Page 2 of 14 FirstFirst 123456789101112 ... LastLast
Results 21 to 40 of 264

Thread: Chân Lý Thích Ca.

  
  1. #21
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Các cao tăng , Phật tử có nghe , thấy giới trí thức tây phương đang lên án , chửi bới Phật giáo không ? Bằng chứng ông ROGER-POL DROIT trong bài "Phật giáo và hư vô chủ nghĩa " cho rằng :

    Giờ thì chúng ta hoàn toàn quên lãng nỗi khiếp sợ xưa cũ này rồi. Tuy thế, ta tìm thấy nhiều chỉ dấu khác biệt về nỗi sợ hãi đó ở các triết gia Đức – Hegel, Schelling, Schopenhauer, Nietzsche và những người khác. Nó cũng để lại dấu vết nơi những người Pháp, từ Cousin cho đến Renouvier, xuyên qua Quinet, Taine, và Renan. Nói chung, dù hơn dù kém, họ đã đặt Niết bàn gần với hư vô, đã xem Phật Giáo như một thứ hư vô chủ nghĩa, đã gắn liền Phật Giáo với chủ nghĩa yếm thế. Có thể trưng dẫn hàng trăm thí dụ. Hégel, trong những phiên bản năm 1827 và năm 1830 của tác phẩm “Encyclopédie” (Bách khoa), trình bày ở đoạn 87: “Hư vômà những người theo đạo Phật tôn làm nguyên tắc của mọi sự, là mục đích tối hậu và cứu cánh tối hậu của mọi sự.” Trong “Lecons sur la philosophie de la religion,” ông giải thích rằng, đối với Phật Giáo, “con người phải tự biến thành hư vô”, thừa nhận “sự bình an vĩnh cửu của hư vô”. Tiếp đó, những triết gia xem thứ lý thuyết được truyền giảng bởi một người mà Edgar Quinet đặt tên là “Vị Chúa vĩ đại của cái không” (Le grand Christ du vide) là một thứ “chủ nghĩa cuồng tín hư vô”[1]. Riêng Ernest Renan thì kết luận rằng thứ tôn giáo không thể nhận thức được này “gán cho đời sống một mục tiêu tối cao là hư vô,” cái “bộ máy tạo khoảng trống trong tâm linh” này là chỉ dấu rằng có sự hiện hữu của một “giáo hội của hư vô chủ nghĩa”

    Thật là oan cho Ngài Thích Ca chúng tôi lắm ông ROGER-POL DROIT ơi , cái HƯ VÔ hay TÁNH KHÔNG ( Rỗng không ) là do các ông Trung Hoa viết ra trong Đại Thừa - Tịnh độ rồi quảng cáo là giáo lý Phật giáo , Ngài Thích Ca không nói chuyện Hư Vô , Tánh không nào đâu mà ông lên án , phê phán . Bởi các ông cứ nghiên cứu kinh Đại thừa chữ Hán mà hiểu là Phật giáo Thích ca thì hố to , cái phá nát , đại họa là do những cao tăng người Hoa sáng tác thêm quá nhiều trong kinh điển rồi gán là của Thích Ca . Ông hảy qua Tích Lan đọc những bản kinh gốc chữ Pali lưu còn trữ bên đó , đừng đọc kinh Phật bằng chữ Hán do Trung Hoa dịch ra đi sai giáo lý Ngài Cồ Đàm và ông nhớ dùm con Ngài Long Mãng (Nagarjuna) là ( Người Trung Hoa ) , tôi trích lại cho ông đọc nhé :

    Ngài Long Mãng (Nagarjuna) ( Người Trung Hoa ) phát huy triết học Đại thừa về tánh Không và trong một bản kinh nhỏ được người ta gọi là Trung luận thuyết (Madhyamika-karika, còn gọi là Trung quán luận) chứng minh rằng vạn pháp đều "RỖNG KHÔNG "..

    Các ông Tây bà đầm phải hiểu rằng khi giải minh theo xu hướng hư vô không tận như ROGER-POL DROIT ,Hegel, Schelling, Schopenhauer, Nietzsche ...... chỉ có tánh cách hời hợt , một chiều . Tánh Không thường bị phê phán như là một thứ triết lý mông lung không hơn, không kém theo các ông hiểu là một sự biến thái ý nghĩa Phật giáo qua đầu óc Kito mà các ông tôn thờ từ lâu . Cũng không trách khi các ông thấy giáo lý Phật giáo cũng cầu nguyện , cứu rỗi ..... như đạo God , vì các ông đọc kinh Phật của Đại thừa - Tịnh độ nó sai trái và đi ngược , phản lại giáo lý gốc của Thích Ca là TỰ GIẢI THÓAT khổ đau , Niết bàn là ở đây , là TÂM của bạn chứ không hứa hảo huyền như thiên đàng , tây phương cực lạc nào đâu . Các cao tăng , Phật tử Đại thừa đọc đến đây đã thấy một sự tác hại , phá nát đạo Phật của Đại thừa chưa ? Còn nhiều bằng chứng mà tôi sẽ chỉ dẫn hầu giúp quý vị thấy rõ , chứ không HỒ ĐỒ như ông TC chỉ quote một đọan của tôi mà không lý luận đựơc câu nào , rồi cho đó "để cho thấy tác giả tự vả mồm mình như thế nào " . Trình độ Phật học như vậy cũng đòi lên tiếng dạy đời .

    Về Tánh không , hư vô thầy Thích Tâm Thiện tạm giải thích thế này :

    Tánh Không tiếng Phạn gọi là Sùnyatà. Đây là một từ hợp biến của hai âm : sùnya và tà. Sùnya có nghĩa là không, là rỗng; tà là tiếp vĩ ngữ (tiếng hợp âm để biến thành danh từ) . Theo ngữ căn, thì từ sùnya được phát sinh từ động từ svi, có nghĩa là phồng lên, sưng lên…Ở đây, hễ cái gì phồng lên bên ngoài–như bong bóng chẳng hạn- thì bên trong nó bao giờ cũng rỗng không. Do đó, sùnyatà được hiểu như là tính cách của trương độ (sự phồng lên) nó luôn luôn bao gồm hai mặt : bên trong và bên ngoài; hễ bên ngoài phồng lên thì bên trong rỗng.

    Tuy nhiên, có lẽ do một lý do nào đó, hoặc không có sự tương đương trong ngôn ngữ phương Tây, nên sùnyatà thường được dịch chỉ có một chiều- đó là sự rỗng không. Như trong tiếng Anh, sùnya được dịch là empty hay void, và tà được dịch là ness, kết hợp giữa hai từ này (sùnya + tà= sùnyatà) sùnyatà được dịch là emptiness, voidness, hay nothingness … Và tất cả những từ trên đều có nghĩa là sự trống không, sự rỗng tuếch, sự không có gì cả…

    Tuy đó chỉ là một lối giải thích tương đối , nhưng cũng không mang lại giá trị chân lý của Ngài Thích Ca . Vì theo Ngài " Vạn Pháp đều là Không " , vậy thì phình ngoài rỗng trong mà làm gì ? Đã là Không dù bằng hình thức nào vạn lý cũng là Không .

    Phật Giáo như một thứ hư vô chủ nghĩa, đã gắn liền Phật Giáo với chủ nghĩa yếm thế. là Phật giáo ĐẠI THỪA - TỊNH ĐỘ đội lốt và MẠO NHẬN trùm lên đầu cho giáo lý Thích Ca . Ngài Cồ Đàm bi quan , yếm thế thì làm gì có chuyện từ bỏ danh vọng , giàu sang để xuất gia tìm đừơng cứu khổ , yếm thế thì làm gì sau 49 năm lăng xã vào đời giáo huấn chúng sanh và trước giờ nhập diệt Ngài còn dạy các đệ tử :

    -"Các ngươi hãy lấy Giới luật làm Thầy" (Vinayo Sasanassa Ayu – The Rule is the Life of the Teaching).

    - "Các ngươi hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, ta chỉ là Người chỉ đường."

    - Các con hãy tinh tấn TIẾN LÊN để tìm đừơng giải thóat .

    Vậy thì các ông Tây bà đầm có lên án Phật giáo là BI QUAN - YẾM THẾ thì vui lòng móc thêm vài chữ : Phật giáo Đại thừa - Tịnh độ dạy BI QUAN - YẾM THẾ để khỏi lầm lẫn là Phật giáo Thích ca .
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  2. #22
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Tình trạng kiêu tăng thì thời nào cũng có . Khi đựơc vua , chính phủ nâng đở , yêu chuộng thì cái ngã mạng của mấy sư lại nổi dậy , lòng tham vô đáy bùng phát . Nhưng chuyện đời lúc lên voi thì cũng có lúc xuống chó . Những lúc các Tăng làm quá đáng nhà vua đã cho tăng hoàn tục , chỉ vì một lớp người chai lười không muốn làm việc , trốn lính vào chùa để sống cuộc đời nhàn nhã , sung sướng giàu sang . Phật giáo hồi Như Lai còn tại thế cũng không tránh khỏi luật Vô thường . Tại Trung Hoa có những lần phế Phật khá lớn như :

    -Thời Bắc Ngụy Thái Võ Đế (tại vị 424-451), phế Phật, có đến 1300 chùa bị tàn hủy .

    -Thời Bắc Châu Võ Đế (tại vị 560-578), lại phế Phật lần nữa; số lượng ba triệu tăng ni bị hoàn tục, và 40 ngàn ngôi chùa bị đập phá tiêu hủy có lẽ bị Phí Trường Phòng trong Lịch đại Tam bảo ký thổi phồng lên con số thập bội, nhưng đã nói lên tình trạng tệ hại như thế nào .

    - Ảnh hưởng tiêu cực nhất là thời Hội Xương năm 845, dưới triều Đường Võ tông, Phật giáo lại bị phế lần nữa, khi đó 4 ngàn 6 trăm tự viện bị hủy, hơn 260 ngàn tăng ni bị hoàn tục, tất cả kinh điển (khi đó còn chép tay) đều bị thiêu đốt, 40 ngàn đền chùa bị tàn phá, hàng triệu mẫu đất phì nhiêu do các vua đời trước phong cấp cho tăng đoàn bị sung công, 150 ngàn nô dịch (ngày nay gọi là công quả) chuyển làm nô lệ nơi khác .

    -Việt Nam ta thì bị đàn áp từ thời thực dân Pháp do sắc luật số 10 Phật giáo ngang hàng với hiệp hội đua ngựa , mặc dù 80% dân là Phật tử , trong khi Công giáo chỉ 2% lại đựơc công nhận là một tôn giáo . Bất công này kéo dài cho đến Diệm , mãi sau mới nhờ Quốc Trưởng Nguyễn Khánh huỷ bỏ . Nếu không có cuộc cách mạng 1-11-1963 thì Phật giáo không còn ở Việt Nam mà phải cải qua đạo Chúa nếu muốn sống .


    Chuyện đời lúc nào cũng có nhân mới sanh quả . Chúng ta cũng không trách các vua chúa phải ra tay " đẩm máu thiền môn " cũng vì những tăng sĩ đã đi quá giới luật của Như Lai , sống cuộc đời tham đắm , chấp trước , tham ô , cho nên những gì của Phật trả lại cho Phật, tẩy uế thiền môn, giới tăng sĩ bất lương phải hoàn lương là điều đương nhiên phải đến . Nếu bao lâu các thầy chùa và bà vãi bất lương vẫn cứ ù lì, trơ trẽn không hoàn lương, không quay về với chánh đạo và chánh pháp chân truyền của Phật sẽ lu mờ hay triệt tiêu .

    Trước đây Đức Phật chỉ giảng kinh và các đệ tử học thuộc bằng cách lập đi lập lại nhiều lần . Sau khi Phật nhập Niết Bàn mới có chuyện ghi chép kinh Phật , mặc dù hình thức còn thô sơ . Như vậy toàn bộ kinh văn không do Phật viết. Tất cả đều do giới tăng chúng phản Phật, huỷ Phật thời sau này đua nhau thêm bớt, bóp méo lời Phật dạy , nhiều nhất là Đại thừa - Tịnh độ Trung Hoa . Họ pha trộn vào đó cả những ý tưởng hư cấu của cá nhân của dân tộc Mãn , Hán , cộng thêm với những truyện thần thoại hoang đường từ truyện cổ tích thần thoại Purana rất lâu đời của dân tộc Ấn, cóp nhặt giáo lý siêu hình huyễn tượng của Bà La Môn và Ấn Giáo. Nếu học giả nào bỏ công nghiên cứu kinh Phật đến nơi đến chốn, tất đều phải nhận ra những chỗ mâu thuẫn, đầy rẫy những ý kiến vô cùng đối chọi , lùng bùng , mù mờ trong kinh Phật , nhiều từ ngữ , điển tích pha trộn giữa chữ Pali , Hán thật là khó hiểu . Vì vậy 2500 năm qua tuyệt đại đa số những kẻ tu Phật đều không thể nào ngộ được đạo , không thành Bồ Tát, thì chẳng lẽ họ lại dại dột tự thú bất lực và tự cởi áo cho xem lưng sao? Thế là họ đành làm thinh luôn, tự biến thành những cao tăng đại bịp, để tiếp tục được hưởng vinh hoa phú quí trong cái vỏ thầy chùa cho đến ngày mãn kiếp . Đó là thực chất phủ phàng mà không ai dám nói , dù chỉ mớm sơ sơ như Thầy Chơn Quang chăng , lập tức bị giáo hội đòi tước quyền , thu bằng , cao tăng chửi bới , thầy chùa cùng Phật tử cắt xén Video , bôi nhọ , tuyên truyền chà đạp ngày đêm không thua gì phường chợ đò . Phật giáo trong biến cố 1963 nhìn chung phần tích cực dĩ nhiên có , nhưng yếu tố tiêu cực cũng không thiếu, đã khiến cho một số tăng ni bị chóa mắt trước hào quang chói lọi giả tạm của một cuộc cách mạng không đổ máu cho nên đạo đức nền tảng bị băng hoại, kéo dài cho đến ngày nay còn âm ỷ chưa dứt . Không thiếu những cái ngã mạng cá nhân chà đạp, còn lại chỉ là những cái vỏ bóng lưởng, mang danh giáo hội thống nhất để dựa vào ngọai bang làm chính trị , muốn đựơc tiếng vang và lãnh giải Hoà bình Nobel . Thực chất sau khi thành lập thì đã có đổ vỡ tách lìa làm đôi do Mỹ và sau đó là CSVN cố tình phá nát .

    Ý nghĩa câu Phật nói :”SUỐT 47 NĂM THUYẾT PHÁP TA KHÔNG HỀ NÓI MỘT LỜI NÀO !” Nghe ra có mâu thuẩn không ? Sự thật vì lời nói nào rồi cũng theo gió thoảng bay đi. Chẳng khác nào bụi trần bay trước gió hay các loại phấn hoa bay tản mát khắp không gian. May ra có một số giáo thuyết nào còn bám trụ trong đầu các đại đệ tử đồng thời của Ngài , còn hầu hết lời Ngài giảng khi chưa có ghi kinh sách thì cũng bay theo làn gió đi vào không gian . Hơn thế Ngài còn tiên tri viễn kiến thấy: sau khi Ngài đã qua đời bọn đệ tử sẽ lắm kẻ phản Phật bẻ cong giáo thuyết , gắn bừa vào mồm Ngài những lời nói của họ với thâm ý trục lợi cá nhân hay vì tông phái như Đại thừa - Tịnh độ .

    Việt Nam ta vào thập niên 60 của thế kỷ 20, chỉ có một ít du học tăng tại Ấn Độ. HT Thích Minh Châu là người được mời về làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh đầu tiên có lẽ là người duy nhất của nước Việt Nam thời cận đại .HT Minh Châu là vị tăng chân chính không làm chính trị mà chỉ lo học thuật văn hoá , đây là một gương sáng cần noi theo cho toàn thể tăng đoàn Phật giáo Việt Nam .

    Hiện nay một số Tăng Ni từ Việt nam qua Mỹ theo diện du lịch, xin ở lại nói là để học nhưng đa số đi làm chùa riêng, ở những vùng không cần thiết, để hưởng nhàn và thu lợi nhuận . Số Tăng Ni khác bỏ Ấn độ cũng chạy sang Mỹ, mượn tiếng là đi tìm tài liệu, rồi tìm cách định cư bất hợp pháp tìm cách lập chùa , gom Phật tử . Những người đó rồi sẽ đóng góp được gì cho Phật giáo Việt nam, khi bản thân họ chỉ biết thụ hưởng những kỷ thuật tân tiến ở Hoa Kỳ . Không thiếu những Tăng Ni hải ngọai có xe đẹp , cell phone đời mới và cũng không quên cái Laptop lúc nào cũng có sẳn bên mình , không phải để khảo cứu kinh Phật mà là mode của thời đại , online du hý bâng quơ . Những lọai kiến thức đó có giúp ích gì cho việc tu tập nội tâm . Tôi cam đoan rằng 99% các tăng sĩ hải ngọai hoàn toàn thóai hóa , không còn giữ giới luật nào của Như Lai . Vậy thì Phật giáo sẽ đi về đâu , phần thì nội công , con cái làm hư nát giáo lý của Ngài như Tịnh độ , phần ngọai kích do Kito , Hồi giáo tìm cách triệt hạ và thu hẹp dần Phật tử từ văn hoá cho đến giáo điều làm sao đưa chân lý giải thóat tuyệt vời của Như Lai thành chuyện cứu rỗi giống y như đạo Chúa , chỉ có hình thức này là diệt Phật giáo hợp pháp và nhanh nhất . Cứ cổ động và giúp cho Đại thừa - Tịnh độ bành trướng cầu nguyện , cứu rỗi thì ngày tàng Phật giáo chỉ là ngắn ngủi trong tầm tay .
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  3. #23
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Điều ngạc nhiên là ngày nay các tín hữu Kito cũng đến thăm chùa , tham gia những ngày lễ lớn và Phật đản . Trước đây khỏang 10 năm thôi , hoàn toàn không có chuyện hoà đồng đó . Vì trong kinh Thánh vẫn còn sờ sờ " Ai không theo ta là kẻ thù của ta " " Không đựơc bái lại , đến đền thờ của vị thần nào " . Phải chăng họ đựơc lệnh " Hoà đồng tôn giáo " hay cổ vũ , hổ trợ Phật giáo Đại thừa lớn mạnh để có bạn đồng hành CỨU RỖI ?

    Ngày xưa khi Đức Phật còn tại thế không có cảnh các Phật tử đến chùa làm quần quật cả ngày không lương, lo lau chùi bếp núc, nấu nướng ngày ba bữa cơm ngon, canh ngọt dâng lên đến tận miệng cho Tăng - Ni , ăn xong lo pha trà , sữa cho Thầy cô tráng miệng ,xong rồi lại còn phải rửa ráy cầu tiêu, dọn dẹp, quét rác trong chùa đến khuya mới về . Những Phật tử có hành động này làm cho Tăng - Ni trở nên kiêu căng , ngã mạng , mất hết ý chí tu hành . Giới luật cấm ăn cơm quá ngọ , không đựơc dùng thức ăn qua đêm , không đựơc nằm giường cao 8 lóng tay , không đựơc đào đất , bứng cây v.v....... nhưng các Thầy cô đều làm xả láng . Tệ hơn nữa là vớt vong , cúng sao , cầu an ...... đều có giá cả cho mỗi lọai lễ . Việc này HÒAN TÒAN KHÔNG CÓ trong giáo lý Thích Ca , tự Đại thừa - Tịnh độ đặt ra , đó là tà giáo đội lốt Mâu Ni .

    Chân lý của Thích Ca chính là đạo SỰ THẬT , không hứa hẹn , lừa dối như Kito , A Di Đà . Ngài là một nhà đại tâm lý học cũng là lương y chữa bệnh tâm thần rất tài tình , về tư tưởng , tình cảm, trí tuệ, đạo đức, lẫn lối sống của con người đều đựơc Thích ca quan tâm và chỉ dạy con đừơng giải thóat . Từ đấy, giáo pháp của Đức Phật rất thân thiện , gần gũi với thực tế trong đời sống chúng ta. Giáo pháp ấy là tổng hợp mọi khuôn khổ , nếp sống nó quán triệt hết những gì là tinh hoa cao đẹp nhất của con người và vạn hữu . Một nền giáo lý xây dựng trên sự thật về con người và về cuộc đời : lấy CON NGƯỜI làm chủ điểm để giải quyết những việc liên quan đến cuộc sống nhân lọai bằng trí tuệ , khoa học . Hoàn toàn không van xin , cầu nguyện , hứa hẹn hảo huyền : ĐÓ LÀ CHÂN LÝ THÍCH CA . Tất cả sự thật mà trong kinh gọi là KHẾ LÝ - KHẾ CƠ . Khế lý có nghĩa giáo lý của Ðức Phật là sự thật, đúng chân lý. Khế cơ, tức giáo pháp ấy thích hợp với mọi trình độ con người và xã hội loài người, trong khắp các thời đại bất biến và khó thay đổi hay bị phê phán phải sửa đổi .

    Đức Phật Thích Ca dạy hai nguyên lý căn bản : TỨ ĐẾ - LỤC ĐỘ nhằm giáo dục con người cách tu tâm dưỡng tánh , ngoài việc tu thân phải biết thể hiện qua thực hành ,tu là phải hành , biết diệt trừ mọi nỗi nguy khốn, khổ đau, hòng giúp mình giải thóat và giúp con người xây dựng một Xã hội thực sự văn minh, nhân bản , hạnh phúc, một lối sống cao đẹp hoàn toàn dân chủ , tự do của Ðạo Làm Người. Đạo làm người không phải là kiểu " Ở rộng người người , ở hẹp người chê " theo kiểu Khổng giáo , mà đạo làm người là biết độ tha và giác tha , lấy lòng TỪ BI - HỶ XẢ làm nhân bản chính . Ở rộng cũng tha , hẹp cũng không chấp trước , bắt bẻ , nghĩa là phải trái , đúng sai cũng không bao giờ CHẤP NGÃ , đó là chân lý cao cả nhất của Phật giáo Thích ca mà không một giáo chủ nào có đựơc . Ngài dạy chúng sanh hãy sống thương yêu, hỷ xả ...và đừng bao giờ tạo "nghiệp" gây khổ não cho nhau, vì mọi con người đều đáng thương, đều cần phải được sống xứng đáng như nhau khi MÁU CÙNG ĐỎ , NƯỚC MẮT CÙNG VỊ MẶN THÌ KHỔ ĐAU NÀO CŨNG GIỐNG NHAU đó là chân lý . Có máu nào màu xanh hay có vị ngọt không ? Nếu có thì chắc có nhiều lọai khổ đau không giống nhau . Hoàn toàn không bao giờ có các lọai máu đó . Vậy thì lời Ngài dạy quả đúng là CHÂN LÝ không thay đổi dù hoàn cảnh nào , thời gian bao lâu . Suốt 2500 năm nay chưa một khoa học gia nào đánh đổ được giáo lý của Thích Ca . Ngoài ra còn nhiều luật chân lý như vậy " Nhân nào quả đó " ..... " Sanh già bệnh tử " " Nhân chi sơ tánh bổn thiện " .... nhiều vô số kể trong kinh Phật . Nhưng quý vị nhớ cho một điểm , dù là trong rừng kinh điễn Phật giáo , nhưng những bài kinh , cuốn kinh nào dạy cầu nguyện đựơc giải thóat thì đó không phải là chân lý Thích Ca , không phải do Ngài dạy . Kinh nào dạy cầu an , niệm Phật thì không phải của Ngài Thích Ca , vì Ngài chỉ dạy " Tinh tấn tiến lên " " Hãy mạnh dạn thắp đuốc mà đi " . Nếu bất cứ ai nắm đựơc nguyên tắc về giáo lý độc lập , anh dũng tiến lên chứ không bi quan , yếm thế như Tịnh độ thì ĐÓ LÀ GIÁO LÝ THÍCH CA . Quý vị không hoa mắt , khiếp sợ lạc vào rừng kinh điển , dù một rừng kinh , những mớ giây bìm bìm rối bời , quý vị vẫn bình tỉnh và chỉ đọc vài đọan xem tinh thần dạy có giống như Thích Ca không , nếu khác thì dụt bỏ đọc sang cuốn khác như : Cứ là cúi đầu cầu nguyện , cúng sao , vớt vong , bói toán , cầu siêu ..... đó là kinh dổm , kinh ngụy tạo của Đại thừa , hoặc cho rằng dâm dục là giải thóat như Mật tông cũng là kinh dổm mạo danh Đức Phật mà thôi . Vì sao ? Ngài chủ trương giải thóat khổ đau và diệt dục mà . Vậy thì kinh nào nói khác đi là nguỵ tạo . Đến đây tôi nghĩ rằng quý vị đã nhận thức đựơc phần nào về giáo lý , kinh điển , chân lý của Ngài Thích Ca.


    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  4. #24
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Ngày xưa Đức Phật Thích Ca ngồi thiền định 49 ngày đêm dưới gốc cây Bồ Đề đã tìm ra chân lý đạo giải thóat . Nếu Ngài tiếp tục tu theo phương pháp hành xác như sáu năm qua thì có lẽ chúng ta ngày nay không thụ hưởng đựơc một giáo lý trí tuệ , giải thóat mọi khổ đau bằng một phương thức hành trì rõ ràng . Sự giải thóat cho chính mình và tự mình đi đến giải thóat . Ngài không tụng kinh , niệm Phật hay cầu nguyện A Di Đà , Quán Âm , Ngài cũng không bái lại vị Thần sông, núi , cúng sao , vớt vong , cầu an , sám hối như Tịnh độ ngày nay .Kể cả sau khi Phật tịch diệt hàng trăm năm các đại đệ tử cũng không tụng kinh , cầu nguyện như thế. Ngài nhờ thiền tâm mới thanh tịnh , chứ gõ mỏ inh ỏi , đánh chuông chát chúa , đó là chưa kể ngày nay còn dùng máy khuých âm cho lớn thì tâm làm sao thanh tịnh đựơc ? Vậy mà những Tăng Ni Tịnh độ bình thản ê a bằng những âm thanh chát chúa ấy .

    Nhưng Thiền thường được hiểu là ngồi yên, trầm tư mặc tưởng, phân tích hoặc suy nghĩ về một luận cứ , một giải pháp . Đôi khi nó cũng được hiểu là ngồi xuống, nhắm mắt lại và giữ cho trí óc không suy nghĩ gì cả, nhờ vậy làm cho tâm trí được thanh tịnh bằng cách tránh thoát các vấn đề. Chính Đức Phật đã dùng lối thiền này mà tìm ra chân lý .Thiền cũng có thể là một cái gì đó rất tự nhiên và đơn giản , không gò bó mà ta hiểu " Đói ăn , khát uống , tối ngũ khì " . Có phải Thiền đem thiêng liêng mầu nhiệm đến với cuộc sống đời thường như chúng ta hằng nghĩ không ?. Bokogu, một vị đại thiền sư, luôn luôn nói :

    -“Thật là tuyệt vời! Thật là mầu nhiệm! Tôi đang khiêng dầu, tôi đang gánh nước.”

    -“Thật là tuyệt vời! Thật là mầu nhiệm!”


    Việc khiêng dầu và gánh nước từ giếng lên được ông tán thán “Thật là mầu nhiệm!” Ðó chính là tinh thần của Thiền. Nó chuyển hoá cái bình thường thành phi thường. Nó chuyển hoá cái ô trọc thành thiêng liêng. Nó xóa nhòa biên giới giữa phàm và thánh. Đó cũng là quan niệm của Osho . Thực ra thiền vốn nó không tự động chuyển hóa cái bình thường thành phi thường , mà sự chuyển hoá phải nhờ trí tuệ , cái trí tuệ đựơc vận dụng lý trí tìm hiểu , lý luận để tìm cái phi thường một cách có hệ thống , mạch lạc và logic , điều này chứng minh tư tưởng Osho là sai . Thiền không cần Thượng Ðế, không cần thánh kinh, không cần nhà tiên tri. Cũng không phải là hiện hữu toàn vẹn hay chính là lời tiên tri của Thượng Ðế hay hiện hữu toàn vẹn là thông điệp của Thượng Ðế , điều đó không hẳn như thế .

    Thiền tông không lấy đức tin, khi chỉ biết tin thì phải tuyệt đối , chính cái tuyệt đối là đầu mối của mê tín dị đoan , Thiền không đặt niềm tin mà lấy trí tuệ làm bước đầu. Trí tuệ thì giản trạch, phân biệt; còn lòng tin thì khẳng định như vậy, cứ tin rồi làm , thành ra hai bên khác nhau. Tu theo Thiền tông, muốn bước vào cửa Thiền phải đi từ cửa KHÔNG . Cửa Không chính là trí tuệ Bát-nhã. Từ trí tuệ Bát-nhã, nhận định hiểu thấu được sự thật của muôn pháp trên thế gian, không bị lầm mê cho giả là thật . Vì vậy nhiều bà già lú lẫn , còn lẩm cẩm hỏi rằng :

    " Không tin Tịnh độ sao cứ rao giảng kinh , video về Tịnh độ "

    Đó là phản luận khi giảng pháp . Không tin cách thức cầu nguyện sẽ đựơc cứu rỗi , cầu A Di Đà sẽ đựơc về Tây phương . Nói suông , giảng suông người Phật tử không hiểu , trái lại ta cho họ nghe , thấy những Video giảng của Tịnh độ rồi từ đó ta chỉ những cái sai , vô lý , hứa hẹn hảo huyền ....... thì người dân sẽ hiểu và giác ngộ ngay . Đó là tâm ý của tôi mà cở mấy bà già tám tửng cứ thắc mắc mà không bao giờ biết đến . Lời nói và việc làm của người tri thức có khác , không giống những người bình thường , nhất là hạng đàn bà tám tửng .

    Đối với Tịnh độ là một sự lừa dối vĩ đại như Kito giáo hứa hẹn một thiên đừơng mù , một cỏi Tây phương xa vời đầy ảo tưởng . Thiền thì khác, nó cắt đứt tất cả mọi gốc rễ , nó là đây là ở ngay trong tâm mỗi chúng ta . Nó đựơc minh thị và xác định qua tâm thức bằng trí tuệ . Cũng có thể đo lường , tính tóan về sự an lạc và Niết bàn bằng đầu óc vỹ đại của con người . Nhưng Thiền cũng có thể hủy diệt cái dịch vụ cơ bản nhất của giới tu sĩ khi có giả tâm lợi dụng Thiền như là một phương tiện cứu rỗi và lường gạt kiểu Tịnh độ , Kito . Thiền cũng không đi tìm một khóai lạc hay Thượng đế kiểu Jean Paul Sartre định nghĩa :

    " Âm hộ là một hố sâu thâm thẩm và ươn ứơt , mà nơi đó người ta tìm ra Thượng Đế .

    Như vậy thì Thượng Đế là ở đây và trước mặt chúng ta mỗi ngày và cũng bình thường như những cái bình thường khác . Thựơng Đế chưa chết và ta cũng dễ dàng tìm ra Thượng Đế để hiệp thông .

    Nhật Bản có một từ ngữ đặc biệt để diễn tả điều này. Họ gọi đó là Konomama hay Sonomama –“Cái Ðây là” của hiện hữu. Một chữ Ðây viết hoa- không là cái gì khác. Mà Osho cho đó " Chính cái như thị này của đời sống mới là Thượng Ðế, không là cái gì khác. Chính cái như thị trong khoảnh khắc này đây mới thánh hóa, thiêng liêng: cái như thị của một cành cây, cái như thị của một hòn đá, cái như thị của một người nam, cái như thị của một người nữ, cái như thị của một đứa trẻ. Và cái như thị đó không hề được định nghĩa, không thể được định nghĩa. Bạn có thể tan biến vào đó, thể nhập vào đó, nếm được hương vị của nó. “Thật là tuyệt vời! Thật là mầu nhiệm!”"

    Vậy thì chúng ta không thể định nghĩa được nó, không thể phân tích nó một cách luận lý, không thể đóng khung nó vào một ý niệm dứt khoát, rõ ràng. Nó sẽ bị giết chết bởi ý niệm luân khởi mung lung khi tìm Thượng Đế . Chính Thiền mới là sợi dây trói cột đựơc những con vượn tâm linh chạy nhảy không mệt mỏi trong chúng ta . Thiền đã nói ra điều này một cách rất đơn giản " Đói ăn , khát uống , tối ngũ khì " , chỉ đơn giản và tự nhiên thế thôi .


    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  5. #25
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Hơn 2500 năm nay , con người vẫn còn đặt lại tiêu đề Thiền là gì ? Có nhiều lập luận , lý giải về Thiền , nhưng mỗi góc nhìn , mỗi logic tùy theo từng khía cạnh mà nó mang màu sắc . Cũng có thể cho rằng : Thiền có công năng giúp ta khôi phục trọn vẹn con người của ta, giúp ta trở thành tươi mát, định tĩnh, an lạc và chăm chú để ta có thể nhìn sâu vào bản thân và hoàn cảnh để thấy được thực tại của bản thân mình và hoàn cảnh. Chính nhờ cái thấy ấy mà giúp ta vượt thoát khổ đau và ràng buộc. Một khi chúng ta trở nên một con người có an lạc và hạnh phúc hơn, chúng ta sẽ không còn làm đau khổ kẻ khác bằng cách cư xử và nói năng vụng về sai trái nữa , mà chúng ta bắt đầu chuyển hoá được hoàn cảnh xung quanh và giúp những người xung quanh được an lạc, hạnh phúc như ta. Điều mà Osho lại nhận định Thiền theo con mắt hướng về Thượng Đế và có nhận định lệch lạc về Thiền , nên ông viết :

    Thiền nói rằng con người là một tổng thể, một cấu trúc hữu cơ.
    Trong khoa học hiện đại có một khái niệm mới hiện đang được nói đến gọi là lưỡng tính (androgeny). Buckminster Fuller đã định nghĩa lưỡng tính như là sắc thái đặc biệt của một hệ thống toàn bộ, một cấu trúc hữu cơ. Một cấu trúc hữu cơ không phải chỉ là một tổng hợp đơn thuần của những bộ phận.

    Nó là một cộng thể (synergetic) -đó không phải chỉ gồm những bộ phận được ráp lại với nhau. Khi mà những bộ phận này kết hợp lại và vận hành như một nhất thể trong một trật tự ổn cố, cái cộng thể này xuất hiện –với cái tín hiệu sống, như tiếng ‘tíc-tắc’ của đồng hồ. Bây giờ nếu bạn mở cái đồng hồ ra và tháo rời từng bộ phận, tiếng ‘tíc-tắc’ này biến mất. Khi bạn lắp ráp chúng lại trong một trật tự vận hành -tiếng ‘tíc-tắc’ xuất hiện trở lại. Cái tín hiệu sống này hoàn toàn mới. Nó ở đâu ra vậy? Không một bộ phận riêng rẻ nào trong cái cộng thể đó trách nhiệm về nó. Không một bộ phận cá thể nào chứa nó. Chính cái toàn bộ, cái tổng thể đã phát ra cái tín hiệu đó.

    Cái tín hiệu sống đó là cái hồn. Nếu bạn tách lìa tay tôi ra, nếu bạn tách lìa chân tôi ra, nếu bạn tách lìa đầu tôi ra, cái tín hiệu đó biến mất. Ðó là linh hồn của sự sống, nó chỉ tồn tại trong một cơ thể hợp nhất.


    Thiền không phải là vật chất ( thân thể ) hay linh hồn . Thiền của Phật giáo phải hiểu là " Phương cách và nguồn năng lượng được sử dụng để làm công việc này là Chánh niệm. Chánh niệm (Right mindfulness) là một trong tám chi phần quan trọng của Bát chánh đạo. Chánh niệm tức là sự ý thức, sụ có mặt của tâm ý một cách trọn vẹn, tự chủ và sáng tỏ ngay trong mỗi giây phút của hiện tại, bây giờ và ở đây. Chánh niệm là khả năng giúp cho ta ý thức được những gì đang có mặt, đang xảy ra trong ta và quanh ta ."

    Thiền là tìm về với Tâm chứ không phải là Thân . Phật giáo không chấp nhận có linh hồn . Cho nên điều mà Osho nói :"Không một bộ phận cá thể nào chứa nó. Chính cái toàn bộ, cái tổng thể đã phát ra cái tín hiệu đó.

    Cái tín hiệu sống đó là cái hồn. Nếu bạn tách lìa tay tôi ra, nếu bạn tách lìa chân tôi ra, nếu bạn tách lìa đầu tôi ra, cái tín hiệu đó biến mất. Ðó là linh hồn của sự sống, nó chỉ tồn tại trong một cơ thể hợp nhất."
    là không đúng với Phật giáo . Giáo lý đạo Phật chủ trương không có bản ngã, nghĩa là không có linh hồn: những tác dụng tâm lý của con người vẫn chỉ là những tác dụng tâm lý. Chúng phát hiện và hoạt động khi có điều kiện (thân sinh hoạt) và trở về trạng thái chủng tử tiềm phục khi các điều kiện kia tan rã ( chết ) .

    Khoa học không thể nào tìm ra, Triết học không thể nào đến gần . Thượng Ðế chính là cái tín hiệu sống trong hiện hữu nhất thể. Bạn không thể tìm ra Thượng Ðế bằng cách mổ xẻ ra từng bộ phận , nghĩa là bạn phải có đức tin tuyệt đối thì dễ dàng tìm ra Thượng Đế và đến hiệp thông cùng Ngài . Vậy thì như Jean Paul Sarter đã nói về " Âm hộ đàn bà " , nơi đó cũng gặp Thượng Đế vậy . Thế thì không cần Đức tin ta đến đàn bà và tìm ra khóai cảm tình dục tuyệt đối thì cũng gặp Thượng Đế . Cho nên tôi nói gặp Thượng Đế không khó , vì Ngài ở khắp cùng nơi và ngay chính ở thế gian này , bên cạnh rất gần với chúng ta chứ Ngài chẳng ở thiên đàng nào cả . Hoá ra chúng ta bị lừa dối và dẫn dắt sai lầm của Toà Thánh giống như Tịnh Độ lừa dối Phật tử .

    Osho thường cổ xuý tình dục , vì ông cho rằng khi dục vọng đựơc thỏa mãn thì ta không đòi hỏi tiếp theo , sự kéo dài của sex càng lâu thì thời gian đòi hỏi tình dục cũng dài hơn , lâu hơn và sau các hiện tượng sinh lý vật lý luôn luôn biến chuyển kia, phải có một yếu tố bất biến. Chính yếu tố đó là linh hồn, và chính linh hồn đó tự nhận mình là một bản ngã. Nếu không có linh hồn đó thì làm sao giải nghĩa được cái tính chất đồng nhất nó tồn tại qua mọi biến chuyển, tính chất đồng nhất mà mọi người đều cảm thấy ở tự thân mình hoặc ở bản thân một người khác. Đó là cái nhầm lớn lao của Osho khi nghĩ như vậy .

    Đức Phật không công nhận linh hồn, vì vậy không chấp nhận rằng có linh hồn di chuyển. Ðạo Phật chỉ chủ trương nhân quả (Patica Samuppada): một hậu quả nào phát sinh cũng phải có những nguyên do tiền hữu. Còn dục vọng, còn ham muốn thì vẫn còn sự sống , chính đó là bản năng sinh tồn của muôn vật . Tình dục là nhựa sống , là chất xúc tác để tồn tại và hiện diện với cuộc đời .
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  6. #26
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Tâm Hà Lê Công Đa giải thích chân lý qua chuyện "Con ngựa già của chúa Trịnh." :

    Chúa Trịnh rất thích ngựa đẹp. Con ngựa được tuyển để chạy xe cho Chúa là con ngựa thuộc loài giống tốt. Nó được nuôi dưỡng để làm một nhiệm vụ duy nhất là kéo xe cho Chúa. Từ nhỏ nó đã được gắn hai tấm mạng để che mắt hai bên. Từ đây nó không còn được phép nhìn đi bất cứ nơi đâu mà chỉ nhìn về một hướng. Không có một con đường nào khác ngoài con đường trước mặt. Ngày hai buổi đi về trên lối mòn cũ, trên một con đường nó đã thuộc nằm lòng. Bao nhiêu năm như thế. Con đường này đã trở thành chân lý, không có một sự thật nào khác ngoài con đường này. Chân lý cụ thể như vậy cho nên dầu có nhắm mắt lại nó cũng không bao giờ đi chệch ra một bước. Rồi đến một ngày khi nó già yếu không còn kéo xe được nữa, người mã phu cho tháo hai tấm che ở hai bên mắt ra. Con ngựa già của chúa Trịnh vô cùng ngạc nhiên -và hoảng hốt- khi khám phá ra rằng chân lý không phải chỉ là một lối mòn duy nhất mà trong bao nhiêu năm qua nó cắm cúi đi về. Hai bên đường còn có biết bao nhiêu là hoa thơm cỏ lạ, thế giới chung quanh thật mênh mông và huyền diệu biết bao

    Ông ta cho rằng đây là một ẩn dụ chính trị, nhưng đồng thời cũng là một ẩn dụ về tâm linh, đời sống, và con người.Ngoài ra câu chuyện con ngựa già khi được mở mạng che mắt thì hắn hiểu ra chân lý không phải một con đường mà nó vẫn kéo xe cho chúa Trịnh đi lại nhiều năm , mà chung quanh còn nhiều hoa thơm cỏ lạ và nhiều chân lý đẹp hơn.Theo lối diễn giải chân lý như vậy có vẽ thô thiển và cực đoan. Cũng có thể quanh ta có nhiều chân lý , nhưng chân lý nào là thực tiển và mang lại lợi ích cho nhân loại vĩnh viễn. Chân lý không phải chỉ là sự nhìn thấy , hiểu biết điều mới lạ mà chân lý là lẽ phải và đạo đức.
    Riêng đối với cá nhân tôi đây là những vị Tăng Ni có tư tưởng Phật giáo muốn đánh thức Thiền tông như là tìm lại " Chân Lý Thích Ca " thì đúng hơn . Trong số những bộ Kinh Pháp Cú do Sư bà Trí Hải dịch và Sư cô Minh Tâm ở hải ngoại với một số tác phẩm khác. Cũng trong chiều hướng này, người Việt dịch “Thiền: Con Ðường Nghịch Lý” là Tâm Hà Lê Công Đa muốn cổ động Thiền mang lại chân lý đúng của giáo lý Thích Ca. Nhưng điều ông ta quá vội tin vào Osho quảng bá , rao giảng Thiền dùm Thích Ca , mà Osho mượn Thiền của Phật giáo làm cây cầu bắt ngang để mọi người có đường về Thượng Đế , chính là cái tính dục mà ông Osho muốn quảng bá và giới thiệu như là một tư tưởng mới cho giới trẽ. Osho làm việc đó là một điều lợi cho Phật giáo chăng , điều mà Lê Công Đa có phần nhầm lẫn. Nếu đi sâu và đi suốt thì chúng ta thấy dã tâm của Osho không những lợi dụng Thiền của Phật giáo và ngay cả Thượng Đế cũng bị ông ta chơi trò cút bắt. Thâm tâm của ông ta chỉ là phục vụ cho con người và chính bản thân ông ta được hưởng nhiều dục vọng. Đọc “Thiền: Con Ðường Nghịch Lý” của Osho các bạn phải cẩn trọng và dè dặt , vì ông ta có một lối dẫn dụ quanh co mới nhìn như là ca tụng Phật giáo , nhưng thực chất là một đòn đánh chí tử ,độc ác.

    Không phải người ta chống báng , chụp đủ thứ mũ cho Osho vì ông không tiếc lời phê phán những kẻ đang sống bám vào tôn giáo chủ trương cầu nguyện và cứu rỗi như là miếng mồi ngon cho cuộc sống. Trong đó không thiếu những thế lực, tổ chức chính trị núp bóng tín ngưỡng trong âm mưu nô lệ hoá con người kiểu Đại Đế Constantine , Đại thừa - Tịnh độ người Hoa .

    Có lẽ tâm lý con người thích sống trong nô lệ như cầu xin Thượng Đế cứu rỗi , cầu nguyện A Di Đà để được về Tây phương. Nên Trung Hoa phát động Đại thừa là đáp ứng tâm lý quần chúng và nhằm thoả mãn tánh ưa thống trị của người Trung Hoa từ lâu. Phải cân nhắc , nhìn cho thật kỷ thì người Phật tử không muốn van xin mà chính A Di Đà ( Trung Hoa ) DỤ DỔ bằng kinh " 48 lời nguyện " :

    1. Giả sử khi tôi thành Phật, nước tôi còn có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    2. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi sau khi mạng chung còn trở lại ba ác đạo thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    3. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng đều thân màu vàng ròng thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    4. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi sắc thân chẳng đồng có kẻ xấu người đẹp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    5. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng biết túc mạng, tối thiểu là biết sự việc trong trăm ngàn ức na do tha kiếp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    6. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thiên nhãn, tối thiểu là thấy trăm ngàn ức na do tha cõi nước chư Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    7. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thiên nhĩ, tối thiểu là nghe lời thuyết pháp của trăm ngàn ức na do tha chư Phật và chẳng thọ trì hết, thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    8. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được tha tâm trí, tối thiểu là biết tâm niệm của chúng sanh trong trăm ngàn ức na do tha cõi nước, thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    9. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thần túc, tối thiểu là khoảng một niệm qua đến trăm ngàn ức na do tha nước Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    10. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi nếu sanh lòng tưởng nghĩ tham chấp thân thể thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    11. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn ở nước tôi, chẳng an trụ định tụ quyết đến diệt độ thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    12. Giả sử khi tôi thành Phật, quang minh có hạn lượng, tối thiểu chẳng chiếu đến trăm ngàn ức na do tha cõi nước chư Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    13. Giả sử khi tôi thành Phật, thọ mạng có hạn lượng, tối thiểu là trăm ngàn ức na do tha kiếp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    14. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng Thanh Văn trong nước tôi mà có người tính đếm được, nhẫn đến chúng sanh trong cõi Ðại Thiên đều thành bực Duyên Giác cùng nhau chung tính đếm suốt trăm nghìn kiếp mà biết được số lượng ấy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    15. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi thọ mạng không ai hạn lượng được, trừ họ có bổn nguyện dài ngắn tự tại. Nếu chẳng như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    16. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi mà còn nghe danh từ bất thiện thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    17. Giả sử khi tôi thành Phật, mười phương vô lượng chư Phật chẳng đều ngợi khen xưng tụng danh hiệu của tôi thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    18. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương chí tâm tin ưa muốn sanh về nước tôi nhẫn đến mười niệm, nếu không được sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    19. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương phát Bồ đề tâm, tu các công đức chí tâm phát nguyện muốn sanh về nước tôi. Lúc họ mạng chung, tôi và đại chúng vây quanh hiện ra trước mặt họ. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    20. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương nghe danh hiệu của tôi, chuyên nhớ nước tôi, trồng những cội công đức, chí tâm hồi hướng muốn sanh về nước tôi mà chẳng được toại nguyện thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    21. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng đều đầy đủ ba mươi hai tướng đại nhơn thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    22. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở cõi nước khác sanh về nước tôi rốt ráo tất cả đến bực nhứt sanh bổ xứ. Trừ người có bổn nguyện tự tại hóa độ, vì chúng sanh mà mặc giáp hoằng thệ chứa công đức độ tất cả, đi qua các nước Phật tu hạnh Bồ Tát, cúng dường chư Phật mười phương, khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh khiến họ đứng nơi đạo chánh chơn vô thượng, vượt hơn công hạnh của hạng tầm thường, hiện tiền tu công đức Phổ Hiền. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    23. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi thừa thần lực Phật đi cúng dường chư Phật, khoảng bữa ăn nếu không đến khắp vô số vô lượng ức na do tha cõi nước thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    24. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi ở trước chư Phật hiện công đức mình, nếu những thứ dùng để cúng dường không có đủ theo ý muốn thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    25. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng thể diễn nói nhứt thiết trí thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    26. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng được thân Kim Cương Na la diên thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    27. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn và tất cả vạn vật trong nước tôi trang nghiêm thanh tịnh sáng rỡ hình sắc đặc biệt lạ lùng vi tột diệu không ai lường biết được, dầu là có thiên nhãn mà biện biệt được danh số ấy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    28. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi, nhẫn đến người công đức ít nhứt mà chẳng thấy biết đạo tràng thọ màu sáng vô lượng cao bốn trăm muôn dặm thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    29. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi nếu đọc tụng thọ trì diễn thuyết kinh pháp mà chẳng được trí huệ biện tài thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    30. Giả sử khi tôi thành Phật, trí huệ biện tài của Bồ tát trong nước tôi mà có hạn lượng thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    31. Giả sử khi tôi thành Phật, nước tôi thanh tịnh soi thấy tất cả vô lượng vô số bất khả tư nghị thế giới chư Phật mười phương, như gương sáng soi hiện hình gương mặt, nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    32. Giả sử khi tôi thành Phật, từ mặt đất lên đến hư không, những cung điện, lâu đài, ao nước, cây hoa, tất cả vạn vật trong nước tôi đều dùng vô lượng châu báu, trăm ngàn thứ hương hiệp lại làm thành xinh đẹp kỳ lạ hơn hàng thiên nhơn. Hương ấy xông khắp vô lượng thế giới mười phương. Bồ Tát nghe mùi hương ấy đều tu hạnh Phật. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    33. Giả sử khi tôi thành Phật, những loài chúng sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương, được quang minh tôi chiếu đến thân, thân họ nhu nhuyến hơn hẳn hàng thiên nhơn. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    34. Giả sử khi tôi thành Phật, những loài chúng sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi mà chẳng được Bồ Tát vô sanh pháp nhẫn các thâm tổng trì thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    35. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng nữ nhơn của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi vui mừng tin ưa phát tâm Bồ đề nhàm ghét thân người nữ, nếu sau khi chết mà họ còn sanh thân người nữ lại thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    36. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát trong vô lượng bất tư nghì thế giới mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi sau khi thọ chung thường tu phạm hạnh đến thành Phật đạo. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    37. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn trong vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi rồi năm vóc gieo xuống đất cúi đầu vái lạy vui mừng tin ưa tu hạnh Bồ Tát thì được chư Thiên và người đời đều kính trọng. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    38. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi muốn được y phục liền tùy nguyện hiện đến, y phục đẹp đúng pháp như Phật khen ngợi tự nhiên mặc trên thân. Nếu còn phải may cắt nhuộm giặt thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    39. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi hưởng thọ khoái lạc chẳng như bực lậu tận Tỳ Kheo thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    40. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát nước tôi tùy ý muốn thấy vô lượng nước Phật trang nghiêm thanh tịnh mười phương thì liền được toại nguyện, đều được soi thấy ở trong những cây báu, như thấy mặt mình hiện rõ trong gương sáng. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    41. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi, từ đó đến lúc thành Phật nếu các căn thân còn thiếu xấu chẳng được đầy đủ thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    42. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được thanh tịnh giải thoát tam muội, khoảng một lúc phát ý, cúng dường vô lượng bất khả tư nghị chư Phật Thế Tôn, mà không mất tâm chánh định. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    43. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi, sau lúc thọ chung sanh nhà tôn quý. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    44. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi vui mừng hớn hở tu hạnh Bồ Tát đầy đủ cội công đức. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    45. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được phổ đẳng tam muội, an trụ trong tam muội nầy đến lúc thành Phật thường thấy vô lượng bất khả tư nghị tất cả chư Phật. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    46. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở trong nước tôi tùy chí nguyện của mỗi người muốn được nghe pháp liền tự nhiên được nghe. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    47. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đến bực bất thối chuyển thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    48. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đệ nhứt nhẫn, đệ nhị nhẫn và đệ tam pháp nhẫn, nơi các Phật pháp chẳng liền được bực bất thối chuyển thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

    Đây có phải là vấn nạn chung của con người trên bình diện tâm linh, tư tưởng, do bị điều kiện hoá, thường có khuynh hướng thích được sống trong nô lệ hơn là được giải phóng hay không? Con người thường cảm thấy ham thích đi cầu nguyện Phật hộ trì , ban phước lành và van xin Thượng Ðế hơn là đi tìm con đường giác ngộ , giải thoát khổ đau. Dựa vào tâm lý này Đại thừa đã bành trướng và phát huy cực độ như là một nguồn cung ứng tâm linh thích hợp với con người. Osho đang nhắm vào điểm này để công kích Phật giáo , nhưng ông đừng quên rằng lối cầu nguyện cứu rỗi là của Phật giáo Đại thừa chứ chẳng phải giáo lý Thích Ca.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  7. #27
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Sau khi đọc hết bài kinh " 48 lời nguyện " của A Di Đà chúng ta thấy hoàn toàn là một câu chuyện GIẢ SỬ tức là chưa có và tham vọng của Ngài suốt 48 lời nguyện cũng chỉ là Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. Như vậy Ngài chỉ ham muốn ngôi báu , danh vọng mới nguyện hy sinh tất cả . Chính vì Ngài vướn mắc tham - sân - si cho nên đến giờ này vẫn chưa thành Phật . Một sự ngã chấp : bắt buộc phải van xin , cầu nguyện Ngài mới cứu độ , mới cứu rổi . Một sự ngã mạng : Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. Đọc toàn bài kinh mà hầu hết của kinh Đại thừa chung chung cũng chỉ là những lời hứa như Kito giáo và những điều kiện ắc có và đủ chứ hoàn toàn không đưa ra một giáo lý dạy dổ chúng sanh sống đạo hạnh , lòng tự tin , kiên nhẫn , từ bi và hỹ xã ........ đó cũng là một điểm thêm để quý vị nhận biết giữa kinh Đại thừa và kinh Phật Thích Ca . Ví dụ như Thiền là môn tu chính thức của Đức Phật có hiệu lực và lợi ích mà ngay chính Osho cũng phải táng dương ca ngợi :

    -Những bộ mặt chảy dài nghiêm trọng không phải là những bộ mặt tôn giáo. Chúng cho ta thấy một điều là họ không hề hiểu biết gì cả -khi hiểu được chắc là họ sẽ có một nụ cười. Thiền là tôn giáo duy nhất có tiếng cười thế nên tôi nói rằng Thiền là tôn giáo có trình độ cao nhất từ trước đến nay. Nó không làm cho đời bạn trở nên xấu xí, nó không làm bạn trở thành kẻ tàn tật -nó làm cho đời bạn trở thành một vũ điệu, vui sống.

    -Thiền mang nụ cười và làn gió mới
    vào tôn giáo. Ngay cả chế nhạo tôn giáo. Ðây là một phương cách tiếp cận hoàn toàn khác biệt -lành mạnh hơn, tự nhiên hơn.

    Các bạn thấy không ? Giáo lý của Ngài là giải thóat và an lạc . Trong một rừng kinh Phật Thích Ca không có một lời bắt buộc , dụ dổ ai phải van xin , cầu nguyện Ngài mới đựơc giải thóat , Ngài cũng không áp đặt những điều kiện nào để không lên ngôi vị nào cả . Bản thân Ngài là một Hòang tử sắp lên ngôi vua mà vẫn vứt bỏ , vậy thì Ngài còn ao ứơc lên ngôi nào nữa ? Chân lý của Ngài là cởi trói , giải thóat và không vướn bận danh vọng , vật chất của thế gian , ngược lại kinh A Di Đà , Quán Âm , Dược Sư , Phổ Hiền Hạnh Nguyện của Đại thừa đều chú trọng và một bài ca cùng âm điệu " Đặt điều kiện " rất giống nhau .

    Bạn cũng đừng vui mừng khi Osho khen Thiền và ca ngợi Thượng Đế thế này :

    Những tôn giáo khác đều tỏ ra rất nghiêm trọng -làm như việc vươn đến Thượng Ðế là một đại sự, làm như có ai đó đang giựt Thượng Ðế ra khỏi tay họ, làm như Thượng Ðế đang tìm cách ẩn trốn chúng ta, làm như Thượng Ðế tạo ra rất nhiều chướng ngại một cách cố tình; làm như là có một sự tranh đua lớn và không có đủ Thượng Ðế cho hết thảy mọi người; làm như Thượng Ðế là tiền bạc và chẳng bao giờ đủ cho tất cả. Thế nên nếu như bạn không chụp giựt Thượng Ðế ngay tức khắc trước những kẻ khác, những người khác sẽ chụp giựt mất. Ðây là những người rất nghiêm trang, những người chỉ biết đến tiền, những người có mục tiêu để nhắm đến -nhưng thực sự không phải là những con người tín ngưỡng.

    Thượng Ðế rất đổi lớn lao, rất đổi bao la, rất đổi vĩ đại. Ðây là nhất thể của vạn hữu -làm sao ai có thể làm tiêu mòn đi được? Thế nên không có nhu cầu phải sợ rằng ai đó sẽ tranh chiếm mất Thượng Ðế trước bạn, và rồi bạn sẽ không biết phải làm gì, bạn sẽ bị mất Thượng Ðế vĩnh viễn. Thế nên cũng không cần phải chiến đấu, tranh đua. Và bạn cũng có cả một khoảng thời gian vô tận dành cho bạn. Bạn không cần phải hấp tấp, không cần phải quá nghiêm trọng.

    Cái xảo trá của Osho là nâng Thiền , Thượng Đế lên thật cao để cho té thật nặng , ông không ngần ngại cười ruồi cái thiên đàng của Thượng Đế :

    Một chú bé lần đầu tiên được mẹ dẫn đi xem cuộc triển lãm những hình nhân nổi tiếng thế giới bằng sáp của Madam Tussaud tại London. Cậu bé có vẻ rất xuống tinh thần khi xem qua toàn bộ khung cảnh. Bà mẹ khích lệ con:

    “Con biết không, những người này toàn là những danh nhân sống trước đây rất lâu. Tất cả họ nay đã chết hết rồi.”

    Cậu bé lại càng u ám rầu rĩ hơn, lẩm bẩm: “Thì ra thiên đàng là thế!”

    Ðiều nguy hiểm là vậy. Nếu bạn đi thăm viếng một thiên đàng Cơ Ðốc giáo bạn sẽ gặp một khung cảnh tương tự như thế. Và thật quả là một ác mộng kinh hoàng khi sống chung với những vị thánh Cơ Ðốc.

    Có người hỏi một vị Thiền sư tại sao chúng ta không có nhiều vị thánh ở trên trái đất này. Ông ta cười và trả lời: “Thiên đàng là nơi tốt nhất cho họ bởi vì chúng ta rất khó mà sống chung với họ. Ðiều may mắn cho chúng ta là họ không ở trên trái đất này. Hãy để họ sống ở trên thiên đàng.”

    Tốt nên là như thế. Hãy tưởng tượng bạn đang sống với một vị thánh. Có lẽ bạn phải tự tử mất.

    Cậu bé giác ngộ khi hiểu rằng : “Thì ra thiên đàng là thế!” . Thiên đàng không phải là nơi để sống đời đời , hạnh phúc , sung sướng như Thượng Đế nói , mà nơi đó chỉ toàn là người chết rồi “Con biết không, những người này toàn là những danh nhân sống trước đây rất lâu. Tất cả họ nay đã chết hết rồi.” Và nơi đó khó mà sống chung với những vị thánh . Vậy thì làm gì có chuyện sống lại của Chúa Kito , làm gì có cảnh thiên đàng sung sướng , sống đời đời ..... thì ra đó là chiếc bánh VẼ to tướng chẳng khác gì Tây Phương Cực Lạc .

    Hết chê Thượng Đế , Osho quay sang xỏ ngọt và cười mỉa Thiền sau khi khen chiếu lệ :

    Thiền mang nụ cười và làn gió mới vào tôn giáo. Ngay cả chế nhạo tôn giáo. Ðây là một phương cách tiếp cận hoàn toàn khác biệt -lành mạnh hơn, tự nhiên hơn.

    Ðấy là những điều cơ bản. Có thể là tôi đã đi quá nhanh.

    Hãy lắng nghe câu chuyện sau đây.

    'Pop' Gabardine, huấn luyện viên của đội bóng đá Midwestern, chứng kiến cảnh những cầu thủ của mình bị đè bẹp liên tiếp trong tám buổi chiều thứ Bảy thi đấu, lần cuối cùng với một tỉ số thê thảm : 52/0.

    Khi đội bóng tụ họp lại vào sáng Thứ Hai hôm sau, Pop tuyên bố một cách cay đắng: “Trận thi đấu cuối cùng của mùa này đã qua rồi, chúng ta có thể đã quên tất cả những mánh khoé thi đấu mà tôi đã cố gắng dạy cho những kẻ đần độn như các bạn. Bây giờ chúng ta trở lại những bài học căn bản. Hãy bắt đầu. Bài học thứ nhất: Cái vật mà tôi đang cầm trên tay này được gọi là trái bóng. Bài học thứ hai...
    Ðến đây nhà huấn luyện viên Gabrine bị ngắt lời bởi một anh hậu vệ mặt đầy lo lắng đứng ở hàng đầu, thỉnh cầu, 'Này, Pop, đừng có đi quá nhanh.'

    Có lẽ tôi đã đi quá nhanh nhưng hy vọng các bạn ở đây không ai đần độn cả. Tôi tin vào sự thông minh của các bạn.

    Osho đã đi quá nhanh ở điểm nào ? "Thiền mang nụ cười và làn gió mới vào tôn giáo " Không phải Thiền lúc nào cũng mang nụ cười và làn gió mới đâu . Ông ta không tin Đức Phật chỉ ngồi Thiền 49 ngày đêm mà đạt đựơc chánh giác . Một chân lý không dễ gì sáng suốt và dễ tìm khi còn phải phấn đấu nhịn đói , nhịn khát , lại còn thức ngũ và an trụ với thời gian liên tục 24 giờ x 49 ngày = 1.176 giờ với nóng bức ban ngày , giá lạnh ban đêm cùng muổi mòng cắn , đốt . Điều này Osho không tin nên viết "Có lẽ tôi đã đi quá nhanh nhưng hy vọng các bạn ở đây không ai đần độn cả. Tôi tin vào sự thông minh của các bạn." Không thể có ai đần độn để tin điều ấy .

    Đúng ! Osho có thể nghi ngờ những gì vượt ra ngoài sự bình thường của con người . Nhưng ông ta quên rằng ý chí và nghị lực , thần thông có thể làm đựơc tất cả . Nếu ông ta nhìn những người đi trên nước , bước trên lữa , có thể bị chôn dưới lòng đất 30 ngày không có Oxy để thở mà vẫn sống ..... những điều đó thuộc về tâm linh mà Osho không thể đem dẫn dụ bằng câu chuyện bóng đá và lý luận bằng bộ não bình thường . Đọc bài Osho bạn phải cân nhắc và suy nghĩ trước khi tin .
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  8. #28
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Đi sâu vào Thiền , điều mà Osho bắt gặp hay nói đúng hơn là đồng chí hướng cùng quan điểm với Mật Tông về sự hợp ý Thiền - Tình dục . Osho nói rằng : "Thiền là một khoa học. Đó là một phát biểu rất đơn giản nhưng có rất nhiều ý nghĩa. Thiền không phải tín ngưỡng, không phải giáo điều, không phải nghi lễ mà là một khoa học, một sự thí nghiệm không phải với thế giới bên ngoài, mà trong thế giới nội tâm của hành giả." Thiền là nội tâm nên qua bao nhiêu thời đại , khoa học tìm hiểu , sách báo ghi chép cũng không có kết quả mấy . Kiến thức đó không thể học qua sách vở, mặc dù tài liệu về khoa học đó không hề thiếu ở thế gian này như Mật Tông . Thiền chỉ có thể được truyền từ đạo sư qua đệ tử nghĩa là tâm qua tâm .

    Mật tông là con đường buông thả, tự nhiên theo chiều hướng Phật giáo , Osho cũng đồng ý như thế :

    "Mật tông nói bạn phải chấp nhận bất cứ bạn là gì. Bạn là một bí ẩn với nhiều sinh lực trong mọi chiều. Hãy chấp nhận sinh lực đó với sự nhạy cảm sâu sắc, với tỉnh thức, với tình yêu, với hiểu biết. Hãy đi theo sinh lực ấy. Được vậy thì mỗi ham muốn đều trở thành một phương tiện để vượt qua nó, và mọi sinh lực đều có lợi ích riêng của nó. Và thế giới này sẽ là Niết Bàn; thân xác này sẽ là một đền thờ."

    Nhưng Phật giáo dùng Thiền không phải vì tình yêu , dục vọng như Osho cho biết " Nếu biết thế nào là yêu, chúng ta chẳng cần phải học một phương pháp thiền nào cả. Bởi vì nhiều lắm là chúng ta chỉ có những thoáng nhìn về tình yêu, những phương pháp này có thể giúp chúng ta vượt qua giới hạn của chúng ta ." Nếu Osho , Mật Tông dùng Thiền để quán chiếu , đạt đến tình yêu , dục vọng tuyệt đỉnh thì cái đó là quyền của họ , nhưng không nên gán ghép Thiền Tình cảm nhằm phục vụ con người khóai cảm này vào Phật giáo , nhất là đạo Phật Thích Ca nhằm GIẢI THÓAT nhân lọai , chúng sanh chứ không phải mục đích PHỤC VỤ con người sống hiện tại cùng thế gian này . Vì tình yêu , khóai cảm nào dù cao tột đỉnh cũng có ngày tụt xuống hố thấp giống như đồ thị Parabol . Lọai Thiền này cứ luẩn quẩn lên rồi xuống như một hành trình của tình yêu và sex , điều đó không có gì đáng nói và chân lý cần giải thóat con người vĩnh viễn như lời Thích Ca . Bạn thử so sánh sự hạnh phúc , an lạc , sung sướng ( nội tâm ) của một cặp tình nhân , với một cao tăng đắc đạo thì chúng ta sẽ thấy :

    1-Yêu hạnh phúc :

    Có thể kéo dài 5 - 10 hay 60 năm cuộc đời nhưng chưa chắc miên viễn . Vì tình yêu sẽ nguội lạnh khi gánh nặng gia đình chồng chất bên đàn con . Tình dục sẽ yếu lần khi tuổi đời tóc điểm muối sương .

    2-Cao tăng :

    Một vị cao tăng khi Thiền đã vượt đến đỉnh bằng nội tâm thì khó bị ảnh hưởng tụt xuống theo luật Parabol . Ngài không thể bị suy giảm do hoàn cảnh chung quanh chi phối vì vật chất ,xác thịt , cũng không ảnh hưởng vì tuổi già ngự trị . Tâm luôn luôn tịnh nhờ Thiền .

    Như vậy Thiền của Osho , Mật Tông chủ trương , cổ xuý không có giá trị lâu dài trước thời gian lẫn không gian như Thiền của Phật giáo Như Lai . Cho nên Osho hoàn toàn sai lầm khi nói :"Suy nghĩ và cảm xúc là hai loại căn bản. Bạn phải biết bạn thuộc loại nào. Và chẳng có loại nào cao, loại nào thấp. Đừng nghĩ rằng trí thức cao hơn cảm xúc. Không! Chúng chỉ là những loại người khác nhau. Không có ai cao hơn hay thấp hơn." Qua dẫn dụ của tôi ở trên chứng tỏ con người vốn thay đổi theo từng sát na , không một sinh vật , thực vật nào có thể trường cữu vĩnh viễn với tạo hóa , đó là luật VÔ THƯỜNG của Ngài Thích Ca . Đây là chân lý , đây là lẽ sống cần nhìn thẳng và nhận định đúng đắn . Thiền thể xác , tình yêu như Osho , Mật Tông chỉ là những khóai cảm nhất thời của con người đi vào tình dục như ngọn đèn bùng lên chợt sáng , nhưng sẽ lịm tắt khoảng cách và thời gian . Cũng vậy , khi bạn làm tình sẽ sung sướng tột đỉnh do khoái cảm , cũng có thể tìm ra Thượng Đế trong lúc hành lạc , nhưng sau giây phút đó bạn sẽ ê chề , mệt mỏi và không muốn tình dục tiếp tục nửa . Điều mà Osho dạy cách làm tình thế nào cho dài lâu , bằng cách nín thở , không làm cho sự ham muốn cấp thời để hơi thở dồn dập , đưa đến sự sớm xuất tinh và vật nhào trước sự khóai cảm . Càng bình thản , nén hơi thở không dồn dập thì hành lạc càng kéo dài . Tất cả những thứ đó Osho trình bày chẳng có gì mới lạ đối với người Trung Hoa .

    Quan điểm Thiền của Ngài Thích Ca là có đầy đủ tuệ giác và đức hạnh để giải thóat vĩnh viển chứ không để tồn tại thụ hưởng như Osho , Mật Tông dạy tình dục . Phật dùng Thiền để tịnh tâm khai sáng trí tuệ đạt đến bờ giác . Trong đó đáng ra họ phải chú trọng và tìm hiểu TÁM CÁI GIÁC HAY BÁT MINH CỦA ÐỨC PHẬT:

    1-Túc Mạng Minh (Pubbe nivasa Nana): Trí tuệ thấy rõ, biết rõ, nhớ rõ thân ngũ uẩn của Ngài từ một kiếp, hàng trăm kiếp, hằng ngàn kiếp, hằng vạn kiếp, hằng triệu kiếp, hằng triệu triệu kiếp.

    2-Thiên Nhãn Minh (Cutupapata vijja): Trí tuệ thấy rõ biết rõ như mắt của chư thiên, phạm thiên, có khả năng thấy rõ biết rõ quá khứ, vị lai của tất cả chúng sinh.

    3-Lậu Tận Minh (Asavakkhaya Nana): Tuệ thiền minh sát (Vipassana) siêu tam giới, đó là 4 Thánh đạo diệt đoạn tuyệt được 4 pháp phiền não trầm luân không còn dư sót. Ðó là Trầm luân trong Ái dục (Kamasava), Trầm luân trong Tam giới (Bhavasava), Trầm luân trong tà kiến (Ditthasava), Trầm luân trong Vô minh (Avijjasava).

    4-Minh Sát Minh (Vipassana vijja): Tuệ quán tưởng các pháp hành (sankhara), biết và thấy rõ ràng, đầy đủ, xuyên suốt, và như thật sự sinh và sự diệt của Vật chất và Tâm

    5-Hoá Tâm Minh (Manomayiddhi Vijja) là cái tuệ có thể hóa thân khác theo mong muốn của mình, do nhờ năng lực của thiền định.

    6-Thần Thông Minh (Iddhividhi vijja) là cái tuệ có khả năng biến hóa nhiều pháp thần thông khác nhau do nhờ năng lực thiền định.

    7-Thiên Nhĩ Minh (Dibbasota Nana) là tuệ có thể nghe những tiếng động từ rất xa, bị bịt kín, hoặc nhỏ nhiệm mà tai của người đời thường không thể nghe được.

    8-Tha Tâm Minh (Cetopariya Nana) là tuệ biết rõ ý tưởng hoặc tâm thức của người khác.

    Đức Phật hoàn toàn không dùng sự giác ngộ để hiểu biết nhằm phục vụ tình dục .Đức Phật đi xa hơn và thoát khỏi dục vọng. Ngài không dùng con đừơng Thiền để mang lại sung sướng , khóai cảm nhất thời trong tình yêu , thể xác bình thường mà Đức Phật dùng Thiền , lấy Thiền làm con đừơng tri giác nhắm đến hiểu biết để giác ngộ và giải thoát khổ đau . Đó là CHÂN LÝ mà Osho và đứa con Mật Tông của Đức Phật đã hành đạo , tuyên giảng sai ý của Ngài thì không bao giờ đạt đến chân lý và tồn tại lâu dài .

    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  9. #29
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Trong bộ kinh Vigyana Bhairava Tantra với 112 Phương Pháp Thiền Của Shiva bàn về "Vòng Tròn Tình Yêu " , nhiều phương pháp đặc biệt của Mật tông được áp dụng khi những luân xa bên dưới được khai thông ,người nào muốn tập những phương pháp này có thể tập một mình hay với người yêu, tùy theo mỗi phương pháp. Ông ta cho rằng "Mật tông không phải là dục tình. Mật tông là tình yêu nhưng dùng dục để đạt đến thiền định "Sự sai lầm của Shiva về Thiền định khi tuyên bố như vậy . Cũng có thể đó là một phương thức Thiền mà ông và Osho , Mật tông khám phá , sáng lập ra con đừơng Thiền Tình dục . Lý luận này không đứng vững , vì Mật Tông vẫn nằm trong hệ phái Phật giáo và lấy con đừơng Thiền định của Như Lai làm giáo lý , chỉ có điều họ xen vào đó dục vọng đựơc biện minh , che đậy Thiền dưới tình yêu . Osho cũng đồng quan điểm như thế và nói :

    Mật tông là sự thăng hoa của tình yêu đến thiền định. Vì lý do đó Mật tông nói rất nhiều về dục và tình yêu. Mật tông nói rất nhiều về tình yêu, về dục. Tại sao? Bởi vì tình yêu là cánh cửa tự nhiên và dễ nhất để bạn có thể siêu việt thế giới này, chiều ngang này…

    Tình yêu bất ngờ thay đổi chiều của bạn. Bạn bị ném ra khỏi thời gian và đối diện với vĩnh cửu. Tình yêu có thể trở thành thiền rất sâu sắc – sâu sắc nhất…

    Tình yêu đối với Shiva là một cánh cửa rất tốt. Dục đối với ông ấy không phải là cái phải nguyền rủa. Nó là hạt giống mà tình yêu là hoa. Nếu nguyền rủa hạt giống, bạn cũng nguyền rủa hoa. Dục có thể trở thành tình yêu. Nếu không trở thành tình yêu, nó đã bị tê liệt. Hãy nguyền rủa sự tê liệt, đừng nguyền rủa dục. Tình yêu phải thăng hoa, và dục phải trở thành tình yêu. Nếu không, đó là lỗi của bạn, không phải tại dục.

    Dục không thể là dục mãi mãi; đó là quan điểm của Mật tông. Nó phải biến thành tình yêu. Và tình yêu cũng không phải là tình yêu mãi mãi. Nó phải biến thành kinh nghiệm tâm linh, thành đỉnh cao của huyền niệm. Chuyển hóa tình yêu như thế nào? Hãy trở nên hành động và quên người hành động. Khi yêu, trở thành tình yêu. Nó sẽ không phải là tình yêu của bạn, hay của tôi, hay của người khác. Nó chỉ là tình yêu. Khi không còn nữa, bạn hội nhập với cái nguồn tối thượng. Khi yêu, bạn không phải là người đang yêu. Khi đã bị tình yêu nhận chìm, bạn đã biến mất; bạn đã trở thành sinh lực đang lan tràn.

    Tình yêu không thể thăng hoa để đạt đến Thiền định . Trong tình yêu có lúc vui , buồn , hờn , giận và khổ đau . Những trạng thái ấy biến động suốt đọan đừơng tình yêu . Nó luôn luôn ĐỘNG và không bao giờ có TỊNH trong tình yêu . Nếu Shiva , Osho , Mật Tông là TỊNH thì tôi nghĩ chỉ có tịnh khi bạn giao cấu . Nhưng điều này cũng không tuyệt đối , người Tây phương lúc làm tình không yên lặng , lúc nào người nữ cũng rên rỉ hoặc la ó , gào thét đau đớn vì sự cọ xác mạnh của đàn ông , họ ít khi cảm thấy sung sướng vì dục vọng , phải nói là một sự hy sinh khóai cảm cho đàn ông thì đúng hơn , dù thể xác cũng mỏi mệt , mồ hôi đầm đìa . Họ dùng danh từ Thiền trong tình dục một cách tổng thể thì không đúng với hoàn cảnh sex thế gian . Có thể họ sẽ đạt Thiền định giữa nam - nữ khi có chủ đích và có ý định Thiền . Vậy thì không thể cho rằng "Bởi vì tình yêu là cánh cửa tự nhiên và dễ nhất để bạn có thể siêu việt thế giới này, chiều ngang này…Tình yêu bất ngờ thay đổi chiều của bạn. Bạn bị ném ra khỏi thời gian và đối diện với vĩnh cửu. Tình yêu có thể trở thành thiền rất sâu sắc – sâu sắc nhất…".Mật tông nói rất nhiều về tình yêu, về dục như là một chủ trương tuyệt đối trong vấn đề tu tập . Nhưng tại sao "Dục đối với ông ấy không phải là cái phải nguyền rủa. Nó là hạt giống mà tình yêu là hoa. Nếu nguyền rủa hạt giống, bạn cũng nguyền rủa hoa " ......" Dục không thể là dục mãi mãi; đó là quan điểm của Mật tông. Nó phải biến thành tình yêu. Và tình yêu cũng không phải là tình yêu mãi mãi. " Lập luận của Mật tông chỉ là nguồn gốc đưa đến tình yêu . Tôi cũng đồng ý dục là chất xúc tác môi giới và nối tiếp cho tình yêu . Nhưng điều này bị lung lay giữa thế kỹ 21 khi mà tình yêu không còn giới hạng giữa nam - nữ như định nghĩa của Giáo Hội , mà tình yêu vẫn nảy nở giữa những người ĐỒNG TÍNH ( nam cùng nam , nữ cùng nữ ) . Những người " Đồng tình luyến ái " này không chủ trương Dục có thể trở thành tình yêu. Nếu không trở thành tình yêu, nó đã bị tê liệt. Vì vậy Thiền dục do Mật tông , Shiva , Osho ...... chủ xướng không còn đứng vững ở thời đại mới , nó không thể là CHÂN LÝ . Trái lại Thiền để giải thóat và chủ trương tâm linh qua Thiền để đạt đến tâm thanh tịnh , có thể thấu triệt TÁM CÁI GIÁC mà Đức Phật đạt đựơc . Cho đến bây giờ văn minh , khoa học , Tâm lý học dù phát triễn đến cùng cực thì Thiền của Như Lai vẫn không bị đánh đổ hay bị phê phán qua luận chứng siêu tâm lý , CHÂN LÝ của Thích Ca vẫn trong sáng , vững bền .

    Một giáo lý không mang tính cách chân lý thường bị hiểu nhầm , lạm dụng và lung lạc theo thời gian , hoàn cảnh theo đà tiến bộ của loài người , Mật tông cho rằng dục đã bị lạm dụng vì nó đã bị kết án quá nhiều trong quá khứ. Những sự kết án quá nhiều về dục đã buộc nó phải lẩn trốn trong vô thức , có nghĩa là tàn lụi đi đến mai một . Khi mà tà thuyết nhằm chủ đích cổ xuý , phục vụ cho vật chất , thể xác mang tính cách lợi nhuận tâm linh thì nó không phải là chân lý . Sớm hay muộn cũng bị xoái mòn và đánh đỗ theo chiều dài hành đạo cùng thời gian . Nó không thể tồn tại vì không nhằm phục vụ cho lý tưởng cao cả , tổng thể muôn loài , không nhằm chủ xướng cao điểm thời đại , sự ham thích đổi mới và nhất là quá thiên về phục vụ thể xác , vật chất . Dù Osho có khôn khéo , che đậy và nhìn thấy đựơc Thiền không hẳn dựa vào dục vọng mà cần có cái nhìn bao quát về thiên nhiên , vũ trụ , Osho nói :

    "Vì vậy bạn không đi vào dục một cách trọn vẹn. Cái gì đó luôn luôn bị đè nén. Cái bị đè nén ấy làm bạn phân liệt. Cho nên Mật tông nói bạn phải đi vào với cả thể xác và tâm hồn. Hãy quên chính mình, quên văn minh, quên tôn giáo, văn hoá và ý hệ.Hãy quên tất cả mà chỉ biết có dục. Hãy đi vào một cách trọn vẹn; đừng để lại gì cả. Và tuyệt đối không có một ý tưởng nào. Được như thế thì bạn mới nhận ra là bạn đã trở thành một với người nào đó. Và cảm giác nhất thể này có thể tách rời khỏi người yêu của bạn mà gắn liền với toàn thể vũ trụ. Bạn có thể yêu cây, yêu trăng sao, yêu tất cả. Một khi bạn biết nối vòng tay lớn này, bạn có thể thực hiện với tất cả - thậm chí bạn cũng chẳng cần gì cả."

    Mật tông khuyên Hãy quên tất cả mà chỉ biết có dục là một sai lầm , một đừơng lối CHỐNG BÁNG giáo pháp Đức Bổn Sư không cần che dấu , một con sư tử trùng bám sát và phá nát thân thể Phật giáo một cách trơ trẻn và trắng trợn . Vì lý do nói trên, Osho nói " ...có những phương pháp thích hợp cho nam giới, có phương pháp hợp với nữ giới. Sự phân biệt này dựa trên sự hiểu biết về cơ thể của nam và nữ. Trước hết, Ngài nói rằng trong nam và nữ đều có một nữa nam và một nữa nữ, bởi vì họ là một sản phẩm của một nam và một nữ ." Điều mà Osho chỉ dựa dẩm theo thuyết sáng tạo của Thượng Đế khi Ngài rút xương sườn thứ 23 của người nam và nặng ra người nữ theo kinh Thánh . Vì vậy Osho mới nói rằng:" trong nam và nữ đều có một nữa nam và một nữa nữ, bởi vì họ là một sản phẩm của một nam và một nữ."Thượng Đế không nói "nam là dương; nữ là âm" , điều này chỉ phát xuất từ thuyết âm dương , phong thuỹ từ Trung Hoa .

    Lực dương của các bà nằm tại ngực. Cho nên có hai phương pháp dành cho nữ giới. Một là tìm ra sinh lực giữa hai nách, nghĩa là tất cả vùng nằm quanh trái tim. Nếu tập trung vài vùng này, các bà sẽ cảm thấy lực dương tại đó. Phương pháp thứ hai là tập trung ngay tại hai đầu ngực cùng một lúc. Osho nói rằng điều này sẽ mang lại hương thơm cho cơ thể người nữ và có thể giảm cân, có thể cảm thấy nhẹ hơn, hoặc có viễn kiến. Ngược lại thì đàn ông có thể tập trung ở cuống ngọc hành vì sinh lực ở đó là dương.
    Khi tinh dịch tràn đầy , thúc dục sự ham muốn của đàn ông sex nhằm giải quyết , tiêu hao những tinh trùng ấy . Nếu không làm tình với đàn bà , người nam vẫn có thể thủ dâm bằng tay cũng có thể cho xuất tinh và giảm bớt ham muốn dục vọng mà không cần đàn bà hay tình yêu và vẫn đạt đến khóai cảm tột độ . Cũng như cuống ngọc hành là do những đừơng gân máu tích tụ cao điểm làm cho ngọc hành căng , không riêng gì ngọc hành mà ngay cả âm hộ cũng căng cứng khi nhiều máu tích tụ ở vùng đó . Điều này Osho , Shiva sai có lẽ chưa có nhiều kinh nghiệm chuyện phòng the .

    Nhận định vùng âm dương sai lệch nên ông ta cho rằng :"ngực của các bà là dương. Nếu các bà tập trung ở ngực, họ sẽ cảm thấy rất thoải mái, rất an bình, một sự thư giãn sẽ thấm qua cả bản thể, và họ sẽ cảm thấy rất nhẹ nhàng, như thể họ có thể bay được. Và tập trung tại ngực sẽ thay đổi nhiều cái khác; tình mẹ của họ sẽ đằm thắm hơn." Tình mẹ là diễn tả khi cho con bú sẽ làm cho bà mẹ êm ái , khóai cảm từ đó chan hoà tình thương vào đứa con . Nhưng điều đó bị lung lay khi ngày nay hơn 70% các bà mẹ cho con bú bằng bình sữa nhân tạo , nhiều bà mẹ từ chối đứa bé "làm khóai cảm vùng ngực dương tính " vì sợ xóai mòn thẩm mỹ đôi vú nhưng vẫn đạt đựơc tình đằm thắm của người mẹ qua bình sữa . Lại một lần nữa Mật tông , Osho , Shiva bị chao đảo cái " chân lý " tình dục của họ khi thời đại văn minh thay đổi .

    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  10. #30
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Bài trước tôi đã nói về Luân Xa là đánh dấu sáu giai đoạn giải toả đi lên của sức mạnh tâm linh, và chúng được tượng trưng bằng các “bông sen” luôn luôn xoay tròn như bánh xe gọi là " Vòng tròn tình yêu ". ( xem hình và đối chiếu theo bài viết )



    Khi hai người yêu nhau, nếu người đàn ông trao sinh lực dương từ luân xa thứ nhất cho đàn bà, vốn là âm và sẵn sàng tiếp nhận, nó sẽ đi vào cơ thể và lên đến vùng trái tim vì đó là dương. Từ đó nó có thể đi vào vùng trái tim của đàn ông vì đó là âm, và nếu đàn ông biết cách nhận được nó, nó sẽ đi xuống luân xa thứ nhất :

    1. Luân xa thứ nhất nằm ở đốt dưới cùng của cột sống, chỉ huy cơ quan sinh dục, tượng trưng bằng bông sen đỏ 4 cánh.

    Ba năm trước tôi có thực " tập thử " với người yêu . Đúng nguyên tắc thì cả hai phải trần truồng ngồi theo kiểu Kiết già ,đối diện nhau . Nhưng nàng chỉ chịu cởi hết ngọai trừ quần lót , điều này chưa đúng quy cách . Thú thật chưa vào hành động tôi đã thấy rạo rực ,mặt đỏ gay , lòng ham muốn và tim gần nổ tung . Nhờ thực tập trong bóng tối nên chúng tôi không nhận diện sự biến thái của cả hai , tôi tin nàng cũng thế . Sự đòi hỏi tình dục cứ căng lên làm tôi muốn bỏ cuộc . Tất cả cửa được chúng tôi bít kín để ánh sáng không thể lọt vào. Trong phòng tối đen như mực chúng tôi ngồi trong một tiếng đồng hồ với mắt mở cho quen . Chúng tôi để cơ thể chìm trong bóng tối suốt thời gian hành Thiền . Đó là giai đoạn đầu của phương pháp thiền trong bóng tối. Osho cũng nói thêm rằng :

    Nếu vòng tròn tình yêu được tạo ra, một cảm giác thay đổi giới tính có thể xảy ra; lúc ấy người nam cảm thấy là nữ, và người nữ cảm thấy là nam, và sau đó trở lại như cũ.

    Khi hai người yêu gặp nhau và làm thành một vòng tròn tình yêu, một sự thay đổi có thể xảy ra. Trong một khoảnh khắc người nam trở thành nữ, và nữ trở thành nam, và trong khoảnh khắc tới lai xảy ra như thế. Nam trở thành nữ, và nữ trở thành nam trong một khoảnh khắc – bởi vì sinh lực di chuyển và đã trở thành một vòng tròn.

    Tôi không hiểu ý Osho nói :"một cảm giác thay đổi giới tính có thể xảy ra; lúc ấy người nam cảm thấy là nữ, và người nữ cảm thấy là nam," mà trước mắt là một sự rạo rực thể xác làm lay chuyển tâm hồn . Sau này tôi mới nghiệm ra rằng người nam cảm thấy là nữ, và người nữ cảm thấy là nam ở hành động đang làm tình . Người nữ có thể bú ngọc hành , dương vật , ngược lại người nam cũng bú âm hộ người nữ mà lúc đó không có sự e dè , bản tính thường tình của nữ giới . Có lúc người nữ hăng hái đổi vị thế nằm trên bụng người nam để hành lạc một cách mạnh bạo và hùng hổ . Phải chăng những lúc đó là người nữ mang tánh người nam ? Và người nam ngoan ngoãn , dịu hiền "liếm " vào những chỗ kín người nữ một cách ngoan đạo . Đến giờ này tôi cũng không thế nào hỏi Shiva , Osho hay một cao tăng Mật tông giải tỏa những ý nghĩ thầm kín và lời giảng về thay đổi bản tánh nam - nữ này . Tôi không nghĩ rằng bất cứ một ai đủ bản năng kìm hảm dục vọng khi hành Thiền " Vòng tròn tình yêu " như thế . Hay các cao tăng Mật tông có đầu óc siêu việt vượt qua đựơc giai đọan thể xác này chăng ? Điều này tôi rất nghi ngờ vì nhiều cao tăng Mật tông có vợ , con , cũng như Osho có hơn 30 người vợ , người tình ở với ông ta . Tôi tin rằng đây là một thủ đọan gian manh của những con người lợi dụng Phật giáo như Mật tông , Shiva , Osho nhằm đưa con người vào quỹ đạo dục vọng nhằm thủ đắc một cách hợp pháp và có sự tự nguyện của nữ đệ tử cuồng tín , mù quáng .

    Giữa thể xác và tâm là hai thực thể khác nhau không thể từ nhau mà có . Cho nên không có chuyện :

    Mật tông nói rất nhiều về tình yêu, về dục. Tại sao? Bởi vì tình yêu là cánh cửa tự nhiên và dễ nhất để bạn có thể siêu việt thế giới này, chiều ngang này…

    Tình yêu bất ngờ thay đổi chiều của bạn. Bạn bị ném ra khỏi thời gian và đối diện với vĩnh cửu. Tình yêu có thể trở thành thiền rất sâu sắc – sâu sắc nhất…

    -"Mật tông nói bạn phải chấp nhận bất cứ bạn là gì. Bạn là một bí ẩn với nhiều sinh lực trong mọi chiều. Hãy chấp nhận sinh lực đó với sự nhạy cảm sâu sắc, với tỉnh thức, với tình yêu, với hiểu biết. Hãy đi theo sinh lực ấy. Được vậy thì mỗi ham muốn đều trở thành một phương tiện để vượt qua nó, và mọi sinh lực đều có lợi ích riêng của nó. Và thế giới này sẽ là Niết Bàn; thân xác này sẽ là một đền thờ."

    -Thiền từ dục mà đi lên v.v.....

    Tại sao thân xác bạn sẽ là một đền thờ cho chính bạn . Phải chăng Mật tông muốn nói sự cung phụng , phục vụ khóai cảm dành cho bạn sẽ đi từ dục tính bước sang Thiền . Điều này là dối trá và tự lừa gạt ngay chính cái " Đền thờ " của bạn và người yêu . Tình yêu không thể bền vững , chung thuỹ , mặn nồng khi một con tim người nam phải chia sẻ cho hàng chục người nữ , giống thời vua chúa . Rõ ràng Mật tông , Shiva , Osho là những kẻ đánh lừa tình dục bằng con đừơng tâm linh . Nói thẳng thừng là Dùng Thiền Thích Ca để hạ bệ Thích Ca .

    Mật tông không dấu diếm phương pháp tập một mình đầu tiên của Mật tông là “lắc lư trong dục”. Tại sao lại lắc lư trong dục ? Điều nó xảy ra giống như lần tôi tập thử Thiền năm ấy . Không có gì gọi là tâm thanh tịnh khi bạn ngồi đối diện với một người nữ trần truồng mà đầu óc được trong sáng , thanh bạch . Cho dù đó là vợ chính thức của bạn cũng khó mà kìm hảm dục tính bùng phát . Những điều họ nói và cổ động cũng chỉ làm sự cổ xúy dục vọng vốn bị trói buộc bằng luân thường đạo lý từ xưa . Hình thức này chỉ là một ngọn gió mới phá thành luỹ đạo đức và tâm linh .

    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  11. #31
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Khi tôi nói với cô bạn trẽ " I love you " thì cô ta đỏ mặt , ấp úng . Trong ý nghĩ tôi không phải nói " Tôi yêu cô " mà là thương - mến cô ta . I love you cũng có thể dùng của người cha , mẹ nói với người con v.v.... nhưng thông thường nó hay dùng trong lãnh vực yêu đương nam nữ , cho nên rất dễ ngộ nhận theo từng đối tượng .

    Nếu nói :Tantra (Mật tông) nghĩa là phương pháp. Cho nên bộ kinh này có tính cách khoa học. Khoa học chỉ bàn về những “cách nào” mà không quan tâm đến vấn đề tại sao . Đó là sự khác biệt cơ bản giữa triết học và khoa học. Triết học hỏi, “Tại sao có vũ trụ này?” Khoa học hỏi, “Vũ trụ này xảy ra như thế nào?” Một khi bạn đặt câu hỏi “như thế nào?”, phương pháp, kỹ thuật trở nên quan trọng; lý thuyết trở thành vô nghĩa; kinh nghiệm giữ vai trò then chốt.

    Tantra thuộc về khoa học, không phải triết học. Muốn hiểu được triết học chỉ cần trí thông minh. Nếu biết đọc, biết viết, và nếu hiểu được khái niệm, bạn có thể hiểu được triết học. Bạn chẳng cần phải thay đổi, chẳng cần chuyển hóa. Với trí thông minh trung bình bạn có thể hiểu được triết học – nhưng không hiểu được Tantra.

    Phật giáo có thể đi vào khoa học và vượt qua cả khoa học , vì nó không bị vướn mắc vào dụng cụ . Nhưng Mật tông không cần trí não , bộ óc của chúng ta . Tantra đòi hỏi cả hồn lẫn xác . Đó là một thách đố rất lớn lao đòi hỏi chúng ta phải dâng hiến tất cả cho nó. Bạn phải có một cách tiếp cận mới, một thái độ mới, một tâm trí để sẵn sàng đón nhận cả thân lẫn xác . Mật tông chủ trương cho tình yêu , muốn biết yêu là gì, bắt buộc chúng ta phải sống trong tình yêu. Điều đó rất nguy hiểm vì sẽ không còn như trước nữa. Kinh nghiệm sẽ thay đổi , tình yêu sẽ biến bạn thành một người khác từ linh hồn đến thể xác , khoảng cách sẽ xảy ra vì người cũ đã biến mất, một người mới đã xuất hiện. Cái đó gọi là tái sinh theo quan điểm Mật tông .

    Bài hôm qua tôi có dẫn đọan Mật tông cho rằng Tình yêu có thể trở thành thiền rất sâu sắc : "Bởi vì tình yêu là cánh cửa tự nhiên và dễ nhất để bạn có thể siêu việt thế giới này, chiều ngang này…Tình yêu bất ngờ thay đổi chiều của bạn. Bạn bị ném ra khỏi thời gian và đối diện với vĩnh cửu. Tình yêu có thể trở thành thiền rất sâu sắc – sâu sắc nhất…" Nhưng tình yêu trong Phật giáo không phải là thể xác mà là sự hiểu biết . Đạo Phật cũng dạy như vậy, có hiểu mới có thương, tình yêu phải làm bằng sự hiểu biết .

    Trong các mối tình đầu của tôi thời sinh viên quen rất nhiều bạn gái trẽ , đẹp .... có thể nói là có trình độ văn hóa ngang hay hơn tôi . Nhưng người tôi yêu và nay là vợ hiền không đẹp , thông minh và nhanh nhẹn bằng những cô khác . Tại sao tôi chọn Lida làm vợ ? Vì nàng rất hiểu sở thích và biết lắng nghe những lúc tôi logic về tôn giáo , văn hóa . Nàng biết chăm chú và bàn thảo , góp ý theo chiều hướng tư tưởng tôi . Có phải tôi đang bị tình yêu của nàng đánh lừa chăng ? Không ! Không phải thế , mãi đến bây giờ Lida bao giờ cũng là người bạn đời vừa là người bạn trao đổi các học thuật một cách trí thức và hiểu biết . Vậy thì tình yêu là một sự cảm thông và hiểu biết nhau chứ không hoàn toàn từ xác thịt , sắc đẹp mà ra . Trong đạo Phật, từ bi gắn liền với trí tuệ. Không hiểu , không thể yêu nhau trung thực . Mỗi người có một khổ đau riêng . Khi hiểu nhau thì sẽ cảm thông những khổ đau của nhau . Nhân danh tình thương, người ta làm khổ nhau , " yêu nhau lắm , cắn nhau đau " , chuyện đó vẫn thường xảy ra .

    Mật tông là sự truyền đạt giữa thầy qua trò . Nhưng đừng hiểu vai vế Thầy trò bình thường . Nó không phải là một đối thoại giữa thầy và trò, mà là giữa hai tình nhân có nghĩa là một nam , một nữ , đó là một điều rất có ý nghĩa đối với Tantra là những chân lý uyên áo nhất không thể tiết lộ nếu không có tình yêu giữa hai bên – giữa đạo sư và đệ tử . Những luận chứng loanh quanh của Mật tông không ngoài mục đích để biện minh giữa Nam và nữ dưới võ bọc " Thầy - Trò " . Mật tông đã phơi bày rõ khi nói :

    Tantra là ngôn ngữ của tình yêu. Đệ tử phải có tình yêu đối với đạo sư. Nhưng bạn cũng có thể là tình nhân. Tantra nói rằng đệ tử phải cởi mở, phải sẵn sàng tiếp nhận như thể người vợ chờ chồng về. Trên đỉnh yêu đương ấy tất cả đều có thể xảy ra. Đệ tử không nhất thiết phải là người nữ, nhưng bạn phải có tính tiếp nhận như một người nữ. Devi hỏi. Đó là thái độ của một người nữ. Nhưng sao phải có thái độ của một người nữ?


    Trong truyền thống văn hoá Việt Nam , thân với tâm là MỘT , nghĩa là có sự kính trọng nhau thì tình yêu mới hạnh phúc , tức là nếu ta không tôn kính thân thể người yêu thì cũng không tôn kính được tâm hồn người ấy. Yêu nhau là giữ gìn cho nhau, kính trọng nhau. Nếu có sự xem thường thể xác của nhau xảy ra thì tình yêu đích thực không còn nữa . Tình yêu là một sự ích kỷ , độc quyền và riêng tư , có những vùng thiêng liêng ta không muốn ai chạm tới ngoài người ta yêu, muốn sống trọn đời, trọn kiếp với những vùng cấm địa ấy . Vậy thì bạn cảm nhận thế nào khi người yêu của ta ngồi Thiền định " Vòng tròn tình yêu " với một bậc Thầy ? Chắc chắn là bạn không bao giờ muốn , dù trong thân tâm rất kính trọng Thầy vẫn có những dự đóan những gì sẽ xảy ra giữa hai người . Bạn có còn đứng vững trước tâm linh khi tu theo Mật tông không ? Tôi mong bạn trả lời với con tim thành thật nhất .


    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  12. #32
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    KINH PHÁP HOA .


    Hôm đi chùa dự đại lễ Phật Đản 2553 , tôi có nhân duyên hầu chuyện cùng TT Thích Thái H . Đầu thì loanh quanh chuyện đạo Phật ngày nay , sau lại vào chuyện kinh Phật và đề tài Kinh Pháp Hoa lại có duyên đến với tôi . Thầy Thái H là người chửng chạc , hiền hoà , cởi mở thuộc giới cấp tiến . Lời nói dịu dàng , trong sáng , mạch lạc dễ đưa lòng người đến với chơn tâm .

    Thầy cho rằng ý nghĩa kinh Hoa Sen đựơc nhiều Đại sư như : Ngài Nhật Liên Đại Sư ( Nhật ) , Hám Sơn – Đức Thanh Đại Sư .... Theo Thanh Đàm Đại Sư triều Gia Long, thì:" Diệu pháp là chỉ cho thực pháp. Pháp là tâm xưa nay thanh tịnh. Tâm ấy xưa nay không sinh, không diệt, không nhớp, không sạch, không thêm, không bớt, tại phiền não không loạn động, tại trần lao không ô nhiễm, nên gọi là tâm xưa nay thanh tịnh vậy.

    Lại nữa, tâm ấy là bản nguyên của chư Phật, là phật tánh của chúng sanh. Tròn đồng thái hư, rộng lớn không ngằn mé. Linh linh, lặng lặng, suốt xưa, suốt nay, yên yên, lắng lắng, chính là không, chính là sắc, không thể dùng tâm thức suy lường, phân biệt mà có thể biết được. "


    Thầy cho rằng ý nghĩa Kinh Liên Hoa lấy Hoa Sen làm biểu tượng là để chỉ sự tinh khiết , tinh thần độc lập và không bị ô nhiểm dù sanh ra và lớn lên từ bùn nhơ ."Lấy trong sạch không ô nhiễm làm nghĩa. Tất cả thế gian không kham nhận tâm thanh tịnh ấy, nên kinh lấy hoa sen mà dụ cho tâm ấy. Hoa sen sinh ra ở trong bùn nước, nhưng không bị bùn nước làm cho ô nhiễm, cũng như tâm ở trong trần lao mà không bị trần lao làm mê hoặc.

    Tuy nhiên, tâm không có hình tướng, nhưng hoa lại có xanh vàng. Do nhân nơi hoa mà rõ được cái thấy. Nhân nơi cái thấy mà biết hoa. Sắc tướng của hoa là vô tình. Cái thấy, cái biết thuộc về tâm chân thực. Chỉ cần không vọng khởi phân biệt, thì vạn vật và ta vốn là như như "


    - Bạch Thầy :" ...tâm không có hình tướng, nhưng hoa lại có xanh vàng. Do nhân nơi hoa mà rõ được cái thấy. Nhân nơi cái thấy mà biết hoa ." Nếu một em bé mù đôi mắt từ nhỏ do bẩm sinh , không thấy Hoa Sen nhưng vẫn biết màu Sen trắng , đỏ , vàng . Em không thấy làm sao mà biết hoa ? Như vậy là tâm thấy hay thân thấy ?


    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  13. #33
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Thầy mỉm cười hiền từ rồi nói . Thay vì trả lời trực tiếp , Thầy trích vài đọan kinh Thủ Lăng Nghiêm cho con nghe :

    ÔNG A-NAN CHO RẰNG NHẮM MẮT
    THẤY TỐI LÀ TÂM THẤY TRONG THÂN


    Ông A-Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Giờ đây tôi suy nghĩ thế nầy: Thân thể con người trong có ngũ tạng lục phủ, ngoài có thất khiếu cửu huyệt. Tạng phủ có tánh che ngăn nên tối, khiếu huyệt có tánh rỗng không nên sáng. Nay tôi xin thưa với Phật rằng: Nhắm mắt thấy tối, tôi gọi là tâm thấy biết bên trong thân; mở mắt thấy sáng, gọi là tâm thấy biết bên ngoài.

    Phật bảo: A-Nan ! Đã gọi là thấy thì cái bị thấy phải "đối" ở trước mắt. Không "đối" trước mắt thì cái nghĩa thấy không còn.

    Nếu cái tối đã đối trước mắt mà cứ cho là thấy biết trong thân, vậy khi ở trong một phòng tối, không có ánh sáng, bấy giờ cái gì có ở trong phòng tối ấy đều là tạng phủ của ông cả hay sao ?

    Vả lại khi nhắm mắt thấy tối, ông cho là thấy bên trong thân, vậy khi mở mắt thấy sáng, sao ông không thấy cái mặt ?

    Đã không thấy mặt thì không thể nói con mắt đối vào trong mà thấy. Còn như thấy được mắt thì cái tâm và con mắt ắt đã lơ lững giữa hư không rồi, còn tương quan gì đến ông nữa ?

    Vậy nên biết rằng: Nhắm mắt thấy tối là thấy trong thân, chỉ là một ngụy thuyết không thành lập được.

    Thân anh ta không thể thấy được vì mắt đã mù . Vậy thì anh ta thấy là do tâm .

    Tôi biết thảo luận giáo lý thân tâm với Thầy là giống như đem trứng chọi vào đá . Tôi không dại gì làm thế . Mới tìm cách lái sang vấn đề khác . Liền thưa :

    -Bạch Thầy ! Thầy có tin Đại Thừa , Tịnh độ là đặt đức tin giống Kito trên hết không ? Vì con thấy khi niệm A Di Đà là phải tin tưởng tuyệt đối , phải chí tâm đảnh lễ không những một ngày , hai ngày ..... mà tới bảy ngày lựng .

    Có lẽ câu hỏi tôi đúng sở trường nên Thầy cao giọng giảng :

    -Phật tính ấy, cần có sự tác động của nhân duyên và sự yểm trợ của chánh pháp để chúng sinh khởi, đó là cách nhìn và cách thấy hết sức độc đáo và đặc biệt của kinh Pháp Hoa. Và lại càng độc đáo và đặc biệt hơn nữa là đức tin Pháp Hoa tin vào điều ấy là một sự thật. Kinh Pháp Hoa còn nói:

    “Nếu có người nào đối với việc này mà không nghi ngờ thì không bị đọa vào ác đạo, thường sinh trước chư Phật mười phương và sinh ở đâu cũng được nghe kinh Pháp Hoa. Sinh trong nhân loại hay chư Thiên thì được hưởng sự yên vui tuyệt diệu và nếu sinh ra trước Phật thì hóa sanh từ hoa sen”.

    Đức tin ấy, là đức tin độc đáo của Pháp Hoa, nhưng nó chưa dừng lại ở đó mà còn tin rằng, Phật tính không bị hạn hữu bởi giới tính hay chủng loại, nên tất cả mọi loài cũng đều có khả năng thành Phật, ngay cả loài súc sanh nữ.

    Việc tin tưởng hành động hiến dâng châu ngọc và tức thì biến thành nam tướng, đầy đủ phong cách Bồ tát, hướng ngay qua thế giới Vô Cấu ở phương Nam và thành Phật của Long nữ mới tám tuổi, con của vua rồng Diêm Hải, là đức tin độc đáo và bất khả tư nghì của Pháp Hoa.

    Lại nữa, Pháp Hoa tin rằng, tất cả chúng sanh ai cũng có Phật tính và ai cũng có khả năng thành Phật. Chính vì vậy mà ai cũng có khả năng thọ trì, đọc tụng, diễn giảng và hoằng truyền kinh Pháp Hoa đến với tất cả mọi người và mọi loài.

    -Con hiểu ý Thầy . Tin Phật , tin Pháp Hoa thì mới đựợc cứu độ về cõi Tây Phương Cực lạc . Nhưng con nghe Phật nói :"Tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta ".Sự thật con không hiểu cõi Tây Phương nó nằm ở đâu ? Cũng như Phật A Di Đà trong kinh 48 lời nguyện " GIẢ SỬ tôi thành Phật " như vậy cho đến hôm nay Ngài vẫn còn giữ câu " Giả sử " , nghĩa là chưa thành Phật . Và ở phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự, Đức Phật nói:" Nếu có người nào nghe kinh Pháp Hoa, hoặc tự mình chép, hoặc bảo người khác chép, thì công đức của người ấy, chỉ có trí tuệ của Như Lai mới biết được là nhiều, ít hay vô hạn.

    Và nếu ai chép kinh này rồi, đem các loại hoa hương cúng dường thì công đức vô lượng. "


    Cũng phẩm này, Đức Phật nói:

    "Nếu có người nào nghe phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự này lại thọ trì, người ấy sau khi kết thúc thân nữ, không còn thọ thân nữ trở lại.

    Và nếu sau khi Như Lai diệt độ, trong năm trăm năm sau, có người nữ nào nghe kinh Pháp Hoa, tu hành đúng như kinh dạy, đến lúc sinh mạng kết thúc, liền sanh về thế giới cực lạc của Phật A Di Đà, sinh ra trong hoa sen, an trú trên bảo tòa, được chúng Đại Bồ Tát vây quanh. "

    Con trộm nghĩ thời Đức Phật làm gì có chữ viết mà Phật nói :" ....hoặc tự mình chép, hoặc bảo người khác chép, thì công đức của người ấy, chỉ có trí tuệ của Như Lai mới biết được là nhiều, ít hay vô hạn "Còn chuyện người nào nghe phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự này lại thọ trì, người ấy sau khi kết thúc thân nữ, không còn thọ thân nữ trở lại chắc là con không ham làm thân nam đâu . Thầy cũng biết thân nữ ở Tây phương đứng thứ ba trên thân nam đấy . Và pháp luật lúc nào cũng bênh vực , bảo vệ nữ giới hơn nam . Vì vậy con không ham làm thân nam nên không nghe phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự lại chẳng thọ trì đọc tụng .

    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  14. #34
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Trong các vị Phật chỉ có Ngài Thích Ca Mâu Ni là thị hiện ra đời. Vì vậy có một tiểu sử , gốc tích và giáo pháp truyền lại ngày nay. Cho nên Đại Thừa cố ý nhập nhằng đánh lận con đen , dùng danh từ chung chung là PHẬT. Pháp Môn mầu nhiệm của Phật tri kiến mục đích để độ chúng sanh ở cõi ta Bà ác trược. Đại Thừa biết Phật tri kiến thật là khó hiểu, khó tin, khó hành trì và khó chứng đắc nghĩa là khó tu mà thành Phật , ngoại trừ những Phật của Đại Thừa tự đặt ra như A Di Đà , Quán Âm , Phổ Hiền , Địa Tạng........ Tôi cam đoan không một vị cao tăng nào chứng đắc thành Phật mà có một lịch sử bản thân rõ ràng như Thích Ca. Toàn là những vị Phật từ chín tầng mây xa vời mà chẳng ai dẫn dụ khi được hỏi đến.

    Đức Phật Thích Ca cũng như các đức Phật khác đều có ba thân: Pháp Thân, Báo Thân và Ứng Hóa Thân. Đó là theo Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú, quyển 9, phần hạ giải thích rằng: Đức Như Lai có ba thân:

    1)- Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Như Lai:
    Tỳ Lô Giá Na, tiếng Phạn Vairocana, nghĩa là biến khắp tất cả xứ. Pháp Thân này tánh và tướng bản nhiên thường hằng bất biến, chân như bình đẳng bất diệt v.v... Pháp Thân và Quốc Độ thì vô ngại, biến khắp tất cả xứ sở.

    2)- Báo Thân Lô Xá Na Như Lai:
    Lô Xá Na, tiếng Phạn Rocana, nghĩa là thanh tịnh viên mãn. Báo Thân này đã đoạn trừ diệt tận gốc rễ các hoặc và và trở nên hoàn toàn thanh tịnh, muôn đức đều viên mãn. Báo Thân này có hai: một là Tự Báo Thân hay Tự Thọ Dụng Thân và Tha Báo Thân hay Tha Thọ Dụng Thân. (Báo Thân gọi là Bổn Môn).

    a)- Tự Báo Thân, nghĩa là thân này ở bên trong dùng ánh sáng trí tuệ chiếu khắp tất cả chân pháp giới.

    b)- Tha Báo Thân, nghĩa là thân này ở bên ngoài dùng ánh sáng của thân chiếu soi và ứng hiện khắp tất cả mọi căn cơ chúng sanh.

    3)- Ứng Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Như Lai:
    Thích Ca Mâu Ni, tiếng Phạn Sàkyamuni, nghĩa là Năng Nhơn và Tịch Mặc. Năng Nhơn là chẳng an trụ nơi Niết Bàn, Tịch Mặc là chẳng trụ vào nơi sanh tử, tuỳ theo căn cơ của tất cả chúng sanh hóa hiện khắp nơi để thuyết pháp lợi sanh. Ứng Hóa Thân có hai loại: Ứng Thân và Hóa Thân. Ứng Thân nghĩa là Phật Thân ứng hiện để gia hộ chúng sanh và Hóa Thân là Phật Thân chuyển hóa sanh vào mọi loài chúng sanh để tùy duyên hóa độ.

    Ba ứng thân nói đến Phật Thích Ca thì đúng , nhưng với Phật A Di Đà , Di Lặc , Quán Âm , Phổ Hiền...... thì làm sao biết được ba ứng thân khi chính bản thân của những vị Phật đó cũng mù mờ như cái bánh VẼ . Chẳng qua Đại Thừa muốn dựa vào ứng thân của Thích Ca để vẽ vời thêm những ông Phật kiểu như God trên trời mà không dẫn chứng được gốc gác.

    Đức Phật Thích Ca muốn cho chúng sanh ai cũng có thể thành Phật là phải tìm đường giác ngộ qua đường tu tập theo Bát Chánh đạo , chứ không phải Ngài mở bày Kinh Diệu Pháp Liên Hoa mà Đại Thừa đã bố láo , lừa bịp chúng sanh và tu sĩ. Kinh Hoa Sen xuất hiện sau khi Ngài Thích Ca tịch diệt 600 năm thì làm gì mà Ngài Thích ca nói phải nhờ kinh Diệu Pháp Liên Hoa , đó là một sự dối trá vĩ đại chỉ đánh lừa những kẻ vô minh như Tịnh độ. Cho nên Kinh Pháp Hoa mới dựa vào ô dù Thích Ca nếu ai muốn thành Phật thì thọ trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa muốn được thành quả Phật phải thực hành đúng theo phương pháp chỉ dẫn sau đây:

    a/- Hành giả muốn thành Phật thì phải hành trì đúng theo pháp môn phương tiện trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Hành giả không nên chú trọng về sự kiến giải mà không chịu hành trì. Sự kiến giải không đem sự lợi lạc chút nào cho hành giả trên con đường tu tập đạo giác ngộ.

    b/- Hành giả phải theo yếu chỉ của kinh và không nên dựa theo lời văn của kinh. Lời văn của kinh không phải là yếu chỉ của kinh. Lời văn của kinh chỉ là những lời khen ngợi, những lời kích động dụ dỗ, những thí dụ mở lối tri kiến qua ngôn ngữ giới hạn không phải Diệu Pháp. Hành giả nào chỉ dựa theo lời văn của kinh là hành theo sự mê tín dị đoan là đi nghịch lại với yếu chỉ của Phật trong kinh.

    c/- Yếu chỉ của kinh là muốn hành giả phải phát huy Vô Tác Diệu Lực của Diệu Pháp để tẩy sạch vô minh phiền não và khiến cho sáu căn đều được thanh tịnh. Sau khi sáu căn được thanh tịnh, Pháp môn mầu nhiệm của Phật tri kiến mới có thể hiển lộ. Vô Tác Diệu Lực nghĩa là năng lực mầu nhiệm của Linh Giác Diệu Tâm tự động phát khởi. Nhờ Vô Tác Diệu Lực của Diệu Pháp Liên Hoa, hành giả mới thấy được tri kiến của Phật để tu trì.

    Kinh Diệu Pháp Liên Hoa dạy cứ đọc tụng , in ấn nhiều thì được phước. Cầu nguyện A Di Đà , Quán Âm thì được cứu độ , cứu rỗi về Tây phương....... hoàn toàn không giảng một điều gì dùng bằng trí tuệ để suy gẩm tìm một con đường giải thoát khổ đau , trái lại còn dạy cúi đầu nô lệ , chịu sự ràng buộc bằng những điều kiện ĐỨC TIN để được cứu rỗi . Có ai đầy đủ trí tuệ lại tin chuyện cầu nguyện Quán Âm là được tất cả , kể cả chuyện muốn cầu sanh con trái , con gái cũng Okay luôn. Quý vị đang ở thời đại khoa học này có tin chăng , ngoại trừ cấy thai nhân tạo thì đều đó đúng. Hãy nghe một đoạn kinh cầu nguyện Quán Âm sau đây quá viễn vông mà vẫn đánh lừa được Phật tử , đó là thủ đoạn của Đại Thừa qua kinh Pháp Hoa :

    Nếu có người trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát này, dầu vào trong lửa lớn, lửa chẳng cháy được, vì do sức uy thần của Bồ Tát này được như vậy. Nếu bị nước lớn làm trôi, xưng danh hiệu Bồ Tát này liền được chỗ cạn.

    Nếu có trăm nghìn muôn ức chúng sanh vì tìm vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, trân châu các thứ báu, vào trong biển lớn, giả sử gió lớn thổi ghe thuyền của kia trôi tắp nơi nước quỉ La Sát, trong ấy nếu có nhẫn đến một người xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thời các người đó đều được thoát khỏi nạn quỉ La Sát. Do nhân duyên đó mà tên là Quán Thế Âm.

    Nếu lại có người sắp bị hại, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thời dao gậy của người cầm liền gãy từnh khúc, người ấy được thoát khỏị.

    Nếu quỉ Dạ Xoa cùng La Sát đầy trong cõi tam thiên đại thiên muốn đến hại người, nghe người xưng hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thời các quỉ dữ đó còn không thể dùng mắt dữ mà nhìn người, huống lại làm hại được.

    Dầu lại có người hoặc có tội, hoặc không tội, gông cùm xiềng xích trói buộc nơi thân, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát thảy đều đứt rã, liền được thoát khỏi.

    Tôi sẽ phân tích khi đi sâu vào kinh Diệu Pháp Liên Hoa nhiều điều mâu thuẩn , mù quán và mang nặng tánh cách cứu rỗi của Kito không phải là Phật giáo Thích Ca. Cho nên ngày nay có một số thầy thấy được cái xảo trá , ru ngũ , phá hoại Phật giáo Thích Ca mà lên tiếng đã kích sự cúng kiến , vớt sao , cầu an , vớt vong ...... hoặc chỉ rõ tông phái Mật tông là ĐẠO DÂM ĐẢNG thì họ hùa vào chửi bới ngày đêm không tiếc lời nhằm bảo vệ Đại thừa mù quán , Mật tông dâm đảng , ngay cả những bậc gọi là Đại Lão Hòa Thượng cũng một bài ca chợ đò cùng đám Phật tử phường tuồng nhắm mắt mạ lỵ , chửi rủa , điển hình con vật tế thần Thích Chơn Quang dám nói lên sự thật , mặt trái mê tín , dị đoan của Đại Thừa và Dâm đảng của Mật tông thì họ đưa ra chiến dịch sách báo điện tử , Video , thuê người mạ lỵ , chửi bới có trả tiền nhằm bịt miệng những kẻ vì chân lý Thích Ca mà lên tiếng. Lịch sử sẽ phê phán , Phật giáo chính gốc sẽ ghi nhớ và lương tâm cùng NGHIỆP BÁO không bao giờ phai mờ trong tâm của họ.

    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  15. #35
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Nhiều học giả cho rằng " Phật giáo không phải là một tôn giáo ". Vì Phật giáo không thừa nhận có một đấng Sáng Tạo và Quyền năng , nhất là Nguyên thủy Phật giáo vì không thừa nhận một linh hồn cố định của cá nhân, nên không có một khái niệm nào về sự quan hệ giữa Thần và Người. Để chạy đua với danh từ TÔN GIÁO nên Phật giáo cố gắng chứng minh mình là một tôn giáo , nhất là Đại Thừa - Tịnh Độ tông , phái này căn cứ vào sức bản nguyện của Phật Di Đà để thành lập “Cứu Độ Quan” như là sự cứu rỗi của Thiên Chúa , nhưng đứng về phương diện “Tự lực Thánh đạo môn” của Phật giáo mà nói thì quan niệm đó không thể được coi là quan niệm về một hình thức “liên hệ giữa Thần và Người”.
    Koryu Otani có nhận xét về lập trường cho rằng :tôn giáo là sự “quan hệ giữa Thần và Người” để quan sát Phật giáo bảo rằng "Phật giáo là khoa học chứ không phải là tôn giáo" , đối với Ngài Thích Ca những điều đó không quan trọng. Tại sao Đại Thừa lại quan tâm vấn đề TÔN GIÁO - THẦN - SÁNG TẠO .v.v..... vì Tịnh độ đang cần những vị Thần như A Di Đà , Quán Âm nhằm đưa đạo Phật vào con đường phải cầu nguyện mới được cứu rỗi như Kito. Như vậy đâu còn là Phật giáo nữa , đâu còn là giá trị chân lý . Ngài Thích Ca tìm ra đạo giác ngộ và giải thoát khổ đau bằng trí tuệ sáng suốt trong một thân thể tráng kiện , vì vậy Ngài đã bỏ con đường tu khổ hạnh sau 6 năm lãng phí thời gian. Chính sự cố gắng lèo lái , tạo dựng những vị Thần ( Phật ) của Tịnh độ như thế mới đảo lộn và đi ngược lại chân lý Như Lai , một côn trùng đục khoét , phá thối thân thể Thích Ca đã và đang đánh đỗ chân lý tuyệt vời , bất biến mà chưa một tôn giáo đạt đến được.

    Bác sĩ Kenchi Kato thường thảo luận , nghiêng cứu về Tôn giáo, ông ta căn cứ vào đề tài: "Nguyên thủy Phật giáo có phải là một Tôn giáo không?" và cho rằng Nguyên thủy Phật cũng chỉ là một Tôn giáo, nghĩa là nó cũng đã được thành lập theo hình thức "quan hệ giữa Thần và Người". Theo ông, mặc dù Nguyên thủy Phật giáo không thừa nhận một vị Thần sáng tạo, nhưng Phật Thích Ca, Thủy Tổ của Phật giáo, dưới mắt của các đệ tử, cũng đã được coi như một vị Thần, không phải chỉ một vị Thần tầm thường, mà là một vị Thần trên hết các Thần , đó chỉ là quan niệm của từng cá nhân. Có thể cho rằng Phật giáo là một Triết lý , một Khoa Học hay một Tôn giáo tất cả đều đúng . Vì Phật giáo bao quát và đứng trên các phương thức ấy. Phật giáo không chủ trương con người tu chỉ để đạt đến một Thiên đường , Niết Bàn mà còn giải thoát qua bờ bên kia một cách toàn bộ và rốt ráo. Thế thì Tịnh độ đưa ra phương thức cầu nguyện các vị Thần A Di Đà , Quán Âm để được cứu độ hay về cõi Tây Phương thì quá tầm thường chẳng có nghĩa lý gì với giáo pháp giải thoát của Ngài Thích Ca. Chân lý là chỗ đó , vì tôn thờ một vị Thần tức là quay lại , dẩm bước trên những tôn giáo như Bà La Môn , Kito....... thì có chi là mới lạ. Những thứ tôn giáo đó đang bị xói mòn theo thời gian và bị khoa học chiếu ống kính tìm ra nhiều sai lầm trong giáo lý. Ví dụ điển hình là Bác học Galileo tìm ra quả đất tròn quay chung quanh mặt trời chứ không đứng yên như trong Thánh kinh dạy. Phép sáng tạo 6 ngày là phản khoa học khi ngày thứ ba tạo ra cây cỏ , ngày thứ tư tạo ra mặt trời mặt trăng là trái với thiên nhiên. Thảo mộc không thể sống khi thiếu quang năng mặt trời. Trái lại khoa học chưa tìm ra hay bắt bẻ một điều nào trong giáo lý Thích Ca là phản khoa học , nhưng nếu đem Đại thừa ra thì khoa học cũng bẻ gãy và soi mói giống như đạo Kito.

    Trên thực tế, những Phật tử đối với Đức Phật cũng giống như tâm lý của những tín đồ Bà La Môn giáo tin tưởng Phạm Thiên là đấng Từ Phụ của họ, God là Thượng đế của con chiên , điều này là một sự thực, nhưng ở đây có điểm hoàn toàn bất đồng là người Phật tử không xem Đức Phật như một vị cứu thế mà là một bậc Đại Đạo sư, một bậc thầy chỉ đường trí tuệ và vỹ đại , những lời chỉ dạy thực tiễn của Ngài để tự giác ngộ chứ không phải là cứu rỗi như Tịnh độ cổ xúy là phá nát giáo lý Phật giáo Như Lai. Đây là ĐIỂM NHẤN QUAN TRỌNG mà các tu sĩ , Phật tử phải lưu ý , sáng suốt nhận định để khỏi bị Đại Thừa Trung Hoa lừa dối nhằm hạ thấp tinh thần Độc lập có ảnh hưởng và giá trị tinh thần về mặt tồn vong Quốc Gia.

    Cho nên Đại thừa - Tịnh độ tông chủ trương Phật Thừa chính là tri kiến của Phật và Phật Thừa này ngoài tất cả tri kiến đã được thiết lập. Tự Tánh của Phật Thừa thì không có hai. Tự Tánh của Phật Thừa không phải chủng tử của Phật. Chủng Tử của Phật do nhân duyên sanh khởi. Tất cả pháp trong thế gian đều do nhân duyên sanh khởi cho nên không có tự tánh. Pháp nào thì an trụ nơi pháp đó và pháp này thì không phải pháp kia. Pháp sanh thì an trụ nơi ngôi sanh để phát khởi, pháp diệt thì an trụ nơi ngôi diệt để biến hoại theo luật Vô Thường. Tịnh độ cho rằng : Chứng ngộ khác hơn giác ngộ. Giác ngộ chỉ hiểu biết chính xác sự việc bằng sự quan sát, còn chứng ngộ là thể nhập và sống trọn vẹn trong sự việc đó một cách tinh tường. Cho nên Kinh Pháp Hoa nói: "Ngộ Phật tri kiến và nhập Phật tri kiến". Ngộ Phật tri kiến nghĩa là giác ngộ tri kiến của Phật và Nhập Phật tri kiến nghĩa là chứng nhập tri kiến của Phật. Từ đó cho thấy Giác Ngộ không phải là Chứng Ngộ.
    Đó là điều đương nhiên giữa hai ý nghĩa CHỨNG và GIÁC là khác nhau. Ngài Thích Ca dạy chúng sanh là cần đạt đến mức tối thượng là Giác Ngộ để giải thoát chứ không dừng lại ở Chứng Ngộ mới là sự hiểu biết ban đầu mà thôi. Từ quan điểm đó nên giáo lý Thích Ca mang tính cách một chân lý bất biến , tuyệt vời và cao cả là như vậy .
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  16. #36
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Phật Thích Ca dạy con người muốn Độc lập - Tự do thì phải tìm đường giải thoát. Nhưng tâm lý thường tình chúng sanh không muốn tự do mà thích làm nô lệ , thích cúng dường , cầu đảo , cầu nguyện những vị Thần. Nhưng làm thế nào để thỏa mãn được yêu cầu đó? Đây chính thực là vấn đề căn bản của tôn giáo. Về điểm này tuy có nhiều giai cấp và chủng loại, nhưng loại tầm thường nhất là hòa giải mâu thuẫn, thỏa mãn yêu cầu mà người có thể đem lại những điều kiện đó là một người tồn tại trên loài người đó là Thần, hay tưởng tượng ra nhiều Thần. Đại thừa ra đời như là một giải toả tâm linh nhằm thoả mãn cho lớp người đó, điều mà giáo lý giải thoát của thích Ca quá cao siêu , không thích hợp với đa phần quần chúng thấp hèn ưa nương tựa , cầu nguyện Thần che chở. Họ tin tưởng rằng trên thế gian này, ngoài sự tồn tại của nhân loại, còn có một đấng thiêng liêng nắm giữ chìa khóa của tự do và thiên nhiên , nếu con người biết chìu theo ý muốn của đấng thiêng liêng ấy thì sẽ được giải thoát, được tự do một cách dễ dàng miễn sao họ chịu phục tòng , nô lệ là được.Đương nhiên là đấng thiêng liêng ấy có một phép lạ, có thể biến đổi thiên nhiên,biến nước thành rượu , biến ra nhiều bánh mì như God , nếu con người thành khẩn nguyện cầu, thì bất cứ lúc nào Ngài cũng hiển thị phép lạ xoá tang tội lỗi dù bao nhiêu kiếp như A Di Đà , niệm danh 35 vị Phật thì được xóa bỏ như đã hứa . Nếu không có phép lạ thì đấng thiêng liêng đã mất hết ý nghĩa, mà tín ngưỡng này, bất luận là xưa hay nay đều là hình thức tôn giáo thịnh hành như Đại thừa , Kito giáo.

    Giáo lý Thích Ca không thừa nhận một vị Thần siêu việt , sáng tạo ra thiên nhiên, vì những vị Thần chẳng qua cũng chỉ là một sự tồn tại tự nhiên nên cũng có những sự hạn chế, còn tôn giáo nảy mầm trong sự mâu thuẫn bất hợp lý của nhân sinh, về điểm này, tín ngưỡng tôn giáo cũng có những yếu tố bất hợp ý, đó là một thực tại, nhưng nếu đem những yếu tố bất hợp lý đó mà hợp lý hóa thì người ta không thể tìm thấy sự mãn túc toàn nhân cách, do đó mà Đức Phật Thích Ca đã không coi trọng vị Nhân Cách Thần là đối tượng của tín ngưỡng. Nhưng tại sao Đại thừa - Tịnh độ vẫn dựa vào danh xưng Phật giáo lại chủ trương cầu nguyện , vớt vong , vớt sao , cầu an , cầu siêu...... hoàn toàn trái với chân lý Thích Ca. Đó là oan nghiệt nhiều đời , nhiều kiếp của Phật giáo mới sanh ra những đứa con phản trắc Tịnh độ , dạy dâm dật như Mật tông.

    Tịnh độ - Mật tông làm sao quên được lời dạy cuối cùng của Đức Phật Thích Ca là:

    “Hãy tự mình thắp đuốc lên, hãy tự mình nương tựa nơi mình, nương tựa Chính Pháp, chứ đừng nương tựa vào một nơi nào khác”.


    Tại sao Đại thừa cứ dạy cầu nguyện A Di Đà , Phổ Hiền , Quán Âm..... sẽ được cứu vớt dù tai nạn cướp dật , thuyền chìm , lữa đốt , muốn con trai thì cho trai , muốn con gái thì cũng Okay luôn. Có hứa suông và chắc chắn như vậy mới đánh lừa chúng sanh đi theo để cúng dường , lo phục vụ mấy thầy tu có đời sống sung sướng , no cơm ấm cật còn bày đặt đấu tranh chính trị , chính em để vào tù ra khám , nổi danh hầu kiếm cái giải khăn hòa bình Nobel.

    Nếu không có Tịnh độ , Mật tông thì lời khuyên của Thích Ca quả thật là cao đẹp , chân lý và trong sáng biết bao. Theo lập trường của Phật giáo là lấy giải thoát làm mục đích và đằng sau đó dự tưởng một sinh mệnh vô hạn nhưng vô hạn sinh mệnh đó chỉ được thể nghiệm nội tại chứ không biểu tượng hóa: đó có thể nói là một hình thức tôn giáo mới, tuy thần bí nhưng rất hợp lý và đầy khoa học thực tế. Phật giáo lấy giải thoát làm tiêu biểu bên ngoài, mà vô hạn sinh mệnh vẫn không biểu tượng, nếu nói một cách miễn cưỡng thì đem sức KHÔNG vào nội tâm tất cả đều quy về nhất tâm: đó là lập trường độc hữu của Phật giáo.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  17. #37
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Cái cao ngạo của Đại thừa lúc nào cũng cho mình là cổ xe lớn hơn Tiểu thừa và đặt vào hàng đối thủ bất khoan dung. Trong thời Đức Phật còn tại thế vẫn chưa có Tiểu thừa, Đại thừa đối lập nhau từ phương diện giáo lý cho đến cách hành đạo . Tất cả sự phân chia đều là hiện tượng đã phát sinh sau thời Phật nhập diệt do giới tăng trẽ muốn cải cách nên đòi sữa đổi nhiều giới luật của Đức Phật , điều này các vị trưởng lão hoàn toàn bác bỏ .Nhưng tại sao cùng là giáo lý của Phật mà lại chia ra Đại thừa giáo và Tiểu thừa giáo? Vì Đại Thừa nuôi tham vọng muốn thống trị và nộ lệ Thế giới do Trung Hoa chủ trương. Họ bắt chước Constaintine Đại Đế La Mã dùng Công giáo đi mở đường, nằm vùng qua mặt tôn giáo sau đó dùng quân sự chiếm đóng đô hộ. Cũng công thức đó , Đại thừa phải truyền đạo , thêm thắt , sữa kinh Phật đưa vào cầu nguyện , cứu rỗi , hứa hảo huyền cái bánh VẼ Tây Phương Cực Lạc kiểu Kito nhằm mục đích đánh đổ chân lý Độc lập - Tự do - Dân chủ của Bổn sư Thích Ca.

    Trong phẩm thí dụ của kinh Pháp Hoa có ghi :

    Đại chúng sau khi thấy đức Phật thọ ký ngài Xá Lợi Phất sẽ thành Phật hiệu là Hoa Quang và sẽ làm giáo chủ ở cõi nước gọi là Ly Cấu nên rất vui mừng cho rằng, hàng Thinh Văn và Duyên Giác của mình cũng sẽ được đức Phật thọ ký như ngài Xá Lợi Phất. Đại chúng đặt hết niềm tin vào Diệu Pháp của Phật Tri Kiến, Để dứt hẳn lòng nghi, đại chúng lại thỉnh cầu đức Phật nói rõ hơn về vấn đề:

    "Đức Phật trước kia tại sao khai mở Quyền Thừa, nhưng hôm nay lại phủ nhận Quyền Thừa và chỉ đề cao Phật Thừa?"

    Đây là một sự sữa đổi bố láo về chuyện Đức Phật khai mở Quyền Thừa nay lại phủ nhận Quyền Thừa và chỉ đề cao Phật Thừa. Chính Trung Hoa Đại thừa phủ nhận rồi gán vào miệng Ngài Thích Ca , đó là một trong những đứa con nghịch tử của Như Lai. Để hổ trợ cho lời nói cao ngạo và xấc xược này , kinh Pháp Hoa dẫn dụ câu chuyện Trưởng Giả cứu đám con trong nhà lửa :

    a/- Đức Phật đem câu chuyện Trưởng Giả cứu đám con trong nhà lửa để giải đáp sự nghi vấn của đại chúng. Ông Trưởng Giả chỉ có mục đích duy nhất làm thế nào cứu đám con đang ham chơi trong nhà lửa. Lúc đầu ông Trưởng Giả dùng quyền biến dùng ba thứ xe để dụ các con chạy ra, nhưng về sau khi các con đã ra khỏi nhà lửa, ông Trưởng Giả chỉ cho các con mỗi đứa một thứ xe duy nhất đầy đủ vật báu trang nghiêm.

    b/- Để hợp pháp, ông Trưởng Giả chính là dụ cho đức Phật và đám con là chỉ cho tất cả chúng sanh. Nhà lửa là chỉ cho ba cõi sinh tử. Đám con ham chơi trong nhà lửa là chỉ cho tất cả chúng sanh đam mê ngũ dục trong ba cõi sinh tử. Mục đích của ông Trưởng Giả là làm thế nào cứu đám con ra khỏi nhà lửa cũng như mục đích của đức Phật ra đời là làm thế nào cứu chúng sanh thoát khỏi nhà sinh tử. Đầu tiên ông Trưởng Giả quyền biến dùng ba thứ xe (xe dê, xe nai, xe bò) để dụ các con cũng như đức Phật phương tiện mở bày ba Thừa (Tiểu Thừa, Trung Thừa và Đại Thừa) để dẫn dắt chúng sanh. Khi các con ra khỏi nhà lửa, ông Trưởng Giả chỉ cho mỗi đứa một thứ xe duy nhất đầy đủ vật báu trang nghiêm cũng như khi chúng sanh ra khỏi nhà sinh tử, đức Phật chỉ cho mỗi chúng sanh một thứ thừa duy nhất là Phật Thừa quý báu.

    c/- Đức Phật mặc dù thiết lập ba Thừa là phương tiện để độ chúng sanh nhiều căn cơ khác nhau, nhưng kỳ thật chỉ trình bày duy nhất có một Thừa mà thôi chính là Phật Thừa và tìm mọi cách dẫn dụ chúng sanh từ ba Thừa đi lần vào Phật Thừa tối thượng. Như Kinh nói: "Chư Phật dùng sức phương tiện nơi Phật Thừa, phân biệt nói thành ba".

    Đại thừa thường dùng hình ảnh " Ông Trưởng giả " để dẫn dụ câu chuyện. Điều ngu xuẩn và điên cuồng của Đại thừa là xúc phạm nặng nề khi đem hình ảnh câu chuyện ông Trưởng giả so sánh với giáo lý Thích Ca : "Đầu tiên ông Trưởng Giả quyền biến dùng ba thứ xe (xe dê, xe nai, xe bò) để dụ các con cũng như đức Phật phương tiện mở bày ba Thừa (Tiểu Thừa, Trung Thừa và Đại Thừa) để dẫn dắt chúng sanh. " Không thể dùng ba thứ xe (xe dê, xe nai, xe bò) để so sánh như đức Phật dùng phương tiện mở bày ba Thừa (Tiểu Thừa, Trung Thừa và Đại Thừa) dẫn dắt chúng sanh. Một lối dẫn dụ cặn bả đầy tà tâm.

    Đại thừa công kích không ngừng nghỉ và cho Tiểu thừa như là một địch thủ cần tiêu diệt , họ rao giảng giáo lý Tiểu thừa là nông cạn, giáo lý Tiểu thừa quá phiền toái, quá khó khăn , ngoài ra Tiểu thừa chỉ chú trọng đến phần hình thức mà không hiểu rằng vì muốn hóa độ đệ tử mà phải phá giới , thay đổi toàn bộ chủ trương hành đạo kiểu Như Lai . Họ cho rằng "Đức Phật đã phải tùy căn cơ đặt ra nhiều phương thức, chứ thật ra đó không phải là phần chủ yếu của Phật, nhưng lại coi đó là toàn thể mà xao lãng cái tinh thần hoạt bát của giáo pháp cũng như nhân cách của Phật". Chẳng qua Tiểu thừa là những đứa con có hiếu , muốn duy trì tất cả những gì từ giáo lý cho đến hành đạo của Đức Bổn Sư , điều mà Đại thừa chê bai là cổ hủ , cứng nhắc như những ông già lụ khụ. Nếu công tâm mà nói , cũng có nhiều vấn đề cần thay đổi cho thích hợp theo đà tiến hoá của nhân loại. Nhưng tiến hóa không phải là phá hoại và thụt lùi và thay đổi chính giới . Đại thừa đã làm như thế khi cho Kinh Pháp Hoa ra đời nhằm cổ xúy sự an phận cúng dường ( Vu Lan ) , cầu nguyện để được cứu độ ( Phổ môn ) , cầu siêu , vớt vong ( kinh Địa Tạng ) .......... Đây là một sự ĐÃO CHÁNH toàn bộ giáo lý giải thoát của Thích Ca. Từ một chân lý trong sáng tuyệt vời , Đại thừa Trung Hoa đã đưa nhân loại trở về thời bán khai , thời kỳ đồ đá cổ đại làm cho con người luôn luôn sợ hãi trước thiên nhiên và chỉ nung nấu tinh thần nương tựa vào Thần Thánh kiểu Kito.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  18. #38
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Sau sáu năm tu ép xác khổ hạnh , Ngài Cồ Đàm nhận thấy tu con đường này khó mà thành chánh quả. Ngài hiểu rằng một giáo lý có giá trị để đạt đến chân lý tuyệt vời phải được dùng bằng trí tuệ. Đầu óc sẽ minh mẫn chỉ có trong một thân thể khoẻ mạnh , tráng kiện chứ trí tuệ không thể hoạt động trong tấm thân bệnh hoạn , bụng đói cồn cào. Ngài đã từ bỏ con đường tu khổ hạnh cho dù bạn bè chê cười , dư luận lên án , công kích. Ngài đã thay đổi cuộc sống tu hành bằng sự tắm rữa sạch sẽ và ăn uống trở lại. Ngài ngồi yên tịnh thiền định dưới gốc cây Bồ Đề tìm ra chân lý. Sự điều hòa hơi thở ra vào tức là một giây chuyền vận động cho cơ thể điều hòa và bình yên , nhờ đó mà tâm thanh tịnh sáng suốt , trí tuệ mới đầy đủ chức năng tìm ra vì sao có khổ và làm sao diệt khổ? Cuộc đời cứ trầm luân trong cảnh ta bà làm sao phải tìm đường giải thoát. Chính ta mới tự giải thoát cho ta , thế mà Đại thừa nghịch tử lại bày đặt tụng kinh , niệm Phật , kêu gọi van xin những ông Phật từ chín từng mây đến cứu độ. Cứ ngày tụng , đêm tụng kinh làm ông Phật ngồi nghe cũng nhảy mũi , thậm chí còn khua chuông gióng trống , ôm máy khúych đại tụng thật lớn , vì cứ tưởng ông Phật bằng đồng , đá không nghe vì điếc. Nhiều thầy cứ ngày ngày ê a mà chẳng hiểu ý kinh dạy gì , nhiều lúc cho rằng tụng kinh tiếng Phạn , tiếng Hán có vẽ cao siêu hơn tiếng Việt , thật là đáng thương cho họ. Tụng kinh là học lời Phật dạy cho CHÍNH MÌNH tu tập , chứ thật ra ông Phật Ấn Độ đâu có hiểu kinh chữ Hán , chữ Việt nói gì.Học kinh để hiểu, hiểu để tu chớ không phải đem đọc cho Phật nghe.

    Thiền định là con đường tu tập chính gốc của Đức Bổn Sư. Ngài không xưng hô , quãng bá có tài cứu vớt những ai cầu nguyện danh Ngài giống như A Di Đà , Quán Âm , Phổ Hiền...... Giáo lý của Ngài dạy là tùy bệnh cho thuốc. Gặp người tham ái nhiều, Phật dạy phương thuốc quán bất tịnh. Thấy thân nhơ nhớp quá sanh gớm nên hết tham ái. Người háo danh , cầu sắc , Phật dạy quán vô thừơng, danh vọng được rồi sẽ mất , sẽ bay đi chớ không bền vững lâu đời , nhờ quán như thế nên bớt háo danh , bớt tranh dành quyền lợi do vật chất đem đến. Ví như băng giảng DVD của Thầy này giảng hay , bán nhanh như gió , mấy Thầy kia tự ái và cho mình là cao tăng , là Giáo Hội mà thua thằng đệ tử nhóc con. Thế là tà tâm nổi lên chửi bới , ghép phim , cắt xén lời giảng và không ngần ngại chụp mũ VC , ôm gái ngoài bờ biển , nhằm bôi nhọ và hạ bệ uy tín .......

    Tổ Đạt Ma là người đem Thiền vào Trung Hoa đầu tiên , nhưng Duyên chưa đến nên Ngài ngồi quay lưng vào vách tường chín năm suy ngẫm. Câu chuyện Phật ghi lại :

    Ngài Huệ Khả trước tên Thần Quang, tu thiền cũng lâu. Khi nghe Tổ Đạt Ma sang Trung Hoa, ở chùa Thiếu Lâm ngồi xây mặt vào vách núi, mấy năm không nói chuyện với ai. Ngài tìm tới không biết làm sao thưa. Lúc ấy nhằm mùa đông tuyết xuống tới đầu gối, Ngài vẫn đứng thản nhiên từ đầu hôm đến sáng để cầu đạo. Biết được, Tổ xoay lại hỏi:

    - Ông cầu cái gì mà chịu khổ hạnh vậy?

    Ngài thưa:

    - Cúi mong Hòa thượng từ bi mở cửa cam lồ, rộng độ chúng con.

    Tổ bảo:

    - Diệu đạo vô thượng của chư Phật, dù nhiều kiếp tinh tấn, hay làm được việc khó làm, hay nhẫn được việc khó nhẫn, còn không thể đến thay! Huống là dùng chút công lao nhỏ này mà cầu được pháp chân thừa ư?
    Nghe thế, Ngài liền đi ra phía sau, mượn cây dao chặt một cánh tay dâng lên Tổ để tỏ lòng thiết tha cầu đạo. Tổ Đạt Ma đồng ý và nhận làm đệ tử, đặt tên là Huệ Khả. Huệ là trí tuệ, Khả là khá. Ý Tổ khen ngài Thần Quang có trí tuệ khá lắm nên mới dám hy sinh như vậy.

    Khi được nhận làm đệ tử rồi, một hôm Huệ Khả thưa với Tổ Đạt Ma: “Bạch Hòa thượng, tâm con không an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm”. Tổ Đạt Ma không trả lời thẳng, mà bảo: “Đem tâm ra ta an cho”. Ngài Huệ Khả xoay lại tìm một hồi, tâm bất an mất tiêu, không thấy nơi đâu. Ngài liền thưa: “Bạch Hòa thượng, con tìm tâm không được”. Tổ bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi”. Ngay đó ngài Huệ Khả liền biết đường vào.


    Vậy miệng cứ cầu nguyện , tay gõ mõ tụng kinh thì tâm làm sao thanh tịnh chứ đừng nói chuyện an ổn. Tâm an hay không là do ở chính mình , cũng như đến chùa nhiều lúc các Thầy , sư cô hỏi tôi cần ghi tên cầu an không? ( Cầu xong phải cúng tiền ) .Tôi trả lời KHÔNG. Vì an hay không là do ở chính mình , không đi chọc ghẹo , gây thù , gây oán với ai làm sao họ đánh phá , chửi bới mình , không phải tôi tiếc tiền mà không tin đó là sự thật Phật dạy , do bọn ma tăng đầu trọc Tịnh độ bày đặt , lừa đảo . Nhưng nghĩ lại , như mình Online viết bài , tìm chân lý , thấy ai sai thì lên tiếng , thấy thầy nào cô đơn bị bầy chó sói trọc đầu cùng kéo theo mấy đồ đệ cả đực lẫn cái , ngày đêm chửi bới còn hơn côn đồ chợ cầu muối. Mình vào lên tiếng bênh vực thế là bầy chó ngao quay sang cắn , sũa mình và cho là đồng bọn tà pháp. Thì đó là do tôi có tánh anh hùng , quân tử nên tự ôm họa vào mình để bị rủa sả . Nhưng tôi chẳng cần cầu Quán Âm nào hổ trợ , cứu vớt cả. Tự mình tinh tấn đấu tranh , tự mình giải thoát khỏi bầy chó ngao trọc sĩ hay mấy con mệ già như Tám tửng điên khùng , hay mấy thằng ongnoi nhóc con có cào cấu , khạc nhổ um sùm chẳng nhằm nhò gì . Với tâm Bồ Đề , với tinh thần Độc lập , tự chủ tôi vẫn bước thẳng tiến , giữ lập trường bảo vệ cho những kẻ bị cô thế , nhất là những thầy đang bị vây hảm với số đông của tăng chúng , trọc sĩ ỷ mạnh hiếp cô.

    Hành động của tôi có phải bị si mê nên mãi chìm trong sanh tử , bất chấp oán thù , tai nạn mà lên tiếng hay không? Tôi biết rằng dù có Si mê và chấp thân này là tâm mình thật là đúng với lẽ phải thì mình cứ mạnh dạn làm . Tôi thừa biết sự si mê này khiến mình cứ tạo nghiệp, đi mãi trong vòng sanh tử vẫn cứ hành động .

    Ví dụ có hai người cùng xem tấm ảnh " Thầy tu ôm gái ngoài bờ biển " , người thì cho đó là món đồ giả, lấp ghép vì chỉ có ảnh bất động. Trái lại một người nói thật . Vậy trong hai người đó, ai ngu ai trí? Giả mà tưởng thật là ngu, còn giả biết giả là trí.Như câu dưới signature của tôi là Ngũ mà biết mình ngũ , Thức mà biết mình thức. Đó là người Trí vậy . Bây giờ tôi đặt câu hỏi lại : "Tấm ảnh ôm gái này là thật hay giả?" Nếu quý vị chỉ thấy cái thật theo câu hỏi của tôi, thì khi ra đường này sẽ thấy nó là giả hết. Đó là chỗ mê lầm của chúng ta. Giữa thật và giả cũng không phân biệt được thì hỏi làm sao tu hành để tự giải thoát khổ đau làm sao được. Ngoài ra ngày đêm còn lo đi chửi bới , tranh chấp hơn thua để dành quyền bán DVD giảng pháp. Lo xúi Phật tử , đồ đệ online phá rối , chụp mũ VC , đánh hạ người nào dám lên tiếng cản trở việc làm của chúng. Điều đó hoàn toàn vô ích , vì Ngài Thích Ca không dạy làm như thế.Vậy thì xưng Cao tăng , Đại Lão Hòa Thượng mà làm cái gì???? Có xứng đáng trưởng tử Như Lai không????
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  19. #39
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Nói đến thanh tịnh là nhờ Thiền chứ không phải do tụng niệm , cầu nguyện mà có đựơc . Vậy thì thanh tịnh đó là TÂM hay THÂN thanh tịnh ? Khi thân tâm ta thanh tịnh, hoàn cảnh sẽ tuỳ thuộc thanh tịnh để đựơc thanh tịnh . Nó không nhất định tốt - xấu - dài - ngắn - nhơ- sạch - trong hay ngoài thân , tùy hành động tư tưởng từng con người mà chuyển biến theo . Cầu nguyện thì bắt buộc vào khóa lễ nào cũng Chí tâm " Đảnh Lễ " .Chí tâm là chú tâm chưa hẳn đã " Nhất tâm " tức là một lòng chí nguyện . Đảnh lễ ai ? Đảnh lễ những ông Phật Tàu Phù sau này :

    -Chí tâm đảnh lễ : Nam mô tận hư không , biến pháp giới , quá , hiện , vị lai Thập phương chư Phật , Tôn pháp , Hiền - Thánh - Tăng , thường trú Tam - Bảo . ( 1 lạy ) O

    -Chí tâm đảnh lễ : Nam mô Ta bà Giáo chủ Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật , Đương lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật , Đại Trí Văn - Thù Sư Lợi Bồ Tát , Đại Hạnh Phổ - Hiền Bồ Tát , Hộ Pháp chư tôn Bồ Tát , Linh - Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát .(1 lạy ) O .

    -Chí tâm đảnh lễ : Nam mô Tây phương cực lạc Thế giới đại từ , đại bi A - Di -Đà Phật , đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát , Đại Thế Chí Bồ Tát , Đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát , Thanh Tịnh Đại hải chúng Bồ Tát . ( 1 lạy ) O .


    Tịnh độ không bao giờ quên mời Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật đứng ra làm ô dù che cho những ông Phật Tàu Phù từ 9 tầng mây phải cúi lạy , cầu nguyện mới đựơc về Tây phương . Con đừơng chân lý của đạo Phật là muốn cải thiện Xã hội, Quốc gia trước tiên phải cải thiện con người. Muốn cải thiện con người , đầu tiên phải cải thiện tư tưởng. Như vậy tư tưởng mới sanh ra ngôn ngữ và hành động con người thanh tịnh thì chính cõi Ta-bà này đã thành tịnh độ rồi, hay thế giới này chính là thế giới Cực Lạc thì cần chi phải cầu nguyện để về cõi Tây phương nào cho xa xôi . Đây là một ẩn dụ để dẫn dắt kẻ thấp trí tu tập ban đầu , nhưng dần dần các Cao tăng thấy chúng sanh sau khi đựơc an lạc là đang ở cõi Tịnh Độ mà không biết , nên vẫn lừa dối , hứa hảo huyền cứ nhắm mắt cầu thêm mới đến cõi an lạc và Tịnh Độ . Có như vậy họ mới nắm đựơc linh hồn người Phật tử (giống như Vatican nắm linh hồn con chiên ) để thống trị , trục lợi trên hai phương diện vật chất lẫn tinh thần . Vì vậy không bao giờ Tịnh Độ muốn cho chúng sanh giải thóat như giáo điều Đức Phật Thích Ca dạy giải thóat . Họ muốn kìm kẹp để thống trị kẻ muốn cúi đầu cam tâm xin làm nô lệ .

    Những Phật tử theo phái Đại thừa - Tịnh độ là những người ước mơ sanh về cõi Cực Lạc ( bao gồm những tu sĩ )mà miệng vẫn nói ác, nói đâm , nói móc , tâm vẫn tham, sân , si hờn giận đủ điều , quả thật là trái lẽ . Nhưng họ vẫn làm , bằng chứng là dùng mọi truyền thông hiện đại tân tiến ngày nay để chửi bới nhau do cạnh tranh buôn bán băng giảng pháp DVD từ trong nước kéo ra tới hải ngọai .

    Họ không nắm điều căn bản là : "Người Phật tử chân chánh không mơ ước gì hơn, ước mơ con người mình được thanh tịnh, không tranh đấu nào bằng tranh đấu với phiền não ở nội tâm. Thắng được phiền não, toàn thân đều thanh tịnh, thế là vạn vật tùy tâm, sống một cuộc đời tự do tự tại." Họ lo đấu tranh chính trị , sách động đình công , bãi thị tại nhà , đấu tố bôi bẩn lẫn nhau vì chuyệnh kinh doanh băng đĩa . Vậy thì tu chỗ nào ? Họ giống như con Bạch Tuộc hút máu đồng lọai . Một vòi lừa dối hút máu Phật tử , vòi khác hút máu bạn đồng tu do cạnh tranh buôn bán DVD , còn vòi kia đưa ra tận hải ngọai vuốt váy Ỷ Lan , sờ quần Võ Văn Ái để cầu danh lợi . Vậy thì họ đã thấy đức thanh tịnh là căn bản của người tu Phật chưa ? Chẳng những căn bản chính gốc của người tu, mà đức thanh tịnh cũng là cội nguồn của một xã hội văn minh loài người cần phải có , chứ không lừa gạt , buôn Thánh bán Thần như Đại thừa - Tịnh độ ngày nay . Còn Phật tử đi chùa, lễ Phật nghe kinh mà không áp dụng triệt để đức thanh tịnh vào đời sống của mình, chỉ lo sau khi tụng bài kinh cầu an , sám hối ...... rồi xúm nhau ăn , mang thức ăn còn lại cùng hoa quả về nhà , tụ tập khoe khoan quần áo , kiếm chuyện đâm thọc , nói xấu nhau , kể chuyện dâm dật ( nhất là nữ giới , kể cả ni cô ) . Thật là phản bội trắng trợn với tên Phật tử mà họ đang khoác trên mình .

    Nếu qúy thầy và Phật tử ai cũng hiểu hai chữ TINH TẤN thực nghĩa của nó thì tốt biết bao :

    -Tinh : là chuyên cần , thuần thục .

    -Tấn : là tiến tới.

    “Tinh tấn” là chuyên cần tiến tới theo một chiều hướng tốt đẹp, lợi ích, sáng suốt và an vui , hạnh phúc .Nhưng họ xuất gia tu mà không làm như thế , không bao giờ muốn TINH TẤN vì biết tinh tấn là sẽ nghèo khổ , đói rách phải ra lao động . Chúng tu vì lợi nhuận , thầy thì lo lừa đảo để trục lợi Phật tử , Phật tử thì lừa thầy cầu nguyện Phật để mua may bán đắt , giàu sang phú quý , nghĩa là có qua có lại mới toại lòng nhau , hai bên đều có lợi . Chúng chính là những tội phạm giết chết CHÂN LÝ Như Lai .

    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  20. #40
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Trong các tạng kinh điễn Tiểu Thừa làm gì có chuyện đức Phật Thích Ca giới thiệu thêm một vị Bồ Tát rất thân cận với tất cả chúng sanh nơi cõi Ta Bà đã chứng đắc tri kiến của Phật mang pháp hiệu là Quán Thế Âm. Kinh Pháp Hoa chỉ ra đời 600 năm sau khi Phật tịch diệt thì làm sao có chuyện Phật giới thiệu Quán Âm khi Ngài còn tại thế?Đó là điều mâu thuẩn trong kinh Pháp Hoa.
    Sự diễn giải danh từ Quán Thế Âm là quán sát tiếng kêu thương đau khổ của chúng sanh trong cõi Ta Bà và Phổ Môn là thị hiện sức diệu dụng thần lực của Diệu Pháp khắp muôn nơi để hóa độ. Như vậy nếu có Quán Âm thật thời đó thì Ngài Thích Ca cũng không giới thiệu và cổ xúy bao giờ. Vì Ngài chủ trương tự giải thoát thì làm sao giới thiệu cho một vị Bồ Tát đưa giáo lý , đường lối đối nghịch với Thích Ca là cúi đầu cầu nguyện đầy bi quan yếm thế . Vì cầu nguyện, van xin hay ước nguyện là một trạng thái tâm lý mong mỏi một điều gì đó sẽ được thực hiện, sẽ được thành tựu hay diễn ra theo chủ ý của người mong đợi đang cầu xin mà lòng tham không bao giờ có đáy . Nó phản ánh một thái độ mong chờ một sự kiện diễn ra theo chủ ý của người có ước mong điều mà Ngài Thích Ca không bao giờ đồng ý sự van xin , dựa dẩm vào người khác như thế. Cũng vậy , cầu nguyện có thể trở thành một trạng thái tâm lý THAM LAM tức mong muốn tất cả về cho cá nhân mình cùng gia đình , người thân mình, đó là một trạng thái tâm lý ÍCH KỶ mong cho mình được điều lợi ích, an lạc và hạnh phúc khi phải van xin người khác. Nó sẽ đánh mất tinh thần tự tin , độc lập và tinh tấn để vươn lên. Khi nghe Phẩm Phổ Môn nói :"Người nào nếu như chuyên trì danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm thì không bị tai nạn như: không bị lửa cháy, không bị nước cuốn trôi, không bị quỷ dữ làm hại, không bị đánh đập giết hại, không bị La Sát sát hại, không bị xiềng xích gông cùm, không bị nạn cướp." quả là một lời hứa bánh Vẽ rất hợp với lòng tham con người , nhất là giới thấp kém.

    Phẩm Phổ Môn là chủ yếu đánh vào tâm lý con người gục ngã mạnh nhất trong bộ kinh Pháp Hoa. Đây là tâm điểm mà đề cương Pháp Hoa đang chủ trương cần nói đến.Thông thường các ước mong của cầu nguyện phần lớn đều hướng về tư lợi, tư hữu, cho cái ta và cái ta sở hữu , chứ ít khi vì tập thể , cọng đồng , nhân loại. Cầu nguyện để có tính cách vị tha của mục tiêu mong ước là rất hiếm trên cỏi đời này . Ở đây, sự cầu nguyện hướng đến phúc lợi và hạnh phúc của người khác, mong điều vui , an lành đến với xã hội loài người, hoàn toàn không có , nếu có chăng thì cũng nhằm mục đích " xỏ xiên " đấu tranh về mặt chính trị. Điều này GHPGVNTN hay mượn con đường cầu cho Việt Nam Quốc Thái Dân An , nhưng lòng thật thì không có mà muốn xáo trộn , lật đổ CSVN độc tài thì đúng hơn. Phát triễn quan điểm cầu nguyện chân chánh là đầu mối của tất cả hành vi đạo đức đem lại lợi ích cho bản thân và tha nhân không bao giờ xảy ra , hoàn toàn là những Phật tử , tu sĩ cầu cho mua may bán đắc , nhiều người đến chùa để cúng dường Tam Bảo ,chùa thật lớn , cầu làm quan to chức lớn , thậm chí cầu làm sao được giải Nobel danh tiếng với đời.

    Có ai đạt được những điều mà phẩm Phô Môn dạy như vậy chưa? "Chúng sanh nào nhiều tham dục, sân hận, ngu si nếu như thường niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm thì được dứt sạch. Hơn nữa người nào muốn cầu con trai hay cầu con gái thường lễ lạy cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm thì được như ý muốn." Lòng tham dục, sân hận, ngu si vốn là bản ngã bất biến của con người thì ai dại cầu cho dứt sạch , nếu thế thì cầu cho cửa cao nhà lớn , con cháu hạnh phúc đầy đàn còn chi là cần thiết. Với một giá có chỉ tiêu rõ ràng :nếu ai muốn cầu con trai hay cầu con gái phải thường lễ lạy cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm cho đến sói đầu chưa hẳn đã có được. Biết bao nhiêu người vì nhẹ dạ nghe lời các Thầy tu mà tiền mất tật lưa. Khoa học ngày nay , may ra làm được những điều ước muốn con trai , gái như vậy qua thụ tinh nhân tạo . Những bậc trí thức thì hiểu biết , nhưng thành phần vô minh tin lầm vẫn không thiếu . Đọc qua những trang báo trong nước nói về sự vô minh như :

    " Lao Động, Tuổi Trẻ v...v...ai cũng thấy hình ảnh mỗi ngày có đến hàng trăm nguời từ ba miền đổ xô về Trường Định để "uống nuớc Thánh ở giếng ông Hảo". Những người dân ấy, gần hết là Phật tử chỉ có một thiểu số theo "đạo ông bà". Tất cả họ đều thuê bao những chuyến xe từ Sài Gòn, từ bên kia đeo Hải Vân tranh nhau đến giếng ông Hảo từ lúc tờ mờ sáng, vì đến trể phải sắp hàng chờ đợi lâu hơn. Nhìn hình ảnh của những nguời dân mê tín dị đoan này, tay cầm nhang, đèn, miệng khấn vái, rồi chổng mông cúi đầu xì xụp lạy cái "giếng ông Hảo" rồi xin phép "Thánh" cho múc nước, uống xong còn múc đem về cho những nguời thân để uống nữa. Khi các nhà báo đến hỏi, họ đều nói là đã uống trước, đã hết bệnh ung thư, hết bệnh tiểu đường v...v... Họ cũng nói họ đã bỏ cả công việc làm ăn để từ trong Sài Gòn, từ ngoài Bắc, từ Huế vượt đèo Hải Vân để vào Trường Định "xin nuớc Thánh". Còn những người dân địa phương thì cho biết, mỗi ngày, mỗi người đã bán được hơn một trăm bó nhang (hương) và rất nhiều những chiếc bình nhựa, để cho khách thập phương chứa nước đem về cho gia đình. Ngoài ra, những người dân địa phương cũng bán được rất nhiều thức ăn, thức uống. Và cho đến hôm nay những người Phật tử tứ phương này hàng ngày vẫn nối tiếp nhau xếp hàng "xin nước Thánh giếng ông Hảo".

    Vậy thì sự mê tín của những tầng lớp vô minh bao giờ cũng đa số , cho nên cầu nguyện Quán Thế Âm để hứa đủ mà không bao giờ có. Quán Âm còn sống , còn được nhiều người sùng bái thì Đại Thừa - Tịnh độ còn tồn tại và phát triễn thì cái gông nô lệ của Tàu Phù vẫn còn đè nặng trên đôi vai chúng sanh . Chỉ có trí tuệ mới đánh thức và giải phóng con người , không ai khác hơn là giáo lý giải thoát , giác ngộ của Thích Ca mới là liều thuốc chữa được những mê tín dị đoan cùng sự cầu nguyện mà Đại thừa gieo rắc và ôm chặc suốt mấy ngàn năm nay.

    Những Phật tử nào có quan điểm chân chánh , một lòng vì chân lý Thích Ca cũng nhìn thấy được phương diện khác của cuộc đời là trạng thái hạnh phúc , an lạc là hoàn toàn tự bản thân chúng ta. Mọi sự mê lầm , bị đầu độc bởi Đại thừa qua kinh Pháp Hoa là do sự vắng bóng an lạc , tự tin ở chính mình , để cho các khổ đau sinh lý nhưng bị ma vương dụ dỗ , lèo lái đi vào con đường mê tín , nguyện cầu . Để đạt được an lạc này, không thể cầu xin một đấng Thần linh , Phật Thánh nào ban giáng hay trao đổi bằng tiền bạc, danh vọng, chức sắc, trái lại chỉ có phát triển trí tuệ chân chánh của Ngài Thích Ca mới mang lại cho chúng ta an lạc , hạnh phúc thật sự và bền lâu.

    Để phòng hờ khi những phương pháp "Chơn Quán, Thanh Tịnh Quán, Quảng Đại Trí Huệ Quán, Bi Quán và Từ Quán" đã trình bày trong phẩm Phổ Môn , những cách tu tập thiền quán để niệm Bồ Tát Quán Thế Âm không được hữu hiệu , các Thầy Đại thừa mới đưa ngón đòn khác là hành trì những phương pháp thiền quán để niệm Bồ Tát Quán Thế Âm dễ dàng nhứt , phổ thông nhất mà bất cứ hạng người nào cũng có thể hành trì, đó là pháp môn "Thường niệm thường chiêm ngưỡng". được giải thích như sau :

    Thường Niệm Thường Chiêm Ngưỡng nghĩa là đi đứng nằm ngồi luôn luôn niệm tưởng đến danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm và hai buổi sớm chiều phải thường xuyên chiêm ngưỡng lễ bái hình tượng Bồ Tát để cầu nguyện. Hành giả thường xuyên hành trì như thế đến khi nào giao cảm được Bồ Tát Quán Thế Âm là khi đó hạnh nguyện được viên thành. Phương pháp tu tập này dành cho những hạng sống trong những hoàn cảnh khó khăn ngang trái để gieo duyên với Bồ Tát Quán Thế Âm trong sự tín tâm kiên cố. Hành giả hành trì phương pháp này nếu như không có tín tâm kiên cố thì không thể thành quả dễ dàng trong sự cầu nguyện. Tín tâm kiên cố nghĩa là đặt trọn đức tin vào sự cầu người không có chút nghi ngờ trong đó thì sự giao cảm giữa những người cầu nguyện và tâm nơi Bồ Tát tiếp nhận một cách không ngăn ngại."

    Điều mà Tịnh độ vẫn chưa nắm chắc phương pháp "Thường niệm thường chiêm ngưỡng" không thể đoán trước sự thành quả của những lời cầu nguyện; Phật tử chỉ biết được khi nào những lời cầu nguyện đó đạt đến những điều linh nghiệm trong sự bất ngờ thì có ai bắt bẻ hay mất tin tưởng bởi những câu thòng như vậy không? Chỉ có Đại thừa - Tịnh độ mới trả lời và biết được và họ sẵn sàng bẻ cong và trả lời : " Vì tín tâm kiên cố chưa đúng." . Thế là êm xuôi .

    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



Page 2 of 14 FirstFirst 123456789101112 ... LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 2 users browsing this thread. (0 members and 2 guests)

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •