Page 1 of 14 1234567891011 ... LastLast
Results 1 to 20 of 264

Thread: Chân Lý Thích Ca.

  
  1. #1
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Chân Lý Thích Ca.

    CHÂN LÝ THÍCH - CA.

    Từ ngàn xưa cho đến ngày nay, thiên hạ đã tranh giành , chiếm giữ độc quyền Chơn lý. Chỉ có mình, tông phái , tôn giáo của mình mới là Chơn lý, còn những cái của ai khác hơn đều là giả tạo , đều là hình thức bề ngoài, nên không phải là Chơn lý.
    Chơn lý hay Chân lý là cái lẽ phải chơn thật, hằng hữu đời đời mà lương tri lương năng của con người đều nhận biết.Cho nên, Chơn lý phải có tính cách không phụ thuộc thời gian và không gian.
    Thông thường thì người ta hiểu Chơn lý là cái lẽ thật thấy rõ trước mắt, như: Cái nhà, cây cối , xác thân , vì ta thấy rõ nó, rờ mó cân đo được. Ðó là các thứ thuộc về vật chất hữu hình. Mặt khác, sự hạnh phúc mà ta đang thọ hưởng, sự đau khổ mà ta đang gánh chịu, sự thương yêu, giận ghét, các thứ đó được con người cảm nhận thực sự, thuộc về tình cảm. Tất cả những thứ ấy, thuộc vật chất hay tình cảm, tuy con người có cảm nhận thực sự, nhưng chúng không phải là Chơn lý, vì các thứ đó, dầu vật chất hay tình cảm đều bị biến đổi , hủy hoại theo thời gian và không gian.

    Thời gian sẽ làm cái nhà , cây cối hư mục, xác thân ta già rồi bệnh , rồi chết tan rã thành đất; thời gian cũng sẽ làm cho cái hạnh phúc hay đau khổ biến đổi, sự giận hờn thương ghét cũng tùy hoàn cảnh mà đổi thay . Tất cả những thứ đó, nhà Phật đều cho là huyễn, là giả tạm, là tứ đại giả hợp, đều không bền vững với thời gian, nên nó không phải là Chơn lý.

    Câu nói của Ðức Khổng Tử: "Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân", câu nói của Ðức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni "Thầy là các con, các con là Thầy", Luật Nhân Quả, Luật Tiến Hóa,... Ðó là những Chơn lý, vì các điều nầy luôn luôn đúng trong bất cứ trường hợp nào , trong bất cứ thời gian nào, nghĩa là không phụ thuộc vào thời gian và không gian. Trải qua hàng ngàn năm chân lý của Ngài Thích Ca chưa bị đánh ngã , hay sai lầm trước sự khám phá của nền văn minh khoa học hiện đại. Trong khi kinh Thánh đã bị khoa học soi mói và đưa ra sự sai lầm. Ví dụ : Nhà Bác Học Galileo đưa ra quả đất tròn quay chung quanh quả đất , sáng tạo sáu ngày nghỉ ngày thứ bảy thì khoa học cho rằng ngày thứ ba sanh cây cỏ , ngày thứ tư sanh mặt trời , mặt trăng là không đúng v.v.....
    Nói như vậy Phật giáo của Ngài Thích Ca hoàn toàn là chân lý chăng? Có những điều mà trong giáo lý của Đại Thừa Tịnh Độ , cũng lấy tên Phật giáo , Phật nhưng lại đưa ra sự cầu nguyện và hứa hẹn hảo huyền , còn Mật Tông thì dạy tình dục ........ Những giáo lý pha trộn này làm cho nhân loại hiểu lầm và đánh giá có phần sai lệch đồng thời nghi ngờ , sụt niềm tin TUYỆT ĐỐI tức là chân lý cần có gọi là Chân lý tuyệt đối của Đức Chí Tôn . Nó bất biến và hằng hữu đời đời trong không gian lẫn thời gian, từ vô thỉ đến vô chung, cái Chân lý ấy không phải là cái nguyên lý tạo dựng trời đất , vạn vật, mà các tôn giáo thường gọi là: Ðấng Tạo Hóa, Ðấng Thượng Ðế, Ðức Chúa Trời. Khoa học ngày nay đang chứng minh và bác bỏ chân lý Thượng Đế đó qua Big Bang. Đức Phật hoàn toàn bác bỏ cả hai , đối với Ngài vũ trụ là do Duyên sinh.

    Ngoài Đại Thừa , Mật Tông còn có nhà triết học Osho trong cuốn "THIỀN, CON ĐƯỜNG NGHỊCH LÝ " đã hạ bệ và bài bác giáo lý Đức Thích Ca một cách khôn khéo , tế nhị và đầy nguy hiểm hơn hai tông phái Đại Thừa , Mật Tông. Vì lý do đó tôi đi vào tìm hiểu , phân tích sự xuyên tạc đầy ác ý của Osho trước.


    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  2. #2
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP OSHO.

    Tên thực của Osho là Acharya Rajneesh, sau đổi là Bhagwan Shree Rajneesh (1931-1990). Ông sanh ngày 11 tháng 12 năm 1931 tại làng Rajneesh Chandra Mohan tỉnh Kuchwara, miền Trung Ấn Độ. Vào cuối đời ông đổi tên là Osho. Song thân ông theo đạo Kỳ Na (Jainism), nhưng bản thân ông chưa từng gia nhập một tôn giáo nào trong suốt quãng đời của ông. Từ lúc còn bé, Osho đã tỏ ra là một con người có cá tính độc lập, cương quyết, nổi loạn và luôn luôn bảo hộ ý kiến của mình. Theo sách của ông ghi lại, ông đã đạt định “samadhi” và chứng ngộ vào ngày 21 tháng 3 năm 1953 lúc ông 21 tuổi. Rajneesh đậu bằng Cao học Triết từ viện đại học University of Saugar. Sau đó ông dạy Triết học tại viện đại học University of Jabalpur trong chín năm. Cùng thời gian đó ông đi du thuyết nhiều nơi và trở nên một nhà lãnh đạo tôn giáo.

    Năm 1966, ông từ nhiệm việc giảng dạy tại viện đại học Jabalpur và tập trung các nỗ lực vào việc giáo huấn cho các đệ tử theo ông. Ông thường tiếp các nhóm tu học và cá nhân ở căn hộ apartment của ông ở Bombay, ông hành xử như là vị lãnh đạo tâm linh của họ. Phần lớn các đệ tử của ông đến từ Âu Châu và đã ở Ấn từ vài năm trước.

    Năm 1974, Osho từ bỏ Bombay đến thành phố Pune (Poona), miền Nam Ấn thiết lập trung tâm tu học. Có nguồn tin từ những người chống đối ông cho rằng việc ông rời Bombay là do những sự chống đối của cư dân địa phương. Thực tế việc đến Pune là do nhu cầu phát triển cơ sở hầu thoả mãn chỗ ăn ở và tu tập cho các đệ tử. Trung tâm tu học mới rộng sáu mẫu, nằm ở ngoại ô thành phố Pune. Người ta ước tính có tới năm mươi ngàn người Tây Phương đã đến đây tu học để tìm cầu giác ngộ với ông. Vào năm 1979, ông nhìn thấy phong trào tu học theo ông như là một con lộ nhắm hướng bảo hộ dòng giống sinh sản mới cho nhân loại. Ông nói: “Nếu chúng ta không thể tạo ra những người mới trong hai mươi năm tới, thì nhân loại sẽ không có tương lai. Cuộc tàn sát kiểu holocaust trên quả địa cầu chỉ có thể được ngăn chặn nếu chúng ta cho ra đời những con người mới”.

    Osho dạy một loại thiền mới, một loại thiền động (dynamic meditation) mà ông lấy từ các đạo Kỳ Na giáo (Jainism), Ấn Giáo (Hinduism), Phật Giáo, Lão Giáo (Taoism), Thiên Chúa Giáo (Christianity) và một vài tư tưởng triết học nổi tiếng đương thời, rồi pha trộn thành của mình.

    Năm 1980, ông bị một người theo Ấn Giáo tấn công bằng dao trong khi ông đang thuyết giảng. Vết thương không nặng nhưng do sức khoẻ của ông vốn yếu kém từ những năm trước đây nay trở nên tồi tệ hơn. Một vài đệ tử thân cận với ông cho biết ông thường hay đau yếu và mắc phải hội chứng mệt mỏi (Chronic Fatigue Syndrome CFS), bị bệnh tiểu đường loại 2, bệnh đau bắp thịt, bệnh cao áp huyết và thường xuyên dùng thuốc Valium.

    Năm 1981 ông rời Ấn Độ qua Hoa Kỳ chữa bệnh. Các đệ tử của ông mua một nông trại rộng 65,000 mẫu tại Big Muddy Ranch, Dalles, Wasco County, bang Oregon với giá 6 triệu dollars. Nông trại này sau đó được đổi tên là Rajneeshpuram . Ông đã thiết lập được một làng tâm linh tu học rộng lớn cách thị trấn Antelope 12 miles với một giảng đường rộng 88,000 square foot, một sân bay nhỏ và 4000 hội viên thường trú, một số được trang bị súng phòng thủ. Đời sống trong làng bị nhiều áp lực từ ban lãnh đạo của Oshọ cho đến chính quyền địa phương. Nhiều cư dân địa phương xung quanh sống lâu đời ở đây đã dị ứng với những người mới đến này. Họ chống đối sự hiện diện của nhóm người do ông lãnh đạo, và vì vậy đã có những sự va chạm lẫn nhau. Thành phố từ chối cấp giấy phép xây cất và ra lệnh triệt hạ những cơ sở đã xây không có giấy phép. Khi các viên chức chính quyền địa phương ngăn cản việc xây cất không có phép, thì văn phòng chính quyền liền bị nhóm người lạ mặt ném chất nổ.
    Do hội đồng thành phố tiếp tục từ chối cấp giấy phép xây cất, nên các đệ tử của Osho bầu người của mình vào hội đồng thành phố. Tân hội đồng thành phố lãnh đạo bởi phe thân Osho, đổi tên Antelope thành City of Rajneesh.

    Hai phụ tá cao cấp của Osho là Sally-Anne Croft và Susan Hagan bị truy tố liên quan đến một số tội ác, bao gồm cả tội dự mưu ám sát vị luật sư công tố Charles Turner và vị bác sĩ riêng của Osho. Hai viên phụ tá này bị kết tội 5 năm tù ở với tội danh âm mưu ám sát viên luật sư công tố liên bang Charles Turner, trong âm mưu ngăn chặn việc đóng cửa nông trại. Một số phụ tá khác của Osho chạy thoát về Thuỵ Sĩ, ở đó họ còn nắm giữ một số trương mục ngân hàng cho tổ chức Osho.

    Năm 1983, thư ký riêng Sheela Silverman của Osho thay mặt Osho tuyên bố sẽ có đại cơn tàn phá địa cầu trong khoảng từ 1984 và 1999. Các thành phố Tokyo, New York, San Francisco, Los Angeles, Bombay sẽ bị xoá tên khỏi bản đồ thế giới. Điều tiên đoán này không xảy ra và người ta cũng nghi ngờ điều tiên đoán đó không phải của Osho.

    Theo tài liệu lưu giữ tại Quốc Hội Hoa Kỳ Congressional Record và ghi lại trong quyển sách Germs, New York Times reporter Judith Miller, [Simon & Schuster Book] cho biết một số đệ tử của Osho là thủ phạm gieo rắc vi khuẩn Salmonella tại một số nhà hàng bán salad bar nhằm đe doạ cư dân ủng hộ dự án luật ngăn cấm các hoạt động của Osho. Trong vụ này có 751 người nhiễm vi khuẩn Salmonella. Sự cố này đã gây chấn động ở Hoa Kỳ vào năm 1984 khi được các đài truyền hình quốc gia như ABC News, Lehrer NewsHour of Public Television loan tải trong ngày 1 tháng 10 và trên tuần báo Time Magazine, số ra ngày 3 tháng 10, với tựa đề là "America's First Bioterrorism Attack." [01], [02], [03]

    Lo sợ bị chính quyền áp dụng biện pháp mạnh, một số đệ tử của Osho đã thu xếp cho ông di chuyển đến thành phố Charlotte, bang North Carolina. Nhưng báo Origonian cho biết là Osho đã được các đệ tử đưa đi trốn qua vùng hải đảo, biển Caribbien bằng một máy bay riêng của ông, nhưng bị chận bắt khi máy bay dừng tiếp tế nhiên liệu tại Charlotte, North Carolina. Osho bị bắt giữ vì đã liên tiếp vi phạm luật di trú Hoa Kỳ. Ông bị kết tội môi giới làm giả hôn nhân cho những đệ tử mang quốc tịch Ấn kết hôn với những đệ tử mang quốc tịch Hoa Kỳ để hợp pháp hoá việc định cư. Osho cũng bị truy tố về tội khai man trên những giấy tờ di trú.

    Năm 1987 Osho nhận tội, bị phạt 400 ngàn Mỹ kim và trục xuất khỏi Hoa Kỳ. Ông trở về lại Pune (Poona) Ấn Độ, ở đó sức khoẻ của ông trở nên trầm trọng. Osho quyết định khai tử tên Rajneesh (có lẽ là để dấu khuôn mặt thật của ông bị lộ diện ở Hoa Kỳ) và khai tên mới là Osho. Ông từ gĩa cõi đời ngày 19 tháng 1 năm 1990. Giấy khai tử ghi nguyên do tử vong là bệnh trụy tim.

    Vào thời kỳ cao điểm, có khoảng 200 ngàn hội viên và 600 trung tâm tu học trên thế giới. Osho bị nhiều nhóm chống đối coi ông như là một giáo phái ma quỷ (an evil). Ông cũng được họ gọi là “sex guru” vì ông quảng bá mạnh mẽ về sex. Ông cho rằng “sự thèm khát dục bên trong mỗi chúng ta có thể trở thành chiếc thang mà qua đó đạt tới ngôi đền của tình yêu", rằng "dục bên trong mỗi chúng ta có thể trở thành phương tiện để đạt tới siêu tâm thức, đạt tới định samadhi.” Ông chỉ bày kỹ thuật giao hoan nam nữ cho dài lâu. Xin trích đoạn: “… Việc thở của người ta càng nhanh, thì thời gian giao hợp càng ngắn; hơi thở người ta càng bình thản và chậm chạp thì việc đó càng kéo dài hơn. Và việc giao hợp càng kéo dài lâu, thì càng nhiều khả năng từ dục tạo ra cánh cửa tới samadhi, một kênh cho siêu tâm thức. …. Vào lúc giao hợp chúng ta ở gần với Thượng đế. Thượng đế tồn tại trong chính hành động sáng tạo cho sinh thành nên cuộc sống mới, và do vậy thái độ của người ta nên giống như thái độ của người đi vào chùa chiền, đền đài hay nhà thờ. Vào lúc cực khoái chúng ta ở gần nhất với đấng Tối cao (From Sex To Super-Consciousness – Osho International Foundation)

    Osho phát triển một dạng thiền năng động mới mẻ, được nhiều người biết với tên Dynamic Meditation, thường khởi đầu với các hoạt động mạnh mẽ về thể chất như nhảy múa với âm nhạc kích động, sau đó là thiền im lặng. Phương pháp thiền này, theo Osho, có thể phát triển đến một trạng thái “không tính” và đạt đến giác ngộ. Hành giả sau đó sẽ trở thành “no past, no future, no attachment, no mind, no ego, no self”

    Trong thập niên 1980, các đệ tử của Osho thường mặc y phục toàn màu vàng
    cam đậm (có khi màu nâu đỏ), không phải chỉ có áo choàng. Vì vậy, họ được gọi là "Orange People". Tên gọi nầy khá phổ thông trong thời kỳ đó. Osho ban tước hiệu mới cho đệ tử. Nam được gọi là “Swami” và nữ được gọi là “Ma”. Mặc dầu đa số đệ tử sống trong môi trường khiêm tốn và đơn giản, nhưng Osho, ngược lại, sống trong xa hoa lộng lẫy, tư thất ông ở có máy điều hoà không khí, có bồn tắm nước nóng. Ông có 27 chiếc xe hơi mang hiệu Rolls Royces do các đệ tử hiến cúng. (Có sách nói 93 chiếc)

    Osho dạy rằng Thượng đế trong mọi người và hiện diện mọi nơi chốn. Không có gì ngăn cách giữa God và Not God. Ông thừa nhận Jesus Christ đã giác ngộ và tin tưởng là Jesus còn sống sau khi bị đóng đinh trên cây Thập tự giá và trốn qua Ấn Độ, ở đó Jesus chết lúc 112 tuổi.

    Osho nói rằng ông không chỉ định người kế vị khi ông qua đời, vì tất cả các đệ tử của ông đều sẽ là những người kế vị ông. Tuy nhiên, trước khi chết, ông đã chỉ định một hội đồng gồm 21 người điều hành trung tâm tu học Pune. Trung tâm này đã được phát triển từ 6 mẫu thành 32 mẫu. Ngày nay họ điều hành 20 trung tâm trên khắp thế giới và trở thành một tổ chức kinh doanh với lợi tức hàng năm lên đến nhiều triệu Mỹ kim. Ảnh hưởng chính của Osho bây giờ chính là những sách viết của ông. Cũng nên biết hai phụ tá cao cấp của Osho là Sally-Anne Croft và Susan Hagan bị kết án 5 năm tù ở Oregon hồi năm 1995, đã được phóng thích trước thời hạn mãn tù vào tháng 6 năm 1998 và bị trục xuất về Anh Quốc.


    Nguồn : http://www.thuvienhoasen.org/ddpp-hientuongosho.htm
    Last edited by ChanhPhap84; 12-18-2010 at 06:58 PM.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  3. #3
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Phải chăng Osho là một hiện tượng của thập niên 80 giống như Thầy Thích Chân Quang của thế kỷ 21 . Hai nhân vật này đều có duyên nợ với Phật Giáo , vì cả hai đều dùng giáo lý của Ngài Thích Ca mang một tiềm ẩn vừa cải cách , vừa chấn chỉnh và vô tình hay cố ý đánh phá Phật giáo một cách tinh vi đầy khoa học . Hai nhân vật này cùng chung mẫu số cho rằng Mật tông truyền thừa dục tính và dâm đảng .

    Ở đây tôi không có tham vọng so sánh " Hiện tượng " Osho và Thích Chân Quang , tôi chỉ đưa ra hình ảnh hai vị nhằm dẫn dụ cho tiêu đề " Chân lý Thích Ca " về sau . Nếu chúng ta nói rằng ông Osho là một Đạo Sư và những lời giảng dạy của ông là Giáo lý thì không đúng vì tất cả những lời giảng của ông không có gì mới lạ, chỉ là sự góp nhặt rồi pha trộn từ một số giáo lý của các đạo Kỳ Na giáo (Jainism), Ấn Giáo (Hinduism), Phật Giáo, Lão Giáo (Taoism), Thiên Chúa Giáo (Christianity) và một vài tư tưởng triết học đương thời. Ông bắt đầu sự nghiệp bằng việc giảng dạy môn Triết học tại Đại học, rồi từ đó chuyển qua dạy về khoa Tâm linh cho những đệ tử và những người theo ông. Cũng vậy , Thầy Chân Quang cũng bắt đầu bằng những bài thuyết giảng khác lạ như " Ăn cá đựơc phước " hay cho rằng kinh Đại Thừa có nhiều thêm thắc , ngụy tạo , A Di Đà chưa thành Phật và nghi ngờ cỏi Tây Phương là không thực . Băng đĩa đựơc bán , phổ biến rộng rải như là một luồng gió mới khắp năm châu , đã gây một làng sóng chống đối của Giáo hội , quý Thầy và Phật tử thuần thành . Tuy nhiên cả hai ông vẫn đựơc đa số giới trẽ , Phật tử tiến bộ đón nhận và tìm hiểu , đó là tâm lý thường tình của con người thích đổi thay , mới lạ .

    Ông Osho đã tung ra thị trường một sản phẩm mới nhiều hấp dẫn. Đó là những lời hứa hẹn “giác ngộ và giải thoát” bằng một đường lối rất quyến rũ là con đường tình yêu và tình dục; mà ông tin rằng sẽ được đón nhận ở cả phương Tây lẫn phương Đông. Cũng như Thầy Chân Quang tự nhận đến từ cỏi Vô Hình , còn là cháu CT Hồ Chí Minh , đây là cái gai nhọn cho thế lực chính trị Quốc - Cọng có dịp nhảy vào tuyên chiến .

    Cả hai mặc dầu là người độc tài, độc tôn, độc đoán, nhưng hai ông lại là những nhà thuyết giảng có tài, có mãnh lực quyến rũ và thuyết phục người nghe, người đọc. Những điều ấy của hai ông gây xáo trộn ngay trong nội bộ của Phật Giáo , dư luận quần chúng cũng đã từng xảy ra không biết bao nhiêu cuộc tranh cãi kịch liệt giữa những vị sư,Phật tử có lúc họ còn nặng lời , đưa những hình ảnh , video nhằm hạ bệ với nhau, giữa những đệ tử có lúc đi đến ẩu đã , xâu xác nhau bằng lời nói lẫn hành động .

    Các Ông có lối diễn giảng như hỏa mù, vừa ca ngợi, vừa xuyên tạc đạo Phật qua các Tông phái Đại Thừa , Mật tông , lại vừa lợi dụng uy tín của đức Phật, dùng đức Phật như một tấm bình phong ; nhưng thực chất bên trong nôị dung những điều ông giảng lại chứa đựng những tư tưởng đối nghịch cho rằng ăn cá không sát sanh , thanh niên có quyền tự vệ và cổ xuý tình dục hoàn toàn trái với tư tưởng nhà Phật .

    Osho giảng về tình dục một cách công khai và trắng trợn ở khuôn khổ tôn giáo , điều mà Thầy Chân Quang cũng đã giảng Mật tông dâm lọan :

    “Người ta nghĩ là tôi đang rao giảng về tình dục. Không phải vậy, tôi là một trong những người rao giảng Thượng Đế . Nếu tôi có nói những chuyện liên quan đến tình dục, dĩ nhiên là phải có lý do –mà cái lý do chính là tôi muốn rằng bạn phải hiểu biết về nó trước khi quá trễ. Hiểu biết về nó, hiểu biết một cách hoàn toàn, trực diện với nó và kết thúc với nó. Bạn phải đi vào tình dục trong suy niệm, trong cảnh báo, tỉnh thức –đó là cách thức tiếp cận của Mật tông, đó là phong thái của Mật tông. Thể nhập vào đó và chứng nghiệm. Một khi bạn hiểu biết cặn kẽ một cái gì đó, có nghĩa là bạn được hoàn toàn tự do không còn vướng bận đến nó nữa. Từ kiến thức, đến hiểu biết, rồi giải phóng.”

    Chỉ một điều khác nhau là cuốn sách chống phá Phật giáo của Osho " Thiền , con đừơng nghịch lý " thì không bị kiểm duyệt hay Giáo hội nào đòi thu hồi . Nhưng Thầy Chân Quang thì những lọai băng giảng đi ngược với giáo lý Ngài Thích Ca thì bị đả kích và đòi thu hồi của Phật giáo .

    Thầy Chân Quang cho rằng kinh 48 lời nguyện của A Di Đà lúc nào cũng bắt đầu cầu :Giả sử tôi thành Phật . Giả sử tức là chưa xảy ra , chưa có kết quả ,còn đặt trong giả thuyết , vì vậy Thầy Chân Quang cho rằng đến giờ này A Di Đà vẫn chưa thành Phật , cũng như kinh Địa Tạng không có lưu truyền ở Ấn Độ , thầy nói kinh này chỉ có ở Trung Hoa phổ biến thông dụng , nghĩa là do Đại Thừa Trung Hoa đặt ra . Trong khi đó Osho còn mạnh dạn công kích Phật giáo (Đại Thừa ) mạnh hơn khi viết :

    "Đừng lo sợ gì cả, vì toàn bộ tiến trình giáo lý Bát Nhã Tâm Kinh sẽ giúp anh phóng thể, khai sáng cái bản ngã: cái “Tôi” đó thực không hiện hữu – chỉ cái “Tôi” đó là cái duy nhất không hiện hữu, không thực! Ngoài ra tất cả đều thực có. Có nhiều đạo sư đã nói: “Thế giới này là ảo ảnh và linh hồn mới hiện hữu – cái ‘Tôi” là thực, ngoài ra đều là ảo giác.” Đức Phật lại giảng trái ngược lại: “Cái Tôi là không thực, còn những thứ khác là thực.” Tôi đồng ý với Đức Phật về quan điểm này hơn tất cả những lập thuyết, quan niệm của những đạo sư khác…”
    (Osho: Bát Nhã Tâm Kinh, Việt dịch: Thích nữ Minh Tâm)

    Nếu dẫn chứng thì còn nhiều , tôi chỉ trích dẫn sự giảng dạy của ông Osho và Thầy Chân Quang cùng gặp nhau ở một điểm , nhằm hạ uy tín của Phật giáo như là một vấn nạn đang xảy ra . Tôi sẽ đi sâu nhằm phân tích riêng hai vị thầy này về sau . Nếu người đọc , nhất là Phật tử không có cái nhận thức sắc bén , chuyên sâu thì dễ đi đến ngộ nhận và lầm lẫn .
    Như tôi thường nói , khi dùng danh từ Phật giáo thì nên chỉ rõ là Phật giáo Thích Ca hay Phật giáo A Di Đà . Vì giáo lý giữa hai vị Phật này nghịch chiều nhau . Phật Thích Ca thì dạy : Độc Lập - Tinh Tấn - Tiến Lên , trong khi Phật A Di Đà , Quán Thế Âm thì dạy " Cầu nguyện danh Ngài thì đựơc cứu độ , xóa hết tội lỗi - An phận -Tiêu cực " . Giữa hai tín lý này phải nhìn thật kỷ và bằng óc trí tuệ mới nhận chân lý , lẽ phải từ nguyên thũy Thích Ca . Nếu cứ bao gồm danh từ " Phật giáo " hay " Phật " chung chung thì chân lý của Thích Ca dễ bị ngộ nhận , mà tôi sẽ phân tích sau này .

    ( còn tiếp )
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  4. #4
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.



    Khi nói đến Mật tông tại Ấn Độ hay Tây Tạng thì có nhiều phái và thờ nhiều Thần khác nhau như :Shiva và Shakti (Mật giáo Ấn Độ) ,Vishnu ,Shiva, Shakti v.v... . Mật tông hoặc Mật giáo có gốc từ chữ Sanskrit Tantra, phiên âm Hán Việt là Ðát-đặc-la. Chữ Tantra cũng được dịch là Mật pháp và kinh sách Tantra được gọi là Mật kinh. Nguyên nghĩa của Tantra là “mở rộng, nối tiếp, kéo ra từ khung dệt, liên tục trong một thể thống nhất”. Ðây là một thuật ngữ trừu tượng, khó dịch nên trong ngôn ngữ Tây phương, hầu hết các tác giả để nguyên chữ Tantra.



    Shiva & Shakti (Mật giáo Ấn Độ)

    Trong Mật giáo được chia thành hai phái và họ chú trọng đến tính dục như là một phương thức giải thóat , cứu cánh để đến với Thượng Đế :

    1. Con đường nhơ bẩn và nguy hiểm của Vamachara: con đường tay trái. Phái này có những nghi thức bị xem là cuồng loạn hoặc phóng túng tính dục .

    2. Con đường tinh sạch và thanh thoát của Dahshinnachara: con đường tay phải. Phái này có dùng những nghi lễ thanh lọc và kỷ luật tâm linh chặt chẽ, đòi hỏi sự sùng bái và tận hiến tuyệt đối cho nữ thần Shakti dưới mọi hình thức nghi lễ .

    Quan điểm về tình dục đựơc Osho giải thích rất rõ ràng :

    “Tất cả những nỗ lực của tôi ở đây là làm cho các bạn trở nên chán ngán tình dục. Bởi vì chỉ khi nào bạn chán ngán tình dục, bạn mới quay trở về lại với Thượng Đế, và không hề có chuyện ngược lại. Một người bị ẩn ức sinh lý sẽ vẫn còn quan tâm đến tình dục mãi, đó là lý do tại sao tôi chống lại sự ức chế. Có thể bạn sẽ ngạc nhiên nhưng đó là lô-gíc của tôi, sự tính toán của tôi. Một người bị ức chế sinh lý sẽ vẫn còn quan tâm đến tình dục, vẫn bị ám ảnh bởi tình dục, thế nên tôi nói rằng bạn cứ việc thanh thoả với tình dục đi và rồi ngay sau đó bạn sẽ chán, chuyện đó sẽ chấm dứt. Và khi bạn đã thanh thoả xong với nó, tình dục mất tất cả ý nghĩa của nó rồi, thì đó chính là ngày trọng đại, là giây phút lớn lao nhất trong đời bạn. Lúc đó bạn trở nên quan tâm đến Thượng Ðế, điều mà chưa bao giờ xảy ra trước đây.”

    Với lập luận Bởi vì chỉ khi nào bạn chán ngán tình dục, bạn mới quay trở về lại với Thượng Đế , Osho cho rằng khi con người tự do hưởng thụ dục tính thì không còn mơ ứơc , tò mò vì chuyện ái ân , ông ta cho rằng vì đầu óc còn ham muốn thì không có chỗ trống nào để Thượng Đế ngự trị . Khi chán chê , thỏa mãn không còn quan tâm đến tình dục , không bị ám ảnh và ức chế con người dễ dàng đến với Thượng Đế hơn . Osho cho đó là một điều lạ và chưa bao giờ xảy ra hay đề cập trước đây . Cho nên các tu sĩ có quyền lấy vợ như Tin Lành , tại sao Công giáo , Phật giáo lại không nghĩ đến . Trong Thánh Kinh hay giới luật nhà Phật không có điều khỏan nào bắt tu sĩ phải sống độc thân , từ đó họ không đến với Chúa , Phật vì còn bị ức chế tình dục nên thường xảy ra chuyện xâm phạm tình dục , điều mà ông Osho cho rằng lý luận của ông ta không sai .

    Osho chủ trương theo tình dục không giống như Phật giáo dạy phải diệt dục vì dục là nguồn gốc của khổ đau và luân hồi . Osho dành nhiều buổi thuyết giảng tình dục và viết thành một quyển sách nói về Dục , ông hết lời ca ngợi , đề cao quảng bá dục; nhất là tình yêu và tình dục . Trong tình yêu cần có dục vì đó là chất xúc tác như là một lọai keo vô hình gắn bó giữa nam nữ .

    Con người muốn đến Niết Bàn , Tây phương cực lạc hay Thượng Đế tối cao không gì bằng phải qua con đừơng tình dục . Ông không những hướng dẫn , chỉ bày mà còn cho là một nghệ thuật trong chuyện phòng the , làm sao sex đựơc lâu và đạt đến sung sướng tột đỉnh mà ông gọi là giáo lý phải thuộc nằm lòng :

    “..Nhưng người đã nghiên cứu về dục, người đã đi sâu vào nó, người đã thiền về những kinh nghiệm nhiều kiếp, đều nêu ra rằng nếu giao hợp chỉ kéo dài một phút thì con người sẽ ham muốn nó lần nữa vào ngày hôm sau, nhưng nếu nó có thể được kéo dài trong ba phút thì người đó sẽ không nghĩ về dục trong một tuần tiếp sau. Hơn nữa, họ đã quan sát rằng nếu giao hợp có thể được kéo dài trong bẩy phút thì người đó sẽ tự do khỏi dục đến mức không ý nghĩ đam mê dục nào nẩt sinh trong người đó trong ba tháng. Và nếu thời kì giao hợp có thể kéo dài ba giờ thì người đó sẽ tự do với dục mãi mãi; người đó sẽ không bao giờ ham muốn nó lần nữa!

    Nhưng kinh nghiệm của con người nói chung chỉ kéo dài trong một khoảnh khắc; thậm chí khó mà tưởng tượng được một thời kì ba giờ. Tuy nhiên, tôi lặp lại: nếu một người có thể vẫn còn trong tư thế giao hợp, có thể vẫn còn trong samadhi đó, trong sự chìm ngập ba giờ, thế thì chỉ một hành động giao hợp đó cũng đủ để giải phóng người đó khỏi dục cho phần còn lại trong cuộc đời mình. Nó để lại sau một kinh nghiệm mãn nguyện, một kinh nghiệm phúc lạc đến mức nó kéo dài cả đời. Sau việc giao hợp hoàn hảo đó thì không còn rào chắn để đạt tới vô dục thực sự.

    Thậm chí sau cả đời kinh nghiệm dục chúng ta cũng chẳng bao giờ đạt tới bất kì đâu gần cái giai đoạn tối cao đó, gần điều thiêng liêng đó. Tại sao? Người ta đạt tới tuổi già chín muồi, đi tới cuối cuộc sống của mình, nhưng người đó chưa bao giờ được tự do khỏi sự thèm khát dục, khỏi niềm đam mê giao hợp. Tại sao? Bởi vì người đó chưa bao giờ hiểu mà cũng không được bảo cho về nghệ thuật dục, về khoa học dục. Người đó chưa bao giờ xem xét nó; người đó chưa bao giờ thảo luận về nó với người đã chứng ngộ.

    Bạn có thể ngần ngại rằng một kinh nghiệm mà thường chỉ kéo dài một khoảnh khắc lại có thể được kéo dài trong ba giờ, cho nên tôi sẽ nêu ra cho bạn một số điểm chỉ dẫn. Nếu bạn chú ý tới chúng, thì cuộc hành trình tới vô dục sẽ trở nên đơn giản hơn.

    Việc thở của người ta càng nhanh, thì thời gian giao hợp càng ngắn; hơi thở người ta càng bình thản và chậm chạp thì việc đó càng kéo dài hơn. Và việc giao hợp càng kéo dài lâu, thì càng nhiều khả năng từ dục tạo ra cánh cửa tới samadhi, một kênh cho siêu tâm thức. Như tôi đã nói trước đây, việc hiểu về vô ngã, về vô thời gian, bắt đầu hé mở ra cho con người trong samadhi-dục đó. Việc thở phải rất chậm. Việc làm chậm hơi thở sẽ mở ra viễn cảnh ngày càng sâu sắc hơn của nhận thức rõ.

    Một điều khác cần phải nhớ trong hành động giao hợp là ở chỗ nhận biết của bạn nên được tập trung vào giữa hai con mắt, ở chỗ của agnichakra. Nếu sự chú ý được tập trung vào đó, thì thời hạn cực đỉnh có thể được kéo dài - thậm chí tới ba giờ. Và một hành động giao hợp như vậy có thể bắt rễ chắc chắn một người vào mảnh đất của vô dục - không chỉ cho kiếp sống này mà cho kiếp sống tiếp nữa..”
    (Osho: Từ Dục Tới Siêu Tâm Thức (Bài nói thứ 4)©Osho International Foundation)

    Trong những nghi lễ và thực hành Mật giáo, đòi hỏi một thực tại duy nhất, chứa đựng cả cảnh giới riêng biệt được nghĩ theo cách bình thường là thế giới vật chất, lẫn thế giới nhân sinh bao gồm thể xác và tâm linh với những khát vọng và kỳ vọng của con người . Điều này Mật giáo không dấu diếm và từ chối . Vì nghi lễ Mật giáo hàm ý chỉ có một thế giới duy nhất, toàn vẹn và tương liên nối kết, thực tại đầy cảm xúc, của tâm thức và thân xác hoà lẫn ảnh hưởng cùng bổ túc lên nhau. Đương nhiên những điều giảng trên không phải là của Phật giáo mà là của Mật Giáo Ấn Độ hay như Osho gọi chung chung là Mật tông. Cho dù Mật tông xác nhận nằm trong hệ Phật giáo . Điều này chỉ là một sự gượng ép và chấp nối kiểu " Ô dù " mượn Ngài Thích Ca để truyền đạt giáo lý Mật tông . Đức Thích ca hoàn toàn bác bỏ dục vọng của Mật tông , cũng như Ngài không dạy cầu nguyện đựơc Phước của Đại Thừa - Tịnh Độ . Đây là những móc xích gay cấn , ngoằn nghèo mà Mật tông , Đại thừa đã làm tổn hại đến truyền thống Phật giáo giải thóat của Như Lai . Ngày nay nhân lọai và giới Phật tử trí thức đang gạn lọc , phân tích , biện luận nhằm trả lại sự trong sáng chân lý của thích Ca .
    Last edited by ChanhPhap84; 12-18-2010 at 07:06 PM.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  5. #5
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Đối với Đức Thích ca việc trở ngại làm cản trở lớn nhất của đời người là thê nhi . Vai trò phụ nữ dù ở tôn giáo nào cũng là đầu đề cho mọi tội lỗi . Tội tổ tông từ Kito giáo cũng vì bà Eva xúi Adam ăn trái cấm để hiểu biết quá nhiều , nhất là chuyện tình dục . Điều mà God cấm tuyệt đối không cho loài người nên biết . Riêng Đức Phật không cấm đóan quá khắc khe với đàn bà như God , Ngài chỉ khuyên nên đề phòng và dè dặt , tránh né khi tiếp xúc với họ .
    Trong giáo lý kể chuyện . Một hôm Ngài A nan mới bạch Phật rằng :

    -Bạch Thế Tôn ! Ra đừơng con có nên gặp phụ nữ không ?

    -Tốt hơn không nên gặp .

    -Nếu nhở gặp rồi thì sao ?

    -Nếu nhở gặp thì không nên nói chuyện .

    -Nếu con nhở nói chuyện thì sao ?

    -Nếu phải nói chuyện thì nên dè dặt lời nói .

    Cũng vì thế bà Dì của Đức Phật ba lần xin thọ giới quy y nhưng Ngài không chấp nhận , mặc dù bà có công nuôi dưỡng Đức Thích Ca từ nhỏ , sau khi hoàng hậu Ma- Da qua đời . Vì lợi ích và sự tồn vong của chánh pháp Ngài phải gạt bỏ tình riêng . Cuối cùng nhờ Anan kiên trì van xin nên Đức Phật đành chấp nhận , nhưng Ngài tiên đóan giáo lý của Ngài sẽ giảm thọ mất 500 năm vì tăng đoàn Tỳ Kheo Ni .

    Đức Phật là vị đại giác ngộ , nhìn xa thấy rộng nhưng cũng không thóat khỏi số mệnh và hoàn cảnh do phụ nữ đưa đến . Huống chi xét về hoàn cảnh con người nhỏ bé như tôi làm sao thóat khỏi bàn tay những yêu nữ , điều đó càng làm tôi kính trọng và tuyệt đối tin tưởng Đức Thích Ca . Ví dụ : Tôi muốn Yên một Phương để tìm lại chân lý vốn đã và đang bị pha trộn , xuyên tạc đánh phá " chân lý Thích ca " từ những đứa con của Ngài như Mật tông , Tịnh độ tông , hay ngọai đạo Bà La Môn , Hồi giáo , Osho , nhất là đạo Chúa vốn quyết tâm huỷ diệt chánh pháp của Ngài . Họ cứ theo đuôi , tìm đọc rồi viết lời dèm pha , posted những lời trêu ghẹo , châm chích nhằm gây sự chú ý của tôi về họ . Bà ta bảo ,"..... trích dẫn lời nói , câu kinh mà bảo không đựơc giống y , vì giống là copy ". Bà ta muốn tôi sửa khác đi để vào tù mới thỏa lòng nham hiểm của bà . Sự thông thái của con người trông làm sao bằng hạt cát giữa sa mạc là mừng lắm rồi . Thế mà bà tặng sự hiểu biết của tôi bằng " Hạt mít " . Tôi không vui mừng và nhận lãnh hạt mít quá lớn thế đâu . Nói cho cùng , tôi chẳng trách gì bà và trước đây có bà Tám tửng cũng theo khuấy phá , chọc ghẹo - vì họ là đàn bà . Tôi không quan tâm , óan trách mà còn tha thứ , vì tôi hiểu những phụ nữ như thế là đang bí tỷ , ức chế sinh lý lâu ngày nên lọan não , điên cuồng và thích online theo chọc ghẹo gây sự chú ý của nam giới để mong thanh thỏa , đó gọi là " Tình dục " như ông Osho đã viết :

    Một người bị ức chế sinh lý sẽ vẫn còn quan tâm đến tình dục, vẫn bị ám ảnh bởi tình dục, thế nên tôi nói rằng bạn cứ việc thanh thoả với tình dục đi và rồi ngay sau đó bạn sẽ chán, chuyện đó sẽ chấm dứt.

    - Mật giáo cho rằng loài rắn là khôn ngoan ( Kito giáo cũng cho như vậy ) , lại thông minh nếu không nói là " xảo quyệt " , vì rắn nhờ chuyện tình dục rất mạnh . Kundalini nghĩa đen là con rắn hay sức mạnh của rắn . Mật giáo cho rằng sức mạnh ấy cũng giống như con rắn cuộn mình ngủ ở đốt cuối cùng của cột xương sống con người. Khi được đánh thức bằng phương pháp quán tưởng thích đáng, nó sẽ đi ngược trở lên từ luân xa này tới luân xa khác khắp thân thể con người . Theo Mật tông giáo lý giải thích hiện tượng này cho rằng :

    Dọc theo thân thể, có bảy luân xa năng lượng tinh tế, đánh dấu sáu giai đoạn giải toả đi lên của sức mạnh tâm linh, và chúng được tượng trưng bằng các “bông sen” luôn luôn xoay tròn như bánh xe.

    1. Luân xa thứ nhất nằm ở đốt dưới cùng của cột sống, chỉ huy cơ quan sinh dục, tượng trưng bằng bông sen đỏ 4 cánh.

    2. Cái thứ hai nằm ngang bụng dưới, chỉ huy các cơ quan nội tiết và sinh sản, tượng trưng bằng bông sen đỏ như son 6 cánh.

    3. Cái thứ ba nằm ngang rốn, tương ứng với hệ dinh dưỡng và tiêu hoá, tượng trưng bằng bông sen xanh 10 cánh.

    4. Cái thứ tư nằm ngang vùng tim, tương ứng với hệ huyết quản, tượng trưng bằng bông sen đỏ chói 12 cánh.

    5. Cái thứ năm ở lõm cuống họng, tương ứng với hệ hô hấp, tượng trưng bằng bông sen đỏ tía 16 cánh.

    6. Cái thứ sáu ở giữa hai lông mày, tương ứng với hệ thần kinh phản xạ, tượng trưng bằng bông sen màu trắng 2 cánh.

    7. Cái thứ bảy nằm ở đỉnh đầu – huyệt bách hội, cũng có thể hiểu là nằm ngay bên trên thân thể, tương ứng với bộ não, tượng trưng bằng bông sen ngàn cánh màu trắng, rực sáng như chớp.
    ( Xem hình )



    Shakti

    Thời điểm rộ nở bông sen ngàn cánh cũng chính là thời điểm hoả hầu được giải toả trọn vẹn, tiểu vũ trụ con người hoà nhập với đại vũ trụ. Chính lúc ấy năng lượng tâm linh một khi được đánh thức, có thể triển khai tột cùng sức mạnh và ánh lộng lẫy của nó. Hành giả sẽ cảm nhận sự hoan hỉ tuyệt đỉnh, nhận thức tuyệt đối và là trí giả toàn vẹn. Do đó, sự giải toả quyền năng hoả hầu kundalini trở thành cứu cánh toàn bộ của yoga Mật giáo.

    -Vì sao tôi nói Đại thừa - Tịnh độ chỉ nương tựa vào " ô dù " Ngài Thích Ca , nhưng không phải là giáo lý Thích Ca ? Vì Tịnh độ tông mục đích DUY NHẤT là cầu nguyện chú trọng dựa vào đức tin và lòng từ bi cứu vớt của Phật hoàn toàn giống Kito giáo . Vì vậy đối với Phật giáo khi du nhập vào Tây phương từ thế kỷ 19- 20-21 , ban đầu người Âu Mỹ cho rằng mới lạ khi học giáo lý giải thoát của Thích Ca , nhưng sau đó Tịnh độ tông lang tràng , trà trộn vào làm cho người Tây phương chán ngán , dạy đức tin , cầu nguyện nên họ muốn trở lại với đạo chính thống của tổ tiên . Phải chăng bước đầu Tịnh độ đã bẻ gãy đôi tay nhà Phật .

    -Đối với Thiền tông khi tu dựa vào trí tuệ của chính mình ,dựa vào sức mình là chính , không cầu nguyện , nương tựa vào một tha lực nào khác , tự mình quán sát , tự mình từ bỏ vọng tưởng và cũng tự mình đạt ngộ đến chơn tâm . Nếu đạo Phật đựơc truyền bá theo tinh thần Thiền tông thì ít ra cũng thu hút rất mạnh giới Tây phương đang bị gò bó , tắc nghẽn về đức tin và cầu nguyện của Kito . Ngày nay , để tạo không khí mới và đồng thời nắm giữ con chiên , nhiều nhà thờ đã kết hợp thánh lễ với Thiền định của Phật giáo , điều này thu hút sự tham dự của nhiều người rất đông . Phải chi chỉ có Thiền tông lãnh nhiệm vụ truyền bá , giáo hóa thế giới chánh pháp Thích Ca qua chân lý này mà đáng ra Đại thừa - Tịnh độ đừng xen vào phá đám .

    -Riêng Mật tông với chủ trương dựa vào sự huyền bí của những câu thần chú và man đà -la , những bùa chú thần kỳ đầy bí hiểm , lại cổ xuý truyền dạy phương thức hành dục , thỏa mãn dục tính là đánh tang sự mơ ứơc tâm linh , nhận chân đựơc thực tại sau khi thỏa mãn , từ đó họ dễ dàng tìm đến Phật , Chúa . Quả là một điều sai lầm và chủ trương cúa nhóm người núp vào Phật , Thượng đế để đựơc tham ái , thỏa mãn tình dục cá nhân . Đối với Đức Như Lai ,dục tánh là điều mà Đức Phật hoàn toàn bác bỏ , lọai trừ vì cho đó là nguyên nhân của vô minh .
    Last edited by ChanhPhap84; 02-27-2011 at 01:29 PM.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  6. #6
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Đối với Hoa sen là sự tượng trưng cho tinh khiết và lòng can đảm :

    Trong đầm gì đẹp bằng sen ,
    Lá xanh bông trắng nhụy vàng .
    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn .

    Nhưng Mật tông lại lấy bông sen để chỉ tượng trưng cho các huyệt đạo dục tính . Hoa sen đựơc tôn trọng là loài bông cao quý vì nó từ bùn mọc lên, được bùn nuôi dưỡng, thậm chí được dành một cọng riêng không chung với cành , lá mà vẫn đủ sức sống, hương thơm thì ngạt ngào dìu dịu tươi cười dưới gió mai . Hoa sen vẫn là biểu tượng tâm linh của Phật giáo; nhưng Phật giáo không nói gần bùn, mà nói thẳng là từ bùn sinh ra ( liên hoa xuất ư nê, như bài kệ của thiền sư Minh Lương thế kỷ 17). Tiếc thay hình tượng Hoa sen được tôn vinh theo kiểu Mật thừa là bôi nhọ trắng trợn hình ảnh cao quý của Hoa sen trong Phật giáo .

    Phải nói rằng : Hoa sen của Phật như là một biểu tượng giống như biểu tượng văn hóa nghệ thuật Việt Nam là cây tre, trống đồng, chiếc nón lá bài thơ xứ Huế ... Khi nói đến biểu tượng là cái gì cao đẹp , thanh khiết đại diện , tượng trưng cho một tập thể ,một ôn giáo hay một dân tộc . Bôi nhọ biểu tượng là chà đạp lên nhân phẩm và quyền độc , tự do của tập thể đó .Hơn thế nữa Hoa sen biểu hiện cho sự khai sáng và hoàn mỹ, hoa sen gắn kết với làng quê, cung đình, chùa chiền... và cũng rất gần gũi với cuộc sống của người Việt Nam , hoa sen đựơc trồng nhiều nhất ở Đồng Tháp Mười , Cà Mau " Tháp Mười đẹp nhất bông sen ".

    Có người hỏi tôi :" Hoa sen là hình ảnh giống thiền định chăng ? " Đó là câu hỏi hay , một sự so sánh chiếc Hoa thẳng đứng , vươn lên từ bùn nhơ đại diện như sự ô trược của tâm linh đứng vững trên một cọng sen không có sự phù trợ cành , nhánh khác , không vướn bận chung quanh . Mặc dù thiền định trong tư thế ngồi riêng biệt có ý nghĩa để giử tâm thức không loạn động . Nhưng thiền định cũng bao gồm những dao động liên tiếp để làm quen với tư tưởng tích cực bị đưa đẩy khi làn gió thỏang qua , bị sức cọ xác của những cành sen khác là giao thoa tư tưởng , việc làm trong chánh niệm tu trì . Đó là lý do tại sao thường xuyên đều đặn đọc và trì tụng thần chú - giáo lý và cầu nguyện mà Tịnh Độ , Mật giáo đưa vào trong nghi lễ Phật giáo .

    Thời gian và trí tuệ không đòi hỏi sự dừng lại và đưa đẩy tâm linh thay đổi chẳng khác gì giòng sông . Đây là lý do tôi suy gẩm : VÌ SAO CÓ SỰ THÊM BỚT vào kinh Phật . Cho dù nguỵ biện , che dấu hoặc đánh bóng của tri thức , các tôn giáo đều bị giòng chảy này lôi cuống , không riêng gì Phật giáo . Đối với tôi , dù là ai , ở nước nào , Thần Thánh hay vị Phật , Bồ Tát nào thì điều đó không quan trọng . Làm sao những bài kinh , câu kinh làm cho con người tiến lên về mặt tâm linh , tinh thần đựơc giải thóat trong đạt đến sự tự do , độc lập như loài sen , tất cả đó là điều tốt . Nhưng thực chất , than ôi , những điều mơ ứơc ấy có xảy ra nhưng không hoàn minh , tinh tấn , trong suốt như những đấng giác ngộ hay cá nhân " Hạt Mít " như tôi mong muốn . Mà toàn là sự thêm thắc phần nhiều mang tính cách nhằm ru ngũ , an phận , yếu đuối , thoả mãn dục tính bình thường . Tất cả đó là sự đi xuống về mặt tâm linh hơn là vươn lên để thóat khổ .Tôi không cố chấp những hình thức của nghi lễ tôn giáo , dù là tụng niệm , thiền định , Yoga hay cầu nguyện đi nữa nó phải mang một ý niệm trong sáng và tự cường như là những giọt dầu tiếp nối nhau châm vào giúp ngọn đèn trí tuệ tiếp tục bừng sáng , đó mới là giữ gìn đạo pháp và chánh pháp Như Lai .

    Trong kinh điển có thể là những dòng thơ bao hàm những lời khuyên vô cùng lợi ích , những bài hát vọng cổ như Nam bộ Việt Nam , Cao Đài , Hoà Hảo cùng là những điệu ngân nga là cố vấn giúp đở cho chúng ta luôn luôn chú tâm đến những người khác quan trọng hơn chính bản thân và tâm mình khi tu trì . Khi chúng ta trực diện những cảm xúc rối loạn đột phá nguy hại đến tâm thức bình an lúc tu tập , chánh niệm hay thiền định chúng ta cố gắng truyền đi những gì gọi lợi ích đến người khác trong khi làm việc dù gặp bất cứ khó khăn nào xảy ra về mặt tôn giáo : Đó là tu trì . Nếu cầu nguyện bằng tâm thức lành mạnh như thế sẽ lang rộng đến những người đọc , tụng , thiền định , yoga của họ có thể tìm thấy cảm hứng hay những truyền cảm trong tác phẩm tôn giáo sẽ mở rộng tâm thức cho bình an với trái tim nồng ấm chan hoà cho cá nhân mình và đại chúng . Cũng từ đó có thể là chìa khoá đi đến hạnh phúc miên viễn trên giòng chảy tâm linh của mọi tôn giáo , không riêng gi Phật giáo chúng ta .

    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  7. #7
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Khi đọc những giòng thiền đựơc lý luận qua Osho mang tính cách luẩn quẩn , triết lý nhằm gây hõa mù và dẫn dắt người đọc từ trạng thái này chạy sang ẩn dụ khác . Với thiền có nhiều cách , nhiều phương pháp và nhiều tông phái , nhưng dù nằm ở một vị thế tu tập nào cũng điều có mẫu số chung là tịnh tâm , nó thuộc về tâm trí nhiều hơn là nghi thức và đức tin bởi một Thần linh , Phật Thánh phò trợ . Khi thiền định , bạn cần phải có một sự cố gắng lớn nơi tâm trí , vì hơi thở không có gì đặc biệt, không lãng mạn, không phiêu lưu, hay hấp dẫn...hơi thở rất là tầm thường và bình dị gần bên ta mà đôi lúc không mấy ai quan tâm để ý .

    Osho cho rằng : Thiền là một tôn giáo tương lai . Trong đó thiền sẽ bắt gặp các Thần Thánh , và cả Thượng đế . Vì vậy ông cho rằng :

    Nhật Bản có một từ ngữ đặc biệt để diễn tả điều này. Họ gọi đó là konomama hay sonomama –“Cái Ðây là” của hiện hữu. Một chữ Ðây viết hoa- không là cái gì khác. Chính cái như thị này của đời sống mới là Thượng Ðế, không là cái gì khác. Chính cái như thị trong khoảnh khắc này đây mới thánh hóa, thiêng liêng: cái như thị của một cành cây, cái như thị của một hòn đá, cái như thị của một người nam, cái như thị của một người nữ, cái như thị của một đứa trẻ. Và cái như thị đó không hề được định nghĩa, không thể được định nghĩa. Bạn có thể tan biến vào đó, thể nhập vào đó, nếm được hương vị của nó. “Thật là tuyệt vời! Thật là mầu nhiệm!”

    Vâng, bạn không thể định nghĩa được nó, không thể phân tích nó một cách luận lý, không thể đóng khung nó vào một ý niệm dứt khoát, rõ ràng. Nó sẽ bị giết chết bởi ý niệm. Nó sẽ không còn là như thị nữa mà là một sản phẩm cấu trúc của tâm. Cái danh từ “Thượng Ðế” không phải là Thượng Ðế, cái ý niệm về Thượng Ðế không phải là Thượng Ðế.Cũng vậy ý niệm về “tình yêu” không phải là tình yêu, ý niệm về “thực phẩm” không phải là thực phẩm. Thiền đã nói ra điều này một cách rất đơn giản: Hãy nên nhớ rằng thực đơn không phải là món ăn. Bạn đừng có xơi luôn thực đơn nhé. Nhưng đó là điều mà người ta đã làm hàng bao thế kỷ qua: xơi luôn cả thực đơn !


    Đối với thiền Minh Sát , ta không cần phải chọn những đề mục đặc biệt để tập chú tâm như hơi thở vào ra , hoặc đôi lúc phải hòa nhập với chúng như một thực thể . Chúng ta chỉ cần nhìn, quan sát để hiểu rõ sự vật như nó là chính nó . Khi nào ta thấy rõ sự vật như nó là thì bạn sẽ thấy những cảm xúc thật là vô thường. Mọi thứ mà ta thấy, nghe, ngửi, nếm, sờ mó ; tất cả những khái niệm về trừu tượng... những cảm giác của bạn, ký ức hay ý nghĩ đang trên đà thay đổi, và tâm tưởng của bạn cũng vì thế mà đổi thay... Chúng xuất hiện một lúc rồi chúng biến mất như những ảo giác không tưởng . Đó là một sự đuổi bắt mà Osho cho là một cái vòng " luẩn quẩn " về sự tái tạo rồi biến mất từ cái hạt thành mầm giống thành cây sanh ra hạt rồi trở lại mầm giống . Chính tâm thức bạn lúc thiền định nó cũng xoay vòng như thế . Ðây không phải là một triết lý hay một sự tin tưởng có tính cách Phật học, mà đây là thấy được Vô thường theo Đức Phật đã nhận định , nghĩa là mọi tạo vật đều đổi thay từng sát na và không bao giờ đứng yên một chỗ như con gà ra cái trứng và cái trứng trở lại con gà ........Điều mà Osho gọi sự luẩn quân này là "tiến trình cái vòng luẩn quẩn" mà ông ta cố lý luận để bác bỏ :

    Cái tiến trình “nói về” này chính là thần học. Cái “nói về” này dẫn ta đi lòng vòng, chẳng bao giờ đưa ta đến cái đích thực. Ðây là cái vòng luẩn quẩn. Luận lý chỉ là cái vòng lẩn quẩn. Và Thiền chính là những nỗ lực nhằm đưa ta thoát ra khỏi cái vòng lẩn quẩn đó.


    Trong đời sống của chúng ta được dựa trên sự phán đoán sai lầm vì chúng ta không hiểu cũng như không chịu tìm tòi sự thật và không dám đối diện khi sự thật đưa đến . Tâm lý chúng ta muốn sống trong ảo giác và muốn tìm sự an ủi , nương tựa vào Thần linh hơn là chính bản thân ta .Trái lại đối với một người không tỉnh thức , cuộc sống dường như lúc nào cũng chán chường, lộn xộn, nhất là lúc mà những thất bại hay đau buồn , tuyệt vọng xảy đến. Như vậy, người đó dễ bị khủng hoảng thần kinh, vì họ đã không quan sát được sự vật bằng tiềm thức của chính họ . Vậy thì điều Osho cho rằng "Thiền là vô niệm và vô trí -không hề là sản phẩm của ý niệm, và trí tuệ " có đúng không ? Đối với Phật giáo không hẳn chấp nhận như thế . Trí tuệ luôn luôn dẫn dắt hành động , kể cả lúc bạn đi vào thiền định . Khi chúng ta quan sát thân thể như nó là một vật thể . Thân thể là thuộc về thiên nhiên, cơ thể con người thuộc về đất, nó cần được nuôi dưỡng bằng những thức ăn từ mặt đất. Bạn không thể sống bằng không khí hoặc thử nhập cãng thực phẩm từ hành tinh nào khác . Bạn cần phải ăn những thức ăn được nuôi dưỡng và lớn lên từ trái đất nầy. Khi mà cơ thể hư hoại, nó trở về cát bụi, nó hư thối, mục rửa và trở nên một với đất , đó là bản chất cấu tạo con người do ĐẤT - NƯỚC - GIÓ - LỮA mà Đức Thích Ca đã giảng . Nó chỉ theo chu trình tự nhiên của sinh và diệt, của thành và hoại : Đó là VÔ THƯỜNG . Tất cả những gì sanh ra sẽ lớn lên, già đi và rồi chết : Đó là VÔ THƯỜNG . Tất cả mọi thứ trong thiên nhiên cho đến vũ trụ, cũng có thời hạn của chúng; sanh rồi chết, bắt đầu và kết thúc như một vòng tròn bất di bất dịch không lọai trừ một ai . Tất cả những gì chúng ta nhận thấy và có khái niệm đều trên đà thay đổi; chúng vô thường, vì thế không có gì có thể là trường tồn vĩnh cữu , bất biến .

    Osho không tán đồng chân lý vô thường của Đức Phật , ông bác bỏ những lý thuyết , Thần học chỉ là những võ bọc giam hảm con người không thóat ra để trưởng thành :

    Thế nhưng con người bị bao quanh bởi thần học. Những lý thuyết thần học này giữ họ mãi trong tình trạng ấu trỉ, không cho phép họ trưởng thành. Bạn không thể nào trưởng thành được khi bị giam hảm ở trong hàng rào thần học, khoác lên người chiếc áo Ky tô hữu, hay Ấn Ðộ giáo, hay Hồi giáo, và ngay cả Phật tử. Bạn không thể trưởng thành. Bạn không đủ chỗ để lớn dậy. Bạn bị giam hảm quá kỹ, trong một không gian nhỏ hẹp; bạn đang bị bỏ tù.

    Điều này có đúng không ? Tôi thấy Osho đã từ bỏ và không nhận ra bản lai diện mục của ông là ai ? Từ đâu đến ? Và đi về đâu ? Đọc những gì ông viết dễ đưa đến sức cuốn hút của những cơn lốc bão ngôn từ và lý luận , nhưng bình thản nhận chân cũng giống như chúng ta lạc vào một hang động loanh quanh cũng chẳng có gì mới lạ trong tư tưởng của Osho .
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  8. #8
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Nhiều người đang hô hào thiền , quảng cáo thiền như một vị lương y tài giỏi . Vì nó sẽ là thầy thuốc chữa bệnh đau đầu , sổ mũi , nhức nhối từ thân xác đến tinh thần , có thể đựơc chăng ? Trong cuộc sống của ta thường mong muốn được như ý từ những cảm thọ thì sự thỏa mãn nầy chỉ ngắn hạn, dù hạnh phúc, cũng chỉ trong giây phút vì nó cũng thay đổi. Cảm thọ luôn đổi thay và si mê, thiếu hiểu biết, nên chúng ta hay đòi hỏi quá đáng nơi những cảm thọ. Chúng ta hay hy vọng, đòi hỏi, tạo ra đủ mọi thứ để rồi sau đó cảm thấy thất vọng, chán chường, hối tiếc, với nỗi thống khổ già, bệnh, chết. Từ đó chúng ta thường tìm về chỗ nương tựa tâm linh , không ai khác hơn là Thượng đế , Thánh thần . Họ là ai không cần biết , nó chỉ là trừu tượng hay hiện hữu , nhưng khi đến với họ chúng ta cảm thấy an lạc hơn . Điều này không hoàn toàn đúng tuyệt đối , theo nhà văn hào Jean Paul Sarte định nghĩa về cảm tưởng , thiên đừơng của ông ta :

    "Âm hộ là một hố sâu thâm thấm và ươn ứơt mà nơi đó ta tìm ra Thượng đế ".

    Đó cũng là quan niệm hành thiền của ông ta . Đó cũng là ý thức của cảm thọ. Tư tưởng có thể suy nghĩ một cách trừu tượng, có thể tạo ra đủ thứ ý kiến và hình ảnh, có thể làm cho mọi vật trở nên xinh đẹp hay xấu xí , dơ bẩn , nó đựơc diễn biến tuỳ theo cảm thọ bất biến và thay đổi . Nó có thể đi từ một trạng thái đẹp đầy mơ mộng , hạnh phúc tới đau đớn ê chề , khổ sở : Con đừơng sẽ đi từ thiên đàng đến địa ngục chỉ là gang tấc trong tầm tay . Nhưng không có thiên đàng hay địa ngục thường trực, bởi vì tất cả đều là vô thường theo nguyên lý nhà Phật . Mọi vật sẽ đổi thay và xoay vòng trong không gian lẫn thời gian không cố định .

    Tất cả là quan niệm của bạn và mọi người nhìn về thiền . Nó có thể là đẹp tuyệt vời , cũng là khổ đau vô hạng . Nó là của bạn theo quan niệm của Osho , nó hiện hữu và sẵn sàng đối diện khi bạn cần đến nếu bạn tĩnh lặng để Thượng Ðế cùng rung động, cùng chung một nhịp đập với trái tim bạn . Nói vậy , bạn đang thổn thức vì đau khổ , nghẹn ngào trong giòng nước mắt của tức tối , oan khiên thì vấn đề này bạn có cùng Thượng Ðế rung động, cùng chung một nhịp đập với trái tim bạn hay không ? Câu này tôi muốn hỏi và đặt vấn đề với Osho khi ông viết :

    Thật là tuyệt. Vâng, bạn không thể chiếm hữu nó, nhưng cũng không thể nào làm mất được nó. Nó ở đó. Nó luôn có mặt ở đó. Nếu bạn tĩnh lặng, bạn sẽ bắt đầu cảm thấy nó. Bạn phải hòa điệu cùng nó. Bạn phải trở nên tĩnh lặng để có thể lắng nghe. Bạn phải trở nên tĩnh lặng để vũ điệu của Thượng Ðế có thể đi sâu vào lòng, để Thượng Ðế cùng rung động, cùng chung một nhịp đập với trái tim bạn. Bạn phải liệng bỏ cái tật vội vàng, cái tật hối hả, cả cái tâm viên ý mã, muốn đạt đến cái này, trở thành cái nọ, lúc thế này, lúc thế kia. Hãy chấm dứt, đừng trở nên một cái gì cả. Và thế là nó ở đó, bạn không bao giờ có thể mất nó. Cái gì không thể lấy, bạn sẽ được.

    Cái gì không thể lấy, bạn sẽ được. Ngay từ khoảnh khắc hiểu được rằng bạn không thể nào chiếm hữu được nó, bạn liệng bỏ cái ý hướng chiếm hữu, thế là nó có mặt ở đó -và bạn được nó. Ngay từ khoảnh khắc bạn hiểu được rằng tình yêu không thể được chiếm hữu, một mối cảm thông sâu sắc òa vỡ trong bạn. Và bây giờ bạn sẽ có nó, vĩnh viễn. Bạn không bao giờ mất.

    Tuy nhiên bạn chỉ sở hữu được nó khi nào bạn nhận ra một điều rằng nó không thể nào bị chiếm hữu, rằng không có cách gì bạn sẽ chiếm được nó.
    Ðây là nghịch lý của Thiền. Thiền là con đường của nghịch lý. Nó nói rằng nếu bạn muốn chiếm hữu Thượng Ðế, xin làm ơn bỏ ý nghĩ đó đi -và rồi bạn có Thượng Ðế. Nếu bạn muốn chiếm hữu tình yêu, đừng làm thế, và tình yêu sẽ có mặt, sẽ mãi là của bạn. Bạn không thể đánh mất nó; không cách gì mất được nó.

    Ý tưởng của Osho "Cái gì không thể lấy, bạn sẽ được." Lấy cái gì và đựơc cái gì , điều này ông ta bỏ lững , ởm ờ theo lối đi hàng hai . Ðối với Tantra " Không có sự sợ hãi " hay nói một cách khác : “ Sự sợ hãi không tồn tại trong Tantra ” . Sự sợ hãi chỉ tồn tại trong bản ngã , bản ngã chính là môi trường hoàn toàn thích hợp sẽ hoá thành sự sợ hãi và cũng chính là nơi trú ẩn tốt nhất , an toàn nhất cho nó . Ví dụ : Bạn mất sự sợ hãi thì bạn sẽ có sự sợ hãi khác chăng ? Điều này chưa hẳn là đúng như điều Osho khẳng định . Khi thiền bạn còn tồn tại bản ngã nhưng bị tiêu diệt lại chính là Tính dục . Tính dục cần bản ngã để tồn tại - Bản ngã cần tính dục để thỏa mãn và chính bản ngã làm tâm trí bạn tuởng rằng mình hoàn toàn bình thường nhưng mất đi dục tính khi thiền , sự thật không phải vậy , nó vẫn còn tiềm ẩn trong thân thể bạn khi mà tri thức " tịnh" , nó sẽ hiển hiện trở lại khi tâm bạn " động " và đòi hỏi dục tính , vốn là bản năng sinh tồn của con người và động vật . Vì vậy nếu cho rằng “ Khi tâm trí bị mất bình thường cho chúng ta cảm thấy mình bình thường ” như là một ảo giác của tri thức vậy .
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  9. #9
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Lời nói thêm :
    Lâu nay tôi bận rất nhiều chuyện , nên bài " Chân lý Thích Ca " phải gián đọan .
    Trong quá trình đang nhận định hai hiện tượng về ông Osho và Thầy Chân Quang , nay tôi tạm dừng ở đây để tiếp tục phân tích và nhận định về hai bậc tu hành trí thức là Đại lão HT Thích Thanh Từ - Đại lão Thiền sư Thích Nhất Hạnh , có hai nhận thức về đừơng lối tu hành Tịnh độ ( Thanh Từ ) và Thiền định ( Nhất Hạnh ) , những điểm tương đồng , gặp nhau khi giác ngộ . Mặc dầu quý Ngài có những phân tích mang âm hưởng cách mạng , dám nhìn lại ( xét lại ) phương pháp tu niệm Phật có những sai lầm khi cầu nguyện nhằm mang lợi ích cho bản thân mà quên rằng tất cả mọi pháp đều nhắm đưa tâm thanh tịnh để giải thóat , ngụ ý muốn tìm lại giáo pháp chân lý Thích ca . Cả hai thầy tuy có cái nhìn thêm bớt trong Tịnh độ , nhưng không dám nói thẳng như cá nhân tôi là cư sĩ phàm tục mà không sợ Giáo Hội lên án , tẩy chay như Thầy Chân Quang , Osho . Trong bài pháp của HT Thích Nhất Hạnh mà tôi trích một phần của bài giảng Kinh A Di Ðà trong khóa tu mùa thu 1998 tại đạo tràng Mai thôn , đề tài "Diệu Dụng Pháp Thân " . HT Thích Thanh Từ giảng "Đới nghiệp vãng sanh " Giảng tại chùa Tam Bảo - Hà Tiên mới đây .

    Tôi cũng thiết tha yêu cầu các bạn nếu muốn tham luận đề tài này thì phải viết thành bài có lý luận mạch lạc , văn từ nghiêm chỉnh . Thay vì chỉ viết vài giòng bâng quơ , lạc đề và nhất là chụp mũ VC ...... làm mất vẽ trang nghiêm của chủ đề Phật giáo . Lời yêu cầu của tôi có lợi ích vì các trang Yahoo , Google sẽ trích làm tài liệu tham khảo cho độc giả . Nếu trang web nào viết nghiêm chỉnh , không có đối thọai hồ đồ sẽ đựơc chọn . Các bạn thử vào Yahoo và tìm bài " Chân Lý Thích Ca " thì họ sẽ chọn bài của forvn.com chứ không save bài này tôi viết ở trang net khác bị reply lạc đề , châm biếm , phá rối .

    Mong các bạn hiểu biết và thông cảm hợp tác cùng tôi .

    ChanhPhap84
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  10. #10
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Đạo Phật Thích Ca phát xuất từ Ấn Độ , nhưng tiếc thay chỉ có 2% theo đạo giác ngộ của Ngài Thích Ca . Sau khi nhập diệt , các đệ tử Bổn sư bị chấn động mạnh như một cơn sốc (chocke) khi mất đi người thầy vĩ đại hướng dẫn tâm linh . Trong giai đọan này Phật giáo chia ra Tiểu-thừa và Đại-thừa tức là Đại chúng bộ: Gồm những Tỳ kheo trẻ có tư tưởng cấp tiến muốn thay đổi một số giới điều sao cho hợp với xu thế đương thời .Thượng tọa bộ: Gồm những vị trưởng lão chủ trương bảo thủ duy trì lời Phật dạy, không muốn thay đổi. Các đại đệ tử tổ chức bốn lần trùng tuyên giáo pháp của Như-Lai tại bốn địa điểm khác nhau :

    1/Lần kiết tập thứ nhất tại thành Vương-Xá, do ngài Ma-ha Ca-Diếp triệu tập gồm 500 vị Đại-Đức Tỳ-kheo tụng niệm và ghi lại những lời Phật đã giảng thuyết .

    2/Lần kiết tập thứ hai sau khi Phật nhập Niết-Bàn 100 năm nhằm giải quyết về những nghi vấn trong giới luật, diễn ra tại thành Tỳ-Xá-Ly gồm 700 vị Đại-Đức Tỳ-kheo do ngài Da-Xá chủ tọa , giai đọan này có đề cập sửa lại giới luật thứ 10 " Tỳ kheo có quyền cất giử vàng bạc " .

    3/Lần kiết tập thứ ba vào năm 200 năm sau khi đức Bổn-Sư nhập diệt , do vua A-Dục triệu tập 1000 vị Đại-đức và các bậc Thiện-hữu-tri-thức tại thành Hoa-Thị , ngài Mục-Kiền-Liên được làm chủ tọa.

    4/ Lần kiết tập thứ tư, sau 600 năm, do vua Ca-Nị-Sắc-Tra chủ xướng và nhóm họp tại thành Ca-Thấp-Di-La, có 1,500 người do ngài Hiếp tôn giả và ngài Thế-Hữu chủ tọa.

    Vì các đại đệ tử có trình độ giáo pháp ngang nhau , nên vấn đề chia các tông phái đã bắt nguồn từ Ấn-Độ . Khi Phật giáo đựơc truyền vào Trung-Hoa (thế kỷ 1 Tây-lịch, năm 67, niên hiệu Vĩnh-Bình thứ 10) do đầu óc phong lhú và tánh tự hào dân tộc của người Hoa , vì vậy Phật giáo đựơc biến thái cho phù hợp với dân tộc, nên chia ra thành 13 tông phái khác nhau như sau :

    - Tỳ-Đàm
    - Thành-Thật
    - Luật
    - Tam-Luận
    - Niết-Bàn
    - Địa-Luận
    - Tịnh-Độ
    - Thiền
    - Nhiếp-Luận
    - Thiên-Thai
    - Hoa-Nghiêm
    - Pháp-Tướng
    - Chân-ngôn-tông.

    Tùy theo từng giai đoạn lại chia ra thành 8 tông, 9 tông, 10 hoặc 12 tông như :

    - Tam-Luận
    - Pháp-Tướng
    - Pháp-Hoa
    - Câu-Xa
    - Thành-Thật Luật
    - Thiên-Thai
    - Chơn-ngôn-tông
    - Thiền-tông thành 9
    - Tịnh-độ là 10 tông.

    Ngoài ra, còn có Tịnh-độ-chơn-tông và Nhật-liên-tông tức là 12 tông phái .
    Việc lập tông phái của Phật giáo Trung-Quốc mở đầu sự biến thái về hành trì và giáo lý Thích Ca bị ảnh hửơng rất nhiều , đôi lúc còn đi ngược chiều tôn chỉ của Bổn sư . Đại thừa , Mật tông ( Kim Cang thừa ) là hai tông phái đưa thêm nhiều nghi thức lễ bái , thêm kinh , sửa kinh và những hành trì trong cuộc sống cho thích hợp với thời đại mới . Ví dụ : Không còn đi khất thực mà tự canh tác ruộng , hoa màu để sinh sống , luyện võ công để tự vệ , đựơc quyền kinh doanh , giữ vàng bạc để sanh tồn và phát huy chùa . Có nhiều vị sư tham gia chánh quyền , nắm thế sự vì vậy giúp cho sự phát triễn Phật giáo tiến nhanh trong thời kỳ Tống , Đừơng , Tuỳ .... nhiều cao tăng mở trường giảng kinh Pháp-Hoa, Luận-Trí-Độ, kinh Niết-Bàn .

    Nếu việc phân chia tông phái trong Phật giáo chỉ có lợi khi nào các hàng đệ tử của Phật biết cùng nhau tu dưỡng và phát huy tinh thần để quảng bá sâu rộng trong dân gian . Ngược lại việc phân chia có tánh cách bè phái , địa phương, thầy tổ, kỳ thị, cố chấp, tự cao , ngã mạng ... là những mối nguy cơ cho Phật giáo, không đưa lại được một lợi ích nào cả. Sự công kích , chống đối nhau khi phái Đại thừa cho là giáo lý Nguyên thủy tức Tiểu thừa không đưa đến quả vị tối hậu thành Phật, chỉ có giáo lý Đại thừa mới là giáo lý chân chính của Phật. Ngược lại, các nhà sư Nguyên thủy thì cho rằng giáo lý Nguyên thủy mới chính truyền là của Phật, còn giáo lý Đại thừa là ngoại đạo. Sự bất đồng quan điểm ấy đã làm băng giá mối quan hệ của hai truyền thống cả ngàn năm . Tuy rằng chống đối nhiều mặt , nhưng cả hai đều chấp nhận :

    1/ Đức Phật Thích-ca Mâu-ni là bậc Đạo sư.

    2/ Giáo lý Tứ thánh đế, Bát chánh đạo, Duyên khởi...; đều chấp nhận pháp ấn Khổ, Không, Vô ngã; Giới-Định-Tuệ.

    3/ Từ chối về một đấng Thượng đế tối cao sáng tạo và ngự trị thế gian .


    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  11. #11
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Hơn 2550 nay tất cả hàng trí thức , học giả đều cho rằng :" Đạo Phật Thích Ca là đạo chân lý , sự thật nhất trong các tôn giáo " . Chân lý ở đâu ? Sự thật ở điểm nào ? Vì giáo lý Phật giáo trải qua bao nhiêu thời đại , không gian lẫn thời gian giáo lý của Đức Bổn sư vẫn trường tồn không phải vì sức mạnh đem quân đi tàn sát các tôn giáo khác , cũng không phải dùng xảo thuật ,tiền bạc để kiếm thêm linh hồn Phật tử . Cái chân lý và sự thật là vì Phật giáo đi đúng với thực tế , không huyền ảo , mơ mộng , hứa hảo huyền một nước trời mờ ảo . Điều mà nhà Vật lý học Mỹ gốc Do Thái Albert Einstein, cha đẻ của Thuyết Tương đối và là người được giải thưởng Nobel Vật lý về Quang Điện (Photoelectric) năm 1921 ông đã nhận định về Phật giáo như sau:

    " Nếu có một tôn giáo nào ứng phó được với các nhu cầu khoa học hiện đại thì tôn giáo đó chính là Phật giáo. Phật giáo không cần phải duyệt xét lại hầu cập nhật hóa với những khám phá khoa học mới đây. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để theo khoa học, vì Phật giáo không những đã bao gồm cả khoa học mà còn vượt qua cả khoa học nữa."

    (If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism. Buddhism requires no revision to keep it up to date with recent scientific findings. Buddhism needs no surrender its views to science, because it embraces science as well as goes beyond science).

    Nhưng phải hiểu Phật giáo là giáo lý của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cơ . Nếu có người lý luận : Tại sao Phật giáo cũng có nước Tây phương cực lạc giống như nước trời vậy ? Đó chính là ĐIỂM CHÍNH cần đi sâu và nhấn mạnh trong lọat bài của tôi .

    Trong bài giảng : Diệu Dụng Pháp Thân HT. Thích Nhất Hạnh cho rằng :

    "Này nữa Xá Lợi Phất! Ở nước Cực Lạc có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây, tất cả đều được làm bằng bốn thứ châu báu, bao quanh giáp vòng, vì vậy cõi ấy được gọi là cõi Cực Lạc."


    Câu kinh này nói về y báo trang nghiêm của cõi Cực Lạc. Y báo là môi trường và hoàn cảnh tương hợp với chánh báo. Chánh báo chính là bản thân đức Bụt A Di Ðà. Y báo bao gồm cả nhân dân và cõi nước. Y báo và chánh báo trang nghiêm của cõi Tịnh Ðộ là do bản nguyện của đức Bụt A Di Ðà và nhân dân của cõi nước ấy tạo nên. Cũng vậy, y báo và chánh báo của cõi Ta Bà đều do nghiệp lực cộng đồng của chúng sanh ở cõi này tạo tác ra. Nghiệp lực của chúng sanh nơi cõi Ta Bà này được tạo nên bằng ngũ dục. Nhân dân cõi này luôn luôn lao mình vào ngũ dục, do đó chất liệu Tịnh Ðộ biến mất, không còn nữa.

    Tại sao Bụt Thích Ca nói ở cõi Tịnh Ðộ không có mặt ba con đường ác? Một mặt thì Bụt A Di Ðà thuyết pháp, một mặt thì chim chóc nâng đỡ và hướng mình đi về nẻo hướng thượng, thì làm sao mà có tam ác đạo? Chỉ trừ khi nào ta chán Tịnh Ðộ và muốn bỏ đi. Ðiều này là do ta mà ra. Ðức Bụt A Di Ðà sẽ nói: "Tội nghiệp cho con. Con không muốn ở đây, con lại muốn về bên đó! Nếu ở đây thì con có tăng thân, có Bụt, có chim, có hồ sen, có đủ điều kiện để giữ cho con đừng đi thối lui, nhưng nếu lòng trần của con đã biểu hiện và con muốn trở về với cõi Ta Bà thì con sẽ đánh mất Tịnh Ðộ và tăng thân này.

    Tăng thân là một khung cảnh hiến tặng cho chúng ta sự an ninh. Tăng thân với hai vòng tay vững chãi giữ ta lại trên con đường giới, định và tuệ. Vì vậy chúng ta phải quyết tâm ở lại với Tăng thân "Chúng con nguyện một lòng về nương tựa Tăng thân." Cõi Tịnh Ðộ là một tăng thân quý báu nhất.

    Khi đi vào bếp để nấu cơm, chúng ta cũng có thể tu chánh niệm được. Ðến phiên ta nấu cơm cho đại chúng thì ta vào bếp, thắp một cây hương, dâng hương, rồi bắt đầu nấu cơm. Trong suốt thời gian một giờ rưỡi hay hai giờ làm việc dưới bếp, ta biết thực tập theo dõi hơi thở, biết là đang xắt gọt, rửa nồi hay xào nấu, ... trong chánh niệm. Do đó ta vẫn đang an trú trong cõi nước Cực Lạc. Còn nếu không biết tu thì ta vừa làm vừa giận, vừa làm vừa buồn, vừa ganh, vừa nói chuyện hay vừa nói xấu người khác, thì tuy cũng là khung cảnh ấy nhưng đó là cõi Ta Bà. Ta có giới, định và tuệ, tức là có sự thực tập thì nhà bếp là Tịnh Ðộ chứ không phải là Ta Bà. Tất cả đều tùy nơi ta. Bất cứ một cái gì ta thấy được và tiếp xúc được đều có thể biến thành pháp khí. Cái chổi hay cái nồi cũng là pháp khí, cái gì cũng có thể trở thành một điều kiện thuận lợi cho sự tu học của ta. Ðó là tài năng của đức A Di Ðà. Tài năng của đức A Di Ðà là sử dụng tất cả những gì đang có mặt để đưa dân chúng của mình đi lên trong sự tu học. Tài năng của Tăng thân cũng vậy, từ chuyện nấu nướng, dọn dẹp, làm vườn, cho đến việc chăm sóc cây cảnh, tất cả những cái đó đều trở thành phương tiện tu học. Chúng ta phải sử dụng tất cả những yếu tố đó để đi tới trên con đường tu tập và chuyển hóa.

    Trong cõi Tịnh Ðộ người ta cũng nấu cơm, ăn uống, đi hái hoa cúng Bụt, nghe kinh và đi thiền hành. Cõi ta đang ở cũng vậy thôi. Không cần phải qua bên đó ta mới làm được những chuyện kia. Ngay bây giờ ta cũng có thể làm được những chuyện mà bên ấy người ta đang làm, tức là hái hoa, cúng Bụt, tụng kinh, nghe kinh, rửa chén, ăn cơm, đi kinh hành... Cõi Tịnh Ðộ đẹp như vậy, cõi Tịnh Ðộ đang có mặt cho chúng ta. Chỉ có một điều là chúng ta đang có mặt cho cõi Tịnh Ðộ hay không mà thôi.

    Vì sao thầy nhấn mạnh chữ " Tăng thân " ? Vì vậy chúng ta phải quyết tâm ở lại với Tăng thân "Chúng con nguyện một lòng về nương tựa Tăng thân." Cõi Tịnh Ðộ là một tăng thân quý báu nhất. Tức là nương tựa vào Phật - Pháp - TĂNG . Hình ảnh ba thân này luôn luôn tượng trưng cho thanh tịnh tức là Tịnh độ . Tại vì Nghiệp lực của chúng sanh nơi cõi Ta Bà này được tạo nên bằng ngũ dục. Nhân dân cõi này luôn luôn lao mình , say đắm và chìm ngập vào ngũ dục, do đó chất liệu Tịnh Ðộ biến mất, không còn nữa. Điều quan trọng theo thầy Thích Thanh Từ tu Tịnh độ thì luôn luôn lấy niềm tin làm trên, nên người tu Tịnh độ phải có đủ Tín-Hạnh-Nguyện. Tín là lòng tin. Tin chắc có cõi Cực lạc, tin chắc mình niệm Phật sẽ được Phật đón về Cực lạc. Từ tin chắc, mới khởi hành tức cố gắng niệm Phật, gọi là hạnh. Niệm Phật rồi, phải phát nguyện sanh về cõi Cực lạc. Như vậy mới đủ Tín-Hạnh-Nguyện, trong đó lòng tin là bước đầu trên đường tu.Điều này gây nên sự NGỘ NHẬN cho Phật giáo Thích Ca . Phật giáo không đặt NIỀM TIN hay ĐỨC TIN như Kito giáo hay A Di Đà mà còn bác bỏ điều đó . Đức Bổn sư lấy trí tuệ làm bước đầu học đạo mà Thiền tông đang hành trì . Đạo Thích Ca là một đạo dùng lý trí mà gạn lọc phải trái , gian tà . Ngài hoàn toàn không nhắm mắt để tin mà luôn luôn dùng trí tuệ suy xét và đem ra thực hành trước khi tin ( Kinh 10 điều chớ vội tin ) là một chứng minh rõ ràng đựơc nhắc nhở hàng ngày . Chớ vội tin không có nghĩa là Ngài dạy sự nghi ngờ và bác bỏ tất cả , mà điều đó đựơc tin sau khi suy nghĩ là hợp lý , không gây đổ máu , khổ đau cho chúng sanh , điều đó đựơc thiện trí thức tán dương đồng tình . Không nên khiếp sợ , cả tin khi điều đó vì do một vị cao tăng thốt ra , hay do tập tục từ ngàn xưa truyền lại , còn tệ hại hơn khi đựơc ghi từ kinh điển ....... Tất cả đều phải rà xét lại , đặt câu hỏi bằng trí tuệ và đem ra thực hành rồi mới tin . Tuy Đức Bổn sư đã dạy thế , nhưng ngay con cái Ngài ( Tịnh độ - Mật tông ) vẫn đưa vào những giáo điều sai trái , mê hoặc và lọai bỏ trí tuệ bằng một niền tin tuyệt đối khi tu . Đó là điều sai lầm cần chấn chỉnh .



    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  12. #12
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Giáo điều mà Tịnh độ rao giảng và khuyến dụ ai cũng niệm Phật để khi lâm chung được đức Phật đón về Cực lạc. Trong kinh nói Cực lạc ở phương Tây cách cõi Ta-bà này mười muôn ức thế giới , nhưng không biết cõi Ta bà đó nằm bao xa , ở đâu ? Cho nên nếu Phật không đón thì không biết đường đâu mà đi , điều này chẳng khác gì God giao chìa khóa cho Giáo Hoàng mở cửa thiên đừơng mới biết chỗ mà vào . Nhưng hỏi thì cứ chỉ ở trên trời , xa lắm . Cọng vào đó Tịnh độ thường đưa ra kinh cầu an , sám hối , có nhiều chùa cúng sao , giải hạng , bói tướng có tính cách quần chúng thật , nhưng đầy mê tín dị đoan hoàn toàn trái với giáo lý Thích Ca . Tội tức là do NGHIỆP quả của mình gây ra , không ai có quyền ân xá gánh vác , thế mà Tịnh độ dám cả quyết niệm danh hiệu 35 vị Phật thì dù tội bao nhiêu đời , bao nhiêu kiếp cũng xóa tang . Niệm A Di Đà thì lúc chết đựơc đưa về sống tại nước Tây phương đầy cực lạc . Gặp nạn thuyền chìm , lữa đốt ..... cứ niệm Quán Âm là tai qua nạn khỏi . Vì vậy đa số quần chúng Việt Nam và Phật tử thế giới vẫn còn niềm tin Phật nhưng đó là niềm tin có quá nhiều tính chất tiêu cực ,có nhiều những tác động tiêu cực ở ngoài vào trong khi không có những nỗ lực điều hướng ,giữ gìn niềm tin do tu trì niệm Phật của Tịnh độ mà ra . Ngoài ra còn bị pha trộn với nhiều hình thái tín ngưỡng dân gian đầy những mê tín dị đoan do một số Tăng Ni thiếu lương tâm , trục lợi cổ xuý bất chấp tác hại đến giáo lý Phật Thích Ca . Tin Phật, tin nhân quả đó nhưng cũng tin vào bói toán, cầu đảo, vào sự thưởng phạt của đủ loại thần, thánh, ma, quỷ rồi cúng dường , cầu đảo nhằm đưa đến sự van xin , đút lót Thần thánh mà chính là các Thầy thụ hưởng .

    Trái lại Thiền tông dạy Phật tử tu quán sát lại nội tâm của chính mình , đi sâu và tìm hiểu chính mình chứ không van xin , cầu nguyện ai cả . Về phần nội tâm, nhà Phật phân nhiều loại. Theo Duy thức học, chúng ta có những tâm vương, tâm sở. Trong tâm sở, lại có tâm sở thiện, tâm sở ác nhưng có đi vào tâm mới biết thiện ác để hành trì đúng và định hướng cho sự tu tập , nghĩa là Thiền tông đòi hỏi nhiều về trí tuệ và tự lực ở chính mình .

    Xưa nay đạo Phật vốn là đạo của Trí Tuệ, đã và đang còn bị nhìn bởi một số đông người như là Đạo của mê tín, dị đoan, hủ lậu do chiều hướng tụng niệm , khẩn bái mà ra , trông chẳng khác gì đạo Chúa . Khi mà cuộc sống vật chất và tâm linh gặp khó khăn niềm tin Phật của quần chúng trỗi dậy mạnh mẽ , sự trỗi dậy của nhiều hình thức tín ngưỡng dị đoan của nhiều người khoác áo tu hành “làm ăn” ở những hình thức tín ngưỡng này không thiếu . Thậm chí rất nhiều chùa ở hải ngọai ghi danh cầu an về bản thân , gia đạo và kèm thêm 50 - 100 đô dâng cúng cho thầy , đây là sự thật nếu quý vị cứ đến bất cứ chùa nào cầu an cũng như thế , chẳng thà đạo Kito ra giá đặt lễ hôn nhân 5000 $ - 10.000$ , cầu an , xưng tội .... có giá cả từ xưa chúng ta không bàn đến , vì họ là tôn giáo thế quyền , God là tối thượng . Nhưng Phật giáo Ngài Thích Ca không cho phép làm như thế . Tất cả chúng sanh cùng bình đẳng khi Phật dạy :

    " Máu nào cũng có vị mặn thì khổ đau nào cũng giống nhau ."

    Ngày nay hầu hết các Tu sĩ ngoài hai thời công phu sớm - khuya và khóa lễ Tịnh độ ở các chùa, viện, đã làm cho đời sống người Tu sĩ thiếu nội lực tâm linh và phẩm chất người Tu sĩ ngày càng yếu kém trên cả hai mặt đạo đức lẫn khả năng tu trì hầu lãnh đạo , dẫn dắt Phật tử . Các Thầy thiếu nội lực và yếu kém phẩm chất mà lại mang thân vào đời để đảm nhiệm các mặt thế trị phức tạp của một tổ chức Giáo Hội đi chuyên sâu chính trị và đấu tranh như yêu cầu mong muốn . Trong nước thì GHPGVN tham gia , cọng tác với chính quyền , quên đi bổn phận tu sĩ là hoằng dương chánh pháp . GHPGVNTN vì mất đi hào khí quang vinh đấu tranh 1963 kéo theo sự sụp đổ chính quyền VNCH là đối tượng chiến thắng của GHPGVNTN ngày nào , bây giờ lá cờ vàng ba sọc ngày xưa đàn áp , tiêu diệt Phật giáo dưới thời hai Tổng Thống Kito giáo Diệm - Thiệu nay lại đựơc o bế tôn sùng nằm chung với cờ Phật giáo ở các chùa , đó là điều mâu thuẩn và nghịch lý .

    Về đạo các tu sĩ hoằng dương Tịnh độ đi ngược đừơng Thích Ca , phổ biến , tuyên truyền cầu nguyện và an tâm chấp nhận số phận để đựơc về Tịnh độ mà người Kito đang mắc phải . Về đời thì gây chuyện mê tín , cầu đảo , bói tóan ,dị đoan . Cả hai mặt đã và đang dấn sâu Phật giáo vào vũng bùn ô trược . Dù họ lý luận " Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn " cũng không tẩy xóa đựơc tâm linh con người . Nếu Tịnh độ cho rằng khi suy nghĩ kỹ cõi Ta Bà với tất cả niệm và định, ta sẽ thấy cõi Ta Bà này cũng đẹp lắm. Tôi nghĩ rằng cõi Tịnh Ðộ ở Tây phương cũng chỉ đẹp bằng cõi Ta Bà này mà thôi. Tất cả những gì ta thấy ở cõi Tịnh Ðộ thì bên này ta cũng có thể thấy được cả. Chúng ta đã từng nghe các vị tổ sư nói: Tịnh Ðộ ở trong tâm mình"ở tâm mình có sự nhẹ nhàng, có sự cởi mở, có sự thanh thoát thì nhìn cái gì cũng thấy là Tịnh Ðộ cả. Vậy thì cần chi phải cầu về Tây phương Tịnh độ nhỉ ? Trong khi tâm ta lọan động lại cứ nhờ Thầy cầu nguyện cho bình an , an hay không là do ở tâm ta quyết định lấy chứ không ai có thể giúp ta an .

    Than ôi ! Đức Phật Thích Ca mẫu mực vẹn toàn đã vức bỏ tất cả để thành tựu được ngày nay, một số Tu sĩ hành đạo lại chỉ muốn ôm giữ tất cả để phải mất tất cả thì làm sao mà Phật Giáo thoát cảnh suy tàn ?Một giáo lý cao đẹp chứa đầy tinh thần Từ Bi, Trí Tuệ, Vị Tha, Vô Ngã… mà ngày nay, một số người con Phật càng sống, càng hành đạo thì bản ngã như lại càng to, càng lớn, càng thích loạn ngôn và múa may trên sân khấu cuộc đời . Những màn mang danh nghĩa đấu tranh để có danh vọng , đựơc giải Nonel hoà bình , tiếng tăm lừng lẩy . Họ đựơc cái gì ? Phật giáo đựơc cái gì ? Xin quý Thầy lên tiếng thử xem . Danh làm gì , vọng làm gì khi mà tài sản , vật chất , địa vị ..... Ngài Thích Ca cũng vứt bỏ như đôi dép rách , thế mà ngay nay Thầy nào cũng ham muốn . Trong khi đó thiền định là lắng đọng vọng tâm , chúng ta nhận ra được tâm chân thật của chính mình, đó là mục đích của người tu Thiền. Như vậy người tu Thiền nhìn lại nội tâm mình chớ không cần hướng ra bên ngoài, còn người tu Tịnh độ thì trông về cõi Cực lạc bên ngoài, do đó không giống nhau. Tu Tịnh độ là đánh mất chân tâm vì tâm hoàn toàn ỷ lại và gởi vào uy lực Thần linh , Phật tổ , họ không còn tâm trí để nhận xét chân tâm của chính mình . Một sự ỷ lại do cầu nguyện để đựơc gia ân , cứu vớt . Thật là buồn cười trong khi đó Tịnh độ cũng biết về nghiệp , giảng Nghiệp quả là gì với chúng sanh . Có phải đó là hai đừơng tu hành nghịch lý nhau . Vừa tin A Di Đà Tây phương cứu độ vừa tin nhân nào quả nấy của Như Lai thì làm sao đây ?

    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  13. #13
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Mặc dầu HT Thanh Từ đặt nặng và tu theo Thiền Tông , những nhận xét và lý luận của Thầy về Tịnh độ con cũng đồng ý như vậy , khi Thầy giảng :

    ....tu Tịnh độ thì luôn luôn lấy niềm tin làm trên, nên người tu Tịnh độ phải có đủ Tín-Hạnh-Nguyện. Tín là lòng tin. Tin chắc có cõi Cực lạc, tin chắc mình niệm Phật sẽ được Phật đón về Cực lạc. Từ tin chắc, mới khởi hành tức cố gắng niệm Phật, gọi là hạnh. Niệm Phật rồi, phải phát nguyện sanh về cõi Cực lạc. Như vậy mới đủ Tín-Hạnh-Nguyện, trong đó lòng tin là bước đầu trên đường tu.


    Nhưng con thưa cùng Thầy ! Tịnh độ chỉ chí tâm đảnh lễ cầu nguyện vãn sanh từ một ngày , hai ngày , ba ngày cho đến bảy ngày ...... nếu không có niềm tin thì làm sao chí tâm đựơc. Cho nên công thức của Tịnh độ giống như một định lý bắt buộc rồi " A + B = C ". Ở đây con muốn thưa với Thầy là vấn đề cầu nguyện và ĐỨC TIN có nằm trong giáo lý của Đức Bổn sư Thích Ca không? Con trộm nghĩ Ngài Thích Ca đã dạy " Con tự thắp đuốc lên mà đi " là ngụ ý Ngài dạy cái tinh thần ĐỘC LẬP và CẦU TIẾN đừng ỷ lại van xin ai . Trong khi Tịnh độ một mực phải cầu A Di Đà và các danh vị Phật khác mới được vãng sanh. Đó là thắc mắc và trăn trở lớn nhất trên đường học Phật của chúng con. Nếu nói rằng :Các con cứ theo kinh Phật dạy mà làm , không được suy nghĩ , nghi ngờ hay hỏi han gì cả. Khổ nổi chúng con cũng muốn thế , mà ngay mấy ông Moderator cũng bắt phải làm như vậy ,họ bắt buộc chỉ post kinh Phật chứ không được làm chính trị , bàn chính trị nơi này. Vì thấm nhuần giáo lý Thích Ca phải lấy GIỚI - ĐỊNH - TUỆ làm đầu , nên chúng con phải suy nghĩ và nhận xét kinh kệ và nhìn gương của quý Thầy nên suy xét trong lúc tu tập , chẳng thà bắt đầu óc con DỐT như họ . Các Thầy Quảng Độ , Hộ Giác thì có quyền đấu tranh làm chính trị , yêu cầu VC cho tự do tôn giáo , đảng CS bỏ độc tôn - Độc đảng . Vậy Thầy dạy cho con phải theo ai cho đúng đây?

    Con nghĩ rằng chân lý của Ngài Thích Ca đã bị lòn lỏi , đánh đồng hơn 2500 năm nay chứ không phải đến bây giờ mới có. Không riêng gì Tịnh độ mà Mật tông hay các tôn giáo Cao Đài , Hòa Hảo , Long Hoa , Thanh Hải Vô Thượng Sư ....... đều dựa vào " ô dù " Thích Ca để lập ra nhiều giáo phái mới. Đã đành rằng , thời đại nào chân lý cũng có người tìm thêm , phương trời nào cũng có anh hùng , bậc giác ngộ xưng giáo chủ lập ra tông phái...... Đó là quyền của mỗi cá nhân miễn sao có tín đồ theo là được. Nhưng ở đây , những tông phái đó không tách rời độc lập mà họ cứ pha trộn và núp bóng Như Lai để phát triễn và tồn tại , đây là ĐIỂM đáng nói. Điều đáng buồn nhất các hoạt động của Phật Giáo trên các mặt thế trị bị rơi vào trong những cực đoan bên này, bên kia trong cái thế đối nghịch về chính trị như GHPGVNTN ,cũng do hoàn cảnh lịch sử phải theo chính quyền như GHPGVN và môi trường xã hội đang sống để rồi cuối cùng không tránh được cái thảm cảnh “gà nhà bôi mặt đá nhau " , kéo theo bao nhiêu Phật tử , phe phái chống đối mà quên con đường tu tập. Còn tệ hại hơn nữa là móc nối , liên lạc nhờ các thế lực ngoại bang , sẵn sàng làm tay sai bán nước sách động đấu tranh. Con nghĩ rằng những hình thức đấu tranh chính trị dựa vào ngoại bang là KHÔNG CHÍNH NGHĨA. Nếu cuộc đấu tranh vì Phật giáo như năm 1963 đứng lên chống đối sự đàn áp độc tài của Ngô Đình Diệm là chân lý , là đúng. Vì Phật giáo lúc đó không nương tựa dưới bóng cờ Quốc gia nào mà hoàn toàn phất cờ Phật giáo độc lập đấu tranh.

    Không biết đến bao giờ quý Thầy mới rời bỏ chính trị , tức là xa lánh danh vọng , uy quyền thế tục. Chúng con cũng muốn bình an để tu hành trong chánh niệm , nhưng làm sao " nhứt tâm đảnh lễ " khi mà tiếng hô hào đình công , bãi thị hàng ngày hàng giờ cứ vang vọng bên tai. Mỗi lần online là thấy hai phe đấu đá , thậm chí chửi bới thô tục không còn một ngôn từ nào của những kẻ vũ phu , thất học được đem ra xử dụng không mệt mỏi. Ngay cá nhân Hòa Thượng cũng chưa quên chuyến đi thuyết pháp của Thầy ở Cali nửa đêm bị Đ Đ Thích Quảng Ba dẫn 50 Phật tử vào chùa VNQT tìm thầy đòi đánh.

    Hôm nay nhân bài kêu gọi CS bỏ độc đảng , độc trị của HT Thích Quảng Độ nên con mới vô lễ trình bày ý kiến lên cùng Thầy. Con xin tịnh tâm và cũng yêu cầu quý thầy nào đang khuấy động đấu tranh nên dừng lại để cùng nhau đón mừng ngày Đức Phật Thích Ca Đản sanh 2553.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  14. #14
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Đối với HT Thích Nhất Hạnh , tuy chuyên tu về Thiền nhưng khi nói về Tịnh độ có phần tránh né. Tuy có sự chỉ trích nhưng chung chung và muốn hòa đồng với Tịnh độ kiểu đi hàng hai , không muốn mất lòng ai nhằm tồn tại vì lợi ích cá nhân . Ngay cả Kito giáo , Thầy cũng có bài " Phật và Chúa là anh em ". Về phương diện tình cảm , hòa khí thì không sao , nhưng về mặt bảo vệ chánh pháp , vì chân lý thì Thầy quả không xứng đáng là trưởng tử Như Lai. Chúng ta thử xem một đoạn thuyết pháp của Thầy Nhất Hạnh vễ cõi tịnh độ :

    Nghe Pháp Mọi Thời

    Sở dĩ gọi đó là cõi Cực Lạc là tại vì dân chúng ở đó có sự thực tập chánh niệm và vẫn thường được nghe pháp thoại. Nếu có sự chú tâm thì khi những con chim hót lên, ta cũng nghe được pháp thoại và pháp thoại này có đủ ba mươi bảy phẩm trợ đạo, là tứ niệm xứ, tứ như ý túc, tứ chánh cần, v.v.. Sang bên đó ta vẫn còn nghe pháp thoại như ở đây và cũng sẽ học những điều y hệt như ta đang được học trên cõi Ta Bà này, nghĩa là ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Chúng ta biết rằng đức A Di Ðà là một vị thầy. Ngay trong giây phút này ngài đang thuyết pháp. Ðức Bụt Thích Ca dạy:

    "Từ đây đi qua phương Tây, cách khoảng mười vạn ức cõi Bụt, có một thế giới gọi là Cực Lạc, trong cõi ấy có một vị Bụt tên là A Di Ðà, hiện đang thuyết pháp".


    Bụt A Di Ðà đang thuyết pháp và những con chim bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già, và cọng mạng... cũng đang thuyết pháp và giọng hót của những con chim đó rất hòa nhã. Những con chim đó thay phiên nhau hót, một ngày sáu lần (trú dạ lục thời). Ðó là công phu sáu thời. Ngày xưa trong sự tu tập người ta chia một ngày làm sáu phần gọi trú dạ lục thời. Trú là ban ngày, dạ là ban đêm. Khi hành trì phép sám hối của vua Trần Thái Tông thì chúng ta cũng sám hối sáu lần một ngày. Vua Trần Thái Tông sáng tác ra nghi thức sám hối này để tự hành trì, gọi là Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi, tức là khoa nghi để sám hối sáu lần trong một ngày. Chia sáu thời trong một ngày đó là sự thực tập trong truyền thống. Những con chim này biết rằng dân chúng mỗi ngày đều thực tập sáu thời cho nên bắt đầu mỗi thời là hót lên, và trong khi chim hót lên thì ta nghe được tiếng pháp trong đó. Có thể khi chim hót thì đức A Di Ðà ngừng thuyết pháp và khi đức A Di Ðà thuyết pháp thì chim ngừng hót. Cũng có nghĩa là Bụt A Di Ðà và cả các loài chim, cây và gió khi nói chỉ có thuyết pháp mà thôi.

    Chung quanh ta cũng đang có rất nhiều loại chim. Nếu sống trong chánh niệm và có định thì chúng ta cũng có thể nghe trong tiếng gió và tiếng chim có tiếng nói pháp. Tiếng nói pháp này có thể được xem như là tiếng nói pháp của đức Bụt A Di Ðà hay là của những con chim ở cõi Cực Lạc. Nếu có niệm và định thì tất cả những gì chúng ta thấy và nghe trong đời sống hàng ngày đều là những bài pháp thoại. Một chiếc lá rụng, một bông hoa nở, một con chim bay ngang hay một tiếng chim hót. Chúng đều là những bài thuyết pháp và người đang nói pháp là Bụt Tỳ Lô Giá Na, tức là Bụt pháp thân.

    Chúng ta phân biệt ra ba thân của Bụt, tức là pháp thân, báo thân và hóa thân. Pháp thân là bản thể trong sáng bất sinh bất diệt. Báo thân là thân tướng tốt đẹp của những người đã tu học, đã tạo ra rất nhiều công đức. Và hóa thân hay ứng thân là cái thân bình thường của ta. Ðức Thích Ca cũng có một thân như vậy, gọi là ứng thân hay hóa thân. Khi đức Bụt Thích Ca ngồi ở trên núi Thứu mà thuyết pháp thì đó là ứng thân Bụt hay hóa thân Bụt đang thuyết pháp. ¬ng thân thì có khi ngủ, có khi thức dậy, có khi đi tắm, có khi đi ăn cơm. Còn pháp thân của Bụt thì lúc nào cũng có mặt để thuyết pháp. Vì vậy, nếu có chánh niệm thì chúng ta có thể nghe pháp bất cứ lúc nào trong tiếng gió, tiếng chim, trong khi cành trúc lay, bông hoa nở và người đang thuyết pháp là pháp thân của Bụt. ¬ng thân hay hóa thân của Bụt thì chỉ nói tiếng người, còn pháp thân có thể nói tiếng chim tiếng hoa, tiếng gió và tất cả mọi thứ tiếng. Ðoạn kinh này cho chúng ta biết rằng nếu có niệm và định thì chúng ta có thể nghe pháp trong khi chim hót, thông reo và hoa nở. Pháp chúng ta đang nghe đó là pháp nguyên thỉ, nghĩa là tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc... và phương pháp niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng. Kinh đại thừa này chuyên chở giáo lý nguyên thỉ. Trong cõi Cực Lạc, dân chúng thực tập pháp môn nào? Thực tập ba mươi bảy phẩm trợ đạo và phương pháp niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng. Ta là thiền sinh giỏi thì đừng đợi đến giờ pháp thoại mới nghe thuyết pháp mà phải biết nghe pháp trong khi nhìn hoa nở, trong khi nghe thông reo, chim hót và khi nhìn trúc lay. Pháp thân của Bụt chưa bao giờ ngừng thuyết pháp. Trong bài Trường ca Avril tôi có viết một câu: "Bông hoa vẫn chưa ngưng lời hát ca. Câu đó cũng có nghĩa như vậy: pháp thân của Bụt vẫn đang thuyết pháp. Ở Việt Nam, trong thời chiến tranh Việt-Pháp, có một thi sĩ trẻ tên là Quách Thoại. Quách Thoại cùng với Trụ Vũ đã từng sống ở chùa Giác Nguyên. Quách Thoại chết trẻ, để lại một bài thơ rất hay là bài Bông Thược Dược:

    "Ðứng yên ngoài hàng dậu
    Em mỉm nụ nhiệm mầu
    Lặng nhìn em kinh ngạc
    Vừa thoáng nghe em hát
    Lời ca em thiên thâu
    Ta sụp lạy cúi đầu."

    Bông thược dược đứng ở ngoài hàng rào và đang mỉm cười một cách mầu nhiệm. Có thể nhiều thiền sư cũng không làm thơ hay bằng thi sĩ trẻ này. Tại vì trong giây phút đó, thi sĩ may mắn tiếp xúc được với sự mầu nhiệm của bông hoa thược dược, thấy bông hoa thược dược là biểu hiện nhiệm mầu của pháp thân Bụt. Thấy bông hoa thược dược chưa bao giờ ngưng hát ca, chưa bao giờ ngưng thuyết pháp.

    "Lặng nhìn em kinh ngạc
    Vừa thoáng nghe em hát
    Lời ca em thiên thâu
    Ta sụp lạy cúi đầu."

    Ðứng trước một sự biểu hiện nhiệm mầu như vậy, tiếp xúc được với pháp thân của Bụt thì thái độ của ta chỉ là sụp lạy và cúi đầu trước bông hoa thôi. Tại vì bông hoa đó là pháp thân của Bụt. Năm 1966, trong khi đi diễn thuyết bên Úc, tôi có tá túc tại một tu viện Thiên Chúa giáo. Tôi đang ngồi ở ngoài sân cỏ thì có một bà sơ đem ra cho tôi một tách nước trà. Rồi bà rút lui để đi thỉnh chuông. Tôi ngồi yên trên bãi cỏ uống trà và làm được bài thơ Tiếng Gọi sau đây:

    "Sáng hôm nay,
    tới đây
    Chén trà nóng
    Bãi cỏ xanh
    Bỗng dưng hiện bóng hình em ngày trước
    Bàn tay gió
    Dáng vẫy gọi
    Một chồi non xanh mướt
    Nụ hoa nào
    Hạt sỏi nào
    Ngọn lá nào
    Cũng thuyết Pháp Hoa Kinh."

    Vì ngồi đó và an trú được trong giây phút hiện tại, nên thấy một chồi cây xanh vẫy tay chào mình. Ðó là biểu tượng của pháp thân. Và khi thấy được sự mầu nhiệm đó rồi, ta nhận thấy rằng bất cứ nụ hoa nào, hạt sỏi và ngọn lá nào cũng đang thuyết pháp và đang thuyết pháp đại thừa, thuyết kinh Pháp Hoa.

    Bàn tay gió
    Dáng vẫy gọi
    Một chồi non xanh mướt
    Nụ hoa nào
    Hạt sỏi nào
    Ngọn lá nào
    Cũng thuyết Pháp Hoa Kinh.

    Bài thơ này, cũng như bài thơ của Quách Thoại, nói tới sự kiện pháp thân của Bụt hiện đang thuyết pháp. Nếu chúng ta chăm chú, sống có giới và có định thì chúng ta tiếp xúc được với pháp thân và được liên tục nghe thuyết pháp, chứ không phải cần bỏ băng giảng vào trong máy bấm một cái nút rồi mới được nghe. Chúng ta có thể nghe pháp bất cứ lúc nào. Ðọc đoạn kinh này, ta phải thấy được rằng ở cõi Cực Lạc, không những Bụt A Di Ðà đang thuyết pháp mà chim chóc, hoa lá đều thuyết pháp cả. Và ta có thể thấy rằng Bụt A Di Ðà cũng như chim chóc ở đây đều là biểu hiện của pháp thân. Chúng ta hãy cùng đọc lại:

    "Này nữa, Xá Lợi Phất! Ở nước Cực Lạc kia, thường có nhiều loại chim đủ màu rất kỳ diệu như hạc trắng, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già và cọng mạng... Những con chim ấy, sáu buổi mỗi ngày, thường hót lên những thanh âm hòa nhã: trong giọng hót của chúng, người ta nghe được tiếng diễn xướng các pháp môn ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần... Dân chúng trong nước nghe được những pháp âm như thế đều nhiếp tâm trở về thực tập niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng."

    Đọc lời văn - thơ thì nghe hay , êm tai , trôi chảy , nhưng thực chất không đem lại một điều trong sáng , niềm tin chân chính của Ngài Thích Ca đang bị trà trộn và đánh cắp. Kiểu giảng thi văn này là mộng tưởng không xác thực. Vì sao Thầy biết :"Sở dĩ gọi đó là cõi Cực Lạc là tại vì dân chúng ở đó có sự thực tập chánh niệm và vẫn thường được nghe pháp thoại. Nếu có sự chú tâm thì khi những con chim hót lên, ta cũng nghe được pháp thoại và pháp thoại này có đủ ba mươi bảy phẩm trợ đạo, là tứ niệm xứ, tứ như ý túc, tứ chánh cần, v.v.. " Cái thế giới đó Thầy đã đến chưa hay có ai đến và ghi chép diễn tả lại? Thế giới đó có sự sống của người , chim , cây quả như quả đất ta ở thì cũng chưa hẳn có cùng ngôn ngữ gì để thầy hiểu được và biết :"pháp thoại này có đủ ba mươi bảy phẩm trợ đạo, là tứ niệm xứ, tứ như ý túc, tứ chánh cần"
    Rồi Thầy chắc mặp khi kể rằng bên đó cũng giống như địa cầu ta đang sống , nghĩa là cũng có người ăn ở , nghe pháp và Thầy biết chắc rằng A Di Đà cũng đang thuyết pháp :"Sang bên đó ta vẫn còn nghe pháp thoại như ở đây và cũng sẽ học những điều y hệt như ta đang được học trên cõi Ta Bà này, nghĩa là ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Chúng ta biết rằng đức A Di Ðà là một vị thầy. Ngay trong giây phút này ngài đang thuyết pháp" Với trí tuệ và học vị Tiến sĩ của Thầy tôi biết Thầy thừa sức hiểu kinh A Di Đà và các vị Phật được sáng tác từ các ông tổ Trung Hoa chứ chẳng có cõi Tây phương nào cả. Ngày nay Nga , Mỹ tốn bao nhiêu tiền bạc đã tìm được tinh cầu nào có sự sống như trái đất không? Thế mà Thầy và Tịnh độ quá rành rẽ cái thế giới vô hình Tây phương ấy. Nếu quý thầy giỏi và đúng sự thật hiểu biết có sự sống của tinh cầu nước Tây phương như thế thì tôi tin chắc Mỹ đã mời hay bắt cóc quý Thầy vào làm việc ở làng khoa học Nasa từ lâu rồi. Bây giờ Nasa mới đổ bộ Hõa Tinh thôi các thầy ạ , và thầy cứ xem đất đai trên đó có đẹp như kinh thầy giảng phịa ra không?



    Một cảnh trên Hoả Tinh, hình ảnh gởi về từ tàu Phoenix.




    vị trí của tàu Phoenix sau khi đổ bộ trên Hoả Tinh

    Giáo lý của Ngài Thích Ca là chân thật , vì đạo của Ngài là đạo sự thật cho nên mới phát triễn và tồn tại đến ngày nay . Tại sao Tịnh độ và quý thầy đưa chuyện huyền ảo , mờ tưởng nhằm lừa gạt tín đồ như cái bánh vẽ trên trời mà ngay quý thầy cũng không giải thích được. Điều này không giúp gì cho chân lý Ngài Thích Ca tồn tại và phát triễn mà quý thầy , quý Tông phái đã đục phá nát bét giá trị đạo chân thật của Như Lai suốt 2500 nay.

    Nhân ngày Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đản sanh , thị hiện giữa cảnh ta bà nay tuyên giảng sự thật thì không một lý do gì mà các tông phái mượn danh Ngài để che nắng che mưa phát triễn , phá hoại và bành trướng vì mục đích danh lợi và tiền bạc.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  15. #15
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Vì vấn đề cầu nguyện của Tịnh độ đã đưa đến sự hiểu nhầm đối với Tây phương gán cho đạo Phật là yếm thế , bi quan giữa cuộc đời . Điển hình là ông ROGER-POL DROIT trong bài "Phật giáo và hư vô chủ nghĩa " cho rằng :

    Giờ thì chúng ta hoàn toàn quên lãng nỗi khiếp sợ xưa cũ này rồi. Tuy thế, ta tìm thấy nhiều chỉ dấu khác biệt về nỗi sợ hãi đó ở các triết gia Đức – Hegel, Schelling, Schopenhauer, Nietzsche và những người khác. Nó cũng để lại dấu vết nơi những người Pháp, từ Cousin cho đến Renouvier, xuyên qua Quinet, Taine, và Renan. Nói chung, dù hơn dù kém, họ đã đặt Niết bàn gần với hư vô, đã xem Phật Giáo như một thứ hư vô chủ nghĩa, đã gắn liền Phật Giáo với chủ nghĩa yếm thế. Có thể trưng dẫn hàng trăm thí dụ. Hégel, trong những phiên bản năm 1827 và năm 1830 của tác phẩm “Encyclopédie” (Bách khoa), trình bày ở đoạn 87: “Hư vô, mà những người theo đạo Phật tôn làm nguyên tắc của mọi sự, là mục đích tối hậu và cứu cánh tối hậu của mọi sự.” Trong “Lecons sur la philosophie de la religion,” ông giải thích rằng, đối với Phật Giáo, “con người phải tự biến thành hư vô”, thừa nhận “sự bình an vĩnh cửu của hư vô”. Tiếp đó, những triết gia xem thứ lý thuyết được truyền giảng bởi một người mà Edgar Quinet đặt tên là “Vị Chúa vĩ đại của cái không” (Le grand Christ du vide) là một thứ “chủ nghĩa cuồng tín hư vô”[1]. Riêng Ernest Renan thì kết luận rằng thứ tôn giáo không thể nhận thức được này “gán cho đời sống một mục tiêu tối cao là hư vô,” cái “bộ máy tạo khoảng trống trong tâm linh” này là chỉ dấu rằng có sự hiện hữu của một “giáo hội của hư vô chủ nghĩa”


    Về tánh Không và hư vô có thể được hiểu như là đồng nghĩa. Lý Vô Thường không phải là giáo lý duy nhất của Đạo Phật. Vào thế kỷ thứ 6 trước Tây Lịch, một triết gia Hy-Lạp Herakleitos đã nói "Tất cả đều ở trong trạng thái biến đổi" (All is in a state of flux) hay "Mọi vật đều trôi chảy" nghĩa là vạn hữu đều bị chi phối bởi luật Vô Thường, biến đổi. Ông Rhys Davids cho rằng :

    "Không có thực tại. Chỉ có biến đổi. Tình trạng của mọi cá thể đều bất định, tạm thời và chắc hẳn phải hủy diệt. Trong mỗi sinh cơ bao gồm những yếu tố vật chất và một chuỗi yếu tố tâm linh liên tục. Chính sự phối hợp giữa những yếu tố này đã tạo ra cá nhân.

    Mọi người, mọi vật và cả Chư Thiên vì thế cũng là tập thành, duyên hợp. Và trong mỗi cá nhân, sự liên hệ giữa những phần tử tập thành luôn luôn thay đổi, không bao giờ tồn tại trong hai sát na liên tiếp. Khi một cá thể vừa mới tập thành thì sự phân tán cũng đã bắt dầu.

    Không có một cá thể nào không tập thành, không một tập thành nào không thay đổi, không một thay đổi nào không dị biến, và không một dị biến nào lại không phân tán, hủy diệt, chu trình đó không sớm thì muộn cũng phải hoàn tất"
    .

    Và Roger-Pol Droit nói " Niết Bàn gần với hư không " như thế có đích xác không? Trước nhất ông ta phải hiểu thế nào là Niết Bàn theo quan niệm Phật giáo , nó không thể hiểu như một Thiên đàng trừu tượng của Kito giáo mà ông đang theo. Không riêng gì cá nhân ông mà chính ngay những người Phật tử chúng tôi đôi khi cũng có ý nghĩ về Niết Bàn. Cũng nhiều người hiểu Niết Bàn là cảnh tiên giới, vui đẹp có cuộc sống nhàn hạ không lo miếng ăn , cái mặc , không cần làm việc cực nhọc , hoặc nơi đó có nhạc vui, hoa thơm, cỏ lạ, nhiều ngọc ngà châu báu, có những ông Tiên nhàn rỗi đánh cờ, những nàng tiên xinh đẹp ca múa, rong chơi suốt ngày, không biết thời gian là gì. Cũng không có đàn áp bất công , sự nghèo khổ, lam lũ do việc làm , chẳng có gì bận tâm lo âu, vất vả, phiền muộn như ở thế gian. Chỉ khi nào chết, hương linh mới có thể đến đó được nếu quyết tâm niệm A Di Đà không ngừng nghĩ.

    Thật là xa vời và ảo tưởng khi mang những hoài niệm như vậy. Đối với tôi rất đơn giản , chữ Niết Bàn dịch từ âm của chữ “Nirvana” có nghĩa là ra khỏi rừng mê. Niết bàn là nơi thanh tịnh , không còn bận tâm chuyện hồng trần đầy si mê, tâm không còn chấp ngã , ngã mạn. Tóm lại Niết bàn là giải thoát, là bất sinh, là giác ngộ, là không còn luân hồi sinh tử. Như vậy không đợi đến sau khi chết con người mới có thể lên Niết Bạn nó ở đây : TẠI THẾ GIAN này , khi nào tâm bạn được thanh tịnh, tuyệt đối an lạc, tự tại là bạn đang ở Niết bàn , chỉ đơn giản thế thôi. Cho nên Roger-Pol hay các triết gia Đức – Hegel, Schelling, Schopenhauer, Nietzsche và những người khác mang nổi sợ hải . Nó cũng để lại dấu vết nơi những người Pháp, từ Cousin cho đến Renouvier, xuyên qua Quinet, Taine, và Renan cho rằng :"Niết bàn gần với hư vô, đã xem Phật Giáo như một thứ hư vô chủ nghĩa, đã gắn liền Phật Giáo với chủ nghĩa yếm thế" là hoàn toàn sai. Vì họ cứ nghĩ rằng Niết Bàn là nơi xa vời tận đâu đâu trên chín từng mây kiểu Thiên đàng. Họ không hiểu Niết Bàn của Phật giáo là kết quả của tâm và từ tâm mà có. Để rồi Roger-Pol đưa đến sự dẫn dụ sai lầm của một số học giả Tây phương họ vốn quen từ đạo Chúa mà lý luận và gán cho Phật giáo cũng như tôn giáo họ :

    "Có thể trưng dẫn hàng trăm thí dụ. Hégel, trong những phiên bản năm 1827 và năm 1830 của tác phẩm “Encyclopédie” (Bách khoa), trình bày ở đoạn 87: “Hư vô, mà những người theo đạo Phật tôn làm nguyên tắc của mọi sự, là mục đích tối hậu và cứu cánh tối hậu của mọi sự.” Trong “Lecons sur la philosophie de la religion,” ông giải thích rằng, đối với Phật Giáo, “con người phải tự biến thành hư vô”, thừa nhận “sự bình an vĩnh cửu của hư vô”. Tiếp đó, những triết gia xem thứ lý thuyết được truyền giảng bởi một người mà Edgar Quinet đặt tên là “Vị Chúa vĩ đại của cái không” (Le grand Christ du vide) là một thứ “chủ nghĩa cuồng tín hư vô”. Riêng Ernest Renan thì kết luận rằng thứ tôn giáo không thể nhận thức được này “gán cho đời sống một mục tiêu tối cao là hư vô,” cái “bộ máy tạo khoảng trống trong tâm linh” này là chỉ dấu rằng có sự hiện hữu của một “giáo hội của hư vô chủ nghĩa”

    Phật giáo là TĨNH không phải ĐỘNG như những tôn giáo khác. Trong cái Tĩnh của Từ Bi nhưng nó rất động của Đại Hùng và Đại lực khi cần chiến đấu vì hoàn cảnh bị áp bức hay cuộc sống thì nó vùng lên đó là Động , khi bình an thì trở về Tâm nó là Tĩnh . Một tinh thần mà Đức Phật đã dạy vì độc lập mà tiến lên "Con hãy thắp đuốc lên mà đi ". Cái tinh thần ấy không phải là yếm thế , tiêu cực. Chính nhờ trang bị lòng quả cảm này mà hầu hết Phật giáo nước nào dù bị trị rồi thời gian vẫn đứng dậy quật khởi dành độc lập tự tồn như Việt Nam ta.

    Đối với Nietzche thì tố cáo :

    Phật Giáo là nỗi “hoài vọng về hư vô”, là “sự phủ nhận tính minh triết của bi kịch”[1]. Ông thống trách sự “suy nhược ý chí” dẫn đến chỗ trốn chạy đau khổ, do đó, không cam chịu mà cũng không yêu thương đời sống, và đặc biệt phê phán niết bàn, tức là cái “hư vô đông phương,”

    thì quả là quá đáng. Tôi tin rằng Nietzche , Hégel hay ai đó chưa chắc đã đọc và hiểu hết giáo lý Phật giáo. Ngay như những Tỳ kheo , Phật tử trí thức tu trì và khảo sát kinh Phật như Việt Nam cũng đã là khó vượt ra khỏi phạm trù từ chữ Hán , Pali qua nghĩa chữ Quốc ngữ.

    Phật Giáo chẳng khác gì là một “phủ nhận toàn diện thế giới” như Nietzche phán đoán. Nếu như thế thì sau khi đạt đến giác ngộ cao nhất Đức Phật Thích Ca đã không rao giảng giáo lý giải thoát 49 năm cho nhân loại , để ngày nay chúng ta thừa hưởng một gia tài giáo lý siêu việt như là một chân lý bất biến mà ngay cả khoa học cố gắng soi rọi , bới móc , tìm tòi vẫn không tìm được một nghịch lý nào của Phật giáo. Đến độ nhà bác học nổi tiếng nhất thời đại người Anh Albert Eistein phải ca ngợi :

    “Nếu có một tôn giáo nào có thể đối mặt được với những nhu cầu khoa học hiện đại thì đó chính là Phật giáo”.

    Từ sự không thấu đạt được sự thâm sâu giáo lý cho đến bị mắc cạn , nghèo nàn khi khảo sát kinh điển thiếu hiểu biết ngôn từ , nên Garcia Ayuso người Tây Ban Nha công bố một tập sách nhỏ nhan đề :

    “Cõi niết bàn Phật Giáo và những tương quan của nó với các hệ thống triết học khác” (Le nirvana bouddhiste et ses relations avec d’autres systèmes philosophiques) – tức là các hệ thống tư tưởng của Schopenauer và của von Hartmann. Ông viết “Đạo đức và siêu hình của Thích Ca quá nghèo nàn và các lý thuyết của ông ta là quá lạt lẽo và nói chung, quá thiếu nền tảng đến nỗi sự truyền bá giáo lý mạnh mẽ của ông ta chỉ có thể thực hiện được ở nơi các dân tộc đã suy đồi.”

    Sự thật bối rối về tư tưởng do Phật Giáo gây ra tại Âu Châu thế kỷ thứ 19, thì hư vô chủ nghĩa hóa ra là sợi chỉ dẫn đường đáng tin cậy vào thời điểm ấy . Họ cố gắng xoay quanh vấn đề hư vô và những ý nghĩa khác nhau của nó đã hình thành nên cơn mộng dữ mà Phật Giáo đóng vai trò trung tâm đã qua đi . Ngày nay ở thế kỹ 21 này Phật giáo đã ăn sâu và đi vào tận sân sau của Âu Mỹ như là một hào quang sáng ngời , cháy sáng , tĩnh thức nhiều tâm hồn các học thức , trí giả Tây phương. Có thể có những lúc họ đọc kinh của Đại Thừa như Pháp Hoa , Sám hối , cầu nguyện..... làm đầu óc họ liên tưởng đến một cái gì bi quan , yếm thế và an phận của Phật giáo. Ngày nay hệ thống thông tin điện tử bao trùm đã khai sáng cho họ qua các kinh điển A Hàm , Trung bộ..... những bộ kinh lớn từ Nguyên Thũy giữ đúng lời Đức Phật giảng dạy , từ đó họ đã nhận thức , so sánh đâu là sự thật , đâu là chân lý từ Thích Ca.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  16. #16
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Hôm nay tôi nhận một Pm của một bạn nữ ( tạm dấu tên ) hỏi :

    " Theo bạn cho rằng : ....... Niết Bàn nó ở đây : TẠI THẾ GIAN này , khi nào tâm bạn được thanh tịnh, tuyệt đối an lạc, tự tại là bạn đang ở Niết bàn , chỉ đơn giản thế thôi . Vậy Đức Phật lúc nhập diệt còn gọi là " nhập Niết Bàn " thì Ngài đâu còn thân , tâm để thanh tịnh ? Phật giáo tin có linh hồn không? Thế nào là linh hồn? Mong bạn nhín chút thời gian trả lời . Cám ơn " .

    Đây là một câu hỏi thông minh và hay . Tôi xin tạm giải đáp thế này :

    Phật giáo không cho là có linh hồn , riêng đối với thân của chúng ta là một cấu hợp của tứ đại chủng ĐẤT - NƯỚC - GIÓ - LỮA , nó luôn luôn chuyển biến không ngừng thì những tác dụng tinh thần kia cũng hợp thành một dòng liên tục luân chuyển biến động không ngừng. Chúng thay đổi mới từng giây phút , từng sát na ; thân xác trong giờ phút trước cũng khác thân xác giờ phút sau . Riêng dòng tâm lý cũng luôn luôn biến động. Mỗi sát na có những cảm giác mới, những ý nghĩ mới, đến thay cho những cảm giác và những tư tưởng cũ đang phai dần hay quên lãng như đang nép sâu vào ký ức của tiềm thức các chủng tử . Vì vậy đoạn nầy trong kinh "Di Lan Ðà vấn đạo" có viết :

    "Nầy Ðại Vương! Nếu có người thắp một ngọn đèn lên, ngọn đèn có thể cháy suốt đêm được không?"

    --"Bạch Ngài, ngọn đèn có thể cháy đến sáng".

    "Vậy ngọn lửa đèn lúc canh một có phải chính là ngọn lửa đèn lúc canh hai không? "

    --"Bạch Ngài, Không ".

    "Ngọn lữa lúc canh hai với ngọn lữa lúc canh ba có phải là một không?"

    --"Bạch Ngài, cũng không phải".

    "Vậy thì canh một có một cây đèn, canh hai có một cây đèn khác, và canh ba có một cây đèn khác nữa chăng? ".

    --"Bạch Ngài, không. Ánh sáng suốt đêm chỉ do một cây đèn mà tỏa ra thôi ".

    "Ðại Vương! Sự liên tục của một người hay một vật cũng vậy. Con người của phút nầy sinh, thì con người của phút trước diệt, dòng liên tục không ngừng. Con người phút sau không phải là MỘT với con người phút trước, nhưng cũng không phải là KHÁC với con người phút trước. Như thế, con người liên tục mãi cho đến giai đoạn cuối cùng của ý thức bản ngã".


    Nhưng tại sao có những mẫu chuyện luân hồi trong Phật giáo ? Như câu chuyện Ngài Chí Công ở triều đại nhà Lương ở Trung Hoa biết được chuyện quá khứ vị lai là nhờ Ngài đã đạt được ngũ nhãn và lục thông. Nên chỉ cần nhìn qua, liền biết được ngay kiếp trước .
    Một hôm, có một gia đình giàu có thỉnh Thiền sư đến tụng kinh chú nguyện nhân dịp đám cưới người con gái của họ, đồng thời thỉnh Thiền sư ban cho vài lời chúc mừng để mong rằng trong tương lai, việc hôn nhân đều được tốt lành như ý. Thiền sư Chí Công đến nhà ấy, khi nhìn thấy cô dâu chú rể, Ngài liền nói:

    “Thật cổ quái, thật cổ quái!”
    “Cháu cưới bà nội”


    “Thật cổ quái” nghĩa là xưa nay chưa từng có một việc như vậy. Đây không phải là chuyện xưa nay thường xảy ra. Thật kỳ lạ khi nhìn một đứa cháu cưới bà nội mình làm vợ. Trên thế gian này, nếu không thông đạt những nhân duyên trong thời quá khứ thì không thể nào lý giải được những mối quan hệ cha con, mẹ con, vợ chồng, anh em, bè bạn… của nhau. Vì sao? Vì mọi người đều có thể là chồng hoặc vợ của nhau trong đời trước. Một người có thể là cha hoặc là con của nhau trong nhiều đời trước. Hoặc một người đều là mẹ và con gái của nhau trong đời trước. Ông nội của quí vị trong đời trước lại kết hôn với cháu gái của quí vị trong đời này. Hoặc là bà ngoại đời trước lại tái sinh làm con gái của quí vị. Tất cả mọi việc đều có thể xảy ra, và đều chịu sự biến hóa khôn lường.

    Trong nhà này, chuyện “cháu cưới bà nội” là do trước kia, khi bà nội sắp mất, bà trăn trối lại với toàn gia quyến: “Con trai ta vừa mới cưới vợ và đã có con nối dòng. Con gái ta cũng đã có chồng, ta không còn bận tâm gì nữa”. Bà ta hoàn toàn thỏa mãn và đã gạt mọi sự bận tâm qua một bên, ngoại trừ một điều: còn đứa cháu nội, “tương lai rồi sẽ ra sao? Ai sẽ chăm sóc nó? Liệu người vợ của nó có đảm đang hay không? Ta không thể nào không lo cho nó được!”

    Bà nắm tay đứa cháu nội và qua đời. Người ta bảo rằng nếu mọi việc đều toại nguyện, lúc lâm chung có được tâm trạng thơ thới thì người chết sẽ nhắm mắt. Còn nếu không, thì người chết không nhắm mắt được. Bà lão nói: “Bà rất lo lắng cho cháu, bà chết không nhắm mắt được”. Nói xong, bà ra đi mà mắt vẫn mở. Thần thức của bà vẫn còn lo âu. Khi đến gặp Diêm vương, bà ta than khóc, thưa rằng:

    - Tôi còn đứa cháu nội, không ai chăm sóc nó.
    Diêm vương đáp:
    - Được rồi, bà hảy trở lại dương gian chăm sóc cho nó

    Nói xong, bà ta được đầu thai trở lại trong cõi trần. Khi đến tuổi thành hôn, bà ta lấy người cháu nội trước đây của bà ta. Vì vậy nên nói “cháu lấy bà nội”. Quí vị thấy có phải là cổ quái thật không?

    Chỉ vì một niệm ái luyến không buông xả được mà tạo nên biết bao duyên nghiệp buộc ràng về sau. Bà ta chỉ vì bận tâm vì đứa cháu, mà về sau phải làm vợ cho nó. Quí vị thử nghĩ lại xem, đây chẳng phải là chuyện cổ quái hay sao?

    Vậy thì chuyện đầu thai đó có phải do linh hồn từ một thân xác này qua làm một thân xác khác không ? Nếu không có một bản ngã bất biến hay một linh hồn thì cái gì đi luân hồi, cái gì đi đầu thai, cái gì làm chủ thể cho dòng sinh tử luân lưu ấy ? Trong Phật giáo không công nhận có linh hồn, do đó không có chuyện linh hồn di chuyển đi đầu thai . Ðạo Phật chỉ chủ trương có nhân quả (Patica Samuppada) nghĩa là một hậu quả nào phát sinh cũng phải đi từ nguyên nhân trước đó .

    Con ngừơi khi đời sống chấm dứt nếu dục vọng cũng tiêu diệt hết thì vô minh không còn hiện hữu và các chủng tử đã trở thành vô lậu. A Lại Gia trở về thể nhập với bản thể sáng suốt, thì dòng sinh mạng không còn tiếp diễn nữa đó là trường hợp của Đức Bổn Sư Thích Ca không còn tái sanh và luân chuyển qua nghiệp khác , tâm Ngài đã an lạc , thanh tịnh đó là cảnh Niết Bàn Ngài đã nhập .Cũng ví như câu chuyện bà nội lấy cháu ở trên , vì tâm bà nội lúc chết vẫn còn lo lắng không ai chăm sóc đứa cháu , như vậy tâm bất an thì làm sao thấy Niết Bàn đựơc nói chi chuyện nhập . Như chúng ta vì dục vọng vẫn còn, thì A Lại Gia còn nằm trong trạng thái ô nhiểm, chưa có thể giải thoát luân hồi được. Do đó, dòng sinh mệnh phải được tiếp nối từ trạng thái này qua thân xác nọ .

    Giòng sinh mệnh của con người ví như một đốm lữa que hương , nếu quay nhanh thì nó trở thành một vòng lữa . Cũng vậy , ta nhìn những đợt sóng biển liên tục , nó không phải do nhiều con sóng mà do một sức đẩy ở sóng sau tạo ra sóng trước . Ðợt sóng nầy lên rồi xuống, và khi xuống, tạo thành một sức đẩy mới cứ tiếp tục như thế nên ta tưởng có nhiều con sóng . Do sức sóng đẩy mà đàng xa kia phát sinh một đợt sóng khác: chính đợt sóng khác ấy là kết quả của đợt sóng nầy, tiếp nối do đợt sóng nầy tạo ra . Cũng vậy , giai đoạn sinh mệnh trước tạo nghiệp nhân mê lầm sinh tử cho giai đoạn sinh mệnh sau; giai đoạn sinh mệnh sau tạo nghiệp nhân cho giai đoạn sinh mệnh sau nữa, và cứ như thế tiếp tục mãi mà ta tưởng là linh hồn đi đầu thai .

    Tất cả nghiệp lực của chúng ta đều trở về tạm trú trong A Lại Gia thức của chúng ta, không hề mất đi đâu cả. Chúng tạo thành một động lực, gọi là NGHIỆP LỰC , đẩy chúng ta vào một giai đoạn sinh mệnh mới, một kiếp sống mới mà chúng ta cho là linh hồn đi đầu thai như một số câu chuyện luân hồi .

    Trở lại câu hỏi . Đức Phật tịch diệt tức là nhập Niết Bàn , nghĩa là tâm Ngài vốn đã thanh tịnh , trong sạch thì A Lại Gia thức của Ngài hoàn toàn trong sáng , không còn vẫn đục chuyện khổ đau , vui , buồn , hờn giận ......... đó là Ngài đang ở Niết Bàn chứ không còn gì phải nhập . Trái lại tâm chúng ta , dù chết đi vẫn còn lo nghĩ , còn vấn vương thù hận , tham đắm sân si , dục vọng cứ vương vấn , đeo đuổi thì chúng ta chưa thấy Niết Bàn chứ đừng mong mà nhập . Chuyện đơn giản thế thôi . Mong chị thỏa mãn phần nào .


    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  17. #17
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Nhân chuyến đi Houston Texas tôi thấy phái Long Hoa do giáo chủ Trương Quang Tuệ thủ lãnh đang thịnh hành tại đây. Vì vậy tôi tạm ngưng chuyện Đại Thừa Tịnh Độ để bàn sơ về tà phái này dựa vào đạo Phật Thích Ca để làm suy giảm uy tín của Phật giáo. Long Hoa về cách tu hành và tổ chức cũng như giáo điều làm tôi nhớ lại ngày 19-4-1993 khi trại Waico bị cơ quan an ninh FBI đến bao vây , đột nhập nên giáo chủ David Koresh liền cấp tốc phản ứng, chống đối , họ dùng súng máy và lựu đạn kháng cự đến hơn ba ngày đêm . Cuối cùng lực lượng an ninh FBI bao vây chắt chẽ, giáo chủ David Koresh biết khó thoát khỏi tội lên ghế điện liền phóng hoả, thiêu sống hết toàn bộ tín đồ 80 người , gọi là hy sinh để về thiên đàng . Trong đó cả đàn bà, con gái và trẻ em mà một số là vợ con của David , nhiều trẻ gái vị thành niên cũng đã làm vợ của đấng cứu thế, giống y hệt như giáo chủ Trương Quang Tuệ thủ lãnh nhóm Long Hoa.

    Việc đánh phá Phật giáo về mặt nổi thì phái Long Hoa ra lịnh cho tất cả đệ tử phải bỏ công hết sức tìm kiếm, thu thập các tượng Phật, hình ảnh và chữ viết nói đến Phật. Thậm chí, gặp một tờ giấy nhỏ nào viết một chữ Phật cũng phải gom lại, đem về trao cho Giáo chủ hay sư cô Bất Nhị tiêu hủy. Còn các tượng Phật thì có thể tân trang hay sơn phết lại bán lấy tiền. Đây là một hành động tiêu hủy văn hóa không cho lưu hành lời giảng , hình ảnh , kinh Phật dạy vì họ muốn bắt toàn dân phải tôn thờ độc nhất một thần tượng là giáo chủ Trương Quang Tuệ rất sành tâm lý những người u mê, dễ bị nhồi sọ. Tâm lý và hành động này nhằm mục đích “vô tri bất mộ” (không biết, không kính ngưỡng). Người Tây phương có câu : ”Loin des yeux, loin du coeur” (xa mặt, cách lòng). Không gặp nhau lâu ngày sẽ quên , đó cũng là chính sách tàn sát và tiêu diệt văn hoá , đền thờ mà đạo Chúa , nhất là Hồi giáo đã hành động hơn hai thế kỷ nay.

    Giáo lý Ngài Thích Ca là giải thoát chính là đạo chân thật,toàn bộ giáo lý Phật đặt trên cơ sở thực tế, khoa học và mang tính vô thần nguyên thủy cho nên không có chuyện dùng bùa ngải, không nên tin chuyện thần tiên hoang đường, không bói toán, không cần xem ngày, giờ, phương hướng tốt xấu, không cúng bái , cầu an , cầu siêu , sám hối …

    Theo tài liệu sưu tầm , điều tra chính xác , ông Đặng Văn Nhâm đã viết những chủ trương và điều luật của nhóm Long Hoa như sau :

    Nhưng ngược lại, tà phái ma giáo Long Hoa ban hành giáo chỉ cho toàn thể Chân Hoa Tử tóm tắt như sau:

    - Cấm tuyệt đối không một ai được nói đến những từ có tính cách tục tĩu, xui xẻo, hắc ám như: CHẾT, MA, CU, hay MẶT TRĂNG v.v… Thí dụ: không một ai được phép nói đến tên các hiệu xe, hay bất cứ một địa danh nào trên thế giới đọc lên có “ÂM” của mấy chữ đó. Thí dụ: Mút- Cu- Va (Moskova), Cuba, Massasuchette, Oklahoma… Các hiệu xe: Mazda, Honda Acura, Yamaha… Đặc biệt phải cữ kiêng không được nói hay nhắc nhở đến mặt TRĂNG, vì mặt TRĂNG chỉ về ban đêm, tức tối tăm, u ám, không minh bạch, không sáng sủa, đẹp đẽ v.v…

    - Ngoài ra, tà phái ma giáo Long Hoa còn ra qui luật cấm các Chân Hoa Tử không được mặc quần áo các màu đậm như: đen, xanh nước biển, tím than v.v…Hằng ngày, mỗi khi muốn đi đâu phải coi ngày, coi giờ. Nếu ngày tốt, giờ tốt mới được xuất hành. Chưa đủ! Xuất hành còn phải coi phương hướng, xem hướng nào là hướng tốt trong ngày đó.


    Cũng giống như những tông phái khác , Long Hoa chỉ núp bóng đạo Phật để tung hoành, nhân danh Phật, chủ trương tu theo NHẤT THỪA nhằm tôn vinh cá nhân hầu dễ bề trấn lột những kẻ nhẹ dạ , ngu muội mang danh Phật tử. Chúng tạo ra một võ ốc được bọc chiếc y vàng của Đức Phật hay đầu cạo trọc , mang hình ảnh từ bi , đạo hạnh của tăng ni , để rồi bắt Phật tử hầu hạ , cung phụng còn hơn vua chúa. Tôi đã tham gia và tận mắt thấy những điều này tại các chùa hải ngoại. Muốn cung thỉnh các Tỳ kheo , Tỳ kheo ni đến dự lễ bắt buộc phải bao vé máy bay , chỗ ăn ở. Sau khi trở về phải có bì " cúng dường " thường được định giá từ 1.000 đô đến 500 hay 300 theo chức vụ cao dày đức trọng của từng Thầy . Nếu những chùa vào Liên hữu thì thùng phước sương chia ba :

    1- Một phần để chi phí sinh hoạt chùa.

    2- Một phần chia cho thầy trù trì.

    3- Một phần gởi về thầy Viện chủ trưởng ban Liên hữu.

    Sau này có nhiều Thầy sáng kiến để thủ lợi là : Tiền cúng dường vô danh là của Viện chủ , còn tiền có ghi " cúng dường tam bảo " thì chia hai với nhau. Sở dĩ có vấn đề nay vì Thầy Viện chủ thấy tiền cúng vô danh lúc nào cũng nhiều hơn. Ví dụ : Khui thùng phước sương 3.000$ thì trong đó vô danh 1.800$. Như vậy Thầy được phần vô danh nhiều hơn 1/3 chia đều. Có nhiều chùa chìa khóa thùng phước sương do một tay Thầy trù trì lấy tất cả , điều này cũng áp dụng chặc chẻ trong Long Hoa. Đây là những sự thật mà cá nhân tôi mắt thấy tai nghe. Nhưng khi đọc điều này hay khi nói ra thì không thiếu những Phật tử tay chân , hoặc không biết nội vụ , liền bênh vực , chửi bới không tiếc lời , còn trên net thì họ đòi banned , xoá bài....... thực tế là như vậy. Ngoài ra còn chụp mũ là VC nằm vùng , phá đạo hay mạ lỵ không còn thiếu một ngôn từ nào.Những việc làm và hành động ngu muội , dại dột này đã làm hại thầy chùa và là nguyên nhân cốt lõi đã khiến cho uy tín của Phật Giáo bị đắm chìm trong u tối vốn đã và đang bị nội công ngoại kích phá thối.

    Người Phật tử dễ bị đánh lừa khi giáo chủ nào tự cho là hiện thân từ Phật , Thần thánh đến từ cỏi trời , kèm theo vài xảo thuật phép lạ , vài câu sấm rền phỏng đoán tương lai nhằm hù doạ diệt vong mới đẩy những Phật tử đến nương tựa , van xin. Ví dụ :giáo chủ Long Hoa tự phô trương là bậc đại thánh nhân giáng phàm từ cung trời thứ chín, trang bị đủ thiên lý nhãn, thiên lý nhĩ, có thể biết được mọi chuyện quá khứ vị lai trong khắp cõi đại thiên tam thiên thế giới. Hơn thế hắn còn có khả năng thần thánh biết được mọi tai hoạ sắp xảy ra, giải trừ được mọi nghiệp chướng, độ được chúng sinh, đặc biệt dành cho các Chân Hoa Tử. Kẻ nào cúng dường nhiều tiền sẽ được thầy “giải nghiệp và cứu độ” cho vượt thoát khỏi được mọi tai ách, hoạn nạn bất ngờ . Điều này cũng không thiếu ở mấy chùa do một số Thầy thoái hóa , phá đạo Phật bắt Phật tử cúng tiền cầu an , trả tiền lễ giải sao hạng , các nhà thờ đạo Chúa còn nghiêm khắc hơn là phải đóng 10% tiền lương hay góp tiền hàng tháng bắt buộc . Đây là một hiện tượng chung của thời đại cần tiền để các tu sĩ sinh sống và tồn tại dựa trên đức tin mù quán của con người. Muốn diệt những tệ nạn này không gì hơn là trang bị một TRÍ TUỆ , điều mà Đức Phật Thích Ca giảng dạy rõ ràng. Không ai giải thoát cho ta chính bản thân của ta.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  18. #18
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.


    LONG HOA CÓ PHẢI “PHẬT GIÁO” KHÔNG?

    Theo tôi nhận xét , đọc các tài liệu thì Long Hoa tuyệt nhiên không hề dính dáng gì đến Phật Giáo, không liên hệ , ảnh hưởng gì với giáo hội PGVNTN, hay giáo hội Ấn Quang ở trong nước . Chúng chỉ dùng duy nhất một cái tên “Long Hoa đệ nhị hội”, để lừa gạt đám Phật tử nhẹ dạ , khiến họ lầm tưởng đó là tổ chức có trong Phật giáo . Cách tổ chức và hành xử có tính cách chống báng kịch liệt và bôi bẩn từ Đức Phật đến giáo lý và toàn thể tăng đoàn . Lề lối tổ chức giáo hội hoàn toàn riêng biệt , sinh hoạt khác hẳn với tổ chức giáo hội Phật giáo . Trương Quang Tuệ là giáo chủ của Long Hoa Hội , tự xưng Đại Bồ Tát, Thánh Minh Vương Phật, cuối cùng tự phong, và tự suy tôn lên làm CỔ PHẬT ( sư tổ của Phật ).

    Các hàng giáo phẩm cao cấp được mang tên là HUYNH. Còn đệ tử được giáo chủ thu nạp trong một lễ qui y và không phải xuống tóc cạo trọc , được gọi là CHÂN HOA TỬ, không dùng danh từ Phật tử như Phật giáo.
    Khi thọ giới qui y các Chân Hoa Tử phải làm tờ tự khai gọi là sám hối, ghi lý lịch và tự thú hết mọi tội lỗi trong quá khứ, ký tên giao nạp giáo chủ nắm giữ.

    Đối với y phục các Chân Hoa Tử , các Huynh đều phải dùng toàn màu trắng, hay màu xanh lơ , không được mặc màu đen hay màu nâu, màu vàng nghệ như Phật giáo . Riêng giáo chủ mặc áo màu vàng như các vua chúa ngày xưa.

    Đạo Phật Thích Ca là một đạo chân thật , trí tuệ và nhắm đến con đường giải thoát khổ đau bằng chính bản năng và sức lực trong tinh thần độc lập , tinh tấn tiến lên. Chứ không cầu nguyện , van xin như Đại thừa - Tịnh độ. Đạo Phật không phải là đạo cứu rỗi , ban ơn , gián họa cho bất cứ một ai. Tinh thần " Ai tu nấy hưởng , ai ăn nấy no " là một chân lý trong sáng , rõ ràng và đầy khoa học. Đức Phật chỉ là vị lương y tùy bệnh mà cho thuốc , Ngài dạy cho chúng sanh tìm ra nguyên nhân căn bệnh và cách tự chữa trị lấy căn bệnh khổ não, phiền trược của mình. Đức Phật như người chỉ đường ngay, lẽ phải cho bá tánh. Ngài đã dạy :" Ngón tay ta chỉ ánh trăng , đừng tưởng ngón tay ta là ánh trăng ". Cho nên ai muốn tìm đường giải thoát , đạt đến cõi Niết Bàn thì chính nó là đang ở cùng họ , nghĩa là Phật tại tâm , Niết Bàn chính ở thế gian này. Tự mình tu và bước tới , Đức Phật không cầm tay dắt đi hay cứu vớt ai về cõi Niết Bàn , dù có niệm danh hiệu Ngài hàng ngàn lần , hàng chục năm cũng thế thôi , Ngài không hứa hảo huyền như A Di Đà , Quán Âm , Dược Sư v.v....... Một bằng chứng thật tế , ngay cả thân nhân quyến thuộc và vợ con của Ngài cũng không tài nào độ được. Ai muốn đạt đạo giải thoát khổ đau , phải tự tu, tự chứng lấy bản thân. Không cầu cạnh, trông cậy gì được nơi Ngài. Giống như trường hợp khi giòng họ Thích bị kẻ thù tiêu diệt diệt, đạo Phật bị đạo Bà La Môn , bọn cuồng tín Hồi giáo đánh bật gốc ra khỏi Ấn Độ Ngài cũng không làm sao giải nghiệp oan khiên này được.

    Giáo chủ Long Hoa chỉ là tên bịp bợm như những hiện tượng Osho , Thanh Hải Vô Thượng Sư và mới đây là Thích Chơn Quang...... Ông ta lưu lạc từ Việt Nam sang đến đảo Hawaii, nay trụ chốt ở Houston. Với nghệ thuật dối trá , xảo ngôn ông ta từng vỗ ngực tự khoe khoang có khả năng cứu độ ,giải nghiệp cho tất cả mọi chúng sanh. Các Chân Hoa Tử thường gọi giáo chủ của họ có tài thần thông , biến hóa hơn cả Đức Phật, nhờ có nhiều loại bùa phép tuyệt đỉnh.

    Trước giờ nhập diệt , Đức Phật đã gạn hỏi các đệ tử nhất là Ngài A Nan còn hỏi thêm gì không. Đức Phật lo lắng , khắc khoải , ưu tư rất nhiều về vấn đề này chân lý của Ngài sẽ bị mai một hay bị lái sang một con đường tà đạo khác , giáo lý của Ngài quá cao siêu mầu nhiệm , thâm sâu, rất dễ bị đám đệ tử sau này vô tình hay cố ý diễn dịch , thêm bớt nhiều sai lầm. Điều Ngài lo lắng và tiên tri ngày nay đã xảy ra rất nhiều như Tịnh độ , Mật tông , Long Hoa , Thanh Hải , Chơn Quang....... Cũng có thể do trí tuệ nông cạn, hoặc do mưu đồ tà đạo của tập thể , cá nhân mà làm ra những hành động đảo điên như ngày nay. Vì vậy Ngài đã phải phủ nhận ngay chính đạo lý của mình bằng lời nói : ”Ta thuyết Pháp trong suốt 49 năm, song chưa hề nói một lời nào!”. Câu này mang nhiều ý nghĩa thâm sâu , nhưng ngày nay đang bị diễn dịch sai lầm và xuyên tác của ngoại đạo lẫn con cái của Ngài.

    Thật tế đã xảy ra đúng như thế , sau khi Phật vừa viên tịch chưa đầy 100 năm , các tông phái như Đại thừa , Mật tông đã tung ra vô vàn luận giải kinh điển khác nhau. Kẻ chủ trương Không Bộ, kẻ theo Hữu Bộ, người theo chủ nghĩa Duy Thực, người theo lối Duy Tâm , hàng chục tông phái như Đại thừa , Tiểu thừa . Từ đó đạo Phật đã đẻ ra muôn vạn pháp môn và nhiều tông phái khác nhau… Song phái nào cũng nhân danh Thích Ca làm ô dù để bành trướng và tồn tại.


    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  19. #19
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Những tông phái núp bóng Như Lai còn nhiều , lâu nay tôi mãi đi tìm những kẻ gian manh lợi dụng danh Ngài để phát triễn , tồn tại những mầm mống nguy hại nhất là phá nát chân lý của Ngài. Vậy chân lý ở điểm nào tôi cần trình bày để quý bạn rõ và có sẳn một công thức bằng trí tuệ để phân biệt trắng đen , thật hư của những kinh điển ngụy tạo cho là của Thích Ca.

    Nghiên cứu về kinh điển và triết thuyết Như Lai , chúng ta nên biết rằng : đạo Phật không phải là đạo CỨU RỔI - ĐỨC TIN , như đạo Kito hay Hồi giáo . Chính Đức Phật đã dạy chúng sinh: ”Hãy thắp đuốc lên mà đi!”. Phải hiểu câu này là lối nói ẩn dụ. Phật khuyên chúng sinh nên “đốt ngọn đuốc trí tuệ” trong đầu của mỗi người lên, để đánh tan bóng tối u mê chung quanh mà noi theo dấu chân Phật , không phải là đuốc chổi chà ngoài đời sống . Cũng không cần phải nương tựa vào bất cứ một ai hết , dù là bậc cao tăng trọng vọng hay rừng kinh điển bao la. Đặc biệt, lời khuyên nêu trên của Phật còn hàm ý khuyên chúng ta đừng mê muội tránh bị sa vào cạm bẫy của bọn gian tăng, bịp bợm mà bất cứ thời nào , nước nào cũng đông đúc đầy rẫy trong xã hội. Trong kinh Pháp Cú, đức Phật còn nói rõ thêm:

    ”Chỉ có ta tạo nghiệp ác. Chỉ có ta chịu khổ đau. Chỉ có ta làm cho ta hết sai lầm. Chỉ có ta làm cho ta trở nên trong sạch. Không ai có thể khả dĩ cứu được ta, ngoại trừ chính ta. Chính ta phải đi trên con đường chính đạo. Chư Phật chỉ là người dẫn đường trỏ lối thôi!”
    (câu 145).

    (By ourselves is evil done. By ourselves we pain endure. By ourselves we cease from wrong. By ourselves become we pure. No-one saves us but ourselves. No-one can and no-one may, we ourselves must walk the Path. Budhas only show the Way!).

    Hoặc trong kinh còn kể chuyện ”ngón tay trỏ mặt trăng” hay câu: “Đáo bỉ ngạn” (đến bờ bên kia) và ”xích tử chi tâm” v.v... là một giáo lý chân chánh nêu cao tinh thần Độc lập , tự tin của mỗi cá nhân con người vốn có sẵn trong mỗi tiềm thức , chỉ cần được châm ngòi bằng ngọn đuốc tri thức thì ngọn đèn trí tuệ sẽ bật sáng. Chúng ta đừng vội lao mình vào rừng kinh điển sẽ bị rối mù như lạc vào trận Bát Quái Đồ khó tìm đường ra. Cũng đừng chấp đuôi theo các thầy tụng kinh gõ mõ , cầu nguyện ngày đêm. Chúng ta hãy tỉnh táo nhìn suốt 2550 năm nay có ai được giải thoát để về cõi Tịnh độ chưa , kể các các cao tăng đức dày , ân trọng. Chúng sanh có ai thoát khỏi khổ đau không , hay vẫn ngày ngày , tháng tháng lặn hụp trong cỏi ta bà đầy ô trược này không thay đổi. Trong khi đó nhìn vào Tăng - Ni nào thân hình cũng mập tròn , với phương tiện đời sống vật chất thừa mứa , sang trọng.

    Chưa có một tôn giáo nào kinh điển nhiều như lá rừng bằng Kinh Phật giáo. Thậm chí, nếu có ai để dành cả một đời người chỉ đọc chưa hết kinh Pháp Hoa , chắc vẫn không đủ , chứ nói là hiểu thông suốt. Đa số các thầy , cô tụng như vẹt cho qua ngày đoạn tháng làm kiếp thầy tu. Đó là chưa kể đến tính chất phức tạp, mâu thuẫn,thêm bớt , đan quyện nhiều rắc rối lung tung giữa các loại kinh do các cao tăng Trung Hoa thuộc Đại Thừa - Tịnh độ , Mật tông , Kim Cang thừa...... sáng chế thêm ra, sau khi Phật đã tịch diệt từ 300 năm đến 500 năm. Nhiều bộ kinh đã cóp ý của các kinh Vệ Đà, Upanishads và những chuyện giả tưởng , hoang đường trong sách thần thoại Purana của Ấn Độ được chắp vá vào kinh Phật.

    Từ đó , tôi nhận thấy nhiều thầy chùa chỉ tụng được loanh quanh vài bài kinh kệ thông dụng như cầu an , sám hối , cúng ngọ..... đồng thời dùng một mớ chuông mõ, với cách thức làm lễ cúng bái, cầu siêu , cầu cô hồn vớt vong ,cúng sao bổn mạng , trong khi Đức Phật phủ bác về Linh hồn thì họ vớt ai đây? Hình ảnh hàng ngày quá quen thuộc trông chẳng khác nào bọn thầy cúng, đồng bóng ở các nơi thôn làng xa xưa miền quê Việt Nam . Còn các bài thuyết pháp thì sao chép , lập đi lập lại nhằm tin sâu về cầu nguyện , cứu vớt để được về Tây phương.

    Với số lượng kinh điển nhiều hơn lá rừng như thế đã là một chướng ngại rất khó vượt qua cho bất cứ ai muốn tìm vào học Phật. Phương pháp đơn giản nhất để muốn tìm đường theo chân Phật chẳng tìm đâu xa “Phật tại tâm”, nhất là muốn đạt ngộ cứu cánh Niết Bàn ngay trong cuộc sống hiện hữu “Niết Bàn tại tâm”, mà không nên xông vào rừng kinh điển rậm rịt, chằng chịt các loại giây leo, giây chùm gởi, giây bìm bịp giăng mắc khắp núi kinh. Phải có tinh thần nghi ngờ và đặt câu hỏi như trong bài kinh "10 điều chớ vội tin " của Đức Phật dạy cho người Kalama như là một phương châm học Phật và đồng thời là một chiếc chìa khóa vạn năng ( Master key ) để mở cửa vào nhà kinh Phật.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  20. #20
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Chân Lý Thích Ca.

    Có bạn nôn nóng khi nghe tôi đề cập và phê phán Đại thừa thì muốn nhào vô chửi bới , để hiểu rõ thế nào gọi là Đại thừa , Tiểu thừa tôi phải lùi lại một bước để nói rõ hơn.
    Thời Đức Phật Thích Ca còn tại thế không có chỗ nào gọi là Trưởng lão bộ (Theravàda) hay Đại thừa (Mahàyana). Chỉ sau khi Ngài tịch diệt 100 năm trong lúc họp các tăng ni cần thay đổi một số giới luật nhỏ. Một số tỳ kheo chính thống bảo rằng không có điều giới luật gì cần phải thay đổi trong khi những tăng sĩ trẽ khác cứ nhất định sữa đổi một số ít giới luật. Cuối cùng một số tỳ kheo rời bỏ đại hội và thành lập Đại chúng bộ (Mahasanghika). Mặc dù gọi là Đại chúng bộ không có nghĩa là Đại thừa (Mahayana) trong lúc này .

    Sau đại hội kết tập kinh điển lần thứ ba, con trai vua Asoka, ngài Mahinda, mang Tam Tạng đến Tích Lan cùng với các Chú Giải đã được đại hội thứ ba trùng tuyên lại. Những kinh điển mang đến Tích Lan được bảo quản cho đến ngày hôm nay mà không có mất mát một trang nào. Kinh điển được viết bằng tiếng Pàli, dựa vào ngôn ngữ Ma-kiệt-đà (Magadhi) do Đức Phật thuyết giảng. Không có điều gì gọi là Đại thừa ở thời điểm đó.

    Khoảng thế kỷ thứ II sau công nguyên, chữ ĐẠI THỪA dần dần công khai ra mặt và được định nghĩa rõ ràng hơn. Ngài Long Mãng (Nagarjuna) ( Người Trung Hoa ) phát huy triết học Đại thừa về tánh Không và trong một bản kinh nhỏ được người ta gọi là Trung luận thuyết (Madhyamika-karika, còn gọi là Trung quán luận) chứng minh rằng vạn pháp đều rỗng không.
    Khoảng thế kỷ thứ IV, Vô Trước (Asanga) và Thế Thân (Vasubandhu )( cũng người Trung Hoa ) sáng tác một số tác phẩm về kinh điển Đại thừa. Sau thế kỷ thứ I sau công nguyên, những nhà Đại thừa bắt đầu tạo một lập trường rõ ràng, và từ đó, họ đưa vào các danh xưng ĐẠI THỪA - TIỂU THỪA . Điều mà chúng ta lưu ý rằng :Phật giáo Trưởng lão bộ truyền đến Tích Lan vào thế kỹ thứ III trước công nguyên, khi đó không có danh từ Đại thừa nào cả. Chứng tỏ rằng Đại thừa do Trung Hoa sáng lập ra. Đại thừa cũng là Tịnh độ tông chuyên về cầu nguyện và nhào nặn ra những vị Phật người Hoa , từ trên chín từng mây cùng hàng trăm vị Phật chẳng biết gốc tích ở đâu bên Tàu , giáo lý các Phật Hoa dạy gì , điều này tôi sẽ dẫn chứng về sau.

    Về giáo lý , kinh điển thì Đại thừa trà trộn , thêm bớt vào kinh Phật Thích Ca ,những điều khác nhau giữa đạo Phật Nguyên thủy và đạo Phật Đại thừa là giữa Tự lập và Cầu nguyện , tuy nhiên về mặt giáo lý căn bản thì thống nhất cùng những quan điểm sau :

    - Cả hai đều chấp nhận Đức Phật Thích Ca là bậc đạo sư.

    -Tứ Thánh Đế trong cả hai trường phái đều giống nhau.

    -Bát Chánh Đạo trong cả hai trường phái thì cũng tương tự .

    -Lý Duyên Khởi trong cả hai trường phái đều giống nhau.

    -Cả hai đều không chấp nhận tư tưởng về thượng đế tạo ra thế gian này.

    -Cả hai đều chấp nhận Tam tướng (Khổ, Vô thường, Vô ngã) và Tam vô lậu học (Giới, Định, Huệ) , không có bất kỳ sự khác biệt nào.


    Người Hoa thường tự hào , Đại thừa tức là cổ xe lớn , Tiểu thừa chỉ là cổ xe nhỏ. Vậy thì còn Đại thừa đâu nữa mà bảo chỉ nói Đại thừa chung chung???

    Vì Đại thừa do những cao tăng người Hoa sáng tác , dịch thuật và thêm bớt khi dịch kinh Phật từ tiếng Pali sang Hán văn . Vì vậy trong kinh Phật Đại thừa đầy rẫy nhưng chữ vay mượn từ Phạn Ngữ (gồm cả 2 thứ: sancrit (văn ngữ Bắc Phạn) và Pali (văn ngữ Nam Phạn) trộn lẫn với tiếng Hán khiến cho câu kinh trở nên tối tăm, lù mù chẳng khác ngọn đèn dầu ánh sáng yếu ớt, vàng vọt luôn lung lay bất định như kinh văn Phật giáo hiện hành.
    Người Việt chịu sự đô hộ 1000 năm mới dành được độc lập , cũng do người Hán mượn Phật giáo Đại thừa dạy cúi đầu cầu nguyện , làm mất hết ý chí đề kháng dành độc lập. Nếu kinh Thích Ca được lưu truyền thì người Hoa khó mà đô hộ Việt Nam lâu đến thế.Thời gian 1000 năm nô lệ , người Việt bị nhồi sọ bằng kinh Đại thừa - Tịnh độ và đã sanh sôi nảy nở ra không biết bao nhiêu cao tăng Việt chịu ảnh hưởng sâu rộng chịu nô lệ do Đại thừa - Tịnh độ đào tạo nên. Ngày nay muốn thoát khỏi vòng nô lệ tâm linh ấy phải có một sức tranh đấu bền bỉ và phải nhờ khai sáng trí tuệ con người mới mong giải phóng ách nô lệ này khỏi tay người Hoa , cũng giống như người Âu - Mỹ đã bị Kito giáo nô lệ như vậy.

    Sau khi Đức Phật đã qua đời , đạo Phật được du nhập vào Việt Nam cho đến giờ phút này, giới thầy chùa, đặc biệt là VIỆT NAM đã mang nặng nghiệp chướng nhìn ra là tu hành giả mạo , mang nặng tính cách PHẢN PHẬT đồng thời trắng trợn HỦY HOẠI PHẬT bằng giáo lý cầu nguyện của Đại thừa - Tịnh độ. Trong các giới tăng ni đã đua nhau biến cải đặc tính VÔ THẦN nguyên thủy của Phật thành HỮU THẦN và ĐA THẦN , biến cải tinh thần khoa học thực nghiệm của Phật thành cuồng tín, dị đoan ngu muội, (cúng kiếng, bói toán, xem ngày giờ tốt xấu, phương hướng, phong thủy, cầu siêu, vớt vong, làm đám cưới trong chùa rập khuôn Kito giáo ...), biến mục tiêu bố thí thành ra trấn lột dã man , lợi dụng quyên góp từ thiện để bớt xén , biến cửa chùa thành hắc điếm,quyền uy và lạy lục , biến chủ trương xuất thế của Phật thành nhập thế để lập băng đảng làm chính trị như GHPGVNTN , GHPGVN ngày nay. Tự phong , tự đặt định ngôi thứ như Giáo chủ Khất sĩ Tăng già Thế giới , Tổng thư ký Viện Hóa Đạo II Thế giới ...... Tự phong cấp bực để phân biệt kẻ nọ với người kia, từ đại lão đến tiểu lão , Tăng Thống với Ni Thống , Vô Thượng Sư đến Hữu Thượng Sư , Cố Phật với Bà Phật và đua chen nhau tranh dành chức vị thế tục, thu nhập quyền lợi vật chất một cách bẩn thỉu. Cuối cùng các giới tăng ni này còn biến đạo Phật thành một thứ đạo CỨU RỖI như Kito , ai cầu nguyện A Di Đà ngày đêm không ngừng nghĩ sẽ được cứu về cõi TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC mà đến nay tôi dám thách thức bất cứ một cao tăng nào chỉ cho tôi cõi ấy ở đâu , như tôi muốn biết thành Ca Tỳ La Vệ của Ngài Thích ca thì được chỉ dẫn rõ ràng và tôi đã mua vé may bay đến tham quan ở nơi Đức Phật ra đời tại đó.Quý vị nào chỉ cho tôi nước Tây phương Tịnh độ tôi cũng mua vé bay đến đó để chiêm ngưỡng ngay , hoàn toàn không ai dám chỉ cõi A Di Đà cho chúng sanh biết và đến. Những ngôn từ cứu nhân độ thế chỉ là lừa bịp của những tăng sĩ Đại thừa - Tịnh độ tông mục đích để kiếm miếng ăn bất chính và phát triễn , tồn tại trên sự lừa dối. Điều quan trọng là GIẾT giáo lý chân chánh của Thích Ca một cách cố ý hay vô tình . Tôi dám cam đoan rằng chính bản các tăng sĩ còn chưa tự cứu độ được thì cứu độ ai . Hằng ngày họ vẫn còn đang kiêu căng, mù quáng lặn ngụp trong vũng bùn gồm đủ mọi thứ tham dục bẩn thỉu chưa hề tỉnh ngộ. Họ chỉ dựa vào Như Lai để tồn tại và phát triễn trên xương máu , mồ hôi ngay chính của Phật tử mình , giống như những côn trùng ăn những côn trùng khác để sanh tồn. Tôi đố quý vị nào chỉ cho tôi một Tăng , Ni Đại Thừa nào ốm nhóm ốm nhách thử xem , nhất là Tăng Ni hải ngoại.

    Con bài cầu siêu cầu an và cứu độ là ngón nghề béo bở nhất của tăng Ni.

    -Cầu siêu , cầu an : Dù cầu gì cũng phải có thủ tục ĐẦU TIÊN ( giống như nhập cửa khẩu VN ). Dù bất cứ đám ma , đám cúng giỗ nào, và bất cứ một vụ thiên tai, thảm hoạ bão lụt nào xảy ra, các Phật tử cũng rước thầy chùa đến làm lễ cầu siêu, cầu an tưng bừng, chuông mõ phèng la ỏm tỏi. Sau vài giờ múa may tụng niệm khổ chủ phải móc túi chi tiền méo mặt. Nhiều khi trả tiền không vừa ý, quí thầy cô còn dỗi hờn vùng vằng ném tiền trả lại. Thầy còn dọa tiền nào của đó , tiền nhiều thì cúng cho ông bà phước nhiều , mau về cõi tịnh độ , đầu thai sung sướng giàu có hơn.......

    -Cứu độ : Lúc nào quý thầy giảng pháp cũng nói : Tu hành mục đích nhằm để cứu độ chúng sanh. Nhưng bản thân Viện chủ vẫn chết đau thương oằn oại, kéo dài hàng nửa năm trời khủng khiếp trên giường bệnh của đại lão HT Thích Huyền Vi, chủ nhân nhóm Linh Sơn. Thầy nằm liệt giường như một cái xác chết chưa chôn, ỉa đái vung vãi tại chỗ. Mắt mở, tai nghe, nhưng mồm không nói được ú ớ như đang bị ma đòi nợ. Còn những vị cao tăng khác như Thích Mãn Giác cũng quằn quoại trên giường bệnh trước khi chết mà các cao tăng khác không ra tay cứu độ cho về thiên đàng đi? Vậy thì thân tôi đòi như Phật tử làm sao được cứu độ đây?


    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



Page 1 of 14 1234567891011 ... LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •