Page 5 of 5 FirstFirst 12345
Results 81 to 99 of 99

Thread: Thương cho Dân Việt sống với việt cộng .

  
  1. #81
    Join Date
    Nov 2006
    Posts
    6,719
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Thương cho Dân Việt sống với việt cộng .

    Câu chuyện người 'rơm' ở Na Uy

    Cập nhật lúc 25-11-2011 20:27:46 (GMT+1)
    Người rơm tại Pháp. Ảnh minh họa
    Người 'rơm', một khái niệm về người Việt tại Châu Âu không có giấy tờ và thường được giao làm những việc không minh bạch như 'Bạch Mã'. Tiếng lóng này dùng nhiều tại Anh, Pháp và một số nước khác tại Bắc Âu.
    Căn phòng nằm trên bờ con sông con Askerelva chảy qua trung tâm thủ đô Oslo. Qua cửa kính ra ban-công, Diễm nhìn những cây phong lá úa vàng soi bóng trên nước, tưởng tượng nếu đây là một căn phòng trong ký túc xá sinh viên, với người yêu bên cạnh, thì thơ mộng biết bao. Nhưng bây giờ trước mặt nàng là ông cảnh sát di trú và bên phải là một người con gái, cỡ tuổi Diễm. Cô xin tầm trú. Trước khi lên đây, một bà cảnh sát đã khám xét người và hành lý của cô. Bà muốn tìm biết cô gái thật sự là ai, tên tuổi thật là gì, nhà cửa thật ở đâu. Trong ba bốn năm gần đây, nẩy ra một hiện tượng mới là mỗi năm có vài chục người Việt Nam tới xin tầm trú tại Na-uy, không một người nào là… người thật. Báo chí Na-uy gọi họ là ingen person, tương đương với nobody, Diễm và các đồng nghiệp thông dịch viên dịch đùa từng chữ là ‘vô nhân’. Trong cái túi xách nhỏ, có hình hai bàn chân, bà cảnh sát chỉ moi ra được một cái quần tây, một áo thung, một xú-chiêng, hai xì líp, một típ kem đánh răng, một bàn chải. Chân dung thật của cô gái không nằm trong cái túi xách. Bây giờ Diễm dịch cho ông cảnh sát thẩm vấn. “Cô tên gì?” ông cảnh sát hỏi, sau khi bật máy PC. “Nguyễn Thị Vân.” “Ngày sanh?” “25.12.1988.” “Như vậy là cô sanh vào lễ Giáng Sinh và năm nay cô 16 tuổi?” ông cảnh sát chiếu ánh mắt nghi ngờ trên cô gái ngồi trước mặt. Diễm đoán người đồng hương này nếu không già bằng Chúa Cứu Thế thì ít nhất phải hai mươi lăm tuổi. Nàng biết theo luật lệ hiện hành, trẻ vị thành niên được nhiều đoàn thể can thiệp và bảo vệ, và nếu được chấp thuận tị nạn thì có thể kéo thêm cha mẹ, em út. Nhưng Diễm đoán lầm về vụ kéo thêm cha mẹ: “Tên cha?” ông cảnh sát hỏi tiếp. “Nói chung… Tôi không có cha.” “Tên mẹ?” “Tôi không có mẹ.” “Ít nhất cũng có một người sanh ra cô chớ?” “Tôi mồ côi từ nhỏ, không biết gì cả…” “Cô có giấy tờ gì không, như sổ thông hành, căn cước chẳng hạn?” “Không.” “Không có giấy thông hành, làm thế nào cô có thể đi ra khỏi Việt Nam, và qua bao nhiêu biên giới tới đây được?” “Không biết. Người ta đưa tôi đi.” “Người ta là ai?” “Nói chung nà người giắt đi đấy.” “Có khi nào họ đưa qua trạm kiểm soát biên giới không?” “Tôi không biết đâu là biên giới.” “Cô rời khỏi Việt Nam bao giờ?” “Không nhớ.” “Cô nói phỏng chừng cũng được,” ông vẫy vẫy những ngón tay như con chim bay “một năm, một tháng, hay một tuần?” “Khoảng một tháng.” “Cô nhớ đã đi qua một thành phố nào đặc biệt, ví dụ Paris, Berlin, Bắc Kinh?” “Không nhớ. Không biết.” Suốt hai tiếng đồng hồ với hàng trăm câu hỏi, người cảnh sát chỉ nhận được một câu trả lời rất ư thoải mái “không biết.” Chạm phải những lời nói dối quá xấc xược, ông đỏ gay mặt như người bị xúc phạm nặng, nhưng lấy lại bình tĩnh, gõ vào máy vài dữ kiện vu vơ. Thấy hồ sơ sơ sài quá, ông ta cố gắng nhắc lại lần thứ ba một câu hỏi: “Cô nói lại tôi nghe, cô từ Việt Nam tới Na-uy bằng phương tiện gì?” Cô gái chắc đã được học tập kỹ, dư biết rằng ông cảnh sát muốn truy ra hãng máy bay chuyên chở để qui trách nhiệm, nên quay sang thông dịch viên nói: “Chị lói với ló nà em đi bộ từ Cao Bằng sang Trung Quốc đấy, dzồi từ Trung Quốc đi bộ sang Nga, từ Nga sang đây bằng xe thùng đấy… Ðã lói mí ló dzồi mà cứ hỏi mãi thế!” Diễm dịch lại câu nói, bỏ câu ‘chị lói với ló’ đi – vì nàng biết nó ngắn ngủi thế mà không tài nào dịch hết ý được. Ông cảnh sát ghi vào hồ sơ lời khai, chẳng cần biết đoạn đường từ Cao Bằng sang Nga dài bao nhiêu dậm, đi bộ mấy năm. Rồi ngẩng đầu lên hỏi theo đúng thủ tục: “Cô muốn gì tại Na-uy?” “Xin tị lạn.” “Lý do tị nạn?” “Nói chung nà ở Việt Nam đói quá.” “Tại sao lại chọn Na-uy làm nơi tị nạn?” “Nói chung nà nghe người ta bảo ở La-uy sướng thì trả tiền cho đường giây đưa đi.” “Cô phải trả bao nhiêu tiền?” “Lăm ngàn đô.” “Số tiền này từ đâu cô có, nếu cô đói?” “Có cái ông gần nhà thấy tôi khổ thương hại cho tiền đi.” “Ông ấy tên gì?” “Không biết.” “Ðịa chỉ?” “Bên cạnh nhà tôi.” “Hồi nãy cô nói vô gia cư, từ nhỏ sống ở ngoài đường?” “Thì ở gần nhau ngoài đường.” Diễm nghĩ bụng nếu có một nơi mà người vô gia cư có nhiều tiền như thế và hảo tâm như thế nhất định nàng sẽ tới đó xin tị nạn. Nhưng ông ta khoanh tay, ngả lưng ra đằng sau như muốn thư dãn, rồi bấm nút ‘print’ vào máy PC. Bên ngoài ban-công một con bồ câu đáp xuống, thấy bóng nhiều người, lại bay đi. Ông cảnh sát đưa cô gái xuống phòng căn cước dưới tầng trệt để chụp hình, lăn tay, làm thẻ căn cước tạm. Diễm cũng là dân tị nạn – mệnh danh là ‘thế hệ thứ hai.’ Thấy cảnh này, Diễm nhớ lại những câu chuyện gian truân, bi hài mà ‘thế hệ thứ nhất,’ cha mẹ nàng, kể về chuyến vượt biên hai mươi sáu năm về trước, lúc nàng chưa sanh ra. Nhiều người hỏi tại sao phải liều mạng như vậy? Cha mẹ có một câu trả lời khá đặc biệt, tương đối khiêm nhường hơn phần đông – khát khao tìm một mảnh đất có thể lương thiện mà sống. Ông bà đã tìm được một mảnh đất như thế và sanh ra Diễm trên mảnh đất như thế. Diễm thừa hưởng tấm lương thiện như suối nhận nước mạch từ đỉnh núi cao tinh tuyền. Diễm không biết nói dối – gần như. Nói ‘gần như’ là để trừ những lần như mẹ hỏi có bồ chưa nói chưa, bố hỏi mua cái cà-vạt cho bố bao nhiêu nói nửa giá, bạn trai hỏi em giận cái gì, nói không có gì cả… Ông cảnh sát cầm từng ngón tay của cô gái lăn trên tấm kính đục, khi hình dấu tay hiện rõ nét và đầy đủ trên màn ảnh máy vi tính, với tín hiệu ‘Ready’, ông nhấn bàn đạp. Diễm nhìn những ngón tay thon khá đẹp của cô gái, tự hỏi tại sao cô có thể nói dối một cách tự nhiên như thế. Và Diễm cảm thấy một nỗi chán nản xen lẫn hổ thẹn về người cùng màu da. Một chiều đầu mùa đông. Trận tuyết đầu tiên trong thành phố khiến đường xá hỗn loạn vì tai nạn xe cộ. Diễm rút trong cặp đi làm ra tờ báo cũ đọc lại, cho qua thời gian trôi rất nhanh mà xe buýt chạy rất chậm, và bụng bắt đầu đoi đói. Tin có nghi vấn ông Arafat chết vì bị đầu độc; tin tuyết lở ở Miền Tây khiến 60 chiếc xe bị kẹt giữa đường; tin cảnh sát bắt được chín người trong một băng ăn cắp toàn người Việt Nam, hoành hành từ nhiều năm trên toàn quốc. Số thiệt hại cho các cửa tiệm lên đến nhiều chục triệu. Các mặt hàng được băng đảng này ưa chuộng là dao cạo Gillette, mỹ phẩm L’Oréal, nhất là thuốc quệt lông mày và tô mắt, có cả dầu cá. Chưa bắt được người đầu sỏ của tổ chức, nhưng trong số những người bị bắt có một người đàn bà tầm trú can dự vào 19 vụ có tang chứng, người này đã có bốn tiền án ăn cắp. Chuông điện thoại reo. Cảnh sát di trú cần Diễm đi thông dịch gấp. Cảnh sát hẹn mang xe đón đường xe buýt để rước Diễm đi ngay. Diễm moi gói bánh mì ăn dở ra ăn; nếu không bị kẹt xe, giờ này nàng đang ăn cơm với cha mẹ ở nhà, mẹ nói hôm nay sẽ làm món canh bí rợ. Cảnh sát Na Uy. Ảnh minh họa Cô cảnh sát di trú mặc thường phục chiều nay sẽ gặp một người đàn bà trong tù để thông báo lệnh trục xuất. Khi người tù xuất hiện trước cửa phòng tiếp khách, Diễm thấy mặt quen quen. Người thiếu phụ nặng nề ngồi xuống ghế bành, một tay đặt lên bụng lớn. Diễm để ý đến sự kiện nhỏ là trong căn phòng bây giờ có ba người đàn bà. Cô cảnh sát tự giới thiệu xong, mỉm cười hỏi cô tù, Diễm dịch lại: “Cô khỏe không?” “Khỏe.” “Bao giờ sanh?” “Hai tháng nữa.” Cô hắng giọng: “Hôm nay tôi đến đây để nói về một việc khác, không liên quan gì tới việc trộm cắp,” cô cảnh sát nói trong khi mở một cái kẹp hồ sơ bằng nhựa trong, lấy ra một tờ giấy. “Tôi đến để báo cho cô biết về lệnh trục xuất.” Người thiếu phụ mang bầu mặt không biến sắc, bàn tay vẫn để trên bụng, cánh tay kia vẫn để xuôi theo đùi trên ghế da. Cô cảnh sát đưa cho Diễm tờ quyết định của bộ Nội Vụ, bảo dịch miệng cho đương sự. Diễm dịch xong, đưa tờ giấy cho người con gái tên Vân ký tên. Bây giờ nàng đã nhớ ra đây là cô gái xin tầm trú vào đầu mùa thu. Nàng nhớ ra bàn tay đang đặt trên bụng kia đúng là bàn tay đẹp đặt trên tấm kính mờ để lấy dấu. Bàn tay táy máy trong bốn tháng nay làm điêu đứng các siêu thị và cửa hàng khắp nước. Lại cùng một cảm giác gờm nhớm len vào lòng Diễm. Cô cảnh sát cất tờ quyết định vào kẹp. Lấy một tờ giấy khác, cầm bút như sẵn sàng ghi chép. “Xin cô nghe đây,” cô cảnh sát mở đề cho một cuộc thẩm vấn cuối cùng. “Cô không đủ lý do xin tị nạn, cộng thêm việc phạm pháp, cô không có con đường nào khác ngoài đường trở về nơi cô đã ra đi.” “Thế thì trả tôi về Ðức.” “Tại sao lại Ðức? Cô đi từ Việt Nam mà!” “Tôi từ bên Ðức sang…” “Trong hai lần thẩm vấn trước đây cô nói từ Việt Nam, đi bộ sang Trung Quốc rồi sang Nga. Bây giờ lại nói từ Ðức sang. Lời nào là thật?” “Cái thai lày của một thằng Ðức.” “Nhiều lần chúng tôi đã hỏi cha của thai nhi là ai, cô đều nói là không biết.” “Không biết… thật đấy. Nói chung nà đêm không thấy mặt.” “Dù cô không biết gì hết, không biết mặt người ngủ chung, không biết mình là ai, không biết cha mẹ là ai, không biết từ đâu tới, chúng tôi vẫn có cách tìm ra cô là ai. Và chúng tôi sẽ liên lạc với tòa đại sứ Việt Nam cấp giấy cho cô về Việt Nam.” “Lói thật cũng chết, lói dối cũng chết…” người tù nói nhanh, rồi lại vội nói “Chị đừng dịch cho ló nghe nhá!” “Cô ấy nói gì?” thấy Diễm không dịch câu nói của người đối thoại, cô cảnh sát hỏi. “Cô ấy đổi ý, không muốn tôi dịch câu vừa nói.” Cô cảnh sát nhỏ giọng nói với người đàn bà mang thai: “Xin cô cộng tác với chúng tôi để tiến hành cho sớm việc hồi hương, tránh cho em bé khỏi sanh ra trong tù.” “Tôi cũng không muốn sanh con trong tù…” “Vậy tên thật cô là gì? Ðịa chỉ?…” Người tạm gọi là ‘Vân’ không trả lời. Diễm bỗng thấy nét mặt của Vân mềm ra, như có một lớp sáp vừa tan để lộ cảm giác – khuôn mặt của một con người. Bất cứ tên tuổi cô là gì, đây là một người mẹ. Người mẹ đặt cả hai tay lên bụng, cúi xuống lẩm bẩm: “Con tôi sinh trong tù à?”
    Quê hương đẹp nhưng nghèo.
    Rồi im lặng. Diễm cảm thấy xót xa trong lòng. Cảm giác gờm nhớm từ bốn tháng nay biến thành một cảm giác ân hận. Diễm nghĩ đến thân phận chính mình – sở dĩ mình sống nhởn nhơ được, buổi sáng đứng bán nhà thuốc tây, buổi chiều đi nhảy aerobic, lâu lâu đi thông dịch lấy ngoại tài mua son phấn không cần ăn cắp… là vì cha mẹ mình đã chọn được con đường đúng ý nguyện: tới một nơi có thể lương thiện mà sống được. Không, không phải cha mẹ chọn. Ðó là Trời ban. Ba chục năm nay, bây giờ ‘Kho Trời’ đã khóa. Nếu cha mẹ nàng chậm chân, không chừng giờ này Diễm cũng là một người mở miệng bằng câu không biết, và không từ làm bất cứ việc gì để sinh tồn. Lợi dụng lúc cô cảnh sát nói chuyện với bà gác tù, Diễm phá chút qui củ thông dịch, đưa tay bắt bàn tay mềm và ẩm của Vân, chúc may mắn và ai ủi vài câu. Vân tỏ ra cảm động. Cuối cùng, nghĩ tới mai mốt Vân lên máy bay về Việt Nam, Diễm ái ngại hỏi: “Liệu người lương thiện có sống được ở Việt Nam không?” “Nương thiện nà cái gì?”Tâm ThanhNguồn: danchimviet



    http://vietinfo.eu/viet-nam-que-huon...m-o-na-uy.html

    Làm theo chú dũng,nhỏ hoh đi học lớn lên làm thủ tướng Vietnam

  2. #82
    Join Date
    Nov 2006
    Posts
    6,719
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Thương cho Dân Việt sống với việt cộng .

    Xôn xao clip thiếu nữ khỏa thân nghi cho trai Hàn tuyển vợ .

    Clip dài gần 20 phút quay cảnh gần chục cô gái cởi hết quần áo uốn éo trình diễn trước mặt những người đàn ông nước ngoài, đang được truyền nhau trên các trang mạng xã hội.


    Các cô gái khoác khăn tắm và từ từ trút bỏ trước mặt những người đàn ông. Ảnh từ clip.

    Đoạn video quay cận cảnh cho thấy khoảng chục cô gái trẻ chỉ khoác lên người tấm khăn trắng đang xếp hàng. Sau khi được một "MC" xướng tên, lần lượt từng người trong số đó bước lên phía trước, rụt rè cởi bỏ tấm khăn và uốn éo phô toàn bộ thân thể trước mặt hàng chục người đàn ông trầm trồ bình phẩm.

    Hiện chưa xác minh được thời gian, địa điểm và các cô gái trong đoạn clip là người nước nào. Song khi so sánh với những hình ảnh trong các vụ môi giới lấy chồng Hàn mà cơ quan chức năng đã phát hiện và xử lý, nhiều người cho rằng quang cảnh giống như trong một "động tuyển vợ Việt Nam" của các quý ông Hàn Quốc. Tiêu đề của clip khi được tung trên mạng cũng là "Thiếu nữ khỏa thân cho trai Hàn tuyển vợ".


    Một cô gái đang "trình diễn" nude. Ảnh từ clip.

    Thống kê hồi tháng 8/2010 của báo chí Hàn Quốc cho thấy, số cô dâu Việt Nam lấy chồng nước này ngày càng gia tăng (32.311 người, chiếm tỷ lệ 27,2% trên tổng số cô dâu người nước ngoài tại nước này). Có nghĩa là cứ 4 cặp hôn nhân có yếu tố nước ngoài thì có một người Việt Nam.

    Các hãng thông tấn này cũng cho rằng việc phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Hàn Quốc không phải là mới, từ những thập niên 90 đã có khá nhiều gia đình như vậy. Tuy nhiên những năm qua vấn đề chỉ phát sinh khi các cô dâu Việt Nam ồ ạt đổ xô sang xứ Hàn bằng con đường môi giới, thậm chí việc sắp xếp "xem mắt tuyển vợ" còn bị biến tướng thành hoạt động kinh doanh mại dâm.

    Thời gian gần đây, cảnh sát liên tục bắt quả tang những vụ môi giới mang danh nghĩa "coi mắt" của trai Hàn. Điển hình sáng ngày 27/8/2010, Công an TP HCM kiểm tra căn nhà trên đường số 9 (xã Phong Phú, huyện Bình Chánh) phát hiện một cuộc "thi" tuyển vợ cho chú rể Hàn Quốc. Các "thí sinh" là 17 thiếu nữ Việt Nam.

    Cầm đầu đường dây tổ chức "coi mắt" này là Nguyễn Thị Tươi (26 tuổi). Còn hai đồng phạm là vợ chồng Diệp Xuân Trường (38 tuổi), Mai Thanh Tuyền (38 tuổi) có nhiệm vụ sắp xếp địa điểm. Tươi đã khai nhận, thông qua một cô bạn tại Hàn Quốc để tìm những người có nhu cầu lấy vợ Việt Nam. Khi người này sang Việt Nam, Tươi sẽ sắp xếp những thiếu nữ muốn lấy chồng Hàn để tiến hành cuộc tuyển chọn.

    Nhiều cô gái ở các vùng quê nhẹ dạ, cả tin và mong muốn cưới được chồng nước ngoài để có cuộc sống giàu sang đã trở thành nạn nhân của những vụ "buôn người" biến tướng từ hình thức này.

    http://www.datviet.com/baodatviet/tr...%3Fn-v%3F.html
    Làm theo chú dũng,nhỏ hoh đi học lớn lên làm thủ tướng Vietnam

  3. #83
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Thương cho Dân Việt sống với việt cộng .

    TƯỚNG CƯỚP ĐIỀU TRA QUÂN CƯỚP

    Nguyễn Bá Chổi

    Xưa nay “kẻ cắp già mồm” đã là quá lắm . Vậy mà nay thời đại “mừng đảng, mừng xuân, mừng đất nước”, tên ăn cướp lại được “nhà nước pháp quyền, dân chủ triệu lần” chỉ định l àm trưởng ban điều tra vụ cướp do chính hắn điều quân chỉ huy”.

    Đó là Đại tá “công an còn đảng còn mình” Đỗ Hữu Ca, giám đốc CA Hải Phòng . Trong vụ bom Sa Điện Tiên Lãng vừa ...chưa qua, Đại CaCa (Đại tá Công An Đỗ Hữu Ca- xin viết tắt cho gọn) đã đích thân chỉ huy trận đổ bộ Đầm Vươn mà có người so sánh với cuộc đổ bộ cuả quân đội Đồng Minh lên bờ biển Normandie hồi Thế chiến ll; và cho rằng người Mỹ tự hào có Đại tướng Eisenhower người hùng Normandie, thì Việt Nam ta cũng đâu chịu thua vì nay có Đại tá Caca là anh hùng Norman...đầm .

    Cùng là đổ bộ cả, chỉ khác ở chỗ: Tướng Mỹ đổ bộ Normandie để giải phóng nước Pháp khỏi tay Phát Xít Hitler, trong khi Tá ta đổ bộ Normangđầm để cướp đất anh em nhà Đoàn Văn Vươn.

    Cướp xong lại lên Đài truyền hinh nhà nước khoe :” Vụ việc hôm ấy tuy bắt không được đối tượng nhưng trấn áp được đối tượng. Phải nói rằng việc hiệp đồng tác chiến cực kỳ hay. Tôi bảo không có cuộc diễn tập nào thành công bằng cuộc diễn tập lần này. Một là anh em cơ động dùng thuyền để tiếp cận là chưa bao giờ có trong giáo án, đã phải dùng thuyền nan để chèo vào, bí mật áp sát mục tiêu đấy. Đánh mũi trực diện nghi binh ra làm sao. Rồi là tác chiến vòng ngoài, vòng trong thế nào. Tôi nghĩ là rất hay, có thể viết thành sách” (trích VOV.VN). “

    Đến khi nghe phong thanh chuyện ủi sập nhà ở hai tầng của hai gia đình anh em họ Đoàn có mòi bị kết tội phá hoại tài sản của dân thì Đại Caca khẳng định đó là cái chòi chứ không phải nhà .

    So với những chuyện Vinashin, Bô Xít, Tiền Polymer, đánh chết người vô tội như ngóe, cướp đất , cơ sở tôn giáo, bắt nhốt người yêu nước, hàng trăm ngàn dân oan vì bị cướp đất nhà, và bao nhiêu nỗi oan khiên khác, vụ cướp đầm của Đoàn văn Vươn chẳng là gì cả . Nhưng vì chuyện có nổ súng, và quân phe ăn cướp bị thương, khiến thiên hạ làm rùm beng lên e”tạo tiền lệ xấu”, nay thượng cấp phải “điều tra làm rõ vụ việc”.

    Nạn nhân vì quá “bức xúc” chống lại quân ăn cướp “ không theo đúng quy trình cho phép” tức là ngồi yên cho chúng trấn lột đã phải đi tù, còn thầy trò bọn thảo khấu vẫn đang phây phây, chỉ có mấy tép riu thì “ngưng việc, kiểm điểm”; và đang chờ kết quả Đại CaCa cầm đầu đám cướp điều tra vụ cướp .

    Đất nước này còn gì để “phản biện trung thành” nữa không ? Hay ông đ...ếch cần biêt , cứ “tiếp tục bám trụ... vào đảng”

    “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng” Xuân Nhâm Thìn 2012 .
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  4. #84
    Join Date
    Feb 2010
    Posts
    8,593
    Thanks
    1
    Thanked 11 Times in 11 Posts

    Default Re: Thương cho Dân Việt sống với việt cộng .

    Quote Originally Posted by banhtieu View Post
    Xôn xao clip thiếu nữ khỏa thân nghi cho trai Hàn tuyển vợ .


    Clip dài gần 20 phút quay cảnh gần chục cô gái cởi hết quần áo uốn éo trình diễn trước mặt những người đàn ông nước ngoài, đang được truyền nhau trên các trang mạng xã hội.

    Các cô gái khoác khăn tắm và từ từ trút bỏ trước mặt những người đàn ông. Ảnh từ clip.

    Đoạn video quay cận cảnh cho thấy khoảng chục cô gái trẻ chỉ khoác lên người tấm khăn trắng đang xếp hàng. Sau khi được một "MC" xướng tên, lần lượt từng người trong số đó bước lên phía trước, rụt rè cởi bỏ tấm khăn và uốn éo phô toàn bộ thân thể trước mặt hàng chục người đàn ông trầm trồ bình phẩm.

    Hiện chưa xác minh được thời gian, địa điểm và các cô gái trong đoạn clip là người nước nào. Song khi so sánh với những hình ảnh trong các vụ môi giới lấy chồng Hàn mà cơ quan chức năng đã phát hiện và xử lý, nhiều người cho rằng quang cảnh giống như trong một "động tuyển vợ Việt Nam" của các quý ông Hàn Quốc. Tiêu đề của clip khi được tung trên mạng cũng là "Thiếu nữ khỏa thân cho trai Hàn tuyển vợ".

    Một cô gái đang "trình diễn" nude. Ảnh từ clip.

    Thống kê hồi tháng 8/2010 của báo chí Hàn Quốc cho thấy, số cô dâu Việt Nam lấy chồng nước này ngày càng gia tăng (32.311 người, chiếm tỷ lệ 27,2% trên tổng số cô dâu người nước ngoài tại nước này). Có nghĩa là cứ 4 cặp hôn nhân có yếu tố nước ngoài thì có một người Việt Nam.

    Các hãng thông tấn này cũng cho rằng việc phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Hàn Quốc không phải là mới, từ những thập niên 90 đã có khá nhiều gia đình như vậy. Tuy nhiên những năm qua vấn đề chỉ phát sinh khi các cô dâu Việt Nam ồ ạt đổ xô sang xứ Hàn bằng con đường môi giới, thậm chí việc sắp xếp "xem mắt tuyển vợ" còn bị biến tướng thành hoạt động kinh doanh mại dâm.

    Thời gian gần đây, cảnh sát liên tục bắt quả tang những vụ môi giới mang danh nghĩa "coi mắt" của trai Hàn. Điển hình sáng ngày 27/8/2010, Công an TP HCM kiểm tra căn nhà trên đường số 9 (xã Phong Phú, huyện Bình Chánh) phát hiện một cuộc "thi" tuyển vợ cho chú rể Hàn Quốc. Các "thí sinh" là 17 thiếu nữ Việt Nam.

    Cầm đầu đường dây tổ chức "coi mắt" này là Nguyễn Thị Tươi (26 tuổi). Còn hai đồng phạm là vợ chồng Diệp Xuân Trường (38 tuổi), Mai Thanh Tuyền (38 tuổi) có nhiệm vụ sắp xếp địa điểm. Tươi đã khai nhận, thông qua một cô bạn tại Hàn Quốc để tìm những người có nhu cầu lấy vợ Việt Nam. Khi người này sang Việt Nam, Tươi sẽ sắp xếp những thiếu nữ muốn lấy chồng Hàn để tiến hành cuộc tuyển chọn.

    Nhiều cô gái ở các vùng quê nhẹ dạ, cả tin và mong muốn cưới được chồng nước ngoài để có cuộc sống giàu sang đã trở thành nạn nhân của những vụ "buôn người" biến tướng từ hình thức này.



    http://www.datviet.com/baodatviet/tr...%3Fn-v%3F.html

    Cái gọi là " Ai Thương cho ai đây ? "

    Lý Nhã Kỳ khoe trang sức 10,5 tỷ đồng 'có một không hai'


    Cập nhật lúc 44 PM, 13/02/2012



    Nữ diễn viên Kiều nữ và đại gia khoe cô vừa bỏ ra 10,5 tỷ đồng để mua bộ nữ trang kim cương của một nhà chế tác tại Italia. Lần đầu tiên giới thiệu với phóng viên, Lý Nhã Kỳ khẳng định, Vườn hồng là bộ trang sức "có một không hai" trên thế giới và đố ai tìm mua được bộ thứ hai.

    >> 'Tổng tập' mẹ nuôi, anh nuôi của Lý Nhã Kỳ
    >> 'Nhân thân' anh nuôi tỷ phú mới của Lý Nhã Kỳ
    >> Lý Nhã Kỳ 'vạch áo' để chứng minh giá tiền tỷ

    Quyết định chi 1,5 tỷ đồng để mua hai chiếc váy hiếm hoi cuối cùng của NTK nổi tiếng lừng danh thế giới Alexander McQueen, Lỹ Nhã Kỳ đã vô tình tạo ra không ít ồn ào trên mặt báo về máu “chơi trội” của mình, đặc biệt về mức độ thật giả của chiếc váy mà cô đang sở hữu. Tuy nhiên, với quan niệm “vàng thật không sợ lửa”, Lý Nhã Kỳ đã dập tắt nghi án dùng hàng nhái khi đưa ra phát ngôn: “Nhái hay không, thử để người ta mua được thêm một cái đi nhé! Nếu ai tìm ra được chiếc váy đó là hàng nhái thì cứ chứng minh trước đi đã”.

    Scandal dùng váy hàng hiệu giá "khủng" chưa kịp nguội lạnh thì mới nhất, Lý Nhã Kỳ lại tiếp tục vung tiền chơi trội để mua một bộ trang sức bằng kim cương mang tên Vườn hồng trị giá 10,5 tỷ đồng do một nghệ nhân nổi tiếng thế giới tại Italia chế tác bằng tay. Được xem là lần đầu tiên “bật mí” trước công chúng, Lý Nhã Kỳ tin rằng sẽ có không ít người nghi ngờ về mức độ giá trị thật của nó. Tuy nhiên, người đẹp họ Lý khẳng định cô đủ tự tin để đố ai tìm ra và mua được một bộ nữ trang Vườn hồng thứ hai có vẻ đẹp ngất ngây như thế này trên thế giới.

    Mê đắm bộ nữ trang quý bao gồm chiếc dây chuyền cổ, đôi bông tai và chiếc nhẫn bằng kim cương và vàng, Lý Nhã Kỳ cho biết cô chỉ vừa "bật mí" và giới thiệu nó với những thượng khách thành đạt và sành điệu nhất khi đến với triển lãm do cô tổ chức mới đây.

    Lý Nhã Kỳ cho biết, bộ nữ trang bao gồm một dây chuyền đeo cổ, hai chiếc hoa tai và một chiếc nhẫn này mang tên Vườn hồng, do một một nhà chế tác nổi tiếng thế giới đang sống tại Italia làm ra.
    Để được làm người phụ nữ duy nhất trên thế giới sở hữu và tậu nó về Việt Nam, Lý Nhã Kỳ đã không ngần ngại rút ví bỏ ra đúng nửa triệu đô.

    Nếu việc bỏ ra 1,5 tỷ đồng để mua hai chiếc váy nổi tiếng đủ khiến công chúng "sốc", thì với 10,5 tỷ đồng mua bộ trang sức để dành cho riêng mình, Lý Nhã Kỳ càng khiến nhiều người phải "sốc" hơn.

    Không chỉ được làm từ những viên kim cương vàng, kim cương hồng và kim cương trắng, Vườn hồng còn được kết hợp với vàng hồng, vàng vàng, vàng hồng và vàng trắng.

    Điểm đặc biệt nhất ở chiếc dây chuyền đeo cổ theo Lý Nhã Kỳ đó là nó có thể chuyển động linh hoạt theo mọi cử động của cơ thể. Điều đó mang lại cho cô cảm giác thoải mái, nhẹ nhàng khi đeo lên người.

    Ngoài ra, vẻ đẹp ngọt ngào từ màu sắc và vẻ long lanh, độ tỏa sáng từ cách thiết kế tinh tế và xứng tầm đẳng cấp thế giới cũng khiến cô thỏa lòng và thăng hoa với niềm đam mê kim cương của mình.

    Lý Nhã Kỳ cho biết Vườn hồng rất hợp để cô đeo trên người. Bởi thế, vì đây là lần đầu tiên cô giới thiệu trước công chúng nên chắc chắn trong thời gian tới, nếu xuất hiện tại những sự kiện đặc biệt và thích hợp, cô sẽ mang nó trên người chứ không cất mãi trong phòng để làm của riêng cho riêng mình ngắm.

    Vì giá kim cương mỗi năm tăng lên 30% nên Lý Nhã Kỳ cho biết cô không bao giờ sợ bị lỗ khi mua bộ nữ trang "độc nhất vô nhị" trên thế giới này về Việt Nam. Tuy nhiên, Lý Nhã Kỳ khẳng định, cô mua Vườn hồng vì thích, vì đam mê, vì mê hoặc trước vẻ đẹp long lanh chứ không phải để kinh doanh kiếm lời. Thế nhưng khi được hỏi, nếu có một vị khách đặc biệt nào đó muốn chị nhượng lại bộ trang sức "có một không hai" trên thế giới này. Đại sức du lịch Lý Nhã Kỳ vui vẻ cho biết, cô sẵn sàng bán lại cho bất kỳ ai nếu có cùng đam mê kim cương như mình và bị lôi cuốn bởi vẻ đẹp của Vườn hồng.

    Khi được hỏi về tên thật của nhà chế tác nổi tiếng thế giới tại Italia đã tạo ra bộ nữ trang kim cương Vườn hồng, Lý Nhã Kỳ cho biết cô không muốn chia sẻ tên cụ thể của người này. Và khi phóng viên hoài nghi về mức độ giá trị thật 10,5 tỷ đồng của Vườn hồng, Lý Nhã Kỳ cười và tự tin khẳng định: "Đây hoàn toàn là bộ nữ trang "có một không hai" trên thế giới. Nếu mọi người một lần nữa không tin thì tôi đố ai có thể tìm ra hoặc mua được một bộ thứ hai mang về".

  5. #85
    Join Date
    Sep 2011
    Posts
    973
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Thương cho Dân Việt sống với việt cộng .

    [QUOTE=vkyeunuoc1;1372148]Cái gọi là "Ai Thương cho ai đây?"

    Lý Nhã Kỳ khoe trang sức 10,5 tỷ đồng 'có một không hai'

    Úi! Tưởng gì chứ 3 cái trang sức thứ này đã có ở Sàigòn từ trước năm 75 rùi cho nên chẳng có gì là lạ cả! Bọn này chỉ khoe cái mác con cháu của Đại Gia để được ra nước ngoài ăn học và sống sung sướng để mập thân phì da ra đó rùi về nước khoe khoang khoác lác 3 cái vật chất dư thừa của người Việt ở hải ngoại mà thui! Càng khoe khoang khoác lác thì càng làm cho người dân nghèo ở trong nước bị mặc cảm cái nghèo của họ thôi chẳng có lợi ích gì cho xả hội VN cả!

  6. #86
    Join Date
    Nov 2006
    Posts
    6,719
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Thương cho Dân Việt sống với việt cộng .

    'Sốt xình xịch' mua nhau thai về tẩm bổ



    Cập nhật lúc :4:27 PM, 11/03/2012




    Thời gian gần đây, người ta đang rộ lên việc đi mua nhau thai về tẩm bổ, chữa bệnh. Tại thị trường, nếu muốn mua nhau thai khô cũng có mà tươi cũng có.



    Nhau thai khô được bán tại các cửa hàng thuốc đông y với giá vài trăm nghìn đồng, còn nhau thai tươi, muốn mua cứ đặt hàng là có hết. Vậy nhau thai bà đẻ trong các bệnh viện được tuồn ra ngoài bằng con đường nào?





    Nhau thai khô trôi nổi bán tràn lan

    Dừng chân trước một cửa hàng Đông y trên phố Lãn Ông, tôi hỏi mua nhau thai khô thì chủ cửa hàng có vẻ đầy cảnh giác và nói không có. Chúng tôi phải vòng qua nhiều cửa hàng mới tìm được một nơi bảo có. Chủ cửa hàng H.A đưa cho tôi một gói nhỏ được bọc bằng túi nilong, trên có 5 chữ Trung Quốc, ngoài ra không hề có nhãn mác, xuất xứ nói: Đây là loại nhau thai tốt nhất được nhập về từ Trung Quốc. Nhiều người mua về dùng lắm. Ngay cháu nhà tôi cũng ăn nhiều loại này nên mới trộm vía to khỏe, chứ đợt trước cũng gầy gò, xanh xao lắm. Tôi hỏi mua một gói thì chị chủ cửa hàng nói luôn: Em phải mua vài gói dùng mới có tác dụng, chứ một gói ăn thua gì. Mà không phải lúc nào cũng có hàng đâu. Mua nhiều thì tôi giảm giá cho. Mang về em có thể xay ra thành bột hòa với nước uống; nấu nhừ hoặc thái nhỏ đúc trứng để ăn, rất dễ ăn và bổ lắm. Hoặc ngâm với rượu, mật ong dùng dần.

    Giá một gói nhau thai khô được chủ cửa hàng đưa ra là 250.000 đồng. Theo khảo sát của chúng tôi, có khá nhiều có nhu cầu mua nhau thai khô tìm đến con phố này. Người ta chủ yếu tìm mua để chữa bệnh yếu sinh lý, suy nhược, vô sinh. Chưa biết hiệu quả của bài thuốc này đến đâu nhưng câu hỏi đầu tiên đặt ra là chất lượng của các gói nhau thai có đảm bảo hay không khi các gói này chỉ in vài chữ Trung Quốc trên bao bì và hoàn toàn không có ghi hướng dẫn sử dụng, nguồn gốc xuất xứ, hạn sử dụng.

    Tuy nhiên, không chỉ nhau thai khô, mà muốn có nhau thai tươi tại đây cũng có, nhưng phải đặt trước và giá đắt hơn. Nhiều cửa hàng đặt mua được nguồn nhau thai tươi trong bệnh viện và mang về tự chế biến. Nhưng họ làm thế nào để có được nhau thai tươi, nguồn “hàng” này được lấy từ đâu?

    Nhau thai tuồn ra ngoài bằng con đường nào?

    Chị Nguyễn Thị Hương, 25 tuổi, huyện Xuân Trường, Nam Định bị bệnh hen mãn tính. Nghe lời đồn thổi, ăn nhau thai bà đẻ có thể chữa được căn bệnh này, mẹ chị đã không quản vất vả tẩm bổ cho con gái bằng “món ăn” này. Việc kiếm nhau thai tại đây tương đối dễ dàng, chỉ cần có mối quan hệ với trạm xá xã là có thể xin nhau thai của các bà đẻ. Ở các vùng quê, nhất là vùng núi, nhau thai vẫn được “xin” về làm thuốc. Thậm chí các cửa hàng thuốc đông y còn đặt hàng thường xuyên nhau thai tươi về tự sao chế để bán như một vị thuốc đông y.

    Tuy nhiên tại Hà Nội và TP HCM, nhau thai tươi được kiểm soát khá chặt chẽ. Theo GS. Lê Đức Vy, Nguyên Giám đốc bệnh viện Phụ sản TƯ: Tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, nhau thai phải được xử lý ở nơi lò đốt sở tại, không thể mang ra ngoài được. Nhau thai là một loại chất thải y tế, nó không được phép bán trên thị trường. Tất cả các sản phẩm từ con người ra không ai được bán. Kể cả nhập khẩu, không có văn bản nào của Bộ Y tế cho phép nhập bệnh phẩm này cả. Ở giai đoạn thời kỳ bao cấp, trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ trước đây, vô cùng gian khổ thì người ta có dùng để ăn, rồi dùng sản xuất Filatop làm thuốc chữa bệnh, nhưng hiện nay cũng không ai dùng, công nghệ dược phẩm người ta cũng không sử dụng. Ông Lê Hoài Chương, Phó Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương cũng cho biết, nhau thai (và các khối u, tử cung, vv…) được xếp vào nhóm chất thải y tế rắn. Cách đây rất lâu, vì có nhu cầu làm thuốc đông y nên bệnh viện đã thu gom và bán cho các đơn vị sản xuất với giá 1.000 đồng/chiếc nhau thai. Nhưng hiện nay bệnh viện không bán nữa (vì các đơn vị trên không có nhu cầu mua). Vì thế, bệnh viện đã ký hợp đồng với công ty môi trường đô thị để họ triển khai tiêu hủy theo đúng quy trình, quy định của Bộ Y tế.

    Theo quy định của Bộ Y tế, nhau thai phải được xử lý tiêu hủy giống như các mô mềm trong xử lý rác thải y tế. Ở các bệnh viện lớn đây là một quy trình khép kín được kiểm soát rất nghiêm ngặt. Bên cạnh đó, giống như các mô mềm, nhau thai sản phụ phải được bảo quản lạnh trước khi đem ra tiêu hủy chứ cũng không dễ dàng bảo quản. Duy nhất các phòng thí nghiệm được tận dụng nhau thai để lấy tế bào gốc từ máu cuống rốn. Vậy nhau thai tươi tuồn ra ngoài bằng con đường nào?

    Ông Lê Hoài Chương, Phó Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho biết: “Tôi cũng không hiểu nhau thai khô, thậm chí cả nhau thai tươi đang bán ngoài thị trường lấy từ đâu ra. Còn ở bệnh viện của tôi thì quy trình xử lý là vậy. Nếu công ty môi trường đô thị không làm đúng cam kết (không tiêu hủy mà sử dụng vào việc khác) thì họ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm”. Tuy nhiên theo tìm hiểu của phóng viên, quy định của Bộ Y tế và bệnh viện là vậy nhưng nếu ai có người quen tại các bệnh viện phụ sản vẫn có thể “vượt rào” xin được nhau thai bà đẻ. Nhất là tại các cơ sở sản khoa tư nhân, việc kiểm soát không chặt chẽ dẫn đến nhau thai tuồn ra ngoài bán là chuyện không thể không có.

    Nhau thai - vị thuốc bổ

    Thực chất, nhau thai khô chính là vị thuốc có tên “tử hà sa”. Nhau thai là cơ quan liên kết giữa người mẹ và em bé khi còn là bào thai. Nó là một phần thiết yếu của thai kỳ và được đào thải sau khi sinh con. Các chất dinh dưỡng và ôxy được truyền từ máu mẹ đến bào thai qua nhau thai. Nhau thai cũng là một hàng rào chắn giúp bảo vệ thai nhi trước nhiều loại vi khuẩn gây bệnh. Các tài liệu y học cổ truyền đều ghi ứng dụng lâm sàng của nhau thai là để trị cơ thể suy nhược, khí huyết hư tổn như có các bệnh lao, thiếu máu, suy nhược thần kinh, viêm phế quản mãn ở người già, hen suyễn kéo dài.

    Ở nước ta trước đây cũng có loại thuốc bổ tên là Filatop, dạng thuốc nước được chiết xuất từ nhau thai sản phụ dùng cho bà mẹ ít sữa uống để tăng tiết sữa, hoặc dùng thúc đẩy phát triển cho trẻ em chậm lớn, còi xương. Tuy nhiên, hiện nay hầu như không xuất hiện loại thuốc này trên thị trường. Vì đây là loại thuốc chiết xuất từ nhau thai sản phụ nên nhiều người lo sợ nhau thai của sản phụ bị nhiễm HIV, viêm gan siêu vi C, B, giang mai… có thể lây truyền những bệnh này cho người sử dụng.

    Nguy cơ lây nhiễm HIV, viêm gan B…

    Chúng tôi đã mang gói bánh nhau tham khảo ý kiến đánh giá của một số người tiêu dùng và chuyên gia ngành y... thì nhận được không ít ý kiến cảnh báo, lo ngại về nguy cơ lây bệnh truyền nhiễm như viêm gan B, AIDS. Ông Trần Quốc Tuấn - Giám đốc Bệnh viện 09, nơi chuyên điều trị và chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS có hoàn cảnh đặc biệt ở Hà Nội cũng cho biết: Nếu như chỉ lấy nhau thai ra thái rồi phơi bình thường hoặc sấy ở nhiệt độ không đảm bảo thì nguy cơ lây truyền bệnh là hoàn toàn có thể xảy ra. Như virus HIV ở trong dịch lỏng chỉ bị bất hoạt trong nhiệt độ 56 độ C, còn trong môi trường khô thì virus có thể tồn tại tới một tuần. Thời gian để bất hoạt được virus HIV trong nhiệt độ 100 độ C thì phải mất vài tiếng đồng hồ. Nhưng để chế biến được nhau thai đó thành sản phẩm cho người khác sử dụng thì phải hàng trăm độ C và trong thời gian dài hơn nhiều. Virus gây viêm gan B cũng vậy, chỉ bị bất hoạt trong nhiệt độ cao, thời gian dài.

    Việc sử dụng nhau thai không rõ nguồn gốc, xuất xứ, phương pháp chế biến... hoàn toàn có khả năng bị lây truyền virus HIV, viêm gan B và các bệnh truyền nhiễm khác. Ngoài các bệnh truyền nhiễm thì còn nguy cơ rất nhiều bệnh khác như gây đột biến, ung thư. Trong bánh nhau của sản phụ bệnh có rất nhiều hoạt chất, thành phần có thể gây nguy hại cho sức khỏe người sử dụng. Các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, nhiễm vi trùng, vi khuẩn, virus, ký sinh trùng... có thể ở tất cả các sản phẩm chế biến không đảm bảo. Hoặc khi chế biến nhau thai đó, liệu họ có cho hóa chất vào không và hóa chất đó có gây hại không, có được phép sử dụng không, nếu có gây hại thì gây hại như thế nào v.v...

    Như vậy việc lây nhiễm bệnh từ nhau thai hoàn toàn có thể xảy ra. Theo y học, HIV có thể lây truyền từ một người mẹ bị nhiễm HIV sang cho trẻ sơ sinh của mình qua nhau thai trong lúc mang thai và khi sinh đẻ. Tỷ lệ truyền HIV từ người mẹ bị nhiễm HIV sang cho trẻ sơ sinh là khoảng 13 - 50% tùy thuộc vào tình trạng dinh dưỡng và tỷ lệ HIV trong máu của người mẹ. Nhau thai cũng không đủ khả năng chống lại virus như virus cúm, virus gây bệnh Rubella... chúng vẫn có thể xâm nhập qua nhau thai vào bào thai.

    Ngoài ra theo Lương y Nguyễn Duy Minh (Minh Khai, Hà Nội, với kiểu dáng và bao bì không rõ ràng như vậy thì khả năng bánh nhau khô giả là rất cao, bởi các hãng sản xuất thuốc thật của Trung Quốc bao giờ cũng có đầy đủ thông tin nhãn mác, địa chỉ sản xuất. Vì vậy, người dân không nên dùng loại bánh nhau khô không rõ xuất xứ này, lợi chưa thấy đây mà có khi lại rước bệnh vào thân.


    http://baodatviet.vn/Home/kinhte/Sot...196953.datviet
    Làm theo chú dũng,nhỏ hoh đi học lớn lên làm thủ tướng Vietnam

  7. #87
    Join Date
    Nov 2006
    Posts
    6,719
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Thương cho Dân Việt sống với việt cộng .

    Sống với việt cộng con người Vietnam bị khùng thì Phải , vô nhân tâm
    Làm theo chú dũng,nhỏ hoh đi học lớn lên làm thủ tướng Vietnam

  8. #88
    Join Date
    Nov 2006
    Posts
    6,719
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Thương cho Dân Việt sống với việt cộng .

    Lý Nhã Kỳ trong vai Julie, người tình của sĩ quan Pháp Pirot.





    Làm theo chú dũng,nhỏ hoh đi học lớn lên làm thủ tướng Vietnam

  9. #89
    Join Date
    Nov 2006
    Posts
    6,719
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Thương cho Dân Việt sống với việt cộng .

    'Sốc nặng' với 'chợ tình' biến tướng của teen Việt
    Cập nhật lúc :8:02 PM, 15/03/2012



    Chỉ cần một chiếc điện thoại có chức năng quay phim, chụp ảnh, có kết nối mạng sau đó cài phần mềm chat là những vị khách làng chơi thèm muốn của lạ và các cô gái thích show hàng thậm chí là bán dâm có thể “bắt sóng” để kết nối với nhau một cách dễ dàng.


    “Chợ tình” nhỏ gọn


    Khu “chợ tình” mà tôi nói đến ở đây chẳng phải là một khu chợ ồn ào với những cô gái lả lơi ong bướm, phấn son lòe loẹt, hay những tiếng vít còi, rú ga của những tay chơi còn đang độ tuổi “choai choai”. Trái lại, “chợ tình” di động diễn ra một cách lặng lẽ, âm thầm tại chính những chiếc điện thoại nằm gọn trong lòng bàn tay của mỗi người.

    Nếu như trước đây để tìm kiếm người tình theo kiểu “một đêm” rồi hôm sau lại đường ai người nấy bước thì hầu hết những khách làng chơi sẽ phải nghĩ đến những khu mại dâm hay những nhà nghỉ, quán xá có kinh doanh dịch vụ “mát mẻ” để thỏa mãn nhu cầu. Hoặc với những kẻ thuộc dạng lười đi kiếm “hàng” cũng phải dùng tới máy tính để đêm khuya mò lên mạng rồi tìm kiếm nick chat của những cô gái mại dâm rủ đi qua đêm.

    Thế nhưng, tất cả những chuyện đó giờ đây đã được đơn giản hóa đến mức tối đa. Chẳng cần đi đâu xa, chẳng cần nhọc công tốn sức, chỉ cần sở hữu một chiếc điện thoại có chức năng quay phim, chụp ảnh vào được mạng là có thể dễ dàng kiếm được bạn tình “một đêm” thông qua phần mềm chat trên điện thoại.

    Qua sự giới thiệu, tôi đã quen được với M. một nam thanh niên cực kỳ sành sỏi và có “thâm niên” trong việc đi “chợ tình” di động. M. cho tôi biết, có nhiều phần mềm để chat trên điện thoại lắm, nhưng hầu hết bây giờ từ già đến trẻ chỉ khoái Olx… chat, đây là nơi tập trung người online kiếm bạn tán gẫu nhiều nhất và sôi động nhất".

    Theo lời của M. thì thực chất phần mềm này thu hút được đông đảo số lượng các “tín đồ” của chợ tình bởi lẽ nơi đây có “nguồn tài nguyên bạn tình” vô cùng phong phú, việc “bắt sóng” để gạ gẫm bạn tình cũng chẳng khó khăn gì.


    Không ít cô gái đã bán dâm trên chợ tình


    Thời gian hoạt động của phiên chợ tình kéo dài triền miên từng giây từng từng phút, chẳng có lúc nào là vắng lặng, vì đơn giản là chủ nhân chỉ cần đăng kí một cái tên tùy thích sau đó đăng nhập vào phần mềm rồi cứ để trạng thái online ở đó. Những ai có nhu cầu sẽ tự động tìm đến.


    Về đêm, từ 22h tối trở đi, hoạt động “chợ tình” cực kì sôi động và tấp nập, lúc này việc đăng nhập để vào chợ cũng rất khó khăn bởi lượng người quá đông đúc. Bởi vậy, không ít dân đi “chợ tình” đã bỏ tiền ra mua thẻ nạp vào phần mềm chat để trở thành thành viên “vip” có thể truy cập vào bất cứ lúc nào mà không sợ bị quá tải.


    Đặc biệt, các em gái thuộc lứa tuổi “xì tin” cực kì yêu thích “chợ tình” di động, vì bố mẹ quản chặt không cho dùng máy tính, thế nên, cứ rảnh là những cô gái mới lớn lại rủ nhau online để trò chuyện, làm quen với những người bạn trên mạng và nhất là để tìm kiếm một người tình.


    Rao bán “cái ngàn vàng”



    Thanh niên M. cho tôi biết rằng, trong thế giới “chợ tình”, chủ yếu có ba loại chính, một là những người vào để tán gẫu cho vui, loại này rất ít và không thường xuyên có mặt trong “chợ tình”.


    Loại thứ hai vào chợ để tìm kiếm rồi lân la làm quen, nhằm đạt được một cuộc hẹn mặt thật chứ không dừng lại ở nói chuyện qua thế giới ảo, loại này thường xuyên có mặt trong phiên “chợ tình”.


    Loại thứ ba chính là thứ mặt hàng được bày bán, rêu rao nhiều nhất cũng như được những khách làng chơi săn đón đó là “cái ngàn vàng”.

    Vô số các cô gái nắm bắt được xu hướng “ham của lạ” đã đến “chợ tình” để mời mua dâm công khai, những người này hầu như có mặt 24/24 ở “chợ tình” di động.


    Sau khi giảng giải một thôi một hồi, thấy tôi có vẻ vẫn tò mò quá, M. rút trong túi ra chiếc điện thoại di động khá sành điệu của mình.


    M. bảo tôi: “Bây giờ em cho anh vào hẳn “chợ tình” cho biết, anh nghĩ một cái tên đi, ai khi bước vào “chợ tình” cũng cần có một cái tên.


    Chính cái tên cũng thể hiện được đẳng cấp cũng như giúp hoạt động hiệu quả trong “chợ tình”. Tôi ậm ừ nghĩ đại ra một cái tên giả, rồi qua một vài phút, công đoạn “nhập môn” đã xong.


    Chỉ vừa đăng nhập vào một phòng chát trong vô số phòng được tạo ra ở “chợ tình” di động này tôi đã bắt gặp rất nhiều những nickname với những lời rêu rao cực kỳ “mời mọc”.


    Nhẹ thì “muốn tìm bạn làm quen…” hay “tuyển người yêu gấp…” kinh hoàng hơn là những câu rêu rao đến mức “trần trụi”: “Cần người làm tình một đêm, nếu thấy vui thì tiếp tục…” thậm chí là công khai bán dâm “Qua đêm giá 500k, hàng họ xem trong ảnh”. Thắc mắc về việc lại còn có cả hình ảnh quảng cáo ở “chợ tình” nữa thì M. mới cười cười và giúp tôi ấn thao tác trên điện thoại, lập tức ở nickname của cô gái bán dâm kia hiện lên bức hình cực kì khiêu dâm, nhìn rõ hết cả dung nhan lẫn thân thể khiến tôi bị “sốc”.



    Khoe hàng trên chợ tình



    Dường như có vẻ chê bai, M. đập đập vai tôi bảo: “Gái bán dâm trên này nhiều lắm, thay vì phải đứng đường, đi mời chào khách, giờ đều dùng điện thoại làm công cụ kiếm ăn hết. Cứ đăng nhập vào đây rồi để những lời rao bán như vậy là liên tục có người tìm vào gạ gẫm thôi”.


    Tinh vi hơn, nhiều chủ nhà chứa cũng tham gia vào hoạt động của “chợ tình”. Họ lập rất nhiều nick, mỗi nick quảng cáo cho một gái mại dâm của mình để tìm khách.


    Khách hàng sau khi ngã giá sẽ được hẹn tại một nhà nghỉ nào đó, rồi chủ nhà chứa cho bảo kê chở gái bán dâm đến tận nơi. Xong việc, bảo kê sẽ lên thu tiền. Riêng tiền nhà nghỉ khách sẽ phải trả

    Đủ trò bệnh hoạn



    Ngoài việc tìm kiếm bạn tình và gái mại dâm ra, những dân đi chợ còn có những trò mang tính ‘bệnh hoạn” đó là chat sex và show hàng kiếm tiền.


    Những tưởng phải cần đến một chiếc máy tính và webcam mới có thể thực hiện được. Nhưng với chiếc điện thoại, dân chơi ở “chợ tình” vẫn có thể chat sex bằng hình ảnh.


    Thử nói chuyện với một nickname có tên “gaichoiboi…” đang để lời chào là “ai muốn chat sex pm”. Khi tôi chỉ vừa thử chào hỏi, cô nàng đã vào cuộc luôn, gửi hàng loạt hình ảnh khiêu dâm chụp từ chính thân thể của cô ta, rồi yêu cầu tôi phải làm ngược lại.


    Còn đang thất kinh vì sợ hãi, tôi vừa thoát ra khỏi nickname của cô gái ấy thì một cô gái khác chủ động tìm vào nickname của tôi và lại là gạ gẫm chat sex.


    Tuy nhiên, không giống như cô gái kia, cô này chỉ chat sex theo kiểu “dâm ngôn”, tức là dùng những lời lẽ đồi trụy, kích dục để nói chuyện khiến tôi càng thêm hú vía vì sự “bệnh hoạn” của “chợ tình”.


    Không những thế, một bộ phận các cô gái thường xuyên có mặt trong “chợ tình” còn lạm dụng chính thân thể của mình làm phương tiện kiếm tiền. Họ tự rao bán hình ảnh khiêu gợi của bản thân theo mệnh giá của những chiếc thẻ cào điện thoại.


    Nếu khách làng chơi nạp cho họ thẻ điện thoại sẽ được “mãn nhãn” chiêm ngưỡng từ A – Z, thậm chí nếu thẻ mệnh giá cao còn có phục vụ theo yêu cầu y như một sex show thực thụ.


    Rất nhiều cô gái tuổi mới lớn tham gia “chợ tình”, trong lúc “bí bách” đã không ngần ngại rao bán thân xác mình để lấy tiền tiêu xài. Một lần, hai lần rồi thành quen, những cô gái ban ngày vẫn cắp sách tới trường như bao bạn bè, nhưng không ai biết rằng trong “chợ tình” di động cô ta lại là một gái bán hoa khét tiếng.


    Hồi chuông cảnh tỉnh


    Một điều đáng báo động là thời gian gần đây ngày càng nhiều giới trẻ, nhất là học sinh, sinh viên tham gia “chợ tình” di động.


    Nhiều gia đình vì chiều con cái, mua cho con những chiếc điện thoại đắt tiền mà không hề biết rằng chúng lại sử dụng vào mục đích là đi gạ gẫm, tìm kiếm gái làm tình hoặc tham gia những màn chat sex bệnh hoạn.


    Rất nhiều các thanh niên tuổi mới lớn đã “nghiện chợ tình” đến mức không ngại ngần để đầu tư sức khỏe, tiền bạc, lang thang tìm các cô khoe hàng thâu đêm suốt sáng.


    Cũng vì thức thâu đêm chơi trò bệnh hoạn ấy, một số thanh thiếu niên vốn hiền lành trong sáng, là con ngoan trò giỏi bỗng trở nên hư hỏng.



    Phòng chát luôn đầy



    Đã có nhiều cậu học trò bỏ bê học hành, để có tiền đi xem “khoe hàng” đã không từ thủ đoạn nào, từ trộm cắp đến cướp giật. Cũng có nhiều cô gái ở tuổi dậy thì, hoặc trưởng thành vì cần tiền mà bán thân trên mạng, tuy rằng không trực tiếp “đi khách” như gái mại dâm chuyên nghiệp, nhưng đây cũng là một sự đồi trụy của giá trị đạo đức.


    Theo ý kiến của một số chuyên gia tâm lý: “Đa phần nam, nữ khi bước vào tuổi mới lớn đều muốn được bạn bè coi trọng, ca ngợi, nhưng vì ngoài thực tế không như ý muốn nên các em lao vào chat trên mạng, bịa ra những thân phận không có thật để làm quen, giao lưu với người khác.


    Khi đã quen thân, các em lại có xu hướng khoe ảnh, khoe webcam để cùng tiến tới mối quan hệ thân thiết hơn. Và do sự thiếu hiểu biết, các em đã lao vào tán gẫu chuyện giới tính với nhau mà không hay dần dần mình bị lún sâu vào chủ đề đó.


    Bên cạnh đó, phần lớn các em đang trong độ tuổi dậy thì, bản năng tình dục trỗi dậy, khiến các em thường thích tìm hiểu về giới tính. Khi cùng chat với người khác giới, các em có xu hướng chia sẻ hình ảnh cho nhau.


    Khi được người khác khen ngợi, các em lại nghĩ tới việc rao bán hình ảnh của mình để thể hiện, để có tiền tiêu pha, dần dần các em sẽ bị "cơn lốc" chat sex cuốn theo rồi nghiện "khoe hàng" trên mạng.”


    Theo Người Đưa Tin


    http://baodatviet.vn/Home/congdongvi...197911.datviet
    Làm theo chú dũng,nhỏ hoh đi học lớn lên làm thủ tướng Vietnam

  10. #90
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Thương cho Dân Việt sống với việt cộng .

    [b]Đói lay lắt miền Tây Thanh Hóa[/]

    Văn Hùng

    * Huyện Quan Hóa gửi công văn hỏa tốc đề nghị được cứu đói

    Nhiều nông dân xứ Thanh lại đối mặt với cái đói. Toàn tỉnh Thanh Hóa hiện có 12 huyện với 66.537 nhân khẩu đang thiếu lương thực. Ước tính, số gạo cần được cứu tế cho đồng bào thiếu đói là 1.522 tấn. Các hộ đói tập trung ở các huyện miền núi và vùng ven biển. Trong đó khu vực miền núi chiếm số đông.





    Đói đến nỗi anh Kiếp phải đếm từng củ sắn trên gác bếp để phân chia cho 4 miệng ăn được 3-5 ngày tới

    Bà Phạm Thị Hoa – PCT UBND huyện miền núi Quan Hóa vừa có công văn hỏa tốc gửi Chủ tịch UBND tỉnh về việc đề nghị được cứu đói cho nhân dân trong thời kỳ giáp hạt tháng 3. Công văn này cho biết, toàn huyện hiện có 18 xã, thị trấn có số hộ đói đến mức báo động đỏ với tổng số 922 hộ (4.610 nhân khẩu). Trước tình hình cấp bách người dân hết gạo ăn, các loại lương thực khác như khoai, sắn, ngô cũng đang cạn kiệt dần nên lãnh đạo huyện Quan Hóa đề nghị tỉnh cứu tế cho nhân dân 207.450 kg gạo trong thời gian 3 tháng với 1 khẩu 15kg/tháng.

    Theo PCT Phạm Thị Hoa thì tình hình đói của nhân dân vượt quá khả năng cứu tế của huyện nên rất cần sự cứu trợ của tỉnh. Tuy nhiên, đã sau 10 ngày, hiện công văn này chưa nhận được phúc đáp từ phía cấp trên, đồng nghĩa cái đói của đồng bào cứ thế kéo dài thêm.

    Có mặt tại các xã Thanh Xuân, Phú Sơn, Phú Thanh, Trung Sơn, Nam Tiến và Nam Động của huyện Quan Hóa những ngày này mới thấm thía được cái đói đến lay lắt biết nhường nào của đồng bào. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng đói kéo dài thời gian qua là do người dân ở đây thiếu đất sản xuất để có thể tự túc lương thực. Như xã Thanh Xuân có gần 8 ngàn ha đất tự nhiên nhưng chỉ có 30ha đất nông nghiệp. Vậy thì rất khó để đảm bảo nguồn lương thực cho 2.450 nhân khẩu trong xã hiện nay.

    Bên cạnh đó là địa hình phức tạp, đường sá đi lại khó khăn, dân trí thấp, con em ít được học văn hóa và học nghề vì hoàn cảnh gia đình khó khăn; thêm vào đó là đẻ nhiều đã khiến cho cuộc sống của đồng bào nơi rẻo cao này khó khăn chồng chất. Tình trạng thiếu đất sản xuất nông nghiệp là thực trạng chung ở hầu hết các xã ở huyện Quan Hóa. Còn diện tích nương rẫy gieo trồng ngô, lúa nương trong các năm 2010-2011 lại bị hạn hán kéo dài, mất mùa trên diện rộng nên bà con nông dân chưa thể tự túc được lương thực.

    Vượt hơn 180km từ TP Thanh Hóa, chúng tôi đã đến được với đồng bào dân tộc bản Tân Sơn, xã Thanh Xuân, huyện Quan Hóa. Con đường từ trung tâm xã vào bản chỉ có 4km nhưng đi mất nhiều thời gian. Xe máy cứ lên số 2 về số 1 gầm rú, qua hết chỗ cua khúc khuỷu này lại qua chỗ cua tay áo kia. Cứ thế sau nhiều đoạn cua thót hết cả tim vì suýt ngã, chúng tôi mới đến được bản Tân Sơn. Ông Hạt – PCT xã thở phào sau khi xe đỗ trước nhà trưởng bản: “Hôm nay trời nắng còn đi vào được sớm chứ gặp phải trời mưa thì sáng đi, chiều mới tới nơi vì không những không chạy được xe máy mà đi bộ cũng hết sức khó khăn”.

    Cũng với câu chuyện về đường sá, trưởng bản Phạm Bá Cập bày tỏ: “Ở miền xuôi các xã có điều kiện lại được DN tham gia góp kinh phí cùng nhân dân xây dựng nông thôn. Ở đây vốn dĩ khó khăn, không có DN tài trợ, năm vừa rồi, cả bản quyết tâm mãi mới góp được mỗi hộ 200 ngàn để thuê máy ủi vào đây tạo hình hài một con đường để có chỗ đi lại”.

    Rít điếu thuốc lào, mịt mù khói bay, trưởng bản Cập tâm sự: “Đất ít, đá nhiều đã hạn chế rất lớn đến phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống của đồng bào. Cả bản có 57/138 hộ đói nghèo và riêng thời điểm này có 30 hộ đói lay lắt không thể kiếm đâu ra lương thực mà ăn”.

    Được trưởng bản dẫn đường, chúng tôi đến thăm nhà anh Phạm Bá Kiếp, 45 tuổi, một trong những gia đình khó khăn nhất hiện nay của bản.





    Căn nhà tuềnh toàng của anh Phạm Bá Kiếp

    Trong căn nhà tuềnh toàng, rách nát ấy, bố con anh Kiếp đang chuẩn bị bữa tối bằng việc lấy sắn trên gác bếp xuống để nấu. Anh Kiếp cho hay: “Nhà có 4 người mà sắn không còn nhiều nên phải tính xem còn bao nhiêu củ để chia cho từng người trong mấy bữa ăn”. Theo lời anh Kiếp thì mỗi bữa, một người chỉ được một củ sắn luộc mà thôi. Nếu như vậy thì chừng ấy sắn trên gác bếp của nhà anh may chỉ đủ kéo dài 3-5 ngày nữa là cùng. Trong khi nhà không còn thóc, gạo, chẳng có ngô, khoai gì cả. Ở cái tuổi trung niên ấy, ở dưới xuôi người ta khỏe mạnh có thể làm được nhiều việc nặng nhưng với anh Kiếp chỉ việc đứng dậy lấy mấy củ sắn mà lập cập không vững. Thiếu gạo, ngày ngày ăn sắn đã làm sức lực anh ngày một kiệt quệ.

    Chúng tôi đến nhà anh Cao Văn Nhâm cùng bản với anh Kiếp. Ngôi nhà sàn lợp bằng lá cọ đã dột nát của anh Nhâm rộng chừng vài chục mét vuông nhưng trong đó có 6 người sinh sống. Vì hoàn cảnh khó khăn nên đứa con gái lớn đã bỏ học, ở nhà trông em, giúp bố mẹ làm việc đồng áng. Quần quật quanh năm với một sào ruộng lúa và mấy sào sắn, ngô nhưng lương thực vẫn không đủ cho cả gia đình ăn. Anh Nhâm cho hay, gia đình chỉ có thể tự túc được gạo trong khoảng 2-3 tháng. Thời gian còn lại trong năm là sắn và ngô.




    Anh Cao Văn Nhâm đang bón từng miếng sắn cho hai đứa con nhỏ ăn thay bữa cơm tối

    Mỗi bữa ăn của những gia đình nghèo đói ở miền tây Thanh Hóa như bản Tân Sơn mà tôi bắt gặp luôn chỉ có màu bàng bạc sắn và khoai lang. Than ôi, so hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn tỷ đồng trong những vụ bê bối liên quan bọn tham nhũng, bọn cơ hội, những đám cưới xa xỉ, những nhóm lợi ích con ông cháu cha dây mơ rễ má mà báo chí vẫn liên tục, liên tục đề cập – chúng ta sẽ thấy một nỗi đau cứa vào thịt da mỗi người. Và không bất ngờ khi đồng nghiệp của tôi phải ngồi sụt sùi khóc với câu hỏi tương lai của đám trẻ nơi đây sẽ ra sao. Đâu là cái văn hóa vì cộng đồng, cái lý của lối sống bác ái bật ra từ nỗi ám ảnh ấy, từ phép so sánh ấy…

    Thương nhất là lũ trẻ, chúng chẳng có đủ cơm. Đứa con út của anh hơn hai tuổi, mắt vàng như củ nghệ cắt đôi, ho hanh hách nước mắt choèn ra nhoẹt ướt đôi má xanh phù, ọng nước. Thấy có người lạ, chúng cứ trố mắt ra nhìn. Trong gian nhà bé nhỏ ấy hiển hiện góc bếp choán gần hết nửa diện tích. Căng mắt lên một chút có thể thấy nồi niêu, dao rựa lổn nhổn giữa đống hòm xiểng lăn lóc ở xó nhà. Mùi cứt gián, mùi ẩm mốc, mùi nước đái trẻ con khai khai.

    Xung quanh bếp lửa, các con của anh đang háo hức chờ đợi một sự sống nào đó từ trong cái nồi có vẻ to bự kia. Ngọn lửa bốc cháy cao hơn, mùi sắn chui qua khe hở của vung thơm ngọt làm bụng tôi cũng cồn cào huống hồ chi bọn trẻ.

    - Sắn cháy. Tôi buột miệng.

    Cháy một chút mới ngon, anh bảo thế và nhắc nồi xuống rồi đổ úp vào một cái rổ con con. Anh Nhâm nói: “Nhà hết gạo lâu rồi, cả tháng nay lũ trẻ đều ăn sắn như thế cả. Mời các chú ăn sắn cùng với bố con tôi”. Đồng bào dân tộc vậy đó, đói nhưng sẵn sàng san sẻ. Tôi nhìn bọn trẻ, khuôn mặt của chúng như sáng hẳn lên trong ánh lửa. Thấy lũ trẻ hì hục vừa thổi phù phù vừa cắn ngốn ngấu những miếng sắn mới luộc tôi thấy thương chúng cả tháng nay không biết hạt cơm tròn hay méo. Nhìn chúng hì hục ngốn từng miếng sắn mà lòng tôi quặn thắt và thầm nghĩ biết lúc nào thì dân Tân Sơn có đủ cơm gạo ăn hằng ngày, áo quần ấm áp quanh năm?!

    Ước ao có một bữa cơm no của mấy đứa trẻ ở bản Tân Sơn thật khó khăn. Các cháu còn nhỏ, bố mẹ vẫn lam lũ nhưng không đủ gạo. Tôi dám chắc rằng sẽ còn có rất nhiều đứa trẻ ở nơi này đang có những khát khao như thế, chúng không ước ao gì khác ngoài được bữa cơm no thay cho khoai và sắn. Chẳng lẽ cái dạ dày và sự háu đói của các cháu đã quen với sự đạm bạc mãi thế sao? Ăn vẫn ngon, vẫn hết vèo cả củ sắn lớn hơn tay chân của chúng. Những năm tháng thơ ấu vẫn có vẻ như an bình dù các cháu hầu như không biết đến thịt, trứng, sữa hay thứ lương thực, thực phẩm nào khác ngoài cơm trắng một vài tháng, trong khi khoai, sắn lại cứ dài dài…

    V. H.

    Nguồn: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/72...1/Default.aspx
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  11. #91
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Thương cho Dân Việt sống với việt cộng .

    Chuyện cũ chép lại: Suốt đời lo chỉnh đốn

    “Càng chỉnh càng đốn thêm”. (Trần Bì)




    Đã lâu, có bữa, tôi tình cờ nghe được mẩu đối thoại - giữa hai người dân bản xứ, ở California – như sau:
    – Biết tại sao mà đường phố sáng cuối tuần lại vắng ngắt vậy không?
    – Không.
    – Tại Mỹ đen còn ngủ . Mỹ trắng ở trong nhà thờ. Tụi Á Châu thì đi làm "overtime" hết ráo, từ hồi sớm...
    – Còn Mễ ?
    – Tụi nó thì mắc ...sửa xe !
    Tôi "tâm đắc" hết sức với câu nói cuối. Tôi sống trong một khu phố nghèo, ở California. Hàng xóm đều là dân thiểu số mà phần đông là người Mễ, những di dân hồn nhiên vô tư, và thường là những người tốt bụng. Tôi rất quí mến họ. Tình cảm quí mến đó sẽ gia tăng gấp hai – hay bốn – nếu như người Mễ Tây Cơ thích sửa đồng hồ, hoặc một vật dụng gì đó nhỏ bé tương tự, thay vì là sửa ô tô.

    Tự sửa xe, tất nhiên, cũng là một việc làm hay một thú vui tiêu khiển vô cùng hữu ích và có nhiều giá trị thực tiễn. Điều đáng tiếc là công việc này không thể làm một cách âm thầm, nhẹ nhàng, trong phòng hay nhà riêng, và rất làm phiền ...hàng xóm - nếu như chúng ta cứ sửa xe hoài.

    Nhiều người cho rằng "hát hay không bằng hay hát." Chuyện ca hát, tôi ít bị làm phiền, nên không quan tâm. Tôi chỉ cực lực phản đối cái quan niệm "sửa xe hay không bằng hay sửa" của những người di dân Mễ. Họ sửa xe đều đều, và cách mà họ sửa xe mới là điều rất đáng phàn nàn.



    Nếu có hai cái bánh xe trước bị mòn, và hai cái bánh sau đỡ mòn hơn một chút, người Mễ sẽ đội xe lên, lấy hai cái bánh sau thế cho hai bánh trước. Một thời gian rất ngắn sau (sau khi cả bốn bánh xe đều mòn nhẵn) họ sẽ ra chợ trời hay một nơi bán vỏ xe cũ, mua những bánh xe còn tạm dùng được về thay. Cũng thế, nếu bình điện (hay bất cứ cơ phận nào trong xe) bị hư, người Mễ sẽ đi ra nghĩa địa xe hơi tìm tháo một cơ phận tương tự để thay vào đó.

    Nói tóm lại là họ chỉ sửa qua loa, sửa đỡ, sửa cho có, sửa lấy lệ, sửa cầm chừng, sửa sơ sơ, sửa tạm, sửa chút chút, sửa đại khái, sửa tượng trưng... để hôm sau – hay tuần sau – lại lôi xe ra tiếp tục sửa (lai rai) nữa, cho vui!

    Tôi rất tiếc là mình đã không chia sẻ được với niềm vui " đơn sơ và ồn ào" của những người hàng xóm Mễ, và vô cùng buồn vì họ làm tôi liên tưởng đến lối sửa sai của những người cộng sản Việt Nam – những ông bà (thổ tả) này cũng chuyên môn sửa sai một cách rất ồn ào và chỉ sửa cho có, sửa lấy lệ, sửa cầm chừng, và sửa... hoài hoài mà không hề bao giờ thấy ngựợng!

    Hơn chục năm trước, báo Nhân Dân – số 156, phát hành ngày 19 tháng 5 năm 99, tại Hà Nội – đăng ở trang nhất bài "Phát Biểu Của Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu" về chiến dịch sửa sai, có đoạn:" Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) đã đi tới một quyết định đặc biệt quan trọng: Phải tiến hành cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tự phê bình và phê bình nhân kỷ niệm 30 năm thực hiện di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và kỷ niệm 70 năm thành lập Đảng. Cuộc vận động tiến hành trong hai năm, từ 19-5-1999 đến 19-5-2001, sau đó trở thành nếp thường xuyên."

    Chỉnh đốn, chỉnh huấn, khắc phục, kiểm điểm, kiểm thảo, phê bình, tự phê, sửa sai...là những chuyện gắn liền với đảng viên cộng sản Việt Nam y như việc sửa xe gắn liền với đời sống của những người di dân Nam Mỹ ở Hoa Kỳ vậy. Chuyện này trở thành "thường xuyên" vì họ thường sai, và vì không bao giờ có ý muốn sửa chữa bất cứ chuyện gì một cách cho nó đàng hoàng tử tế.

    Đó là cách nói ví von , và ví von một cách vụng về, của cá nhân tôi – một di dân Việt Nam xa xứ từ lâu nên khả năng xử dụng Việt Ngữ rất là hạn chế, và (e) không lấy gì làm chính xác. Ông Nguyễn Xuân Tụ, một người cầm viết có bút hiệu là Hà Sĩ Phu, hiện đang sống ở Việt Nam, có cách nói chính xác và gọn gàng hơn về những "hiện tượng tiêu cực" vừa nêu. Ông ta gọi đó là lối "tu sửa vặt" hay "bổ sung vặt". Khi bàn về chuyện "thường xuyên sửa sai" của người CSVN, ông Hà Sĩ Phu đưa ra một hình ảnh so sánh khác – rất khoa học và sống động:

    "Thế giới sinh vật đã cho ta những ví dụ rất rõ về vấn đề này. Con đường tiến hóa là: Sinh vật đơn bào phải đa bào hóa, trên cơ sở đa bào mới phân hóa thành những cơ quan khác nhau, giữa các cơ quan ngày càng có sự 'phân công' rành rọt nhưng ngày càng phối hợp với nhau chặt chẽ bởi sự chỉ huy càng ngày càng tập trung của hệ thần kinh. Cứ thế mà tiến hóa từ thấp lên cao, và cuối cùng xuất hiện loài người chúng ta."

    "Nhưng có những sinh vật đơn bào không đi vào con đường đa bào hóa mà thích nghi bằng cách 'tu sửa vặt' , 'bổ sung vặt', khiến cho bên trong cái tế bào duy nhất của nó cũng có đủ thứ như một cơ thể đa bào: có một chút tượng trưng cho 'tim', một chút tượng trưng cho 'dạ dầy', một chút 'thận', một chút 'giác quan', một chút 'thần kinh', một chút 'chân tay'... Chúng kéo dài cái cấu trúc 'cổ lỗ' ấy suốt mấy triệu năm, và vĩnh viễn không thể 'gia nhập' vào con đường tiến hóa chung được nữa. Nếu chỉ lấy sự 'sống chết' để đo mức độ tiến hóa thì những sinh vật đơn bào ấy hẳn là 'cao' hơn con người người nhiều, vứt ra bất cứ cống rãnh nào chúng cũng sinh sôi".

    "Điều kiện để có sự tiến hóa là phải có nguy cơ bị tiêu diệt: Nếu không tiến hóa nó sẽ bị diệt vong trong cuộc đấu tranh sinh tồn! Sự 'tu sửa vặt' chính là 'giải pháp' giúp cho sinh vật 'lách' qua được sự đấu tranh sinh tồn khắc nghiệt, vượt qua nguy cơ bị tiêu diệt mà không cần đến con đường chính thống, nhưng chính sự 'thành công' này đã tách nó ra xa con đường chung và không tiến hóa cao được nữa". ( "Đôi Điều Suy Nghĩ Của Một Công Dân". Tuyển Tập Hà Sĩ Phu. Phong Trào Nhân Quyền Cho Việt Nam Năm 2000 và Tạp Chí Thế Kỷ 21 xuất bản tháng 1 năm 96, trang 99 và 100).

    Báo Nhân Dân – cơ quan ngôn luận chính thức của đảng CSVN, số thượng dẫn – cũng có bài xã luận, không ghi tên người viết, về phong trào phê và tự phê. Bài báo này kết luận:" Đó cũng là vấn đề sống còn của Đảng Cộng sản Việt Nam, chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam."

    Phê và tự phê hay "tu sửa vặt" và "bổ sung vặt" chính là "giải pháp" sẽ giúp cho đảng Cộng Sản Việt nam "lách" khỏi hiểm nguy trong giai đoạn "sống còn" này, theo như kinh nghiệm và nhận xét của Hà Sĩ Phu. Tôi tin là đảng CSVN sẽ thành công, như nó đã từng thành công nhiều lần trước đó, với cùng phương cách. Tuy nhiên, tưởng cũng cần nên nói cho hết lẽ là sự thành công của đảng luôn luôn là tai họa của dân. Khi những sinh vật đơn bào, những ký sinh trùng, hay nói rõ ra là sán lãi...thành công trong việc thích nghi để sống mãi trong lòng quần chúng thì hậu quả tất nhiên là nạn nhân của nó sẽ phải chết dở vì luôn ở tình trạng suy kiệt về dinh dưỡng.

    Hơn nửa thế kỷ qua, thời gian đủ dài để mọi người thấy rằng tất cả những đợt "chỉnh đốn" hay "sửa sai" của đảng CSVN đều chỉ là một hình thức thích nghi để sinh tồn, hoàn toàn có tính cách giai đoạn và chiến thuật. Bản chất của ký sinh là ăn bám. Dù nó có "thiện chí" thay đổi cách nào hay kiểu nào chăng nữa thì sự khác biệt cũng chỉ ở mức độ sống bám, và đục khoét, mà thôi chứ bản chất thì bất biến.

    Chuyện toàn bộ các ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đang có mặt tại Hà Nội vào những ngày cuối tháng 2 năm 2012 để dự hội nghị ba ngày về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, lần này, tất nhiên cũng chỉ là một màn kịch. Tuy thế, báo đài nhà nước vẫn đồng loạt tung hô:

    – Quyết liệt chỉnh đốn Đảng: Người dân đặt nhiều kỳ vọng.

    – Đa số người dân đều cho rằng Nghị quyết đã nêu rất “đúng và trúng” hiện nay trong vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng và kỳ vọng vào việc thực hiện thành công Nghị quyết TW 4.

    Không biết “đa số người dân” nào đã “đặt nhiều kỳ vọng” vào quyết tâm và “quyết liệt chỉnh đốn Đảng” lần này, chứ cứ theo nhận xét của tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang thì đây cũng lại chỉ là một cách “giật gấu vá vai” thôi. Còn theo lời luật sư Trần Lâm, nghe được qua BBC hôm 28 tháng 2 năm 2012, thì ông đã chứng kiến nhiều sự kiện tương tự trong đời và xem đây chỉ là "chuyện cũ chép lại" và là một chuyện “hoàn toàn sáo rỗng.”

    Một vị Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao của Việt Nam (88 tuổi đời) mà còn khẳng định như thế thì tôi cũng đành phải mang “chuyện cũ ra chép lại” thôi, chớ làm sao viết được điều gì (mới) nữa.

    Tưởng Năng Tiến
    Được đăng bởi Tổ Quốc. Độc Lập. Tự Cường vào lúc 04:53
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  12. #92
    Join Date
    Aug 2012
    Posts
    4
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Thương cho Dân Việt sống với việt cộng .

    Tìm em như thể tìm chim
    Chim bay biển Bắc, anh tìm biển Đông
    Tìm chi cho phải mất công
    Đài Loan, Hàn Quốc em dông mất rồi

  13. #93
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Thương cho Dân Việt sống với việt cộng .

    Cuộc đời và cái chết rất buồn của một người chính trực

    Friday, 30 March 2012

    Written by Mai Thanh Truyết



    Cố bác sĩ Dương Quỳnh Hoa

    Bà Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (DQH) vừa nằm xuống ngày thứ bảy 25–2–2006 tại Sài Gòn, và cũng vừa được hỏa táng vào ngày thứ ba 28/2.

    Báo chí trong nước cho đến hôm nay, không hề loan tải tin tức trên.

    Đài BBC có phỏng vấn Ông Võ Nhơn Trí ở Pháp về tin nầy và phát đi ngày 28/2.

    Sự im lặng của CS Việt Nam khiến cho người viết thấy có nhu cầu trang trãi và chia xẻ một số suy nghĩ về cái chết của BS DQH để từ đó rút ra thêm một kinh nghiệm sống về tính chất “chuyên chính vô sản” của những người cầm quyền tại Việt Nam hiện tại.

    Ô. Bà DQH và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam

    BS DQH là một người sống trong một gia đình theo Tây học, có uy tín và thế lực trong giới giàu có ở Sài Gòn từ thập niên 40.

    Cha là GS Dương Minh Thới và anh là LS Dương Trung Tín; gia đình sống trong một biệt thự tại đường Bà Huyện Thanh Quan xéo góc Bộ Y tế (VNCH) nằm trên đường Hồng Thập Tự.

    LS Tín đã bị ám sát tại Đà Lạt trong đó cái chết của ông cũng không được soi sáng, nhưng đa phần có nhiều nghi vấn là do lý do chính trị vì ông có khuynh hướng thân Pháp thời bấy giờ.

    Về phần Bà Hoa, được đi du học tại Pháp vào cuối thập niên 40, đã đỗ bằng Bác sĩ Y khoa tại Paris và về lại Việt Nam vào khoảng 1957 (?). Bà có quan niệm cấp tiến và xã hội, do đó Bà đã gia nhập vào Đảng CS Pháp năm 1956 trước khi về nước.

    Từ những suy nghĩ trên, Bà hoạt động trong lãnh vực y tế và lần lần được móc nối và gia nhập vào Đảng CSVN.

    Tháng 12/1960, Bà trở thành một thành viên sáng lập của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN (MTDTGPMN) dưới bí danh Thùy Dương, nhưng còn giữ bí mật cho đến khi Bà chạy vô “bưng” qua ngõ Ba Thu –Mõ Vẹt xuyên qua Đồng Chó Ngáp.

    Ngay sau biến cố Tết Mậu Thân, tin tức trên mới được loan tải qua đài phát thanh của Mặt Trận.

    Khi vào trong bưng, Bà gặp GS Huỳnh Văn Nghị (HVN) và kết hôn với GS.

    Trở qua GS Huỳnh Văn Nghị, Ông cũng là một sinh viên du học tại Pháp, đỗ bằng Cao học (DES) Toán.

    Về VN năm 1957, ông dạy học tại trường Petrus Ký trong hai năm, sau đó qua làm ở Nha Ngân sách và Tài chánh. Ông cũng có tinh thần thân Cộng, chạy vô “bưng” năm 1968 và được kết nạp vào đảng sau đó.

    Do “uy tín” chính trị quốc tế của Bà Hoa thời bấy giờ rất cao, Mặt Trận, một lá bài của CS Bắc Việt, muốn tận dụng uy tín nầy để tạo sự đồng thuận với chính phủ Pháp hầu gây rối về mặt ngoại giao cho VNCH và đồng minh Hoa Kỳ. Từ những lý do trên, Bà Hoa là một người rất được lòng Bắc Việt, cũng như Ông Chồng là GS HVN cũng được nâng đở theo.

    Vào đầu thập niên 70, Ông được chuyển ra Bắc và được huấn luyện trong trường đảng. Tại đây, với một tinh thần thông thoáng dân tộc, cộng thêm nhiều lý luận toán học, Ông đã phân tích và chứng minh những lý thuyết giảng dạy ở trường đảng đều không có căn bản lý luận vững chắc và Ông tự quyết định rời bõ không tiếp tục theo học trường nầy nữa.

    Nhưng chính nhờ uy tín của Bà DQH trong thời gian nầy cho nên ông không bị trở ngại về an ninh. Cũng cần nên nói thêm là ông đã từng được đề cử vào chức vụ Bộ trưởng Kinh tế nhưng ông từ chối.

    Ô.B DQH và Đảng Cộng sản VN

    Chỉ một thời gian ngắn sau khi CS Bắc Việt giải tán Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, Ô Bà lúc đó mới vở lẽ ra.

    Về phần Ô HVN, ông hoàn toàn không hợp tác với chế độ. Năm 1976, trong một buổi ăn tối với 5 người bạn thân thiết, có tinh thần “tiến bộ”, Ông đã công khai tuyên bố với các bạn như sau: "Các “toi” muốn trốn thì trốn đi trong lúc nầy. Đừng chần chờ mà đi không kịp. Nếu ở lại, đừng nghĩ rằng mình đã có công với “cách mạng” mà “góp ý” với đảng”.

    Ngay sau đó, một trong người bạn thân là Nguyễn Bá Nhẫn vượt biên và hiện cư ngụ tại Pháp. Còn 4 người còn lại là Lý Chánh Trung (giáo sư văn khoa Sài Gòn), Trần Quang Diệu (TTKý Viện Đại học Đà Lạt), Nguyễn Đình Long (Nha Hàng không Dân sự), và một người nữa người viết không nhớ tên không đi. Ông Trung và Long hiện còn ở Việt Nam, còn ông Diệu đang cư ngụ ở Canada.

    Trở lại BS DQH, sau khi CS chiếm đóng miền Nam tháng 4/1975, Bà Hoa được “đặt để” vào chức vụ Tổng trưởng Y tế, Xã hội, và Thương binh trong nội các chính phủ.

    Vào tháng 7/75, Hà Nội chính thức giải thể chính phủ Lâm thời và nắm quyền điều hành toàn quốc, chuyển Bà xuống hàng Thứ trưởng và làm bù nhìn như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Định…

    Chính trong thời gian nầy Bà lần lần thấy được bộ mặt thật của đảng CS và mục tiêu của họ không phải là phục vụ đất nước Việt Nam mà chính là làm nhiệm vụ của CS quốc tế là âm mưu nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á.

    Vào khoảng cuối thập niên 70, Bà đã trao đổi cùng Ô Nguyễn Hữu Thọ:”Anh và tôi chỉ đóng vai trò bù nhìn và chỉ là món đồ trang sức rẻ tiền cho chế độ. Chúng ta không thể phục vụ cho một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ. Vì vậy tôi thông báo cho anh biết là tôi sẽ trả lại thẻ Đảng và không nhận bất cứ nhiệm vụ nào trong chính phủ cả”.

    Đến năm 1979, Bà chính thức từ bỏ tư cách đảng viên và chức vụ Thứ trưởng.

    Dĩ nhiên là Đảng không hài lòng với quyết định nầy; nhưng vì để tránh những chuyện từ nhiệm tập thể của các đảng viên gốc miền Nam, họ đề nghị Bà sang Pháp. Nhưng sau cùng, họ đã lấy lại quyết định trên và yêu cầu Bà im lặng trong vòng 10 năm.

    Mười năm sau đó, sau khi được “phép” nói, Bà nhận định rằng Đảng CS Việt Nam tiếp tục xuất cảng gạo trong khi dân chúng cả nước đang đi dần đến nạn đói. Và nghịch lý thay, họ lại yêu cầu thế giới giúp đỡ để giải quyết nạn nghèo đói trong nước.

    Trong thời gian nầy Bà tuyên bố:”Trong hiện trạng của Đất Nước hiện tại (thời bấy giờ), xuất cảng gạo tức là xuất cảng sức khỏe của người dân”

    Và Bà cũng là một trong những người đầu tiên lên tiếng báo động vào năm 1989 cho thế giới biết tệ trạng bán trẻ em Việt Nam ngay từ 9,10 tuổi cho các dịch vụ tình dục trong khách sạn và các khu giải trí dành cho người ngoại quốc do các cơ quan chính phủ và quân đội điều hành.

    Sau khi rời nhiệm vụ trong chính phủ, Bà trở về vị trí của một BS nhi khoa. Qua sự quen biết với giới trí thức và y khoa Pháp, Bà đã vận động được sự giúp đở của hai giới trên để thành lập Trung Tâm Nhi Khoa chuyên khám và chữa trị trẻ em không lấy tiền và Bà cũng được viện trợ thuốc men cho trẻ em Việt Nam suy dinh dưỡng nhất là acid folic và các lọai vitamin.

    Nhưng tiếc thay, số thuốc trên khi về Việt Nam đã không đến tay Bà mà tất cả được chuyển về Bắc.

    Bà xin chấm dứt viện trợ, nhưng lại được “yêu cầu” phải xin lại viện trợ vì …nhân dân (của Đảng!).

    Về tình trạng trẻ con suy dinh dưỡng, với tính cách thông tin, chúng tôi xin đưa ra đây báo cáo của Bà Anneke Maarse, chuyên gia tư vấn của UNICEF trong hội nghị ngày 1/12/03 tại Hà Nội : ”Hiện Việt Nam có 5,1 triệu người khuyết tật chiếm 6,3% trên tổng số 81 triệu dân. Qua khảo sát tại 648 gia đình tại ba vùng Phú Thọ, Quảng Nam và Tp HCM cho thấy có tới 24% trẻ em tàn tật dạng vận động, 92,3% khuyết tật trí tuệ, và 19% khuyết tật thị giác lẫn ngôn ngữ. Trong số đó tỷ lệ trẻ em khuyết tật bẩm sinh chiếm tới 72%.

    Vào năm 1989, Bà đã được ký giả Morley Safer, phóng viên của đài truyền hình CBS phỏng vấn. Những lời phỏng vấn đã được ghi lại trong cuốn sách của ông dưới tựa đề Flashbacks on Returning to Việt Nam do Random House, Inc. NY, 1990 xuất bản. Qua đó, một sự thật càng sáng tỏ là con của Bà, Huỳng Trung Sơn bị bịnh viêm màng não mà Bà không có thuốc để chữa trị khi còn ở trong bưng và đây cũng là một sự kiện đau buồn nhất trong đời Bà. Cũng trong cuốn sách vưà kể trên, Bà cũng đã tự thú là đã sai lầm ở một khoảng thời gian nào đó. Nhưng Bà không luyến tiếc vì Bà đã đạt được mục đích là làm cho những người ngoại quốc ra khỏi đất nước Việt Nam.

    Sau cùng, chúng tôi xin liệt kê ra đây hai trong những nhận định bất hủ của BS DQH là:

    ”Trong chiến tranh, chúng tôi sống gần nhân dân, sống trong lòng nhân dân. Ngày nay, khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, đảng đã xem nhân dân như là một kẽ thù tiềm ẩn”.

    Và khi nhận định về bức tường Bá Linh, Bà nói:” Đây là ngày tàn của một ảo tưởng vĩ đại”.

    BS DQH và Vụ kiện Da Cam

    Theo nhiều nguồn dư luận hải ngoại, trước khi ký kết Thương ước Mỹ-Việt dưới nhiệm kỳ của Tổng thống Clinton, hai chính phủ đã đồng ý trong một cam kết riêng không phổ biến là Việt Nam sẽ không đưa vụ Chất độc màu Da cam để kiện Hoa Kỳ, và đối lại, Mỹ sẽ ký thương ước với Việt Nam và sẽ không phủ quyết để Việt Nam có thể gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong tương lai.

    Có lẽ vì “mật ước” Mỹ-Việt vừa nêu trên, nên Việt Nam cho thành lập Hội Nạn nhân chất Độc Da cam/Dioxin Việt Nam ngày 10/1/2004 ngay sau khi có quyết định chấp thuận của Bộ Nội vụ ngày 17/12/2003.

    Đây là một Hội dưới danh nghĩa thiện nguyện nhưng do Nhà Nước trợ cấp tài chính và kiểm soát.

    Ban chấp hành tạm thời của Hội lúc ban đầu gồm:

    - Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước làm Chủ tịch danh dự;

    - Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐND làm Chủ tịch;

    - GS,BS Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ trưởng Y tế, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam làm Phó Chủ tịch;

    - Ô Trần Văn Thụ làm Thư ký.

    Trong buổi lễ ra mắt, Bà Bình đã khẳng định rõ ràng rằng: ”Chính phủ Mỹ và các công ty sản xuất chất độc hoá học da cam phải thừa nhận trách nhiệm tinh thần, đạo đức và pháp lý. Những người phục vụ chính thể Việt NamCộng Hòa cũ ở miền Nam không được đưa vào danh sách trợ cấp”. Theo một bản tin của Thông tấn xã Việt Nam thì đây là một tổ chức của những nạn nhân chất Da cam, cũng như các cá nhân, tập thể tự nguyện đóng góp để giúp các nạn nhân khắc phục hậu quả chất độc hoá học và là đại diện pháp lý của các nạn nhân Việt Nam trong các quan hệ với các tổ chức và cơ quan trong cũng như ngoài nước. Thế nhưng, trong danh sách nạn nhân chất da cam trong cả nước được Việt Nam ước tính trên 3 triệu mà chính phủ đã thiết lập năm 2003 để cung cấp tiền trợ cấp hàng tháng, những nạn nhân đã từng phục vụ cho VNCH trước đây thì không được đưa vào danh sách nầy (Được biết năm 2001, trong Hội nghị Quốc tế tại Hà Nội, số nạn nhân được Việt Nam nêu ra là 2 triệu!). Do đó có thể nói rằng, việc thành lập Hội chỉ có mục đích duy nhất là hỗ trợ cho việc kiện tụng mà thôi.

    Vào ngày 30/1/2004, Hội đã nộp đơn kiện 37 công ty hóa chất ở Hoa Kỳ tại tòa án liên bang Brooklyn, New York do luật sư đại diện cho phía Việt Nam là Constantine P. Kokkoris. (Được biết LS Kokkoris là một người Mỹ gốc Nga, đã từng phục vụ cho tòa Đại sứ Việt ở Nga Sô và có vợ là người Việt Nam họ Bùi). Hồ sơ thụ lý gồm 49 trang trong đó có 240 điều khoảng. Danh sách nguyên đơn liệt kê như sau:

    - Hội Nạn nhân Chất Da cam/Dioxin Việt Nam;

    - Bà Phan Thị Phi Phi, giáo sư Đại học Hà Nội;

    - Ông Nguyễn Văn Quý, cựu chiến binh tham chiến ở miền Nam trước 1975, cùng với hai người con là Nguyễn Quang Trung (1988) và Nguyễn Thị Thu Nga (1989);

    - Bà Dương Quỳnh Hoa, Bác sĩ, nguyên Bộ trưởng Y tế Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, và con là Huỳnh Trung Sơn; và

    - Những người cùng cảnh ngộ.

    Đây là một vụ kiện tập thể (class action) và yêu cầu được xét xử có bồi thẩm đoàn. Các đương đơn tố các công ty Hoa Kỳ đã vi phạm luật pháp quốc tế và tội ác chiến tranh, vi phạm luật an toàn sản phẩm, cẩu thả và cố ý đả thương, âm mưu phạm pháp, quấy nhiễu nơi công cộng và làm giàu bất chánh để

    (1) đòi bồi thường bằng tiền do thương tật cá nhân, tử vong, và dị thai và

    (2) yêu cầu tòa bắt buộc làm giảm ô nhiễm môi trường, và

    (3) để hoàn trả lại lợi nhuận mà các công ty đã kiếm được qua việc sản xuất thuốc khai quang.

    Không có một bằng chứng nào được đính kèm theo để biện hộ cho các cáo buộc, mà chỉ dựa vào tin tức và niềm tin (nguyên văn là upon information and belief). Tuy nhiên, đơn kiện có nêu đích danh một số nghiên cứu mới nhất về dioxin của Viện Y khoa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ, công ty cố vấn Hatfield Consultants của Canada, Bác sĩ Arnold Schecter của trường Y tế Công cộng Houston thuộc trường Đại học Texas, và Tiến sĩ Jeanne Mager Stellman của trường Đại học Columbia, New York.

    Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa cũng như quá trình hoạt động của Bà từ những năm 50 cho đến hiện tại. Tên Bà nằm trong danh sách nguyên đơn cũng là một nghi vấn cần phải nghiên cứu cặn kẽ.

    Theo nội dung của hồ sơ kiện tụng, từ năm 1964 trở đi, Bà thường xuyên đi đến thành phố Biên Hòa và Sông Bé (?) là những nơi đã bị phun xịt thuốc khai quang nặng nề.

    Từ năm 1968 đến 1976, nguyên đơn BS Hoa là Tổng trưởng Y tế của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam và ngụ tại Tây Ninh. Trong thời gian nầy Bà phải che phủ trên đầu bằng bao nylon và đã đi ngang qua một thùng chứa thuốc khai quang mà máy bay Mỹ đã đánh rơi.

    (Cũng xin nói ở đây là chất da cam được chứa trong những thùng phuy 200L và có sơn màu da cam. Chất nầy được pha trộn với nước hay dầu theo tỷ lệ 1/20 hay hơn nữa và được bơm vào bồn chứa cố định trên máy bay trước khi được phun xịt. Như vậy làm gì có cảnh thùng phuy rơi rớt!?).

    Năm 1970, Bà hạ sinh đứa con trai tên Huỳnh Trung Sơn (cũng có tên trong đơn kiện như một nguyên đơn, tuy đã mất) bị phát triển không bình thường và hay bị chứng co giật cơ thể. Sơn chết vào lúc 8 tháng tuổi.

    Trong thời gian chấm dứt chiến tranh, BS Hoa bắt đần bị chứng ngứa ngáy ngoài da.

    Năm 1971, Bà có mang và bị sẩy thai sau 8 tuần lễ.

    Năm 1972, Bà lại bị sẩy thai một lần nữa, lúc 6 tuần mang thai.

    Năm 1985, BS Hoa đã được chẩn bịnh tiểu đường.

    Và sau cùng năm 1998 Bà bị ung thư vú và đã được giải phẩu.

    Năm 1999, Bà được thử nghiệm máu và BS Schecter (Hoa Kỳ) cho biết là lượng Dioxin trong máu của Bà có nồng độ là 20 ppt (phần ức).

    Và sau cùng, kết luận trong hồ sơ kiện tụng là: Bà BS Hoa và con là nạn nhân của chất độc Da cam.

    Qua những sự kiện trên chúng ta thấy có nhiều điều nghịch lý và mâu thuẫn về sự hiện diện của tên Bà trong vụ kiện ở Brooklyn.

    Để tìm giải đáp cho những điều nghịch lý trên, chúng tôi xin trích dẫn những phát biểu của Bà trong một cuộc tiếp xúc thân hữu tại Paris trung tuần tháng 5/2004.

    Theo lời Bà (từ miệng Bà nói, lời của một người bạn tên VNT có mặt trong buổi tiếp xúc trên) thì “người ta đã đặt tôi vào một sự đã rồi (fait accompli).

    Tên tôi đã được ghi vào hồ sơ kiện không có sự đồng ý của tôi cũng như hoàn toàn không thông báo cho tôi biết. "Người ta chỉ đến mời tôi hợp tác khi có một ký giả người Uc thấy tên tôi trong vụ kiện yêu cầu được phỏng vấn tôi. Tôi chấp nhận cuộc gặp gỡ với một điều kiện duy nhất là tôi có quyền nói sự thật, nghĩa là tôi không là người khởi xướng vụ kiện cũng như không có ý muốn kiện Hoa Kỳ trong vấn đề chất độc da cam.”

    Dĩ nhiên cuộc gặp gỡ giữa Bà Hoa và phóng viên người Uùc không bao giờ xảy ra.

    Bà còn thêm rằng: ”Trong thời gian mà tất cả mọi người nhất là đảng CS bị ám ảnh về việc nhiễm độc dioxin, tôi cũng đã nhờ một BS Hoa Kỳ khám nghiệm (khoảng 1971) tại Pháp và kết quả cho thấy là lượng dioxin trong máu của tôi dưới mức trung bình (2ppt).”

    Đến đây, chúng ta có thể hình dung được kết quả của vụ kiện.

    Và ngày 10 tháng 3 năm 2005, Ông chánh án Jack Weinstein đã tuyên bố hủy bõ hoàn toàn vụ kiện tại tòa án Brooklyn, New York.

    Bài học được rút ra từ cái chết của BS DQH

    Từ những tin tức về đời sống qua nhiều giai đoạn của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, hôm nay Bà đã đi trọn quảng đường của cuộc đời Bà. Những bước đầu đời của Bà bắt đầu với bầu nhiệt huyết của tuổi thanh niên, lý tưởng phục vụ cho tổ quốc trong sáng. Nhưng chính vì sự trong sáng đó Bà đã không phân biệt và bị mê hoặc bởi những lý thuyết không tưởng của hệ thống cộng sản thế giới. Do đó Bà đã bị lôi cuốn vào cơn gió lốc của cuộc chiến VN. Và Bà đã đứng về phía người Cộng sản.

    Khi đã nhận diện được chân tướng của họ, Bà bị vỡ mộng và có phản ứng ngược lại. Nhưng vì thế cô, Bà không thể nào đi ngược lại hay “cải sửa” chế độ. Rất may cho Bà là Bà chưa bị chế độ nghiền nát. Không phải vì họ sợ hay thương tình một người đã từng đóng góp cho chế độ (trong xã hội CS, loại tình cảm tiểu tư sản như thế không thể nào hiện hữu được), nhưng chính vì họ nghĩ còn có thể lợi dụng được Bà trong những mặc cả kinh tế – chính trị giữa các đối cực như Pháp và Hoa Kỳ, trong đó họ chiếm vị thế ngư ông đắc lợi. Vì vậy, họ không triệt tiêu Bà.

    Hôm nay, chúng ta có thể tiếc cho Bà, một người Việt Nam có tấm lòng yêu nước nhưng không đặt đúng chỗ và đúng thời điểm; do đó, khi đã phản tỉnh lại bị chế độ đối xử tệ bạc. Tuy nhiên, với một cái chết trong im lặng, không kèn không trống, không một thông tin trên truyền thông về một người đã từng có công đóng góp một phần cho sự thành tựu của chế độ như Bà đã khiến cho chúng ta phải suy nghĩ, suy nghĩ về tính vô cảm của người cộng sản, cũng như suy nghĩ về tính chuyên chính vô sản của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Đối với chế độ hiện hành, sẽ không bao giờ có được sự đối thoại bình đẳng, trong đó tinh thần tôn trọng dân chủ dứt khoát không hề hiện hữu như các sinh hoạt chính trị của những quốc gia tôn trọng nhân quyền trên thế giới. Vì vậy, với cơ chế trên, hệ thống XHCN sẽ không bao giờ biết lắng nghe những tiếng nói “đóng góp” đích thực cho công cuộc xây dựng Đất và Nước cả.

    Bài học DQH là một bài học lớn cho những ai còn hy vọng rằng cơ hội ngày hôm nay đã đến cho những người còn tâm huyết ở hải ngoại ngõ hầu mang hết khả năng và kỹ năng về xây dựng quê hương.

    Hãy hình dung một đóng góp nhỏ nhặt như việc cung cấp những thông tin về nguồn nước ở các sông ngòi ở Việt Nam đã bị kết án là vi phạm “bí mật quốc gia” theo Quyết định của Thủ tướng Việt Nam số 212/203/QĐ-TTg ký ngày 21/10/2003.

    Như vậy, dù là “cùng là máu đỏ Việt Nam” nhưng phải là máu đã “cưu mang” một chủ thuyết ngoại lai mới có thể được xem là chính danh để xây dựng quê hương Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Chúng ta, những người Việt trong và ngòai nước, còn nặng lòng với đất nước, tưởng cũng cần suy gẫm trường hợp Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa ngõ hầu phục vụ tổ quốc và dân tộc trong sự thức tỉnh, đừng để bị mê hoặc bởi chủ thuyết cưỡng quyền.

    Tổ quốc là đất nước chung – Dân tộc là tất cả thành tố cần phải được bảo vệ và thừa hưởng phúc họa bình đẳng với nhau. Rất tiếc điều này không xảy ra cho Việt Nam hiện tại

    Ghi chú: Ngày 3/3/2006, trên báo SGGP, GS Trần Cửu Kiếm, nguyên ủy viên Ban Quân y miền Nam, một người bạn chiến đầu của Bà trong MTDTGPMN, có viết một bài ngắn để kỷ niệm về BS DQH.

    Chỉ một bài duy nhứt từ đó đến nay.

    Mong tất cả trí thức Việt Nam đặc biệt là trí thức miền Nam học và thấm thía bài học nầy qua trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa.

    * Mai Thanh Truyết *
    Lannguyen

  14. #94
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Thương cho Dân Việt sống với việt cộng .

    Cộng Sản ở ngay trong lòng chúng ta.

    Written by Nguyễn Hòa Bình - Phát Diệm



    I/ Các giá trị

    Đối với tôi thì điều mà làm tôi luôn chống lại những người cộng sản đó là những gian manh, trí trá. Có một số người tại hải ngoại muốn có một phân định rõ ràng : ai là những người của quốc gia và ai là những người cộng sản ? Đó là một việc rất khó nếu không muốn nói là không tưởng.

    Thực tế thì đại đa số trong chúng ta ai mà chẳng có người quen, hay một người họ xa, hay là một người thân là đảng viên cộng sản, như trong gia đình tôi đây thì ông ngoại tôi là một công chức cấp cao trong bộ máy của chính quyền Pháp, ông nội tôi là là một chủ đất với rất nhiều người làm thuê cuốc mướn, nhưng cha tôi lại là một đảng viên cộng sản. Chính cha tôi khi còn trai trẻ đã nhận thấy sự bất công đối xử của ông nội tôi với những người làm công cho gia đình và ông đã nghe theo lời dụ dỗ của những người csvn đứng lên chống lại chính cha đẻ của mình.

    Tôi lớn lên, trong chiến tranh, vì thế cuộc sống luôn thay đổi và mỗi lần chuyển rời chỗ học tôi thường phải khai lại lý lịch của mình , và khi viết về thành phần gia đình, mẹ tôi bảo tôi khai là gia đình công chức nhà nước, ông nội là người làm ruộng có nhiều người làm công… Đó là điều dối trá đầu tiên mà mẹ tôi đã cố nhồi nhét cho tôi. Khi tôi hỏi lại là tại sao lại khai như thế ? vì trong nhà ai cũng biết là cái ngày cải cách ruộng đất, chính quyền xã đã mang ông tôi ra giữa đình làng cho mọi người nhiếc mắng đủ điều. sau đó người ta vu cho ông nội tôi là địa chủ và đã tịch thu ruộng đất nhà cửa, đồ đạc của ông nội tôi. Cha tôi đã không thể làm được gì để cứu gia đình trong cơn bách hại này, mặc dù ông chính là một đảng viên cộng sản. Đó cũng là điều tôi luôn thắc mắc trong thời kỳ thơ ấu của tôi. Tôi đã hỏi mẹ và mẹ tôi bảo là vì lúc đó cha tôi là đảng viên nên phải gương mẫu trong đấu tranh, không thể để tình cảm làm tổn hại tới đường lối chung của đảng. Khi tôi vặn lại : tại sao lại nói dối? Mẹ tôi bảo đó là vì quyền lợi của tôi, Nếu mà khai ông nội là địa chủ thì số phận tôi sẽ rất long đong trên bước đường đời, còn nếu lúc đó cha mà cứu ông thì cả nhà chắc chết ! Cha tôi thì quát : trẻ con biết cái gì mà hỏi.

    Khi tốt nghiệp phổ thông với số điểm thi cao trong kỳ thi vào đại học, tôi được đi du học tại Balan nhờ vào bản lý lịch khai man. Và một phần nhỏ nữa là nhờ vào những gì mà cha tôi đã làm cho cộng sản.

    Bây giờ tôi là người trưởng thành và có thể lý giải một số chuyện trong cuộc đời này, tôi đã hiểu tại sao mẹ tôi phải khai man lý lịch của tôi và tại sao những bà mẹ Việt Nam khi đứng cạnh đứa con trưởng thành và THÀNH ĐẠT, thay vì kiêu hãnh và tự hào mà thường thì họ khóc.

    Họ khóc vì những đứa con thành đạt của họ khi nói với họ những lời cảm tạ, những tình cảm yêu thương đối với mẹ mình không hề biết rằng, để giúp con mình thành đạt người mẹ đã phải làm những điều bất chính trái với lương tâm, họ khóc vì những cay đắng đã đến với họ mà không thể nói được với con mình, họ khóc vì buồn tủi… khóc vì sự oan nghiệt của cuộc đời này.

    Điều này thật dễ dàng nhận ra khi quan sát các cuộc tuyên dương, vinh danh công trạng các chiến sĩ công an, các cán bộ “ vì dân” của chính quyền cộng sản bắc việt. Thường thì khi vinh danh một ai đó các MC hay lôi những người mẹ vào phỏng vấn và chúng ta thấy sau vài câu ấp úng nước mắt các mẹ tuân trào như mưa hệt như câu “ tôi đi giữa phố phường. Chỉ thấy nước mắt sa trên nền cờ đỏ ”như lời thơ của Trần Dần mà thôi.

    Bây giờ tôi đã thấy rất rõ : con đường công chính trên mảnh đất này là một con đường rất hẹp và có rất nhiều chông gai.

    Và để được coi là người THÀNH ĐẠT thường thì đa số trong họ trước đó phải làm rất nhiều việc đồi bại.

    Một người điển hình về tấm gương của những người suy đồi là Hồ Chí Minh.

    Để được khoác lên mình danh hiệu thơm tho cao quý “ CHA GIÀ DÂN TỘC” Hồ Chí Minh đã làm quá nhiều chuyện đồi bại và những ví dụ về sự đồi bại của y không cần phải dẫn chứng trong bài viết này.

    Một thực tế mà ai cũng biết là Hồ Chí Minh là người tài trí. Những người như thế mà phải làm những chuyện đồi bại để leo lên đỉnh cao danh vọng là vì sao?

    Câu trả lời là vì họ là những người đi ngược lại với những giá trị dân tộc mà thôi. Họ lợi dụng các giá trị của dân tộc để mưu cầu những lợi ích riêng tư, vì đặt lợi ích riêng tư lên trên hết nên họ sẵn sàng làm mọi chuyện đồi bại miễn sao mục đích của họ thành đạt mà thôi. Cha tôi cũng không là trường hợp ngoại lệ.

    Trong xã hội Việt Nam tôi không được coi là người THÀNH ĐẠT, bởi lẽ tôi luôn luôn tôn trong các giá trị văn hóa, tâm linh của dân tộc và vì thế tôi luôn luôn là người đi ngược lại với các suy nghĩ và tư duy trước hết là những người thân trong gia đình ( cha, mẹ ) sau nữa là những người trong cộng đồng và xã hội.

    II/ Văn hóa dân tộc và cuộc chạy trốn ?

    Văn hóa dân tộc là gì ? Không có câu trả lời rõ ràng cho vấn đề này. Nhưng trên hết dù là người chống lại các giá trị văn hóa, tâm linh dân tộc hay người bảo vệ các giá trị đó , tất cả những người nói tiếng Việt, sinh ra ở mảnh đất Việt đều là những người kế thừa di sản văn hóa của cha ông, nhưng những thăng trầm của lịch sử đã biến dân tộc Việt thành hai quốc gia trong một dân tộc với những hận thù và khác biệt ý thức sâu sắc. TỪ ĐÓ XÃ HÔI VIỆT NAM SINH RA NHỮNG TÂM LÝ TRÁI NGƯỢC NHAU :

    a/ Tâm lý vong bản

    Vong là rời xa, rời xa mà vẫn phải liên hệ tức là vong, như chính phủ lưu vong, là chính phủ của dân tộc có nhiều liên hệ với dân tộc, quốc gia nhưng lại nằm trên một đất nước khác.

    Vong bản là tâm lý của người Việt hiện nay, mặc dù sinh ra và lớn lên tại đất Việt, nói tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt nhưng lại luôn có những hành động , ngôn ngữ để mọi người chú ý và ngạc nhiên về nguồn gốc xuất thân của anh ta.

    Giới trẻ Việt ngày nay ở trong nước thích nói tiếng Anh bồi, thích nghe nhạc, và hát nhạc ngoại quốc, thích bắt chước ăn mặc và hành động như các ngôi sao điện ảnh của Mỹ, Hàn Quốc…Họ muốn gửi một thông điệp đến mọi người xung quanh “Tôi không giống người Việt Nam”. Lớn hơn lên một chút những thanh thiếu niên tốt nghiệp các trường đại học và có một chút tự trọng họ sẽ tìm cách làm việc tại các công ty của nước ngoài đóng tại Việt Nam hay tìm cách làm việc tại nước ngoài. Đối với họ các giá trị dân tộc, văn hóa… là những thứ xa lạ, mục tiêu của họ là kiếm tiền, kiếm tiền và kiếm tiền, nói theo kiểu của Nguyễn Ngọc Ngạn là làm business

    Những người không có tự trọng thì tìm cách lọt vào các cơ quan công quyền mặc dù cái giá để phải vào những cơ quan công quyền này có khi đến cả trăm triệu đồng nhưng họ biết rất rõ những cái mà họ sẽ nhận được trong tương lai, đó là trở thành những kẻ cai trị lại chính đồng bào của dân tộc mình.

    Nói là cai trị vì phương cách lãnh đạo và điều hành đất nước của chính quyền hiện nay giống hệt cách cai trị của chế độ phong kiến quân chủ hôn quân.

    Cai tức là cai quản như quản ngục cai quản tù nhân, trị là thống trị. Cai trị là cai quản để thông trị. Trong chế độ phong kiến có minh quân và hôn quân. MINH QUÂN như các bậc vua thời LÝ-TRẦN, hôn quân như các vua thời hậu Lê. Trong chế độ độc tài mà minh quân làm chủ thì đó vẫn là phúc cho dân tộc, nếu là hôn quân u ám thì thực là đại họa cho đất nước. Thế cho nên thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, tuy mầu sắc của chính phủ có ngả sang chế độ độc tài nhưng vẫn để lại đầy tiếc thương trong lòng người dân Nam Việt Nam .

    Nói rằng họ là những người không có tự trọng là vì để vào được các cơ quan công quyền ( trừ những trường hợp là con ông cháu cha), tất cả họ đều phải qua các cuộc thử thách về sự luồn cúi, về trình độ nịnh hót, và về các kiểu đĩ bợm khác nhau… Tất cả các việc này đều phải được khuếch trương bằng tiền, cụ thể là để chứng minh sự đĩ bợm của mình, đương sự muốn xin việc vào một cơ quan công quyền quan trọng nào đó phải mời cho được kẻ phê duyệt mình đi ăn nhậu và nếu trong cuộc ăn nhậu đó lỡ có một tay chơi nào đó muốn chứng tỏ sự ngông cuồng hơn, có ý định trả tiền có bữa nhậu đó thì đương sự phải quyết tâm gặt phăng hắn đi mà tranh trả cho bằng được, mà nếu sếp có ngỏ ý thích trò tiêu khiển theo kiểu trai trên gái dưới thì đương sự phải tỏ ra sành điệu. Có những trường hợp, các đương sự tranh nhau về một vị trí quyền lực và cùng có mặt trên bàn nhậu rồi sau đó đã tranh nhau trả tiền, cuộc tranh giành đó trở thành một trận mưa tiền tới tấp đến chủ quán. Sự đồi bại đã trở thành trò lố bịch chỉ vì một mục tiêu duy nhất là “ Tôi có khả năng trả giá cho chiếc ghế quyền lục đó cao hơn” Đó là một trong những tiêu chí để một đương sự có thể được chấp nhận vào cơ quan công quyền đang xẩy ra tại Việt Nam

    Tiêu chí vào các cơ quan công quyền có thể xếp theo thứ tự ưu tiên như sau:

    1/ Bằng lòng

    2/Bằng tiền

    3/ bằng tình (đối với ứng viên là mỹ nữ thì điểm này có thể được xếp lên hàng đầu )

    4/ Bằng cấp.

    Mặc dù trên các phương tiện truyền thông trong nước người ta luôn đề cao tiêu chí bằng cấp lên đầu tiên nhưng trong thực tế thì bằng cấp là cái mà các sếp xem cuối cùng mà chỉ có liếc qua thôi. Chính vì thế mà trong nước nạn bằng giả tràn lan. Vì liếc thì làm sao phân biệt được đâu là giả, đâu là thật.

    Tất cả những điều này đã xẩy ra và những thanh thiếu niên có lòng tự trọng hay không có tự trọng đều đi đến một kết luận chung giống nhau : Thời thế, thế thời thì phải thế.

    Bây giờ chúng ta đi vào tâm lý của tầng lớp trung lưu tại Việt Nam, tức là tầng lớp có tiền và có địa vị, tầng lớp này là tầng lớp rất phức tạp, họ là những người có tiền nhưng có thể không có địa vị, hoặc ngược lại, hoặc có cả hai thứ.

    Đối với những người có chức quyền tại Viên Nam hiện nay thì đa phần họ xuất thân từ những gia đình chân đất mắt toét (thành phần bần cố nông )

    Những người nông dân về bản tính là :

    Hiền lành khi bị ràng buộc

    Thô lỗ khi tranh giành

    Sợ hãi dưới cường quyền

    Ngạo mạn khi được đề cao.

    Nông dân hay còn gọi là thứ dân trong cách hiểu của KINH DỊCH là tầng lớp thấp nhất trong xã hội. KINH DỊCH cũng chỉ ra rằng tầng lớp trong xã hội thì cố định, nhưng con người trong xã hội thì chuyển động có nghĩa rằng một người nông dân có thể thay đổi tính cách của mình để trở thành một trí thức thực sự có ích cho dân cho nước, thậm chí có thể trở thành VUA như trường hợp VUA QUANG TRUNG. Tất nhiên khi Nguyễn Huệ làm VUA ông đã gột sạch bản tính nông dân của mình và không còn là nông dân nữa.

    Tuy nhiên chủ nghĩa cộng sản lại làm một điều ngược lại là cố định tính cách con người nhưng lại muốn hoán vị các giai tầng xã hội. Cho nên các gương mặt của các nhà lãnh đạo cộng sản thường có những nét thâm hiểm ác độc, tính cách thì cục cằn gắt gỏng, cau có. Họ không muốn thay đổi tâm tính, tức là về nguyên tắc họ vẫn là một nông dân xịn nhưng họ lại cố thay đổi giai tầng xã hội, tức là họ muốn những người trí thức hay những người có chí khí phải ngu hơn họ . Họ muốn tạo ra một giai tầng xã hội thấp hơn giai tầng thứ dân. Nói một cách chính xác là tạo ra một lớp người tù tội, vì như thế những người này mới có cái vẻ ngu xuẩn hơn tầng lớp thứ dân mà thôi.

    Trong nước vẫn lan truyền một câu ca “ ếch nhái lên làm người ”. Đó là chỉ về những người này, nhưng tôi cho rằng đó là chỉ là thời thế, đó không thể làchân lý được

    Và vì thành phần lý lịch như thế nên tính cách của họ là thô tục, bẩn thỉu, nhỏ nhen, ích kỷ. Họ ý thức được điều đó là xấu xa nhưng không biết cách sửa nên họ luôn có một tâm lý chối bỏ nguồn gốc của mình, và che đậy chúng bằng những mỹ từ cùng những lời có cánh.

    Chúng ta thấy, khi họ có địa vị chức quyền họ thay hình đổi dạng rất nhanh, ăn mặc đồ đắt tiền, nói năng hách dịch, đi toàn xe đẹp, nhà xây ngất ngưởng. Nhưng những thứ đó chỉ là bề ngoài mà không thể làm thay đổi bản chất thô tục trong lòng họ (chân đất mắt toét ). Đó là tâm lý vong bản đã hình thành rất rõ rệt trong giới quan trường ở VN. Tâm lý đó đã tạo ra một xã hội nhầy nhụa,bẩn thỉu…

    Đối với những người có tự trọng và có tiền ở Việt Nam thì khi đối mặt với sự nhơ nhớp trong xã hội và khi họ cảm thấy bất lực trước viễn cảnh của đất nước thì họ thường tìm cách chạy trốn, trước hết là tìm cách cho con cháu họ chạy ra nước ngoài, sau nữa là họ sẽ tìm cách sống yên ổn trong một căn nhà đẹp với một khuôn viên yên tĩnh, say sưa nghe những bản tình ca ủy mị, và nhâm nhi những giọt rượu ngon của ngoại quốc.

    VÌ KHÔNG TÌM THẤY NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA VĂN HÓA VÀ TÂM LINH CỦA DÂN TỘC NÊN HỌ TÌM ĐẾN CON ĐƯỜNG VONG BẢN NHƯ MỘT CUỘC CHẠY TRỐN CHÍNH NHỮNG GIÁ TRỊ TINH THẦN CỦA CHÍNH BẢN THÂN MÌNH MÀ NGUỒN GỐC XUẤT PHÁT TỪ VĂN HÓA, TÂM LINH CỦA CÁC BẬC TỔ PHỤ BÁCH VIỆT ĐÃ XÂY CẤT VÀ TẠO DỰNG QUA RẤT NHIỀU THẾ HỆ !

    b/ Tâm lý bảo thủ các giá trị văn hóa và tâm linh

    Có thể nhận thấy rất dễ dàng là cộng đồng người Việt tại hải ngoại là những người nhiệt huyết nhất trong công cuộc bảo vệ những giá trị văn hóa, tâm linh của dân tộc.

    Thường thì để khoe các giá trị văn hóa của một dân tộc thì những nghệ sĩ của dân tộc đó đem lời ca tiếng hát, âm hưởng đất nước của mình đi trình diễn trên xứ người. Nhưng đối với Việt Nam thì ngược lại. Những công dân có quốc tịch Mỹ. Pháp, Đức… lại về Việt Nam để hát những bài tình ca, dân ca trữ tình của đất Việt và họ đã được hoan nghênh nhiệt liệt. Sau đây là những so sánh :

    1/ Đàm Vĩnh Hưng khi hát tại sân khấu tròn ở Sài Gòn, giá vé năm 2010 từ 90 đến 100 ngàn

    2/ ca sĩ hải ngoại khi hát tại sân khấu tròn tại Sài Gòn, giá vé từ 500 dến 700 ngàn

    Như vậy các ca sĩ từ ngoại quốc về Việt Nam hát những bài tình ca quê hương có giá gấp 5 lần các ca sĩ trong nước ?

    Ca sĩ Chế Linh biểu diễn ở Hà Nôi có giá 3 triệu đồng / vé

    Dẫn chứng này cho thấy cộng đồng người Việt hải ngoại là những người bảo vệ các giá trị văn hóa tốt hơn những người làm văn hóa trong nước. Điều này có làm xấu hổ những cán bộ làm công tác văn hóa văn nghệ trong bộ văn hóa không? Tôi không nghĩ là không, vì như dư luận trong nước đã nói là họ bị đứt dây thần kinh xấu hổ.

    Như các bạn đã thấy khi các ca sĩ hải ngoại hướng tới văn hóa và những âm hưởng dân tộc, thì quần chúng đã ủng họ nhiệt liệt. Vậy việc thanh thiếu niên trong nước thờ ơ với lịch sử dân tộc, thờ ơ với các truyền thống cổ truyền của dân tộc không bắt nguồn từ bản chất của họ mà cái chính là có một bức rèm ngăn cách họ với quá khứ, có một thế lực muốn hủy hại các giá trị văn hóa dân tộc của cộng đồng người VIỆT.

    Tuy nhiên chúng ta cũng cần làm rõ thêm một số điểm quan trọng trong phong trào ca hát cổ võ dòng nhạc quê hương này :

    + Các ca sĩ trong nước thua các ca sĩ ở hải ngoại không phải vì họ kém tài năng mà vì thể chế chính trị trong nước là một vùng lầy, đa phần các ca sĩ muốn được hát, hay muốn được lăng xê phải làm “ đĩ ” trước khi được lên sân khấu. Tức là các cán bộ văn hóa phải được làm nhục họ trước khi cho họ biểu diễn.

    + Trong trường hợp môi trường chính trị cởi mở, thông thoáng như môi trường mà các ca sĩ hải ngoại đang được thụ hưởng thì chắc chắn các ca sĩ trong nước sẽ biểu diễn tốt hơn rất nhiều.

    +Phần lớn các trình diễn của các ca sĩ hải ngoại là các bản dân ca, hoặc là nhạc trữ tình quê hương do các nhạc sĩ sáng tác ở những năm 50 -60. Thời điểm này là thời điểm mà tại Việt Nam xuất hiện nhiều biến cố đau thương : Chia cắt hai miền Nam-Bắc, Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị ám sát, quân đội Mỹ đổ bộ vào Miền Nam, cuộc nội chiến trở nên đẫm máu…Các nhạc sĩ đã ghi lại những vết thương tình cảm đó trong các sáng tác của mình và vì thế các bài hát ở thời đó thường mang âm hưởng rất buồn. Nhưng đó cũng là một khúc rẽ đau thương của dân tộc.

    +Mặc dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày hiệp định Giơ-ne-vơ chia cắt hai miền Bắc – Nam nhưng những đau thương của cuộc chiến, cũng như những đau buồn do thăng trầm của lịch sử vẫn lẫn khuất u ám trong mỗi tâm hồn người Việt sống tại quê nhà. Âm hưởng u buồn này đeo đẳng, lúc lên lúc xuống theo nhịp điệu cuộc sống lúc buồn lúc vui của mọi người. Cho đến khi các ca sĩ hải ngoại trở về và với một tình cảm nhớ nhung quê hương, với phong điệu tân kỳ của kỹ nghệ âm nhạc tây phương cũng như với một ý chí giữ gìn nguyên trạng âm hưởng, hồn phách của quê hương. Khi họ trở về quê nhà, hát lại những bản tình ca thủa nào thì trong lòng những người dân Việt nỗi buồn đau lại được dâng tràn. Và nhiều người đã khóc. Tuy nhiên những giọt nước mắt này khác rất nhiều với những giọt nước mắt của các mẹ đã dẫn ở trên.

    Không có ai thích tích tụ những sự đau khổ, buồn rầu trong người, vậy nên khi các ca sĩ hải ngoại về trình diễn tại quê nhà người ta tranh nhau mua vé bởi họ muốn tống thoát những đau buồn trong lòng tích tụ hàng bao nhiêu năm nay. Tình cảm đau buồn lẫn khuất trong tâm hồn họ được tràn ra khi nghe hát. Sự việc này rất giống như việc bạn đun một nồi nước, khi sôi tràn cũng là lúc một lượng nước đã thoát ra khỏi nồi. những giọt nước mắt của họ là những giọt nước mắt sung sướng vì được giải thoát, cho dù là một phần rất nhỏ trong tâm hồn.

    Thật sự thì khi chúng ta quay về với tổ tiên chúng ta sẽ nhận được nhiều hơn chúng ta tưởng. Hiện tại thì các ca sĩ hải ngoại là những người như thế.

    Không có ai thích tích tụ những sự đau khổ, buồn rầu trong người, vậy nên khi các ca sĩ hải ngoại về trình diễn tại quê nhà người ta tranh nhau mua vé bởi họ muốn tống thoát những đau buồn trong lòng tích tụ hàng bao nhiêu năm nay. Tình cảm đau buồn lẫn khuất trong tâm hồn họ được tràn ra khi nghe hát. Sự việc này rất giống như việc bạn đun một nồi nước, khi sôi tràn cũng là lúc một lượng nước đã thoát ra khỏi nồi.

    QUÁ KHỨ LUÔN LÀ MỘT VẾT THƯƠNG TRONG TÂM HỒN. NGÀY MÀ VẾT THƯƠNG ĐÓ CHƯA ĐƯỢC CHỮA LÀNH NÓ LÀM CHO CHÚNG TA GIỐNG NHƯ NHỮNG CON THÚ BỊ THƯƠNG, KHÔNG THỂ ĐI XA ĐƯỢC.

    Sự phồn vinh, thịnh vượng của dân tộc Việt Nam phụ thuộc vào việc chúng ta băng bó, chữa trị vết thương trong tâm hồn mỗi người chúng ta!

    Viết tại Phát Diệm, ngày 29 tháng 4 năm 2012
    Nguyễn Hòa Bình ( Bút danh : Hàn Quang Tự )

    vietvungvinh.com
    Lannguyen

  15. #95
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Thương cho Dân Việt sống với việt cộng .

    Hãy đọc lời ai điếu cho khoa học minh họa

    TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức

    Khoa học và chính trị là hai phạm trù hoàn toàn khác nhau, một bên có chức năng tìm ra chân lý, một bên theo đuổi lợi ích cho giai tầng mình đại diện bằng phương tiện nhà nước.

    LTS: Giống như văn chương minh họa bị chỉ trích là hời hợt, xa cách làm giảm giá trị của văn giới, trong thực tiễn cuộc sống, nếu việc nghiên cứu khoa học cũng làm theo kiểu minh họa sẽ làm giảm giá trị của các tiền đề căn cứ, và hệ lụy là những di hại không lường về đường lối, chính sách. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam xin giới thiệu góc nhìn riêng của TS. Nguyễn Sĩ Phương luận bàn về vấn đề này. Mời độc giả cùng suy ngẫm và tranh luận thêm.

    Tự đóng khung mình

    Xin được mượn tiêu đề bài viết của cố Nhà văn Nguyễn Minh Châu – cây cổ thụ một thời của làng văn Việt Nam – đăng trên báo Văn nghệ số 49 và 50, ngày 5/12/1987, vào thời khắc lịch sử khởi đầu chủ trương “Đổi mới” của đất nước, “cởi trói cho văn nghệ“, chấn động văn đàn lúc bấy giờ, đến nay vẫn còn nóng bỏng thời sự, không chỉ đối với văn học.

    Ông cho rằng, “mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viết minh họa, quen với công việc cài hoa, kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ đã có sẵn. Nhà văn chỉ được giao phó công việc như một cán bộ truyền đạt đường lối chính sách bằng hình tượng văn học sinh động”, đẩy “những nhà văn có tâm huyết, có tài, muốn văn học phải có cái gì của văn học“, vào tình thế khi “viết y như một kẻ gian phi lúc nào cũng như đang lén lút thu giấu cái gì quốc cấm trong cạp quần“, “phải xoay trở, làm động tác giả“, “một lúc phải vặn vẹo… hai cây bút: một cây viết cho người đọc bình thường, cho đời, một cây khác viết cho đạo, lo việc che chắn, viết cho lãnh đạo văn nghệ đọc“.

    “Trong khi đó, những cây bút minh họa… ca ngợi một chiều thì lại thoải mái, chẳng có gì phải luồn lách, phải đắp đậy, rào đón, chỉ phải cái nó công thức, sơ lược, nhạt, và càng ngày người đọc càng thấy nó giả, ca ngợi một chiều sự giả dối không thể nào bào chữa, đắp đậy nổi, so với cuộc đời thực bên ngoài“. “Thất thiệt to lớn nhất của văn nghệ minh họa của ta là từ đấy những nhà văn đánh mất cái đầu và những tác phẩm văn học đánh mất tính tư tưởng“.



    Còn trong khoa học? Ở cấp hệ thống xã hội chủ nghĩa, từ cách mạng tháng 10 năm 1917 tới thời điểm bài viết trên, đã đào tạo ra bao thế hệ, hàng bao triệu viện sỹ, giáo sư, tiến sỹ, kỹ sư, chuyên gia khoa học, với bao trường đại học, hội, hãng, viện nghiên cứu. Giới khoa học nước ta cũng ra lò từ đó.

    Chưa có một chủ trương đường lối chính sách lớn nào của bất kỳ nước xã hội chủ nghĩa nào khi ra đời không được cho là đúng đắn, và đều được khẳng định bằng những tiền đề căn cứ khoa học do chính đội ngũ trên xây dựng. Nhưng rốt cuộc, Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, còn ta phải tiến hành “đổi mới“, chứng tỏ đường lối từng được cho là đúng đắn thực ra chưa đúng. Thủ phạm trước hết nằm ở nền tảng khoa học được dùng làm căn cứ cho nó không phải là khoa học đích thực.

    Từ luận án tiến sỹ, thạc sỹ, đến luận văn đại học, các công trình nghiên cứu, các sách giáo khoa (trừ những ngành khoa học chính xác) hầu hết đều bắt đầu bằng chương, mục, gọi là cơ sở lý luận trình bày học thuyết Mác – Lênin với những trích dẫn các tác phẩm kinh điển liên quan, tới đường lối chính sách nghị quyết của Đảng, không phải để phân tích đánh giá nó mà để khẳng định sản phẩm họ nghiên cứu ra là đúng bởi xuất phát từ đó.

    Nghĩa là khoa học bị nhầm lẫn đối tượng lẽ ra được nghiên cứu để làm nền tảng cho đường lối chính sách; bổ khuyết, thời sự hoá học thuyết của Mác, như ông đã khẳng định đó là học thuyết mở, và thực tế đã chứng minh, thì lại tự giới hạn mình trong phạm vi của đường lối chính sách đó, tự đóng khung trong khuôn khổ những luận điểm của học thuyết, vừa minh hoạ cho nó, vừa lấy nó làm thước đo, chứ không phải lấy thực tiễn mới là thước đo của chân lý (Các Mác).

    “Sinh con rồi mới sinh cha”?



    Vậy là, minh hoạ không chỉ trong văn học như Nguyễn Minh Châu than thở, mà cả trong khoa học. Sẽ không ngạc nhiên, khi một luận án tiến sỹ người Việt làm ở Đông Đức vào thập niên 80, lúc nước ta đang khủng hoảng thiếu tiền mặt, phải trả lương bằng sản phẩm của chính xí nghiệp làm ra, với đề tài Cải cách tiền lương Việt Nam, mất tới già nửa luận án trình bày cơ sở lý luận, bởi phải tóm tắt đường lối chính sách của cả 2 đảng, sau khi trình bày thực tế trả lương Đông Đức, được khảo sát trong 3 năm, đưa ra đề xuất: trả lương bằng sản phẩm ở ta chỉ là quá độ, tiến tới phải trả lương bằng tiền như Đức, theo đúng chủ trương nước ta đã đặt ra?!

    Ngay đến khoa học tự nhiên, để ủng hộ chủ trương phân phối lương thực độn lúc đó, do cả nước thiếu gạo, bao nhiêu bài báo, công trình khoa học kể cả từ Viện Dinh dưỡng, đều khẳng định: lương thực độn bổ hơn gạo!? Dựa vào tính toán thành phần dinh dưỡng của chúng, bất chấp ăn uống thuộc lĩnh vực văn hoá ẩm thực truyền thống, cùng khả năng tiêu hoá, hấp thu, không được xét đến.Có nghĩa là thực thi chính sách trước, rồi mới tìm căn cứ khoa học cho chính sách sau, kiểu sinh con rồi mới sinh cha, tránh sao khỏi, khoa học thay vì tìm kiếm chân lý biến thành công cụ gọt đẽo chân lý.

    Tính minh họa làm giảm chất lượng bản thân các công trình khoa học. Một luận án tiến sỹ khoa học (Dr. Habil) của Đông Đức với đề tài “phân loại hàng hoá trong thương nghiệp“, chưa kể một chương đầu chiếm 1/5 luận án trình bày học thuyết Mác liên quan, cùng đường lối chính sách Đông Đức, trong các chương còn lại đều phải mở đầu hoặc kết luận bằng luận điểm phân biệt bản chất từng đối tượng nghiên cứu trong 2 chế độ xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Nghĩa là so với một công trình tương tự bên Tây Đức, chỉ xét riêng về đầu tư thời gian nghiên cứu, luận án này đã kém ít nhất 1/5 so với họ. Học vị Dr. Habil ở Đức là giấy thông hành ngồi ghế giáo sư – thầy của tiến sỹ, họ sẽ cho ra lò tiếp nối bao nhiêu tiến sỹ nữa hệt thầy?

    Khi đồng nhất khoa học với chính trị

    Khoa học minh họa gây hậu quả không nhỏ cho cả lĩnh vực đào tạo ở ta, không chỉ nằm trong từng luận án, sách giáo khoa, mà cao hơn, ở cả mục tiêu và chương trình đào tạo.

    Cùng một mục tiêu, lấy ví dụ chuyên ngành kỹ sư kiến trúc (thuần túy kỹ thuật), so với các nước Âu Mỹ hiện nay, xét về quỹ thời gian (ở đây chưa xét đến quan điểm), ở ta bị mất đi tổng cộng từ 1 đến 2 học kỳ/ tổng số 8-10 học kỳ đào tạo lẽ ra để học chuyên môn như họ thì phải dành để học các môn tư tưởng, chính trị, dẫn tới trình độ kỹ sư ra trường không thể sánh được họ (ngoại trừ cá biệt). Chương trình đào tạo đó, tự nó mâu thuẫn với sử dụng vốn là mục tiêu của đào tạo, ở chỗ, trong khi một kỹ sư “Tây” hoặc ta du học “Tây”, không hề học chính trị tư tưởng của ta, về ta làm việc, được tín nhiệm, thì kỹ sư ở “Ta”, chính trị tư tưởng được học hơn họ, phải chịu số phận ngược lại khi làm cùng kỹ sư du học “Tây” hay sang “Tây”, do kém chuyên môn lẫn thực tế.

    Không nhà nước nào thay được nhà khoa học vượt ra khỏi giới hạn minh họa ngoài bản thân họ, và chỉ khi họ coi khoa học là đích phấn đấu của cuộc đời, với những tấm gương quên mình như Bruno nằm trên giàn hoả thiêu của chế độ thần quyền lúc đó coi trái đất đứng yên, vẫn khẳng khái chân lý do ông khám phá: dù sao trái đất vẫn quay.

    Khoa học và chính trị là hai phạm trù hoàn toàn khác nhau, một bên có chức năng tìm ra chân lý, một bên theo đuổi lợi ích cho giai tầng mình đại diện bằng phương tiện nhà nước.

    Câu chuyện – con sư tử uống nước đầu nguồn trông thấy con nai uống phía cuối nguồn, liền nhảy chồm tới thét, con nai kia sao mày dám làm đục dòng nước của ta, ta sẽ xé xác mày – cho thấy một hình ảnh trực quan, chân lý (khoa học) sẽ thuộc về kẻ mạnh (nắm chính trị). Một khi đồng nhất khoa học với chính trị trong cùng một chủ thể, nếu luật pháp không có chế tài đủ mạnh phòng ngừa, đặt ra yêu cầu tất yếu: khoa học làm căn cứ cho chính sách, phải được nghiên cứu, phản biện, giám định độc lập. Điều này lý giải tại sao nước Đức không thiếu gì các nhà khoa học trong bộ máy chính quyền, có vô số viện nghiên cứu, trường đại học danh tiếng thuộc nhà nước, nhưng bên cạnh báo cáo kinh tế quốc dân hàng năm của chính phủ, Quốc hội Đức vẫn cần báo cáo giám định độc lập của 5 cá nhân nhà khoa học kinh tế hàng đầu nước Đức, thuê khoán rất tốn kém, tới hàng triệu Euro.

    Có thể nhận ra rủi ro chính sách rất lớn khi chính cá nhân hoặc cơ quan hoạch định chính sách lại tự đưa ra căn cứ khoa học, không được giám định độc lập, qua dự án đường sắt cao tốc, khi một tiến sỹ – đại biểu Quốc hội phát biểu ủng hộ đường sắt cao tốc, chỉ bởi ông đã ra nước ngoài, thấy rất thuận tiện, bà mẹ đi làm, học sinh đi học bằng tàu cao tốc.

    Trong khi thực tế họ chỉ đi tàu điện hoặc tàu nội thị, xe buýt, chứng tỏ ông hoặc đã nhầm tàu điện, nội thị thành tàu cao tốc, hoặc nhầm bà mẹ trẻ em đi du lịch với đi làm và đi học. Đến cả Báo cáo giải trình bổ sung của Chính phủ gửi Quốc hội viện dẫn ví dụ nước Đức, cũng đưa luận chứng hoàn toàn sai, khi cho rằng “nước Đức đã nâng cấp đường sắt khổ 1.435 mm để vận chuyển cả hàng hóa và hành khách với tốc độ vận chuyển hành khách 200 km/h. Phương án này không hiệu quả cho nên các tuyến đường sắt cao tốc của Đức hiện nay đều được xây dựng mới“, trong khi thực tế mạng đường sắt Đức luôn được mở rộng hoàn thiện đồng bộ, đường sắt cao tốc chỉ phát triển song song trên cơ sở đó, do tập đoàn kinh doanh đường sắt đầu tư chứ không phải nhà nước như ta.

    Tới dự Luật Thủ đô dựa trên “Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu pháp luật về thủ đô của nước ngoài” tới 11.955 chữ; được coi như một căn cứ khoa học, do tổ công tác chỉ nghiên cứu trên văn bản qua biên dịch, gửi Ban soạn thảo, không thấy giám định, trong khi thế giới có tới gần 200 quốc gia rất khác nhau và khác ta, với 3 triệu người Việt sống ở đó, đủ chuyên gia có thể giám định tại chỗ. Bảo vệ Trục Thăng Long trong quy hoạch Thủ đô, Thứ trưởng Nguyễn Đình Toàn viện dẫn luận chứng khoa học: Pháp, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản đã làm tuyến đường tương tự như tuyến này.

    Thực tế ngược lại, đại lộ Champs – Elysées (Pháp), đường Trường An (Trung Quốc), Thủ đô Hàn Quốc, Nhật đều không có tuyến đường nào rộng tới 350 m, lại dài thẳng băng tới 30 km như vậy!

    Cả một thuyết tương đối đồ sộ của Einstein cũng chỉ xây dựng trên mỗi tiên đề thực tế, tốc độ ánh sáng là cao nhất và không đổi trong mọi hệ quy chiếu. Chỉ cần tìm ra được một loại vật chất có tốc độ hơn ánh sáng thôi, thuyết tương đối của Einstein sẽ bị phủ nhận. Vì thế, không có lý do gì các chính sách trên vẫn được coi là đúng khi dựa trên một thực tế sai. Cần phải áp dụng tiêu thức nghiệt ngã đó để thải lọc mọi chính sách khởi trình, nếu nước ta muốn đuổi kịp thế giới hiện đại vốn không phải dễ dàng.

    Nguyễn Minh Châu từng day dứt tiếc nuối “chẳng lẽ mãi mãi thế hệ nhà văn Việt Nam chúng ta vẫn cứ yên tâm sản xuất ra toàn những sản vật không bao giờ được ngó đến trong nền văn học thế giới?“, “chỉ hưởng của thiên hạ mà không làm ra được cái gì góp vào của chung của thiên hạ?“. Còn đối với khoa học minh họa nước ta, đến bao giờ mới nghe được một “lời ai điếu” như Nguyễn Minh Châu cất lên?

    N.S.P

    Nguồn: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/201...a-hoc-minh-hoa
    Lannguyen

  16. #96
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Thương cho Dân Việt sống với việt cộng .

    22/08/2012

    Suy nghĩ cuối hè

    TS Phạm Ngọc Cương




    “Cuối hè. Không ít gia đình phải nghĩ đến chuyện trường lớp. Học và kiếm tiền là chuyện dài và còn thiết thân với nhiều người. Trong hai chuyện đó cái nào khó? Thực chả có chuyện nào là khó cả nếu đích chỉ là học cho qua quít hay lượm vài đồng bạc lẻ thì ngay con nít ở đâu cũng thường làm được. Mọi cái chỉ khó dần nếu ta muốn tìm cách đi cho bài bản hướng đến đỉnh mà thôi” - Bài viết mới của cây bút quen thuộc: tiến sĩ Phạm Ngọc Cương (Toronto, Canada).

    Trương Duy Nhất
    Lòng vòng qua vài nền giáo dục

    Việt Nam nhận ảnh hưởng của rất nhiều nền giáo dục khác nhau: Tàu, Pháp, Nga, Mỹ… đủ cả. Nhưng do vị trí địa lý, hoàn cảnh lịch sử, sự chọn lựa chính trị, và ý chí con người mà cho đến tận giờ có hai nền giáo dục vẫn ảnh hưởng mạnh đến tư duy giáo dục Việt Nam là Trung và Xô.

    Giáo dục Trung Hoa về cơ bản có thể gọi là nền giáo dục có quán tính luôn ngoái nhìn về đằng sau. Người Tàu dạy nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác rằng vua sáng nhất của họ là Nghiêu - Thuấn - Vũ. Vạn thế sư biểu là Khổng Tử… Phương cách giáo dục của Tàu trải qua cả mấy ngàn năm cũng chỉ là làm sao đúc người nay cho giống được người xưa vì xưa là khuôn vàng thước ngọc. Luôn ngoái lại đằng sau đầy hoài niệm vì quá ít niềm tin vào năng lực thực tại! Líu lo ca ngợi cái quá khứ là vĩ đại là muôn năm thì mặc nhiên phủ định đà tiến hóa của lịch sử, triệt tiêu sức sáng tạo và không dám cả dụi mắt mà nhìn cho kỹ cái hiện hữu, đón nhận và thích ứng với cái mới cái hay hơn phải đến và tất đến trong tương lai.

    Việt Nam đã và đang đánh mất rất nhiều thời gian và trí tuệ của cả thầy, trò, tiền của, tâm huyết và hy vọng của toàn xã hội trong việc nhồi nhét nhau tới bội thực các món như triết học Marx-Lê Nin, kinh tế chính trị học Marx-Lê Nin, chủ nghĩa cộng sản khoa học, tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử đảng… Việc này có thể gọi đủ tên từ thói thích ăn mày dĩ vãng tới giáo điều, xơ cứng, phi thực tế, nhưng về gốc rễ cũng là một kiểu rập theo quán tính giáo dục hướng cổ, cốt đào tạo lòng trung của Trung Hoa. Chỉ từ khi Trung Quốc nhoài người ra ôm cái tư duy giáo dục thực tiễn của phương Tây họ mới thoát khỏi sự đì đẹt cả mấy ngàn năm, bắt đầu cất cánh và có hôm nay.

    Liên Xô có nhiều thành tựu trong giáo dục. Tuyệt vời nhất là biết đổ tiền ra cho phát triển khoa học cơ bản. Thời Xô Viết, các viện hàn lâm có quyền lực khoa học thật khủng khiếp. Ý tưởng của các viện sỹ thường được nhà nước tài trợ tối đa để thực hiện. Nền giáo dục Xô Viết là nền giáo dục sẵn sàng tốn kém để trồng cây đại thụ, tức tạo vườn ươm thiên tài. Mà thiên tài thì ở đâu cũng hiếm nên dẫu thuốc luyện đan được cấp phát tứ tung mà số thí sinh đạt đến mười thành công lực cũng không quá nhiều. Cùng tốt nghiệp trường Xô Viết mà kiến thức các tân khoa khác nhau một trời một vực. (Có thời Việt Nam từng có câu tổng kết rằng: con bò mà dắt qua Quảng trường Đỏ cũng thành tiến sỹ). Tuy nhiên, nhờ nền giáo dục gắng trồng đinh lim sến táu ấy mà một nước Nga Sa Hoàng tiền công nghiệp sau mấy chục năm cất cánh thành Liên bang Xô Viết siêu cường thế giới.

    Việt Nam chưa có tiềm năng theo đuổi nền giáo dục lấy khoa học cơ bản làm nền tảng này vì chuyện hít thở cho dài hơi cũng thật không dễ tập.

    Bắc Mỹ thấy rõ là đào tạo nhân tài khoa học cao cấp quá tốn kém vì vậy để bù cho lỗ hổng đào tạo của mình, họ chọn cách mua hoặc dụ nhân tài thế giới về làm thuê cho họ. Nền giáo dục thiên về thực dụng thì sẽ bị chê vì tầm nhìn ngắn hạn. Nhưng nếu lý tưởng hóa quá thì sẽ làm học sinh đuối sức và dễ thành hão huyền. Cách làm của Bắc Mỹ là lấy ngắn nuôi dài, lấy thực dụng nuôi lý tưởng. Hay có thể gọi ngắn gọn là nền giáo dục thực - lý (thực dụng - lý tưởng). Bắc Mỹ, khởi thủy chỉ nhăm nhăm tạo ra copycat. Tức các sản phẩm chất lượng tương đồng cần thiết cho đòi hỏi của xã hội công nghiệp. Giáo dục ra các kỹ năng (skills) tương thích.

    Đây chính là cái mà giáo dục Việt Nam cần theo đuổi hôm nay.

    Về chuyện chính trị, như một trớ trêu của lịch sử, nói đúng hơn là do viễn kiến ngắn, cùng lợi ích nhóm của giới lãnh đạo mà Việt Nam trong hai cái xấu đã luôn chọn cái xấu hơn trước. (…) Ngay cùng trong khối cộng sản khi phải chọn giữa Xô và Trung thì ĐCS đã ngả về Trung trước, sau ôm hận với Trung mới rẽ qua Xô. Phải chọn giữa Trung và Mỹ thì lại quặp Trung trước, chỉ khi bẽ bàng với Trung rồi thì mới chịu hé cửa nhìn sang Mỹ. Tuy vậy, về chuyện giáo dục gần đây Việt Nam đã nhướn mắt tới nền giáo dục Âu Mỹ và đó là một tín hiệu tốt đáng khích lệ.

    Thầy, trò và chương trình

    Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về vị trí người thầy và trò. Người thầy có lúc được coi là chủ thể, có lúc được coi là khách thể. Trò lúc thì là đối tượng cần được khám phá hay có lúc lại thành thực thể dẫn dắt khám phá! Thực ra các cách đặt vấn đề này đều có gì đó sai. Chủ thể phải là chương trình giảng dạy mà thầy và trò là những người cùng giúp nhau khám phá. Vì vậy mà chương trình tốt thì thường chất lượng giáo dục sẽ không tồi. Chương trình giáo dục tệ thì sự học dễ thành sáo vẹt còn thầy hay trò giỏi cũng đến thui chột tài năng.

    Cũng như đức trị – nơi trông chờ vào tư cách cá nhân người lãnh đạo – là phó mặc cho may rủi và nhiều phần dẫn đến tan nát trong quản lý xã hội. Trong khi đó pháp trị - dẫu đích đến cuối cùng là phục vụ cá nhân - lại xếp luật pháp (chủ trương, chính sách) cao hơn cá nhân và vì vậy con người lại vào nề nếp ăn khớp với nhau. Uy quyền của người thầy chỉ nên là quyền của người chịu trách nhiệm đứng lớp cùng những học sinh tự do và bình đẳng. Sức mạnh của mái trường, nếu có, là sức mạnh của một tập thể luôn dốc lòng phát triển sức sáng tạo, xiển dương song hành với đức hạnh, thiện ý và sự công bằng. Chương trình mang tính quyết định vì nó là tổng kết của nhiều trí tuệ, nhiều ý kiến. Lập chương trình cần dân chủ tập trung theo đúng nghĩa của từ này. Làm sao để có chương trình giảng dạy tốt? Đó là ý chí chính trị, ý chí khai phá và canh tân giáo dục tùy thuộc vào tinh hoa cuả từng dân tộc, đặc biệt phát tiết trong những thời khắc hệ trọng của lịch sử. Giết một thế hệ nhanh nhất là cho chúng dùi mài những điều vu vơ, vô nghĩa, làm chúng ngộ nhận cái ảo là tri thức thật, cái lỗi thời là hiện đại, cái không lời giải, cái bế tắc là đỉnh cao trí tuệ. Tất cả không nhằm bồi bổ mà còn làm thui chột sức sáng tạo của bản năng sinh tồn.

    Hình tượng người thầy ở Bắc Mỹ đã tiêu giảm nhiều phần thiêng liêng so với quan điểm truyền thống Á Đông. Tuy vậy đây lại là điểm tốt vì nó thu hẹp khoảng cách thầy trò, thầy chỉ còn là một mắt xích của sự phân công lao động và sàng lọc xã hội. Thầy giỏi ở Bắc Mỹ là biết cách biến mình thành một công cụ tuyệt vời của học sinh nhằm khám phá kiến thức và xây dựng tư duy độc lập cho học sinh.

    Nhà trường

    “Nhà nước…, là một thực thể đa dạng và chỉ nên được thống nhất thành một cộng đồng bằng giáo dục” [1]. Vì vậy dẫu không thể có bình đẳng về tài sản nhưng phải có sự tiếp cận bình đẳng về giáo dục công. Để hiện thực hóa điều này ở Ontario các chủ nhà mỗi năm phải đóng tiền thuế bất động sản thường xấp xỉ 1% giá trị nhà đất. Và bao giờ cũng được hỏi là muốn bỏ tiền đó cho trường công lập hay trường Thiên Chúa giáo. Vì vậy học trường công không ai phải lo đóng thêm học phí mà ngay cả sách giáo khoa, dụng cụ học tập như bút, vở… là nhà trường sẽ cấp miễn phí.

    Vài năm trước khi con gái tôi học lớp sáu thấy bút chì phát cho học sinh không đủ màu và không được gọt sẵn đã thấy là bức xúc. Tôi nghĩ bọn trẻ này sướng quá không cả biết rằng có bao thiếu niên khác ở một phần bên kia của địa cầu đang phải vượt lũ hay leo cầu khỉ tìm con chữ sao bèn bảo cháu tự tìm cách mà giải quyết lấy vấn đề nhỏ ấy. Cháu viết thư hỏi ông nghị sỹ liên bang hay đi qua nhà vận động tranh cử, ông đó chuyển thư cho Bộ trưởng giáo dục và cả hai ông viết thư trả lời cháu là sẽ khắc phục tình trạng đó ngay.

    Nhiều lúc tôi nghĩ trẻ con bên này đúng là thượng đế, vậy nền giáo dục dạy dỗ thượng đế cũng đáng để mắt vào nhìn nhận. Sự học ở Bắc Mỹ luôn được nêu cao rõ ràng là học để kiếm việc, để sống. Đích của sự học không úp mở hay được đậy điệm bằng những mỹ từ cao quí như học để làm người, hay phục vụ Tổ quốc, nhân dân… mà nhiều nơi, nhiều nước rao giảng. Điểm đến cuối cùng của giáo dục Bắc Mỹ là tạo ra những sản phẩm giáo dục có tính năng tốt, đáp ứng đủ nhu cầu thị trường lao động. Học gì thường học sinh cũng được cho xem trước bức tranh tương lai là khi ra trường, việc này được trả công bao nhiêu tiền một tiếng và có bao nhiêu phần trăm người tốt nghiệp ở đây ra kiếm được việc ngay trong 30 ngày, 60 ngày… hay trong năm đầu tiên.

    Thực tế, duy lợi đến trần trụi!

    Kiến thức phổ thông, hiểu theo nghĩa là cái gì tối cần thiết cho cuộc sống đã ngày một dài thêm mà cuộc đời con người thì hữu hạn, vậy phải học gì là thiết yếu nhất. Làm gì để sự nghiệp giáo dục không bị phí phạm hoặc lạm dụng? Không thể cắt xén cái thiết yếu. Phải trọn vẹn nhưng không thể ôm đồm những chuyện viển vông, hết giá trị thực tế. Một nền giáo dục duy lợi cũng có không ít thách thức. Từ mấy ngàn năm xưa các triết gia cổ Hy Lạp đã cảnh báo “Đối với con người chẳng có giới hạn nào là đủ cho việc thu thập của cải” [2]. “Bản chất của lòng ham muốn là vô hạn và phần lớn người ta sống chỉ để thỏa mãn những ham muốn này” [3]; “ Người ta chỉ chú trọng đến sự sống còn chứ không nghĩ đến chuyện sống tốt đẹp và vì lòng ham muốn thì vô hạn, người ta cũng muốn những phương tiện thỏa mãn lòng ham muốn này trở thành vô hạn”. Và họ nhắc tiếp rằng: “Một nền giáo dục bình đẳng cho tất cả mọi người sẽ chẳng có lợi gì hết, nếu nền giáo dục đó dạy người ta tham danh, hoặc tham lợi, hoặc tham cả hai” [4].

    Tiền của đáng được coi trọng, nhưng dù duy lợi đến mấy nền giáo dục Bắc Mỹ cũng không dạy coi tiền trọng hơn đức hạnh. Giáo dục luật pháp chính là bà đỡ của giáo dục đức hạnh. Học sinh phải có sự yên tâm là khi là có tài năng, hoặc kỹ năng thì tiền sẽ đến. Tuy nhiên, muốn được yên ổn trước nhất cả về phần hồn lẫn phần xác thì phải nhớ tuân thủ luật pháp, tức là biết tôn trọng tự do và quyền lợi của những người khác.

    Là một đất nước di dân, Canada càng cần nhấn mạnh giáo dục luật pháp phải mạnh hơn tập quán và thói quen. Nói cách khác là nỗi sợ phạm luật nhằm thượng tôn luật lệ luôn phải vượt qua bản năng và quán tính. Không biết không phải là cái cớ để trốn tội. Chính sách, chương trình phải mang tính phổ quát, nhưng hành động và trách nhiệm thì phải bổ cụ thể vào từng cá nhân. Mỗi công việc đều giao đích danh từng học sinh. Đó là chủ nghĩa tư bản! Không có sự mơ hồ giữa ranh giới “của tôi” hay “không phải của tôi” cùng lúc. Khái niệm “tất cả” cũng là không tồn tại trên thực tế. Sở hữu, dù là ý nghĩ hay tư tưởng, đều là của riêng. Trừ những người thừa kế may mắn còn với quảng đại, ai muốn có sở hữu tài sản thì phải dốc lòng học nhằm đáp ứng đủ và đúng đòi hỏi của thị trường.

    Có thể thấy rõ rằng toàn bộ tư tưởng chính trị học đường của Việt Nam hôm nay là nhằm xiển dương một đức tính duy nhất là đức tính tin tưởng và phục tùng vào đảng. Tiếc thay, dù được nhồi nhét điều đó đến cỡ nào thì đó cũng không phải là bí quyết để làm yên lòng dân chúng. Chân lý là không thể điều hành bất kể chuyện gì kể cả chuyện giáo dục bằng lối chủ quan duy ý chí mà phải bằng qui luật phát triển khách quan. Ngay cả khi đặc quyền tương xứng với khả năng xã hội dân chủ cũng không chấp nhận độc quyền. Vì độc quyền sẽ triệt tiêu lợi ích của số đông và khi quảng đại con người thấy không có phần của mình thì họ sẽ thờ ơ. Để cơ cấu chính trị xã hội tồn tại vững bền thì điều tiên quyết là mọi thành phần dân chúng đều phải thấy có phần mình trong đó, vì vậy sẽ dồi dào ý thức và ý chí để gìn giữ, bảo vệ nó.

    “Quốc gia không phải chỉ là sự tập hợp của nhiều người mà là sự tập hợp của nhiều người khác nhau và sự đồng dạng không tạo thành quốc gia… Biến tất cả mọi người thành đồng nhất thay vì đem lại phúc lợi cao nhất cho quốc gia lại hóa thành tiêu diệt quốc gia…. Quốc gia càng đa nguyên chừng nào càng tốt chừng ấy” [5]. Đó là chân lý giáo dục tiếp theo của Bắc Mỹ. Tối đa hóa cái “Tôi”, cái riêng cá nhân của mỗi học sinh. Có vậy mới nhiều màu sắc, mới phong phú và sáng tạo. Sự khác biệt làm nên sức mạnh. Xuất phát điểm của xã hội là các cá nhân và điểm đến cuối cùng là toàn xã hội. (Ngược với Việt Nam nơi xuất phát điểm luôn khoác danh tập thể – mang các danh xưng khác nhau từ gia đình, dòng họ, tập thể, tổ chức… – dẫu chân tướng của điểm đến cuối cùng thường là thỏa mãn mục đích ngầm của các cá nhân).

    Canada giáo dục bằng cách giao quyền rất lớn và rất sớm cho cá nhân trong việc tự ra quyết định và chịu trách nhiệm về các quyết định của của mình. Một cháu của tôi năm 7 tuổi, có lần tuyên bố: “Cuộc đời của con thì con là người quyết định, và khi con càng lớn thì bố mẹ sẽ có càng ít quyền hơn đối với con”.

    Ở Việt Nam, khi bố mẹ nghe con nói như vậy chắc sẽ nghĩ là cháu láo, nhưng chúng tôi thực sự ngạc nhiên và sung sướng khi nghe cháu bàn luận như vậy. Dung dưỡng từ bé trong tinh thần như vậy nên các cháu sẽ mong và cố tự lập từ rất sớm. Biết đi kiếm tiền từ khi còn học cấp hai, tốt nghiệp phổ thông hầu như đã tự lập trong việc chọn nghề nghiệp tương lai, kiếm chỗ ở riêng, thường sớm tự lo toan mọi chuyện cho cuộc sống của mình. Các cá nhân bằng tài năng, ý chí khả năng và niềm tin của mình phải tự tìm cho mình con đường ngắn nhất dẫn đến thành công, nhưng khi thành công tỏa sáng thì cả xã hội đều được hưởng phúc lợi qua chính sách thuế.

    Từ mấy ngàn năm trước, dân đảo Crete cho nô lệ được hưởng mọi quyền lợi như của chủ nhân ngoại trừ quyền mang vũ khí và quyền học tập thể dục, thể thao. “Thể dục là một trong những môn học cần thiết để huấn luyện trẻ con thành người tự do” [6]. Thể dục thể thao là một trong các thế mạnh của trường lớp Bắc Mỹ. Mỗi thầy cô phải dạy hai môn ở trường trung học và thật lý thú khi thường là giáo viên toán, tiếng Anh, hay tiếng Pháp… cũng đồng thời là giáo viên thể dục. Môn thể dục cũng quan trọng và còn tạo nhiều hưng phấn cho học sinh hơn các môn học khác.

    Khi lên bục giảng, về nguyên tắc, người thầy phải thương yêu tất cả học sinh như nhau. Nói thì dễ nhưng chúng ta là con người, nhiều khi cùng là con cái mình mà các bậc cha mẹ còn thiên vị, đứa yêu, đứa ghét. Mà đây lố nhố trong lớp tới 25 cháu, cháu vàng, cháu đen nhẻm, cháu trắng bóc, vô thần, cùng Thiên Chúa, Hồi, Hindu… Vì vậy luật phải ấn định là cấm kỳ thị chủng tộc, tôn giáo, giới tính và tuổi tác. Chú ý từ những việc nhỏ nhưng tạo công bằng như thường xuyên đổi chỗ ngồi cho học sinh, để mọi học sinh đều có quyền ngồi gần ánh sáng cửa sổ hay bục giảng. Người thầy phải luôn đảo khắp lớp để tạo góc tiếp cận đồng đều với toàn thể học sinh.

    “Cái quí nhất của một đất nước là dân chúng và lãnh thổ, một nước phải có khả năng làm quân thù ngán sợ, dù để tấn công hay phòng thủ” [7]. Dù nổi tiếng hiếu hòa mà nhiều trường Canada phát động phong trào dã ngoại và luyện tập như quân sự cho học sinh. Năm vừa rồi có lần một cô phóng viên truyền hình óng ả phản ứng dữ dội khi thấy một sỹ quan Canada đang dạy bắn cho các học sinh phổ thông. Viên sỹ quan nheo mắt nhìn lại người đại diện cho quyền lực thứ tư đang gầm gào rằng cần dạy cho trẻ về hòa bình chứ không phải là súng đạn và buông câu: Thưa cô, cô cũng đang có đầy đủ bộ phận của một con điếm, nhưng cô không làm điếm phải không cô?

    Hết lớp 8 học sinh Ontario đã đã phải tự chọn theo tiếp chương trình học là để vào đại học hay ra làm nghề. Tư tưởng Socrates vẫn phảng phất đâu đây: “Thượng đế trộn vàng trong một số người, bạc trong một số người khác từ khi họ được sinh ra, và trộn đồng và sắt trong những kẻ mà trời định làm thợ hoặc làm nghề nông”. Cái nhân bản là nhà trường cho cha mẹ và học sinh tự quyết định và chịu trách nhiệm về sự chọn lựa hướng nghiệp của mình.

    Dạy con người nghệ thuật làm giàu, nghệ thuật quản trị hộ gia đình, xã hội cùng nghệ thuật tích lũy của cải, nhưng để giàu có là chuyện đường dài. Trước nhất hãy dạy các cháu về lối sống tiết kiệm là cái có thể làm ngay từng ngày từng giờ. Các trường đều phát động các cháu đi bộ, xe đạp hoặc bàn trượt (scooter) đến trường. Phân loại rác để tái chế hay dùng lại túi cũ là chuyện hàng ngày luôn được phát động và nhắc nhở.

    Chuyện kiếm tiền ở Canada, cũng như bất kỳ nơi nào khác, rất dễ và cũng rất khó. Cánh cửa làm giàu thật rộng mở nhưng mỗi cá nhân hãy tự tìm cách vượt qua ngưỡng cửa đó.

    Không xếp vấn đề nhạy cảm thành cấm kỵ. Các cháu học về các khả năng của con người kể cả khả năng sinh lý từ khi còn rất sớm. Không để con trẻ phải mày mò trong bóng tối của sự thiếu hiểu biết. Theo đuổi sự hoàn hảo là một ước vọng chính đáng của giáo dục, nhưng không thể biến đó thành một đòi hỏi nghiệt ngã, không đòi hỏi sự hoàn hảo ở học sinh để giảm áp lực cho các em, chấp nhận học sinh có sai lầm, cho tồn tại sự lựa chọn thứ hai. Con trẻ ở đây luôn được an ủi bằng câu cửa miệng là chỉ có Chúa Trời là toàn bích, còn chúng ta là con người, không một ai hoàn hảo cả (no one is perfect)!

    Chú trọng giáo dục về sức mạnh mềm, về quyền con người, về sự dẫn dắt của trí tuệ, của lý luận và lẽ phải, về sức mạnh của sự bao dung. Có hôm chúng tôi đi làm về muộn vẫn thấy cậu con trai sáu tuổi ngồi đợi bố mẹ ở chân cầu thang trước cửa. Hỏi sao cháu chưa đi ngủ cháu nói là phải đợi bố mẹ về để nói lời cảm ơn vì bố mẹ đã lo lắng cho con có cuộc sống đầy đủ ngày hôm nay. Hỏi ai dạy con nói thế? Cháu nói là không ai dạy cả, cháu tự muốn thức đợi bố mẹ về, tự muốn được nói lời cảm ơn vì hôm nay ở trường cô giáo cho làm một đề tài về các bạn ở những nước nghèo nơi không có đủ cả nước sạch để uống.

    Giáo dục các công dân tý hon của mình không chỉ có ý thức về sự giàu có của đất nước mình mà cần phải sớm có suy nghĩ, trách nhiệm san sẻ với phần còn lại của thế giới. Có hôm học về cháu nhất quyết nhịn ăn trong vòng 30 giờ. Hỏi sao? Cháu bảo ở trường đề nghị các cháu tự nguyện không ăn hơn một ngày để biết thế nào là cảm giác đói hành hạ, để có thể đồng cảm với rất nhiều bạn trẻ đang thiếu ăn trên thế giới. Hôm đó chúng tôi đã chủ tâm nấu các món ngon đặc biệt mà cháu thích để kiểm tra độ tự giác nhưng quả thật là nhà trường đã thành công. Con tôi đã ở lại trường cùng sinh hoạt với các bạn rồi về nhà thật muộn, đóng chặt cửa phòng riêng và từ chối mọi lời trêu đùa khuyến khích ăn của bố mẹ.

    Là một nước tư bản phát triển, giáo dục rất coi trọng các giá trị thực tiễn. Thực tiễn đúng là thước đo kiểm nghiệm mọi lý thuyết. Trong các trường học các cháu không chỉ được học kiến thức cơ bản mà còn được dạy dỗ để trở thành một công dân đắc dụng. Để tốt nghiệp phổ thông các cháu phải có ít nhất 40 tiếng lao động thiện nguyện. Số giờ lao động công ích càng nhiều thì cơ hội dành được học bổng đại học càng cao. Có cháu ngoài điểm học rất cao, trong vòng 4 năm cuối phổ thông vẫn dành ra được cả nghìn tiếng để giúp đỡ người già, người di dân mới tới, trẻ em chậm phát triển, hoặc tại các cơ quan công sở, trường học. Học giỏi mà không có tấm lòng vàng là chưa đủ.

    Canada rất coi trọng lãnh đạo tính (leadership), nhưng vẫn đề cao tinh thần cộng tác đồng đội (teamwork). Trong hồ sơ xin vào các đại học danh giá, thí sinh phải chứng minh khả năng lãnh đạo của mình trong các công việc tại trường, lớp và cộng đồng, đồng thời cũng cần nêu rõ là mình có tham gia bao nhiêu câu lạc bộ, tổ chức, hội đoàn, thể thao… Giáo dục Bắc Mỹ cũng hướng tới việc đào tạo con người đa chức năng. Các trường đại học thường cho các cháu quyền được hoàn thành cùng lúc 2 ngành nghề trong 4 năm học. Trước khi vào trường đại học y để lấy bằng bác sỹ quân y, con của một người bạn tôi đã phải hoàn thành một bằng đại học với hai nghề là sỹ quan lục quân và kỹ sư điện tử trong 4 năm ở trường Võ bị West Point.

    Năm lớp sáu, trong môn học về gia đình, tất cả học sinh đều phải mang búp bê (đã được cài đặt chương trình) về nhà rồi bế tới trường hàng ngày để chăm sóc trong vài tuần như chăm sóc một em bé hai tuần tuổi. Cũng phải cho ăn 6-8 lần một ngày, uống nước, cho ợ, thay tã khi bị ướt và không được để em bé khóc quá lâu nếu không muốn bị điểm kém. Học sinh chọn môn kinh tế trong lớp 10 sẽ được phát tiền ảo để tham gia chơi chứng khoán. Không quan hệ cá nhân, không trung gian và không một phí tổn. Khi con tôi muốn vào trường chuyên, cháu được nhà trường giải thích rất rõ ràng rằng cháu cần phải thi tuyển như thế nào để được nhận.

    Chuyện vào đại học cũng là một đề tài thú vị. Để nhận học bổng vào đại học, các cháu cần có thư giới thiệu của các thầy cô giáo phổ thông, và những lá thư này được thầy cô viết một cách tự nguyện, đúng với quá trình học tập và rèn luyện của các học sinh. Nhiều cháu nhận tới hàng trăm nghìn đô học bổng, đổi lại các thầy cô nhận được lời cảm ơn và sự vui sướng là đã có được một học sinh giỏi. Các cháu không cần thi đại học, điểm tổng kết sáu môn lớp 12 sẽ được trường phổ thông chuyển thẳng tới các đại học để xem xét. Tôi chưa từng nghe chuyện nâng hay chạy điểm nào ở đây. Vào các trường, khoa danh tiếng thường là qua hai ban có quyền tương đương nhau 50/50 xét duyệt. Ban đầu là nghiên cứu điểm học, ban thứ hai là xem các cháu đã làm bao nhiêu giờ lao động công ích cho xã hội, có tài gì khác ngoài tài học. Ví dụ họ có thể hỏi thí sinh ngoài học giỏi em còn biết làm gì nữa? Nếu em nói biết vẽ, nhảy đàn, hát, hay hùng biện… thì mời em biểu diễn ngay đi cho chúng tôi xem em thực tài thế nào. Chỉ thành mọt sách đơn thuần là không được yêu chuộng ở Canada. Học sinh ngoan chăm học không đủ mà phải đa năng, hữu dụng và chứng tỏ là biết mang ích lợi cho xã hội, có chính kiến, cá tính, bản lĩnh sống từ tấm bé.

    Thi thì toàn bộ là thi viết. Cách chấm cũng đáng bàn. Ở Nga thì điểm cao nhất là 5, Việt Nam thì 10, Tiệp thì 1 là điểm tuyệt đối. Bắc Mỹ thường dùng %. Theo tôi cách tính điểm này chi li nên chính xác và công bằng hơn cả.

    Gia đình

    Gia đình là cái nôi của giáo dục, mái trường đầu tiên của con trẻ. Dù bận rộn tôi luôn dành vài ngày đầu năm đến trường đón các cháu đi học về. Trên đường về nhà khi thấy các cháu hào hứng kể về thầy (cô) giáo mới của mình là có cảm giác yên tâm ngay về năm học đó, cháu sẽ có một năm dễ chịu. Khi các cháu chỉ nói về bạn bè, tôi biết là việc học của cháu năm đó sẽ có ít nhiều trục trặc, khi cháu im lặng hoàn toàn chả muốn nói về thầy cũng như về bạn là tôi thấy giông bão sẽ nổi lên đâu đó rồi và thường phải tìm hiểu tiếp ngay ngọn nguồn, tính cách hỗ trợ cháu.

    Muốn có hiệu quả tốt thì suất đầu tư thường phải cao. Đầu tư không có nghĩa chỉ là tiền bạc mà nhiều khi cần chính lại là đầu tư tình yêu thương, thời gian, công sức, lời động viên và sự khích lệ hữu ích vào hy vọng. Không mấy nước có điều kiện như Thụy Sỹ khi cấm các bà mẹ có con dưới năm tuổi được đi làm. Tuy nhiên dù ở đâu thì khi một cháu bé đi học là thường cha mẹ cần mất thêm sáu bảy tiếng bổ trợ vòng ngoài mỗi ngày.

    Một tập quán xấu mà tôi thấy dẫu là ở trong hay ngoài nước nhiều gia đình người Việt thường mắc phải là quán tính lo lắng cho con cái quá đà. Lúc còn nhỏ cần một thì nhiều khi bố mẹ đã mua cho tới hai ba, khi trẻ cần chơi thì đã ép học, học trường chưa thấy đủ còn tranh thủ học thêm, làm ăn thì chi chút dành dụm cho đủ tới đời con đời cháu. Vì cho con nhiều nên thấy uy quyền của mình cũng phải nhiều theo. Chính những điều trên làm nhiều trẻ em Việt đâm lười biếng, thụ động và thiếu tính độc lập cần thiết để vào đời.

    Xã hội

    Xã hội chính là phòng trắc nghiệm lớn nhất, nơi nghiệm thu cuối cùng của sản phẩm trường lớp. Giáo dục không phải là tôn giáo và sẽ không có ý nghĩa gì khi dạy toàn chuyện trên trời mà ra đời các em chỉ nhìn thấy cánh cửa địa ngục. Bánh răng trường và đời ăn khớp thì xã hội hiền hòa, con người từ trẻ tới già sẽ được đặt trên căn bản sự tin cậy và ủy thác trách nhiệm. Những tờ quảng cáo đầu tiên tại phi trường quốc tế Canada là cảnh sát ở đây khác với nhiều nước khác là người bạn thực sự của bạn, bạn có thể trông cậy vào sự giúp đỡ của họ ở bất kỳ đâu. Thuế vụ Canada thì chỉ căn cứ vào các thông tin tự khai của các cá nhân để tính thuế. Mọi sự kiểm tra nếu có hầu như là do sự lựa chọn ngẫu nhiên của máy tính. Nếu phát hiện có sai sót trong lời khai thì giải pháp là phải hoàn trả đầy đủ lại cho nhà nước cộng thêm tiền lãi cho việc nộp thuế sai, muộn. Giải quyết việc với các cơ quan công quyền chủ yếu qua điện thoại, email, thư hoặc fax. Nếu có việc cần gặp thì luôn luôn có người tiếp đón niềm nở và giải thích cặn kẽ. Y tế cơ bản là không mất tiền với toàn dân nhưng không vì thế mà các nhà thương “thí” phục vụ công dân thiếu chu đáo. Thực tế không thấy có sai biệt lớn so với quảng cáo của các cơ quan công quyền.Vợ tôi đã từng thập tử nhất sinh vì ca sinh khó tại bệnh viện và có điều kiện được hưởng sự chăm sóc miễn phí mà tận tình, nồng hậu đến nỗi chỉ mơ ước là khi già và mỏi mệt thì con gái ruột cũng đối xử với mình được một phần như vậy.

    “Nghèo khó là cha đẻ của cách mạng và tội ác” [8] nhưng đồng thời “một sự thật là những tội phạm ghê gớm nhất được gây ra không phải vì thiếu thốn mà vì thừa thãi” [9]. Làm sao để người nghèo không phải lo tiền y tế, học hành mà còn được trợ cấp từ nhà ở, tiền ăn, tiêu dùng, trông con, đi lại…, và cả người nghèo cũng như người giàu không tham của người khác?

    Có hôm trước bữa cơm mâm cao cỗ đầy, người bạn tôi nói với con, mình ăn uống thế này phí phạm quá, thương cho những đất nước nghèo đói, nơi con người đang thiếu ăn. Cháu liền thắc mắc, tại sao không chịu nấu mà ăn. Bố cháu bảo: họ có gì mà nấu. Cháu thắc mắc hơn: tại sao không mở tủ lạnh lấy đồ ra nấu. Được biết thậm chí không có cả tủ lạnh, cháu bảo sao không hỏi xin trợ cấp từ chính phủ. Và khi biết chính phủ nhiều khi toàn làm ngược là “trợ cấp” cho người giàu và quay lưng trong việc bố thí cho người nghèo, cháu bảo thế thì bầu chính phủ khác để tìm cho ra người có khả năng giải quyết chuyện đó. “Đi hỏi già về nhà hỏi trẻ”, nhiều cái suy nghĩ thẳng băng của trẻ cũng đáng lắm cho người lớn phải suy nghĩ.

    Công bằng là khi “những nghề đòi hỏi nhiều kỹ năng là những nghề ít may rủi nhất…, nghề tầm thường nhất là những nghề không đòi hỏi sự suất sắc” [10]. Nhưng khi thấy ngoài xã hội kẻ tầm thường lại thành công, còn người suất sắc phải chật vật mới sống qua được ngày thì học sinh sẽ lấy đâu ra đủ hào hứng và tâm huyết để dùi mài kinh sử?

    Trường đời

    Là cái lớn hơn tất cả các giảng đường gộp lại. Chỉ có điều ta phải ở tư thế nào để đón nhận nó. Ở một xứ công nghiệp điện tử hóa cao như Bắc Mỹ mà tôi chưa gặp một giáo sư nào đánh giá thấp việc đọc sách in của trẻ em. Các bà mẹ không còn trẻ lắm nhưng có con đang học tiểu học quanh nhà tôi có sáng kiến lập Moms & sons reading club. Các cháu phải tự chọn cuốn sách để đọc và thảo luận chung. Khi các cháu tranh luận với nhau về cuốn sách ở phòng bên thì các bà mẹ ngồi bàn luận với nhau về cuốn sách khác hay chủ đề thú vị gì đó ở nhà ngoài, cùng đề ra giải pháp và cùng thử áp dụng.

    Có bữa một bà giáo sư của Uof T gốc Ireland đề nghị mọi người tham khảo cuốn Năm ngôn ngữ của tình yêu (The 5 love languages) của Gary Chapman. Đông hay Tây thì ai cũng coi trọng giá trị nền tảng của gia đình. Phương Đông thiên về cách là tính tuổi, chọn ngày lành tháng tốt, cầu may tránh rủi thì cách của phương Tây là mổ xẻ bản chất của phong cách giao tiếp và tiếp cận nó cùng xử lý nó theo phương án chủ động để gìn giữ hạnh phúc gia đình.

    Một hôm khác một bà giáo sư gốc Đan Mạch đưa ra ý kiến là ở Đan Mạch thường không cho trẻ vào nhà trước khi trời tối. Vì vậy khi còn sáng là phải ra vườn, ra sân chơi thể thao, đọc sách, tối mới được vào nhà thì thời gian chả còn mấy để các cháu hí hoáy với máy tính nữa.

    Vợ tôi thì đề ra là tất cả máy tính trong nhà phải để cùng trong một phòng để dễ bề kiểm soát, và sau 12:00 tối thì tất cả máy tính trong nhà phải được tắt.

    Trước cửa nhà tôi có nhà hai cụ già một gốc Đức, một gốc Hong Kong đều đã ngoài 80, đã dạy chúng tôi thật nhiều điều. Một hôm thấy cụ người Hong Kong chạy sang cho chúng tôi mấy cây hoa. Vợ tôi cầm tay bà định đưa qua đường vì trời đã khá tối mà xe cộ khúc này được chạy tới 60 km/h. Bà cụ cảm ơn và nói tôi còn chưa già, và nhất quyết không cho dắt. Vợ tôi cứ tấm tắc mãi là nhiều người chỉ bằng nửa tuổi bà như chúng tôi mà không được mạnh mẽ và khang kiện về tinh thần như bà. Bà người gốc Đức thì cứ 5:30 sáng tự phóng xe lên trang trại của bà cách nhà 120 km, chiều về. Khuôn viên nhà bà hơn 600 m2 luôn sạch sẽ tinh tươm. Bà sống một mình và không thuê ai làm bất cứ việc gì dù là nhỏ nhất từ cắt cỏ, tỉa hoa, dọn tuyết và luôn nói với chúng tôi rằng bà chưa thấy ai chết vì yêu lao động. Cứ sáng Chủ nhật hàng tuần bà mở cửa đón con cháu bạn bè đến ăn sáng. Bà nói vì yếu sức rồi nên mỗi tuần bà chỉ có thể làm một bữa sáng vui chung với mọi người. Chúng tôi học bà dành bữa sáng Chủ nhật cho gia đình và đề nghị các cháu phải tự lo liệu bữa đó cho cả nhà.

    Mấy năm trước tôi làm cùng công ty với Jolly – một BMA từ Ấn sang Canada định cư khoảng 15 năm mà năm nào cũng kiếm cả triệu đô, trong khi thanh niên Canada học hành chí chết để khi ra trường mong kiếm việc có lương khởi điểm là ba bốn chục ngàn $/năm. Kiếm ra ngần ấy tiền sau từng ấy năm thì dù ở đâu trên dất Canada này cũng không thể gọi là nghèo được nữa, vậy mà Jolly vẫn đi một xe Daewoo Lanos cũ giá độ $2000. Hồi đó thanh niên Bắc Mỹ chưa có phong trào đi xe thân thiện với môi trường như bây giờ, mà rất thích xe Hummer. Loại xe đó uống xăng như nước, vóc dáng to khỏe, nam tính như xe tăng trên đường phố. Trong một lần liên hoan, các thanh niên hỏi Jolly là sao chưa mua Hummer chạy? Jolly nói: Chính bản thân tôi đã là Hummer rồi còn tìm mua làm gì nữa? Nhìn qua cửa sổ tôi chỉ cho các thanh niên đó hơn hai chục chiếc Hummer của họ đang đỗ và nói: Ở ngoài kia trông chúng ta thật may mắn vì có thừa mứa Hummer, nhưng ở trong này chúng ta vẫn đang thật thiếu Jolly. Sau buổi liên hoan đấy, tình cảm của chúng tôi đã vượt qua eo biển chật hẹp của tình đồng nghiệp tiến sâu vào đại dương bao la của tình bạn.

    Ông trời quả là đánh đố con người. Thường lúc tuổi đời và trí óc còn nhiều non nớt thì đã cần phải ra nhiều quyết định cực kỳ hệ trọng cho cả đời. Cần hướng nghiệp đúng, chọn nghề gì cho phù hợp làm sinh kế, yêu thương ai, chọn ai làm bạn đời… Có lẽ ông trời làm vậy để khiến kiếp người cứ phải luôn “học, học nữa, học mãi”, học cho tới cái đúng, tránh cái sai, để hoàn thiện, để phủ định và tái khẳng định, để vân vân và vân vân… Tạo khả năng độc lập sớm và chắc chắn về tư duy sẽ giúp giới trẻ nhanh chóng định hình và có được những chọn lựa hợp lý và đúng đắn.

    Henry Ford nói “Anyone who stops learning is old, whether at twenty or eighty” tạm dịch: ai dừng chuyện học là người già dù người ấy 20 hay 80. Nói rộng ra, một gia đình hay đất nước cũng cần như vậy, cần liên tục học hỏi để thích ứng, tồn tại và phát triển.

    Chẳng mấy nữa lại hết Hè! Ít nhất, cần nhắc con dậy đến trường cho đúng giờ vào ngày thứ Ba tuần đầu tiên của tháng chín.

    Toronto Canada 19/8/2012

    P.N.C.

    Trích dẫn:

    (1); (3); (4); (6);(7);(8);(9);(10) - Aristotle - triết gia vĩ đại, nhà bác học, nhà tư tưởng Hy Lạ.

    (2) Solon - một triết gia trong thất hiền Hy Lạp.

    Nguồn: http://truongduynhat.vn/suy-nghi-cuoi-h/
    Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 01:02
    Nhãn: Giáo Dục

    Lannguyen xin cảm ơn bauxitevn thật nhiều.
    Last edited by Lannguyen; 08-26-2012 at 08:10 PM.
    Lannguyen

  17. #97
    Join Date
    Sep 2012
    Posts
    2
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Thương cho Dân Việt sống với việt cộng .

    Theo ý kiến chủ quan của tôi:
    1) Trước năm 75 thì 2 chế độ đều không hoàn thiện.
    Ngày trước công bằng mà nói thì VNCH dân chủ hơn được tự do ngôn luận hơn hẳn bên Bắc Việt.Nhưng lực lượng quân đội của chính quyền Việt Nam Cộng hòa nòng cốt lại là lực lượng quận đội quốc gia VIET NAM trong liên hiệp Pháp. Chính quyền Ngô Đình Diệm bị xem là chính phủ độc tài gia đình trị, dần dần có nhiều mâu thuẫn nội bộ, mất sự ủng hộ của Châu Âu và Mỹ. Đến thời kỳ Đệ nhị cộng hòa thì các quan chức VNCH chịu lệ thuộc vào Mỹ quá nhiều, xã hội tuy tự do nhưng quản lý yếu kém, nhiều tệ nạn xã hội, tham nhũng tràn lan và lãnh đạo không có tư tưởng thống nhất đất nước...
    Bên VNDCCH cũng chẳng khá hơn, dân không được tự do bày đặt chính kiến, mặc định là ai cũng phải yêu chế độ cộng sản. Hệ thống giáo dục thì chỉ chú trọng chính trị, thông tin thì một chiều bưng bít, không chịu nghe phản biện, không có tự do báo chí và tự do ngôn luận. Kinh tế thì trì trệ, loại bỏ mất giai cấp tư sản, lãnh đạo thì yếu kém, quan liêu...
    2) Hiện tại vietnam còn trầm trọng hơn: thuế má nặng nề, quan chức suy thoái đạo đức, lộng hành, tham ô tham nhũng, trình độ chuyên môn không có. Báo chí bưng bít thông tin, pháp luật thì lỏng lẻo nhiều kẽ hở. Công an, bác sỹ thì sách nhiễu nhân dân.
    Dân ta quá khổ rồi, Đảng hãy nhìn thẳng vào sự thật và trả lại tương lai, tự do cho dân VIETNAM.
    Mong sớm có dân chủ thực sự cho dân VIETNAM

  18. #98
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Thương cho Dân Việt sống với việt cộng .

    Trần Quốc Việt – Vẽ và xóa anh hùng

    Posted on 01/12/2012




    Daniel Southerland – Trần Quốc Việt (Danlambao) dịch

    Sài Gòn – Ngày 8 tháng Sáu năm 1971

    Cộng sản tuyên truyền giỏi đến nỗi huyền thoại Nguyễn Văn Bé, một trong những anh hùng Việt Cộng hàng đầu, vẫn còn sống dai dẵng cho đến ngày hôm nay bất chấp cách đây bốn năm người ta đã công bố rộng rãi huyền thoại ấy hoàn toàn là dối trá.
    Vào ngày Chủ Nhật, 30 tháng Năm, Việt Cộng đã tổ chức lễ truy niệm năm năm ngày mất và hy sinh anh dũng của Nguyễn Văn Bé.
    Trận chiến về sự thật, mà bây giờ gần như đã chìm vào lãng quên, trong câu chuyện anh Bé là một trong những trận đánh tuyên truyền lớn trong cuộc chiến tranh Việt Nam.
    Trận đánh khai màn vào năm 1967 sau khi người ta khám phá Nguyễn Văn Bé, người tưởng đâu đã chết anh dũng, thực sự đang còn sống và ở trong tù và hoàn toàn chẳng phải là anh hùng.
    Hóa ra trong tình thế hiểm nghèo bậc “anh hùng” ấy chỉ là một thanh niên quá khiếp sợ, chưa bắn phát súng nào đã vội đầu hàng ngay quân đội chính quyền Sài Gòn. Tưởng đâu anh đã chết, những người làm công tác tuyên truyền của Việt Cộng quyết định biến anh thành một trong những anh hùng cộng sản nổi tiếng nhất.
    Nguyen Van Be is interviewed at the JUSPAO radio studio by Contact Magazine Bureau Chief James Ridgeway in late 1966, James Ridgeway Collection – The Virtual Vietnam Archive – Texas Tech (Nguyễn Văn Bé được phỏng vấn tại phòng thâu radio Juspao bởi James Ridgeway vào cuối năm 1966)
    Thật ra Bé là người chẳng giống anh hùng và cũng chẳng bao giờ muốn trở thành anh hùng. Là người lính hậu cần hiền lành chất phác, anh không đủ tài giỏi để trở thành anh hùng tài ba. Tuy nhiên, Việt Cộng có thể đã xem xét kỹ tất cả điều này nên quyết định đây là một lợi thế trong việc giảng dạy ở các buổi học tập chính trị rằng “nếu Bé, người lính hậu cần bình thường không được đào tạo nhiều, nhưng khi bị bọn xâm lược Mỹ tàn bạo áp đảo và bao vây, đã “nhờ hành động anh hùng cách mạng” mà có thể biến thất bại thành chiến thắng, thì các đồng chí cũng có thể làm được như thế.”
    Rất vui khi biết Bé còn sống, và càng vui mừng hơn khi nghe câu chuyện thật sự của anh, người Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã tổ chức một trong những chiến dịch “tâm lý chiến” lớn nhất trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Họ sử dụng tranh tuyên truyền, những đợt phát thanh từ trên máy bay khi bay ngang qua các vùng Việt Cộng, thả truyền đơn, chương trình radio, và chính Bé nhiều lần xuất hiện trên truyền hình để chứng tỏ những chuyện về các hành động anh hùng của anh chiến đấu cho Việt Cộng đều là những điều bịa đặt.
    Phản ứng ban đầu của cộng sản là gia tăng cường độ tuyên truyền. Những người làm công tác tuyên truyền của Mặt trận Giải phóng Dân tộc và Bắc Việt đã sản xuất ra hàng chục bản nhạc mới, thơ, tranh cổ động, sách, phim đèn chiếu, và cả nhạc kịch nhằm tuyên truyền về câu chuyện phi thường là Bé, một người lính tải đạn bình thường, sau khi bị bắt, đã một mình dùng mìn tiêu diệt 69 lính Mỹ và lính miền Nam.



    Sự hy sinh dũng cảm ấy – người ta tin anh đã tự sát cùng với những người khác-đã được ca tụng không tiếc lời đến mức chẳng bao lâu anh trở thành anh hùng Việt Cộng số một trong cuộc chiến.

    [/img]http://1.bp.blogspot.com/-Ygm7sCqRiLw/ULo7NxYmW1I/AAAAAAAA6rs/YOIgf8BK3ss/s320/nguyenvanBe1.jpg[/img]

    Nguyễn Văn Bé với bài báo “ca ngợi anh hùng”

    Tuy nhiên, khoảng vào độ năm ngoái, Hà Nội rõ ràng bắt đầu hoài nghi về sự khôn khéo trong quyết định tuyên truyên quá sâu rộng về huyền thoại Bé nên đưa Bé xuống địa vị ít được ca tụng hơn trong nhóm những anh hùng cách mạng. Chẳng hạn, vào năm ngoái, tờ Tiền Phong, tờ báo dành cho tuổi trẻ miền Bắc, đã gỡ hình của Bé ra khỏi hình của nhóm sáu anh hùng tuổi trẻ nổi tiếng trước đây thường được đăng chung với nhau và tên họ đứng đầu danh sách những người nên được noi gương.
    Bé cũng bắt đầu ít được nhắc đến trên đài. Như vậy rõ ràng chỉ còn lại Nguyễn Văn Trỗi, người mà những hành động anh hùng được khen tụng quá đáng tuy về cơ bản cũng có thật, là anh hùng Việt Cộng hàng đầu. Trỗi nổi tiếng lúc anh chết trước đội hành quyết của chính quyền Sài Gòn sau khi hô to “Hồ Chí Minh muôn năm.” Trỗi dính líu vào vụ mưu sát không thành nhằm giật sập cây cầu nơi bộ trưởng quốc phòng Robert S. McNamara đi ngang qua trong một lần đến Sài Gòn.
    Như vậy, chiến dịch của người Mỹ và chính quyền miền Nam nằm bóc trần huyền thoại Nguyễn Văn Bé là một thành công tới mức độ khiến Hà Nội quyết định không tiếp tục biến Bé thành anh hùng cao nhất. Chiến dịch này cũng thành công khi tạo ra những hoài nghi dai dẳng về câu chuyện của Bé trong lòng những người làm công tác tuyên truyền và các cán bộ chính trị cấp cao của Việt Cộng.



    Một Việt Cộng cấp bậc cao mới đào thoát gần đây, ông Bùi Công Tường, trước đây từng là cán bộ chỉ huy tuyên truyền ở tỉnh Kiến Hòa, và là tác giả bản nhạc về Bé thường được phát trên đài Mặt trận Giải phóng, đã có những ngờ vực về câu chuyện của Bé. Theo lời ông kể, khi ông hỏi một cấp trên của ông về các bản tin của đài Sài Gòn khẳng định Bé vẫn còn sống, ông được bảo “Bọn Mỹ có thể tạo ra hàng ngàn anh Bé bằng phẫu thuật thẩm mỹ. Kiến thức khoa học của họ rất cao. Cứ nghĩ xem, đến mặt trăng mà họ còn lên được.”
    Về phía cộng sản giải thích lý do phẩu thuật thẩm mỹ cho chuyện Bé xuất hiện trên tranh ảnh và trên các chương trình truyền hình của chính quyền đã trở thành tín điều. Nhưng cách giải thích ấy vẫn hoàn toàn không thuyết phục đối với nhiều cán bộ có học của Mặt trận Giải phóng. Là một trong những người này, ông Tường bắt đầu tin rằng Bé vẫn còn sống, và niềm tin của ông đã được chứng thực khi ông thật sự gặp Bé sau khi đào thoát.
    Một người khác mới đào thoát gần đây, Nguyễn Ngọc Mai, nhà văn người miền Bắc, công tác tại tờ báo Quân đội Giải phóng, có dịp được gặp Bé lần đầu tiên cách đây vài tuần.
    “Tôi thật xấu hổ khi hiểu ra Bé chẳng phải là anh hùng thật sự,” ông Mai nói. “Lúc tôi ở ngoài Bắc tôi có viết vài câu chuyện về Bé bằng lời văn rất hoa mỹ. Bé đã là anh hùng vĩ đại và là biểu tượng của tuổi trẻ thế hệ chúng tôi.”
    Cả ông Tường và ông Mai đều nói bất chấp tất cả nỗ lực tuyên truyền trong suốt bốn năm qua của Mỹ và chính quyền miền Nam và bất chấp bao hoài nghi mà chiến dịch tuyên truyền này đã gieo vào lòng nhiều các cán bộ cấp cao, người lính Việt Cộng bình thường vẫn còn tin tưởng vào hành động dũng cảm của Nguyễn Văn Bé. Bằng cách áp dụng kỹ thuật tuyên truyền cũ kỹ của Goebbels, tức lập đi lập lại những khẩu hiệu đơn giản đủ lâu và đủ to, những người làm công tác tuyên truyền cộng sản đã làm cho huyền thoại anh Bé sống lâu trong lòng người. (“Gương anh sáng mãi,” là tên của bài hát ca ngợi Bé.)
    “Tôi đã chiến đấu với tinh thần Nguyễn Văn Bé,” một người lính Việt Cộng đào thoát thổ lộ, vì thế anh không tin vào tai mình khi được bảo Bé vẫn còn sống bình an ở Sài Gòn. Mặc dù người này sẵn sàng thay đổi chiến tuyến, nhưng anh vẫn chưa sẵn sàng từ bỏ niềm tin về Bé mà anh đã tin tưởng rất lâu và rất vững chắc.

    Bé là một trong những anh hùng chính, hay có lẽ anh hùng chính duy nhất, được miền Bắc và Việt Cộng dùng cho việc học tập chính trị và khích lệ bộ đội nhằm chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công vào dịp Tết năm 1968. Và một số cựu binh Việt Cộng hồi tưởng trong những buổi học tập chính trị mọi người đều đứng lên hoan hô khi câu chuyện họ học đến đoạn Bé ném mìn vào quân thù.
    Câu chuyện được lập đi lập lại không ngừng trong hàng trăm cuộc họp nhóm. Rồi đến phần “thảo luận” mà qua đó mọi người đều phải trình bày cách họ có thể áp dụng tinh thần anh dũng cách mạng của Bé vào trong cuộc sống của mình.
    Nhiều nhà tâm lý chiến Mỹ và miền Nam thoạt đầu hy vọng dùng câu chuyện của Bé để phá tan hoàn toàn uy tín của Hà Nội rồi từ đấy phá hoại những chương trình thi đua anh hùng của cộng sản vốn rất quan trọng trong việc duy trì tinh thần chiến đấu của Việt Cộng.

    Tất nhiên, cuối cùng tuy họ có tạo ra những hoài nghi, nhưng những nhà tuyên truyền Mỹ và miền Nam đã không phá tan được niềm tin phổ biến về Bé.
    Tóm lại, một chuyên gia tâm lý chiến đầy kinh nghiệm nói: “Chúng tôi nhận thức chúng tôi sẽ không thuyết phục được mọi người ở phía bên kia. Kiểm soát quá kỹ. Nhưng nếu chúng tôi tác động đến chỉ từ 3 đến 5 phần trăm trong số họ thôi, chiến dịch này được coi là thành công.”
    Như thế, trong lòng của hầu hết mọi người ở “phía bên kia”, huyền thoại Nguyễn Văn Bé tiếp tục tồn tại. Nhưng quá xấu hổ do Bé hóa ra vẫn còn sống, Hà Nội bây giờ có lẽ chỉ muốn toàn bộ vụ này trôi qua hoàn toàn. Tuy nhiên guồng máy tuyên truyền miền Bắc đã đi quá xa với Bé nên giờ đây không thể nào hoàn toàn bỏ rơi anh. Ở miền bắc Việt Nam, có nhiều cánh đồng và một nhà máy phân bón mang tên Nguyễn Văn Bé. Công ty vận tải Nguyễn Văn Bé góp phần chuyển quân nhu dọc theo mạng lưới tiếp tế đường mòn Hồ Chí Minh. Có những huân chương Nguyễn Văn Bé. Và giả như bây giờ miền Bắc từ bỏ huyền thoại Bé, họ sẽ làm gì với những tượng của Bé tại Hà Nội? Hay tượng của anh ở Cuba?
    Bé, 25 tuổi hiện đang làm việc cho cảnh sát Sài Gòn, cũng muốn quên đi toàn bộ chuyện này. Anh muốn học nghề thợ điện và rồi sống cuộc sống bình thường thay vì cứ mãi là người khác thường thỉnh thoảng được giới báo chí và các nhà tâm lý chiến quan tâm đến. Nhưng ai muốn thuê một người xưa kia vốn bình thường bây giờ nổi tiếng?

    Diễn đạt sâu sắc hơn, toàn bộ chuyện này đã khiến Bé khổ đau rất nhiều. Việt Cộng đã ám sát người em họ của anh vì khẳng định Bé còn sống. Sợ không bảo toàn được tính mạng, cha Bé phải bỏ ruộng bỏ làng quê ở châu thổ sông Cửu Long mà đi.
    Kể tự lúc bị bắt rồi được thả ra, Bé thường đến vùng châu thổ, miền trù phú nhất và đông dân nhất ở miền Nam Việt Nam. Không phải là người quá hào phóng với những lời khen chính quyền Sài Gòn, Bé thật sự cảm nhận rằng quân đội Quốc gia trong vùng châu thổ đã từ thế yếu chuyển sang thế mạnh.
    Nhưng về chiến tranh tuyên truyền, Bé không hoài nghi bên nào mạnh hơn. So với những nhà tuyên truyền của chính quyền, những người làm công tác tuyên truyền của Việt Cộng, theo quan điểm của Bé, “nói hay hơn và giỏi hơn.”
    Vừa là anh hùng vừa là nạn nhân trong cuộc chiến tuyên truyền giữa hai bên, Bé có thể biết được điều này.
    Nguồn: Báo Christian Science Monitor số ra ngày 8 tháng Sáu năm 1971.





    Nguồn hình ảnh: http://www.psywarrior.com/BeNguyen.html

    Bản tiếng Việt:
    Trần Quốc Việt
    danlambaovn.blogspot.com

    http://tienggoicongdan.wordpress.com...-xoa-anh-hung/

    Lannguyen xin cảm ơn Trần Quốc Việt và http://tienggoicongdan.wordpress.com/ thật nhiều.
    Lannguyen

  19. #99
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Thương cho Dân Việt sống với việt cộng .

    Câu chuyện Đồng-nghiệp y khoa.

    Phương-vũ VÕ Tam-Anh

    Người chuyển bài: Điền Phong


    Câu chuyện Đồng-nghiệp y khoa.


    Một bác-sĩ cách-mạng từ Bắc vào, hăm-hở đến tiếp-thu bệnh-viện Vĩnh-long sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 đã thốt ra câu nói đầu tiên với chúng tôi :

    "Các anh là kẽ thù của nhân-dân, đáng tội chết..."

    Tuy mới mấy ngày sau khi "giải-phóng" nhưng tai chúng tôi cũng đã quen với câu nói đó, chỉ có khác là lần này được phát ra từ miệng một bác-sĩ mà chúng tôi chờ đợi để hy-vọng thấy được một nụ cười hay một chút thông-cảm trong tình đồng-nghiệp. Chẳng khác gì những cán-bộ khác, bác-sĩ cũng tuông ra câu học thuộc lòng:

    Nhưng Đảng và Nhà-nước khoan-hồng tha tội chết cho các anh..."

    May thay, chúng tôi được tha tội chết, nhưng thay vào đó, phải lảnh cái án "dở sống dở chết " kéo dài năm này qua năm nọ trong các nhà tù, nhường sự-nghiệp lại cho các đồng-nghiệp mới, huênh-hoang trong cái độc-quyền nhân-đạo với các bảng hiệu « Lương Y như Từ-mẫu » treo nhang nhản khắp xó xỉnh trong bệnh-viện.

    Có lẽ Cụ Hippocrate ở dưới suối vàng cũng không khỏi phẫn-nộ khi các môn-đệ ở Miền Bắc không chịu học lời thề Cụ dạy trước khi ra trường:

    "Tôi thề sẽ giúp đở các đồng- nghiệp và gia-đình họ trong cơn ngặc nghèo, tôi sẽ mất hết danh-dự và bi khinh-bỉ nếu tôi không giữ lời thề đó".

    Trước mặt thì đồng-nghiệp gọi chúng tôi bằng "anh", nhưng quay lưng lại là "thằng", là "chúng nó" ngay, không hiểu là vì thói quen, vì văn-hóa, vì mặc-cảm hay vì chính-sách.

    Ngày đầu tiên mới đặt chân lên đất Bắc trên con đường lưu đày, khi mà tầm mắt đang còn ngỡ-ngàng với rừng sâu núi thẳm, khi mà thể xác và tinh-thần chưa lai tỉnh qua cuộc hành trình định-mệnh kinh-hoàng, thì chúng tôi được đón tiếp vồn-vã bởi một đồng-nghiệp. Vồn-vã không phải để thăm hỏi sức khỏe hoặc để an-ủi một lời nào, mà để tịch-thu thuốc men và dung cụ y-khoa mà chúng tôi mang theo, nhất là để tò mò tìm hiểu những điều mới lạ trong cuộc sống "phồn-vinh giã-tạo" ở trong Nam.

    Câu nói đầu tiên và gần như là câu chào hỏi ở cửa miệng mỗi khi gặp nhau: "Anh ăn mấy lạng ?" (gạo mỗi ngày), làm chúng tôi bở ngở không biết đâu mà trả lời.

    Thì ra cái quan-tâm hàng đầu của nền y-khoa miền Bắc là cái bao-tử, và xã-hội được chia ra làm nhiều loại bao-tử khác nhau tùy theo đẳng-cấp và sự trung-thành với Đảng: 120 lạng ,150 lạng, 170 lạng.... cái hàn-thử-biểu để đo vị-trí mình trong xã-hội.

    Kế đó là thắc mắc về những phần thit đươc bồi-dưỡng trong những ngày lể, ngày Tết… Thấy chúng tôi không ở cùng một tần-số trong cái hội-chứng đường ruột đó, bác-sĩ bèn lên mặt chỉ-đạo:

    "Chớ có trốn trại nghe, không thoát đâu ".

    Quả-nhiên lời khuyên có chấp-chứa ít nhiều tình thật đó lại là không sai. Chỉ có vài ngày sau khi đặt chân đến cái nơi núi rừng chằng chịt mang tên Sơn La đó, khi chưa xác định được vị-trí trong cái bản-đồ mênh-mông của miền Thượng-du Bắc Việt, thì một số anh em đã lần lượt trốn trại rồi lần lượt bị bắt lại để gánh chịu những hình phạt ghê gớm đang chờ sẵn. Trong số đó phải kể đến hai đồng-nghiệp, một Thiếu-tá Y-sĩ- trưởng Trung-tâm Hồi-lực ở Sài-gòn và một Y-sĩ Đại-úy Thủy-quân Lục-chiến, đã thoát khỏi lao tù vì đã trốn qua "bên kia thế -giới" sau khi không thành-công trong cuộc tổ-chức trốn qua "bên kia biên-giới".

    Sau một thời gian xáo trộn, chúng tôi gồm có 8 bác-sĩ, 1 nha-sĩ, 2 dược-sĩ được tập-trung lại để thành-lập một "trạm-xá " có nhiệm-vu săn sóc sức khỏe cho anh em tù trong vùng.

    Bằng những phương-tiện của thời-đại đồ...tre, với kỹ thuật từ thời Hoa-đà, chúng tôi cũng được an-ủi bằng một số thành-công trong nhiệm-vụ chửa trị, và đã lưu lại cho chúng tôi nhiều kỹ niệm khó quên. Anh T. bị bệnh phung cui`, bọn cai tù ghê sợ, biệt giam trong một cái chòi giữa rừng, thường ngày chúng tôi đến thăm viếng, theo dỏi bệnh tình, chia nhau từng cù sắn củ khoai, khích lệ cho nhau cho đến ngày về. Anh H. bị mất trí vì trúng độc khi ăn phải trái cây rừng, suốt ngày la hét, phải cách ly trong một túp lều ở giữa rừng, chúng tôi chia phiên nhau túc trực ngày đêm bên cạnh để canh chừng, nhưng cuối cùng anh cũng qua đời.

    Phải kể đến những trường hợp giải-phẩu theo kiểu...rừng, với tất cả liều lỉnh rủi may. Trang-bị bằng một bộ trung-phẩu dã-chiến của Trung quốc và một lò hấp ướt (autoclave), với mấy bình e^-te (ether) và cái masque Ombredane là dụng cụ đánh thuốc mê hở (circuit ouvert) cổ lổ sĩ dùng trước thế chiến 1914-1918. Trong những "bloc" được ngăn cách bởi những tấm phên tre và tấm vải mùng, muổi mòng tha hồ bay lượn, dưới ngọn đèn dầu và đèn pin, mà nhờ trời chúng tôi cũng thành-công được trong nhiều trường hợp, những chấn-thương vì tai-nạn lao-động, hay trường hợp anh N. bị tắc nghẻn ruột, phải giải-phẩu để tái tạo một hậu-môn tạm thời, phải theo dỏi và săn sóc từ A đến Z trong nhiều tháng với sự tận-tình của mọi người nên kết quả rất khả-quan, vân vân và vân vân. Chúng tôi đã đóng tất cả các vai trò trong việc điều trị, từ lao-công, y-tá, phụ mổ, gây mê, cầm dao, rồi hậu-phẩu, vệ-sinh, giặt giủ v...v...bù lại khỏi phải đi lao-động đốn vầu, đốn nứa, đẩy xe trong những lúc đó.

    Một sự tình cờ khiến chúng tôi phải giải-phẩu cấp cứu thành-công cho một tên cán bộ bị viêm ruột thừa cấp-tính mà không biết chở đi đâu. Mấy tháng sau, nhân dịp Tết Nguyên-đán 1978, có mấy cán-bộ trong ban chỉ-huy trại đến cám ơn chúng tôi, và tưởng-thưởng bằng một tấm hình chụp chung mấy anh em chuyên-môn trong bệnh-xá, một kỹ-niệm độc nhất vô nhị của những ngày tù ở Sơn La.

    Từ đó các cô gái Mường trong bản cũng tự -nhiên hơn, cưới đùa mỗi khi tắm suối mà có chúng tôi đi lao động ngang qua, có khi còn chọc ghẹo nửa. Có anh trong phút chốc bốc đồng đã quên mình là tù đang đói rách, cũng gồng mình nhảy xuống tắm theo, chỉ tiếc là không có sẵn cục xà bông để tặng mấy cô Mường, lúc đó hẳn là muôn phần quý giá hơn cả viên kim cương đem tặng đào ở Sài–gòn nửa. Về sau mỗi cô gái Mường lại đươc đặt cho cái tên của một ca sĩ nổi tiếng, nào là Mai-Lệ-Huyền, Phương-Dung, Giao-linh, Phương-Hồng-Quế v…v…, để rồi lúc chiều về, trong khi ngậm-ngùi nhai từng hột bo bo, thường kể cho nhau nghe rằng hôm nay đi rừng gặp được ca-sĩ nào, ai nghe tưởng như mới đi phòng trà về mà tạm quên trong giây lát cái cảnh nước sông công tù mình đang sống.

    Một hôm, một cô giáo hớt ha hớt hãi tìm tới chúng tôi, vì chồng cô, một bộ đội công-tác ở trong Nam được về nghỉ phép, bổng nhiên thấy mình mẩy nổi mề-đay lên đỏ rần, ngứa khắp cả người. Chúng tôi đoán là bị dị-ứng với trứng gà, vì thường ngày đi lao-động ngang qua trường học, thấy cô giáo cứ o bế mấy con gà để chờ ngày chàng về mà bồi-dưởng. Chúng tôi bèn lục lạo đươc mấy viên thuốc Phénergan đưa hết cho cô. Mấy hôm sau đi lao-động gặp lại, chúng tôi hỏi : "Sao ? Anh nhà đã đở chưa ?" Cô vui vẻ trả lời : "Thuốc các anh cho hay quá, khỏi ngay". Chưa kịp hỏi thêm thì bổng thấy cô cúi mặt e thẹn, ấp úng nói thêm như không muốn cho chúng tôi nghe: " Nhưng ngủ li bì, về phép có năm ngày mà ngủ như chết suốt cả năm ngày" .Chúng tôi hối hận vì đã cho thuốc ngủ mà không dặn trước, làm cho cô phải bỏ lở một cơ-hội bằng vàng !

    Thế rồi trạm-xá càng ngày càng đông khách, dân chúng từ xa cũng nghe đồn kéo lại để cho trạm-xá được hoạt-động đúng với danh-nghĩa y tế của nó. Thiện-cảm và uy -tín càng tăng thì, ngược đời thay, cấp chỉ-huy Trại càng lo lắng. Cuối cùng, Uỷ-viên Chính-trị trên Đoàn lập tức ra lệnh không được khám bệnh cho dân nửa, vì trái với chính-sách, và ný-nuận rằng từ mấy ngàn năm nay họ đã chửa trị bằng lá rừng thì đã sao đâu !

    Chúng tôi trở lại lao-động, cũng đốn vầu đốn nứa như những anh khác.
    Phải cái tội cao giò, tôi thường được chọn đi công tác gánh hàng ở xa, để gánh luôn tất cả tủi nhục của kiếp làm… tôi mọi. Buổi sáng ra đi thì còn dể chịu, trời mát, gánh nhẹ. Nhưng buổi trưa lúc trở về, trời nắng gắt miền núi như đốt cháy da, lại phải leo đèo, mồ hôi chảy giọt, bụng đói cồn cào, cái đầu nặng trỉu, chiếc đòn gánh đè nặng trên vai đang nghiền nát da thịt như những con dao. Người cán-bộ đi theo cũng không quên máng thêm vào chiếc nón cối, cái áo trấn-thủ mà hồi sáng mang trong người vì trời lạnh, nay không cần nửa thì tội gì mà không để cho rảnh tay, vì tay đang bận cầm cây roi, một thứ thời trang của cán-bộ quản-giáo khi đi bên cạnh tù. Đã thế mà khi gặp một bạn đồng-hành, cán-bộ cũng không quên niềm-nỡ mời :"Đồng-chí có mang gì không, đưa cho nó gánh luôn". Tôi nghe mà rụng-rời, mắt hoa lên mà không dám nhắm lại vì sợ ngả sẽ không bao giờ dậy lại được, cũng không dám nhìn xa hơn mấy đầu ngón chân vì sợ không đủ can-đảm để bước thêm....

    Một hôm vì nhu-cầu cấp-cứu một bệnh-nhân tù đang nguy kịch, tôi được cử theo một cán-bộ đến bệnh-viện Phù-yên để xin mấy chai nước biển. Đã lâu bị giam hãm giữa bốn bức tường núi, nay được dịp thấy lại làng mạc với cảnh sinh-hoạt của nhân-dân, lòng cũng không khỏi thích-thú vì tầm mắt đươc hé rộng ra một chút và thỏa -mãn thêm tánh tò mò nghề-nghiệp muốn biết tổ-chức y-tế miền Bắc ra sao mà các "đồng-nghiệp " đề cao như là đúng hàng đầu trên thế-giới.

    Huyện Phù-yên thuộc tỉnh Sơn La, nằm giữa một thung-lũng nhỏ, bốn bề là núi nhưng rất nên thơ. Từ trại tới huyện phải đi qua ngọn đèo Bang xinh xinh, có con đường mòn uốn quanh, có hoa rừng thơm ngát. Từ trên nhìn xuống gần giống như một bức tranh Tàu, mờ mờ ảo ảo., rải rát nơi nơi là nhũng túp lều lụp xụp bám theo sườn núi. Bước vào huyện phải qua một con suối lớn, mùa khô thì chỉ là một suối đá hiền-hòa thơ-mộng, nhưng khi mưa xuống thì trở nên một thác lũ kinh-hoàng. Bắt ngang qua suối là một cây cầu treo, gió thổỉ đu đưa, mà lại được anh em tù gán cho cái tên rất hấp-dẩn để cho trí tưởng-tượng được nâng cao là cầu Golden Gate. Mỗi khi gánh hàng qua Golden Gate, tôi có cảm-tưởng như mình đang là một nghệ-sĩ đu giây trong một đoàn xiệc mà có thể hụt tay bất cứ lúc nào.

    Bên kia cầu là một túp lều không vách, gió lộng bốn phía, đó là trường học với dăm bảy em bé ốm tong teo, bụng ỏng thề lề, mỗi đứa cầm một que củi đang cháy quơ qua quơ lại trước người cho đở lạnh trong những bộ áo Mường mỏng manh. Trong khi các em nghêu ngao hát bài "Hôm qua em mơ thấy Bác Hồ..." thì cô giáo đang chăm chú ngồi vá áo, mắt đăm chiêu, hình như cũng đang mơ thấy những chuyện mà dĩ-nhiên khác hơn là thấy Bác Hồ. Hình ảnh đó làm cho tôi có cảm tưởng rằng Cụ Cao-Bá-Quát đã đi ngang qua đây để cảm-hứng mấy câu thơ:

    "Một thầy một cô một chó cái,
    Nửa người nửa ngợm nửa đười ươi."

    Bên cạnh trường là một cái "cối giả gạo" có lẽ đã được sáng chế từ đời vua Thần Nông. Nước từ con suối nhỏ đươc dẩn qua một máng xối đục từ một thân cây, chảy xuống một thân cây dài khác, một đầu là cái chày, đầu kia đục thành một máng chứa nước. Hể máng đầy nước thì cái chày tự -động ngóc lên, rồi nước bị đổ ra ngoài để cho chày giả xuống cái cối ở đằng trước. Cứ thế mà tiếp-tục, cối cứ giả ngày giả đêm, tạo nên một tiếng đập nhịp nhàng khô khan để đánh thức cô giáo và lủ học trò khỏi ngủ gật. Năm thì mười họa, một năm vài lần cối mới có gạo để giả, vì dân phải đóng cho nhà nước hết ba phần tư số thu hoạch, vốn đã nghèo nàn trên những mãnh ruộng bằng bàn tay xếp thành từng tầng trên sườn núi.

    Khi đến cổng bệnh-viện, tôi được chứng-kiến một cảnh tấp-nập khác thường, nghỉ bụng rằng chương-trình y-tế ở đây đã thành-công vì được dân-chúng hưởng-ứng đông đảo. Mọi người bu quanh một tấm bảng, hình như để theo dỏi một thông-báo gì quan-trọng của bệnh-viện về một biện-pháp y-tế nào đó chăng. Lại gần, tôi thấy rõ thông-báo như sau "Hôm nay bệnh-viện có mổ lợn, bán theo giá chính-thức. Đồng-bào nào muốn mua xin ghi tên ở phòng ngoại-chẩn". Tôi suýt té ngửa vì sau bao nhiêu năm hoạt động trong ngành y- tế tôi vẫn chưa biết được rằng cung-cấp thực-phẩm cho dân chúng cũng là một khía cạnh trong chương-trình y-tế.

    Trái với cảnh xôn-xao ngoài cổng, trong bệnh viện lại vắng tanh. Tìm cho ra người thủ-kho để xin thuốc thì được biết cô gái Mường này bận đi hái bông lau về làm nệm để tặng một cô bạn gái sắp về nhà chồng, một tục-lệ không thể bỏ được của người Mường. Lân la mãi mới gặp được bác-sĩ trực, vị này không mấy niềm-nỡ vì đang bận cải-hoạt (có nghĩa là cải-tiến sinh-hoạt để cho đời sống vui tươi hơn) bằng cách ngốn nghiến mấy củ khoai. Bác-sĩ trực cho biết "Chỉ có bác-sĩ thủ-trưởng mới có quyền quyết-định, nhưng bác-sĩ đang bận mổ." Tôi thất-vọng chán chường, nghỉ đến bệnh-nhân ở trại đang hấp-hối mong chờ mấy giọt nước hồi-sinh, nghỉ đến con đường về vừa nắng gắt vừa phải leo giốc, nghỉ đến cái dạ-dày đang cồn-cào vì sáng nay không may đọc được mấy chữ "thịt lợn" trên bảng thông-cáo mà nước bọt cứ chay dài (chẳng lẽ tôi lại biến thành con chó của Pavlov, hể nghe tiếng chuông là dịch tiêu -hóa cứ tuông chảy, rồi hay sao?) Tôi buồn rầu thất vọng, không biết bao giờ bác-sĩ trưởng mới mổ xong, vã lại áo quần lem-luốt thế này làm sao gặp được bác-sĩ ở khu giải -phẩu. Tôi đánh bạo tìm đến bác-sĩ trưc hỏi : "Thế tôi có thể gặp bác-sĩ thủ -trưởng được không ?" Lần này vị y-sĩ trực vui vẻ trả lời (vì đã ngốn xong mấy củ khoai): " Được chứ, có gì đâu, anh ấy đang bận mổ lợn dưới ao đấy mà". Tôi như từ cung trăng rơi xuống !

    Quả nhiên, cách đó không xa, cạnh bờ ao, năm ba người đang bao quanh một con lợn đã cạo lông trắng nõn nằm trên một tấm thớt lớn. Trong khi đó, bác-sĩ thủ-trưởng bệnh-viện, mình trần, quần xắn tới bẹn, áo bờ-lu vắt ở hàng rào, đang nhanh nhẹn ra tay mổ bộ đồ lòng với tất cả sự nhanh nhẹn và khéo léo của một...đại giải -phẩu gia.

    Lẽ tất nhiên tôi phải chờ cho ông bạn đồng-nghiệp thanh toán xong con lợn để giải -quyết cho mấy chai nước biển rồi mới hân-hoan ra về. Ra tới cổng, tôi gặp lại đám dân-chúng cũng đang hân hoan thở phào nhẹ nhõm như tôi khi được tin bác-sĩ đã mổ xong...lợn.

    Trên đường về, lần này chiếc đòn gánh đè nặng lên vai không còn cho tôi cảm-giác đau đớn như trước nửa, vì đầu óc tôi đang bị ám-ảnh bởi một ý-tưởng muôn phần nặng-nề hơn, vì tôi đã nhìn thấy được sự thật, đã chứng-kiến tận mắt một hiện-tượng sinh-hoạt phản-ảnh lối sống của những "đồng-nghiêp" bên kia bức màn tư-tưởng.

    Phương-vũ VÕ Tam-Anh

    Tiếng đồn lên tới Bộ chỉ huy Đoàn. Một số cán-bộ có thiện tâm muốn mở tầm hoạt động của chúng tôi cho dân chúng trong vùng Mường Thải, huyện Phù-yên, nơi mà xưa nay dân chúng chưa hề thấy đươc cục xà bông chớ đùng nói chi đến viên thuốc tây. Thế rồi dân chúng đến xin chửa trị mỗi ngày một đông, tuy thuốc men chẳng có gì nhiều nhưng cũng giúp ích được một số lớn trường hợp và ít ra cũng giúp họ làm quen với y-khoa ngày nay thay vì phải uống lá rừng suốt đời. Khi đặt ống nghe vào ngực, có người đã huênh-hoang khoe rằng là được... rọi điện. Đông nhất là phần chửa răng. Ngậm một cái răng sâu năm này qua tháng nọ như một cái đinh đóng vào óc, nay được nha-sĩ nhẹ nhàng xoi xỉa với một cái máy quay đạp bằng chân, hoặc nhổ đi mà không đau đớn gì, thật là một điều mà dân Mường ở đó không bao giờ mơ tới.

    Một đêm nọ, đang lúc giữa khuya, một cán bộ VC cầm cây đèn bảo xăm xăm bước vào phòng giam chúng tôi, bảo rằng một người đàn bà trong bảng Mường đang nguy kịch vì đẻ không ra đã hai ngày nay. Anh Thức, chuyên môn về phụ-khoa được cử đi cấp-cứu. Trong môt gian nhà sàn rộng rải không có vách ngăn, ở giữa là cái bếp lửa cháy suốt ngày đêm, dăm ba người đàn ông ngồi quanh nói chuyện ồn ào tỏ vẻ lo lắng, ở trong góc một người đàn bà đang quằn quại rên la một cách tuyệt-vọng. Trong khi mọi người bu quanh chăm chú và nghiêm-nghị nhìn anh Thức khám bệnh như nhìn một phù thủy đang làm phép, anh Thức bình tỉnh khám thấy rằng đó là một trường hợp song thai, hai đứa bé ôm quàng lấy nhau mà lại nằm ngang, không đẻ ra bằng đường tự-nhiên được. Phải chở đi bệnh-viện để mổ lấy con ra, nhưng anh Thức quên rằng chuyện đó không thể có được ở đây. Không làm gì hơn được, anh bèn tạm thời dẹp sách vở qua một bên mà cố gắng xoay một đứa cho cái đầu ở vị trí thuận-lợi để ra trước, rồi đến đứa kia, cuối cùng được mẹ tròn con vuông, trong sự rối rít cám ơn của mọi người mà trước đó đã được học tập để coi chúng tôi như những kẽ ác ôn, lúc nào cũng sẳn sàng "cho một mũi tên độc

    http://bacaytruc.com/index.php?optio...c-gi&Itemid=53

    Lannguyen xin cảm ơn http://bacaytruc.com thật nhiều.
    Lannguyen

Page 5 of 5 FirstFirst 12345

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •