Page 3 of 5 FirstFirst 12345 LastLast
Results 41 to 60 of 92

Thread: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

  
  1. #41
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    Chứng áp huyết cao làm tăng nguy cơ đau thận

    Saturday, April 11, 2009

    HealthDay News - Khi áp huyết càng cao thì người ta càng có nhiều nguy cơ mắc những bệnh thuộc về thận, theo một cuộc nghiên cứu mới.

    Một cuộc phân tích những số liệu từ chương trình Kidney Early Evaluation Program (KEEP - Chương Trình Ước Lượng Thận Sớm) của tổ chức National Kidney Foundation cũng tìm thấy những bằng chứng rằng bệnh đau thận kinh niên càng ở giai đoạn trầm trọng hơn khi áp huyết của bệnh nhân vượt lên cao hơn mức 130 mmHg.

    KEEP là một chương thiện nguyện chuyên giúp dân chúng trong các cộng đồng dò tìm bệnh thận, được thành lập trong năm 2000 để thúc đẩy sự cảnh giác về bệnh này trong số những người có nguy cơ cao, đồng thời cung cấp dịch vụ thử nghiệm miễn phí và những thông tin có tính cách giáo dục. Kể từ khi khởi sự, chương trình này đã dò tìm bệnh thận cho khoảng 125,000 người mắc bệnh tiểu đường, hoặc có áp huyết cao, hoặc có tiểu sử gia đình về bệnh tiểu đường, bệnh thận, áp huyết cao.

    Trong số những người nói trên, gần một phần ba có những triệu chứng liên quan tới bệnh thận.

    Trong phúc trình, các nhà nghiên cứu đã so sánh những số liệu của chương trình KEEP với số liệu thu thập từ cuộc khảo sát U.S. National Health and Nutrition Examination Survey (Khảo Sát Sức Khỏe và Dinh Dưỡng Toàn Quốc Hoa Kỳ), và họ nhận thấy những người Mỹ gốc Phi Châu tham gia chương trình KEEP có tỉ lệ cao hơn về bệnh thận kinh niên nếu những người đó cũng phì mập, hoặc mắc bệnh tiểu đường, hoặc có áp huyết cao.

    Người cầm đầu cuộc nghiên cứu, Bác Sĩ George L. Bakris, thuộc trường đại học University of Chicago, và các đồng nghiệp cũng nhận thấy rằng có nhiều người không nói cho bác sĩ của họ biết về triệu chứng đau thận khi họ mắc chứng “microalbuminuria” - trong nước tiểu có số lượng nhỏ của đạm tố albumin, là dấu hiệu cho thấy thận không còn đủ khả năng lọc chất phế thải. Các nhà nghiên cứu nói rằng, đây là lý do cần nên thử nghiệm để dò tìm chứng microalbuminuria cho những người có áp huyết cao.

    “Những chương trình dò tìm có mục đích cải thiện sức khỏe của dân chúng, gia tăng sự hiểu biết và sự truyền đạt với bác sĩ, để họ được điều trị và cải thiện sức khỏe,” Bác Sĩ Bakris và các đồng nghiệp viết trong phúc trình đã đăng trong số Tháng Tư 2009 của đặc san American Journal of Kidney Diseases (Ðặc San Mỹ về Những Bệnh Thận). (n.m.)
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  2. #42
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    Những gia đình thường ăn chung với nhau thì có thói quen dinh dưỡng tốt

    HealthDay News - Một cuộc nghiên cứu mới và lâu dài cho thấy rằng những trẻ em trong các gia đình thường ngồi ăn với nhau ít nhất 5 bữa mỗi tuần lễ thì có khuynh hướng thực hành thói quen dinh dưỡng tốt.

    Các nhà nghiên cứu thuộc trường đại học University of Minnesota báo cáo rằng những thiếu niên thường xuyên ngồi ăn cùng với gia đình thì tập được thói quen ăn uống lành mạnh hơn - có nghĩa là chúng tiêu thụ nhiều rau hơn, nhiều thực phẩm giầu calcium, giầu xơ bã và những chất bổ dưỡng cần thiết.

    Các nhà nghiên cứu đã khảo sát thói quen ăn uống của 677 thiếu niên qua những danh sách câu hỏi mà các em trả lời trong năm trước tuổi teen và năm đầu tiên của tuổi teen, rồi sau 5 năm chúng lại trả lời lần nữa. Những kết quả khảo sát đã đăng trong số Tháng Ba/Tháng Tư của đặc san Journal of Nutrition Education and Behavior, chuyên về giáo dục dinh dưỡng.

    “Những kết quả tìm thấy từ cuộc phân tích hiện thời, cùng với những kết quả từ một cuộc phân tích lâu dài tương tự trước đây, về thời gian chuyển tiếp giữa tuổi thiếu niên và tuổi sắp thành niên, cho thấy rằng những bữa ăn chung với gia đình thường xuyên có những phúc lợi lâu dài về dinh dưỡng,” chuyên gia dinh dưỡng Teri L. Burgess-Champoux, thuộc trường y tế công cộng của đại học University of Minnesota, nói trong một bản tin của nhà xuất bản đặc san trên đây, và thêm rằng giới phụ huynh, các nhà giáo dục và các giới săn sóc sức khỏe cần nên quan tâm tới vấn đề này.

    Trong 5 năm giữa thời gian điền vào những danh sách câu hỏi, con số những bữa ăn chung với gia đình của trẻ em đã giảm từ mức 60% khi chúng ở tuổi 12 hoặc 13, xuống mức khoảng 30% khi chúng tới tuổi 17 hoặc 18.

    Tính tổng quát, những thiếu niên thường xuyên ngồi ăn chung bữa với gia đình ở cả hai thời điểm trả lời câu hỏi cách nhau 5 năm thì có thói quen dinh dưỡng tốt hơn; tuy rằng điều này không có nghĩa là chúng tiêu thụ đầy đủ những mức đề nghị về các loại thực phẩm lành mạnh cần thiết hàng ngày, như trái cây, rau, hoặc ngũ cốc nguyên vẹn, trong suốt thời gian 5 năm giữa hai lần trả lần câu hỏi. (n.m.)
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  3. #43
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    Bông cải xanh (broccoli) ngăn ngừa bệnh suyễn

    Monday, March 09, 2009

    Hùng Thuận sưu tầm

    Theo ScienceDaily (ngày 4 tháng 3)- Nghiên cứu của trường đại học California, Los Angeles (UCLA) cho hay hợp chất tự nhiên phát hiện trong bông cải xanh và các loại rau cải có thể giúp bảo vệ chống viêm đường hô hấp gây ra các bệnh như suyễn, dị ứng và viêm mũi, và các bệnh về phổi.

    Nghiên cứu cho thấy sulforaphane, một hóa chất trong broccoli, làm tăng những enzymes chống oxy hóa trong cơ thể của con người giúp bảo vệ chống lại hoạt động của các gốc tự do, gốc tự do tạo ra khi chúng ta hít thở hàng ngày trong không khí ô nhiễm. Ô nhiễm môi trường là một trong những nguyên nhân dẫn đến viêm hô hấp và bệnh suyễn.

    Nghiên cứu được so sánh trên các tình nguyện viên khi ăn bông cải xanh và loại rau không chứa sulforaphane, kết quả nghiên cứu được kiểm tra trên các đường hô hấp của cơ thể.
    Ðây là một trong những nghiên cứu đầu tiên cho thấy rằng bông cải xanh một nguồn thực phẩm phong phú có tiềm năng sinh học cao kích thích chất chống oxy hóa ở người, nghiên cứu đã tìm thấy trong các tế bào thuộc đường hô hấp của những tình nguyện viên có chỉ số chất chống oxy hóa tăng gấp 2-3 lần so với trước khi ăn bông cải xanh.

    Chất enzymes chống oxy hóa phát hiện là GSTP1-199 và enzyme khác gọi là NQO1.
    Nghiên cứu này có thể giúp khả năng bảo vệ chống lại quá trình viêm và có thể dẫn tới khả năng điều trị cho một loạt các bệnh đường hô hấp.

    Nghiên cứu chỉ ra bông cải xanh và các loại rau cải khác như là một phần của một chế độ ăn uống lành mạnh.

    Trà xanh và trà đen giúp giảm nguy cơ đột quỵ

    Theo ScienceDaily ngày 4 tháng 3 cho hay một nghiên cứu mới của trường đại học California, Los Angeles (UCLA) đã tái khẳng định mỗi người hàng ngày uống ít nhất là ba ly trà xanh hoặc trà đen giúp làm giảm đáng kể nguy cơ đột quỵ.

    Nghiên cứu của UCLA dựa trên xem xét lại bằng chứng của tất cả các quan sát về đột quỵ ở người và uống trà. Bằng cách uống ba ly trà mỗi ngày, nguy cơ bị đột quỵ đã giảm tới 21 phần trăm. Không phụ thuộc là trà xanh hay trà đen. Nhưng phải là loại trà chế biến từ cây trà có tên khoa học là Camellia sinensis, chứ không phải từ các liệu pháp thảo dược trà trên thị trường hiện nay.

    Ðột quỵ xảy ra khi dòng máu lên não bị giảm bớt hoặc bị tắc nghẽn. Dòng máu có thể bị tắc do máu bị đóng cục, tạo thành mảng hoặc do mạch máu bị rò rỉ. Ðôi khi dòng máu lên não bị tắc nghẽn trong một thời gian ngắn. Có rất ít người biết cách để giảm thiểu nguy cơ bị đột quỵ. Khi phát triển các loại thuốc cho các nạn nhân đột quỵ thường là quá muộn khi đột quỵ xảy ra. Uống trà là một phương pháp hữu hiệu, đơn giản và không độc hại để ngăn chặn đột quỵ, và những bệnh về tim mạch.

    Cho tới nay chưa có nghiên cứu cho biết hợp chất nào có hiệu quả này. Nhưng các nghiên cứu cho rằng chất chống oxy hóa epigallocatechin gallate (EGCG) hoặc acit amin theanine có thể có vai trò ngăn chặn đột quị. Những chất oxyhóa vẫn được coi là tác nhân ngăn ngừa bệnh động mạch vành.

    Nghiên cứu của UCLA cho biết rằng acid amin theanine trong trà gần như là 100 percent hấp thụ trong cơ thể. Lí do, khi tuần hoàn não bị ngăn chăn, nghiên cứu cho rằng có một phân tử giống với glutamate (acid glutamic) và sản phẩm giải phóng ra khỏi glutamate liên quan tới đột quỵ. Các khoa học gia tin rằng đó là acid amin theanine và glutamate cạnh tranh với các phân tử glutamate receptor trong não làm tránh nguy cơ này.

    Kết quả nghiên cứu đã công bố trong tạp chí của Hội Tim Mạch Hoa Kỳ và thuyết trình ngày 19 tháng 2 tại hội nghị quốc tế về đột quỵ tại San Diego, California.
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  4. #44
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    “Phage Therapy” : Làm sao trị bệnh do vi khuẩn gây nên một khi trụ sinh không còn công hiệu ?

    Trong sách vở Y Khoa, chữ “phage” trong tiếng Anh là tên gọi tắt của chữ “bacteriophage”, trong đó “bacterio” chỉ vi khuẩn, còn chữ “phage” theo gốc Cổ Hy Lạp có nghĩa là “ăn”. “Bacteriophage” (mà trong bài tiếp theo đây sẽ được gọi tắt là “phage/s”) có nghĩa là các con vi rút có khả năng ăn tươi nuốt sống và tức là tiêu diệt các con vi khuẩn gây nên bệnh này tật kia nơi con người.

    Trường hợp các vi khuẩn nơi một vết thương không còn trị liệu được bằng trụ sinh do sức đề kháng của vi khuẩn hoặc do chúng đã “quen thuốc” thì từ nhiều năm nay ở Ðông Âu người ta đã trị liệu những trường hợp đó với kết quả đáng được chú ý bằng cách sử dụng các vi rút truyền vào cơ thể con người để chúng đóng vai một “đạo quân thứ năm” nhằm tiêu diệt các vi khuẩn gây nên những vết thương khó trị kia.
    Tại Hoa Kỳ thì phương pháp đó chưa được áp dụng vì muốn được áp dụng thì phải có phép của cơ quan FDA có chức năng kiểm tra thực phẩm và được liệu trên toàn quốc.
    Sau đây là câu chuyện có liên quan đến đề tài quan trọng đó.

    Thoạt tiên thì tưởng như không có gì đáng ngại. Vệt đỏ trên đùi bên phải của Roy Brillon trông như thể bị một con nhện độc gì đấy nó cắn. Thế nhưng ngày qua ngày thì vết đó cứ lan ra. Cho đến tháng 12 năm 2004 thì vết u tưởng chừng như vô hại kia đã loét ra rộng bằng bàn tay. Người trị liệu cho ông Brillon, Bác Sĩ Randy Wolcott, cho đến thời điểm đó đã kê toa cho bệnh nhân đủ loại thứ trụ sinh mà ông ta có thể nghĩ ra được thế nhưng vết lở lói mỗi ngày một thêm trầm trọng. Ông Brillon, một thợ sơn nhà 62 tuổi ở Lubbock, Texas, nay đã nghỉ hưu, nói rằng: “Thiệt là tệ hại. Tôi đành phải bỏ nghề vì không còn leo thang được nữa”.

    Ông Brillon có cảm giác như thịt da của mình ở chỗ vết thương bị ăn mòn từ trong ra. Và quả đúng là như thế. Nếu để yên không chữa chạy cho đến nơi đến chốn thì các loại vi khuẩn như streptococcus và staphylococcus sẽ ăn dần ăn mòn những tế bào mỏng manh để tự nuôi sống chúng, để lại những mép đỏ ửng và tanh banh, cứ thế lan rộng ra bên ngoài càng lúc trông càng dễ sợ. Bệnh nhân đau đến độ mà BS chữa trị phải cho dùng morphine. Nhưng ông Brillon vẫn cho biết là “Tôi chỉ được kê đơn cho uống hai viên một ngày nhưng rốt cuộc thì tôi phải uống đến ba viên lúc ban sáng và ba viên vào lúc xế trưa. Ðau không tả xiết, và tôi chỉ còn nước cắn răng mà chịu đựng”.

    Là trưởng trung tâm Southwest Regional Wound Care Center của thành phố Lubbock, BS Wolcott thừa biết rằng đối với những bệnh nhân bị viêm nhiễm nhưng các loại thuốc trụ sinh không còn ứng nghiệm thì các triệu chứng dự đoán tiêu biểu về diễn biển của căn bệnh sẽ là: tình trạng thối hoại, phải cưa cắt và, đối với khoảng 100.000 người Mỹ trong một năm, dẫn đến tử vong.

    Ông nói: “Một vết thương kinh niên” có nghĩa là “không cách chi chữa chạy”. Phương thức chủ yếu là mình phải cưa hoặc mình phải khoét. Trông dã man lắm”. BS Wolcott hầu như tuyệt vọng trong việc tìm cho ra một phương cách chữa trị nào đấy mà không phải sử dụng trụ sinh hoặc đến cái nước phải tiến hành làm những việc như vừa nêu ở trên. Hàng ngày ông đã phải ngồi ở trung tâm đó 10 tiếng đồng hồ, thường khi lại còn phải ở lại cho tận khuya để nghiên cứu các tài liệu y khoa có những bài khảo cứu mới mẻ nhất trong việc chữa trị các vết thương, nhằm coi xem có phương thức gì đấy - bất luận là phương thức nào - để có thể giúp chữa trị những bệnh nhân bị viêm nhiễm nhưng với kiến thức chuyên môn của ông vẫn không còn biết đường nào mà lần.

    Khi ông Brillon đến tái khám ba tuần lễ sau đó thì BS Wolcott bước vào phòng mạch với một ống nhỏ thuốc trong một tay và trong tay kia thì ông cầm một cái lọ nhỏ, trong đựng một dung dịch trông có vẻ khả nghi, chả khác gì nước ao. Dung dịch đó hóa ra là món như được mô tả ở trên là mang tính cách “bất cứ thứ gì có thể giúp mình trị liệu”. Ðấy là một dung dịch chứa đựng loại vi rút (“virus”) có thể ăn vi khuẩn (“bacteria”) và các vi rút đó được mệnh danh là “bacteriophages”.

    Trước đó thì BS Wolcott đã giải thích cho ông Brillon rằng các bác sĩ bên Ðông Âu đã từng sử dụng loại “bateriophages” một cách an toàn từ thập niên 1920 để chữa trị những trường hợp mà trụ sinh loại thông thường không còn hiệu nghiệm đối với vi trùng “Strep” và vi trùng lao cũng như đối với bệnh tình của ông Brillon. Ngay cả những công ty được phẩm tại Hoa Kỳ này cũng đã từng bán ra loại “bacteriophages” này vào hồi đầu thập niên 40, khi “penicillin” bắt đầu xuất hiện, dễ sử dụng hơn, thường là hiệu nghiệm hơn và rốt cuộc thì bán ra dễ sinh lợi hơn về mặt kinh doanh so với món “bacteriophages”. BS Wolcott nhìn nhận rằng loại vi trùng ăn vi khuẩn này có thể không “giúp được gì” thế nhưng nếu sử dụng chúng mà không có hại thì tội gì không thử coi xem sao?

    Có điều là ông Brillon cũng chả cần được thuyết phục chi cho nhiều, bởi tình trạng của ông ta thì có phải thử nghiệm phương cách trị liệu gì cũng đều là chuyện phải làm cả. Thế nhưng đối với cơ quan Food and Drug Administration có nhiệm vụ kiểm tra thực phẩm và dược liệu của Hoa Kỳ thì lại là cả một vấn đề khác.

    Từ năm 1963 cơ quan này đã đề ra một quy trình rất chặt chẽ trong việc cho phép tất cả các dược liệu được bán ra trên đất Mỹ. Phương pháp trị liệu bằng loại “Phage” - mượn tay vi trùng này để tiêu diệt vi khuẩn kia - rồi ra còn phải được sự chấp thuận của cơ quan đó, bởi thế mà BS Wolcott còn phải kiến nghị lên ủy ban điều hành nơi tiểu bang của mình để chỉ được phép sử dụng đối với những ai mà ông không còn cách trị liệu nào khác. Và rồi vì chả có loại “thuốc” “Phages” nào ở các hiệu thuốc tại Hoa Kỳ, ông ta buộc lòng phải liên lạc qua mãi tận bên nước Georgia, một trong các thành viên của 15 nước Cộng Hòa Liên Xô khi xưa, để có cho được món hàng đó. Ở bên đó thì người ta lại bán nó ở các hiệu thuốc mà chẳng cần toa bác sĩ. Ông đặt mua ba chai, mỗi chai 2 dollars, trong đó chứa đựng hàng trăm loại vi rút có thể ăn được các vi khuẩn khác.

    “Có thế thôi à?” Brillon hỏi sau khi BS Wolcott nhỏ vài giọt chất lỏng màu vàng nhờ nhờ lên vết thương ông ta. Chất nước đó chả có làm cho đau đớn gì cả.

    Mà trong một vài ngày đầu thì cũng chả có gì đáng nói xảy ra, và ông Brillon lại phải dọn mình để chờ đợi thêm một phen phải thất vọng nữa. Thế nhưng với tuần lễ cứ thế trôi qua thì chỗ vết thương lại bắt đầu có sắc nhạt đi dần thành một màu hồng trông lành mạnh hơn, và rồi một vùng da mới trông lành mạnh bắt đầu ló dạng, mỗi ngày một lan ra đều đặn. Chỉ trong vòng ba tuần lễ, vết thương hoàn toàn lành lặn. Ông Brillon nói với BS Walcott của mình: “Ông nên chụp ít tấm ảnh, chứ còn bằng không thì sẽ chẳng ai tin cả!”
    Cứ theo như bản chất của các “vi-rút” mà nói thì loại ăn tươi nuốt sống được các vi-khuẩn khác là thuộc loại hiền lành. Chúng là những vi sinh vật xuất hiện đông đảo nhất trên quả đất này. Chúng “có mặt” hầu như khắp mọi nơi - trong đất, trong nước uống, trong nước cống rãnh. Thực ra thì mỗi người trong chúng ta có hàng tỉ con “vi-rút” loại đó trong cơ thể của mình.

    Mà bọn chúng thì chỉ săn bắt vi khuẩn chứ không bao giờ làm hại đến tế bào nơi cơ thể con người. Chúng ít khi di cư từ một người này sang một người khác, và quan trọng hơn cả là vi khuẩn thì khó mà có hệ thống đề kháng chống lại chúng. Vì là những cơ thể sống, cũng là sinh vật, cho nên đám vi rút ăn được vi khuẩn này thay đổi một cách thường xuyên nhằm thích nghi với bọn vi khuẩn để dễ bề xơi tái bọn này. Cách trị liệu bằng phương thức “Phage” do đó có thể loại trừ được cái vòng luẩn quẩn tai hại theo đó vi khuẩn biến hóa thế nào đấy để cưỡng lại được với thuốc trụ sinh, dẫn đến việc phải kiếm ra loại dược liệu khác mạnh hơn, để rồi rốt cuộc thì đâu cũng lại vào đấy.

    Thế nhưng cũng lại có một điều khá lấn cấn. Chính đặc tính khiến cho các “vi-rút” (Phages) hiệu nghiệm như thế - có khả năng thay đổi hình dạng một cách điệu nghệ của chúng - lại là một vấn đề cam go khi phải qua con mắt giám sát của các cơ quan kiểm tra của Hoa Kỳ. Mặc dù chưa có những bản tường trình nào về những tác dụng bất lợi từ các sự thay hình đổi dạng của loại “vi-rút” đó thế nhưng những con nào không thường cư ngụ trong cơ thể con người vẫn có khả năng hoán chuyển “gien” với bọn sống trong cơ thể con người để tạo nên các chất đạm (“protein”) ngoại lai tạo nên phản ứng đề kháng. Và rồi cũng không thể nào xác quyết xem một con “vi-rút” sẽ thay hình đổi dạng ra sao khi tiếp cận với những vi khuẩn khác loại, theo như lời của Paul Sullam, một nhà vi sinh vật học tại University of California ở San Francisco.

    Cũng vì lý do đó, trong số các lý do khác nữa, mà phát ngôn viên Karen Riley của cơ quan FDA nói rằng phương thức trị liệu bằng “phage” để chữa chạy cho con người phải được quy định như là một sản phẩm thuộc dạng sinh vật. Ðiều đó có nghĩa là nếu như các con “vi-rút” cho thấy có nhiều dấu hiệu rõ rệt để thay hình đổi dạng hoặc thay đổi trong các cuộc thử nghiệm về mặt lâm sàng thì cho dù những thay đổi đó không có nguy hại gì đến bệnh nhân, các cuộc thử nghiệm như thế vẫn bị coi như khó được chấp thuận. Ðiều đó giải thích lý do tại sao các giới bào chế thuốc không mấy sốt sắng trong việc tiến hành các cuộc thử nghiệm như thế.

    Ông Sullam nói: “Tôi hiểu cách nhìn của cơ quan FDA, bởi mỗi con ‘vi-rút’ (“Phage”) đều nói lên một mức độ rủi ro nào đấy. Một khi mà các “vi-rút” có khả năng trao đổi với nhau các thành phần có liên quan đến “gien” thì điều đó khiến người ta lo lắng áy náy dữ lắm.”
    Ðối với cơ quan FDA thì chất dung dịch mà BS Randy Wolcott nhỏ lên vết thương nơi bệnh nhân của ông là chuyện mới mẻ và chưa được chứng minh. Thế nhưng đối với các khoa học gia làm việc tại viện nghiên cứu George Eliava Institute of Bacteriophage, Microbiology and Virology ở nước Cộng Hòa Georgia thì người ta tín nhiệm phương thuốc đó như thể đối với aspirin vậy. Kể từ năm 1923, khi cơ sở đó được dựng lên, các nhà khoa học đã chữa trị thành công cho hàng triệu con người bằng phương thức trị liệu mệnh danh là “phage therapy” và cũng đã đệ trình hơn 100 đề án nghiên cứu tại các cuộc hội nghị quốc tế để minh chứng cho giá trị của phương pháp đó về mặt lâm sàng.

    BS Wolcott gọi Eliava là “con tàu mẹ của công cuộc nghiên cứu về phage”, một thứ đất thánh cho toàn thế giới với những ai bị viêm nhiễm nhưng các thuốc trụ sinh thông dụng không thể chữa lành. Chỉ có điều là nơi đấy không trông giống như một nơi mình muốn đi nếu như có vấn đề sức khỏe gì đấy trong người. Khi ông Wolcott đến đấy để tìm đường cứu chữa cho các bệnh nhân của mình thì tòa nhà cao bốn tầng đó trông gần giống với một bệnh viện tâm thần ít được chăm sóc thì đúng hơn. Tường vách này kia chẳng có vôi vữa gì hết, các phòng đều tối om, còn máy móc trang thiết bị này kia trông cổ lỗ sĩ như đồ vật trong một viện bảo tàng. Ông nói: “Ðiều kiện làm việc ở đấy thì chán lắm, ấy vậy mà thành quả về mặt khoa học thì lại đáng ngạc nhiên”.

    Ông Wolcott bỏ ra năm ngày theo sát các nhân viên ở đấy để tự mình tận mắt coi xem người ta trị liệu theo “phage therapy” ra làm sao. “Họ có những bộ phận cấy men cao 10 “feet”, chả khác gì các nồi nấu ăn và họ sử dụng chúng để tạo ra hàng triệu liều (“doses”) thuốc hàng năm với giống “phages” trong đó”, ông ta kể lại. Ðiều khiến ông ngạc nhiên hơn cả, ngoài các mặt tang trí phòng ốc trông buồn thảm đó, là cách thức công phu mà mỗi toa thuốc được điều chế theo điều kiện đặc thù cửa từng bệnh nhân.

    Các giống “Phages” đều được phân ra thành từng chủng loại cụ thể, tức là từng loại khác nhau thì chuyên tấn công từng nhóm vi khuẩn khác nhau. Vì một số các vết thương có thể là môi trường sinh sôi cho hàng trăm loại vi khuẩn khác nhau cho nên các y sĩ làm việc tại đó cấy một mẫu tế bào nơi chỗ bị viêm nhiễm để xác định coi xem thành phần các loại vi khuẩn ở đó ra sao. Bước kế tiếp là tạo nên một hỗn hợp dành cho từng trường hợp viêm nhiễm cá biệt, lắm khi bao gồm cả trăm loại “phages” khác nhau mà người ta lọc lựa tư “kho hàng” của viện nghiên cứu đó với cả nghìn loại như thế.

    Trọn một quy trình như thế có khi phải bỏ ra bốn ngày. Còn quá trình trị liệu - thường thì thuốc được truyền qua một đường ống có nhiệm vụ nhỏ giọt từ một cái bao theo kiểu “truyền nước biển” xuống chỗ vết thương của bệnh nhân suốt 24 tiếng một ngày - có thể kéo dài đến hai tuần lễ.

    Tuy nghe có phần bất tiện như vậy thế nhưng ít có bệnh nhân nào than phiền. Các kết quả thì thật là ngoạn mục, ông Wolcott cho biết: “Tôi gặp một phụ nữ mắc chứng viêm kinh niên trong lỗ tai. Bà ta trở lại bệnh xá đó để điều trị lần cuối. Họ truyền thuốc cho bà ta, và trong nội một tuần, bà ta hoàn toàn lành bệnh.” Thật vậy, các bản nghiên cứu được ấn hành trong nhiều thập niên vừa qua, căn cứ vào những cuộc thử nghiệm tại Eliava cũng như những nơi khác ở Ðông Âu đã cho thấy rằng phương pháp “phage therapy” có mức độ thành công từ 80 đến 90 phần trăm đối với những chủng loại vi khuẩn có sức đề kháng đối với thuốc trụ sinh như giống Staphylococcus aureus và Escherichia coli. Ngược lại thì nhiều loại trụ sinh lại vô hiệu năng ngay khi được sử dụng để chống lại các loại vi khuẩn gây bệnh đó. Hồi Tháng Sáu năm 2005, một giống vi khuẩn có khả năng kháng cự lại loại trụ sinh imipenem, mới và mạnh nhất, đã gây nguy kịch cho hơn 50 bệnh nhân tại các bệnh viện ở New York City. Trong số những bệnh nhân mà tình trạng viêm nhiễm lan vào trong huyết mạch thì tỷ lệ tử vong là 47 phần trăm.

    Với tình hình vi khuẩn đề kháng lại được với các loại trụ sinh đến mức kỷ lục trên toàn thế giới thì phương thức trị liệu bằng “phage therapy” không còn là địa hạt nghiên cứu riêng cho bên các nước Ðông Âu. Công ty kỹ thuật vi sinh Biocontrol bên Anh Quốc năm vừa qua đã tổng kết đợt II về thử nghiệm phương pháp trị liệu theo “Phage therapy” về mặt lâm sàng tại Tâu Âu với những kết quả khiến ai ấy đều phải sửng sốt. Phương hướng trị liệu thử nghiệm đó đã chống lại được loại vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa gây ra những trường hợp viêm nhiễm nghiêm trọng đối với phổi và tai và cái giống này thì có sức đề kháng cao đối với trụ sinh.

    Các bệnh nhân bị viêm nhiễm nhưng không chữa chạy được bằng trụ sinh và được trị liệu theo “phage therapy” đã thấy các triệu chứng về bệnh tình của mình thuyên giảm đến 50 phần trăm, so với tỷ lệ 20 phần trăm của nhóm không được trị liệu bằng “phage therapy”.
    Ông Dan Nelson, một nhà hóa sinh (“biochemist”) tại University of Mary land có mặt tại hội nghị ngày hãng Biocontrol cho công bố kết quả đã phát biểu: “Thực lòng mà nói, tôi choáng váng trước những kết quả đó.”

    Ðối với ông Wolcott, người từng chứng kiến cái cảnh hàng trăm bệnh nhân chết hàng năm về những trường hợp viêm nhiễm tưởng chừng như không gì cứu chữa được thì các loại “vi-rút” có tác dụng chữa trị này mà được công khai sử dụng ở trên đất Mỹ này sớm ngày nào thì hay ngày ấy.

    “Cần du nhập cấp kỳ phương thuốc trị liệu này. Nó có hiệu quả. Nó là phương pháp trị liệu hoàn toàn tự nhiên. Có lý do gì mà không xịt chất thuốc đó vào cổ họng một đứa trẻ ngay từ bây giờ?”

    Sự thực thì phương pháp trị liệu theo “phage therapy” đã có mặt ở xứ này rồi, chỉ có điều là người ta không làm nó theo cái kiểu mà ông Wolcott coi như thực tiễn nhất. Vì góc cạnh kỹ thuật về mặt quy định cho nên các giới sản xuất có thể sử dụng các “phages” vào các loại món ăn được chế biến để ăn liền, nhằm tránh không cho vi khuẩn gây độc hại, thế nhưng các bác sĩ thì lại không thể kê toa sử dụng loại đó cho người bị viêm cổ họng nặng. Theo cơ quan FDA thì khác biệt là ở nơi việc ứng dụng: Cho xịt “phages” vào một món thịt loại “to go” để ăn trưa chẳng hạn thì đấy như thể thêm vào một cái gì đấy cho thức ăn. Còn nếu như đưa nó vào cơ thể một ai đấy đang bị viêm nhiễm thì nó lại trở thành một dược liệu.

    Năm 2006, hãng kỹ thuật vi sinh Intralytic lợi dụng các điều lệ ít chặt chẽ hơn đối với các phụ phẩm cho thức ăn để được cơ quan FDA thông qua cho bán loại “phages” dưới dạng thuốc xịt để giết loại vi khuẩn Listeria, một căn nguyên phổ thông gây tình trạng ngộ độc vì thức ăn. Hãng đó cũng đang phát triển nhiều loại chữa trị bằng “phages” dành cho người, và một trong các đối tượng cho việc trị liệu kiểu đó đã được đưa vào quá trình thử nghiệm về mặt lâm sàng, nhờ công đóng góp thúc đẩy của ông BS Wolcott.

    Ông Wolcott tiếp xúc với John Vazzana, tổng giám đốc điều hành của Intralytic tại một hội nghị về “phage” ở Texas ba tháng sau khi ông từ Âu Châu trở về. Hai người chuyện trò với nhau hết giờ này sang giờ khác về số phận cam go của các “phages” tại Hoa Kỳ. Khi hội nghị đó kết thúc thì cả hai đã lập ra được một kế hoạch để thuyết phục cơ quan FDA để cho họ làm một cuộc thử nghiệm về mặt lâm sàng. Intralytix sẽ cung cấp các “phages”, còn ông Wolcott sẽ cung cấp bệnh nhân.

    Rốt cuộc thì cơ quan FDA cũng đã chấp thuận, với điều kiện là họ phải giới hạn cuộc thử nghiệm với tám nhóm 'phages” đã được hãng Intralytic điều nghiên kỹ lưỡng. Ông Wolcott cấp tốc tuyển mộ 39 bệnh nhân, tất cả đều bị lở loét nơi bắp chân, và sắp xếp để tiến hành làm thử nghiệm trong vòng hai năm. Ðây là việc làm đầu tiên như thế ở phía bên này Ðại Tây Dương.

    Mỗi tuần lễ như thế, các người tham gia chương trình của ông Wolcott đều đến bệnh xá và tiếp nhận các “phages” qua một dụng cụ siêu âm thuộc loại cầm tay, tức là một hình thức được cải tiến ở dạng kỹ thuật cao cấp để thay thế cho dạng nhỏ thuốc qua đường dây loại “truyền nước biển” như ở bên Ðông Âu. Dụng cụ này vừa xịt một dung dịch “phages” có chất muối đi theo, vùa tiêu diệt các mô bị nám đen hoặc đã chết, giúp cho các “phages” được truyền sâu vào chỗ vết thương.

    Cũng như tất cả các cuộc thử nghiệm về mặt lâm sàng khác, chương trình thử nghiệm của ông Wolcott được thiết kế nhằm thẩm định mức độ an toàn của phương pháp trị liệu chứ không nhằm vào kết quả tức thời của nó về mặt hiệu năng. Trong bối cảnh này thì công cuộc khảo sát này đã đem đến những dấu hiệu đầy triển vọng cho tương lai. Không một ai trong số các bệnh nhân tham gia báo cáo là có dấu hiệu phản ứng phụ nghiêm trọng nào hết, thế nhưng mức độ hiệu nghiệm thì đã chẳng mấy khả quan. Gần 70 phần trăm các người tình nguyện tham gia đã có triệu chứng lành bệnh đáng kể sau 24 tuần lễ chữa trị, nhưng con số người không được trị liệu như vậy cũng ghi nhận từng ấy tỷ lệ về mặt kết quả.

    Ông Wolcott cũng đã dự trù như thế rồi, và coi sự việc đó như do nơi dung dịch để trị liệu đã không được điều chế để trị chủng loại vi khuẩn nơi những vết thương của các bệnh nhân của ông, như người ta vẫn thường làm bên nước Georgia, và điều đó đã hạn chế mức độ hiệu nghiệm của các “phages” chọn không đúng chủng loại thích hợp.

    Và đây là giai đoạn ông Wolcott đi vào ngõ bí. Các giới chức của FDA đã nói với ông rằng nếu ông muốn sử dụng “phages” cho bệnh nhân của mình thì ông phải làm từng cuộc thử nghiệm về mặt lâm sàng riêng rẽ ra cho từng chủng loại “phage” hoặc hỗn hợp các “phages” mà ông ta muốn đưa ra để thử điều trị, y hệt như khi ông ta sử dụng từng loại dược liệu bằng hóa chất theo quy trình về mặt điều lệ thử nghiệm. Nhưng vì mỗi vết thương nơi mỗi bệnh nhân của ông có thể chứa chấp hàng trăm loại vi khuẩn khác nhau cho nên ông ta không thể nào tìm cách thử nghiệm với hàng nghìn hỗn hợp các “phages” để chống lại tất cả các vi khuẩn đó, nhất là một khi còn phải xét đến các mặt phí tổn, khi mà việc thử nghiệm với một dược liệu không thôi thì cũng đã có thể tốn kém đến cả mấy triệu dollars.

    “Dân xứ này người ta có cái quyền được nổi khùng lên khi thấy chúng ta có một tình trạng rất khác biệt so với Âu Châu về mặt trị liệu bằng các “phages”, bà Betty Kutter, một nhà nghiên cứu về “phage” ở Evergreen State College phát biểu. “Toàn bộ mội trường về mặt kiểm soát điều hành của chúng ta xưa giờ vẫn là một động lực căn bản kềm chân người ta khi người ta muốn thực hiện một việc gì đấy”.

    Một cuộc thử nghiệm đợt II quy tụ từ 100 đến 200 bệnh nhân bị thương tật sẽ tốn kém khoảng 9 triệu Mỹ kim - và nếu như phương thức trị liệu được đem ra thử nghiệm chỉ bao gồm một vài loại “phages” thôi, như trong đợt I, thì e là nó sẽ không có kết quả mỹ mãn đối với các bệnh nhân có vết thương bị gây ra do nhiều nhóm vi khuẩn cùng lúc. Và cứ theo như các điều lệ hiện hành thì ông Vazzana cũng không chắc là ông sẽ tìm ra vồn liến để chi cho cuộc thử nghiệm này.

    Thế nhưng các nhà nghiên cứu về “phages” như Ben Burrowes thuộc Texas Tech University Health Sciences Center thì lại có cái nhìn lạc quan. “Ðến một lúc nào đấy thì các ông ty sẽ cho sản xuất các sản phẩm có “phages” trong đó”, ông ta nói thế, “và một khi mà những hãng đầu tiên lọt qua được quy trình để được phép sản xuất thì cơ quan FDA sẽ nới lỏng các quy định của mình đi phần nào”.
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  5. #45
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    “Phage Therapy” : Làm sao trị bệnh do vi khuẩn gây nên một khi trụ sinh không còn công hiệu ? [tiếp theo]

    Riêng nhà sinh vật học Vincent Fischetti của Rockefeller University thì lại không phải có thái độ chờ đợi hay chần chừ gì. Ông Fischetti tin chắc là hiện đang có một lỗ hổng lớn trong khu vực chăm sóc sức khỏe cho đại chúng, và nới cái lỗ hổng đó lẽ ra phải có những phương thuốc hiệu nghiệm để trị vi khuẩn. Chỉ có điều là ông không biết chắc xem phương thức trị liệu bằng “phages” có phải là cái để lấp cái lỗ hổng vừa nêu hay không mà thôi. Ðối với ông thì Wolcott và các bạn đồng hành đeo đuổi phương pháp “Phage therapy” chẳng qua cũng giống như nhưng người duy trì tình trạng hòa bình nhưng không có chính phủ hậu thuẫn: tất nhiên họ có tâm huyết là cái chắc nhưng rồi ra khó mà thành công đến khi chung cuộc. “Tôi không nghiên cứu về “Phage therapy” đâu, ông ta nhấn mạnh như thế, khi ông hướng dẫn tôi quanh co trong khu nhà thí nghiệm của ông ta ở lầu Sáu mà từ đấy có thể có tầm nhìn bao quát ra khu viện nghiên cứu trong khuôn viên khu đại học ở Manhattan. “Tôi đang ra công nghiên cứu về phương thức trị liệu lấy “phage làm nền tảng”.

    Sự phân biệt về danh xưng đó có phần bí hiểm đối với những ai không là những nhà sinh vật học, thế nhưng trong cách suy nghĩ của ông Fischetti thì sự phân biệt đó là then chốt. Trong khi ông Wolcott xem các “phages” như một phát hiện độc đáo về mặt trị liệu thì ông Fischetti lại chỉ coi đấy như một bước chuyển tiếp hướng đến một thế hệ mới với những công cụ chống vi khuẩn hiệu nghiệm hơn.

    Ông chủ trương là cuộc chiến để vượt qua được hàng rào các điều lệ quy định cũng như các rủi ro phát xuất từ khả năng chuyển hóa của các “phages” khiến cho các công ty sản xuất dược liệu không dám liều mạng xông vào thử thời vận về mặt kinh doanh đối với dạng “thuốc” đó. “Việc điều trị bằng “phages” giỏi lắm cũng sẽ chỉ được thực hiện ở múc độ cá thể chứ không cách gì hơn được”, ông ta nói thế.
    Như vậy thì ông ta chọn một giải pháp hoán thế khác, bằng cách lọc con “phage” để trích ra chất tiêu tố - “lysin” - tức là chất “enzim” mà con “phage” dùng để phá vỡ cái màng nơi con vi khuẩn. Ông ta tuyển mộ nhân viên của mình để sắm vai các nhà thăm dò đi thu thập các giống “vi-rút” có khả năng giết vi khuẩn từ những khu đầm lầy, sông ngòi, bất kỳ nơi đâu mà họ có thể phát hiện ra chúng. Ông ta chỉ vào một túi cứt dơi hôi hám trên bục cửa sổ của mình. “Ta có thể lôi đám “phages” ra từ đấy”, ông nói.

    Sau khi đã quan sát để thấy tiêu tố (“lysin”) là các “hợp chất tích cực” của giống “phages” thì ông Fischetti nhắm đến việc gom góp chất tiêu tố từ giống đó và dùng các chất tiêu tố đó vào việc chế tạo các được liệu ổn định để chống lại vi khuẩn. Nếu thành công thì ông ta có thể thực hiện được hai việc cùng một lúc mà trước đây ít một ai nghĩ có thể làm được: dùng các mặt thuận lợi của phương tiện trị liệu qua việc sử dụng các “phages” để cứu chữa bệnh nhân mà khỏi phải va vào bức tường của những điều lệ như đám ông Wolcott phải đối đầu.

    Trong khi các giống “phages” phải tiến hóa để thích ứng với sự tiến hóa của các vi khuẩn thì các tiêu tố - “lysins” - lại như một công cụ thô sơ có khả năng tiêu diệt hàng loạt chủng loại vi khuẩn, và như vậy là khỏi cần phải tách ra hàng nghìn loại hợp chất để rồi lại phải thử nghiệm như cá nhà khoa học bên Georgia người ta làm. Nhưng cho dù cơ quan FDA có thể nhìn chất “lysin” bằng con mắt thuận lợi hơn so với các “phages” thì vẫn có người nói rằng các enzim cũng có những chỗ sở đoản của chúng.
    Các tiêu tố lysin chỉ có tác dụng đối với loại vi khuẩn thuộc diện “Gram-positive” như “strep” và “staph”, chứ lại không hiệu nghiệm đối với các vi khuẩn loại “Gram-negative” như E.coli và slmonella - tức một loại vi khuẩn loại “Gram-negative” có một màng bọc bên ngoài mà chất tiêu tố “lysin” không xâm nhập vào lọt. Các “phages” thì ngược lại, chúng có khả năng tấn công cả hai loại vi khuẩn đó. Và khác với phương thức trị liệu thông thường bằng các “phages”, chất enzim có tiêu tố thì lại chưa từng được thử nghiệm về mặt lâm sàng do đó mà tuy có nhiều hứa hẹn đấy thế nhưng vẫn chưa ai biết là trong khung cảnh của một bệnh viện thì kết quả nghiên cứu có dẫn đến thành quả gì không.

    Rõ ràng là trừ phi cơ qua FDA quyết tâm xét lại các định chuẩn trong việc cho phép lưu hành loại thực phẩm này hay loại được liệu kia, còn ngoài đấy ra thì phương pháp chữa trị theo “phage therapy” tại Hoa Kỳ sẽ cứ phải ở trong thế chờ một cách vô hạn định. Và tại Lubbock thì cuộc đời của Roy Brillon cũng đã rơi vào tình trạng lấp lửng như vậy. Giống vi-rút trị được vi khuẩn nơi vết thương của Brillon mà ông Wolcott đem từ xứ Georgia về thì quả đã chữa được vết thương nơi chân của ông ta nhưng từ bấy đến nay thì ông ta lại có vấn đề với những cái “van” kiểm soát lượng máu lưu thông trong các mạch máu nơi bắp chân ông ta và cứ thế các chỗ sưng khác lại phát triển. Ông ta giải thích rằng:
    “Máu chảy xuống theo các mạch máu của tôi nhưng không lưu thông trở ngược lên được. Các vết sưng teo tóp đi nhưng rồi lại nẩy sinh ở một nơi nào khác trên chân của tôi”.

    Ông Wolcott cho biết rằng điều mà ông Brillon cần là một hỗn hợp các “phages” được điều hợp cho khớp với tình trạng nơi vết thương của ông ta. Cho nên rốt cuộc bây giờ lại phải quay trở về với các loại trụ sinh vẫn thường sử dụng. Có đôi lúc thì lũ vi khuẩn kia có vẻ như không đề kháng lại được với các loại trụ sinh đó và vết thương lại có triển vọng lành lại, nhưng có khi lại không được như thế. Ông Brillon vẫn phải băng vết thương của mình với những loại băng hiệu Ace như thể người ta băng vết bỏng. “Nếu không băng bó cho chặt”, ông ta nói,” thì chân lại sưng và bấy giờ các vết lở kia lại xuất hiện”.

    Thế nhưng ông ta vẫn không bàn dông dài về các khó khăn, trở ngại. Thay vào đó thì ông ta chỉ mường tượng là một ngày nào đó ông ta sẽ có thể không còn phải bận tâm đến các chỗ bị viêm nhiễm của mình và có thể dành thêm thời gian để đi câu cá hoặc chơi đùa với đám cháu ở gần đấy. Ông ta chỉ nghĩ rằng nếu như có một ai đấy có thể giúp ông ta có được cái ngày tốt lành đó thì ấy là ông Wolcott với đạo quân vi-rút-trị-vi-khuẩn của ông ta. Ông Brillon kết luận: “Ông Wolcott ông ấy rất bực mình khi ông ấy nắm bắt được một cái gì đấy nhưng rồi lại không giải quyết được cho đến nơi đến chốn. Ông ấy nói với tôi: “Tôi sẽ không bao giờ bỏ rơi anh”

    (Trang Nguyễn - viết theo tài liệu của “Popular Science”)
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  6. #46
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    Khi ung thư xâm nhập vào não

    Sunday, June 21, 2009


    Lần đầu tiên, kết quả nghiên cứu cho thấy cách thức các tình trạng ung thư trong cơ thể lan lên não để từ đấy tiếp tục phát triển.

    Kết quả nghiên cứu của Ðại Học Oxford University bên Anh, được đăng tải trên tập san “PloS One” đã phát hiện ra cách thức những tế bào ung thư một khi lan rộng lên đến não thì bám trụ luôn tại đó theo các mạch máu. Khám phá này từ đây có thể giúp người ta tìm ra các loại thuốc để ngăn chận không cho các loại ung thư lan rộng -trường hợp gọi là “metastasis” trong tiếng Anh- lên não và phát triển tại đó.

    Một khi lan rộng thì ung thư từ một cơ phận nào đấy bắt đầu lan ra các nơi khác trong cơ thể và đấy thường là nguyên do khiến cho bệnh ung thư dẫn đến tử vong.

    Thường thì các u bướu thuộc loại ác tính từ trung khu thần kinh là nguồn căn phổ biến nhất dẫn đến ung thư tại não và số lượng các trường hợp này là gấp mười lần so với trường hợp các u bướu phát sinh ngay tại óc. Một khi mà các tế bào ung thư đã xâm nhập vào đến não rồi thì hậu quả là trung bình trong vòng 9 tháng dẫn đến tử vong cho dù được điều trị đến mức tối đa. Có đến hơn 20% các trường hợp ung thư phát sinh tại những nơi khác trong cơ thể bệnh nhân là trước sau gì cũng có cơ lan lên trung khu thần kinh. Tiến Sĩ W Shawn Carbonell, một chuyên viên nghiên cứu sau khi tốt nghiệp tại MRC/CRUK Gray Institute for Radiation Oncology and Biology thuộc Ðại Học Oxford bên Anh đã dưa ra ý kiến là: “Ung thư một khi lan rộng lên não là cơ bản coi như hết cách chữa, và cho đến nay thì người ta biết rất ít về cách thức tình trạng đó xảy ra. Thế nhưng nay chúng tôi đã bổ khuyết được những điều mình còn mù mờ, chưa biết đến thì chúng tôi đã có trong tay phương cách để trị liệu những dạng ung thư như thế”.

    Toán nghiên cứu của Ðại Học Oxford, do giáo sư tại viện nghiên cứu ở trên hướng dẫn, với sự tài trợ chung của Trung Tâm Nghiên Cứu Ung Thư tại Anh Quốc - “Cancer Research UK”, của các tổ chức khác như Medical Research Council và US National Institute of Health tại Hoa Kỳ, đã bắt đầu tiến hành nghiên cứu để tìm hiểu coi xem tại sao các tế bào của u bướu lại phát triển trong não. Họ quan sát một lô các loại tế bào ung thư nơi người cũng như chuột. Họ quan sát các tế bào ung thư vú, ung thư da -“melanoma”, ung thư nơi các hạch - “lymphoma”- và ở các phòng thí nghiệm họ nghiên cứu coi xem bằng cách nào các tế bào ung thư từ những nơi ấy lan dần lên não.

    Từ đấy các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những tế bào ung thư một khi lan ra thì bắt đầu phát triển bằng cách bám trụ vào các mạch máu trong não và 95 % các trường hợp đều là như thế, chứ chúng không bám vào các tế bào thần kinh trong óc. Và họ suy ra rằng có như vậy thì các tế bào ung thư đó mới có thể khỏi cần đến những mạch máu của chính mình, và hấp thụ dưỡng khí cũng như các chất dinh dưỡng khác từ máu trong não của bệnh nhân. Ngoài đấy ra thì các tế bào ung thư cần những mạch máu trong não bệnh nhân để từ đó cứ thế tăng trưởng và lan ra.

    Toán nghiên cứu cũng đã phát hiện ra một loại chất đạm - “protein”- gọi là “integrin” trên màng ngoài của tế bào ung thư, có chức năng giúp các tế bào này bám chặt vào vòng ngoài của các mạch máu. Nếu như người ta khử được chất “integrin” đó thì tức là các tế bào ung thư đó không còn bám được vào các mạch máu và không còn có thể phát triển. Khám phá mới mẻ này là đầy hứa hẹn cho việc tìm cách chữa trị ung thư trong não, bởi một khi điều chế ra loại dược liệu có khả năng trừ khử được chất “integrin” thì các tế bào ung thư trong não không còn có thể lan rộng ra được.

    Trang Nguyễn (theo tài liệu của “Science Daily”)
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  7. #47
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    Một giống vi trùng cực kỳ nhỏ bé có thể là dấu hiệu của sự sống ngòai trái đất

    Sunday, June 21, 2009

    Theo tạp chí Science Daily số ra ngày 15 Tháng Sáu thì một giống vi khuẩn mới, bị kẹt hơn ba cây số dưới lớp băng ở Greenland từ hơn 120,000 năm nay, có thể là đầu mối cho dấu hiệu là sự sống ở các hành tinh khác ngoài Trái Ðất có thể có dưới những dạng nào.
    Tiến Sĩ Jennifer Loveland-Curtze cùng một toán khoa học gia thuộc viện đại học Pennsylvania State University đã báo cáo việc phát hiện ra loại vi trùng mới này mà họ đặt tên là “Herminiimonas glaciei” trong số báo International Journal of Systematic and Evolutionary Microbiology.

    Toán nghiên cứu này đã hết sức kiên trì trong việc làm cho giống vi trùng này hồi sinh; trước tiên bằng cách “ủ” các mẫu vi trùng đó ở 2 độ C trong vòng bảy tháng, rồi kế đó tăng nhiệt độ lên mức 5 độ C trong bốn tháng rưỡi nữa, và kết quả là người ta bắt đầu thấy xuất hiện những nhóm vi khuẩn màu nâu-tím.

    Giữa vi khuẩn với nhau thì giống H. glaciei này lại còn nhỏ bé hơn nữa; nó còn nhỏ gấp từ 10 đến 50 lần so với giống vi khuẩn “Escherichia coli” trong ruột già của giống sinh vật có máu nóng. Kích tấc nhỏ bé đó có thể đã giúp chúng sống sót trong các gân nước của nước đá cũng như trong màng mỏng dưới dạng lỏng của nước đá. Kích tấc nhỏ bé của tế bào vi sinh vật có lợi điểm ở chỗ sử dụng các chất dinh dưỡng hiệu quả hơn, được bảo vệ an toàn hơn đối với những đối tượng săn bắt chúng cũng như chỉ cần những ổ trú ngụ cực kỳ nhỏ bé và người ta đã có bằng chứng là nơi “có mặt” của giống vi khuẩn cực kỳ nhỏ bé là rất phổ cập ở những nhiều môi trường có đất hay nước.

    Hầu hết các biểu hiện của sự sống trên hành tinh của chúng ta đều luôn luôn gồm có các vi sinh vật, do đó mà nếu như người ta giả định là ở các nơi khác trong thái dương hệ này mà có như thế thì cũng không có gì sai lệch. Việc nghiên cứu các vi sinh vật sinh sống trong những điều kiện cục kỳ khắc nghiệt trên Trái Ðất rồi ra có thể giúp người ta thấu hiểu thêm về các hình thái của sự sống khả dĩ có thể tồn tại được ở những nơi khác trong thái dương hệ.

    Tiến Sĩ Loveland-Curtze đưa ý kiến là “Những môi trường cục kỳ lạnh lẽo này là những ví dụ tương đương nhất với các môi trường sống ngoài Trái Ðất. Nhiệt độ đặc biệt thấp có khả năng duy trì các tế bào và các chất ‘a-xít’ trong nhân tế bào cả đến hàng triệu năm. Giống H. glaciei chỉ là một rong một số rất ít các chủng loại cực kỳ bé nhỏ đã được nhận dạng và cho đến nay thì người ta cũng chỉ mới phát hiện ra giống này dưới lớp băng ở Greenland. Việc nghiên cứu loại vi khuẩn này có thể giúp ta hiểu sâu thêm về lý do tại sao các tế bào có thể sinh tồn và không những thế còn có thể sinh sôi thêm trong những điều kiện hết sức nghiệt ngã, chẳng hạn như ở độ lạnh 56 độ âm (C), với rất ít dưỡng khí, ít chất dinh dưỡng, chịu sức nén cao và trong một không gian cực kỳ hạn hẹp”.

    Tiễn Sĩ Loveland-Curtze còn nói thêm: “Giống H. glaciei không thuộc loại vi khuẩn gây bệnh và không có hại đối với người, thế nhưng nó có thể dễ dàng lọt qua các dụng cụ lọc thường được sử dụng trong các phòng thí nghiệm cũng như bệnh viện khi người ta muốn khử trùng nước hoặc các loại dung dịch khác. Do đó mà nếu như cũng có những loại vi khuẩn khác đồng kích tấc với bọn này thì chúng rất có thể lọt vào được những dung dịch mà người ta tưởng như không có vi trùng hay vi khuẩn gì hết. Nhìn vào thì khó phân biệt được, bởi trường hợp một dung dịch trong thì các tế bào cực nhỏ vẫn có thể sinh sôi được, tuy không tạo nên mật độ khiến cho dung dịch đó trông vẩn đục”.

    Trang Nguyễn (theo tài liệu của “Science Daily”)
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  8. #48
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    Người máy của Nhật biết bày tỏ cảm xúc

    Thursday, June 25, 2009



    Kobian ngạc nhiên …



    ..và buồn rầu

    LONDON (Daily Telegraph) – Một người máy (humanoid robot) mang tên Kobian có thể biểu lộ cảm xúc, vừa được trình bày tại đại học Waseda, Tokyo.

    Kobian biểu lộ được 7 trạng thái tình cảm chính của con người (thất tình: hỷ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục) trên mặt và qua dáng điệu.

    Các nhà nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của giáo sư Atsuo Takanashi đại học Waseda đã tạo nên người mày và lắp ráp tại nhà chế tạo tmsuk ở Kitakyushu miền nam Nhật Bản.
    Người máy này đã được giới thiệu lần đầu năm 2008 và thoạt tiên mọi biểu lộ chỉ ở đầu. Sau đó nhận thấy những diễn tả như thế rất khó khăn, các nhà chế tạo đã thêm những động tác của chân tay.

    Cặp mắt và đôi môi cũn như phẩn cổ đã được hoàn chỉnh để thực hiện các mục tiêu này. Ngoài ra bàn tay làm bằng cao su mềm để có thể tiếp xúc mọi người. Kobian còn biết bước đi, quan sát môi trường xung quanh và thi hành các công tác.

    Người ta hy vọng người máy Kobian có thể đóng góp trong nhiều công việc sinh hoạt hàng ngày, đặc biệt là giúp săn sóc người già. (HC)
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  9. #49
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    Chẳng bao lâu nữa máy móc sẽ đọc đuợc ý nghĩ con người

    Sunday, June 21, 2009

    Giữa Tháng Sáu Dương lịch đã có một đại hội mang tên “Liên Hoan Khoa Học Thế Giới” - “World Science Festival” được tổ chức tại New York. Các nhà khoa học đem ra thảo luận đủ mọi thứ đề tài mới mẻ nhất trong lãnh vực khoa học. Tỷ như: Liệu trong một tương lai gần xa gì đấy, bằng cách sử dụng máy móc thiết bị để truyền các hình ảnh về những hoạt động trong não bộ con người thì rồi ra người ta nhắm có đọc được ý nghĩ của người ta hay không? Hoặc: Mấy chữ “không có gì” đối với khoa học thực sự có ý nghĩa ra làm sao? Hay là: Trí thông minh có tiến hóa đồng nhịp giữa muôn loài sinh vật hay điều đó chỉ có áp dụng riêng cho giống người?

    Ðấy là một số trong rất nhiều đề tài được đem ra thảo luận trong kỳ “Liên Hoan Khoa Học Thế Giới” lần thứ nhì đó. Cái “Festival” này quy tụ một số nhân vật “tầm cỡ” trong và ngoài Hoa Kỳ. Ðại hội quy tụ những thành phần ưu tú nhất trong giới khoa học, kể cả một số người từng đoạt giải Nobel, những nghệ sĩ, những nhà đi tiên phong trong lãnh vực kinh doanh cũng như hoạch định chính sách trong mọi lãnh vực. Tất cả đã cùng nhau công khai thảo luận về khoa học và khuyến khích các sáng kiến cùng phát minh khoa học cũng như trong lãnh vực giáo dục.

    Trong khuôn khổ bài báo của trang “Khoa Học và Ðời Sống” này, ta bàn về đề tài nói về khả năng của máy móc thiết bị nhằm đọc được ý nghĩ của con người.
    Câu hỏi được đặt ra: Liệu máy móc thiết bị trong tương lai, một khi truyền được hình ảnh từ trong não bộ của con người ra một màn ảnh kiểu như các mành ảnh nhỏ trong các bệnh viện cho thấy diễn biến nhịp thở hay nhịp tim của người ta chẳng hạn, thì, ở một mức độ tinh vi hơn, có thể đọc được ý nghĩ của con người hay không?

    Theo như nội dung được đem ra thảo luận giữa các khoa học gia trong “Festival” nói trên thì cái ngày đó xem chừng không xa!

    Cứ theo cái kiểu các vị ấy bàn thảo thì các máy soi rọi não bộ - “brain scanners”- chẳng bao lâu nữa sẽ phát hiện ra những suy nghĩ thầm kín nơi con người!

    Thật ra thì các nhà nghiên cứu về thần kinh học cho đến giờ này cũng đã có khả năng đọc được một số tư duy căn bản nơi con người, chẳng hạn như trường hợp một cá nhân nào đấy, đối tượng của một cuộc thử nghiệm, nhìn bức hình một con mèo hay một hình ảnh gì đấy với sự chú mục vào cánh phải hay cánh trái của tấm hình. Họ còn có thể đọc được hình ảnh mà ta tưởng tượng ở trong đầu. Ngay chính những chuyên gia nghiên cứu vào hàng đầu trong lãnh vực này cũng đã phải sửng sốt về mức độ khả năng của chúng ta trong việc đọc được một số ý nghĩ của người khác. Vậy thì một mai đây liệu các máy soi rọi não bộ của người ta có thể đi đến chỗ khẳng định được rằng một người nào đấy nói thật hay nói dối?

    Liệu máy móc thiết bị kiểu như thế có giúp người ta biết được xem một khách hàng thực sự có ý mua một món hàng nào đấy hay không? Liệu máy móc có giúp người ta biết những điều bí ẩn như cái thích cũng như không thích của một cá nhân nào đấy? Có điều là khoan nói đến chuyện ngày nào những điều vừa ghi có khả năng trở nên hiện thực thì trước hết phải tính đến những hệ quả cực kỳ nghiêm trọng về mặt xã hội, pháp lý và luân lý.

    Một đêm trong đại hội đó, các nhà thần kinh học nổi tiếng nhất đã đăng đàn để thảo luận về những công trình nghiên cứu hiện nay về hệ thống “f MRI” loại đặc chuyên -“Functional Magnetic Resonance Imaging”- tức là một loại thiết bị soi rọi - “scan” - có khả năng gián tiếp đo lường hoạt động của tế bào thần kinh bằng cách đo các sự thay đổi của mức dưỡng khí trong máu luân chuyển trong não. Các tế bào thần kinh cần có dưỡng khí để “lóe” lên khi được thấy qua hệ thống soi rọi não, do đó mà nếu như một người đang suy nghĩ về một hình ảnh cụ thể nào đấy hay nhìn vào hình ảnh đó thì nhà khoa học, bằng cách quan sát các mức dưỡng khí, có thể thấy được các hình thái “ánh lên” trong não bộ, và từ đó có thể quy kết hiện tượng đó với một chữ hay hình ảnh nào đấy. Những kết quả nghiên cứu trong lãnh vực này quả là đáng ngạc nhiên.
    Công trình nghiên cứu của Frank Tong tại phòng thí nghiệm ở viện đại học Vanderbilt University cho thấy là các chuyên viên nghiên cứu có thể “đọc” được hướng một vật gì đấy mà người được sử dụng trong việc nghiên cứu nhìn theo qua ánh mắt của mình. Chẳng hạn như người đó theo dõi hai vật gì đấy, một cái bên trái một cái bên phải, với những hình sọc khác nhau. Thế rồi các chuyên viên nghiên cứu chỉ căn cứ vào những gì thiết bị soi rọi chiếu lên màn hình chứ không phải theo dõi ánh mắt của người được sử dụng cho cuộc thí nghiệm, và họ đọc được chính xác đến 95% khi nào thì ánh mắt người kia hướng về vật bên trái hoặc bên phải.

    Và họ cũng đọc trúng 83% khi người kia ghi nhận trong trí nhớ của mình mẫu hình bên phía nào.

    Thế nhưng “đọc” được những trường hợp riêng lẻ như vậy xem ra tương đối giản dị. Chỉ khi đọc nguyên cả những dòng suy nghĩ của người ta trong tâm trí thì lại chẳng giản dị tí nào. Theo ý kiến trong buổi hội thảo của ông John Dylan Hynes, một nhà thần kinh học của trung tâm Bernstein Center for Computanional Neuroscience ở Bá Linh, và một thành viên tham dự hội thảo khác, thì thực ra các nhà nghiên cứu chẳng có gì gọi là đọc được ý nghĩ của người ta. Ông nói: “Chúng ta vẫn chưa hiểu được ngôn ngữ của bộ óc, chúng ta chưa hiểu được cú-pháp - ‘syntax’ - cũng như ý nghĩa của ngôn ngữ nơi các tế bào óc.” Theo ông thì cho đến giờ phút này các nhà nghiên cứu chẳng qua chỉ sử dụng dạng phân tích thống kê để phân tích các lề lối hoạt động của não trong những trường hợp rất cụ thể và giới hạn như khi người ta hướng tầm mắt về một vật gì đấy.

    Có điều là tuy ông Haynes đưa ra ý kiến như thế nhưng các công trình nghiên cứu của chính ông thì lại ngả một cách kỳ lạ theo hướng tìm đọc ý nghĩ của người ta. Trong một cuộc thí nghiệm tương tự như cuộc thí nghiệm của khoa học gia Benjamin Libel vào năm 1985 mệnh danh là “Thử Nghiệm Trì Hoãn” - “Delay Test” - theo đó thì các cuộc soi rọi qua “Ðiện Não Ðồ” - “EEG”, “Electroencephalogram” - (khác với cái “EKG” - “Ðiện Tâm Ðồ” cho tim) cho thấy hoạt động của tế bào óc trước khi một người được sử dụng cho cuộc thí nghiệm nhận thức được việc mình quyết định vận dụng bàn tay của mình, khiến cho người ta cứ thế thảo luận về sự tự do chọn lựa trong hành động nơi con người. Và trong cuộc thí nghiệm đó thì toán của ông Haynes đã có khả năng tiên đoán xem người kia có nhấn một cái nút nào đấy với tay phải hay tay trái của mình trước khi người đó nhận thức được sự chọn lựa của mình. Và toán nghiên cứu đó biết được như thế là do quan sát những diễn biến trên màn hình của “Ðiện Não Ðồ”.

    Viễn tượng đọc được ý nghĩ của con người dẫn đến một lô vấn đề có liên quan đến tính các riêng tư của người ta, đến những vấn nạn rất nghiêm trọng về mặt luân lý, và chắc chắn cũng sẽ dẫn đến nhiều mối nan giải, gút mắt về mặt pháp lý. Ông Paul Root Wolpe, một nhà nghiên cứu các mặt luân lý về sinh vật học, một tiếng nói hàng đầu trong ngành khoa học mới mẻ đó, đã lên tiếng kêu gọi mọi người nên đặc biệt cảnh giác trước những tiến bộ kỹ thuật về thần kinh học. Ông khuyến cáo mọi người nên suy nghĩ kỹ về những ranh giới có liên quan đến việc xác định đối tượng được đem ra để “soi rọi” kiểu như thế, và trường hợp nào thì mới cần “soi rọi”.

    Có một vùng “tranh tối tranh sáng” của các mặt tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lãnh vực đó là khi đụng đến “Tu Chính Án thứ Năm” - “Fifth Amendment” - Trong một vụ án chẳng hạn thì liệu việc soi rọi não bộ như thế để tìm ra sự thật phải chăng dẫn đến tình trạng một người tự cáo buộc mình, hay người ta sẽ coi đó tương tự với trường hợp cung cấp một tang chứng như khi cung cấp một mẫu tóc hay một mẫu máu có liên quan đến một nghi can? Lại còn thêm một số những câu hỏi khác như: Liệu các máy móc thiết bị nói trên có là những phương tiện đáng tin cậy khi cung cấp thông tin trong một vụ án có liên quan đến định kiến hay căm thù về mặt chủng tộc, và cái chính là liệu các kết quả thử nghiệm như thế có được chấp nhận trong một phiên tòa hay không? Ông Wolpe tiên đoán là Tối Cao Pháp Viện trong một thập niên nữa thôi sẽ phải đối phó với một phán quyết về những mặt như vừa nêu.

    Nhưng nói gì thì nói, các thành viên tham gia cuộc hội thảo tại Ðại Hội Liên Hoan Khoa Học Thế Giới ở New York trong tuần qua đều đồng ý với nhau ở chỗ là cho đến giờ này thì bàng dân thiên hạ chớ có nên tin tưởng vào các sẵn phẩm sử dụng kỹ thuật “f MRI” loại được đem bán trên thị trường dưới danh nghĩa các máy để phát hiện xem có ai nói dối mình hay không. Các loại thiết bị đó chẳng qua cũng chỉ là một dạng khác của loại thiết bị cho đến nay lắm khi vẫn được đề cao một cách quá đáng là cái biểu đồ tổng hợp của máy “phát hiện dối trá” - “Lie Detector” -
    khi người ta gắn dây nhợ vào người một đối tượng nào đấy rồi quan sát nhịp tim, nhịp thở, v.v. để coi xem chỗ nào thì đối tượng đó nói “thật” còn chỗ nào là nói “dối”. Dưới con mắt của các chuyên gia về thần kinh thì đàng nào trong trường hợp đó tinh thần của đối tượng cũng nhất thiết phải có sự căng thẳng - “stress”- và rồi khi trả lời một câu hỏi thì gì mà sự căng thẳng đó chẳng tác động vào nhịp tim, nhịp thở, v.v.?

    Mọi người trong nhóm hội thảo đó đều đồng ý là còn phải dày công nghiên cứu thêm nhiều về công năng công dụng của loại thiết bị “f MRI” này trong lãnh vực tìm đọc ý nghĩ của con người. Chỉ có điều là cái ngày với những khám phá đột phát mới mẻ trong lãnh vực này xem ra cũng không có xa vời gì cho lắm.

    Trang Nguyễn (Theo tài liệu của “Popular Science” Magazine)
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  10. #50
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    Câu chuyện khoa học:
    Đáy biển sâu sẽ không còn là nơi bí hiểm của con người trong tương lai gần?


    Jul 22, 2009

    Cali Today News - Cho dù tác phẩm “20 ngàn dặm dưới đáy biển” của văn hào Jules Verne đã làm say mê bao thế hệ, cho dù Nga và Mỹ đã sản xuất các loại tàu ngầm nguyên tử có khả năng lặn năm này sang năm khác dưới đáy biển không cần trồi lên lấy nhiên liệu, đáy biển sâu vẫn là nơi mê hoặc con người.

    Lý do đơn giản là là sức ép khổng lồ của khối nước lớn lao khiến hầu như không còn sinh vật trên mặt địa cầu nào chịu nổi, ngoài các sinh vật “rất bí hiểm” dưới đáy biển sâu mà khoa học chưa biết hết.

    Để hình dung sức ép này ra sao thì bạn cần biết ở độ sâu 23,000 feet, bạn sẽ có sức nặng của một chiếc xe bus chở học sinh trên đầu mình, tức 10,340 pounds trên mỗi square inch!

    Nếu trên mặt nước biển, sức ép là 14.7 pounds trên mỗi square inch (psi) thì chỉ cần lặn xuống sâu 33 feet, con số này đã là gia tăng gấp đôi, khi đến 500 feet, mặc dù có mặc đồ lặn, người nhái cũng sẽ thấy nhức đầu.

    Năm 2007, “siêu nhân” người Úc Herbert Nitsch đã lặn sâu đến mức này mà không cần có thiết bị trợ giúp nào hết. Người bình thường sẽ tử vong ngay ở độ sâu này vì không qua tập luyện trước đó.

    Ở độ sâu 1,500 feet là phạm vị hoạt động của các tàu ngầm nguyên tử và tàu Titanic yên giấc ngàn thu ở độ sâu khủng khiếp là 12,500 feet vào năm 1912.
    Ở độ sâu 35,800 feet, tức sâu nhất thế giới của hố Mariannas Trench, sức ép là 1,100 lần mạnh hơn trên mặt nước biển, hay trên 15,000 psi. Chỉ có 2 người trong nhân loại đạt tới độ sâu này năm 1960 trên tàu lặn đặc biệt Trieste, nhưng chỉ sau 30 phút là phải trồi lên vì cửa sổ đã bắt đầu nứt vì chịu không nổi!

    Hiện nay chúng ta chỉ mới thám hiểm được 5% các đại dương và chỉ tới độ sâu 1,000 feet. Cũng may là các hố sâu hàng chục ngàn feet không nhiều, nhân loại chỉ cần đi xuống trên 5,000 feet một chút là xem như đã khám phá tới 98% thể tích các đại dương.

    Một thế hệ tàu lặn mini mới sắp ra mắt cho phép con người lặn rất sâu, như chiếc Alvin Sub trị giá 21 triệu đô la, hoàn thành năm 2015, sẽ lặn tới 21,000 feet và hoạt động tới trên 10 giờ ở độ sâu này.

    Chiếc Alvin dài 24 feet có thể chở theo một hoa tiêu và 2 nhà khoa học cùng rất nhiều dụng cụ khảo sát, tốc độ lặn là 157 feet mỗi phút.

    Du lịch đáy đại dương cũng là ước mơ của nhiều người, không kém ước mơ thám hiểm vũ trụ. Người ta tính toán sẽ có thế hệ tàu lặn được các tàu cruiser khổng lồ mang theo và từ đó lặn xuống, như chiếc Deep Flight II do nhóm Graham Hawkes chế tạo.

    Nó dài 16 feet, bề ngang 4,5 feet, nặng 5,000 pounds, chở theo 2 người, có thể lặn sâu 6,500 feet, nhưng thế hệ mới sẽ lặn tới 35,800 feet với tốc độ trồi lên là 400 feet/phút.

    Đặc điểm rất lớn của Deep Flight II là nó có thể “bay” như một con cá đuối khổng lồ dưới đáy biển nhờ có 2 cánh như phi cơ, sử dụng nước cản để lướt đi theo mọi hướng giống như 1 phi cơ lướt qua sức cản không khí vậy.

    Đáy biển, ngoài vẻ đẹp mê hồn, còn có nhiều tài nguyên đang đợi con người khai thác như khoáng sản các loại, nhất là nickel. Đáy biển cũng có nhiều túi và gas khổng lồ còn nguyên vẹn. Các nhà khoa học còn có thể xem xét sự thay đổi khí hậu toàn cầu đã ảnh hưởng ra sao đối với hệ sinh thái ở sâu dưới đáy biển.

    Hồng Quang theo Popular Science tháng 8/2009
    Lannguyen

  11. #51
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    CHẾT CÓ THẬT ĐÁNG SỢ HAY KHÔNG?
    Nguyễn Thượng Chánh & Nguyễn Ngọc Lan, Jul 19, 2009


    Cali Today News - Phàm ở đời hầu như ai ai cũng đều sợ chết hết, ngoại trừ những vị cao tăng đã thấm nhuần lý vô thường, những người có lý tưởng hy sinh, những người đau bệnh trầm kha nằm một chỗ, những kẻ mang tâm trạng chán đời trầm cảm cực độ, cũng như những kẻ bất bình thường mà thôi.
    Riêng cá nhân tác giả cũng sợ bệnh sợ chết như mọi người vậy.

    Tham sanh úy tử

    Ai cũng vậy, hồi trẻ, sức khoẻ dồi dào, yêu đời, tối ngày chỉ biết có vui chơi mà thôi, chuyện chết chóc là chuyện cùa mấy ông già bà cả chớ có bao giờ mình bận tâm suy nghĩ đến đâu.

    Lớn lên thì phải lo chuyện cơm gạo, chuyện gia đình, chuyện con cái suốt ngày suốt tháng nên đâu còn thì giờ gì mà nghĩ đến vấn đề chừng nào mình đứt bóng theo ông theo bà...

    Khi tuổi đời bắt đầu hơi cao, khoảng từ 55 tuổi trở lên thì bệnh tật cái nầy cái nọ bắt đầu lòi ra. Lúc đó, chúng ta mới ý thức rằng cuộc đời rất phù du, thân xác con người ta không thể nào trường tồn vĩnh viễn được, không thể nào cải tử hoàn sanh được, v.v...

    Tóm lại đó là lẽ vô thường! Có ngày mình cũng phải ra đi như mọi người mà thôi.
    Đi lúc nào thì chưa biết được, nhưng càng trễ càng tốt phải không các bạn.

    Tùy theo số mạng cả. Chết đến không báo trước. Có thể là bất cứ lúc nào, do tai nạn bất ngờ hoặc vì bạo bệnh bất tử.

    Riêng đối với người viết, vài ba năm nữa mình sẽ bước vào lớp thất thập cổ lai hy nên ý thức rằng ngày ra đi chắc cũng không còn mấy xa lắm đâu.

    Tuổi càng về già thì con người ta càng hay suy tư nhiều về cái chết. Vào lớp tuổi nầy, quanh ta, người thân cũng như bạn bè, lác đác đã có người ra đi rồi.

    Xem mục cáo phó trong các báo Tây báo Việt, thì thấy thiên hạ thường chết nhiều trong khoảng 80-90 tuổi. Thôi thì mình cũng hy vọng được như họ. Như vậy, mình còn sống cao tay lắm cũng chừng 15-20 năm nữa là quá sức rồi, với điều kiện là Trời còn thương và Ngọc Hoàng đừng giũ sổ gởi xuống âm ti bất tử.

    Sao mà lẹ quá vậy Trời!

    Ở cái tuổi của tác giả, có ai mà dám nói mình chưa thấm đòn đâu.Tóc thì bạc phơ rồi, răng cỏ thì cái còn cái mất, ăn uống phải đeo răng giả rất là phiền phức, còn nếu lỡ nhìn vào kiếng thì thấy mình lụ khụ, lưng khòm, da thì nhăn nheo đầy đồi mồi mất hết thẩm mỹ, tiếng nói thì bắt đầu hơi run rẩy, hay nói đi nói lại khiến con cháu bực mình, cái gì cũng yếu hết, bắt đầu hay quên trước nhớ sau, nay đau chỗ nầy mai đau chỗ kia, nhưng kẹt một nỗi là đầu óc thì vẫn chưa chịu chấp nhận là mình đã già rồi.

    Mình tưởng mình còn trẻ hoài, thế mới khổ chớ.

    Mình còn ham vui, còn ham sống mà.

    Vô tiệm ăn thì người ta gọi mình bằng bác, kêu bằng ông bằng bà. Mình mới giật mình. Vậy mà mình cứ cho rằng mình chưa có già. Ngược lại mình rất chủ quan mà thấy bạn bè và người khác sao họ có vẻ lại già hơn mình quá.

    Nghĩ cho cùng, già thì phải có bệnh để mà chết chớ hổng bệnh thì lấy gì mà chết được.

    Đó là cái logic của sanh bệnh lão tử.

    Theo mình nghĩ, sống quá già thì thân xác càng xấu xí đi...chả có ích lợi gì cả và vả lại sống đến 100 tuổi hoặc cao hơn nữa thì sống với ai đây? Ở cái tuổi nầy, con cái của mình dám chết hết rồi. Còn cháu chắt thì có thể khi thấy mình tụi nó lại sợ thấy mồ tổ. Có chắc gì tụi nó dám lại gần hay đi thăm mình không?
    Vậy chỉ còn nhà già là trạm dung thân cuối cùng của mình trên dương thế nầy trước ngày ra đi mà thôi.

    Thỉnh thoảng đi chùa, mình có đưọc nghe các thầy giảng về tử sinh. Mình cũng có tìm hiểu vấn đề nầy qua kinh sách Phật giáo Tây Tạng, nên cũng biết lõm bõm vậy thôi chớ hổng chắc gì là mình hết còn sợ chết.

    Ai cũng muốn chết sướng hết

    Cũng ngộ, con người ai ai cũng muốn sống sao cho sướng mà đến lúc chết thì mọi người cũng hằng ao ước được chết sao cho lẹ, cho sướng.

    Đây là bình thường normal, là lẽ thường tình mà thôi.

    Đa số đều nói họ không sợ chết nhưng chỉ sợ bệnh tật dây dưa làm đau đớn thể xác lẫn tâm hồn, làm mất cả nhân cách cũng như làm khổ não và phiền toái cho gia đình.

    Chết sướng là gì? Đó là chết già, chết êm thắm, không đau đớn thể xác lẫn tâm hồn, vậy chết trong giấc ngủ là khỏe nhất, kế đến là chết vì bệnh tim mạch, đứng tim, đứt gân máu và phải chết cho thật mau thật lẹ, không lê lết cả tháng trời, không xụi bại, bán thân bất toại, á khẩu, không ỉa trây đái dầm, không bị mất trí nhớ và không bị lú lẫn điên khùng nầy nọ, v.v...

    Giờ phút lâm chung cần có sự hiện diện đầy đủ của vợ con hay chồng con mình để tiển đưa mình cho khỏi tủi thân (?)

    Có người thì còn lo xa hơn, nghĩ tới hậu sự nên bắt đầu lo tu, bắt đầu ăn chay, niệm kinh, lo thiền, lo cầu nguyện, siêng đi chùa, đi nhà thờ thường xuyên, cúng dường tam bảo, phóng sanh, bố thí công đức, bố thí tài vật, làm từ thiện gieo duyên lành để được phước, được hồng ân hầu khi chết thì hy vọng sẽ được rước về cõi Phật hoặc về thiên đàng với Chúa...

    Cái gì cũng vậy. Chết cũng cần phải được chuẩn bị tinh thần từ trước. Thiền cũng là một phương pháp giúp chúng ta ý thức hơn về tánh có không của mọi sự vật trong cõi đời nầy, nhờ vậy chúng ta chấp nhận sự chết dễ dàng hơn và ra đi được thanh thản hơn!

    Tại sao người ta sợ chết?

    Chết vẫn còn là một việc cấm kỵ tabou, một điều quá bí ẩn đối với tất cả mọi người. Từ trước tới giờ vẫn chưa có người quá vãng nào trở lại dương thế để kể lại cho bà con ta nghe với.

    Chuyện cận tử, thân trung ấm, lúc vừa mới chết thì hồn bay lơ lững đâu đó, rồi vào đường hầm thấy toàn ánh sáng chóa lòa, gặp lại bà con đã chết từ lâu, kêu réo nhau la ới ới, chuyện đầu thai lại, chuyện tái sinh, chuyện ma quỷ, và còn nhiều thứ lắm lắm…có thật hay không có thật chẳng có ai biết được hết. Tin hay không là chuyện riêng của mỗi người.

    Có người còn so sánh sự chết cũng không khác gì giấc ngủ mỗi đêm. Tối ngủ, mình chẳng còn biết gì hết hổng khác gì như mình đã chết rồi. Sáng ra thức dậy như được tái sanh trở lại, sống thêm một ngày nữa. Mừng hết lớn.

    Vậy sợ chết là sợ những gì mình không rõ, những gì bí mật mình chưa biết được.
    Người ta sợ chết vì sợ thân xác bê bết máu me, nát bấy, xấu xí đi, sình thúi ghê tởm quá.

    Trường hợp những giây phút trước khi phi cơ lâm nạn lao xuống đất chắc hành khách phải hãi hùng kinh hoàng tột độ. Đây là một thí dụ rõ rệt nhất về sự kiện sợ chết.

    Có cả trăm câu hỏi được đặt ra nhưng chưa có câu giải đáp nào hết về sự chết. Mọi người cứ tưởng tượng thế nầy thế nọ cho nên thiên hạ vẫn còn lo và vẫn còn sợ chết.

    Người đời thường nghĩ rằng hễ chết là hết, là trống không, là rơi vào vực thẩm tối thui, là hư vô, tĩnh lặng.

    Chết rồi thì mình sẽ đi về đâu sau đó, rồi mình sẽ ra sao? Bởi vậy nên ai ai cũng đều sợ chết lắm.

    Ai cũng phải có ngày chết hết. Đây là một sự thật. Chạy đâu cũng không khỏi. Đây là điều chắc chắn 100%, thật rõ ràng và là lẽ công bằng của trời đất.

    Trên cõi đời nầy, chỗ duy nhất, nơi mà con người thật sự được hoàn toàn bình an, không còn thù hận nhau nữa, không bao giờ biết hơn thua, phân biệt đố kỵ với nhau nữa, đó là chỗ nghĩa địa an giấc ngàn thu.

    Cuộc đời thật vô thường, vậy phải biết trân quý sự sống. Thù hận, tranh đua, phân biệt, cố chấp, ganh tị, suy bì, hơn thua nhau từng tiếng, từng lời, từng chút một rồi cuối cùng cũng phải chết mà thôi. Đến lúc đó thì ăn năn hối cải, than khóc, kể lể, luyến tiếc làm chi cho mất công, muộn màng rồi bạn ơi.

    Tại sao hồi còn sống không biết sống cho hòa thuận, thương yêu nhau, giao hảo nhau trong tình người, biết tha thứ nhau?

    Mọi người đều đến cõi đời nầy với hai bàn tay trắng, thì lúc ra đi cũng chỉ với hai bàn tay trắng mà thôi.

    Ai ai cũng đều biết như vậy, nhưng hễ sao mỗi khi nghĩ đến chết thì thấy rờn rợn và hơi lo một chút.

    Bằng mọi giá họ phải níu kéo sự sống lại. Bỡi lý do nầy mà ngày nay khoa học đã sáng chế ra vô số kỹ thuật để kéo dài thêm sự sống... Nào là kỹ nghệ thuốc trường sanh, kỹ nghệ ngâm xác trong khí lỏng liquid nitrogen để chờ ngày tìm ra thuốc trị liệu để tiếp tục…sống, v.v…

    BACK TO THE FUTURE

    Merkle, a scientist at the Texas cryonics company Zyvex, is attempting to construct machines and other devices one molecule--even one atom--at a time. The science is called nanotechnology, and Merkle argues it could help bring cryonically frozen bodies back to life. He and others envision a day when microscopic robots will repair cells damaged by freezing or illness (see illustrazion, p. 10). "Disease is simply atoms arranged in the wrong way," says Merkle, who's also an advisor to Alcor.

    Merkle himself is so convinced, he's signed up with Alcor to have his head frozen after he dies--known in cryonics circles as a "neuro." But immortality doesn't come cheap. Alcor charges $120,000 to put an entire body in deep freeze, while a brain costs $50,000. And even Merkle agrees that success is a long way off. Nanotechnologists have barely reached the stage where they can manipulate individual atoms--let alone build tiny robots capable of rearranging the atoms in a single cell.

    Người ta sợ chết gì sợ mất người mình thương, sợ xa lìa người thân, bạn bè, xa lìa vợ con, chồng con, sợ không ai nuôi con mình, sợ rồi đây tụi nó sẽ ra sao? sợ mất đi cái tôi của mình, sợ mất hết tài sản của cải mà mình đã thật sự khổ công tạo dựng được trong suốt cả cuộc đời, cũng như sợ chưa thực hiện được những hoài bão mà mình hằng mong ước, và sợ bị lãng quên, v.v...

    Nhưng theo quan niệm triết lý Phật giáo, thì những thứ vừa kể trên là đều không có thật!

    Giàu có, tỷ phú thì sợ chết đã đành, nhưng nghèo rớt mồng tơi, không có của cải gì ráo trọi cũng sợ chết luôn tuốt luốt.

    Thường những người sợ chết là những người còn hoạt động, đi đứng và còn sinh hoạt được bình thường.

    Nếu đã già khú cú đế rồi, bệnh hoạn đủ thứ, sinh hoạt khó khăn, ăn uống ngủ nghê không được, mà còn bị con cháu bạc đãi hất hũi nầy nọ thì nhũng người nầy chấp nhận cái chết dễ dàng hơn nhiều.

    Sợ chết cũng là một phản ứng tự nhiên của bản năng sinh tồn của tất cà mọi sinh vật.

    Trong phạm vi nghề nghiệp, người viết có thể cả quyết rằng thú vật như bò, heo lúc bị lùa vào lò sát sanh để bị làm thịt chúng đều rất kinh hoàng, la rống, phản ứng lại rất dữ dội vì bản năng sinh tồn. Hình như chúng biết cảm nhận được cái chết gần kề. Phải chăng thú vật cũng có tình cảm như chúng ta?

    Các tôn giáo lớn đều có đề cập đến vấn đề chết. Mỗi tôn giáo đều có giải thích một cách khác nhau.

    Cách nào nghe ra cũng đều thấy có lý hết với điều kiện là mình phải có đức tin tuyệt đối vào tôn giáo đó.

    Chết qua cái nhìn của Phật giáo

    “Mạng sống mong manh, cái chết là điều cầm chắc - Life is uncertain, death is certain”

    Đây là tựa đề quyễn sách giá trị nói về cái chết. Sách do Venerable Dr Sri Dammananda viết và được thầy Thích Tâm Quang dịch. Sau đây là tóm lược các ý chánh:

    http://www.thuvienhoasen.org/lienhoa312-05.htm

    Chúng ta không nên sợ chết vì đó là lẽ thường tình, là quy luật tất yếu của tiến trình của vòng sanh tử mà thôi. Có sanh thì phải có tử để có thể tái sanh theo nghiệp lực nhân quả luân hồi.

    “…Đời sống mong manh, chết là điều chắc chắn. Đó là câu châm ngôn nổi tiếng trong Phật Giáo. Biết rõ Chết mong manh và là một hiện tượng tự nhiên mà mọi người phải đương đầu, chúng ta không nên sợ cái chết. Nhưng tất cả chúng ta đều sợ chết vì không nghĩ về điều không tránh được. Chúng ta thích bám víu vào đời sống, vào xác thân và phát triển quá nhiều tham dục và luyến ái.

    Sự đau đớn về cái chết thật khủng khiếp, đó là một thái độ phát xuất bởi vô minh.

    Con người bị lo âu không phải vì ngoại cảnh mà vì niềm tin và tưởng tượng về đời sống và mọi thứ của mình. Cái chết, chẳng hạn, tự nó không khủng khiếp: Khiếp sợ và kinh hãi chỉ do tâm trí chúng ta tưởng tượng mà ra.

    Vì tham sống nên sự sợ chết được hình thành một cách thiếu tự nhiên. Nó tạo lo âu mạnh mẽ trong đời sống đến nỗi làm con người không bao giờ dám mạo hiểm làm điều gì dù đó là lẽ phải. Người đó sống trong sợ hãi lo lắng về bệnh tật và các tai nạn có thể xẩy ra cướp mất mạng sống quý giá của mình.

    Tuy nhiên có một phương pháp để vượt qua sự sợ hãi này. Hãy quên đi quan niệm về cái 'tôi'; hãy đem tình thương phục vụ nhân loại và tỏ tình thương với người khác. Say mê phục vụ tha nhân, chẳng bao lâu bạn sẽ tự mình thoát khỏi cái tự kỷ luyến ái nặng nề, mơ ước, kiêu căng, và tự tôn.

    Bệnh và chết cả hai đều là việc xẩy ra tự nhiên trong đời sống của chúng ta, và chúng ta phải chấp nhận điều đó với sự hiểu biết

    Đức Phật khuyên: "Hãy tin và nương tựa vào chính mình, hãy gắng sức và chuyên cần". Người Phật Tử không sầu thảm bi thương trước cái chết của một người thân hay bạn hữu. Không có gì có thể ngăn cản được bánh xe nhân quả. Khi một người chết, nghiệp do họ tạo nên sẽ theo họ đến cuộc đời mới. Người còn lại phải chịu đựng sự mất mát với bình tĩnh và hiểu biết. Chết là một tiến trình không tránh được trên thế gian này. Đó là một điều chắc chắn trong vũ trụ này….

    Chúng ta phải cố gắng hiểu rằng mọi việc trong vũ trụ này đều mong manh. Cuộc sống chỉ là ảo giác hay ảo tưởng. Khi ta phân tách mọi thứ bằng khoa học hay triết lý, không ham muốn vị kỷ, cuối cùng chúng ta không thấy gì cả mà chỉ là hư không…”

    Những Hạt Ngọc Trí Tuệ Phật Giáo - Gems of Buddhist Wisdom - Buddhist Missionary Society, Malaysia, 1983, 1996 - Thích Tâm Quang dịch

    Kết luận

    Nghĩ cho cùng cái chết chỉ là một giai đoạn của cái sống. Có chết đi thì mới có được một cái sống mới khác tiếp nối theo được.

    Vậy hãy trân quý cuộc sống ngày hôm nay. Không nên để tâm trạng sợ chết trở thành một nỗi ám ảnh thường xuyên làm ô nhiễm cuộc sống của chúng ta.

    Hãy quên sự chết đi để mà sống. Chừng nào chết thì chết.

    Chết thì dễ, là việc đương nhiên rồi.

    Sống sao cho đáng sống mới là việc khó.

    Đời là vô thường!
    Que sera sera!

    Tham khảo:

    -Chết Có Thật Đáng Sợ Không
    -Chết – Một Tiến Trình Phổ Quát Trong Dòng Biến Dịch
    -Điều Gì Xảy Ra Sau Khi Chết
    -Chết Và Tái Sinh
    -Tiến Trình Sống Và Chết
    -Sống Và Chết Thế Nào Cho Có Ý Nghĩa
    Montreal, July 16, 2009
    Lannguyen

  12. #52
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    Tài Nguyễn

    Jul 20, 2009 07:53:02

    Thưa anh, trong Kinh thánh cho chúng ta hiểu biết lý do tại sao con người chúng ta sợ chết;tại sao chúng ta chết; điều kiện của cái chết; và hy vọng cho người chết. Những câu trả lời này an ủi chúng ta rất nhiều, tôi xin chia xẻ với anh.

    Tại sao con người chúng ta sợ chết: Truyền đạo 3:11: "Phàm vật Đức Chúa Trời đã làm nên đều là tốt lành. Lại, Ngài khiến cho sự đời đời ở nơi lòng loài người."
    Tại sao chúng ta chết: Rô-ma 5:12: "Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trãi quatrên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội."

    Điều kiện của sự chết: Thi-thiên 146:4: "Hơi thở tắt đi, loài người bèn trở về bụi đất mình; Trong chánh ngày đó các mưu mô nó liền mất đi." Truyền đạo 9:5;10: "Kẻ sống biết mình sẽ chết; nhưng kẻ chết chẳng biết chi hết, chẳng được phần thưởng gì hết; vì sự kỷ niệm họ đã bị quên đi. Mọi việc tay ngươi làm được, hãy làn hết sức mình; vì dưới âm phủ, là nơi ngươi đi đến, chẳng có việc làm, chẳng có mưu kế cũng chẳng có tri thức hay là sự khôn ngoan."

    Hy vọng cho người chết: Công vụ 24:15: "Tôi có sự trông cậy này nơi Đức Chúa Trời, như chính họ cũng có vậy, tức là sẽ có sự sống lại của người công bình và không công bình." Giăng 5:28: "Chớ lấy điều đó làm lạ; vì giờ đến, khi mọi người ở trong mồ mả nghe tiếng Ngài và ra khỏi."

    Khi những điều này xãy ra, chúng ta sẽ được sống đời đời trên trái đất này theo như ý định Giê-hô-va Đức Chúa Trời:

    Khải huyển 21:4,5: "Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng, sẽ không có sự chết, cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhất đã qua rồi. Đấng ngự trên ngôi phán rằng: Nầy, ta làm mới lại hết thảy muôn vật. Đoạn, lại rằng: Hãy chép, vì những lời này đều trung tín và chân thật."

    Hy vọng những lời trên của Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ an ủi anh, tôi và tất cả những ai muốn tìm sự an ủi nơi Ngài.
    Lannguyen

  13. #53
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  14. #54
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    Dụng cụ cứu tim

    Sunday, May 31, 2009

    Mỗi năm có trung bình 800,000 người trên đất Mỹ này quyết định để cho giới chuyên môn y khoa người ta luồn một cái ống nhỏ xíu bằng kim khí vào trong mạch tim của mình để nong nó ra cho máu lưu thông, không còn bị tắc nghẽn. Bệnh nhân đồng ý để cho người ta làm phẫu thuật đó thì tất nhiên là “nhẹ nợ” hơn so với cái cảnh phải để cho người ta mổ banh lồng ngực ra và tiến hành giải phẫu trên một quả tim ngừng đập. Cái ống thông bằng kim khí nhỏ xíu đó - thuật ngữ y khoa tiếng Anh gọi là “stent” - nằm lại đó vĩnh viễn trong mạch tim và rồi với thời gian, chừng vài tháng, thì mạch máu dẫn vào tim ở chỗ đó sẽ cứng lại, tức tăng độ dày so với lúc bị giãn ra khiến cho nó mỏng đi.

    Nhưng rồi từ đấy thì mới sinh ra một số phiền nhiễu. Bởi chất kim khí của ống thông nọ cản trở các các tuyến của quang tuyến X cũng như của máy “MRI”. Không những thế, nó có thể giữ lại các tế bào máu rồi từ đấy tạo nên một cục máu đông, gây nguy hại cho quá trình tuần hoàn của máu. Nhưng nay thì hãng Abbot Laboratories đã sáng chế ra một ống thông mạch tim mà sau khi đã “nong” mạch tim vào giai đoạn nguy cấp rồi thì nó lại dần dần tan đi. Ống thông mới này được chế tạo bằng hợp chất “polylactic acid,” một phân tử của chất rút ra từ bắp hoặc mía. Chỉ trong vòng sáu tháng sau khi được luồn vào mạch tim thì ống thông đó bắt đầu tan dần và sau hai năm thì không còn để lại dấu vết gì hết. Ông John Ormiston, giám đốc trung tâm “Mercy Angiography Unit” tại Auckland, Tân Tây Lan, vừa mới đây đã tiến hành thử nghiệm loại ống thông mạch tim đó của hãng Abbot Laboratories cho 30 bệnh nhân trong một thời gian là hai năm.

    Sắp tới đây ông ta sẽ tiến hành một cuộc thử nghiệm năm năm tại Úc, Âu Châu và Tân Tây Lan, trên 80 bệnh nhân với những trường hợp tim mạch bị tắc nghẽn trầm trọng hơn. Hãng Abbot hy vọng sẽ cung cấp được các loại ống thông mạch tim này cho Âu Châu vào năm 2010 và sau đó là đến phiên Hoa Kỳ, mà đến chừng đó thì ông Ormiston cho rằng các bệnh nhân về mạch tim ở đây lại còn có sự chọn lựa dễ dàng hơn nữa là: “Việc gì phải giữ một cái ống thống vĩnh viễn trong mạch tim của mình nếu như chỉ một ống thông có giới hạn về mặt thời gian cũng đủ làm xong nhiệm vụ của nó?”

    (Trang Nguyen - Viết theo “Popular Science Magazine”)
    Lannguyen

  15. #55
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    Sau khi tắm rửa, da sẽ sạch được chừng nào?

    Sunday, June 07, 2009

    Những phát hiện mới nhất của y học cho thấy rằng cơ thể con người là nơi định cư lý tưởng cho cả nghìn loại vi khuẩn.

    Có lắm tin tức về khoa học về mọi ngành mà thoạt nghe hay đọc qua ta cữ ngỡ là mình nghe nhầm hoặc đọc nhầm! Chẳng hạn như nói về cơ thể con người. Nếu một ngày đẹp trời nào đấy ta bắt gặp tin là đã có sự “đột phá” trong quá trình tìm hiểu về căn nguyên của bệnh ung thư và rồi giới chuyên môn từ đấy đã có cách để chữa trị thì rõ ràng là chuyện mới mẻ. Hoặc nếu như cũng có ngày đẹp trời ta đọc được tin cho biết người ta đã giải trình được các giấc mơ một cách khoa học như thể người ta đã phân tích được những cái khó khăn phức tạp nhất như DNA chẳng hạn, thì cũng lại rõ ràng là tin mới.

    Thế nhưng vào những ngày cuối của Tháng Năm vừa qua, theo tài liệu của tổ chức “National Institutes of Health” và tạp chí “Science” thì đề tài cùng kết quả nghiên cứu lại có liên quan đến lớp da bao bọc thân thể con người.

    Ðến những chốn “thâm sâu cùng cốc” nhất nơi cơ thể con người mà ngành y học cận và hiện đại sau bao nhiêu trăm năm đã từng mổ xẻ, nghiên cứu phân tích tưởng chừng như “đến nơi đến chốn” như thế mà đột nhiên lại quay trở ngược ra chỗ dễ nhìn, dễ thấy, dễ sờ dễ mó nhất là lớp da trên thân thể con người thì phỏng có điều gì “mới lạ” hơn so với những điều người ta đã am tường?

    Chả biết có ai cảm thấy ngạc nhiên hay “nổi da gà” khi đọc qua những thông tin mới mẻ nhất về mặt này hay không, nhưng sự thể là qua nghiên cứu người ta đã xác quyết rằng trên khắp thân thể con người ta, cứ chỗ nào có da là chỗ ấy đều có cả nghìn loại vi khuẩn cư ngụ dài hạn, cho dù ta có tắm rửa hay kỳ cọ hàng ngày đi nữa.

    Người đọc loại tin tức mới mẻ kiểu như thế này thì thể nào cũng thắc mắc ngay rằng: “Tình hình như vậy thì cớ sao mà xưa nay...” Xưa nay cứ bình thường mà nói thì da dẻ con người ta chả có làm sao hết phải không nào? Bởi vậy mà những kết quả nghiên cứu như mới vừa được công bố đó là thuộc loại “buồn ít, vui nhiều”! “Buồn” cho ta ở chỗ cứ tưởng giữ gìn vệ sinh thường thức như thế thì cũng đã yên thân, nào ngờ vẫn còn cả nghìn con vi khuẩn bám trụ trên da, không chịu nhả ra, và rõ ràng là lý do khiến người ta phải “suy nghĩ lại” về sự an toàn tính mạng của mình; thế nhưng “vui” là ở chỗ các nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng cái đám vi khuẩn đó ít nhiều gì đấy đều là “friends” với con người, rằng nếu như đa số bọn chúng chẳng thực sự có lợi gì cho ta thì tối hậu là chúng cũng không có hại!
    Vậy thì cụ thể là nếu tình cảnh đã là như thế thì vi khuẩn chúng nó bám vào đâu trên da của con người ta? Ở những nơi âm u kín đáo, thiếu ánh sáng mặt trời nhất chứ phải không nào? Chẳng hạn như ở dưới nách hay trong lỗ rốn? Thế nhưng các nhà nghiên cứu họ nói là không phải! Theo họ thì cái chỗ đông đảo “dân cư” vi khuẩn nhất thì lại là trên cánh tay của người ta. Và đấy chưa phải là điều duy nhất khả dĩ khiến ta phải tròn mắt ngạc nhiên!

    Số liệu thứ hai: Số vi trùng - người viết ở đây xem kỹ tài liệu và thấy ghi rõ ràng là “microbes” chứ không phải “bacteria” - trong và ngoài cơ thể chúng sinh là gấp 10 lần so với tổng số tế bào. Tuy chỉ mới gần đây thì các nhà nghiên cứu mới khởi sự kiểm kê định dạng định danh cái đám vi khuẩn trên da của người ta.

    Thường thì trước đây các nhà khoa học người ta định dạng các nhóm vi khuẩn trên da người bằng cách “nạo” nhẹ nhàng trên da những người tình nguyện cho các cuộc thí nghiệm rồi đem cái đám vi khuẩn “nạo” ra được đó về “cấy” để nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Thế nhưng làm như vậy thì kết quả thử nghiệm lại dễ lệch đi ở chỗ là có những loại vi khuẩn khi được cấy trong phòng thí nghiệm, tuy lấy từ da người, thì lại dễ sinh sôi hơn là nếu như vẫn để nguyên chúng tại chỗ mà nghiên cứu. Bởi thế mà nhờ vào những kỹ thuật mới trong ngành nghiên cứu về trình tự cấu trúc của các “gien,” (“gene sequencing”), tức là đối với một phân tử của tế bào thì hệ thống DNA (deoxyribonucleic acid) hay RNA (ribonucleic acid) của nó là một trình tự gồm những hóa chất gì, hóa chất gì... thì dựa vào RNA (khác với DNA có 2 giây xoắn, RNA chỉ có một giây) người ta đã có thể dễ dàng “xem mặt đặt tên” cho các nhóm vi khuẩn khác nhau.

    Vậy thì các nhà nghiên cứu qua đó đã phát hiện ra một con số rất lớn về các loại vi khuẩn sing sống, sinh sôi trên lớp da bao bọc thân thể con người. Và từ đấy họ tiến thêm một bước nữa để coi xem khu vực nào trên da thì có nhóm nào thuộc diện “thường trú.”

    Các nhà nghiên cứu của “National Human Genome Research Institute” tại Bethesda ở tiểu bang Maryland tuyển mộ 10 người tình nguyện. Nhóm này được yêu cầu tắm rửa với loại xà-phòng loại “dịu” - “mild”- trong vòng 1 tuần lễ. Thế rồi sau 24 tiếng không tắm rửa gì hết những người tình nguyện mới đến trình diện phòng thí nghiệm. Nơi đây, các nhà nghiên cứu bèn nạo nhẹ nhàng ở 20 vị trí trên da của họ; từ trong lỗ mũi cho đến lỗ rốn, và những nơi “kín cổng cao tường” khác nữa. Toán nghiên cứu phân chất chất RNA từ các mẫu thu thập được để phân loại các nhóm vi khuẩn.

    Họ phát hiện ra tổng cộng khoảng 1000 chủng loại khác nhau. Mà điều lý thú là trong từng ấy 10 tình nguyện viên thì các nhóm vi khuẩn cũng đều tụ tập y hệt như nhau ở từng “tụ điểm” như nhau.

    Hóa ra là tất cả chúng ta đều có chung những chủng loại vi khuẩn như nhau ở trong lỗ mũi hoặc ở trên lưng. Và rồi con số các vi khuẩn trên da chúng ta thì cũng đông đúc chả kém gì cái đám thường trú trong hệ thống đường ruột của mình. Mà ở trong đó thì người ta đã kiểm kê là có từ 500 đến 1000 chủng loại vi khuẩn khác nhau, tuy cũng chưa ai nghiên cứu để biết chắc xem anh có nhiều ví khuẩn trong ruột thì dễ tiêu hóa thức ăn và ít đau bụng đau dạ hơn anh có ít, hay ngược lại. Toán nghiên cứu cũng đã phát hiện ra những sự khác biệt rất lớn trên lớp da bao bọc thân thể con người. Có điều ngạc nhiên qua công trình nghiên cứu đó nữa là ở chỗ ta dễ cho rằng những chỗ ẩm như trán - vì có mồ hôi - hoặc da đầu thì dễ có đông đảo chủng loại vi khuẩn hơn, thế nhưng sự thể là những chỗ khô ráo như cánh tay thì lại có đông vi khuẩn nhất. Cái nơi “thưa dân cư” vi khuẩn nhất là sau vành tai, với vỏn vẹn chừng 15 chủng loại trong khi trên cánh tay thì lại có đến 44 chủng loại. Người ta “follow up” để cập nhật hóa tình hình sau nhiều tháng thì thấy rằng đám vi khuẩn nào quen ở đâu thì cứ vẫn quanh quẩn ở đấy.

    Có điều người ta vẫn còn trong quá trình nghiên cứu tiếp để coi xem tại sao ở nơi này trên da thì lại có đông đảo vi khuẩn hơn những nơi khác. Nhưng người ta vẫn rút ra được kết luận tạm thời là tại sao có những căn bệnh ngoài da lại chỉ xuất hiện ở một số vùng cố định nào đấy trên da chứ lại không xuất hiện ở những nơi khác.

    Trang Nguyễn
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  16. #56
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    Làm đồ chua sao cho vừa nhanh chóng vừa hợp cách

    Sunday, May 31, 2009

    Ðối với người Việt thì dường như trong ẩm thực hàng ngày không thể thiếu món đồ chua. Nó vừa có tác dụng kích thích dịch vị vừa có tác dụng - do chất chua - làm giảm đi thính chất “mỡ màng” của các thức ăn. Cái bánh chưng ngày Tết theo truyền thống là có đậu xanh, thịt và mỡ làm nhân thì kèm theo đó cũng phải có tí “dưa hành” cho chất thịt mà mỡ kia dễ “trôi” hơn. Trong bữa ăn hàng ngày thì ta có dưa chua, dưa giá chua, v.v... Các ổ bánh mì thịt cầm tay thì xưa giờ ngoài “pâté”, thịt nguội, giò lụa v.v... cũng không thể thiếu món “đồ chua” kèm theo.

    Và ở hầu hết tất cả các nước trên thế giới thì dường như không có một loại “đồ chua” này thì cũng phải có một loại “đồ chua” khác.
    Ta làm “đồ chua” theo kỹ thuật “gia truyền” và ta chỉ cần biết là nếu “làm như thế như thế thì sẽ có đồ chua hợp cách”. Ta không phân tích về mặt khoa học đối với quá trình hình thành đồ chua.

    Tạp chí “Popular Science Magazine” trong một số báo mới nhất đã dành nguyên một bài để nói về món “đồ chua” với nội dung như sau dưới con mắt của người phân tích khoa học:
    Trong hầu hết các “chạn” thức ăn nào thì thường cũng phải có một hũ hay một lọ đồ chua nào đấy. Một số không ít các loại trái cây và rau cỏ đều được biến chế để dành lại ăn lâu ngày bằng cách sử dụng muối và “a-xít.” Trong tiếng Anh ở xứ này thì những món vừa nói đều có thể biến chế thành đồ chua mà người ta gọi là “pickle” thế nhưng vì cái anh dưa chuột là được sử dụng phổ thông nhất cho nên riêng dưa chuột muối chua lại một mình tiếm dụng danh từ “pickle.” Thì cũng như ở Việt Nam, khi nói đến “đồ chua” là ta thường nghĩ ngay đến “dưa chua.”

    Làm đồ chua là một kỹ thuật lưu giữ món ăn từ xửa từ xưa ở khắp mọi nơi, từ món đồ chua của Mễ Tây Cơ gọi là “jalapeno pepper” (loại ớt to tướng nhưng chỉ cay vừa) cho đến món “Kim Chi” của Ðại Hàn. Thường thì người ta chỉ ăn chêm đồ chua với các món ăn khác chứ ít có mấy khi người ta chỉ ăn đồ chua không thôi. Lắm nơi người ta cho rằng vì có nhiều chất “a-xít” cho nên như thế là có lợi cho cơ thể. Chẳng hạn như ở bên Nhật thì loại “gừng chua” thường đi theo các món cá sống vì người ta cho rằng một mặt thì gừng có lợi cho tiêu hóa và mặt khác nó có công dụng diệt trừ vi khuẩn cũng như giúp cho món ăn thêm hấp dẫn đối với khẩu vị.

    Một số các loại trái và rau cỏ thường được làm chua với cả đường lẫn muối. Theo truyền thống thì các loại đồ chua đều được làm ra theo một quá trình gây men kín, không để cho không khí lọt vào. Trong quá trình gây men đó, chất đường biến thành chất “a-xít lactic” bởi loại “khuẩn que” (“bacillus”) gọi là “Lactobacillus plantarum” có trong thảo mộc. Chất “a-xít lactic” đó cho ta cái “hương vị” đặc biệt của đồ chua nhưng đồng thời cũng tạo nên môi trường không thuận lợi một tí nào cho đám vi khuẩn độc hại bằng cách loại trừ các chất ngọt của đường và tạo nên tính chất “a-xít” cho toàn bộ món đồ chua đó. (Tuy vậy nhưng khi làm dưa chuột chua thì nó lại không cần phải kinh qua một quá trình gây men. Người ta chỉ cần cho nó vào chung với đường và muối trong một thời gian ngắn là đã có thể có món “dưa chuột chua”.)

    Muối đóng vai trò bảo trì, không làm hư chất liệu được làm chua, bằng cách giúp đám “Lactobacillus Plantanum,” là nhóm vi khuẩn có ích, sinh sôi nẩy nở. Vấn đề mấu chốt là ở chỗ sử dụng dung lượng muối thích hợp. Nhiều muối quá thì đám “Lactobacillus Plantarum” khó sống, còn ít muối quá thì những loại vi khuẩn “không lành mạnh” như đám “Leuconostoc mesenteroids” lại dẫn đến những hậu quả không mấy hay cho món đồ chua. Theo kinh nghiệm thì người ta đi đến “công thức” cho dung dịch để muối với 5 phần trăm muối, 95 phần trăm nước. Muối còn quan trọng ở chỗ nó rút độ ẩm từ trái và rau cỏ trong quá trình làm đồ chua, khiến cho đồ chua có chất “giòn” cũng như màu sắc đặc biệt của nó sau khi hoàn tất. Về mặt đó thì trước khi làm dưa chua chẳng hạn, người Việt mình đem phới lá cải một hai nắng cho nó “ải đi” trước khi bỏ vào tĩnh để khởi sự muối.
    Dưỡng khí thường có vai trò giúp cho đám vi khuẩn có hại sinh sôi, do đó trong quá trình muối đồ chua người ta cần phải đậy nó cho thật kín. Chất “a-xít” là quan trọng bởi nó giúp ngăn chận sự tăng trưởng của nhóm vi khuẩn “botulinim.” Yếu tố quan trọng sau cùng trong việc tạo nên được sự sinh sôi của đám vi khuẩn có lợi cũng như để cho quá trình gây men được hoàn hảo là nhiệt độ. Nhiệt độ tối hảo cho quá trình gây men là trong khoảng từ 18 cho đến 20 độ C (tức từ 64 đến 68 độ F.)

    Và sau đây là một số các “bí quyết” để làm đồ chua tại nhà. Trước hết là cần sao cho kích tấc các thành phần đồ chua được cắt ra tương đối đồng đều. Nên rửa chúng trước khi cắt để loại ra các vi sinh vật trên vỏ của trái hoặc rau cỏ. Nên cân đong các vật liệu ta đưa vào hũ làm đồ chua. Các tỉ lệ đưa vào đó là rất quan trọng, và cứ thế ta ghi nhớ công thức. Nên sử dụng loại muối hộp hoặc muối người ta bàn để chuyên làm đồ chua bởi các loại muối khác có thể làm cho đồ chua không có vẻ “tươi.” Nên sử dụng nước lọc bởi nước máy với các chất sắt và lưu huỳnh có thể làm đen món đồ chua, và đặc biệt chất “calcium” trong nước máy có thể gây trở ngại cho quá trình gây men. Sau khi đồ chua đã hoàn tất mà đồ chua thiếu độ giòn hay là như có “nhớt” thì không nên ăn. Vì đấy là dấu hiệu cho biết quá trình gây men không hoàn chỉnh.

    (Trang Nguyen - viết theo tài liệu của “Popular Science Magazine”)
    Lannguyen

  17. #57
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    Khi người ta... ngủ gục!!!

    » Tác giả: Hoàng Diên


    1. Khi người ta... ngủ gục!!!

    Nhạc sĩ Phạm Duy có phổ nhạc bài thơ Ngậm Ngùi của thi sĩ Huy Cận, trong đó có câu: "... sợi buồn con nhện giăng mau, em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây...". Bỏ ra ngoài hình ảnh thơ mộng của việc chàng ngồi quạt cho nàng nằm ngủ, câu này còn cho thấy, đi tìm giấc ngủ đối với nhiều người không phải là chuyện đơn giản... phải có giường ấm, nệm êm, và phải có người ngồi bên để "hầu quạt".

    Ngược lại với cảnh thơ mộng trên, với nhiều người khác thì nhiều khi cơn buồn ngủ kéo đến không đúng giờ, không đúng lúc, làm cho người ta phải chống chỏi hết sức là cực khổ. Có người tìm cách nhảy tại chỗ, hét thật to, tắm vòi sen nước lạnh hoặc trong những trường hợp khẩn cấp, thử cả ba phương pháp nói trên cùng một lúc. Có nhiều lý do khiến cho người ta phải luôn trong tình trạng tỉnh táo, và đối với các sinh viên phải học bài thi thì các lý do này càng nhiều hơn, ngoài ra cũng có những người bị bệnh mất ngủ, những người khác do quá nhiều công việc, gia đình, và vì nhu cầu của cuộc sống cần phải thức khuya thêm một vài giờ đồng hồ nữa.

    Trong số các loại thức ăn dinh dưỡng được bày bán khắp các cửa hàng, có những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu thức khuya, từ các loại viên nén có chất cafeine như No Doz cho đến các loại thảo dược giúp chúng ta có thể tỉnh táo và trong tình trạng sáng suốt.

    Theo các bác sĩ, các viên nén có cafeine như trên sẽ giúp chúng ta tỉnh táo trong vài giờ, nhưng khi sử dụng với liều lượng lớn - một viên No Doz chứa khoảng 100 miligam cafeine, gần bằng một tách cà phê - nó có thể để lại hậu quả tai hại cho con người. Còn các loại thảo dược thì chưa được khoa học kiểm định rõ ràng, do đó các bác sĩ khuyến cáo bệnh nhân không nên sử dụng.

    Theo bác sĩ Daniel J. Buysse, bác sĩ tâm thần và cũng là một nhà nghiên cứu về giấc ngủ của con người tại trung tâm dược học Trường đại học Pittsburgh: "Đối với vấn đề này, chúng ta không thể biết được chúng ta đang cần ít hay nhiều".

    Theo các chuyên gia nhận định, Ritalin, loại dược phẩm thường được chỉ định trong việc điều trị căn bệnh mất khả năng tập trung, giờ đây đang được các sinh viên ưa chuộng, họ sử dụng như một loại phương tiện hỗ trợ việc học tập của mình. Người ta cũng nghe nói đến hai phi công thuộc lực lượng phòng vệ quốc gia Hoa Kỳ, vào năm ngoái đã sử dụng loại thuốc kích thích Dexedrine để luôn trong trạng thái tỉnh táo khi phải thực hiện các mhiệm vụ có thời gian kéo dài. Các loại dược phẩm này có khả năng kéo dài thời gian tỉnh táo từ bốn đến sáu giờ đồng hồ. Ngoài ra Ritalin còn giúp chúng ta tập trung hơn. Tuy nhiên, chúng cũng tạo ra các tác dụng phụ như khiến cho người xử dụng trở nên nóng nảy, nhức đầu, tim đập nhanh và gây ảnh hưởng đến giấc ngủ sau này. Những ai có thói quen thường xuyên sử dụng dược phẩm sẽ lâm vào tình trạng lờn thuốc, liều dùng càng lúc càng tăng cao hơn.

    Bác sĩ Barry Krakow, giám đốc trung tâm nghiên cứu khoa học về quá trình của giấc ngủ Maimonides nhận xét: "Nếu trước đây bạn đã có vấn đề khó khăn trong việc ngủ, thì các loại thuốc này sẽ làm cho nó nặng thêm".

    Bên cạnh giấc ngủ còn có các hiện tượng khác như ngáy và ngạt thở, do sự thu hẹp hoặc tắc nghẽn của luồng hơi trên mũi, khiến cho người ta bị ngưng thở, nhưng lại không thường thức giấc. Cũng có nhiều người cố gắng duy trì sự tỉnh táo bằng cách tập thể dục. Vận động trong vòng 15 đến 20 phút cũng có thể giúp chúng ta tỉnh táo hơn.

    Bác sĩ James K. Wyatt, Một nhà nghiên cứu về giấc ngủ tại trung tâm nghiên cứu y dược của Trường đại học Rush - Chicago, cho biết: mặc dù đã có nhiều cách chống buồn ngủ, nhưng vẫn có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về việc chống lại tình trạng ngủ gục.

    Ông nói: "Khi một người tài xế mệt mỏi, anh ta dừng lại, bước ra khỏi xe, chạy bộ vài vòng xung quanh chiếc xe của mình. Điều này chắc chắn sẽ giúp cho anh ta tỉnh táo hơn, nhưng chỉ trong khi anh ta đang chạy bộ. Khi anh ta dừng lại và ngồi vào xe, anh ta lại phải tiếp tục chống chọi với cơn buồn ngủ".

    Ánh sáng và nước lạnh cũng gây ra một ảnh hưởng tương tự như nhau, chúng chỉ có tác dụng trong một khoảng thời gian rất ngắn.

    Có một điều đáng ngạc nhiên là khoa học lại không biết tường tận nhiều về cà phê, chỉ biết là người ta sử dụng cà phê như một chất kích thích rất có hiệu quả. Theo lời bác sĩ Wyatt, hai tách cà phê kiểu Colombia hoặc kiểu Pháp uống vào buổi sáng chứa rất nhiều cafeine, nhiều hơn cả lượng cafeine mà một người đang buồn ngủ cần có. Tuy rằng nhiều người nghiện cà phê có thể cần một lượng cao hơn, nhưng con người cũng có xu hướng uống cà phê quá nhiều. Người ta uống cà phê hoặc một loại nước giải khát có chất cafeine vào buổi chiều phần lớn xuất phát từ thói quen lựa chọn hơn là do nhu cầu về liều lượng.

    Bác sĩ Wyatte nói: "Tôi so sánh việc này với trường hợp của bệnh viêm khớp, chúng ta cảm thấy ít đau vào buổi sáng nhưng dần dần cảm thấy đau hơn khi chiều xuống. Bạn Không muốn phải uống tất cả các loại thuốc bạn cần vào buổi sáng. Bạn chỉ muốn dùng đến dược phẩm với một liều lượng ít hơn khi bạn cảm thấy tình trạng đã trở nên tồi tệ. Điều này cũng tương tự như tình trạng buồn ngủ và nhu cầu về Cafeine".

    Trong một bài viết vào tháng năm, bác sĩ Wyatt và các nhà nghiên cứu tại Harvard cho rằng, nếu bạn uống một phần tư tách cà phê sau mỗi giờ đồng hồ, bạn có thể ngăn chặn giấc ngủ đến 24 tiếng liên tục cùng một thời điểm. Hiệu ứng này cũng giống như thuốc lá, sẽ để lại tác hại về sau.

    Các loại thuốc giúp cho con người chống lại phản xạ tự nhiên của cơ thể về nhu cầu nghỉ ngơi một phần tập trung vào khả năng điều chỉnh hệ thống đòi hỏi giấc ngủ của cơ thể. Các nhà nghiên cứu lập luận rằng chất Cafeine ngăn chặn các tín hiệu phản hồi hóa học của cơ thể, adenosine, báo cáo nhu cầu cần có một giấc ngủ về cho não.

    Nghệ sĩ Salvador Dali nói ông có thể làm việc liên tục nhiều ngày mà chỉ cần chợp mắt. Dali nói ông thường giật mình thức giấc khi cọ vẽ của mình rơi chạm xuống sàn nhà.

    Có những người như bác sĩ Krakow cho rằng có thể họ có thể tỉnh táo sau khi chợp mắt nhiều lần. Đối với những người này, các loại dược phẩm liều nhẹ cho kết quả tốt nhất.

    Bác sĩ Buysse nói: "Một giấc ngủ ngắn vẫn tốt hơn là không có, và nếu bạn cài một hệ thống báo thức, bạn có thể thực hiện được việc này".

    Ngủ ngồi cũng giúp cho chúng ta không ngủ sâu. Tuy nhiên sau đó chúng ta cần có một giấc ngủ thật sự kéo dài sáu đến bảy giờ đồng hồ. Và lúc đó, nhiều khi không phải cần đến người "hầu quạt"!. Ý thơ của thi sĩ Huy Cận vì thế chủ yếu là nói lên hình ảnh thơ mộng của công việc ru ngủ này...
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  18. #58
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    Đột phá thần sầu trong ngành chủng ngừa: Khoa học dùng muỗi chích ngừa thay cho kim

    Jul 30, 2009

    Cali Today News - Trong một thí nghiệm xuất sắc ở Châu Âu, các nhà khoa học đã sử dụng muỗi cắn người tình nguyện để tiêm thuốc chống bệnh sốt rét vàng da và thí nghiệm đã thành công.

    Kết quả tốt đẹp ngoài dự đoán: mọi người được “chủng ngừa kiểu bị muỗi cắn” đều tỏ ra miễn nhiễm với bệnh sốt rét này, so với 1 nhóm khác không được chích.
    Tuy nhiên kết quả này không được áp dụng rộng rãi. Thành công này cho thấy các nhà khoa học có thể đang đi đúng đường trong việc tìm ra một vaccine chống lại một căn bệnh rất hiểm nghèo.

    Bác sĩ Carlos Campbell làm việc cho PATH ở Seattle cho hay: “Thuốc chủng ngừa cho bệnh malaria đang đi từ phòng thí nghiệm vào thế giới đời thường”. Thí nghiệm này cho thấy sau nầy người ta có thể dùng ký sinh trùng hoàn chỉnh của bệnh sốt rét trong việc chế tạo vaccine ngừa bệnh.

    Từ trước đến nay, bác sĩ Campbell cho hay là thuốc chủng ngừa sốt rét vàng da là một quá trình rất khó khăn, vì thuốc chloroquine chỉ có thể giết ký sinh trùng gây bệnh khi chúng đã vào tới máu là giai đoạn nguy hiểm nhất.

    Bệnh sốt rét vàng da là loại bệnh giết chết khoảng 1 triệu người hàng năm trên thế giới, đa số là trẻ em duới 5 tuổi ở châu Phi.

    Đào Nguyên source AP
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  19. #59
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    Hạnh nhân và bệnh tiểu đường

    Bs Nguyễn Văn Hoàng


    July 28, 2009

    LGT: "Các bài viết về y tế của các bác sĩ hay các chuyên viên y học thì nhiều, nhưng không có bài nào từ trước tới nay có môt lối trình bày độc đáo như bài của bác sĩ Nguyền Văn Hoàng, mà chúng tôi xin giới thiệu dưới đây.
    Độc đáo vì khiến người đọc có cái nhìn rõ ràng, và hiểu vấn đề, thay vì là thu nhận một số dữ kiện và danh từ y học khó hiểu để suy nghĩ lung tung, không giúp ích bao nhiêu cho vấn đề giữ gìn sức khỏe cho mình, mà có khi lai sinh ra lo lắng vì ngộ nhận". TTVN

    Kính thưa bác T và quý vị,

    Nhận thấy câu hỏi của bác T thật thực tế, có thể cũng là thắc mắc của nhiều người, Hoàng xin được trả lời trên diễn đàn sau khi đã giữ kín danh tánh của bác. Câu hỏi như sau:
    Thưa Bác sĩ Hoàng....lời đầu tiên cho tôi gởi đến Bác sĩ ,lời tốt đẹp nhất đến cùng quý quyến....mong Bác sĩ bớt thì giờ quý báu cho tôi vài lời chỉ dạy ...để đỡ lo lắng khi trị bệnh tiểu đường như tôi được biết (toa thuốc trị tiểu đường rẻ tiền này của BS Đỗ Hồng Ngọc) -một gói hạnh nhân Bắc ( ALMOND) -2 gói hạnh nhân Nam (ALMOND)tôi chộn lẫn 2 thứ rồi hâm microwave trước khi ăn, khi ăn tôi thấy có nhiều chất béo và nghĩ chắc có nhiều chất dầu ....
    xin hỏi : -như vậy ăn vào có tăng thêm cholesterol không...? vì cholesterol của tôi hơi cao, và tôi cũng cao mỡ vẫn phải uống thuốc NOVAZA,và TRICOR....
    vậy thưa BS tôi có thể ăn Hạnh Nhân có chất béo được không...? chất béo của hạnh nhân có sinh ra cao mỡ không...? cao cholesterol không..?
    thành thật cám ơn BS rất nhiều.

    Trân trọng kính chào BS.
    TV

    Kính thưa bác,

    Muốn có câu trả lời cho câu hỏi của bác một cách tương đối tường tận thì có ba phần cần được tìm hiểu. Hai phần thuộc về kiến thức căn bản là bệnh tiểu đường và chất béo (cholesterol), phần thứ ba là ảnh hưởng của hạnh nhân lên bệnh tiểu đường và chất béo.
    Thông thường Hoàng không dùng đông y hay dược thảo để trị bệnh cho bệnh nhân trừ trường hợp dược thảo này đã được khảo nghiệm qua phương pháp nghiên cứu của tây y (xin xem bài bên dưới để biết thêm chi tiết). Thế nhưng cách đây 2 ngày Hoàng cũng đã khuyên một bệnh nhân thử liều thuốc hạnh nhân này. Lý do là vì ông ta đã thử nhiều thuốc tây, uống tới mức tối đa thuốc trị tiểu đường, gặp cả BS chuyên khoa, quay sang chích thêm insulin, chích cao hơn mức bình thường rất xa mà căn bệnh vẫn cứng đầu cứng cổ. Đây là bệnh nhân đầu tiên Hoàng thử nghiệm phương pháp ăn/uống hạnh nhân này.

    BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

    Khi tìm hiểu nhiều về thuốc thì chúng ta thấy hầu như không có thuốc nào có thể bảo đảm hiệu nghiệm trên 100% bệnh nhân. Thí dụ như thuốc giảm cholesterol, thông thường thì rất hiệu nghiệm, nhưng rồi cũng có người uống mà không thuyên giảm. Thuốc trị bệnh tiểu đường cũng vậy. Lý do có thể là có những nguyên nhân hiếm khác gây nên căn bệnh hay bệnh nhân có cấu tạo sinh lý hơi khác thường. Nói về nguyên nhân của bệnh tiểu đường thì có hai loại chính.

    1. Tiểu đường loại 1: thiếu insulin.
    Insulin là một kích tố do một số tế bào của tụy tạng tiết ra, giúp cho đường từ trong huyết thanh được thấm vào tế bào. Một số người có hệ thống miễn nhiễm không bình thường, thay vì kháng thể chỉ dùng để đánh giặc như chống siêu vi khuẩn, đám quân kháng thể này lại đi "đục gà nhà", tấn công vào các tế bào của tuyến tụy này, khiến nó suy yếu, không cung cấp đủ lượng insulin. (Hiện tượng này cũng giống như trong thực tế, người chống Cộng không lo chống Cộng mà đi chống phe ta). Bệnh do kháng thể của ta tấn công vào mô, tập hợp của tế bào) của chính chúng ta được xếp chung thành một nhóm, gọi là auto-immune diseases, Hoàng dịch ra là bệnh TỰ KHÁNG (tự điển y khoa của ykhoa.net dịch là bệnh "tự miễn nhiễm", và Hoàng không đồng ý với cách dịch này).

    2. Tiểu đường loại 2: bệnh nhân bị tiểu đường loại 2 không phải vì bị thiếu insulin mà là vì đường không hấp thụ vào tế bào một cách bình thường.
    Có nhiều lý do đưa đến tình trạng này. Bệnh nhân thường ở tuởi trung niên hoặc cao niên và thường hơi "có da có thịt". Đa số không cần chích Insulin vì không bị thiếu nhưng nếu thuốc uống không khống chế được căn bệnh thì cũng đi đến việc chích Insulin.
    Bên cạnh hai loại chính này người ta còn thấy có khoảng 2% bệnh nhân được liệt vào loại MODY (Mature Onset Diabetes of the Young). Bệnh nhân cũng bị thiếu Insulin như loại 1 nhưng không phải vì bị hiện tượng tự kháng mà là vì có gene bất thường.
    Hiểu biết của con người ngày càng tiến, cho nên kiến thức về nguyên nhân của bệnh tiểu đường chưa chắc dừng lại ở đây. Chi tiết thì rất nhiều, song trọng tâm của câu hỏi là tác dụng của hạnh nhân lên lượng máu mở, nên chúng ta chỉ lược sơ về bệnh tiểu đường như trên, và bắt đầu nói sơ về chất béo.

    CHẤT BÉO

    Chất béo là chất hữu cơ, tức là chất có chứa ít nhất là 2 nguyên tố căn bản, carbon và hydrogen, thường thì có thêm oxygen và nitrogen. Mối liên kết giữa các nguyên tử là liên kết "cộng hóa trị". Mỗi một nguyên tử carbon (than) có khả năng tạo 4 mối liên kết, ta cứ tưởng tượng như là một cục chùy có 4 cái xích, với móc ở đầu sợi xích. Khi mỗi một móc xích ấy nối với một nguyên tử khác trong phân tử chất béo thì ta gọi đó là liên kết bão hòa (saturated). Khi có 2 móc xích ấy nối giữa 2 nguyên tử carbon thì liên kết của phân tử chất béo ấy chưa bão hòa, hay không bão hòa (unsaturated). Trong một phân tử, nếu có một mối liên kết không bão hòa thì ta gọi là mono-unsaturated, còn có nhiều mối liên kết không bão hòa thì tiếng Anh gọi là poly-unsaturated.

    Chất béo có hại cho sức khỏe là saturated fat, tức là chất béo bão hòa. Cách dễ phân định xem chất béo nào hại cho ta là xem nó ở thể lỏng hay đặc ở nhiệt độ bình thường. Loại chất béo đặc ở nhiệt độ bình thường như mỡ heo là không tốt.
    Chất béo ở dạng lỏng trong nhiệt độ bình thường thông thường là unsaturated fat, tức là chất béo không bão hòa, như dầu olive, và nó làm giảm lượng mỡ xấu ở trong người, tức là có lợi cho sức khỏe, nói một cách chung chung là như vậy. Loại mono-unsaturated fat làm giảm mỡ xấu và không làm giảm mỡ tốt trong người, loại poly-unsaturated fat làm giảm cả hai loại mỡ.
    (Mỡ xấu, LDL (Low Density Lipoprotein), là loại mỡ đóng vào thành mạch máu, đưa đến tắt nghẽn, mỡ tốt, HDL (High Density Lipoprotein) thì có tác dụng ngược lại. Gọi là mỡ tốt và xấu là để dễ hiểu và rất nôm na, kỳ thực lipoprotein là những phân tử chất đạm dùng để chuyên chở chất cholesterol. LDL thì chở cholesterol đổ lên mạch máu, còn HDL thì chở cholesterol đổ vào gan và được tiêu hóa đi.)

    HẠNH NHÂN TRỊ BỆNH?

    Hạnh nhân là mono-unsaturated fat, cho nên theo hiểu biết trên, nó không những không có hại mà còn có lợi trong việc bảo vệ bệnh tim mạch vì nó làm giảm mỡ xấu.
    Theo Journal of Nutrition, hạnh nhân không những làm giảm lượng đường trong máu sau buổi ăn mà còn làm sạch đông mạch.
    http://www.whfoods.com/genpage.php?t...dspice&dbid=20


    NHẬN ĐỊNH RIÊNG CỦA HOÀNG
    LIỀU LƯỢNG, LIỀU LƯỢNG VÀ LIỀU LƯỢNG


    Kính thưa bác và quý vị,
    Sau những điều trình bày trên thì hạnh nhân rất tốt cho cả bệnh tiểu đường lẫn bệnh tim mạch, vừa hạ lượng đường vừa hạ lượng mỡ xấu. Tuy nhiên khi xét hầu hết mọi sự trên đời này, bao gồm dược liệu, ta đều phải nhắc đến hai chữ quan trọng nhất: LIỀU LƯỢNG. Ngay cả tiền và quyền, không có hay có quá ít thì cũng khổ, mà có dư quá thì dễ... sanh tật. Nói về dược phẩm, muốn biết được liều lượng tối ưu thì cần có sự nghiên cứu tỉ mỉ.
    Nghiên cứu của thuốc giảm mỡ của tây y được tiến hành trên cả trăm ngàn bệnh nhân. Còn liều lượng của hạnh nhân được nghiên cứu trên bao nhiêu bệnh nhân, có khảo sát phản ứng phụ chưa, thì Hoàng không biết. Hoàng cho rằng bất cứ một dược liệu nào khi bắt đầu có tác dụng chính, tức là tác dụng mà ta mong muốn thì cũng có kèm theo tác dụng phụ, tức là unwanted, hay side effects, nhiều hay ít, đáng kể hay không đáng kể mà thôi.
    Trong hạt hạnh nhân, ngoài chất béo, nó còn chứa nhiều chất khác như manganese, Vitamin E, Magnesium, Tryptophan, đồng, Vietamin B12, lân tinh (phosphorus), vân vân. Thuốc tây không, hay ít có chứa tạp chất như vậy. Ăn/ uống nhiều hạnh nhân quá có thể làm tăng hiểm nguy của sạn thận, làm sình bụng và làm mập. Mập thì không tốt cho sức khỏe.
    Nếu xem trên internet thì ta sẽ thấy tây phương nói rất nhiều về công dụng của hạnh nhân đối với bệnh tiểu đường chớ không phải chỉ có đông y mới biết, song hạnh nhân vẫn chưa được chính thức là một trị liệu mà bộ y tế Úc khuyến khích BS sử dụng. Bảo rằng dược thảo không có hay ít có tác dụng phụ như thuốc tây chỉ chứng minh sự thiếu hiểu biết của mình mà thôi.

    Theo quan điểm của Hoàng, nếu chúng ta ở một nơi mà không có thuốc tây, hạnh nhân trúng mùa, hoặc nếu thuốc tây chữa không xong, thì mới dùng đến các liều dược thảo. Ba lý do chính là (1) dược thảo ít khi được nghiên cứu tường tận, (2) có chứa nhiều tạp chất và (3) bất tiện khi dùng (phải nấu, phải gạn, uống nhiều, trong khi thuốc tây "bụp" một viên vô miệng là xong) mà chưa chắc rẻ hơn.
    Nếu đi xe hơi được thì ta không cần đi ngựa, trừ phi gặp vùng núi non, không có đường xá. Đi ngựa là một thể thao, một thú tiêu khiển hơn là phương tiện di chuyển chính. Thuốc tây ví như xe hơi mà hạnh nhân ví như tuấn mã.
    Để kết luận câu trả lời cho bác, Hoàng nghĩ, dùng một liều lượng nhỏ hạt hạnh nhân có lợi cho sức khỏe, nhưng không nên dùng nó như trị liệu chính cho căn bệnh tiểu đường, vì nghiên cứu về dược tính và độc tính của loại hạt này ở liều lượng có thể chữa được bệnh chưa được rõ ràng.

    BS Nguyễn văn Hoàng
    ([email protected])
    Lannguyen

  20. #60
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    Thiệt mạng vì ăn gan cóc để chữa bệnh ung thư

    Monday, August 10, 2009

    YÊN BÁI (TH) - Nghe tin có người ăn gan cóc, mật cóc mà khỏi chết vì bệnh ung thư, một người ở tỉnh Yên Bái đã thiệt mạng vì bắt chước như vậy trong khi một người khác ở Nghệ An thì chưa chết nhưng phải nằm liệt giường chưa biết ra sao.

    “Do thiếu hiểu biết, ông N.D.P trú tại khu phố 5, thị trấn Cổ Phúc, huyện Trấn Yên, Yên Bái đã tử vong do bị ngộ độc khi ăn gan cóc để chữa bệnh ung thư.Theo người nhà ông, ông đã sử dụng nhiều loại thuốc để chữa bệnh ung thư, tuy nhiên, bệnh không có dấu hiệu thuyên giảm.”

    Bản tin TTXVN nói như vậy và kể tiếp rằng khi nghe tin có người đã chữa khỏi được bệnh ung thư sau ăn gan cóc, bệnh nhân N.D.P đã bắt cóc lấy gan để ăn. Ðến ngày 6 Tháng Tám, sau khi ăn 4 bộ gan cóc, ông đã bị ngộ độc dẫn đến tử vong.

    Cóc là một loại động vật có rất nhiều tại các vùng quê Việt Nam. Trên da cóc và mật, gan cóc có rất nhiều độc tố cực mạnh. Một lượng nhỏ độc tố trong gan gay mật có có thể làm chết 4 hay 5 người khỏe mạnh.

    Ngày 3 Tháng Bảy, 2009, báo Dân Trí cho hay, “Biết mình bị ung thư khá nặng, sau khi đã thử nhiều loại thuốc, ông Bình nghe nhiều người mách có người đã ăn gan, mật cóc mà khỏi bệnh nên bắt chước làm theo. Hậu quả là giờ ông phải nằm liệt giường.”

    Theo nguồn tin này, ông Nguyễn Thái Bình (46 tuổi) cư dân xã Hưng Ðông, thành phố Vinh, Nghệ An, kể lại nguyên nhân khiến ông phải nằm liệt giường: Khoảng trung tuần Tháng Hai, 2009, ông đi khám bệnh và phát hiện mình bị ung thư. Ông chạy chữa nhiều nơi nhưng bệnh tình không thuyên giảm.

    Thấy mình không còn sống bao lâu nữa, ông nghe người ta mách rằng có người đã ăn gan, mật cóc hàng ngày khỏi bệnh ung thư. Trước nguy cơ chết vì bệnh ung thư, ông Bình bắt chước làm theo.

    Nguồn tin nói những ngày đầu ông ăn với số lượng ít và thấy trong người không có dấu hiệu gì thay đổi. Ông liều lĩnh ăn nhiều hơn. Ðến khi đã nuốt hết 30 bộ gan, mật cóc sống thì “người ông liệt dần và phải nằm một chỗ.”

    Phó Giám đốc Sở Y Tế Nghệ An, Phạm Văn Thanh, cho rằng ông Bình bị suy thận vì đã ăn gan, mật cóc sống. Ông này cho biết thêm hiện cơ quan y tế tỉnh Nghệ An đã, “Có công văn gửi xuống tất cả các địa phương để chỉ đạo và khuyến cáo người dân không nên ăn gan, mật cóc vì sẽ gây thương vong rất cao. Riêng trường hợp ông Bình, Sở Y Tế cũng đã khuyến cáo nhiều, đồng thời yêu cầu gia đình không nên tiếp tục việc đó nữa.”

    Cũng theo ông Thanh thì ông Bình là người đầu tiên ở Nghệ An gặp biến chứng khi ăn gan, mật cóc để chữa ung thư.

    Việc ăn gan, mật cóc chữa khỏi bệnh ung thư loan truyền nhanh ở Việt Nam từ một bài báo của tờ Dân Trí hồi cuối Tháng Tư vừa qua. Bài báo này kể chuyện một người ở tỉnh Quảng Bình, ông Mai Xuân Khởi, đã sống như người bình thường từ 5 năm qua sau khi đã quyết định ăn gan, mật cóc để tự tử.

    Ông Khởi, 54 tuổi, xã Quảng Sơn huyện Quảng Trạch, được bệnh viện trả về chờ chết vì mắc bệnh ung thư đã tới giai đoạn cuối. Thấy cụôc sống bệnh hoạn và đau đớn không còn ý nghĩa, ông tự tử bằng gan cóc mà không chết. Trái lại, ông lại thấy từ từ hết đau đớn sau khi ăn thêm nhiều gan, mật cóc những ngày sau đó.Tiếng đồn đi khắp nơi, báo chí tới phỏng vấn và ông biểu diễn lột da cóc, lấy mật, lấy gan cóc nuốt tươi trước mặt nhà báo.

    Ði đến bệnh viện Huế rồi ra bệnh viện Ung Bướu ở Hà Nội, ông đều nhận được kết quả là ung thư gan mà cục bướu to khoảng 7 tới 8 cm rồi.

    “Ít tháng sau, đau quá tôi đã nghĩ quẩn đến chuyện tự tử để thoát khỏi sự hành hạ của bệnh tật.” Ông kể với tờ Dân Trí.

    “Rồi một lần, trong cơn đau vò xé, ông đã bất chấp sự ngăn cản của người thân, chộp ngay một con cóc đang nhảy sau hè cho vào miệng nhai nhằm kết thúc sự đau đớn.” Tờ báo kể theo lời thuật của ông Khởi. “...ăn xong, ông lên giường nằm sẵn sàng đón nhận điều phải đến, gia đình cũng đã khóc hết nước mắt nhưng một giờ, hai giờ rồi cả buổi trôi qua mà ông chẳng có dấu hiệu gì là bị nhiễm độc. Ngược lại, theo ông Khởi, ông có phần cảm thấy dễ chịu và đỡ đau hơn. Thấy vậy, ông bảo vợ con ra đồng bắt cóc về để ăn. Vợ con thấy ông ăn cóc không chết, lại khỏe ra nên không có cách nào khác phải chiều theo ‘ý thích’ kỳ lạ của ông.”

    Theo lời thuật lại của ông Khởi, lần đầu, ông dùng nước rửa sạch con cóc rồi lấy kéo rạch bụng, lấy nguyên bộ gan, mật còn tươi máu ra, uống một chén rượu, rồi cho hết những thứ trên tay vào miệng. Từ đó mỗi ngày ông ăn từ 15-20 bộ gan, mật cóc tươi sống. “Nếu không có gan, mật của cậu ông trời” là y như rằng người ông thấy không được khỏe”. Báo Dân Trí viết.

    Sở Y Tế tỉnh Quảng Bình cũng từng ra khuyến cáo mọi người không nên ăn gan cóc, mật cóc bắt chước để chữa bệnh ung thư, nhưng vẫn có một số người bắt chước.

    Ngày 17 Tháng Bảy, 2009 báo Dân Trí kể thêm một số trường hợp khác đã ăn gan cóc chữa bệnh ung thư mà không chết.

    “Sau khi từ Quảng Bình trở về, anh Bùi Văn Thám (thôn Cao Hải-Tân Liên-Vĩnh Bảo-Hải Phòng) cho biết, đã lấy gan, mật cóc cho bố anh là ông Bùi Văn Thỏa (70 tuổi, bị ung thư phổi giai đoạn di căn) ăn và bệnh tình ông Thỏa có dấu hiệu tích cực.

    Ở Quảng Bình, nhiều người bị bệnh nan y như u gan, ung thư đã chọn cách ăn gan, mật cóc như chị Nguyễn Thị Lĩnh (ở thôn Ðông Bắc-Ðại Trạch-Bố Trạch) dùng gan, mật cóc được 3 tháng và cảm thấy khỏe mạnh hơn, tăng cân dù trước đó bị u gan giai đoạn cuối.”

    Nhưng lại có người chết vì ăn gan cóc chữa ung thư. Hiện không có một cuộc khảo cứu khoa học nào về hiện tượng này ở Việt Nam ngoài những lời khuyến cáo của cơ quan y tế.
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

Page 3 of 5 FirstFirst 12345 LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 3 users browsing this thread. (0 members and 3 guests)

Similar Threads

  1. Giấc mơ và khoa học
    By badv in forum Kiến Thức Khắp Nơi
    Replies: 3
    Last Post: 01-14-2010, 06:43 PM
  2. Đức tin và Khoa học
    By cdcd in forum Tìm hiểu về Công Giáo
    Replies: 0
    Last Post: 12-03-2009, 11:03 AM
  3. Học chứng khoán không tốn tiền?
    By trungtu in forum Ðầu Tư Cổ Phiếu, Bond, Mutual Funds
    Replies: 14
    Last Post: 07-27-2009, 12:48 PM
  4. Dứt khoát không làm tôi hai chủ
    By noname1234 in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 9
    Last Post: 07-31-2008, 04:17 PM
  5. Xem tin tức về Thị trường chứng khoán ở đâu?
    By trungtu in forum Ðầu Tư Cổ Phiếu, Bond, Mutual Funds
    Replies: 4
    Last Post: 12-24-2007, 06:16 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •