Page 5 of 14 FirstFirst 1234567891011121314 LastLast
Results 81 to 100 of 264

Thread: Chân Lý Thích Ca.

  
  1. #81
    Join Date
    Nov 2009
    Posts
    147
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    chánh pháp 84 xin cho hỏi
    cha cháu năm nay 81 tuổi rồi lúc khoẻ thường dọc kinh phật nay bị bịnh nặng
    không chửa dược, cháu muốn biết trước hết cháu nên làm gì trước tiên
    tại vì người thân ở việt nam còn cháu lớn lên ở dây không rành cho mấy
    ba cháu thì không chịu về việt nam
    mong bác giúp dỡ
    cháu không phải là phật tử nên khi dọc những lời giảng dạy hơn nữa dài quá
    khó nhớ

  2. #82
    Join Date
    Mar 2009
    Posts
    29
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Last edited by Tinh.Nhi; 06-11-2010 at 07:46 PM.

  3. #83
    Join Date
    Jun 2004
    Posts
    15
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    .........
    Lv
    Last edited by Tinh.Nhi; 06-11-2010 at 07:47 PM.

  4. #84
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    CHÚ ĐẠI BI .

    Nam Mô Đại Bi Hội thượng Phật Bồ Tát ( 3 lần )

    Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni .
    1. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da .
    2. Nam mô a rị da ,
    3. Bà lô yết đế , thước bát ra da ,
    4. Bồ Đề tát đỏa bà da ,/

    5. Ma ha tát đỏa bà da ,
    6. Ma ha ca lô ni ca da .
    7. Án
    8. Tát bàn ra phạt duệ ,
    9. Số đát na đát toả .
    10.Nam mô tất kiệt lật đỏa ,y mông a rị da ,
    11.Bà lô kiết đế ,thất Phật ra lăng đà bà ./

    12.Nam mô na ra cẩn trì
    13.Hê rị, ma ha bàn đa sa mế ,
    14.Tát bà a tha đậu du bằng ,
    15.A thệ dựng ,
    16.Tát bà tát đa ,
    17.Na ma bà già ,
    18.Ma phạt đạt đậu ,đát điệt tha .
    19.Án a bà lô hê ,
    20.Lô ca đế ,
    21.Ca ra đế ,/

    22.Di hê rị ,
    23.Ma ha bồ đề tát đỏa ,
    24.Tát bà tát bà ,
    25.Ma ra ma ra ,
    26.Ma hê ma hê ,rị đà dựng ,
    27.Cu lô cu lô kiết mông ,
    28.Độ lô độ lô ,phạt xà da đế,
    29.Ma ha phạt xà da đế,/

    30.Đà ra đà ra,
    31.Địa rị ni,
    32.Thất Phật ra da,
    33.Dá ra dá ra .
    34.Mạ mạ phạt ma ra,
    35.Mục đế lệ,
    36.Y hê di hê,
    37.Thất na thất na
    38.A ra sâm Phật ra xá lợi,
    39.Phạt sa phạt sâm,
    40.Phật ra xá da,
    41.Hô lô hô lô ma ra,/

    42.Hô lô hô lô hê rị,
    43.Ta ra ta ra,
    44.Tất rị tất rị,
    45.Tô rô tô rô,
    46.Bồ Đề dạ Bồ Đề dạ,
    47.Bồ đà dạ bồ đà dạ,
    48.Di đế lỵ dạ,
    49.Na ra cẩn rì
    50.Địa rị sắc ni na ./

    51.Ba dạ ma na
    52.Ta bà ha .
    53.Tất đà dạ
    54.Ta bà ha .
    55.Ma ha tất đà dạ
    56.Ta bà ha .
    57.Tất đà dũ nghệ
    58.Thất bàn ra dạ ,
    59.Ta bà ha .
    60.Na ra cẩn trì,
    61.Ta bà ha .
    62.Ma ra na ra
    63.Ta bà ha ./

    64.Tất ra tăng a mục khê da,
    65.Ta bà ha .
    66.Ta bà ma ha ,a tất đà dạ,
    67.Ta bà ha .
    68.Giả kiết ra a tất đà dạ,
    69.Ta bà ha .
    70.Ba đà ma kiết tất đà dạ,
    71.Ta bà ha ./

    72.Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ,
    73.Ta bà ha .
    74.Ma bà lị thắng yết ra dạ,
    75.Ta bà ha .
    76.Nam mô hắc ra đát na ,đa ra dạ da .
    77.Nam mô a rị da,
    78.Bà lô yết đế,
    79.Thước bàng ra dạ,
    80.Ta bà ha ./

    81.Án. Tất điện đô
    82.Mạn đà ra
    83.Bạt đà gia
    84.Ta bà ha. ( 3 lần )
    Last edited by ChanhPhap84; 03-09-2010 at 07:24 PM.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  5. #85
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    ]<EMBED src=http://www.youtube.com/v/TXdIuAbhhw8&hl=en_US&fs=1& width=480 height=385 type=application/x-shockwave-flash allowfullscreen="true" allowscriptaccess="always"></EMBED>
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  6. #86
    Join Date
    Jul 2009
    Posts
    108
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    <TABLE style="BORDER-COLLAPSE: collapse" cellSpacing=0 cellPadding=3 width="100%" align=center border=0><TBODY><TR><TD class=sarthead>Thiền Sư Nhất Hạnh : Một tấm gương kêu….Trời – cho các Việt Kiều… hồi hộp -!!! </TD></TR><TR><TD>Ng-v- Sơn
    February 22, 2010
    Thiền Sư Nhất Hạnh : Một tấm gương kêu….Trời – cho các Việt Kiều… hồi hộp -!!! <?XML:NAMESPACE PREFIX = O /><O:P></O:P>
    ( Bài viềt nầy, như cái tựa của nó, chỉ nói về Ông Thiền Sư Nhất Hạnh, hoàn toàn không nói gì về một phạm vi có tính chất sensible : “ Tôn Giáo ”, nên nếu có một cá nhân nào đó – vì một lý do nào đó - cố tình nhìn bài viết nầy với tính chất sai lạc với tính chất thực của bài viết, người viết sẽ từ khước mọi cuộc tranh cãi vô ích ( Ng-v-Sơn ). <O:P></O:P>
    ------------ --------- --------
    </TD></TR></TBODY></TABLE>
    (con tiếp)

  7. #87
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Khi đọc bài " TÔI ĐỌC “BÁT NHÃ LÀ MỘT CÔNG ÁN THIỀN” CỦA THIỀN SƯ THÍCH NHẤT HẠNH " của ông Trần Chung Ngọc phản chứng về Bát Nhã không phải là Công Án Thiền của sư Nhất Hạnh .
    http://giaodiemonline.com/2010/02/congan.htm

    Sau đó tôi được hân hạnh đọc bài trả lời của ông Hoàng Phi Long ở Pháp , đăng ngày 01/03/2010 trên Giao Điểm :
    http://www.giaodiemonline.com/noidun...hp?newsid=4643

    Sự thật tôi không chú trọng bài phân tích của ông Trần Chung Ngọc ( TCN ) phê phán Thầy Nhất Hạnh . Trong đó ông TCN trích dẫn lời Thầy Nhất Hạnh :
    Mở đầu Thiền sư Nhất Hạnh viết:

    Bát Nhã đây là Tu Viện Bát Nhã ở Bảo Lộc, là Tăng thân Bát Nhã đang gặp khó khăn và đang là một mối băn khoăn cho chính quyền, là Pháp nạn của Phật giáo Việt Nam trong những thập niên đầu của thế kỷ thứ hăm mốt. Công án là một vấn nạn cần phải giải quyết bằng niệm, định và tuệ chứ không thể chỉ bằng trí năng của ta.
    “Công án Bát Nhã” của Thiền sư Nhất Hạnh, theo đúng tinh thần của Công án, là để cho các hành giả quán chiếu “Bát Nhã” như là một “thoại đầu”, như Thiền sư đã viết rõ trong bài. Nhưng Bát Nhã là gì? Theo Thiền sư thì Công án Bát Nhã là Công án Tu Viện Bát Nhã ở Bảo Lộc, là Công án Tăng thân Bát Nhã đang gặp khó khăn và đang là một mối băn khoăn cho chính quyền, là Công án Pháp nạn của Phật giáo Việt Nam trong những thập niên đầu của thế kỷ thứ hăm mốt. , có nghĩa là Tu viện Bát Nhã ở Bảo Lộc là một thoại đầu để quán chiếu, Tăng thân Bát Nhã đang gặp khó khăn và đang là một mối băn khoăn cho chính quyền là một thoại đầu để quán chiếu, và Pháp nạn của Phật giáo Việt Nam trong những thập niên đầu của thế kỷ thứ hăm mốt là một thoại đầu để quán chiếu.

    Để rồi sau đó ông TCN trích ra ba công đoạn để chứng minh " Công Án Thiền " của Thầy chỉ nhắm vào chuyện xảy ra ở Tu Viện Bát Nhã Lâm Đồng một cách bóng gió .
    Đối với cá nhân một Phật tử như tôi rất kính trọng Thiền sư Nhất Hạnh , bằng chứng tôi đã viết nhiều bài bênh vực Thầy trong bài " Chân lý Thích Ca " của tôi .
    http://www.forvn.com/forums/phb-t-gi...thg-ch-ca.html

    -Thứ nhất : Thầy đã vì Dân tộc gây phong trào phản chiến ở Hải ngoại nhằm đưa đến hòa bình cho đất nước . Thầy không ngại ngùng chống đối Mỹ và VNCH đưa chiến tranh gây tang thương cho Việt Nam theo quan niệm của Thầy . Để rồi từ đó Thầy vĩnh viễn không được trở về nước năm 1960 .

    -Thứ hai : Mãi cho đến khi đất nước thống nhất năm 1975 Thầy vẫn không được trở lại quê hương CHXHCNVN . Nếu không nhờ Đại Hội Phật giáo Thế Giới Vesa tổ chức tại Việt Nam năm 2007 thì không bao giờ Thầy Nhất Hạnh được nhìn lại Việt Nam .
    Điều mà tôi vẫn suy đoán Thầy Nhất Hạnh là người vì Dân Tộc khi Thầy thân thiện , ra sức giúp miền Bắc và tạo nhiều điều kiện giúp đở cán bộ nằm vùng nhằm đánh phá miền Nam trong lá thư Nguyễn Lang gởi CT Nguyễn Minh Triết . Khi miền Nam bị lật đổ , Mỹ đã rời bỏ quê hương của Thầy , bây giờ Thầy bắt đầu muốn thanh toán nốt CHXHCNVN để có một Việt Nam hoàn toàn từ Dân tộc mà nên chăng ? Điều mà ông TCN đã dẫn chứng Thầy Nhất Hạnh làm chính trị :

    "Trong chuyến đi Việt Nam vào cuối năm 2007, Thiền sư đã nói với Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết rằng nhà nước nên dẹp bõ ngành công an tôn giáo và giải tán Ban Tôn giáo chính phủ, cơ quan giám định những sinh hoạt tôn giáo.
    Rồi đến 2008, niên giám của Làng Mai đề xuất với chính phủ hãy từ bỏ Chủ Nghĩa Cộng Sản, bỏ chữ “Cộng Sản” ra khỏi tên của Đảng chính trị cầm quyền, và bỏ cụm từ “Xã hội chủ nghĩa” ra khỏi tên chính thức của nước, “Cộng hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Vậy, dù Thiền sư vô tình hay hữu ý, dù Thiền sư muốn hay không muốn, thì những tuyên bố của Thiền sư là một ứng xử chính trị: đối tượng là chính trị, lãnh vực là chính trị, nội dung là chính trị, hậu quả là chính trị. "

    Cho dù ông TCN có dẫn chứng Thầy Nhất Hạnh đang làm chính trị thì chúng ta ai cũng hiểu Thầy đã làm chính trị từ lâu khi đứng ra vận động hòa bình . Điều Thầy nói "Không biết chính trị là cái gì là không đúng .

    Trở lại bài của ông Hoàng Phi Long nhằm biện luận và công kích ông TCN bằng một giọng sách mé khi đóng vai một đứa " cháu " thưa chuyện cùng " Bác Trần Chung Ngọc " với một giọng văn không mấy lương thiện nhằm bênh vực Thầy Nhất Hạnh và Làng Mai . Đối với tôi chẳng qua đó là một sự tranh cải còn mang tính cách tránh né , lánh đòn lần nhau từ Thầy Nhất Hạnh cho đến ông Trần Chung Ngọc và ông Hoàng Phi Long về một CÔNG ÁN THIỀN nhưng mục đích chính là muốn đề cập , phê phán đến nhà nước CHXHCNVN qua hình ảnh một giáo lý Thiền .

    Đối với tôi , lòng KÍNH TRỌNG - TIN TƯỞNG Thầy Nhất Hạnh đã xuống . Khi Thầy cho rằng " Chúa và Phật là anh em " . Chính Thầy đã xác nhận trong dịp đến thăm nhà thờ Phát Diệm ở Ninh Bình vào sáng ngày 30-4-2007 như sau :
    “Ở Mai Thôn Đạo Tràng tại Pháp, mỗi năm đến ngày giáng sinh, chúng tôi luôn luôn tổ chức lễ Giáng Sinh rất long trọng, tại vì đa số các thiền sinh đều có nguồn gốc Ki Tô giáo. Ngày giáng sinh rất nhiều thiền sinh Tây phương về Đạo Tràng Mai Thôn như con cháu về nhà tổ phụ. Vì vậy vào đêm Giáng Sinh tôi luôn luôn giảng một bài về Phật và về Chúa.”

    (trích nguồn: 30-Avril-NinhBinh_Du..> )
    Điều này chứng tỏ Làng Mai đang thờ cả Chúa lẫn Phật . Và ông TCN đã dẫn chứng :

    - Đức Ki Tô Hằng Sống là Con của Thượng Đế, đã phục sinh, và nay vẫn còn tiếp tục sống.
    - Chúng ta phải quán chiếu mọi hành động và mọi lời dạy của Chúa Giêsu trong cuộc đời Ngài, như một mẫu mực để chúng ta tu tập. Giêsu sống đúng như lời dạy của Ngài, cho nên suy gẫm cuộc đời Chúa Giêsu là điều tối cần thiết để hiểu giáo lý của Ngài.
    - Tội tổ tông cũng có thể được chuyển hóa khi một người tiếp xúc với Thánh Linh. Giêsu là con của Thượng Đế…
    - Nơi duy nhất chúng ta có thể tiếp xúc với Giêsu và Nước Chúa là ở trong nội tâm mình.
    - Khi chúng ta theo dõi và tiếp xúc một cách sâu sắc với cuộc đời và giáo lý của Chúa Giêsu,
    chúng ta có thể thâm nhập vào sự thật của Thượng Đế. Tình yêu, sự hiểu biết, lòng can đảm, sự bao dung, là những biểu hiện của cuộc đời Chúa Giêsu. Thượng Đế xuất hiện với chúng ta qua Giêsu Ki Tô. Với Thánh Linh và Nước Chúa ở trong Ngài.
    Mấy câu trên là ở trong cuốn “Living Buddha, Living Christ”, Chương 4 của Thiền sư. Trên trang nhà: http://www.johnworldpeace.com/tnhanh4.html , sau đây là vài nhận định điển hình của John phê bình Chương 4 trong cuốn sách trên của Thiền sư :
    [John: Well! No Brother Hanh, Jesus did not live exactly as he taught. His admonition to turn the other cheek did not apply to his actions in the Temple. There are many such examples in the gospels of the New Testament in the Christian Bible. For more examples go to The Saying of Jesus
    John: Well again Brother Hanh, I do not think you want to make this kind of statement.
    Further you can see here the precedent that Jesus set for later Christians to deal accordingly with non-Christians and their pagan religions.
    I truly respect you Brother Hanh, but you are attempting to write about Christianity which you do not fully understand ]

    Đồng thời Thầy Chân Pháp Đệ, một tu sĩ Phật giáo của Làng Mai, nhân ngày lễ “Đức Mẹ Vô Nhiễm” đã viết trong Lá thư Làng mai số 32 với tựa bài là “Tin Mừng”, ngay khi sư ông vẫn “ngồi yên như núi” ở đó, và xin trích một đoạn:

    “Ngày xưa, ai ai cũng dừng lại khi nghe chuông nhà thờ đổ và niệm ba lần kinh Lạy Mẹ Maria. Ngày nay, chỉ có các Thiền tăng dừng lại. Tôi yêu tiếng chuông và tôi niệm một lần kinh Lạy Mẹ. Nghe hồi chuông cầu Kinh Đức Bà cũng giống như nghe tiếng gọi của đức Ki-tô, gọi tôi quay về với chân tâm và mời tôi làm như Mẹ Mary: mang năng lượng Chúa Thánh Thần, sản sinh ra đức Ki-tô trong cuộc đời mình, trong thân và tâm mình.”

    (Trích nguồn: http://langmai.org/images/stories/la...ize_part01.pdf )

    Thầy Nhất Hạnh là một người có trình độ Tiến Sỹ , từng viết nhiều sách , truyện được Thế giới biết tiếng và đã dựng thành phim . Thầy từng đi thuyết giảng được các Đại hội Phật giáo , nhà thờ hải ngoại mời , ngoài ra Thầy là đệ tử của Như Lai gần 60 năm nay tất nhiên thầy quá hiểu về giáo lý của Ngài Thích Ca Mâu Ni hơn ai hết . Và Thầy cũng am hiểu Thánh Kinh của Ca tô giáo không phải là ít , nhưng dù sao sở trường của Thầy vẫn là Phật giáo .

    Nếu so sánh về giáo lý , hành động , khuôn mặt , đời sống giữa Ngài Thích Ca và Jesus hoàn toàn khác hẳn nhau . Chúng ta sẽ thấy Đức Phật khiêm nhường bao nhiêu thì Jesus tự cao, tự đại ,tự tôn bấy nhiêu. Chúng ta sẽ thấy ngôn ngữ của Đức Phật êm ái , từ bi , hỹ xã bao nhiêu thì cũng thấy ngôn ngữ của Jesus đầy hận thù , bạo động và gây chiến tranh bấy nhiêu . Tất nhiên giữa hai giáo lý này không thể đứng chung và hòa đồng làm một như Làng Mai đang làm . Tôi không hiểu Thầy Nhất Hạnh đang ở hải ngoại muốn yên thân , sống an lành giữa thế giới Âu - Mỹ phần lớn là Kito giáo chăng ? Hay Thầy đang phá nát chân lý Thích Ca giống như Đại Thừa Tịnh Độ , Kim cang thừa , Osho , Thanh Hãi Vô Thượng Sư mà tôi đã chứng minh trong bài " Chân Lý Thích Ca " .

    Nếu là con Phật chân chính tôi xin quý Thầy hảy thức tĩnh và quay về con đường giải thoát mà Ngài Thích Ca đã bỏ công 49 ngày thiền định dưới gốc cây Bồ Đề tìm ra . Giáo lý của Ngài là tự mình giải thoát khổ đau chứ không cầu nguyện , van xin như Chúa Jesus , Phật A Di Đà , Quán Thế Âm ...... của Tịnh Độ . Vô hình dung đạo Phật cầu nguyện của Tịnh độ giống như Ca tô giáo cho nên Thầy Nhất Hạnh mới gán ghép vào nhau chăng ? Đó là một sai lầm lớn và cố ý đánh đồng giữa Chúa và Phật làm một là một sự mĩa mai và có tội rất lớn với Đức Bổ Sư Thích Ca Mâu Ni .
    Đây là quan điểm của cá nhân tôi xin góp ý vào bài " “BÁT NHÃ LÀ MỘT CÔNG ÁN THIỀN” của Thiền Sư Nhất Hạnh để quý vị Tu sĩ Phật giáo , Thiện trí thức chiêm nghiệm đi sát vào sự tồn vong của Phật giáo hay hơn chỉ là sự tranh luận ngoài lề giữa ông Trần Chung Ngọc , Hoàng Phi Long hay bất cứ một cá nhân nào cũng chỉ là chuyện thế sự không giữ vững được chân lý sáng ngời của Như Lai .


    USA ,ngày 14-3-2010
    Last edited by ChanhPhap84; 03-14-2010 at 01:06 AM.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  8. #88
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Từ khi viết bài " Bát nhã là một công án Thiền" của GS Trần Chung Ngọc phê bình Thầy Nhất Hạnh đã hơn nửa tháng nay . Rất nhiều lần ngồi trước bàn phím tôi muốn tiếp tục đưa ra sự hoàn toàn khác biệt về tính tình , giáo lý , ngôn ngữ , hành động cùng đạo đức của Ngài Thích Ca Mâu Ni và Đức Chúa Giê-Su khi đã viết :
    -" Nếu so sánh về giáo lý , hành động , khuôn mặt , đời sống giữa Ngài Thích Ca và Jesus hoàn toàn khác hẳn nhau . Chúng ta sẽ thấy Đức Phật khiêm nhường bao nhiêu thì Jesus tự cao, tự đại ,tự tôn bấy nhiêu. Chúng ta sẽ thấy ngôn ngữ của Đức Phật êm ái , từ bi , hỹ xã bao nhiêu thì cũng thấy ngôn ngữ của Jesus đầy hận thù , bạo động và gây chiến tranh bấy nhiêu . Tất nhiên giữa hai giáo lý này không thể đứng chung và hòa đồng làm một như Làng Mai , Phật Giáo Hòa Hảo đang làm ."

    -Thứ nhất :Tôi không muốn đào sâu sự hiểu nhầm cho là : bôi nhọ , đả kích , gây chia rẽ tôn giáo . Mặc dù đã có hàng ngàn học giả viết suốt 2000 năm nay .
    -Thứ hai:Tôi lại càng không muốn khi nhiều sách , các tu sĩ Phật giáo lẫn Công giáo đang nhầm lẫn " Phật và Giê-Su " là anh em ( nghĩa là một ) mà hiện nay đang đựơc hai tôn giáo truyền tụng .
    Hôm nay nhân đọc bài " Chúa Jesus chết già?" của báo BBC online đăng lúc 16:12 GMT - chủ nhật, 28 tháng 3,2010
    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/cult..._kashmir.shtml


    Điện thờ Rozabal
    Nội dung bài báo viết :" Có người tin rằng Chúa Jesus không chết lúc bị đóng đinh trên thập tự giá mà sống những năm còn lại ở Kashmir khiến một điện thờ cũ kỹ ở Srinagar trở thành nơi du khách phải đến viếng ..... Cũng là khỏang thời gian từ 12 đến 30 tuổi trong Thánh kinh hoàn toàn không nhắc đến . " Đúng với những giả thuyết , di tích mộ phần và tài liệu tìm đựơc ở Ấn Độ trước đây chứng minh khỏang thời gian này Chúa Giê-Su tu học giáo lý Phật giáo ở Ấn Độ . Sau khi thóat chết trên thập giá Ngài trốn thóat qua sống và chết già tại đây như báo chí vừa đăng tải . Vì thế trong kinh Thánh có những điểm tương đồng giống như kinh Đức Phật dạy , đại khái :
    -Con người sanh ra do Đất - Nứơc - Gió - Lửa và Chúa dùng đất trộn nước , dùng hơi thổi vào tạo thành người .
    -Năm giới cấm và 10 điều răn .
    -Phật ở tại tâm - Chúa ở cùng ngươi .
    - .....................................
    Chính những điểm vì sao có sự tương đồng như thế , trong khi Chúa Giê-su là đấng sanh sau Đức Phật Thích Ca 500 năm . Chắc chắn là Chúa đã học và ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo . Cho nên những vị như Ngài Huỳnh giáo chủ sáng lập ra Phật giáo Hoà Hảo , Thầy Thích Nhất Hạnh v.v....... dựa vào đó để cho rằng " Chúa và Phật là anh em " . Sự thật chỉ đúng một phần cũng giống như chuyện năm ông thầy bói mù sờ voi . Họ chỉ sờ chân voi mà cho rằng con voi giống cột nhà . Cũng vậy , một vài sự lập lại giáo lý của Chúa khi học đựơc của Phật giáo không hẳn là toàn bộ giáo lý của Đức Phật . Hơn nữa về cách hành đạo , cuộc đời , tánh tính , ngôn ngữ , hành động giữa Chúa và phật hoàn toàn nghịch chiều nhau , điều mà các nhà nghiên cứu , Thần học , Giám Mục đã đưa ra phân tích từ lâu . Muốn đựơc rõ thêm quý vị có thể tìm đọc ở những tác giả Tây phương như sau :
    1. Về Vatican:

    - ”Vatican Mis À Nu” của Đức Ông Luigi Marinelli
    - Những cuốn “The Vatican’s Mafia”; “Vatican Exposed: Money, Murder, and the Mafia”;
    “The Vatican’s Finances”; “The Antichrist in the Vatican”; “The Lies of Pope John Paul
    II” v..v.. của Đức Ông Rafael Rodríguez Guillén.
    - “The Secret Archives of the Vatican” của Maria Luisa Ambrosini & Mary Willis
    - “The Vatican and Zionism” của Sergio I. Minerbi.
    - “The Love Affairs of the Vatican or The Favorites of the Popes” của Dr. Angelo S.
    Rappoport
    - “In the Vatican: The Politics and Organization of the Roman Catholic Church” của
    Thomas Reese
    - “Vicars of Christ: The Dark Side of the Papacy” của Giám mục dòng Tên Peter de Rosa
    - “The Vatican’s Holocaust” của Baron Avro Manhattan
    - “In the Vatican” của Peter Hebblethwaite
    - “The Vatican Empire” và “The Incredible Book of Vatican Facts and Papal Curiosities”
    của Nino Lo Bello
    - “O Vatican: A slightly wicked view of the Holy See” của Paul Hofmann
    - “The Vatican Connection” của Richard Hammer
    - “Papal Sin” của Garry Wills
    4. Về Phân tích và phê bình Thánh Kinh:
    1. The X-Rated Bible: An Irreverend Survey of Sex in the Scriptures, Ben Edward Akerley; 2. A History of God, Karen Armstrong; 3. The Bible Handbook, W.P.Ball, G.W. Foote et al..; 4. a. The Gospel of Love Versus Crime, b. The Shadow of the Deamon, Jack Bays; 5. Going By The Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority, Ernie Bringa; 6. Dieu Contre Dieu, Robert Dalian; 7. Christianity Cross-Examined, William Floyd; 8. Bible Romances, G.W. Foote; 9. Who Wrote the Bible?, Richard Elliott Friedman; 10. One Hundred Contradictions in the Bible, Marshall J. Gauvin; 11. Deceptions and Myths of the Bible, Lloyd M. Graham; 12. a. The Book of Ruth, b. The Born Again Skeptic's Guide to the Bible, Ruth Hermence Green; 13. Mythology's Last Gods: Yahweh and Jesus, William Harwood; 14. Some Mistakes of Moses, Robert G. Ingersoll; 15. All the Obscenities in the Bible, Gene Kasmar; 16. The Bible Unmasked, Joseph Lewis; 17. The Case Against Christianity, Michael Martin; 18. a. Resurrection: Myth or Reality, b. Born a Woman: A Bishop Rethinks the Birth of Jesus, John Shelby Spong; 19. Jesus and the Riddle of the Dead Sea Scrolls, Barbara Thiering; 20. The Bad News Bible: The New Testament, David Voas; 21. Fictional Transfiguration of Jesus, Theodore Ziolkowski; 22. The Five Gospels: What Did Jesus Say?, The Jesus Seminar.
    5. Về Cấu trúc độc tài toàn trị của chế độ giáo hoàng:
    1. The Papacy and the Modern World, Karl Otmar Von Aterin; 2. The Pope and the Mavericks, Louis Baldwin; 3. The Decline and Fall of the Medieval Papacy, L. Elliot Binns; 4. American Freedom and Catholic Power, Paul Blanshard; 5. Church: Charism & Power, Leonardo Boff; 6. The Final Superstition, Joseph L. Daleiden; 7. The Rest of Us Catholics: The Loyal Opposition, Joseph Dunn; 8. The Limits of the Papacy, Patrick Granfield; 9. A Modern Priest Looks at his Outdated Church, James Kavanaugh; 10. The Infallibility Debate, John J. Kirvan; 11. Infallible? An Inquiry, Hans Kung; 12. The Keys to this Blood, Malachi Martin; 13. The Totalitarian Church of Rome: Its Fuehrer, Its Gauleiter, Its Gestapo, and Its Money-Box , Joseph McCabe; 14. Freedom's Foe - The Vatican, Adrian Pigott; 15. Authority in the Roman Catholic Church, Maximilian F. Russer; 16. Vicars of Christ: The Dark Side of the Papacy, Peter de Rosa.
    6. Về Linh mục bỏ đạo và loạn dâm:
    1. Pourquoi J'ai Quitté L'Église Romaine, Georges Las Vergnas; 2. Why I Left The Roman Catholic Church, Charles Davis; 3. Letters To An Ex-Priest, Emmett McLoughlin; 4. Shattered Vows, Priests Who Leave, David Rice; 5. Full Pews and Empty Altars, Richard Schonherr & Lawrence Young; 6. Liberating Faith, Geffrey B. Kelly; 7. Braking Faith, John Cornwell; 8. Sex, Priests, and Power, Richard Sipe.
    7. Về Thiên Chúa Của Ki Tô Giáo:
    1. A History of God & The Case for God, Karen Armstrong; 2. Gospel Fictions, Randel Helms; 3. Gospel Truth, Russell Shorto; 4. God is not Great, Christopher Hitchens; 5. Atheism: The Case Against God; 6. Critiques of God, Peter A. Angeles; 7. The Dark Side of God, Douglas Lockhart; The God Delusion, Richard Dawkins; 8. Putting Away Childish Things, Uta Ranke-Heinemann; 9. The Impossibility of God, Michael Martin; 10. The Impossibility of God, Jeffrey Grupp; 11. God: The Failed Hypothesis, Victor J. Stenger; 12. God’s problem, Bent D. Ehrman.


    (còn tiếp )

    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  9. #89
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Điều mà tôi cho rằng Thầy Nhất Hạnh hoàn toàn ngộ nhận khi giảng :

    -“Living Buddha Living Christ – Phật ngàn đời Chúa ngàn đời” .

    - “Going Home, Buddha and Jesus as Brother – Bụt Chúa là Hai Anh Em” .


    Vô tình hay chủ ý luận điệu ấy là những âm mưu đánh phá Phật giáo một cách ti tiện, xảo trá, và đại quy mô . Tôi chắc chắn rằng với trình độ Phật học của Thầy thì không thể cho là vô tình hay sai sót . Vì trên thế giới ngày nay đang phải đối phó với sách lược xâm lăng văn hóa và tôn giáo của Ki-tô Giáo, một sách lược mà Tiến Sĩ C. de S. Wijesundera ở Tích Lan lên án là :

    “Tấn công Phật Giáo một cách ti tiện, xảo trá, và đại quy mô.”

    (They [the Christians] were engaged, Dr. C. de S. Wijesundera said, in a "despicable, treacherous, indecent and massive assault on Buddhism".)
    Rất nhiều tài liệu đã in thành sách và truyền bá , lưu hành trên Internet đã chứng tỏ là sách lược này đang được tích cực thi hành ở Ấn Độ, Phi châu , Nam Hàn , Thái Lan, Tích Lan, Việt Nam v..v..

    Bất cứ ai là người chuyên tâm khảo cứu kinh Thánh và giáo lý Đức Phật cũng có thể so sánh sự trái ngược và nghịch lý của hai tôn giáo này ( ngoại trừ Phật giáo Đại thừa , Hòa Hảo ) , từ giáo lý cho đến cách thực hành , xử thế . Phật giáo là đạo trí thức và giác ngộ không thể là " Không thấy mà tin " một cách mù quán của Kito giáo . Đức Đạt Lai Lạt Ma vị lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng , Ngài đã khẳng định lập trường của Phật Giáo đối với quan niệm Thượng đế của Ki-tô Giáo:

    “Phật Giáo đã luôn luôn tự kiềm chế trong việc khẳng định sự hiện hữu và thuộc tính toàn năng của một Thượng đế sáng tạo”
    [The Spirit of Peace: Teaching on Love, Compassion and Everyday Life, by His Holiness the Dalai Lama, page.71: Buddhism has always refrain from asserting the existence and the omnipotence of a creator god]

    Và cũng không có thể Thầy Nhất Hạnh đồng hóa tính tình của Chúa Giê-su và Ngài Thích Ca . Hầu hết trong Tân ước và Cựu ước Chúa thể hiện tánh tình bức xúc , hung bạo , ty tiện , ưa trả thù , háo thắng mà các nhà nghiên cứu , học giả , Giám mục đã thẳng thừng nhận xét :

    -Tổng Thống Thomas Jefferson của Mỹ, sau khi đọc cuốn “Thánh Kinh”, đã nhận định về Thượng đế của Ki Tô Giáo là :

    “Một nhân vật có tính tình khủng khiếp – độc ác, ưa trả thù, đồng bóng, và bất công”

    [Thomas Jefferson describes The God of Moses as “a being of terrific character – cruel, vindictive, capricious and unjust].

    -Giám mục John Shelby Spong cho rằng :

    " Cuốn Thánh Kinh đã làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị. Nó đưa đến cho tôi một Thượng đế mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng. "

    [ John Shelby Spong, Rescuing The Bible From Fundamentalism, pp. 24: A literal Bible presents me with far more problems than assets. It offers me a God I cannot respect, much less worship.]

    -Richard Dawkins trong cuốn “The God Delusion”, ấn bản 2008, tác giả đưa ra tới 16 nhận định về Thiên Chúa của Ki Tô Giáo rất đáng để chúng ta nghiên cứu để tìm hiểu sự thật. Mở đầu Chương 2, trang 51, về “Giả Thuyết Về Thượng đế ” [The God Hypothesis], tác giả Richard Dawkins viết:

    "Không cần phải bàn cãi gì nữa, Thượng đế trong Cựu Ước là nhân vật xấu xa đáng ghét nhất trong mọi chuyện giả tưởng: ghen tuông đố kỵ và hãnh diện vì thế; một kẻ nhỏ nhen lặt vặt, bất công, có tính đồng bóng tự cho là có quyền năng và bất khoan dung; một kẻ hay trả thù; một kẻ khát máu diệt dân tộc khác; một kẻ ghét phái nữ, sợ đồng giống luyến ái, kỳ thị chủng tộc, giết hại trẻ con, chủ trương diệt chủng, dạy cha mẹ giết con cái, độc hại như bệnh dịch, có bệnh tâm thần hoang tưởng về quyền lực, của cải, và toàn năng [megalomaniacal], thích thú trong sự đau đớn và những trò tàn ác, bạo dâm [sadomasochistic], là kẻ hiếp đáp ác ôn thất thường."

    [The God of the Old Testament is arguably the most unpleasant character in all fiction: jealous and proud of it; a petty, unjust, unforgiving control-freak; a vindictive, bloodthirsty ethnic cleanser; a misogynistic, homophobic, racist, infanticidal, genocidal, filicidal, pestilential, megalomaniacal, sadomasochistic, capriciously malevolent bully.]

    ........ còn rất nhiều ý kiến khác nữa mà tôi không dẫn chứng thêm . Trong khi đó tôi xin thách đố Thầy Nhất Hạnh đưa ra hay bất cứ một học giả , triết gia nào dẫn chứng trong kinh Phật có những lời giảng tàn ác , vô đạo đức giống như kinh Thánh . Đây là một THÁCH ĐỐ để chứng minh sự không thể đánh đồng , hòa hợp Chúa và Phật giống nhau . Nếu là anh em chăng cũng không thể đặt Chúa Giê-su cùng thời và ngang hàng với Đức Phật . Phải nói rằng Giê-su là cháu , chắt , học trò 500 đời của Đức Phật Thích Ca mới đúng . Cũng có thể cha lành sanh con đạo tặc chứ không phải là anh em hay sống ngàn đời như Thầy Nhất Hạnh đánh lận con đen như vậy .

    (còn tiếp )


    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  10. #90
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN .

    Nhân ngày Đức Phật Thích Ca Đản sanh , một lần nữa tôi tạm dẹp tất cả những chuyện thị phi , tranh chấp thiệt hơn , phải trái ...... trên cuộc đời để dọn mình thanh sạch CUNG NGHINH - CHIÊM BÁI kỹ niệm ngày đấng TỪ PHỤ của nhân loại ra đời .

    Nhắc đi , nhắc lại suốt 2500 nay nhân loại vẫn xác nhận và CÔNG NHẬN đạo Phật là " Đạo trí tuệ " . Bây giờ tôi có nói cũng bằng thừa và vô tình lập lại hàng triệu triệu ý kiến này của Thế giới loài người . Không những Ngài Thích Ca sáng lập ra một đạo trí tuệ mà còn là mộ đạo TỪ BI - HỸ XÃ - HÒA BÌNH . Điểm quan trọng CẤM SÁT SANH của Ngài là nhân tố quan trọng đưa đến Hòa bình cho nhân loại .

    Mãi cho đến nay tập tục và giáo lý nhân đạo của Ngài Mâu Ni vẫn còn in đậm , thấm sâu vào các nước Phật giáo nhất là nước Á Châu như Sri Lanka , Lào , Campuchia , Việt Nam , Trung Hoa , Nhật Bản ..... vào ngày Phật Đản ít có ai bị đói . Tại chùa nào , nhà nào cũng để mâm cơm ở trong chùa hay trước cửa và bất cứ ai đói bụng cũng đều được mời ăn cơm đó một cách thoải mái , tự do . Ngoài ra các nước Phật giáo trên ,ngày Phật đản tất cả mọi người đều ăn chay, khi ra chợ những quán ăn đa số đều bán hàng cũng chỉ bán đồ chay . Đó là một ngày không sát sanh. Ngày Phật Đản và nhiều ngày trước đó, người Phật tử , tu sĩ đã thả chim, cá , rùa .....tạo niềm vui và hiến dâng sự sống cho nhiều loài động vật . Các chính quyền thì ân xá , giảm tội , thả tù nhân . Đó là hành động nhân đạo cũng là cách thực tập từ bi để báo ân và nhớ đến lời dạy của đấng Từ phụ .

    Đức Từ Bi ngày nay đã ăn sâu vào các nước Âu - Mỹ nhờ nền văn minh của khoa học tiến bộ sâu rộng . Ngày nay Tây phương thường mệnh danh là cái nôi của nền văn minh mà họ mạo nhận là nền "văn minh Kito" đã phải xét lại khi mà những nước Phật giáo Á Châu đầu tiên là Nhật , Trung Hoa , Đài Loan , Ấn Độ , Việt Nam , Mã Lai ...... đã trở nên hùng mạnh từ kinh tế , chính trị cho đến văn hóa không thua gì Âu - Mỹ mà có phần vượt qua và sắp dẫn đầu Tây phương . Phật giáo có tự nhận và cho rằng nhờ Phật giáo mà các nước Á châu trở nên hùng mạnh vì đã từng đánh ngã Pháp , Mỹ như Việt Nam ta không ? Điều đó dù thật tế có chi phối , ảnh hưởng hay không đến tinh thần quật khởi , độc lập và tự do như Ngài Thích Ca giáo huấn thì Phật giáo vẫn khiêm nhường không nhận công lao đó là của mình . Điều có nhận chăng là Phật giáo sẽ làm ảnh hưởng đến sự Hòa bình và lòng nhân từ giữa con người và con người , giữa con người và loài vật . Tôi ví dụ như người Phật tử thì không khó khăn gì để chấp nhận đức Kitô là một vị Bồ Tát do bản tánh được dạy là hiền hòa , tha thứ . Vì vậy rất nhiều người Phật tử sẵn sàng để ăn mừng ngày Chúa ra đời , đến chung vui hay tham gia các buổi lễ ở nhà thờ , thậm chí có đón nhận cả bánh Thánh " Rước Chúa vào lòng " mà người con Chúa không bao giờ dám đến chia sẻ với Phật tử ở chùa , cũng bởi Thánh Kinh đã cấm hòa đồng như thế .

    Điều khác biệt thay vì giết một con gà Lôi (gà Tây) để ăn lễ Noel , Thanks giving thì tại sao người Phật tử ở phương Tây lại không ăn chay để khỏi phải sát sinh. Nếu người Phật tử cứ thực tập như vậy một hồi thì Âu - Mỹ người ta sẽ chuyển hướng, họ cũng sẽ không giết một con gà Lôi mỗi khi ngày Giáng Sinh để mừng Chúa ra đời . Hoặc phải đốn hàng chục triệu cây thông con để mừng lễ . Nếu người Tây phương ý thức và hiểu sự sát sanh là quan trọng như Phật tử thì nhân loại sẽ được an vui khi đón mừng ngày đản sanh của đấng chí tôn của mình hoàn toàn ý nghĩa . Không có gì an vui , hạnh phúc bằng MỘT NGƯỜI SANH RA ĐỜI mà không gây chết chóc cho hàng triệu sanh vật , cỏ cây khác . Đó cũng là sự khác biệt quá XA VỜI giữa Chúa - Phật .Vì thế Chúa và Phật không thể là một , cho dù là Ông - Cháu thì tánh tình và đạo hạnh hoàn toàn khác nhau không bao giờ ngồi chung với nhau trong một tòa nhà nhân loại được .

    Xét thêm một điểm khác . Trong ngày lễ Phật đản so với lễ Noel thì lễ Phật Đản ít tốn kém rất nhiều. Nếu Phật tử ở các nước Âu - Mỹ làm lễ Giáng sanh theo tinh thần Phật Đản thì sẽ gieo được những hạt giống tốt cho Tây phương , đồng thời không bị giới thương mại lợi dụng để làm tiền nhân ngày ra đời dù là Chúa hay Phật .

    Cái khác biệt của đạo Phật là không CẦU NGUYỆN hay dựa vào một đấng Thần linh nào khác như đạo Kito đã đành mà ngay Phật giáo như Đại Thừa - Tịnh độ cũng đang dạy cầu nguyện A Di Đà , Quán Thế Âm .... làm cho nhiều người lầm tưởng đạo Phật cũng mù quán , cầu nguyện , nương tựa Thần linh giống như đạo Chúa . Xin quý vị hãy đọc lại những bài phân tích của tôi đã nói nhiều trong bài " Chân lý Thích Ca " . Ngài Mâu Ni dạy một tinh thần tự lập , tự vươn lên để giải thoát và giác ngộ . Vì ai cũng có tánh Phật và đang ở cùng trong tâm mọi người . Chẳng qua ta không thấy được tánh Phật của ta , viên ngọc quý nhất trần đời của ta vì ta quá vọng ngoại , không tin ở khả năng thành Phật của chính ta đó là VÔ MINH . Vì vậy Thiền Sư Lâm Tế có nói với rằng:

    “Quý vị đừng có tưởng tượng quá, đừng có nghĩ rằng cung trời Đâu Suất và đức Di Lặc ở trên mây. Quý vị đừng đi tìm báo thân, pháp thân, ứng thân và cũng đừng đi tìm Tịnh Độ, mất thời gian lắm. Quý vị chính là Bụt là Bồ Tát đó, nếu quý vị nhận ra được đời sống là những cái nhiệm mầu”.

    Ngay cả bài thơ " Cư trần lạc đạo " của vua Trần Nhân Tông cũng có câu :

    Nhân khuẩy bổn nên ta tìm Bụt ,
    Chỉnh mới hay Bụt CHÍNH LÀ TA .


    Có nhiều tu sĩ Kito giáo thắc mắc đặt câu hỏi :

    " Tại sao Phật giáo không thiết lập một biểu tượng ở ngoài mình để cầu nguyện ? Cầu nguyện như vậy mới có ý nghĩa chứ."

    Đó là họ chưa nhận thức đấy chứ . Phật giáo Đại Thừa không đặt ra không những một BIỂU TƯỢNG như A Di Đà mà họ còn đặt ra hàng trăm ngàn biểu tượng theo trí óc tưởng tượng của người Trung Hoa như : Quán Thế Âm , Địa Tạng , Di Lặc , Phổ Quang Phật , Phổ Minh Phật ...... Thiện Du Bộ Phật ....... Ngoài ra Đại Thừa còn cho có hàng hà sa số ( vô lượng ) Phật không thể đếm hết trong cõi ta bà thế giới tam thiên đại thiên . Vậy thì các Ngài Linh Mục có còn thắc mắc , đề nghị Phật giáo nên đặt ra một biểu tượng để cầu nguyện như Kito giáo nữa không ? Nhưng các ông nên nhận thức cho rõ : ĐÓ KHÔNG PHẢI LÀ PHẬT GIÁO CỦA THÍCH CA .
    Nhân ngày Phật đản sanh , chúng con đang giữ tâm thanh tịnh để quán chiếu và cố gắng thực tập lời Ngài dạy để đưa vào cuộc sống cho nhân loại được an vui , tất cả chúng sanh , loài hữu tình , vô tình được nở một nụ cười an lạc , bình an trong cuộc sống .

    " Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật "
    Đệ tử .



    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  11. #91
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Đọc cuốn "Going Home, Jesu and Buddha as Brother Riverhead Books, New York, 1999" (Trở về nhà, Chúa và Phật là hai anh em) của Thiền sư Thích Nhất Hạnh ta thấy thầy dẫn chứng , lý luận sự gần nhau và trùng hợp giữa Chúa và Phật . Trong lời giới thiệu ngoài bìa cuốn sách này có đoạn:

    "Trong cuốn Going Home, Phật và Giêsu ngồi cùng nhau và bàn về những lời cầu nguyện và lễ tiết của mỗi tôn giáo. Hai người hỏi có thể làm được gì để tạo một sức sống mới cho mỗi truyền thống, nhìn vào sự gặp nhau của những quan niệm như sống lại và sự thực hành chánh niệm hay tỉnh thức, vào chỗ gặp nhau của sự hiểu biết về bản chất thực tại của Phật Giáo và quan niệm về Thượng đế của Ki Tô Giáo."


    (In Going Home, they (Buddha and Jesus) sit down and talk about each other's prayers and rituals. They ask how they can help renew each other's traditions. They look at the convergence of concepts such as resurrection and the practice of mindfulness. They see where the Buddhist understanding of the nature of reality and the concept of God come together)

    Chúng ta thấy giữa hai "người anh em" đó : một người bị đóng đinh trên cây thập giá, một người từ bỏ cung vàng điện ngọc đi tìm đường giải thoát cho nhân loại . Đây có phải là sự hy sinh của Chúa giống Đức Phật không ? Những luận chứng cho rằng các ngài hy sinh vì cái gì nếu không phải là hòa bình, tự do và hạnh phúc cho con người sao ? Điều này áp dụng cho Đức Phật thì đúng hơn .

    Con đường của Phật dạy là giải thoát , tu lấy tâm làm gốc . Đừng làm các việc ác. Hãy làm mọi việc thiện. Giữ tâm cho thanh tịnh. (Kinh Pháp Cú: Chư ác mạc tác. Chúng thiện phụng hành. Tự tịnh kỳ ý. Thị chư Phật giáo). Trái lại Chúa lúc nào cũng dương oai diệu võ , trổ thần thông biến nước thành rượu , đi trên nước .Mục đích Chúa trổ nhiều phép lạ là để chứng tỏ quyền năng siêu nhiên của Chúa Cứu Thế (John: 2: 11). Quyền năng của Chúa thật vỹ đại , Ngài chỉ rủa một tiếng là cây sung phải chết héo queo. Số là hôm đó Chúa đang đói, nhìn đàng xa thấy một cây sung, nhưng tới gần chẳng thấy có quả nào, Ngài bèn nổi sùng rủa một tiếng, thế là cây sung chết héo queo, không bao giờ có thể ra trái nữa. (Matthew: 21: 18,19) v.v.....

    Các tôn giáo cùng thờ Chúa có những đặc thù giống nhau hay cùng một nguồn, thí dụ như Allah và Chúa là một, Phật Tánh và Thượng Đế không khác, nhưng với đạo Phật Thích Ca hoàn toàn trái ngược . Điều này ông Hans Kung đã mở đầu cuốn Ki Tô Giáo ... (Ibid., trg. 1) bằng câu:

    "Chỉ có những người không biết gì mới có thể cho rằng mọi tôn giáo đều giống nhau. Trái lại, thật là vô cùng quan trọng cho những tín đồ của mỗi tôn giáo, và nhất là cho mỗi tôn giáo thuộc loại tiên tri, dù là Ki Tô Giáo, Do Thái Giáo hay Hồi Giáo, tự hỏi: "Sự khác biệt giữa tôn giáo của mình và các tôn giáo khác là gì? Cái gì là tính chất đặc thù, chuyên biệt, điển hình, nghĩa là "Tinh Chất" của tôn giáo này hay tôn giáo nọ?"

    (Only the ignorant can claim that all religions are the same. On the contrary, it is extremely important for members of every religion and especially every prophetic religion, whether Christianity, Judaism or Islam, to ask, "What is the difference between my religion and other religions? What is the special, the typical, the specific, the essential character, indeed the "essence" of this or that religion?)"

    Ngay giữa Ki Tô Giáo,Chính Thống giáo , Do Thái Giáo và Hồi Giáo, tuy từ một gốc mà ra, đã có những sự khác biệt đến độ đưa đến những cảnh tàn sát lẫn nhau không chút nương tay,đang kéo dài tại Trung Đông cho đến tận ngày nay, số mạng sống con người bị hủy diệt vì chiến tranh tôn giáo lên đến cả trăm triệu, như lịch sử đã chứng minh. Phật Giáo, một tôn giáo Đông phương mà trong quá trình phát triển trong hơn 2500 năm không hề làm đổ một giọt máu, tất nhiên phải khác, khác về giáo lý, vì giáo lý đưa đến thực hành. Giáo lý căn bản của Phật Giáo là Từ, Bi, Hỉ, Xả cho nên sự phát triển của Phật Giáo trên thế giới là một tiến trình hòa bình, tôn trọng mọi tín ngưỡng khác, chưa hề mang lại hệ lụy nào cho nhân loại. Đây là một điểm nhấn mà Thầy Nhất Hạnh hay bất cứ mội muốn đánh đồng giữa Phật giáo và Kito giáo giống nhau , hay Chúa và Phật cũng là anh em thì thật là sai lầm to lớn , ngoại trừ họ có chủ đích và muốn làm như thế .

    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  12. #92
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Khi nói đến ĐỨC TIN là bắt buộc phải tuyệt đối (Absolute) .Nếu so sánh đức tin theo lối này thì Kito giáo và Phật giáo ( Đại Thừa ) hoàn toàn giống nhau . Vì cả hai tin cậy vào lời cầu nguyện Jesus và A Di Đà không một chút hoài nghi và tâm không được nghĩ loạn bậy . Cứ nhắm mắt mà tin thì sẽ được cứu vớt . Về Phật giáo Đại Thừa thì có kinh 48 lời nguyện của A Di Đà . Riêng Ca-tô Roma thì có kinh TIN KÍNH ( Tin rồi còn phải kính nễ ) như sau :


    KINH TIN KÍNH .


    -Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất.

    -Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu KiTô là con một Đức Chúa Cha cũng là Chúa chúng tôi, bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai, sinh bởi bà Maria đồng trinh,
    chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô,
    chịu đóng đanh trên cây thánh giá, chết và táng xác, xuống ngục tổ tông,
    ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại, lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng;
    ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.

    -Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần.

    -Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này, các Thánh thông công.

    -Tôi tin phép tha tội.

    -Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.

    -Tôi tin hằng sống vậy.

    Amen.

    Nếu nói đến Phật giáo nguyên Thũy của Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni thì đức tin Ngài không dạy tin mù quán như thế . Đối với Ngài thấy chưa hẳn đã tin , nghe cũng đừng tin vội ..... mà chỉ thực sự tin khi đã nhận thức , suy nghĩ cùng đem ra thực hành không gây khổ đau , đỗ máu cho ai rồi mới tin . Không phải Ngài dạy chúng ta tánh đa nghi , mà Ngài biết rằng sau khi Phật nhập diệt thì kinh sách in ấn , dịch thuật có thêm bớt và sai . Thậm chí ngay cả những cao tăng đức độ nhiều lúc vì hoàn cảnh , thời cuộc cũng giảng sai ý kinh . Đó là nguyên nhân mà Như Lai biết sẽ xẩy ra và đã xảy ra thật . Mời quý vi nghe kinh " Đức Tin " của Ngài Thích Ca dạy rất rõ ràng , sáng suốt , thông minh và khoa học hơn các tôn giáo khác :


    KINH 10 ĐIỀU CHỚ VỘI TIN

    ...Này các thiện nam tín nữ Ka-la-ma, nhân đây Như Lai sẽ giảng giải về 10 nền tảng của đức tin chân chánh:

    - Một là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó là truyền thuyết.

    - Hai là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc về truyền thống.

    - Ba là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được nhiều người nhắc đến hay tuyên truyền.

    - Bốn là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong kinh điển hay sách vở.

    - Năm là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc lý luận siêu hình.

    - Sáu là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó phù hợp với lập trường của mình.

    - Bảy là, chớ vội tin một điều gì, khi mà điều đó được căn cứ trên những dữ kiện hời hợt.

    - Tám là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy phù hợp với định kiến của mình.

    - Chín là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được sức mạnh và quyền uy ủng hộ.

    - Mười là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được các nhà truyền giáo hay đạo sư của mình tuyên thuyết.
    Này các thiện nam tín nữ, khi nghe một điều gì, các vị phải quán sát, suy tư và thể nghiệm, chỉ khi nào, sau khi kiểm nghiệm, quý vị thực sự nhận thấy: "Lời dạy này tốt lành, đạo đức, hướng thiện, chói sáng và được người trí tán thán, nếu sống và thực hiện lời dạy này sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc , không gây khổ đau , làm đổ máu ngay hiện tại và về lâu, về dài" thì lúc ấy quý vị hãy đặt niềm tin bất động và thực hành theo.

    Cùng là ĐỨC TIN nhưng người thì dạy cứ đặt niềm tin tuyệt đối , thậm chí " Không thấy mà tin " như Ca tô Roma giáo và Phật giáo Đại Thừa . Đó chỉ là những lời dạy đức tin nhằm ru ngũ , đánh lừa chúng sanh nhằm mang theo một ý đồ thống trị đằng sau . Càng đọc lời kinh dạy của Như Lai chúng ta thấy dù hàng triệu triệu năm sau vẫn hợp thời vì mang tính cách tự do - dân chủ - độc lập cho con người . Ngài luôn luôn nâng cao tinh thần hiểu biết để suy đoán trước khi tin và làm . Cái chân lý ấy ngàn ngàn đời không bao giờ thay đổi .

    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  13. #93
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.


    Tôi rất vui mừng khi Thầy Nhất Hạnh Làng Mai vừa thành lập : "Viện Phật học ứng dụng " Westdeutche Rundfunk: Institut für angewandten Buddhismus tại Đức . Nội trong 3 tuần lễ đầu của tháng 6 /2010 có đến ba khóa tu lớn liên tiếp diễn ra:

    1) Khóa tu nói tiếng Đức .

    2) Khóa tu cho giới Tiếp Hiện .

    3) Khóa tu cho những người nói tiếng Hòa Lan do Thiền sư Thích Nhất Hạnh trực tiếp giảng dạy.

    Phật giáo hiện phát triễn mạnh mẽ tại châu Âu là nhờ tu theo phương thức thiền của Thầy Nhất Hạnh . Nếu tụng kinh , gõ mỏ , cầu nguyện như Đại Thừa thì chắc chắn sẽ không lôi kéo được người Âu - Mỹ vốn đa phần theo đạo Chúa .
    Gần bốn chục năm trở về đây, Đạo Bụt được ứng dụng trong đời sống hàng ngày tại Làng Mai, đó là một Thiền Viện toạ lạc gần Bordeaux. Giờ đây Tăng chúng của Làng Mai cống hiến thêm một trung tâm đồ sộ, một tòa nhà gồm năm tầng và 400 phòng mà từ bấy lâu nay đã bị bỏ trống.



    Viện Phật học ứng dụng ở Đức


    Thầy Nhất Hạnh đã có mặt tại Học viện và họp báo . Những khóa tu thiền rất bổ ích và hữu dụng trong đời sống Âu-Mỹ đã bị hệ thống tư bản nhào nặn con người trở thành máy móc , từ cách đi , đứng , ăn , uống , nằm , ngồi ....... nghĩa là con người ngày nay giống như cái máy sản xuất không khác . Vì vậy tâm họ luôn luôn bị xáo động và mất bản chất an lạc vốn có sẵn dành cho con người . Đạo Phật đến đúng lúc và đúng thời khi mà những cổ máy già nua đang mệt mỏi kéo lê cuộc đời .
    Thật ra Thầy giảng sự an lạc của đạo Phật qua thiền định mang tính chất khoa học thực nghiệm lợi ích cho đời sống . Con người vốn bị đánh mất cái bản chất bình dị đó vì môi sinh và cuộc sống . Thiền định đem đến thực chất trở lại cho con người . Thật ra đó không phải là mới mẽ , mà chỉ tìm lại , quay về cái cũ vốn bị vô minh vùi lấp đi . Khi Phật giáo " Đào lên " cái bản lai diện mục tự nhiên của loài người bị chôn vùi lâu ngày nên trở thành mới . Đó chỉ là một chu kỳ vòng tròn của vô thường .
    Ngôi nhà này bị bỏ quên 30 năm nay ,có năm tầng và 400 phòng mà từ bấy lâu nay đã bị bỏ trống mà nơi đó là nơi dành cho những người khuyến tật và những người bênh tâm thần , những bệnh nhân đã bị Đức quốc xã đưa đi thủ tiêu .Nay lại có duyên được Làng Mai tiếp thu và khơi sáng trở lại . Trong cuộc họp báo Thầy Nhất Hạnh phát biểu :

    "Đó không phải là một trung tâm lớn, đó là một trung tâm nhỏ thôi. Chúng tôi rất hạnh phúc vì Viện Phật Học Ứng Dụng được tọa lạc gần thành phố Cologne. Thành phố Cologne nằm tại trung tâm của Châu Âu. Chúng tôi cũng rất mừng vì đã có nhiều người đến ủng hộ và giúp đỡ chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu sẽ đóng góp và làm đẹp thêm khu vực này. Chúng tôi tìm cách đem Phật pháp đến với các bạn không dưới hình thức tôn giáo, mà là một nghệ thuật sống đẹp, an lạc, hạnh phúc và đầy cảm thông. "


    Đúng ! Phật giáo là một triết lý , một phương thức về nghệ thuật sống đẹp, an lạc, hạnh phúc và đầy cảm thông. Vì vậy cho rằng Phật giáo là một tôn giáo hay một cách thức sống cũng được . Phật giáo Như Lai ra đời nhằm dạy con người tìm đường giải thoát khổ đau . Nhưng những đau khổ nó ở đâu ? Có ai đủ quyền năng để giải thoát đau khổ đó được không ? Chắc chắn là không theo quan niệm chỉ dạy của Ngài Thích Ca . Đau khổ hay hạnh phúc nó nằm trong tâm chúng ta . Chẳng có nước Trời , Tây phương cực lạc nào cả mà là do tâm ta tạo ra . Cho nên tôi thấy Thầy Nhất Hạnh muốn giảng cho Kito giáo biết con đường đi đến Vương quốc Thiên Chúa là bằng thừa . Vì con chiên tin rằng sau khi chết họ sẽ được lên cái Vương quốc Thiên Chúa gọi nôm na là nước Trời . Thầy nhắc lại nhưng tôi tin rằng người theo Kito sẽ không hiểu và tin theo . Thầy cho rằng :

    "Vương quốc Thiên Chúa là nơi có thể tới được, là bây giờ và ở đây. Trong giây phút hiện tại: mây trắng, hoa nở, dòng sông mà hàng ngày chúng ta nhìn thấy, tất cả những cái đó là Vương quốc Thiên Chúa. Con cháu và chính chúng ta cùng gây dựng nên một Vương quốc Thiên Chúa. Nếu chúng ta sống chánh niệm thì Vương quốc Thiên Chúa sẽ rộng mở, hoàn toàn trong giây phút hiện tại của cuộc sống. Thêm vào đó, sự thực tập chánh niệm sẽ giúp chúng ta. Chúng tôi muốn nói với các bạn Ky Tô giáo rằng: Nếu các bạn không nhận diện đựoc ràng Vương quốc Thiên Chúa đang có ngay bây giờ, thì các bạn sẽ không bao giờ có được Vương Quốc Thiên Chúa sau khi chết! "

    Vì cái Vương Quốc Thiên Chúa hay Vương Quốc Tây phương nó cũng ở trong tâm chúng ta mà ra . Nó đang ở đây chứ đừng chờ đến chết mới đến được các vương quốc đó . Tôi thấy rằng Thầy muốn giảng cho con chiên nghe nhưng còn né tránh một cách bóng gió . Đối với họ thích sống ảo , lời hứa xa vời như cái bánh VẼ chứ không bao giờ tự tin ở chính mình như đạo Phật của Thích Ca .


    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  14. #94
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.



    Nhân tiện có một độc giả Việt Nam nghi ngờ Chân Lý Ngài Thích Ca khi dạy rằng : " Đời Là Bể Khổ " . Quí vị vào link này để đối chiếu :

    http://www.thuvienhoasen.org/ddpp-doilabekho.html

    Để góp phần giải đáp vấn đề này tôi xin góp ý trả lời câu hỏi :

    1/Tôi tin ở tiền đề đầu tiên mà đức Phật đưa rạ Ðời là bể khổ. Thật ra đó mới là chỉ là một nửa sự thật. Tôi nghĩ đời là hai chiếc bình vui khổ thông nhau, bình vui lên bao nhiêu thì bình khổ lên bấy nhiêu và ngược lại. Có thể tôi sai, nhưng theo cách hiểu của tôi, Phật dạy diệt khổ bằng cách diệt vui

    Đức Phật là người giác ngộ , tức là hiểu biết có thể là quá khứ và vị lai . Ngài dạy rằng " Đời là bể khổ " tức là sự khổ này vốn đã có trong thế gian này rồi . Ngài hiểu nguyên nhân và hậu quả gây ra khổ đau mà chúng sanh không biết . Ngài là một bậc sư chỉ dạy con đường cho chúng sanh . Vì Đức Phật thị hiện ra đời trong thế gian có loài người đã hàng trăm năm . Trước Đức Phật đã có sự khổ này . Bằng chứng khi Ngài là Thái tử đi ra bốn cửa thành thấy cảnh người già , bệnh tật , chết và khổ đau . Đó là sự khổ nó thể hiện bằng hình ảnh , sự sinh hoạt đời thường . Cái khổ của Ngài còn phải hiểu sâu xa và rộng lớn hơn là khổ ở TÂM HỒN . Nghĩa là cái khổ bằng trí não , bằng sự suy tư , bằng sự sung sướng , thất bại chua cay hay cả sự thành công , toại nguyện ...... Người ta quan niệm khi thất bại như làm ăn thua lỗ , tình yêu bị phụ phàng , sự chết chóc tang thương ...... mới đưa đến sự khổ . Sự thật khi thành công , sung sướng vẫn có cái khổ . Ví dụ : Một bà mẹ hay con vừa thành đạt bằng cử nhân , đón con ngoài ngõ mẹ ôm con và tuông tràng đôi giòng lệ khóc lóc bùi ngùi . Tại sao mừng con thành công mà vẫn khóc ? Khóc là thể hiện cho sự khổ đau mới rơi lệ là đúng chứ . Không bà đang hạnh phúc , sung sướng đấy . Tại sao khóc , có phải vì khổ đau chăng ? Không .

    Cái chân lý của Ngài Thích ca khi nhìn đời bằng sự khổ và tìm đường giúp chúng sanh mở mang trí tuệ và đồng thời hiểu rõ được bốn chân lý mầu nhiệm thoát khổ mà kinh điển thường gọi là " Tứ Diệu Đế " ( chữ Hán ) , có nghĩa là :

    - “Tứ” là bốn;

    - “Diệu” là huyền diệu, mầu nhiệm, cao quý;

    - “Ðế”, là sự thật, là chân lý.

    Tóm lại tứ Diệu Đế là bốn chân lý mầu nhiệm. Đó là: khổ (Khổ Đế); nguồn gốc của khổ (Tập Đế); sự diệt khổ (Diệt Đế) và con đường dẫn đến sự diệt khổ (Đạo Đế).

    Trước Đức Phật ,cuộc đời đã có sự khổ này rồi . Con người chỉ hụp lặng , vui buồn cùng sự khổ mà không biết tìm đường thoát ra . Cũng không hiểu vì sao mà khổ ? Vì sao mà hạnh phúc ? Chỉ biết rằng sung sướng thì cười , an lạc , chung hưởng .Khi khổ đau thì khóc lóc , buồn tủi , an phận đôi khi còn kéo theo sự chán nản không muốn cuộc sống tiếp tục để rồi tìm đường chết ,chấm dứt sự sống như là một cách diệt hết khổ đau cho bản thân .

    Đức Phật không đưa ra tiền đề khổ đau này , như tôi đã nói , sự khổ đau có trước Đức Phật . Nhưng vì vô minh , không có đủ trí tuệ để nhận thức vì sao khổ đau ? Nguyên nhân nào đưa đến ? Và cuối cùng làm sao để giải thoát sự khổ đau đó là trí não chứ tuyệt đối không cần phải nhờ vả , cầu nguyện thánh nhân nào ra tay cứu giúp . Chính Ngài là một vị thầy chiêm nghiệm , giải đáp và sắp xếp một cách thứ tự , có bài bản để giúp con người mở mang trí tuệ , hiểu biết và tự tìm đường ra khỏi khổ đau .

    Ngoài ra còn cái khổ khác bao hàm hai cái khổ trên, nếu hiểu theo như trong kinh đã dạy: “Chấp thủ năm uẩn là khổ”.
    Năm uẩn hay “ngũ uẩn” ( Hán văn ) là năm yếu tố nương tựa vào nhau để tạo thành con người, gồm có:

    -Thân thể vật lý là : sắc .

    -Cấu trúc tâm lý là : thọ, tưởng, hành , thức.

    Gọi chung lại là “ sắc, thọ, tưởng, hành, thức”. Hay nói cách khác , khi ta bám víu vào năm yếu tố trên mà xem đó là “TA”, là “CỦA TA ”, là tự ngã của ta, thì khổ đau sẽ hiện ra tức khắc . Mọi khổ đau, lo lắng, sợ hãi, thất vọng đều gắn liền với ý niệm về “cái ta” ấy. Nếu con người không dính mắc , không suy nghĩ về " cái ta " thì tuyệt đối không có khổ đau .

    Ngoài ra Đức Phật cũng đề cập đến " Nghiệp " tức là những hành động , việc làm , những hậu quả ta đang bám víu , nhận lãnh như an vui , hạnh phúc , khổ đau ..... không phải nó xảy ra hiện tại do kết quả vừa làm , mà còn dư âm kéo dài từ nhiều năm, tháng qua , thậm chí từ kiếp này qua kiếp khác mới tạo đến thành quả ( Hạnh phúc - khổ đau ) mà ta đang thụ hưởng .

    Ngài còn dạy thêm : không nên tránh né về khổ đau hay hạnh phúc mà phải biết thụ hưởng , chấp trước đúng mức nhưng "đừng vượt thái quá ". Nghĩa là vui thì đừng vui quá , buồn thì cũng đừng buồn tủi thê lương đi đến tuyệt vọng . Phải biết dùng đà thắng lại đúng chừng mực sự vui buồn thì đó là chân lý , là sự sống còn để làm người . Ngài chỉ khuyên không nên chú tâm quyến luyến và gắn bó vào những thú vui nhất là về vật chất. Đừng bao giờ để sự say đắm hay đam mê trong những hạnh phúc khi ta đang có , cũng đừng quá tuyệt vọng khi buồn . Ðức Phật nói cái vui đó là cái vui mong manh trong đau khổ, cái vui trong cái khổ , nó chỉ là giả tạm có tính cách nhất thời không trường tồn , vĩnh cữu . Vì cái vui còn vướng trong vô minh nghiệp chướng đưa đến khổ đau càng sâu dày thêm ,nếu ta không sáng suốt biết dừng lại .

    Người ta có câu " Nửa chiếc bánh vẫn là chiếc bánh , nhưng nửa sự thật không phải là sự thật " . Khi Đức Phật nói " Đời là bể khổ " không phải là MỘT NỬA SỰ THẬT mà Ngài đã dạy một cách rốt ráo và tuyệt đối một cách chắc chắn rằng :ĐỜI LÀ BỂ KHỔ hoàn toàn nguyên lý chứ không một nửa như ý của đạo hữu nói .Sanh ra ở đời là phải chịu đau khổ , không ai được đặc ân , giúp đở cho một ai ngoại lệ hoàn toàn hạnh phúc mà không khổ đau . Sự đau khổ và hạnh phúc cũng không phải là chiếc bình thông nhau để cân bằng sự khổ đau và hạnh phúc như quý đạo hữu đặt câu hỏi .

    Ông cho rằng :"Tôi nghĩ đời là hai chiếc bình vui khổ thông nhau, bình vui lên bao nhiêu thì bình khổ lên bấy nhiêu và ngược lại." thì không đúng .

    Hạnh phúc , khổ đau khi cảm nhận thuộc về tri thức , trí não mà có được . Nó không phải là khoa học vật lý (Physical Science ) như chiếc bình thông nhau chứa đựng chất lõng . Ví dụ : Khi đạo hữu bị thất tình , người yêu phủ phàn bỏ đi lấy chồng . Trong nhất thời sự đau khổ dày xéo con tim , đưa về khối óc và đôi lúc còn thúc đẩy tạo ra hành động , như ý nghĩ bạn phải giết người yêu hay tình địch , hoặc tìm đường tự tử cho xong đời ...... Những lúc đau khổ này không thể có " HẠNH PHÚC " để cân bằng không đau khổ giống như bình chứa thông nhau . Khổ lên thì vui sẽ xuống hay vui lên thì khổ sẽ xuống chứ không thể cân bằng .

    Như vậy không có thể " Diệt khổ bằng cách diệt vui " như ý nghĩ của đạo hữu được . Muốn diệt khổ là phải tìm nguyên nhân vì sao mà khổ . Ví như muốn bắt anh ăn trộm thì phải biết anh ta đang trốn ở đâu . Nếu đạo hữu có tâm từ bi thì tìm hiểu " Vì sao anh ta phải ăn trộm ?" ( Vì sao có khổ ? ) Lúc đó ta mới tìm cách bắt anh ta tức là "Diệt khổ " đi vậy . Anh ăn trộm bị bắt thì bạn không còn bị mất trộm . Khổ bị diệt thì chắc chắn đạo hữu sẽ hết đau .

    Tôi xin tạm ngưng ở đây và sẽ giải tiếp hầu đóng góp với đạo hữu sau .

    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  15. #95
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.


    Bây giờ tôi xin tạm trả lời câu hỏi thứ 2 của đạo hữu :

    2/Liệu ta có thể rút cạn cái bình vui hay không để đạt cõi Niết Bàn, để không còn một giọt khổ nào hết?


    Mục đích câu hỏi này đạo hữu muốn làm sao để đạt đến Niết Bàn . Muốn đạt được nơi này thì đạo hữu cho rằng nên rút cạn cái bình vui thì sẽ không còn giọt khổ nào hết . Vậy trước tiên chúng ta nên hiểu thế nào là Niết Bàn ?

    Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia đưa ra nhiều ý nghĩa về Niết Bàn mà tôi xin sơ lược :

    I-Từ nguyên :

    Niết-bàn có thể được hiểu là:

    1-Tình trạng ngọn lửa phiền não đã bị dập tắt

    2-Là động từ, có nghĩa là đã nhập niết-bàn và

    3-Vô vi.

    II- Quan điểm Phật giáo :

    a/ Đạo Phật nguyên thủy :

    Niết-bàn được xem là đoạn triệt Luân hồi (zh, 輪回, sa., pi. saṃsāra) . Đó là sự tận diệt gốc rễ của ba nghiệp bất thiện (zh. 不善, sa. akuśala, pi. akusala) là tham, sân và si.

    Đạo Phật Tiểu Thừa luận về Niết-bàn với khái niệm khả quan, cho rằng Niết-bàn là thể không sinh thành hoại diệt, có thể dần dần đạt đến bằng cách loại trừ khổ. Cứ diệt một loại khổ thì đạt được một cảnh giới của Niết-bàn.

    b/Đạo Phật Đại Thừa :

    Niết-bàn được xem như sự lưu trú trong tính tuyệt đối, sự an lạc khi thấy mình cùng một thể với tuyệt đối, khi thấy mình giải thoát khỏi mọi ảo giác, mọi biến tướng, mọi tham ái. Nhiều người hiểu Niết-bàn chỉ là một cõi hư vô tịch diệt .

    Trong Đại thừa, người ta nhấn mạnh đến tính chất Bồ Tát nhiều hơn và vì thế khái niệm Niết-bàn không được đề cao nhưng vẫn là mục đích cao nhất trên đường giải thoát. Không có tông phái Đại thừa nào xem Bồ Tát là mức cuối cùng của Phật đạo; đối với Bồ Tát, việc “nhập Niết-bàn” chỉ được “hoãn lại” sau khi toàn thể chúng sinh đều được giải thoát .

    III-Quan điểm Ấn Độ giáo :

    Niết-bàn là sự hủy diệt các vướng mắc và tham ái thế tục như cơ sở của sự hợp nhất với cái tuyệt đối, với Thượng đế. Theo S.K. Belvalkar thì khái niệm Niết-bàn này xuất hiện trước khi Phật giáo được thành lập. Theo trường sử thi Mahābhārata thì Niết-bàn được xem là sự tịch tĩnh (sa. śānti) và sự thỏa mãn (sa. susukkti). Trong tác phẩm Anugītā, Niết-bàn được xem như "một ngọn lửa không có chất đốt". Chí Tôn ca như chủ ý nhấn mạnh tính đối nghịch với khái niệm Niết-bàn trong Phật giáo vì bài này miêu tả Niết-bàn như sự chứng đắc Phạm thiên (sa. brahman, 2,71). Du-già sư (sa. yogin) ở đây không được xem như một ngọn đèn đã tắt (như trong Phật giáo), mà là một ngọn đèn không đứng giữa cơn gió, không bị lay chuyển (6,19). Chứng đạt Niết-bàn được gọi là giải thoát (sa. mokṣa).

    Nói tóm lại : Niết-bàn được hiểu là sự “an lạc” nhưng phần lớn được hiểu là sự giải thoát khỏi cái Khổ . Vì không có ngôn ngữ để diễn tả Niết Bàn, đó là phạm vi nằm ngoài ngôn ngữ và lý luận, nên có nhiều người hiểu Niết Bàn theo quan niệm hư vô. Cách thức dễ tiếp cận nhất về Niết Bàn là hiểu sự tồn tại là một tình trạng đầy dẫy khổ đau và Niết Bàn là dạng tồn tại thiếu vắng sự khổ đau đó. Đối với hành giả Phật giáo thì định nghĩa liệu Niết-bàn là một dạng tồn tại thật sự hay chỉ là cõi tịch diệt không hề quan trọng. Cũng một phần vì lý do này mà Phật Thích-ca từ chối mọi miêu tả về Niết-bàn.

    Các tông phái quan niệm Niết Bàn quá bao la , rộng rãi do đầu óc suy luận và tự diễn biến một cách mờ ảo , viễn vông thêm , hoàn toàn thiếu thực tế làm cho người tu bị rối bù khi muốn đạt đến Niết Bàn , nhưng Đức Phật Thích-ca từ chối mọi miêu tả về Niết-bàn . Vì sao ? Theo cá nhân tôi hiểu ý của Đức Phật là khi tâm ta thanh nhàn không lo âu sợ sệt , không ao ước viễn vông . Không gây oán thù chuốc hận . Nghĩa là khi tâm hoàn toàn bình thản thì cho ta cảm giác an lạc . Ví dụ : Một ly nước bùn , nếu ta để yên thì một thời gian bùn cặn sẽ lắng xuống đáy và nước trong . Nếu ta dùng que quậy mải thì bùn sẽ làm cho ly nước luôn luôn bẩn đục . Cũng vậy nếu tâm ta không lo âu , không gây oán thù làm sao sợ bị trả thù . Ta không ước vọng giàu sang , trúng số thì làm sao có sự thất vọng ,khổ đau , buồn vui khi không đạt thành ý nguyện .

    Ta phải hiểu Niết-bàn không phải là một tình trạng đầy dẫy khổ đau và Niết Bàn là dạng tồn tại thiếu vắng sự khổ đau đó , Niết bàn cũng không phải do hạnh phúc mà thấy Niết Bàn . Từ ý nghĩ bình thông nhau nên đạo hữu mới cho rằng :"... ta có thể rút cạn cái bình vui hay không để đạt cõi Niết Bàn, để không còn một giọt khổ nào hết ." Khi cái tâm có sự vui , sự hạnh phúc hay khổ đau thì Tâm lúc đó đang động . Vui sướng tạo nên cảnh ồn ào , nào là nhảy cởn ,mừng rở , vui cười , đàn ca xướng hát . Còn khổ thì thân xác dày vò , đầu óc suy tư, khóc lóc , dằn vặc nhiều khi thất vọng đưa đến hành động cuồng tín , tự sát . Tóm lại : Hạnh phúc hay khổ đau vẫn là trạng thái động của tâm . Những lúc này đạo hữu sẽ không thấy Niết Bàn chứ đừng mong đến Niết Bàn . Thế thì việc đạo hữu rút cạn bình vui hay đổ hết bình khổ thì đạo hữu vẫn không thấy Niết Bàn .

    Như vậy đạo hữu đã hiểu vì sao Đức Phật Thích Ca từ chối mọi miêu tả về Niết-bàn không ? Vì Niết Bàn ở chính TRONG TÂM của đạo hữu , hay nói rõ hơn là NIẾT BÀN Ở TẠI THẾ GIAN NÀY khỏi cần lý luận , mất công tìm kiếm đâu xa . Cũng đừng vướn mắc vào rừng kinh điển của các Tông phái , của các cao tăng , triết gia ........sẽ rối bù mà không tài nào tìm ra con đường đi đến Niết Bàn .

    Đạo hữu cứ tu tập làm sao cho tâm thanh nhàn , không lo âu sầu muộn . Việc làm hôm nay là tu tập thì cứ tu tập , đừng lo nghĩ chuyện gì sẽ đến ngày mai , chuyện quá khứ đã qua rồi thì cho qua luôn đừng bận tâm đến nó , tự nhiên đạo hữu cảm thấy an lạc , hạnh phúc , nhẹ nhàn và cảm khoái : ĐÓ LÀ TRẠNG THÁI CỦA NIẾT BÀN tức là Niết Bàn vậy .

    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  16. #96
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    3/ Có tồn tại sự giải thoát tuyệt đối hay không?

    Về câu này đạo hữu muốn hiểu về " sự giải thoát có tồn tuyệt đối hay không ?" . Vậy chúng ta phải hiểu chữ " Giải thoát " theo đạo Phật là gì ?
    Mục đích và con đường Ngài Thích Ca Mâu Ni dạy lúc tu tập là tìm đường giải thoát khổ đau . Sự giải thoát này phải nằm trong tự lực , tự cường tu tập của chúng ta chứ nhất thiết không mong cầu , nhờ vả bất cứ một vị Phật , Chúa nào như Quán Âm , A Di Đà , Jesus ....... có thể giúp đở . Đức Phật không truyền giạy một lý thuyết triết học cách mạng bằng những lý luận vẩn vơ , cũng không có ý định sáng tạo một nền khoa học vật lý mới như những nhà khoa học hiện đại . Bằng những lời lẽ rõ ràng, không thể lầm lẫn, Đức Phật giải thích những gì ở bên trong và những gì ở bên ngoài ta, có liên quan đến sự giải thoát, vượt ra khỏi mọi hình thức khổ đau của đời sống và Ngài vạch ra Con Đường tự tìm đến chân lý một cách rốt ráo là " Giải thoát " .

    Trong câu này tôi không muốn bàn rộng ra sẽ làm đạo hữu rối bù vì bị lạc dẫn vào rừng kinh điển của Phật giáo . Tôi chỉ mạng phép trích một đoạn : Kinh Đại Bát Niết Bàn, Trường Bộ Kinh, 16:214 để dẫn giải con đường giải thoát :

    -Nầy Subhada, nếu giáo pháp nào mà không hàm chứa Bát Chánh Đạo thì giáo pháp đó không đào tạo các vị sa môn đạt đạo quả thứ nhất (Dự lưu, Tu đà hoàn), không đào tạo các vị sa môn đạt đạo quả thứ hai (Nhất lai, Tư đà hàm), không đào tạo các vị sa môn đạt đạo quả thứ ba (Bất lai, A na hàm), không đào tạo các vị sa môn đạt đạo quả thứ tư (Vô sanh, A la hán).

    -Nầy Subhada, nếu giáo pháp nào có hàm chứa Bát Chánh Đạo thì giáo pháp đó sẽ đào tạo các vị sa môn đạt đạo quả thứ nhất (Dự lưu, Tu đà hoàn), sẽ đào tạo các vị sa môn đạt đạo quả thứ hai (Nhất lai, Tư đà hàm), sẽ đào tạo các vị sa môn đạt đạo quả thứ ba (Bất lai, A na hàm), sẽ đào tạo các vị sa môn đạt đạo quả thứ tư (Vô sanh, A la hán).

    -Nầy Subhada, giáo pháp của Ta có hàm chứa Bát Chánh Đạo nên giáo pháp đó đào tạo các vị sa môn đạt đạo quả thứ nhất (Dự lưu, Tu đà hoàn), đào tạo các vị sa môn đạt đạo quả thứ hai (Nhất lai, Tư đà hàm), đào tạo các vị sa môn đạt đạo quả thứ ba (Bất lai, A na hàm), đào tạo các vị sa môn đạt đạo quả thứ tư (Vô sanh, A la hán). Các hệ giáo pháp khác đều không đào tạo các vị sa môn đạt đạo quả thánh, đắc tuệ giải thoát. Nầy Subhada, khi nào các vị sa môn tu tập và truyền giảng Chánh Pháp một cách đúng đắn thì thế giới nầy sẽ không bao giờ trống vắng các bậc A la hán giải thoát.
    Muốn giải thoát một cách trường cữu , vĩnh viễn như ý của đạo hữu thì Đức Phật đòi hỏi : ..... khi nào các vị sa môn tu tập và truyền giảng Chánh Pháp một cách đúng đắn thì thế giới nầy sẽ không bao giờ trống vắng các bậc A la hán giải thoát.

    Nhưng đời thường qua thời gian và bao nhiêu thế hệ Chánh Pháp của Ngài có được các vị sa môn tu tập và truyền giảng một cách đúng đắn không ? Phần nhiều bị pha trộn , thêm bớt vào giáo lý của Ngài hầu thích hợp hóa với hoàn cảnh hiện đại . Ví dụ : Ngài dạy đi khất thực để sống thì các sa môn tự trồng trọt để ăn , tự giữ vàng bạc kinh doanh và làm kinh tế ...... Nguyên một sự kiện nho nhỏ này đã phá nát chân lý của Ngài Thích Ca suốt 2000 năm nay rồi . Vậy thì làm sao còn tu để giải thoát , làm sao đòi hỏi giải thoát còn tồn tại hay tuyệt đối .
    Chính ông Heraclitus (500 năm trước D.L) tin rằng tất cả đều trôi chảy (pante rhei) và vũ trụ luôn luôn tái tạo và đang trở thành. Ông dạy rằng không có cái chi trường tồn, mọi vật đều đang trở thành cái gì khác. Chính ông đã thốt ra câu nói trứ danh: "Không thể bước hai lần lên cùng môt chỗ trên dòng suối". Điều này Đức Bổn Sư Thích Ca đã đi trước các học giả và các nhà khoa học hiện đại nhiều thế kỹ . Đức Phật chỉ dạy những điều mà Ngài xét là cần thiết để gột rửa, thanh lọc tâm, và không bao giờ bàn đến các vấn đề không liên quan đến sự tu tập nhằm giải thoát .
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  17. #97
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Câu hỏi:

    4/ Nếu Thích Ca thực sự đến cõi Niết Bàn, ngài sẽ quên mất mình đến bằng cách nào. Ngài không thể chỉ đường cho chúng sinh. Và nếu còn nhớ, ngài cũng không màn.

    Trong câu hỏi của đạo hữu tôi chia ra ba vế để trả lời :


    -Vế thứ nhất :
    Nếu Thích Ca thực sự đến cõi Niết Bàn, ngài sẽ quên mất mình đến bằng cách nào.

    -Vế thứ hai :
    Ngài không thể chỉ đường cho chúng sinh.

    -Vế thứ ba :
    Và nếu còn nhớ, ngài cũng không màn.


    Ở câu hai tôi đã giải thích thế nào là Niết Bàn với quý đạo hữu rồi . Đức Bổn Sư Thích Ca không vẽ vời , lừa gạt rằng Niết Bàn là cảnh tiên giới, an vui hạnh phúc lại vui đẹp đặc biệt . Nơi đó không có làm lụng vất vả , lo cái ăn cái mặc , lại có ca nhạc nhảy múa tối ngày , hoa thơm, cỏ lạ, nhiều ngọc ngà châu báu, có những ông Tiên râu tóc bạc phơ, nhàn rỗi đánh cờ, và những nàng tiên xinh đẹp rong chơi suốt ngày, không biết thời gian là gì nên không thấy già , bệnh , chết v.v....... Phải chăng bạn nhầm tưởng những diễn đạt trên thì chỉ có cõi Tây Phương của A Di Đà và Thiên đàn của Kito giáo đề ra mà thôi . Riêng Đức Phật Thích ca đã dạy rất đơn giản và dễ tìm Niết Bàn . Niết Bàn ở chính TRONG TÂM của đạo hữu , hay nói rõ hơn là NIẾT BÀN Ở TẠI THẾ GIAN NÀY khỏi cần lý luận , mất công tìm kiếm đâu xa . Cũng đừng vướn mắc vào rừng kinh điển của các Tông phái , của các cao tăng , triết gia ........sẽ rối bù mà không tài nào tìm ra con đường đi đến Niết Bàn . Đó là lý do vì sao Đức Phật Thích-ca từ chối mọi miêu tả về Niết Bàn. Vậy thì Ngài đã đến Niết Bàn lúc Ngài đang sống và hành đạo suốt 40 năm rồi đạo hữu ạ . Niết Bàn đâu có ở chín từng mây , cao xa vạn dậm mà lạc đường đi lối về . Có lẽ bạn bị lạc dẫn trong rừng kinh sách , giáo lý Phật giáo Đại thừa đầy rừng giây rễ má , hay những cái bánh vễ trên trời khi muốn đến Thiên đàn của đạo Chúa .

    Bạn phải tu hành tinh tấn, ngồi thiền, sớm hôm làm lành lánh dữ , không gây ác nghiệp và gieo khổ đau cho chúng sanh ....... thế là bạn rất thoải mái , an lạc trong tâm hồn khi không còn vướn bận , lo âu chuyện thế tục trần gian . Đó là tâm của Phật , con đường Phật đã đi và dạy cho chúng sanh để tự giải thoát tức là đang ở Niết Bàn chứ không phải tìm đường đi đến Niết Bàn .

    Bạn căn cứ ở đâu , kinh sách nào ( dẫn chứng ) hay vị thánh , tổ sư nào nói với bạn điều đó mà bảo rằng :"ngài sẽ quên mất mình đến bằng cách nào." Điều đơn giản trong tu tập là bí quyết đi vào cõi Tịnh, là nền móng căn bản xây dựng nền tảng cho cuộc hành trình thực tập giáo pháp nhiệm mầu của Đức Thích Ca . Vì nhiều người bị lạc dẫn cứ nhắm mắt cầu nguyện A Di Đà , cầu nguyện Chúa thì được lên Thiên đàn , cõi Tây phương . Riêng Đức Phật Thích Ca không bao giờ dạy cầu nguyện danh Ngài và Ngài cũng không hứa cứu vớt ai giống như Jesus , A Di Đà ...... đó là nét đặt biệt của Đạo Phật giải thoát Như Lai .

    -Vì vậy vế thứ hai dù có giải thích cho đạo hữu cũng bằng thừa .Ngài có bao giờ quên không chỉ đường đâu , mà chính Ngài đã nhắc lại :" Tay ta chỉ mặt trăng , chứ đừng nhầm ngón tay ta là mặt trăng " . Ngài chỉ con đường tự tu ( độc lập ) , tư giải thoát , vì ai ăn nấy no , ai tu nấy hưởng . Ngài đã chỉ cho con đường giải thoát ( ánh trăng ) rõ ràng như vậy . Nhưng tại đạo hữu mắc lầm cứ tụng kinh , cầu nguyện A Di Đà , cầu Chúa Jesus nên cũng tưởng rằng " cái ngón tay Phật " là ánh trăng ( Niết Bàn ) nên cứ lo cầu ngón tay của Ngài mà không lo cho tâm mình an lạc , thanh tịnh . Cái nhầm lẫn to lớn này không phải riêng cá nhân đạo hữu mà ngay các cao tăng , tài cao đức trọng nằm trong quỹ đạo Phật giáo nhưng theo Đại Thừa - Tịnh độ đã và đang hành trì sai giáo lý giải thoát của Như Lai .

    - Vậy thì vế thứ ba "Và nếu còn nhớ, ngài cũng không màn. " Ngài có dạy cầu nguyện để cứu vớt đâu mà nhớ với quên . Ngài bảo " Hãy tinh tấn tiến lên " chứ Ngài có dạy cúi đầu van xin ai đâu . Đạo hữu đã thấy sự sai lầm về ý nghĩ khi dựng lên một bóng ma , từ đó đạo hữu cứ chấp tay chạy theo cái bóng ma đó . Nhưng càng chạy thì bóng ma cũng chạy cho nên đạo hữu không thể nào an lạc làm sao đến Niết Bàn .

    Có lẽ tôi đưa ra những chứng minh , lời giải này động chạm không phải ít với Đại Thừa - Tịnh độ , mà phần lớn các tu sĩ Việt Nam nói riêng và Châu Á nói chung đang theo con đường tu tập này hoàn toàn trái ngược lại với giáo lý căn bản của Ngài Thích Ca .
    Đây là một âm mưu lâu dài và từ hàng ngàn năm nay do chủ trương muốn bành trướng , nô lệ hóa các dân tộc khác của người Hán Trung Hoa . Mục đích cầu nguyện là làm mất đi cái nhuệ khí , tánh độc lập tự tồn của Ngài Thích Ca dạy . Người Hán kiên trì dùng con đường lừa đảo bằng cầu nguyện sẽ được về Tây phương để rồi bị Trung Hoa đô hộ 1.000 năm . Bằng chứng đạo Kito cũng do các thừa sai Pháp , Tây Ban Nha vào truyền đạo Chúa , dạy cúi đầu cầu nguyện , khi mở mắt ra thì thấy thực dân Pháp đã chiếm đất nước VN và đô hộ 100 năm . Bài học lịch sử còn trước mắt , tôi tha thiết cầu nguyện để cho các Tỳ kheo VN và Phật tử thế giới hãy thức tĩnh và sớm quay về con đường tu giải thoát trong tinh thần độc lập vươn lên của Đức Thích Ca .

    Tôi cũng mong những câu giải đáp của tôi làm cho đạo hữu thức tĩnh và tự tìm cho mình một con đường tu chân chánh đó là BÁT CHÁNH ĐẠO .
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  18. #98
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    ĐẠO PHẬT CHỈ CÓ MỘT ĐẤNG GIÁO CHỦ .

    Hỏi: Kính thưa Thầy, con có nghe nhiều, thấy nhiều kinh sách nói về Phật A Di Đà, Phật Di Lặc, Hội Long Hoa, v.v.... con không hiểu kính xin Thầy giảng để chúng con hiểu.

    Đáp: Phật A Di Đà là do các nhà Đại Thừa dựng lên để xây dựng thế giới siêu hình Cực Lạc Tây Phương tưởng, nhất là tưởng tượng và hy vọng “Cực Lạc” có nghĩa là rất vui, là nơi lý tưởng của các nhà Đại Thừa để sau khi chết họ sẽ về đó để hưởng hạnh phúc an lạc đời đời, kiếp kiếp.

    Đức Phật Di Lặc cũng là một vị Thần trong kinh Vệ Đà mà các Tổ đã biến thành Giáo Chủ của Phật giáo trong thời vị lai.

    Đức Phật Di Lặc là một đức Phật tưởng do các nhà Đại Thừa dựng lên, hy vọng ngày mai xây dựng một Phật giáo mới. Nói đúng hơn là lấy đức Phật Di Lặc đem lại niềm tin kinh điển Đại Thừa cho mỗi con người hơn.

    Đức Phật Di Lặc đã được kinh sách Đại Thừa nói rất nhiều và kinh A hàm thuộc Hán tạng cũng có nói đến, đó là những bài kinh gạch nối của các Tổ sau này soạn viết đưa vào, đó là một thâm ý nham hiểm của các nhà Đại Thừa, đưa đức Phật Di Lặc ra để làm một cuộc cách mạng Phật giáo lật đổ đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni thay thế đức Phật Di Lặc làm Giáo Chủ Đạo Phật.

    Hội Long Hoa, tức là cuộc cách mạng Phật giáo do các nhà Đại Thừa lãnh đạo, để mở màn cho đức Phật Di Lặc lên nắm quyền Giáo Chủ Phật Giáo toàn bộ thì lúc bây giờ kinh sách Nguyên Thủy sẽ bị triệt tiêu (tức là đường lối giáo lý của Phật Thích Ca Mâu Ni sẽ bị quét sạch).

    Trong kinh sách Nguyên Thủy không bao giờ có nói đến đức Phật Di Lặc và trong hàng Thánh Tăng đệ tử của đức Phật trong thời điểm đó cũng không có ai tên là Di Lặc. Cho nên đối với kinh sách Nguyên Thủy tên Di Lặc là một tên xa lạ. Vậy mà sắp sửa lên nắm quyền giáo chủ Phật giáo, Xin quý vị Phật tử suy ngẫm.

    Hội Long Hoa được xem như một cuộc trưng cầu dân ý bầu cử Đức Giáo Chủ mới cho Phật giáo. Các tôn giáo khác không hiểu dựa vào và bị ảnh hưởng kinh sách Đại Thừa, do đó tưởng ấm của con người này thể hiện qua “cơ bút” bằng cách lập lại cho biết ngày tận thế và hội Long Hoa sắp mở bày.

    Riêng Phật giáo Nguyên Thủy không chấp nhận điều này:

    “Quá khứ không truy tìm
    Vị lai không ước vọng
    Chỉ có hiện tại thôi”.


    Ba câu kệ trên đây xác chứng Phật giáo Nguyên Thủy không chấp nhận những chuyện quá khứ và vị lai, chỉ biết sống trong hiện tại, vì thế quá khứ vị lai không cần biết đến, chỉ sống và làm mọi việc lành ngay trong hiện tại thì quá khứ và tương lai là hạnh phúc.

    Biết Hội Long Hoa là một sự bịa đặt của các nhà Đại Thừa, chờ cơ hội thuận tiện nhất để mở một cuộc họp Phật giáo toàn thế giới, nếu tất cả tu sĩ Phật Giáo Nam Tông đều rơi vào các pháp thiền tưởng và chịu ảnh hưởng kinh sách Đại Thừa thì cuộc lật đổ Phật Giáo Nguyên Thủy đã bắt đầu, nhưng vì Phật giáo Nguyên Thủy còn có những người giữ gìn lời dạy của đức Phật nên Hội Long Hoa chưa triển khai được, vì thế các tổ chức Phật giáo kêu gọi sự hòa hợp bằng cách thống nhất các hệ phái Phật giáo.

    Hiện nay các tổ chức Phật giáo thế giới đều công nhận Đại Thừa Phật giáo là một hệ phái của Phật giáo, đó là một bước thắng lợi thứ nhất của Phật giáo Đại Thừa. Chờ đến khi các sư Phật giáo Nguyên Thủy Nam Tông chịu ảnh hưởng sâu đậm của giáo pháp Đại Thừa, và các sư Nam Tông Nguyên Thủy lần lượt tu tập sai pháp của Phật, do tưởng giải các Ngài rơi vào giáo pháp Đại Thừa mà không hay biết như thiền sư: Mahashi và A Chancha. Từ đó Phật giáo Nam Tông chỉ còn danh từ Nguyên Thủy còn pháp môn tu tập là của Đại Thừa. Do đó suy ra hiện giờ Phật giáo Nguyên Thủy gần như bị mất gốc, chỉ còn chờ một thời gian nữa cho chín mùi thì Hội Long Hoa ra đời thành lập một Phật giáo mới, Đức Giáo Chủ là đức Phật Di Lặc.

    Đó là một thâm đồ sâu sắc của Bà La Môn giáo đã dựng lên đức Phật Di Lặc là có ý diệt trừ Phật giáo tận gốc., mà hầu hết các tu sĩ Phật giáo hiện giờ: Nam Tông lẫn Bắc Tông đều vô tình không thấy ý đồ thâm độc của Bà La Môn giáo ngày xưa.

    Kinh sách nói về Phật Di Lặc và Hội Long Hoa là do các giáo sĩ Bà La Môn viết, soạn ra rồi đưa vào kinh sách Phật giáo, mạo nhận Phật thuyết, lợi dụng Phật giáo kết tập kinh sách chưa thành văn bản, nên lúc bây giờ ai muốn thêm bớt sao cũng được và dễ dàng.

    Cho nên người nghiên cứu kinh sách Phật hiện giờ đều gặp phải khó khăn, vì những bài kinh này mâu thuẫn với những bài kinh khác, khiến cho chẳng biết đâu là lời Phật dạy chân chánh, đâu là lời giả. Ở trường hợp này chỉ dối gạt người chưa tu chứng, không thể dối gạt người tu đã chứng.

    Vì thế chúng tôi mạnh dạn lật tẩy bộ mặt thâm độc của Bà La Môn giáo để cho Phật tử và mọi người hiểu rõ.

    Nếu bảo rằng quá khứ có bảy vị Phật thì khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni đi tu thì phải có đạo Phật. Cớ sao trong thời đó lại chỉ có Lục Sư ngoại đạo mà không thấy có cái tên Phật giáo?

    Đến khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni tu hành chứng quả giải thoát thành lập tôn giáo Phật giáo, nhờ thế chúng ta hiện giờ mới có đạo Phật, mới có bốn chân lý: khổ, tập, diệt, đạo.

    Trong thời đức Phật đi tu không nghe nói đến bốn chân lý này như vậy mà bảo rằng có đạo Phật ở quá khứ là sai, do người sau đặt ra thêm vào để mưu đồ lật đổ đức Phật Thích Ca mâu Ni.

    Do thế mà thời tương lai có một người tên là Từ Thị hiệu là Di Lặc được suy tôn chức Giáo Chủ thay đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Trong tôn giáo mà cũng có những sự tranh giành vị trí lãnh đạo như các nhà vua phong kiến ở thế gian thường tranh giành ngai vàng.

    Theo kinh sách Đại Thừa đạo Phật có ba vị Giáo Chủ:
    I/ Bảy vị Phật Giáo Chủ ở quá khứ:
    II/ Một vị Phật Giáo Chủ ở hiện tại là: Thích Ca Mâu Ni.
    III/ Một vị Phật Giáo Chủ ở tương lai là: Đức Phật Di Lặc.

    Sự phân chia đạo Phật có ba thời gian Giáo Chủ như vậy chẳng khác gì như các vua quan phong kiến như đã nói ở trên. Ông vua này xuống đến ông vua khác lên thay. Mỗi ông vua cai trị đều có cách khác nhau. Giáo Pháp Đại Thừa cũng giống như vậy, cho nên Phật Thích Ca Mâu Ni đã trở thành Phật quá khứ và giáo pháp của Người cũng lỗi thời vì thế mới gọi nó là “Tiểu Thừa Ngoại Đạo”.

    Chúng ta thử xét qua Thiền Đông Độ, từ Tổ này dạy như vậy đến Tổ khác dạy khác như: “Chẳng niệm thiện niệm ác, Vô tâm còn cách một lớp rào” còn pháp thực hành tu thì có: giữ ông chủ, chăn trâu, biết vọng liền buông, tham thoại đầu, tham công án v.v...Chỉ có một pháp không vọng tưởng mà tu hành lại chế ra nhiều pháp, nhưng pháp nào cũng chỉ là pháp ức chế tâm, tập trung tâm, để không niệm khởi, chứ không có pháp gì khác.

    Còn nếu bảo rằng giáo pháp cần phải phát triển cho phù hợp với mọi hoàn cảnh và sự tiến bộ của loài người thì đó là phỉ báng đức Phật xem như đức Phật không thông suốt thời vị lai nên đã di chúc: “Lấy giới luật và giáo pháp của mình làm Thầy làm chỗ nương tựa tu hành vững chắc”. Nếu đức Phật di chúc như vậy và bây giờ các Tổ Phát triển kinh sách như vậy thì chúng ta còn tin Phật nữa hay không?
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  19. #99
    Join Date
    Nov 2009
    Posts
    147
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    tuyệt quá, cảm ơn,

  20. #100
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.


    SỰ MÂU THUẪN TRONG KINH SÁCH ĐẠI THỪA



    Câu hỏi của Diệu Minh
    Hỏi: Kinh bạch Thầy, trên bình diện: Hữu sắc và vô sắc. Về hữu sắc thực tế trong nhân loại hiện nay không còn con đường nào khác là phải xây dựng cho mỗi người có một nền đạo đức nhân bản và nhân quả. Trên cơ sở bốn đế (khổ, tập, diệt, đạo). Vậy pháp hành là Tứ Chánh Cần ly dục ly ác pháp. Thật là tuyệt vời.
    Bởi lẽ thế gian hiện nay, đã hầu hết làm mất đi nền đạo đức nhân bản này. Thế mới có chuyện một lũ người điên ngồi xem một quả bóng tròn, tranh giành tổng thống, làm từ thiện, thì bớt xén cả của những người khuyết tật, cả những người hoạn nạn do thiên tai...v.v..
    Tất cả vì dục vọng mà họ đã làm mất đi bản chất làm người để đi vào thú tính, xét cho cùng ngay những con thú họ cũng không bằng. Vì bản chất loài thú, nó ăn no rồi thì thôi, nằm ngủ, nhưng con người hiện nay no vẫn chưa đủ mà còn phè phỡn tìm kiếm thật nhiều, để rồi vào tù còn giở trò sám hối.
    Thật là đau lòng cho những vị Thánh Minh muốn cứu đời... Trước thực tại này.
    Bốn câu kệ trong kinh Kim Cang
    “Nhược dĩ sắc kiến ngã
    Dĩ âm thanh cầu ngã
    Thị nhân hành tà đạo
    Bất năng kiến Như Lai...”
    Liễu nghĩa được bốn câu này thì làm gì có kinh Phổ Môn, kinh Địa Tạng, kinh Di Đà, chuyện Bà Thanh Đề, (kinh Vu Lan Bồn) là một sự lừa dối phi đạo đức và phi nhân quả, mà HT đã phải dằn giọng kêu lên. Một tiếng sét cho những ai còn mê muội...


    Đáp: Tại sao kinh Kim Cang nằm trong hệ thống kinh sách phát triển mà lại mâu thuẫn đập phá lại kinh sách phát triển, bởi vậy chúng ta mới thấy hệ thống kinh sách phát triển không nhất quán. Cuốn kinh nào cũng tự ca ngợi nó là đệ nhất hơn các cuốn kinh khác, kinh Kim Cang ca ngợi kinh Kim Cang là đệ nhất, kinh Pháp Hoa cũng ca ngợi kinh Pháp Hoa là đệ nhất, kinh Lăng Già, kinh Viên giác, kinh Thủ Lăng Nghiêm cũng vậy. Vì thế câu:


    “Nhược dĩ sắc kiến ngã
    Dĩ âm thanh cầu ngã
    Thị nhân hành tà đạo
    Bất năng kiến Như Lai”


    Bốn câu kệ này nó thể hiện qua trí tuệ Bát Nhã Ba La Mật tánh không cho một hành tinh chết trong vũ trụ này, chứ không phải áp dụng cho hành tinh sống của chúng ta, vì vậy nó là chân lý của Long Thọ sản xuất, nó đang áp dụng trên cung trăng, mặt trời và trên những hành tinh chết khác, còn ở địa cầu thì nó là chân lý ảo tưởng, vì địa cầu là môi trường sống nên mọi vật ở đây không thể là cục đá gốc cây được (không có ngã, không có ta, không có cái của ta).


    Nếu bảo rằng lấy bốn câu kệ này làm pháp tu quán chiếu thì không đúng, vì bốn câu kệ này không phải là pháp hành, nó chỉ là một lý luận suông của Bát Nhã phát triển mâu thuẫn lại chính bản thân của sự phát triển, tức là mâu thuẫn lại Tịnh Độ Tông và Mật Tông. Còn nếu lấy câu:


    “Nhất thiết hữu vi pháp
    Như mộng, huyễn, bào, ảnh
    Như lộ diệc, như điển
    Ưng tác như thị quán.


    Nếu dùng câu này tác ý tu tập để chúng ta trở thành cây đá trong môi trường chết thì có thể được, chứ pháp môn này không có mang tánh chất ly tham đoạn ác pháp để được giải thoát như kinh sách Nguyên Thủy.
    Do biết các pháp hữu vi như giấc mộng, như huyễn ảo, như sương mù, như điện chớp, thì nó trở thành là pháp môn tránh né, pháp môn tránh né là pháp môn ức chế tâm, pháp môn ức chế tâm thì không bao giờ ly dục ly ác pháp được, không ly dục ly ác pháp thì không bao giờ có giải thoát.
    (Trích Đường Về Xứ Phật tập X)
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



Page 5 of 14 FirstFirst 1234567891011121314 LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •