Anh chính là nguyên mẫu của nhân vật Nguyễn Thành Luân trong bộ phim Ván bài lật ngửa nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Trương Thiên Lý (Trần Bạch Đằng) mà bao khán giả từng say mê theo dõi. Anh là đại tá, liệt sỹ Phạm Ngọc Thảo, người anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Lần theo dòng tiểu sử ngắn ngủi về Phạm Ngọc Thảo, chúng tôi tìm đến những đồng đội học cùng khoá I trường Võ bị Trần Quốc Tuấn với anh. Hơn 300 học viên ngày ấy, rất nhiều người đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, 157 người còn sống đều mang quân hàm đại tá trở lên và nhiều người đã ra đi vì tuổi tác. Nhưng những kỷ niệm về anh vẫn vẹn nguyên, họ đều nói về anh với niềm kính trọng, yêu mến vô bờ.



Đại tá Phạm Chí Nhân, nguyên Phó cục trưởng Cục tuyên huấn Tổng cục Chính trị (Bộ Quốc phòng) kể: Nếu không đi theo cách mạng, Thảo hoàn toàn có thể trở thành một “công tử Bạc Liêu” theo đúng cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Lúc học ở Sơn Tây, ít ai ngờ rằng chàng trai Nam Bộ cao lớn, đẹp trai ấy lại sinh ra trong một gia đình giàu có nhất nhì đồng bằng sông Cửu Long. Anh sinh năm 1922 tại Sài Gòn, nguyên quán Bến Tre.

Cha anh, Adrian Phạm Ngọc Thuần có tới hơn 4000 mẫu đất và gần 1000 căn nhà rải rác ở khắp các tỉnh Cần Thơ, Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá, Sa Đéc, Vĩnh Long. Ông Thuần có quốc tịch Pháp nên các con đều được sang Pháp học. Con trai cả Gaston Phạm Ngọc Thuần, qua Pháp học từ lúc 6 tuổi, đậu cử nhân Luật về nước theo cách mạng làm tới Phó Chủ tịch uỷ ban kháng chiến Nam Bộ. Con thứ 7 Phạm Ngọc Hùng học ở Pháp, lấy vợ Pháp rồi về Việt Nam ra chiến khu chiến đấu, làm Uỷ viên Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam.

Trong gia đình, chỉ riêng Thảo không sang Pháp du học do thế chiến thứ hai xảy ra. Tốt nghiệp trường Kỹ sư công chánh ở Hà Nội, khi Pháp bội ước quay lại xâm chiếm Việt Nam, anh tuyên bố huỷ bỏ quốc tịch Pháp của mình và đi theo cách mạng, làm việc ở Văn phòng Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ.

Năm 1946, trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, trường sỹ quan đầu tiên của quân đội ta được thành lập để đào tạo cán bộ quân sự chuẩn bị cho kháng chiến. Thảo cùng 12 chiến sỹ Nam Bộ khác được cử ra Sơn Tây học tập. Tốt nghiệp khoá học, anh được điều về Phú Yên nhận nhiệm vụ làm giao liên. Lúc này Trung ương đang cử nhiều đoàn cán bộ vào tăng cường cho miền Nam. Một hôm, Thảo được cấp trên giao nhiệm vụ đưa một đồng chí cán bộ về Nam Bộ.

13 chiến sĩ Nam Bộ được gửi ra học tại trường võ bị Trần Quốc Tuấn (Phạm Ngọc Thảo - người ngoài cùng bên phải).
Đường đi phải mất hàng tháng trời qua nhiều vùng tề ngụy. Đồng chí này nom rất gầy yếu, hom hem vì vừa trốn thoát khỏi nhà tù Côn Đảo, Thảo không biết là ai nên gọi là “chú”. Anh nghĩ ra kế để đi qua các đồn bốt là hai người đóng giả “chú cháu” thật. Anh sẽ cõng chú đi qua những chỗ nguy hiểm, địch có hỏi thì bảo chú bị ho lao, hen suyễn phải cõng đi tìm thầy thuốc. Lúc đầu đồng chí này không chịu để anh cõng, nhưng sau tình thế buộc phải như vậy. Bọn giặc tham sống sợ chết, nghe nói “ho lao” vội để hai chú cháu đi qua ngay. Chừng một tháng trời, anh đã đưa đồng chí nọ đến vùng giải phóng Xuyên Mộc an toàn.

Mãi về sau, Thảo mới biết người cán bộ đó chính là đồng chí Lê Duẩn. Sau này trong một hội thảo về giới trí thức cách mạng, đồng chí Lê Duẩn, lúc đó là Bí thư xứ uỷ Nam Bộ đã biểu dương tấm gương Phạm Ngọc Thảo. Ông kể về thân thế, gia đình Thảo và xúc động trước sự tận tụy của một trí thức giác ngộ cách mạng trên chặng đường đưa ông vào Nam.

Sau đó, anh được trên tin cậy giao chức Trưởng phòng mật vụ Ban quân sự Nam Bộ – tổ chức tình báo đầu tiên của cách mạng ở Nam Bộ. Rồi được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 410(Quân khu 9). Năm 1954, Thảo được gọi ra Bắc và được đích thân đồng chí Lê Duẩn giao nhiệm vụ hoạt động trong lòng địch. Về việc này, nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt nói: “anh Ba Duẩn rất tin cậy Phạm Ngọc Thảo và đã giao cho Thảo một nhiệm vụ đặc biệt”.

Từ cương vị một thiếu tá tiểu đoàn trưởng của quân đội, Thảo trở lại Sài Gòn giữa lúc tình hình rất khó khăn: bọn Mai Hữu Xuân, Bình Xuyên gây rối khắp nơi. Anh không chịu ký tên vào giấy hồi chánh nên bị vây bắt mấy lần, nhưng nhờ có cơ sở ta báo nên trốn thoát. Để chui vào hàng ngũ của địch, Thảo tìm về quê Vĩnh Long. Gia đình anh vốn theo Thiên chúa giáo lâu đời, thân thiết với giám mục Ngô Đình Thục. Giám mục Ngô Đình Thục rất quý mến Thảo vì đã từng làm lễ rửa tội cho anh và coi anh như con nuôi.

Nhờ chính sách “đả thực bài phong”, khuyến khích những người theo kháng chiến cũ về với “chính nghĩa quốc gia” của Ngô Đình Diệm, Thảo được cha đạo Thục giới thiệu với anh em Diệm – Nhu. Anh khôn khéo công khai hết nguồn gốc của mình, kể cả chức tiểu đoàn trưởng cũ, chỉ trừ một điều: mình là Đảng viên Đảng CSVN. Năm 1956, anh được phép đưa vợ con ra Sài Gòn sinh sống, làm việc tại ngân hàng quốc gia; rồi được chuyển ngạch quân sự, mang hàm Đại uý “đồng hoá”.

Toả sáng nhờ viết báo

Ban đầu, Diệm – Nhu chưa thấy được tài năng của Thảo nên chỉ giao cho anh những chức vụ “hữu danh vô thực” như Tỉnh đoàn trưởng bảo an đoàn, tuyên huấn đảng Cần lao nhân vị... Nhưng Thảo đã biết cách “bộc lộ” mình bằng cách viết báo. Đại tá Trần Hậu Tưởng, bạn học trường võ bị của anh kể: Lúc học ở Sơn Tây, chúng tôi có phong trào làm báo tường rất mạnh, đại đội nào cũng làm một tờ báo, anh em tập viết báo rất sôi nổi. Có lẽ đó cũng là một “vốn” quý cho Thảo sau này.

Thảo còn biết “khai thác” vốn binh pháp Tôn Tử mà thầy Hoàng Đạo Thuý từng dạy để viết báo. Thời gian này, anh cộng tác với tạp chí Bách khoa. Chỉ trong hơn một năm, anh đã viết 20 bài báo nói về các vấn đề chiến lược, chiến thuật, nghệ thuật chỉ huy, huấn luyện quân sự, phân tích binh pháp Tôn Tử, Trần Hưng Đạo.... Những bài báo đó đã được giới quân sự chú ý và Diệm – Nhu đề cao “tầm” của anh. Năm 1957, anh được điều về làm việc tại Phòng Nghiên cứu chính trị của Phủ tổng thống với hàm thiếu tá.

Năm 1958, Diệm đích thân phong anh hàm trung tá, cử làm tỉnh trưởng Bến Tre. Lên tỉnh trưởng, anh quyết định thả ngay hơn 2000 tù nhân đang bị giam giữ, liên lạc với chị Nguyễn Thị Định, tạo điều kiện cho khởi nghĩa Bến Tre bùng nổ. Chính sách không cho binh lính đàn áp dân chúng tuỳ tiện của Thảo đã “bật đèn xanh” cho phong trào “đồng khởi”.
Tiếp đó, có dư luận nghi ngờ Thảo là cộng sản nằm vùng. Nhưng Diệm lại cho rằng anh còn “non nớt”, thiếu kinh nghiệm nên chuyển anh sang Mỹ học tập. Năm 1961, Thảo về nước được cử giữ chức Tham vụ chuyên môn Phủ tổng thống, đặc trách về vấn đề Thanh tra và ấp chiến lược. Anh được giới tướng lĩnh ngụy rất quý mến vì sự thông minh, lịch thiệp, phóng khoáng, giao du rộng...

Ngày 1/11/1963, Thảo đã tổ chức cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Diệm – Nhu. Sau vụ đảo chính, mọi sỹ quan tham gia đều được thăng chức, riêng Thảo không được vì chưa qua trường lớp cao cấp. Để “kéo” anh về phía mình, Mỹ đề nghị chính quyền Ngụy cho anh sang Mỹ học trường Võ bị cao cấp.

Trong vai tuỳ viên báo chí của Tổng thống

Thảo học xong về nước đúng vào thời điểm Nguyễn Khánh đảo chính thành công. Nhưng Khánh chỉ là tên võ biền, học thức kém, nhiều lần y không trả lời nổi những chất vấn của quần chúng biểu tình. Thảo về, Khánh như “chết đuối vớ được cọc”, bèn tận dụng tài nói, viết của anh, phong ngay hàm Đại tá và giao cho anh trọng trách là phát ngôn viên Chính phủ, Tuỳ viên báo chí của Nguyễn Khánh.

Ngày 13/9/1964, Thảo tổ chức cuộc đảo chính lật đổ Nguyễn Khánh. Nhưng do nhiều lí do, cuộc đảo chính thất bại. Thảo phải đi Mỹ, làm tuỳ viên quân sự.

Vào cuối năm 1964, đầu 1965, Thảo bí mật về nước, tiến hành một cuộc đảo chính mới vì một lí do vô cùng quan trọng. Theo một tài liệu mà anh nắm được, Mỹ và Nguyễn Khánh đã thoả thuận sẽ ném bom xuống miền Bắc vào 20/2/1965, vì vậy cuộc đảo chính sẽ tiến hành đúng ngày 19/2.



Anh bị truy nã, tiền bạc phương tiện thiếu thốn nhưng vẫn hết mình vì việc lớn. Nhưng lần này, tên cáo già Nguyễn Khánh đã găp may vì cuộc họp báo tiến hành trễ so với kế hoạch 30 phút nên các hướng hiệp đồng đảo chánh không khớp. Khánh thoát chết nhưng bị phế truất, cuộc đảo chính bất thành nhưng nhờ có “sự cố” này mà kế hoạch ký kết thoả thuận cho Mỹ đổ thêm quân vào miền Nam và oanh tạc miền Bắc bị bẻ gẫy.



Sau đó, Thảo rút vào hoạt động bí mật. Nhưng anh tiếp tục chuẩn bị tư tưởng cho các hoạt động cách mạng bằng cách xuất bản tờ báo “Việt Tiến”, mỗi ngày phát hành trên 50.000 tờ, tuyên truyền tinh thần yêu nước, vạch trần âm mưu của Mỹ – Nguỵ. Anh có cả một hàng rào bảo vệ rộng lớn từ các xứ đạo Biên Hoà tới Hố Nai, Thủ Đức, Sài Gòn; có nhiều linh mục giúp đỡ in ấn, phát hành tờ Việt Tiến. Lúc này, anh bị bọn Kỳ – Thiệu kết án tử hình và treo giải 3 triệu đồng cho ai bắt được nhưng vẫn liên lạc với cơ sở cách mạng trực tiếp là đồng chí Sáu Dân (Võ Văn Kiệt) để hoạt động tiếp.



Đồng chí Võ Văn Kiệt kể lại: “tôi thấy Phạm Ngọc Thảo quá khó khăn nên đi tìm anh để đưa về chiến khu. Nhưng anh bảo vẫn còn khả năng đảo chính thành công quyết tâm ngăn chặn bàn tay đế quốc Mỹ định đưa quân viễn chinh vào miền Nam, cản trở kế hoạch ồ ạt đổ quân vào Đà Nẵng cuối tháng 5/1965...”.

Đại sứ quán Mỹ cũng đề nghị đưa anh ra nước ngoài an toàn nhưng anh từ chối.

Ngày 16/7/1965, anh bị bắt tại nhà dòng Phước Sơn. Chúng đưa anh tới một rừng cao su định thủ tiêu. Chúng sợ anh chạy trốn nên nổ súng luôn. Nhưng viên đạn xuyên xuống hàm làm anh gẫy mất mấy cái răng. Anh ngã vật ra. Vừa lúc có tiếng những người công nhân đi cạo mủ cao su, bọn chúng sợ lộ bèn quay xe bỏ chạy.



Tỉnh dậy, anh cố lết về một nhà thờ. Sau khi được linh mục Cường cứu sống, anh chủ động xin chuyển tới chỗ khác phòng khi bọn an ninh quân đội tới truy tìm. Nhưng sau bọn chó săn vẫn đánh hơi ra anh và tìm bắt anh về giam tại Cục an ninh quân đội, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tại đây, chúng đã dùng những thủ đoạn tra tấn anh hết sức dã man như: dùng cây nhọn xoáy vào vết thương, đánh đập, tra điện. Ông Đặng Như Tuyết, đại tá Ngụy tham gia đảo chính bị bắt giam ở phòng bên cạnh sau này có kể lại khi bên An ninh quân đội hỏi anh Thảo: “Nếu được tự do Đại tá sẽ làm gì?”. Anh hiên ngang trả lời: “Tôi sẽ tiếp tục sứ mạng cho tơí lúc thành công”.

Bị đánh đập dã man, không nói được nhưng anh vẫn dùng bút viết ra giấy những lời đanh thép lên án chúng như: “Chúng mày biết tao là Việt cộng thì đừng bao giờ hi vọng tao khai. Một là sống, hai là chết, tao vẫn tiếp tục con đường của tao...”. Vì cay cú, tên Nguyễn Ngọc Loan đã dùng cả hành vi bẩn thỉu, đê hèn tra tấn với dã tâm để anh chết rồi bí mật mang chôn giấu tại nghĩa trang quân đội Gò Vấp với tấm bảng ghi “Mộ vô danh”.

Ngày 18/7/1965, các báo chí Sài Gòn đăng tin đại tá Phạm Ngọc Thảo chết vì bị thương trong một tai nạn giao thông. Nguỵ quyền Sài Gòn sau khi biết rõ sự thật đã gọi anh là “vua đảo chính” với nỗi khiếp sợ. Tướng 4 sao Oét-mô-len, Tổng chỉ huy quân đội Mỹ ở miền Nam trong hồi ký đã gọi Phạm Ngọc Thảo là một nhà “cách mạng chuyên nghiệp”.

Anh ngã xuống nhưng đã góp công lớn vào lịch sử, bao lần kìm chân kẻ thù gây tội ác. Hoạt động của “vua đảo chính” đã làm điên đầu Mỹ- Ngụy, khiến chúng không còn nhiều thì giờ đàn áp dân chúng, đánh phá cách mạng, làm đổ bể bao kế hoạch quân xâm chiếm miền Nam, oanh tạc miền Bắc.

Sau ngày đất nước giải phóng, nhiều đồng đội đã vô cùng chua xót khi thấy mộ anh vẫn chỉ là nấm mồ vô danh. Họ đã sưu tầm tư liệu, đề nghị Nhà nước truy tặng anh danh hiệu Anh hùng LLVTND... Rất nhiều nước mắt xúc động, cảm thương của những người chiến binh già đã rơi khi kể với chúng tôi câu chuyện về anh. Năm 1987, Nhà nước truy tặng anh danh hiệu cao quý: Anh hùng LLVTND. Hiện nay, mộ Phạm Ngọc Thảo được đưa về nghĩa trang TP.HCM, trên đồi Lạc Cảnh(huyện Thủ Đức). Mộ anh nằm cạnh mộ những tên tuổi nổi tiếng như Lưu Hữu Phước, Phạm NgọcThạch, Can Trường...

Ông Trần Bạch Đằng, nguyên Phó ban tuyên huấn TƯ cục miền Nam nhận xét: các nhà tình báo thông thường có nhiệm vụ giấu mình, thu thập, khai thác tin tức chuyển về trung tâm. Riêng Phạm Ngọc Thảo đi thẳng vào hàng ngũ kẻ thù, tung hoành hoạt động vì Tổ quốc cho tới tận lúc hy sinh, trường kỳ mai phục và “độc lập tác chiến”. Anh là người tình báo đặc biệt có một không hai. Nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt nói: anh Phạm Ngọc Thảo đã nhận một nhiệm vụ đặc biệt, chưa từng có “tiền lệ” trong công tác cách mạng của chúng ta”