Page 3 of 14 FirstFirst 12345678910111213 ... LastLast
Results 41 to 60 of 264

Thread: Chân Lý Thích Ca.

  
  1. #41
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Kinh tức là lời ghi lại những gì Đức Phật đã dạy , không phải do Ngài giảng trực tiếp . Vì vậy sau khi Ngài nhập diệt 100 năm các đại đệ tử họp lại đọc tụng để cùng nhau chép thành kinh . Câu mở đầu bất cứ bài kinh nào cũng ghi : "Như thị ngã văn " ( Tôi nghe như vầy ) .

    Ngày nay văn minh , vấn đề đọc kinh quá dễ dàng nhờ hệ thống Internet , sách báo , băng đĩa DVD...... phổ biến rộng rải , không còn giới hạng in trên sách như các thế kỹ trước đây . Khi ta đọc kinh phải có một tâm niệm chính chắn , nghiêm túc , không thể đọc kinh điển giống như đọc sách, thích thú với những đoạn hay, tò mò với những ý tưởng lạ, đọc như thế là tâm bất kính. Có nhiều vị sư tụng kinh hàng ngày cho xong chuyện , đôi lúc chẳng hiểu gì về ý kinh , điều này cũng góp phần hoằng dương chánh pháp tốt thôi , nhưng vô tình đóng cửa chân tâm, lòng không để tác động của thần lực phát ra từ kinh điển để chuyển mình, vì không hiểu được nghĩa kinh . Phật giáo không cần số đông hàng tỷ người hay hàng muôn triệu Kinh sách , mà Phật giáo cần những con người có tâm thành tín , thanh tịnh , hiểu ý Phật dạy để hành đạo giúp đời và tinh tấn tiến lên giải thóat cho chính mình .

    Nhiều người (ngay cả tu sĩ ) cho rằng tụng kinh là cầu an , cầu phước , đó là quan niệm sai lầm cực lớn . Khi tụng là học, là nghe kinh và phải hiểu để hành . Khi mở quyển kinh, lòng của chúng ta cũng phải sẵn sàng đón nhận những lời lẽ ấy với tất cả sự kính tín của lời kinh dạy . Hãy cẩn thận, muôn dặm đường xưa nay nằm trong tâm ta . Lời nói của Đức Phật một bản ngã , vô ngã chính là Pháp, đó không còn là lời nói, không còn là ngôn ngữ văn tự, đó là chân lý tuông tràn, ẩn chứa trong ấy tất cả sức mạnh của vũ trụ, của tánh KHÔNG . Vì chúng sanh mà có tướng âm thanh, nên có chúng sanh mới có Pháp là thế , khi nghe một câu kinh mà thấy Phật tánh, chính là hành giả đã hun đúc, nghiền ngẫm vấn đề của mình từ muôn kiếp , muôn ức na tha do tuần , tâm đã đạt chỗ “tri hành hiệp nhất”; lời nói và việc làm là một, nên chỉ cần một cái gõ mạnh trợ duyên là bừng sáng, đó là người đã chứa sẵn tạng Kinh trong tâm, người khác cũng có mà cũng không, vì chưa tự thấy biết tạng Kinh của mình. Gỏ mõ , nhịp chuông chỉ là những âm thanh hổ trợ phần sắc khí , tạo hòan cảnh êm dịu để trang điểm lời kinh . Mục đích chính là ý nghĩa kinh không phải là tiếng chuông mõ . Nhang , trầm là những mùi vị gây xúc tác tinh khiết và cũng là để đo thời gian . Ngày xưa chưa phát minh đồng hồ , có lẽ tổ tiên ta dùng nhan để biết thời gian . Ví dụ : Phạt quỳ sám hối hai cây nhang ( chừng 1 giờ ) .

    Khi thuộc Kinh tức là thuộc lời giảng của Phật Tổ , đem hành những Kinh ấy vào đời sống tuỳ duyên , tuỳ cảnh làm sao cho thế gian an lạc , quanh ta lúc nào cũng có những nụ cười chứ không phải "những tiếng kêu cứu " của súc vật đang bị giết hàng giờ . Làm sao không còn tiếng bom rơi , đạn réo hay cảnh tự sát bằng xe bom như Hồi giáo đang làm theo ý Chúa mỗi ngày ở trên Thế giới . Điều đó không nên và Đức Phật dạy hãy dứt khóat đọan tuyệt khổ đau cho mình và cho người . Đó là Ý KINH.

    Trong kinh Lăng Nghiêm , Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói rằng Pháp Môn Quán Âm là Pháp Môn cao nhất để được sự khai ngộ. Nói đến khai ngộ tức là MỞ TRÍ TUỆ , nhưng kinh Phổ Môn hoàn toàn dạy cầu nguyện sẽ được cứu rỗi chứ không có gì vận dụng và suy nghĩ và đắn đo suy nghĩ là tâm chưa thành tín tin tưởng Ngài Quán Âm , chúng ta hãy đọc kinh Phổ Môn sau :

    Những kẻ ấy nghe tên Bồ tát,
    Một lòng tin, niệm đức Quan Âm.
    Ngài liền soi thấu tiếng tăm,
    Thảy đều thoát nạn lâng lâng chẳng phiền !
    Dù ai có lòng thành trì niệm,
    Quan Âm liền ứng hiện độ cho.
    Hoặc khi gặp nạn lửa to,
    Niệm Ngài, Ngài ắt cứu cho thoát nàn !
    Ấy, nhờ bởi oai thần Bồ tát,
    Vận thần thông cứu bạt chúng sinh.
    Hoặc khi sóng nước bất bình,
    Tấm thân trôi dạt bập bềnh nguy nan !
    Kíp niệm đức Quan Âm cứu khổ,
    Nơi cạn kia, gặp chỗ nương mình.
    Trăm ngàn muôn ức chúng sinh,
    Vào trong biển lớn kinh doanh như là :
    Hoặc tìm kiếm xa cừ, mã não,
    Kim, ngân cùng châu báu, lưu ly.
    San hô, hổ phách, trân kỳ,
    Chẳng may bão tố đương khi giữa vời !
    Thuyền trôi dạt vào nơi nước quỷ,
    Dù một người niệm mỹ hiệu Ngài.
    Cả thuyền, chẳng những một ai,
    Khỏi nạn La sát hại người đã quen.
    Ấy, bởi những nhân duyên như vậy,
    Quan Thế Âm, nên mới trì danh.
    Dù ai sắp giết hại mình,
    Niệm Quan Âm, ắt yên lành chẳng chi !
    Gươm đao thương, gẫy thì từng đoạn,
    Thế là người trì niệm thoát nàn !
    Ví trong thế giới ba ngàn,
    Dạ xoa, La sát, những toan hại người !
    Quỷ thấy ai niệm Ngài Bồ tát,
    Chẳng còn đem mắt ác nhìn người.
    Dám còn để ý hại ai,
    Ấy nhờ Bồ tát, Ngài hay cứu nàn !
    Hoặc kẻ bị gông cùm xiềng trói,
    Tội hay không, niệm tới hiệu Ngài.
    Xích xiềng hư hỏng rã rời,
    Thế là giải thoát, tức thời bình an.
    Dù khắp cả ba ngàn thế giới,
    Đầy giặc thù quấy rối lương dân !
    Lái buôn có một chủ nhân,
    Người cùng của báu theo chân cũng nhiều.
    Khi qua chốn hiểm nghèo như vậy,
    Có một ai đứng lại nói rằng :
    Thiện nam chớ có hãi hùng !
    Anh em xin dốc một lòng thành tâm.
    Đều xưng niệm Quan Âm bố thí,
    Ngài hay ban vô úy chẳng sai.
    Chúng ta xưng niệm hiệu Ngài,
    Phen này thoát khỏi nạn tai đây mà !
    Người nghe nói đều là nhất hướng,
    Một lòng tin, hiệp chưởng nam mô.
    Quan Âm Bồ tát cứu cho,
    Thảy đều thoát nạn, khỏi lo đó mà.


    Kinh Quán Âm dạy cúi đầu cầu nguyện bao nhiêu thì đi ngược giáo lý chính tông của Ngài Thích Ca dạy bấy nhiêu. Muốn thấy rõ hai đường lối hoàn toàn trái ngược như trắng và đen chúng ta đọc bài kinh " Luận Bảo Vương " Đức Thích Ca dạy như sau :

    Mười điều tâm niệm trong "Luận Bảo Vương Tam Muội":

    Điều 1 : Nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không bệnh khổ, vì không bệnh khổ thì dục vọng dễ sanh. Hãy lấy bệnh khổ làm thuốc thần.

    Điều 2 : Ở đời đừng cầu không hoạn nạn, vì không hoạn nạn thì kiêu xa nổi dậy. Hãy lấy hoạn nạn làm giải thoát.

    Điều 3 : Cứu xét tâm tánh thì đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo. Hãy lấy khúc mắc làm thú vị.

    Điều 4 : Xây dựng đạo hạnh thì đừng cầu không ma chướng, vì không ma chướng thì chí nguyện không kiên cường. Hãy lấy ma quân làm bạn đạo.

    Điều 5 : Việc làm đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì lòng khinh thường kiêu ngạo. Hãy lấy khó khăn làm thích thú.

    Điều 6 : Giao tiếp thì đừng cầu lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa. Hãy lấy kẻ tệ bạc làm người giúp đỡ.

    Điều 7 :Với người thì đừng mong tất cả thuận theo ý mình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng. Hãy lấy người chống đối làm nơi giao du.

    Điều 8 :Thi ân đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp là thi ân có ý mưu đồ. Hãy coi thi ân như đôi dép bỏ.

    Điều 9 :Thấy lợi đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì si mê phải động. Hãy lấy sự xả lợi làm vinh hoa.

    Điều 10 :Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là nhân ngã chưa xả. Hãy lấy oan ức làm cửa ngõ đạo hạnh.


    Ngài chỉ bày rất rõ ràng :

    -Nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không bệnh khổ.

    -Ở đời đừng cầu không hoạn nạn.

    -Xây dựng đạo hạnh thì đừng cầu không ma chướng.

    -.................................................. ......


    Nếu đường đời bằng phẳng cả , hoặc có chông gai thì cầu nguyện Quán Âm cứu vớt , như vậy làm cho con người ỷ lại , tiêu cực , và mất ý chí độc lập tiến lên. Các bạn thấy Thích Ca dạy thế nào , còn Quán Âm , A Di Đà dạy thế nào , đến đây quý vị đã có khái niệm về tinh thần kinh Như Lai và Tịnh độ trái nghịch nhau một trời một vực.

    Ca tụng Quán Âm ngày nay còn có hiện tượng mới là Thanh Hải Vô Thượng Sư cũng dựa vào ô dù Phật giáo để " ĐẼ " ra một giáo lý mới đánh đu hàng hai , vừa ca tụng Quán Âm , vừa níu khố Chúa nhằm dung hòa và lôi kéo hội viên. Sắp tới tôi sẽ đề cập hiện tượng đánh phá chân lý Phật giáo của Thượng Sư Thanh Hải này.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  2. #42
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Cám ơn bạn annsie đã có nhã ý muốn thảo luận (tranh luận ) cùng tôi. Như tôi đã thông báo ở lời nói đầu , khi thảo luận bạn phải viết thành bài có chủ đề và mục đích , có biện luận ( logic ) , tôi không đồng ý chỉ vào viết vài câu , hay bắc bẻ một vài ý. Vì đây là đề tài có chủ đề , tôi không muốn bị các bạn làm xao lãng vì sự góp ý bâng quơ. Tôi phải closed nhiều lần là vì thế.

    Trước khi vào thảo luận , tôi yêu cầu bạn đọc hết toàn bộ bài tôi đã viết để nắm vững đề cương. Mục đích của tôi là đưa ra những tông phái , cá nhân nào dựa vào chân lý Ngài Thích ca rồi gán ghép THÊM VÀO những điều trái ngược giáo lý của Ngài. Ví dụ : Ngài dạy độc lập tiến lên thì Tịnh độ thêm vào cầu nguyện an phận để được cứu rỗi. Ngài dạy diệt dục để tinh tấn tu hành giải thoát thì Mật tông , Osho , Shiva cổ xúy mượn hành dục để tiến đến Niết bàn và tìm ra Thượng Đế. v.v...... Vị vậy tôi cố gắng đem lại chân lý của Như Lai và đưa ra những ý tưởng của vài cá nhân , môn phái nào dựa vào Thích Ca để lợi dụng , bóp méo và nhằm triệt hạ uy tín chân lý của Ngài.

    Sau khi đọc và hiểu , bạn nắm được đề tài chủ yếu của tôi thì xin viết bài phản luận. Ngoài ra tôi không welcome nếu bạn chỉ vào nói vài câu bâng quơ thì tôi đành đóng cửa , độc hành , đó là lời nói thật và xin lỗi bạn trước.

    ChanhPhap84
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  3. #43
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Như tôi đã trình bày là kinh Pháp Hoa ra đời khi mà sự tranh chấp nội bộ giữa Tiểu Thừa , Đại Thừa đồng thời ngoại đạo Bà La Môn chỉa mủi dùi vào Phật giáo bằng những triết lý vô cùng thâm độc nhằm hạ thấp Phật giáo khi không còn vị Thầy Thích Ca . Trong hoàn cảnh này thì kinh Diệu Pháp Liên Hoa ra đời gần 600 năm khi Đức Phật tịch diệt. Vậy thì làm sao cuốn : Yếu chỉ KINH PHÁP HOA của thầy Thích Thắng Hoan viết Phật thuyết núi nầy rừng nọ :

    Đức Phật Thích Ca thiết lập hai Đạo Tràng giảng Kinh Pháp Hoa để độ chúng sanh:

    a/- Đạo Tràng thứ nhất, đức Phật mở hội Linh Thứu nơi núi Kỳ Xà Quật thuộc thành Vương Xá, nước Ma Kiệt Đà giảng Kinh Pháp Hoa bằng Thiền Định Tam Muội, nên gọi là Thiền Định Thuyết Pháp.

    b/- Đạo Tràng thứ hai, đức Phật Thích Ca mở hội Bảo Tháp nơi Không Giới để giảng Kinh Pháp Hoa, nên gọi là Không Giới Thuyết Pháp."


    Nhìn chung , hầu hết kinh Pháp Hoa đưa ra nhằm mục đích ca tụng Đại thừa là một môn pháp rộng lớn ( cổ xe lớn ) nhằm tiến đến Niết Bàn nhanh hơn , vĩ đại hơn Tiểu thừa. Đặc biệt phẩm THÍ DỤ sau đây dẫn chứng câu chuyện ông Trưởng giả và đàn con khi bị cháy nhà là ám chỉ rõ nhất :

    Lúc bấy giờ Ông Xá lợi Phất hớn hở vui mừng, đứng dậy cung kính chắp tay chiêm ngưỡng dung nhan Phật và bạch rằng: "Hôm nay con được nghe những điều Phật dạy, lòng con hân hoan chưa từng có. Bao nhiêu nghi ngờ của con đã hết. Trước kia con thường nghĩ ngợi và tự hỏi: Phật cũng ở trong Pháp tánh như mình, cớ sao Phật được là Phật, còn mình thì lại không ? Cớ sao Như Lai lại đem pháp "Tiểu thừa" mà dạy cho ? Cớ sao các Bồ tát được thọ ký thành Phật, còn mình chẳng được dự vào việc đó ? Con tự cảm thương mình ! Chẳng lẽ mình mất hết vô lượng Tri kiến Phật, mất hết khả năng thành Phật hay sao" ? Nay nghe Phật dạy, con mới hiểu rằng, lỗi tại chúng con, vì mê mờ thiển cận, vừa được nghe pháp phương tiện là đã vội ham, tư duy tu tập để cầu chứng đắc. Nay con đã hiểu rõ, rằng giáo lý Tiểu thừa là "pháp phương tiện" tùy nghi dẫn dụ của Như Lai. Dù "chứng đắc Niết bàn" nhưng chưa hoàn toàn diệt độ. Giờ đây con rất sung sướng tự biết mình là con thật của Phật. Từ kim khẩu Phật sanh ra, từ pháp hóa của Phật sanh ra, con được dự phần trong "Phật tánh và Pháp tánh" vô thượng.

    Ông Xá lợi Phất thưa tiếp: "Lúc mới nghe Phật "thọ ký" con sẽ thành Phật, con nghi ngờ tự hỏi có phải ma giả Phật để não loạn lòng con. Nhưng sau nhờ những tỷ dụ của Phật, con mới hết nghi và tin quả quyết rằng con sẽ thành Phật".

    Đức Phật lại bảo: Xá lợi Phất ! Ta xưa đã từng giáo hóa ông, từng dẫn dắt ông trong thời gian dài ở hai muôn ức Phật. Ta hướng dẫn ông đi trên con đường thành Phật, nhưng ông lại quên mà tưởng là diệt độ trong khi chưa đến đích. Nay ta muốn cho ông nhớ lại chí nguyện thành Phật xưa kia mà vì hàng Thanh Văn nói kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm nầy. Như Lai cũng nói trước cho ông biết, trong vị lai vô số kiếp, ông cúng dường vô số Phật, phụng trì chánh pháp làm đủ đạo Bồ tát rồi ông sẽ thành Phật hiệu Hoa Quang Như Lai đủ mười đức hiệu, nước tên Ly Cấu, kiếp tên Đại Bảo Trang Nghiêm. Số Bồ tát được ông giáo hóa nhiều vô lượng.

    Xá lợi Phất ! Đức Hoa Quang Như Lai sau đó "thọ ký" cho Bồ tát Kiên Mãn sẽ thành Phật hiệu là Hoa Túc An Hành Như Lai đủ mười đức hiệu và cõi nước cũng trang nghiêm như vâỵ.

    Đại chúng thấy Phật "thọ ký" ông Xá lợi Phất được thành Phật, vui mừng hớn hở, mỗi người cởi thượng y của mình dâng lên cúng Phật.

    Xá lợi Phất thưa: Bạch Thế Tôn ! "Trước kia Phật thường dạy: "Giáo pháp của Như Lai có công năng xa lìa sanh, già, bệnh, chết và được cứu cánh Niết bàn". Các hàng Thanh Văn đã nghe và hành theo, ai cũng tưởng là mình được Niết bàn rồi. Nay Phật lại đưa ra thứ giáo pháp chưa ai từng nghe: Rằng "Niết bàn ấy chưa phải rốt ráo tịch diệt, mà rốt ráo phải thành Phật". Con e sợ hàng Thanh Văn còn chỗ nghi ngờ. Cúi xin Thế Tôn, vì bốn chúng giải thích rõ ý thú của lời Phật".

    Phật bảo: Trước đây Như Lai há chẳng nói rằng, tất cả giáo pháp của Phật dạy đều là phương tiện đưa đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác đó sao? Nhưng thôi, để cho người trí hiểu được Như Lai có cái thí dụ nầy:

    Trong một xứ nọ, có ông Trưởng giả giàu to của cải vô lượng, nhưng tuổi đã già suy. Nhà của ông rộng lớn chứa rất nhiều người, trong số có các con của ông, nhưng phải cái nguy là ngôi nhà mục nát, cột kèo ngả đổ, vách phên xiêu sập, rắn rít rất nhiều, thêm nỗi lửa cháy bốn bề mà lối ra thì chỉ có một cửa.

    Ông Trưởng giả đứng ngoài lo sợ cho các con, nghĩ bụng rằng: Ta có thể xông vào cứu chúng, nhưng nhớ đến cửa nhỏ hẹp, sợ các con dùng dằng không đem ra được hết. Trong lúc nguy hại trước mắt các con của ông cứ đùa giỡn vui chơi, không biết sợ sệt gì hết và cũng không có ý muốn ra, vì không biết nhà cháy là gì, lửa là gì !

    Ông Trưởng giả bèn lập kế, ông hô to: "Các con! Cha có những đồ chơi đẹp lắm đây. Xe dê, xe hưu, xe trâu trắng, xe nào cũng đẹp đẽ trang sức lộng lẫy, các con mau ra tự chọn lấy xe theo ý thích".

    Các con ganh đua xô đẩy lẫn nhau kéo nhau chạy ra khỏi nhà cháy. Ông Trưởng giả rất mừng khi thấy các con được an ổn. Ở nơi ngã tư đường không còn nguy hại.

    Bấy giờ các con xúm lại đòi đồ chơi, với ước muốn riêng, xe dê, xe hưu theo ý thích, nhưng ông Trưởng giả chỉ ban cho các con đồng một thứ xe lớn tốt đẹp vô cùng, đầy đủ tiện nghi trang hoàng lộng lẫy. Vì sao ông Trưởng giả không cho ba thứ xe lớn nhỏ, tốt đẹp khác nhau mà lại cho đồng một thứ xe tuyệt đẹp. Vì ông Trưởng giả quá giàu, kho tàng đầy ngập, của cải vô lượng !

    Đến đây, đức Phật hỏi ông Xá lợi Phất: "Ông Trưởng giả trước hứa cho ba thứ xe, nay lại cho có một thứ, mà là thứ lớn, đẹp nhất. Vậy ông Trưởng giả có lỗi nói dối không" ?

    Ông Xá lợi Phất đáp: "Dạ không. Giả như cho chiếc xe nhỏ và xấu nhất, ông Trưởng giả cũng không có lỗi nói dối, huống gì cho thứ xe lớn và đẹp nhất. Vì sao ? Vì việc hứa cho xe chỉ là một sách lược, một cách phương tiện, nhằm cứu các con ra khỏi nhà lửa đang ngùn ngụt cháy".

    Phật khen: Đúng vậy, Xá lợi Phất ! Như Lai là cha của tất cả thế gian. Tuy đã ra khỏi thế gian nhưng vẫn vì sự lợi ích của thế gian mà trở vào nhà lửa tam giới cũ mục nguy hiểm nầy để độ chúng sanh ra khỏi nạn lửa sanh, già, bệnh, chết, lo buồn, khổ não, tham lam, hung bạo, si mê, tắm mình trong biển độc hại khổ đau. Sống trong cảnh khổ nhà cháy như thế mà chúng sanh vẫn cứ vui chơi hỉ hả, chẳng hay mình đang bị lửa đốt, không sợ, không nhàm, không có ý cầu ra khỏi.

    Trong việc cứu độ chúng sanh, Như Lai đã từng suy nghĩ: Đem trí tuệ thần thông, giảng nói các tri kiến, trí lực, vô sở úy....của Như Lai không thể được. Vì chúng sanh đang dong duỗi, nô đùa trong rừng vô minh tam độc, bị thiêu đốt trong nhà lửa sanh, già, bệnh, chết, khổ não, ưu bi thì làm gì nghe hiểu mà tiếp thu. Do vậy, Như Lai phải dùng phương tiện, quyền lập pháp tu: Một là Thanh Văn thừa (xe dê). Hai là Duyên Giác thừa (xe hưu). Ba là Bồ tát thừa (xe trâu trắng). Đó là Như Lai vận dụng phương tiện đáp ứng căn cơ của mỗi hạng chúng sanh.

    Ông Trưởng giả cho đều các con mỗi đứa một cỗ xe to đẹp, khi chúng ra khỏi nhà lửa. Như Lai cũng vậy, khi chúng sanh ra khỏi sự khổ não, ưu bi, sanh, già bệnh, chết, bất luận là Thanh Văn, Duyên Giác hay Bồ tát, Như Lai bèn cho cái vui tuyệt đỉnh là: Thiền định, trí tuệ và Tri kiến Phật.....là những cỗ xe đưa đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Cũng như ông Trưởng giả kia, đức Phật không phạm tội nói dối.

    Xá lợi Phất ! Vì nhân duyên đó, các Như Lai dùng sức phương tiện: chỉ có một Phật thừa, phân biệt nói thành ba.

    Trong suốt thời gian hơn hơn 40 năm, Như Lai sử dụng vô số "phương tiện" nhằm hóa độ chúng sanh. Trước đây khi mới nghe pháp "phương tiện" các đệ tử vội ham và mong cầu chứng đắc Niết bàn. Giờ nghe Phật dạy, họ biết rõ quả chứng của Tiểu thừa dù được Niết bàn, nhưng chưa phải là thật diệt độ. Đó là bước ngoặc Đại thừa đưa ra nhằm chê bai Tiểu thừa quá nông cạn về đường tu tập . Đại thừa cho rằng diệt độ phải là người đi cỗ xe Vô thượng Chánh Biến Tri Giác. Và đến đây Tịnh độ tự xác định có đủ điều kiện, đủ khả năng đi trên cỗ xe lớn đó.

    Họ cho rằng giờ thì ông Xá lợi Phất đã hiểu chân lý đức Phật dạy cho Tiểu thừa có chín bộ kinh. "Phương quảng", "thọ ký" và "vô vấn tự thuyết" đối với người Tiểu thừa Phật chưa đề cập đến. Vì vậy với hàng Thanh văn được "thọ ký" thành Phật là một sự bất ngờ sửng sốt, quá sức tin hiểu của mình. Đại thừa lý luận :"Trong nguồn giáo lý Phật dạy cho Tiểu thừa vẫn có mầm mống Đại thừa. Vả lại, trong những thời của hai muôn đức Phật xa xưa, Xá lợi Phất và Phật đã từng gieo trồng hạt giống Đại thừa: "Thế thế thường hành Bồ tát đạo".

    Phẩm thí dụ đưa ra để giải thích tại sao chỉ có một "Phật thừa" mà trước kia Phật lại dạy có ba :Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát.

    Hình ảnh Ông Trưởng giả là ám chỉ Phật. Những đứa con chỉ chúng sanh. Lửa cháy,ngôi nhà mục nát, cột kèo ngả đổ, vách phên xiêu sập, rắn rít đầy dẩy .... là ám chỉ cảnh khổ: sanh, già, bệnh, tử, ưu phiền , khổ não của chúng sanh trong cõi ta bà . Ba xe, dụ ba thừa, hay ba bậc tu hành là Thanh văn, Duyên Giác và Bồ tát. Thanh văn tiểu quả, ví xe Dê. Duyên giác trung thừa, ví xe Hưu. Bồ tát hay Phật thừa, ví xe Trâu trắng lớn.

    Xe nhỏ, ví hạng người chỉ có khả năng tự độ như Tiểu thừa , không giúp ích được cho người khác. Xe lớn như Đại thừa ám chỉ tánh tích cực của hạng người ngoài phần tự độ còn xem trọng việc độ tha. Đến đây thì các bạn đã thấy phần lộ liễu của kinh Pháp Hoa lý luận đi ra ngoài giáo lý chủ đích của Thích Ca từng dạy " Ai ăn nấy no , ai tu nấy hưởng ". Không thể mình tu dùm cho người khác. Ông A ăn cơm mà bà Tám ngồi chầu rìa bên cạnh tự no được.

    Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy rằng:

    “Chỉ có ta làm điều tội lỗi, chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm.
    Chỉ có ta làm ta tránh được điều tội lỗi, chỉ có ta gội rửa cho ta.
    Trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta.
    Không ai có thể làm cho người khác trở nên trong sạch”.

    Chỉ có ta làm cho ta được trong sạch , tinh tấn , giải thoát...... không ai có thể giúp cho ta kể cả Thần Thánh , Thượng đế , đây là GIÁO LÝ ĐẶC BIỆT mà chỉ Phật giáo mới có , mà phải là Phật giáo Ngài Thích Ca chứ đừng nhầm lẫn Phật giáo Đại Thừa , Mật tông thường đánh lộn con đen để núp bóng ô dù Như Lai. Chúng ta cần phân tích và làm sáng tỏ sự gian lận , manh tâm của Tịnh độ tông ở những điểm này .



    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  4. #44
    Join Date
    Jun 2009
    Posts
    701
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Trước hết tôi xin được nhìn nhận rằng sau khi đọc hết thread này thì quả thật đây là chuyên đề của bạn ChánhPháp84, ghi lại những tâm tư, cảm nghĩ của cá nhân bạn về Thế nào mới là theo đúng chánh pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni và dùng nó để phân tích nhận định của cá nhân bạn là những ai đã và đang truyền giảng giáo lý nhà Phật mà lại đi sai đường.

    Bạn CP84 ( xin cho phép viết tắt tên bạn ) không có giới thiệu mình là ai, đã quy y hay chưa và đã thọ nhận Thầy nào chưa. Theo như bạn nói thì đây hoàn toàn là ý riêng của bạn, không đại diện cho cơ quan hay đoàn thể nào, mà hoàn toàn do cá nhân của bạn " tự thắp đuốc mà đi " thôi. Vì thế đáng lẽ ra trên tinh thần tôn trọng và bình đẳng của Phật , thì tôi cũng không nên post vào đây. Nhưng bạn đã đăng suy nghĩ của mình lên diễn đàn public thì bạn cũng đã có ý muốn chia xẻ với tất cả những ai vào đọc và bạn cũng đã đồng ý cho tôi được thảo luận vấn đề miễn là tôi đưa ý kiến nghiêm chỉnh.

    Tôi cũng xin thưa ở đây những ý kiến tôi sẽ đưa ra, ngoài phần nào tôi lấy Kinh Phật để nói , thì cũng hoàn toàn là tư tưởng và sự hiểu biết của bản thân tôi, chứ tôi chưa được thọ giáo Thầy nào hay tông phái, đoàn thể nào hết.


    Đầu tiên tôi xin thưa những điểm tôi muốn thảo luận :

    1- OSHO :

    Tôi đồng ý la Osho đã đi khác đường lối của Phật Thích Ca. Tôi đã đọc rất nhiều sách bằng tiếng Anh của Osho. Ban đầu tôi cũng thấy những tư tưởng mới lạ của Ông có những phần hay. Nhưng càng đọc các sách về sau của Ông thì tôi càng thất vọng. Tôi không chỉ nói đến phương thức của Ông mà khi tìm hiểu con người của Ông ngoài đời thật thì tôi thấy Ông đã bị tham sân si làm cho mờ mịt , kèm thêm thân bệnh khổ dằn vặt , lại bị đám đệ tử đứa thì lừa Thầy phản bạn, đứa thì làm việc bất lương, đứa thì nghiền ngập xì ke đến nỗi thân danh tàn tạ. Vì thế nên tôi đã bác bỏ những gì Ông giảng dạy. Song nếu nói Ông làm hoen ố Chánh Pháp của Phật thì cũng không đúng, vì Ông có nhân mình là Phật Tử , là quy y Phật bao giờ đâu. Ông từ đầu đên cuối góp nhặt triết lý và giáo lý của nhiều đạo, gom lại rồi hiểu và giảng theo bản thân Ông mà lập ra trường phái Osho.

    Osho tuyên bố là Ông đã giác ngộ ( samadhi ) sau khi ngồi thiền định suốt 1 đêm dài ở trong vườn cây, nhưng sau đó Ông không đi giảng thuyết ngay như Phật Thích Ca mà đi học , đi làm đến 1 thời gian sau mới bằt đầu giảng. Cũng có thể nói Osho là 1 người đã thắp đuốc tự mình tìm lối đi và cũng đã theo cách Phật Thích Ca nhập thiền định mà giác ngộ. Nhưng theo tôi thấy vì Ông không giữ giới , để cho tham sân si nẩy mầm rồi phát triển nên Ông mới đọa vào ma đạo mà phải lầm lạc. Điểm này quan trọng thế nào tôi sẽ nói thêm ở sau.

    2- Thầy Chân Quang

    Trong các posts của bạn CP84 về Thầy Chân Quang thì tôi thấy lộn xộn xà ngầu, lúc thì khen lúc thì chê nên tôi cũng không hiểu rõ bạn thật sự nghĩ về Thầy như thế nào. Riêng bản thân tôi thì nếu đem so sánh với Osho thì Thầy CQ ( xin cho phép viết tắt tên Thầy ) mới là kẻ làm hoen ố đạo Phật đáng được chỉ trích, vì Thầy là Phật Tử, đã quy y, đã cạo đầu và mặc tăng bào của Phật mà lại đi giảng sai giáo lý căn bản nhất của Phật là cấm sát sanh, hoàn toàn đi ngược lại tâm từ bi hỷ xả của Phật.

    Bạn CP84 khen Thầy biết và dám đưa ra luận lý mới mẻ như Kinh Đại Thừa là thêm thắt, Tịnh Độ tông là phái ru ngủ , Mật Tông là dâm đãng v.v... Tôi sẽ đi sâu hơn vào vấn đề này qua những posts kế tiếp nhưng ngay đây tôi xin nói luận lý mới khác của Thầy như ăn cá cho cá được phước và giết kẻ ác không chịu nghe cảm hóa là tình thương, là hoàn toàn sai lệch với chánh pháp của Phật Thích Ca. Vấn đề này tôi đã nói tỉ mỉ hơn ở thread " Vài điều tâm tình của 1 Phật Tử ". Bạn CP84 không có ý kiến phản bác post đó của tôi thì tức là bạn cũng đã đồng ý với tôi.

    Ở đây cũng như Osho, Thầy CQ tự đốt đuốc mà đi , suy luận ra cách áp dụng giáo lý Phật 1 cách mới mẻ, nhưng lại quên bằng không thực hành giới luật của Phật ( Osho phạm giới dâm tà, còn Thầy CQ phạm giới sát sanh ) nên 2 Ngài mới đi lộn vào ma đạo. Ngài Osho kết quả cuộc đời bi thảm , còn Thầy CQ thì chúng ta còn phải chờ xem nhân quả của Thầy khi chín rồi sẽ ra sao.

    3- Vô Thượng Sư Thanh Hải

    Vị này cũng thế, cũng tự thăp đuốc lên mà đi, đem Kinh Phật Kinh Thánh nhập lẫn vô nhau loạn xà ngầu, tự chế ra đạo riêng của mình. Bây giờ đạo không ra đạo, mà giống mấy cults hơn. Vị này giảng dùng cách niệm Quán Thế Âm nghe ra thì có vẻ đúng đắn lắm. Nhưng nhìn vào thực tế thì hỡi ơi bà cũng đã phạm đủ các giới, tham sân si gì phạm đủ hết, nên bà cũng đi vào ma đạo luôn. Nhưng nói bà làm hoen ố đạo Phật cũng không hoàn toàn đúng, vì bà đã tách ra lập môn hộ riêng, còn tự nhận mình là Vô Thượng, coi mình ngang hàng với Phât. Bà đâu có nói đạo bà giảng là đạo Phật đâu.

    4- Các đạo giáo khác

    Bạn CP84 có đề cập đến các đạo Cao Đài, Hòa Hảo , Long Hoa... nhưng vì tôi chưa nghiên cứu các đạo này cho tường tận nên không dám mở miệng phê bình láo lếu nên ở đây tôi xin miễn bàn.

    5- Mật Tông

    Tôi chỉ mới chập chững bước vào tìm hiểu kinh sách Mật Tông nên cũng chưa dám bàn xem Mật Tông là thế nào. Sau này khi có thêm tài liệu tôi sẽ xin phép nói nhiều hơn.

    6- Shiva

    Bạn CP84 có nhắc tên Shiva nhưng tôi thấy nhắc Shiva trong thread này là lộn rồi. Shiva là thần của Hồi Giáo và Ấn Độ Giáo , không có dính dáng gì đến đạo Phật hết.

    7- Tịnh Độ Tông

    Tịnh Độ được coi là nằm trong Phật Giáo, thuộc chi nhánh Đại Thừa. Bạn CP84 cho là Tịnh Độ đi sai giáo pháp của Phật Thích Ca , là đạo của đức tin giống như Ki Tô giáo , và chủ trương cầu xin chứ không cầu tiến. Bạn đúa ra nhiều dẫn chứng cho nhận xét này của bạn mà tôi đọc thấy chỗ đúng, chỗ sai. Đúng sai thế nào tôi sẽ xin trình bày ở những posts sau.



    Nhưng trước hết tôi xin trình bày tôi dựa vào đâu mà phân biệt chỗ nào đúng sai. Tôi xin thưa là tôi dựa vào chính lời của Phật Thích Ca.

    Phật dạy rằng : " các con hãy lấy giới luật làm Thầy ". Phật nói Pháp ta là thuyền chở các con qua bến mê vào bến giác. Tăng Đoàn của ta là chỗ cho các con nương nhờ.

    Quy y là quy theo Tam Bảo. Tam Bảo chính là Phật, Pháp, Tăng. Đứng đầu Tam Bảo chính là Phật. Ngài lại bảo giới luật là Thầy. Vì Phật chính là giới luật. Bản thân Phật là bài học sáng nhất vì cả đời Ngài giữ giới không bao giờ pham. Vì bản thân Ngài không phạm giới nên Ngài mới dứt hết nghiệp chướng mà thành Phật. Chứ bản thân Ngài mà phạm giới thì dù cho pháp Ngài cao siêu đến đâu, chánh trực đến đâu cũng không giúp Ngài thành Phật được.

    Phật tánh thì ai cũng có hết nhưng không giữ giới thì có kiến được cái Phật tánh đó của mình không? Chắc chắn là không rồi. Phật dạy các đệ tử còn có nhiều phương cách, tùy duyên tùy huệ của từng người. Nhưng giới luật thì không bao giờ thay đổi. Ai vào đạo Phật cũng phải giữ giới luật như nhau. Trí huệ càng cao thì càng phải giữ thêm nhiều giới luật.

    Vậy trong Tam Bảo, Tăng thì thay đổi hoài hoài, khi là người này khi là người khác, Pháp cũng tùy căn cơ mà quyền biến , chỉ có Phật, tức là giới luật là vĩnh viễn không thay đổi.

    Phật Thích Ca nói " các con tự thắp đuốc mà đi " nhưng lại dặn " lấy giới luật làm Thầy", tức là các con có thể tự tìm phương cách riêng mà tu, miễn phương cách đó giúp các con giữ đúng giới luật ta đã dạy thì là các con đã đi đúng đường, sẽ thành Phật đạo.

    Ba vị nói trên ( Osho, Thầy CQ, TS Thanh Hải ) đều vì mình đã phạm giới, lại dạy chúng đệ tử phạm giới theo nên cả 3 đều đi vào ma đạo. Ai theo các vị này thì quả thật sẽ xuống địa ngục.

    Vậy còn Pháp Môn Tịnh Độ? Tu theo Tịnh Độ có giúp đệ tử giữ gìn giới luật được chăng? Tôi sẽ bàn thêm về sau.

  5. #45
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Đối với cá nhân tôi cho rằng : PHẨM 4 nói về TÍN GIẢI trong kinh Pháp Hoa là ngạo mạng và hạ bệ ngay chính đức Bổn Sư một cách tồi tệ nhất . Đại thừa dẫn dụ Ông Tu-bồ-đề, Ca Chiên Diên, Đại Ca Diếp, Mục Kiền Liên đựơc thọ ký thành Phật đã được Niết bàn và tự thấy đã thỏa mãn với pháp thiền: Không, Vô Tướng, Vô Tác của Tiểu thừa, không có ý chí tiến lên cầu quả Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác bằng câu chuyện :

    Có một người, lúc nhỏ bé đã bỏ nhà bỏ cha đi hoang, sau mấy mươi năm rày đây mai đó phiêu bạt, lại thêm nghèo khổ rách rưới lang thang, phải đi xin mà độ nhật. Tình cờ chàng ta trở về đến xứ sở mà không hay biết.

    Thời gian ấy cha của chàng tìm con khắp nơi mà không gặp. Ông là Trưởng giả một nhà giàu lớn, châu báu đầy kho, tài sản vô lượng, tôi trai tớ gái đầy nhà. Ông chẳng những là một nhà giàu trong nước mà còn là người giao dịch thương mại lớn, của cải vô số ở khắp nhiều nước khác.

    Không nói với ai về việc cha con ly biệt, ông thường suy nghĩ: Ta nay giàu có thế này mà con không có, một mai chết đi thì sự nghiệp nầy giao phó cho ai, chắc phải mất hết. Ước gì ta gặp được con giao phó gia tài cho nó thì lúc chết được an lòng.

    Một hôm đứa con lạc loài tình cờ đến trước nhà cha mà không biết. Đứng ngoài cổng ngó vào, thấy Trưởng giả sang trọng uy nghiêm, đang ngồi trên ghế cao, xung quanh có đông người hầu hạ, trong nhà thì ngọc ngà châu báu không biết bao nhiêu. Chàng ta đâm hốt hoảng thầm nghĩ là mình lạc đến chỗ vua chúa. Nghĩ vậy, chàng sợ bị bắt, lén bỏ đi tìm một xóm nghèo hợp với tình cảnh chàng để kiếm việc làm lấy tiền độ nhật.

    Nhưng Trưởng giả đã thấy và nhận biết chàng cùng tử ấy là con mình. Ông liền sai hai gia nhân theo bắt chàng lại.

    Bị bắt chàng ta sợ quá, van xin mà không được tha, chàng ngã xuống đất chết ngất.

    Ông Trưởng giả thấy vậy ra lệnh: Thôi ta không cần con người ấy nữa đâu, hãy lấy nước lạnh rưới lên mặt cho nó tỉnh rồi cho đi, đừng nói gì với nó nữa.

    Biết con mình quen sống với cảnh nghèo hèn, ty tiện nay nếu đột nhiên nhận nó là con mình và mình lại giàu sang tột bậc, chắc chắn nó không tin mà còn đem lòng sợ sệt. Chi bằng thả nó đi rồi lập kế mà dẫn dụ nó.

    Ông Trưởng giả mật sai hai người giả dạng bần khổ, tìm đến anh chàng cùng tử, rủ đi làm thuê với công việc hốt phân. Khi nghe biết được trả công gấp đôi, chàng cùng tử nhận lời và cả ba vào làm việc hốt phân, ở nhà sau vườn ông Trưởng giả.

    Thấy con tiều tụy phân đất bẩn thỉu khắp mình, Trưởng giả thương xót quá, ông thay bỏ áo quần tốt đẹp sang trọng, mặc đồ thô rách lấm nhơ để lân la với ba người hốt phân. Một hôm ông Trưởng giả bảo chàng cùng tử: Anh này, nên tiếp tục làm việc ở đây đừng đi đâu nữa. Ta sẽ thêm tiền công cho. Nhà ta giàu có của cải vô số muốn cần dùng gì tùy ý ta sẽ thuận cho hết. Từ nay về sau cứ xem như con đẻ của ta và hãy gọi ta là cha nhé ! Nói xong ông Trưởng giả gọi chàng cùng tử bằng con. Chàng ta rất mừng, nhưng chàng vẫn tự đặt mình là kẻ hạ tiện làm thuê.

    Ít lâu sau, ông Trưởng giả có bệnh cho kêu anh chàng đến, giao cho anh việc quản lý gia tài và cho anh được quyền xuất nhập bất cấm trong nhà. Anh làm tròn bổn phận, nhưng không bao giờ dám tiêu xài quá số tiền công nhật của anh. Ở thì cũng ở nhà sau, chỗ cũ không dám tự tại lui tới nhà trên.

    Thời gian lâu sau,Trưởng giả biết mình sắp lìa trần, và đứa con nay đã thông minh có chí lớn. Ông bèn hội hết thân tộc, trước mặt vua quan ông chỉ chàng cùng tử mà tuyên bố: Anh này là con ruột của tôi. Bấy lâu xa cách, vì nó bỏ nhà ra đi từ lúc bé. Nay cha con chúng tôi được trùng phùng, tôi giao cho nó tất cả gia tài của tôi mà trước đây nó đã quản lý và biết rõ.

    Người con nghe nói mừng quá, cho là việc chưa từng có và tự nghĩ: "Ta vốn không có lòng mong cầu, nay kho tàng châu báu này tự nhiên mà đến".

    Nói câu chuyện "thí dụ" xong, ông Tu Bồ Đề, Ca Chiên Diên...bạch Phật:

    Ông Trưởng giả ví như đức Như Lai, còn chúng con thì như chàng cùng tử thất lạc bỏ cha bỏ nhà...Như Lai là cha, chúng con là con Phật mà không biết.

    Chúng con vì ba món khổ mà trong cảnh sanh, già, bệnh, chết, khổ não, sầu lo, chịu các sự mê lầm, ngu dốt cho nên ưa thích giáo pháp Tiểu thừa làm cái việc hốt phân tầm thường mà tự cho là thỏa mãn với cái giá trả công: Niết bàn.

    Như Lai không "bắt", không cưỡng bức chúng con đi theo con đường: Tất cả đều có phần hưởng thọ kho tàng tri kiến Như Lai mà tha cho chúng con theo ý chí thấp hèn, rồi phương tiện thuận theo chúng con mà lần lần dạy bảo.

    Chúng con là con của Phật mà không biết. Vì không biết nên không dám mong hưởng thọ cái sự nghiệp, cái gia tài vĩ đại của cha là Phật mà chỉ cam phận với số tiền làm thuê Nhị thừa. Ấy tại vì chúng con không dám nhận mình là con Phật nên Phật cũng không thể tự nhận là cha (không thể dạy pháp Đại thừa).

    Nay thì kho tàng pháp bảo vô giá của pháp vương lại tự nhiên mà đến, không mong cầu mà được !

    Đại thừa không dám nói thẳng là Ngài Thích Ca đã thành Phật lại vui mừng hớn hở và phát khởi lòng tin kiên cố mà mượn hình ảnh các Ông Tu-bồ-đề, Ca Chiên Diên, Đại Ca Diếp, Mục Kiền Liên .Họ quên rằng suốt 49 năm thuyết giảng chính Đức Phật hành đạo bằng phương pháp thiền: Không, Vô Tướng, Vô Tác mà ngày nay Tiểu thừa vẫn giữ đúng nguyên tắc không biến cải , thay đổi . Phải chăng Tiểu thừa không muốn tiến lên cầu quả Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác , điều mà Đại thừa cho là phải làm và cần thiết .Với giáo lý xây dựng cõi Phật thanh tịnh, hóa độ chúng sanh, hào quang đồng sự của Bồ tát hạnh, không có lòng ưa thích. Về ví dụ Cùng Tử để trình lên Phật về sự Tín Giải của Nhị thừa là câu chuyện bần cùng cơ cực vì bỏ cha, bỏ nhà đi hoang, cho nên cùng tử cũng có nghĩa là "đứa con bỏ đi hoang". Ngoài ra ý cùng tử bỏ đi hoang là đã có sự ở chung trong sự Viên Giác Diệu Tâm Thanh Tịnh Như Lai ngày xưa . Đây là điều Đại thừa diễn giải thêm nhằm chê trách Như Lai chứ chẳng phải các Đại đệ tử nào cả . Đại thừa không phải là lần đầu tiên mà hầu hết trong kinh Tịnh độ đều dùng nhiều ẩn dụ nhằm HẠ BỆ Như Lai . Ví dụ : Bộ kinh Duy Ma Cật là một cổ trọng pháo nhắm thẳng vào thành trì Như Lai bắn phá nặng nhất khi họ mượn những câu chuyện 10 Đại đệ tử của Ngài Thích Ca lần lược bị ông ta làm nhục nên không dám đi thăm bệnh . Không một đối tác nào sụp đỗ bằng sự không vâng lời dù Ngài Thích Ca là bậc thầy chính thức cắc cử các đệ tử đến thăm bệnh Duy Ma Cật .

    Tịnh độ huynh hoang , tự đắc nói rằng :

    Cha lúc nào cũng nhớ con, tìm con với ước mong tha thiết là giao hết cho con cái gia tài vô giá của mình, trước ngày nhắm mắt. Phật ra đời vì chúng sanh, tất cả cho chúng sanh, không lúc nào xao lãng nguyện vọng truyền trao trọn vẹn cho chúng sanh cái Tri Kiến Phật mà chúng sanh vốn có, trước khi nhập Niết bàn.

    Cha bỏ xứ đi tìm con, chỉ cái việc Phật xuất thế, hạ trần vì chúng sanh mà vào đời ngũ trược.

    Khi cha con gặp nhau thì quá cách biệt. Cha giàu có tột bậc, con thì nghèo khổ rách rưới lang thang. Cha thì biết rõ con mà con thì tự thấy mình quá hèn, quá thấp, không dám ngó thì còn nói chi tới việc nhìn cha. Phật xuất thế tìm đến chúng sanh nhưng Phật thì Chánh Biến Tri Giác Vô Thượng, còn chúng sanh thì vô minh dày đặc, nghiệp chướng nặng nề, một chút chánh kiến không có, thì ai mà dám bảo mình là con của Phật (Phật tử). Ai dám nghĩ rằng mình có quyền thừa hưởng kho tàng pháp bảo của Như Lai ?

    Đó là lý do, bằng chứng phát xuất từ ý nghĩ không chánh lý nhưng mà chúng sanh thường nảy ra ý nghĩ tự khinh . Một hình ảnh so sánh quá chênh lệch và hạ tiện . Đối với giai cấp hạ tiện ( nô lệ ) thời đó tại Ấn Độ là chỉ làm nghề đi hốt phân . Vậy mà Đại thừa dám cho là Đức Phật và cả các đệ tử không biết diệu dụng Đại thừa giống như một gia tài nhiều bảo vật trân quý , lại bỏ đi hoang , lang thang suốt 49 năm chỉ giảng toàn là những vấn đề hạng hẹp như Không, Vô Tướng, Vô Tác chẳng khác nào kẻ chỉ đi HỐT PHÂN . Đức Phật và tăng đoàn hoàn toàn mê muội và tự mãn khi quanh quẩn chừng ấy giáo lý mà đạt đến Niết Bàn và thành Phật .

    Đại thừa cho rằng Phật không dạy thẳng NHẤT THỪA vì trình độ chúng sanh thấp kém . Vì vậy Ngài phải tuỳ cơ mà diệu dụng giảng HAI THỪA ( nhị thừa ) qua hình ảnh sai hai người không uy đức làm môi giới dẫn dụ chúng sanh cùng tử lần theo vào nhà Tri Kiến Phật . Cái kho tàng pháp bảo vô giá mà bấy lâu nay dạy dỗ, tập cho sử dụng, nay trao trọn cho tất cả chúng sanh, con Phật thì Tất cả chúng sanh sẽ thành Phật.Điều này Đại thừa quá ngạo mạng và chủ quang . Sau hơn 2000 năm Đại thừa - Tịnh độ hành giáo như vậy đã đưa đựơc bao nhiêu con người thành PHẬT ? Phải chăng chỉ có hàng trăm vị Phật từ chín tầng mây không ai biết đến do Trung Hoa bày ra trong kinh Sám hối , Phổ Hiền , Pháp Hoa , Lăng Nghiêm v.v.....




    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  6. #46
    Join Date
    Jun 2009
    Posts
    701
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Đạo Phật không nên gọi là tôn giáo vì đạo Phật không có đấng cứu rỗi. Muốn vào Niết Bàn thì ta tự đem ta vào. Phật pháp chính ra là triết lý. Đã là triết lý lại là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thì đương nhiên là cao siêu màu nhiệm vô cùng. Đây là cái tuyệt vời của đạo Phật mà cũng là cái khó khăn của đạo Phật. Tuyệt vời là vì khi kẻ có trí huệ tìm đến thì kính phục muôn phần, còn cái khó khăn là khi người kém trí huệ tìm đến thì không hiểu gì hết hay bâng khuâng lo sợ.

    Vì sao khi Đức Phật Thích Ca bắt đầu thuyết pháp thì Ngài thuyết cho bạn đồng tu trước rồi đến mấy thầy balamon rồi mới đến chúng đệ tử sau? Vì những người này có đủ trí huệ để Ngài giảng cho họ ngộ được trong thời gian ngắn nhất , để Ngài có thêm Tăng Đoàn giúp đỡ Ngài trong việc truyền bá đạo của Ngài. Pháp của Ngài cũng có bài dễ hiểu có bài khó hiểu , tùy trí huệ từng người mà truyền thụ.

    Tôi thiết nghĩ ngày xưa lúc Phật ngồi giảng kinh cho đại chúng, trong số trăm ngàn người nghe chưa biết có mấy người hiểu được, vì vậy mới có chuyện Phật đưa hoa sen lên chỉ có Ca Diếp mỉm cười. Còn lại đa số không biết hiểu được mấy tý. Nhưng lúc đó tại sao họ vẫn đến nghe Phật thuyết giảng, vẫn quy y theo Ngài rất nhiều , đó là vì họ tin là theo Ngài thì sẽ dẫn đến giải thoát. Như vậy thì cũng có sự hiện hữu của đức tin trong đạo Phật. Người có trí huệ thì đòi hỏi hiểu trước tin sau, nhưng đại đa số quần chúng thì tin trước rồi may ra sau mới hiểu được.

    Thầy Chân Quang nói là các vị Thầy bên Trung Hoa đặt ra pháp môn Tịnh Độ và đức tin bánh vẽ là để ru ngủ dân Việt Nam cho dễ đô hộ và soạn thêm vô số kinh sách để Phật Tử tụng hoài không hết.

    Theo tôi thấy thì Tịnh Độ được đặt ra là nhằm dễ dàng truyền bá Phật Giáo khắp nơi, đến khắp hang cùng ngõ hẻm và đủ mọi loại người , để ai ai cũng có thể bước bước chân đầu tiên vào đạo Phật. Còn việc Trung Hoa đô hộ Việt Nam thì thời ấy chính quyền toàn dùng vũ lực để đô hộ và dùng cách đồng hóa người dân để làm mất văn hoá và truyền thống địa phương làm người dân không còn phân biệt ai là ta ai là thù, chứ không phải dùng Phật giáo để ru ngủ.

    Đọc lich sử Phật Giáo Trung Hoa thì thấy đạo Phật bên ấy lúc thạnh lúc suy, mà thạnh hay suy tùy theo các vi vua có tin tưởng Phật pháp hay không. Nhằm thời vị vua nào tin Phật thì Phật giáo hưng thịnh, nhằm vì vua nào không tin, thì đốt chùa giết Tăng. Đọc sử Trung Hoa tôi chưa thấy chỗ nào ghi chép lại vị vua nào đã dùng Phật giáo để ru ngủ dân cho dễ trị.

    Đọc lịch sử Phật Giáo Việt Nam thì tuy Phật Giáo được đưa vào nước ta rất sớm ( khoảng thế kỷ thứ 2 )nhưng mãi đến thời nhà Tùy ( khoảng năm 600 ) mới bắt đầu hưng thịnh.

    Phật Giáo Trung Hoa truyền vào Việt Nam trong giai đoạn phôi thai chỉ là do 1 vị Tăng đơn độc đến truyền bá : Theo các sử gia đáng tin cậy, thì nhà truyền-giáo đầu tiên đến Việt nam ( lúc bấy giờ là đất Giao-Châu) là Ngài Mâu-Bác, người quận Thương Ngô tức là Ngô Châu ( Trung Hoa bây giờ ). Sau khi vua Hán Linh-Ðế mất (189) nước Tàu thường loạn lạc, Ngài theo mẹ qua ở Giao Châu và truyền bá đạo Phật.

    Hai vị kế tiếp đến từ Ấn Độ chứ không phải Trung Hoa : Nhà truyền giáo thứ hai đặt chân lên đất Giao-Châu là Ngài Khương-Tăng-Hội, Ngài gốc Khương-Cư ( Soadiane, Ấn Ðộ ). Mục đích của Ngài là sang Trung Hoa, nhưng ông thân của Ngài sang Giao-Châu buôn bán nên Ngài cũng theo đường Giao-Châu để sang Trung Hoa. Trung Hoa lúc ấy về đời Tam-Quốc, Ngài đến nước Ðông-Ngô và được Ngô-Tôn-Quyền sùng mộ, xin quy-y với Ngài ( 229-252 ). Như thế là Ngài Khương-Tăng-Hội ghé lại Giao-Châu vào khoảng đầu thế kỷ thứ III, sau Tây lịch. Vào khoảng giữa thế kỷ thứ III đến cuối thế kỷ thứ III, đất Giao-Châu lại đón tiếp hai nhà sư Ấn Ðộ nữa là Ngài Ma-Ha-Kỳ-Vực và Chi-Cương-Lương, trên bước đường sang Trung Hoa truyền-giáo của các Ngài, vào đời nhà Tần (265-306).

    Đến đời nhà Tùy thì Thiền Tông Trung Hoa được truyền vao Việt Nam : Phật Giáo Trung Hoa gồm mười tông phái, mà chỉ có Thiền-Tông là được truyền đi sang Việt-Nam trước nhất và mạnh mẽ nhất. Tông này được truyền vào Việt-Nam trước hết do Ngài Tỳ-Ni-Ða-Lưu-Chi (Vinitaruci) đưa sang (580). Ngài là đệ-tử được truyền tâm-pháp của Tam-tổ Tăng-Xán, và chính là sơ-tổ Thiền-Tông ở Việt-Nam. Ðến đời Đường (820) lại có Ngài Vô-ngôn-Thông ở Trung Hoa sang truyền giáo, lập thành phái Thiền-Tôn thứ hai; kế đó là các phái Thảo-Ðường, Tào-động, Lâm-tế v.v.. lần lượt truyền sang Việt-Nam

    Như vậy ta thấy Phật Giáo Trung Hoa truyền vào Việt Nam thuở sơ khởi là do các vì Tăng tự mình tìm đến truyền giáo, chứ không phải do vua nào gửi sang với ý đồ chính trị dùng Phật giáo để ru ngủ dân chúng phòng tránh nổi loạn. Hơn nữa Tông phái truyền sang trước là Thiền tông chứ không phải Tịnh Độ Tông.

    Mãi đến đời nhà Tống, vua Ðại-Hành sai sứ sang triều cống nhà Tống mới xin thỉnh bộ "Cữu kinh" và "Ðại tạng kinh" đem về truyền bá. Ðây là lần đầu tiên nước ta có tăng-sĩ công khai sang thỉnh kinh ở Trung Hoa về.

    Phật Giáo Đại Thừa ở Việt Nam hưng thịnh nhất là đời nhà Trần, nhưng đó cũng là thời Việt Nam chống xâm lăng từ Trung Hoa cao nhất và thành công nhất.

    Như vậy theo tôi thấy nếu nói Phật Giáo Đại Thừa và Tịnh Độ từ Trung Hoa truyền sang với ý đồ chính trị là để ru ngủ dân Việt nhằm dập tắt lòng quật cường dân tộc của dân Việt là không có chứng cứ lịch sử xác thật.

  7. #47
    Join Date
    Jun 2009
    Posts
    701
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Khi tôi đọc đầu đề Thread là Chân Lý Thích Ca tôi nghĩ là bạn đang trình bày về thế nào là chân lý Thích Ca. Sau khi đọc các posts của bạn ở đây tôi thây bạn lại nói nhiều về thế nào là không phải là chân lý Thích Ca. Tôi nghĩ là bạn đang hướng dẫn phản đề sơ sơ trước rồi mới quay lại giảng vào đề chính là Chân Lý Thích Ca, nên tôi mới chia xẻ trước theo tôi nghĩ thế nào là chân lý Thích Ca trong ý tôi, để nhìn xem Đại Thừa và Tịnh Độ có đi ngược lại không.

    Nhưng tôi bây giờ bạn cho tôi biết chủ đề chính chẳng phải là bàn về cái gì là chân lý của Phật Thích Ca , mà là Đại thừa -Tịnh độ đang đánh phá chân lý của Thích Ca bằng giáo lý cứu độ và Đại thừa đi ngược lại chân lý độc lập, giải thoát của Như Lai.

    Những gì bạn đưa ra và nói là chân lý của Thích Ca là dựa trên Tiểu thừa. Ý nói Tiểu thừa mới đúng là Phật giáo chánh pháp và Bát chánh đạo ( vô ngã ) của Tiểu thừa mới đưa được con người đến giải thoát. Còn Đại Thừa ( vô minh ) và nhất là Tịnh Độ ( vô tướng ) thì không những đi sai đường mà còn không thể đưa con người đến giải thoát.


    Theo tôi biết thì trong Đại Thừa có Tiểu Thừa, nhưng trong Tiểu thừa thì không có Đại Thừa. Vì vậy trong Tiểu Thừa thì có Thiền mà Đại Thừa cũng có nhưng trong Tiểu thừa thì không có Tịnh Độ mà Đại Thừa thì có.

    Đại Thừa và Tiểu Thừa đếu có Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo tuy cách hiểu hơi khác nhau. Tịnh Độ thì có Tứ Diệu Đế nhưng không có Bát Chánh Đạo. Đại Thừa và Tiểu Thừa có Niết Bàn Còn Tịnh Độ thì có Tây Phương Cực Lạc.

    Tịnh Độ thì nằm trong Đại Thừa, nhưng chỉ là một phần của Đại Thừa. Tịnh Độ có thể nói là một nấc thang để người tu bước từ Tứ Diệu Đế qua Bát Chánh Đạo.

    Tu theo Tiểu Thừa thì phải đi thẳng từ Tứ Diệu Đế qua Bát Chánh Đạo. Giáo pháp cơ bản của Tiểu thừa gồm có Tứ diệu đế, Duyên khởi , thuyết Vô ngã và luật nhân quả, Nghiệp . Phép tu hành của Tiểu thừa dựa trên Bát chính đạo mà thôi. Tiểu thừa tập trung tuyệt đối vào con đường đi đến giải thoát. Các lí luận triết học không đóng vai trò quan trọng—chúng thậm chí được xem là trở ngại trên đường giải thoát. Giải thoát khỏi luân hồi, thoát khỏi sự tái sinh và đạt Niết-bàn là mục đích cao nhất của Tiểu thừa. Muốn đạt được mục đích này, hành giả phải dựa vào sức mình, xa lánh thế gian. Vì vậy Tiểu thừa quan niệm phải sống viễn li, sống cuộc đời của một kẻ tu hành. Đối với Tiểu thừa, cuộc sống tại gia không thể nào đưa đến sự giải thoát. Hình ảnh tiêu biểu của Tiểu thừa là A-la-hán, là người dựa vào tự lực để giải thoát. Phật Thích Ca Mâu Ni theo Tiểu thừa là người không có tiền kiếp Phật, cũng là vị Phật đầu tiên và duy nhất.

    Tu theo Đại Thừa thì có nhiều phương cách và chấp nhận sự giúp đỡ của các vi Bồ Tát. Phật Thích Ca Mâu Ni theo Đại thừa là người có nhiều tiền kiếp Phật, không phải là vị Phật đầu tiên và duy nhất. Phật trong Tiểu thừa có 1, còn Phật trong Đại Thừa có hằng hà sa số. Đại thừa xuất phát (phần lớn) từ hai nhánh của Tiểu thừa là Đại chúng bộ và Thuyết nhất thiết hữu bộ, lấy từ đó những yếu tố căn bản của giáo pháp mình: từ Đại chúng bộ, Đại thừa xem Phật là hoá thân của một thật thể siêu việt, lấy hình ảnh xả thân của các vị Bồ Tát và quan điểm tính Không. Từ Thuyết nhất thiết hữu bộ, Đại thừa thừa nhận quan điểm Tam thân.

    Tôi nhận thấy Tiểu thừa là học theo rập khuôn cuộc đời của Đức Phật, chứ không chú trọng đến triết lý của đạo Ngài. Ngài xuất gia thì ta cũng xuất gia, Ngài khất thực thì ta cũng phải khất thực , tất cả tâm tư đều dồn vào giới và định. Định thì chủ yếu là kiết già ngồi thiền. Kinh Phật không cần đọc nhiều và nhất là không luận pháp. Ta đạt đến Niết Bàn cho ta mà thôi. Tăng lữ Tiểu thừa không đi hoằng pháp.

    Đại thừa thì thiên về luận Pháp, chú trọng triết lý nên rườm rà hình thức nhưng lại không câu nệ phương pháp. Xuất gia hay tại gia đều được. Không cần khất thực. Định thì thiền hay niệm đều được. T6on chỉ của Đại thừa là giúp tất cả chúng sinh giải thoát chứ không phải mình ta. Tăng lữ Đại thừa coi trọng việc đi hoằng pháp.

    Vậy tôi thấy về căn bản giáo pháp thì Đại thừa và Tiểu thừa chỉ giống nhau ở giới luật, còn thì khác hết. Tịnh Độ cũng chỉ giống Tiểu thừa ở giới luật. Còn khác biệt lớn nhất là tư tưởng. Phật Thích Ca trong Đại thừa cũng không giống Phật Thích Ca trong Tiểu thừa.

    Tư tưởng đã khác thì đương nhiên có tranh chấp, có so đo. Đại thừa có nhiều kinh dịch ra sau và nhiều bài luận viết sau hơn thì đương nhiên có nhiều cơ hội để tự tâng bốc mình. Vì Phật Thích Ca trong Đại thừa cũng không giống Phật Thích Ca trong Tiểu thừa nên lời dạy cũng khác nhau luôn. Nên khi bạn nói
    Đại thừa -Tịnh độ đang đánh phá chân lý của Thích Ca bằng giáo lý cứu độ là bạn muốn nói Phật Thích Ca trong Tiểu thừa. Và khi bạn nói Đại thừa đi ngược lại chân lý độc lập, giải thoát của Như Lai, thì Như Lai này là Như Lai của Tiểu thừa.

    Như vậy tức là bạn muốn nói lời Phật Thích Ca theo trong kinh sách Tiểu thừa mới là đúng.

    Theo tôi, tôi lại thấy lời Phật Thích Ca theo trong kinh sách Đại thừa mới là đầy đủ hơn.

  8. #48
    Join Date
    Jun 2009
    Posts
    701
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Về sự tranh chấp giữa Đại thừa và Tiểu thừa thì đã có rất nhiều vị bàn đến. Tôi thấy có bài này của Thầy Thích Giác Hoàng là vô tư và có nhiều tài liệu.

    http://www.daophatngaynay.com/viet/hopthu/dai_thua_va_tieu_thua.htm


    Nếu bạn dùng chân lý Như Lai trong Tiểu thừa làm mấu chốt bàn luận thì những lời bạn nói là đúng, vì 1 số kinh điển Đại thừa quả thật đã có dụng ý bài bác tư tưởng của Tiểu thừa, và pháp môn Tịnh Độ ngoài giới luật chẳng có điểm nào phù hợp với tư tưởng Tiểu thừa hết. Và như vậy thì tôi chẳng còn gì để bàn luận.

    Nhưng nếu dùng nguyện vọng và con người của Như Lai trong lịch sử thì lại khác.

    Sự tích Phật kể lại là lúc Phật sanh ra có nhiều điều kỳ lạ. Ngài sanh là Thái tử, lại có 32 tướng tốt , bước đi là nở hoa sen vv.. Như vậy theo luật nhân quả thì Ngài đã có gieo nhân tốt bao nhiêu kiếp nên kiếp này mới được như thế. Như vậy thì tâm Bồ đề của Ngài đã mở từ lâu, đến kiếp này duyên quả chín mùi nên Ngài mới thành Phật.

    Vậy chúng ta nếu chưa có những nhân tốt này từ bao nhiêu kiếp trước, mà chỉ kiếp này mới bắt đầu học Bát chánh pháp, trì trí huệ định mà thành Phật được chăng? Tôi thấy sao mà khó quá. Rồi còn trường hợp kẹt trong gia nhi thê tử không xuất gia được thì làm sao? Hay trí huệ kém quá không quán nổi không, vô tướng, tác thì làm thế nào?

    Phật Thích Ca sau khi đắc đạo thì đi hoằng pháp khắp các nơi vì muốn cứu độ cho tất cả chúng sinh. Ngài tùy duyên mà hóa , tùy căn cơ mà độ. Như thế Ngài cũng không chấp nhất phương pháp, thì tôi nghĩ Đại Thừa có đặt ra Tịnh Độ cũng không đi ngược lại nguyện vọng của Ngài , dù là nó đi rất khác với cách Ngài đã thực hành.

    Phật thì chỉ cần 1 miếng ván nhỏ cũng qua được đến bến giác, còn chúng sanh ngu muội thì phải dùng cái bè to cỡ Tịnh Độ mới qua tới Cực Lạc thế giới trước, rồi ở đó tu thêm cho tới khi vào Niết bàn. Cực lạc thế giới như tôi hiểu cũng như trại đinh cư Thái Lan trên đường chờ đi Mỹ cho người vượt biên vậy.

    Tịnh Độ không dùng Bát Chánh Đạo mà nương vào Thiền để làm phương pháp tu. Dùng việc niệm Phật để tịnh tâm và hành trì giới luật. Tịnh Độ dùng đức tin vào pháp môn niệm và vào Phật A Di Đà để đạt được nhất tâm, nhưng Tịnh Độ vẫn tin vào Phật Thích Ca và mục đích cuối cùng vẫn là nhập Niết Bàn. Tịnh Độ giống con đường vòng vèo lên đèo, đi dễ hơn nhưng lâu hơn và nhiều trạm hơn.

    Còn kinh Đại thừa nói là bài giảng sau cao hơn bài giảng đầu, thì tôi suy luận thấy không đụng Chính là bài giảng đầu là khó nhất, vì tuy nghe đơn giản mà rất khó thực hành. Còn mấy bài sau tư tưởng đi sâu vô triết lý hơn, nhiều chi tiết hơn, nhưng lại dễ thực hành.

    Nếu hỏi sau hơn 2000 năm Đại thừa - Tịnh độ hành giáo như vậy đã đưa đựơc bao nhiêu con người thành PHẬT ? Phải chăng chỉ có hàng trăm vị Phật từ chín tầng mây không ai biết đến do Trung Hoa bày ra trong kinh Sám hối , Phổ Hiền , Pháp Hoa , Lăng Nghiêm v.v..... thì cũng nên hỏi chứ mấy đường hướng kia như Tiểu thừa hay Thiền tông hành giáo như vậy thì đã đựơc bao nhiêu người thành Phật? Hỏi như vậy thì tôi không biết ai có đủ thẩm quyền để trả lời.

    Còn nói về hoằng pháp thì Đại Thừa Tịnh Độ thành công hơn. Tiểu thừa giờ đã thu nhỏ chỉ còn trong nhiều nhất ở Thái, Lào, Miến điện, Singapore.... trong khi Đại Thừa thì lan tràn khắp nơi.

  9. #49
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Mặc dầu Đức Phật là đấng chánh đẳng chánh giác , nhưng vì thương chúng sanh mà thị hiện giữa đời , va chạm và sống hẳn ở thế gian suốt 80 năm dài đăng đẳng. Cõi ta bà đầy ô trọc và nham hiểm , thâm độc vì bản chất do tam độc THAM - SÂN - SI. Những gì tốt xấu ở cõi này ví như bùn lầy , nhưng Ngài là cánh Hoa Sen từ bùn mà thị hiện vươn lên một cách Anh hùng ( Đại hùng ) - Độc lập ( Tự lực ) - Hiền lành ( Từ bi ) hoàn toàn trong sạch không bị ô nhiểm .

    Suốt 49 năm hành đạo , tiếp xúc va chạm với đời đủ hạng người , đủ mọi loài..... không làm sao khỏi gặp những chuyện trần ai khổ não , những kẻ thù cùng anh em ( Đề Ba Đạt Đa ) và người ngoại đạo Bà La Môn nhiều lần mắng chửi , giết hại , trong đó phụ nữ là kẻ thù nguy hiểm nhất. Trích bài giảng Phẩm năm : Dược Thảo Dụ , kinh Pháp Hoa ghi :

    Ca Diếp, nên biết ! Như Lai hiện ra đời ví như vầng mây lớn hiện ra ấy. Giữa trời, người A tu la....trong ba ngàn thế giới, Phật đường hoàng tuyên bố:

    "Ta là đấng Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hành túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật, Thế tôn.

    Người chưa được độ thì làm cho được độ. Người chưa tỏ ngộ thì làm cho ngộ. Người chưa an thì làm cho an. Người chưa có Niết bàn thì làm cho chứng. Đời nầy và đời sau Phật đều biết đúng như thật. Ta là bậc Nhất thiết trí, bậc Nhất thiết kiến, là bậc trí đạo, bậc khai đạo, bậc thuyết đạo. Hàng trời, người, A tu la đều nên đến để nghe và học pháp".

    Đức Phật thương chúng sanh nên hóa độ tất cả , dù ai tốt xấu cũng tùy duyên mà hóa độ , tuỳ bệnh mà cho thuốc , Ngài hành đạo bằng tình thương cao cả , vĩ đại như một lương y hơn là một giáo chủ quyền uy muốn cứu rỗi , tha , phạt ai tùy thích , điểm TRONG SÁNG và NỔI BẬC chân lý Thích Ca là đấy. Ai bảo bài chân lý mà KHÔNG THẤY nói về chân lý , vì họ còn vô minh.

    Vì sao phụ nữ nguy hiểm? Cái bản tánh do Duyên tạo con người họ phải như vậy , không những đối với nhận định của Đức Phật mà ngay cả God cũng biết như thế. Bởi vậy khi bà Dì mẫu Pajapati Gotami ( Ma Ha Ba Xà Ba Đề) xin xuất gia Ngài cương quyết từ chối. Ngài Anan ba lần năng nỉ và trình bày công lao nuôi dưỡng và cuối cùng Ngài xuôi lòng chấp nhận với điều kiện phải thi hành đúng 8 điều luật cho một người nữ trong Tăng đoàn. Khi nghe Ananda thuật lại 8 điều ấy, bà Maha Pajàpati cùng các vị trong đoàn đều hoan hỷ đồng ý, và thế là Giáo hội Ni giới được thành lập. Ngài nói với Anan rằng :

    " Này Anan , nếu Phụ nữ không được xuất gia trong Chánh pháp và Luật của Ta thì cuộc sống Thánh hạnh các đệ tử của Ta có thể kéo dài lâu một ngàn năm , từ nay Chánh pháp ấy chỉ còn tồn tại 500 năm "

    "Này Ananda, trong ngôi nhà nào nhiều nữ giới và ít đàn ông thì ăn trộm dễ lọt vào. Cũng dường như thế, nếu hàng phụ nữ sống trong pháp và luật của Như Lai thì giáo pháp thiêng liêng khó duy trì lâu. Cũng như người đắp đê bên một hồ nước rộng lớn cho nước không tràn qua, ta cũng vậy, chế ra Bát kỉnh pháp cho các Tỳ kheo ni để họ tuân thủ trọn đời".


    Thế thì một cư sĩ mới mon men bên bờ Chánh đẳng Chánh giác còn lờ mờ như tôi làm sao không sợ và dám gần phụ nữ được chứ ? Tránh xa không đối thoại với họ là tốt như lời Đức Thế Tôn đã dạy cho Anan.

    Vì thương chúng sanh mà thị hiện vào đời là Ngài chấp nhận tất cả khổ đau , xấu tốt của đời mà hành đạo. Bài Pháp đầu tiên là bài giảng về Tứ diệu đế (Tứ Thánh đế) được Đức Thế Tôn chỉ bày rõ ràng. Nghe xong, tôn giả Kodanna (Kiều Trần Như) chứng quả Tu Đà Hoàn. Đức Thế Tôn thu nhận năm tôn giả làm các đệ tử xuất gia đầu tiên , từ đó ngôi Tam bảo đã được hình thành. Ngài cũng hoá độ chúng sanh và hai con Nai biểu tượng cho địa điểm thuyết pháp (Lộc Uyển) và bánh xe Dhamma Cakka tức là bánh xe pháp - "Pháp Luân". Cả đầu đề bài khi được giảng là: Dhamma Cakkappavattana, có nghĩa là Chuyển Pháp Luân . Ngài giảng rõ ràng bằng lời khuyên các tu sĩ không nên mắc vào hai cực đoan:

    - Một là đam mê thú vui dục lạc thế gian, vì nó giả tạm, nhất thời, tầm thường, ngăn cản mọi tiến bộ tâm linh, cực đoan.

    -Hai là khổ hạnh ép sát, nó làm mỏi mệt tinh thần, mê mờ trí tuệ.

    Ngài khuyến tấn họ nên theo con đường trung đạo dẫn tới một cuộc sống thanh tịnh, trí tuệ, sáng suốt, giải thoát tối hậu. Đó là con đường đạo 8 chánh - Bát chánh đạo:

    1. Chánh tri kiến: thấy biết chân chánh,

    2. Chánh tư duy: suy nghĩ chân chánh,

    3. Chánh ngữ: nói năng chân chánh,

    4. Chánh nghiệp: hành động chân chánh,

    5. Chánh mạng: sinh sống chân chánh,

    6. Chánh tinh tấn: siêng năng chân chánh,

    7. Chánh niệm: nhớ nghĩ chân chánh,

    8. Chánh định: tập trung tư tưởng chân chánh.



    Và bốn Thánh đế được Đức Phật giảng tiếp theo, đó là chân lý về sự Khổ (Khổ đế), chân lý về nguyên nhân của sự Khổ (Tập đế), chân lý về sự diệt Khổ (Diệt đế) và chân lý về con đường diệt Khổ (Đạo đế). Một lần nữa quý Phật tử có thấy Ngài dạy cho ai phải cầu nguyện danh Ngài một ngày , hai ngày..... cho đến bảy ngày bằng " Một tâm không loạn " ( Nhất tâm bất lọan ) đâu. Đây là điểm để thấy sự khác biệt giữa giáo lý Thích Ca và kinh tự sáng tác của Đại thừa - Tịnh độ thêm vào như thế nào .

    Đức Bổn Sư đã có 60 người đệ tử đầu tiên đều là A La Hán. Ngài quyết định đưa họ đi khắp nơi để truyền bá chánh pháp. Trước khi họ lên đường, Ngài đã động viên, kêu gọi các đệ tử rằng:

    "Này các Tỳ kheo! Như Lai đã được giải thoát hết mọi ràng buộc thế gian và xuất thế gian (các cõi trời). Các ông cũng vậy... Này các Tỳ kheo, hãy đi vì lợi lạc của nhiều người, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng lân mẫn đối với thế gian, vì lợi lạc, vì hạnh phúc của trời và người. các ông hãy đi, nhưng đừng đi hai người cùng một hướng, hãy đi mỗi người một ngã, hãy truyền bá chánh pháp. Này các Tỳ kheo, chánh pháp toàn thiện ở phần đầu, phần giữa cũng như phần cuối, cả trong ý tứ và lời văn. Hãy tuyên bố về cuộc sống toàn thiện và thanh tịnh... Chính Như Lai cũng đi, Như Lai sẽ đi về hướng Uruve là ở Sanànigàma để hoằng dương giáo pháp. Hãy phất lên ngọn cờ của bậc thiện trí, hãy truyền dạy giáo pháp cao siêu, hãy mang lại sự tốt đẹp cho người khác; được vậy, là các ông đã hoàn tất nhiệm vụ"

    (Mahavagga, 19-20).

    Đức Phật không khuyên tất cả mọi người nên rời bỏ đời sống gia đình để xuất gia, trở thành người sống không nhà cửa, không tài sản, sự nghiệp , điều này ngoại đạo xuyên tạc Phật giáo là " Vô gia đình , vô tổ quốc , bi quan , yếm thế.... " là không đúng , có lẽ họ nhìn lầm Phật giáo Đại thừa chăng? Tôi nói nguy hiểm mà Tịnh độ đã bóp méo giáo lý , phá nát gia tài của Thích Ca là những điểm này. Một người cư sĩ cũng có thể sống đời cao đẹp thích ứng với giáo pháp và đắc quả Thánh như thường , không cần phải xây chùa to , Phật lớn , đặt nhiều thùng Tam Bảo quanh các Phật đài để thâu hụi nhằm làm béo bở những tu sĩ Đại thừa. Ngài không dạy như thế , mà Thế tôn luôn luôn nhắc nhở phải có cuộc sống đầy ĐẠO HẠNH lấy giới luật làm kim chỉ nam. Giới luật thì Tịnh độ nung nẩy , phá rào từ lâu khi mà mang danh xưng CỔ XE LỚN ( Đại thừa ) , thế thiên hành đạo , vung đao hành hiệp với đời bằng phương thức kinh doanh tiền bạc , buôn bán băng giảng DVD để đưa đến tranh chấp , hạ bệ nhau vì quyền lợi , tập võ công như Thiếu Lâm Tự , trang bị vũ khí , quân đội như Phật giáo Cao Đài , Hòa Hảo , làm chính trị như GHPGVNTN ngày nay , lại còn mua danh bán tước nhằm đoạt giải Nobel Hòa Bình ....... những thứ đó là giết hại Chân lý Thích Ca và Ngài hoàn toàn không giáo huấn như thế .


    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  10. #50
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Hầu hết bộ kinh Pháp Hoa mượn tiếng là do Như Lai thuyết giảng nhưng thực chất là hạ bệ và bôi nhọ Thích Ca không còn manh giáp . Nếu không đọc sâu nhìn kỷ thì bề ngoài cứ tin rằng quả thật do Thích Ca thuyết tức là Pháp Hoa đúng không sai . Ngay đức Phật phải tu qua 12 kiếp cũng không nhanh bằng thọ ký Pháp Hoa . Trong Phẩm 6 THỌ KÝ có ghi rõ :

    Biết tâm niệm của các đệ tử, Thế Tôn bèn bảo:

    "Ông Tu Bồ Đề, ở đời vị lai phụng thờ 300 muôn ức na-do-tha Phật, cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen, thường tu hạnh thanh tịnh, tròn đủ đạo Bồ tát. Thân rốt sau thành Phật hiệu Danh Tướng Như Lai, đầy đủ mười đức hiệu. Kiếp tên Hữu Bửu, nước tên Bửu Sanh, quốc độ bằng thẳng, đất lưu ly, cây báu trang nghiêm, hoa báu khắp đất. Không có các thứ nhiễm ô bất tịnh. Dân cõi nước đó chỗ ở đẹp đẽ, nguy nga, tráng lệ. Hàng đệ tử Thanh Văn đông không kể xiết. Chúng Bồ tát vô số ức na do tha. Đức Phật thọ 12 tiểu kiếp. Chánh pháp trụ ở đời 20 tiểu kiếp. Phật thường trụ trong hư không thuyết pháp độ thoát vô lượng Bồ tát và Thanh Văn.

    Rồi đức Thế Tôn cũng nói bài kệ lập lại ý nghĩa trên.

    Đức Thế Tôn dạy tiếp: Ông Ca Chiên Diên đời vị lai dùng các đồ cúng dường và phụng thờ 8.000 ức Phật. Sau khi chư Phật diệt độ, ông dựng tháp cao 1.000 do tuần, rộng 500 do tuần, toàn bằng vàng bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não, san hô, hổ phách, còn cúng các thứ hoa thơm, chuỗi ngọc, hương xoa, hương đốt, lọng nhiễu, tràng phan....làm cho tháp miếu huy hoàng tráng lệ. Sau đó, lại cúng dường 20 muôn ức Phật nữa. Bấy giờ đầy đủ đạo Bồ tát, ông sẽ được thành Phật hiệu Diêm Phù Na Đề Kim Quang Như Lai đủ mười đức hiệu. Quốc độ của Phật toàn thất bảo hợp thành. Lan can trang trí bằng vàng ròng, châu ngọc báu lạ, cõi nước của Phật Kim Quang Như Lai không có bốn đường dữ: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và A tu la. Chỉ có Trời, người và vô lượng Thanh Văn, Bồ tát. Phật thọ mạng 12 tiểu kiếp, chánh pháp trụ thế 20 tiểu kiếp, tượng pháp cũng vậy.

    Đức Thế Tôn tuyên lại ý nghĩa trên bằng một bài kệ:

    Sau hết, Đức Phật thọ ký cho ông Đại Mục Kiền Liên rằng ông Đại Mục Kiền Liên sau nầy sẽ cúng dường 8.000 ức Phật. Sau các Phật diệt độ, dựng tháp miếu cao 1.000 do tuần, rộng 500 do tuần, cũng toàn bằng thất bảo. Trang trí hương hoa, chuỗi ngọc, vàng ròng, lọng nhiễu, tràng phan....để cúng dường trang nghiêm tháp miếu.

    Sau đó, lại cúng dường 200 muôn ức Phật, rồi được thành Phật hiệu: Đa ma la bạt chiên đàn hương đủ mười đức hiệu. Kiếp tên Hi Mãn, nước tên Ý Lạc. Quốc độ bằng thẳng. Đất pha lê cây vàng, lá bạc, hoa trân châu, khắp nơi sạch sẽ, ai thấy cũng hoan hỉ. Trời người vô số, Thanh Văn, Bồ tát không thể đếm xiết. Phật thọ 24 tiểu kiếp. Chánh pháp trụ thế 40 tiểu kiếp, tượng pháp cũng vậy.

    Thì ra Phương pháp tu Phật thừa mau thành chánh quả và hàng ngàn vị Phật như thế . Tại sao Phật Thích Ca giảng như vậy lại không tu lúc Ngài còn tại thế , đợi khi Ngài Tịch diệt 600 năm mới nói trong kinh Pháp Hoa để chúng sanh bắt chước ? Như vậy có đúng Như lai nói không hay Đại thừa - Tịnh độ phịa thêm ? Còn nữa . Ngón độc hạ bệ Thích đã thành Chánh Đẳng Chánh Giác còn THAM NHŨNG . Điều này đựơc tố cáo trong hành động nàng Long Nữ 8 tuổi đưa hối lộ cho Phật mà Tịnh độ đã dựng đứng và vu cáo một cách trắng trợn trong phẩm 12 " ĐỀ BÀ ĐẠT ĐA " như sau :

    Bồ tát Đại Trí Văn Thù nói: Ở biển, tôi thường tuyên dạy Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Bồ tát Trí Tích hỏi: Kinh nầy rất thâm diệu. Vậy có chúng sanh nào siêng tu theo kinh nầy mà mau thành Phật không? Bồ tát Văn Thù đáp: có con gái của Long vương mới lên tám tuổi mà đầy đủ trí đức, trong khoảnh khắc phát Bồ đề tâm là được bất thối chuyển, biện tài vô ngại, từ bi rộng lớn, công đức đầy đủ, có khả năng đến quả Bồ đề.

    Bồ tát Trí Tích nói: Chính đức Phật Thích Ca còn phải trải qua vô lượng kiếp cần khổ, chứa nhiều công đức, làm những việc khó làm mới thành được đạo Bồ đề, làm sao tin được chuyện Long nữ trong chốc lát mà chứng thành Chánh giác.

    Luận đàm chưa dứt bỗng nhiên Long nữ hiện ra lễ Phật rồi đứng qua một bên nói bài kệ tán thán Pháp thân, Báo thân và Ứng thân Phật và cho biết là nàng do đã nghe được nghĩa "thật tướng" của nền giáo lý "nhất thừa" mà được chóng thành Bồ đề đạo. Nhưng việc nầy chỉ có Phật mới chứng biết mà thôi.

    Bấy giờ ông Xá Lợi Phất nói với Long nữ: Thân gái nhơ uế, có năm điều chướng ngại: không được làm Phạm thiên, Đế Thích, Ma Vương, Chuyển Luân Thánh Vương và Phật thì làm sao cô thành Phật được ? Vả lại con đường Phật xa vời phải trải qua vô lượng kiếp cần khổ mới đi cùng mà cô nói tu không bao lâu là chứng quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác làm sao tin được ?

    Long nữ liền lấy một hạt châu hiến dâng cho đức Phật. Phật nhận.

    Long nữ hỏi Trí Tích: Tôi hiến châu, Thế Tôn nhận lấy, việc ấy có mau chăng ?

    _ Mau. Trí Tích đáp !

    _ Ông hãy lấy sức thần của ông xem đây, tôi thành Phật còn mau hơn việc đó.

    Toàn thể chúng hội liền thấy Long nữ thoạt nhiên biến thành nam tử, đủ hạnh Bồ tát qua cõi Vô cấu ở phương Nam, ngồi tòa sen báu thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.

    Bồ tát Trí Tích và Văn Thù làm thinh.

    Long nữ liền lấy một hạt châu hiến dâng cho đức Phật. Phật nhận.Chứng minh rằng Phật Thích Ca mang tội HỐI LỘ . Điều mà ngày nay thế giới lên án nặng nề Việt Nam là tệ trạng tham nhũng lớn nhất .

    Vì sao Long Nữ là thân gái chỉ nhờ lo lót cho Phật lại đựơc hoá thành Nam nhi để thọ Phật . Kỳ sau tôi sẽ đề cập đến vì sao thân gái ô uế khó mà chứng quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác .

    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  11. #51
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Đại thừa do Trung Hoa phịa thêm rất nhiều điều , nhưng điểm chính yếu làm sao triệt hạ uy tín Thích Ca . Họ chê Ngài phải qua bao nhiêu kiếp mới thành Phật . Điều mà ông Bồ tát Trí Tích nói: "Chính đức Phật Thích Ca còn phải trải qua vô lượng kiếp cần khổ, chứa nhiều công đức, làm những việc khó làm mới thành được đạo Bồ đề, làm sao tin được chuyện Long nữ trong chốc lát mà chứng thành Chánh giác." Thua xa cách tu Phật thừa của Tịnh độ . Trong khi giáo lý của Như Lai là tự tu để tiến lên đâu có dạy thờ cúng Thánh Thần nào khác , nhưng trong Kinh Pháp Hoa gán cho Ngài dạy đủ chuyện . Nào là Thế Tôn bèn bảo:

    "Ông Tu Bồ Đề, ở đời vị lai phụng thờ 300 muôn ức na-do-tha Phật, cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen, thường tu hạnh thanh tịnh, tròn đủ đạo Bồ tát. "

    "Đức Phật thọ ký cho ông Đại Mục Kiền Liên rằng ông Đại Mục Kiền Liên sau nầy sẽ cúng dường 8.000 ức Phật. Sau các Phật diệt độ, dựng tháp miếu cao 1.000 do tuần, rộng 500 do tuần, cũng toàn bằng thất bảo. Trang trí hương hoa, chuỗi ngọc, vàng ròng, lọng nhiễu, tràng phan....để cúng dường trang nghiêm tháp miếu.

    Sau đó, lại cúng dường 200 muôn ức Phật, rồi được thành Phật hiệu: Đa ma la bạt chiên đàn hương đủ mười đức hiệu. Kiếp tên Hi Mãn, nước tên Ý Lạc "


    Nghĩa là hết bái lạy , cầu nguyện và cúng dường ...... đó là đừơng lối và thâm ý của Đại thừa - Tịnh độ . Không biết Phật Tàu Phù đâu mà 8000 ức Phật nhiều thế , nhưng hỏi ở đâu chẳng ai chỉ ra , kể các Đại lão , tiểu lão cũng mù tịt , thế mà không thiếu những bậc trí thức tin theo , kẻ cùng trí thấp hèn thì không nói đến . Đó là nổi đau của Như Lai và các Phật tử trí tuệ .

    Bây giờ vì sao muốn thành Phật như nàng Long Nữ mà phải hoá thân nam ? Tại sao thân nữ nhiều ô uế ? Vì hàng tháng người nữ phải bị kinh nguyệt nhơ nhớp là do trời phạt . Bản tánh người nữ ngoài gian ác , hiểm độc còn mang tánh ngạo mạng . Ngay cả loài vật con cái bao giờ cũng giết con đực và bất nghĩa . Ví dụ : Con cua cái thay võ thì cua đực bảo vệ không cho con nào tấn công , ăn thịt . Nhưng cua đực thay võ ( lúc đó võ rất mềm ) thì cua cái đi kéo các cua khác đến ăn thịt . Con ong Chúa sau khi sex con ong đực nào bay theo kịp, mỗi lần giao hợp xong là ong Chúa chích chết ong đực . Con Bò ngựa cái sau khi ân ái là ăn thịt con đực ....... bản tính nữ là gian ác như thế , con người lại càng thâm hiểm hơn và độc ác hơn .

    Về tánh kiêu căng , ngạo mạng , thâm hiểm của người nữ là do điển tích kể lại . Khi tiểu tiện thì thân nam biết lễ độ , vái lại trời đất . Còn thân nữ thì kiêu ngạo không vái lại còn mở miệng cười ngạo trời :

    Nam nhi tiểu tiện bái bái thiên địa ,

    Nữ nhi bất phục điểm nhất tiếu .

    Thiên lôi nhãn thị hà thịnh nộ ,

    Nhất nguyệt thu hề xuất huyết thanh .


    Nghĩa là :

    Đàn ông đái xong thì lại trời đất ,

    Đàn bà không phục còn nhoẻn miệng cười .

    Ông trời thấy vậy bèn tức giận ,

    Bắt phạt mỗi tháng học máu một lần .

    Quý vị thấy lọai máu tươi là do trứng của người nữ vỡ ra khi không kết hợp với tinh trùng . Mỗi trứng là một sanh mạng con người tương lai . Vậy thì người nữ đã giết bao nhiêu mạng những đứa con tương lai của chính mình hàng tháng . Ngoài ra tinh trùng đàn ông mỗi lần giao hợp vào hàng triệu con , trong lúc nằm chờ trứng rụng ở tử cung người nữ , nếu trứng không rụng thì tử cung tiết ra một chất acit giết chết các tinh trùng đó , lại thêm một vụ đẩm máu , giết người rùng rợn . Đồng thời người nữ cũng đi đứng , nằm ngồi , uống nước nấu ăn , mỗi động tác là giết hàng triệu triệu sinh linh bằng người nam , cọng thêm hàng triệu trứng của họ và tinh trùng người nam , cho nên tội ác của người nữ gấp trăm ngàn lần người nam , những tội ác và ô uế như thế thì khó thành Phật . Muốn thành Phật như Long Nữ phải hối lộ ngọc quý cho Phật và phải biến qua thân nam mới thành Phật . Điều này Đại thừa viết ra quá lố bịch , cái điều đó không đứng vững thì không thể gọi là chân lý khi mà các nước Âu Mỹ ngày nay trọng thân nữ trước thân nam . Họ xếp đặt ưu tiên : Trẽ em - phụ nữ - chó - đàn ông . Như vậy thân đàn ông còn thua chó chứ đừng nói là nữ . Đại thừa chê bai , khinh khi nữ không còn hợp lý , tồn tại vào thế kỹ ngày nay . Điều này là Phật của Tịnh độ chứ không phải Phật Thích Ca dạy như vậy . Tà đạo thì sẽ thay đổi và đánh gục bởi thời gian và trí huệ của loài người tiến bộ .

    Qua sự kiện đó, ta thấy Kinh Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa là kinh tối thượng ,tối tôn chỉ do Tàu Phù vẽ vời , sáng kiến rồi gán cho Thích ca , kinh này đối với Tịnh độ là cao quý nhất , nhưng không phải quí với mọi hạng Bồ tát trên cõi đời. Có người ham thích , nhất là người Việt ta , mà cũng có người không thể nghe êm tai và không thể chấp nhận . Nó trái nghịch với giáo lý Ngài Thích Ca 180 độ . Tôi nhận thấy không có điểm nào trong kinh Đại thừa là lời dạy của Thích ca . Những bài kinh Đại thừa hoàn toàn xoáy vào cầu nguyện ,cổ vũ cúng dường , phải tin tưởng tuyệt đối vào Pháp Hoa , không đựơc nghi ngờ , nhắm mắt tụng niệm ngày này qua ngày nọ chết bỏ . Những điều này chẳng khác gì giáo lý Kito . Vừa cực đoan , vừa yếm thế , vừa nhu nhược tham lam , hối lộ , cầu cạnh , đút lót đủ điều chẳng khác chi ngoài xã hội trần tục .......

    Nói tóm lại Tịnh độ cũng như Kito là những tập đoàn thế tục đội lốt tôn giáo nhằm thống trị , đô hộ và cai trị con người bằng những giáo lý mù quáng như thế . Đó không phải là tôn giáo cao thượng , thuần lý như giáo lý Thích Ca . Những con người manh tâm chính trị , thống lãnh và nhằm đô hộ , đào tạo cho con người nguyện làm nô lệ , tôi tớ đời đời cho tập đoàn tu sĩ mà thôi .

    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  12. #52
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Khi quý vị đọc kinh Pháp Hoa đến PHẨM 14 : AN LẠC HẠNH , nếu các thầy , Giáo Hội và tập đoàn Lotuspro tu theo Tịnh độ cũng biết đọan kinh An Lạc Hạnh dạy thế nào ?

    3. An lạc hạnh:

    Phật nói tiếp: Sau Như Lai diệt độ, trong đời mạt pháp muốn nói kinh nầy, Bồ tát phải ở yên trong "An lạc hạnh". Nghĩa là, khi nói cũng như khi đọc kinh nầy, chẳng nên nói đến sự sai quấy của người và của kinh điển, cũng chẳng nên có lòng khinh rẻ, kiêu ngạo đối với các Pháp sư, chẳng nên nói đến sự tốt xấu, hay dở của người khác. Đối với hàng Thanh Văn, chẳng nên kêu đích danh mà vạch sự sai lầm, gàn dở của họ, cũng không nên kêu đích danh mà khen tặng cái hay của họ, lại cũng không sanh tâm thù hiềm. Khéo sửa lòng cho được an lạc như vậy thì không làm nghịch ý người nghe. Còn có ai vấn nạn thì đừng giải đáp bằng pháp tiểu thừa, mà bằng pháp đại thừa, để cho người hỏi được Chánh giác.

    Bồ tát muốn thuyết pháp phải giữ lòng an vui, trong sạch, thân thể phải tắm rửa cho sạch, mặc y mới. Nói tóm là trong ngoài phải thanh tịnh, nhiên hậu mới lên ngồi pháp tòa, tùy lời hỏi của người mà giảng. Đối với người vì Đạo thì đem diệu nghĩa ra mà dạy, mặt mày hòa nhã. Đối với người vấn nạn, thì tùy nghĩa mà đáp, khi thì dùng nhân duyên, khi thì dùng thí dụ mà diễn mà giải rạch ròi, để lần hồi dẫn dắt họ vào đường sáng (Phật Đạo). Tự mình, phải trừ mọi ý niệm ỷ lại, mọi tư tưởng lười biếng, xa lìa mọi lo nghĩ, buồn rầu. Mở rộng lòng từ, ngày đêm nói pháp để mở mắt cho chúng sanh mà không bao giờ mong cầu sự cúng dường, chỉ một lòng tưởng nhớ đến việc lấy pháp làm nhân duyên để thành Phật đạo, khiến người nghe cũng cùng một tâm niệm.

    Trong thời mạt pháp, Bồ tát nào thọ trì, đọc tụng kinh này thì không nên chứa chấp sự ganh ghét, tà vạy, khinh khi người học Phật, không làm cho hàng tu hành chán nản, cũng không nên đem Đạo Pháp ra bàn chơi, tranh cãi. Phải:

    _ Đối với tất cả chúng sanh, khởi lòng đại bi.
    _ Đối với chư Như Lai, sanh lòng kính trọng như Cha lành.
    _ Đối với Bồ tát, sanh lòng tôn kính như Thầy.
    _ Đối với mười phương Bồ tát, sanh lòng cung kính cúng dường.

    Thực hiện đầy đủ pháp "an lạc" thứ ba nầy, thì khi thuyết kinh, không làm cho người nghe hoang mang, được người cùng theo mình mà đọc tụng, còn đại chúng sẽ tới nghe lãnh lời kinh, lãnh rồi nắm giữ, giữ rồi sẽ đọc, đọc rồi sẽ thuyết, thuyết rồi sẽ chép và khiến người cùng chép.


    Có lẽ quý thầy và Giáo Hội PGVN không thuộc kinh Pháp Hoa dạy đoạn này : chẳng nên nói đến sự sai quấy của người và của kinh điển, cũng chẳng nên có lòng khinh rẻ, kiêu ngạo đối với các Pháp sư, chẳng nên nói đến sự tốt xấu, hay dở của người khác. Vì vậy mới công kích , chống đối , bôi nhọ thầy Chân Quang đã giác ngộ và hiểu thâm sâu chân lý của Đức Phật mà thuyết giảng . Tuy thầy tu sau nhưng tri kiến của thầy giống Lục Tổ Huệ Năng . Thầy lại xuất thân từ nghèo hèn , bần cùng giống hoàn cảnh Lục Tổ . Thầy giảng " Ăn cá đựơc phước " nhưng trình độ của nhóm thầy tu Thần Tú tân thời ngày nay chưa hiểu thấu nên tụ tập ngày đêm la ó . Kẻ mắng người chửi , đòi thu băng giảng , kinh sách , người thì lo cắt xén phim ảnh để tuyên truyền , nhất là mấy mụ Phật tử đựơc dịp la mắng , ăn nói hổn hào khi đựơc các thầy khuyến khích . Đặt giả sử thầy Chân Quang giảng sai đi nửa các thầy cũng không nên làm như thế , huống gì kích động cho nhóm phường tuồng , chợ đò đối với một vị tu sĩ của Như Lai , rồi còn khinh rẻ , kiêu ngạo đối với thầy và cũng không đựơc nói đến chuyện tốt xấu . Các thầy thì cùng ở trong hoàn cảnh của các bậc tu hành , còn các Phật tử thì vào hạng con cái .Nói xấu thầy này thì cũng sẽ nói xấu thầy khác , điều đó là cấm kỵ lúc phỉ báng Tăng . Cho nên dột từ nóc dột xuống , sai từ Đại lão cho đến Hoà thượng , Giáo hội sai xuống . Chẳng qua vì chút lợi ích bán băng đĩa , sách báo , áo quần mà thầy chùa cùng Phật tử cạnh tranh nhau đem ra bôi nhọ đấu đá không chừa một danh từ nhơ bẩn nào . Có xứng đáng là trưởng tử Như Lai không ? Như vậy thấy Phật giáo có đẹp mặt đẹp mày không ?

    Những người đã mang tiếng xuất gia học Phật thì hảy quên đi lợi nhuận , danh lợi cá nhân . Ở đây hầu hết các thầy không làm đựơc điều đó . Đối với dân tộc thì các thầy tiếp tay Đại thừa ru ngũ làm mềm yếu đi tinh thần Độc lập của Dân tộc , đối với đạo pháp thì lo cũng cố chùa to , Phật tử đóng góp nhiều . Các thầy không nghĩ gì đến quyền lợi đất nước , ngay chuyện tổ chức cho qui y để có số Phật tử theo đạo Phật rõ ràng . Giáo Hội phải thống nhất và lập danh sách ghi tên con số Phật tử đang có . Thay làm những chuyện vì tồn vong của đạo Phật , các thầy không làm . Thầy thì đấu tranh chính trị , cấu kết với ngoại quốc để khuấy động sự bình an của đất nước . Thầy thì lo kinh doanh , xuất ngoại thuyết giảng kiếm tiền , cạnh tranh buôn bán băng đĩa . Tất cả những người như thế đều có tội với Tổ quốc và đạo pháp . Trí tuệ của các thầy để ở đâu ? Nhìn chung quý thầy chưa làm tròn bổn phận đệ tử Như Lai , chưa xứng đáng là bậc thầy lãnh đạo tinh thần , chưa áp dụng trí huệ để nhận xét kinh điển , không dành thời giờ dịch kinh ra Việt ngữ để giáo hoá Phật tử đựơc dễ dàng . Nói tóm lại tất cả các thầy đều có lỗi phải sám hối , nhất là làm sao cởi cái ách nô lệ tâm linh của Đại thừa suốt mấy ngàn năm nay ra khỏi đất nước Việt Nam .
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  13. #53
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Càng đi sâu vào kinh Pháp Hoa càng thấy sự gán ép cho Thích Ca nói và làm quá sức mù quáng đầy mê tín dị đoan . Pháp Hoa càng đọc càng nặng mùi theo lối truyện Tàu loại kiếm hiệp Kim Dung . Kinh kể lại những chuyện phù phép biến hoá thần thông , đi mây về gió , độn thổ thăng thiên . Điều đó không ai cấm đóan vì đầu óc nhiều tưởng tượng của người Tàu vốn có từ xưa nay . Sự đáng trách là những chuyện hoang đừơng đó lại gán cho Bổn Sư thuyết giảng , đây là một hình thức bôi nhọ và huyền thoại . Trong Phẩm 15 :TÙNG ĐỊA DŨNG XUẤT người Hoa lúc nào cũng ca tụng bộ kinh Pháp Hoa , nhưng hầu hết là nhằm tuyên truyền , ca tụng và nhắc nhủ đọc tụng , in chép . Thử hỏi thời đức Phật làm gì có chuông mõ , hết công phu khuya đến công phu sáng để tụng niệm . Chúng ta thử đọc đọan đối thọai của Như Lai trong phẩm này thật là buồn cười đầy thế tục :

    Lúc bấy giờ, các Bồ tát, nguyên từ các nước phương khác lại, đông hơn cát của tám sông Hằng, ở trong đại chúng, đồng đứng dậy chắp tay bạch Phật: "Thế Tôn ! Nếu Thế Tôn nhận lời, chúng con nguyện, sau khi Phật diệt độ, sẽ rộng nói kinh Pháp Hoa ở thế giới Ta bà, để gia tăng tinh tấn và hộ trì những người đọc tụng, sao chép, cúng dường kinh này".

    Phật đáp: "Thôi khỏi. Này Thiện nam tử ! Không cần các con hộ trì kinh nầy. Vì sao ? Vì thế giới Ta bà của ta tự có Bồ tát đông như cát của sáu muôn sông Hằng. Những Bồ tát và quyến thuộc ấy, sau khi ta diệt độ, sẽ có khả năng giữ gìn, đọc tụng, rộng nói kinh này".

    Lúc Phật nói lời này, trong ba ngàn đại thiên quốc độ ở thế giới Ta bà, đất đều rung nứt, và từ trong lòng đất, vô lượng ngàn muôn ức Bồ tát đồng thời vọt lên. Các Bồ tát ấy, thân như vàng ròng, đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, sáng ánh khôn lường, trước kia trú trong hư không của chỗ thấp nhất ở thế giới Ta bà, nay nghe tiếng của Phật Thích Ca, nên từ chỗ thấp ấy mà xuất hiện đến. Mỗi mỗi Bồ tát đều là bậc thủ lãnh dẫn đường cho đại chúng và mỗi vị đều có hoặc sáu, hoặc năm, bốn, ba, hai, một muôn hằng sa quyến thuộc, hoặc một hằng hà sa, nửa hằng hà sa, một phần hằng hà sa hay một phần trong ngàn ức na do tha phần hằng hà sa, hoặc từ ngàn muôn ức na do tha sụt lần xuống cho tới một muôn, một ngàn, một trăm, mười, năm, bốn, ba, hai, một quyến thuộc đệ tử. Lại cũng có những Bồ tát chỉ có một mình, thích hạnh "viễn ly". Tất cả các Bồ tát ấy đông vô số kể.

    Từ dưới đất vọt lên rồi, Các Bồ tát ấy đều đến ngọn tháp bảy báu nhiệm mầu trên hư không, là chỗ Phật Đa Bảo và Phật Thích Ca đang ngự, vập đầu xuống chân làm lễ, rồi lại đến tòa sư tử, dưới cột báu, chỗ Phật ngồi mà làm lễ. Xong, các vị đi quanh bên mặt Phật ba vòng, rồi chắp tay cung kính chiêm ngưỡng Phật Đa Bảo và Phật Thích Ca.

    Từ lúc các Bồ tát xuất hiện cho đến khi làm lễ xưng tán Phật, một khoảng thời gian trôi qua, lâu năm mươi tiểu kiếp.

    Ai đã nghe mà bảo Phật đáp: "Thôi khỏi. ? Trong ba lần kiết tập kinh điễn không thấy Ngài A Nan , Ca Diếp hay bất cứ một Đại đệ tử nào nhắc những câu chuyện như thế . Lại còn chuyện vô lượng ngàn muôn ức Bồ tát đồng thời từ dưới đất vọt lên . Nhân vật Phật Đa Bảo gốc tích từ đâu mà lại cùng Phật Thích Ca đang ngự ở toà sen để các vị Bồ tát vập đầu xuống chân làm lễ, rồi lại đến tòa sư tử, dưới cột báu, chỗ Phật ngồi mà làm lễ nữa ? Rỏ ràng người Hoa muốn dựng đứng Phật Đa Bảo là cùng thời và giáo chủ Phật giáo là người Hoa . Sự dối trá và đánh bóng những Phật Tàu quá lố và hoàn toàn dối trá , vậy mà những Đại lão gọi là Cao tăng không một chút thắc mắc và đặt dấu hỏi . Kinh Pháp Hoa nêu rõ ràng là Phật Đa Bảo cùng lãnh đạo với Thích Ca vào thời ấy . Câu kinh này thấy rõ nhất :"Xong, các vị đi quanh bên mặt Phật ba vòng, rồi chắp tay cung kính chiêm ngưỡng Phật Đa Bảo và Phật Thích Ca."( xem như hai giáo chủ ) .

    Như Lai sống một kiếp chỉ 80 năm , vậy mà thời gian các Bồ Tát làm lễ Phật Đa Bảo và Thích Ca lâu bằng 50 tiểu kiếp , câu kinh chứng minh : "Từ lúc các Bồ tát xuất hiện cho đến khi làm lễ xưng tán Phật, một khoảng thời gian trôi qua, lâu năm mươi tiểu kiếp." Chuyện bố láo còn hơn cả Thần Thánh phù phép không thể tin đựơc , vậy mà các sư Đại thừa vẫn nghe theo và tin tuyệt đối . Đúng là " Phúc cho ai không thấy mà tin " . Cho nên Phật giáo Đại thừa bị Tây phương phê phán là đạo Phật cứu rỗi quả không ngoa . Vì vậy phần nhiều các con chiên sau khi có thiện cảm với đạo Phật đã quay về với Chúa , họ không thấy gì gọi là mới lạ ở đạo Phật . Phật giáo Đại thừa đã làm những điều mà Kito giáo đã làm . Nếu Tây phương đọc giáo lý giải thóat của Thích Ca thì họ không có so sánh và đặt cái nhìn với Phật giáo như thế .

    Nếu các chư tăng Đại thừa có trí huệ thì biết đặt câu hỏi giống như Bồ tát Di Lặc cùng tám ngàn hằng sa Bồ tát trong pháp hội đều thắc mắc hỏi Phật :

    "Nguyện Thế Tôn cho chúng con biết, vô lượng Bồ tát này từ đâu mà đến và nhóm họp để làm gì ? Ai đã thuyết pháp giáo hóa cho các vị ? Các vị đã theo ai mà pháp tâm, đã thọ trì và thực hành kinh điển thế nào ? Lại tu tập Phật đạo nào mà sức trí thần thông to lớn như thế ? Bạch Thế Tôn, chúng con chưa từng thấy một việc như vậy. Con thường đi qua nhiều nước, gặp gỡ nhiều người, chưa hề biết một vị trong số Bồ tát ấy. Vậy kính xin Thế Tôn nói cho con biết các Bồ tát ấy ở nước nào đến mà hốt nhiên từ đất vọt lên".


    Nếu một vị Phật hay Bồ Tát thôi cũng có căn gốc , lý lịch rõ ràng , giáo lý dạy gì và hành đạo ở đâu ? Bao lâu ? v.v......
    Chúng ta thấy kinh Pháp Hoa diễn dịch lồi trước láo sau và cứ lấy Thích Ca làm bia đở đạn cho cái gọi là Pháp Hoa mà tồn tại .
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  14. #54
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Càng đi sâu vào Pháp Hoa tôi càng thịnh nộ mấy tổ sư Ba Tàu chửi xiêng , chửi xéo Như Lai qua các câu chuyện ẩn dụ một cách vô liêm sĩ. Trong phẩm 16 nói về NHƯ LAI THỌ LƯỢNG Pháp Hoa đã kể câu chuyện người cha và mấy đứa con :

    Thí dụ có một ông thầy thuốc giỏi, trí tuệ sáng suốt, phương dược khéo luyện, bệnh nào cũng trị hết, nhà con cái rất đông. Gặp lúc ông có việc phải đi ra nước ngoài, các con ở nhà uống phải thuốc độc, cơn điên nổi lên, té nằm dưới đất. Ngay lúc đó ông cha về đến nhà. Các con của ông, có đứa mất tâm, có đứa còn tâm, nhưng khi xa thấy cha về, tất cả đều vui mừng quỳ lạy, chào hỏi và thưa: "Rằng vì ngu si nên uống phải độc dược, xin cha cứu tử". Cha thấy con khổ não như vậy, bèn theo các phương pháp đã kinh nghiệm mà chế thuốc, màu sắc hương vị đều tốt đẹp và bảo các con uống: "Đây là lương dược, mùi ngon, sắc đẹp, các con hãy uống đi thì sẽ mau trừ khổ não và bao nhiêu khổ hoạn sẽ không tái phục".

    Những đứa không mất tâm nghe xong liền uống và được hết bệnh. Còn những đứa mất tâm, tuy thấy cha cũng vui mừng, cầu xin chữa bệnh, nhưng thuốc thì không chịu uống. Vì sao? Vì bị độc thấm sâu, đã mất tâm trí rồi, cho nên thuốc ngon, sắc đẹp lại cho là không ngon không đẹp. Ông cha thấy vậy mới suy nghĩ: Những đứa con nầy mới đáng thương, thấy cha vui mừng cầu cứu, nhưng khi cho thuốc lại không chịu uống. Ấy cũng vì bị chất độc cho nên tâm trí đều điên đảo. Vậy phải dùng chước mới được. Nghĩ xong ông mới nói rằng: "Cha nay già yếu, sắp chết nay mai, có mấy món thuốc hay để lại, các con nên giữ mà dùng, khỏi sợ lầm thuốc dở. Nói rồi ông bỏ nhà ra đi qua nước khác và cho người về báo tin ông đã chết. Hay tin dữ, các con mất tâm của ông mới nghĩ, cha lành đã chết thì nay còn ai đâu mà cứu hộ cho mình! Vì thường nhớ thương như thế, tâm bèn tỉnh ngộ, biết thuốc của cha để lại là hay, liền lấy ra dùng, bao nhiêu độc bệnh đều lành hết. Nghe tin nầy, ông cha trở về xứ cho con cái thấy mặt.

    Đại thừa bịa đặt ra câu chuyện này nhằm tố giác Như Lai là KẺ NÓI DỐI , mặc dù giới luật Ngài cấm tất cả không được nói dối , hay chỉ Ngài là có quyền mà cấm tất cả đệ tử nói dối , như thế đâu còn là Như Lai. Thế mà Tịnh độ dám bịa chuyện cho rằng Thích Ca đã nói dối. Đức Phật hỏi tiếp :

    "Này thiện nam tử, các ngươi nghĩ thế nào ? Nói dối như ông lương y kia, có phải là một tội không?"

    "Bạch Thế Tôn, không".

    Đức Phật nói: "Ta cũng thế. Từ thành Phật đến nay, vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức na do tha a tăng kỳ kiếp, nhưng vì muốn cứu độ chúng sanh, cho nên phương tiện mà nói là sẽ diệt độ. Như vậy, đối với sự thật, cũng không thể nói rằng ta đã phạm tội nói sai nói dối ".

    Khi đã nói dối thì không biện bạch một lý do gì. Ở đây Đại thừa muốn lương lẹo nhằm chửi xéo , hạ bệ Như Lai. Vì Như Lai nhận thức tam giới đúng như thật: không có sanh tử, không vào, không ra cũng không có người đời và người diệt độ. Nó chẳng phải thật, chẳng phải hư, chẳng phải như, chẳng phải dị, chẳng phải như ba cõi mà thấy ba cõi. Các việc như thế, Như Lai thấy rõ không sai lầm. Chúng sanh có nhiều căn tánh, nhiều mong muốn, nhiều nết hạnh khác nhau, Như Lai vận dụng nhân duyên, thí dụ, lời lẽ thuyết pháp làm Phật sự rồi nói có xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân và nhập Niết bàn. Vì vậy thầy CQ giảng bài " Chánh đạo " phải tùy phương tiện và trình độ chúng sanh mà dạy , nhưng có người văn sĩ QG vì không hiểu tý nào về Phật pháp lại chửi thầy giảng bá láp ,cũng chính là chửi Thích Ca như Đại thừa đang chửi vậy. " Like father like son " ( cha nào con nấy ) , bà ta giống nhóm thầy tu Thần Tú Lotuspro thì chẳng có chi là lạ. Đúng là thời loạn pháp.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  15. #55
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Nói chung bộ kinh Pháp Hoa hầu hết không ngoài mục đích nâng cao Phật Tàu phù và gán vào miệng Ngài Thích Ca những giáo điều bi quan , yếm thế nhằm cổ động cho một giáo lý cứu rỗi . Nay tôi tạm dừng kinh Pháp Hoa của Đại thừa ở đây để phân tích và nhận định về Mật tông , hầu tránh sự nhàm chán cho độc giả .

    Nếu nói rằng : Mật tông là một phương thức tu riêng của một tông phái thì không ai bàn đến , mục đích tu là gì , phương pháp tu như thế nào thì đó là quyền của họ . Mỗi vị tổ sư có quyền sáng tác thêm những cách thức để hành đạo , làm sao có người tin và nghe theo là đựơc . Nhưng trên phương diện chân lý và đạo đức , dù là tôn giáo hay tông phái nào cũng phải nhắm đến đạo hạnh , tình thương và nhân ái . Như các giáo phái Hồi giáo ở Trung Đông tuyên truyền rằng :" Ôm bom tự sát giết kẻ thù sau khi chết sẽ đựơc lên thiên đàng ở cùng Chúa " . Đó là một cách thức dạy giết người được che đậy bằng những hứa hẹn hảo huyền vô nhân đạo . Cũng vậy , Mật tông viết kinh đưa ra phương pháp tu hành mà theo họ là giải thóat nhanh nhất :

    PHƯƠNG PHÁP MẬT TÔNG

    Theo Kinh thừa, con đường thành tựu tuệ giác là một tiến trình tuần tự thanh lọc tâm thức khỏi những lỗi lầm và giới hạn, để thay vào đấy, phát huy những đức tính như trí tuệ, từ bi. Con đường này bao gồm việc tạo những nhân tố đặc biệt như giữ giới, phát triển khả năng tập trung và đào luyện thiền minh sát, vân vân, để tương lai sẽ đạt được sự tỉnh thức toàn vẹn. Chính vì nhấn mạnh đến việc tạo nhân tố cho một kết quả tương lai, mà phương pháp kinh thừa hay tiệm giáo đôi khi còn gọi là "nhân thừa" (nhân với nghĩa nguyên nhân) để đưa đến giác ngộ.

    So với phương pháp tiệm giáo của kinh thừa, thì Mật thừa là con đường tiến đến giác ngộ nhanh hơn rất nhiều. Mặc dù hành giả Mật thừa cũng không xao lãng việc gieo nhân như hành giả Kinh thừa, song họ lấy hậu quả tương lai của sự tu hành làm khởi điểm tu tập. Nói cách khác, hành giả Mật thừa tập nghĩ, nói và làm ngay trong hiện tại như thể họ đã là một đức phật. Vì phương pháp mãnh liệt này - đưa hậu quả toàn giác vào giây phút hiện tại, khi đang tu - mà Mật tông còn được gọi là "quả thừa" đưa đến giác ngộ.

    Theo Mật tông, sự toàn vẹn không phải đang chờ đợi chúng ta ở một thời điểm nào trong tương lai, theo kiểu suy tư "Nếu bây giờ tôi tu hành nghiêm túc, tương lai tôi sẽ thành Phật" hay "Nếu đời này tôi có đạo đức, đời sau tôi sẽ được lên thiên đàng." Theo Mật tông, thiên đàng là ngay bây giờ: chúng ta đáng lý là những vị trời ngay trong hiện tại; song chúng ta lại bị vướng bận những khái niệm hạn cuộc như đàn ông là thế này, phụ nữ là thế kia, tôi sinh ra đã là thế ấy không thể khác, vân vân. Đấy là lý do ta có những xung đột nội tâm và xung đột với người khác. Mọi xung đột này sẽ tan biến nếu ta luyện tập theo quan điểm mật tông, nghĩa là nhận chân rằng mỗi một người nam hay nữ bản chất đều tự đầy đủ, toàn vẹn. Hơn thế nữa, mỗi người nam nữ đều chứa cả hai năng lực âm dương. Thực tế là mỗi người trong chúng ta đều là một hợp thể của tất cả năng lực vũ trụ. Tất cả những gì ta cần để được toàn vẹn đều đã sẵn trong ta ngay giờ phút này, chỉ có điều là ta có khả năng nhận thức điều ấy hay không. Đấy là cái nhìn theo Mật giáo.

    Họ cho thiên đàng là ở thế gian này . Theo Mật tông, thiên đàng là ngay bây giờ: chúng ta đáng lý là những vị trời ngay trong hiện tại , chúng ta cũng là Thượng Đế , song chúng ta lại bị vướng bận những khái niệm hạn cuộc như đàn ông là thế này, phụ nữ là thế kia, tôi sinh ra đã là thế ấy không thể khác, vân vân nghĩa là thiên đàng là cuộc sống đầy ý nghĩa , chỉ cần hạnh phúc giữa nam và nữ là thấy thiên đàng . Điều này cũng giống nhà văn hào Jean Paul Sarte đã viết trong cuốn " La nausé " ( Nôn mữa ) như sau :

    " Âm hộ là một hố sâu thâm thẩm và ươn ứơt mà nơi đó người ta tìm ra Thượng Đế"

    Như vậy khi ta hạnh phúc , sung sướng chính là ta đã hội ngộ với Thượng Đế , hay đang ở Thiên đàng , Tây phương cực lạc .

    Giáo lý VÔ THƯỜNG của Như Lai bao trùm lên tất cả vạn vật , ngày nay khoa học cũng chứng minh, vũ trụ vật chất với muôn ngàn trạng thái, từ những hạt phân tử nhỏ li ti đến những tinh vân lớn nhất, tất cả đều ở trong một trạng thái chuyển hóa không ngừng và tiến hóa từ một dạng năng lượng này đến dạng năng lượng khác. Thân thể và trí huệ của chúng ta cũng là một năng lượng: ta mạnh khỏe hay đau ốm, tâm trí quân bình hay mất bình thường , đều tùy thuộc sự kiện các năng lượng tâm vật lý trong ta có nhịp nhàng hòa điệu hay không. Họ cho rằng nếu chúng ta thực hành Mật tông đúng phương pháp, tất cả năng lượng trong thân thể chúng ta, kể cả những năng lượng vi tế rất mãnh liệt thông thường nhất , chúng ta không ý thức hay biết đến, đều được xử dụng để tựu thành sự chuyển hóa quan trọng nhất trong mọi cuộc chuyển hóa, đó là từ một con người phàm tình mê muội hạn cuộc trong cái bản ngã của chúng ta để trở thành một con người hoàn toàn tỉnh giác có lòng bi mẫn và tri kiến bao la như các vị Phật .

    Mật tông quan niệm và cho rằng trong cuộc sống con người luôn luôn bị dục vọng lôi cuốn . Suốt ngày đêm , từ khi thức dậy cho đến lúc đi ngủ, cả trong những giấc mơ, chúng ta luôn luôn bị dục vọng đòi hỏi , lôi cuốn một cách mãnh liệt . Mỗi giác quan là một sự ham muốn khác nhau . Con mắt ưa nhìn những cái đẹp và luôn luôn để ý , soi mói những chỗ thầm kín nhất của phái nữ , đôi môi muốn hôn một cách nồng thấm và chiếc lưỡi tìm kiếm những vị ngon ngọt , mới lạ, và xúc giác ta thì luôn luôn khát khao gặp gỡ những loại xác thịt khác giới tính .
    Lòng ham muốn đối với sự kích thích giác quan ấy vốn ăn sâu tận gốc rễ trong thân , tâm chúng ta đến nỗi nếu bị cô lập khỏi sắc thanh hương vị xúc trong một thời gian dài, ta sẽ khởi sự có những ảo giác mơ tưởng về chúng. Trong cuộc sống , con người ao ứơc đạt đến thành quả không những về vật chất , tiền tài mà ngay cả xác thịt ,chính lòng ham muốn dưới mỗi một hình thức này hay hình thức khác, đã thúc đẩy ta phải thành công trong lãnh vực ấy hầu thỏa mãn dục vọng . Lòng ham muốn là một phần bất khả phân trong đời sống như hình với bóng , đến nỗi người ta coi cuộc đời mà không có ham muốn thì chẳng khác gì một cái chết đang sống , hoặc nôm na hơn là một tu sĩ đang gậm nhắm cuộc đời .

    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  16. #56
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Mật tông đưa ra lý luận sự giác ngộ có thể do từ hưởng lạc thú mà thành , điều này họ nghĩ về phương diện vật chất có tính cách thể xác nhất thời.Giải thoát trong Phật giáo là đi ra hẳn mọi khổ đau vĩnh viển. Khi bạn ham muốn tình dục được thoả mãn , có thể bạn thấy khoái cảm và có người nói lúc đó họ " gặp Thượng Đế " là tuỳ ý của họ . Nhưng Mật tông không thể dẫn dụ chuyện đức phật Thích Ca có những giai đoạn chứng minh sự thù thắng của phương pháp sử dụng ham muốn như ăn uống , có một đời sống tu sĩ tương đối hơn là phương pháp ép xác, đè nén dục vọng. Lúc từ bỏ đời sống đam mê khoái lạc và khởi sự đi tìm phương pháp diệt khổ. Sự tu ép xác khi Ngài nhịn ăn, từ bỏ các tiện nghi đến nỗi cuối cùng thân thể ngài chỉ còn là một bộ xương. Sau sáu năm khổ hạnh, Ngài thấy phương pháp ấy vô hiệu và Ngài quyết định đi theo con đường khác , Ngài đã chấm dứt tuyệt thực và nhận một bát cháo do tín nữ Sujata dâng cúng. Điều này đã đem lại một hiệu quả to lớn , thần tình cho cơ thể lẫn tâm trí, lúc đó Ngài trở thành dũng mãnh, sáng suốt , an lạc. Khi Ngài ngồi thiền 49 ngày đêm dưới cội Bồ đề rồi đạt toàn giác, chứng tỏ đã đúng lúc Ngài nên từ bỏ lối tu khổ hạnh. Theo quan điểm và lý luận của Mật tông " những sự cố này cho thấy rằng biết xử dụng lạc thú là một phương pháp sâu xa và hiệu quả hơn ép xác khổ hạnh rất nhiều." Vấn đề ăn uống là nhằm nuôi sống và bồi bổ thân thể không thể so sánh sự kiện này với tình dục. Vì sau khi làm tình tuy có thoả mãn , khoái cảm nhất thời về lòng ham muốn , nhưng thể xác uể oải , rã rời vì mất nhiều sức lực . Điều mà Mật tông muốn gán ép giữa hai vấn đề như là một sự khoái cảm chung để rồi họ gọi đó là giải thoát là không đứng vững .

    Không hiểu câu chuyện Phật giảng cho ông vua có thật viết thêm , khi ông vua đến xin ngài chỉ dạy một phương pháp tu hành thích hợp cho một người bận nhiều phận sự đa đoan. Vua nói :

    -Con có phận sự chăm lo cho thần dân, con thực không nên bỏ bê quần chúng. Con không thể làm như Ngài, từ bỏ mọi sự để vào rừng tu khổ hạnh. Con cần biết cách làm sao có thể dùng ngay sinh hoạt của một vương gia làm đường lối tu hành. Bởi thế, xin đức Thế tôn dạy cho con cách chuyển hóa những hành vi thường nhật của một vị vua thành pháp tu.

    Đức Phật trả lời :

    -Quả thực ngài có một phương pháp như vậy, đó là pháp thực hành Mật tông. "Với phương pháp này nhà vua có thể tiếp tục thi hành phận sự của mình, mà lại không cần phải từ bỏ một thứ lạc thú vương giả nào hết."


    Đó là cái lý lẽ của Mật tông muốn biện luận cho tình dục nhằm thoả mãn thú tánh con người. Khi tu là từ bỏ tất cả những ham muốn thể xác , vật chất , tiền tài...... Những thứ đó liên hoàn với cấu kết với nhau như một mắc xích nhằm đưa đến tội lỗi. Ví dụ : Tôi muốn có vợ đẹp đương nhiên phải học cao , làm thật nhiều tiền bất chấp thủ đoạn , có khi gây oán thù. Mục đích tối hậu là " có tiền mua tiên cũng được ". Nếu nghèo xơ xác , bụng không đủ no làm sao còn ham muốn dục vọng? Phải chăng Mật tông có con mắt nhìn tổng thể , đầy quyền uy của một tu sĩ khi muốn thoả mãn dục vọng nên có thể làm tình với bất cứ phụ nữ nào cũng được do giáo lý về tình dục là giải thoát như là một chiếc chìa khoá thiên đường nếu những phụ nữ đó muốn đạt đến. Đây là một trò ma mảnh trong đường tu. Cũng giống như Hồi giáo nhồi sọ " Ôm bom tự sát là được lên thiên đàng sống cùng Chúa , còn được nhiều bà vợ xinh đẹp ". Những giáo điều như thế không thể gọi là chân lý và giải thoát được. Cho nên dù Mật tông hay Tịnh độ dựa vào Thích Ca để đưa ra những giáo lý mới nhằm tính cách lợi ích , thoả mãn cho cá nhân , những điều đó hoàn toàn trái ngược những gì Thích Ca đã từ bỏ để ra đi tìm đường cứu khổ. Không lẽ ngày xưa Ngài xa lánh danh vọng , tiền tài , dục tính thì sau khi đạt đến giác ngộ Ngài quay trở lại dạy , hay hô hào cúi đầu cầu nguyện xin cứu rỗi , hay lấy lạc thú làm cứu cánh trong vấn đề giác ngộ. Điều ấy hoàn toàn mâu thuẩn không những trong nội tại mà ngay cả trí tuệ cũng không bao giờ cho phép. Đây chính là một minh chứng rõ ràng nhất để các bạn nhận định đúng - sai để tin tưởng về chân lý Như Lai mà không theo Mật tông hay Tịnh độ tông .
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  17. #57
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Vấn đề dục vọng là một trong những rào cản lớn nhất trên bước đường tu tập. Nhưng điều đáng buồn thay Mật tông lại cổ xúy , bày vẽ ,hướng dẫn phương thức hành lạc làm sao được lâu , những vùng cấm địa nào khoái cảm ..... như Osho đã viết . Cách hành dục thế nào cho được lâu và khoái cảm tột cùng của thể xác được Osho , Mật tông , Shiva tận tình hướng dẫn , từ đó thay vì khuyên ta tránh xa lạc thú thế tục như giáo lý Đức Bổn sư và nhiều tôn giáo khác, Mật tông nhấn mạnh rằng : "Tốt hơn con người ta nên cứ hưởng lạc tự nhiên, nhưng chuyển cái năng lượng của lạc thú thành con đường nhanh chóng hiệu nghiệm đưa đến sự toại ý và giác ngộ hoàn toàn. Các bạn có tin những điều như vậy không? Nếu trả lời tin thì cứ thử nghiệm xem ( đối với mấy bà sồn sồn ) , nam giới thì cứ cho vợ của bạn vào thiền với mấy thầy Mật tông xem sao , những gì sẽ xảy ra như tôi đã trình bày ở những bài vừa qua , bạn có can đảm nhìn vợ bạn đang hưởng khoái lạc cùng thầy chăng . Các bà cứ tự nhiên thử nghiệm vì con người ai cũng có khả năng tiếp nhận , thưởng thức hạnh phúc , khoái cảm về thể xác , nhưng nhớ đừng mê vọng vốn thường nhiễm độc lạc thú đưa đến sa đoạ về thân thể. Điều này ta nhận thấy có sự lấp lững và mâu thuẩn của Mật tông , họ cho rằng thưởng thức và khoái lạc là cần có , nhưng không được đam mê. Đây là một vấn nạn thử thách ý chí cao tột đỉnh của con người. Có mấy ai dám từ chối khi đứng trước sự cám dỗ của kẻ khác phái đang sẳn sàng nắm tay bước vào hành trình tình dục để tìm sự giải thoát. Tôi nghĩ nếu ai đạt được tính quân bình trước thể xác thì quả là đạt đến Bồ Tát.

    Mật tông đòi hỏi phải sáng suốt từ bỏ để tạo không gian trong tâm của ta. Họ lý luận rằng :"Ta chỉ có thể thực hành Mật tông hữu hiệu khi đã chấm dứt ảo tưởng đối với các dục vọng. Ta phải nhận thức sâu xa từ đáy lòng rằng, sự bám víu không bao giờ đưa đến thỏa mãn, mà chỉ đem lại khổ đau thất vọng. Nếu không thấy được rằng sự bám víu khoái lạc giác quan buộc chặt chúng ta vào bánh xe sinh tử, thì khi tu Mật tông ta sẽ lặp lại lỗi lầm ta đã phạm khi theo đuổi khoái lạc: Mỗi khi được một cảm giác phúc lạc, ta sẽ bám lấy nó như một cái gì thực hữu nội tại, có thể đem lại cho ta niềm vui bất tận." Khi nào cần buông bỏ và khi nào phải bám lấy nó như một cái gì thực hữu nội tại mới có niềm vui bất tận? Cho nên Mật tông lý luận loanh quanh khó mà hiểu được khi hành trì. Họ có thể biện luận khi bạn hành dục mà không đạt đến an lạc , hạnh phúc và giải thoát , tại vì bạn :"Khoái lạc tự chúng không là vấn đề, mà vấn đề chính là sự bám víu chấp thủ vào khoái lạc. Bởi thế, nếu có thể thoát ly thói quen bám víu, thì ta có thể tha hồ vui thú mà không bị những rắc rối vẫn thường kèm theo sự tìm kiếm khoái lạc. " Nhưng có ai phản đối vì lập luận ngược xuôi có tính cách bất nhất thì họ lại bẻ quặt bạn bằng lý luận mới :"Từ bỏ không phải đồng nghĩa với khước từ lạc thú hay chối bỏ hạnh phúc, mà có nghĩa "không còn mong đợi gì nơi những lạc thú thông thường." Chính những mong đợi ấy đã biến lạc thú thành đau khổ. Cần nhắc lại, lạc thú không có gì sai quấy, mà chính thái độ bám víu, thổi phồng, bóp méo và ô nhiễm của ta đối với lạc thú mới là cái cần từ bỏ. "Tình dục là vấn đề then chốt và cấm kỵ của Ngài Thích Ca , thế mà Mật tông vẫn nhấn mạnh lạc thú không có gì sai quấy, họ cho sự khoái cảm thể xác là ĐÚNG và CẦN CÓ. Đây là một luận điệu bát bỏ tất cả những gì mà giáo lý Thích Ca cho là chân lý. Khi con người tu hành không nhằm giải thoát mà nhằm giải toả sự tồn đọng của sinh lý thì điều này khó mà đứng vững trước thời gian , sớm muộn gì cũng bị khoa học soi mói hay các nhà tâm lý học bẻ gảy.

    Sự đòi hỏi về tình dục của nữ giới bao giờ cũng mạnh hơn nam. Những lúc bị đòi hỏi và thôi thúc như thế , người nữ có thể làm bằng mọi cách để thoả mãn nhu cầu. Ngày nay nhờ văn minh tiến bộ , ngoài việc " may tay " người nữ rẫt dễ dàng đến những quầy hàng hay Adult Video mua những bộ sinh dục giả của nam giới làm bằng cao su về tự giải quyết lấy , hoặc bí tỷ thì online theo chọc , bươi móc , nói xa nói gần nick nam giới nào để gây sự chú ý của họ , đây chỉ cách giải quyết sinh lý về mặt tâm lý mà thôi , dù sao có cũng hơn không. Tất cả những dẫn dụ tôi đưa ra như thế để chỉ rõ phần nào về dục tính khi cần giải tỏa của con người nhất là phụ nữ .

    Tu tập nhằm mục đích là giải thoát , nhưng tu theo kiểu Mật tông thì chẳng ai muốn giải thoát mà thích ở thế gian tu theo kiểu dâm đảng này sướng hơn. Chính tâm tư và cá nhân tôi cũng không từ chối điều đó. Xuất gia là TỪ BỎ tất cả sau lưng kể cả danh vọng , tiền tài , vợ con..... đồng thời cũng có nghĩa đen là sự "quyết định ngoi lên." Đây là một quyết tâm sâu xa nhất định ngoi lên khỏi những bất mãn thất vọng triền miên của đời sống tầm thường chán ngấy trước những vấn đề không ngừng tái diễn, đến nỗi cuối cùng ta hết khát khao ham muốn thứ này sang thứ nọ, từ đó ta khởi sự tìm cách làm cho đời ta có ý nghĩa, thỏa lòng mong đợi . Vậy đào luyện sự từ bỏ, hay quyết định ngoi lên, cũng chính là tự giải thoát khỏi những thói dính mắc đã làm trì trệ chúng ta, khiến ta không thực nghiệm được tiềm năng con người viên mãn nhất trong mình. Điều này được Mật tông giải thích như vậy có đúng không? Có lẽ đúng với Mật tông , Osho , Shiva hay những ai tôn thờ chủ nghĩa xác thịt , chứ đối với Phật giáo Thích Ca thì hoàn toàn bát bỏ. Bởi vậy đời tu sĩ mới cấm lấy vợ , nếu nhở có thầy nào đi biển ôm gái thì bị la làng , chửi rủa , nhưng " chơi " hay sờ chỗ kín của nữ giới thì họ che đậy , bênh vực. Tại sao các thầy Tịnh độ không hè nhau tu theo Mật tông có phải sướng hơn không? Hoặc là sửa giới luật " Tu sĩ có quyền lấy vợ " như Tin Lành thì có ai cấm cảng đâu. Luật là do nhân tạo , tự con người đặt ra để ràng buộc và gây khổ đau cho nhau. Ví như luật của DV cấm đem chuyện web khác vào bàn luận gây tranh chấp , họ cứ làm. Cấm đã kích , bôi nhọ cá nhân họ vẫn phớt lờ , ngày đêm moi móc , sĩ vả từ tu sỹ cho đến hội viên. Vậy mà họ bảo không phạm giới tại sao xóa bài mà không thông báo , giải thích. Luật nói rằng : " Nếu vi phạm xóa không cần thông báo " , thì ra dù giới cảnh ta bà , tăng hay tạo cũng bị giới luật nghiêm khắc hành trì.



    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  18. #58
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Sự truyền đạt hầu hết trong những bộ kinh của Mật tông đều là đối thoại giữa Shiva và người tình Devi. Bạn nên nhớ rằng Mật tông không phải là một đối thoại giữa thầy và trò, mà là giữa hai tình nhân hỏi và đáp với nhau. Giữa thầy và đệ tử phải là những cặp tình nhân khắn khít nhất. Được như thế thì những điều siêu việt, cao cả mới có thể được biểu hiện lúc thiền định . Có phải thầy Chân Quang đã bắt đầu thấm nhuần triết lý , phương thức thiền định của Mật tông nên đi biển cùng đệ tử để truyền đạt vai qua vai , tay sờ bụng chăng? Tôi bắt đầu có sự suy xét như thế. Vậy việc thầy làm tại sao Đại thừa và nhóm Phật tử cùng cao tăng , Giáo hội Hải phòng lên tiếng công kích và chống báng triệt để? Tại sao các vị ấy không chống đối và lên án thẳng Mật tông là một tông phái chủ trương , cổ xúy và hành đạo qua con đường tình dục mấy ngàn năm nay có bài bản , kinh sách lâu nay chẳng ai lên tiếng chống đối , lại còn in ấn ra truyền dạy như là một trong những hàng ngàn cách thiền đưa đến giác ngộ qua xác thịt của nam và nữ . Phải chăng thầy Chân Quang bị chống đối vì chính trị hơn là một hành trình đạo pháp được thầy nhắc đến như một bước ngoặc trong đoạn đường dài của Mật tông. Điều mà Shiva có đề cập "Tantra là ngôn ngữ của tình yêu. Đệ tử phải có tình yêu đối với đạo sư. Nhưng bạn cũng có thể là tình nhân. Tantra nói rằng đệ tử phải cởi mở, phải sẵn sàng tiếp nhận như thể người vợ chờ chồng về. Trên đỉnh yêu đương ấy tất cả đều có thể xảy ra. Đệ tử không nhất thiết phải là người nữ, nhưng bạn phải có tính tiếp nhận như một người nữ. Devi hỏi. Đó là thái độ của một người nữ. Nhưng sao phải có thái độ của một người nữ? "

    Vậy thì Đệ tử phải có tình yêu đối với đạo sư có chi là tội lỗi khi thầy Chân Quang có lẽ muốn thực tập thiền vòng tròn với nữ đệ tử như Mật tông giảng. Sự ôm ấp giữa thầy và trò , nam và nữ không có chi là dâm dục , kinh Mật tông không cho rằng chung đụng xác thịt không phải là dục tình. Mật tông là tình yêu nhưng dùng dục để đạt đến thiền định. Vậy thì những cao tăng nào dám lớn tiếng phê phán , kết tội thầy Chân Quang là hoàn toàn vô lý và không hiểu gì về con tim lẫn tình yêu mà Mật tông đề xướng. Từ đó Osho nói :

    Mật tông là sự thăng hoa của tình yêu đến thiền định. Vì lý do đó Mật tông nói rất nhiều về dục và tình yêu. Mật tông nói rất nhiều về tình yêu, về dục. Tại sao? Bởi vì tình yêu là cánh cửa tự nhiên và dễ nhất để bạn có thể siêu việt thế giới này, chiều ngang này…

    Tình yêu bất ngờ thay đổi chiều của bạn. Bạn bị ném ra khỏi thời gian và đối diện với vĩnh cửu. Tình yêu có thể trở thành thiền rất sâu sắc – sâu sắc nhất…

    Tình yêu đối với Shiva là một cánh cửa rất tốt. Dục đối với ông ấy không phải là cái phải nguyền rủa. Nó là hạt giống mà tình yêu là hoa. Nếu nguyền rủa hạt giống, bạn cũng nguyền rủa hoa. Dục có thể trở thành tình yêu. Nếu không trở thành tình yêu, nó đã bị tê liệt. Hãy nguyền rủa sự tê liệt, đừng nguyền rủa dục. Tình yêu phải thăng hoa, và dục phải trở thành tình yêu. Nếu không, đó là lỗi của bạn, không phải tại dục.

    Dục không thể là dục mãi mãi; đó là quan điểm của Mật tông. Nó phải biến thành tình yêu. Và tình yêu cũng không phải là tình yêu mãi mãi. Nó phải biến thành kinh nghiệm tâm linh, thành đỉnh cao của huyền niệm. Chuyển hóa tình yêu như thế nào? Hãy trở nên hành động và quên người hành động. Khi yêu, trở thành tình yêu. Nó sẽ không phải là tình yêu của bạn, hay của tôi, hay của người khác. Nó chỉ là tình yêu. Khi không còn nữa, bạn hội nhập với cái nguồn tối thượng. Khi yêu, bạn không phải là người đang yêu. Khi đã bị tình yêu nhận chìm, bạn đã biến mất; bạn đã trở thành sinh lực đang lan tràn.


    Chuyện tâm lý đời thường , Mật tông cho rằng dục đã bị lạm dụng vì nó đã bị kết án quá nhiều trong quá khứ khi tiếp xúc truyền giáo giữa thầy và trò , giữa nam và nữ đã đi quá xa vời về thể xác . Những sự kết án quá nhiều về dục đã buộc nó phải chạy trốn trong vô thức như là một điều chối bỏ gần như đánh mất , đã tạo ra một cảm giác đến nỗi chúng ta cũng không nhận ra nó là gì , chân tướng thế nào khi đang đối mặt thiền định . Osho nói thêm rằng :

    Sự nhồi sọ liên tục rằng dục là tội lỗi đã tạo ra một rào chắn bên trong bạn. Bạn không cho phép bạn thư giãn. Sự nguyền rủa ấy luôn luôn ám ảnh mọi thế hệ, kể cả thế hệ mới. Họ có thể nói rằng họ không bị ràng buộc, không bị ám ảnh, rằng dục không phải là cái bị cấm đoán đối với họ, nhưng bạn không thể trút bỏ gánh nặng của vô thức một cách dễ dàng. Nó đã kéo dài qua nhiều thế kỷ; tất cả quá khứ của nhân loại đều có đủ. Cho nên một cách ý thức bạn có thể không nguyền rủa dục, nhưng nó luôn luôn bị vô thức ám ảnh. Vì vậy bạn không đi vào dục một cách trọn vẹn. Cái gì đó luôn luôn bị đè nén. Cái bị đè nén ấy làm bạn phân liệt. Cho nên Mật tông nói bạn phải đi vào với cả thể xác và tâm hồn. Hãy quên chính mình, quên văn minh, quên tôn giáo, văn hoá và ý hệ. Hãy quên tất cả mà chỉ biết có dục. Hãy đi vào một cách trọn vẹn; đừng để lại gì cả. Và tuyệt đối không có một ý tưởng nào. Được như thế thì bạn mới nhận ra là bạn đã trở thành một với người nào đó. Và cảm giác nhất thể này có thể tách rời khỏi người yêu của bạn mà gắn liền với toàn thể vũ trụ. Bạn có thể yêu cây, yêu trăng sao, yêu tất cả. Một khi bạn biết nối vòng tay lớn này, bạn có thể thực hiện với tất cả - thậm chí bạn cũng chẳng cần gì cả.

    Vì sao Mật tông dạy bạn hảy quên đi tất cả mà chỉ biết có DỤC , như thế mới đi vào thiền một cách trọn vẹn. Mật tông đã nói rất rõ ràng không có gì phải úp mở , che dấu , thế thì Đại thừa , quý cao tăng nhất là mấy Phật tử phường tuồng sao không hạ ngay từ căn gốc là Mật tông lại đi chống báng , hạ bệ Chân Quang. Phải chăng việc làm như thế là " Đánh ngọn mà không dám đụng đến gốc ".

    Biết đâu khi ôm ấp , sờ mó nữ đệ tử là lúc thầy đang thực tập Thám Hiểm Luân Xa. Điều này Shiva ghi rất rỏ khi thực tập " Vòng tròn tình yêu " "Khi hai người yêu nhau, nếu ông ấy trao sinh lực dương từ luân xa thứ nhất cho bà, vốn là âm và sẵn sàng tiếp nhận, nó sẽ đi vào cơ thể và lên đến vùng trái tim vì đó là dương. Từ đó nó có thể đi vào vùng trái tim của ông ấy vì đó là âm, và nếu ông ấy biết cách nhận được nó, nó sẽ đi xuống luân xa thứ nhất. Một vòng sinh lực tình yêu được tạo ra.

    Có lần tôi thực tập phương pháp này với chồng mà không cho ông ấy biết. Kết quả là quá nhiều sinh lực tập trung tại tim làm tôi cảm thấy nó sẽ nổ tung. Tôi phải nói với anh ấy, “Anh có thể mở tim anh ra một chút được không?” Sau khi tim anh ấy mở ra, một vòng sinh lực được tạo ra."


    Và ngay chính Osho cũng không phủ nhận điều đó , vì ông quan niệm :

    Nếu vòng tròn tình yêu được tạo ra, một cảm giác thay đổi giới tính có thể xảy ra; lúc ấy người nam cảm thấy là nữ, và người nữ cảm thấy là nam, và sau đó trở lại như cũ.


    Trong tình yêu lúc bắt đầu gặp nhau và làm thành một vòng tròn tình yêu thì chuyện gì sẽ xảy ra? Ngay giờ phút đó người nam trở thành nữ, và nữ trở thành nam , bởi vì sinh lực di chuyển và đã trở thành một vòng tròn. Lúc đó bạn đi vào một phương pháp thiền rất sâu sắc tuyệt diệu. Bạn sẽ cảm thấy bị mất hút trong người yêu, phúc lạc tự động sẽ xảy ra cùng những ham muốn thể xác bừng dậy , nếu bạn không kìm hảm sẽ đi vào con đường xác thịt và hoàn bị rơi tỏm vào con đường khác ngoài thiền định .

    Đến đây bạn có cảm giác và suy nghĩ gì về Mật tông , những việc làm và hành động của Thầy Chân Quang có thật đang đi vào thiền Mật tông không? Trước mắt thầy đang đi vào vòng tròn tình yêu với nữ đệ tử , điều này Mật tông dạy như thế. Vậy trên phương diện một tu sĩ có gì lầm lỗi không? Nếu không tại sao làng sóng tu sĩ , cư sĩ đồng loạt đứng lên chống đối. Hạ bệ và " ám sát " Chân Quang chính là triệt hạ toàn bộ giáo lý cơ bản của Mật tông bắt đầu vậy.


    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  19. #59
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Vì sao Ngài Thích Ca cương quyết thiền định 49 ngày đêm dưới gốc cây Bồ Đề. Ngài quyết tâm tìm cho bằng được con đường giải thoát khổ đau , nếu không thì không bao giờ rời khỏi nơi đây. Quả thật Ngài đã chứng ngộ và tìm được con đường giải thoát. Phải chăng nhờ sự im lặng của thiền mà tìm được chân lý giải thoát. Thật ra thiền mang lại sự lành mạnh tinh thần cho con người khắp thế giới, một sự lành mạnh hoàn toàn từ ý tưởng cho đến thân xác , không có tính chất dục vọng mà tìm ra con đường giảc ngộ đi đến chánh đẳng , chánh giác nhờ vào tính dục như Mật Tông , Osho , Shiva cổ xúy. Vì bản chất của thiền là giải trừ tất cả mọi giáo điều,dục vọng , lẫn quan niệm ý thức hệ giữa nam và nữ , khi nói: “Hãy trở nên trống rỗng. Hãy nhìn bằng đôi mắt vô niệm. Nhìn thẳng vào bản tánh của vạn pháp, mà không khởi lên một ý niệm, không thiên kiến, không giả định.”

    Khi quý vị đã mang sẵn một ý tưởng ở trong đầu, thường một điều chắc chắn là quí vị sẽ tìm thấy nó ở trong thực tế ,bởi vì tâm rất là sáng tạo và luôn luôn biến động không ngừng cũng vì muốn sáng tạo . Dĩ nhiên cái sáng tạo này chỉ đơn thuần là trừu tượng trong tưởng tượng , lúc nào trong đầu óc quý vị cũng ao ước sự giàu sang , quyền quý cùng vợ đẹp con thơ. Thậm chí có nhiều vị tưởng tượng sẽ lên chín từng mây hội thoại cùng Chúa , hay có vị muốn đến cõi Tây phương nào đó chiêm ngưỡng dung nhang Phật A Di Đà. Cũng lắm vị quay quanh ý nghĩ không biết A Di Đà đã thành Phật chưa? Trong 48 hạnh nguyện chữ đầu câu lúc nào cũng " GIẢ SỬ tôi thành Phật ...... giả sử là trừu tượng chưa phải là thật , A Di Đà cũng vậy. Lúc nào đầu óc Ngài cũng có những suy nghĩ vẫn vơ đầy trừu tượng đẹp như mơ giống của quý vị , đó là tâm lý thường tình của bản chất con người.

    Nếu quý vị muốn sẽ thấy những ảo ảnh về Chúa Jesus, tất cả đều là hư huyễn. Nếu có vị đang tìm kiếm Einstein , Descartes thì bạn có thể bắt đầu thấy Einstein , Descartes , nhưng tất cả cũng chỉ là hư huyễn trong ảo giác .
    Thiền là con đường rất thực tế , thiền để tâm thanh tịnh ,lắng đọng và suy tư tìm điều hơn lẽ thật , sự phải trái của cuộc đời cần làm và nên tránh , đó là cội nguồn tìm về chân lý rốt ráo mà Thích Ca chọn lựa và dạy dỗ chúng sanh . Cầu nguyện là nương tựa , ỷ lại , chai lười muốn nhờ người khác. Không tự cầm chén cơm đưa vào miệng , chỉ biết nhờ người khác giúp cho thì làm sao no bụng , làm sao tìm đường giải thoát khổ đau? Nguyện cầu chỉ là một sự van xin thì dễ bị lừa dối , điều này thực tế đã chứng minh hàng ngàn năm nay , vì Ngài Thích Ca cho rằng những gì là ảo tưởng cần phải được loại trừ. Ảo tưởng đến từ quá khứ cho tới tương lai đều do vọng tưởng , chỉ có hiện tại là tuyệt vời. Quý vị có bao giờ thấy Như Lai dạy cầu nguyện danh tánh Thích Ca không? Hoàn toàn chỉ có Đại Thừa dạy cầu nguyện A Di Đà , Quán Âm , Dược Sư....... thì sẽ được cứu vớt và cho về nước phương Tây sống ấm no hạnh phúc. Mà nước Phương Tây chính là Trung Hoa ở về hướng mặt trời lặng. Trong mỗi lời nói , mỗi câu kinh cho đến những câu chuyện cổ tích và ngày nay bản đồ chiếc lưỡi bò trên biển Đông là Trung Hoa để lộ ý đồ thống trị mà qua các triều đại Hán tộc chưa thực hiện được nay con cháu người Trung Hoa hùng mạnh sẽ tiếp nối tổ tiên để làm.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  20. #60
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Trước đây tôi chưa có kinh nghiệm nên theo đọc bài " HT Thích Tuyên Hóa " của bạn annsie copy , vì quá trình đọc chậm sau 7 ngày. Nay tôi rút kinh nghiệm không cần phải nhận định thứ tự từng bài của ann copy , vì hầu hết những chuyện thầy TH tự tâng bốc cá nhân như thông minh , tài chữa bệnh , tài học ba trên ba trong v.v...... chưa xem chắc độc giả đã đoán là chuyện thầy Be gì rồi. Đây chỉ là cái NGÃ tự tôn mà ai cũng có , chính cá nhân tôi trước đây cũng nói về cái " tôi " ( ngã ) , cách tu hành đạt được thần thông , chuyện tôi từng chữa được nhiều bệnh giống thầy TH trong topic " Phật giáo trong mắt tôi ". Nay tôi cảm thấy kể chuyện về mình là xấu hổ và phạm điều khuyên TỰ TÔN của Thích Ca mà không kể lại ( ai muốn biết thì vào bài Phật giáo trong mắt tôi đọc ) . Từ kinh nghiệm đọc bài thầy TH một cách thứ tự thì không kịp thời gian để độc giả theo sát bài copy của ann ( chỉ mất 10 phút ). Đọc đến #9 mới thấy một bài do bạn ann tự viết nên lý thú đối thoại bài này. Mời quý vị bắt đầu xem :

    Chuyện bạn ann ngày xưa vừa lên 6 đã thiền định và đọc chú Đại Bi là một điều khá như thần đồng , tuy khó tin như thầy TH " Be " nhưng tôi vẫn hoan hỹ chấp nhận :

    "Tôi bắt đầu tọa thiền năm lên 6 tuổi. Trong nhà có bà ngoại và mẹ là Phật tử , lại có nguyên 1 gian thờ rất lớn trên sân thượng. Bà ngoại tôi lập bàn thờ Phật rất lớn, rất đẹp , có cả 1 cái trường kỹ bằng gỗ và đầy đủ kinh sách cũng như dụng cụ tọa thiền. Năm tôi lên 6, bắt đầu biết đọc thì tôi hay lên đó ngồi xếp bằng ê a đọc những bài chú. Các bộ kinh điển thì khó quá tôi không đọc được , nhưng các câu chú như

    1. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da
    2. Nam mô a rị da
    3. Bà lô yết đế thước bát ra da
    4. Bồ Đề tát đỏa bà da
    5. Ma ha tát đỏa bà da
    ( Đại bi chú ) "


    Đến #11 này tôi ngạc nhiên khi ann chấp nhận về chuyện tu hành sẽ đạt được thần thông :

    "Khi chúng ta kiên trì tu niệm , hành trì đạo pháp, giữ giới nghiêm minh thì quả thật là chúng ta sẽ đạt được những khả năng màu nhiệm mà kinh Phật gọi là đắc thần thông. Dùng từ thần thông thì nghe có vẻ hoang đường nhưng thực ra đây là những tiềm năng mà chúng ta ai cũng có, chỉ vì mê muội vọng tưởng tội nghiệt nên không thấy và không dùng được thôi. Chúng ta thời mạt pháp như người có mắt mà bị bịt khăn đen, nên mắt chẳng thấy gì tuy vẫn có mắt đấy. Đến khi Phật pháp soi tâm vải đen bịt mắt được gỡ ra thì tự nhiên mắt sẽ thấy , giống như là thần thông vậy.

    Bản thân tôi cũng được kinh nghiệm qua nhưng vì chưa đủ tinh tấn nên chỉ được thoáng cái rồi lại mất. Nhưng cũng đủ cho tôi tin tưởng rằng tất cả những điều Phật nói là hoàn toàn khoa học và có thực , chẳng phải là miếng bánh vẽ gạt người."


    Vậy mà bạn ann biết thời gian trước tôi nhập thất chỉ đạt được thần thông khi nhìn quá khứ , vị lai còn lờ mờ thì ann dè bỉu , chê bai loan truyền hơn ba tuần. " Lại ông con ở bụi này " thì ra lòng người nham hiểm là vậy. Nhưng thôi , đối với nam nhi như tôi không bao giờ chấp nhặt và để ý chuyện cỏn con của đàn bà như thế. Mời quý vị xem tôi phân tích cách sai của ann khi thiền đã "mở xa luân ( kundalini ) ".

    Bất cứ phương pháp nào về thiền thì bắt buộc phải im lặng , nhất tâm bất loạn thì việc đi vào thực tập dễ dàng, có hiệu quả cao và vô cùng hữu ích cho tất cả mọi người ai tập cũng được dù tu sĩ hay tại gia . Đến với pháp môn thiền , người thế tục thì mong được lành bệnh và có một đời sống tinh thần thoải mái, nhẹ nhàng, thoát khỏi sự đau khổ về những thăng trầm của cuộc đời, những hệ lụy gia đình, quan hệ giữa con người với con người, những khắc khoải về mất mát, thúc giục, tình cảm, quan niệm v.v… Những động tác lúc thiền là - hít vào tâm tĩnh lặng , thở ra miệng mĩm cười - từ đó tâm hồn lúc thiền sẽ an lạc , nhưng bản tính khó khăn cố hữu tưởng chừng không bao giờ thay đổi được cũng từ từ thay vào đó là những nụ cười dễ dãi đầy cảm thông. Từ tận trong sâu kín, năng lực của yên lặng đã chuyển hóa thân tâm của các bạn , hóa giải những nghiệp thức chất chứa qua bao nhiêu đời sẽ tiêu tang , chứ không phải niệm danh A Di Đà mà tiêu tang đâu nhe ann .

    Chiếc chìa khóa khai mở năng lực lúc thiền là YÊN LẶNG . Yên Lặng là làm thinh không nói năng gì , đồng thời trong trí của ta không có một ý tưởng nào dấy lên huống chi là miệng lảm nhảm tụng kinh , trong lòng hoàn toàn bình yên, không có một dao động nào cả. Thế mà bạn ann làm ngược lại thì đột nhiên được mở xa luân ( kundalini ) cùng 1 lúc là điều lạ :

    "Trước đây nhằm lúc chồng tôi trọng bệnh , tôi nghỉ làm ở nhà để chăm sóc nên có nhiều thời giờ rảnh. Lúc đó tôi tọa thiền rất chăm và niệm chú Đại Bi đạt được đến tâm khẩu đồng nhất. Khi đó tôi đột nhiên được mở xa luân ( kundalini ) cùng 1 lúc. Tiếng Anh gọi là kundalini sweep. Thời gian đó tôi chưa từng nghiên cứu Mật tông nên không hiểu chuyện gì. Sau tìm tòi hỏi thăm mãi mới biết Kundalini sweep rất hiếm. Thường thì luân xa chỉ mở từ từ từng bước một và cần có sự chỉ dẫn của 1 vị Thầy. "

    Ông Osho đã viết :
    " Ai đã thật sự thành công trong việc khai mở năng lực Hỏa Xà Kundalini thì sẽ không còn khả năng bạo lực, không còn khả năng gây đau đớn cho người khác, không còn lòng tham nên không trộm cắp, không còn khả năng nghiện ngập và không còn bị các ham muốn thể xác khống chế mình nữa ,khi im lặng trong thiền định mới đạt được những điều này ."

    Bạn ann vừa thiền lại vừa đọc chú Đại Bi thì làm sao tâm thanh tịnh , đây cũng là điều lạ. Bạn có cách tu kết hợp giữa thiền của Thích Ca và tụng niệm của Tịnh độ thành công một cách kỳ diệu chăng? Có lẽ ann đạt đến thần thông nên khẩu động mà tâm vẫn tịnh. Từ đó ann nói rằng :

    "Ba ngày sau khi luân xa được mở thì tôi như người đi trên mây, tâm hoàn toàn an tịnh không có 1 chút lo buồn gì , đầu óc tỉnh táo đêm không cần ngủ mà không biết mệt , ngày không thấy đói mà đặc biệt là không thể ăn thịt , ăn vào là ói ra ngay lập tức. Ngoài ra tôi cũng không xem được TV hay nghe được nhạc gì ngoài nhạc tụng kinh hay nhạc niệm chú. Mở nhạc thường là tôi thấy khó chịu phải tắt ngay. Tôi không biết rõ thiên nhĩ thông là như thế nào, nhưng trong 3 ngày này tôi có thể " nghe" được suy nghĩ của người khác. Nghe như là mình nghe tiếng vang từ xa vọng về vậy. "

    Tôi nghĩ trạng thái đầu óc tỉnh táo đêm không cần ngủ mà không biết mệt , ngày không thấy đói mà đặc biệt là không thể ăn thịt , ăn vào là ói ra ngay lập tức có lẽ là ann đang có baby giống vợ tôi ngày xưa. Đây không phải là trạng thái " Thiên lý nhĩ " , thiên lý nhĩ là nghe được tiếng nói xa ngàn dậm , chứ không phải đọc tư tưởng , suy nghĩ của người khác "trong 3 ngày này tôi có thể " nghe" được suy nghĩ của người khác ".

    Thành Phật cũng rất khó mà cũng rất dễ , vì ai cũng có Phật tánh , tất cả là tại TÂM , chứ không phải " Buông đao là thành Phật " như mấy thầy tu nói phịa. Tu là đã khó , hành lại càng khó hơn. Tu mà không hành như đa số các Tỳ kheo ngày nay thì ai tu cũng được , chỉ hơn nhau và phân biệt giữa phàm tục cái áo vàng và đầu trọc , mà tâm thì cũng như người thế gian. Vì vọng động , những ngày đó ann đi vào DV moi móc , công kích cá nhân hội viên và không lo tu hành , học hỏi bằng cách đối thoại lại bắt chước thầy TH đi nói " Ba hoa Chích Choè " ( nói dối ) nên mất hết thần thông là đúng :

    "Qua đến ngày thứ 4 thì vọng niệm bắt đầu khởi. Cái đầu tiên khởi là tham. Tôi nổi lòng tham muốn được ở mãi trong tâm trạng tuyệt vời đó. Niệm tham vừa khởi thì si đến ngay, tôi chợt nảy ra ý định muốn tìm cách " đi đường tắt " để đạt thêm thần thông nữa. Tạp niệm vừa khởi là tôi mất hết những khả năng nhiệm màu nói trên , tôi như người rớt từ cung trăng xuống , ngay lập tức thấy đầu nhức mắt hoa bụng đói. Chưa hết, niệm sân còn theo tiếp khiến tôi thấy buồn giận khi mình bỏ lỡ mất cơ hội. Giận mình giận người lung tung 1 lúc lâu mới hồi quang phản chiếu được để giật mình tỉnh giấc mà lòng tràn đầy ăn năn sám hối.

    Từ đó tôi rút ra được kinh nghiệm là khi chuyên tâm tu hành, thì thần thông đạt được không khó , nhưng gìn giữ được mới là gian nan. Mà 1 khi mất rồi kiếm lại được khó hơn lần đầu. Vì vậy tôi xin chia xẻ kinh nghiệm của mình để Phật Tử xa gần chiêm nghiệm , ráng tu làm sao đừng để đi thụt lùi. "


    Làm con Phật thì không được nói dối , thế mà thầy Tuyên Hoá nói dối như Cuội , từ chuyện mới sanh ra cho đến khi lớn lên đi xuất gia , chuyện chữa bệnh và nhất là những chuyện khó tin thì gán cho là NẰM MỘNG , đố ai mà kiểm chứng sự dối trá của thầy vì vậy đệ tử VN như ann mới ngưỡng mộ , kính phục sát đất , bộ ann có định bỏ thầy Chân Quang hay sao nay trở mặt tung hô thầy Tuyên Hóa , nói xấu thầy Chân Quang thật sự hay chỉ là hõa mù khổ nhục kế để đánh lừa thiên hạ ? Những gì Thầy TH hay bất cứ ai làm Phật điều biết , tâm thầy biết và ngu dốt như tôi cũng biết luôn , nói chi là quý độc giả cao thâm trong diễn đàn DV này lại không biết mà bạn ann đem đi lừa đảo , làm bộ giả chết để quảng cáo cho thiên hạ tò mò mà mua băng Phật pháp , áo lam của thầy Chân Quang nhờ đi bán.

    Tôi rất hứng khởi để đối thoại những chuyện mà do bạn ann TỰ VIẾT như thế này , chứ đối thoại chuyện thầy Tuyên Hoá BE mà thầy thì không biết tôi đang phê phán thầy , trong lúc bạn ann đánh bóng về thầy lại không đủ trình độ đối thoại lại với tôi nhằm bênh vực về cá nhân và con đường tu tập đầy Ngã Mạng tự tôn của thầy ( khoe mình nhiều quá ). Vì vậy tôi mang tiếng là KẺ ĐỘC THOẠI.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



Page 3 of 14 FirstFirst 12345678910111213 ... LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •