vào các vật nuôi, thú cưng, cây trồng,...
    20. Dính mắc vào chuyện đời, chuyện xã hội, chuyện quốc tế, chuyện chính trị, chuyện tôn giáo, chuyện kinh tế, chuyện khoa học, chuyện thời đại, tất cả mọi ngành nghề, công tác xã hội, tổ chức, công đoàn, câu lạc bộ,...
    21. Dính mắc vào những trò vui chơi giải trí như phim ảnh, nhạc, kịch, game, internet, email, chat, blog,...,
    22. Dính mắc vào các cuộc đi chơi đây đó, đi du lịch,..
    23. Dính mắc vào những thiếu sót, tiêu cực, bi quan, khiếm khuyết, sự nhút nhát, sự bất toại nguyện,... của mình và người.
    24. Dính mắc vào cuộc sống, bệnh tật, già và chết.
    25. Dính mắc vào những giả thuyết, lý luận, chân lý, mệnh đề, tư tưởng của khoa học, của tôn giáo, của các học giả,...và của tất cả mọi người.
    26. Dính mắc vào những tiến bộ của công nghệ, phát hiện mới, phát minh mới, những thành tựu, khám phá mới của khoa học,....
    27. Dính mắc vào những công nghệ cao, máy móc điện tử công nghệ cao như smart phone, smart tv, tablet, laptop, máy tính, robot, biến đổi gene, internet,... và tất cả những máy móc điên tử gia dụng khác.
    28. Vào chùa hoặc tu viện thì dính mắc vào chùa, tu viện, từ chuyện tổ chức, chuyện xây dựng, chuyện tài chánh,... cho đến thầy, cô, phật tử, làm phước. Ví dụ xem những gì thầy làm là luôn luôn đúng mọi thời đại, bất di bất dịch, không thể thay đổi được,... bị phật tử lôi kéo, cám dỗ,...
    29. Dính mắc vào phước báu hữu lậu.
    30. Dính mắc vào nhân quả của người khác.
    31. Dính mắc vào các pháp tu như phải ngồi thiền, tụng kinh, niệm thần chú, tu phải có thần thông, thiền định; Tứ Niệm Xứ, Định Niệm Hơi Thở, Thân Hành Niệm; các trạng thái thanh tịnh, bất động, các cảm thọ (thọ khổ, thọ lạc, thọ bất khổ bất lạc),...
    32. Dính mắc vào các trạng thái thần thông, các trạng thái của tưởng như thấy mình bay, nghe được Phật giảng kinh, thấy Phật bà Quang Âm, Phật Di Lạc, Phật Thích Ca, thấy hào quang, nghe được tiếng nói rất xa, nhìn thấy được những người rất xa, biết được chuyện quá khứ vị lai, ...
    33. Dính mắc vào thời tiết, khí hậu, nóng lạnh, mưa bão, gió, mây,...
    34. Dính mắc vào ngày tháng năm, ngày thường, ngày cuối tuần, ngày lễ, ngày rằm, mùng 1,30,14,ngày sinh nhật, ngày đám giỗ, ngày Phật Đản, Tết, Trung Thu,...
    35. Dính mắc vào những gì mình đã làm, làm được, đạt được, thành công, đã tạo dựng, đã phát minh, đã sáng chế, đã sáng tạo, đã tạo ra, đã lập ra,....
    36. Dính mắc vào những vật quý, mới, hiếm, lạ, đẹp, hoặc những vật mình không có cho đến những vật nhỏ bị vứt bỏ dưới đất cũng lượm lên đem về cất,... Cho nên khi thấy những vật đó là muốn có ngay, muốn xin ngay, muốn mượn ngay hoặc muốn mua ngay, tìm mọi cách để có cho bằng được.
    37. Dính mắc vào tri kiến giải thoát, vào kiến thức Phật pháp, và các loại kiến thức chuyên môn khác.
    38. Dính mắc vào tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự.
    39. Dính mắc vào cái không dính mắc.
    40. Dính mắc vào v.v và v.v...


    Chỉ cần ngày ngày quán xét sự dính mắc và buông xả tất cả, đến một ngày nào đó chúng ta sẽ nhận ra tâm mình không còn dính mắc nữa, lúc đó sẽ hiểu được 2 chữ VÔ SỰ và biết rõ tâm đang bất động thanh thản an lạc và vô sự. Sự giải thoát nhiều hay ít nằm ở chổ dính mắc ít hay nhiều, không dính mắc gì cả thì sự giải thoát là viên mãn.

    Muốn không dính mắc thì phải nhớ luôn luôn phòng hộ sáu căn, giữ tâm không phóng dật, không để cho 6 căn dính mắc với 6 trần, luôn sống với tri kiến giải thoát, buông xả (tri kiến về nhân quả, lý vô thường, bất tịnh, cái chết, đức hiếu sinh,...) thường xuyên quán vô lậu để xả bỏ mọi tham muốn, dính mắc ở đời.
    Tất cả các pháp từ ngoài vào trong đều là vô thường, ai hiểu rõ được ý nghĩa vô thường của vạn pháp thì mới không dính mắc hay chấp trước. Còn ai vẫn còn chấp trước, dính mắc hay trụ vào bất kỳ điều gì thì chưa hiểu được ý nghĩa vô thường của vạn pháp.

    Chỉ khi không dính mắc thì tâm mới tự nhiên bất động. Bất động tự nhiên là kết quả của sự buông xả sạch không còn một hột bụi nào. Đó là sự buông xả thật sự từ nội tâm của một người tu theo đạo Phật, là người đệ tử Phật chân chính.

    Không dính mắc vào bất kỳ pháp nào trên thế gian này thì làm gì còn tương ưng với thế giới tham sân si mạn nghi trên trái đất này nữa, nghĩa là đã làm chủ nhân quả, chấm dứt tái sanh luân hồi.

    Buông xả sạch, không còn một hột bụi nào, đời sống trắng bạch như vỏ óc không còn điều gì có thể ràng buộc người đó. Có như vậy thì tâm mới bất động thanh thản an lạc và vô sự.

    Tâm bất động thanh thản an lạc vô sự của đạo Phật không phải do tụng kinh, đọc thần chú, niệm Phật, chú tâm vào đề mục nào hay là ngồi thiền. Tâm bất động thanh thản an lạc vô sự là sự tự nhiên của tâm buông xả sạch khi giác ngộ chân lý Tứ diệu đế, nguyện sống cuộc đời đạo đức, đức hạnh, nghĩa là sống toàn thiện, nghĩa là giữ gìn trọn giới luật nghiêm chỉnh.

    Tóm lại chỉ cần giữ gìn giới luật đức hạnh nghiêm chỉnh thì người đó sẽ buông xả tất cả, luôn sống trong thiện pháp thì chắc chắn người đó sẽ không còn chấp trước, dính mắc hay trụ vào bất kỳ pháp nào. Vì khi còn dính mắc, chấp trước hay trụ vào pháp nào thì ác pháp từ đó sanh ra.

    Người hiểu được vạn pháp là vô thường thì buông xả tất cả không còn chấp trước, dính mắc hay trụ vào pháp nào cả. Tâm người đó luôn bất động thanh thản an lạc và vô sự. Chính trạng thái tâm này gọi là Niết Bàn.

    Niết Bàn là trạng thái của tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự, niết bàn không phải là thế giới nào cả. Do vậy Niết Bàn mới gọi là chân lý thứ 3 trong Tứ Diệu Đế. Chân lý nghĩa là khi nói ra ai cũng hiểu và làm được. Còn hiểu Niết Bàn là thế giới thì mỗi người sẽ hiểu một kiểu, hiểu như vậy không thể gọi là chân lý được.
    Vạn cảnh đang lay động
    Tùy cảnh tâm an vui
    Nhờ cảnh tâm vô trụ
    Không buồn cũng không vui

    Mời các bạn đọc tiếp bài:

    1- Sống Không Làm Khổ Người Khác.
    2- Sống không làm khổ mình
    3- Ba cách chuyển hóa nhân quả.
    Last edited by phimanh; 04-08-2013 at 04:51 PM.

  18. #98
    Join Date
    Apr 2010
    Posts
    439
    Thanks
    2
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    TÂM GIẢI THOÁT



    Dựa vào bài "Món ăn giải thoát" của thầy Thích Thông Lạc giảng, chúng ta đã xác định được tâm giải thoát của đạo Phật là "tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự".

    Cái quan trọng là làm sao giữ gìn, bảo vệ và hộ trì chân lý này suốt cuộc đời, bởi vì chính tâm này là tâm Niết Bàn.

    Qua những bài giảng cuối đời của thầy Thích Thông Lạc, thầy luôn luôn nhấn mạnh cho chúng ta thấy đạo Phật là đạo trí tuệ, trí tuệ đó là do chúng ta tự triển khai sự hiểu biết đúng với đường lối của Tứ Diệu Đế, lý nhân quả, lý vô thường, lý vô ngã, quán thân bất tịnh, thức ăn bất tịnh, ... để từ đó đứng trước mọi việc xảy ra trong cuộc sống, tâm chúng ta không bị lo lắng, phiền não, sợ hãi, sân giận và đau khổ, tâm luôn giữ được bất động thanh thản an lạc và vô sự.

    Lời thầy Thích Thông Lạc dạy: "Trí tuệ là sự hiểu biết và tư duy đều giống nhau cả. Nhưng sự tư duy suy nghĩ một điều gì mà do lòng ham muốn và nghiệp tham, sân, si thúc đẩy thì đó gọi là trí tuệ thế gian; còn sự tư duy, suy nghĩ đó mà đi ngược lại với lòng ham muốn và nghiệp tham, sân, si thì đó là trí tuệ giải thoát, còn gọi là tri kiến giải thoát."

    Nếu không triển khai tri kiến hiểu biết về Tứ Diệu Đế, nhân quả, vô thường, quán bất tịnh, ... thì tâm sẽ bị lo lắng, buồn phiền, sợ hãi, sân giận và đau khổ. Do vậy việc triển khai tri kiến rất rất là quan trọng. Không có tri kiến giải thoát này thì chúng ta tu hành sẽ bị rơi vào ức chế tâm, không xả tâm được, chỉ dồn nén, chịu đựng mà thôi.

    Tại sao nói rằng tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự là tâm giải thoát?

    Chúng ta hãy thử giải thích từng cụm từ một.

    1. Bất động là không dao động trước bất kỳ một pháp nào nữa nghĩa là tâm không dao động trước các dục, ác pháp và các cảm thọ. Không bị chúng lôi kéo, cám dỗ, xúi dục, trước các cảm thọ đau nhức tâm không lo lắng, sợ hãi, phiền não, sân giận và đau khổ.
    2. Thanh thản là tâm không còn lo lắng, buồn phiền, sợ hãi, sân giận và đau khổ.
    3. An lạc là nói về thân được khinh an, an lạc không bị một bệnh tật đau nhức nào.
    4. Vô sự là nói về sự buông xả hoàn toàn, không còn dính mắc vào thứ gì trên đời, tất cả đều buông xuống, không còn lo lắng, buồn phiền, sợ hãi và đau khổ nữa.


    Do đó tâm bất động, thanh thản an lạc và vô sự là tâm giải thoát, là tâm chứng đạo, là tâm niết bàn.

    Khi biết được trạng thái tâm giải thoát này chúng ta hãy luôn giữ gìn,bảo vệ và hộ trì chúng bằng phương pháp "Như Lý Tác Ý" và bằng Tứ Niệm Xứ. Như Lý ở đây là như lý của sự giải thoát, như lý của sự giải thoát là "tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự", đó là chân lý thứ ba trong Tứ Diệu Đế - diệt đế. Tác ý là thầm tác ý hoặc hướng tâm đến lý giải thoát này. Khi chúng ta thường xuyên tu tập pháp NHƯ LÝ TÁC Ý thì tâm của chúng ta ở trong trạng thái CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC.

    Trước mọi việc xảy ra trong cuộc sống, chúng ta phải mạnh dạn vượt qua, không để bị đắm nhiễm, nhiễm ô vào dục và ác pháp, không để cho chúng lôi kéo, cám dỗ và xúi dục chúng ta, bằng câu tác ý: "tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự."

    Ví dụ: khi đứng trước nữ sắc hoặc nam sắc, chúng ta triển khai tri kiến, thân họ là bất tịnh, là thân hôi thúi, uế trược, là nguyên nhân của sanh tử luân hồi,...Sau đó ta tác ý trong đầu: "tâm phải bất động thanh thản an lạc và vô sự, không được dính mắc vào, dính mắc là đau khổ muôn ngàn kiếp".

    - Khi bị chửi mắng, la hét, ta triển khai tri kiến rằng: người đó đang nóng giận, họ đang đau khổ, hãy yêu thương họ, hoặc ta quán nhân quả thấy việc họ la mắng ta là do ta đã gieo nhân xấu trong quá khứ, nay phải chịu quả báo như vậy, ta thấy lỗi là do mình trước, nên im lặng hoặc nhận lỗi để giúp cho cơn sân giận của họ được giảm xuống, sau đó thầm nhắc: "tâm phải bất động thanh thản an lạc và vô sự, không được sân giận, hãy yêu thương họ".

    - Khi tâm khởi lên muốn ăn uống phi thời, ta triển khai tri kiến về thức ăn là bất tịnh, ăn vào rồi thì chúng đã thành phân, thành những thứ chua hôi, có nhổ ra cũng không ai dám ăn. Chúng ta ăn để mà sống, sống để tu, nhất quyết không ăn uống phi thời, ăn uống linh tinh, chạy theo tâm tham dục ăn uống, do vậy ta thầm nhắc "tâm phải bất động thanh thản an lạc và vô sự, tâm không được tham ăn, tâm tham ăn cút đi."

    - Khi thân bị bệnh đau nhức, chúng ta triển khai tri kiến rằng: bệnh là do nhân quả, là vô thường, thay đổi, đến rồi đi, có gì đâu mà sợ, trước sau gì mày cũng biến mất. Rồi thầm nhắc "tâm phải bất động thanh thản an lạc và vô sự, mặc kệ nó, không cần lo lắng, sợ hãi gì cả". Dù cho bệnh có đau nhức cỡ nào, sưng to, chảy nước mắt, đau như kim châm, dù cơn đau như ai cắt ruột, như ai banh da, xẻ thịt cũng chẳng hề dao động, phải bình tĩnh sáng suốt, không sợ, chỉ cần bền chí, kiên trì, dũng mãnh giữ tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự là sẽ vượt qua, làm chủ nhân quả.

    Rõ ràng nhờ triển khai tri kiến giải thoát thì tâm chúng ta mới bảo vệ và giữ gìn được chân lý giải thoát là tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự. Nếu không triển khai tri kiến giải thoát mà chỉ tác ý câu "tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự" thì đó cũng là ức chế tâm. Do vậy sự xả tâm của đạo Phật chính nhờ vào triển khai tri kiến, sự hiểu biết như thật tất cả các pháp đều là nhân quả, đều vô thường, đều không có gì là ta, là của ta, là bản ngã của ta, đều khổ,...Chính vì vậy đạo Phật gọi là đạo trí tuệ.

    Sự giải thoát của đạo Phật rất rõ ràng, ai sống đúng đạo đức không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sinh là CHỨNG ĐẠO. Sự chứng đạo của Phật giáo không có khó khăn, không có mệt nhọc chỉ cần chịu khó học tập đạo đức nhân bản – nhân quả, để có tri kiến giải thoát thì tâm sẽ luôn luôn ở trạng thái giải thoát, trạng thái tâm giải thoát gọi là Chứng Đạo. Lời thầy Thích Thông Lạc dạy: "Học đạo đức là học xả tâm; là học làm người không bao giờ bị ràng buộc bởi những ác pháp; là học làm người mà ra khỏi bản chất tham, sân, si, mạn, nghi của con người." Nhờ học được đạo đức mà tham, sân, si, mạn, nghi không còn tác động vào tâm, do vậy tâm luôn bất động thanh thản an lạc và vô sự.

    Tóm lại, những lời khuyên của thầy Thích Thông Lạc trong các bài giảng cuối đời rất là quan trọng và hữu ích, chúng giúp cho chúng ta đi đúng đường, tu hành không còn bị ức chế nữa. Khi tu đúng đường thì tu đến đâu, xả đến đâu, thấy rõ sự giải thoát đến đó. Từng phút từng giây làm chủ tâm mình, biết rõ tâm mình đang giải thoát, vì hiểu rõ nó đang bất động thanh thản an lạc và vô sự. Chỉ cần ngày ngày giữ gìn và bảo vệ và hộ trì tâm giải thoát này thì tâm ta đã tương ưng với Phật, với Thầy, vì nó chính là tâm Niết Bàn rồi.

    Giữ gìn, bảo vệ và hộ trì tâm giải thoát, không phải là ngồi nhìn vào nó, thích trạng thái đó. Nhìn vào nó là sai. Hãy sống bình thường, để tâm tự nhiên, hiểu rõ khi tâm không còn phóng dật, không còn dính mắc vào bất kỳ pháp gì, nó im lặng sáng suốt thì đó là tâm đang bất động thanh thản an lạc và vô sự. Biết như vậy là đủ, không cần phải tìm nó, cố giữ nó không cho mất, ngồi nhìn nó sợ nó mất. Sống bình thường tự nhiên như người vô sự.

    Sau một thời gian học tập, đã quán xét và trau dồi tri kiến giải thoát nhiều lần và sâu, chúng ta sẽ nhận ra đến một lúc nào đó, những tri kiến về các pháp thế gian là nhân quả, là vô thường, là không có gì là ta, là của ta, là bản ngã của ta, là bất tịnh, là khổ,...đã thấm nhuần, đã nhuần nhuyễn, đã hiểu rõ như thật, đời sống đã buông xả sạch, thì không cần quán vô lậu nữa. Lúc đó, khi có bất kỳ niệm dục, ác pháp hay cảm thọ khởi ra thì tâm tự hiểu rõ chúng như thật và thầm hướng tâm đến chân lý giải thoát "tâm bất động, thanh thản an lạc và vô sự.". Không cần quán và nhắc dài dòng như xưa nữa.

    Mỗi khi có niệm khởi lên, chỉ cần thầm hướng tâm vào chân lý giải thoát là đủ. Từ đó ta sẽ nhận thấy và hiểu rõ ta đang giữ gìn, bảo vệ và hộ trì chân lý giải thoát "tâm bất động, thanh thản an lạc và vô sự." suốt ngày, suốt đêm, ngày này qua ngày nọ, sống với tâm giải thoát Niết Bàn.


    Mời các bạn đọc bài
    1- "Không Dính Mắc"
    2- "Diệt Ngã Xả Tâm"
    3- "Chứng Đạo"
    4- Chứng đạo là chứng cái gì.
    5- Chứng đạo là chứng ở đâu? ở chổ nào?
    Last edited by phimanh; 04-15-2013 at 06:42 AM.

  19. #99
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    11,984
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    Quote Originally Posted by ChanhPhap84 View Post
    Mở mang dân trí, cập nhật hóa kiến thức thời đại, đây chính là một nhiệm vụ quan trọng trong thời đại ngày nay, không chỉ riêng của chính quyền mà là nhiệm vụ chung của mọi người dân Việt Nam nào còn có lòng với dân tộc, đất nước, còn trân quý truyền thống văn hóa và tôn giáo của Việt Nam. Tôi hi vọng giới trí thức, nhất là giới trẻ ngày nay, hãy nhận thức rõ tầm quan trọng của lãnh vực văn hóa này. Vì lợi ích của mọi người, và vì tương lai của dân tộc và đất nước, chúng ta hãy cùng nhau tích cực hoạt động trong đường hướng mở mang dân trí, giúp người dân nhận thức được những sự thật về các tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam.
    Chúng ta hãy thể hiện hạnh từ bi trong nhiệm vụ này. Từ là “Cho vui” và Bi là “Cứu khổ”. Giúp cho người dân mở mang đầu óc, cập nhật hóa kiến thức thời đại, nhận rõ chân thực, là mang đến cho họ một nguồn vui vô tận; giúp cho người dân nhận rõ tỉnh thức, không bị huyễn hoặc bởi những điều hoang đường, mê tín, cất bỏ lòng sợ hãi thần quyền, và thoát khỏi một tâm cảnh nô lệ ngoại quyền, đó chính là cứu khổ. Quý độc giả nào không đồng ý, xin mời lên tiếng.
    Tôi nghĩ, xã hội của chúng ta ngày nay không còn chịu những cảnh man rợ của Ki-tô giáo cách đây trên 250 năm ở Âu Châu và Mỹ Châu. Ngày nay, nói năng chống Ki-tô giáo, hay đúng hơn, nói lên những sự thật về Ki-tô giáo, không còn là một điều cấm kỵ và phải chịu đựng những sự bạo hành của Ki-tô giáo như trước. Đối với giới trí thức, đây là một bổn phận của những con người hiểu biết để giải hoặc quần chúng, giữ cho xã hội được lành mạnh. Sự xuất hiện của hàng ngàn tác phẩm mà Ki-tô giáo và những tín đồ cuồng tín liệt vào loại “chống Ki-tô giáo” là một bằng chứng cụ thể nhất về sự tiến bộ trí thức của nhân loại. Tác giả những cuốn sách này, trong đó có những giới cao cấp trong Ki-tô giáo, những giáo sư đại học, học giả, chuyên gia về tôn giáo v..v.. là những người đã nhận lãnh trách nhiệm dẫn dắt quần chúng thoát ra khỏi những mê hoặc và xiềng xích trí tuệ cũng như vật chất của Ki-tô giáo. Sự hiện hữu của những tác phẩm này trong những xã hội Ki-tô mà không gây ra một sự bất hòa, hỗn loạn nào trong xã hội vì lý do tôn giáo là một bằng chứng khác về sự tiến bộ trí thức của nhân loại, ít ra là ở trong những xã hội văn minh tân tiến. Đây là một trong những lý do để tôi viết bài này.
    Tôi ước mong những bậc cao minh ở trong và ngoài nước có lòng với dân tộc, nhất là các bạn trẻ, hãy tiếp tay cùng chúng tôi trong nhiệm vụ mở mang dân trí này. Chúng ta hãy làm với tất cả thiện tâm, tuyệt đối không vì thù hận hay vì bất cứ lý do nào khác ngoài sự lương thiện trí thức trong công cuộc nghiên cứu mọi khía cạnh của Ki Tô Giáo để phổ biến rộng rãi cùng người dân trong nước cũng như ở hải ngoại. Rất nhiều trí thức Âu Mỹ đã làm công việc giải hoặc Ki Tô Giáo này từ nhiều thập niên qua. Người Việt trí thức chúng ta nay dấn thân vào con đường này kể ra đã là quá muộn, lý do là vì hoàn cảnh đất nước trong hơn một thế kỷ qua không cho phép. Nhưng nay là lúc chúng ta phải bắt tay ngay vào nhiệm vụ bảo vệ nền văn hóa và những truyền thống tốt đẹp của dân tộc trước sự xâm lăng văn hóa của Ki Tô Giáo, một tôn giáo chỉ còn cái vỏ hào quang của quá khứ và đang dần dần bị phế thải ở phương trời Âu Mỹ. Đó là TÔN GIÁO CHỒN LÙI của bọn SƯ SÃI QUỐC DOANH VC chứ còn ai vô đây nửa!

    Quote Originally Posted by ChanhPhap84 View Post
    Khi đã có tâm dối trá thì lời nói dễ bị hớ hênh, trước sau cũng tự thú hay bị xì dưới ánh sáng mặt trời. . Đó là điều đương nhiên "Ai ăn nấy no, ai tu nấy hưởng " VC là những ký sinh trùng đội lốt tôn giáo! Đó là đội lốt tôn giáo mà Phật tử VN nguyên thủy không bao giờ chấp nhận khi hiểu rõ được âm mưu của bọn sư sãi TÀ MA này! Ai là người yêu dân tộc và thích độc lập-tự do thì người đó không bao giờ cam tâm cúi đầu RẤP TÂM HOẠT ĐỘNG BAD KARMA để có lợi cho VC! Cho dù tôn giáo nào lừa gạt cũng sớm vội thức tỉnh. YES! STUPID MORON! EVEN A 10 YEARS OLD KID WOULD KNOW THAT ALREADY! UNLIKE A TWENTY STUPID SOMETHING LIKE YOU MORON WOULD KNOW IT TOO LATE!
    QUOTE=_jenny_;1419271]Tại sao à? Tại vì: Cộng Sản Việt Nam "đàn ép tôn giáo" quá trời nhưng giả vờ là ta có đạo nhưng té ra là VÔ ĐẠO cho nên cứ ra rả những lời mị dân để ru ngủ đồng bào một cách vô tội vạ! Xem đây thì rõ:




    Quote Originally Posted by vietamerican View Post
    "The kind of seed sown
    will produce that kind of fruit.
    Those who do good will reap good results.
    Those who do evil will reap evil results.
    If you carefully plant a good seed,
    You will joyfully gather good fruit."
    Dhammapada





    Chính VC Nguyễn Công Hoan đổ dầu lên ông sư Thích Quảng Đức ....
    VC đã dùng những VC nằm vùng trà trộn trong Phật tử để quấy nhiễu Chính phủ Cộng Hoà thời đó. Nếu là con chiên của ông Phật.....nếu là vị tu sĩ thì không sát sanh ....nhưng chính vị tu sĩ VC đó đã giết người đồng tu với mình
    .

    Tu sĩ Phật đã làm gì để nhận được ....good seed ???? Chưa thấy gì.....nhưng chỉ thấy cả triệu dân VN đã chết dưới tay CS.
    Nếu ông Thích Q Đức muốn cho chính phủ VNCH thời đó biết điểm chính của họ ...thì họ nên bắt chước ông Gandhi ....Nhưng ông ta đã bị cộng sản lợi dụng ...CS đã dùng đủ mọi thủ đoạn để quấy nhiễu dân miền Nam thời đó
    Ông ta đã được gì khi tự thiêu???

    Không được ích lợi gì ...ông ta đã không đem hoà bình ....ông ta đang ở dưới 18 tầng đia ngục vì đã nghe lời xúi dại của loài quỉ cộng sản
    Chính ông
    TQ Đức đã làm hơn 80 triệu dân Việt đang sống cuộc đời khổ cực.



    Thư của Liên Thành, Cựu Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng CSQG VNCH/Thừa Thiên Huế, gửi các ông Thích Quảng Độ, Thích Như Đạt, Thích Viên Lý, và Võ Văn Ái

    5/10/2013

    ***

    Nam California, USA
    Ngày 9 tháng 5 năm 2013

    Thưa quý vị,

    Nhân mùa Phật Đản vào cuối tháng 5 năm nay, cộng đồng mạng nhận được ba bản văn của ba ông Thích Quảng Độ, Thích Như Đạt, và Thích Viên Lý, do Võ Văn Ái đại diện tổ chức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất phổ biến. Tôi cũng nhận được một copy. Đọc xong những lời ngoa ngữ của ba vị, tôi thấy cần phải gởi lại các ông sự trả lời sau đây:


    THÍCH QUẢNG ĐỨC BỊ ĐỒNG BỌN CỦA VIỆT GIAN CS THÍCH NHẤT HẠNH ĐỔ XĂNG THIÊU SỐNG
    Thích Quảng Đức bị tên giết người Nguyễn Công Hoan, đồng bọn của tên Việt gian cộng sản trọc Thích Nhất Hạnh hành quyết đổ xăng thiêu sống giữa ban ngày bởi sự giàn dựng và chứng kiến ít nhất là của GHPGVNTN-Ấn Quang ngày 11.06.1963 tại Sài gòn. Đối với sát thủ, thủ phạm tòng phạm đều có nguồn gốc chính là đảng VGCS, Tòa án của Công lý và Lịch sử sẽ và vẫn còn vô tận thời gian để định nghĩa, trả lại tội danh, truy tố, kết án một cách chính danh cái tội ác dã man này, dù chúng có được che đậy dưới bất kỳ mỹ từ lưu manh đạo đức giả tàn ác nào của đảng VGCS.

    Thích Quảng Đức
    bị VC đốt mà chúng gọi là tự thiêu.


    Tôi Liên Thành, một Phật tử rất đơn giản của Đức Phật, đọc xong thư các ông, nhận thấy rằng, không còn từ ngữ nào tốt hơn để diễn đạt rằng: Tổ chức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất của các ông chính là một tập đoàn lừa đảo, bịp bợm, nhân danh Đức Phật để hoạt động cộng sản. Tập đoàn tôn giáo trá hình của các ông ra đời năm 1964, từ sự sắp xếp của Cộng Sản để chống lại chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, nay lại muốn tiếp tục tồn tại bằng việc ru ngủ các tín đồ u mê rằng các ông chống cộng. Các ông đã chống chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cho tan nát, thì nay các ông chống cộng cái nổi gì?

    Câu hỏi thứ nhất, tổ chức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã được thai nghén trong hoàn cảnh như thế nào?

    Có thể nói nó đã được thai nghén trong một hoàn cảnh hổn độn của đất nước trước 1963, thời điểm mà Cộng sản Thích Trí Quang cùng các ông làm những 'cuộc xuống đường không tiền khoáng hậu' để chấm dứt 'thời kỳ ngoại thuộc' như ông Thích Quảng Độ phát biểu vào năm 2011. Xin hỏi ông Quảng Độ, ông có bằng chứng nào rằng thời kỳ mà ông sống tại Miền Nam là thời kỳ ngoại thuộc? Ông đã biết Miền Nam là thời kỳ ngoại thuộc sao ông không ở lại Miền Bắc với BácĐảng nội thuộc của ông, mà lại từ Miền Bắc, tìm cách sang Ấn Độ rồi sau đó trà trộn vào Miền Nam năm 1958? Hay là ông vào Nam để “diệt loài quạ lang” như Thích Minh Châu?

    Bọn Cộng sản đã nhìn ra cái dục vọng quyền lực của các ông, cho nên chúng đã thai nghén và gieo ý tưởng chống lại chính phủ của Miền Nam cho các ông. Để sử dụng các ông, chúng tung giải pháp tạm thời GHPGVNTN ra làm mồi nhử, dùng con cờ đa mang Thích Trí Quang làm cầu nối với các ông. Cho nên kể từ năm 1964, sau khi thành lập cái gọi là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất để làm công cụ thực hiện kế hoạch phá hoại chính trị Miền Nam của cộng sản, thì cái giải pháp tạm thời này đã được các ông vồ lấy sử dụng, coi đó là một vũ khí để răn đe chính quyền VNCH mà tạo uy quyền cho các ông.

    Cái tổ chức PGVNTN để làm gì vậy? Cái tổ chức này không gì khác hơn là để cấy vào đầu các ông cái dục vọng ma quỷ rằng các ông là những kẻ có quyền lực thực sự, do đó các ông phải ra sức đấu tranh, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, chấm dứt VNCH bằng mọi giá, thì Phật giáo mới trở thành quốc giáo và các ông lãnh đạo PGVNTN mới nghiễm nhiên trở thành quốc phụ, lãnh tụ nhiếp chính thực thụ của Miền Nam. Những bơm thổi của cộng sản và báo chí ngoại bang đưa các ông lên tận mây xanh, đến nỗi, các ông nhìn thấy mình quyền uy cao trọng như các bậc vua Phật giáo thời Lý, Trần, vv... Vì tâm lý đó, vì dục vọng ma quỷ đó, nên khi cộng sản Thích Trí Quang bày ra chiếc bánh vẽ thần quyền của một Chính Phủ Liên Hiệp (tức là Phật giáo chia quyền với Cộng sản thời hậu Việt Nam Cộng Hòa), thì các ông đã lăn xả vào mọi kế hoạch mà cộng sản đề ra cho các ông, phá nát nền trị an của Đệ I Cộng Hòa, và lăm le phá luôn cả nền Đệ Nhị Cộng Hòa của chúng tôi.

    Bây giờ tôi xin hỏi ông Thích Quảng Độ, trong những trích dẫn phát biểu của ông được phát thanh lại cho hàng ngàn đồng bào tại chùa Điều Ngự nghe vào năm 2011, ông nói rằng thời kỳ Đệ I Cộng Hòa là ngoại thuộc, và các ông đã có công chấm dứt nó, tôi hỏi ông Quảng Độ, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa “ngoại thuộc” Ai? "Ngoại bang" nào? Yêu cầu ông đưa ra bằng cớ? Tôi nói là bằng cớ, không phải là những lời vu khống chửi bới vu vơ vô bằng vô chứng mà các ông đã lãi nhãi mấy chục năm nay.

    Tôi lập lại, ông nói là thời kỳ Đệ Nhất Cộng Hòa là thời ngoại thuộc, tôi hỏi ông, ngoại thuộc ai? Ngoại bang nào? Yêu cầu ông đưa ra bằng cớ? Nếu chỉ tuyên bố suông mà không đưa ra bằng cớ thì các ông là hạng người nào các ông có biết không? Hạng người đố kỵ, ganh ghét, chửi đổng vu khống, mà những đức tính này nên dành cho bọn đầu trộm đuôi cướp, đá cá lăn dưa, không nên có trong giới tu hành. Những đức tính xấu xa như vậy chỉ làm hại tín đồ và làm hại tôn giáo mà thôi.

    Thưa ông Thích Quảng Độ,

    Đầu óc của một người trung bình cũng có khả năng hiểu TT Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhukhông muốn Mỹ đổ quân vào Việt Nam nên mới bị đảo chánh và sát hại, thì với những chức vụ lãnh đạo tôn giáo như vậy, thì đầu óc của ông được cho là phải bằng, và phải tỉnh táo như một người trung bình, phải không? Do vậy, trong thâm tâm, ông biết rất rõ rằng Chính phủ Đệ I TT Ngô Đình Diệm hoàn toàn khôngchính phủ ngoại thuộc và cũng chẳng phải chính phủ ngoại bang. Nhưng các ông vẫn phát ngôn

    "Dưới thời ngoại thuộc, Phật giáo đã hoàn tất công cuộc chấn hưng khởi từ những năm 20 thế kỷ trước, bằng cuộc Xuống Đường không tiền khoáng hậu năm 1963, thế kỷ XX, để chấm dứt thời kỳ ngoại thuộc biến một tôn giáo dân tộc thành hội đoàn tư hữu, biến đạo lý truyền thống thành ý lực ngoại bang" (Thích Quảng Độ, 2011) [1].

    Ngay cả ông Thích Huyền Quang còn viết rằng “Phật Giáo” của các ông đã bị đàn áp suốt ba trăm năm (Huyền Quang Kỷ Yếu 2010) cận đại, thì tất cả các ông đã mắc phải một cái nghiệp rất trầm trọng, mà đáng lý ra, ở vào cương vị và tuổi đời của ông, ông phải tuyệt đối tránh, để làm gương cho tín đồ, đó chính là khẩu nghiệp.

    Ông sẽ lại càng mắc thêm khẩu nghiệp nếu như ông mượn từ "ngoại thuộc" hay "ngoại bang" để vu khống sỉ nhục Đệ I Cộng HòaChính phủ Công giáo 'đàn áp Phật giáo'. Năm 1963, các ông đã làm một cú lừa đảo phá hoại khủng khiếp nhất trong lịch sử cận đại của Việt Nam, rồi bây giờ các ông chối tội bằng cách cho đó là cuộc cách mạng chấm dứt thời kỳ ngoại thuộc? Sao có chuyện tiền hậu bất nhất và ngoa ngữ thậm xưng đến như thế? Phật nào dạy các ông dùng việc nướng mạng tăng ni để đàn áp chính quyền? Các ông chụp cái tội "độc tài" và "đàn áp Phật giáo" cho chính phủ Đệ I Cộng Hòa, trong khi đó, trên thực tế, chính phủ đó hoàn toàn ưu đãi Phật giáo và chưa từng vi phạm hiến pháp VNCH bao giờ. Nếu các ông cho rằng chính phủ VNCH vi phạm luật pháp và hiến pháp, yêu cầu các ông đưa ra bằng chứng?

    Đến giờ này mà các ông trong tập đoàn PGVNTN còn tiếp tục hành động lừa đảo, thì tôi cần phải có bổn phận phân tích cái khẩu nghiệp của các ông.

    Xin ông cho biết trong chính phủ Đệ I Cộng Hòa, có bao nhiêu Bộ Trưởng là tín đồ Phật giáo, bao nhiêu Bộ Trưởng là Công giáo? Tôi có thể chứng minh cho ông thấy rằng số tín đồ Phật giáo được Tổng Thống bổ nhiệm vào chức vụ Bộ Trưởng 2/3, số còn lại là công giáo và các tôn giáo khác. Và xin ông vui lòng cho biết trong quân đội của Đệ I Cộng Hòa, trong hàng ngũ tướng lãnh, có bao nhiêu tướng là tín đồ Phật giáo và bao nhiêu tướng là Công giáo? Tôi có thể chứng minh cho ông thấy số tướng lãnh tín đồ Phật giáo cũng là 2/3. Vài thí dụ rõ nhất để ông khỏi chối cãi: Ai là người giữ chức vụ an ninh quan trọng của quân đội? ÔngĐổ Mậu! Ông Đổ Mậu là tín đồ Phật Giáo hay Công Giáo? Ai là người giữ chức vụ quan trọng trong hàng tướng lãnh? Ông Tôn Thất Đính. Ông Tôn Thất Đính là tín đồ Công Giáo hay Phật Giáo? Các ông trả lời đi?

    Mặc dầu sự thật đã rành rành như 2+2 là 4 như vậy, nhưng suốt nửa thế kỷ qua, đầu óc của các ông trong tp đoàn lừa đảo PGVNTN vẫn còn bệnh hoạn quyền lực đố kỵ tôn giáo, đặc biệt là Công giáo. Tôi sẽ chứng minh những cái đầu bệnh hoạn của các ông đã bị cộng sản lợi dụng để phá nát thời vận của dân tộc Việt Nam như thế nào.

    Đệ I Cộng Hòa sụp đổ cuối năm 1963, thì ngay lập tức vào đầu năm 1964, cộng sản Thích Trí Quang thành lập ra cái Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và Hiến Chương của nó do Thích Trí Quang soạn thảo (theo Bạch Thư của Thích Tâm Châu) [2]. Cộng sản Thích Trí Quang, cha đẻ ra cái tập đoàn lừa đảo PGVNTN đó, đã từng tuyên bố sẽ chiến đấu đến khi không còn người Công Giáo nào trong chính phủ nữa, cả Đệ Nhất Đệ Nhị Cộng Hòa. Cái khốn nạn của cộng sản Thích Trí Quang là ở điểm hắn thừa biết cả hai vị Tổng Thống của VNCH đều là do dân bầu lên, nhưng hắn bất kể lòng dân, hắn muốn áp đặt cái tư tưởng bệnh hoạn xấu xa bài công giáo của hắn và đồng bọn lên xã hội Miền Nam.

    Và sau lưng Thích Trí Quang Hồ Chí Minh ĐCSVN, vì chính Thích Trí Quang đảng viên cộng sản, do Tố Hữu kết nạp ở mật khu Lương Miêu, Dương Hòa. Mà Thích Trí Quang lại là lãnh tụ thực sự của các ông, thế thì động lực của các ông là động lực gì? Và hoạt động cho ai? Tại sao biết rằng những hành động phản loạn suốt từ 1963 đến gần cuối 1966 là hành động vi phạm luật pháp mà các ông vẫn làm, thưa ông Thích Quảng Độ?

    Các ông đã nuôi béo ý tưởng sẽ tiến hành lập Chính Phủ Phật Giáo thời hậu VNCH để liên hiệp chia quyền với bọn Cộng sản. Chính vì vậy mà các ông đã tận dụng tất cả mọi thủ đoạn để vu khống chính phủ Tổng Thống Ngô Đình Diệm là "chính phủ đàn áp tôn giáo"!!!, và cả chính phủ Đệ Nhị Cộng Hòa của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu các ông cũng không chừa. Chắc ông chưa quên rằng vào ngày 20 tháng 10 năm 1974, khi đất nước cần phải có ổn định chính trị để đối đầu với kẻ thù, thì chính ông đã nói với báo chí ngoại quốc rằng, “Nếu Thiệu không từ chức thì Ấn Quang sẽ kéo Thiệu xuống”! (Washington Post). Trước đó, ngày 18 tháng 2 năm 1967, ông cùng với Thích Trí Quang Cao Ngọc Phượng, vợ của Thích Nhất Hạnh, mướn tờ New York Times đăng rằng Chính quyền Nam Việt Nam hiện nay không phải là chính quyền của chúng tôi và không đại diện cho nhân dân chúng tôi. Nó được Mỹ áp đặt lên chúng tôi và được điều khiển bởi những tên lính đánh thuê cho Pháp chống lại nhân dân Việt Nam trước 1954. Nếu chúng tôi được bầu cử tự do, chính quyền này không tồn tại một ngày. Chúng tôi muốn tự chúng tôi giải quyết vấn đề Việt Nam của chúng tôi bằng cách điều đình với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Bắc Việt cũng như sự rút quân của Mỹ.”

    Tu hành kiểu gì vậy hả ông Thích Quảng Độ? Ông tu hành hay ông hoạt động chính trị chuyên nghiệp hả ông Thích Quảng Độ?

    Phong trào phản chiến đòi hòa bình một phía, tức đòi Đệ II Cộng Hòa phải buông súng và Mỹ rút quân nhưng không đòi hỏi gì ở phía Cộng sản cả, thế là thế nào hả ông Thích Quảng Độ? Càng phân tích hàng loạt chứng cứ dưới đây, chúng tôi càng nhìn thấu cái tâm can khốn nạn phá đạo hại đời, phá hoại đất nước của các ông:

    - 1966, Thích Hộ Giác (1928-2012) đã hoạt động sát cánh Thích Trí Quang và tuyên bố Phật giáo chiến đấu đến giọt máu và hơi thở cuối cùng để lật đổ Đệ II Cộng Hòa. Ngay sau khi nhận được tuyên bố này, Ngoại Trưởng Dean Rusk, Bộ Ngoại Giao Mỹ, đã viết thư gởi Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn để nhờ chuyển thông điệp của Chính phủ Mỹ đến Thích Trí Quang và tổ chức PGVNTN như sau:

    "Đây không phải là thời gian để Phật Giáo đập đổ mọi thứ và làm hỏng những nỗ lực mà đã bắt đầu có hiệu quả…. nếu họ tiếp tục việc phá hoại vô trách nhiệm như hiện nay, thì không những họ sẽ mất thiện cảm của công luận và chính quyền Hoa Kỳ mà trước đây họ đã có, mà họ sẽ làm cho tình trạng hỗn loạn và vô chính phủ trầm trọng hơn lên, trong đó sự hổ trợ của chính phủ Hoa Kỳ cho Việt Nam sẽ không có hiệu lực nữa. Tổng Thống Hoa Kỳ hy vọng rằng Phật Giáo sẽ thể hiện điều này, rằng không những chỉ có những người yêu nước Việt Nam quan tâm đến vận mệnh của quốc gia mình mà những người lãnh đạo tôn giáo cũng phải biết quan tâm đến vận mệnh của các tín đồ của họ và những giáo lý mà họ cho là họ đại diện. (Dean Rusk, 19/3/1966) [3]."

    -1974, Thích Quảng Độ tuyên bố với truyền thông Mỹ 'Nếu Thiệu ngoan cố không từ chức thì Ấn Quang sẽ kéo Thiệu xuống'. 'Trể nhất là năm sau.'






    Năm sau đó có phải là 30/4/1975 đó không, thưa ông Thích Quảng Độ?

    - Thích Đôn Hậu tự thú rằng tổ chức PGVNTN các ông đã lập ra Chính Phủ Phật Giáo đưa Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống, để ra lệnh đầu hàng cộng Sản năm 1975 [4]. Tổ chức PGVNTN đã cùng nhau thực hiện đúng bài bản mà cộng sản đã dàn dựng sắp xếp. Bằng chứng là loạt tài liệu các ông Thích Quảng Độ, Thích Trí Quang, Thích Hộ Giác, Thích Thiện Minh... đã nhiều lần đăng đàn trên NY Times, Washington Post, Times, vv... để chống VNCH, đòi Mỹ rút quân về và thề chiến đấu lật đổ Đệ II Cộng Hòa đến hơi thở cuối cùng. Chúng tôi không tìm thấy tài liệu nào của tổ chức PGVNTN tố cáo tội ác cộng sản, tố cáo cộng sản xâm lược Miền Nam, hay đòi Cộng sản rút quân khỏi Miền Nam trong suốt giai đoạn đăng đàn này [5].

    Xem thêm tài liệu ở link sau đây:
    Thích Đôn Hậu tiết lộ: GHPGVNTN đã đưa Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống để đầu hàng CS 1975

    http://hoilatraloi.blogspot.com/2013...-thuat-ve.html

    Sau 4/1975, khi VNCH của chúng tôi hoàn toàn rơi vào tay Cộng Sản thì tổ chức các ông cũng đã bị Cộng Sản vắt chanh bỏ vỏ, mặc dù các ông đã vô cùng hân hoan và lễ phép với chính quyền cách mạng. Hãy đọc lại bút tích của Thích Huyền Quang như sau:

    Trưa 30/4/75 chính quyền VNCH thất thủ. Sau khi nghe Đại Tướng Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện trước sự tiến công của Bộ Đội Cách Mạng, lúc ấy tôi có mặt tại trụ sở GHPGVNTN ở chùa Ấn Quang. Chúng tôi họp bàn và bàn thảo tờ tuyên cáo nội dung hoan nghênh cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn vừa kết thúc. GHPGVNTN sẽ tìm phuơng tiện để hàn gắn vết thương chiến tranh”...

    Xin hỏi, PGVNTN đã tìm được phương tiện gì dưới chế độ cộng sản để hàn gắn vết thương chiến tranh? Và cộng sản đã thưởng công cho PGVNTN quyền hành gì để thực hiện được điều đó? Luật nhân quả nhà Phật báo ứng nhản tiền, ĐCSVN đã thưởng cho các ông cái búa tạ, loại trừ các ông như loại trừ một thứ rác rưỡi và thành lập nên “Phật Giáo TÀ MA” riêng của chúng nó! Tôi thật tình đau đớn dùm cho hoàn cảnh cười ra nước mắt này của các ông! Không có cảnh chia quyền trong một "Chính Phủ Liên Hiệp" xảy ra, nên Đệ III Tăng Thống của các ông là cộng sản Thích Đôn Hậu đã phải trực tiếp kể công trạng với Thủ Tướng Cộng sản Phạm Văn Đồng thế này: Cuộc chiến đấu của Phật giáo đóng góp cho Cách Mạng thì rõ ràng đã được Hồ chủ tịch trực tiếp tán dương “cuộc tranh đấu của Phật giáo là cả một sự đóng góp lớn lao vào sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, mà điển hình là việc tự thiêu của sư Quảng Đức”. Vậy mà 'Sao trớ trêu vậy? Đến khi giải phóng rồi lại đối xử với Phật giáo như vậy?' (Thích Đôn Hậu, 1976) [3].

    Thưa các ông Thích Quảng Độ, Thích Như Đạt, Thích Viên Lý,Võ Văn Ái, các ông có cảm thấy tự ái khi nghe Thích Đôn Hậu kể công với Cộng sản sau 1975 không? Riêng đối với tôi giống như đang nghe hai tên gian hùng chơi trò đùn qua đẩy lại như thế này:

    Cộng sản Thích Đôn Hậu đùn qua: - Chính phủ Liên Hiệp Phật Giáo đâu? Phật giáo làm quốc giáo đâu ở? Tại sao lại quịt nợ vậy?...

    Cộng sản Phạm văn Đồng đẩy lại: - Cái đó chỉ là đáp án tạm thời của Cộng sản chúng ta. Kịch đã hạ màn. Mà tại sao lại lập Chính phủ Phật giáo? để chi vậy?, Để đưa Dương văn Minh lên đánh lại Cách Mạng phải không?

    Cộng sản
    Thích Đôn Hậu
    , yếu ớt: - Lập chính phủ Phật giáo, nhưng mà ...lập lên, đưa Dương văn Minh lên, để ...đầu hàng Cách Mạng.

    Ngẫm lại thời các ông lên xuống đường tuyên bố này, tuyên bố nọ để quyết chiến với VNCH chúng tôi, sao nay các ông lại run rẩy trước Cộng sản vậy? Dường như các ông là những kẻ gieo ảo mộng và tìm ảo mộng giửa đạođời, giữa thần quyền thế quyền, dưới cái vỏ bọc Phật Giáo, phải không các ông?

    Câu hỏi thứ hai, PGVNTN các ông tiếp tục tồn tại bằng việc ru ngủ làm u mê các tín đồ nông nổi như thế nào?

    Trước 1975 các ông trực diện với VNCH bằng cách lên đường xuống đường, nướng sư, giết cảnh sát, tuyệt thực... Gần đây Võ Văn Ái yêu cầu chính quyền Hoa Kỳ lên tiếng can thiệp vì ông đang bị quản thúc chặt chẽ. Nếu ông thật sự bị quản thúc chặt chẽ thì làm sao ông vẫn đi lại được các chùa để hội họp và chụp ảnh để phổ biến? Nếu ông thật sự bị quản thúc chặt chẽ thì tại sao Cộng sản để cho ông trả lời phỏng vấn của RFA hết lần này đến lần khác như vậy?

    Trong tình hình bị quản thúc chặt chẽ mà ông cất tiếng nói tới tận thủ đô tị nạn Cộng sảnđể sỉ nhục chúng tôi thì ...thảo nào bọn Cộng sản ưa quản thúc ông đến như vậy!

    Nếu 1963 Thích Trí Quang đã hoàn thành sứ mạng Cộng sản sau khi đưa Phật giáo Thống Nhất của các ông tiếp tay kết thúc Đệ I Cộng Hòa, thì Thích Quảng Độ bồi thêm nhiều nhát dao lút cán như sau: Ngày 18/2/1967 không chấp nhận chính phủ VNCH là chính phủ của Thích Quảng Độ, yêu cầu phải liên hiệp với MTGPMN, điều đình với Hà Nội,Mỹ phải rút quân, ngày 20 tháng 10 năm 1974 đòi Thiệu phải từ chức tức khắc, năm 2010 đến năm 2011 đã gọi Đệ I Cộng Hòa của chúng tôi là chính phủ ngoại bang Đệ II Cộng Hòa chúng tôi là lính đánh thuê cho Mỹ [6]. Các ông căm thùsỉ nhục VNCH chúng tôi như vậy, thì hà cớ gì các ông cho người treo cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tràn ngập Điều Ngự, Pháp Luân, Diệu Pháp… vậy hở ông Thích Quảng Độ Thích Viên Lý? Rõ ràng là các ông đã treo đầu dê bán thịt chó. Các ôngnúp dưới lá Cờ Vàng thắm bao máu đào của anh em chiến sĩ VNCH chúng tôi để làm vỏ bọc trong cộng đồng Tị Nạn Cộng Sản. Dùng lá Cờ Vàng để chiêu dụ tín đồ đến chùa và sỉ nhục VNCH ngay tại chùa, đó là sự đểu cáng mị dân của các ông đối với Miền Nam Việt Nam. Các ông chỉ lừa được những người tối dạ, các ông không lừa được những người bình thường.

    Mặc dầu sau 1975 Thích Trí Quang đã phủi tay đem con (PGVNTN) bỏ chợ, nhưng sự nguy hiểm thì còn bền bỉ kéo dài. Tính đến nay gần nửa thế kỷ, chủ trương dùng tôn giáo làm đòn bẩy cho tham vọng chính trị đã trở nên tinh vi hơn. Nó được giải thích qua hàng loạt phát biểu và hành động của tập đoàn lừa đảo PGVNTN, mà môi trường sống của nó là tâm lý ích kỷ cá nhân của các tín đồ nông nổi. Nó gieo rắc lòng đố kỵ tôn giáo vào những cái đầu nông nổi một cách liên tu bất tận.

    Ba văn bản bên dưới một lần nữa chứng minh các ông vẫn chứng nào tật nấy: Sự ham muốn biến Việt Nam thành một Chính phủ Phật giáo vẫn ám ảnh các ông qua mưu đồ dùng tôn giáo hoạt động chính trị và lòng dạ tham sân si lộ liễu của các ông. Bất cứ khi nào lợi dụng được Đức Phật là ông Thích Quảng Độtập đoàn lừa đảo của ông cũng không từ bỏ. Cứ mỗi Phật Đản, thì các ông lại dỡ trò, lại tiếp tục quảng cáo cho cái quái thai PGVNTN như sau: "Bất kỳ thể chế chính trị nào biết vận dụng khôn khéo nền văn minh giải thoát củaPhật giáo làm nguyên tắc chủ đạo để trị dân thì quốc gia sẽ phú cường thịnh vượng và tồn tại lâu dài.” Ông đưa tên tuổi Ashoka đại đế ở Ấn Độ và các vị vua Lý, Trần ở Việt Nam để chứng minh sự thành công khi đưa Phật giáo vào công việc trị nước. Thưa ông Thích Quảng Độ, còn các nước mà Phật Giáo không nổi trội như Anh, Pháp, Hoa Kỳ thì sao? Họ sắp sửa bị diệt vong rồi chắc? Tôi thành thật khuyên ông hãy can đảm nhìn thẳng vào sự thật. Sự hoang tưởng láo khoét về một Quốc Giáo Phật Giáo dưới thời Lý thời Trần đã ám ảnh nặng tâm khảm của các ông để các ông có thể vừa lãnh đạo quốc gia, vừa khoác áo thầy tu thì phải? Hãy chấm dứt sự hoang tưởng bẻ cong lịch sử, dưới thời Lý và thời Trần, thể chế chính trị của Việt Nam bấy giờ là quân chủ, vua Trần vua Lý nắm quyền, cải tổ và giữ vững đất nước, chống lại quân Nguyên Mông, chứ không phải Phật Giáo nắm quyền, cải tổ và lãnh đạo đất nước chống giặc Hán các ông nhé!

    Thưa ông Thích Quảng Độ, ở thời điểm thế kỷ 21 là thời đại của Internet. Người ta không thể quyết định thay cho dân để áp đặt bất cứ thể chế chính trị nào, nếu lòng dân không muốn. Chỉ có Cộng sản mới áp đặt thể chế chính trị Cộng sản cường hào ác bá như vậy. Ông tuyên bố không muốn Việt Nam đi theo gót độc tài của Cộng sản, thì trước hết, ông phải từ bỏ ý định áp đặt đạo vào đời, dùng thần quyền khống chế thế quyền, chấm dứt giấc mộng trùm cái gọng độc tài thần quyền Phật Giáo lên đầu người dân Việt Nam thời hậu Cộng sản.

    Đó là điều mà các ông cần phải làm trước khi từ giả cõi đời này. Nếu các ông không từ bỏ ý đồ xấu xa mà còn tiếp tục đưa tín đồ vào tròng, thì các ông sẽ được lôi ra ánh sáng để rửa sạch ý định đó từng giây phút một. Các ông đừng mơ tưởng rằng có thể lừa phỉnh những người nhẹ dạ thêm một lần nữa!

    Ở vào thời đại này, người dân sẽ tự bầu chọn ra chính phủ và người dân sẽ theo dõi hoạt động của chính phủ họ chọn qua các phương tiện báo cáo bằng kỹ thuật mới như FACEBOOK, TWEETER, ENews, Emails, Fax, Cellphone,… Đơn giản là như vậy.

    Ông Thích Quảng Độ và các ông trong tập đoàn lừa đảo PGVNTN không những tham vọng tái lập quyền uy quốc phụ như thưở xa xưa 1963-1966, mà các ông còn là thủ phạm hướng dẫn cho lòng đố kỵ tôn giáo sinh sôi nảy nở trong đầu óc những tín đồ cuồng tín (rất hung hăng đả phá các tôn giáo khác). Chủ trương của GHPGVNTN đã và sẽ tiếp tục là hậu họa vô cùng nguy hiểm cho vận mạng của dân tộc Việt Nam thời hậu Cộng Sản.

    Nếu còn một chút nhân tính và lòng tự trọng trong các ông, các ông nên giải tán tập đoàn lừa đảo PGVNTN của cộng sản Thích Trí Quang đi. Mặt nạ đã đi tu mà còn đèo bồng chính trị của các ông đã bị lột xuống. Việc đời đấu tranh chính trị là việc của những người thế tục chúng tôi, việc đạo là việc của các ông. Mỗi cá nhân các ông hãy trở về nẻo thẳng đường ngay tu theo chánh đạo và nên sống một đời trầm lặng không tổ chức tập quyền như quá khứ và hiện tại nữa. Thực hiện được việc này thì xem như các ông đã giúp loại trừ một hậu họa lớn cho dân tộc Việt Nam rồi. Cảm ơn các ông!

    Liên Thành
    Cựu Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng CSQG VNCH/Thừa Thiên Huế
    ______
    Last edited by NASA1517; 05-18-2013 at 10:13 AM.

  20. #100
    Join Date
    Oct 2004
    Posts
    249
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    Quote Originally Posted by NASA1517 View Post
    QUOTE=_jenny_;1419271]Tại sao à? Tại vì: Cộng Sản Việt Nam "đàn ép tôn giáo" quá trời nhưng giả vờ là ta có đạo nhưng té ra là VÔ ĐẠO cho nên cứ ra rả những lời mị dân để ru ngủ đồng bào một cách vô tội vạ! Xem đây thì rõ:







    Thư của Liên Thành, Cựu Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng CSQG VNCH/Thừa Thiên Huế, gửi các ông Thích Quảng Độ, Thích Như Đạt, Thích Viên Lý, và Võ Văn Ái

    5/10/2013

    ***

    Nam California, USA
    Ngày 9 tháng 5 năm 2013

    Thưa quý vị,

    Nhân mùa Phật Đản vào cuối tháng 5 năm nay, cộng đồng mạng nhận được ba bản văn của ba ông Thích Quảng Độ, Thích Như Đạt, và Thích Viên Lý, do Võ Văn Ái đại diện tổ chức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất phổ biến. Tôi cũng nhận được một copy. Đọc xong những lời ngoa ngữ của ba vị, tôi thấy cần phải gởi lại các ông sự trả lời sau đây:


    THÍCH QUẢNG ĐỨC BỊ ĐỒNG BỌN CỦA VIỆT GIAN CS THÍCH NHẤT HẠNH ĐỔ XĂNG THIÊU SỐNG
    Thích Quảng Đức bị tên giết người Nguyễn Công Hoan, đồng bọn của tên Việt gian cộng sản trọc Thích Nhất Hạnh hành quyết đổ xăng thiêu sống giữa ban ngày bởi sự giàn dựng và chứng kiến ít nhất là của GHPGVNTN-Ấn Quang ngày 11.06.1963 tại Sài gòn. Đối với sát thủ, thủ phạm tòng phạm đều có nguồn gốc chính là đảng VGCS, Tòa án của Công lý và Lịch sử sẽ và vẫn còn vô tận thời gian để định nghĩa, trả lại tội danh, truy tố, kết án một cách chính danh cái tội ác dã man này, dù chúng có được che đậy dưới bất kỳ mỹ từ lưu manh đạo đức giả tàn ác nào của đảng VGCS.

    Thích Quảng Đức
    bị VC đốt mà chúng gọi là tự thiêu.


    Tôi Liên Thành, một Phật tử rất đơn giản của Đức Phật, đọc xong thư các ông, nhận thấy rằng, không còn từ ngữ nào tốt hơn để diễn đạt rằng: Tổ chức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất của các ông chính là một tập đoàn lừa đảo, bịp bợm, nhân danh Đức Phật để hoạt động cộng sản. Tập đoàn tôn giáo trá hình của các ông ra đời năm 1964, từ sự sắp xếp của Cộng Sản để chống lại chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, nay lại muốn tiếp tục tồn tại bằng việc ru ngủ các tín đồ u mê rằng các ông chống cộng. Các ông đã chống chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cho tan nát, thì nay các ông chống cộng cái nổi gì?

    Câu hỏi thứ nhất, tổ chức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã được thai nghén trong hoàn cảnh như thế nào?

    Có thể nói nó đã được thai nghén trong một hoàn cảnh hổn độn của đất nước trước 1963, thời điểm mà Cộng sản Thích Trí Quang cùng các ông làm những 'cuộc xuống đường không tiền khoáng hậu' để chấm dứt 'thời kỳ ngoại thuộc' như ông Thích Quảng Độ phát biểu vào năm 2011. Xin hỏi ông Quảng Độ, ông có bằng chứng nào rằng thời kỳ mà ông sống tại Miền Nam là thời kỳ ngoại thuộc? Ông đã biết Miền Nam là thời kỳ ngoại thuộc sao ông không ở lại Miền Bắc với BácĐảng nội thuộc của ông, mà lại từ Miền Bắc, tìm cách sang Ấn Độ rồi sau đó trà trộn vào Miền Nam năm 1958? Hay là ông vào Nam để “diệt loài quạ lang” như Thích Minh Châu?

    Bọn Cộng sản đã nhìn ra cái dục vọng quyền lực của các ông, cho nên chúng đã thai nghén và gieo ý tưởng chống lại chính phủ của Miền Nam cho các ông. Để sử dụng các ông, chúng tung giải pháp tạm thời GHPGVNTN ra làm mồi nhử, dùng con cờ đa mang Thích Trí Quang làm cầu nối với các ông. Cho nên kể từ năm 1964, sau khi thành lập cái gọi là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất để làm công cụ thực hiện kế hoạch phá hoại chính trị Miền Nam của cộng sản, thì cái giải pháp tạm thời này đã được các ông vồ lấy sử dụng, coi đó là một vũ khí để răn đe chính quyền VNCH mà tạo uy quyền cho các ông.

    Cái tổ chức PGVNTN để làm gì vậy? Cái tổ chức này không gì khác hơn là để cấy vào đầu các ông cái dục vọng ma quỷ rằng các ông là những kẻ có quyền lực thực sự, do đó các ông phải ra sức đấu tranh, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, chấm dứt VNCH bằng mọi giá, thì Phật giáo mới trở thành quốc giáo và các ông lãnh đạo PGVNTN mới nghiễm nhiên trở thành quốc phụ, lãnh tụ nhiếp chính thực thụ của Miền Nam. Những bơm thổi của cộng sản và báo chí ngoại bang đưa các ông lên tận mây xanh, đến nỗi, các ông nhìn thấy mình quyền uy cao trọng như các bậc vua Phật giáo thời Lý, Trần, vv... Vì tâm lý đó, vì dục vọng ma quỷ đó, nên khi cộng sản Thích Trí Quang bày ra chiếc bánh vẽ thần quyền của một Chính Phủ Liên Hiệp (tức là Phật giáo chia quyền với Cộng sản thời hậu Việt Nam Cộng Hòa), thì các ông đã lăn xả vào mọi kế hoạch mà cộng sản đề ra cho các ông, phá nát nền trị an của Đệ I Cộng Hòa, và lăm le phá luôn cả nền Đệ Nhị Cộng Hòa của chúng tôi.

    Bây giờ tôi xin hỏi ông Thích Quảng Độ, trong những trích dẫn phát biểu của ông được phát thanh lại cho hàng ngàn đồng bào tại chùa Điều Ngự nghe vào năm 2011, ông nói rằng thời kỳ Đệ I Cộng Hòa là ngoại thuộc, và các ông đã có công chấm dứt nó, tôi hỏi ông Quảng Độ, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa “ngoại thuộc” Ai? "Ngoại bang" nào? Yêu cầu ông đưa ra bằng cớ? Tôi nói là bằng cớ, không phải là những lời vu khống chửi bới vu vơ vô bằng vô chứng mà các ông đã lãi nhãi mấy chục năm nay.

    Tôi lập lại, ông nói là thời kỳ Đệ Nhất Cộng Hòa là thời ngoại thuộc, tôi hỏi ông, ngoại thuộc ai? Ngoại bang nào? Yêu cầu ông đưa ra bằng cớ? Nếu chỉ tuyên bố suông mà không đưa ra bằng cớ thì các ông là hạng người nào các ông có biết không? Hạng người đố kỵ, ganh ghét, chửi đổng vu khống, mà những đức tính này nên dành cho bọn đầu trộm đuôi cướp, đá cá lăn dưa, không nên có trong giới tu hành. Những đức tính xấu xa như vậy chỉ làm hại tín đồ và làm hại tôn giáo mà thôi.

    Thưa ông Thích Quảng Độ,

    Đầu óc của một người trung bình cũng có khả năng hiểu TT Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhukhông muốn Mỹ đổ quân vào Việt Nam nên mới bị đảo chánh và sát hại, thì với những chức vụ lãnh đạo tôn giáo như vậy, thì đầu óc của ông được cho là phải bằng, và phải tỉnh táo như một người trung bình, phải không? Do vậy, trong thâm tâm, ông biết rất rõ rằng Chính phủ Đệ I TT Ngô Đình Diệm hoàn toàn khôngchính phủ ngoại thuộc và cũng chẳng phải chính phủ ngoại bang. Nhưng các ông vẫn phát ngôn

    "Dưới thời ngoại thuộc, Phật giáo đã hoàn tất công cuộc chấn hưng khởi từ những năm 20 thế kỷ trước, bằng cuộc Xuống Đường không tiền khoáng hậu năm 1963, thế kỷ XX, để chấm dứt thời kỳ ngoại thuộc biến một tôn giáo dân tộc thành hội đoàn tư hữu, biến đạo lý truyền thống thành ý lực ngoại bang" (Thích Quảng Độ, 2011) [1].

    Ngay cả ông Thích Huyền Quang còn viết rằng “Phật Giáo” của các ông đã bị đàn áp suốt ba trăm năm (Huyền Quang Kỷ Yếu 2010) cận đại, thì tất cả các ông đã mắc phải một cái nghiệp rất trầm trọng, mà đáng lý ra, ở vào cương vị và tuổi đời của ông, ông phải tuyệt đối tránh, để làm gương cho tín đồ, đó chính là khẩu nghiệp.

    Ông sẽ lại càng mắc thêm khẩu nghiệp nếu như ông mượn từ "ngoại thuộc" hay "ngoại bang" để vu khống sỉ nhục Đệ I Cộng HòaChính phủ Công giáo 'đàn áp Phật giáo'. Năm 1963, các ông đã làm một cú lừa đảo phá hoại khủng khiếp nhất trong lịch sử cận đại của Việt Nam, rồi bây giờ các ông chối tội bằng cách cho đó là cuộc cách mạng chấm dứt thời kỳ ngoại thuộc? Sao có chuyện tiền hậu bất nhất và ngoa ngữ thậm xưng đến như thế? Phật nào dạy các ông dùng việc nướng mạng tăng ni để đàn áp chính quyền? Các ông chụp cái tội "độc tài" và "đàn áp Phật giáo" cho chính phủ Đệ I Cộng Hòa, trong khi đó, trên thực tế, chính phủ đó hoàn toàn ưu đãi Phật giáo và chưa từng vi phạm hiến pháp VNCH bao giờ. Nếu các ông cho rằng chính phủ VNCH vi phạm luật pháp và hiến pháp, yêu cầu các ông đưa ra bằng chứng?

    Đến giờ này mà các ông trong tập đoàn PGVNTN còn tiếp tục hành động lừa đảo, thì tôi cần phải có bổn phận phân tích cái khẩu nghiệp của các ông.

    Xin ông cho biết trong chính phủ Đệ I Cộng Hòa, có bao nhiêu Bộ Trưởng là tín đồ Phật giáo, bao nhiêu Bộ Trưởng là Công giáo? Tôi có thể chứng minh cho ông thấy rằng số tín đồ Phật giáo được Tổng Thống bổ nhiệm vào chức vụ Bộ Trưởng 2/3, số còn lại là công giáo và các tôn giáo khác. Và xin ông vui lòng cho biết trong quân đội của Đệ I Cộng Hòa, trong hàng ngũ tướng lãnh, có bao nhiêu tướng là tín đồ Phật giáo và bao nhiêu tướng là Công giáo? Tôi có thể chứng minh cho ông thấy số tướng lãnh tín đồ Phật giáo cũng là 2/3. Vài thí dụ rõ nhất để ông khỏi chối cãi: Ai là người giữ chức vụ an ninh quan trọng của quân đội? ÔngĐổ Mậu! Ông Đổ Mậu là tín đồ Phật Giáo hay Công Giáo? Ai là người giữ chức vụ quan trọng trong hàng tướng lãnh? Ông Tôn Thất Đính. Ông Tôn Thất Đính là tín đồ Công Giáo hay Phật Giáo? Các ông trả lời đi?

    Mặc dầu sự thật đã rành rành như 2+2 là 4 như vậy, nhưng suốt nửa thế kỷ qua, đầu óc của các ông trong tp đoàn lừa đảo PGVNTN vẫn còn bệnh hoạn quyền lực đố kỵ tôn giáo, đặc biệt là Công giáo. Tôi sẽ chứng minh những cái đầu bệnh hoạn của các ông đã bị cộng sản lợi dụng để phá nát thời vận của dân tộc Việt Nam như thế nào.

    Đệ I Cộng Hòa sụp đổ cuối năm 1963, thì ngay lập tức vào đầu năm 1964, cộng sản Thích Trí Quang thành lập ra cái Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và Hiến Chương của nó do Thích Trí Quang soạn thảo (theo Bạch Thư của Thích Tâm Châu) [2]. Cộng sản Thích Trí Quang, cha đẻ ra cái tập đoàn lừa đảo PGVNTN đó, đã từng tuyên bố sẽ chiến đấu đến khi không còn người Công Giáo nào trong chính phủ nữa, cả Đệ Nhất Đệ Nhị Cộng Hòa. Cái khốn nạn của cộng sản Thích Trí Quang là ở điểm hắn thừa biết cả hai vị Tổng Thống của VNCH đều là do dân bầu lên, nhưng hắn bất kể lòng dân, hắn muốn áp đặt cái tư tưởng bệnh hoạn xấu xa bài công giáo của hắn và đồng bọn lên xã hội Miền Nam.

    Và sau lưng Thích Trí Quang Hồ Chí Minh ĐCSVN, vì chính Thích Trí Quang đảng viên cộng sản, do Tố Hữu kết nạp ở mật khu Lương Miêu, Dương Hòa. Mà Thích Trí Quang lại là lãnh tụ thực sự của các ông, thế thì động lực của các ông là động lực gì? Và hoạt động cho ai? Tại sao biết rằng những hành động phản loạn suốt từ 1963 đến gần cuối 1966 là hành động vi phạm luật pháp mà các ông vẫn làm, thưa ông Thích Quảng Độ?

    Các ông đã nuôi béo ý tưởng sẽ tiến hành lập Chính Phủ Phật Giáo thời hậu VNCH để liên hiệp chia quyền với bọn Cộng sản. Chính vì vậy mà các ông đã tận dụng tất cả mọi thủ đoạn để vu khống chính phủ Tổng Thống Ngô Đình Diệm là "chính phủ đàn áp tôn giáo"!!!, và cả chính phủ Đệ Nhị Cộng Hòa của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu các ông cũng không chừa. Chắc ông chưa quên rằng vào ngày 20 tháng 10 năm 1974, khi đất nước cần phải có ổn định chính trị để đối đầu với kẻ thù, thì chính ông đã nói với báo chí ngoại quốc rằng, “Nếu Thiệu không từ chức thì Ấn Quang sẽ kéo Thiệu xuống”! (Washington Post). Trước đó, ngày 18 tháng 2 năm 1967, ông cùng với Thích Trí Quang Cao Ngọc Phượng, vợ của Thích Nhất Hạnh, mướn tờ New York Times đăng rằng Chính quyền Nam Việt Nam hiện nay không phải là chính quyền của chúng tôi và không đại diện cho nhân dân chúng tôi. Nó được Mỹ áp đặt lên chúng tôi và được điều khiển bởi những tên lính đánh thuê cho Pháp chống lại nhân dân Việt Nam trước 1954. Nếu chúng tôi được bầu cử tự do, chính quyền này không tồn tại một ngày. Chúng tôi muốn tự chúng tôi giải quyết vấn đề Việt Nam của chúng tôi bằng cách điều đình với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Bắc Việt cũng như sự rút quân của Mỹ.”

    Tu hành kiểu gì vậy hả ông Thích Quảng Độ? Ông tu hành hay ông hoạt động chính trị chuyên nghiệp hả ông Thích Quảng Độ?

    Phong trào phản chiến đòi hòa bình một phía, tức đòi Đệ II Cộng Hòa phải buông súng và Mỹ rút quân nhưng không đòi hỏi gì ở phía Cộng sản cả, thế là thế nào hả ông Thích Quảng Độ? Càng phân tích hàng loạt chứng cứ dưới đây, chúng tôi càng nhìn thấu cái tâm can khốn nạn phá đạo hại đời, phá hoại đất nước của các ông:

    - 1966, Thích Hộ Giác (1928-2012) đã hoạt động sát cánh Thích Trí Quang và tuyên bố Phật giáo chiến đấu đến giọt máu và hơi thở cuối cùng để lật đổ Đệ II Cộng Hòa. Ngay sau khi nhận được tuyên bố này, Ngoại Trưởng Dean Rusk, Bộ Ngoại Giao Mỹ, đã viết thư gởi Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn để nhờ chuyển thông điệp của Chính phủ Mỹ đến Thích Trí Quang và tổ chức PGVNTN như sau:

    "Đây không phải là thời gian để Phật Giáo đập đổ mọi thứ và làm hỏng những nỗ lực mà đã bắt đầu có hiệu quả…. nếu họ tiếp tục việc phá hoại vô trách nhiệm như hiện nay, thì không những họ sẽ mất thiện cảm của công luận và chính quyền Hoa Kỳ mà trước đây họ đã có, mà họ sẽ làm cho tình trạng hỗn loạn và vô chính phủ trầm trọng hơn lên, trong đó sự hổ trợ của chính phủ Hoa Kỳ cho Việt Nam sẽ không có hiệu lực nữa. Tổng Thống Hoa Kỳ hy vọng rằng Phật Giáo sẽ thể hiện điều này, rằng không những chỉ có những người yêu nước Việt Nam quan tâm đến vận mệnh của quốc gia mình mà những người lãnh đạo tôn giáo cũng phải biết quan tâm đến vận mệnh của các tín đồ của họ và những giáo lý mà họ cho là họ đại diện. (Dean Rusk, 19/3/1966) [3]."

    -1974, Thích Quảng Độ tuyên bố với truyền thông Mỹ 'Nếu Thiệu ngoan cố không từ chức thì Ấn Quang sẽ kéo Thiệu xuống'. 'Trể nhất là năm sau.'






    Năm sau đó có phải là 30/4/1975 đó không, thưa ông Thích Quảng Độ?

    - Thích Đôn Hậu tự thú rằng tổ chức PGVNTN các ông đã lập ra Chính Phủ Phật Giáo đưa Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống, để ra lệnh đầu hàng cộng Sản năm 1975 [4]. Tổ chức PGVNTN đã cùng nhau thực hiện đúng bài bản mà cộng sản đã dàn dựng sắp xếp. Bằng chứng là loạt tài liệu các ông Thích Quảng Độ, Thích Trí Quang, Thích Hộ Giác, Thích Thiện Minh... đã nhiều lần đăng đàn trên NY Times, Washington Post, Times, vv... để chống VNCH, đòi Mỹ rút quân về và thề chiến đấu lật đổ Đệ II Cộng Hòa đến hơi thở cuối cùng. Chúng tôi không tìm thấy tài liệu nào của tổ chức PGVNTN tố cáo tội ác cộng sản, tố cáo cộng sản xâm lược Miền Nam, hay đòi Cộng sản rút quân khỏi Miền Nam trong suốt giai đoạn đăng đàn này [5].

    Xem thêm tài liệu ở link sau đây:
    Thích Đôn Hậu tiết lộ: GHPGVNTN đã đưa Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống để đầu hàng CS 1975

    http://hoilatraloi.blogspot.com/2013...-thuat-ve.html

    Sau 4/1975, khi VNCH của chúng tôi hoàn toàn rơi vào tay Cộng Sản thì tổ chức các ông cũng đã bị Cộng Sản vắt chanh bỏ vỏ, mặc dù các ông đã vô cùng hân hoan và lễ phép với chính quyền cách mạng. Hãy đọc lại bút tích của Thích Huyền Quang như sau:

    Trưa 30/4/75 chính quyền VNCH thất thủ. Sau khi nghe Đại Tướng Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện trước sự tiến công của Bộ Đội Cách Mạng, lúc ấy tôi có mặt tại trụ sở GHPGVNTN ở chùa Ấn Quang. Chúng tôi họp bàn và bàn thảo tờ tuyên cáo nội dung hoan nghênh cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn vừa kết thúc. GHPGVNTN sẽ tìm phuơng tiện để hàn gắn vết thương chiến tranh”...

    Xin hỏi, PGVNTN đã tìm được phương tiện gì dưới chế độ cộng sản để hàn gắn vết thương chiến tranh? Và cộng sản đã thưởng công cho PGVNTN quyền hành gì để thực hiện được điều đó? Luật nhân quả nhà Phật báo ứng nhản tiền, ĐCSVN đã thưởng cho các ông cái búa tạ, loại trừ các ông như loại trừ một thứ rác rưỡi và thành lập nên “Phật Giáo TÀ MA” riêng của chúng nó! Tôi thật tình đau đớn dùm cho hoàn cảnh cười ra nước mắt này của các ông! Không có cảnh chia quyền trong một "Chính Phủ Liên Hiệp" xảy ra, nên Đệ III Tăng Thống của các ông là cộng sản Thích Đôn Hậu đã phải trực tiếp kể công trạng với Thủ Tướng Cộng sản Phạm Văn Đồng thế này: Cuộc chiến đấu của Phật giáo đóng góp cho Cách Mạng thì rõ ràng đã được Hồ chủ tịch trực tiếp tán dương “cuộc tranh đấu của Phật giáo là cả một sự đóng góp lớn lao vào sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, mà điển hình là việc tự thiêu của sư Quảng Đức”. Vậy mà 'Sao trớ trêu vậy? Đến khi giải phóng rồi lại đối xử với Phật giáo như vậy?' (Thích Đôn Hậu, 1976) [3].

    Thưa các ông Thích Quảng Độ, Thích Như Đạt, Thích Viên Lý,Võ Văn Ái, các ông có cảm thấy tự ái khi nghe Thích Đôn Hậu kể công với Cộng sản sau 1975 không? Riêng đối với tôi giống như đang nghe hai tên gian hùng chơi trò đùn qua đẩy lại như thế này:

    Cộng sản Thích Đôn Hậu đùn qua: - Chính phủ Liên Hiệp Phật Giáo đâu? Phật giáo làm quốc giáo đâu ở? Tại sao lại quịt nợ vậy?...

    Cộng sản Phạm văn Đồng đẩy lại: - Cái đó chỉ là đáp án tạm thời của Cộng sản chúng ta. Kịch đã hạ màn. Mà tại sao lại lập Chính phủ Phật giáo? để chi vậy?, Để đưa Dương văn Minh lên đánh lại Cách Mạng phải không?

    Cộng sản
    Thích Đôn Hậu
    , yếu ớt: - Lập chính phủ Phật giáo, nhưng mà ...lập lên, đưa Dương văn Minh lên, để ...đầu hàng Cách Mạng.

    Ngẫm lại thời các ông lên xuống đường tuyên bố này, tuyên bố nọ để quyết chiến với VNCH chúng tôi, sao nay các ông lại run rẩy trước Cộng sản vậy? Dường như các ông là những kẻ gieo ảo mộng và tìm ảo mộng giửa đạođời, giữa thần quyền thế quyền, dưới cái vỏ bọc Phật Giáo, phải không các ông?

    Câu hỏi thứ hai, PGVNTN các ông tiếp tục tồn tại bằng việc ru ngủ làm u mê các tín đồ nông nổi như thế nào?

    Trước 1975 các ông trực diện với VNCH bằng cách lên đường xuống đường, nướng sư, giết cảnh sát, tuyệt thực... Gần đây Võ Văn Ái yêu cầu chính quyền Hoa Kỳ lên tiếng can thiệp vì ông đang bị quản thúc chặt chẽ. Nếu ông thật sự bị quản thúc chặt chẽ thì làm sao ông vẫn đi lại được các chùa để hội họp và chụp ảnh để phổ biến? Nếu ông thật sự bị quản thúc chặt chẽ thì tại sao Cộng sản để cho ông trả lời phỏng vấn của RFA hết lần này đến lần khác như vậy?

    Trong tình hình bị quản thúc chặt chẽ mà ông cất tiếng nói tới tận thủ đô tị nạn Cộng sảnđể sỉ nhục chúng tôi thì ...thảo nào bọn Cộng sản ưa quản thúc ông đến như vậy!

    Nếu 1963 Thích Trí Quang đã hoàn thành sứ mạng Cộng sản sau khi đưa Phật giáo Thống Nhất của các ông tiếp tay kết thúc Đệ I Cộng Hòa, thì Thích Quảng Độ bồi thêm nhiều nhát dao lút cán như sau: Ngày 18/2/1967 không chấp nhận chính phủ VNCH là chính phủ của Thích Quảng Độ, yêu cầu phải liên hiệp với MTGPMN, điều đình với Hà Nội,Mỹ phải rút quân, ngày 20 tháng 10 năm 1974 đòi Thiệu phải từ chức tức khắc, năm 2010 đến năm 2011 đã gọi Đệ I Cộng Hòa của chúng tôi là chính phủ ngoại bang Đệ II Cộng Hòa chúng tôi là lính đánh thuê cho Mỹ [6]. Các ông căm thùsỉ nhục VNCH chúng tôi như vậy, thì hà cớ gì các ông cho người treo cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tràn ngập Điều Ngự, Pháp Luân, Diệu Pháp… vậy hở ông Thích Quảng Độ Thích Viên Lý? Rõ ràng là các ông đã treo đầu dê bán thịt chó. Các ôngnúp dưới lá Cờ Vàng thắm bao máu đào của anh em chiến sĩ VNCH chúng tôi để làm vỏ bọc trong cộng đồng Tị Nạn Cộng Sản. Dùng lá Cờ Vàng để chiêu dụ tín đồ đến chùa và sỉ nhục VNCH ngay tại chùa, đó là sự đểu cáng mị dân của các ông đối với Miền Nam Việt Nam. Các ông chỉ lừa được những người tối dạ, các ông không lừa được những người bình thường.

    Mặc dầu sau 1975 Thích Trí Quang đã phủi tay đem con (PGVNTN) bỏ chợ, nhưng sự nguy hiểm thì còn bền bỉ kéo dài. Tính đến nay gần nửa thế kỷ, chủ trương dùng tôn giáo làm đòn bẩy cho tham vọng chính trị đã trở nên tinh vi hơn. Nó được giải thích qua hàng loạt phát biểu và hành động của tập đoàn lừa đảo PGVNTN, mà môi trường sống của nó là tâm lý ích kỷ cá nhân của các tín đồ nông nổi. Nó gieo rắc lòng đố kỵ tôn giáo vào những cái đầu nông nổi một cách liên tu bất tận.

    Ba văn bản bên dưới một lần nữa chứng minh các ông vẫn chứng nào tật nấy: Sự ham muốn biến Việt Nam thành một Chính phủ Phật giáo vẫn ám ảnh các ông qua mưu đồ dùng tôn giáo hoạt động chính trị và lòng dạ tham sân si lộ liễu của các ông. Bất cứ khi nào lợi dụng được Đức Phật là ông Thích Quảng Độtập đoàn lừa đảo của ông cũng không từ bỏ. Cứ mỗi Phật Đản, thì các ông lại dỡ trò, lại tiếp tục quảng cáo cho cái quái thai PGVNTN như sau: "Bất kỳ thể chế chính trị nào biết vận dụng khôn khéo nền văn minh giải thoát củaPhật giáo làm nguyên tắc chủ đạo để trị dân thì quốc gia sẽ phú cường thịnh vượng và tồn tại lâu dài.” Ông đưa tên tuổi Ashoka đại đế ở Ấn Độ và các vị vua Lý, Trần ở Việt Nam để chứng minh sự thành công khi đưa Phật giáo vào công việc trị nước. Thưa ông Thích Quảng Độ, còn các nước mà Phật Giáo không nổi trội như Anh, Pháp, Hoa Kỳ thì sao? Họ sắp sửa bị diệt vong rồi chắc? Tôi thành thật khuyên ông hãy can đảm nhìn thẳng vào sự thật. Sự hoang tưởng láo khoét về một Quốc Giáo Phật Giáo dưới thời Lý thời Trần đã ám ảnh nặng tâm khảm của các ông để các ông có thể vừa lãnh đạo quốc gia, vừa khoác áo thầy tu thì phải? Hãy chấm dứt sự hoang tưởng bẻ cong lịch sử, dưới thời Lý và thời Trần, thể chế chính trị của Việt Nam bấy giờ là quân chủ, vua Trần vua Lý nắm quyền, cải tổ và giữ vững đất nước, chống lại quân Nguyên Mông, chứ không phải Phật Giáo nắm quyền, cải tổ và lãnh đạo đất nước chống giặc Hán các ông nhé!

    Thưa ông Thích Quảng Độ, ở thời điểm thế kỷ 21 là thời đại của Internet. Người ta không thể quyết định thay cho dân để áp đặt bất cứ thể chế chính trị nào, nếu lòng dân không muốn. Chỉ có Cộng sản mới áp đặt thể chế chính trị Cộng sản cường hào ác bá như vậy. Ông tuyên bố không muốn Việt Nam đi theo gót độc tài của Cộng sản, thì trước hết, ông phải từ bỏ ý định áp đặt đạo vào đời, dùng thần quyền khống chế thế quyền, chấm dứt giấc mộng trùm cái gọng độc tài thần quyền Phật Giáo lên đầu người dân Việt Nam thời hậu Cộng sản.

    Đó là điều mà các ông cần phải làm trước khi từ giả cõi đời này. Nếu các ông không từ bỏ ý đồ xấu xa mà còn tiếp tục đưa tín đồ vào tròng, thì các ông sẽ được lôi ra ánh sáng để rửa sạch ý định đó từng giây phút một. Các ông đừng mơ tưởng rằng có thể lừa phỉnh những người nhẹ dạ thêm một lần nữa!

    Ở vào thời đại này, người dân sẽ tự bầu chọn ra chính phủ và người dân sẽ theo dõi hoạt động của chính phủ họ chọn qua các phương tiện báo cáo bằng kỹ thuật mới như FACEBOOK, TWEETER, ENews, Emails, Fax, Cellphone,… Đơn giản là như vậy.

    Ông Thích Quảng Độ và các ông trong tập đoàn lừa đảo PGVNTN không những tham vọng tái lập quyền uy quốc phụ như thưở xa xưa 1963-1966, mà các ông còn là thủ phạm hướng dẫn cho lòng đố kỵ tôn giáo sinh sôi nảy nở trong đầu óc những tín đồ cuồng tín (rất hung hăng đả phá các tôn giáo khác). Chủ trương của GHPGVNTN đã và sẽ tiếp tục là hậu họa vô cùng nguy hiểm cho vận mạng của dân tộc Việt Nam thời hậu Cộng Sản.

    Nếu còn một chút nhân tính và lòng tự trọng trong các ông, các ông nên giải tán tập đoàn lừa đảo PGVNTN của cộng sản Thích Trí Quang đi. Mặt nạ đã đi tu mà còn đèo bồng chính trị của các ông đã bị lột xuống. Việc đời đấu tranh chính trị là việc của những người thế tục chúng tôi, việc đạo là việc của các ông. Mỗi cá nhân các ông hãy trở về nẻo thẳng đường ngay tu theo chánh đạo và nên sống một đời trầm lặng không tổ chức tập quyền như quá khứ và hiện tại nữa. Thực hiện được việc này thì xem như các ông đã giúp loại trừ một hậu họa lớn cho dân tộc Việt Nam rồi. Cảm ơn các ông!

    Liên Thành
    Cựu Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng CSQG VNCH/Thừa Thiên Huế
    ______
    Ôi! Thiên Chúa Thánh Thiện Lòng Lành!




    Như ong đến với hoa

    Không hại sắc và hương

    Che chở hoa lấy nhụy

    Bậc Thánh đi vào làng.

Page 5 of 6 FirstFirst 123456 LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •