Page 3 of 6 FirstFirst 123456 LastLast
Results 41 to 60 of 108

Thread: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

  
  1. #41
    Join Date
    Apr 2010
    Posts
    439
    Thanks
    2
    Thanked 5 Times in 5 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    Kính chúc tất cả các bạn xả tâm tốt.
    Ly dục ly ác pháp, sống không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả chúng sinh.


    Bye Bye

  2. #42
    Join Date
    Oct 2004
    Posts
    249
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    Quote Originally Posted by phimanh View Post
    PHẬT GIÁO CÓ ĐƯỜNG LỐI RIÊNG, KHÔNG BỊ ẢNH HƯỞNG HAY VAY MƯỢN BẤT CỨ MỘT GIÁO PHÁP NÀO CỦA NGOẠI ĐẠO


    Thư ngỏ

    Kính thưa quý phật tử trong nước cũng như ở khắp nơi trên thế giới!
    Kính thưa quý vị, chúng tôi viết sách là viết những điều mà mọi người chưa hiểu biết để giúp cho mọi người hiểu biết thêm một cách tường tận mà không còn hiểu sai lệch.
    Chúng tôi không viết sách những điều mà người ta đã hiểu biết, những điều mọi người đã hiểu biết mà cứ để họ phải đọc đi đọc lại mãi thì rất nhàm chán và phí thời gian vô ích.
    Theo chúng tôi hiểu đọc sách là mở mang kiến thức hiểu biết, cho nên khi đọc những điều chưa hiểu biết làm cho mình hiểu biết thêm những điều mới mẻ thì đó là bồi dưỡng kiến thức hiểu biết. Còn ngược lại chẳng lợi ích gì, còn mất công sức và làm tốn phí thời gian. Có phải vậy không thưa quý vị?
    Vì thế, những người viết sách cần nên lưu ý các vấn đề này. Viết sách mà cứ nhai đi nhai lại mãi những điều người khác đã viết rồi thì cuốn sách không có giá trị.

    Cho nên viết sách không có đề tài mới mẻ thì không nên viết. Vì viết sách không phải cầu danh, cầu lợi (buôn bán sách) mà viết vì lợi ích cho mọi người đọc.
    Kinh sách đã bày bán đầy phố, đầy chợ, đầy các vĩa hè, những loại kinh sách như vậy còn có giá trị gì? Cầm lên một cuốn sách đọc thử thì thấy văn chương chữ nghĩa toàn là trộm ý trộm lời của người khác. Tại sao có rất nhiều đề tài mà mọi người chưa hiểu sao quý vị không viết mà lại đi trộm văn, trộm ý của người khác mà viết.

    Đề tài thứ nhất: con người có linh hồn hay không? Với đề tài này sao quý vị không viết cho mọi người biết?
    Đề tài thứ hai: Kinh sách Đại Thừa chịu ảnh hưởng tư tưởng nào của người Trung Quốc?
    Đề tài thứ ba: Kinh sách Thiền Tông chịu ảnh hưởng tư tưởng nào của người Trung Quốc?
    Đề tài thứ tư: Những giáo pháp này đưa người tu hành đi đến đâu?
    Đề tài thứ năm: Những giáo pháp này có đúng là của Phật giáo hay không?
    Đề tài thứ sáu: Đường lối tu theo Phật giáo như thế nào đúng và như thế nào sai?
    Đề tài thứ bảy: Cái gì sinh ra con người và con người chết đi về đâu?
    Đề tài thứ tám: Con người chết cái gì tiếp tục đi tái sinh?

    Tám câu hỏi trên đây là những đề tài giúp cho quý vị viết những bộ sách có giá trị mà không phải nhai lại kiến giải của những người khác.

    Chúng tôi viết sách thường chọn lựa những đề tài nào mà mọi người chưa hiểu, vì thế khi đọc sách chúng tôi đã làm cho quý vị có một kiến thức hiểu biết rộng hơn.
    Mọi người thường hiểu con người có linh hồn, cho nên chúng tôi viết sách chỉnh đốn lại sự hiểu sai như vậy là sai lầm, nhờ đó đề tài viết mới mẻ và phong phú làm cho người đọc càng say mê trong sự hiểu biết mới mẻ này.

    Những đề tài của chúng tôi viết thường vượt lên mọi phong tục tập quán từ xưa đến nay và các triết lý tôn giáo. Vì thế làm cho tư tưởng con người bị đảo lộn không còn đứng vững trên lập trường tư tưởng truyền thống và tôn giáo của họ. Càng viết chúng tôi càng cố gắng hơn để lột trần một sự thật để mọi người hiểu biết con người không có linh hồn đi tái sinh từ kiếp này đến kiếp khác.

    Chúng tôi viết sách không có mục đích bài bác linh hồn hay kinh sách Đại Thừa và Thiền Tông, nhưng vì một sự thật linh hồn không có và kinh sách Đại Thừa và Thiền Tông có nhiều cái sai. Những điều sai đó đã khiến cho mọi người lạc vào ảo tưởng trở thành những người bệnh thần kinh.

    Vì thế chúng tôi không thể làm ngơ, cho nên những gì chúng tôi viết trong sách là cố gắng giúp cho mọi người hiểu biết những điều chưa hiểu biết, giúp cho mọi người hiểu biết một sự thật mà không một người nào hay một tôn giáo nào lừa gạt quý vị được.

    Kính thưa quý vị! Trong cuộc đời không ai là người thông suốt tất cả trời, đất, vũ trụ và con người, không có ai là người hoàn toàn đầy đủ tài đức, cũng không có ai là người thông thiên bác cổ chỗ nào cũng thông suốt. Vì thế chúng tôi rất hiểu biết mình, nên chúng tôi viết là viết những điều hiểu biết đã cân nhắc kỹ lưỡng. Những điều hiểu biết đó chúng tôi xin góp ý với quý vị để giúp cho quý vị cùng hiểu biết như chúng tôi, nếu quý vị muốn, còn không thì thôi. Đó cũng là sự chia sẻ hiểu biết cùng quý vị chớ chúng tôi đâu dám làm thầy quý vị, xin quý vị hiểu và tha thứ.

    Kính ghi,
    Hòa Thượng Thích Thông Lạc
    Các Hòa Thượng nhận xét về Thích Thông Lạc (p1)

    ĐƯỜNG VỀ XỨ PHẬT
    Thích Thông Lạc

    Ghi chú: Phần màu xanh là phần nhận xét của Thích Đức Thắng

    Ðạo Phật đã có mặt trên trái đất này từ 2540 năm nhưng sự nghiên cứu kỹ về kinh sách và lịch sử của Ðạo Phật thì Ðạo Phật chỉ có tồn tại được một trăm năm, lúc bấy giờ chúng tỳ kheo tu tập đúng chánh pháp, còn từ đó về sau này chúng tỳ kheo đều tu sai pháp của Ðạo Phật do bởi Ðạo Phật phát triển theo kiểu thế tục hóa mê tín dân gian và bị các tôn giáo khác đồng hóa. Thời gian một trăm năm đầu ấy, trong khi Ðức Phật còn tại thế, tuy vậy, trong chúng tỳ kheo vẩn có nhiều người sống không đúng phạm hạnh, không ly dục ly ác pháp, nên Ðức Phật buộc lòng phải chế giới bổn Patimokha để ngăn cấm. Nhưng từ khi có giới bổn ra đời chúng tỳ kheo lại càng vi phạm nhiều hơn.

    (Nhận xét của Thích Đức Thắng: Cứ cho là Thầy Thông Lạc quan niệm lịch sử thật sự của đạo Phật là một trăm năm đi. Nhưng cái lịch sử 100 năm này theo tôi cũng sai luôn, vì đức Phật chỉ trụ thế có 80 năm thôi, chưa kể 35 năm trước khi thành đạo, nếu đem trừ đi 35 năm này thì chỉ còn lại có 45 năm, và trong vòng 45 năm nói pháp này là thời gian mà các Tỳ-kheo tu tập theo đúng chánh pháp của Ngài chỉ dạy, còn từ đó về sau là tu sai pháp của đạo Phật. Nếu theo như ý của đoạn văn này thì Thầy thông Lạc đã sai lầm trong nghiên cứu lịch sử. Chỉ có 45 năm các tỳ-kheo tu tập theo đúng chánh pháp chứ không phải là 100 năm như Thầy Thông lạc đã nói. Đó là cái nghiên cứu sai lầm thứ nhất của Thầy Thông Lạc. Cái sai lầm thứ hai trong đoạn văn kế tiếp trên là: Theo Thầy trong vòng thời này, tuy đức Phật còn tại thế, nhưng trong chúng Tỳ-kheo vẫn có nhiều người sống không đúng phạm hạnh, không ly dục ác pháp nên buộc lòng đức Phật phải chế ra giới bổn Patimokkha để ngăn cấm. Nhưng thật ra trong vòng 45 năm này, thì trong vòng 5 năm đầu đức Phật chưa chế ra giới bổn (giới cấm), mà trong vòng 5 năm này đức Phật chỉ nói bài kệ 4 câu: “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, Tự tịnh kỳ ý, Thị chư Phật giáo.” để răn dạy các Thầy tỳ-kheo mà thôi. Đó chính là bài kệ đầu tiên đức Phật nói ra để răn các Tỳ-kheo vô sự về luật pháp, chứ chưa chế ra giới bổn để ngăn cấm như Thầy đã nói ở đoạn văn trên. Đức Phật chỉ chế ra giới bổn từ khi Tỳ kheo Tu-đề-Nan-đà phạm giới dâm lần đầu tiên vào đầu năm thứ sáu như Luật Tứ phần và bốn bộ luật khác cũng thuộc Luật bộ của các bộ phái Thinh văn Tiểu thừa đã nói như nhau trong sự kiện này, nhân đó đức Phật mới bắt đầu chế ra giới. Nhưng khi đức Phật muốn chế giới bổn thì Ngài luôn luôn căn cứ vào tướng phạm của các Tỳ-kheo Ngài mới chế, chứ không phải Ngài tuỳ tiện, hay tự động tiên liệu để chế ra giới bản. Như vậy là từ khi đức Phật thành đạo cho đến khi chế ra giới bổn là năm năm sau. Đây là sự sai lầm thứ hai trong đoạn văn trên. Trong một đoạn văn ngắn như vậy mà phạm phải hai sự sai lầm như vậy, chứng tỏ Thầy mù tịt không hiểu biết gì về lịch sử, và nhất là về Luật.)

    Ðến khi Ðức Phật thị tịch, các vị đại đệ tử của Người không đủ uy đức điều khiển một số chư Tăng quá đông đảo (1250 vị tỳ kheo). Vì thế sau khi trà tỳ nhục thân Ðức Phật xong, các vị đại đệ tử của Ðức Phật, nhất là ông Ca Diếp đã trực tiếp nghe một số chúng tỳ kheo vui mừng khi hay tin Ðức Phật nhập diệt. Cho nên sau khi đám tang xong, ông vội vàng mở cuộc họp, thiết lập cuộc kết tập kinh luật lần đầu tiên, để lấy đó làm giềng mối cho Ðạo Phật ở ngày mai.

    Từ khi Ðức Phật nhập diệt, mặc dù kinh luật đã được thiết lập nhưng ít ai còn giữ và sống đúng giới hạnh, nên lần lượt chư Tăng chia thành nhiều bộ phái (20 bộ phái) và mỗi bộ phái tự kiến giải kinh luật riêng của bộ phái mình, do đó kinh sách phát triển của Ðạo Phật càng ngày càng tăng lên rất nhiều.

    Chính những kinh sách này dẫn đến lìa xa Ðạo Phật (mất gốc). Người tu sĩ Ðạo Phật sống không còn đúng phạm hạnh, tâm không ly dục ly ác pháp được nên tu hành thiền định chẳng có kết quả, nhập định chẳng được, phần đông rơi vào tà định. Vì thế thời nay ít ai tu đúng "Chánh niệm" và nhập đúng "Chánh định".

    Ðọc lại những quyển kinh luận của các nhà học giả, sư, thầy viết ra, lý chánh pháp mù mờ không rõ, đời - đạo viên dung lố bịch, đời chẳng ra đời, đạo chẳng ra đạo, mượn râu ông nọ cắm cằm bà kia, giống như chiếc áo chắp vá chỗ này, chắp vá chỗ khác, hành pháp thì không thông, nên tưởng tượng ra các hành dựa theo khoa học, võ học, dưỡng sinh, khí công, các pháp hành của Yoga, v.v.., tu tập ức chế thân tâm một cách quá đáng, tạo ra biết bao nhiêu bịnh tật cho những hành giả dại khờ tự đem mình vào chỗ chết, chỗ khổ mà không biết.

    (Nhận xét 2 đoạn văn trên: Thầy Thông Lạc căn cứ vào đâu để nói rằng các kinh sách của các bộ phái dẫn đến xa lìa đạo Phật? Cách nói này đứa trẻ nít chúng cũng có thể nói được! Vì chúng chỉ biết có nói thôi, nhưng bảo chúng đưa ra lý luận bằng chứng thì chúng không đưa ra được, chỉ vỉ chúng nói theo kiểu thiếu hiểu biết của trẻ nít hay của kẻ hàm hồ, chứ thật ra chúng cũng đâu có bất cứ căn cứ dữ kiện nào đâu để chứng minh rằng lời nói của mình là đúng! Ở đây Thầy Thông Lạc cũng vậy, nói ra mà không biết mình nói gì! Nếu Thầy bảo rằng tất cả những kinh sách của các bộ phái trên đều dẫn đến lìa xa đạo Phật, có nghĩa là tất cả những kinh sách này đều sai lầm. Vậy thì Thầy lấy kinh sách nào không sai lầm để Thầy căn cứ vào đó để so sánh, để Thầy tu tập? Trong khi tất cả mọi thứ kinh sách của các bộ phái Phật giáo Thầy đều cho là sai lầm! Có lẽ Thầy căn cứ vào sách vở ngoại đạo chăng!? Đây là một điều tự Thầy mâu thuẫn với chính Thầy mà Thầy không biết. Thứ nữa, theo Thầy, đọc lại những quyển kinh luận của các nhà học giả, sư, thầy viết ra, lý chánh pháp mù mờ, không rõ, đời-đạo viên dung lố bịch v.v… Nếu Thầy đọc những quyển kinh luận này Thầy cho là mù mờ, Thầy không hiểu rõ. Vậy Thầy căn cứ vào đâu để bảo rằng đời-đạo viên dung lố bịch, v.v…, vì Thầy không hiểu rõ về nó mà; những gì Thầy không hiểu rõ về nó, mà nói về nó thì có đúng không? Vậy mà Thầy không tự biết mình, không tự lượng sức mình, trương cổ lên mà đại ngôn! Thầy có biết đây là kiểu lý luận kẻ hàm hồ thiếu hiểu biết hay không?)
    __________________



    Phần 2:


    Kinh sách phát triển của Ðạo Phật quá nhiều nhưng chẳng biết tìm đâu ra một cuốn kinh nào để tu đến nơi đến chốn, đọc vào chỉ toàn là luận lý thuyết suông, thực hành thì vay mượn những pháp môn của ngoại đạo. Chính những người đã viết ra những bộ kinh đang bày bán, họ cũng chẳng tu đến đâu vì họ đang sống chạy theo dục lạc thế gian như những người khác, vì thế biết rõ họ chưa giải thoát.

    (Nhận xét đoạn văn trên: Thầy đọc vào những kinh sách phát triển của đạo Phật, Thầy thấy toàn là luận lý suông, thực hành thì vay mượn của ngoại đạo. Theo Thầy những lý thuyết suông này nó là dúng hay là sai? Điều này mới là quan trọng. Theo ý trong mạch văn của đoạn văn này, thì Thầy công nhận nó là đúng, nhưng sợ không dám nói ra! Đương nhiên lý của Đạo thì lúc nào cũng phải bắt đầu bằng lý thuyết chứ, nếu đi vào đạo mà không nhờ lý thuyết để hiểu nó thì làm sao mà thực hành?Cũng vậy, nếu Thầy tu tập Tứ niệm xứ, mà Thầy không cần lý thuyết về tứ niệm xứ, thì Thầy dựa vào đâu để thực hành? Còn việc thực hành thì vay mượn, có gì sai; ngay trong khi đức Phật còn tại Thế hầu hết giáo lý của Ngài đều vay mượn của Bà-la-môn giáo vào lúc bấy giờ, nhưng khi qua đức Phật thì giáo lý ấy trở thành giáo lý giải thoát của Phật. Nào là nhân quả, nghiệp báo, luân hồi, vô thường, thiền định v.v… không phải là của ngoại đạo sao?Cái đặc trưng của đức Phật và giáo lý của đạo Phật là ở chỗ đó. Vay mượn của người ta nhưng lấy cái đó làm thành cái đặc trưng của mình mà không thể đồng hoá với cái của họ được, đó là điều kỳ diệu )

    Sau mười năm trong thất, sống giữ gìn giới luật đúng phạm hạnh và tu tập Tứ Niệm Xứ, Tứ Thánh Ðịnh, tôi đã thấy được kết quả của những pháp môn này làm chủ sự sống chết và chấm dứt sự tái sanh luân hồi.

    (Nhận xét đoạn văn trên: Như trên Thầy bảo các kinh sách của các bộ phái dẫn đến xa lìa đạo Phật?Thầy đọc vào những kinh sách phát triển của đạo Phật, Thầy thấy toàn là luận lý suông, thực hành thì vay mượn của ngoại đạo? Vậy thì Thầy sống giữ gìn giới luật đúng phạm hạnh, và tu tập Tứ Niệm Xứ, bốn không định, những cái pháp này nó ở đây mà ra để Thầy tu tập và giữ gìn nó? Có phải là cũng từ trong những kinh sách của các bộ phái, mà Thầy cho là dẫn đến xa lìa đạo Phật, là sai lầm. Thầy đã cho rằng chúng đưa đến xa lìa đạo, đưa đến sai lầm, mà tại sao Thầy lại lấy chúng để tu tập và giữ gìn? Thật là mâu thuẫn! Chỉ qua có mấy trang giấy mà Thầy viết ra không biết bao nhiêu là sai lầm mâu thuẫn với chính mình như vậy!?Vậy thì cái kết quả về việc giữ gìn và tu tập của Thầy cũng trở nên sai lầm và xa lìa đạo Thầy có biết không?)

    Ra thất tôi thành lập tu viện Chơn Như tại ấp Gia Lâm, xã Gia Lộc, huyện Trảng Bàng, Tỉnh Tây Ninh, quyết tâm chấn hưng lại Phật Pháp. Nhưng hai chục năm trôi qua, biết bao nhiêu người theo tu, chỉ tu có ba hạnh: ăn, ngủ, độc cư, mà không ai tu nổi, nên họ không thể nào tu định vô lậu, ly dục ly ác pháp; không ly dục ly ác pháp thì làm sao nhập được Tứ Thánh Hiện Tại An Lạc Trú Ðịnh.

    Hiện Tại An Lạc Trú Tứ Thánh Ðịnh không nhập được thì không bao giờ làm chủ sự sống chết và chấm dứt luân hồi.

    Tu viện của chúng tôi chỉ còn lại một vài nguời sống đúng phạm hạnh, ly dục ly ác pháp, hiện giờ họ đang thực hiện khá sâu vào bốn thiền (Tứ Thánh Ðịnh) họ sẽ là người thắp sáng lại Ðạo Phật sau này, nếu chúng sanh có đủ duyên, nếu không đủ duyên tức là thiếu phước thì những tu sĩ này sẽ không đủ nghị lực và bền chí chiến đấu lại những nghiệp lực cuối cùng của đời mình.

    Con đường tu hành theo Ðạo Phật rất thực tế và cụ thể cho tất cả mọi người; ai cũng có thể giải thoát khỏi cảnh khổ của thế gian bằng một cuộc sống "Ðạo" ly dục ly ác pháp.

    Sống có ly dục ly ác pháp thì sự tu hành theo Ðạo Phật mới có kết quả, bằng ngược lại tu hành vô ích, không lợi mình lợi người còn mang nợ đàn na thí chủ.

    Vì sống đạo thì phải ly dục ly ác pháp nên ít có người theo sống được, hầu hết đều bỏ cuộc tu hoặc tu có hình thức hoặc biến thái Ðạo Phật qua một hình thức khác (Bồ tát hạnh) để dễ bề hành dục lạc.

    (Nhận xét đoạn văn trên: Mục đích của bài giáo trình tu tập này của Thầy Thông Lạc là gì? Có phải đây là vì vấn đề lợi tha, muốn mọi người tu tập theo mình để mọi người được lợi như mình. Vậy vấn đề lợi tha ở đây, không phải là điều Thầy đang thực hành bồ tát hạnh của Thầy đó hay sao? Nhưng tại sao trong chỗ khác thì Thầy lại lên án và báng bổ hạnh lợi tha của Bồ-tát ! Thầy có thầy việc làm của mình là mâu thuẫn với những điều Thầy đã và đang tìm cách báng bổ Bồ-tát hạnh của Đại thừa (ở đây và trong những bài giáo trình khác) của Thầy hay không? Và ngay đến việc đang làm của Thầy cũng mâu thuẫn với pháp tu theo Tiểu thừa của Thầy? Vì Tiểu thừa thì chỉ biết có tự lợi mà thôi, chứ không biết lợi tha, còn Đại thừa thi vừa tự lợi lại cũng lợi tha. Đây là một lối sống bất nhất! Thầy đang biến thái Đạo Phật theo Đại thừa mà Thầy không biết, và cũng có thể Thầy cũng có thể dễ bề hành dục lạc lắm đó như câu văn cuối của đoạn văn trên Thầy đã viết.)
    __________________


    Phần 3:



    Suy đi nghĩ lại, tôi đắn đo nhiều lần không quyết định có nên triển khai giáo án đường lối tu tập của Ðạo Phật cho hậu thế không? Nếu đường lối tu hành của Ðạo Phật không được phổ biến ở đời này, nhất là đạo đức giải thoát không làm khổ mình, khổ người thì loài người sẽ đi về đâu? Và sẽ khổ đau biết nhường nào?

    Sự mê mờ vô minh của con người từ ngàn xưa đến nay đã lầm chấp và cho các pháp thế gian là thật có, chúng sẽ đem lại hạnh phúc cho họ, khi họ được đầy đủ. Vì sự lầm chấp này, họ ôm giữ khư khư các pháp thế gian, không chịu buông bỏ, do thế, ác pháp càng tăng trưởng, thiện pháp càng suy giảm, con người khổ đau lại càng khổ đau hơn.

    Lòng thương xót bao người đã theo Ðạo Phật từ xa xưa, hiện giờ và mai sau, bao thế hệ này nối tiếp bao thế hệ kia, tu hành giải thoát đâu không thấy chỉ thấy toàn ưu bi sầu khổ, bịnh chết, lại càng khổ đau hơn. Tu mãi chỉ có an ủi tinh thần một cách trừu tượng, mơ hồ chẳng có thực tế chút nào cả, chẳng có lối thoát ra, loanh quanh lẩn quẩn trong mê hồn trận của Ðại Thừa và Tối Thượng Thừa.

    (Nhận xét đoạn văn trên: Thầy có biết gì về Đại thửa và Tối thượng thừa?Nếu không biết gì về nó thì đi lẩn quẫn trong mê hồn trận là phải rồi! Vì căn cơ của Thầy không phải là căn cơ của Đại thừa và Tối thượng thừa, cho nên Thầy đã từng làm kẻ bán đồ nhi phế của Đại thừa và Tối thượng thừa. Thầy đã không đủ căn cơ để vào hai nhà trên thì cam tâm chấp nhận nhà dưới của mình đi. Đằng này, Thầy không tự lượng sức căn cơ của mình, cam tâm làm t ỳ kheo Vô Văn báng Phất huỷ Pháp báng đứng Đại thừa Tối thượng thừa. Vậy mà Thầy còn vác mặc về nhờ HT.Thanh Từ ấn chứng cho cái chổ chứng ngộ theo lối tu Tiểu thừa của Thầy, nhưng Thầy có biết HT. Thanh Từ là gì của Đại Thừa, của Tối thượng thừa không? Vậy thì việc làm của Thầy nó có mâu thuẫn với chính Thầy không? Thầy luôn luôn báng bổ đại thừa mà lại đi nhờ người bên Đại thừa ấn chứng cho Thầy! Đúng là một việc làm của thằng điên chứ không phải là việc làm của kẻ bình thường!)

    Những gương Thầy Tổ của chúng ta trước khi chết phải chịu khổ đau quá ư cay đắng, khiến cho chúng ta bâng khuâng và lo nghĩ rất nhiều về số phận của chính chúng ta và các đệ tử của chúng ta sau này. Ðạo Phật nói riêng và các tôn giáo khác nói chung có giải quyết được sự khổ đau của con người hay chăng? Hay chỉ là một điều an ủi tinh thần suông của thế hệ này đến thế hệ khác.

    (Nhận xét đoạn văn trên: Đây là một hiện tượng bình thường của một chúng sinh trước khi chết. Thời kỳ đức Phật còn tại thế, trước khi Ngài vào Niết-bàn, Ngài cũng có những hiện tượng này: Đau đớn nhức mỏi khắp cả cơ thể, đến độ Ngài phải biểu ngài A-nan người thị giả hầu cận của Ngài, xếp giùm y Tăng-gìa-lê làm bốn đặt xuống đất cho Ngài nằm nghỉ, chứ tự thân Ngài không làm được việc này! Đó là những hiện tượng bình thường của xác thân tứ đại hữu lậu này, trước khi duyên không còn đủ nữa, chúng sắp biến dịch. Nhưng điều quan trọng ở đây là đức Phật làm chủ được cái đau nhờ vào Thiền định, trước khi Ngài vĩnh viễn ra đi, phải nhờ vào thiền định. Ngài tuần tự nhập xuất từ sơ thiền đến diệt tận định, và ngược lại như trong kinh Bát-nê-hoàn trong trường A-hàm. Có lẽ Thầy có đọc qua chúng, nhưng vì đọc phớt qua không kỹ nên chi tiết đầu nhức mỏi đau đớn về thân xác của đức Phật Thầy bỏ qua, và chỉ chú ý đén chi tiết thứ hai nên có những cái nhìn sai lầm về chư Tổ, và từ đó có tâm bất kính huỷ báng chư tổ một cách mục hạ vô nhân của kẻ tăng thượng mạn!)

    Chứng nghiệm sự giải thoát của Ðạo Phật cụ thể và rõ ràng, tôi không đành lòng nhìn nhân loại dần dần đi xuống hố thẳm khổ đau mà cứ tưởng mình vượt ra đau khổ bằng khối óc, đôi tay, kỹ thuật, khoa học, công nghệ hiện đại, v.v.. làm ra vật chất đầy dẫy thì loài người sẽ đầy đủ hạnh phúc an vui, không còn khổ đau nữa.

    Sự nghĩ tưởng như vậy là lầm, nếu con người không có đạo đức thì đừng mong lấy vật chất mà giải quyết sự khổ đau của con người được. Vật chất càng nhiều sự khổ đau của con người càng lớn, do lòng ham muốn tạo ra nhiều ác pháp và thế gian này sẽ là địa ngục, nếu không có đạo đức, con người sẽ vì vật chất mà trở thành ác thú và quỷ dữ, v.v... Biết mình tu hành chưa đủ uy đức như Phật, cũng chưa đủ tài trí làm công việc lớn này, nhưng không thể làm ngơ trước sự đau khổ của muôn người, trước sự tồn vong của Ðạo Phật, một tôn giáo có hàng triệu người theo tu hành lại bị hướng dẩn tu không đúng chánh pháp. Vì thế chúng tôi buộc lòng phải nói lên sự thật để mong xây dựng lại đường lối tu tập của Ðạo Phật cho đúng đắn, ngõ hầu làm sáng tỏ lại giáo pháp của Ðức Phật và để cứu giúp biết bao nhiêu người đang và sẽ lầm đường lạc lối trong những pháp tu sai cách thức (tu ức chế tâm).

    (Nhận xét những đoạn văn trên: Trong khi Thầy luôn luôn báng bổ kinh điển Đại thừa cho là của ngoại đạo, trong đó có việc báng bổ Bồ-tát hạnh như những chỗ khác. Nhưng ở đây thì Thầy lại thực hành Bồ-tát hạnh trong chức năng cứu khổ phò nguy, vì nhìn thấy cái sự đau khổ của muôn người, trước sự tồn vong của Đạp Phật, nên Thầy dấng thân thực hành Bồ-tát hạnh, dù Thầy tự khiêm tốn cho rằng sự tu hành của mình chưa đủ uy đức như Phật, cũng chưa đủ tài trí làm công việc lớn này. Đúng là Thầy tự mâu thuẫn với chính mình rồi. Thật ra ở đây chúng tôi cũng hết lời không biết nói sao cho những sự kiện luôn Thầy tự mâu thuẫn với chính mình mà không biết, và cứ như vậy viết càn viết bửa lừa đảo thiên hạ qua việc chứng nghiệm gì đó của Thầy! Một người đã gọi là chứng nghiệm chân lý thì người đó phải thông tất cả chứ đâu lại đi tự mâu thuẫn với chính mình từ việc này đến việc khác mà không tự thấy, không tự biết! Té ra Thầy cũng chỉ là một vị A-la-hán tăng thượng, giống giống như A-la-hán Vô Văn vào thời kỳ đức Phật còn tại thế (Kinh Lăng Nghiêm) thế thôi!)
    __________________
    Gia Đình Vô Hình

    Phần 4:

    Kính thưa quý vị! Từ xa xưa đến nay, các bậc Thầy Tổ của chúng ta đang lầm lạc tu theo một giáo pháp không đúng của Ðạo Phật mà cứ ngỡ tưởng rằng mình đang tu theo giáo pháp chân chánh của Ðức Phật.

    (Nhận xét đoạn văn trên: Thầy Thông Lạc căn cứ vào đâu để cho rằng Thầy Tổ chúng ta từ xưa tới nay đang tu lầm lạc theo một giáo pháp không đúng của đạo Phật? Vậy giáo pháp đúng của Thầy nó từ đâu mà ra?Từ ngoại đạo chăng, hay từ Thầy chế ra?Vì tất cả mọi Kinh điển của đạo Phật đều bị Thầy phủ nhận! Ở đây Thầy cũng không đưa ra được chứng cứ nào để qui kết là Thầy Tổ chúng ta tu lầm lạc không đúng đường của Đạo Phật.)

    Giáo pháp chân chánh của Ðạo Phật không bao giờ dùng những danh từ trừu tượng rất kêu như: Chân Không, Phật Tánh, Cực Lạc, v.v.. để lừa đảo tín đồ. Giáo pháp chân chánh của Ðạo Phật luôn luôn chỉ thẳng, nói thật, nói cái sai, cái không đúng đạo đức nhân bản nhân quả của con người để con người tự giác sửa sai, làm đúng lại theo đạo đức làm người, làm Thánh, vì Ðạo Phật đã xác định Thánh nhân không phải ngoài con người; ngoài con người không thể tìm có Thánh nhân được. Cho nên giáo pháp của Ðức Phật là một giáo pháp không trừu tượng, ảo tưởng, mê tín, dị đoan, phi đạo đức, v.v... Ngược lại những giáo pháp mà Thầy Tổ của chúng ta đang tu theo, nó để lại một rừng kinh sách toàn là loại giáo pháp trừu tượng, ảo tưởng, mê tín, dị đoan, v.v... Lần lượt chúng tôi sẽ lật tẩy bộ mặt lừa đảo gian dối của nó để quý vị suy ngẫm. Nó đã giết chết Thầy Tổ của chúng ta bao đời, bao thế kỷ nay.

    (Nhận xét đoạn văn trên: Thầy căn cứ vào đâu để tự biết rằng giáo pháp chân chánh của Đạo Phật không bao giờ dùng những danh từ trừu tượng như chân không, Phật tánh, cực lạc? Đây là một cách lý luận hàm hồ mà không đưa ra chứng lý! Thầy đã đọc hết kinh luật luận thuộc hệ NIKAYE chưa? Trong đó đầy dẫy những danh từ trừu tượng trong kinh luật, và nhất là trong luận tạng của các nhà Tiểu thừa như: Niết-bàn là trạng thái hoàn toàn an tịnh (Sānta) vi diệu (Paṇīta) và Cực lạc (Accanta-sukha), Vô thượng chánh đẳng chánh giác, chân đế, duyên khởi, Như lai tạng, Đại không, tiểu không, Vô ngã, Nhơn không, Như lai, tâm, tâm sở, Chơn không, hữu vi, vô vi ….., chúng có khác gì bên Đại thừa đâu! Và Thầy có biết kinh Tiểu thừa Pàli mà thầy cho là kinh điển nguyên thỉ đó có đúng là nguyên thỉ hay không? Thầy có biết kinh điển nguyên thỉ được ghi lại bằng thư tiếng gì không? Vào lúc bấy giờ tại Ấn độ, ngôn ngữ dùng để truyền đạt giao thiệp nhau qua lời nói thì thông dụng là ngôn ngữ Magadha, nhưng về ngôn ngữ dùng để ghi chép thành văn bản thì là ngôn ngữ Sanskrit chứ không phải ngôn ngữ Pàli. Ngôn ngữ Pàli là thứ ngôn ngữ mới được các bộ phái Tiểu thừa phát triển sau này tự đặt ra để phiên dịch lại kinh điển từ nơi ngôn ngữ khác (có thể là Sanskrit, vì ngôn ngữ chữ viết để ghi chép chỉ có chữ Sanskrit là thông dụng, chúng được sử dụng tại Ấn độ trước, sau và thời kỳ Phật còn tại thế. Ngôn ngữ này là ngôn ngữ chính dùng để ghi chép vào lúc bấy giờ như những tác phẩm văn học lớn: Như Rig-Veda, Śakuntalā của Kālidasa, những bộ sử thi như Mahābhārata, Rāmayana, những tác phẩm triết học như Brhadupanishad, Sakhyakārikā, Vāiśesikakārikā, cac tác phẩm ngữ học của Pànini, Patanjati, v.v…) để thành của mình, hay bất cứ một ngôn ngữ nào khác thì cũng vậy, ngôn ngữ Pàli chỉ là ngôn ngữ có sau này, trong thời kỳ các bô phái phát triển, vì vậy chúng không phải là ngôn ngữ nguyên thi, nên Kinh điển trong hệ thống Pàli NIKAYA không phải là kinh NGUYÊN THỈ, Vì khi dịch sang một thứ ngôn ngữ khác chúng không còn là nguyên thỉ nữa, vì chúng theo quan điểm cùng kiến giải của họ, kinh đã không còn trung thực nữa! và lúc này ngôn ngữ Pàli không còn trung thành với chính bản gốc của ngôn ngữ khác nữa, vì chúngđã bị các nhà Tiểu thừa cải biến theo kiến giải căn cơ hạ liệt của mình rồi! Chắc chắn là vấn đề ngôn ngữ học và nhất là ngôn ngữ cổ Thầy mù tịt, nên Thầy cứ tự cho rằng Kinh điển Pàli của Tiểu thừa là kinh điển NGUYÊN THỈ thì Thầy sai lầm to rồi. Tiếng Pàli là ngôn ngữ được các nhà Tiểu thừa sáng chế sau này, và chúng hiện diện để các nhà Tiểu thừa ghi chép theo tiếng Pàli của mình vào thời kỳ Kiết tập lần thứ tư tại Tích Lan, và lần kiết tập này chỉ có bên Tiểu thửa thôi (Theo Đảo sử Tích Lan). Chứ thật ra ngôn ngữ Pàli đâu có nguồn gốc phát xuất từ xa xưa ở Ấn độ, nó là ngôn ngữ ở ngoài Ấn độ, chứ không phài tiếng sử dụng của một dân tộc nào đó vào lúc bấy giờ ở Ấn độ. Vậy Thầy có còn cho nó là Nguyên Thỉ nữa hay không? Một con người thiếu học hành, thiếu nghiên cứu mà dám bạo phổi đứng ra viết những điều linh tinh thiếu chính xác thiếu dữ liệu, thiếu hiểu biết, mà còn huênh hoang tự đắc tự phong Thánh cho chính mình, bất kính Thầy Tổ thượng, trung, hạ toạ! Những điều chúng tôi viết ra đây là một sự thực, nếu Thầy không tin thì cứ viết thư qua hỏi hội Pàli text Society, là Trung tâm nghiên cứu kinh điển Pàli tại Luân đôn thì Thầy sẽ rõ liền, và lúc đó Thầy sẽ tự biết rằng mình nhầm lẫn to, chỉ vì sự học hành kém cõi thiếu hiểu biết của mình mà ra!. Một con người với tư cách như vậy không đủ để làm người huống chi là Thánh! Vậy thì giáo lý NIKAYA của Thầy đang tôn thờ và thực hành theo nó, chúng cũng chỉ là thứ giáo lý được sang định lại bỡi một thứ ngôn ngữ khác. Chúng không phải là ngôn ngữ thường dùng hằng ngày của một dân tộc nào đó tại Ấn độ, mà nó là ngôn ngữ tự đặt ra của các nhà tiểu thừa phát triển sau này. Và như vậy qua tam sao thất bổn, chúng được các nhà Tiểu thừa xào nấu, và tự cắt xén giáo lý nguyên thỉ của đức Phật theo kiến giải hạ liệt của mình, cũng giống như kiến giải thấp hèn hạ liệt của Thầy hiện nay, đã không theo được căn cơ lớn của Đại thừa, của Tối thượng thừa, nên đành phải làm kẻ bán đồ nhi phế giữa đường, quay sang tiểu thừa rồi tự phong thánh cho mình. Thầy tưởng rằng ai cũng cùng một thứ căn cơ hạ liệt như Thầy nên Thầy muốn khuấy động báng bổ giáo lý đại thừa hòng mọi người theo Thầy, qua cách lừa đảo chứng nghiệm tứ thiền gì đó, rồi bắt đầu ra sức chống báng Đại thừa một cách mục hạ vô nhơn, theo kiểu ếch ngồi đáy giếng nhìn trời bằng vung đó để hù doạ mọi người được sao? )
    __________________

    Như ong đến với hoa

    Không hại sắc và hương

    Che chở hoa lấy nhụy

    Bậc Thánh đi vào làng.

  3. #43
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    Cảm ơn linh-anh đã phổ biến loạt bài của thầy Thích Đức Thắng phê bình , mỉa mai , cay đắng thầy Thích Thông Lạc . Tôi chỉ là một Phật tử bình thường , đạo lý còn non kém , Phật pháp lại mù mờ , chỉ có một con tim chân chánh . Nên trước sự kiện này cảm thấy thấy bất bình vì phong cách , đạo đức của một Tỳ Kheo đã xuất gia đầu Phật mà lòng còn vướng nặng trần tục , tâm không đoan chánh , trí lại thô thiển , hẹp hòi nên tôi mới mạo muội góp ý trả lời với thầy Thích Đức Thắng . Tôi không phải là đệ tử hay một lần nào gặp mặt thầy Thích Thông Lạc . Tôi chỉ kính trọng và khâm phục đường lối tu tập và đạo đức của thầy mà ủng hộ , lên tiếng . Mong cô phổ biến các bài trả lời của tôi đến với thầy Thích Đức Thắng , hoặc những Website nào cô đã phổ biến thì cũng vô tư chuyển đến đó cho rộng đương dư luận đa chiều . Tôi viết với tính cách vô tư và xây dựng và hoàn toàn chịu trách nhiệm bài viết của tôi , đồng thời sẵn sàng đối thoại với những ai có văn phong lịch sự , đi vào trong tâm . Bài này nằm ở topic dưới đây :


    http://www.datviet.com/threads/17553...-Tôi-./page12

    Xin thành thật cảm ơn
    Chanhphap84
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  4. #44
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    Tôi cảm nghĩ cô linh-anh là người thọc gậy bánh xe và vô trách nhiệm khi đưa bài thầy Đức Thắng hồ đô` chửi bới đồng đạo . Một vị sư đi đúng con đừơng của Như Lai . Tại sao cô im lặng khi đem con bỏ chợ rồi vô cảm quảy bước ra đi sau khi tôi đã đứng ra phân trần đem lại công lý cho Thầy Thích Thông Lạc . Cô mạnh dạn lên tiếng xem sao . Tôi đang chờ mọi ý kiến vào đóng góp , nhất là thầy Đức Thắng là người chủ chốt hạ bệ đồng đạo Trưởng lão Thích Thông Lạc .
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  5. #45
    Join Date
    Oct 2004
    Posts
    249
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    Quote Originally Posted by ChanhPhap84 View Post
    Tôi cảm nghĩ cô linh-anh là người thọc gậy bánh xe và vô trách nhiệm khi đưa bài thầy Đức Thắng hồ đô` chửi bới đồng đạo . Một vị sư đi đúng con đừơng của Như Lai . Tại sao cô im lặng khi đem con bỏ chợ rồi vô cảm quảy bước ra đi sau khi tôi đã đứng ra phân trần đem lại công lý cho Thầy Thích Thông Lạc . Cô mạnh dạn lên tiếng xem sao . Tôi đang chờ mọi ý kiến vào đóng góp , nhất là thầy Đức Thắng là người chủ chốt hạ bệ đồng đạo Trưởng lão Thích Thông Lạc .

    Trao đổi về “hiện tượng” Hòa thượng Thích Thông Lạc
    Trao đổi về “hiện tượng” Hòa thượng Thích Thông Lạc, kỳ 1
    17/12/2010 11:0
    Giới Minh

    Hòa thượng Thích Thích Thông Lạc có nhiều “nhận định” mang tính đảo lộn, phủ định kinh sách, phủ định những pháp môn đã có từ hàng ngàn năm nay. Ngoài ra, HT còn nhận định con người sau khi chết “không có linh hồn”, tất cả các hiện tượng tâm linh, ngoại cảm đều do tưởng uẩn của con người tưởng tượng ra…


    Thời gian gần đây, có phật tử khi truy cập trang Chơn Lạc, xem một số đoạn video trên youtube.com, đọc sách, xem băng đĩa CD, VCD…của Hòa thượng (HT) Thích Thông Lạc đã bày tỏ băn khoăn về một số bài giảng, nhận định của HT.

    Trong đó có nhiều “nhận định” mang tính đảo lộn, phủ định kinh sách, phủ định những pháp môn đã có từ hàng ngàn năm nay. Ngoài ra, HT còn nhận định con người sau khi chết “không có linh hồn”, tất cả các hiện tượng tâm linh, ngoại cảm đều do tưởng uẩn của con người tưởng tượng ra…

    Sau khi đọc, xem các đoạn video, bài giảng và sách của HT Thích Thông Lạc. Chúng tôi nhận thấy, HT đã có cách viết ngắn gọn, rõ ràng, nêu luận cứ cụ thể. Đọc, xem, nghe…các nhận định đó, chúng tôi cũng đồng nhận thức về một số nhận định, luận điểm và lập luận của HT về một số vấn đề.

    Ví dụ: Khi nói về loài hoa Vô Ưu, có người đã thần thánh hóa, cho đó là loài hoa hàng ngàn năm mới nở một lần, và lần nào nở, ai thấy được hoa nở thì đó là cơ duyên đặc biệt, hàng ngàn năm mới có.

    Bao đời nay, người ta tin như vậy, và gần đây ở Việt Nam cũng đã có nhiều báo dẫn câu chuyện trên và tả cây hoa vô ưu nở ở gia đình một nông dân Trung Quốc như là sự kiện 3000 năm, mới có một lần.

    HT Thích Thông Lạc, không tin như vậy, trong quyển sách “Không có linh hồn”, HT có đoạn viết:

    Người ta nói đến hoa VÔ ƯU là nói đến sự không buồn phiền, đó là người ta khéo tưởng tượng một đức Phật sinh ra nơi gốc cây VÔ ƯU có nghĩa là một bậc Thánh không còn phiền não.

    Bao đời con người cũng hay tưởng tượng một đấng GIÁO CHỦ rồi bịa ra hoa VÔ ƯU để ca ngợi đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một bậc Thánh từ cung Trời Đâu Suất sinh về thế gian nên mới có những hiện tượng hoa VÔ ƯU nở.

    Hiện giờ ở Việt Nam người ta trồng cây VÔ ƯU rất nhiều hoa nở liên tục mùa nào cũng có hoa nở. Do đó chứng tỏ người ta khéo ca ngợi đức Phật mà thành dối trá lừa đảo mọi người. Cho nên trên cuộc đời này đừng bao giờ nghe người ta nói mà hãy nhìn rõ mọi việc người ta làm rồi mới có tin.

    Khi thấy hoa VÔ ƯU tại đền thờ Phật và đền thờ đức Trần Nhân Tông tại TP Hồ Chí Minh ở Việt Nam mùa nào cũng nở thì người ta lại lý luận Phật Giáo Việt Nam hưng thịnh.

    Theo chúng tôi cách đặt vấn đề đó, nhận định riêng về câu chuyện kể trên của HT Thích Thông Lạc hoàn toàn chính xác, không riêng gì HT mà với nhiều nhà nghiên cứu Phật học, các yếu tố mang tính huyền thoại, do người đời vì lòng tôn kính mà truyền tụng cũng cần được làm rõ, tránh cái hiểu màu nhiệm, nặng tính nhân cách hóa, phi thực tế.

    Ngoài ra, chúng tôi cùng đồng suy nghĩ với một số nhận định khi HT viết và nhận định về xây dựng nền đạo đức cá nhân, đạo đức xã hội, mô tả các hiện tượng mê tín, dĩ đoan như cúng, bái, đốt vàng mã, sự lừa lọc của một số “nhà ngoại cảm” về thế giới tâm linh là như thế này, thế kia…sự mê muội, hoang đường của không ít tín ngưỡng, tôn giáo.

    Song ở một số nhận định khác, chúng tôi với tri thức nhỏ bé, trình độ Phật học sơ cơ lại có cách hiểu khác với nhận định của HT Thích Thông Lạc. Rất tiếc, các nhận định cơ bản, xuyên suốt tạo nên “hiện tượng” Thích Thông Lạc khi đem đối diện với cách hiểu của chúng tôi lại khác nhau căn bản.

    Chúng tôi mạnh dạn trao đổi một số vấn đề mà HT đã nhận định, mà quí đạo hữu đã tin cậy hỏi, “chất vấn”, “tham vấn” chúng tôi xung quanh “hiện tượng” HT Thích Thông Lạc.

    Thiết nghĩ, tất cả chỉ trên tinh thần khiêm hạ của những người con Phật. Những điều trao đổi và cách hiểu của chúng tôi, chưa hẳn đã tường minh, là người con Phật, chúng tôi sẵn sàng lắng nghe những chỉ giáo của các bậc cao minh, quí đạo hữu và bạn đọc.

    Hỏi: HT. Thích Thông Lạc tự xưng đã chứng Tứ Thiền, Tam Minh, đắc quả vị A La Hán? Như vậy, có đúng không?

    Trả lời: Để chứng cho người nào đắc đạo, đắc quả vị nào, Bồ Tát, A La Hán thì phải có Người chứng đắc quả vị cao hơn, chứng (biết) cho người đắc quả vị thấp hơn, trừ trường hợp đặc biệt, Phật chứng quả vị Phật cho tên hiệu của vị Phật khác.

    Do vậy, để chứng cho vị nào đắc quả vị A La Hán hay Bồ Tát thì chỉ có những Người đắc quả vị Phật mới chứng được.

    Hỏi: HT Thích Thông Lạc cho rằng chỉ có Phật Thích ca là vị Phật duy nhất, có phải đúng tinh thần câu kệ nổi tiếng được Phật sơ sinh tuyên bố khi Ngài đản sinh “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”, có nghĩa là chỉ có đức Phật Thích Ca là duy nhất – độc tôn.

    Vậy tại sao, đức Phật Thích Ca lại nói: Ta là chúng sinh đã thành, và các con là chúng sinh sẽ thành”. Có gì mâu thuẫn không?


    Với chúng sinh ở trái đất, sau đức Phật Thích ca có ai đắc quả vị Phật không?

    Trả lời: Chúng tôi hiểu, bất cứ ai tu theo đúng chính pháp của đức Phật Thích Ca đã chỉ dạy đều có thể trở thành Phật.

    Câu “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”, có nghĩa là, Phật Pháp là Pháp tính chân như của vũ trụ, không do bất cứ ai, một “thượng đế nào” sáng tạo ra. Nó vốn vẫn vậy, không sinh, không diệt. Đức Phật Thích Ca trước khi đắc đạo cũng là chúng sinh như chúng ta muôn một, trải qua vô số kiếp tu hành đã đầu thai xuống trái đất, và tu hành đắc đạo, đắc quả vị Phật.

    Thái tử Tất Đạt Đa đã tự mình tu hành đắc đạo, không có thầy chỉ dạy, sau khi giác ngộ nhận thức ra con đường giải thoát, đức Phật đã thành lập tăng đoàn, khai sinh một tôn giáo mới, tôn giáo đó mang tên là đạo Phật.

    Sự độc Tôn ở đây là mang ý nghĩa tự nhận biết, ý nghĩa “phát minh”, tự tìm ra quy luật bản thể và tìm ra con đường “giải thoát”. Đức Phật Thích Ca đã tự tu, tự chứng quả nên không bị ảnh hưởng giáo pháp của ngoại đạo, không bị ảnh hưởng bởi bất cứ một giáo pháp nào có từ trước đó. Giáo Pháp mà đức Phật Thích Ca giác ngộ ra là do Ngài tự “ngộ”.

    Các chúng sinh sau thời đức Phật Thích Ca, căn cứ vào những chỉ dạy của đức Phật Thích Ca, tu hành viên mật đều có thể thành Phật, tức là dựa theo giáo pháp mà Ngài đã thấu triệt và chỉ rõ.

    Hiểu một cách nôm na, Thái tử Tất Đạt Đa là Người đã “tự” giác ngộ và tự soạn giáo án để chỉ dạy cho chúng sinh con đường tu giải thoát. Còn các đệ tử sau Phật một cơ số X thời gian nhất định, có thể tu thành Phật bởi “giáo án” đã có sẵn ở thế gian do đức Phật Thích Ca soạn. Nên hiểu sự “độc nhất” là như vậy, không phải độc nhất là duy nhất Ngài thành Phật, mà không thể ai khác.

    Như vậy, là với chúng sinh sau thời đức Phật hoàn toàn có thể tu thành Phật, nhưng con đường tu không phải do chúng sinh đó tự nhận thức ra bản thể của con đường giải thoát, mà chúng sinh đó tự tu thân – tâm – khẩu theo những lời chỉ dạy của đức Phật Thích Ca để giải thoát khỏi sinh - tử, hòa vào bản thể chân như (vốn không sinh, không diệt, và không có bản quyền riêng của bất cứ ai, Thái tử Tất Đạt Đa sau khi giác ngộ với tên hiệu đức Phật Thích Ca chỉ là một trong hằng hà sa số Phật, Thái tử vì giác ngộ nhận biết được Phật tính của vũ trụ mà thành Phật, chứ không phải Phật tính của vũ trụ là do Phật Thích Ca sáng tạo ra) của vũ trụ.

    Hỏi: Trong một số bài giảng, HT Thích Thông Lạc nhận định không có Phật A Di Đà, Phật Di Lặc, chỉ có Phật Thích Ca. Cũng theo HT Thích Thông Lạc, hình ảnh các vị Phật khác là do tà ma, ngoại đạo dựng lên, không có thật, điều đó có đúng không?

    Trả lời: Chúng tôi có cách hiểu, ngay sau khi đức Phật Thích Ca viên tịch, nhập niết bàn, đạo Phật đã có sự phân hóa và các đệ tử, những người con Phật, và cả những thành phần ngoại đạo đã có những thảo luận, biện giải theo những hướng khác nhau.

    Theo chúng tôi, đó là điều bình thường, vì nó thể hiện trình độ nhận thức, giác ngộ và các căn cơ khác nhau của chúng sinh. Không phải đến bây giờ mới tạo nên “hiện tượng” Thích Thông Lạc.

    Bản thân phật Pháp vốn không lời, không sinh – không diệt, không đúng – không sai, không bớt cũng chẳng thêm. Nó là một thuộc tính bản thể chân như không thuộc bản quyền của ai theo tư cách sở hữu “gốc”, chỉ có chúng sinh nào có cơ duyên để nhận thức, giác ngộ thấu triệt được mà thôi.

    Kể cả khi trước khi đạo Phật ra đời với tư cách một tôn giáo thì Phật – Pháp vốn vẫn vậy, không phải sau khi đức Phật Thích Ca đắc đạo thì mới có Phật Pháp.

    Thái tử Tất Đạt Đa sau khi giác ngộ với tên hiệu đức Phật Thích Ca chỉ là một trong hằng hà sa số Phật, Thái tử vì giác ngộ nhận biết được Phật tính của vũ trụ mà thành Phật, chứ không phải Phật tính của vũ trụ là do Phật Thích Ca sáng tạo ra. Phật pháp hiểu theo nghĩa tính từ thì không sinh, không diệt, không có thời gian, không gian…

    Sau khi giác ngộ, thấu triệt về Phật Pháp, đức Phật Thích Ca đã hướng dẫn chúng sinh tu tập để cùng nhận biết, giác ngộ và thấu triệt được như Người. Nên tôn giáo mang tên gọi Phật giáo ra đời, Ngài là người sáng lập tôn giáo – đạo Phật, không phải là Người sáng lập Phật Pháp, chính nhờ công đức đó của Ngài mà Phật Pháp có mặt ở thế gian, trong nhận thức của thế gian.

    Như vậy, xét riêng ở thế giới Ta bà, nhỏ hơn là cõi Nhân ở trái đất, đức Phật Thích Ca là giáo chủ sáng lập đạo Phật mang tên Phật giáo. Trước đó, một cơ số X thời gian nhất định, về lý thuyết hoàn toàn có thể có một vị Phật khác, và sau này khi Phật Pháp đã “mạt vận” (1) ở thế gian, về mặt lý thuyết có thể lại xuất hiện một vị Phật khác, có sự giác ngộ, thấu triệt để nhận biết được tính bản thể chân như của Phật Pháp để khai sáng cho chúng sinh trong giai đoạn niên đại X + N đó tu tập…

    Do vậy, ngoài đức Phật Thích Ca, trong vô thủy vô chung của vũ trụ cả hữu hình lẫn vô hình, cả ở thế giới Ta bà và hằng hà sa số thế giới khác, có vô số vị Phật, không thể và cũng không nên đếm, đo được bằng các con số toán học.

    Còn nữa….mời bạn đọc, đón đọc kỳ II


    Chú thích:

    (1) Mạt vận ở thế gian, tức là chúng sinh, con người đã hiểu sai về chính pháp mà đức Phật Thích Ca đã truyền dạy theo sự giác ngộ, thấy – biết của Ngài. Phật Pháp chỉ mạt vận ở thế gian hoặc trong nhận thức của chúng sinh ở các thế giới khác trong một giai đoạn, một cơ số thời gian nhất định nào đó, bản thân Phật Pháp không sinh, không diệt thì không có mạt vận mà cũng chẵng có hưng thịnh)
    __________________
    NAM QUỐC sơn hà NAM ĐẾ cư
    TIỆT NHIÊN định phận tại THIÊN THƯ

    Như ong đến với hoa

    Không hại sắc và hương

    Che chở hoa lấy nhụy

    Bậc Thánh đi vào làng.

  6. #46
    Join Date
    Oct 2004
    Posts
    249
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    Quote Originally Posted by ChanhPhap84 View Post
    Tôi cảm nghĩ cô linh-anh là người thọc gậy bánh xe và vô trách nhiệm khi đưa bài thầy Đức Thắng hồ đô` chửi bới đồng đạo . Một vị sư đi đúng con đừơng của Như Lai . Tại sao cô im lặng khi đem con bỏ chợ rồi vô cảm quảy bước ra đi sau khi tôi đã đứng ra phân trần đem lại công lý cho Thầy Thích Thông Lạc . Cô mạnh dạn lên tiếng xem sao . Tôi đang chờ mọi ý kiến vào đóng góp , nhất là thầy Đức Thắng là người chủ chốt hạ bệ đồng đạo Trưởng lão Thích Thông Lạc .
    Hoa Kỳ ngày 16-6-2003

    Kính gửi các bậc Tôn Túc, quý Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng, Ni,
    Kính gửi quý Cư sĩ Phật tử,

    Kính thưa quý vị,

    Trong những tháng vừa qua Phật tử cũng như không là Phật tử Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới đã được tiếp cận với đạo Phật qua các bài thuyết giảng của Hoà Thượng Thích Thông Lạc, Viện chủ Tu Viện Chơn Như ở Trảng Bàng, Tây Ninh, Việt Nam trên mạng lưới điện toán toàn cầu và qua các sách in ấn của Tu Viện Chơn Như. Một số đông đã thư về cho ban biên tập chúng tôi hỏi ý kiến về pháp tu cũng như đường hướng hoằng pháp của Hoà Thượng Thích Thông Lạc. Họ bầy tỏ niềm hoang mang trước những lời giảng rất khác thường của Hoà Thượng, bởi vì Hoà Thượng Thông Lạc là một trong mười đệ tử đầu tiên của Hoà Thượng Thích Thanh Từ, mà HT. Thanh Từ lại chính là một đại Thiền sư của Phật Giáo Việt Nam, người hiện đang hoằng dương Đại Thừa Thiền Tông, rất nổi tiếng trên khắp thế giới. Ngoài ra, chính HT. Thông Lạc cũng tự xưng mình đã chứng Tứ Thiền, đắc Tam Minh và đã được Hòa Thượng Thanh Từ ấn chứng, đồng thời còn yêu cầu HT. Thông Lạc trụ thế, như sau:

    “…Hòa Thượng Thanh Từ sau khi đã ấn chứng Thầy chứng quả Thiền Tông, yêu cầu Thầy trụ thế, và duyệt lại kinh sách để cùng Hòa Thượng CHẤN HƯNG THIỀN TÔNG. ..” [TL-0]

    Vì sự trường tồn của Phật Giáo và trước những hoang mang của Phật tử, nên chúng tôi trân trọng kính gửi thư này xin quý vị từ bi hoan hỷ cho biết tôn ý về việc Hoà Thượng Thông Lạc cho rằng từ các kinh điển Đại Thừa như các kinh Pháp Hoa, kinh Kim Cang, kinh Viên Giác, kinh Bát Nhã, kinh Phạm Võng, kinh Duy Ma Cật; tới chư vị Tổ Sư như các Ngài Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân, Mã Minh, Bồ Đề Đạt Ma, Huệ Khả, Tổ Vĩnh Minh Diên Thọ v.v. [TL-8] của các truyền thống Đại Thừa, Thiền Tông, Mật Tông, và Tịnh Độ là ngoại đạo, là Bà La Môn giáo, trà trộn vào Phật giáo để đánh phá đạo Phật, biến Phật Giáo thành một thứ tà giáo ngoại đạo. [ĐVXP-T2] Hoà Thượng Thông Lạc cho biết Hoà Thượng đã bị chư Tổ lừa gạt và lầm lạc pháp môn ngoại đạo (Đại Thừa, Thiền Tông, Mật Tông, Tịnh Độ Tông) và khuyên các Phật tử không nên đi vào con đường tu lầm lạc đó. [ĐVXP-T5]

    Trước những cáo giác Phật Giáo Đại Thừa và chư Tổ Phật giáo từ Tây Trúc đến Việt Nam là tà giáo ngoại đạo, ban biên tập Thư Viện Hoa Sen và Nguyệt San Liên Hoa Điện Tử do chúng tôi chủ trương đã thận trọng và âm thầm tìm hiểu xem từ nguyên nhân nào mà bỗng nhiên lại có hiện tượng một vị sư phát biểu như thế, nhưng vẫn chưa tìm ra được manh mối một cách rõ ràng. Trong khi chờ đợi, chúng tôi đã không phổ biến các tài liệu diễn giảng của Hoà Thượng Thích Thông Lạc. Tuy nhiên, trước những lời mạ lỵ quá nặng nề của Hòa Thượng dành cho kinh điển và chư Tổ Phật Giáo Đại Thừa, nhiều đạo hữu đã gửi tới chúng tôi những tài liệu mà chúng tôi xin đính kèm sau đây, trích trong một số bài giảng tiêu biểu của Hoà Thượng Thông Lạc để quý vị tham khảo.

    Chúng tôi rất mong quí vị hoan hỷ góp ý kiến vì đối với một tôn giáo thì vấn đề kinh điển và nhân cách của chư vị Tổ Sư truyền giáo là vấn đề lớn, cần phải được chiếu rọi cho rõ ràng, tránh cho Phật tử bị rơi vào tình trạng hoang mang.

    Xin quý vị thư về cho ban biên tập chúng tôi.

    Trân trọng kính chào và kính chúc quý ngài vạn sự cát tường.

    Kính thư,

    Tâm Diệu
    Như ong đến với hoa

    Không hại sắc và hương

    Che chở hoa lấy nhụy

    Bậc Thánh đi vào làng.

  7. #47
    Join Date
    Oct 2004
    Posts
    249
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    Bài này lấy từ trang web QUANGCAOSANPHAM.COM mời bạn chanh phap84 cho biết ý kiến hư thực




    (Bài Tường thuật này đã được viết vào ngày 05 tháng 04 năm 2009 , bài này đã có đủ bằng chứng cụ thể phía dưới)


    Vào ngày 7/2/2009 , vợ tôi đến tĩnh tâm tại Tu viện Chơn Như (còn gọi là Chùa Am) ở tại Ấp Gia Lâm, xã Gia lộc, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh do trưởng lão Thích Thông Lạc (tên thật Nguyễn Ngọc An) làm chủ trì nhưng sau đó vợ tôi đã bị mất tích. Tôi đã tìm kiếm sự hợp tác của Tu Viện Chơn Như nhưng không được .

    **** Nay tôi tường trình sự việc sự việc sau, hãy click vào xem :http://www.youtube.com/watch?v=ZzPGxEsA9Gstch

    Ngày 18/1/2009 (tức ngày 23 tháng chạp) tôi và vợ cùng đến Tu viện Chơn Như (còn gọi là Chùa Am) ở tại Ấp Gia Lâm, xã Gia lộc, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh do trưởng lão Thích Thông Lạc (tên thật Nguyễn Ngọc An) làm chủ trì . Sau khi phát quà từ thiện xong khoảng 9g30 cùng ngày, từ bên ngoài xuất hiện một thầy tu đi bộ vào trong nhà để cám ơn tấm lòng của phật tử đến bà con nghèo tỉnh Tây ninh, và trưởng lão Thích Thông Lạc thuyết giảng pháp cho khoảng 30 người cùng nghe.

    Nội dung thuyết giảng của thầy Thích Thông Lạc tập trung ở những điểm sau
    - Về cách tu “giải thoát” trong vòng 7 ngày, 7 tháng , 7 năm, sau khi chết sẽ thành Phật
    - Về cách ăn uống chỉ 1 lần trong một ngày vào buổi sáng lúc 10giờ sáng sẽ trị được nhiều bệnh, giảm được tiền thuốc trị bệnh.
    - Trưởng lão Thông Lạc hướng dẫn tu giải thoát, kiếp sau không khổ, làm chủ được sự sống chết của mình, trị được loài vật không cắn mình, chết sẽ về cõi Phật vì Trưởng lão đã được chứng cho chức A La Hán rồi.
    - Về cách thức tu thì chỉ có Tu viện Chơn Như tu theo phương pháp nguyên thủy của đạo phật theo phật giáo tiểu thừa, không được đốt nhang, không được niệm A Di Đà Phật, vì niệm tên A Di Đà là chủi A Di Đà, không được niệm Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tác. Chỉ được niệm Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu ni Phật và Nam mô Bổn sư Thích Thông Lạc.

    Đây là lời giảng của Thích Thông Lạc, hầu như là phỉ báng Phật, nhấp chuột vào đường dẫn này : http://www.youtube.com/watch?v=A3cHcGOZmd8


    Sau khi nghe Trưởng lão Thông Lạc giảng xong khoảng 2 ngày là vợ tôi thay đổi con người khác hẵn trước đây, từ người thiện thành người cọc cằn, nói chuyện thô lỗ. Sau đó vợ tôi đi xuất gia để theo phương pháp tu của Trưởng lão Thông Lạc. Vì thương và mong muốn vợ tôi được tĩnh tâm nên tôi cũng đã đồng ý cho vợ tôi lên Tu Viện Chơn Như sinh sống.

    Sau khi vợ tôi lên Tu Viện Chơn Như tĩnh tâm, tôi đã được chị N.T. T .T- người quản lý của Tu Viện- cung cấp một giấy cam kết với nội dung sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật trong trường hợp vợ tôi vắng mặt ở Tu viện .

    Ngày chủ nhật 15/03/2009, tôi đến tu viện thăm vợ nhưng không gặp. Tôi đã gặp chị N.T. T .T (người quản lý) để hỏi vợ tôi đang ở đâu. T trả lời không biết, và nói vợ tôi đã bỏ đi rồi. Tôi cũng hỏi thêm : tại sao T không gọi ĐT cho tôi, T cũng trả lời không còn nhớ số ĐT tôi, trong khi đó T đã lưu và ghi đầy đủ thông tin của tôi và cũng thường xuyên liên hệ tôi thông báo tình trạng sức khỏe của vợ tôi. Tôi không đồng ý cách trả lời vô trách nhiệm của người quản lý người tu, tôi nói T nếu không có vợ tôi ở đây thì tôi đi tìm và T đồng ý cho tôi tìm. Tôi đã đi tìm vợ trong từng cốc nhỏ, có nhiều người trong tu viện đến nói những lời quá thô tục. Một số người dùng cây hành hung chúng tôi khi tìm vợ tôi, và có người nam tự tuột quần để giới thiệu “của quí “ cho người tu xem. Tôi thật sự kinh ngạc khi thấy nơi tu viện lần đầu tiên quá hung dữ và thô tục như vậy. Khi tôi không tìm thấy vợ trong tu viện nữa thì T có mời Công an xã đến xem và giải quyết sự việc tôi tìm kiếm vợ, và anh H (trưởng Công an) có yêu cầu T giải thích sự vắng mặt của vợ tôi nhưng T không giải thích và T viết cam kết vô trách nhiệm không chịu trách nhiệm khi vợ tôi không còn ở tu viện. Khi tôi ra khỏi tu viện Chơn Như, tôi còn nhận ĐT của người tu trong tu viện hâm dọa ám sát tôi và họ đã đem vợ tôi bán qua Trung Quốc.

    Ngày 17/03/2009 tôi đến đưa đơn tường trình sự việc và hình ảnh của vợ tôi để cho anh H biết được mặt của vợ tôi thuận tiện cho việc tìm người, lúc đó tôi có đưa cho anh H số tiền 200.000 đ bồi dưỡng, anh H nhận tiền, hình ngay lập tức và hứa sẽ giúp đỡ tôi tìm được vợ về đòan tụ gia đình vì tôi thấy cách tu tại Tu viện Chơn như không phù hợp với khoa học, ép buột mỗi tu sinh ăn mỗi ngày một buổi cơm chay và không được nói chuyện với mọi người.

    Ngày 26/03/2009 tôi đã đến trụ sở Công an xã Gia lộc, huyện Trảng bàng, tỉnh Tây Ninh theo lời mời bằng ĐT của anh H vào chiều ngày 25/03/2009 để nhận vợ tôi về nhà sau khi anh H giải quyết theo đơn tường trình ngày 17/03/2009 . Trước đó, anh H nhận được đơn trình diện của vợ tôi tại Công an xã Gia lộc vào lúc 18g30 ngày 18/03/2009 có sự chứng kiến của anh H (Trưởng Công an xã). Tôi không nghĩ được là tại sao anh H không thông báo cho tôi sớm về việc trình diện của vợ tôi, trong khi tôi trông chờ sự giúp đỡ của anh H trước đây. Trong cuộc họp trả lại vợ tôi ,có mặt anh H (Công an xã Gia lộc), anh D (Mặt trận Tổ quốc xã Gia lộc), anh C (Công an huyện Trảng bàng), vợ tôi, T (quản lý nhân sự Tu viện Chơn như) và một số cán bộ Công an xã nêu lên vấn đề làm việc về sự mất tích của vợ tôi. Sau khi kết thúc cuộc họp anh C (Công an Huyện) không đồng ý ký vào Biên bản vì lý do nào đó mà anh C không thể chấp nhận. Anh H không chịu trách nhiệm với vợ tôi và T cũng không chịu trách nhiệm với vợ tôi tu tại Tu viện Chơn Như. Như vậy tôi là người chồng chính thức phải đưa vợ về nhà giải quyết chuyện riêng tư là đúng theo pháp luật Hôn nhan gia đình. Khi tôi dùng 2 tay bế vợ tôi lên xe taxi từ ghế ngồi xuống bậc tam cấp, bất thình lình 2 anh cán bộ Công an xã và anh H xô tôi té ngã từ bậc tam cấp xuống thềm gạch xi măng của Công an xã Gia lộc, anh H nói với tôi với những lời mất nhân cách của một cán bộ cấp cao xã như sau : “mày quấy rối trật tư, tao đuổi mày ra khỏi nơi này”. Tôi lúc này chân bị đau phải từ từ rời ra ngoài cổng, vợ tôi quay vào phòng của anh H với sự che chở của anh H và một số cán bộ Công an. Tôi quay vào gặp anh H lần cuối yêu cầu viết giấy xác nhận giữ vợ tôi lại nhưng anh H lại không đồng ý. Tôi nghĩ là trách nhiệm của anh H nhận tiền 200.000Đ rồi đưa vợ tôi và tôi gặp nhau thôi sao? Tôi nói với anh H phía sau vụ giữ vợ tôi trái phép này có vấn đề gì nữa đây mà anh H cố gắng hết sức mình để xô tôi ngã thì anh H giật phắt cả người và anh H dùng nhiều lời lẽ rất thô lỗ với một mình tôi.

    Đến ngày 30/03/2009 tôi cũng không biết được nơi ở của vợ tôi, tôi lại mất vợ lần thứ hai, tôi đã trình báo với chính quyền nơi tạm trú của vợ tôi nhiều lần nhưng không kết quả. Vậy tôi cũng thông báo cho mọi người đều biết và cảnh giác khi đến tập tu tại Chùa Am này đừng để sảy ra mất vợ như tôi. Mọi người muốn biết rõ cụ thể sự việc và thông tin Chùa Am, hãy ghé vào quán càfê Sân vườn Thảo Uyên sẽ rõ về cách hoạt động và sinh hoạt của Chùa Am huyền bí này.

    ** HƯỚNG DẪN ĐƯỜNG ĐẾN TU VIỆN CHƠN NHƯ – CHÙA AM
    Đi Quốc lộ 22 hướng đến Tây Ninh.
    Đến Khu Công Nghiệp Trảng Bàng – tỉnh Tây Ninh, đi thẳng vào đường Bời Lời, gặp Ngã Ba Hai châu (thuộc khu phố Gia huỳnh, thị trấn Trảng Bàng), tại đèn đỏ quẹo phải về Hướng Bình dương vào Tỉnh lộ 6, tiếp tục đi thẳng khoảng 600m gặp quán càfê Sân vườn Thảo Uyên (bên trái) gặp ngã ba bên phải quẹo vào đường Chùa Am. Từ ngã ba Chùa Am đi sâu vào khoảng 1 km nữa sẽ gặp Tu viện Chơn Như – Đạo Phật Nguyên Thủy. Khi vào địa phận này toàn là nhà nhỏ xây dựng giống như một cái Am – nên gọi là Chùa Am. Những ngôi nhà này mới được xây dựng, mái tôn, gạch màu đỏ, tường không tô xi măng, đây là nơi các tu sinh tập tu độc cư, ăn uống và sinh hoạt một mình suốt trong 7 năm sẽ được chứng A la hán. Tổng cộng diện tích tu viện Chơn như này là 13 ha đất có xây khỏang 200 cái Am và chia làm 5 khu, 3 khu nằm trên đường chính và 2 khu nằm trong đường phụ. Mỗi khu cách nhau khỏang 500m. Chùa Am này chỉ có người từ các tỉnh biết đến, dân địa phương chưa ai biết đến Chùa Am này. Chùa này thường xuyên đóng cửa rào, cửa rào sẽ được mở ra khi có đòan người từ xe ôtô đến nghe giảng , cúng tiền.

    LỜI CĂN DẶN CỦA TÔI VỚI QUÍ VỊ TRÁNH 3 ĐIỀU KHI GẶP THẦY CHÙA:

    1/ Không cung cấp tên, tuổi, hình ảnh, địa chỉ cho Thầy chùa.
    2/ Không đưa vợ đến gặp Thầy chùa, không ăn uống tại Chùa ở vị trí hiểm trở.
    3/ Không nên để Thầy chùa sờ đỉnh đầu mình.

    CÁC BẬT CAO NHÂN RẤT BẤT BÌNH LỜI GIẢNG VÀ XIN ĐƯỢC CHÚ GIẢI LẠI :
    +Thầy Thích Thông Lạc đã giảng trước Phật tử là không được niệm Phật A Di Đà là chửi Phật A Di Đà, không được nói đến Đức Quan Thế Am Bố Tát là "ngoại đạo ". Vì ai niệm A Di Đà thì kiếp sau sẽ trở thành Phù Thủy, Đồng bóng ???? Nếu giảng như vậy sẽ đụng chạm đến các vị Đại Lão Hòa Thượng, các đại Cổ thụ đang giữ vị trí lớn trong Hội Phật Giáo như sư ông Thích Trí Tịnh (phái Tịnh độ) và Thượng tọa Thích Trí Quảng (phái Pháp Hoa)

    + Thầy Thích Thông Lạc cũng giảng rằng không có Phật nào ngoài Phật Thích Ca, không có Bồ tát, đó là "ngoại đạo". Nghe lại va xem lại lời của Thích Thông Lạc, nhấp vào đường dẫn đây http://www.youtube.com/watch?v=4Kw0G...eature=related

    + Thầy Thích Thông Lạc cũng nói tất cả các Phật tư là tất cả Kinh điển Pháp Hoa, kinh Thủ Lăng Nghiêm, kinh A Di Đà..... đều là "xạo cả ". Điều này đụng chạm đến toàn bộ các vị Đại cổ thụ trong Hội Phật giáo vì mọi người tu theo các Đại tạng kinh. Các kinh điển đó được coi là mẹ chư Phật , là vua các kinh, vì đã giúp các vị Phật trong quá khứ nhờ vào kinh Phật mà thành Phật nên gọi là Chư Phật, là vua các Kinh.

    + Thầy Thích Thông lạc tự xưng là Thầy đã chứng quả vị La Hán, chứng Tứ Thiền, muốn nhập hay xuất Sơ thiền, Nhị thiền , Tam thiền, Tứ thiền một cách dễ dàng với Thầy, Thầy liên lạc được với Phật nên biết được người tu theo Đại thừa (Thiền tông, Tịnh độ tông, Pháp Hoa tông , Mật tông...) đều là "sai, xạo, ngoại đạo". Theo Kinh Điển Phật có truyền dạy rằng : sau này đời mạt Pháp, tất cả những ai tự xưng mình chứng đắc đều là Ma đạo.Thích Thông Lạc phỉ bán Phật không thể chấp nhận được, xem chi tiết nhấp chuột vào đường dẫn này : http://www.youtube.com/watch?v=A3cHcGOZmd8

    + Thầy Thích Thông Lạc yêu cầu mọi người niệm danh hiệu Nam mô Bổn sư Thích Thông Lạc, không được niệm Phật, tự coi mình là Phật rồi ????? Muốn biết mình tu chứng hay không thì phải có người tu xác nhận. Vậy là ai ? Muốn cho mình chứng đắc A La Hán thì phải có người chứng đắc cao hơn xác nhận. Vậy thì chỉ có Phật Bồ tát hay Phật Thích ca. Nhưng Thầy Thích thông lạc khẳng định không có Phật Bồ tát, vậy chẳng lẻ Phật Thích ca. Hiện tại Thầy Thích Thông Lạc đang sinh sống thời kỳ nào ? năm 2009 hay thời Phật Thích ca đang hiện trên đời này ????? Đời này chỉ có người tu chứng, không có người đắc quả vị A La Hán vì đâu có người đắc quả A La Hán chứng nhận. Vậy Thầy Thích Thông Lạc giảng đúng hay sai ????
    #########Lời Chú Giảng phía trên ##

    QUÍ VỊ MUỐN XEM NGƯỜI TU NHƯ CON HỔ KHÔNG ? HÃY CLICK VÀO ĐÂY : http://www.youtube.com/watch?v=ZzPGxEsA9Gstch

    QUÍ VỊ XEM XONG, VUI LÒNG GỬI BÌNH LUẬN GÓP Ý KIẾN, XIN HẬU TẠ. nhấp chuột vào đây : http://www.youtube.com/watch?v=A3cHcGOZmd8
    Last edited by linh-anh; 05-27-2011 at 04:16 PM.
    Như ong đến với hoa

    Không hại sắc và hương

    Che chở hoa lấy nhụy

    Bậc Thánh đi vào làng.

  8. #48
    Join Date
    Oct 2004
    Posts
    249
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    NHẬN ĐỊNH Về Các Bài Thuyết Giảng của HT. Thông Lạc
    em_lanh on Thu May 19, 2011 1:08 pm


    NHẬN ĐỊNH Về Các Bài Thuyết Giảng của HT. Thông Lạc


    Hương Trà

    --------------------------------------------------------------------------------

    Kính Gửi :
    Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen
    Kính thưa quý đạo hữu,

    Đáp lời yêu cầu của ban biên tập cho ý kiến về Hoà Thượng Thông Lạc, tôi xin có vài lời mạo muội gọi là góp ý. Thật ra tôi đã được biết đến sư Thông Lạc trước đây qua sự giới thiệu của một đạo hữu trên diển đàn. Cũng nhờ đó tôi mới biết ở Việt Nam có một vị Hoà thượng tu hành nhập đến Tứ Thiền, chứng được Tam Minh, đắc quả vị A La Hán và được ấn chứng bởi một vị Hoà Thượng khác. Tôi vốn đa nghi nên không tin và tự tìm hiểu về vị sư này.

    Tôi đã cố gắng đọc các bài giảng pháp được truyền tải trên mạng của Tu Viện Chơn Như và được biết vị này có pháp hiệu là Thích Thông Lạc, năm nay thầy 76 tuổi và vị Hoà Thượng ấn chứng cho HT. Thông Lạc không ai khác hơn là Hoà Thượng Thích Thanh Từ. Xin trích:

    “..Năm 1970, Hòa Thượng Thanh Từ mở khóa An Cư Kiết Hạ truyền dạy pháp môn TRI VỌNG đầu tiên tại Tu Viện Chơn Không, Vũng Tàu, Thầy là một trong số 10 tăng sinh đầu tiên này. Nhận được pháp, Thầy hoàn toàn tin tưởng vào pháp tu, đem hết năng lực ngày đêm 4 thời, mỗi thời 3 giờ tu tập. Trong suốt 10 năm tu tập, thầy vẫn thấy THAM-SÂN-SI còn nguyên, không cách tiêu trừ, nghi ngờ mình đã tu lầm đường, nên chuyển qua tu theo Đại Tạng Kinh Nikaya và chỉ sau 6 tháng tu tập, từ tháng 3 đến tháng 9 năm 1980, Thầy lần lượt nhập được SƠ THIỀN, NHỊ THIỀN, TAM THIỀN, TỨ THIỀN và đêm cuối cùng Thầy hoàn tất TAM MINH. Đầu tháng 10 năm 1980, Thầy trở về Tu Viện Chơn Không trình Hòa Thượng Thanh Từ kinh nghiệm chứng đắc của mình, nhưng không nói rõ đã tu theo Đại Tạng Kinh Nikaya, và xin được nhập Niết Bàn (chết) để sách tấn các thiền sinh, giúp Hòa Thượng Thanh Từ CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO. Nhưng Hòa Thượng Thanh Từ sau khi đã ấn chứng Thầy chứng quả Thiền Tông, yêu cầu Thầy trụ thế, và duyệt lại kinh sách để cùng Hòa Thượng CHẤN HƯNG THIỀN TÔNG…” [http://www.thuvienvietnam.com]

    Khi đề cập đến việc chứng đắc này, chính Hoà Thượng Thông Lạc xác định: “Người nhập xong Tứ Thiền, chứng Tam Minh là bậc A La Hán như trong thời Ðức Phật còn tại thế. Phật và A La hán không khác nhau chỗ tu hành và giải thoát. A La Hán chỉ khác Phật ở chỗ Ðức Phật là Giáo Chủ, người sáng lập ra Phật Giáo. Khi tu hành giải thoát rồi thì người nào cũng như người nấy.” [ĐVXP-ta^.p 2 http://nguyenthuychonnhu.com ].

    Được biết A La Hán là một hiệu trong 10 Phật hiệu của Đức Phật. Người đắc quả vị A La Hán không còn lỗi lầm, thoát khỏi phiền não, tâm trí tự tại, biết hết tất cả, đã đi tới chỗ cùng tột, đã diệt tất cả những dây trói buộc vào kiếp sống, dứt luân hồi và có đủ sáu phép thần thông (thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, túc mạng thông, tha tâm thông, thần túc thông, và lậu tận thông).

    Như vậy nền Phật Giáo đương đại Việt Nam chúng ta hân hạnh có được một vị A La Hán là Hoà thượng Thông Lạc. Điều này chúng ta nên mừng chứ? Đừng vội tin. Chính Đức Phật nói thế. Hãy xem cung cách sư thưa trình với HT. Thanh Từ thì thấy rõ sư đã là A La Hán chưa? sư đã không nói đúng sự thật là sư đã không tu theo pháp môn của HT. Thanh Từ để HT Thanh Từ cứ tưởng là sư đã chứng đắc do pháp môn HT. dạy, để HT. ấn chứng cho. Điều sư không nói đúng sự thật với HT. Thanh Từ là việc của sư nhưng điều này có thể gây tai hại cho huệ mạng của những người tu sau. Sư đã thiếu lòng từ bi, vì đoạn đường sư đã đi qua không kết quả mà lại không nói rõ sự thật với HT. Thanh Từ để HT. Thanh Từ biết rõ hầu dạy người sau đi lối khác. Điều thứ nhì: một vị A La Hán biết hết tất cả, có sáu thứ thần thông, thấy, nghe, và biết mọi sự mọi vật trong vũ trụ, biết tâm và nghiệp quả đời trước, đời này và đời sau mỗi người. Thế mà sư không đọc được tâm của Hoà Thượng bổn sư, không biết tâm HT. Thanh Từ sẽ từ chối lời cầu chết (nhập Niết Bàn) của sư và cũng không biết những người tu theo sư sau này sẽ rơi như sung rụng (bỏ đi không tu theo nữa).

    Một bậc A La Hán biết hết tất cả, biết đường đi nhân nhân quả của chúng sanh, có lòng đại từ đại bi, thương tất cả chúng sinh như con ruột, không thể nào mạt sát chúng sinh được, huống hồ lại mạt sát các thầy tổ. Sư đã mạt sát các Tổ Sư như các Ngài Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân, Mã Minh, Bồ Đề Đạt Ma bên Ấn Độ đến Tổ Huệ Khả, Tổ Vĩnh Minh Diên Thọ bên Trung Hoa, và đến chư thầy tổ Việt Nam. Chỉ vài vị Thầy Tổ khi trước lâm chung bị bệnh đau, thế mà sư cho là tất cả đều tu sai nên tất cả đau như vậy trước khi lâm chung. Sư còn nói Hoà Thượng Thiền Tâm trước khi lâm chung ói máu thế này hay thế khác.

    Hoà Thượng Thông Lạc, nếu là A La Hán thật, phải biết tuỳ căn cơ chúng sinh, tuỳ nhân duyên thời tiết mà thuyết pháp cứu độ chúng sinh. Chính sư biết tất cả tín đồ Phật Giáo Việt Nam hiện nay không tu Tịnh Ðộ thì lại tu Thiền Tông; không tu Thiền Tông thì lại tu Mật Tông. Ba tông phái này chiếm trọn tín đồ Phật Giáo; thế mà sư lại quyết tâm triệt hạ, chỉ trích họ là ngoại đạo, là tà giáo, chỉ riêng sư mới đúng, mới là chính phái. Không những chĩ trích ba tông phái chính của PGVN là Tịnh Độ, Thiền Tông và Mật Tông là tà, sư Thông Lạc cũng chỉ trích luôn các sư Nam Tông nào là tu sai, ăn thịt chúng sinh, ăn phi thời, phá giới, bẻ vụn giới..Sư cũng chỉ trích cả hai vị Thiền Sư Nam Tông nổi tiếng hiện nay trên thế giới là hai ngài A-Chaan-chah và Mahàsi.

    Xin trích: “...Các thiền sư Nam Tông mặc dù họ đang học tu theo giáo pháp Nguyên Thủy, nhưng lại tu sai lời Phật dạy, lấy hơi thở hoặc dùng cơ bụng (phình xẹp) hoặc tập trung chú ý quá sức vào các hành động ngoại thân như đi, đứng, nằm, ngồi, mặc y, mang bát, ăn, uống, v.v... ức chế tâm đến quá độ làm cho ý thức ngưng hoạt động để rồi tưởng thức hoạt động, khiến cho thân tâm sanh cảm giác "xúc tưởng hỷ lạc. Các sư lầm tưởng đó là trạng thái hỷ lạc của thiền định nên cố giữ và ôm chặt các trạng thái hỷ lạc tưởng thức. Gặp trạng thái này các sư đều bị chết chìm trong pháp định tưởng này. Lối tu như vậy, các sư Nam Tông, do không có thiện hữu tri thức có kinh nghiệm nhập Bốn Thánh Ðịnh và Tam Minh hướng dẫn, nên lạc vào thiền tưởng giống như Thiền Ðông Ðộ. Chứng minh cụ thể như thiền sư Nam Tông A Jaan Chah khi trả lời những câu hỏi đạo, ngôn ngữ của Ngài giống như thiền sư Ðông Ðộ..” [ĐVXP-Tập 8].

    Vì tu hành chưa tới nơi tới chốn, nên các Ngài (A-Chaan-chah và Mahàsi) biên soạn những loại kinh sách này vô tình đã để lại cho loài người trong hiện tại và mai sau những tai hại rất lớn, làm hao tài tốn của và phí cả cuộc đời của hậu học chẳng ích lợi gì, khi họ theo tu những pháp môn này. Trong thế kỷ này, tín đồ Phật Giáo khắp năm châu bốn biển đua nhau tu tập thiền Minh Sát Tuệ. Tu tập thiền này phải tập trung theo cơ bụng (Phồng, xẹp) nhằm diệt vọng tưởng. Loại thiền ấy thuộc về thiền ức chế tâm nó không phải là thiền của Đạo Phật...".(ĐVXP-Tập
    http://nguyenthuychonnhu.com/download.htm

    Như thế vô hình chung sư Thông lạc đả phá hết Phật Giáo rồi còn gì?

    Nói một cách vắn gọn, sư Thông Lạc tự cho mình là A La Hán, là Phật, là trên hết không còn ai hơn mình. Chỉ sư mới là chính phái, tất cả còn lại đều là tà hết. Một bậc A La Hán không thể nào có những lời phân biệt thế này thế nọ, thấy cái này sai, cái kia đúng. Một bậc A La Hán không thể nào có những lời hằn học, những lời mạ lị, mạt sát người khác hay môn phái khác. Theo tâm lý học người đời, ai cũng biết người nào còn nói tâm tôi thanh tịnh là người đó tâm còn ô nhiễm. Ai cũng biết người nào còn thấy mình tu chứng quả A La Hán là người đó chưa chứng quả A La Hán. Ai cũng biết người nào còn tâm phân biệt, chống đối các pháp môn khác là người đó chưa chứng đắc. Người nào còn thấy mình đúng, người khác sai là người đó chưa chứng đắc. Điều này thật hiển nhiên.


    Nguồn: Thư viện Hoa Sen
    http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2...6-1_17-19_14-1


    -
    Như ong đến với hoa

    Không hại sắc và hương

    Che chở hoa lấy nhụy

    Bậc Thánh đi vào làng.

  9. #49
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    Tôi đã trả lời bài của linh-anh tại :

    http://www.datviet.com/threads/17553...-Tôi-./page12

    Muốn đối thoại thì xin mời .
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  10. #50
    Join Date
    Aug 2011
    Posts
    6
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    nên năm anh em Kiều Trần Như xa lánh Phật không còn đến thưa hỏi điều này việc khác. Nhờ có nhân duyên đó nên đức Phật mới sống trọn vẹn hạnh độc cư cho đến khi chứng đạo. Độc cư là một phương pháp phòng hộ: mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý tuyệt vời, nó giúp cho người tu sĩ giữ gìn sáu căn trọn vẹn không tiếp xúc với bất cứ một người nào, nhờ đó tâm mới dễ chứng đạo.

  11. #51
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    12,066
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng


    Tâm nguyện của Phật Giáo là tạo thiện duyên, hiểu rằng Phật Pháp tại thế gian, được an lạc hạnh phúc, giác ngộ chân lý, giải thoát khổ đau. Điều nào tôn giáo này công nhận, các tôn giáo khác không công nhận, chưa phải là chân lý. Chân lý tối thượng vượt qua các nghi lễ, các hình thức của tôn giáo, nhất là vượt qua tâm cố chấp, giúp con người sống đời an nhiên tự tại.


    *** BẤT TÙY PHÂN BIỆT (CƯ TRẦN LẠC ĐẠO TẬP 1)




    TỲ KHƯU THÍCH CHÂN TUỆ

    Trên phương diện tự do tư tưởng, con người thường phát biểu nhiều ý kiến. Sống trên đời này, có nhiều ý kiến mới tỏ ra mình là con người văn minh tiến bộ, thuộc giới trí thức, học cao hiểu rộng, kiến thức uyên bác, đông tây kim cổ kinh sử lão thông, việc gì cũng tỏ ra mình rành rọt cả sáu câu, thông suốt từ A đến Z. Cùng một sự việc, cùng một vấn đề, mỗi người đều có ý kiến riêng của mình. "Không ai giống ai". Không ai chịu nhường bước ai. Không ai chịu nhìn nhận ý kiến của ai. Không ai thực sự biết tôn trọng chân lý, cho nên thường đưa đến chỗ tranh cãi một cách quyết liệt, đôi khi còn đi xa hơn!


    Sách có câu: "Năm người mười ý! ". Nghĩa là một người có ít ra là hai ý kiến trong cùng một vấn đề. Một người có ý kiến thế này, nhưng một lúc sau hay một ngày sau, chính người đó lại có ý kiến thế khác, thay đổi ý kiến của chính mình. Bởi thế cho nên con người đấu tranh, cãi vã nhau để bênh vực ý kiến chủ quan "nhứt định là đúng không sai" của mình, võ mồm võ miệng không xong thì xử dụng võ lực, nếu sống trong tình trạng chậm tiến, kém phát triển. Còn nếu như sống trong thế giới văn minh hơn, tiến bộ hơn, phát triển hơn ở các nước Âu Mỹ, con người thưa kiện nhau ra ba tòa quan lớn, quan nhỏ để đòi bồi thường cho bằng được một đô la danh dự hão, sau khi đã tiêu pha gần hết cơ nghiệp thực, đã vất vả gầy dựng bấy lâu nay trong các chi phí kiện tụng.


    Từ ngàn xưa cho đến ngày nay, con người khổ đau triền miên như vậy, cho nên đạo Phật gọi đời là bể khổ. Trong nhiều kiếp trầm luân sanh tử, nước mắt của chúng sanh nhiều hơn bốn biển lớn. Tâm trạng con người thay đổi triền miên, nay thương mai ghét, nay ghét mai lại thương. Thương thương ghét ghét như những sợi dây xích trói buộc con người trong vòng phiền não khổ đau, như những lượn sóng cao ngất trời vùi dập con người trong sinh tử triền miên. Biển khổ sông mê mênh mông, chuyện này chưa dứt, chuyện khác xảy ra, như những đợt sóng vỗ, trùng trùng điệp điệp, tiếp nối nhau, cao ngất trời, không biết đến bao giờ mới dứt. Bởi vậy, trong kinh sách có câu: "Ái hà thiên xích lãng. Khổ hải vạn trùng ba".


    Tuy nhiên, đạo Phật không dừng ở chỗ thế gian thường than trời trách đất, kêu khổ, khổ ơi là khổ đó. Ðạo Phật chỉ dạy cho con người nhận định rõ ràng: Cuộc đời khổ nhiều vui ít, cuộc đời sống nay chết mai, cuộc đời nay còn mai mất, không ai biết trước cuộc đời ngày sau sẽ ra sao? Nhưng đạo Phật không có ý tiêu cực, bi quan, chán nản, yếm thế.Ðạo Phật chỉ dẫn con đường giác ngộgiải thoát, chứ không dẫn dắt con người đến chỗ yếu đuối, bạc nhược, chỉ biết đặt đức tin vô căn cứ vào thượng đế tưởng tượng, cầu nguyện van xin.


    Ðạo Phật chỉ dạy rất nhiều phương pháp, gọi là vô lượng pháp môn, con người ứng dụng để tự giác ngộgiải thoát mọi phiền não và khổ đau của chính mình một cách tích cực, một cách thiết thực, nhằm xây dựng cuộc đời an lạc hơn, hạnh phúc hơn. Trong vô lượng pháp môn đó, có pháp môn gọi là "Bất Tùy Phân Biệt". Pháp môn này được Ðức Phật chỉ dạy trong bộ kinh Thủ Lăng Nghiêm, không những dành cho Phật Tử, mà còn dành cho tất cả những ai trên đời muốn tìm hiểu cội gốc của phiền não và khổ đau, cùng những phương pháp giải thoát khỏi các khổ đau và phiền não đó.


    * * *

    Trước hết, từ ngữ "bất tùy" có nghĩa là: không theo. Còn hai chữ "phân biệt", tùy theo chỗ dùng, được tạm giải thích có nghĩa là: kỳ thị, so đo, suy lường, tính toán, hơn thua, phải quấy, thị phi, cố chấp, thành kiến, định kiến, thường kiến, đoạn kiến, tà kiến, ác kiến, thiên kiến, biên kiến. Vậy, "bất tùy phân biệt" có nghĩa là trong cuộc sống, muốn được an lạc và hạnh phúc, chúng ta không nên để tâm niệm chạy theo những tư tưởng tính toán, so đo, hơn thua, thị phi, phải quấy, không nên có đầu óc kỳ thị, thiên lệch, thành kiến, nghiêng bên này hay bên kia, bênh vực con mình gièm pha con người khác, không cố chấp một ý nghĩ cố định nào của mình là chân lý tuyệt đối. Một hạt minh châu, hạt châu như ý, có thể phát ra nhiều sắc sáng khác nhau, tùy theo góc cạnh nhìn của mỗi người.


    Ở đây, xin nói ngay, "bất tùy phân biệt" không có nghĩa là chúng ta không hiểu biết, không phân biệt được thế nào là chánh tà, chơn ngụy, thiên viên, đại tiểu. Tức là không phải chúng ta không có trí tuệ để có thể phân biệt được thế nào là đúng hay sai, thế nào là thực hay giả, thế nào là thiên lệch hay viên mãn, thế nào là rộng lớn hay nhỏ mọn. Trái lại, chúng ta đã hiểu biết một cách tường tận muôn sự muôn vật đúng như thực tướng, không điên đảo, không sai sót. Hơn thế nữa, chúng ta còn phải vượt qua trình độ hiểu biết căn bản đó, đạt được sự hiểu biết khá hơn, giác ngộ cao siêu hơn, mới gọi là "bất tùy phân biệt" được.

    Chúng ta hiểu biết rõ ràng thế nào là chánh tà, chơn ngụy, thiên viên, đại tiểu, nhưng chúng ta không hề cố chấp vào đó để đưa đến phiền não và khổ đau. Tại sao vậy? Bởi vì tâm phân biệt, kỳ thị già trẻ, lớn bé, sang hèn, giàu nghèo, nam nữ, xuất xứ, học thức, chủ tớ, thân sơ, thương ghét, màu da, dân tộc, địa phương, tôn giáo, không thể nào đem lại an lạc và hạnh phúc, chỉ đưa chúng ta đến phiền não và khổ đau mà thôi. Ở đời, chúng ta thường trách người khác có tâm phân biệt, nhưng ít khi chịu phản quan tự kỷ, xét lại xem chính mình có tâm phân biệt như vậy hay không? Bởi vì khi chúng ta nói người này, người kia có tâm phân biệt, tức là chúng ta đã có tâm phân biệt rồi đó.


    Ðối với một sự việc nào đó, chúng ta thường không chịu suy xét một cách khách quan, mà hay có tâm phân biệt già trẻ, lớn bé, sang hèn, giàu nghèo, nam nữ, xuất xứ, học thức, chủ tớ, thân sơ, thương ghét, màu da, dân tộc, địa phương, tôn giáo, để đi đến kết luận một cách thiên lệch, không đúng chơn lý, không đúng lẽ phải, không đúng sự thực. Thí dụ như với người thân thích, chúng ta luôn luôn bênh vực, sao cũng cho là đúng! Còn với tất cả những người khác, thế nào cũng cho là sai. Với người đồng đạo hay cùng tổ chức, chúng ta luôn luôn bênh vực, cho là đúng, cái gì cũng đúng! Nhưng với người khác đạo, khác tổ chức thì cho là sai, cái gì cũng sai, tất cả đều sai! Tâm kỳ thị, tâm thiên lệch "phủ bênh phủ, huyện bênh huyện", thực ra đã có tự ngàn xưa. Ðó chính là tâm phân biệt của con người vậy.


    Mục đích tối thượng của đạo Phật còn chỉ dạy chúng ta một điều hết sức cao siêu, vi diệu. Ðó là ngoài những hình tướng bên ngoài như già trẻ, lớn bé, sang hèn, giàu nghèo, nam nữ, tất cả mọi người trên thế gian này đều có một điều giống nhau, một điều thật giống nhau, một điều hết sức giống nhau, một điều muôn đời giống nhau, một điều khắp nơi giống nhau. Dễ hiểu như là máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn, bộ xương cùng trắng, lục phủ ngũ tạng không khác. Con người thuộc mọi sắc dân trên khắp thế giới đều như vậy, thậm chí mọi loài súc sanh cũng đều như vậy. Ðiều giống nhau, đồng nhau đó là cái gì?


    Trong Kinh Kim Cang, Ðức Phật có dạy: "Ly nhứt thiết tướng thị danh thực tướng". Nghĩa là khi xa lìa tất cả mọi hình tướng bên ngoài của con người, đừng cố chấp, đừng có tâm phân biệt nam nữ, nghèo giàu, già trẻ, đẹp xấu, chúng ta mới có thể nhận ra rằng tất cả mọi người trên thế gian này đều có một bản thể giống nhau, đồng nhau, tạm gọi là "con người chân thật". Muốn hiểu được, thấy được, giác ngộ được "con người chân thật" của chính mình, chúng ta phải lắng lòng cho thanh tịnh, không tham lam, không sân hận, không si mê. Cũng như mặt hồ nước có phẳng lặng mới có thể soi thấy mặt trăng rằm trong đáy nước. Cũng như không có những đám mây tham sân si che lấp, thì mặt trăng chân thật mới hiển lộ vậy.


    Thế nào là "con người chân thật"? Ðó là con người sáng suốt, có trí tuệ bát nhã, đủ năng lực giải thoát mọi phiền não và khổ đau. Ðó là con người không tham lam, không sân hận, không si mê, tâm địa lúc nào cũng sáng suốt, thanh tịnh, tỉnh thức. Ðó là con người bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Ðó không phải là cái thân xác nặng nề của chúng ta đang có hiện nay. Ðó cũng không phải là cái tâmlăng xăng lộn xộn, suy nghĩ vớ vẫn vẫn vơ của chúng ta hiện nay. Thật vậy, những lúc tâm chúng ta lăng xăng lộn xộn, lo lắng bất an, chúng ta không thể sáng suốt suy nghĩ điều gì, nhớ điều gì cả. Chỉ khi nào chúng ta sống được với "con người chân thật" thì khi đó mới thực sự có được an lạc và hạnh phúc của cảnh giới thiên đàng, cảnh giới niết bàn mà thôi. "Con người chân thật" chính là con người không có tâm phân biệt. Nói cách khác, con người có tâm "bất tùy phân biệt" chính là "con người chân thật" vậy.





    Tâm phân biệt, cố chấp, thị phi, phải quấy, đúng sai, hơn thua, thường đưa đến phiền não và khổ đau. Tại sao vậy? Bởi vì trên thế gian này có điều gì đúng hay sai tuyệt đối đâu. Chẳng hạn như chữ hiếu đối với dân tộc này là nuôi dưỡng cha mẹ già yếu cho đến lúc mãn phần. Còn chữ hiếu đối với dân tộc khác là khi thấy cha mẹ già thì họ cho leo lên cây, rồi con cháu xúm lại rung gốc cây. Nếu cha mẹ còn khỏe mạnh leo trở xuống được, con cháu vui mừng tiếp tục nuôi dưỡng. Bởi lẽ họ quan niệm rằng cha mẹ còn khỏe mạnh thì mới vui sống và yêu đời.


    Cũng vậy, hiện nay vấn đề phá thai là nhân đạo hay vô nhân đạo? Vấn đề bác sĩ có quyền giúp bệnh nhân nan y, hết thuốc chữa, đau đớn thập phần, được chết theo ý muốn của họ hay không? Ðâu là câu trả lời đúng nhất, hợp tình, hợp lý, hợp luật, hợp lệ nhất? Trong nhiều vấn đề, chúng ta có thể chỉ đúng một phần thôi, hãy lắng nghe ý kiến của người khác, như vậy mới đúng là tinh thần của người biết tôn trọng chân lý.


    Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Ðức Phật có dạy:"Tri kiến lập tri tức vô minh bổn. Tri kiến vô kiến tư tức niết bàn". Nghĩa là chúng ta ai ai cũng có tri kiến, tức là có sự hiểu biết. Nhưng nếu chúng ta chấp chặt tri kiến của mình là đúng, là độc nhứt vô nhị, sự chấp chặt đó là gốc của vô minh phiền não. Nếu không cố chấp như vậy, nhứt định chúng ta sống trong cảnh giới niết bàn cực lạc không nghi. Sau đây, chúng ta thử tìm hiểu Pháp Tứ Y, Ðức Phật dạy trong Kinh A Hàm, gồm có: Y pháp bất y nhân, Y nghĩa bất y ngữ, Y trí bất y thức, Y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa.


    *1) Trong Pháp Tứ Y, Ðức Phật có dạy: "Y pháp bất y nhân". Nghĩa là chúng ta nên xét theo sự việc chứ không xét theo con người. Thí dụ như một người ăn hiền ở lành đúng tiêu chuẩn, thì phải được lên thiên đàng, không phân biệt, không chấp cứ người đó là có đạo nào hay ngoại đạo. Chứ lên thiên đàng mà cũng phe đảng như vậy hay sao? Cũng vậy, Niết bàn không dành riêng cho giới tu sĩ. Ðó chính là cảnh giới của tất cả những ai thực hành đúng theo lời Ðức Phật đã dạy, không phân biệt là Phật Tử, hay không phải là Phật Tử.


    Tâm phân biệt người này thế này, người kia thế khác cũng dẫn con người đến phiền não và khổ đau. Con người phân biệt màu áo tu sĩ với cư sĩ, phân biệt có đạo với ngoại đạo. Nếu là tu sĩ thì lên Niết bàn, nếu là người có đạo thì lên thiên đàng. Còn số đông đại chúng muôn vạn triệu triệu người, thì có chỗ dành sẵn dưới địa ngục! Hởi ơi, đâu là lòng từ bi và bác ái trong những con người có tâm phân biệt như thế! Chúng ta thường hay chấp chặt, tin ngay lập tức những gì giáo chủ dạy, những gì người tự nhận đại diện thượng đế nói, mà không chịu xét xem những lời dạy đó, những lời nói đó có đúng lẽ thực, có hợp chân lý hay không, cứ tin bừa bãi, tin một cách mù quáng, hết sức mê tín dị đoan, gọi đó là đức tin! Như vậy, chúng ta đã "y nhân", dù là thượng đế, chứ không "y pháp", dù là chân lý. Bởi vậy, cho nên ở Âu Mỹ hiện nay, những trung tâm hướng dẫn thiền định thu hút rất nhiều người đến thực tập, không phân biệt sắc dân hay tôn giáo gì cả. Ở những nơi đó, con người tư duy chân lý, quán sát lẽ thực, thực hành Chánh Pháp. Người nào thực tập đúng pháp môn thiền định thì đạt được cảnh giới an lạc và hạnh phúc đó, một cách bất tùy phân biệt! Như vậy chính là "y pháp bất y nhân".


    *2) Trong Pháp Tứ Y, Ðức Phật có dạy: "Y nghĩa bất y ngữ". Nghĩa là đừng chấp những lời nói, ngôn ngữ, bài viết không có ý nghĩa gì, chúng ta sẽ không phiền não và khổ đau. Thí dụ như có người hỏi chúng ta rằng: Sao dạo này anh chị mất uy tín quá vậy? Câu hỏi đó không có ý nghĩa gì cả, chỉ nhằm mục đích chọc tức chúng ta mà thôi. Chúng ta nghe rồi thì thôi, hoặc có thể lờ đi như không nghe thấy, bởi vì chúng ta hiểu tường tận thế nào là "vô ngã", không thấy có "bản ngã", nên không thu nhận câu đó vào trong tâm trí. Như vậy chúng ta sẽ không thấy phiền não và khổ đau. Hoặc giả khiêm nhường hơn, chúng ta có thể từ tốn đáp: Chúng tôi có uy tín hồi nào đâu để mất cơ chứ! Thí dụ như có người mắng chúng ta giống như con bò. Nếu chúng ta thu nhận câu đó vào tâm trí, rồi sanh phiền não giận tức, quả thực chúng ta không được thông minh cho lắm. Câu nói đó không căn cứ vào đâu cả, chúng ta giận làm gì cho mệt. Hoặc là, có người phê bình chúng ta nóng tánh mà chúng ta tức giận lên tiếng cãi chánh, quả thực người đó nói chẳng sai, chứ còn gì nữa! Thậm chí, nếu có người viết bài phê phán, chỉ trích, miệt thị, mạ lỵ, chưởi bới, vu khống, sỉ vả, khiêu khích, lăng nhục, bôi lọ, chụp mũ, bịa chuyện,mà chúng ta chỉ "y nghĩa bất y ngữ", thì họ làm gì có thể xúc phạm, làm sao có khả năng gây phiền não và khổ đau cho chúng ta được, phải không thưa quí vị!


    Người ta đưa lửa tới đốt, nếu chúng ta không đáp ứng, không đưa thân đưa tâm ra lãnh đủ, thì họ chỉ đốt "hư không" mà thôi, chẳng nhằm nhò gì chúng ta cả. Chửi bới hồi lâu, không thấy ép phê, không thấy hiệu quả, không thấy động đậy gì về phía chúng ta, họ cũng chán nản, cảm thấy hao hơi tổn sức, rồi tự ngưng thôi. Còn nếu chúng ta phản ứng, lên tiếng cãi chánh, thanh-minh-thanh-nga, biện bạch, cũng giống như chúng ta thổi hơi vào lửa đỏ, cho bùng thêm lên, hà hơi tiếp sức, gây cảm hứng, tạo duyên cớ cho họ làm tới mà thôi. Lúc Ðức Phật còn tại thế, khi Ngài bị người ngoại đạo theo quấy rầy, Ngài vẫn thản nhiên cất bước, như không có chuyện gì xảy ra cả. Người đó thấy Ðức Phật cứ tiếp tục lặng thinh, bèn chặn lại hỏi: Này ông Cồ Ðàm, có chịu thua chưa? Lúc đó, Ðức Phật từ tốn nói bài kệ như sau: "Người hơn thì thêm oán. Kẻ thua ngủ chẳng yên. Hơn thua đều xả hết. Giấc ngủ được an lành" .


    Như vậy, nếu chúng ta không chấp những lời nói vô nghĩa, những câu văn, ngôn ngữ xuất phát từ lòng hận thù, ganh tị, đố kỵ, ghen ghét, chắc chắn chúng ta sẽ không nhức đầu nhói tim, khỏi uống thuốc chẳng cần dầu cù là, nghĩa là chúng ta không phiền não và khổ đau. Chẳng hạn như khi chúng ta đi dự tiệc, mãn tiệc ra về, chủ nhà gói quà biếu tặng, nếu chúng ta không nhận thì chủ nhà phải giữ món quà đó lại. Cũng vậy, người đời thường tặng chúng ta những lời khen, tiếng chê đầu môi chót lưỡi, chúng ta không nhận thì sẽ được ăn ngon ngủ yên.


    Trong Kinh Pháp Bảo Ðàn, Ðức Lục Tổ Huệ Năng có dạy: "Tắng ái bất quan tâm. Trường thân lưỡng cước ngọa". Nghĩa là những chuyện thương thương ghét ghét, chẳng làm bận lòng, chúng ta sẽ nằm thẳng hai chân mà an giấc ngủ, khỏi phải trằn trọc trăn trở, nằm đếm một hai, cho đến trăm ngàn! Khỏe re! Như vậy chính là "y nghĩa bất y ngữ".


    *3) Trong Pháp Tứ Y, Ðức Phật có dạy: "Y trí bất y thức". Nghĩa là chúng ta nên xét sự việc theo trí tuệ bát nhã, chứ không xét theo tình thức, tình cảm thiên lệch của con người. Tâm phân biệt sắc tướng đẹp hay xấu, tiếng nói dễ nghe hay khó nghe, mùi hương dễ chịu hay khó chịu, món ăn ngon hay dở, bài văn khen tặng hết lời hay phê phán nặng lời, thường dẫn con người đến phiền não và khổ đau. Tại sao vậy? Bởi vì sắc tướng đẹp hay xấu thực sự không có tiêu chuẩn nhứt định, tùy người đối diện, tùy cảm tình của con người mà thôi. Món ăn ngon hay dở cũng không có tiêu chuẩn nhứt định, tùy theo con người đang đói bụng hay không mà thôi. Khi đói lòng, một củ khoai cũng thấy ngon, nhưng khi no đủ quá rồi thì sơn hào hải vị cũng chẳng ngon bằng một lọ tương! Khen tặng hay phê phán cũng không có tiêu chuẩn nhứt định, tùy theo con người đang nịnh bợ, tâng bốc để thủ lợi, hay đang quạu quọ vì không còn hưởng lợi, như lời giao kết trước đây nữa mà thôi.


    Người nào hiểu được như vậy, thực tập đúng pháp môn thiền định, không để cho những tình thức phân biệt dẫn dắt đến chỗ sai lạc, đến chỗ phiền não và khổ đau, người đó đạt được "trí tuệ bát nhã". Nói cách khác, trí tuệ bát nhã là trí tuệ phát sanh do tâm "bất tùy phân biệt", do công phu trì giới, tu tập thiền định mà hiện ra. Trí tuệ bát nhã khác với trí tuệ của thế gian do công phu học tập trong học đường mà đạt được, thể hiện qua các bằng cấp cao thấp. Trí tuệ bát nhã là trí tuệ sẵn có nơi tất cả mọi con người, không phân biệt già trẻ, lớn bé, nghèo giàu, nam nữ, xuất xứ, học thức, thân sơ, thương ghét, dân tộc hay tôn giáo gì cả. Do sự lắng lòng cho thanh tịnh, không tham lam, không sân hận, không si mê, chúng ta sẽ đạt được "trí tuệ bát nhã". Như vậy chính là "y trí bất y thức".


    *4) Trong Pháp Tứ Y, Ðức Phật có dạy: "Y liễu nghĩa, bất y bất liễu nghĩa". Nghĩa là chúng ta chỉ nên căn cứ theo những sự việc có ý nghĩa, những điều nào rõ ràng, minh bạch, chứ đừng chạy theo những sự việc mơ mơ hồ hồ, những chuyện không có căn cứ vào đâu cả. Thí dụ như chúng ta thường nghe một câu chuyện truyền miệng, rồi vội vàng kết luận là người này tốt, người kia xấu, người này phải, người kia quấy. Hoặc những tin đồn dĩa bay xuất hiện, thần thánh hiện ra nơi này nơi khác, có người thi triển thần thông phép lạ chữa hết bệnh nan y, không thể kiểm chứng được, chúng ta không cần quan tâm. Vã lại, những câu chuyện như vậy không có ích lợi gì cho việc tu tâm dưỡng tánh, chỉ làm loạn tâm chúng ta mà thôi.


    Ðối với những chuyện thị phi trên thế gian này, chúng ta không có thời gian, không có khả năng, không có hoàn cảnh, không có điều kiện, để tìm hiểu sự thực, đã vội vàng kết luận, nhứt định không đúng vậy. Ðối với những sách gọi là kinh Phật, chúng ta cũng cần nên dè dặt. Kinh Phật liễu nghĩa có nội dung giảng dạy 37 phẩm trợ đạo, để giúp con người tiến bước trên con đường giác ngộ và giải thoát. Kinh Phật liễu nghĩa có nội dung giảng dạy lý nhân quả, lý vô thường, vô ngã, chơn không diệu hữu, để giúp con người thoát ly phiền não và khổ đau. Những cuốn sách có nội dung: cúng sao giải hạn, cầu gì được nấy, bói toán mê tín, tin tưởng thánh thần, cầu nguyện van xin, tình duyên gia đạo, coi phong thủy, xem nhà cửa, chọn đất đai, đều không phải là kinh điển ghi lời Ðức Phật dạy. Vấn đề này còn có phần tế nhị, bởi vì Ðức Phật thuyết pháp tùy theo căn tánh của chúng sanh, cho nên kinh điển có quyền có thực, có hiển có mật. Kinh Phật vô lượng nghĩa, không có cao thấp, tùy theo công phu tu học đến đâu, con người hiểu kinh Phật đến đó.

    * * *

    Tóm lại, để kết thúc bài này, chúng tôi ghi lại hai câu sau đây của Thiền sư Hoàng Bá:
    Nhược bất nhứt phiên hàn triệt cốtTranh đắc mai hoa phốc tỷ hương.

    Nghĩa là:"Nếu không một phen sương thấm lạnh. Hoa mai đâu nở ngát hương thơm". Sau khi trải qua một mùa đông lạnh thấu xương, hoa mai mới hội đủ thời tiết nhân duyên để nở rộ và tỏa mùi hương thơm ngát khắp nơi nơi. Cũng vậy, chúng ta cần phải trải qua những thử thách cam go của cuộc đời, mới có được bài học nhẫn nhục, nhẫn mà không thấy nhục. Cổ nhân có dạy: "Một sự nhịn chín sự lành". Hiểu đạo rồi, chúng ta có thể nói: "Một sự nhịn muôn vạn sự lành". Con người chỉ học được và nếm được chút hương vị từ bi sau khi trải qua những giai đoạn khổ đau của cuộc đời. Khi nào bắt đầu thấy được giữa tuyết trắng và bùn nhơ không khác, không có cái gì xấu, không có cái gì đẹp, lúc đó con người bắt đầu biết nhìn sự vật với tâm bất tùy phân biệt, cũng là lúc con người hiểu được và hành được tâm đại bi. Người có tâm đại bi tức là không có tâm phân biệt, không có tả không có hữu, không có bạn không có thù, không có thân không có sơ, không có thị không có phi, không có thương không có ghét. Tuy nhiên tâm đại bi không phải là vô tri, mà chính là sức mạnh mầu nhiệm đem lại an lạc và hạnh phúc cho cuộc đời.


    Hiểu được rõ ràng thế nào là "vô ngã", thế nào là "con người chân thật", chúng ta mới tìm được an lạc và hạnh phúc trên cõi đời này. Hơn thế nữa, chúng ta cần phải trải qua nhiều thăng trầm của cuộc đời, mới nhận thấy được những lời dạy của đức Phật không dành riêng cho bất cứ ai sống trên đời này. Không phân biệt tôn giáo, không phân biệt sắc tộc, bất cứ người nào thực tâm lắng nghe, lắng lòng suy nghĩ, đem những lời dạy quí báu đó áp dụng trong cuộc sống. Nhứt định người đó sẽ sống một cuộc đời an lạc và hạnh phúc với "con người chân thật" của chính mình vậy.

    Posted by Tỳ-Khưu Thích-Chân-Tuệ
    Last edited by NASA1517; 08-19-2011 at 10:08 AM.

  12. #52
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    Tâm nguyện của Phật Giáo là tạo thiện duyên, hiểu rằng Phật Pháp tại thế gian, được an lạc hạnh phúc, giác ngộchân lý,giải thoát khổ đau. Điều nào tôn giáo này công nhận, các tôn giáo khác không công nhận, chưa phải là chân lý.
    Phật giáo đâu có hạng hẹp và nhỏ bé mà chỉ trông tạo THIỆN DUYÊN , có lẽ ông già hiểu PG này là của Đại Thừa thì đúng , chứ PG nguyên thủy đúng con đường của Phật Thích Ca là tu để đi đến GIÁC NGỘ và GIẢI THOÁT khổ đau .

    Đã gọi là chân lý thì dù ở không gian ba chiều hay 7 chiều ( điều mà Vàng cục ưa be ) thì nó vẫn đúng mới gọi là Chân Lý . Ví dụ : "Lữa thì nóng " cho dù áp dụng ở đâu , khoa học , đời sống hay bất cứ tôn giáo nào cũng phải chấp nhận đó mới gọi là chân lý . Kiểu như Thánh kinh bảo " Mặt trời là một mặt phẳng có nhiều cột trụ chống đở và DI CHUYỂN ( đi , walk ) từ Đông sang Tây " . Điều này đã bị nhà khoa học Gallileo bác bỏ . Vậy thì làm sao gọi là chân lý được .

    Thêm nữa :

    Bác Hồ nói :" Không có gì quý hơn Độc lập tự do . Sông có thể cạn , núi có thể mòn , song CHÂN LÝ ấy (quý hơn Độc lập tự do ) không bao giờ thay đổi " .

    Vậy thì ông già thử chứng minh là sông không cạn , núi không mòn thì câu của Bác Hồ không phải là chân lý . Để rồi nhắm mắt copy một bài của Tỳ-Khưu Thích-Chân-Tuệ mà chẳng hiểu thầy nói gì . PG phải dùng trí tuệ là vậy , đâu có như con Vẹt hay cái máy in vô tri vô giác .

    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  13. #53
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    12,066
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    [QUOTE=ChanhPhap84;1364530]Phật giáo đâu có dạy chúng ta có cách suy nghĩ hạn hẹpnhỏ bé mà chỉ trông tạo THIỆN DUYÊN vì lẽ THIỆN DUYÊN đã là tự GIÁC NGỘ để đi đôi với hành động"KARMA" ...

    Có lẽ cái đám con nít sống dưới chế độ chậm tiến nên hiểu về Phật Giáo quá non kém và cho rằng PG này là của Đại Thừa hay Tiểu thừa gì đó thì đúng, chứ PG nguyên thủy đúng con đường của Phật Thích Catu để tạo nên THIỆN DUYÊN để đi đến GIÁC NGỘGIẢI THOÁT khổ đau với con đường chân thật của chính mình!

    Không phải ai cũng dễ dàng vào con đường tu hành một cách chân thậtmục đích tối thượng của đạo Phật dạy cho chúng ta đạt được mục đích cao siêuvi diệu! Vì đây không phải là con đường vào lối thoát ngã tắc để học một đàngáp dụng một nẻo theo kiểu Giáo điều mà nó giúp cho con người (mọi cá nhân) ứng dụng để tự giác ngộgiải thoát mọi phiền não và khổ đau của chính mình một cách tích cực, một cách thiết thực, nhằm xây dựng cuộc đời an lạc hơn, hạnh phúc hơn!


    Muốn hiểu được, thấy được, giác ngộ được "con người chân thật" của chính mình, chúng ta phải lắng lòng cho thanh tịnh, không tham lam, không sân hận, không si mê. Cũng như mặt hồ nước có phẳng lặng mới có thể soi thấy mặt trăng rằm trong đáy nước. Cũng như không có những đám mây tham sân si che lấp, thì mặt trăng chân thật mới hiển lộ vậy.

    Thế nào là "con người chân thật"? Ðó là con người sáng suốt, có trí tuệ bát nhã, đủ năng lực giải thoát mọi phiền não và khổ đau. Ðó là con người không tham lam, không sân hận, không si mê, tâm địa lúc nào cũng sáng suốt, thanh tịnh, tỉnh thức. Ðó là con người bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm.


    CP84: "Vậy thì ông già thử chứng minh là sông không cạn, núi không mòn thì câu của Bác Hồ không phải là chân lý. Tên đồ tể Hồ Tặc diệt chủng dân tộcTHAM SÂN SI chít mẹ nuôn thì nàm gì có chổ cho chân ở cửa Nhà Phật!


    CP84: "Để rồi nhắm mắt copy một bài của Tỳ-Khưu Thích-Chân-Tuệ mà chẳng hiểu thầy nói gì. PG phải dùng trí tuệ là vậy, đâu có như con Vẹt hay cái máy in vô tri vô giác. Ở đây, xin nói ngay, "bất tùy phân biệt" không có nghĩa là chúng ta không hiểu biết, không phân biệt được thế nào là chánh tà, chơn ngụy, thiên viên, đại tiểu. Tức là không phải chúng ta không có trí tuệ để có thể phân biệt được thế nào là đúng hay sai, thế nào là thực hay giả, thế nào là thiên lệch hay viên mãn, thế nào là rộng lớn hay nhỏ mọn. Trái lại, chúng ta đã hiểu biết một cách tường tận muôn sự muôn vật đúng như thực tướng, không điên đảo, không sai sót. Hơn thế nữa, chúng ta còn phải vượt qua trình độ hiểu biết căn bản đó, đạt được sự hiểu biết khá hơn, giác ngộ cao siêu hơn, mới gọi là "bất tùy phân biệt" được.

    Hai chữ "phân biệt", tùy theo chỗ dùng, được tạm giải thích có nghĩa là: kỳ thị, so đo, suy lường, tính toán, hơn thua, phải quấy, thị phi, cố chấp, thành kiến, định kiến, thường kiến, đoạn kiến, tà kiến, ác kiến, thiên kiến, biên kiến. Vậy, "bất tùy phân biệt" có nghĩa là trong cuộc sống, muốn được an lạc và hạnh phúc, chúng ta không nên để tâm niệm chạy theo nhữngtư tưởng tính toán, so đo, hơn thua, thị phi, phải quấy, không nên có đầu óc kỳ thị, thiên lệch, thành kiến, nghiêng bên này hay bên kia, bênh vực con mình gièm pha con người khác, không cố chấp một ý nghĩ cố định nào của mình là chân lý tuyệt đối.


    Ở đời, chúng ta thường trách người khác có tâm phân biệt, nhưng ít khi chịu phản quan tự kỷ, xét lại xem chính mình có tâm phân biệt như vậy hay không? Bởi vì khi chúng ta nói người này, người kia có tâm phân biệt, tức là chúng ta đã có tâm phân biệt rồi đó. Tâm phân biệt, cố chấp, thị phi, phải quấy, đúng sai, hơn thua, thường đưa đến phiền não và khổ đau. Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Ðức Phật có dạy:"Tri kiến lập tri tức vô minh bổn. Tri kiến vô kiến tư tức niết bàn". Nghĩa là chúng ta ai ai cũng có tri kiến, tức là có sự hiểu biết. Nhưng nếu chúng ta chấp chặt tri kiến của mình là đúng, là độc nhứt vô nhị, sự chấp chặt đó là gốc của vô minh phiền não. Nếu không cố chấp như vậy, nhứt định chúng ta sống trong cảnh giới niết bàn cực lạc không nghi.


    Trong Pháp Tứ Y, Ðức Phật có dạy: "Y pháp bất y nhân". Nghĩa là chúng ta nên xét theo sự việc chứ không xét theo con người. Thí dụ như một người ăn hiền ở lành đúng tiêu chuẩn, thì phải được lên thiên đàng, không phân biệt, không chấp cứ người đó là có đạo nào hay ngoại đạo. Chứ lên thiên đàng mà cũng phe đảng như vậy hay sao? Cũng vậy, Niết bàn không dành riêng cho giới tu sĩ. Ðó chính là cảnh giới của tất cả những ai thực hành đúng theo lời Ðức Phật đã dạy, không phân biệt là Phật Tử, hay không phảiPhật Tử.


    Tâm phân biệt người này thế này, người kia thế khác cũng dẫn con người đến phiền não và khổ đau. Con người phân biệt màu áo tu sĩ với cư sĩ, phân biệt có đạo với ngoại đạo. Nếu là tu sĩ thì lên Niết bàn, nếu là người có đạo thì lên thiên đàng. Còn số đông đại chúng muôn vạn triệu triệu người, thì có chỗ dành sẵn dưới địa ngục! Hởi ơi, đâu là lòng từ bi và bác ái trong những con người có tâm phân biệt như thế! Chỉ có ChánhPhập điên khùng nhà ta mà thâu!



    Chúng ta thường hay chấp chặt, tin ngay lập tức những gì giáo chủ dạy, những gì người tự nhận đại diện thượng đế nói, mà không chịu xét xem những lời dạy đó, những lời nói đó có đúng lẽ thực, có hợp chân lý hay không, cứ tin bừa bãi, tin một cách quáng, hết sức mê tín dị đoan, gọi đó là đức tin! Như vậy, chúng ta đã "y nhân", dù là thượng đế, chứ không "y pháp", dù là chân lý. Bởi vậy, cho nên ở Âu Mỹ hiện nay, những trung tâm hướng dẫn thiền định thu hút rất nhiều người đến thực tập, không phân biệt sắc dân hay tôn giáo gì cả. Ở những nơi đó, con người tư duy chân lý, quán sát lẽ thực, thực hành ChánhPháp. Người nào thực tập đúng pháp môn thiền định thì đạt được cảnh giới an lạc và hạnh phúc đó, một cách bất tùy phân biệt! Như vậy chính là "y pháp bất y nhân".














  14. #54
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    Đúng ra tôi không muốn mất thì giờ giảng cho ông già ưa dùng lời lẽ mất lịch sự . Nhưng cũng vì lòng nhân từ cứu độ cho người sắp chết mà tôi đành phải thuyết giảng .

    Trước nhất ông cho hiểu thế nào là "Thiện duyên để rồi ông cho là đã là Giác ngộ "

    Muốn hiểu được, thấy được, giác ngộ được "con người chân thật" của chính mình, chúng ta phải lắng lòng cho thanh tịnh, không tham lam, không sân hận, không si mê. Cũng như mặt hồ nước có phẳng lặng mới có thể soi thấy mặt trăng rằm trong đáy nước. Cũng như không có những đám mây tham sân si che lấp, thì mặt trăng chân thật mới hiển lộ vậy.

    Thế nào là "con người chân thật"? Ðó là con người sáng suốt, có trí tuệ bát nhã, đủ năng lực giải thoát mọi phiền não và khổ đau. Ðó là con người không tham lam, không sân hận, không si mê, tâm địa lúc nào cũng sáng suốt, thanh tịnh, tỉnh thức. Ðó là con người bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm.
    Ông già lại hiểu nhầm " Con người chân thật " (Honesty is best policy ) không phải Ðó là con người sáng suốt, có trí tuệ bát nhã, đủ năng lực giải thoát mọi phiền não và khổ đau. Đôi lúc có trí tuệ Bát nhã nhưng chưa hẳn là người chân thật .Vì ông thầy không hề biết cỏi Niết Bàn , Tây phương cực lạc hay Thiên đàng là ở đâu mà ông vẫn nói dối là chỗ này chỗ nọ xa mấy muôn ức quang niên , hoặc hù dọa là phải tin tuyệt đối , nhắm mắt mà tin đừng hỏi lôi thôi . Sự thật ông thầy chẳng biết mô tê ất giáp gì . Vậy ông ta đâu có chân thật dù rằng ông thông minh và có đủ trí tuệ .

    Nếu ông thầy đã giải thoát mọi phiền não và khổ đau thì TÂM ông thầy không còn ở thế gian này dù thân xác còn tại thế . Có sự hiểu biết qua trí tuệ là không phải ai nói gì cũng tin mà không đắn đo suy nghĩ , vì cứ cảm nhận đó là lời trong Kinh , đó là do bậc Tổ sư giảng dạy , đó là ý được nhiều người tán đồng ...... thì quả thật là đáng thương cho những người quá vội tin một cách mù quán . Mà nên đem những điều ấy ra áp dụng có gây cho ai khổ đau , hay làm chảy máu ai không . Nếu không thì mới tin và nên làm . Vấn đề cốt lõi và chân lý mà chỉ có Đức Phật Thích Ca mới dạy có gây cho ai khổ đau , hay làm chảy máu ai không . chứ không phải là căn cứ vào trí tuệ . Có nhiều nhà thông thái , Bác Học nhiều trí tuệ đưa ra một học thuyết , một công thức nhưng qua thời gian cũng lỗi thời và bị đánh đổ , như vậy không phải là chân lý . Đức Phật đưa ra chân lý " Sanh -già-bệnh-tử " hoàn toàn bất biến , bền vững qua không gian , thời gian nào vẫn không bị bác bỏ . Công thức nó đúng và áp dụng không chừa một ai ( kể cả ông God ) và cũng không ai thay đổi , loại trừ được .

    Từ ý nghĩ sai lầm đó nên ông già lý luận tiếp : Ðó là con người không tham lam, không sân hận, không si mê, tâm địa lúc nào cũng sáng suốt, thanh tịnh, tỉnh thức. Ðó là con người bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm.

    .Đức Phật hoàn toàn bác bỏ TRƯỜNG SANH BẤT TỬ , cho nên ông già nói con người là bất ...... tùm lum như trên chứng minh ông không hiểu một tý gì về chân lý giác ngộ của Thích Ca .
    Thôi ông già ơi ! Muốn đối thoại với tôi về Phật giáo thì bỏ vài tháng hoặc vài năm đọc hết bài " Chân lý Thích Ca " của CP84 rồi trở lại đàm thoại .

    Chừng đó thôi nhé . Giảng nhiều ông nhức đầu và điên mất rồi phún ra những lời hôi hám như chó dại .

    Chào ông già lẩm cẩm ưa nổ bậy .

    ChanhPhap 84

    Last edited by ChanhPhap84; 08-20-2011 at 07:02 PM.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  15. #55
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng


    Vô tình sáng nay tôi đọc qua thấy ông già đang quoằn quoại , điên tiết nhảy độc như con Tề trong sở thú . Thật ra tôi không trách mà chỉ đáng thương cho cái tuổi già tâm không được thanh tịnh . Vì đầu óc ông đang có vấn đề :

    1-Con ma VC ám ảnh ( Bàn PG mà ông cứ ú ớ mơ và la hoảng con ma VC đuổi ).

    2-Ông già không hiểu chữ thời gian trong tôn giáo là tính đến hàng triệu quang niên ánh sáng nên cứ tưởng vài chục năm như BH Einstein của Mỹ mua là tồn tại vĩnh viễn .

    3-Ráng tập cho tâm thật thanh tịnh rồi đối thoại với thèng con nít CP84 này mới mong theo kịp chứ đừng nói ca bài chiến thắng . Tu lâu , già khọm chưa hẳn là thông minh và hiểu tất cả đâu nhá . Ông già có biết câu :

    "Lão lai tài tận " (Già thì hết tài lanh chanh ).

    "Trẽ khôn qua già lú lại " ( Trẽ như CP đã khôn thì ông già đang lú lẩn , nói bậy , chửi bậy , be tiếng bồi me Mỹ )


    Thôi đừng ấm ức viết bậy tôi không trả lời vì thấy tội đâu nhé . Chỉ khi nào viết đứng đắn , mạch lạch và logic thì tôi sẽ giảng tiếp .
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  16. #56
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    12,066
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    [QUOTE=ChanhPhap84;1364606]
    Vô tình sáng nay tôi đọc qua thấy ông già đang quoằn quoại , điên tiết nhảy độc như con Tề trong sở thú. Thật ra tôi không trách mà chỉ đáng thương cho cái tuổi già tâm không được thanh tịnh. Già gì mà Già! Còn lâu lắm mới tới ngày đó cho nên còn rất tỉnh táo như ban ngày! Ở ngoài đời thì ........(xóa) như chú mày chỉ đáng tuổi con cháu của TA thui cho nên không có qua mặt được TA đâu đừng có mơ! Áo mặc Không qua khỏi đầu đâu chú em ạ!

    Khà!Khà!Khà! Bị thua thiệt là bắt đầu giở trò .......(xóa) rùi đây! Đây là sự chứng minh thèng ca na đang bị lũng đoạn tâm lý! Chỉ có những tên bị "Mentally Retarded" vì cái óc của nó có vấn đề "suy thoái" cho nên không thể thuyết phục được bất cứ ai cả! .............................(X) có ai hiểu nó đang giãng thuyết về cái giống gì! Càng Bố Láo với TA là càng bị TA cho ăn đòn nhừ tử nuôn!
    Last edited by Tinh.Nhi; 08-23-2011 at 06:32 PM.

  17. #57
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    12,066
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    Trận chiến đáng buồn

    Công Luận 2011/08/19
    Lữ Giang

    Trong những năm gần đây, trên Internet cũng như trên báo chí, đã xuất hiện hai trận chiến gay cấn, đó là cuộc chiến giữa nhóm Phật Giáo theo Hoà Thượng Quảng Độ và nhóm Phật Giáo ly khai Về Nguồn, và chiến dịch tấn công Công Giáo (do tên Cà Na ChánhPhập số 84 cầm đầu!) Qua sự lên tiếng của nhiều giới, hai chiến dịch này chẳng những không dịu bớt mà càng ngày càng trở nên ác liệt. Mở các diễn đàn Internet ra, chúng ta thấy gần như không ngày nào không có bài tấn công Thiên Chuá Giáo. Có người còn cấm không được gọi đạo Công Giáo mà phải gọi là đạo Gia-tô hay đạo Ca-tô!

    Đây là kết quả của hai chiến dịch đấu tranh dưới danh nghĩa Phật Giáo do Thích Trí Quang và tay chân bộ hạ phát động và lãnh đạo, một trước năm 1975 và một sau năm 1975, để thống lãnh Phật Giáocướp chính quyền, nhưng bị thất bại một cách thê thảm. Sau khi thất bại, họ quay lại chống nhau và chống Công Giáo. (Xin nói rõ là cái chiêu bài "đâm thọt sau lưng các chiến sĩ" này là do bọn VGCS nằm vùng được cài vào các nội bộ của các cộng đồng người Việt ở hải ngoại để đánh phágây rối loạn cho các cộng đồng người Việt ở hải ngoại nhằm làm giảm uy tín của các giới người Việt tỵ nạn CS thành đạt ở các nước sở tại cũng vì 2 chữ "Ganh tị" mà ra thâu!)

    Chúng tôi xin nói rõ, trong mấy chục năm viết sách và viết báo với hàng ngàn bài, chúng tôi chưa bao giờ phê phán hay công kích Phật Giáo, chúng tôi chỉ phê phántấn công các thành phần cực đoan, đội lốt Phật Giáo để thực hiện những mưu đồ đen tối, đưa Phật Giáo và đất nước vào những ngày tối đen. Chúng tôi vẫn tiếp tục con đường đó, không quan tâm đến trò nhân danh “đoàn kết dân tộc” để chận đường chúng tôi, vì nhượng bộ nhóm này có nghĩa là khuyến khích sự dối trá.

    Để đọc giả có thể nhận ra được nguyên nhân của các cuộc đấu đá nhau hiện nay và tấn công không ngừng nghỉ vào Công Giáo, chúng tôi xin nhắc lại hai chiến thuật mà các nhóm Phật Giáo quá khích đã thực hiện nhưng thất bại thê thảm.

    CHIẾN THUẬT 1: CƯỚP CHÍNH QUYỀN

    CIA đã tóm lược cuộc đấu tranh của nhóm Thích Trí Quang trước 1975 như sau:

    Ông ta muốn thiết lập một chế độ giáo quyền lãnh đạo thế quyền ở Nam Việt Nam (he would like to establish a theocracy in South Vietnam).

    Kề từ năm 1963, các nhà Phật Giáo đấu tranh đã cương quyết chống lại trật tự ở miền Nam Việt Nam, hiển nhiên là không quan tâm đến các nhân vật hay vấn đề liên hệ.”

    (Since 1963, the Buddhists militants have consistently opposed existing order in South Vietnam, apparently without regard for personalities or issues involved.)

    Nói một cách rõ ràng hơn, từ năm 1963, nhóm Thích Trí Quang chủ trương thành lập một chính quyền do giáo quyền lãnh đạo (theocracy) tại miền Nam. Để thực hiện mục tiêu này, nhóm chủ trương dùng hận thù Công Giáochiêu bài hòa bình làm động lực đấu tranh để lật đổ tất cả mọi chính quyền tại miền Nam, không cần biết do ai lãnh đạo và có chủ trương gì.

    Năm 1966, khi nhóm Thích Trí Quang tạo bạo loạn để cướp chính quyền tại miền Trung, Hoa Kỳ đã bật đèn xanh cho Tướng Nguyễn Cao KỳTướng Nguyễn Ngọc Loan dẹp tan,

    Âm mưu bị thất bại, Thích Trí Quang đổi chiến thuật, đi theo MTGPMN với ý nghĩ rằng có thể dùng Cộng Sản để đuổi Mỹ ra khỏi Việt Nam và loại bỏ Công Giáo, sau đó dùng Phật Giáo để “HOÁ GIẢI” Cộng Sản.

    Rất nhiều người hỏi chúng tôi ý nghĩa từ “HOÁ GIẢI” mà nhóm Trí Quang đã dùng và danh từ đó được dịch ra tiếng Anh như thế nào, vì trong tự điển không có. Thật ra chữ “HOÁ GIẢI” này có nghĩa là “PHẬT GIÁO HÓA”, dịch từ chữ “Buddhismization” trong tiếng Anh hay “Buddishsmisation” trong tiếng Pháp. Nếu dịch chữ “Buddishmization” là “Phật Giáo hoá” thì trắng trợn quá nên phải dịch né ra là “HOÁ GIẢI”.

    Với chủ trương này, nhóm Thích Trí Quang đã yểm trợ cho Cộng Sản Bắc Việt chiếm miền Nam và sau khi Cộng Sản Bắc Việt chiếm miền Nam, Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang đã coi chiến thắng của Cộng Sản như chiến thắng của chính mình, tổ chức Mừng Giải Phóng Sinh Nhật Bác Hồ”.

    Nhưng mộng “hoá giải” Cộng Sản bất thành. Sau khi CSVN chiếm miền Nam, GHPGAQ chẳng những không “hóa giải” được Cộng Sản mà còn bị Cộng Sản hóa (communismization)!

    Chúng tôi thách Tiến Sĩ Cao Huy Thuần, người chuyên xuyên tạc lịch sử và dùng ngụy biện để biện hộ cho nhóm Thích Trí Quang, tranh luận với chúng tôi về các sự kiện chúng tôi đã nêu ra trên.

    CHIẾN THUẬT 2: TRÁ HÀNG!

    Năm 1981, các cao tăng trong Giáo Hội Ấn Quang như Hoà Thượng Trí Thủ (Viện Trưởng VHĐ), Hoà Thượng Trí Tịnh (Phó VT), Thượng Tọa Thích Minh Châu (Tổng Thư Ký)... đem Giáo Hội Ấn Quang sát nhập vào Giáo Hội Phật Giáo nhà nước. Nhóm Hòa Thượng Huyền Quang và Hoà Thượng Quảng Độ chống lại và bị nhà cầm quyền đàn áp, Nhóm này ngày càng tan rã dần.

    Trước sự thất bại trên, có hai nhóm chủ trương phải thay đổi chiến thuật để lật lại thế cờ: Nhóm thứ nhất chủ trương trá hàng, gia nhập vào Giáo Hội Nhà Nước, chiếm lần giáo hội này và đợi khi Cộng Sản sụp đổ, sẽ thống lãnh Phật Giáocướp chính quyền. Đây là chủ trương của nhóm Già Lam.

    Nhóm thứ hai chủ trương thỏa hiệp với cộng sản để hình thành một tổ chức Phật giáo mới ở trong nước dưới chiến thuật “vết dầu loang”, đó là nhóm Thiền Sư Nhất Hạnh. CSVN có một tổ chức tình báo rất tinh vi, đã theo dõi và nắm được chủ trương của cả hai nhóm này, nên tương kế tựu kế.

    CHIẾN THUẬT CỦA NHÓM GIÀ LAM

    Ngày 14.9.2007, Thượng Tọa Thích Không Tánh ở trong nước, đã gởi lên các diễn đàn Internet một văn thư tố cáo chủ trương Trá hàng VC để làm Văn Hóa, Hoằng Pháp...” của nhóm Thích Trí Siêu (Lê Mạnh Thát) và Thích Tuệ Sĩ. Thích Tuệ Sĩ là học trò và là cháu của HT Trí QuangHT Minh Châu. Còn Hoà Thượng Thiện Hạnh tố cáo nhóm Già Lam chủ trương thỏa hiệp (với CS) để được sinh hoạt”.

    Tuy nhiên, nhiều nhóm Phật Giáo ở hải ngoại, kể cả nhóm Giao Điểm, đã đi theo chủ trương của nhóm Già Lam. Họ hình thành nhóm Về Nguồn để thực hiện chủ trương này. Ngày 8.9.2007, Hoà Thượng Quảng Độ đã ban hành Giáo Chỉ số 9, tổ chức lại Giáo Hội và loại bỏ nhóm trá hàng, đưa tới sự tan vỡ của Giáo Hội Phật Giáo VN ở hải ngoại. Dĩ nhiên, Cộng Sản VN khai thác ngay.

    1.- Xử dụng Lê Mạnh Thát

    Để dùng Lê Mạnh Thát (tức Thích Trí Siêu) đứng ra tổ chức Đại lễ Phật đản LHQ (Vesak) năm 2008, báo Thanh Niên đã thổi Lê Mạnh Thát lên như sau: “Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động”.Tuy nhiên, sau khi xong việc, báo trong nước lại viết bài hạ ông xuống, chẳng hạn như “ông Lê Mạnh Thát đã khai thác một chiều sử liệu Trung Hoa... nhưng đáng tiếc phương pháp của ông rất cảm tính. Thứ gì có lợi cho thuyết của ông, thì ông xem như chân lý và không nhìn nhận nó dưới nhiều góc độ...” Sau đó, nhà nước cho ông ngồi chơi xơi nước.

    2.- Xử dụng Bùi Hồng Quang

    Bùi Hồng Quang vốn là một Đại Đức xuất, chủ trương tạp chí Giao Điểm. Đây là tạp chí chống Công Giáo hàng đầu. Trong Đại hội Phật giáo Nhà nước toàn quốc lần thứ 5 vào tháng 12/2002, Hồng Quang được mời về đọc bài tham luận "10 vấn đề cấp thiết của Phật giáo Việt Nam". Trong bài này Hồng Quang đã lên án “một vài tổ chức phản động, độc tôn, quá khích” lợi dụng tình thế đánh phá chính quyền.

    Năm 2007, Hồng Quang lại trở về Việt Nam thực hiện công tác tôn giáo vận cho Đảng CSVN. Website baovechanhphap.110mb.com của nhóm ủng hộ Hoà Thượng Quảng Độ đã công bố Giấy phép mang số 1020/A41(P4) ngày 20.12.2007 của Cục An Ninh Xã Hội thuộc Tổng Cục An Ninh cho phép Bùi Hồng Quang đem khoảng 420 tạp chí “Giao Điểm” để xuất cảnh ra nước ngoài với mục đích “tuyên truyền vận động đường lối chính sách của ĐảngNhà nước ta”.

    Lúc đầu nhiều người nghi ngờ Giấy Phép này là giả. Nhưng trong cuộc phỏng vấn của Sách Hiếm (đồng chí của Giao Điểm) Bùi Hồng Quang thú nhận đã in 400 cuốn báo Giao Điển số 65 ở trong nước nhưng sợ Hải quan phi trường làm khó dễ nên phải nhờ người xin phép cho chắc ăn”.

    Điều này chứng tỏ Hồng Quang đã có quan hệ chặt chẽ với nhà cầm quyền trong nước.

    3.- Khai thác Cao Huy Thuần

    Tháng 3/2008, Cao Huy Thuần đã được mời về tham dự lễ khai mạc tuần văn hoá Phật giáo tại Huế và tháng 3/2010, ông lại về thuyết trình đề tài "Thiền đời Trần - Thiền Việt Nam" nhân kỹ niệm 1000 năm Thăng Long, với kết luậndân tộc chúng ta quá bất hạnh khi bị đứt đoạn với cái gia tài rực rỡ của đạo Phật rất phương phi, vạm vỡ thời Trần Thái Tông.” Nói cách khác, ông có tinh thần Phật Giáo cực đoan không khác gì Lê Mạnh Thát.

    Cao Huy Thuần là người Huế, tốt nghiệp luật khoa tại Sài Gòn, qua Pháp năm 1969 học thi tiến sĩ tại tại Đại học Picardie. Qua các bài phỏng vấn của báo chí ở trong và ngoài nước, ông thường trả lời theo kiểu tránh né. Nhưng khi nói về các biến cố xẩy ra dưới thời Đệ I Cộng Hoà, ông tỏ ra hận thù Công Giáo rất sâu sắc và dùng ngụy sử để biện minh cho cuộc đấu tranh của Phật Giáo. Cho đến nay, mặc dầu các bí mật lịch sử đã được công bố hết rồi, ông vẫn còn nói đến “xe bọc sắt của ông Diệm nổ súng vào quần chúng tụ tập trước đài phát thanh...Đây là cái chiêu bài đấu tố .................................................. ....................................(xoá).
    Cảnh cáo bạn không được công kích thành viên bằng những từ thô bỉ. Bạn sẽ bị ban nick cảnh cáo 1 tuần để tu tâm.
    TN

    Tâm linh còn được tỉnh táo như ban ngày mà tu hú gì đây? Để coi nhóc con nào còn dám "hoạt động Bad Karma" nửa hông?! Hỗng đích thân châm ngồi khiêu khích người khác thì lấy đâu có khói đây?


    CP84:

    1-Con ma VC ám ảnh ( Bàn PG mà ông cứ ú ớ mơ và la hoảng con ma VC đuổi ).

    2-Ông già không hiểu chữ thời gian trong tôn giáo là tính đến hàng triệu quang niên ánh sáng nên cứ tưởng vài chục năm như BH Einstein của Mỹ mua là tồn tại vĩnh viễn .

    3-Ráng tập cho tâm thật thanh tịnh rồi đối thoại với thèng con nít CP84 này mới mong theo kịp chứ đừng nói ca bài chiến thắng . Tu lâu , già khọm chưa hẳn là thông minh và hiểu tất cả đâu nhá . Ông già có biết câu :

    "Lão lai tài tận " (Già thì hết tài lanh chanh ).

    "Trẽ khôn qua già lú lại " (Trẽ như CP đã khôn Vặt cho nên ưa, nói bậy, chửi bậy, be tiếng bồi me Mỹ vào để lấy le cái Masturbation!)



    Nhân Bất Học Bất Tri Lý! Người không học không biết lý lẽ! Nhân Bất Trị Bất Nhân Trí! Người không có tim óc trở thành súc vật!
    NASA1517

    và coi Dụ số 10 đã “xếp tôn giáo truyền thống của dân tộc vào loại tôn giáo...”, v.v. Chúng tôi sẽ bàn đến lòng hận thù tôn giáoxuyên tạc lịch sử của Cao Huy Thuần trong một bài khác.

    CHIẾN THUẬT CỦA NHÓM NHẤT HẠNH

    Thấy Thiền sư Nhất Hạnh muốn đưa “Pháp Môn Tiếp Hiện” của ông, thường được gọi là Pháp Môn Làng Mai” về phát triển tại Việt Nam. Đảng CSVN tương kế tựu kế.

    Bước thứ nhất, Đảng cho Thượng tọa Đức Nghi ở chùa Bát Nhã, Lâm Đồng, và sau đó là Sư Cô Thích Đàm Lan ở chùa Bồ Đề, Hà Nội, qua Làng Mai ở Phápthọ giáo Thiền sư Nhất Hạnh “Pháp Môn Làng Mai”, và mời Đoàn Thiền Sư Nhất HạnhSư Cô Chân Không về thăm Việt Nam. Sau đó, Thượng Tọa Đức Nghi dâng tu viện Bát Nhã ở Lâm Đồng cho Thiền Sư Nhất Hạnh. Tu viện này đã được đổi thành tu viện Làng Mai Bát Nhã. Thiền Sư Nhất Hạnh đã bỏ rất nhiều tiền để xất cất và mở rộng tu viện này với sự tin tưởng rằng từ đó, với phương pháp thiền định linh động, ông sẽ cho Pháp Môn Làng Mai phát triển ra cả nước và nắm khối Phật Giáo Việt Nam.

    Bước thứ hai, Đảng dùng Thiền Sư Nhất Hạnh đi thuyết phục hai Hoà Thượng Huyền QuangQuảng Độ đem GHPGVNTN sát nhập vào Giáo Hội Nhà Nước.

    Đầu năm 2005, Thiền Sư Nhất Hạnh và Sư Cô Chân Không đã dẫn một đoàn gồm 100 người về Việt Nam dưới hình thức “một đoàn múa lân”, với sứ mạng kết hợp GHPGVNTN với Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước. Thiền Sư Nhất Hạnh đã thất bại vì không được hai Hoà Thượng Huyền Quang và Quảng Độ tiếp.

    Năm 2007, dưới hình thức “Trai Đoàn Giải Oan”, Thiền Sư Nhất Hạnh đã trở lại Việt Nam với sự tin tưởng rằng bằng hình thức này cả hai Giáo Hội sẽ đến và ông sẽ CỘT cả hai lại với nhau, nhưng cũng thất bại.

    Không thực hiện được sứ mạng giao phó, ngày 13.11.2008, công an xã Đambri, Lâm Đồng, đã áp dụng biện pháp cưởng hành để trục xuất 400 đệ tử xuất gia và tăng sinh tu học theo Pháp Môn Làng Mai ra khỏi tu viện Bát Nhã.

    PHẢN ỨNG CỦA KẺ THUA CUỘC

    Với chiến thuật tạo bạo loạn để cướpchính quyền trước 1975 và chiến thuật trá hàng sau năm 1975 để chiếm Giáo Hội Nhà Nướcthống lãnh Phật Giáo, nhóm Phật Giáo đấu tranh của Thích Trí Quang đã thất bại rất nặng nề, phần lớn đã bị quốc doanh hoá, phần còn lại bị phân hóa. Còn nhóm “xung kích” gồm Lê Mạnh Thát, Thiền Sư Nhất Hạnh, Hồng Quang và Cao Huy Thuần đã bị Việt Cộngvắt chanh bỏ vỏ”.

    Trước những sự thất bại này, tàn quân của nhóm Phật Giáo quá khích quay lại. Mục tiêu của nhóm này là để kết hợp lại lực lượng. Chiến thuật của nhóm này là đưa ra những vấn đề để đối phương tham chiến và đi vào mê hồn trận của họ. Một số người công giáo nông nổi, bị kích động nên đã sa vào lưới của nhóm này. Ba diễn đàn chính là Giao Điểm, Sách Hiếm Chuyển Luân được xử dụng làm phương tiện thực thi chiến dịch. Các tên xung kích là Trần Chung Ngọc, Hoàng Văn Giàu, Hoàng Trọng Miên, Đặng Văn Nhậm, Nguyễn Hữu Ba, Trần Quang Diệu, Bảo Quốc Kiếm, v.v.

    Nhiều người tin rằng sau khi chế độ cộng sản sụp đổ, nhóm Phật giáo đấu tranh sẽ phát động lại chiến dịch tạo bạo loạn để cướp chính quyền như trước năm 1975, theo phương châm BI-TRÍ-DŨNG của Thích Trí Quang: Chiếm Giáo Hội Nhà Nước để thống lãnh Phật Giáo, sau đó hô to Pháp Nạn” và “Cần Lao Công Giáo tái xuất giang hồ” để kích động lòng hận thù tôn giáo, quy tụ các phần tử cực đoan lại và đứng lên cướp chính quyền. Nhưng tình hình Phật Giáo và tình hình đất nước hậu Cộng Sản sẽ không giống như tình hình Phật Giáo và tình hình đất nước trước năm 1975, nên nhóm này cũng sẽ thất bại.

    Hôm 9.5.2011, Phật Học Tịnh Quang ở Canada đã đưa ra một thông cáo lên án chiến dịch đánh phá tôn giáo trong những năm gần đây .................................................. ..(xóa)

    Thông cáo nhận định:

    “Điều gì tôn giáo này công nhận, địa phương này chấp nhận, dân tộc này tuân theo; nhưng các tôn giáo khác không công nhận, các địa phương khác không chấp nhận, các dân tộc khác không tuân theo, đều chưa phải là chân lý tối thượng. Chân lý tối thượng phải vượt lên trên tất cả các tôn giáo - kể cả Phật giáo - vượt lên trên tâm cố chấp của con người, chính là phương pháp mang lại sự bình an hiện tại trong tâm tư của cá nhân, hạnh phúc hiện tại trong gia đình và sự hòa bình hiện tại trong nhân loại.”

    Thông cáo nói rõ:

    Phật Học Tịnh Quang Canada không chấp nhận các bài viết có tính cách gây chia rẽ, tạo hiềm khích, khiến bất an trong các diễn đàn, dù phát xuất bất cứ từ đâu.

    Thông cáo đã nêu đích danh một số người “đã và đang gây chia rẽ, hiềm khích, bất an trong các diễn đàn từ vài năm nay”, đó là Hoàng Vương Đại, Nguyên Phúc - Nguyễn Hy Vọng, Nguyên Thích TD, Phan Minh Tài, PT.Thiện Đạo và Trần Quang Diệu. Thông cáo không nói gì đến Trần Chung Ngọc.

    Mọi người rất hoan nghinh thông cáo này và cảm phục sự can đảm cũng như thiện chí của Phật Học Tịnh Quang Canada.

    Giáo Hội Công Giáo Việt Nam hình như không quan tâm gì đến chiến dịch đánh phá hiện nay của nhóm Phật Giáo quá khích vì nó không ảnh hưởng gì đến Giáo Hội. Chính các thành phần Công Giáo quá khích, lúc nào cũng muốn biến Giáo Hội thành một lực lượng chính trị đối kháng với chính quyền theo sự “chỉ đạo” của họ đã gây khó khăn cho Giáo Hội nhiều hơn.

    Để đối phó với chiến dịch tấn công tôn giáo của các nhóm quá khích hiện nay, chúng tôi thấy phương pháp mà Thanh Tâm phổ biến trên các diễn đàn Internet ngày 22.1.2009 là hay nhất. Phương pháp đó được mô tả như sau:

    Lúc đi vượt biên, .................................................. .................................................. ........(xóa)

    Có muốn xóa bài là phải hỏi qua nhà báo Lữ Giang đó nheo! Bài này hỗng phải của tui viết đâu đó nheo! Đúng nà mấy tên rụt rịt cho nên ưa có tật giật mình!

    Ngày 16.8.2011

    Lữ Giang

    Last edited by NASA1517; 08-23-2011 at 09:58 PM.

  18. #58
    Join Date
    Oct 2004
    Posts
    249
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    Quote Originally Posted by NASA1517 View Post
    Trận chiến đáng buồn

    Công Luận 2011/08/19
    Lữ Giang

    Trong những năm gần đây, trên Internet cũng như trên báo chí, đã xuất hiện hai trận chiến gay cấn, đó là cuộc chiến giữa nhóm Phật Giáo theo Hoà Thượng Quảng Độ và nhóm Phật Giáo ly khai Về Nguồn, và chiến dịch tấn công Công Giáo (do tên Cà Na ChánhPhập số 84 cầm đầu!) Qua sự lên tiếng của nhiều giới, hai chiến dịch này chẳng những không dịu bớt mà càng ngày càng trở nên ác liệt. Mở các diễn đàn Internet ra, chúng ta thấy gần như không ngày nào không có bài tấn công Thiên Chuá Giáo. Có người còn cấm không được gọi đạo Công Giáo mà phải gọi là đạo Gia-tô hay đạo Ca-tô!

    Đây là kết quả của hai chiến dịch đấu tranh dưới danh nghĩa Phật Giáo do Thích Trí Quang và tay chân bộ hạ phát động và lãnh đạo, một trước năm 1975 và một sau năm 1975, để thống lãnh Phật Giáocướp chính quyền, nhưng bị thất bại một cách thê thảm. Sau khi thất bại, họ quay lại chống nhau và chống Công Giáo. (Xin nói rõ là cái chiêu bài "đâm thọt sau lưng các chiến sĩ" này là do bọn VGCS nằm vùng được cài vào các nội bộ của các cộng đồng người Việt ở hải ngoại để đánh phágây rối loạn cho các cộng đồng người Việt ở hải ngoại nhằm làm giảm uy tín của các giới người Việt tỵ nạn CS thành đạt ở các nước sở tại cũng vì 2 chữ "Ganh tị" mà ra thâu!)

    Chúng tôi xin nói rõ, trong mấy chục năm viết sách và viết báo với hàng ngàn bài, chúng tôi chưa bao giờ phê phán hay công kích Phật Giáo, chúng tôi chỉ phê phántấn công các thành phần cực đoan, đội lốt Phật Giáo để thực hiện những mưu đồ đen tối, đưa Phật Giáo và đất nước vào những ngày tối đen. Chúng tôi vẫn tiếp tục con đường đó, không quan tâm đến trò nhân danh “đoàn kết dân tộc” để chận đường chúng tôi, vì nhượng bộ nhóm này có nghĩa là khuyến khích sự dối trá.

    Để đọc giả có thể nhận ra được nguyên nhân của các cuộc đấu đá nhau hiện nay và tấn công không ngừng nghỉ vào Công Giáo, chúng tôi xin nhắc lại hai chiến thuật mà các nhóm Phật Giáo quá khích đã thực hiện nhưng thất bại thê thảm.

    CHIẾN THUẬT 1: CƯỚP CHÍNH QUYỀN

    CIA đã tóm lược cuộc đấu tranh của nhóm Thích Trí Quang trước 1975 như sau:

    Ông ta muốn thiết lập một chế độ giáo quyền lãnh đạo thế quyền ở Nam Việt Nam (he would like to establish a theocracy in South Vietnam).

    Kề từ năm 1963, các nhà Phật Giáo đấu tranh đã cương quyết chống lại trật tự ở miền Nam Việt Nam, hiển nhiên là không quan tâm đến các nhân vật hay vấn đề liên hệ.”

    (Since 1963, the Buddhists militants have consistently opposed existing order in South Vietnam, apparently without regard for personalities or issues involved.)

    Nói một cách rõ ràng hơn, từ năm 1963, nhóm Thích Trí Quang chủ trương thành lập một chính quyền do giáo quyền lãnh đạo (theocracy) tại miền Nam. Để thực hiện mục tiêu này, nhóm chủ trương dùng hận thù Công Giáochiêu bài hòa bình làm động lực đấu tranh để lật đổ tất cả mọi chính quyền tại miền Nam, không cần biết do ai lãnh đạo và có chủ trương gì.

    Năm 1966, khi nhóm Thích Trí Quang tạo bạo loạn để cướp chính quyền tại miền Trung, Hoa Kỳ đã bật đèn xanh cho Tướng Nguyễn Cao KỳTướng Nguyễn Ngọc Loan dẹp tan,

    Âm mưu bị thất bại, Thích Trí Quang đổi chiến thuật, đi theo MTGPMN với ý nghĩ rằng có thể dùng Cộng Sản để đuổi Mỹ ra khỏi Việt Nam và loại bỏ Công Giáo, sau đó dùng Phật Giáo để “HOÁ GIẢI” Cộng Sản.

    Rất nhiều người hỏi chúng tôi ý nghĩa từ “HOÁ GIẢI” mà nhóm Trí Quang đã dùng và danh từ đó được dịch ra tiếng Anh như thế nào, vì trong tự điển không có. Thật ra chữ “HOÁ GIẢI” này có nghĩa là “PHẬT GIÁO HÓA”, dịch từ chữ “Buddhismization” trong tiếng Anh hay “Buddishsmisation” trong tiếng Pháp. Nếu dịch chữ “Buddishmization” là “Phật Giáo hoá” thì trắng trợn quá nên phải dịch né ra là “HOÁ GIẢI”.

    Với chủ trương này, nhóm Thích Trí Quang đã yểm trợ cho Cộng Sản Bắc Việt chiếm miền Nam và sau khi Cộng Sản Bắc Việt chiếm miền Nam, Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang đã coi chiến thắng của Cộng Sản như chiến thắng của chính mình, tổ chức Mừng Giải Phóng Sinh Nhật Bác Hồ”.

    Nhưng mộng “hoá giải” Cộng Sản bất thành. Sau khi CSVN chiếm miền Nam, GHPGAQ chẳng những không “hóa giải” được Cộng Sản mà còn bị Cộng Sản hóa (communismization)!

    Chúng tôi thách Tiến Sĩ Cao Huy Thuần, người chuyên xuyên tạc lịch sử và dùng ngụy biện để biện hộ cho nhóm Thích Trí Quang, tranh luận với chúng tôi về các sự kiện chúng tôi đã nêu ra trên.

    CHIẾN THUẬT 2: TRÁ HÀNG!

    Năm 1981, các cao tăng trong Giáo Hội Ấn Quang như Hoà Thượng Trí Thủ (Viện Trưởng VHĐ), Hoà Thượng Trí Tịnh (Phó VT), Thượng Tọa Thích Minh Châu (Tổng Thư Ký)... đem Giáo Hội Ấn Quang sát nhập vào Giáo Hội Phật Giáo nhà nước. Nhóm Hòa Thượng Huyền Quang và Hoà Thượng Quảng Độ chống lại và bị nhà cầm quyền đàn áp, Nhóm này ngày càng tan rã dần.

    Trước sự thất bại trên, có hai nhóm chủ trương phải thay đổi chiến thuật để lật lại thế cờ: Nhóm thứ nhất chủ trương trá hàng, gia nhập vào Giáo Hội Nhà Nước, chiếm lần giáo hội này và đợi khi Cộng Sản sụp đổ, sẽ thống lãnh Phật Giáocướp chính quyền. Đây là chủ trương của nhóm Già Lam.

    Nhóm thứ hai chủ trương thỏa hiệp với cộng sản để hình thành một tổ chức Phật giáo mới ở trong nước dưới chiến thuật “vết dầu loang”, đó là nhóm Thiền Sư Nhất Hạnh. CSVN có một tổ chức tình báo rất tinh vi, đã theo dõi và nắm được chủ trương của cả hai nhóm này, nên tương kế tựu kế.

    CHIẾN THUẬT CỦA NHÓM GIÀ LAM

    Ngày 14.9.2007, Thượng Tọa Thích Không Tánh ở trong nước, đã gởi lên các diễn đàn Internet một văn thư tố cáo chủ trương Trá hàng VC để làm Văn Hóa, Hoằng Pháp...” của nhóm Thích Trí Siêu (Lê Mạnh Thát) và Thích Tuệ Sĩ. Thích Tuệ Sĩ là học trò và là cháu của HT Trí QuangHT Minh Châu. Còn Hoà Thượng Thiện Hạnh tố cáo nhóm Già Lam chủ trương thỏa hiệp (với CS) để được sinh hoạt”.

    Tuy nhiên, nhiều nhóm Phật Giáo ở hải ngoại, kể cả nhóm Giao Điểm, đã đi theo chủ trương của nhóm Già Lam. Họ hình thành nhóm Về Nguồn để thực hiện chủ trương này. Ngày 8.9.2007, Hoà Thượng Quảng Độ đã ban hành Giáo Chỉ số 9, tổ chức lại Giáo Hội và loại bỏ nhóm trá hàng, đưa tới sự tan vỡ của Giáo Hội Phật Giáo VN ở hải ngoại. Dĩ nhiên, Cộng Sản VN khai thác ngay.

    1.- Xử dụng Lê Mạnh Thát

    Để dùng Lê Mạnh Thát (tức Thích Trí Siêu) đứng ra tổ chức Đại lễ Phật đản LHQ (Vesak) năm 2008, báo Thanh Niên đã thổi Lê Mạnh Thát lên như sau: “Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động”.Tuy nhiên, sau khi xong việc, báo trong nước lại viết bài hạ ông xuống, chẳng hạn như “ông Lê Mạnh Thát đã khai thác một chiều sử liệu Trung Hoa... nhưng đáng tiếc phương pháp của ông rất cảm tính. Thứ gì có lợi cho thuyết của ông, thì ông xem như chân lý và không nhìn nhận nó dưới nhiều góc độ...” Sau đó, nhà nước cho ông ngồi chơi xơi nước.

    2.- Xử dụng Bùi Hồng Quang

    Bùi Hồng Quang vốn là một Đại Đức xuất, chủ trương tạp chí Giao Điểm. Đây là tạp chí chống Công Giáo hàng đầu. Trong Đại hội Phật giáo Nhà nước toàn quốc lần thứ 5 vào tháng 12/2002, Hồng Quang được mời về đọc bài tham luận "10 vấn đề cấp thiết của Phật giáo Việt Nam". Trong bài này Hồng Quang đã lên án “một vài tổ chức phản động, độc tôn, quá khích” lợi dụng tình thế đánh phá chính quyền.

    Năm 2007, Hồng Quang lại trở về Việt Nam thực hiện công tác tôn giáo vận cho Đảng CSVN. Website baovechanhphap.110mb.com của nhóm ủng hộ Hoà Thượng Quảng Độ đã công bố Giấy phép mang số 1020/A41(P4) ngày 20.12.2007 của Cục An Ninh Xã Hội thuộc Tổng Cục An Ninh cho phép Bùi Hồng Quang đem khoảng 420 tạp chí “Giao Điểm” để xuất cảnh ra nước ngoài với mục đích “tuyên truyền vận động đường lối chính sách của ĐảngNhà nước ta”.

    Lúc đầu nhiều người nghi ngờ Giấy Phép này là giả. Nhưng trong cuộc phỏng vấn của Sách Hiếm (đồng chí của Giao Điểm) Bùi Hồng Quang thú nhận đã in 400 cuốn báo Giao Điển số 65 ở trong nước nhưng sợ Hải quan phi trường làm khó dễ nên phải nhờ người xin phép cho chắc ăn”.

    Điều này chứng tỏ Hồng Quang đã có quan hệ chặt chẽ với nhà cầm quyền trong nước.

    3.- Khai thác Cao Huy Thuần

    Tháng 3/2008, Cao Huy Thuần đã được mời về tham dự lễ khai mạc tuần văn hoá Phật giáo tại Huế và tháng 3/2010, ông lại về thuyết trình đề tài "Thiền đời Trần - Thiền Việt Nam" nhân kỹ niệm 1000 năm Thăng Long, với kết luậndân tộc chúng ta quá bất hạnh khi bị đứt đoạn với cái gia tài rực rỡ của đạo Phật rất phương phi, vạm vỡ thời Trần Thái Tông.” Nói cách khác, ông có tinh thần Phật Giáo cực đoan không khác gì Lê Mạnh Thát.

    Cao Huy Thuần là người Huế, tốt nghiệp luật khoa tại Sài Gòn, qua Pháp năm 1969 học thi tiến sĩ tại tại Đại học Picardie. Qua các bài phỏng vấn của báo chí ở trong và ngoài nước, ông thường trả lời theo kiểu tránh né. Nhưng khi nói về các biến cố xẩy ra dưới thời Đệ I Cộng Hoà, ông tỏ ra hận thù Công Giáo rất sâu sắc và dùng ngụy sử để biện minh cho cuộc đấu tranh của Phật Giáo. Cho đến nay, mặc dầu các bí mật lịch sử đã được công bố hết rồi, ông vẫn còn nói đến “xe bọc sắt của ông Diệm nổ súng vào quần chúng tụ tập trước đài phát thanh...Đây là cái chiêu bài đấu tố .................................................. ....................................(xoá).
    Cảnh cáo bạn không được công kích thành viên bằng những từ thô bỉ. Bạn sẽ bị ban nick cảnh cáo 1 tuần để tu tâm.
    TN

    Tâm linh còn được tỉnh táo như ban ngày mà tu hú gì đây? Để coi nhóc con nào còn dám "hoạt động Bad Karma" nửa hông?! Hỗng đích thân châm ngồi khiêu khích người khác thì lấy đâu có khói đây?


    CP84:

    1-Con ma VC ám ảnh ( Bàn PG mà ông cứ ú ớ mơ và la hoảng con ma VC đuổi ).

    2-Ông già không hiểu chữ thời gian trong tôn giáo là tính đến hàng triệu quang niên ánh sáng nên cứ tưởng vài chục năm như BH Einstein của Mỹ mua là tồn tại vĩnh viễn .

    3-Ráng tập cho tâm thật thanh tịnh rồi đối thoại với thèng con nít CP84 này mới mong theo kịp chứ đừng nói ca bài chiến thắng . Tu lâu , già khọm chưa hẳn là thông minh và hiểu tất cả đâu nhá . Ông già có biết câu :

    "Lão lai tài tận " (Già thì hết tài lanh chanh ).

    "Trẽ khôn qua già lú lại " (Trẽ như CP đã khôn Vặt cho nên ưa, nói bậy, chửi bậy, be tiếng bồi me Mỹ vào để lấy le cái Masturbation!)



    Nhân Bất Học Bất Tri Lý! Người không học không biết lý lẽ! Nhân Bất Trị Bất Nhân Trí! Người không có tim óc trở thành súc vật!
    NASA1517

    và coi Dụ số 10 đã “xếp tôn giáo truyền thống của dân tộc vào loại tôn giáo...”, v.v. Chúng tôi sẽ bàn đến lòng hận thù tôn giáoxuyên tạc lịch sử của Cao Huy Thuần trong một bài khác.

    CHIẾN THUẬT CỦA NHÓM NHẤT HẠNH

    Thấy Thiền sư Nhất Hạnh muốn đưa “Pháp Môn Tiếp Hiện” của ông, thường được gọi là Pháp Môn Làng Mai” về phát triển tại Việt Nam. Đảng CSVN tương kế tựu kế.

    Bước thứ nhất, Đảng cho Thượng tọa Đức Nghi ở chùa Bát Nhã, Lâm Đồng, và sau đó là Sư Cô Thích Đàm Lan ở chùa Bồ Đề, Hà Nội, qua Làng Mai ở Phápthọ giáo Thiền sư Nhất Hạnh “Pháp Môn Làng Mai”, và mời Đoàn Thiền Sư Nhất HạnhSư Cô Chân Không về thăm Việt Nam. Sau đó, Thượng Tọa Đức Nghi dâng tu viện Bát Nhã ở Lâm Đồng cho Thiền Sư Nhất Hạnh. Tu viện này đã được đổi thành tu viện Làng Mai Bát Nhã. Thiền Sư Nhất Hạnh đã bỏ rất nhiều tiền để xất cất và mở rộng tu viện này với sự tin tưởng rằng từ đó, với phương pháp thiền định linh động, ông sẽ cho Pháp Môn Làng Mai phát triển ra cả nước và nắm khối Phật Giáo Việt Nam.

    Bước thứ hai, Đảng dùng Thiền Sư Nhất Hạnh đi thuyết phục hai Hoà Thượng Huyền QuangQuảng Độ đem GHPGVNTN sát nhập vào Giáo Hội Nhà Nước.

    Đầu năm 2005, Thiền Sư Nhất Hạnh và Sư Cô Chân Không đã dẫn một đoàn gồm 100 người về Việt Nam dưới hình thức “một đoàn múa lân”, với sứ mạng kết hợp GHPGVNTN với Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước. Thiền Sư Nhất Hạnh đã thất bại vì không được hai Hoà Thượng Huyền Quang và Quảng Độ tiếp.

    Năm 2007, dưới hình thức “Trai Đoàn Giải Oan”, Thiền Sư Nhất Hạnh đã trở lại Việt Nam với sự tin tưởng rằng bằng hình thức này cả hai Giáo Hội sẽ đến và ông sẽ CỘT cả hai lại với nhau, nhưng cũng thất bại.

    Không thực hiện được sứ mạng giao phó, ngày 13.11.2008, công an xã Đambri, Lâm Đồng, đã áp dụng biện pháp cưởng hành để trục xuất 400 đệ tử xuất gia và tăng sinh tu học theo Pháp Môn Làng Mai ra khỏi tu viện Bát Nhã.

    PHẢN ỨNG CỦA KẺ THUA CUỘC

    Với chiến thuật tạo bạo loạn để cướpchính quyền trước 1975 và chiến thuật trá hàng sau năm 1975 để chiếm Giáo Hội Nhà Nướcthống lãnh Phật Giáo, nhóm Phật Giáo đấu tranh của Thích Trí Quang đã thất bại rất nặng nề, phần lớn đã bị quốc doanh hoá, phần còn lại bị phân hóa. Còn nhóm “xung kích” gồm Lê Mạnh Thát, Thiền Sư Nhất Hạnh, Hồng Quang và Cao Huy Thuần đã bị Việt Cộngvắt chanh bỏ vỏ”.

    Trước những sự thất bại này, tàn quân của nhóm Phật Giáo quá khích quay lại. Mục tiêu của nhóm này là để kết hợp lại lực lượng. Chiến thuật của nhóm này là đưa ra những vấn đề để đối phương tham chiến và đi vào mê hồn trận của họ. Một số người công giáo nông nổi, bị kích động nên đã sa vào lưới của nhóm này. Ba diễn đàn chính là Giao Điểm, Sách Hiếm Chuyển Luân được xử dụng làm phương tiện thực thi chiến dịch. Các tên xung kích là Trần Chung Ngọc, Hoàng Văn Giàu, Hoàng Trọng Miên, Đặng Văn Nhậm, Nguyễn Hữu Ba, Trần Quang Diệu, Bảo Quốc Kiếm, v.v.

    Nhiều người tin rằng sau khi chế độ cộng sản sụp đổ, nhóm Phật giáo đấu tranh sẽ phát động lại chiến dịch tạo bạo loạn để cướp chính quyền như trước năm 1975, theo phương châm BI-TRÍ-DŨNG của Thích Trí Quang: Chiếm Giáo Hội Nhà Nước để thống lãnh Phật Giáo, sau đó hô to Pháp Nạn” và “Cần Lao Công Giáo tái xuất giang hồ” để kích động lòng hận thù tôn giáo, quy tụ các phần tử cực đoan lại và đứng lên cướp chính quyền. Nhưng tình hình Phật Giáo và tình hình đất nước hậu Cộng Sản sẽ không giống như tình hình Phật Giáo và tình hình đất nước trước năm 1975, nên nhóm này cũng sẽ thất bại.

    Hôm 9.5.2011, Phật Học Tịnh Quang ở Canada đã đưa ra một thông cáo lên án chiến dịch đánh phá tôn giáo trong những năm gần đây .................................................. ..(xóa)

    Thông cáo nhận định:

    “Điều gì tôn giáo này công nhận, địa phương này chấp nhận, dân tộc này tuân theo; nhưng các tôn giáo khác không công nhận, các địa phương khác không chấp nhận, các dân tộc khác không tuân theo, đều chưa phải là chân lý tối thượng. Chân lý tối thượng phải vượt lên trên tất cả các tôn giáo - kể cả Phật giáo - vượt lên trên tâm cố chấp của con người, chính là phương pháp mang lại sự bình an hiện tại trong tâm tư của cá nhân, hạnh phúc hiện tại trong gia đình và sự hòa bình hiện tại trong nhân loại.”

    Thông cáo nói rõ:

    Phật Học Tịnh Quang Canada không chấp nhận các bài viết có tính cách gây chia rẽ, tạo hiềm khích, khiến bất an trong các diễn đàn, dù phát xuất bất cứ từ đâu.

    Thông cáo đã nêu đích danh một số người “đã và đang gây chia rẽ, hiềm khích, bất an trong các diễn đàn từ vài năm nay”, đó là Hoàng Vương Đại, Nguyên Phúc - Nguyễn Hy Vọng, Nguyên Thích TD, Phan Minh Tài, PT.Thiện Đạo và Trần Quang Diệu. Thông cáo không nói gì đến Trần Chung Ngọc.

    Mọi người rất hoan nghinh thông cáo này và cảm phục sự can đảm cũng như thiện chí của Phật Học Tịnh Quang Canada.

    Giáo Hội Công Giáo Việt Nam hình như không quan tâm gì đến chiến dịch đánh phá hiện nay của nhóm Phật Giáo quá khích vì nó không ảnh hưởng gì đến Giáo Hội. Chính các thành phần Công Giáo quá khích, lúc nào cũng muốn biến Giáo Hội thành một lực lượng chính trị đối kháng với chính quyền theo sự “chỉ đạo” của họ đã gây khó khăn cho Giáo Hội nhiều hơn.

    Để đối phó với chiến dịch tấn công tôn giáo của các nhóm quá khích hiện nay, chúng tôi thấy phương pháp mà Thanh Tâm phổ biến trên các diễn đàn Internet ngày 22.1.2009 là hay nhất. Phương pháp đó được mô tả như sau:

    Lúc đi vượt biên, .................................................. .................................................. ........(xóa)

    Có muốn xóa bài là phải hỏi qua nhà báo Lữ Giang đó nheo! Bài này hỗng phải của tui viết đâu đó nheo! Đúng nà mấy tên rụt rịt cho nên ưa có tật giật mình!


    Lúc đi vượt biên, .................................................. .................................................. ........(xóa)

    Có muốn xóa bài là phải hỏi qua nhà báo Lữ Giang đó nheo! Bài này hỗng phải của tui viết đâu đó nheo! Đúng nà mấy tên rụt rịt cho nên ưa có tật giật mình!


    ================================================== ================================================== ===

    Những chữ hay những câu Tép xóa là do bạn chêm vào từ thiếu văn hóa , mạ lỵ , côn đô` chứ không phải là bài của Lữ Giang , nếu ông ta mà dùng những từ thiếu giáo dục như vậy phạm quy cũng bị xóa . Còn chữ ( X ) là viết tắc của chữ Xóa chứ chăng đánh dấu gì cả . Bạn cần nghĩ mát một tuần cho tỉnh táo , vì bạn viết toàn là những từ dơ bẩn , không có văn hóa làm hoen ố diễn đàn Đ V .

    Tép Nhỏ

    Ngày 16.8.2011

    Lữ Giang

    -Nhà báo viết hay thật, nhưng nhà báo quên rằng đất nước Việt nam hơn 80 năm độ hộ của thực dân đều là công lao của mấy con chiên Việt gian ba đời bán nước - Trong đó có cha ông của nhà báo . Chỉ vì mấy con chiên với chiếc bánh vẽ thiên đàng mà tất cả gia tài của tổ tiên để lại đã bị hủy hoại bởi chiên thiên Chúa.Nhà tù Côn đảo và Phú quốc là nơi chôn thây của bao chiến sĩ cách mạng yêu nước,và bao cảnh lầm than mà thực dân Pháp nói đúng ra là mấy con chiên đã ngồi trên đầu trên cổ người dân Việt. Nếu Việt minh không giành được đất nước thì có lẽ VN nay đền chùa miếu điện nơi thờ Tổ tiên và các vị anh hùng ,thánh nhân VN và là một nguồn di sản dân tộc đã bị phá hủy để rước ông thần Jehova Do Thái,và Jesus kẻ bị do thái Do tử hình vì phạm thượng về thờ.
    Last edited by Tinh.Nhi; 08-26-2011 at 05:59 PM.
    Như ong đến với hoa

    Không hại sắc và hương

    Che chở hoa lấy nhụy

    Bậc Thánh đi vào làng.

  19. #59
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    12,066
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    [QUOTE=linh-anh;1364833]-Nhà báo viết hay thật, nhưng nhà báo quên rằng đất nước Việt nam hơn 80 năm độ hộ của thực dân đều là công lao của mấy con chiên Việt gian ba đời bán nước-Trong đó có cha ông của nhà báo. Chỉ vì mấy con chiên với chiếc bánh vẽ thiên đàng mà tất cả gia tài của tổ tiên để lại đã bị hủy hoại bởi chiên thiên Chúa. Nhà tù Côn đảo và Phú quốc là nơi chôn thây của bao chiến sĩ cách mạng yêu nước là lính đánh thuê cho Đế Quốc CS Nga Tàu!),và bao cảnh lầm than mà thực dân Pháp nói đúng ra là mấy con chiên đã ngồi trên đầu trên cổ người dân Việt. Nếu Việt minh không giành được đất nước thì có lẽ VN nay đền chùa miếu điện nơi thờ Tổ tiên và các vị anh hùng,thánh nhân VN và là một nguồn di sản dân tộc đã bị phá hủy để rước ông thần Jehova Do Thái,và Jesus kẻ bị do thái Do tử hình vì phạm thượng về thờ ???? Bố Láo hỗng có căn! Việt Minh hay Việt Cộng chỉ lập công trên tay các nhà cách mạng chân chính như Cụ Phan Bội Châu và không có liên can gì tới các đạo Tôn Giáo ở VN!



    Tỗng thống Ngô Dình Diệm là vị đại ân nhân cũa GHPGVN cũng như Phật Giáo Tây Tạng trong 9 năm cũa nền Đệ Nhất Cộng Hòa.


    [President Ngo Dinh Diem was the primary benefactor of the Vienamese Buddhist Church as well as Tibetan Buddhist Church in exile during his 9 years of the Vietnam First Republic]


    Chúng ta hãy công bằng duyệt lại những nỗ lực mà Tỗng Thống Ngô Dình Diệm đã tận tình giúp đỡ Giáo Hội Phật Giáo Vietnam cũng như Giáo Hội Phật Giáo Tây Tạng trong 9 năm của Đệ Nhất Cộng Hòa như sau:



    Cụ Diệm đã giúp công, của để GHPGVN xây chùa Xá Lợi TO TỖ BỐ trên đường Bà Huyện Thanh Quan, ngang hông trường nữ Trung Học Gia Long (Sàigòn).




    Cụ Diệm đã giúp công & đất để xây chùa Vĩnh Nghiêm TO TỖ CHÃNG trên đường Công Lý (Sàigòn)… và



    - Cụ Diệm đã gỡi số tiền $10,000.00 (bằng $150,000.00 bây chừ 2010) do tiền thưỡng cũa Viện Magsaysay trao tặng Tỗng Thống Ngô Đình Diệm như là vị lãnh đạo sáng chói nhất thời bấy giờ cũa Á Châu .. và biếu Đức Đalai Lama cũa Tây Tạng khi vị nầy dẫn mấy chục ngàn tăng sĩ rời bõ nước Tây Tạng qua ẫn náu tại Ấn Dộ & Tích Lan. Hành động bác ái cũa TT Ngô Dình Diệm tạo sự ghen tương, ganh tỵ đối với GHPGVN.

    - Cụ Diệm đã tạo sự dễ dàng cho GHPGVN gỡi các đại đức trẽ đi du học ở hãi ngoại đễ thành tài .. ví dụ như (ĐĐ/TT) Thích Quãng Liên và (ĐĐ/Bụt) Thích Nhật Hạnh. Tên nầy thay vì lo học hành .. không làm ..lại lo hoạt dộng, tuyên truyền tại hãi ngoại (HK & Pháp) giúp cho CSBV đánh phá VNCH.

    Thử hỏi: Trong giai đoạn đó, có tôn giáo nào tại Vietnam như: Công Giáo, Tin Lành, Cao đài, Hòa Hảo, BaHai, etc ..được cụ Diệm đãi ngộ như vậy không?

    [Người tây phương có câu tục ngữ:A dog never bite a feeding hand” (loài chó không bao giờ táp bàn tay đút thức ăn vào mõm chúng) nhưng con người ta khác hơn loài chó: Bằng chứng là những tên như Thích Nht Hnh, Thích Trí Quang thì mọi người đều biết: hàm ơn TT Ngô dình Diệm & Đệ I Cộng Hòa nhưng lại trã bằng oán thù.!

    Sau dây là bằng chứng về sự trung thành và biết ơn cũa loài chó mà chú chó Leao cũa xứ Brazil là một thí zụ diễn hình:



    - Getty Images

    [Chú chó "Leao" dã canh thức luôn 2 ngày dêm chẵng ăn uống gì cạnh ngôi mã mới chôn cũa bà chũ chó Leao tên là Cristina Maria Cesario Santana. Bà đã bõ mình dưới làm sóng "bùn chuồi" ỡ Brazil trong tháng Giêng (2011) cùng với hơn 550 nạn nhân khác.


    Người ta dưa chú chó Leao về thành phố cách xa nghĩa dịa hơn cã chục miles, cho ăn uống nhưng sau dó, chó Leao không chịu dựng nỗi sự nhớ nhung dối với chũ, chú chó Leao dã trỡ về ngày dêm chầu chực cạnh ngôi mã cũa cô chũ thân yêu mình. Thiên hạ xa gần cùng cã thế giới khi đọc tin nầy phãi rơi lụy vì sự trung thành dặc biệt cũa chú chó Leao


    Mời độc giả xem Video để biết AI LÀ KẺ GIẾT NGÀI THÍCH QUẢNG ĐỨC?



    Đúng ra, những tên như (ĐĐ/TT) Thích Quãng Liên, (ĐĐ/Bụt) Thích Nhất Hạnh(TT zỗm) Thích Trí Quang bây chừ phãi ngày đêm fũ fục bên cạnh hai ngôi mộ cũa anh em TT Ngô dình Diệm đễ tõ lòng tri ân về những đại ân mà nhị vị nhà Ngô đã gia ân cho GHPG cũng như cho chính bãn thân họ trong quá khứ.

    Những tên "phản tướng" (tôi tránh dùng từ "cẫu tướng" sợ xúc phạm đến chú chó Leao) như Minh, Khiêm, Đôn, Dính, Kim, Xuân vv cũng phãi có những hành động tương tự để ăn năn về hành dộng phản chủ cũa mình.


    Chùa Từ Đàm, nơi Phật ngự đã trỡ thành lò sát sinh cũa các tín hữu Công giáo Phú Cam Huế (1968)

    - Cụ Diệm ra lệnh cho bào đệ Ngô Dình Cẫn: hãy tiếp tế TIỀN (để tu bỗ sữa sang chùa Từ Đàm) & GẠO (để nuôn ăn các sư trong chùa) và đặc biệt là tên thầy tu zỗm Thích Trí Quang (một tên CS lợi dụng cái áo kàsa cũng như uy tín cũa PGVN để nuôi ăn các sư sãi chùa Từ Đàm (Huế).

    Chùa Từ Đàm là nơi mà vào thời thơ ấu, tôi thường hay đến ăn cơm chay vào những ngày Phật Đản - thế mà tên TTQ đã lợi dụng cơ hội để xách động đám phật tữ nông nỗi: sau khi chúng ăn no thì ngày đêm lo toa rập với bọn CSBV để đánh phá VNCH đồng thời sai đám đao fũ Nguyên Đắc Xuân, HPNPhan, HPNTường vv đi giết người hằng loạt ..tạo ra các nấm mộ tập thễ mà tỗng cộng lên dến +/-7,000 số nạn nhân vô tội ở Huế.. nhầm ngày TẾT MẬU THÂN 1968 .



    - TT Ngô Dình Diệm đã xây dựng Viện Đại Học Huế từ con số không …nhờ sự giao thiệp khéo léo, khôn ngoan cũa Lm Cao văn Luận, Viện Trưỡng mà đã nhận dược sự viện trợ tài chánh cũng như kỹ thuật từ các nước Tây phương để thành lập đầy đủ các phân khoa đại học ..


    Viện Đại Học Huế là cơ sỡ giáo dục đầu tiên cũa Xứ Huế thân yêu của tôi nói riêng và Miền Trung nói chung ..

    - Viện Đại Học Huế là sự hãnh diện của các thanh niên Huế cũng như Miền Trung từ dó.

    NHƯNG đau đớn thay, Viện Đại Học Huế đã trỡ thành hang ỗ chứa chấp mầm móng phản loạn chống lại 2 chế độ: đệ I đệ II CH do tên n bộ CSBV TTQuang chũ xướng và cuối cùng, đã đem đến sự sụp đỗ toàn vẹn cũa Miền Nam.

    Ngay lành mà nhận xét: Thế mà vẫn có nhóm người (CS nằm vùng ở hãi ngoại) thường fao vu là:

    - Chế độ Diệm đàn áp Phật Giáo !!!


    - Giết các sư sãi và chôn trong vườn cũa ông Ngô Đình Cẫn tại Phũ Cam !!


    - Bắt các sư sãi bõ vào rọ heo thã sông!!


    - Xây khu 9 hầm đễ tiêu diệt Phật giáo tại Huế (nhưng trong thực tế khu 9 hầm là do Pháp xây dựng từ lâu đễ giam giữ những kẽ chống đối Pháp trong giai đoạn Tây còn đô hộ Vietnam…) ..còn nhiều thứ nữa ...


    Đã chẵng có một sự thật nào đễ xác quyết các vụ fao tin đồn nhãm nầy.


    Bằng chứng rõ ràng nhất là Ũy Ban điều tra cũa LHQ, sau khi qua tìm hiễu sự thật tại chỗ, đã phũ nhận các tố cáo vu vơ đầy ác ý trên.

    Tuy vậy, hiện nay vẫn có những tên CS nằm vùng tại hãi ngoại, ngày đêm vẫn dùng các luận điệu cũ rích với mục đích là xuyên tạc hầu đánh phá uy tín cũa Ngô Tỗng Thống: Vị ân nhân cũa gần 1 triệu người Bắc di cư vào Nam.

    Tỗng Thống Diệm đã được tôn sùng làm người Cha khã kính cũa người Bắc di cư nói riêng và người Việt khắp nơi trên toàn cầu nói chung.


    Matthew Trần
    Last edited by NASA1517; 08-26-2011 at 10:15 AM.

  20. #60
    Join Date
    Oct 2004
    Posts
    249
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Phật Giáo Có Đường Lối Riêng

    VÀI NÉT VỀ “CỤ DIỆM”

    Tam Đại Việt Gian Ngô Đình Diệm & Ngô Đình Nhu Đền Tội Nợ Máu Nhân Dân
    VÀI NÉT VỀ “CỤ DIỆM”

    Trần Chung Ngọc
    Phần I.


    Đã viết về “Cụ Hồ” mà lại không viết về “Cụ Diệm” thì quả là một điều thiếu sót, vì dù sao ông Diệm cũng đã là Tổng Thống của miền Nam trong 9 năm . Nhưng bài này tuyệt đối không phải để đối chiếu so sánh “Cụ Diệm” với “Cụ Hồ” vì không ai có đôi chút hiểu biết lại đi làm công việc vô trí này. Tại sao? Vì một đằng suốt đời sống gian khổ, tổ chức, tập họp những người yêu nước chống Pháp, mong giành lại độc lập và thống nhất cho đất nước [Cụ Hồ], một đằng làm quan cho Pháp, bắt người yêu nước chống Pháp tra khảo, rồi nằm yên vị trong các Trường Dòng Công Giáo ở Mỹ, Bỉ trong khi nước nhà sôi bỏng vì chiến tranh, kháng chiến chống Pháp trở lại Đông Dương, rồi phút cuối trở về làm “chí sĩ cứu tinh dân tộc” [Cụ Diệm]. Đã có nhiều sách viết về biến cố ông Ngô Đình Diệm về chấp chánh ở miền Nam. Và không ai có thể phủ nhận là chính cựu Hoàng Bảo Đại đã bổ nhiệm ông Diệm về làm Thủ Tướng. Nhưng những chi tiết từ đâu mà cựu Hoàng Bảo Đại bổ nhiệm ông Diệm thay vì không phải ai khác thì rất ít được viết đến. Có chăng chỉ là sơ sài như ông Diệm được Hồng Y Spellman ủng hộ hay được chính giới Mỹ ủng hộ, tuy rằng dân Việt không có ủng hộ, vì khi đó chẳng có mấy người biết đến ông Diệm .
    * VIỆT NAM MÁU LỮA QUÊ HƯƠNG TÔI: Hoành Linh Đỗ Mậu
    * CUỘC CÁCH MẠNG 01-11-1963 - HOÀNH LINH ĐỖ MẬU
    * DỤ SỐ 10 – NGÀY 6/8/1950
    * NGÔ ĐÌNH KHẢ LÀ AI?
    * DÒNG HỌ BA ĐỜI LÀM VIỆT GIAN Ngô Đình Thục
    * NGHỈ GÌ VỀ HAI DÒNG HỌ THÔNG GIA Ở HUẾ
    * BA CÁI CHẾT SAU NỬA THẾ KỶ
    * Vụ Hà Thúc Ký Mưu Sát Ngô Đình Diệm Năm 1957
    * CẦN LAO CÔNG GIÁO....PHẤT CỜ PHẢN QUỐC PHỤC NGÔ
    * MẠN ĐÀM NGUYỄN GIANG - BÙI TÍN - NGUYỄN XUÂN PHONG
    * Bà Quả Phụ Trịnh Minh Thế Nói Chuyện... Ngô Đình Diệm Giết Tướng Trịnh Minh Thế
    * KHU BIỆT GIAM CHÍN HẦM....TAM ĐẠI VIỆT GIAN DÒNG HỌ NGÔ ĐÌNH
    * TAM ĐẠI VIỆT GIAN NGÔ ĐÌNH DIỆM CÓ ĐỨA CON TRAI?
    * KHẨU CUNG: PHAN QUANG ĐÔNG
    * Vụ Hành Quyết Ông Ngô Đình Cẩn 1964 Trịnh Quốc Thiên
    * Sự Thật Sau Cái Chết Của Ông Ngô Đình Cẩn


    Chúng ta biết rằng Ông Ngô Đình Diệm không phải là một khuôn mặt chính trị có tầm vóc ở Việt Nam, được nhiều người biết đến trước khi được đưa về Việt Nam làm Thủ Tướng vào tháng 6, 1954. Thành tích của ông trong thời Pháp thuộc không lấy gì làm sáng sủa, chưa kể ông thuộc dòng họ ba đời làm Việt Gian. Thành tích “yêu nước” nổi bật nhất của ông là trong thời Pháp thuộc, khi làm Tri Phủ Hòa Đa, ông đã dùng đèn cầy đốt hậu môn của những người yêu nước chống Pháp để tra khảo. Chúng ta cũng biết, từ năm 1950, ông đã rời quê hương đất tổ của ông để sống trong các Trường Dòng Công Giáo ở Mỹ và ở Bỉ. Vì những thành tích này mà khi ông về cầm quyền, những người Công giáo đã tôn ông lên làm “chí sĩ”, và người dân miền đã Nam bị cưỡng bức phải ca bài “Toàn dân Việt Nam biết ơn Ngô Tổng Thống; Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm”. Cuối cùng, “muôn năm” chỉ có vỏn vẹn “chín năm”, và ông đã yên nghỉ cùng Chúa và ông bạn vàng Torquemada (một Đại Phán Quan Tây Ban Nha giống như ông Diệm đã từng tự nhận), tới nay được 43 năm rồi.
    Một câu hỏi được đặt ra: với một thành tích “yêu nước” và chính trị không có gì, với một khả năng rất giới hạn, tài và đức đều không có, vậy tại sao ông Diệm lại được chọn để làm Thủ Tướng ở miền Nam? Có lẽ những chi tiết trong cuốn “The American Pope: The Life and Times of Francis Cardinal Spellman”, A Dell Book, NY, 1985, của John Cooney, tạm gọi là đầy đủ nhất. Để viết cuốn sách này, tác giả Cooney đã xử dụng những nguồn tài liệu từ chính Nhật Ký của Spellman, những hồ sơ mật của FBI, và qua những cuộc phỏng vấn, nên tác phẩm của Cooney là một nguồn tài liệu rất có giá trị [By using Spellman’s personal diary, FBI classified files, and interviews, Cooney’s volume is an engrossing, valuable document]. Vậy sau đây, tôi xin trích dẫn vài đoạn trong phần nói về ông Diệm trong cuốn sách trên, từ trang 307 đến trang 314.
    “Tuy rằng không có mấy người biết điều này, Hồng Y Spellman đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên sự nghiệp chính trị của một người đã ở trong một Trường Dòng ở New York trước đây, vừa trở thành Thủ Tướng của miền Nam Việt Nam: Ngô Đình Diệm. Ở Diệm, Spellman nhìn thấy những đặc điểm mà ông ta muốn có trong mọi người lãnh đạo: Công Giáo nồng nhiệt và chống Cộng điên cuồng.
    Spellman đã gặp Diệm ở New York vào năm 1950, khi người Việt Nam này ở trong Trường Dòng Marykoll ở Ossining, New York. Một tín đồ Công giáo trung thành, sinh ra từ một gia đình gia giáo, Diệm ở trong Trường Dòng do sự cầu xin của người Anh, Ngô Đình Thục, một Giám mục Công giáo. Là một người độc thân rất sùng tín, Diệm đã tự tách mình ra khỏi thế giới, đặc biệt là ra khỏi quốc gia tan tác bởi chiến tranh của ông ta. Và ông ta chỉ được biết đến bởi một nhóm nhỏ hoạt động chính trị ở Mỹ. Ở Việt Nam tên ông ta không gây nên một hứng thú nào. Trên chính trường Mỹ, ông ta không được ai biết đến, một tình trạng mà Spellman giúp ông sửa đổi. Lai lịch của Diệm không tránh được sự chú ý của Spellman.
    Người đưa Diệm đến Spellman là Linh mục Fred McGuire. Một cựu thừa sai ở Á Châu, kiến thức về Viễn Đông của McGuire được biết rõ ở Bộ Ngoại Giao. McGuire nhớ lại, một ngày nọ ông được Dean Rusk, khi đó làm trưởng ban Á Châu vụ, nhờ dàn xếp để Giám mục Thục, sắp đến Mỹ, tới gặp các viên chức của Bộ Ngoại Giao. Rusk cũng tỏ ý muốn gặp Diệm.
    McGuire tiếp xúc với người bạn lâu đời, Giám Mục Griffiths, vẩn còn là chuyên viên ngoại vụ của Spellman. Hắn ta yêu cầu sẽ để cho Thục được tiếp kiến đúng nghi thức bởi Hồng Y. Trong dịp này Diệm đã từ Trường Dòng đến nhà riêng của Spellman. Cuộc gặp gỡ giữa Spellman và Diệm có thể là một cuộc gặp gỡ lịch sử. Joseph Buttinger, một người hoạt động cho những người tị nạn Việt Nam, tin rằng Hồng Y Spellman là người Mỹ đầu tiên nghĩ đến việc đưa Diệm về lãnh đạo Nam Việt Nam.
    Tháng 10 1950, hai anh em Diệm đã gặp các viên chức Bộ Ngoại Giao ở khách sạn Mayflower, có cả Rusk. Diệm và Thục được tháp tùng bởi McGuire và ba giới chức chính trị của giáo hội khi đó đang hoạt động để ngăn chận Cộng Sản: Linh mục Emmanuel Jacque, Giám mục Howard Carroll, và Edmund Walsh ở đại học Georgetown. Mục đích của cuộc gặp gỡ này là hỏi hai anh em Diệm Thục về đất nước của họ và xác định những niềm tin chính trị của họ. Điều rõ ràng sau đó là cả Thục và Diệm đều tin rằng Diệm sẽ cai trị đất nước của họ. Sự kiện là Việt Nam chỉ có 10% Công Giáo không đáng quan tâm đối với hai anh em Diệm.
    Khi bày tỏ ý kiến trong bữa ăn tối, hai lập trường Diệm tin tưởng nhất đã rõ ràng. Hắn ta tin vào quyền năng của Giáo hội Công Giáo và hắn ta thù địch dữ dội và quyết liệt chống Cộng. Điều này chắc đã phải gây ấn tượng trên các viên chức Bộ Ngoại Giao. Quan tâm đến Việt Nam từ khi Truman bắt đầu giúp tài chánh cho Pháp ở đó (Việt Nam), những viên chức Bộ Ngoại Giao đã luôn luôn để ý đến những người lãnh đạo chống Cộng cực đoan vì ảnh hưởng của Pháp đã phai nhạt. Sau Điện Biên Phủ, Eisenhower muốn ủng hộ một chính phủ mở rộng hơn là chính phủ của ông Vua, người không được quần chúng ủng hộ mấy vì đã từ lâu bị coi như là một bù nhìn của Pháp và Mỹ. Do đó Mỹ muốn có một người Quốc Gia ở địa vị cao ở Nam Việt Nam để làm giảm sự hấp dẫn của Hồ Chí Minh. Kết quả là Bảo Đại đã cho Diệm một chức vụ mà Diệm mà Diệm vẫn muốn – Thủ Tướng. [[Về chuyện này Bernard Fall viết trong The Two Viet-Nams, trang 244: “Ý thức được rằng mình đang ném ngai vàng đi, Bảo Đại bắt Diệm phải thề (Theo Stanley Karnow, trang 218, Bảo Đại bắt Diệm thề trước cây Thánh Giá [before the crucifix]) trung thành với ông, và nhiều nhân chứng có thẩm quyền quả quyết là Diệm cũng còn quỳ xuống trước Hoàng Hậu Nam Phương là sẽ làm hết sức trong phạm vi quyền lực của mình để “giữ ngai vàng cho Hoàng Tử Bảo Long, con của Bảo Đại” (Fully realizing that he was throwing his throne away, Bao Dai allegedly made Diem swear a solemn oath of allegiance to him, and several authorative witnesses affirm that Diem also swore on his knees to Empress Nam-Phuong that he would do everything in his power “to preserve the throne of Viet-Nam for Crown Prince Bao-LOng”, son of Bao Dai.) Nhưng chúng ta đã biết, chỉ hơn 1 năm sau, Diệm đã dùng tiền của CIA để tổ chức cuộc Trưng Cầu Dân Ý gian lận để phế bỏ Bảo Đại và lên làm Tổng Thống. Về vụ này Bernard Fall cũng viết, trang 257: “Trong hầu hết các nơi bỏ phiếu, có nhiều ngàn phiếu nhiều hơn là số cử tri đã bỏ cho Diệm . Thí dụ, Ở vùng Saigon-Chợ Lớn, đếm được 605,205 phiếu trên số 450,000 cử tri ghi danh”. (In nearly all electoral areas, there were thousands more “Yes” votes than voters. In the Saigon-Cholon area, for example, 605,025 votes were cast by 450,000 registered voters)]]
    Diệm trở về Saigon ngày 26 tháng 6, 1954, sau Edward Lansdale vài tuần. Lansdale là trùm CIA về quân sự ở Saigon, đặc trách cuộc chiến không theo quy ước [có nghĩa là đánh phá ngầm]
    Lập trường của Spellman về Việt Nam phù hợp với những mong ước của giáo hoàng. Malachi Martin, một cựu tu sĩ dòng Tên phục vụ tại Vatican trong những năm Mỹ leo thang chiến tranh ở Việt Nam, nói rằng giáo hoàng muốn Mỹ ủng hộ Diệm vì giáo hoàng đã bị người anh của Diệm, Tổng giám mục Thục, ảnh hưởng. “Giáo hoàng quan tâm đến sự càng ngày càng thắng lợi của Cộng sản do đó làm suy yếu giáo hội,” Malachi xác nhận rằng: “Giáo hoàng ra lệnh cho Spellman khuyến khích Mỹ tham chiến ở Việt Nam.”
    Do đó Spellman xếp đặt một chiến dịch hòa điệu kỹ càng để dựng lên chế độ Diệm. Qua báo chí và vận động trong hậu trường ở Washington, vấn đề đối đầu chống Cộng ở Đông Dương được phổ biến rộng rãi ở Mỹ.
    Spellman và Kennedy cũng còn giúp lập lên một nhóm vận động hậu trường Washington. Chủ trương của sự đồng minh này là chống Cộng và phát huy ý hệ Công Giáo.
    ..Do đó, rất nhiều người Mỹ tin rằng Việt Nam là một quốc gia phần lớn là Công Giáo. Một phần của cái ấn tượng sai lầm này là kết quả của việc Diệm lên cầm quyền. Với sự giúp đỡ của CIA tổ chức cuộc bầu cử gian lận năm 1955, Diệm hủy bỏ chế độ quân chủ và Bảo Đại bị cưỡng bức phải sống trong cảnh lưu đầy. Cái màu sắc Công Giáo đậm đà trong cuộc vận động hậu trường Việt Nam cũng góp phần tạo nên quan niệm sai lầm trên. Còn một yếu tố khác là sự đặt mình vào trong đường lối trên của Spellman.
    Rồi còn có vai trò hấp dẫn của một bác sĩ Công giáo trẻ hoạt động ở Việt Nam tên là Tom Dooley. Một Trung Úy hải quân hoạt động ở Hải Phòng, Dooley làm việc với các người tị nạn.
    Là con cưng của Spellman, có một lúc Dooley tổ chức được 35,000 tín đố Công Giáo Việt Nam ở miền Bắc đòi di cư. Có lẽ những nỗ lực của Dooley thành công ở Mỹ hơn là ở Việt Nam. Hắn viết ra những bài trong nhật báo và tuần báo và 3 cuốn sách bán chạy nhất để tuyên truyền cho Công Giáo và chống Cộng theo những niềm tin của hắn. Hắn dựng lên những chuyện người Công Giáo bị khổ nạn trong tay của những người Cộng Sản đã đánh đập vào bộ sinh dục của các linh mục trần truồng, chọc thủng màng tai của những đứa trẻ bằng đũa để cho chúng không nghe được về Thiên Chúa, và mổ bụng phụ nữ có thai. Tốt nghiệp đại học Notre Dame ở Indiana [thực ra Dooley không tốt nghiệp bác sĩ từ đại học Notre Dame mà từ đại học St. Louis. Trường Notre Dame có tiêu chuẩn cao nên Dooley không theo được và phải bỏ Notre Dame theo học ở St. Louis. Nhưng ngay ở đây, Dooley cũng học rất kém, phải học lại năm cuối, và khi làm nội trú cũng phải làm thêm 6 tháng. Nhưng vì những công việc chống Cộng bịp bợm nên Dooley đã trở thành nổi tiếng như là một bác sĩ tận tụy giúp người di cư và chống Cộng cực đoan. Vì vậy năm 1960, trường Notre Dame trao tặng cho Dooley chức bác sĩ hàm] , Dooley đi khắp nước Mỹ để quảng cáo những cuốn sách của mình và hô hào chống Cộng, rồi chết năm 1961, khi mới có 34 tuổi. Người cuối cùng đến bên giường bệnh của Dooley là Hồng Y Spellman, người đã tôn ông bác sĩ trẻ như là nguồn cảm hứng cho mọi người – một thánh tử đạo khác. Tiếng tăm của Dooley không suy giảm cho đến khi Ủy Ban phong Thánh của Công Giáo La Mã điều tra năm 1979 và khám phá ra rằng Dooley có liên hệ với CIA. [Muốn biết sự thực về con người của Tom Dooley, xin đọc bài “Doctor Tom Dooley” của Peter Brush trong mục các bài tiếng Anh]
    Dooley đã giúp CIA tạo loạn cho Bắc Việt qua những chương trình tị nạn của hắn. Những người Công Giáo đổ vào miền Nam đã mang đến cho Diệm một hậu thuẫn chính trị lờn và được hứa hẹn của Mỹ giúp đỡ để tái định cư. Quần chúng Mỹ phần lớn tin rằng hầu hết những người Việt Nam đều khiếp sợ sự độc ác và khát máu của Việt Minh và tìm đến ông Diệm sợ Chúa để được giải thoát. Nhiều người tị nạn chỉ sợ bị trả thù vì mình đã ủng hộ Pháp.
    ...Sự tuyên truyền của Spellman về bản chất Công Giáo của chính quyền Diệm đã làm rõ rệt thêm hình ảnh không đẹp về vị thế của giáo hội ở Việt Nam. Cái bản chất tôn giáo của chính quyền Diệm và những vấn đề chính quyền đó tạo ra đã được ghi nhận bởi Graham Greene, một tín đồ Công Giáo, trong một bài viết từ Saigon, in trong tờ London Sunday Times ngày 24 tháng 4, 1955:
    “Chính cái giáo thuyết Công Giáo đã làm cho chính quyền Diệm sụp đổ, vì sự sùng tín của ông ta đã bị những cố vấn Mỹ khai thác cho đến khi giáo hội ở trong nguy cơ làm mất lòng dân như Mỹ. Một cuộc viếng thăm không thích hợp của Hồng y Spellman (Hồng Y Spellman đến Việt Nam để nâng uy tín của Diệm đồng thời bi thảm hóa của cuộc di cư lớn lao của người Công Giáo “dramatizing once more the great exodus of refugees from the North, the greater part of whom are Catholics.”)Một linh mục Việt Nam nói: Ông ta (Spellman) nói nhiều về con bò vàng [mà một số người Do Thái thờ phụng như được viết trong Cựu ước. TCN] hơn là về Mẹ Thiên Chúa] đã được tiếp nối bởi những cuộc viếng thăm của Hồng y Gillroy và Tổng Giám mục ở Canberra. Những số tiền lớn lao đã được dùng để tổ chức những cuộc biểu tình đón tiếp những vị khách này, đưa ra một ấn tượng là giáo hội Công Giáo là của Tây phương và là đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến tranh lạnh. Trong những trường hợp hiếm hoi mà ông Diệm thăm viếng những vùng của Việt Minh trước đây, bao giờ cũng có một linh mục đứng bên, và thường là một linh mục Mỹ.
    ...Nam Việt Nam, thay vì đối đầu với chế độ toàn trị của miền Bắc bằng những bằng chứng về tự do, lại rơi vào một chế độ độc tài bất hiệu lực: dẹp bỏ báo chí, kiểm duyệt chặt chẽ, lưu đầy bằng lệnh của chính quyền thay vì phải được xét xử ở tòa án. Thật là bất hạnh khi một chính quyền như vậy lại đồng nhất hóa với một đức tin. Ông Diệm rất có thể đã để lại trên đất nước đầy tinh thần khoan nhượng này một di sản chống-Công Giáo.”
    Trong cuộc viếng thăm, Spellman đã trao một ngân phiếu 100,000 đô-la cho Tổ Chức Cứu Trợ Công Giáo, một tổ chức hoạt động tích cực trong chương trình tái định cư những người di cư và sau đó cai quản chương trình viện trợ của Mỹ, chứng tỏ Tổ Chức này sát cánh với nỗ lực chiến tranh của Mỹ và đưa tới sự nghi ngờ là Tổ Chức có liên hệ với CIA. Dùng Giáo hội để làm chức vụ như vậy đã được thi hành ở Châu Mỹ La-Tinh, ngoài nhiều nơi khác, nhưng ở Việt Nam có vẻ đúng như những lời khuyến cáo của Graham Greene là Giáo hội và Mỹ đã cùng nhau thi hành một đường lối thất nhân tâm đối với những người Việt Nam.
    Khả năng tham nhũng ở Việt Nam rất cao và cũng làm hại tới uy tín của Tổ Chức Cứu Trợ. Drew Parson ước tính chỉ trong năm 1955 chính quyền Eisenhower đã bơm vào Việt Nam trên 20 triệu đô-la viện trợ giúp người tị nạn Công giáo. Không thể tránh được, có quá nhiều gắn ghép và tham nhũng trong việc phân phối thực phẩm, thuốc men, và các đồ dùng khác tới các làng mạc. Tờ National Catholic Reporter đã phúc trình những sự lạm dụng của Tổ Chức Cứu Trợ Công Giáo trong nhiều bài mà một bài có đầu đề là: “Việt Nam 1965-1975. Vai Trò của Tổ Chức Cứu Trợ Công Giáo: Công Trình Của Chúa – Hay Của CIA?” Những sự lạm dụng bị phanh phui gồm có: dùng viện trợ để truyền đạo, chỉ giúp những người Công Giáo tuy viện trợ là cho tất cả mọi người, đồng nhất hóa với quân lực, và đem cho binh lính Mỹ và Việt thay vì cho dân sự như mục đích của viện trợ. [Những người ở Việt Nam thời đó đều biết rõ các Linh mục Công Giáo Việt Nam và tổ chức Công Giáo được giữ độc quyền để phân phát viện trợ. Sự phanh phui trên là từ một tờ tuần báo của chính Công Giáo] 1
    Qua tài liệu trên, và phối hợp với nhiều tài liệu khác, thí dụ như của Joseph L. Daleiden, một học giả Công Giáo trong cuốn The Final Superstition, chúng ta thấy rõ vai trò then chốt của Vatican đã dự phần đưa tới việc Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Chúng ta cũng còn biết, Hồng Y Spellman đã đến Việt Nam nhiều lần, đi tới các tiền đồn để khuyến khích lính Mỹ chiến đấu cho Chúa: “Trong một bài học thuộc Giáo hội thời Trung Cổ, Spellman bảo với binh sĩ Mỹ là họ là những “thánh chiến quân” tham gia vào cuộc chiến của Chúa Ki Tô chống Việt Cộng và dân chúng Bắc Việt” (John Cooney, p.384: In a lesson from the medieval Church, Spellman told the troops they were “holy crusaders” engaged in “Christ’s war against the Viet-cong and the people of North Vietnam). Nhưng tại sao Chúa lại chống Cộng ở một nước nhỏ bé như Việt Nam, sao Chúa không chống Cộng ở Nga, ở Tàu, hay ở Ba Lan, Tiệp Khắc ngay bên Âu Châu? Vatican, thêm một lần nữa, đã mang tội với dân tộc Việt Nam và các tín đồ Công Giáo Việt Nam phải gánh cái hậu quả này. Chúng ta cũng thấy rõ, Ngô Đình Diệm chẳng qua chỉ là một con cờ của liên minh Mỹ-Vatican. Và Ngô Đình Diệm không thể ngờ được rằng về sau, vì quyền lợi của Vatican và của Mỹ, cả Vatican và Mỹ đều bỏ rơi mình, đưa đến một kết quả quá bi thảm cho chính bản thân. Thật là tội nghiệp. Dưới hình thức nào thì thực dân cũng đều như nhau. Ngày nay, những tàn dư của Cần Lao còn cố gắng “phục hồi tinh thần Ngô Đình Diệm” mà không biết rằng họ đang phục hồi tinh thần Trần Ích Tắc.
    Để cho công bình, chúng ta cũng còn phải xét thêm việc từ khi về làm Thủ Tướng và rồi tự lên làm Tổng Thống, “Cụ Diệm” đã làm gì cho đất nước? Đã có nhiều sách viết về nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa: Đỗ Mậu, Lê Trọng Văn, Hồ Sĩ Khuê, Nguyệt Đam & Thần Phong, Nguyễn Mạnh Quang, Vũ Ngự Chiêu v..v... Nhưng xin đọc Phần II để biết người Tây Phương đánh giá ông Ngô Đình Diệm như thế nào.


    Như ong đến với hoa

    Không hại sắc và hương

    Che chở hoa lấy nhụy

    Bậc Thánh đi vào làng.

Page 3 of 6 FirstFirst 123456 LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •