Page 4 of 14 FirstFirst 12345678910111213 ... LastLast
Results 61 to 80 of 264

Thread: Chân Lý Thích Ca.

  
  1. #61
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Tôi xin tạm ngừng bình luận ở đây một lát , để chứng minh với nhóm người cực đoan cho rằng tôi cố ý đánh phá Đại Thừa , Mật tông nơi đây . Cá nhân tôi là hậu bối cũng chỉ dựa vào kinh sách nghiên cứu và sau khi suy nghĩ , đối chiếu mới tin rằng PHẦN LỚN kinh Đại Thừa do Trung Hoa sáng tác và sửa đổi thêm vào Kinh Phật Thích Ca. Nếu tôi giải thích thì tâm lý thường tình cho rằng tôi nói phịa ra , không tin , hoặc tôi dẫn dụ do lời thầy Thanh Từ , HT Trí Quang nói họ cũng nghi ngờ , chẳng qua các thầy là người Việt. Nay tôi xin giới thiệu thầy John R. O'Neil ("The Formation of Mahayana", Phước Hạnh trích dịch) là ngoại quốc để dẫn chứng thêm sự việc phái Đại Thừa mới hình thành và phát triễn sau khi Đức Phật Thích Ca nhập diệt.


    Sự hình thành Đại thừa
    J. R. O'Neil

    --------------------------------------------------------------------------------

    Phong trào phát triển một đường lối Phật Giáo mới, về sau nầy được gọi là Mahayana (Đại thừa), bắt đầu thành hình trong thời gian 250 năm, từ năm 150 TCN đến 100 CN, là kết quả tích tụ của nhiều phát triển vốn có từ trước. Nguồn gốc của nó không liên hệ với một cá nhân nào, và cũng không đặc biệt liên kết với một tông phái nào của thời kỳ Phật Giáo sơ khai. Có thể phong trào đó khởi dậy từ nhiều nơi trong xứ Ấn Độ, tại miền nam, miền tây bắc và miền đông.

    Phong trào nầy có ba đặc tính tổng quát. Thứ nhất là sự đồng tình hết lòng với quan niệm về Bồ Tát Đạo vốn đã được một vài tông phái nguyên thủy khởi xướng từ trước. Thứ hai, họ đưa ra một vũ trụ quan mới, dựa vào các pháp quán kiến về Đức Phật mà dưới cái nhìn mới, đã trở thành một vị siêu nhân, siêu thế. Thứ ba, họ có những quan niệm mới về A-tỳ-đàm (Abhidhamma, Vi Diệu Pháp), phát nguồn từ kết quả thiền quán về "không tính" sâu kín của vạn vật và từ đó có một nhãn quan triết lý mới. Từ ba đặc tính nầy, phát sinh một định hướng mới về giáo pháp của đạo Phật và tạo ra hằng loạt các diễn giải mới lạ, và dần dần tạo nắn thành một phong trào gọi là Đại thừa với tính chất riêng biệt.

    Mahayana đi vào lịch sử như một liên hiệp lỏng lẻo của nhiều nhóm, mỗi nhóm liên kết với một hay nhiều kinh điển mới. Các kinh điển nầy được viết ra bằng các phương ngữ miền Trung Ấn chẳng bao lâu sau khi chúng được trước tác. Tiếp theo là các sửa đổi, rồi dần dần trở thành một loại ngữ văn "Sanskrit tạp", rất gần với Sanskrit cỗ, ngữ văn quý trọng của Ấn Độ. Những người nào chấp nhận các văn liệu nầy là kinh điển chính thống -- lời giảng dạy của Đức Phật -- được xem như thành viên của phong trào mới. Điều đó không có nghĩa là các tu sĩ trong phong trào mới nầy bắt buộc phải từ bỏ truyền thống cũ, vì họ vẫn tiếp tục tuân giữ các giới luật trong truyền thống cũ của họ. Các người Đại thừa vẫn là một thiểu số trong giới Phật tử Ấn Độ trong một thời gian dài. Đến thế kỷ thứ bảy Công Nguyên, nhà hành hương Huyền Trang ước tính là phân nửa trong số 200,000 vị tu sĩ tại Ấn Độ theo phong trào Đại thừa.

    Những người truyền thống lúc đó không chấp nhận các văn liệu mới nầy là "lời dạy của Đức Phật" (Phật ngôn - Buddhavaccana) như các kinh nguyên thủy. Thật ra, kinh điển nguyên thủy cũng bao gồm bài giảng của các vị đại đệ tử nhưng được họ chấp nhận là vì Đức Phật đã từng khen ngợi các vị đại đệ tử đó và Ngài đồng ý với các bài giảng đó. Ngay cả sau khi những vị đó đã qua đời, một vài bài kinh khác đã được thêm vào nếu chúng có cùng văn phong và nội dung với tạng kinh luật.

    Kinh điển mới của Mahayana hoàn toàn khác hẳn về văn phong và âm điệu. Nhưng chúng được nhiều người theo phong trào mới chấp nhận là "Phật ngôn" vì nhiều lý do. Thứ nhất, họ tin rằng Đức Phật vẫn hiện hữu, cảm nhận được qua các trạng thái nhập thiền và mộng tưởng, và đã giảng các bộ kinh đó. Thứ hai, chúng được xem như sản phẩm từ các tuệ giác bát nhã có cùng một căn bản như các bài pháp của Đức Phật. Thứ ba, về sau nầy, nhiều người Đại thừa lại tin rằng các kinh điển đó là lời giảng của Đức Phật nhưng đã được dấu đi tại quốc độ của các loài thần rắn (Naga, Long vương), cho đến khi nào loài người có thể nhận thức được tầm mức quan trọng của kinh thì mới thỉnh được chúng qua năng lực trong lúc tham thiền. Mỗi một giải thích đều cho rằng các kinh điển nầy được phát khởi từ kinh nghiệm tham thiền. Tuy nhiên, chúng thường có dạng các lời đối thoại giữa Đức Phật lịch sử và các đệ tử cùng với sự hiện diện của chư thiên.

    Các loại kinh điển mới nầy được các người Đại thừa xem như "thời kỳ Chuyển Pháp Luân lần thứ hai", một cấp độ giảng dạy cao sâu hơn các kinh nguyên thủy. Giờ đây, các đệ tử Bồ Tát được hình dung ra như có trí tuệ cao hơn các vị A-la-hán. Vì các kinh điển mới được xem như có giá trị giải thoát, các người Đại thừa cho rằng sẽ có nhiều phước đức nếu chúng được sao chép lại, quảng bá, tụng đọc, tham cứu, thực hành, và ngay cả việc tôn thờ lễ lạc chúng. Điều nầy cho thấy có một thái độ tự vệ của phong trào mới, vẫn còn là thiểu số, đang cố gắng củng cố, xây dựng một thế đứng, phản ứng chống lại các chỉ trích của giới tăng sĩ truyền thống. Có lẽ các kinh điển Mahayana được trước tác bởi một số các vị pháp sư có uy tín và muốn khởi xướng phong trào mới. Các vị nầy, tu sĩ lẫn cư sĩ, truyền bá tư tưởng mới trong và ngoài cộng đồng Phật giáo đương thời để lôi cuốn thêm tín đồ mới. Họ ca ngợi các tính chất cao quí của quả vị Phật Chánh Đẳng Giác, một sự hoán chuyển tâm thức sâu xa, thực hiện qua việc khai phát tâm thức giác ngộ -- giác tâm (bodhi-citta), một lòng hứng khởi để đạt quả vị Phật, qua các phương tiện của Bồ Tát Đạo.

    Các quan niệm mới về giá trị của kinh điển đã khuyến khích phong trào Đại thừa có thêm nhiều tự do phóng khoáng, nhiều sự "mặc khải", để tạo ra hằng loạt các kinh điển mới ở Ấn Độ cho đến khoảng năm 650 CN. Các bộ kinh nầy thường được trước tác bởi các vị tu sĩ ẩn danh, thông thường có một nhóm tác giả viết ra một văn bản mới với nhiều chi tiết, càng ngày càng phát triển rộng thành các tác phẩm lớn, có khi lên đến vài trăm trang giấy. Trong khi đó, các kinh điển nguyên thủy thường ngắn gọn hơn, mỗi bài kinh chỉ có vài ba trang. Thật ra, trong một vài bài kinh nguyên thủy, Đức Phật được nhắc đến như là một đại nhân cao quý, xuất chúng, chung quanh là hàng trăm vị chư thiên và đại đệ tử. Các kinh điển Mahayana đã mô phỏng theo lối diễn tả nầy. Trong các kinh đại thừa, Đức Phật thường dùng các ẩn dụ, lời nói bóng bẩy, đa nghĩa, và giảng cho nhiều vị Phật khác, nhiều vị Bồ Tát trong nhiều tầng trời của vũ trụ. Những vị cứu rỗi nầy, chư Phật và chư Bồ Tát với nhiều danh hiệu và nguồn gốc mới lạ, trở thành đối tượng cho việc tôn thờ, sùng bái và cầu nguyện, và từ đó gia tăng tính hấp dẫn, thu hút quần chúng, giúp thành công cho việc truyền bá phong trào Đại thừa.

    Đầu tiên, phong trào mới nầy được gọi là Bồ Tát Thừa (Bodhisatva-yana). Tên gọi đó để phân biệt với Thanh Văn Thừa (Sravaka-yana) của những người hành trì các lời dạy nguyên thủy của Đức Phật và nhắm đến quả vị A-la-hán (Arahat), không phải quả vị Chánh Đẳng Giác (Samma-sambuddho). Tên gọi đó cũng để phân biệt với Độc Giác Thừa (Pratyeka-Buddha-yana), dùng để chỉ các vị tu sĩ sống đơn độc, trong các thời xa xưa, tự giác ngộ nhưng không truyền dạy cho người khác. Dần dần, khi bị nhiều chỉ trích và phê bình của những người không tán đồng các tư tưởng mới, phong trào nầy phản ứng lại bằng cách gia tăng ca ngợi tầm mức quan trọng của hạnh Bồ Tát và đưa ra một danh xưng mới: Mahayana (Đại thừa). Các "thừa" khác giờ đây bị khinh chê là thấp kém, và bị gán cho một tên gọi khác là Hinayana (Tiểu thừa). Lý do biện minh cho cái "lớn" của Đại thừa ở trong 3 lãnh vực: ý nguyện từ bi muốn cứu vớt muôn loài, tuệ giác thâm sâu mà họ cổ võ, và mục tiêu nhắm đến quả vị tối thượng của Phật.

    Vào khoảng năm 200 CN, một bộ kinh mới có tên "Hoa sen của Chân Pháp" (Diệu Pháp Liên Hoa, Saddharmapundarika) được viết ra với một cái nhìn mới: mặc dù vẫn còn chống báng "Tiểu thừa", bộ kinh cho rằng Tiểu thừa được bao gồm trong và hoàn mãn bởi Đại thừa. Phẩm 2 của bộ kinh nầy, trong việc dung nạp Tiểu thừa, đưa ra một quan niệm về sau trở nên rất phổ thông trong Đại thừa: quan niệm về cách dùng "phương tiện thiện xảo". Họ dựa vào một quan niệm vốn đã có sẵn từ trước cho rằng Đức Phật đã khéo léo giảng dạy tùy theo trình độ và căn duyên của người nghe -- việc nầy được thực hiện bằng cách chọn lựa các bài giảng của Ngài trong tạng kinh luật đã có sẵn. Tuy nhiên giờ đây, Ngài được xem như đã giảng dạy với nhiều cấp độ khác nhau và có vẻ như mâu thuẩn. Những người có trình độ cao cần phải tháo bỏ các lời giảng giản dị dành cho những người căn cơ thấp. Mặc dù mọi người đều có khả năng thành Phật, không thể nào giảng các bài pháp cao siêu cho những hạng căn cơ thấp vì họ sẽ bị rối loạn. Vì vậy, cho những người "vô minh, căn cơ thấp", Đức Phật dạy về Tứ Diệu Đế, tạo mục đích đạt Niết Bàn qua quả vị A-la-hán. Vị A-la-hán giờ đây được xem như vẫn còn ngã mạn và không đủ lòng từ bi vì chỉ muốn thoát khổ một mình, không chịu giúp các chúng sinh khác. Cho những ai muốn nghe thêm nữa, Đức Phật giảng về Niết Bàn thật sự của quả vị Phật, và tất cả chúng sinh đều có thể đạt được quả vị nầy, kể cả hàng A-la-hán, dù rằng những vị A-la-hán vẫn tưởng rằng họ đã đạt được mục đích tối hậu. Đức Phật chỉ có một cỗ xe, Nhất Thừa (eka-yana), cỗ xe của Phật, nhưng Ngài dùng "phương tiện thiện xảo" để tạo ra 3 cỗ xe khác: Thanh văn thừa, Độc giác thừa, và Bồ tát thừa. Ngài truyền cỗ xe nào thích hợp với căn cơ của từng người, nhưng khi họ đã phát triễn tới một cấp độ nào đó thì Ngài sẽ truyền cho cỗ xe Phật tối thượng. Dù vậy, vì kinh đề cao Bồ tát đạo là con đường đưa đến Phật quả, thật khó mà phân biệt được giữa Bồ tát thừa và Phật thừa. Cuối cùng, kinh nầy vẫn hàm chứa ý nghĩa đề cao các hàng Bồ Tát theo định nghĩa của phong trào mới. Thật ra, không phải các kinh điển Mahayana đều theo quan niệm Nhất Thừa nầy. Có vài bộ kinh cho rằng trong ba thừa đó, quả vị A-la-hán không thể tiến xa hơn nữa, và Niết Bàn của A-la-hán có tầm mức thấp kém hơn Phật quả.

    Tuy nhiên, theo các tiêu chuẩn của quả vị A-la-hán qua kinh điển nguyên thủy của nhiều tông phái, chẳng hạn như tông phái Theravada ngày nay, thì quan niệm trên -- về sự thấp kém của A-la-hán -- là một điều khó hiểu và vô lý. Không thể nào cho rằng A-la-hán là một người còn chấp ngã và ích kỷ. Theo định nghĩa trong kinh điển nguyên thủy, vị A-la-hán là người đã hoàn toàn tận diệt các tư tưởng về "tự ngã, cái tôi", vốn là nguồn gốc của chấp ngã và ích kỷ. Vị ấy cũng thường được kinh điển nguyên thủy mô tả như một người có lòng từ bi vô lượng, và hết lòng giảng dạy truyền bá đạo pháp, đem lại nhiều lợi lạc, hạnh phúc cho người khác. Niết Bàn và Giác ngộ chỉ có một, không có phân chia cấp độ. A-la-hán là những người đã đi theo con đường Phật dạy, phát triển tuệ giác, hoàn toàn tận diệt mọi lậu hoặc, và không còn tạo nghiệp để vướng mắc trong luân hồi sinh tử. Sự khác biệt giữa Phật và A-la-hán chỉ là khác biệt giữa vị Thầy khai sáng Chánh Pháp và các vị đệ tử hành trì thành công Chánh Pháp đó.

    Cũng cần ghi nhận ở đây là các vị tu sĩ Thanh Văn Thừa đã đóng góp tích cực cho công trình quảng bá đạo Phật trong toàn xứ Ấn Độ và các nước lân bang trong một thời gian dài hơn 500 năm, từ khi Đức Phật hoằng khai Chánh Pháp cho đến khi có mặt phong trào Đại thừa. Thêm vào đó, truyền thống Theravada vẫn công nhận rằng con đường lâu dài đưa đến quả vị Phật, trải qua rất nhiều kiếp sống, là con đường cao thượng nhất, bởi vì sẽ cứu giúp được vô lượng chúng sinh. Con đường Bồ Tát nầy vẫn được một số các Phật tử Theravada hành trì, và xem như là một con đường đáng ngưỡng phục. Tuy nhiên, không phải người nào cũng đạt đến quả vị Phật vì chỉ có một vị Phật trong mỗi thời kỳ, và vị Phật trong thời kỳ tới là Bồ Tát Di Lặc. Vì vậy, đa số Phật tử Theravada đi theo con đường A-la-hán, họ hành trì theo các lời giảng dạy đã có sẵn của Đức Phật Cồ Đàm, ngày nay vẫn còn được lưu truyền rộng rãi, với mục đích có thể chứng đắc được một trong bốn quả thánh (Dự Lưu, Nhất Lai, Bất Lai, và A-la-hán) đưa đến giác ngộ, giải thoát ngay trong đời nầy hoặc đời sau.

    Trong giai đoạn đầu khi mới thành hình, phong trào Đại thừa khuyến khích các cư sĩ đi theo Bồ Tát Đạo, thoát khỏi ràng buộc gia đình và lập ý nguyện xuất gia, trở thành tu sĩ, hành trì để đạt đến một trình độ tâm linh cao thượng. Về sau, vai trò của cư sĩ tại gia lại được đề cao hơn, chẳng hạn như trong kinh Duy Ma Cật (Vimalakirti-nirdesa). Từ quan niệm nguyên thủy Bồ Tát là người sắp thành Phật và thường dùng để chỉ các tiền thân của Phật Cồ Đàm, quan niệm về Bồ Tát trong Đại thừa được triển khai với ý nghĩa mới, trở thành một người cao thượng, giàu lòng hy sinh và từ bi để cứu nhân độ thế, làm việc từ thiện, chia xẻ công đức, đáp ứng các lời cầu nguyện, khuyến khích lễ lạc, phúng tụng, xây tháp v.v. Quan niệm nầy càng ngày càng trở nên phổ thông, nhất là khi Đại thừa được truyền sang Trung Hoa và một số kinh điển đã được trước tác thêm tại đó.

    Qua nhiều thế kỷ, các tu sĩ Phật Giáo tại Ấn Độ học tập và hành trì theo cả hai truyền thống Thanh Văn Thừa và Đại Thừa, có khi họ cùng ở chung một tự viện. Ngay cả các nhà hành hương Trung Hoa cũng không phân biệt được Đại thừa như là một phong trào riêng rẻ trước thế kỷ 4 Công Nguyên. Về sau nầy, danh từ Tiểu thừa (Hinayana) đã bị nhiều người đồng hóa với ý nghĩa hạ tiện, thấp kém, và do đó cần phải tiến lên một mức độ cao hơn của Đại thừa (Mahayana).Trong ý nghĩa lịch sử, danh từ Hinayana khởi nguyên do các kinh điển Mahayana đặt ra để chỉ những truyền thống và bộ phái nguyên thủy vốn không công nhận các kinh điển mới của phong trào Đại thừa.

    Các nhà Phật học ngày nay thường dùng danh từ "Phật Giáo Kinh Bộ" (Nikaya Buddhism) hoặc "Phật Giáo Nguyên Khởi" (Original Buddhism) để chỉ các tông phái sử dụng kinh điển nguyên thủy trước thời kỳ phát triển kinh điển đại thừa. Để chỉ các truyền thống Phật Giáo hiện tại, họ dùng danh từ "Phật Giáo Bắc Phương" (Northern Buddhism) để chỉ Phật Giáo Tây Tạng (Mật tông), "Phật Giáo Đông Phương" (Eastern Buddhism) để chỉ Phật Giáo tại Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn và Việt Nam, và "Phật Giáo Nam Phương" (Southern Buddhism) để chỉ Phật Giáo tại Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào và Cam Bốt.

    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  2. #62
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    annsie:

    Hỏi đã chưa? Bây giờ tôi hỏi lại nè :

    1-...................

    2- Xá lợi Phật từ đâu mà có? Tại sao người thường không có xá lợi?
    Hỏi tức là tự trả lời. Khi đã hiểu mà còn hỏi là muốn thách thức , thử tài hơn là TÌM HIỂU. Với thái độ này tôi thật buồn khi đối thoại với bạn ann. Tôi không cần trả lời câu hỏi. Vì bạn đã trả lời dùm khi copy bài " HT Thích Tuyên Hoá " ở #53 thế này :

    Xá Lợi Đại Lão Hòa Thượng Hư Vân

    Kinh Kim Quang Minh phẩm Xá Thân nói:

    “Xá lợi là do sự huân tu giới định huệ mà thành, không phải dễ dàng mà có được xá lợi.” Thế nên chúng ta lễ bái cúng dường xá lợi cũng như là cung kính cúng dường Tam Bảo vậy. Từ đây Nhân Thiên mất đi vị lãnh đạo chúng sanh thoát ly ba cõi, chỉ còn nương theo pháp nhất ngôn nhất hành của Lão Hòa Thượng như kệ cuối cùng của Ngài:

    Hà tuất nghĩ mạng bất đầu thủy

    Ngô úy thủy tộc thân trịch giang

    Kỳ chư thọ ngã thân nguyện cúng

    Đồng chứng Bồ Đề độ chúng sanh

    Thỉnh các Pháp lữ, bất tát ưu lự

    Sanh tử tuần nghiệp, như tàm phược kiển

    Tham mê bất hưu, lao gian ưu hỉ,

    Dục trừ thử hoạn, nỗ lực tu luyện,

    Diệu khế vô sanh, minh thông tánh địa

    Đoạn ái tắng tình, thoát luân hồi hiểm

    Tham tịnh tam học, kiền trì tứ niệm

    Thệ nguyện viên thành, sắc huyễn lộ điện

    Chứng ngộ chân không, vạn pháp nhất thể

    Ly hợp bi hoan, tùy duyên phao nước.

    Tạm dịch:

    Nghĩ tôm mạng nhỏ không lìa nước,

    Tôi thương thủy tộc nguyện xuống sông,

    Mong sao thọ lãnh thân tôi cúng,

    Đồng chứng Bồ Đề độ chúng sanh.



    Xin các bạn lữ, chớ có ưu lo

    Sinh tử tuần hoàn, như tầm giăng tơ

    Tham mê không ngừng, buồn vui tù tội

    Muốn trừ hoạn đó, tu luyện cố công

    Hợp khế vô sanh, tánh tự suốt thông

    Dứt lòng thương oán, thoát hiểm luân hồi

    Quán Tam tịnh học, Tứ niệm xứ nương

    Thệ nguyện viên thành, thân như sương chớp

    Chướng ngộ chân không, vạn pháp nhất đồng.

    Tan hợp bi hoan, tùy duyên bọt nước.


    Và điều thú vị mà lâu nay tôi không cần giải thích , trả lời cho các bạn , kể các tu sĩ mà các bạn tôn sùng là Đại Lão Hòa Thượng chê bai lời giảng thầy Chân Quang về " Ăn cá được phước ". Hôm nay HT Hư Vân di chúc trăn trối đã là lời xác minh thầy Chân Quang giảng là đúng :

    Sau khi hỏa hóa thân tôi, xin chư vị hãy lấy tro cốt của tôi tán nhuyễn trộn với dầu, đường, bột... nắn thành viên nhỏ rồi đổ xuống sông, bố thí cho loài thủy tộc . Xin chư vị giúp tôi mãn nguyện; thật đa tạ vô cùng!

    Người trả nợ - Hư Vân - đảnh lễ.


    Về loài thủy tộc là tất cả tôm , cua , rùa , ếch v.v.v..v..... sống dưới nước. Khi ăn xác Ngài Hư Vân được trả nợ bao nhiêu NGHIỆP do thầy gây ra , bao gồm cả Nghiệp phản lại sư tổ Thích Ca mà đi rao giảng thuyết cứu rỗi của Đại Thừa - Tịnh Độ cầu nguyện A Di Đà , Quán Âm , Phổ Hiền...... Cá ăn thầy thì được phước. Vậy thì người ăn cá cũng được phước vì giúp cho chúng trả được nợ do chúng gây ra , đồng thời sớm được đầu thai kiếp khác tốt hơn , điều này đúng như thầy Chân Quang đã giác ngộ , đạt thần thông biết rõ quá khứ , vị lai mà giảng cho chúng sanh ( kể cả các Hòa Thượng sư tổ của thầy ) hiểu biết. Thế mà các Đại Lão HT Thích Thanh Từ , Thích Thông Lai và cái Giáo Hội PHVN Hải Phòng , băng đảng Lotuspro cùng nhóm Phật tử vô minh lấy thịt đè người nhằm bịt miệng thầy Chân Quang. Chỉ có tôi là người hiểu biết lý thâm sâu mà thông cảm cho thầy. Vì vậy chúng chửi và trù dập luôn cả tôi. Như tôi đã nói là giữ lời không sợ mà cải chính như thầy Chân Quang , vì thầy còn nằm trong tăng đoàn , giáo luật Đại Thừa nên sợ phạt mà phải ngậm đắng nuốt cay để cải chính như ông Gallileo ngày xưa. Nhưng chân lý và lịch sử vẫn hiểu thầy và tôn trọng.

    Từ đây tôi hết muốn trả lời và đối thoại với căn sĩ Quynh Giao quý danh là annsie , ansie21 , @annsie........

    " Ngược gió tung tro mặt mình dơ trước "
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  3. #63
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.


    Nhân đọc bài " Lối về Thiền viện " của Phổ Nghĩa VÕ THIỆN HIẾU tôi có mấy cảm nhận như sau :

    http://thuvienhoasen.org/thienvienchannguyen.htm

    Mới đầu chữ " Thiền viện " tôi ngỡ là viện thiền định tức là tu thiền theo giáo lý Thích Ca. Nơi đây là vùng đất sa mạc nhiều nắng gió giá buốt và đầy cát bụi của Adelanto , do Phật tử và thầy Thích Ðăng Pháp xây dựng.Tượng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát cao 25 feet nằm cạnh con đường Hwy US 395 về hướng bắc được khánh thành vào ngày 25 tháng 11 năm 2007. Nếu là tôn tượng Quán Thế Âm biểu tượng cho tình mẫu tử mà phần nhiều con người muốn nhắc đến , bên Kito giáo thì có Mẹ Maria thế thôi. Nhưng sự kiện không dừng lại ở đây mà hiện tượng " kỳ quái " lúc đó có Hào Quang Quán Thế Âm đã linh ứng thị hiện toả chiếu từ 5 giờ sáng cho đến suốt buổi lễ dưới sự chứng kiến của trên 500 Chư tôn Giáo phẩm cùng Ðồng hương và Ðồng bào Phật tử hiện diện. Phải chăng Thiền Viện Chân Nguyên, Adelanto đã trở thành một địa danh linh thiêng giống như địa danh La Vang / Quảng Trị ở Việt Nam khi có Mẹ Maria hiện lên toả hào quang. Từ đó hằng tuần chẳng những có hằng trăm đồng hương và đồng bào Phật tử khắp nơi từ các Tiểu bang của Hoa Kỳ cho đến các nước từ Âu Châu, Úc châu và Á Châu kể cả rất đông đồng hương từ Việt Nam đến hành hương và chiêm bái mà nhiều người nước ngoài như Lào, Thái Lan, Hoa Kỳ….cũng lui tới nơi đây.

    Đối với nước văn minh và tự do báo chí như Hoa Kỳ thì không mấy ai ngạc nhiên về các giới săn tin vì vấn đề cần có tài liệu , hình ảnh để đăng báo :"Thiền Viện Chân Nguyên sau đó đã được được giới truyền thông Hoa Kỳ biết đến, ngoài sự thông tin của hầu hết các giới truyền thông , báo chí , phát thanh, truyền hình cũng như trên mạng lưới Internet của Việt Nam còn có cả hệ thống truyền thông của Hoa Kỳ cũng loan tải sự hiện diện của Thiền Viện Chân Nguyên trên vùng sa mạc Adelanto. “ Temple is special in Adelanto.The light from the sky and from the Statue come out…”. Các nhật báo Los Angeles Times làm phóng sự bởi Ðặc phái viên Louis Sahagun đăng tải tháng 6-2008, Tuần báo Actual Life Publishing phát hành khắp nước Mỹ do phóng viên Dave Mc. Lane viết phóng sự 28-11-2008, Tuần báo The Press Interprise của David Olson cũng đã thường xuyên theo dỏi và đăng tải nhiều lần sự phát triển và tiến trình xây cất của Thiền Viện số mới nhất 30-11-2008, nhật báo The Sun San Bernardino County’s News Paper do thông tín viên Joe Nelson đăng tải 01- 12-2008, cũng như trên hệ thống truyền hình đài số 9 cũng đã làm phóng sự vào tháng 10 năm 2008..v…v." là chuyện thường tình.

    Ngoài ra không thiếu những nhân chứng sống được chửa lành bệnh. Có lẽ trong một thời gian ngắn Thiền viện Chân Nguyên sẽ biến thành một bệnh viện lớn nhất Hoa Kỳ. Điểm quan trọng là Bà Quán Thế Âm là vị Bác sĩ giỏi nhất ,vỹ đại nhất , thế là ngành y khoa của Mỹ xem như dẹp tiệm.

    Về những hiện tượng hào quang từ Mẹ Maria cho đến Quán Âm được khoa học " sờ " đến và ngay bạn tamgoilathu phát biểu :

    -Tôi nghĩ đó chỉ là hiện tuợng tình cờ của trời trăng, lúc đó là 5 giờ sáng. Theo tôi, phép nhiệm màu đó không đúng với giáo lý nhà Phật. Phật đã từng nói, "Ta không có quyền ban phước, giáng họa cho ai cả" Đức Quán Thế Âm chỉ là một biểu tượng, không có môt lịch sử nào viết về ĐQTA, chẳng hạn sinh ở đâu, năm nào, làm những gì v.v... Nếu nói rằng, uống tịnh thủy do thày Trụ Trì Thích Đăng Pháp làm phép thì được lành bệnh, thì vô tình đã ngược lại với thuyết Nhân Quả của Đạo Phật. Dù là đã xin sám hối, bệnh nhân cũng phải thể hiện bằng những hành động thiện để bớt được nghiệp xấu, thì mới hy vọng bệnh thuyên giảm nếu những nghiệp thiện đó mang lại quả thiện ngay trong kiếp này. Theo như tôi được biết, TV đã thành lập được 5 năm rồi, mà hiện nay, thiền viện này chỉ có một người duy nhất sống ở đây, đó là trụ trì Thich Đăng Pháp, tại sao??? với một ĐQTA màu nhiệm như vậy.


    Anh ta đã lý luận và chứng minh bằng khoa học đầy trí tuệ như sau :

    - Ngoài ra, với computer technique hiện tại + kỹ thuật phim ảnh, một vòng hào quang không có gì khó để làm. Trong những hình ảnh thật sự chụp được trên website:
    http://hoituthienphohien.com/2009pic...hannguyen.html
    tôi không thấy hình DQTA có hào quang nào cả. Nếu nói là 500 người nhìn thấy suốt buổi lễ, thì những hình ảnh thu thập được và những chứng nhân đâu, tôi rất hoan hỉ được gặp và xem hình ảnh thực sự được ghi lại bằng máy chụp hình purely without modifications.

    - Program such as Photoshop can easily add "hào quang" and any color of cloud to a picture.



    Hào quang chiếu sáng

    Đối với tôi về Quán Âm hay A Di Đà , thầy Tuyên Hóa của Đại Thừa Trung Hoa không có gì đáng ngạc nhiên những sự tuyên truyền dối trá về cứu rỗi và phép lạ.Nếu Đại Thừa cứ nhận là một tôn giáo độc lập không dính dáng gì đến Phật giáo Thích Ca thì đó là quyền của họ.Nhưng khổ nổi bên cạnh các Phật Đại Thừa luôn luôn có kèm theo hình ảnh Ngài Thích Ca. Đó là điểm cần QUANG TÂM và NHẤN MẠNH.( xem hình )



    Tượng Thích Ca - Quán Âm




    Tượng Di Lạc



    Tựơng La Hán

    Giáo lý Ngài Thích Ca là giải thoát khổ đau , tinh tấn tiến lên để tu học bằng trí tuệ của chính mình. Tự tu tự hưởng chứ không một ai có quyền tha tội và cứu vớt khổ đau , bệnh tật , nghiệp quả do mình gây ra. Giáo lý và hình ảnh có tính cách cứu rỗi do cầu nguyện của Đại Thừa gán vào Phật Thích Ca đã đồng hoá với cứu rỗi của Chúa Jesus , cũng hào quang , chữa bệnh , ban phép , làm phép giống nhau. Đây là một mục đích có chủ ý của Đại Thừa - Tịnh Độ Trung Hoa nhằm triệt hạ chân lý Thích Ca. Lm Trần Cao Tường đã viết :

    Những chương trình như Chữa Nghiện Rượu AA (Alcoholic Anonymous) đã tìm ra được chìa khóa tâm lý chữa bệnh và giải thoát: Chừng nào mình còn nghĩ tự sức mình có thể chừa được thì sẽ không bao giờ chừa được. Điều này cũng được áp dụng hiệu quả cho những chuyện chữa nghiện ma túy, nghiện sex, nghiện cờ bạc, mê ăn thái quá...

    Vì thế thái độ đầu tiên của người đang cần được chữa trị là phải nhận mình không thể làm gì được hơn để tự giải quyết, mà phải ngửa trông lên nhìn nhận có một lực từ trên cao giải thoát mình.

    Khám phá khoa học lạ lùng này rõ ràng là ngược với thái độ duy vật hão huyền tự suy ra mà không có thật của Karl Marx. Cũng như một khuynh hướng quá đà về Thiền như vậy ở Nhật: "Gặp Đức Phật ngoài đường thì hãy giết đi!" Có nghĩa là cứ tự sức mình mà giải quyết mọi sự chứ đừng "vong thân" nương tựa vào sư phụ này hay Đấng cao cả nọ! Đang khi khuynh hướng Tịnh Độ của Phật giáo ở Việt nam thì lại rất cần lực Trời Phật độ trì. Niềm tin vào trời này đã nằm sẵn trong máu người Việt mình

    Người Công Giáo Tây phương đón nhận Phật giáo như một luồn gió mới. Phật giáo là chiếc chìa khóa tâm linh giải thoát mặt tư tưởng của họ đang bị bế tắc hàng trăm năm nay. Ở nơi Phật giáo toả ra một hào khí về lòng tự tin , quả cảm , dũng mảnh độc lập tiến lên chứ không dạy sự cầu xin có tính cách bi quan , yếm thế như đạo Kito ngàn năm của tổ tiên họ. Nhưng hởi ơi , sau khi theo Phật giáo , đa số giới trẽ Tây phương hoặc lưng chừng hoặc quay trở lại đạo Chúa. Họ lý luận rằng :" Phật giáo cũng cầu cứu rỗi như Kito giáo , thế thì theo Chúa còn hơn." Họ đâu có biết rằng Phật giáo cứu rỗi đó là của Đại Thừa - Tịnh Độ là đứa con phản Phật , giết Phật làm ra. Vì thế Vatican gặp được ĐỒNG MINH Đại Thừa cứu rỗi như vậy , nên họ hết sức cổ động , phò trợ cho Phật giáo Đại Thừa bành trướng mạnh hơn. Giúp đó chính là GIẾT Phật giáo và giữ được các con chiên lạc đạo. May thay chỉ có giới trí thức tây phương hiểu được giữa Phật giáo Tịnh Độ và Chân lý Thích Ca mà nhận định , nhưng số học giả , trí thức này lại quá ít.


    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  4. #64
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Tôi đã nói không bình luận về bài HT Thích Tuyên Hóa và những ý kiến của bạn ann về đề tài này. Nhưng ann vẫn kiên trì copy liên tục để nhằm tuyên truyền cho Đại Thừa nhằm tiếp tay ru ngũ , đồng hoá Dân tộc Việt qua mặt tôn giáo , song song với sự xâm lăng bờ biển , hải đảo Hoàng Sa , Trường Sa của bọn Hán tộc đỏ , đồng thời sự yếu kém , nô lệ chính trị bọn CSVN đã và đang nhượng bộ , đồng loã với Hoa đỏ thôn tính Việt Nam. Vì vậy hôm nay tôi phân tích và phên bình bài "Mười tám Đại Nguyện" của thầy Tuyên Hoá bài ann copy and paste tại #6 :


    ]

    Hình HT Tuyên Hóa lúc trẻ đang tham thiền nhập định.



    Sau khi thọ giới Sa di, trong 3 năm thủ hiếu bên mộ mẹ , Ngài phát đại tâm Bồ Đề và nguyện rằng :


    14- Mười tám Đại Nguyện.


    1. Nguyện rằng nếu có một vị thuộc hàng Bồ Tát ở mười phương ba đời, trong tận cùng hư không, biến khắp pháp giới, mà chưa thành Phật thì tôi thề không thủ Chánh giác.

    2. Nguyện rằng nếu có một vị thuộc hàng Duyên Giác ở mười phương ba đời, trong tận cùng hư không, biến khắp pháp giới, mà chưa thành Phật thì tôi thề không thủ Chánh giác.

    3. Nguyện rằng nếu có một vị thuộc hàng Thanh Văn ở Mười phương Ba đời, trong tận cùng hư không, biến khắp pháp giới, mà chưa thành Phật thì tôi thề không thủ Chánh giác.

    4. Nguyện rằng nếu có một vị thuộc hàng Trời, người ở trong Tam giới, mà chưa thành Phật thì tôi thề không thủ Chánh giác.

    5. Nguyện rằng nếu có một người ở trong mười phương thế giới chưa thành Phật, tôi thề không thủ Chánh giác.

    6. Nguyện rằng nếu có một vị trời, người, A-tu-la chưa thành Phật, tôi thề không thủ Chánh giác.

    7. Nguyện rằng trong thế giới loài súc sinh, nếu còn một loài nào chưa thành Phật, tôi thề không thủ Chánh giác.

    8. Nguyện rằng trong thế giới loài ngạ quỷ, nếu còn một kẻ chưa thành Phật, tôi thề không thủ Chánh giác.

    9. Nguyện rằng trong thế giới loài địa ngục, nếu còn một kẻ chưa thành Phật, tôi thề không thủ Chánh giác.

    10. Nguyện rằng trong tam giới, nếu những kẻ từng Quy y với tôi, hoặc là Trời, Người, A tu la, các loài bay, lặn, động vật, thực vật, linh giới, rồng súc sinh, quỷ thần mà chưa thành Phật, tôi thề không thủ Chánh giác.

    11. Nguyện rằng tất cả những phước lạc mà tôi được hưởng thấy, đều hồi hướng phổ thí cho tất cả chúng sanh trong Pháp giới.

    12. Nguyện rằng một mình tôi nhận chịu hết tất cả khổ nạn của chúng sinh trong pháp giới.

    13. Nguyện rằng tôi sẽ phân linh vô số, phổ nhập tâm chúng sinh nào không tin Phật Pháp, làm cho họ bỏ ác, hướng thiện, sám hối, sửa mình, Quy y Tam Bảo, rồi cuối cùng thành Phật.

    14. Nguyện rằng tất cả chúng sinh nào, khi thấy mặt tôi, cho đến chỉ nghe tên tôi, đều phát tâm Bồ-đề, mau đắc thành Phật đạo.

    15. Nguyện rằng luôn tôn kính điều Phật dạy, và thực hành mỗi ngày ăn một bữa.

    16. Nguyện giác ngộ loài hữu tình, phổ nhiếp thọ các loài có căn cơ.

    17. Nguyện trong đời này tôi sẽ đắc ngũ nhãn, lục thông, phi hành tự tại.

    18. Nguyện rằng tất cả mọi cầu nguyện đều được thành tựu viên mãn.



    Trước khi đi vào phân tích , mời quý vị để ý hình thầy TH lúc thiền định gương mặt không an lạc , đôi mắt nhắm hờ cảm tưởng như nhấp nháy , miệng không mĩm cười biểu lộ tâm không hoan hỹ : Đó là những điều CĂN BẢN lúc thiền định. Hay ann post hình thầy đang âu sầu này trên bài "Mười tám Đại Nguyện " mà nội dung hoàn toàn lo lắng các Phật , Bồ Tát Tàu trong ba đời khó thành Phật nên lo buồn chăng? Vậy thì bạn ann quả là nhà tâm lý SÂU SẮC , ĐỘC ĐÁO của người phụ nữ Việt lưu vong . Lành thay !........lành thay !.........

    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  5. #65
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Có lẽ lúc trẽ thầy tu thiền theo Thích ca nên mặc áo vàng , trệch vai phải của Phật giáo nguyên thũy , sau khi lớn lên vì muốn phục vụ cho Đại Thừa nên thầy chuyên vê Tịnh độ và mặc áo kín toàn thân của Đại Thừa chăng? Nhưng thôi , tôi không quan tâm về hình tướng , nó là giả tạm mà tôi chỉ chú ý đến tư tưởng , ngôn luận tức là TÂM của thầy vậy.

    Qua bài "Mười tám Đại Nguyện " của thầy Tuyên Hóa quý vị sẽ thấy sự Ngông Cuồng , xất láo , ngạo mạng của thầy giống hầu hết các Phật Trung Hoa như A Di Đà , Quán Âm , Dược Sư.......Những lời nguyện mà KHÔNG BAO GIỜ có ai đạt đến , vì nó viễn vông , ảo tưởng , không thực tế. Trong 5 điều nguyện đầu không ai kiểm chứng , biết được Bồ Tát , Thanh văn , Duyên giác gốc gác ở đâu và thành Phật chưa :

    1. Nguyện rằng nếu có một vị thuộc hàng Bồ Tát ở mười phương ba đời, trong tận cùng hư không, biến khắp pháp giới, mà chưa thành Phật thì tôi thề không thủ Chánh giác.

    2. Nguyện rằng nếu có một vị thuộc hàng Duyên Giác ở mười phương ba đời, trong tận cùng hư không, biến khắp pháp giới, mà chưa thành Phật thì tôi thề không thủ Chánh giác.

    3. Nguyện rằng nếu có một vị thuộc hàng Thanh Văn ở Mười phương Ba đời, trong tận cùng hư không, biến khắp pháp giới, mà chưa thành Phật thì tôi thề không thủ Chánh giác.

    4. Nguyện rằng nếu có một vị thuộc hàng Trời, người ở trong Tam giới, mà chưa thành Phật thì tôi thề không thủ Chánh giác.

    5. Nguyện rằng nếu có một người ở trong mười phương thế giới chưa thành Phật, tôi thề không thủ Chánh giác.

    Ngay như A Di Đà đã qua hơn 10 đời 10 kiếp mà đến nay vẫn chưa thành Phật. Vì trong kinh 48 lời nguyện , A DI Đà vẫn còn câu :GIẢ SỬ , mới giả sử chứ chưa thành Phật. Nếu các vị ấy chưa thành Phật thì thầy TH chưa thủ chánh giác tức là điều kiện giác ngộ để đạt đến thành Phật.

    Một sự ngông cuồng trắng trợn hơn là thầy dám nguyện đến người ở cõi trần thấp nhất là súc sanh , ma quỷ không thành Phật thì thầy cũng không lên ngôi vị chánh giác đâu , ai nghe danh , gặp thầy, nhất là quy y với thầy mà chưa thành Phật thì thầy cũng chưa chánh giác. Bao nhiêu ngàn người đã quy y với thầy có vị nào thành Phật rồi xin lên tiếng cho thế giới biết với , hay chỉ có bạn ann đã đạt dược thiên lý nhĩ , thiên lý nhãn sắp thành Phật đó chăng?:

    6. Nguyện rằng nếu có một vị trời, người, A-tu-la chưa thành Phật, tôi thề không thủ Chánh giác.

    7. Nguyện rằng trong thế giới loài súc sinh, nếu còn một loài nào chưa thành Phật, tôi thề không thủ Chánh giác.

    8. Nguyện rằng trong thế giới loài ngạ quỷ, nếu còn một kẻ chưa thành Phật, tôi thề không thủ Chánh giác.

    9. Nguyện rằng trong thế giới loài địa ngục, nếu còn một kẻ chưa thành Phật, tôi thề không thủ Chánh giác.

    10. Nguyện rằng trong tam giới, nếu những kẻ từng Quy y với tôi, hoặc là Trời, Người, A tu la, các loài bay, lặn, động vật, thực vật, linh giới, rồng súc sinh, quỷ thần mà chưa thành Phật, tôi thề không thủ Chánh giác.

    Thầy được hưởng phước lạc gì , sao mọi người không thấy? Thầy nguyện chịu hết tất cả khổ nạn vì sao trên thế giới vẫn có vô số người chết chóc , khổ nạn , tù tội. Ngay quê hương Hán tộc của thầy bị động đất , Trung Cọng giết , bỏ tù hàng triệu người sao thầy không nguyện và lo trước đi? Thầy chỉ giỏi qua VN , qua Úc đánh lừa giới phụ nữ làm chi mà bạn annsie phải :

    "bản thân tôi khi đọc đế điều nguyện thứ 12 của Ngài : " Nguyện rằng một mình tôi nhận chịu hết tất cả khổ nạn của chúng sinh trong pháp giới " thì tôi ứa nước mắt khóc ròng."

    Có thì nói , không thì thôi chẳng ai bắt buộc. Hay thầy nói dối thì trò cũng thế thôi " Like Father like son " ( cha nào con nấy )

    Quý vị có tin những lời nguyện kiểu này nửa không?

    14. Nguyện rằng tất cả chúng sinh nào, khi thấy mặt tôi, cho đến chỉ nghe tên tôi, đều phát tâm Bồ-đề, mau đắc thành Phật đạo.

    15. Nguyện rằng luôn tôn kính điều Phật dạy, và thực hành mỗi ngày ăn một bữa.

    16. Nguyện giác ngộ loài hữu tình, phổ nhiếp thọ các loài có căn cơ.

    17. Nguyện trong đời này tôi sẽ đắc ngũ nhãn, lục thông, phi hành tự tại.

    18. Nguyện rằng tất cả mọi cầu nguyện đều được thành tựu viên mãn.



    Cho nên tu hành thì không được nói dối , trình độ tu đến Hòa Thượng là cả một chuổi ngày học Phật. Thầy nguyện 15. Nguyện rằng luôn tôn kính điều Phật dạy mà thầy đã làm trọn được điều nào chưa? Hay thầy tiếp tục theo Đại Thừa chủ nghĩa nhằm phục vụ bành trướng Hán tộc để đi xâm lăng các nước mà trong đó có Dân tộc Việt Nam chúng tôi. Các bạn là người Việt dù là Phật tử hay ngoại đạo phải luôn luôn đề cao cảnh giác âm mưu xâm lược của Hán tộc mà ngày nay Tàu Cọng đang nhận nhiệm vụ thi hành nô lệ thế giới. Tôi không chống người Trung Hoa , nhưng tôi chống đến cùng những băng đảng chính trị người Hán muốn tiêu diệt các nước khác dưới hình thức chính trị , quân sự , văn hóa và tôn giáo. Các bạn là người Việt còn một chút lương tâm vì giống nòi thì mau mau thức tỉnh và đề cao cảnh giác bọn Hán tộc phương Bắc và nhất là bạn ann đừng bị lừa dối để tuyên truyền cho chúng mà mang tội PHẢN QUỐC.


    PS: Ngày mai tôi phải đi Tokio công tác một tuần , mong sớm gặp lại các bạn
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  6. #66
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Mục đích chung của Đức Phật Thích Ca dạy cho chúng sanh tu Phật là cầu giác ngộ giải thoát, nhưng đối với người theo Phật giáo Ðại Thừa thì mục đích chính là phải cầu thành Phật , thành Bồ Tát càng nhiều càng tốt , nhưng chỉ có Phật Tàu phù chứ không thấy Phật A Na Mít nào cả .

    A La Hán cũng giác ngộ giải thoát, Bích Chi Phật cũng giác ngộ giải thoát, chư Tổ Thiền cũng giác ngộ giải thoát, nhưng các Ngài vẫn chưa phải là Phật. vì kinh 48 lời Nguyện chữ câu đầu nào cũng " Giả sử "......... thì A Di Đà này mới thành Phật. Có đời nào con người hết khổ đau , hết sống trong địa ngục đâu. Vì còn khổ đau nên đến giờ này A Di Đà vẫn chưa thành Phật. Kinh 18 lời nguyện của Phật tương lai mang họ "Thích " Tuyên Hóa cũng y chang.Nhưng tại sao lại phải cầu thành Phật chứ? Ðược giác ngộ giải thoát chưa đủ sao mấy Tàu phù Hán tộc chuyên đi lấn đất , lấn biển , cướp của giết người còn tham lam thế . Chỉ có mấy người phụ nữ như ann , 8 tửng mới theo làm đồ đệ để được làm nghề quảng cáo , dụ hội viên DV sang web khác .

    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  7. #67
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.



    Thời gian qua tôi đã viết và lý luận , phê bình những loạt bài về các tông phái như Đại Thừa , Mật tông , cũng như những hiện tượng Osho , Liên Hoa , Thanh Hải........đang hoạt động nhưng chỉ tạm thời làm mờ đi chân lý của Thích Ca. Những thế lực cạnh tranh của các tôn giáo khác đang tìm cách tiêu diệt Phật giáo Thích Ca nhưng không bao giờ được. Tại Ấn Độ , quê hương của Ngài Phật giáo gần như bị triệt tiêu do thế lực của Bà La Môn giáo gây khó khăn hàng thế kỷ nay . Vì con đường chân lý của Ngài là giải thoát khổ đau , tự do - bình đẳng hoàn toàn đi ngược lại của Bà La Môn là thống trị , nô lệ và chia rẽ giai cấp.

    Tôi bắt đầu đi sâu vào triết lý , khoa học thực nghiệm , đời sống tâm linh có giá trị thực tiễn của Ngài Thích Ca ...... nghĩa là tất cả những gì Đức Bổn Sư bỏ công truyền giảng suốt 49 năm sẽ được tôi sưu tầm , giảng giải nhằm góp phần phục vụ độc giả.
    Cầu mong công đức này xin hồi hướng Như Lai chỉ là một hạt bụi nhỏ nhoi giữa chốn hồng trần đầy ô trọc .

    Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
    ChanhPhap84
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  8. #68
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    GIÁC NGỘ

    Nhân loại và thế giới không những tôn kính Đức Phật Thích Ca mà còn cho rằng :" Đạo Phật là đạo giác ngộ ".

    Giác ngộ 覺悟 [juéwù]: nghĩa là tỉnh thức, hiểu biết.

    Trong sơ đẳng Phật học giáo khoa thư có ghi :

    佛者,佛陀之省稱。是覺悟自心,救 度衆生,達到圓满者之德號。如中国 尊稱孔子為聖人一樣,有歷史,有事 。而其智蕙能力尤大,所以尊稱為佛 。

    佛之智慧,是專為破除貪,瞋遲,慢 煩腦。佛之能力,確能使一切衆生, 一切苦,得究竟樂,故吾人當立志學 佛。

    (Phật giả, phật đà chi tỉnh xưng. Thị giác ngộ tự tâm, cứu độ chúng sinh, đạt đáo viên mãn giả chi đức hiệu. Như trung quốc chi tôn xưng khổng tử vi thánh nhân nhất dạng, hữu lịch sử, hữu sự thực. Nhi kì trí huệ năng lực vưu đại, sở dĩ tôn xưng vi phật.
    Phật chi trí tuệ, thị chuyên vi phá trừ tham,sân si, mạn đẳng phiền não. Phật chi năng lực, xác năng sử nhất thiết chúng sinh, li nhất thiết khổ, đắc cứu cánh lạc, cố ngô nhân đương lập chí học phật .)


    Tại sao chúng ta chưa được Giác ngộ? Vì do Phiền não 煩腦: buồn phiền, phiền não (đặc tính của tâm thức sinh ra các pháp bất thiện, làm con người bị vướng mãi trong luân hồi). Mọi sự phiền não bắt nguồn từ Tham, sân, si, mạn 貪,瞋,遲,慢: tham lam, giận giữ, si mê, và kiêu ngạo. Đây là đặc tính cố hữu của chúng sanh. Những nguyên nhân này là động lực đưa đến tội lỗi và phiền não. Tâm lúc nào cũng động thì đưa đến khổ đau không khác gì đó là địa ngục trần gian. Vì sao Đức Phật đặt trí huệ lên hàng đầu? Vì Trí huệ của Phật mục đích là phá trừ bao nhiêu phiền não: tham, sân, si, và ngã mạn v.v…
    Năng lực của Phật quyết làmcho tất cả mọi loài, xa lìa tất cả khổ đau , hoàn toàn an hưởng những sự vui, vì lẽ ấy chúng ta cần phải lập chí học Phật bằng trí tuệ chứ không hoàn toàn nương tựa vào cứu rỗi , van xin.

    Hai yếu tố quan trọng của Ðạo Giác Ngộ. Đó là sự tập trung tâm ý hoàn toàn và lòng từ bi. Lòng từ bi không giới hạng ở quốc gia , xã hội hay tôn giáo nào , từ bi ở khắp mọi nơi và ở trong mỗi chúng ta. Điều mà Đức Đạt Lai Lạt Ma trong cuốn “The Compassionate Life”. có đoạn :

    "Tôi tin rằng trên mọi bình diện của xã hội - gia đình, quốc gia và quốc tế - bí quyết để giúp cho thế giới nhân loại có được hạnh phúc và an lạc hơn là nên phát triển tâm từ bi. Chúng ta không cần trở thành một người có tôn giáo, và đặc biệt phải tin theo bất cứ một chủ nghĩa hay ý thức hệ nào. Điều quan trọng là mỗi chúng ta nên tu tập nhằm phát triển những thiện tánh nơi các bạn. Tôi nghĩ rằng sự vun bồi hạnh phúc cá nhân có thể góp phần tích cực vào việc cải thiện đời sống toàn thể cộng đồng nhân loại.

    Tất cả chúng ta đều chia xẻ sự cần thiết đến tình thương và trên căn bản chung này, các bạn có thể nghĩ rằng những người mà chúng ta gặp trong bất cứ hoàn cảnh nào đều là anh chị em thân thương của quý vị. Dù cho khuôn mặt của họ là mới hay cũ, quần áo hay tính tình của người đó khác nhau như thế nào, vẫn không có sự phân chia ngăn cảch giữa chúng ta và những kẻ khác. Thật là sai lầm khi các bạn chú tâm đến sự khác biệt nhau ở bề ngoài, vì bản chất căn bản của chúng ta đều giống nhau.

    Để vượt qua nhận thức về sự sai khác giả tạo đó, chúng ta hãy nhìn vào tình trạng toàn cầu của chúng ta. Cuối cùng rõ ràng nhân loại chỉ là một và hành tinh bé nhỏ này là ngôi nhà duy nhấ của chúng ta. Nếu các bạn muốn bảo vệ nó, mỗi chúng ta cần thực hành lòng vị tha và từ bi phổ quát toàn cầu. Chỉ bằng cách đó, chúng ta mới có thể diệt trừ được tánh vị kỷ khiến con người hay lường gạt và lợi dụng lẫn nhau. Nếu các bạn có một tấm lòng thành thực và rộng mở, tự nhiên tâm quý vị cảm thấy bình an và không sợ ai làm hại đến mình.

    Một bầu không khí hiểu biết, thân thiện và hợp tác trên toàn thế giới thực sự khẩn cấp cần thiết vào lúc này. Trong thời hiện đại, các dịch vụ liên quan đến thương mại và kinh tế không còn giới hạn trong phạm vi gia đình hay ngăn cách bởi hàng rào quốc gia nữa, mà chúng liên hệ đến nhiều nước khác và ngay cả các châu lục. Kinh tế của mỗi quốc gia này tùy thuộc rất nhiều đến quốc gia khác. Muốn phát triển kinh tế xứ sở mình, chúng ta cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình kinh tế của những nước bạn láng giềng. Thực vậy, sự cải thiện nền kinh tế của những nước trên thế giới gây ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của chính quốc gia các bạn.

    Theo quan điểm này trong thế giới hiện đại, quý vị cần đến một cuộc cách mạng tổng quát về tư tưởng và những tập quán của chúng ta. Mỗi ngày chúng ta càng nhận thấy rõ ràng hơn là một hệ thống kinh tế tốt đẹp cần được xây dựng trên nền tảng chân chính của trách nhiệm phổ quát toàn cầu. Nói tắt, điều chúng ta mong ước là cố gắng thực hiện tình anh chị em phổ cập trên toàn thế giới. Đây không chỉ là lý tưởng thánh thiện, đạo đức hay tôn giáo mà là thực tế đời sống của con người hiện đại....."

    Thật là cao quý và vỹ đại thay hai chữ TỪ BI.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  9. #69
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Khi nói đến Phật giáo , dù người khác đạo , thù ghét như Kito giáo họ cũng đồng ý :Từ bi - Hỹ xã - Hòa bình nhất Thế giới. Trong đó hình ảnh lưu vong hải ngoại là hai vị tu sĩ Phật giáo trí thức , đạo hạnh được Âu Mỹ kính trọng đó là : HT Thích Nhất Hạnh làng Mai và Đức Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng.

    Khi đề ra phương hướng tiến hành bình chọn cho các thành viên trong hội đồng bình chọn, Tổ Chức Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo Và Tâm Linh (ICARUS) đã nghiên cứu 38 tôn giáo khác nhau trên toàn cầu, đưa ra tiêu chuẩn, sự cống hiến của một tôn giáo, triết học, và vai trò tôn giáo trong lãnh vực điều hành và phúc lợi. Trưởng ban nghiên cứu của Tổ Chức Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo Và Tâm Linh (ICARUS), ông Jonna Hult nhận xét:

    - “Quả thật không ngạc nhiên với tôi khi Phật giáo là đại biểu xứng đáng danh hiệu Tôn Giáo Tuyệt Vời Nhất Toàn Cầu (Best Religion in the World), bởi vì chúng tôi đã tìm thấy Phật giáo truyền bá không bao giờ có sự can thiệp của vũ lực, ngược lại những tôn giáo khác dường như đi qua xa với tinh thần bất bạo động. Chúng tôi thật sự có một ấn tượng sâu sắc khi nhận ra được trong lịch sử Phật giáo chưa bao giờ dùng vũ lực bạo động. Người Phật tử thực hành những gì mà họ nói, cái mà chúng tôi không thể chứng minh được ở những truyền thống tâm linh khác.”

    Ít nhất một trong số thành viên theo đạo Công giáo đại diện để nói về quan điểm này đối với Phật giáo. Cha Ted O'Shaughnessy nói từ Belfast:

    - “Tôi theo giáo hội Thiên Chúa giáo, nhưng cứ làm tôi khó xử đó là chúng tôi đã thực sự nói về tình thương trong kinh thánh hay chưa, rồi cho đó là ý Chúa khi đến giết người khác. Với lí do này, tôi đã bình chọn Phật giáo bằng lương tri của mình.”

    Giáo sĩ Tal Bin Wassad của Hồi giáo ở Pakistan đã đồng ý và nói, được thông ngôn dịch rằng:

    - “Tôi theo Hồi giáo, tôi có thể biết được sự truyền giáo có mặt của sự giận dữ và đổ máu thành sông nhiều hơn là tình thương. Phật giáo ngăn ngừa được điều đó.”

    Bin Wassad, một thành viên bình chọn trong hội đồng ICARUS thuộc cộng đồng Hồi giáo ở Pakistan nói thêm:

    - “Thực sự, tôi có rất nhiều người bạn theo Phật giáo.”

    Và Rabbi Shmuel Wasserstein đến từ Jerusalem đã phát biểu:

    -“Dĩ nhiên, tôi yêu đạo Do Thái, và tôi nghĩ Phật giáo là một tôn giáo vĩ đại nhất thế giới. Nói với danh dự, tôi đang tu tập theo phương pháp Thiền Minh Sát của Phật giáo hằng ngày trước khi làm lễ cầu nguyện minyan (lễ cầu nguyện hằng ngày của đạo Do Thái) từ năm 1993. Vì thế tôi đồng ý với quý vị như thế.”

    Groehlichen đã tuyên bố rằng kế hoạch bình chọn giải thưởng cho Phật giáo là tôn giáo vĩ đại nhất thế giới đã công bố và thông báo cho các nhà lãnh đạo và cộng đồng Phật giáo. Tuy nhiên vẫn con một trở ngại, ông nói:

    - “Trên cơ bản, chúng tôi chưa tìm ra vị lãnh tụ Phật giáo nào để trao giải thưởng.”


    Groehlichen hứa sẽ sớm công bố sớm vào thứ ba tới.

    -“Tất cả tín đồ đạo Phật đều nói rằng họ không xứng đáng để nhận lấy phần thưởng,”


    Groehlichen giải thích với một tính cách ngay thẳng, ông tiếp: “Lập trường của Phật giáo, họ luôn cho rằng tôn giáo mà họ theo là một giáo lí thực nghiệm chứ không phải một tôn giáo. Nhưng chân lí vẫn bất di bất dịch, với sự thật này chúng tôi công nhận triết học và sự cống hiến của họ là tuyệt vời nhất thế giới và trọng yếu nhất trong sự thách thức và đối mặt với những kỉ nguyên về sau của mỗi cá nhân và con người trên hành tinh của chúng ta.”
    [/i]
    Khi được hỏi lý do tại sao các cộng đồng Phật giáo Miến Điện từ chối giải thưởng, Sư Bhante Ghurata Hanta cho biết:

    - “Chúng tôi rất biết ơn đối với sự công nhận của quý vị, nhưng chúng tôi nhường giải thưởng này cho tất cả nhân loại, cho Phật tánh nằm trong mỗi người chúng ta.”


    Groehlichen trân trọng nói thêm:

    - “Chúng tôi sẽ tiếp tục thỉnh cầu cho đến khi chúng tôi tìm thấy một vị trong cộng đồng Phật giáo tiếp nhận giải thưởng. Chúng tôi sẽ cho các bạn biết khi nào chúng tôi hoàn thành.”


    Linda Moulin/ Thiện Hữu dịch
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  10. #70
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    ĐẠO PHẬT : TỰ DO và DÂN CHỦ

    Khi nói đến đạo Phật là con người nghĩ ngay đến sự TỰ DO & DÂN CHỦ. Nếu đạt đến hai yếu tố này tức là đang có HÒA BÌNH thật sự. Giáo lý của Ngài nhiều hơn lá rừng nhưng đố ai tìm được dù một chữ , một câu chứ đừng nói cả bài kinh mà trong đó chứa đựng hận thù và giết chóc.

    Ông LLoyd M. Graham trong cuốn "Deceptions and Myths of the Bible" có đoạn viết :

    " Một nhân vật lịch sử với một tiểu sử rõ ràng đã sinh ra đời để mở đường cho chúng sinh thấy, giác ngộ và hội nhập cái biết và cái thấy của Đức Phật là :Khai, Thị, Ngộ, Nhập Phật tri kiến . Nhân vật lịch sử này chính là Thái Tử Tất Đạt Đa, con vua Tịnh Phạn ở miền Nam Népal ngày nay.

    Ngài đã quan niệm một cách khoa học và đầy lòng nhân đạo :"nước mắt cùng mặn, máu cùng đỏ thì khổ đau nào cũng giống nhau." Cho chúng ta thấy được sự sâu sắc về tình thương yêu nhân loại không những cùng chủng tộc mà kể đến cả muôn loài. Ngài hơn hẳn và vượt xa bất cứ một Thần Linh , Giáo chủ nào trên thế gian này và không bao giờ Ngài trừng phạt hay hờn giận , oán trách một ai.

    Đức Phật chỉ là một con người , nhưng con người có nhiều ĐẶC BIỆT.

    -Đặc biệt và cao cả vì Đức Phật là vị Giáo Chủ tôn giáo duy nhất trên thế gian đưa ra một khẳng định tuyệt đối bình đẳng: "Ta là Phật đã thành, các người là Phật sẽ thành". Nghĩa là về bản chất, Giáo Chủ và tín đồ không có gì khác nhau.

    -Đặc biệt và cao cả vì Đức Phật đã không hề bắt buộc bất cứ ai phải tin vào Phật hay những điều giảng dạy của Phật một cách mù quáng, không cần biết, không cần hiểu " Không thấy mà tin ".

    - Đặc biệt hơn cả là Đức Phật đã thấy rõ sự vận hành của vạn Pháp (Như Thực tri Kiến: to see things as they really are) và đã để lại cho hậu thế một giáo lý không có giáo lý nào hơn, không có giáo lý nào bằng.

    Đó là một thực tế mà Đức Phật không cần ai rao truyền , đánh bóng. Ngài đã được thế giới văn minh và khoa học nghiêng mình bái phục một cách thành kính. Vì những điều Ngài giảng về Vi trùng , tạo thành vũ trụ , thiên hà ....... bằng trí tuệ và nhãn quang mà do sự giác ngộ đưa đến cách đây hơn 2550 năm , trong khi khoa học đang còn dò dẩm trong bóng tối. Giai đoạn này không thiếu những kẻ vô minh , thủ đoạn mê hoặc bằng cách tạo ra những vị thần đầy quyền uy , phép tắc vô cùng nhằm giải quyết sự thắc mắc của con người trước bí ẩn của thiên nhiên. Đức Phật đã khai sáng bằng trí tuệ và giải thích các hiện tượng một cách thực tiễn hơn cả khoa học.

    Các giới Phật tử sơ đẳng như chúng ta , hoặc các thầy trong Đại Thừa - Tịnh Độ chỉ biết đến vài bài kinh , giáo lý căn bản của Phật Giáo xuyên qua các triết lý về :"Tam Độc (Tham, Sân, Si), Tam Pháp Ấn (Vô Thường, Khổ, Vô Ngã), Tứ Diệu Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo), Tứ Niệm Xứ (Quán Thân, Thụ, Tâm, Pháp), Bát Chánh Đạo (Chánh Kiến, Tư Duy, Ngữ, Nghiệp, Mệnh, Tinh Tấn, Niệm, Định) , cầu an , cầu siêu , địa tạng … Nếu ai muốn thành tâm nghiên cứu , tìm hiểu về Phật Giáo thì chúng ta sẽ khám phá ra rằng, tư tưởng Phật Giáo và "tri kiến" của Đức Phật đã đi trước sự tiến hóa tư tưởng , sự hiểu biết của nhân loại khá lâu. Tuy rằng với một tinh thần khoa học, Phật Giáo sẵn sàng chấp nhận những sai lầm (nếu có ) nhưng cho tới ngày nay, Phật Giáo chưa bao giờ phải xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những tiến bộ về tư tưởng cũng như những khám phá mới của các ngành khoa học như các tôn giáo khác.

    Điều quan trọng nhất khi muốn nhận định Ngài ( Ngài Okay như thế ) về mặt khoa học thì phải nắm điều căn bản , chủ chốt : "Đức Phật không phải là một khoa học gia, Ngài không theo các phương pháp khoa học như thu thập dữ kiện, đặt giả thuyết hay lý thuyết, rồi dựa vào những dụng cụ trong phòng thí nghiệm để kiểm nghiệm và thực chứng lý thuyết đó. Tất cả những hiểu biết của Ngài là từ Thiền quán."

    Sơ lược vài tri thức khoa học mà Ngài đã dạy :

    1-Đức Phật thường khuyên các đệ tử trước khi uống nước hãy niệm chú để phổ độ cho các vi chúng sinh có trong nước. Mải đến hơn 22 thế kỷ sau, vào cuối thế kỷ 17, các khoa học gia đã phát minh ra cái kính hiển vi đầu tiên và nhờ đó đã có thể nhìn thấy trong một giọt nước có một số lớn các vi sinh vật.

    2-Khi nói về quan điểm vũ trụ Đức Phật dạy trong Kinh Hoa Nghiêm : có vô số những thế giới có hình dạng khác nhau với vô số chúng sinh khác nhau. Hơn 21 thế kỷ sau, vào cuối thế kỷ 16, Giordano Bruno cũng đưa ra quan niệm về một vũ trụ bao la vô cùng tận trong đó, ngoài thế giới của chúng ta, có thể còn có vô số các thế giới khác nhau với vô số dạng sống (life-forms) khác nhau.

    3-Thuyết Duyên Sinh hay Duyên Khởi là thuyết căn bản nhất trong Phật Giáo " Có Duyên thì tụ , không Duyên thì tán " .
    Giữa thế kỷ 19, Charles Darwin đưa ra thuyết Tiến Hóa, ngày nay, càng ngày chúng ta càng thấy thuyết này rất phù hợp với thuyết Duyên Sinh. Vạn Pháp trong vũ trụ đều do đủ duyên mà thành, hết duyên thì diệt, và đây cũng là căn bản của thuyết Tiến Hóa, từ sự xuất hiện của các cây cỏ cho đến con người. Giáo sư Trịnh Xuân Thuận viết trong cuốn “L'Infini Dans La Paume de la Main”:
    "Tiến hóa từ những cát bụi của những ngôi sao, chúng ta chia sẻ cùng một lịch sử vũ trụ với những con sư tử trong những vùng hoang mạc và những bông hoa tỏa mùi thơm"
    (Poussières d'étoiles, nous partageons la même histoire cosmique avec les lions des savanes et les fleurs de lavande).

    4-Thuyết Vô Thường của Phật Giáo là một hệ luận của thuyết Duyên Sinh.

    5-Thuyết Tương Duyên, Tương Tức, Dung Thông Vô Ngại, Một là Tất Cả v..v.. của Phật giáo trong Kinh Hoa Nghiêm. Khoa học ngày nay, nhất là khoa Vật Lý Nguyên Lượng (Quantum Physics), nghĩa là môn vật lý khảo sát thế giới của các hạt "Tiềm Nguyên Tử" (Subatomic particles) cũng đã chứng minh rằng mọi vật đều liên hệ tới nhau, không có cái gì có thể có tự tính, nghĩa là độc lập, không tùy thuộc bất cứ cái gì khác. Đây cũng là căn bản thuyết Vô Ngã của nhà Phật.

    6-Phật Giáo là một tôn giáo trị liệu, nghĩa là một tôn giáo chữa những căn bệnh gốc của thế gian , tuỳ bệnh mà cho thuốc. Thiền định là một phương pháp trị liệu tâm thần hữu hiệu mà ngày nay nhiều người Ki Tô Giáo, Do Thái Giáo v..v.. áp dụng.

    Đức Phật quan niệm trí tuệ mới là giải thoát cho con người , chứ không cầu xin , van nài bất cứ một vị Thần , Thánh , Phật nào đầy đủ quyền uy có thể giải thoát cho chúng ta được.

    * Tôi xin lưu ý : chỉ có Phật của Đại Thừa là dạy cầu nguyện sẽ được cứu rỗi như Kito giáo. Đừng nhầm đó là Phật giáo chính gốc của Thích Ca.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  11. #71
    Join Date
    Jan 2002
    Location
    usa
    Posts
    1,851
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Quote Originally Posted by ChanhPhap84 View Post
    Khi nói đến Phật giáo , dù người khác đạo , thù ghét như Kito giáo họ cũng đồng ý :Từ bi - Hỹ xã - Hòa bình nhất Thế giới. Trong đó hình ảnh lưu vong hải ngoại là hai vị tu sĩ Phật giáo trí thức , đạo hạnh được Âu Mỹ kính trọng đó là : HT Thích Nhất Hạnh làng Mai và Đức Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng.


    Linda Moulin/ Thiện Hữu dịch
    Tui thấy hong làm cách nào mà có thể so sánh TNH với Đức Đạt Lai Lạt Ma được ! Đức Lạt Ma thì có đủ 3 yếu tố Từ Bi-Hỷ xã-Hòa bình còn cái ông TNH thì có dư 3 điễm Tham vọng-Sân hận- Lộng ngôn.

  12. #72
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Tại bạn quá tự ty mặc cảm và hay chuộng hàng ngoại mà chê hàng nội đấy thôi. Ngài Đạt Lai Lạt Ma từng ca tụng tinh thần hòa bình và yêu dân tộc của Ngài Nhất Hạnh là hiếm có ở thế gian này.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  13. #73
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Ngoại đạo làm sao hiểu được sự im lặng thâm sâu của Phật giáo. Giáo lý nhà Phật lấy chữ TỊNH làm đầu , muốn tu hành đắc đạo , muốn giáo hoá chúng sanh thì trước nhất tâm phải THANH TỊNH. Ngoại đạo làm sao hiểu nổi mà thắc mắc Ngài Nhất Hạnh im lặng. Khi Ngài lên tiếng thì cả một chế độ gia đình trị nhà Ngô cũng sụp đổ. Khi Ngài lên tiếng thì CS phải run sợ. Khi Ngài lên tiếng thì Thế giới nghiêng mình lắng nghe và kính phục. Im lặng là thế đấy.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  14. #74
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    KHI THẦY LÊN TIẾNG.

    Thấm nhuần đạo lý thanh tịnh của Đức Phật Thích Ca , Ngài Thích Nhất Hạnh vẫn tịnh tâm cầu nguyện khi 400 đệ tử của Ngài đang bị bàn tay ma quỷ chà đạp , xua đuổi. Nhiều người lên tiếng và quan tâm : vì thương cũng có , vì bất mãn cũng có , vì muốn " xút gió bụi tre " cũng có....... họ mong đợi , họ dùng lời khích bác , mạ lỵ đổi tên , đổi họ của Ngài nhằm xúi dục thầy ra tay đối đầu với CSVN để chúng vỗ tay reo cười và thầm cầu mong cho VC tàn sát , vùi dập Làng Mai giống như Khâm sứ , Thái Hà ,Tam Tòa. Nhưng điều đó không sớm xảy ra như lòng họ mong muốn. Ngài đã im lặng suốt thời gian dài , một sự im lặng đáng sợ làm BCT /VC phải đắn đo suy nghĩ trước thái độ của thầy. Marx thường nói :" Không sợ kẻ nói nhiều mà chỉ sợ người im lăng ". Vì nói nhiều , tuyên bố lố lăng như Tổng Kiệt thì VC đánh giá đó chỉ là một cái thùng rổng kêu to , trong khi Ngài Nhất Hạnh im lặng làm cho BCT của VC không hiểu được thái độ của Ngài. Hôm nay Ngài chỉ gởi một lá thư trên mạng Phù Sa nhưng tiếng vang và sóng vỗ đã tràng bờ.

    Ngài Nhất Hạnh đã gửi thư cho tăng thân Bát Nhã, ca ngợi các tu sinh đang tạm trú ở Chùa Phước Huệ, Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng đã “trở nên huyền thoại, đã trở thành thân kim cương, không ai có thể tiêu hủy được nữa...Bát Nhã đã đi vào lịch sử...”

    Lá thư của Thiền Sư đề ngày 7-10-2009, nhan đề “Thân Kim Cương - Lá thư Sư Ông viết cho đệ tử” đăng trên nhiều mạng điện tử, và cũng được gửi email trực tiếp tới nhiều nhà hoạt động Phật Giáo qua đệ tử Làng Mai.
    Trong khi đó, một phái đoàn lãnh sự quán Hoa Kỳ trong hai ngày 9 và 19 tháng 10-2009 đã tới tìm hiểu tình hình, lắng nghe từ chính quyền tỉnh Lâm Đồng, Ban Trị Sự Tỉnh Hội GHPGVN Lâm Đồng, và tới tận Chùa Phước Huệ nghe các tu sinh Bát Nhã kể chuyện họ bị bạo lực côn đồ xua đuổi...

    Tiếng nói của Ngài có hiệu lực thế sao? Những ai muốn nghe bây giờ hảy lắng nghe , những ai muốn biết bây giờ đã biết , đừng nôn nóng , đừng bạo động , hận thù bằng xà ben như ngoại đạo.

    Các thông tin từ Đài Quôc Tế Pháp RFI và mạng Phù Sa đã cho biết tình hình, tóm lược như sau :

    “Đúng theo chương trình, ngày 09/10/2009, phái đoàn ngoại giao Mỹ do phó tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã có buổi tiếp xúc với chính quyền địa phương tỉnh Lâm Đồng, với ban trị sự Phật giáo tỉnh, với các vị Hòa Thượng Toàn Đức và Thượng Tọa Viên Thanh.
    Một chi tiết được mạng thông tin Phusa.info ghi nhận là Đại Đức Thanh Quang, phó ban Đại diện Phật giáo huyện Đức Trọng, một trong hàng trăm tu sĩ trẻ ở Lâm Đồng ký tên trong bản Huyết thư, bị ngăn cản không được tiếp xúc với đại diện ngoại giao Hoa Kỳ.
    Sáng hôm qua, 10/10/2009, phái đoàn Mỹ đã đến đến tận chùa Phước Huệ tiếp xúc và tìm hiểu những gì đã và đang xảy ra cho 400 tăng ni Bát Nhã hiện tạm trú tại đây.
    Lần đầu tiên, một đại diện ngoại giao nước ngoài được chính các nhân chứng kể lại những sự kiện bạo lực và sức ép sách nhiễu. Phó tổng lãnh sự Mỹ rất ngạc nhiên khi biết ba tu sĩ lãnh đạo Pháp Hội, Pháp Sĩ và Pháp Tụ bị chính quyền bắt dẫn đi không biết giam giữ nơi đâu. Vị đại diện ngoại giao Mỹ lắng nghe và hứa tìm cách giúp đỡ.”
    Trang Phù Sa trong bài tường thuật đặc biệt đã ghi nhận:
    “...Đoàn do ngài Phó Tổng Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn làm trưởng đoàn, ông Nguyễn Văn Bảo trưởng phòng Ngoại Vụ đại diện cho ủy Ban Nhân Dân tỉnh Lâm Đồng tháp tùng đoàn và bà Nguyễn Thị Nhã Trang - nhân viên Lãnh Sự Quán làm phiên dịch.
    Tại ủy Ban Nhân Dân tỉnh Lâm Đồng đoàn đã nghe chính quyền địa phương báo cáo lại vụ việc xảy ra tại Tu Viện Bát Nhã và chùa Phước Huệ Bảo Lộc là do hai nhóm phật tử của Tu Viện Bát Nhã và phật tử Làng Mai tranh chấp chùa chiền xảy ra bạo động, địa phương đã can ngăn và bảo vệ tài sản tính mạng cho các Tu Sỹ Phật Giáo tu theo pháp môn Làng Mai – chính quyền khẳng định không có chuyện Công An tiếp tay đàn áp đánh đập ai cả. (sic).
    Tại văn phòng Ban Trị Sự Phật giáo tỉnh Lâm Đồng, HT Thích Pháp Chiếu - Trưởng Ban Trị Sự, HT Thích Toàn Đức - Phó ban thường trực và TT Thích Viên Thanh - Phó ban kiêm trưởng ban hoằng pháp tỉnh đã tiếp đoàn. Riêng ĐĐ Thích Thanh Quang, phó Ban Đại Diện Phật Giáo huyện Đức Trọng, là một trong hàng trăm người đã ký tên qua Bản Huyết Thư của Tăng Ni Trẻ Lâm Đồng trước sự việc xảy ra tại Bát Nhã ngày 27/9 vừa qua. Đại đức tuy có mặt nhưng không được vào dự,… bên ngoài lúc này còn có rất nhiều cán bộ của Ban Tôn Giáo và Công An Lâm Đồng canh chừng Tăng Ni Phật Tử đang theo dõi sự kiện…
    ...Sáng hôm 10/10, phái đoàn đã đến chùa Phước Huệ gặp gỡ và lắng nghe ĐĐ Thích Chân Pháp Cầu, Thích Chân Pháp Thánh, sư cô Thích Nữ Hồi Nghiêm thay mặt gần 400 tu sỹ Phật giáo là người Việt Nam tu theo pháp môn Làng Mai trình bày tất cả các sự việc đã xảy ra đối với họ từ tháng 6 năm 2009 đến nay tại Tu Viện Bát Nhã và chùa Phước Huệ… như việc họ luôn bị số đông người lạ mặt xông vào Tu Viện chửi bới, hành hung, đập phá đe dọa cả ngày lẫn đêm và nhất là sự việc xảy ra vào ngày 27/9 vừa qua… Số người lạ mặt này đã xông vào Tu Viện tấn công, đập phá các phòng ốc của quí thầy cô, khiêng đồ đạt kinh sách của họ quăng ra ngoài sân, cưỡng bức đánh đập các thầy quăng lên xe chở ra khỏi tu viện trong tiết trời mưa bão hãi hùng khinh khiếp… đặc biệt thầy Pháp Hội, Pháp Tụ bị mất tích kể từ đó, thầy Pháp Sỹ bị cưỡng chế về địa phương quản thúc… Sự việc khi quí thầy cô khi ra tỵ nạn tại chùa Phước Huệ gặp rất nhiều khó khăn… Nguyện vọng được thiết tha tu học dưới sự dìu dắt của Chư Tôn Thiền Đức trong Giáo Hội cũng như sự bảo bọc giúp đỡ của các cấp chính quyền và nhất là việc xin trở về Tăng Xá xóm Mây Đầu Núi tiếp tục tu học vì nơi đây là tấm lòng của ông Đa Vít người Mỹ đã bỏ ra trên 6 tỷ đồng để mua đất xây dựng cho quí cô tu hành… Tất cả đã được phái đoàn Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ quan tâm ghi nhận đầy đủ.
    Đoàn cũng đã vào thị sát tại hiện trường là Tu Viện Bát Nhã vào lúc 10 giờ cùng ngày… Tuy nhiên các chứng cứ như: Cửa kính bị đập vỡ đã được thay mới, kinh sách đồ đạt đã được thu dọn sạch sẽ ngay cả tượng đài Bông Hồng Mẹ Bồng Con bị đập phá nằm ngỗn ngang cũng đã được vội vã tu sửa lại như không có gì xảy ra… mặc dù thế phái đoàn cũng đã quan sát và phát hiện những dấu sơn, xi măng loan lỗ vết mới vừa tu sữa…”
    Đặc biệt, phóng viên Bạch Liên của mạng Phù Sa phân tích các chi tiết cho thấy rằng nhà nước đã khống chế HT Thích Pháp Chiếu... và đã buộc Hòa Thượng nóí trái nghịch với những gì Hòa Thượng từng nói trứơc giờ khi bênh vực nhóm 400 tu sinh Bát Nhã...
    Trong khi đó, trang báo Giác Ngộ đăng quan điểm chính thức của giaó hội nhà nước qua bài viết nhan đề “Nhận định của Trung ương GHPGVN về tình hình tại tu viện Bát Nhã & chùa Phước Huệ, thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng” hôm 10/10/2009, trích:
    “...Số Tăng Ni đang tu tập theo pháp môn Làng Mai tại tu viện Bát Nhã bây giờ đã tập họp về chùa Phuớc Huệ, thị xã Bảo Lộc, do TT.Thích Thái Thuận làm trụ trì. Trong thời gian chờ tìm nơi cư trú thích hợp của Tăng Ni theo từng địa phương, thì số Tăng Ni này vẫn tạm trú tại chùa Phước Huệ, duới sự bảo lãnh của trụ trì và tuân thủ các quy định pháp luật.
    Trong số Tăng Ni nói trên, phần lớn là có hộ khẩu tại các tỉnh miền Trung, mà hiện nay, cơn bão số 9 đang tàn phá các tỉnh này. Các cơ quan trung ương và địa phương, nhất là Giáo hội đang tập trung để lo cứu trợ, góp phần ổn định đời sống nhân dân, xây dựng lại những đổ nát do cơn bão gây ra. Do đó, vấn đề tìm ra địa chỉ, cũng như liên hệ Ban Trị sự và người thân của các Tăng Ni này để cùng bàn bạc giải quyết, là vấn đề khó khăn. Vì vậy, để sau khi ổn định tình hình sinh hoạt của các tỉnh miền Trung, Giáo hội sẽ tiếp tục thực hiện việc xác minh, liên hệ với Ban Trị sự và thân nhân của các Tăng Ni nêu trên.
    Trước sau như một, Giáo hội minh định TT.Thích Đức Nghi và đệ tử của TT.Đức Nghi phải chịu trách nhiệm về hành vi thô bạo, kém văn hóa đối với Ban Trị sự như trong phiên họp ngày 5-7-2009 đã khẳng định: Phải sám hối chư tôn đức Ban Trị sự.
    Việc xây dựng cơ sở, mua đất tại tu viện Bát Nhã là thuộc phạm vi nội bộ giữa Thượng tọa Thích Đức Nghi và Hòa thượng Thiền sư Nhất Hạnh, cho nên hai bên cùng bàn bạc giải quyết hợp tình hợp lý. Vì có liên quan đến cơ quan chủ quản là Ban Trị sự Phật giáo và chính quyền tỉnh Lâm Đồng, do đó trong quá trình giải quyết phải có sự tham gia của Ban Trị sự Phật giáo tỉnh và các cơ quan có trách nhiệm của chính quyền địa phương .
    Giáo hội nhất trí là không công nhận sự tu tập bất hợp pháp và cá nhân không hợp pháp, nhất là tại chùa Phước Huệ, Văn phòng Ban Đại diện Phật giáo thị xã Bảo Lộc. Vấn đề phân tán của các Tăng Ni trên cần phải có thời gian để liên hệ với Ban Trị sự, thân nhân của các Tăng Ni theo từng địa phương. Do đó, cần được lưu lại một thời gian nhất định, đến tháng 12-2009.

    Về phần các Tăng Ni có hộ khẩu tại Lâm Đồng, tạm trú hợp pháp tại Lâm Đồng được tiếp tục tu học theo pháp môn Làng Mai tại tự viện nào mà có sư trụ trì bảo lãnh. Nếu các Tăng Ni được bảo lãnh của trụ trì các tỉnh khác ngoài Lâm Đồng, thì Ban Trị sự, chính quyền nơi đến cần có sự giúp đỡ hợp pháp để các Tăng Ni trên được an tâm tu học theo pháp môn Làng Mai, nhưng phải tuân thủ theo các quy định của Giáo hội và luật pháp.
    Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Lâm Đồng cần triệu tập phiên họp bất thường để nhận định, đánh giá tình hình đối với sự kiện xảy ra ngày 27-9-2009 và báo cáo kết quả cụ thể bằng văn bản về Trung ương Giáo hội để cùng phối hợp giải quyết vấn đề.
    Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam có một số nhận định như trên trước tình hình bất ổn tại tu viện Bát Nhã và chùa Phước Huệ, thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.”
    Nội dung bản văn của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam có nghĩa là các Tăng Ni Bát Nhã phải giải tán, phải phân tán theo thời gian về các tự viện có sư trụ trì bảo lãnh... Nghĩa là, nhà nứơc không muốn 400 tăng ni Bát Nhã ở chung một máí chùa. Như thế, hẳn nhiên là trái nghịch với ý nguyện “muốn tu chung” của các tăng ni này.


    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  15. #75
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    400 hạt giống của Ngài Nhất Hạnh đã trở thành thân Kim Cương , đang đi vào lịch sử của nhân loại. VC đã biết và nghe nhiều về sức mạnh vô uý của thân kim cương Bồ Tát Quãng Đức , nhưng VC chưa từng đụng đến , chưa từng thử sức thế nào là Kim cương đã làm cho một chế độ gia đình trị nhà Ngô phải sụp đỗ tang tành. VC muốn thử và đang thử , bước đầu gậm nhấm nhưng VC bắt đầu thấy đắng cay và đáng sợ gấp trăm ngàn lần xà ben của tổng Kiệt.

    Ngài chưa hành động , Ngài chưa nêu đích danh " Thích Nhất Hạnh " mà mới ghi tên GS Nguyễn Lang bình thường ,Ngài mới chỉ dùng ngòi bút vỗ về , an ủi các đệ tử nhưng VC đã rúng động. Họ vội vàng cho tu sửa những cửa kính trước đây đã đập nát. Những tủ kinh Phật được sắp xếp gọn gàn như cũ , tượng đài Bông Hồng Mẹ Bồng Con bị đập phá nằm ngỗn ngang cũng đã được vội vã tu sửa lại như không có gì xảy ra , nhưng phái đoàn Mỹ đã phát hiện những mẫu cimen gắn lại còn mới. Tại sao VC phải hoảng sợ như vậy , tại sao VC phải vội xoá đi những tội ác của chúng? Phải chăng vì Ngài quá im lặng? Sau đây là bức thư của Ngài Nhất Hạnh gởi các đệ tử :

    “...Sở dĩ Thầy viết “các con Bát Nhã của Thầy” mà không viết “các con của thầy ở Bát Nhã” như kỳ trước, tại vì tuy các con không còn cư trú ở Bát Nhã nữa, nhưng các con vẫn còn mang danh xưng tăng thân Bát Nhã. Các con với Bát Nhã là một. Đi đâu các con cũng mang Bát Nhã đi theo, và Bát Nhã đã trở thành một thân kim cương bất hoại... (...)
    Bát Nhã đã trở nên huyền thoại, đã trở thành thân kim cương, không ai có thể tiêu hủy được nữa. Bát Nhã là một đóa sen ngát hương nở trên bùn lầy của vô minh, của sự sợ hãi, lo lắng, tham nhũng và lạm dụng quyền hành. Bát Nhã đã đi vào lịch sử. Và các con đã may mắn có cơ duyên góp phần làm phát hiện đóa sen Bát Nhã. Bát Nhã đã trở thành một phần của gia sản văn hóa đất nước.
    Các con Bát Nhã của thầy hiện giờ không phải chỉ đang tỵ nạn ở chùa Phước Huệ mà cũng đang có mặt ở nhiều nơi khác, trong nước và ngoài nước. Ở đâu các con cũng có đóa sen Bát Nhã trong lòng. Đó là chí nguyện tu tập và độ đời, đó là trái tim ban đầu, đó là tâm bồ đề. Đó là nguồn năng lượng giúp cho chúng ta còn là chúng ta, giúp cho chúng ta không bị tha hóa, mua chuộc, và bỏ cuộc...(...)
    ...Đóa sen Bát Nhã cũng là một con chim Phượng Hoàng khác thoát hình từ đống tro tàn của tham nhũng, lạm dụng quyền hành, u mê, sợ hãi và dối gạt. Nhờ những bùn đất ấy mà đóa sen đã nở. Các con của thầy, nhờ được trui luyện trong một hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, đã học hỏi được rất mau chóng, đã chuyển hóa được rất mau chóng, đã tiếp nhận được sự trao truyền một cách mau chóng, đã đứng vững được như một tăng thân có hùng lực và từ bi, đã chứng tỏ được rằng vô úy, từ bi, hùng lực và hành xử bất bạo động là những gì có thực chứ không phải là những điều chỉ có trên đầu môi chót lưỡi. Các con đã cứu chuộc (redempt) cho cả một cộng đồng Phật giáo trong nước cũng như ngoài nước.
    Các con đã tỏ ra không thù oán gì thầy Đức Nghi và các thầy Đồng. Các con đã tỏ ra không thù oán ngay những người đã tới đập phá Bát Nhã và trục xuất các con, trong đó có những chú công an. Các con đã thấy được kẻ thù ta không phải là con người mà là vô minh, hận thù, bạo động, tham nhũng, hèn nhát, và dối gạt đang cần được chuyển hóa trong ta và chung quanh ta. Một vị công an tại Dam’bri đã xin lỗi thầy Pháp Tụ khi thầy ấy điện thoại tới thăm hỏi và nói rằng sở dĩ ông ta đã hành xử như thế cũng là tại vì cấp trên ra lệnh. Các con cũng đã thấy được cái khổ của người công an...”


    (Toàn văn lá thư của Thiền Sư Nhất Hạnh hiện đăng ở PhuSa.info.)
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  16. #76
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Phái đoàn thiền sinh ngoại quốc đến Sứ Quán Việt Nam tại Paris bày tỏ mối quan ngại về vụ Bát Nhã

    Tú Anh
    đăng ngày 14/10/2009



    Phái đoàn thiền sinh đến Sứ Quán Việt Nam tại Paris


    Chiều hôm qua, một phái đoàn tăng ni người Pháp và Đức học trò của Thiền Sư Nhất Hạnh đã đến Sứ Quán Việt Nam tại Paris tặng những đóa hồng mà hàng trăm người đã nâng trên tay trong buổi thiền hành ủng hộ tăng ni Bát Nhã hôm chủ nhật
    Đại diện sứ quán Việt Nam và phái đoàn tăng ni do sư cô Giác Nghiêm, người Pháp, nguyên là thành viên của tổ chức Y Sĩ Không Biên Giới hướng dẫn, trao đổi khoảng một tiếng rưỡi đồng hồ.

    Không khí cởi mở nhưng đại diện ngoại giao Việt Nam vẫn giữ quan điểm chính thức, nhà nước không có can thiệp hay đàn áp tăng ni. RFI đặt câu hỏi với một tu sĩ Làng Mai, thầy Trung Hải.

    Source : RFI - Phái đoàn thiền sinh ngoại quốc đến Sứ Quán Việt Nam tại Paris bày tỏ mối quan ngại về vụ Bát Nhã
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  17. #77
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Thầy Nhất Hạnh không những là một nhà trí thức tầm cở Thế Giới như Ngài Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng mà còn là một người yêu nước , yêu dân tộc nhiệt tình. Chính vì thế Thầy đã và đang bị hai lằng tên Quốc - Cộng bắn vào. Sự khiêm cung và đạt đến rốt ráo chân lý Đức Phật của Thầy là KHÔNG VÌ DANH VỌNG. Thầy lúc nào cũng xưng là một " Thiền sư " chứ không mang danh Hòa Thượng , Thượng Tọa , lãnh đạo tăng phái nào. Nhất Hạnh về Việt Nam làm gì? Trong khối lượng tác phẩm đồ sộ của Thiền sư, trừ những bài thơ, có thể nói chưa có một đoạn văn xuôi nào ngắn gọn và cô đọng như lá thư chúc Tết này với những câu nguyên văn như sau:

    Thay mặt tứ chúng Phật tử đạo tràng Mai Thôn hải ngoại.

    Thầy Nhất Hạnh ký tên đóng triện bức thư với tư cách đó. Không có một tước vị lao xao thường thấy nào như Hội chủ Tăng thống Thượng thủ. Hay như Chủ tịch Trưởng ban, hay như Hoà thượng, Thượng tọa, Đại đức. Không cả Tỳ kheo, Sa môn. Và dĩ nhiên, không cả hai chữ Thiền sư. Vì thấy rõ mọi danh chức chỉ là xích xiềng, hay quá lắm chỉ là phương tiện như một chiếc bè sang sông? Hay vì muốn để cho mọi người hiểu mình không về để tranh chức với ai cả? Nghĩa là tất cả mọi danh chức chỉ là phù phiếm, hay nói như Thầy Từ Đàm: Vô ngã là Niết Bàn?

    Thầy trở về VN có nhiều lý do và sự việc : Thăm bà con , đồng đạo , xóm giềng...... Thầy quan tâm đến tình trạng rạng nức của Phật giáo đang đứng trước phong ba bão táp của thời cuộc. Phật giáo đang bị xoáy vào cơn lốc chính trị mà quên đi chuyện hành đạo giúp đời , thầy mang tâm tư từ vạn dặm trở về . Ngoài ra Thầy Nhất Hạnh ao ước thăm có được thăm không, ao ước viếng có được viếng không? Có những người không đi đón Nhất Hạnh, có những người hứa gặp Nhất Hạnh rồi không gặp có những người Nhất Hạnh muốn thăm nhưng họ tránh mặt. Thầy đã quan tâm viếng thăm đồng đạo Quảng Độ , nhưng vì một mặc cảm , lý do nào đó mà tránh mặt viện lý " nhập thất ". Tại sao phải lấy giới ngữ làm bồ đoàn như vậy, tại sao phải lấy khẩu nghiệp chất chồng thêm vào tự thân như vậy? Vì e lệ? Vì hờn dỗi? Hay vì tự thấy Nhất Hạnh không hành đạo theo như pháp môn của mình? Nhưng 84.000 pháp môn, nếu có hai pháp môn không giống nhau thì đâu phải là lý do để quay lưng lại với nhau hay để gây khẩu nghiệp? Tăng hận bất cách túc. Cho nên việc chối từ tiếp khách viễn phương lai như thế chỉ có thể hiểu như một hành động thế trị hay một thái độ chính trị hoặc chí cùng là một thái độ ấu trĩ không có trong Phật giáo. Ngay trong nhà mà còn đem chính trị để đối đãi với nhau như thế thì trách sao được khi thiên hạ dùng chính trị để lợi dụng hay kềm kẹp mình? Như vậy, viêc tránh né, chối từ chạy trốn gặp Nhất Hạnh phải chăng là tự thắt thòng lọng rồi chui đầu vào?

    Đương nhiên là thành phần như Võ văn Ái , lớp chống Cộng kích động tột độ. Và không chỉ một mình Võ văn Ái mà thôi. Trước đó, một trong những thành phần kỵ chuyền về của Nhất Hạnh đã phong tặng cho HT Quảng Độ tước hiệu Đạo Pháp Trung Thần, không biết có phải với dụng ý mong HT tự thiêu? Người ta ghét , câm thù Thầy về VN là thân Cộng , giúp đở Cộng thậm chí còn nặng nề hơn nữa là " bưng bô " Cộng. Những hành động và ý tưởng phù phiếm như vậy nhìn về Thầy là thiếu sót , hạ cấp chưa phải là người hiểu biết , con của Như Lai.

    Muôn ngàn lý do và tâm tư tràng ngập khi Thầy bị Quốc - Cộng lưu đầy xa quê hương suốt 40 năm. Thầy ao ước , âm thầm mang ý tưởng :Đất nước đang phấn đấu để đổi mới để càng ngày càng giàu thịnh đẹp đẻ, cởi mở, bao dung.
    Đây là câu giải thích tại sao Nhất Hạnh quyết định đã đến lúc phải về. Lạc quan thì bảo rằng đây là một nhận định thực tại, nhưng bi quan có thể nghĩ đây là một câu khen chính quyền. Nhất là với những người đã có ấn tượng đây là một chính quyền độc tài đảng trị , tất cả đều do chính quyền quyết định. Cái nhìn phiếm diện đó chỉ đúng một phần có tính cách thế tục hơn là cái nhìn của một người chân tu theo đạo Phật.

    Thầy Nhất Hạnh về trong lúc đất nước đang phấn đấu, để tiếp tay tiếp sức với cố gắng phấn đấu đó. Trong mục đích làm cho đất nước giàu thịnh đẹp đẽ cởi mở bao dung. Nói thế khác, Thiền sư không về để tiếp tay củng cố một chế độ ‘bần cùng hóa, trói buộc, áp bức’ như những kẻ bi quan cố tình thường nói. Có người chống chuyến về của Thiền sư Nhất Hạnh với luận điệu Nhất Hạnh về để rửa mặt cho chính quyền.Không ! Tất cả đều sai lầm khi nhận định như vậy. Thầy là con người chỉ quan tâm vì đạo pháp và dân tộc. Thầy yêu quê hương và Phật giáo hơn cả chính mình , vì vậy cuộc đời của Thầy mới bôn ba hải ngoại , sống lưu đày cho hết một kiếp người. Thầy là con của Phật , Thầy là người Việt yêu nước , yêu quê hương thật tình.


    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  18. #78
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Những người thuộc phe chống Cộng ở hải ngoại cho rằng Thiền sư E NGẠI , SỢ Công giáo hơn SỢ CSVN , điều này cũng đúng , nhưng chỉ một phần . Những người này nghĩ chính trị Công giáo hay hơn vì có đa nguyên đa đảng tự do dân chủ? Họ không nói tại sao Quốc gia thuần công giáo Philippines , Mexico đã đa nguyên đa đảng trăm năm nay bây giờ trở thành người giúp việc cho khắp cả Thế giới nhờ đã quên quốc ngữ Tagalog và nói tiếng Anh hơn Mỹ. Họ cũng không giải thích đa nguyên đa đảng nào đã giúp Tổng thống công giáo Ngô đình Diệm đắc cử với 99,9% phiếu và đa nguyên đa đảng nào đã giúp TT công giáo Nguyễn văn Thiệu đắc cử với 94% tổng số phiếu? Hiện nay những kẻ đòi hỏi đa nguyên đa đảng dân chủ , tự do nhân quyền , nhân vị năng động nhất. Họ chống tự do về Việt Nam thăm nhà, chống tự do đọc sách báo nghe nhạc và xem TV Việt Nam, chống tự do đi xem nghệ sĩ tân cổ nhạc Việt Nam sang trình diễn. Họ tự do chống cái tự do của kẻ khác. Chỉ khác một điều, kẻ khác ôn hòa còn họ thì không ngại dùng gậy gộc và quả đấm , họ chửi bới , mạ lị nhân vật Hồ Chí Minh bằng những hình vẽ dơ bẩn nhất , Video lấp ghép xuyên tạc nhất , những ngôn từ chợ đò hạ cấp nhất trên các website và Paltalk , truyền thanh , truyền hình. Nếu có ai bất bình , thấy chướng tai gai mắt lên tiếng thì chúng bu vào đồng loạt chụp mũ , vu khống , mạ lỵ không tiếc lời , thậm chí những vị cao tăng nổi tiếng như Thầy Nhất Hạnh , Thích Thanh Từ , Thích Chân Quang..... chúng không ngần ngại xử dụng những danh từ ĐẦU TRỌC ( tu thì cạo đầu ) , THẰNG này THẰNG nọ , SƯ QUỐC DOANH , BƯNG BÔ v.v...... Trong khi các Linh Mục tay sai CSVN nhưng Phạm Minh Mẫn , linh mục Hùynh Công Minh, Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ và Vương Đình Bích v.v.... thì chúng không dám nói đến hay dùng danh từ hạ cấp giống như nói đến các thầy Phật giáo , họ có bao giờ nói các linh mục VC bằng danh từ CHÓ MỰC ( áo đen ) hay không? Rõ ràng chúng nhằm bôi bẩn , hạ bệ các tu sĩ Phật giáo hơn là chống Cộng , chúng là những thành phần chợ đò , thất học , tay sai ngoại bang đội lốt chống Cộng để chia rẽ tôn giáo , phá hoại Quốc gia .

    Mặt khác, nếu SỢ CSVN thì Nhất Hạnh đã không gia tâm sang Trung quốc mấy bận. Còn chuyện ở Việt Nam, Công giáo hay Cộng sản Thiền sư SỢ cái nào hơn? CSVN đánh Pháp, đuổi Mỹ và cũng đánh cả Trung Cộng , chấm dứt chiến tranh, thống nhất đất nước, chấm dứt được độc quyền tư tưởng và giáo dục dưới sự chỉ đạo của Vatican và qua những Đại sứ của Vatican bổ nhiệm nằm sâu vào VN gọi là những Đức khâm sứ . Công giáo đã làm gì cho Việt Nam từ khi họ chia phần thụ hưởng đất nước này kể từ thời Pháp mới thiết lập nền đô hộ đến thời Ngô đình Diệm, Nguyễn văn Thiệu? Và một người đã viết được Văn Lang Dị Sử và Việt Nam Phật Giáo Sử Luận như Thầy Nhất Hạnh hẳn phải có câu trả lời rõ ràng cho chúng. Phải chăng chúng thường tự hào cái CHỮ VIỆT ngày nay là do công lao của Cố đạo Đắc - Lộ sáng tác ra? Hoàn toàn nhầm lẫn và nhận bừa. Nói tóm lại , đánh phá Phật giáo , bôi nhọ các Thầy là CHÍNH SÁCH hàng đầu của Công giáo có ghi rõ trong Thánh kinh ( Đánh cho tang đạo Bụt Thần - Phép giảng 8 ngày của Đắc - Lộ ).

    Có người đã đem Nhất Hạnh so sánh với Mục sư King và quả quyết nguyên văn rằng Nhất Hạnh không bằng “Con đại bàng M.L. King, Jn đứng lên đòi quyền bình đẳng cho dân da đen bị áp bức , cũng không bằng Đức Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng. Vì Thầy Thích Nhất Hạnh không đòi tự do tôn giáo , bình đẳng , nhân quyền hay thực tế là Thầy Thích Nhất hạnh không nói tới sự áp bức đang xảy ra trong xã hội VN . Không chỗ nào thấy Thích Nhất Hạnh đòi tự do và quyền sống cho người dân trong nước. Không biết những người có ý tưởng đó có tiếp tay chút nào với nỗ lực của King ở Mỹ hay nỗ lực của King-Nhất Hạnh ở Việt Nam thời ấy? King vì sao mà chết? Ai giết? Năm 1966 Thầy Nhất Hạnh bị đày biệt xứ vì tội đòi quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng và quyền được mưu cầu hạnh phúc cho những người Việt Nam đang lầm than trong chiến tranh thì những người đang to tiếng đòi nhân quyền nhân vị hôm nay có lời nào phản đối những kẻ đã đày Nhất Hạnh biệt xứ không? Có ai lên án Ngô Đình Diệm , Nguyễn Văn Thiệu và cả chế độ CSVN sau khi thống nhất đất nước vẫn không chịu chấp nhận cho Thầy trở lại thăm quê hương dù một ngày , một giờ. Họ có đầu óc để suy nghĩ , nhận định sự thật trước khi lên án thầy không? Chỉ là một sự bôi nhọ , kèn cựa vì Thầy quá yêu nước , yêu Dân tộc , Thầy không chịu cong lưng theo chúng để tiếp tay với ngọai đạo , thực dân dày xéo và làm khổ VN. Thầy đã và đang là cái gai nhọn mà cả Quốc lẫn Cộng cùng nhau muốn nhổ đi.




    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  19. #79
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    MARX VÀ PHẬT GIÁO.

    Về mặt tôn giáo , Karl Marx nói rằng : "Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân" chúng ta thấy đúng hay sai? Sự thật khi ông ta nói như vậy cũng có lý , nhưng cái lý đó là dành cho Kito giáo trong môi trường Âu - Mỹ mà ông đang sống thì đúng hơn. Trong giai đoạn cuộc đời Marx Phật giáo chưa ăn nhập thâm sâu vào Tây phương nên ông không biết.

    Marx và Anghen, khi nói tới tôn giáo nói chung, nhưng Phật giáo cũng nên tự phản tỉnh xem, Phật giáo có làm mê muội, bạc nhược quần chúng không, Phật giáo có làm giảm giá trị con người hay không, Phật giáo có đánh lừa quần chúng bằng một hạnh phúc hư ảo hay không? Điều này nếu nói đến Đại Thừa - Tịnh độ , một môn phái được Trung Hoa cổ xúy và đẩy mạnh thì có tính cách cầu nguyện , ru ngũ giống như Kito giáo mà tôi đã có hàng loạt bài phân tích trước đây. Như chúng ta đã biết , mục đích cứu cánh của đạo Phật là tìm hiểu căn nguyên của nỗi khổ ở đời và các phép tu của đạo Phật nhằm diệt trừ căn nguyên đó , trên các phương diện ấy của đạo Phật, chúng ta hãy nghiên cứu, suy xét một cách khách quan và vô tư theo đúng tinh thần phân tích của khoa học :

    - Đạo Phật là đạo giác ngộ, tức là hiểu biết hoàn toàn. Phật (Buddha) nghĩa là người giác ngộ , chứ không phải là Thượng Đế, và mọi chúng sanh, mọi người vì có sẵn mầm giác ngộ ở trong mình (Phật tính) của mỗi con người , cho nên đều sẽ thành Phật, miễn là biết đi theo con đường mà Phật vạch ra chứ không cúi đầu cầu nguyện A Di Đà , Quán Âm như phái Đại Thừa dạy.

    -Tất cả mọi nguồn gốc đau khổ ở đời là mê lầm, vô minh, tức là không hiểu biết hay hiểu biết sai lầm. Tham, sân, si là ba phiền não cơ bản, nhưng si (tức là vô minh) là phiền não cơ bản nhất, vì si mê mà sanh ra tham lam, tham lam đâm ra giận dữ (sân). Đạo Phật đặt cho mình mục đích là phá mê, xóa bỏ mọi mê lầm, cho nên không thể là đạo mê hoặc quần chúng.

    - Trong số các phép tu của đạo Phật quan trọng nhất là TÂm phải tịnh , thái độ tỉnh táo, cảnh giác, có ý thức đối với tất cả mọi hành tướng của thân và tâm. Phép đếm tâm và theo dõi hơi thở trong Thiền học chính là như vậy. Thở là công việc mọi người làm không ngừng, một cách tự phát, không có ý thức. Khi đã có ý thức về từng hơi thở vào, hơi thở ra, về đường hơi vận động ở trong thân mình. Tư tưởng hoàn toàn tập trung vào hơi thở, không nghĩ một chuyện khác. Người luyện phải ngồi xếp bằng tròn, lưng thẳng, đầu thẳng, mắt ngó đằng trước. Đó là thái độ ngồi vững chãi nhất, nhờ chân xếp bằng tròn, nên máu dồn lên đầu, chống tệ buồn ngủ. Phép ngồi Thiền giúp cho sự định tâm và mở mang trí tuệ.

    Một khi tư tưởng đã khá tập trung rồi, người tu bèn dùng tư tưởng tập trung đó để “quán chiếu” mọi sự, mọi vật trong thân tâm cũng như ở ngoại giới, để hiểu biết sự vật đó như nó tồn tại, chứ không phải hiểu biết nó dưới dạng hư ảo đảo ngược , không có cái gì bí ẩn và mê hoặc cả. Cho nên đạo Phật không phải là đạo ru ngũ ( ngoài Đại Thừa ) nên không thể cho là liều thuốc phiện như Marx nói. Khi nhập diệt , Ngài không để lại một giáo chủ nào thay Ngài. Ngài chỉ dặn lại người đệ tử thân cận nhất là A Nan như sau:

    “Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình y tựa chính mình, chớ y tựa một gì khác. Dùng Chánh Pháp làm ngọn đèn, dùng chánh Pháp làm nơi nương tựa, chớ nương tựa một gì khác v.v...
    (Kinh Đại Bát Niết Bàn–Trường Bộ kinh–Digha Nikaya, bản dịch của Hòa Thượng Thích Minh Châu, trang 101).

    Đây là lời dặn chung cho toàn thể Phật giáo đồ lúc bấy giờ và mãi mãi về sau này nữa. Phật luôn luôn căn dặn rằng: Giải thoát, giác ngộ là vấn đề cá nhân của mỗi người. Không ai có thể tôn giáo cho ai và giác ngộ thay ai cả. Mỗi người đều nên dựa chủ yếu vào sức mình và Chánh Pháp của phật để quyết định đường lối tu hành thích hợp nhất với mình. Đó là tinh thần độc lập - tinh tấn - tiến lê một cách mạnh mẽ như vậy. Cho nên vì sao tôi phê phán Đại Thừa là đứa con nghịch tử phá nát giáo lý Ngài Thích Ca.

    Về quan điểm tự lực tự cường của đạo Phật được sự hưởng ứng của nhiều triết gia hiện đại, kể cả một số tu sĩ đạo giáo khác. Thí dụ, cố Tổng thống Ấn Độ Radhakrishnan viết :

    “Cầu nguyện mang tính chất một sự giao thiệp riêng tư, một sự buôn bán vị kỷ với thần linh. Nó đeo đuổi những tham vọng thế gian và càng tôn cao thêm ý thức về cái ta. Ngược lại, phép định tâm là biến đổi ý thức về cái ta.”

    Thế thì Đại Thừa dạy cúi đầu cầu nguyện để Phật cứu vớt , gia hộ có đúng theo chân lý Như Lai dạy không? Tôi nghĩ đã đến lúc Phật giáo nên mạnh dạn nhận định , phân tích con đường tu của Tịnh độ để loại trừ những tín lý như vậy ra khỏi Phật giáo , có như thế đạo Phật mới không bị đánh đồng , trà trộn với Kito giáo.


    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  20. #80
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    I. Bản tin: Đòi đất La Vang
    Một khó khăn mới cho chính quyền Cộng sản Hà Nội

    Tin VN-
    Trong thời gian gần đây, nương theo phong trào tự do tôn giáo ở nhiều nước Á châu, đặc biệt Trung Quốc và Việt Nam, Giáo hội Công giáo Việt Nam đã gởi đơn đến nhà cầm quyền Cộng sản Hà Nội xin trả lại những cơ sở vật chất và đất đai của Giáo hội Công giáo như khu đồi Dòng Thiên An ở Huế bị cộng sản tịch thu sau tháng 4 năm 1975. Vấn đề này chắc hẳn đang làm cho Cộng sản Hà Nội phải vất vả tìm cách giải quyết; nhưng khó khăn này chưa xong thì khó khăn khác phức tạp hơn lại xảy đến.

    Theo những thông tin vừa mới nhận được gởi ra nước ngoài thì chính quyền Cộng sản Hà Nội đang gặp một vấn đề mới khá lớn ở miền Trung. Đó là việc đòi đất La Vang của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Quảng Trị. Thượng tọa Thích Phước Châu, Phó Ban thường trực, thay mặt Giáo hội Phật giáo tỉnh Quảng Trị đã gởi đơn ngày 22/9/2002 lên Chủ tịch nước Trần Đức Lương và Thủ tướng chính phủ Phan Văn Khải yêu cầu hai nhà lãnh đạo cao cấp cộng sản giải quyết thỏa đáng và nhanh chóng.

    Dựa vào những sử liệu từ cuốn “Linh địa La Vang” của Linh mục Nguyễn Văn Ngọc xuất bản tại Huế năm 1969 và được Tổng đại diện Tòa Giám mục Huế chuẩn y năm 1970, và cuốn “Công giáo Chính sử” của tiến sĩ Trần Chung Ngọc xuất bản năm 1999, Thượng tọa Thích Phước Châu và Thượng tọa Thích Chơn Tế trình bày trong văn thư khiếu nại rằng : “Nhà thờ La Vang nguyên trước đây là ngôi chùa Lá Vằng của Phật giáo được làm dưới gốc cây đa vào đầu thời vua Minh Mạng về sau bị người Công giáo đến phá chùa, cướp đất rồi làm nhà thờ lên trên đó.” Hai nhà sư Phật giáo đòi giới lãnh đạo cao cấp của Việt Nam “áp dụng pháp luật quốc gia và sự công bằng tối thiểu cần có để buộc kẻ chiếm hữu tài sản bất hợp pháp phải trả lại cho nguyên chủ.”.

    Cả hai việc đòi đất của hai Giáo hội hẳn đang làm cho nhà nước Cộng sản điên đầu. Dưới đây là bản sao hai bức thư khiếu nại của hai Thượng tọa Thích Phước Châu và Thích Chơn Tế thuộc Giáo hội Phật giáo tỉnh Quảng Trị để bạn đọc có thể đi sâu vào chi tiết.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



Page 4 of 14 FirstFirst 12345678910111213 ... LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •