Page 14 of 14 FirstFirst ... 4567891011121314
Results 261 to 264 of 264

Thread: Chân Lý Thích Ca.

  
  1. #261
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Đại Thừa Trung Hoa rất tự hào về Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm Kinh là một trong các kinh căn bản và phổ thông của Phật Giáo Ðại Thừa , thường được đặt trong các bài kinh trì tụng hàng ngày . Bài kinh nầy là một trong các kinh của bộ Bát Nhã kết tập tại Ấn Ðộ qua bảy thế kỷ, từ năm 100 T.C.N. đến 600 C.N. Khi được truyền sang Trung Hoa, Tâm Kinh này đã được nhiều vị cao tăng Trung Hoa chuyển dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Hán và ngày nay Việt Nam dịch từ Hán văn ra Việt ngữ .
    Trung Hoa cho rằng thời Đức Thế Tôn cũng đề cập và giảng dạy đệ tử nhiều lần . Thật ra đây là một sự gán ép , chấp nối một cách lộ liểu mà tôi sẽ lần lược phân tích sau . Vì giữa hai giáo lý hoàn toàn trái ngược như dầu và nước không bao giờ hòa tan được .
    Trước tiên tôi phân tích và giảng nghĩa kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa của Đại Thừa :

    -
    oo0oo

    Bản tụng Hán Việt:

    Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách.
    Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị.
    Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.
    Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức.
    Vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới.
    Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận.
    Vô khổ, tập, diệt, đạo.
    Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố.
    Bồ đề tát đõa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn.
    Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề.
    Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.
    Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:
    Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.
    -

    -ooOoo-

    Bản dịch nghĩa:-


    Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu về trí tuệ Bát Nhã Ba la mật, thì soi thấy năm uẩn đều là không, do đó vượt qua mọi khổ đau ách nạn.
    Nầy Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc, sắc chính là không, không chính là sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều như thế.
    Nầy Xá Lợi Tử, tướng không của các pháp ấy chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt.
    Cho nên trong cái không đó, nó không có sắc, không thọ tưởng hành thức.
    Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý. Không có sắc, thanh, hương vị, xúc pháp. Không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới.
    Không có vô minh,mà cũng không có hết vô minh. Không có già chết, mà cũng không có hết già chết.
    Không có khổ, tập, diệt, đạo.
    Không có trí cũng không có đắc, vì không có sở đắc.
    Khi vị Bồ Tát nương tựa vào trí tuệ Bát Nhã nầy thì tâm không còn chướng ngại, vì tâm không chướng ngại nên không còn sợ hãi, xa lìa được cái điên đảo mộng tưởng, đạt cứu cánh Niết Bàn.
    Các vị Phật ba đời vì nương theo trí tuệ Bát Nhã nầy mà đắc quả vô thượng, chánh đẳng chánh giác.
    Cho nên phải biết rằng Bát nhã Ba la mật đa là đại thần chú, là đại minh chú, là chú vô thượng, là chú cao cấp nhất, luôn trừ các khổ não, chân thật không hư dối.
    Cho nên khi nói đến Bát nhã Ba la mật đa, tức là phải nói câu chú:
    Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.
    (Qua rồi qua rồi, qua bên kia rồi, tất cả qua bên kia rồi, giác ngộ rồi đó!)
    -ooOoo-

    Câu nhấn mạnh và cốt lõi của Tâm kinh là muốn nói lên bản chất của vạn vật :

    XÁ LỢI TỬ! THỊ CHU PHÁP KHÔNG TƯỚNG, BẤT SANH DIỆT, BẤT CẤU BẤT TỊNH, BẤT TĂNG BẤT GIẢM

    Nầy Xá Lợi Phất! Tướng không của các pháp, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt.

    Chữ KHÔNG trong Phật giáo không có nghĩa là KHÔNG CÓ , nghĩa là CÓ mà KHÔNG thấy cho nên tưởng là KHÔNG (có ) . Ví dụ :Nhìn vào ly nước mắt trần không thấy gì cả , nhưng dùng kính hiển vi sẽ thấy hàng triệu vi khuẩn , vi trùng đang sống trong đó . Nhìn vào bầu trời thấy toàn màu xanh , nhưng dùng kính soi vào chậu nước sẽ phản chiếu ra nhiều màu khác .

    Pháp vốn nó cũng có tánh và tướng . Vì Pháp là do đầu óc con người tìm ra nó thì cũng sẽ được thêm bớt , sanh diệt hay sạch nhơ tùy theo từng cá nhân hành xử . Chứ không như lời kinh cho rằng :"Tướng không của các pháp, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt." Pháp được loan truyền , phổ biến là do con người mà ra thì chắc gì không thêm bớt , sanh diệt cùng mang lời sạch nhơ khi diễn đạt .

    Đại Thừa nhầm lẫn khi không hiểu hay cố tình đi ngược lại chân lý của Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni . Vì giáo lý của Ngài tu để giải thoát chứ không cầu vãn sanh mà chính Kinh Bát Nhã đã mượn câu chú của Như Lai để đưa vào ở đoạn kết đưa vào kinh :

    Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha .

    Giải thoát , giải thoát, qua bờ bên kia , qua bờ bên kia , hoàn toàn giải thoát .
    Giáo lý của Đức Phật dạy tất cả các Pháp , các vạn vật điều là VÔ THƯỜNG . Trong thế gian , vũ trụ này không có gì là bất diệt , bất tăng , bất giảm như kinh Bát Nhã đề cập . Không ai có thể bước giống nhau hai lần trên một giòng sông . Trên làn da vạn vật trong mỗi phút có hàng triệu tế bào chết đi và mọc lên lớp khác . Vì thế mọi vật mới lớn lên và già nua .Nghĩa là phát sinh từ cái khác nào đó và chuyển biến thành cái khác nào đó. Không một vật nào tồn tại độc lập, không vật nào thường còn mãi mãi .Ý nghĩa tối trọng của vô thường được làm sáng tỏ nếu chúng ta nhớ đến những lời cuối của Phật:
    "Hoại diệt là bản chất của chư hành, hãy cố gắng hết lòng."
    (pi. vayadhammā saṃkhārā, appamādena sampādethāti).

    Pháp cũng có tánh và tướng . Vậy thì tất cả các pháp là vô thường và chúng phải lệ thuộc vào luật vô thường như như Đức Bổn sư đã dạy .

    Những nhà nghiên cứu Triết học uyên thâm về đạo Phật sẽ trả lời rằng:

    "Luật vô thường do các nhà sáng lập tôn giáo nêu ra đều có liên quan đến luật Nhân quả, chúng không thể tách rời nhau được, bởi vì không có vật gì trong thế giới hiện tượng có thể tồn tại mà không do các nguyên nhân khác hợp lại thành. Ngay trong cái tên giả định, ngụ ý sự phát sinh và hủy diệt trong cùng một phương cách chính xác."
    Vì thế, đức Phật đã dạy trong kinh Đại Bát-niết-bàn (Mahāparinirvāṇasūtra):

    “Các ông nên biết! bất cứ cái gì tồn tại đều phát xuất từ nguyên nhân và điều kiện trong mọi phương diện vô thường”.


    Trong kinh Pháp Cú (bản kinh Pāli) nói:

    “Trong bầu trời không có biển cả mênh mông, không có hang động núi lớn, một nơi như thế không thể có sự sống, nơi mà con người có thể trú ẩn và không ai có thể vượt qua sự chế ngự bởi cái chết”.

    Trong Triết học Phật giáo gọi là “sanh diệt vô thường”, nguyên lý này theo quan điểm Phật giáo là bất cứ sự thay đổi nào của vạn vật đều sanh diệt không ngừng trong từng khoảnh khắc. Thế mà Kinh Bát Nhã lại cho là "Bất sanh-Bất diệt-Bất cấu -Bất tịnh-Bất tăng-Bất giảm v.v.." là sai .

    Cũng như khi Đức Phật nhập Niết-bàn, Trời Đế Thích than rằng:

    “Các hành là vô thường, Có sanh phải có diệt. Ðã sanh, chúng phải diệt, Nhiếp chúng là an lạc” .

    (Kinh Ðại bát Niết-bàn, Kinh Trường Bộ số 16).

    Nói tóm lại những gì Đại Thừa chấp vá , thêm bớt vào kinh giác ngộ Thích Ca chỉ là để lấy số nhiều như lá rừng , nhưng giá trị và ý nghĩa không mang lại một lợi ích cho chúng sanh tu tập . Đồng thời tiếp tục phá rối , bôi nhọ giáo lý sáng ngời của Ngài Thích Ca mà thôi .
    Điều này chứng minh rằng tạnh kinh Bát Nhã của Đại Thừa là sai khi so sánh giáo lý giác ngộ- Giải thoát của Đức Bổn Sư Thích Ca mà Đại Thừa cố bám víu và chấp vá lại mang tên Phật giáo .




    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  2. #262
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    12,844
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Quote Originally Posted by ChanhPhap84 View Post
    Đại Thừa Trung Hoa rất tự hào về Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm Kinh là một trong các kinh căn bản và phổ thông của Phật Giáo Ðại Thừa , thường được đặt trong các bài kinh trì tụng hàng ngày. Bài kinh nầy là một trong các kinh của bộ Bát Nhã kết tập tại Ấn Ðộ qua bảy thế kỷ, từ năm 100 T.C.N. đến 600 C.N. Khi được truyền sang Trung Hoa, Tâm Kinh này đã được nhiều vị cao tăng Trung Hoa chuyển dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Hán và ngày nay Việt Nam dịch từ Hán văn ra Việt ngữ.
    Trung Hoa cho rằng thời Đức Thế Tôn cũng đề cập và giảng dạy đệ tử nhiều lần. Thật ra đây là một sự gán ép , chấp nối một cách lộ liểu mà tôi sẽ lần lược phân tích sau . Vì giữa hai giáo lý hoàn toàn trái ngược như dầu và nước không bao giờ hòa tan được .
    Trước tiên tôi phân tích và giảng nghĩa kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa của Đại Thừa :

    -
    oo0oo

    Bản tụng Hán Việt:

    Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách.
    Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị.
    Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.
    Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức.
    Vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới.
    Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận.
    Vô khổ, tập, diệt, đạo.
    Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố.
    Bồ đề tát đõa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn.
    Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề.
    Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.
    Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:
    Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.
    -

    -ooOoo-

    Bản dịch nghĩa:-


    Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu về trí tuệ Bát Nhã Ba la mật, thì soi thấy năm uẩn đều là không, do đó vượt qua mọi khổ đau ách nạn.
    Nầy Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc, sắc chính là không, không chính là sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều như thế.
    Nầy Xá Lợi Tử, tướng không của các pháp ấy chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt.
    Cho nên trong cái không đó, nó không có sắc, không thọ tưởng hành thức.
    Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý. Không có sắc, thanh, hương vị, xúc pháp. Không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới.
    Không có vô minh,mà cũng không có hết vô minh. Không có già chết, mà cũng không có hết già chết.
    Không có khổ, tập, diệt, đạo.
    Không có trí cũng không có đắc, vì không có sở đắc.
    Khi vị Bồ Tát nương tựa vào trí tuệ Bát Nhã nầy thì tâm không còn chướng ngại, vì tâm không chướng ngại nên không còn sợ hãi, xa lìa được cái điên đảo mộng tưởng, đạt cứu cánh Niết Bàn.
    Các vị Phật ba đời vì nương theo trí tuệ Bát Nhã nầy mà đắc quả vô thượng, chánh đẳng chánh giác.
    Cho nên phải biết rằng Bát nhã Ba la mật đa là đại thần chú, là đại minh chú, là chú vô thượng, là chú cao cấp nhất, luôn trừ các khổ não, chân thật không hư dối.
    Cho nên khi nói đến Bát nhã Ba la mật đa, tức là phải nói câu chú:
    Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.
    (Qua rồi qua rồi, qua bên kia rồi, tất cả qua bên kia rồi, giác ngộ rồi đó!)
    -ooOoo-

    Câu nhấn mạnh và cốt lõi của Tâm kinh là muốn nói lên bản chất của vạn vật :

    XÁ LỢI TỬ! THỊ CHU PHÁP KHÔNG TƯỚNG, BẤT SANH DIỆT, BẤT CẤU BẤT TỊNH, BẤT TĂNG BẤT GIẢM

    Nầy Xá Lợi Phất! Tướng không của các pháp, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt.

    Chữ KHÔNG trong Phật giáo không có nghĩa là KHÔNG CÓ , nghĩa là CÓ mà KHÔNG thấy cho nên tưởng là KHÔNG (có ) . Ví dụ :Nhìn vào ly nước mắt trần không thấy gì cả , nhưng dùng kính hiển vi sẽ thấy hàng triệu vi khuẩn , vi trùng đang sống trong đó . Nhìn vào bầu trời thấy toàn màu xanh , nhưng dùng kính soi vào chậu nước sẽ phản chiếu ra nhiều màu khác .

    Pháp vốn nó cũng có tánh và tướng . Vì Pháp là do đầu óc con người tìm ra nó thì cũng sẽ được thêm bớt , sanh diệt hay sạch nhơ tùy theo từng cá nhân hành xử . Chứ không như lời kinh cho rằng :"Tướng không của các pháp, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt." Pháp được loan truyền , phổ biến là do con người mà ra thì chắc gì không thêm bớt , sanh diệt cùng mang lời sạch nhơ khi diễn đạt .


    Đại Thừa nhầm lẫn khi không hiểu hay cố tình đi ngược lại chân lý của Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni . Vì giáo lý của Ngài tu để giải thoát chứ không cầu vãn sanh mà chính Kinh Bát Nhã đã mượn câu chú của Như Lai để đưa vào ở đoạn kết đưa vào kinh :



    Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha .

    Giải thoát , giải thoát, qua bờ bên kia , qua bờ bên kia , hoàn toàn giải thoát .
    Giáo lý của Đức Phật dạy tất cả các Pháp , các vạn vật điều là VÔ THƯỜNG . Trong thế gian , vũ trụ này không có gì là bất diệt , bất tăng , bất giảm như kinh Bát Nhã đề cập . Không ai có thể bước giống nhau hai lần trên một giòng sông . Trên làn da vạn vật trong mỗi phút có hàng triệu tế bào chết đi và mọc lên lớp khác . Vì thế mọi vật mới lớn lên và già nua .Nghĩa là phát sinh từ cái khác nào đó và chuyển biến thành cái khác nào đó. Không một vật nào tồn tại độc lập, không vật nào thường còn mãi mãi .Ý nghĩa tối trọng của vô thường được làm sáng tỏ nếu chúng ta nhớ đến những lời cuối của Phật:
    "Hoại diệt là bản chất của chư hành, hãy cố gắng hết lòng."
    (pi. vayadhammā saṃkhārā, appamādena sampādethāti).

    Pháp cũng có tánh và tướng . Vậy thì tất cả các pháp là vô thường và chúng phải lệ thuộc vào luật vô thường như như Đức Bổn sư đã dạy .

    Những nhà nghiên cứu Triết học uyên thâm về đạo Phật sẽ trả lời rằng:

    "Luật vô thường do các nhà sáng lập tôn giáo nêu ra đều có liên quan đến luật Nhân quả, chúng không thể tách rời nhau được, bởi vì không có vật gì trong thế giới hiện tượng có thể tồn tại mà không do các nguyên nhân khác hợp lại thành. Ngay trong cái tên giả định, ngụ ý sự phát sinh và hủy diệt trong cùng một phương cách chính xác."
    Vì thế, đức Phật đã dạy trong kinh Đại Bát-niết-bàn (Mahāparinirvāṇasūtra):

    “Các ông nên biết! bất cứ cái gì tồn tại đều phát xuất từ nguyên nhân và điều kiện trong mọi phương diện vô thường”.


    Trong kinh Pháp Cú (bản kinh Pāli) nói:

    “Trong bầu trời không có biển cả mênh mông, không có hang động núi lớn, một nơi như thế không thể có sự sống, nơi mà con người có thể trú ẩn và không ai có thể vượt qua sự chế ngự bởi cái chết”.

    Trong Triết học Phật giáo gọi là “sanh diệt vô thường”, nguyên lý này theo quan điểm Phật giáo là bất cứ sự thay đổi nào của vạn vật đều sanh diệt không ngừng trong từng khoảnh khắc. Thế mà Kinh Bát Nhã lại cho là "Bất sanh-Bất diệt-Bất cấu -Bất tịnh-Bất tăng-Bất giảm v.v.." là sai .

    Cũng như khi Đức Phật nhập Niết-bàn, Trời Đế Thích than rằng:

    “Các hành là vô thường, Có sanh phải có diệt. Ðã sanh, chúng phải diệt, Nhiếp chúng là an lạc” .

    (Kinh Ðại bát Niết-bàn, Kinh Trường Bộ số 16).

    Nói tóm lại những gì Đại Thừa chấp vá , thêm bớt vào kinh giác ngộ Thích Ca chỉ là để lấy số nhiều như lá rừng , nhưng giá trị và ý nghĩa không mang lại một lợi ích cho chúng sanh tu tập . Đồng thời tiếp tục phá rối , bôi nhọ giáo lý sáng ngời của Ngài Thích Ca mà thôi .
    Điều này chứng minh rằng tạnh kinh Bát Nhã của Đại Thừa là sai khi so sánh giáo lý giác ngộ- Giải thoát của Đức Bổn Sư Thích Ca mà Đại Thừa cố bám víu và chấp vá lại mang tên Phật giáo .


    THERAVĀDA
    PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY


    "Phật Giáo Đại Thừa" hay "Tiểu Thừa" gì cũng xuất thân từ Trung Hoa nốt (Same same hết mà)! Chỉ có Phật Giáo Nguyên Thủy mới là xuất phát từ Ấn Độ cho nên khác xa các Phật Giáo Quốc Doanh của Việt Cộng Tàu Cộng! Sau năm 1975 dưới chế độ XHCN thì hầu hết các thành phần Phật Tử Nguyên Thủy đã bị Việt Cộng tiêu diệt và thay thế bằng các phần tử Ma Cô Quốc Doanh đội lốt Phật Giáo mà thâu! Cho nên lũ hậu sinh khả ố cứ tưởng rằng ở VN chỉ có Phật Giáo Quốc Doanh mà thâu cho nên chúng đem 3 cái tư tưởng Tà Thuyết ra hải ngoại để adua với các thành phần Phật Giáo Nguyên Thủy thì KHÔNG ăn khớp với các Hội Phật Giáo Nguyên Thủyhải ngoại! Chẳng những ở Mỹ mà đa số Phật Giáo Nguyên Thủy đã có mặt khắp năm châu từ Úc Đại Lợi qua tận Âu Châu từ hơn 50 năm nay rùi!

    Phật Giáo Nguyên Thủy
    KHÔNG hề truyền TÀ ĐẠO cho các thế hệ hậu sinh khả ố đi đấu tố người lớnkiếm chiện sĩ nhục các Đạo Tôn Giáo khác với cái lối ăn nói ngạo mạn mất nhân tính VÔ CẢM để tự sỉ nhục văn hóa thuần túy của người Việt! Đơn giãn là các thế hệ sinh hậu sinh khả ố được nhồi nhét tư duy với 3 cái văn chương GIÁO ĐIỀU như những CON VẸT chứ không thể là những nhân tài của đất nước!


    Tốt nhất là nên dùng "trí tuệ" của mình cho đúng chổ!

    -
    Không theo Phật Giáo Đại Thừa - Tiểu Thừa - Tịnh Độ (Phật Giáo Quốc Doanh) để đưa Dân tộc diệt vong và không tiếp tục làm NÔ LỆ cho Hán tộc!

    -
    Không tiếp tay làm tay sai cho bọn NÔ TÀI VIỆT CỘNG để làm nô lệ Hán tộc thêm 1.000 năm nữa!

    -
    Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang Tàu Cộng Vatican Quốc Doanh đô hộ Việt Nam thêm một ngày nào nữa! Chấm hết!


    PHẬT GIÁO
    (CHÍNH LỜI PHẬT THUYẾT)
    VANSARAKKHITA BHIKKHU

    TỲ KHƯU HỘ TÔNG
    2518 – 1974
    PHẬT GIÁO
    (CHÍNH LỜI PHẬT THUYẾT)


    PHẢI NHẬN ĐỊNH PHẬT GIÁO NHƯ THẾ NÀO

    Vấn: Bạch Phật, trên thế gian nầy có rất nhiều tôn giáo, học thuyết, triết luận, môn phái được diễn tả một cách văn hoa, phong phú làm cho các tín đồ ngờ vực hoang mang, không biết chủ trương nào đúng chơn lý, đáng tin cậy.

    Phật đáp:
    Đừng tin theo lời nghe người thuật lại.
    Đừng tin theo truyền thuyết lâu đời
    Đừng tin theo lời khuyên hóa cảnh cáo
    Đừng tin theo những điều ghi chép trong kinh điển.
    Đừng tin theo lời phỏng đoán mơ hồ.
    Đừng tin theo sự khảo sát.
    Đừng tin vì bị thế lực chi phối
    Đừng tin để làm vừa lòng người đồng đạo.
    Đừng tin lời mà kẻ khác cho là đúng chân lý.
    Đừng tin vì lòng tôn kính bậc thầy tổ của mình.

    Chỉ nên tin chắc khi nào mình trắc nghiệm rằng những điều đó không bị lệ thuộc vào tham lam, sân hận, si mê, không phải ác pháp, không gây nên tội lỗi, không bị các bậc thiện trí thức chê trách. Nên sau khi thực hành giáo lý mà thấy mình không được lợi ích, tiến hóa và bị khổ não thì nên xa lánh pháp ấy. Nên chứng nghiệm và xác định rằng điều đó là thiện pháp được hàng thức giả ngợi khen, cố gắng hành theo sẽ mang lại lợi ích an vui. (Kalamasutta Tikanipāda Anguttara Nikāya)


    CHỮA TRỊ CÁI TÂM SÂN HẬN

    Vấn: Bạch Phật, phải điều ngự cái tâm oán hận như thế nào khi bị kẻ khách nhục mạ làm khốn mình?

    Phật đáp: Khi cái tâm muốn rửa hận phát sanh phải cố dập tắt sự oán thù bằng cách niệm tưởng:

    1. Rải tậm từ đến người đó,
    2. Rải tâm bi mẫn đến họ,
    3. Rải tâm xã đến họ,
    4. Bỏ qua không nghĩ đến sự việc đã xảy ra,
    5. Nghĩ rằng cái nghiệp họ gây ra rất dũng mãnh, nó là di sản, là nhân, là dòng dõi (Bandhu), là nơi dung thân. Đã tạo ra nghiệp dữ thì họ phải trả quả chẳng sai. Vậy ta nên xóa bỏ hận thù với người.

    (Aghātavinayasutta số 1 – Pancakauipāda Anguttara Nikāya trang 20).


    PHẬT DỰ ĐOÁN VỀ GIÁO LÝ

    Vấn: Bạch Phật, việc bảo trì, phát triển hay suy đồi của Phật giáo có liên quan với lối sinh hoạt của hàng Tăng Lữ. Vây các Tỳ kheo phải có nhiệm vụ thực hành như thế nào để cũng cố và tránh điều nguy hại?

    Phật đáp: Trong tương lai các thầy Tỳ kheo ưa thích y đẹp, không dùng y pansukula (vải dơ lượm được), không ngụ nơi thanh vắng, thích tụ hợp nhau trong thôn xóm, thành thị và dùng vật dụng không thích hợp. Các Tỳ kheo chỉ tìm khất thực tại nơi nào có cao lương mỹ vị, chẳng tuân theo giới luật. Các Tỳ kheo thích ngụ nơi nào khang trang đẹp đẽ hơn là ngụ nơi rừng núi. Các Tỳ kheo thích chung đụng các Tỳ kheo ni, sa di ni, bỏ dở công phu hành đạo, phạm giới cấm rồi hoàn tục trở thành người thế. Các thầy Tỳ kheo thường tìm cách liên lạc người phục dịch trong chùa để thọ vật dụng và thực phẩm cách đêm. Nầy các Tỳ kheo, các ngươi nên ghi nhớ các điều trên đây để ngăn ngừa những lo sợ trong buổi tương lai về sự suy tàn của Phật Giáo. (Anagatasata số 5 – Pancakauipāda Anguttara Nikāya 1 tạng 20).


    HÀNH TRÌNH ĐÚNG THEO ĐƯỜNG LỐI CỦA PHẬT

    Vấn: Bạch Phật, thầy Tỳ kheo tu trong Phật giáo phải công phu rèn luyện thế nào mới xứng đáng là nhiệt thành với chánh pháp?

    Phật đáp: Thầy Tỳ kheo trong Phật giáo phải ghi nhớ điều nầy: “Sutta geyyākasaana gathāudāna itivuttaka jataka abbhā tadhamma”.


    Những người phí lãng thời giờ, không kiên trì tu học, tâm trí không yên tĩnh chẳng nghĩ đến pháp đó. Dù học nhiều nhưng không chứng nghiệm chân lý, người đó cũng không an trú trong pháp.

    Thầy Tỳ kheo chuyên môn ưa thích thuyết pháp mà mình đã được nghe và học lại, nhưng không hành đạo làm cho tâm yên lặng, là người giỏi khoa ngôn ngữ nhưng cũng không gọi là người án trú trong pháp.

    Thầy Tỳ kheo có công nghiên cứu kinh pháp đã được học nhưng không chịu trao dồi nội tâm yên lặng, cũng chẳng gọi la người an trú trong pháp.

    Như vậy, thầy Tỳ kheo trong Phật Pháp cần phải ghi nhớ kệ ngôn trên đây, không bỏ phí thì giờ, ngày đêm tu tập làm cho tâm yên lặng, tìm nơi thanh vắng, dưới cội cây, trong thạch động, nơi nhà trống, chăm chú trong thiền định, tẩy trừ phiền não để thành đạt sự an tĩnh nội tâm mới đáng gọi là người trụ trong Phật huấn.

    (Dhammavi Harikasutta 1 Dutiyapannāsaka Pañcakanipada Anguttara Nikāya – tạng 20)


    ĐẠO ĐƯA ĐẾN NƠI DỨT KHỔ

    Vấn: Bạch Phật, thầy Tỳ kheo an trú nơi Pháp rồi cần phải hành đạo theo thứ tự qui tắc nào để mau dứt khổ?

    Phật đáp: Thầy Tỳ kheo an trú nơi pháp rồi cần phải ngụ nơi rừng vắng dưới cội cây, trong hang đá, nơi nhà trống ngồi kiết già, thân hình ngay thẳng, chú tâm về phía trước cố gắng tẩy trừ tham dục, oán hận, hôn trầm, tương niệm về ánh sáng, ghi nhớ biết mình, diệt phóng tâm, hoài nghi..v..v. Đó là 5 pháp cái gọi là phiền não nội tại cần phải loại trừ để đắc sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Khi nhập định, tâm trở nên yên tĩnh sáng lạn, dịu dàng không bị lay chuyển nổi, để trở nên thuần thục, hủy diệt lậu phiền não (Āsavakkha). Hành giả nhận định đúng theo chân lý như vầy: Đây là sự khổ - Đây là nguồn gốc sự khổ - Đây là phương châm diệt khổ - Đây là lậu phiền não – Đây là nhân sanh lậu phiền não- Đây là tư cách tẩy trừ lậu phiền não và đây là đường lối loại trừ lậu phiền não.
    Thấy rõ như vậy, thầy Tỳ kheo biết mình đã giải thoát ra khỏi dục lậu phiền não (Kamāsava) khỏi mạng lưới vô minh lậu phiền não (Avijjasava) khỏi hữu lậu phiền não (Bhavasava).

    Khi tâm được tự do giải thoát rồi thì phải sanh trực giác (Nāna), biết rằng mình chỉ còn kiếp này thôi, đời phạm hạnh đã hoàn tất, đã đến mục đích cuối cùng, chẳng còn bị ràng buộc bởi bất cứ việc gì trên cõi thế và biết mình đã toàn thắng. (Yodhājivasutta số 1 Pañcakanipada Anguttara Nikāya- tạng 20).


    PHƯƠNG PHÁP CẢI HÓA NHỮNG ĐIỀU LẦM LỖI

    Vấn: Bạch Phật, bằng nhiều trường hợp vì ngu dốt, vì nhu cầu, kẻ đã gây ra nghiệp dữ do thân khẩu ý, chẳng biết thế nào là phải hay quấy, phải làm thế nào tự cải hóa để trở nên cao thượng?

    Phật đáp: Những thiện nam tín nữ tại gia hoặc tu sĩ xuất gia nên quán tưởng luôn luôn như vầy: “Ta phải chịu hậu quả của cái nghiệp mà mình đã tạo. Nó là di sản, là dòng dõi, là vật vây hãm ta. Gây ra nghiệp lành hay dữ chính ta phải mang hậu quả chẳng sai.”

    Nầy các Tỳ kheo, kẻ nào quán tưởng xuyên về hành vi bất chánh tội lỗi của mình cho đó là xấu xa, đê tiện, nguy hại cho bản thân, thì lần lần làm suy giảm ác tính hoặc tận diệt nó. (Trānasutta Pancakanipāda Anguttara Nikāya – tạng 20).


    ÍCH LỢI CỦA SỰ ĐI KINH HÀNH

    Vấn: Bạch Phật, có nhiều cách làm cho tâm yên lặng và việc đi kinh hành là một. Vậy thầy Tỳ kheo đi kinh hành được lợi ích chi?

    Phật đáp: Quả báu của sự đi kinh hành có 5:

    1. Hành giả có sự kiên nhẫn khi đi đường xa.
    2. Hành giả trở nên nhẫn nại tinh tấn
    3. Người ít có bệnh hoạn
    4. Làm cho thực phẩm dễ tiêu hóa
    5. Thiền định được duy trì lâu ngày
    (Cankamusutta Padhamapanāsaka Pañca Nipata Anguttara Nikāya số 20)


    VÌ SAO CON NGƯỜI SỢ CHẾT

    Vấn: Bạch Phật, mọi người đều biết cái chết là vô thường không sao tránh khỏi, nhưng vẫn sợ. Vậy do đâu mà người sợ chết?

    Phật đáp:

    1) Lúc sống vì người đời có tâm quyến luyến yêu mến, khát khao trong người và vật thương yêu quen thuộc, cho đó là sở hữu của mình, đến khi lâm bịnh nặng lại nghĩ rằng: “Khổ thay, các vật thân yêu đó sẽ bỏ ta, ta sẽ từ biệt chúng”. Rồi họ đâm ra buồn rầu hối tiếc làm phát sanh nỗi sợ hãi kinh hoàng về sự chết.

    2) Hoặc trước kia họ hằng tưng tiu thân xác mình xem nó là quý trọng, đến lúc gần lâm chung lại nghĩ rằng: “thể xác quý hóa nầy sắp bỏ ta và ta sẽ lìa nó.” Nghĩ vậy nên họ phát lên kinh sợ về cái chết.

    3) Có kẻ khác nghĩ rằng: “Lúc sanh tiền ta đã lỡ gây ra nhiều việc xấu xa tội lỗi, chẳng biết lo làm lành lánh dữ để làm của báu để dành cho kiếp sau.” Lẽ đó họ đâm ra sợ hãi trong lúc gần chết.

    4) Người lại có tánh hoài nghi không tin chánh pháp. Lúc lâm bịnh nặng sắp chết nghĩ rằng: “Trước kia ta quá ngu muội không tin tưởng chánh pháp cao thâm”. Nghĩ vậy người đâm ra âu sầu tủi hổ và ghê sợ cái chết.

    (Maranab-Hayāsutta Catukannipāda Anguttara Nikāya-42)


    PHẢI TÌM CÁCH SANH NHAI NÀO CHO CÓ LỢI

    Vấn: Bạch Phật, trong nghề thương mại, tại sao có người được thủ lợi, kẻ khác lại thất bại lỗ lả?

    Phật đáp: Có người vì hứng thú tìm gặp bậc Sa môn rồi hứa:

    “ Bạch Ngài muốn cần dùng vật chi tôi sẽ dâng cúng.” Nhưng sau đó người lại bỏ qua không giữ lời hứa. Vì vậy, sau khi được tái sanh làm người, sanh hoạt lúc nào cũng bị lỗ lả thiệt thòi.

    Có người hứa dâng cúng đến bậc Sa môn vật này vật nọ, nhưng mang đến món khác vô giá trị; khi thọ sanh làm người muốn thu lợi nhưng buôn bán sút kém không vừa ý mong mỏi.

    Có người dâng cúng đến bậc Sa môn đầy đủ những gì cần thiết không sai hẹn nên kiếp này làm ăn phát đạt theo sở nguyện.

    Có người dâng cúng đến bậc Sa môn nhiều vật dụng dồi dào vượt mức lời hứa khi trước, sanh ra làm người họ sẽ được lợi lộc nhiều hơn sự mong ước trong nghề thương mại. (Vanijjasutta Catunipāda Anguttara Nikāya-19)


    PHỤ NỮ CÓ THỂ HÀNH ĐỘNG NHƯ NAM NHÂN ĐƯỢC KHÔNG?

    Vấn: Bạch Phật, tại sao phụ nữ cũng giỏi dắn khôn ngoan, nhưng làm việc đại sự không được như người nam. Phải chăng họ kém khả năng hay bị người nam cấm đoán?

    Phật đáp: Vì phần đông phụ nữ rất say mê, có tánh sân hận, ganh tị, keo kiết nên không thể dự vào những cuộc thảo luận thông minh đúng đắn.

    (Kammahasytta Catukanipāda Anguttara Nikāya – tạng 19)


    THẾ NÀO MỚI XỨNG ĐÁNG LÀ NGƯỜI HỌC RỘNG?

    Vấn: Đức Thế Tôn thường khen ngợi sự học rộng. Nhưng học nhiều, biết nhiều có đủ không? Và cần phải học thêm điều gì nữa?

    Phật đáp: Trên đời có hạn người học suốt thông pháp: Sutta, geyya, veyya, karana, gāthā, Udana, Itivuttaka, Jataka, Abbhūtadhamma vedalla, nhưng không thấu rõ đúng theo chân lý rằng: đây là khổ, đây là nguyên nhân sự khổ, đây là tu cách diệt khổ và đây là con đường đưa đến dứt khổ. Người đó ví như trời gầm nhưng không mưa (Velahakasutta).

    Người biết gói gém tăng trưởng; biết mình đi tới thoái lui, nhìn xem thay đổi oai nghi v..v.. chỉ làm dáng trong sáng bên ngoài, nhưng không biết rõ đây là khổ và đây là con đường dứt khổ, thì người ấy ví như cái nồi rỗng, không được đậy nắp hoặc như trái xoài chín héo, như chuột làm ổ mà không ở.

    (Micasutta Catakanipāda Anguttara Nikāya – tạng 19)


    PHƯƠNG PHÁP THÀNH ĐẠT TRUNG TÂM ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO

    Vấn: Bạch Phật, chúng con phải tuần tự thực hành như thế nào để tới điểm trung tâm chánh yếu của Phật giáo?

    Phật đáp: Nên luôn luôn tưởng niệm đến Bảy nhân sanh quả Bồ đề (Thất giác chi, Sattabojjanga) để trau dồi trí tuệ.

    Đến bốn pháp niệm căn bản (Tứ niệm xứ, Satipatthāna) làm cho Thất giác chi thêm tấn triển. Ghi nhớ niệm tưởng về hoạt động của thân khẩu ý trong sạch để nâng đỡ pháp Tứ niệm xứ thêm hoàn hảo.

    Chế ngự lục căn cho thanh tịnh và niệm tưởng thường xuyên để hủy diệt tam nghiệp thân khẩu ý. (Kundalyasutta Mahā Vāra Vagga Anuguttara Nikāya – 91).


    TẠI SAO ĐẠO HẠNH BỊ HỦY HOẠI?

    Vấn: Bạch Phật, có thầy Tỳ kheo cố công hành đạo thành đạt cả bốn bậc thiền, thân tâm yên tĩnh, (Cetosammadhi) bỗng nhiên hoàng tục?

    Phật đáp: Có hạng người trong đời khi nương theo thầy tổ cố gắng trau dồi giới đức, trở nên điềm đạm yên tĩnh thoải mái, nhưng bỗng nhiên xa lìa bậc tôn sư, tách rời phạm hạnh, đi chung đụng với Tỳ kheo ni, sa di ni, hoặc kết giao với ngoại đạo….Họ trở nên phóng túng phát sanh tình dục. Khi bị dục tình quyến rũ thì người phải xa lìa giới bổn, xả lớp nâu sống để trở về thế tục. Cũng giống như loàiquên ăn cỏ bị buộc trong chuồng nào ai dám quả quyết rằng thôi ăn cỏ khi được thả ra.

    Cũng có người lánh xa tình dục, trì chí tu hành, xa lìa ác pháp, đắc sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền, nhưng vẫn còn chung đụng với Tỳ kheo ni, sa di ni. Người ấy ví như trời mưa to trên ngã tư đường làm cho bụi bặm tan tác nhưng nào ai dám cho rằng bụi chẳng còn bám trên mặt lộ.

    Hoặc giả vật thực để cách đêm không thỏa mãn sở thích của người quen món cao lương, giờ đây ai dám nói rằng thức ăn đó chẳng vừa miệng người.

    Hoặc giả như đám mưa to làm xao động chuyển tan các loài động vật trong ao hồ, như sò, ốc, hến v.v..v Nhưng nào ai dám cho rằng các loài đó không còn tồn tại trong ao hồ nữa?

    Hay là nước không bị sóng gió lay động, nào ai dám nói rằng hết sóng trong vũng nước?

    Lại nữa, có người có công hành đạo thành đạt trạng thái an tịnh nội tâm (Cetosammadhi) rồi nghĩ rằng mình đã đi đến mục đích tinh thần cao thượng tuyệt vời, có sự yên tịnh vững chắc. Nhưng người lại dễ duôi tiếp xúc với Tỳ kheo ni, Sa di ni, làm hư hại công phu để ruốt cuộc từ bỏ bộ y để trở về thế tục. Cũng như đức vua cùng đoàn hộ giá gồm quân lính, các vị đại thần đi đường xa gặp lúc trời sụp tối vào đóng giữa một khu rừng. Tiếng voi, ngựa, xe, gươm giáo, quan quân vang động ồn ào làm che lấp tiếng kêu của các sanh vật nhỏ nhít như ve, dế, cào cào… Nhưng nào ai dám quả quyết rằng tiếng kêu của những loại thú đó đã biến tan?

    (Cittahatthhisāriputtasutta Chakanipāda Anguttara Nikāya – tạng 21)


    TỘI CỦA SÂN HẬN

    Vấn: Bạch Phật, nóng giận, oán thù có tội lỗi như thế nào? Phải làm cách nào để diệt trừ lòng sân hận?

    Phật đáp: Người đã bị sự nóng giận không chê rồi, dù có tắm rửa sạch sẽ, râu tóc cạo sạch, y phục trắng trẻo thế nào cũng lộ vẻ xấu xí, da mặt xanh xám.

    Người bị tánh sân đè nén rồi đâm ra bực bội, xao xuyến nằm ngồi nơi sang trọng thế mấy cũng không yên, tâm tư sầu khổ, gặp vật gì vô ích cho là hữu ích, gặp việc hữu ích cho là vô ích. Vật gì lọt vào tay người sân hận rồi thì trước sau gì cũng bị hư hoại, mất giá trị, chịu dày vò, khổ sở.

    Người sân hận dù được địa vị quyền tước cao sang cũng có ngày phải suy giảm, các bè bạn thân quyến tìm cách lánh xa.

    Người sân hận dù gian lao cực khổ nhọc nhằn tạo nên tài sản với giọt mồ hôi, nước mắt thì ngày nào đó cũng bị vua chúa hay nhà cầm quyền tịch thâu vào ngân khố quốc gia.

    Người sân hận thường gây việc ác độc – do thân khẩu ý – khi ngũ uẩn tan rã người hằng bị sa vào bốn đường ác đạo (súc sanh, ngạ quỉ, A-tu-la, địa ngục).

    (Kodhānāsutta Satanipada Anguttara Nikāya – tạng 22).


    TÀI THÍ ĐEM LẠI QUẢ BÁO NHƯ THẾ NÀO?

    Vấn: Bạch Phật, khi bố thí, nếu người chú tâm cầu nguyện sẽ được quả báo như thế nào?

    Phật đáp: 1) Người bố thí có tâm mong được quả báo thường nghĩ rằng: “Sau khi chết, ta sẽ được hưởng quả vui nơi cõi trời Tứ đại thiên vương, sẽ được làm bạn với Chư Thiên” nhưng sau khi hết phước họ cũng phải tái sanh lại.

    Vấn: Có hạng người bố thí nhưng chẳng mong cầu quả báo và nghĩ rằng mình chỉ muốn làm điều thiện mà thôi. Như vậy quả báo sẽ ra sao?

    Đáp: 2) Nếu thí chủ không mong cầu quả báo thì tâm không dính mắc trong quả bố thí. Sau khi chết, người được sanh về cõi trời Đạo lợi làm bạn với Chư Thiên và tới khi phước báo chấm dứt thì sẽ tái sanh lại.

    Vấn: Có hạng người bố thí vì thói quen không cần quả, cho việc làm thiện đó là thông thường vậy thôi. Quả của sự bố thí đó sẽ ra sao?

    Đáp: 3) Trên đời có hạng người có tâm bố thí vì truyền thống của ông bà, cha mẹ để lại. Họ nghĩ rằng làm lành là để gìn giữ phẩm giá đức hạnh của tổ tiên nên không cầu quả. Sau khi chết, người sẽ được thọ sanh làm bạn của Chư Thiên trên cõi trời Dạ-Ma và lúc hết phước cũng phải tái sanh lại.

    Vấn: Có hạng người bố thí không cần quả, không nghĩ là việc lành, không theo thói quen, mà có tâm tế độ Chư Tăng sống nhờ của tín thí. Như vậy quả báo sẽ như thế nào?

    Đáp: 4) Có người không noi theo truyền thống thói quen của ông bà cha mẹ mà bố thí. Nhưng nghĩ rằng các bậc sa môn không được phép nấu ăn nên phát tâm trong sạch bố thí cơm nước. Sau khi chết, người làm bạn với Chư Thiên trên cõi trời Đâu xuất và lúc hết phước sẽ tái sanh lại.

    Vấn: Có hạng người bố thí nghĩ rằng bố thí làm cho tâm mát mẻ an vui chớ chẳng nghĩ đến quả báo thì sao?

    Đáp: 5) Có hạng người bố thí không nghĩ rằng mình dư ăn dư để đem của phân phát cho kẻ khác nhưng xét rằng. “Khi ta bố thí muốn phát sanh trí tuệ, muốn thâm tâm được thoải mái hoan lạc”. Họ thí cơm rồi được sanh làm bạn Chư Thiên trên cõi trời Lạc-hóa và khi hết phước sẽ tái sanh lại.

    Vấn: Bạch Phật, người bố thí không muốn quả báo, nhưng thấy rằng bố thí rồi tâm vui thích, rồi thí. Như vậy quả phước sẽ ra sao?

    Đáp: 6) Có người trong giáo pháp nầy không phải bố thí do nghĩ rằng: “Ta sẽ là người bố thí như đạo sĩ thuở trước… Nhưng bố thí do nghĩ rằng: khi bố thí như vầy, tâm sẽ trong sáng, phát sanh ưa thích và hoan lạc… họ thí cơm…hằng sẽ là bạn của Chư Thiên cõi Thư Hóa tự tại và khi hết phước rồi sẽ tái sanh lại.

    Vấn: Có người bố thí nhằm dứt lòng bỏn sẻn để trau dồi thân tâm cho trong sạch, tẩy trừ ô nhiễm thì có quả báo gì không?

    Đáp: 7) Về trường hợp nầy, người thường nghĩ “ta bố thí đây là mong cho tâm trí luôn sáng lạng, hoan hỷ, yên tĩnh là vì lợi khí tô điểm tinh thần.” Bố thí như vậy sau khi chết được sinh vào cõi Phạm Thiên và lúc hết nghiệp, người sẽ không tái sanh lại nữa.

    (Danasutta Sattakanipada Anguttara Nikāya – tạng 22)


    NGĂN NGỪA PHÁT SANH TỘI LỖI

    Vấn: Bạch Phật, có ngườ không dám làm tội vì sợ mang quả khổ. Vậy phải ngăn ngừa tội lỗi phát sanh như thế nào?

    Phật đáp: Trong trường hợp nầy, người nghĩ rằng: “Nếu ta không trì giới, hành động xấu xa đê tiện bằng thân khẩu ý, tức nhiên bị người chê trách chẳng sai.” Vì lo sợ hổ thẹn bị người chê bai nên từ bỏ thân bất chánh ráng rèn luyện cho nó trở nên chân chánh, ý bất chánh trở nên chân chánh, khẩu bất chánh trở nên chân chánh, luôn luôn giữ mình cho trong sạch thanh cao.

    Người lánh xa nghiệp bất chánh do thân khẩu ý và cố tạo nghiệp chánh đáng do thân khẩu ý để khỏi bị người chê trách và làm cho tâm trở nên trong sạch.

    Có người vì thấy kẻ trộm cướp gian manh và bị nhà chức trách bắt được đưa ra hành hạ, đánh đập, tra tấn đủ cách rồi đâm ra sợ hãi, nghĩ rằng: “Nếu ta trộm cấp, cướp bóc thì sẽ bị nhà chức trách trừng phạt nặng nề bằng đủ mọi cách. Vậy ta chớ nên trộm cắp”. Vì sợ quyền thế mà không dám gây ra tội lỗi.

    Có người suy xét rằng: “Nếu ta hành động bất chánh về thân khẩu ý thì sau khi ngũ uẩn tan rã, ắt bị sa đọa vào bốn đường ác đạo”. Vì sợ trả quả khổ như thế nên người cố gắng gìn giữ thân khẩu ý hoàn toàn trong sạch.

    (Bhayasutta số 1 Catukanipada Anguttara Nikāya – tạng 19)


    ĐẠO QUẢ CÓ THỂ ĐẾN CHO NGƯỜI CÒN NHIỀU Ô NHIỄM KHÔNG?

    Vấn: Bạch Phật, người còn nhiều tham dục, sân hận, si mê nhưng mong mỏi đạt thành đạo quả. Cũng có kẻ ít tham sân si muốn mau đắc đạo, làm thế nào?

    Phật đáp: Người có nhiều tham dục hằng thọ khổ. Tham dục làm phát sanh sân hận, khiến người phải thọ khổ. Nhưng cũng có người nhờ ung đúc ngũ căn: đức tin, tinh tấn, trí nhớ, thiền định, trí tuệ, được kiên cố vững vàng nên có thể thành đạt đạo quả vì hủy diệt hết lậu phiền não do ngũ lực của ngũ căn dũng mảnh.

    Có người ít tham dục, ít sân hận bất bình, ít khổ, nhưng nhờ có ngũ căn ôn hòa nên cũng đạt đạo quả, tận diệt phiền não.

    (Patipāda thứ 2 Catukanipāda Anguttara Nikāya, 19)


    PHẢI HÀNH PHÁP THIỀN HAY PHÁP QUÁN NHƯ THẾ NÀO?

    Vấn: Bạch Phật, pháp niệm có hai là Thiền (Samādhi) và Quán (Vipassana) trong hai pháp ấy phải niệm cái nào trước?

    Phật đáp: Thầy Tỳ kheo trong giáo pháp nầy niệm pháp quán có pháp thiền phía trước, hoặc niệm pháp thiền có pháp quấn phía trước, hoặc niệm cả 2 cùng một lúc cũng được. Đạo hằng phát sanh, người thường xuyên niệm đạo đó để tẩy trừ kiết sử [1] tận diệt thụy miên phiền não (Anusaya)[2].

    (Patapadavagga 2 – Catukanipāda Anguttara Nikāya -13)


    Ý NGHĨA CỦA PHÁP BẢO

    Vấn: Bạch Phật, chổ nói pháp chính mình thành đạt rồi hằng phát hiện cho thấy, cho biết tự nơi tâm không chờ ngày, giờ, không chậm trể và chính mình chứng nghiệm lấy có nghĩa là gì?

    Phật đáp: Nghĩa là về xan tham người thấy rõ “Hiện giờ trong ta có xan tham trú ẩn hay chăng”? Về sân hận “Hiện giờ trong ta có sân hận trú ẩn hay không?” Về si mê “Hiện giờ trong ta có si mê trú ẩn hay không?”

    Người cũng biết rõ rằng pháp gồm có xan tham, sân hận, si mê có trú ẩn bên trong hay không. Như vậy pháp mà người đã thấy, đã biết, phát hiện tự nơi tâm, không chậm trễ, không chờ ngày giờ mà bậc trí tuệ phải tự mình chứng nghiệm.

    (Sanditthhikasutta 1 Chakkanipāda Anguttara Nikāya – 21)


    LÀM THẾ NÀO BIẾT ĐƯỢC BẬC THÁNH A-LA-HÁN

    Vấn: Bạch Phật, hàng tại gia cư sĩ làm cách nào để biết được vị Tỳ kheo nào đắc quả A la Hán?

    Phật đáp: Người cư sĩ tại gia sống trong gia đình say mê theo ngũ dục chung sống với con cái, ăn ngon ngủ kỹ, ưa thích vàng bạc, trang điểm son phấn, khi nghĩ rằng vị Tỳ kheo nầy là bậc A la Hán đắc đạo quả, hoặc giả, chẳng tìm thấy ai là bậc A-la Hán nên không muốn bố thí. Như lai khuyên các hàng cư sĩ nên bố thí đến chư Tăng thì sẽ được an vui, tâm trí sáng lạng và sau khi chết sẽ được sanh về cõi Trời.

    (Danikammikasutta Chakkanipada Anguttara Nikāya, tạng 21)


    NGHIỆP, NHÂN CỦA NGHIỆP VÀ PHƯƠNG THỨC DIỆT NGHIỆP

    Vấn: Bạch Phật, nghiệp là gì? Cái chi là nhân của nghiệp diệt nghiệp bằng cách nào?

    Phật đáp: Này các thầy Tỳ kheo, chính tác ý (cetana) là nghiệp. Vì trước khi tạo nghiệp bằng thân, khẩu, ý người ta đã tính toán suy nghĩ rồi. Vậy nhân sanh của nghiệp là xúc và sự khác nhau của nghiệp là cho quả đưa về sáu cõi: trời, người, súc sanh, atula, ngạ quỉ, địa ngục.

    Quả của nghiệp có ba:
    1. Nghiệp cho quả trong hiện tại
    2. Nghiệp cho quả trong kiếp kế cận
    3. Nghiệp cho quả trong các kiếp sau

    Muốn diệt nghiệp quả thì nên loại trừ xúc. Thánh đạo gồm có 8 chi là: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Hành theo Bát chánh đạo phương thức diệt nghiệp.

    Khi các bậc Thinh văn thấu rõ bản chất của nghiệp là thế nào, biết rõ nhân sanh nghiệp, sự khác biệt của nghiệp, đường lối diệt nghiệp; chừng đó bậc Thánh Thinh văn chứng nghiệp rằng mình đã diệt xong phiền não và cuộc đời phạm hạnh đã hoàn tất.

    (Nibhedhikasutta Chakanipāda Aanguttara Nikāya, tạng 21)


    VÌ ĐÂU LẬU PHIỀN NÃO KHÔNG DỨT TUYỆT?

    Vấn: Bạch Phật, do duyên cớ nào tư cách diệt trừ phiền não để đi đến đạo quả rất khó thực hành?

    Phật đáp: Có thấy Tỳ kheo không cố công niệm tưởng, lại mong ước như vầy: “Ôi! Cầu xin cho tâm tôi thoát ra khỏi phiền não và không cố chấp.” Song tâm của thầy Tỳ kheo đó chưa thoát khỏi lậu phiền não và không cố chấp, mà tại sao vậy? Vì vị Tỳ kheo đó không thường niệm. Niệm cái chi?
    Bởi không chú tâm niệm tưởng về:

    Tứ niệm xứ (Satipatthana)
    Tứ chánh cần (Sammappadhana)
    Tứ như ý túc (Iddhipada)
    Ngũ căn (Indriya)
    Ngũ lực (Bala)
    Thất giác chi (Satta Bojjhanga)
    Bát chánh đạo (Atthangikaggama)

    Chẳng khác nào gà mẹ có 8 trứng, 10 hoặc 12 trứng, nhưng gà mẹ không biếp ấp cho thích hợp, thiếu hơi nóng, ấm áp không đều, lại mong rằng: “Ôi! xin cho con tôi mạnh mẽ dùng móng chân, dùng mỏ, phá vỡ mảnh trứng để sớm ra ngoài không khí và được an lành”. Nhưng không thể được, vì gà con rất yếu đuối, không phá vỡ được trứng.

    - Điều này do nhân nào?

    - Bởi gà mẹ ấp trứng không thích hợp, cung cấp thiếu hơi nóng khiến gà con yếu đuối.
    (Bhavānāsutta Sattakanipada Anguttara Nikāya – tạng 21)


    CẢNH TỈNH TÂM TỲ KHEO PHÁ GIỚI

    Vấn: Bạch Phật, người xuất gia trong Phật giáo phạm giới luật vì hạnh kiểm xấu xa đê tiện, phóng túng, giả dối phỉnh gạt người thế để nuôi mạng phải gánh chịu tội lỗi thế nào?

    Phật đáp: Nên thức tỉnh người như vầy: Kẻ phá giới phóng đãng thấp hèn cố tâm giấu lỗi đã tuyên thệ làm sa môn nhưng chẳng xứng đáng là người phạm hạnh, còn nhiều tham dục, thọ vật thực do người dâng đến bằng đức tin của vua chúa hay triệu phú gia, v..v Như vậy có tốt gì đâu.

    Dùng cao lương mỹ vị như thế, khác chi nuốt cục sắt cháy đỏ, đốt môi, đốt lưỡi. Thà nuốt sắc để thiêu hủy môi lưỡi, cổ rồi đốt cháy tới ruột non, ruột già, đốt suốt tới hậu môn còn tốt hơn. Vì kẻ phá giới đó sau khi chết sẽ đọa vào bốn đường ác đạo chẳng sai.

    Người phá giới tâm địa thấp hèn ví như rác rến nhơ bẩn vô dụng, khi dám thọ lãnh vật thực do người có đức tin dâng cúng thì phải chịu khổ lâu đời, sau khi ngũ uẩn rã tan, người phải sa vào ác đạo nhứt là địa ngục.

    (Aggikhandhūpanasāka Sattakanipāda Anguttara Nikāya – tạng 21)


    CHÁNH GIÁO VÀ TÀ GIÁO

    Vấn: Đức UPALI bạch Phật, pháp môn của đức Phật rất dồi dào phong phú nên thường khi cò nhiều tư tưởng, học thuyết của các tôn giáo khác xâm nhập. Vậy làm thế nào để phân biệt đâu là Chánh giáo, đâu là Tà giáo?

    Phật đáp: Này, Upali, người nên biết rằng những pháp nào không đem lại sự chán ngán thế sự, không đưa đến dứt bỏ, an tịnh, thoải mái, không đưa đến giác ngộ, đến Niết Bàn thì chẳng nên chấp nhận. Vì đó không phải là pháp luật chánh đáng, không phải là lời dạy của đức Như Lai.

    Còn pháp nào sau khi thực hành chán ngán thế sự, đưa đến dứt bỏ, đến an tịnh thoải mái, đến giác ngộ, đến Niết bàn thì nên chấp nhận. Vì đó là pháp luật chân chính, là lời giáo huấn của đức Như Lai.


    PHƯƠNG PHÁP LÀM PHÁT SANH TRÍ TUỆ

    Vấn : Sau phương thức thực hành để thành đạt giới và định, còn có điểm căn bản thứ ba làm phát sanh trí tuệ. Vậy phải hành động thế nào cho mau thành tuệ?

    Phật đáp: Đây là 8 nhân và 8 duyên mà bậc phạm hạnh phải ghi nhớ thực hành theo từng giai đoạn để phát sanh trí tuệ:

    1. Thầy Tỳ kheo trong giáo pháp nầy nên tìm học hỏi nương nhờ các thầy tổ hay bạn sa môn xứng đáng có phẩm hạnh thanh cao vững chắc. Đây là nhân và duyên thứ nhất.
    2. Sau khi chọn được thầy tổ hay bạn sa môn xứng đáng rồi, thầy Tỳ kheo phải năng tới lui học hỏi về những điều còn nghi ngờ thắc mắc cho thấu đáo rành rẽ hơn để tránh tan sự hoài nghi. Đây là nhân và duyên thứ hai.
    3. Nghe được pháp rồi, người cố gắng làm cho hai tư cách yên lặng của thân và tâm được đầy đủ. Đây là nhân duyên thứ ba.
    4. Thầy Tỳ kheo hằng thu thúc theo giới bổn, trau dồi hạnh kiểm, ưa thích nơi thanh vắng, biết ghê sợ tội lỗi dù là nhỏ nhen chút ít. Đây là nhân và duyên thứ tư.
    5. Thầy Tỳ kheo là bậc nghe nhiều học rộng, ráng duy trì kiến thức mình đúng theo chánh pháp, là người có chánh kiến, sống theo đời phạm hạnh, thân khẩu ý trong sạch. Đây là nhân và duyên thứ năm.
    6. Thầy Tỳ kheo cố gắng tẩy trừ các ác pháp và trau đồi thiện pháp, là người tiến hóa vững chắc không thoái chuyển và luôn luôn quyết tâm sống theo lẽ phải. Đây là nhân và duyên thứ sáu.
    7. Thầy Tỳ không có tánh hay ngụy biện, không nói lời vô ích, thích nói pháp hoặc nghe pháp của người khách, thường giữ sự im lặng như các bậc thánh nhân. Đây là nhân và duyên thứ 7.
    8. Thầy Tỳ kheo phải quán tưởng cho thấy tư cách sanh diệt và ngã chấp ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Đây là nhân và duyên thứ tám.
    (Paññasutta attankammipāda anguttara Nikāya – tạng 21)


    THIÊN VĂN HỌC TRONG PHẬT GIÁO

    Vấn: Đức Ananda bạch đức Thế Tôn, Ngài có giải thích sự liên quan giữa trực giác với Sa bà thế giới như thế nào?

    Phật đáp: Này Ananada! Một Sa bà thế giới là khoảng trống bao la, trong đó mặt trời, mặt trăng vận chuyển khắp hướng sáng ngời rạng rỡ. Vũ trụ có hằng ngàn sa bà thế giới và trong hàng ngàn sa bá thế giới đó có cả ngàn mặt trời, cả ngàn mặt trăng, có ngàn quả núi Tu di, có ngàn Nam Thiện bộ châu, có ngàn Tây gưu hóa châu, có ngàn Bắc cư lưu châu, có ngàn Đông thắng thần châu, có bốn ngàn đại hải, có bốn ngàn Đại Thiên vương, có ngàn Đao lợi thiên, có bốn ngàn Dạ ma thiên, có ngàn Tha Hóa tự tại thiên, có ngàn cõi Phạm thiên.

    Nầy Ananda! Đây là tiểu vũ trụ có ngàn sa bà thế giới. Đây là trung vũ trụ có 1 triệu sa bà thế giới. Đây là đại vũ trụ có 100.000 triều sa bà thế giới. Như Lai thông suốt cả 100.000 triệu Sa bà thế giới và có thể giải thích rõ rệt.

    (Cūulanisutta Tikanipāda Anguttara Nikāya – tạng 18)


    THẦY TỲ KHEO PHẢI THỰC HÀNH THẾ NÀO CHO ĐÚNG?

    Vấn: Bạch Phật, thầy Tỳ kheo trong phật giáo phải học và hành như thế nào cho đúng đắn theo Phật huấn?

    Phật đáp: nầy các Tỳ kheo, con lừa trà trộn đi chung với đàn bò. Nó róng lên và cho mình cũng là bò, nhưng từ màu sắc, tiếng kêu, dấu chân của nó cũng chẳng giống bò. Cũng như có Tỳ kheo trong Phật giáo trà trộn, nhập đoàn đi chung với đoàn Tăng lữ thuần thành rồi tuyên bố rằng mình cũng là Tỳ kheo Tăng. Vậy các người phải cố rèn luyện như vầy: “Ta hãy vui thích, nhẫn nại quyết tâm thực hành giới bậc cao (adhisila), định bậc cao (adhisamadhi), trí tuệ bậc cao (adhipanna).” Các người nên cố gắng như thế.

    (Gadharabhasutta Tikhnipāda Anguttara Nikāya- tạng 18)


    ĐỜI CŨNG CÓ LỢI ÍCH

    Vấn: Bạch Phật, có người nói Phật giáo chẳng thiết tha với đời và dạy phải xa đời, như vậy có đúng không?

    Phật đáp: Nầy các Tỳ kheo, trước kia khi chưa giác ngộ và hãy còn là một vị Bồ Tát, có lần ta nghĩ rằng: “Trong đời này cái chi là hữu ích, có giá trị?Cái chi vô ích, vô giá trị và tội lỗi? Còn cái chi là lối thoát?

    Rồi ta lại suy tư: “Sự an vui của thế tục là tiện lợi, có giá trị đối với đời. Nhưng đời là vô thường, là khổ não, luôn luôn biến đổi nên đó cũng là sự bất lợi cho đời. Còn tư cách dứt khỏi tình dục, dứt bỏ các vật thương yêu trìu mến, đó là lối thoát ra khỏi đời.

    Này các Tỳ kheo: khi chưa giác ngộ, chưa thấu rõ tính chất của đời, chưa hiểu rõ tội lỗi của đời và chưa tìm ra đường lối giải thoát, Như Lai chẳng hề quả quyết công bố rằng mình là bậc Đại ngộ, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, thông suốt tam giới, biết rõ những cảnh giới Ma Vương, Phạm Thiên, Sa môn: Bà la môn và hàng Nhận loại.

    (Bubhasutta Tikanipāda Anguttara Nikāya – tạng 18)


    TỲ KHEO PHẢI CƯỜI NHƯ THẾ NÀO?

    Vấn: Bạch Phật, đức Thế Tôn và các Thinh văn La Hán gặp việc hoan hỷ chỉ mỉm thôi. Vậy thầy Tỳ kheo phải tỏ ra thế nào khi người hoan hỷ vui vẻ?

    Phật đáp: Nầy các Tỳ kheo, trong giới luật của Thánh nhân không có sự múa hát, nhảy nhót, cười cợt như người thế. Vậy các người nên từ bỏ sự ca hát nhảy múa, cười cợt hả hê. Lúc nào gặp chuyện vui thì chỉ nên mỉm cười thôi.

    (Ronusutta Tikanipāda Anguttara Nikāya – tạng 18)


    SỰ LUYẾN ÁI LÀM CHO MÙ QUÁNG

    Vấn: Bạch Phật, người thường nói rằng sự luyến ái làm trở nên mù quáng có đúng không?

    Phật đáp: Người say mê tình dục rồi thì bị nó lừa đảo, trói buộc ám muội tâm trí, khiến không thấy rõ đạo đức, không nghĩ thấy điều lợi ích cho mình và cho kẻ khác. Tình dục làm cho người tối tăm,không nhìn thấy tội phước, phải quấy, ngăn lắp trí tuệ, rồi trở nên ích kỹ,vị ngã và chẳng mong đắc đạo quả Niết Bàn.

    (Channasutta Tikanipāda Anguttara Nikāya – tạng 18)


    GIỚI VÀ A LA HÁN QUẢ

    Vấn: Đức Ananda bạch đức Thế Tôn, sự trì giới có đưa đến đạo quả không?

    Phật đáp: Nầy Ananda! Giới là thiện pháp không có sự ăn năn, hối hận là quả; không ăn năn hối hận có sự an vui thoải mái là quả; vui mừng có phỉ lạc là quả; phỉ lạc có sự yên lặng là quả; sự yên lặng có an lạc là quả; an lạc có định là quả, định có trực giác thấy rõ chân lý có sự chán ngán tình dục là quả, sự chán ngán tình dục đưa tới trực giác giải thoát là quả.

    Nầy Ananda! Giới là thiện pháp hằng đưa đến đạo quả A La Hán đúng theo thứ tự trong Chánh pháp là như thế.

    (Thimatthiyāsutta Dasakanipāda Anguttara Nikāya – tạng 24)


    PHẬT GIÁO CÓ PHỦ NHẬN KHÔNG?

    Vấn: Bạch Phật, có phải Phật giáo chủ trương tiêu cực, không hành động và khuyến cáo nên xa lánh cõi đời?

    Phật đáp: Nầy người Bà la môn! Phải, đúng như vậy. Như Lai hằng khuyên hóa không nên làm điều xấu xa tội lỗi do thân, không làm điều xấu xa tội lỗi do khẩu, không làm điều xấu xa tội lỗi cho ý. Như Lai dạy không nên làm điều bất thiện.

    Nầy người Bà la môn! Họ nói thầy Sa môn Gotama như đã dạy không nên làm như thế là dúng, nhưng chẳng phải họ cố ý nói ra như vậy.

    Họ cũng rất đúng khi nói rằng thầy Sa môn Gotama chủ trương thuyết không “không hoàn hảo”. Vì Như Lai dạy tình dục là không hoàn hảo. Đó là những ác pháp, những điều bất thiện. Si mê là không hoàn hảo, sân hận là không hoàn hảo. Đó là nguyên nhân khiến họ tuyên bố rằng thầy Gotama là người dạy tư cách không hoàn hảo. Họ nói rất đúng, nhưng chẳng phải họ cố ý nói ra như vậy.
    (Verañjasutta atthakanipāda Anguttara Nikāya – 22)


    LÀM SAO BIẾT ĐƯỢC LẬU PHIỀN NÃO KHÔNG CÒN

    Vấn: Bạch Phật, người thực hành giáo pháp để trở thành bậc vô lậu, dứt khỏi phiền não, phải làm cách nào để biết mình chẳng còn phiền não. Vậy có những điều kiện và trạng thái gì để thấu rõ điều đó?

    Phật đáp: Người hành giả cần phải chứng nghiệm 8 trạng thái sau đây mới dám cả quyết rằng mình đã diệt trừ phiền não:

    1. Tỳ kheo vô lậu (khinasava) trong giáo pháp dùng tuệ giác thấy rõ các pháp hành cấu tạo đều là vô thường đúng theo chân lý.
    2. Tỳ kheo vô lậu dùng tuệ giác thấy rõ tình dục như hầm lửa đúng theo chân lý.
    3. Tỳ kheo vô lậu có tâm chiều đi nghiêng về, uốn tâm đi trong tịch mịch, lặng lẽ như tờ, xa lìa tất cả lậu phiền não.
    4. Tỳ kheo vô lậu đã thực hành tròn đủ pháp môn “Tứ niệm xứ” đã trau dồi cái tâm trở nên chân chánh.
    5. Thầy Tỳ kheo vô lậu đã thực hành và hoàn tất đúng đắn “Tứ chánh cần” đã theo giới bổn chân chánh.
    6. Thầy Tỳ kheo vô lậu đã thực hành đúng đắn “ngũ căn” theo giới bổn chân chánh.
    7. Tỳ kheo vô lậu đã thực hành đúng đắn: “Thất giác chi” chân chánh.
    8. Tỳ kheo vô lậu đã thực hành “Bát chánh đạo” đúng đắn.

    Tám trạng thái đó là nguyên nhân cần chứng nghiệm để trở thành vô lậu và cả quyết rằng mình đã dứt trừ được tất cả phiền não, đã tận diệt phiền não rồi.


    NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ XUẤT GIA

    Vấn: Đức Ananda bạch Đức Thế Tôn, nhận định những hậu quả nguy hại thế nào nên Ngài không muốn cho hàng phụ nữ xuất gia hành đạo và đặt nhiều giới luật rất nghiêm khắc cho giới Tỳ kheo ni?

    Phật đáp: Nầy Ananda, nếu phụ nữ không được xuất gia tu theo Phật giáo thì Pháp Luật Phạm Hạnh và Chánh Pháp sẽ được duy trì đúng đắn rạng rỡ tới 1.000 năm. Nhưng khi hàng phụ nữ được thu nhập vào giới xuất gia trong Phật giáo thì Chánh Pháp không thể kéo dài hơn 500 năm và sau đó sẽ bắt đầu suy tàn sụp đổ.

    Nầy Ananda, dòng dõi nào có nhiều phụ nữ thì gia đình bị kẻ cướp làm hại dễ dàng thế nào. Thì cũng như thế ấy khi phụ nữ gia nhập đoàn thể xuất gia trong pháp luật nào thí pháp luật đó khó bề được bền bỉ lâu dài.

    Cũng như nhiều loại sâu bọ xông vào ruộng lúa thì đồng lúa phải tàn lụi suy vi. Phụ nữ vào tu học phạm hạnh trong pháp luật nào thì pháp luật đó không bền vững lâu được.

    Lại nữa, có 8 trọng pháp (Garadhamma) ví như người đắp đê ngăn ngừa nước trong ao khỏi tràn ra ngoài.

    Tỳ kheo ni nào phạm 1 trong 8 trọng pháp đó phải bị trục xuất.

    (Gotamasutta Atthakanipāda Anguttara Nikāya- 22)


    BƯỚC ĐẦU TRONG SỰ HÀNH ĐẠO

    Vấn: Bạch Phật, người mới xuất gia vào đạo cần phải nghiêm trì điều nào để tiến hóa?

    Phật đáp: Thầy Tỳ kheo trước nhất phải có sự ghi nhớ biết mình biết hổ thẹn ghê sợ tội lỗi. Khi biết hổ thẹn ghê sợ tội lỗi rồi thì đó là nguyên nhân cho việc thu thúc lục căn trong sạch.

    - Sự thu thúc lục căn là nguyên nhân làm cho giới cao đẹp.
    - Giới cao đẹp là nguyên nhân làm phát sanh định.
    - Chánh định là nguyên nhân làm phát sanh tuệ giác thấy rõ chân lý.
    - Tuệ giác thấy rõ chân lý là nguyên nhân làm chán chê tình dục.
    - Chán chê tình dục là nguyên nhân phát sanh trực giác đưa tới giải thoát.

    Ví như cây tròn trịa sum sê, có nhánh lá đầy đủ xanh tươi thì vỏ cây, thân cây, lỏi cây đều dày đặc chắc chắn vững vàng.

    (Patisutta Atthakanipāda Anguttara Nikāya tạng 22)


    GIÁ TRỊ CỦA THIỀN VÀ QUÁN

    Vấn: Bạch Phật, tu thiền và quán đem lại sự lợi ích như thế nào?

    Phật đáp: Cả hai pháp đối xử về nội tại (trí tuệ vijja gọi là thiền (dhyanā) và quán (sipassāna).

    Nầy các Tỳ kheo! Thiền mà thầy Tỳ kheo cố gắng thực hành là cách thức mà thầy Tỳ kheo cố dứt trừ tình dục. Quán mà thầy Tỳ kheo chăm chú thực hành là cách thức trau dồi trí thuệ để hủy diệt vô minh.

    Nầy các Tỳ kheo! Khi tâm bị ô nhiễm vì tình dục, khi tâm bị vô minh che lấp thì hành giả không sao tiến triển được.

    Nầy các thầy Tỳ kheo! Khi tẩy trừ xong tình dục, tâm mới được giải thoát (cittavimutti), khi diệt được vô minh, trực giác giải thoát mới phát sanh (paññavimutti)

    (Ballavagga Pathamapaññasaka Dukanipāda Anguttarani Nikāya – 18)



    PHẬT GIÁO CŨNG DẠY NGƯỜI TẠO NÊN SỰ NGHIỆP

    Vấn: Bạch Phật, có nhiều lời phê phán cho rằng Phật Giáo dạy người đời rời bỏ tất cả không nên tạo dựng tài sản, có đúng không?

    Phật đáp: Người đời nhờ cặp mắt để tạo nên sự nghiệp, nhưng hai mắt phải hoạt động như thế nào?

    Nầy các Tỳ kheo! Đôi mắt là nguyên nhân xây dựng tài sản nhưng người cần phải xem xét sự quan sát của mắt đúng theo lẽ chánh rồi hành động theo thiện pháp, biết cái nào là xấu xa, tội lỗi, biết thính pháp nghe kinh, biết đem của cúng dường cho Tăng bội, hiểu rõ phần nào là trong trẻo của pháp và phần nào là của đen tối.

    Nầy các Tỳ kheo! Đó gọi là người có hai mắt.

    (Andhasutta Ekanipāda Anguttara Nikāya – tạng 18)


    LIÊN QUAN GIỮA THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN VÀ TỨ DIỆU ĐẾ

    Vấn: Bạch Phật, thập nhị duyên khởi và tứ diệu đế có liên quan đến nhau như thế nào?

    Phật đáp: Nầy các Tỳ kheo; từ sự cấu hợp của 6 nguyên tố: đất, nước, gió, lửa, hư không và thức, chúng sanh nhập vào thai bào.

    Tiếp theo đó phát sanh “Danh sắc”
    Danh sắc là duyên tạo ra “Lục nhập”
    Lục nhập là duyên sanh “Xúc”
    Xúc là duyên sanh ra “Thọ”

    Nầy các thầy Tỳ kheo; Như Lai chỉ dạy rằng: đây là khổ, đây là nhân sanh khổ, đây là tư cách diệt khổ và đây là phương châm diệt khổ.

    Còn thế nào là khổ đế?

    Sanh là khổ, già là khổ, chết là khổ, than van, hối tiếc, âu sầu là khổ, đau lòng là khổ, xa lìa vật yêu mến, phải gần vật chẳng vừa lòng, muốn mà không được là khổ, chấp trước ngũ uẩn là khổ.

    Đấy là nhân của khổ Diệu Đế:

    Vô minh là duyên sanh “Hành”
    Hành là duyên sanh “Thức”
    Thức là duyên sanh “Danh sắc”
    Danh sắc là duyên sanh “Lục nhập”
    Lục nhập là duyên sanh “Xúc”
    Xúc là duyên sanh “Thọ”
    Thọ là duyên sanh “Ái”
    Ái là duyên sanh “Thủ”
    Thủ là duyên sanh “Hữu”
    Hữu là duyên sự “Sanh”
    Sanh là duyên sanh sự “Già”
    Già là duyên của sự “Chết”
    Tiếp theo là sự khổ sầu, than van, hối tiếc, đớn đau, thất vọng…

    Còn diệt khổ Diệu Đế là thế nào?
    Chẳng Vô Minh là Hành diệt
    Hành diệt thì thức diệt
    Thức diệt thì Danh Sắc diệt
    Danh sắc diệt thì Lục Nhập diệt
    Lục Nhập diệt thì Xúc diệt
    Xúc diệt thì Thọ diệt
    Thọ diệt thì Ái diệt
    Ái diệt thì Thủ diệt
    Thủ diệt thì Hữu diệt
    Hữu diệt thì Sanh diệt
    Sanh diệt thì Già diệt
    Già diệt thì không còn chết sống nữa.

    Nầy các Tỳ kheo! Còn sau đây là đạo diệt khổ (Bát Chánh Đạo) có 8 chi: Chánh Kiến, Chánh Tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.

    (Tithasutta Tikanipāda Anguttara Nikāya – tạng 18)


    NHÂN SANH RA BA ĐIỀU BẤT THIỆN (AKUSALA)

    Vấn: Bạch Phật, cái chi là nguyên nhân phát sanh tham dục, sân hận, si mê?

    Phật đáp: này các Tỳ kheo, tham dục có tội nhiều mà gỡ lâu, sân hận có tội mà gỡ lâu, si mê có tội mà gỡ lâu.

    - Khi người có ý nghĩ không chân chính về một sự vật đẹp đẽ, lòng tham dục chưa sanh sẽ phát sanh, sanh ra rồi thì lòng tham dục càng thêm phát triển.
    - Cái chi là nhân duyên làm cho sân hận, chưa phát sanh lại sanh ra.
    - Gặp phải sự việc trái ý, phật lòng thì người đâm ra nóng giận làm cho sân hận chưa phát sanh lại sanh ra. Sân hận sanh ra rồi thì càng thêm phát triển.

    Còn làm cách nào để diệt ba điều bất thiện?

    1. Nghĩ đến tư cách vô thường nhơ nhớp của các sự vật để tẩy trừ tham dục.
    2. Dùng từ tâm để giải thoát (Metta detovimutti) để tẩy trừ sân hận.
    3. Dùng sự quan sát (Minh sát) để diệt si mê.

    (Tilalysutta Tikanipāda Anguttara Nikāya – tạng 18)


    THAM THIỀN VÀ ĐỊNH

    Vấn: Bạch Phật, tham thiền cho tới khi đắc định có thể là nguyên nhân diệt trừ sự phiền não được không?

    Phật đáp: Này các Tỳ kheo! Như Lai cho rằng lậu phiền não có thể diệt trừ do sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền cho đến phi phi tưởng thiền.

    Thầy Tỳ kheo trong giáo pháp, xa lìa dục cảnh, đắc sơ thiền quán tưởng rằng: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức phát hiện trong sát na nhất là sơ thiền đó đều là sơ thiền, là khổ não, là bệnh tật, là mụn nhọt, là cây tên, là nguồn gốc sự khổ, là hãm hại, là biến đổi, là tan rã, là rỗng không, là vô ngã.

    Hành giả giữ tâm an trú trong pháp đó và uốn nắn tâm đi theo chiều hướng vắng lặng các pháp hành, tẩy trừtâm tham sanh, tham dục, dập tắt để đi đến Niết Bàn.

    An trú vững bềnh trong sơ thiền, hành giả có thể trừ tuyệt tất cả lậu phiền não.

    (Jhanasutta Navaknipāda Anguttara Nikāya- tạng 23)


    NGUYÊN NHÂN BẤT HÒA TRONG TĂNG LỮ

    Vấn: Đại đức Upali bạch Phật, do nguyên nhân nào gây ra sự bất hòa giữa Tăng chúng?

    Phật đáp: Này Upali, đây là những nguyên nhân gây bất hòa trong hàng Tăng lữ:

    1. Tỳ kheo thuyết điều không chánh đáng cho đó là chánh đáng.
    2. Tỳ kheo nói rằng chánh pháp không phải là pháp chánh đáng.
    3. Tỳ kheo cho điều không phải luật là điều chánh đáng.
    4. Tỳ kheo cho luật chánh đáng là không phải luật.
    5. Thuyết điều mà Như Lai không hề dạy rồi cho rằng đó là lời của Như Lai.
    6. Cho rằng di huấn của Như Lai không phải do Như Lai truyền dạy.
    7. Thuyết điều Như Lai không thực hành cho rằng Như Lai đã thực hành.
    8. Thuyết điều Như Lai thực hành nhưng nói rằng không thực hành.
    9. Thuyết điều Như Lai không chỉ định rồi cho rằng Như Lai chỉ định.
    10. Thuyết điều Như Lai chỉ định rồi cho rằng Như Lai không chỉ định.

    Lẽ đó hàng Tăng chúng chia rẽ nhau, tách rời nhau, làm tăng sự riêng biệt, đọc giới bổn khác nhau cũng do 10 nguyên nhân kể trên.

    (Upali Sanghabhedasutta Dalakanipāda Anguttara Nikāya – tạng 24)


    NHÂN CỦA ĐIỀU ÁC

    Vấn: Bạch Phật, cái chi là nhân thúc đẩy người làmác?

    Phật đáp: Chính tham lam, sân hận, si mê là nhân là duyên thúc đẩy người gây ra nghiệp dữ. Tác ý của tâm là nhân là duyên khuyến khích làm ra nghiệp ác.

    (Mahalisutta Dasakanipāda Anguttara Nikāya – tạng 24)


    VÔ MINH CÓ NHÂN KHÔNG?

    Vấn: Bạch Phật, thuyết thập nhị nhân duyên sắp đặt có hệ thống từ thấp lên cao mà điểm cùng tột của nó là vô minh. Vậy cái chi là nhân sanh ra vô minh?

    Phật đáp: Nầy các Tỳ kheo, Như Lai hằng dạy rằng vô minh do thực phẩm mà có, và thực phẩm là nhân sanh ra vô minh.

    Và cái chi là thực phẩm của vô minh?

    1. Năm pháp cái
    Cái chi là thực phẩm của năm pháp cái?
    2. Ba ác nghiệp về thân khẩu ý.
    Cái gì là thực phẩm của ba ác nghiệp?
    3. Lục căn phóng túng.
    Cái chi là thực phẩm của lục căn phóng túng?
    4. Không có sự ghi nhớ biết mình.
    Cái chi là thực phẩm của sự quên mình?
    5. Thiếu sự minh sát nội tâm.
    Cái chi là thực phẩm của sự không kiểm soát nội tâm?
    6. Không có đức tin.
    Cái chi là thực phẩm của sự thiếu đức tin?
    7. Do sự không nghe pháp.
    Cái chi là thực phẩm của sự không nghe pháp?
    8. Không tìm gặp gỡ bậc thiện trí thức thanh tịnh.
    (Aviffāsutta Dasakanipāda Anguttara Nikāya – tạng 24)


    [1] Kiết sử là tùy phiền não đưa đẩy chúng sanh luân hồi trong tam giới (Sangojana).

    [2] 7 thụy miên phiền não: Kāmaraāgānusaya, Patighānusaya, Mānanusaya Tittānusaya, Vicikicchānusaya, Bhāvarāgānusaya, Ayijjānusay
    Last edited by NASA1517; 07-22-2013 at 08:34 PM.

  3. #263
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    12,844
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Quote Originally Posted by linh-anh View Post






    NHÂN BẤT HỌC...BẤT TRI LÝ
    NHÂN BẤT TRỊ....BẤT NHÂN TÂM
    NHÂN
    BẤT TÂM...BẤT ĐẠO LÝ
    NHÂN BẤT TRÍ...BẤT TÀI CÁN!

  4. #264
    Join Date
    Jul 2011
    Posts
    12,844
    Thanks
    42
    Thanked 49 Times in 45 Posts

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Cộng sản Việt Nam và chiêu đánh đổ niềm tin tôn giáo?




    Trương Quốc Huy (Danlambao) - Từ khi Cộng Sản lên nắm quyền, có biết bao các nhà tu hành các chức sắc, các tín đồ các tôn giáo đã ngã xuống oan nghiệt vì chủ thuyết vô thần cộng sản. Ai lớn lên và sống trong chế độ cộng sản chắc đã nghe cộng sản tuyên truyền "Tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ nhân dân"của Karl Marx. Cộng Sản Việt Nam tôn thờ và theo Chủ Thuyết Marx-Lenin. Vận mệnh cả dân tộc Việt Nam bị cai trị bởi điều 4 hiến pháp.


    Hòa Thượng Thích Quảng Độ cùng
    Đại Sứ Hoa Kỳ David Shear


    Qua hàng chục thập kỷ cầm quyền chuyên chế độc tài, cộng sản đã góp phần đưa đất nước Việt Nam lên thứ hạng cao trên toàn cầu về đàn áp tôn giáo nhân quyền bị chà đạp.


    Để tồn tại và tiếp tục nắm quyền trước sự phẫn uất của nhân dân, và sự đấu tranh mạnh mẽ của các tôn giáo, Cộng sản Việt Nam đã thay đổi cách hành xử và sử dụng "chiêu bài" mới nham hiểm và thâm độc hơn nhiều, đó là việc biến các tôn giáo thành công cụ của đảng. Trong bài viết này tôi nói tới Phật Giáo như một thí dụ điển hình.

    Năm 1981, được hậu thuẫn của nhà cầm quyền cộng sản, Giáo Hội Phật Giáo Quốc Doanh ra đời với tên gọi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN), nhằm thay thế Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) - (1) đã có từ thời VNCH.






    Để thay thế và kiểm soát được Phật Giáo theo ý đồ của Đảng Cộng Sản (Đ CS), họ đã bắt bớ, giam cầm đàn áp các Tăng Ni Phật Tử của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống NhấtGiáo Hội này đấu tranh đòi tự do tôn giáo, không thực hiện theo ý đồ của nhà cầm quyền Cộng sản (2).


    Hàng chục năm qua, GHPGVNTN đã đấu tranh đòi lại các chùa, tu viện của GH bị nhà cầm quyền tước đoạt, và đòi trả tự do cho các Tăng Ni của GHPGVNTN nhà cầm quyền còn giam giữ đến ngày nay, trong đó có Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ vẫn còn bị nhà cầm quyền CS giam lỏng tại Thanh Minh Thiền Viện- SàiGòn.

    Theo thống kê của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ (3), hơn một nửa dân số Việt Nam theo đạo Phật trên danh nghĩa, trong đó có 10% dân số theo Phật giáo Đại thừa (hầu hết các Phật tử này là người Kinh, hay còn gọi là người Việt, dân tộc chiếm đa số tại Việt Nam) và 1,2% dân số theo dòng Nam Tông (có xấp xỉ một triệu Phật tử là người dân tộc Khmer tại khu vực miền Nam) - Tức là phần đông dân Việt theo Phật Giáo.




    Bà Phó Chủ tịch Nguyễn Thị Doan trao tặng
    huân chương HCM cho Thích Thanh Tứ



    Phó Chủ tịch UBND TP. HCM Lê Minh Trí trao huân chương
    Độc lập hạng I đến cho Thích Trí Quảng ngày 13 /11/2012


    Vì đã có trong tay GHPGVN (Quốc Doanh), nhà cầm quyền CSVN lũng đoạn triệt tiêu niềm tin tôn giáo của dân Việt Nam bằng các "chiêu thức" như: đào tạo nhiều đảng viên tin cậy, biến họ thành các sư thầy trong các hệ phái Phật Giáo Việt Nam, gửi đi ra nước ngoài học để lấy các bằng cấp cao cấp về Phật học, và đưa về Việt Nam làm các chức sắc lớn trong hàng giáo phẩm Trung Ương Phật Giáo của họ. Một trong những trường hợp dễ nhận thấy nhất là Thích Thanh Tứ (Được trao tặng Huân Chương Hồ Chí Minh), nguyên là Đại biểu Quốc hội các khóa XI, XII, Ủy viên Đoàn Chủ tịch UB TƯ Mặt trận Trận Tổ quốc Việt Nam. Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Tôn giáo. Miền Nam thì có Thích Trí Quảng trưởng ban Hoằng Pháp Trung Ương GHPGVN, Trưởng ban Trị Sự Thành Hội PG TPHCM, Tổng Biên Tập Báo Giác Ngộ và là trụ trì chùa Huê Nghiêm 2 (Wikipedia)




    Phó Chủ tịch UBND TP. HCM Lê Minh Trí gắn huân chương cho Thích Trí Quảng


    Từ GHPGVN (Quốc Doanh) này đã đẻ ra nhiều khẩu hiệu hậu thuẫn cho Cộng Sản như: "Đạo Pháp, Dân Tộc, Chủ Nghĩa Xã Hội" để đánh bóng, tuyên truyền cho CS, cho Hồ Chí Minh, đồng thời Phật hóa Hồ Chí Minh, đưa hình tượng Hồ Chí Minh vào chùa để được thờ cúng cùng các vị Phật Bồ Tát. CS còn cho Ban Văn Hóa Trung Ương kết hợp với các "thầy chùa quốc doanh", được sự tài trợ và hậu thuẫn của Ban Tôn Giáo Chính Phủ viết sách "Chủ Tịch Hồ Chí Minh với PHẬT GIÁO", với chủ ý định hướng người đọc so sánh Hồ Chí Minh ngang hàng với Bồ Tát.


    Xin trích nguyên văn trong sách:

    “Hình ảnh Bác Hồ trong tôi, nói theo ngôn ngữ nhà Phật, là hình ảnh một vị Bồ tát sáng chói các đức tính “tri túc dục thiểu” - hiểu biết sâu sắc và đầy đủ về mọi tâm tư và tình cảm sâu kín nhất của mọi tầng lớp người trong xã hội, với đạo đức hết sức trong sáng, tất cả mọi hành động đều chỉ vì cuộc sống hạnh phúc của con người, của nhân loại... với kinh nghiệm bản thân, tôi cũng thấy theo chân Bác, tâm trí mình trong sáng hơn, lòng mình “thanh tịnh” hơn. Và cả dân tộc mình, đi theo con đường soi sáng bởi trí tuệ và đạo đức cao đẹp của Bác – nhất định sẽ làm nên những sự tích “thần kỳ”...”


    Để nhất định sẽ làm nên những sự tích “thần kỳ đó, Hồ Chí Minh đã học theo quan thầy Trung Cộng bằng Bộ Luật 197/HL cải cách ruộng đất năm 1954 đồng bào có dễ gì quên được. Ai gây nên những cái chết oan nghiệt đó của Đồng Bào miền Bắc??? Chính Hồ Chí Minh phê thuận Bộ Luật 197/HL ngày 19 tháng 12 năm 1953 để kỷ niệm ngày Toàn quốc Kháng chiến (wikipedia), sau "sự tích thần kỳ" xảy ra Hồ Chí Minh đã lên Tivi, báo, đài, nhỏ những giọt nước mắt giả tạo, đóng kịch xin lỗi Nhân Dân vì những "sự tích thần kỳ" đó, (sau này CS Việt Nam có nhận rằng do sức ép từ Cố Vấn Trung Cộngxin xem Wikipedia). Tội ác đó phải đọa 18 tầng Địa Ngục chứ sao sánh được với Bồ Tát?... Nếu Hồ Chí Minh có tư tưởng "cao quý", dự đoán được trước "tương lai", và "tư tưởng vĩ đại" có thể đáng để cả dân tộc phải tôn thờ, dùng "tư tưởng" ấy làm định hướng cho mọi hành động thì đã không có luật cải cách ruộng đất 1954 "tắm máu" đồng bào, tang thương khủng khiếp như thế. Những thế hệ gọi là con, cháu của "Bác Hồ'" đã học tập "tư tưởng" ấy, ngày nay theo gương "Bác" mà "dâng hiến", ''nhường nhịn" người anh em tốt Trung Cộng cả đất liền và biển đảo...



    Hớn hở khi mua được rượu quí


    Màn hôn môi phản cảm của Đàm Vĩnh Hưng


    Màn hôn môi phản cảm của Đàm Vĩnh Hưng


    Tiếp tục những "sự tích thần kì... "Khoảng đầu tháng 11 -2012 ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng, trong một buổi bán đấu giá ủng hộ ca sĩ Wanbi Tuấn Anh vượt qua cơn bịnh (không phải đấu giá từ thiện), tại Phòng Trà Không Tên ở trung tâm Sài Gòn. Đàm Vĩnh Hưng đứng ra kêu giá bán một chai rượu quý mà cả Việt Nam chỉ có bốn chai, giá khởi điềm là 20 triệu đồng. Trong đêm đấu giá đó có hai người và một người mặc áo sư Nam Tông PG, một người mặc áo thầy Bắc Tông PG tham dự. Thầy lớn tuổi và đội chiếc nón lá trên đầu có pháp danh Thích Giác Ân, trụ trì tại chùa Quan Âm Cổ Tự, thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, còn Sư trẻ tuổi có những lời lẽ hành vi cố tình, mang tính phản cảm có pháp danh Thích Pháp Định, hiện là tỳ kheo tại thiền viện Phước Sơn, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Chính hai "sư, thầy" này đã chiến thắng trong màn đấu giá chai rượu ngoại của ca sĩ Đàm với mức giá 55 triệu đồng -một gia tài lớn đối với đại đa số dân chúng Việt Nam.




    Thêm một cái vào tay cho đủ bộ



    Khuyến mãi thêm một cái hôn nữa



    Điều để đáng bàn là cả hai sư, thầy điều được gọi là Đại Đức, để được đứng trong hàng tỳ kheo, theo Thầy Thích Chân Tuệ- Cơ sở Phật học Tịnh Quang Canada thì năm 20 tuổi đời, vị xuất gia thụ giới tỳ kheo được gọi là Đại Đức. Và để được thụ giới này năm học được ít nhất là 20 tuổi đời, và chứng tỏ khả năng tu học, đủ điều kiện về tu tánh cũng như tu tướng, vị này được thụ giới cụ túc, tức là 250 giới tỳ kheo (nam) hay 348 giới tỳ kheo ni (nữ) và được gọi là Thầy (nam) hay Sư cô (nữ). Trên giấy tờ thì ghi là Tỳ Kheo (nam) hay Tỳ Kheo Ni (nữ) trước pháp danh của vị xuất gia. Ở đây xin nhắc thêm, trước khi thụ giới tỳ kheo ni, vị sa di ni (hoặc thiếu nữ 18 tuổi đời xuất gia và chưa thụ giới sa di ni) được thụ 6 chúng học giới trong thời gian 2 năm, được gọi là Thức xoa ma na ni. Cấp này chỉ có bên ni, bên tăng không có. Tuy nhiên trong tạng luật, có đến 100 chúng học giới chung cho cả tăng ni. Cũng cần nói thêm, danh từ tỳ kheo có nơi còn gọi là tỷ kheo, hay tỳ khưu, tỷ khưu. Bên nam tông,tỷ kheo 227 giới, tỷ kheo ni 311 giới. Tức hai sư, thầy này là người đã biết rất rõ giới luật nhà Phật.

    Vào phòng Trà để giải trí, là chuyện bình thường của người đời. Nhưng hai Sư, Thầy bước vào phòng Trà... Một người là trụ trì tức có chức sự quản lý một ngôi chùa bao gồm cả Tăng Chúng trong chùa, một người là Tỳ Kheo tức đã thọ giới như đã nói ở trên thì không đơn thuần nữa, lại còn bỏ ra một số tiền rất lớn 55 triệu đồng (bằng cả gia tài của người nghèo) để mua một chai rượu. Càng không thể nói hai vị thiếu ý thức, mà phải nói là cố tình báng bổ Phật Giáo khi khoác áo Sư Thầy, bước lên sân khấu, cùng với nam, nữ ca sĩ ăn mặc hở đùi, hở ngực, phải là một hành động cố tình cho giới truyền thông báo chí Việt Nam đăng tải hình ảnh gây sốc. Phải chăng đây là một ý đồ 'tâm lý chiến" dân vận của nhà cầm quyền CS nhằm đánh đổ niềm tin tôn giáo, triệt tiêu niềm tin của người dân đối với Sư, Thầy PG, và dễ dàng cho tư tưởng CS định hướng và dễ thuyết phục người dân hơn, dần đà phật tử xa dần với niềm tin vào Phật Giáo, một tôn giáo có số lượng tín đồ chiếm hơn một nửa dân số Việt Nam.


    Khi đặt dấu hỏi cho vấn đề này, đến đây chúng ta tìm hiểu thêm một chút về ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng, Đoàn viên Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chi Minh (ĐVTNCSHCM). Đàm Vĩnh Hưng, đắc cử vào Ban Chấp Hành Liên Hiệp Thanh Niên TP Sài Gòn nhiệm kỳ 2009-2014.





    Một số bản tin ghi nhận ĐVHChủ Tịch Hội Nghệ Sĩ Nhân Dân. Theo báo Tuổi Trẻ 15/10/2009, ĐVH là đại biểu trong số 69 đại biểu được chọn trong một đại hội lần 6 gọi là Đại Biểu Hội Liên Hiệp Thanh Niên Việt Nam diễn ra tại Saigon ngày 15/10/2009, và sau đó họ chọn ra 22 đại biểu để dự tại Hà Nội với cùng một mục tiêu cho niên khóa 2010-2015.

    Ngày 15-10-2009, trong buổi bế mạc Đại Hội Liên Hiệp Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh (TNCS/HCM) Thành Phố Sài Gòn, đoàn viên Huỳnh Minh Hưng, tức ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng, được cử vào một trong 69 ủy viên của Ban Chấp Hành Liên Hiệp TNCS/HCM trong nhiệm kỳ nói trên. Trong dịp nầy, Bùi Tá Hoàng Vũ được cử giữ chức Chủ Tịch Ban Chấp Hành.



    Đàm Vĩnh Hưng trong một ca khúc với màu áo ĐTNCSHCM


    ĐVH: "Tôi cũng lo lắng khó chu toàn trách nhiệm với chức vụ này vì lịch làm việc ca sĩ dày đặc của mình. Nhưng khi được anh Bùi Tá Hoàng Vũ – chủ tịch Hội Liên hiệp thanh niên TP. HCM – và nhiều người khác động viên, tôi thấy vững lòng hơn. Tôi rất quan tâm đến những vấn đề của thanh niên và sẽ cố gắng hết sức có trách nhiệm với chức vụ này." Trích phát biểu của Đàm Vĩnh Hưng.

    Thông thường, ở những cơ quan có nhiều thanh niên như các trường trung, tiểu học, có nhiều giáo chức trẻ, ở các trường cao đẳng và đại học, các công ty, và ngay cả trong các đơn vị công an, quân đội, đều có những đoàn TNCS/HCM, do một số đảng viên lãnh đạo.

    Liên Hiệp TNCS/HCM thành phố Sài Gòn là tổ chức lãnh đạo tất cả các đoàn trong địa bàn Sài Gòn. Ban Chấp hành của Liên Hiệp nầy có 69 ủy viên, mà Đàm Vĩnh Hưng là một ủy viên văn hóa. Xin trích một bài báo nói về nhiệm vụ của ĐVTNCSHCM là nguồn bổ sung cho Đảng CS:

    Ba nhiệm vụ của đoàn viên là:

    1. Luôn luôn phấn đấu thực hiện lý tưởng của đảng CSVN.



    Đàm Vĩnh Hưng Dương Triệu Vũ xuất hiện trong một chiến dịch Thanh Niên Vận


    2. Gương mẫu chấp hành và tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Nhà nước, tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng.

    3. Liên hệ mật thiết với thanh niên. Giúp đỡ thanh niên Đội Thiếu Niên Tiền Phong Hồ Chí Minh trở thành đảng viên để phát triển Đảng... (Đến đây thì cũng đã rõ vì sao Đồng Bào Việt Nam tại Hoa Kỳ và các nước khác biểu tình khi Đàm Vĩnh Hưng trình diễn tại Hoa Kỳ và các nước khác...)

    Trở lại vấn đề chúng ta có thể đặt câu hỏi một cách rõ nét hơn. Có phải Đàm Vĩnh Hưng cùng Báo chí CS đang thực hiện "Tâm Lý Chiến" nhằm báng bổ niềm tin tôn giáo? Với mục tiêu chính nhắm vào Phật Giáo? Sự Kiện "Hôn Môi Sư" đã được các tờ báo giải trí trong nước tích cực đưa tin(*1). Các cơ quan ngôn luận này cùng với Đàm Vĩnh Hưng (ĐVH) đã hả hê tung ra bức thư trả lời Đại đức Thích Minh Tuệ sau khi bị thầy phê phán hành động khóa môi nhà sư là quá đáng, bất kính, đồng thời không thành tâm nhận lỗi. Trong thư này, Đàm Vĩnh Hưng đã hé lộ câu chuyện mà ĐVH cho là sự thật. Xin trích nội dung bức thư như sau; “Khi nói ra thì lời hứa bảo vệ vị sư kia của con sẽ trở thành vô nghĩa. Nhưng vì các ngài đã nói như thế, thì con buộc lòng phải nói lại một lần để mọi người hiểu con hơn.”



    Thỉnh thoảng diện đồ đời


    ĐVH đưa ra những lý do biện hộ cho hành động của mình, mặc dù nói rằng “không muốn nói ra những điều này, vì con không muốn mọi chuyện xấu thêm, vì dù thế nào, con cũng là người có lỗi, dù là không cố ý khi hành động”. Nhưng cuối cùng ĐVH vẫn rành rọt liệt kê ra từng hành động như để chứng minh rằng ĐVH đang bị lôi kéo vào cái xấu của sư thầy.



    Rất đời bên người đẹp Phi Thanh Vân


    ĐVH tiếp tục nói trong thư: “Sự thật lúc đó, con định quay sang hôn lên má của vị sư thầy đó. Nhưng chính sư thầy áo nâu đó là người chủ động đưa môi ra và có ý yêu cầu con phải thực hiện lời hứa ban đầu. Trong đêm đó, sư thầy áo nâu ấy còn nói những câu không thể nào chấp nhận được đối với một người bình thường chứ đừng nói là người khoác áo nâu sòng. Đại loại như, vị sư đó nói với mọi người là mình có hai trang facebook với nick là "Kechano" và "Mông bự", rồi còn nói đêm nay chắc phải đi khách, rồi còn nói: "Tuy là đi tu chứ không ăn chay..." Đây là những lời nói rất thật và hàng trăm phóng viên cũng như khán giả sẵn sàng làm chứng điều này, có cả băng hình ghi lại toàn bộ sự việc. Thử hỏi, nếu là một người được đào tạo, dạy dỗ từ những gì nghiêm ngặt, quy chuẩn, liệu có buông những lời như thế không ạ...???



    Một bức ảnh rất ngầu, phải chăng được vào chùa để pháđạo?



    Trả áo nâu sòng em lại về đời tiếp tục ăn chơi


    Liên tục các báo mạng của nhà cầm quyền CS đăng tin về sự kiện "hôn môi sư "này của ĐVH với hàng loạt bí mật của người được gọi là Tỳ Kheo Thích Pháp Định, với những thông tin bất ngờ về người được cho là này, và theo những thông tin được đăng tải cùng những bức ảnh chụp cho là của trang facebook của người này thì... chúng ta bắt đầu có câu hỏi? Ai cho người này vào chùa khoác áo sư thầy?, người này học đạo hạnh, giới luật từ đâu?, ai quản lý để một "sư thầy" công khai những bức ảnh, ăn chơi kiểu cách, công khai chụp hình chung với người đẹp chân dài khi vẫn khoác lên người áo nhà Sư? Nếu thật sự người này có những lời lẽ như ĐVH nói thì, người này có biết mình đang nói gì trước giới truyền thông hay không mà rõ ràng anh ta cố ý nói những lời lẽ tạo sự chú ý cho truyền thông theo như lời ĐVH nói trong thư. Phải chăng có sự dung túng cố tình của hệ thống GHPGVN (Quốc Doanh)? Hay là một màn sắp đặt nhằm bêu xấu Phật giáo và người này là một thanh niên chẳng biết gì về Giới Luật cả vì biết giới luật thì đã không Phòng Trà mua rượu? Vậy thì ai cho người này giới phẩm tỳ kheo? Phạt cấm túc 3 tháng có cấm túc hay không có Trời mới biết? Sau đó thì cho tu xuất về nhà tiếp tục ăn chơi, chẳng hại gì đến ai cả, nhưng niềm tin uy tín của Phật Giáo thì không còn trong lòng người Phật tử nữa. Như vậy chúng ta có lý do để đặt câu hỏi rằng phải chăng hai người được gọi là Tỳ Kheo Thích Pháp Định, Trụ Trì Thích Giác Ân này nhận lệnh của nhà cầm quyền CS cố ý phá hoại bêu xấu Phật Giáo?

    Một dẫn chứng nữa lại là liên quan tới sư, thầy, nhưng lần này là một chú tiểu, chú tiểu Trí Trần. Chú tiểu này có trang facebook và cho đăng tải những hình ảnh của mình đang trang điểm, sửa váy cho người đẹp, với những trang phục rất mát mẻ theo thời trang, đùi, ngực các cô cứ ngồn ngộn trước mặt chú tiểu. Trang mạng Xaluan.com, cho giật tít rất định hướng "Choáng với ảnh trong facebook của chú tiểu " 'thi hoa hậu' " kèm những hình ảnh trên facebook của chú tiểu này.



    MC Kỳ Duyên nổi tiếng cũng được Chú Tiểu này trang điểm
    Ảnh: Facebook của Chú tiểu Trí Trần



    Chú Tiểu bên người đẹp Bikini

    Khi xem xong ai trong chúng ta cũng thấy đều bất bình. Những người nổi tiếng trong giới nghệ sĩ, ca sĩ, người mẫu, hoa hâu và cả những công ty giải trí, điều biết rất rõ truyền thông luôn chú ý tới họ, và họ nhờ vào truyền thông để tự quảng bá, Họ thường hay quảng bá hình ảnh của mình bằng cách làm từ thiện, giúp đỡ cộng đồng, những buổi làm từ thiện cùng các chùa... Giới nghệ sĩ không thể nói không biết, và không thể tự hạ thấp hình ảnh của mình khi đứng chung với một chú tiểu như vậy? Và còn tệ hại hơn khi ban tổ chức cuộc thi sắc đẹp đó cho một chú tiểu vào hậu trường của mình trang điểm cho người đẹp, chắc họ không dại gì đánh mất uy tín của mình? Phải tự hỏi rằng: Phải chăng đây là một sự sắp xếp, nhằm bôi nhọ Phật Giáo? Tại sao liên tục có những tin tức, hình ảnh bêu xấu Phật Giáo, được Báo Chí liên tục đăng tải như vậy?


    Anh Nguyễn Văn Cường Bị đánh bể đầu


    Ngược thời gian một chút chúng ta còn nhớ vụ "Thầy" Thích Tâm Mẫn "Nhất Bộ Nhất Bái" xuyên Việt (*2), đoàn tháp tùng được gọi là nhóm "trợ duyên" đánh trọng thương anh Nguyễn Văn Cường Tại Bắc Ninh. Xin trích đăng một đoạn trên trang mạng Xaluan.com khi Phóng Viên của trang mạng này tìm hiểu vụ việc "Thông tin nhóm tháp tùng thầy Tâm Mẫn đánh trọng thương anh Nguyễn Văn Cường (xã Liên Mão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh), ngày 27/8, PV đã xuống địa phương làm việc với các bên liên quan.

    "Trao đổi qua điện thoại với ông Nguyễn Văn Vấn - Trưởng Công an huyện Tiên Du, được biết công an huyện đã gửi báo cáo vụ việc lên công an tỉnh Bắc Ninh nhưng đây là báo cáo nội bộ, không tiết lộ ra ngoài được.

    Cùng ngày, PV đã gặp gỡ gia đình anh Cường (nạn nhân) nhưng gia đình tránh trả lời những câu hỏi của báo chí."



    Đoàn tháp tùng Thích Tâm Mẫn toàn làdân côn đồ, đang cấm không cho quay phim chụp hình



    Họ là ai mà có cả dùi cui, tay đầy hình xăm và ngang nhiên đánh người?



    Người này khoác áo nâu sòng, bay đá vào người đi đường
    (ảnh chụp từ video)


    Nhóm người tháp tùng này là ai mà ghê gớm vậy, vì khi Công An Huyện Tiên Du đã có báo cáo lên Công An tỉnh, mà chỉ có được nói là báo cáo nội bộ? Vậy thật sự Thầy Thích Tâm Mẫn này "Nhất Bộ Nhất Bái" là ai mà cả nhóm tháp tùng dẹp đường toàn dân côn đồ khoác áo sư, thầy? Lý do gì khiến họ ngang nhiên làm như vậy giữa thanh thiên bạch nhật? Xin trích đăng một phần bài báo trên trang Báo Giáo Dục Việt Nam:

    "Không chỉ đánh người khi qua huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh mà trước đó, nhóm tháp tùng “nhất bộ nhất bái” này cũng đã từng đánh gây thương tích người dân khi đoàn hành lễ đi qua địa phận thành phố Hà Nội.

    "Qua tìm hiểu chúng tôi được biết nạn nhân tên là Hưng. Dù rất kiệm lời với báo chí song anh này cũng cho biết, cách đây 10 ngày, anh đã bị một số người trong nhóm tháp tùng kia đánh bị thương phải khâu đến 9 mũi (3 mũi khu vực cằm và 6 mũi phía sau đầu). Anh Hưng cho biết đã báo với chính quyền xã cơ quan chức năng đã vào cuộc. Hiện, vết thương của anh đã bớt đau."



    Tung nón cối ném người đi đường ngang nhiên (ảnh từ video)

    Đó là những hành động do nhóm côn đồ này gây ra. Chưa hết, khi chúng ta xem video được đăng tải trên Youtube thì còn kinh hoàng hơn khi "tiểu sư phụ" tung chưởng, bay đá và ném nón cối vào người đi đường giữa đường phố. Vài người còn cầm dùi cui có sọc trắng đen của cảnh sát (xem video giây thứ 43), làm luôn việc đúng ra chỉ có Cảnh Sát Giao Thông mới làm là chặn xe; Họ là ai mà ghê gớm vậy? Công An ở đâu làm gì khi đó? Hay là Công An chính là nhóm côn đồ ấy? Côn đồ tháp tùng này hẳn nhiên phải có thế lực mới dám ngang nhiên như vậy, sau đó thì Báo Chí rùm beng, rồi coi như không có gì xảy ra. Tại sao?

    Qua những gì đã được dẫn chứng chúng ta có thể đặt câu hỏi: Phải chăng Nhà Cầm Quyền CS Việt Nam đang cố tình sắp đặt, dàn dựng nhiều sự kiện giả nhằm bôi nhọ bêu xấu Phật Giáo? Triệt tiêu tín ngưỡng để dễ dàng cai trị trong lúc lòng dân ngày càng than oán.

    Câu trả lời xin dành cho tất cả quý vị đã đọc bài viết này.

    Viết từ Bangkok

    Trương Quốc Huy
    _______________________________

    Chú thích:


    (*1) Chương I, điều 1 Luật Báo Chí của nhà cầm quyền CS: Báo chí ở nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, là diễn đàn của nhân dân.

    (*2) Theo trang Ngôi Sao: Đại Đức Thích Tâm Mẫn, tên tục là Lê Minh, sinh năm 1977, tại Quảng Nam. Xuất gia tu học tại chùa Hoằng Pháp, Hóc Môn (TP HCM) từ năm 2004. có ước mơ làm một sĩ quan quân đội, một giáo viên nhưng không thành công khi thi hai lần đại học vào hai ngành này đều trượt. Sau đó, vào chùa Hoằng Pháp tập sự xuất gia năm 24 tuổi, xuống tóc năm 27 tuổi. Năm 32 tuổi, khi là một Đại Đức, phát đại nguyện “Nhất bộ nhất bái”.

Page 14 of 14 FirstFirst ... 4567891011121314

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •