Page 5 of 5 FirstFirst 12345
Results 81 to 92 of 92

Thread: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

  
  1. #81
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    Nghiên cứu bộ gen người liệu có cải thiện được giống nòi người Việt Nam

    TS Vũ Thị Nhuận

    Viện Y khoa, Đại học Tokyo, Nhật Bản



    Trung tâm nghiên cứu dự án HGP của Nhật - Viện Y khoa, ĐH Tokyo Nhật Bản (Ảnh chụp ngày 23/07/2012)

    Gần đây, báo chí đưa tin liên tục về dự án nghiên cứu bộ gen người để hướng tới cải thiện giống nòi Việt Nam do PGS. TS. Nông Văn Hải làm Chủ nhiệm đề tài, với ghi chú “"Dự án khả thi giải trình tự và phân tích bộ gen người Việt Nam" đang được Viện Khoa học và Công nghệ (KHCN) Việt Nam khởi động dưới tài trợ của Bộ KHCN nhằm giúp phát hiện, chẩn đoán, điều trị bệnh và tìm kiếm các gen tốt nhằm cải tạo giống nòi”… Liệu việc đưa ra những tuyên bố trên của một người làm khoa học có quá hồ đồ và có như đang mơ một “giấc mơ lãng mạn” không?

    Tin mới nhất đăng trên báo Người đưa tin ngày 22/07/2012 cho thấy dự án này được đầu tư 30 triệu USD, bằng một nửa số tiền dùng để xây dựng cầu Mỹ Thuận, con số đó có đủ cho thấy mức độ hoành tráng, to lớn và “quan trọng” của nó với quốc gia không? Đây là một khoản đầu tư không hề nhỏ, nhất là trong hoàn cảnh đất nước đang rơi vào tình trạng khủng hoảng về kinh tế với những thất thoát nhiều nghìn tỷ đồng của các tập đoàn Vinashin, Vinaline, dầu khí, EVN,… sức mua giảm rõ rệt, thị trường BĐS và chứng khoán gần như tê liệt. Trong tình hình đó, việc đầu tư khoản tiền 30 triệu USD cho một cái dự án mà cá nhân tôi tạm gọi là “viễn vông” thì rất cần phải xem xét lại. Ở đây, tôi chỉ xin bàn những vấn đề mang tính hết sức phổ quát để những ai thực sự quan tâm có thể nắm bắt một cách dễ dàng.

    Thứ nhất: Dự án Bộ gen người (Human Genome Project - HGP) khởi xướng bởi Bộ Năng lượng Mỹ và Viện Sức khỏe Quốc gia Mỹ, với thời gian ước tính 15 năm và nguồn quỹ dự án đến 3 tỷ đôla được thành lập năm 1990. Bên cạnh đó, còn có sự góp mặt của các nhà di truyền học từ Trung Quốc, Pháp, Đức, Nhật, và Vương quốc Anh.

    Một dự án vô cùng đồ sộ, mang tầm vóc thế kỷ, với sự tham gia của hàng chục nghìn các chuyên gia đầu ngành về di truyền học, sinh học phân tử, sinh hóa, y khoa... làm việc cật lực trong 13 năm (công bố chính thức vào năm 2003) mà họ cũng chỉ dám nói đến mục tiêu của dự án đặt ra là "Mục tiêu cuối cùng của sự kiện này là tìm hiểu về bộ gen Người" và "Sự hiểu biết về bộ gen Người là cần thiết đối với quá trình phát triển của y khoa và các ngành khoa học sức khỏe khác như tri thức về giải phẫu người” chưa dám dùng ngôn từ đao to búa lớn như các nhà khoa học Việt Nam là “cải tạo giống nòi”!

    Cho đến nay, tất cả sáu nước trên chưa nước nào đưa ra bằng chứng là dựa vào hiểu biết về bộ gen người họ có thể “cải thiện” được giống nòi của dân tộc họ, trong khi trình độ, khả năng nghiên cứu của họ đã vượt xa chúng ta hơn 50 năm, thậm chí hàng thế kỷ.

    Thứ hai: cho đến nay, tất cả những nghiên cứu về con người cũng chủ yếu dựa trên những ghi nhận, chuẩn đoán và theo dõi, chưa ai dám đem con người làm vật nghiên cứu thí nghiệm. Việc phát triển những dòng thuốc, nhất là thuốc kháng sinh cũng chỉ dựa trên những chuỗi trình tự protein biểu hiện bệnh với những protein lành tính, từ đó thiết kế các cDNA (complementary DNA), tổng hợp nên những protein tái tổ hợp và rồi thử nghiệm lâm sàng trên các đối tượng như chuột/khỉ/thỏ. Sau đó là sự thử nghiệm trên những người tình nguyện (thường là những người bị bệnh) rồi đánh giá về mức độ tác dụng, phản ứng phụ… Sau khi tất cả những công đoạn trên đều được đánh giá là an toàn hiệu quả thì mới đi đến bước cuối cùng là sản xuất thuốc cho người. Ngoài việc hệ thần kinh của người có có cấu trúc siêu tinh vi rất nhạy cảm với mọi tác động thì vấn đề đạo lý đặt ra làm cho những nghiên cứu về người luôn luôn là vấn đề nan giải.

    Từ khi kỹ thuật di truyền ra đời, nhiều kỹ thuật mới được áp dụng như thử nghiệm di truyền, chuẩn đoán hình sự, các GMO… đã gây lo ngại cho xã hội. Năm 1983, UNESCO đã thành lập Ủy ban quốc tế về đạo lý sinh học IBC (International Bioethics Committee). Tổ chức này đã nêu ra các dự án, thu thập ý kiến để đi đến các luật lệ về đạo đức sinh học. Ủy ban này tuyên bố rằng “Bộ gen người là tài sản chung của loài người”, nó là đối tượng cần được bảo vệ và không ai có quyền sử dụng nó vào mục đích thương mại, cũng như để phân biệt giữa người với người trên các đặc tính về di truyền. Trong việc truyền giống, con người có giá trị ngang nhau. Sẽ có nhiều vấn đề tâm lý – xã hội nảy sinh khi biết rõ về bộ gen người, như chẩn đoán sớm có ảnh hưởng xã hội như thế nào khi biết rằng một số người mạnh khỏe như có mang gen bệnh? Hay việc biết trước người có mang gen bệnh có ảnh hưởng đến tâm lý và hôn nhân trong tương lai của người đó không và con cái họ sẽ như thế nào? Khi biết trước về bộ gen của mỗi người thì xã hội sẽ đối xử với họ như thế nào? Ví dụ, một số người có thể sẽ khó xin việc làm.

    Chúng ta hãy một lần nữa ngắm người phụ nữ nhỏ bé nhất thế giới, cô Stacey Herald (38 tuổi ở Kentucky, Mỹ) với rất nhiều khiếm khuyết về di truyền, chịu chứng bệnh hiếm gặp, khiến xương giòn, phổi kém phát triển và cơ thể ngừng phát triển, cô có thể bị mất mạng khi sinh con. Vậy mà cô luôn được những người hoạt động vì nhân quyền/nhân đạo/y tế trên thế giới ca tụng ngưỡng mộ khi quyết định sinh tới 3 đứa con, với 2 trong 3 đứa mắc căn bệnh giống cô. Trong trường hợp này, liệu “cây đại thụ” chủ nhiệm đề tài, PGS. TS Nông Văn Hải sẽ làm gì, xử lý ra sao với một người phụ nữ “cứng đầu”, quyết tâm để lại những giống nòi “kém chất lượng” của mình cho xã hội?



    Gia đình hạnh phúc của cô Stacey Herald. Ảnh: Internet

    Liệu pháp gen người, theo nghĩa rộng, là sự đưa một hay nhiều gen chức năng vào tế bào người với mục tiêu điều chỉnh những rối loạn do khiếm khuyết di truyền.

    Có hai dạng có khả năng điều trị bệnh di truyền. Thứ nhất, các tế bào sinh dưỡng có thể trở thành mục tiêu để biến nạp gen. Với chiến lược này, việc sửa chữa các khiếm khuyết gen được hạn chế trong các cơ quan hoặc mô riêng biệt. Thứ hai, các tế bào mầm (tinh trùng hoặc trứng) hoặc trứng thụ tinh (hợp tử) có thể được biến đổi gen để tạo một cá thể mang gen trị liệu trong tất cả các tế bào của họ. Hậu quả của liệu pháp gen dòng mầm là sự thay đổi gen được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

    Ngoài ra, đã và đang có rất nhiều tranh luận về tính đạo đức của các thao tác trên gen người. Không có câu trả lời dễ dàng cho các câu hỏi về đạo đức, pháp luật và xã hội được đặt ra cho các ứng dụng của công nghệ sinh học phân tử. Tuy nhiên, vì cuộc đấu tranh quá cao độ nên nhiều vấn đề đang được thẩm định ở khắp nơi. Trong khi đó, J. Lederberg (giải Nobel về y học) bảo vệ quan điểm cần tạo dòng người như phương tiện để sinh sản ra “các cá thể ưu việt”, ông đã bị chỉ trích kịch liệt khi bày tỏ quan điểm trên.

    Sau cái chết bi thương của Jeese Gelsinger 18 tuổi vào năm 1999 do một sản phẩm chuyển gen, quy trình phê chuẩn và giám định các thí nghiệm chuyển gen người được tái lập. Harold Varmus, Tổng giám đốc của NIH (National Institutes of Health), đã giải trình trước Quốc hội Mỹ rằng: “Trong một số tình huống hiếm hoi, nó có thể có lợi như một đứa bé được tạo ra từ tủy sống của người đàn ông bất thụ, khi sử dụng tế bào trứng của mẹ”, tất cả các thí nghiệm chuyển gen người phụ thuộc trực tiếp hay gián tiếp vào quyết định và sự cho phép của NIH.

    Qua nhiều năm, khi nghiên cứu sinh học sinh sản động vật có vú và chuyển gen các loài động vật có vú phát triển, có vẻ như khả năng tạo dòng một con người sẽ thật sự xảy ra vào một thời điểm nào đó trong tương lai. Nhận thức này trở thành hiện thực vào năm 1997, khi cừu Dolly ra đời. Không cần thắc mắc, việc tạo dòng con người đang là một đề tài gây nhiều tranh cãi và bị công kích cao. Đặc biệt khi người ta phát hiện ra rằng tuổi thọ của con người liên quan mật thiết đến cấu trúc đầu mút của nhiễm sắc thể (telomere), cấu trúc này có trình tự TTAGGG với khoảng 500 - 3000 lần lập lại. Sau một lần phân chia, tế bào mất đi khoảng 50 – 200 nucleotide và NST ngắn dần theo số lần nguyên phân. Khi telomere đã ngắn tới một giới hạn nhất định (số lần phân bào thường 50 lần) tế bào vẫn có thể sống nhưng không phân chia hoặc sẽ chết. Enzyme telomerase đặc hiệu giúp duy trì độ dài bình thường của NST, nó hiện diện trong các tế bào phân chia không giới hạn như tế bào sinh dục, ung thư và trong vài kiểu tế bào bình thường như tế bào gốc tủy xương có vai trò cung cấp tế bào mới. Chú cừu Dolly, chỉ có tuổi thọ 6 năm thay vì 12 năm như những con cừu bình thường, ngay khi chú ra đời, sự lão hóa trong vật chất chất di truyền đã là 6 tuổi (vì tế bào dùng làm mẫu nhân bản cừu Dolly là của cừu mẹ 6 tuổi).

    Thứ ba: Bộ gen người đã được biết tới 3 tỷ cặp gốc (base pairs) số lượng tính toán ban đầu thì hiện có khoảng 22.000 – 23.000 genes trong bản đồ gen người, với đa số là giống nhau giữa các tộc người vì tất cả cá thể người trên thế giới đều thuộc chung một loài (Homo sapiens). Nhiều nghiên cứu đã công bố các tính trạng về chiều cao, màu da, nhóm máu,… thường là do rất nhiều gen tương tác nhau quy định. Vậy kết quả nghiên cứu của Viện CNSH - Viện KHCN quốc gia như đã công bố: “Đến nay, các nhà khoa học, chuyên gia nghiên cứu về gen của Viện đã giải mã được 16.000 gen ty thể của 9 cá thể thuộc 3 dân tộc Kinh, Tày, Mường, xây dựng cơ sở dữ liệu ban đầu về hệ trình tự gen người Việt Nam” có phải là lặp lại những việc mà các nhà khoa học khác đã công bố? Với những bước nhảy vọt của lĩnh vực sinh học phân tử, người ta còn nhận diện ra sự khác biệt về di truyền tới mức cá thể, thông qua các ứng dụng như truy nhận huyết thống cha con, anh chị em, truy tìm liệt sỹ… tại sao chỉ là Kinh, Mường, Tày đã là đủ dữ liệu về hệ trình tự gen người VN mà thiếu hẳn mẫu cho người Hoa, Khơme, Chăm…?

    Giả sử dự án thành công, các nhà khoa học của VN phát hiện ra các gen quy định về chiều cao, trí thông minh, tuổi thọ… thì các nhà khoa học VN sẽ xử lý các gen/nhóm gen đó như thế nào? Và ai, ai sẽ là người được thụ hưởng thành công ấy? Tất cả dân VN ư? Hoang đường! Vậy ai sẽ là người chịu làm vật thí nghiệm “cho lai ghép/xử lý” để họ được cải thiện giống nòi của họ?

    Như vậy nếu cuối cùng chỉ là làm lại những việc mà thế giới đã làm rồi, hoặc nghiên cứu rồi để đó (chưa biết độ tin cậy là bao nhiêu phần trăm), không thể cải thiện, áp dụng để nâng cao giống nòi cho người VN thì liệu đó có phải là một sự đầu tư lãng phí của nền khoa học nước nhà?

    Một số tài liệu tham khảo:

    1. http://www.cancer.gov/aboutnci/director/biography

    2. http://en.wikipedia.org/wiki/Human_Genome_Project

    3.http://www.nguoiduatin.vn/viet-nam-c...oi-a49743.html

    4. http://en.wikipedia.org/wiki/Jesse_Gelsinger

    5. http://www.dailymail.co.uk/news/arti...ber-three.html

    6. http://en.wikipedia.org/wiki/Dolly_(sheep)

    7.http://www.nguoiduatin.vn/viet-nam-c...oi-a49743.html

    V.T.N.

    Tác giả gửi trực tiếp cho BVN
    Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 01:40
    Nhãn: Khoa học
    Lannguyen

  2. #82
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    Isaac Newton (1642 - 1726)
    MỘT THIÊN TÀI VĨ ĐẠI SỐNG CÔ LIÊU TRÊN TRÁI ĐẤT ĐỂ TÌM RA MỘT LUẬT CHI PHỐI TINH TÚ Ở TRÊN TRỜI


    Nguyễn Hiến Lê



    “Let men rejoice that so great a glory of the human race has appearred”
    “Loài người nên hoan hỉ rằng một vinh quang lớn lao bực ấy của nhân loại đã xuất hiện” (Hàng chữ khắc trên mộ của Newton tại điện Westminster).
    “Tôi có cảm tưởng rằng tôi chỉ là một em bé chơi đùa trên bờ biển và thỉnh thoảng lượm được một hòn cuội nhẵn hơn hoặc một cái vỏ sò đẹp hơn những cái người ta thường tìm thấy, trong khi đó biển chân lý mênh mông trải ra trước mặt nó, vẫn hoàn toàn bí mật, chưa hề bị xâm phạm”
    Newton

    Đọc hai câu tôi trích dẫn ở trên, độc giả thấy một sự tương phản rõ rệt. Không có một nhà bác học nào được thế giới ngưỡng mộ như Newton: danh ông chói lọi hơn Aristote thời thượng cổ, hơn Descartes ở thế kỷ XVII, hơn cả Einstein gần đây; vậy mà lời tự xét của ông nhũn nhặn đến thế! Ông tìm ra được một luật chi phối tính tú, mà ông chỉ tự cho mình là một em bé trước sự bí mật vô biên của vũ trụ. Không phải là ông giả nhũn nhặn đâu. Phải có một bộ óc sáng suốt như ông mới thấy rằng tất cả những cái hiểu biết của nhân loại so với những cái chưa hiểu biết, chỉ như một hòn cuội so với đại dương.

    Vị thiên tài đó sống một đời cô độc. Ông thọ 84 tuổi mà hình như chỉ có mỗi một lần, hồi 17, 18 tuổi, yêu một thiếu nữ rất đẹp, cô Storay, yêu mà không dám ngỏ lời, yêu một cách rất thuần khiết, lý tưởng, rồi thì thôi, suốt đời ở độc thân.
    Ông cô độc ngay từ hồi mới sanh. Phụ thân ông mất năm 37 tuổi, trước khi ông ra đời. Mẫu thân ông là một người nhà quê rất tầm thường. Xem kỹ gia phả bên nội bên ngoại ông, không thấy có một người nào thông minh xuất chúng cả. Ông hình như ở trên trời lạc xuống cõi trần, không được hưởng một chút di truyền gì của tổ tiên, và khi ông mất thì dòng dõi ông cũng tuyệt.

    Cả về phương diện tài năng, ông cũng cô độc nữa. Pierre Rousseau trong cuốn Histoire de la Science (Lịch sử khoa học) do nhà Arthème Fayard xuất bản năm 1949, gọi thế kỷ 18 là thế kỷ của Newton vì tài của ông vượt lên trên tất cả những nhà khoa học đương thời, bao trùm hết cả công việc của họ, mở những khu vực mênh mông cho người thời sau khám phá. “Ông như con đại bàng bay lượn lên cao, không có gì ở mặt đất mà không thấy”.

    Ông sinh thiếu tháng trong đêm Nô-en năm 1642, ở làng Woolsthorpe (Anh); nhỏ xíu, yếu ớt, có thể đặtnằm gọn trong cái bình một lít được. Cô mụ lắc đầu bảo: “Thằng nhỏ này khó nuôi”. Vậy mà ông vẫn sống, lại sống lâu nữa. Đặc biệt nhất là cái đầu của ông, nó nặng quá, cổ đỡ không nổi, người nhà phải làm một cái cổ giả bằng da cứng; đến khi lớn tuổi, đi học rồi, ông vẫn phải đeo cái cổ giả đó, và bạn bè chế giễu ông là thằng “đầu đá”. Mới đầu ông còn nhịn, sau chúng làm quá, ông nổi giận, sấn vào đánh tới tấp một đứa lớn hơn ông. Từ đó chúng kệch. Tưởng ông yếu ớt, ngờ đâu ông mạnh như vậy.

    Nhưng ông chưa tỏ ra vẻ gì thông minh cả, mới đầu học trường xóm, rồi lên trường lớn ở Grânthm. Tư chất đã tầm thường mà lại không ham học, nên thường đội sổ. Không có bạn thân, suốt ngày lầm lì, chỉ lúc nào hí hoáy làm đồ chơi là mặt tươi lên một chút. Thích tẩn mẩn làm những cái diều, những cái đèn bằng giấy, hoặc chế tạo những cái đồng hồ bằng nước, những cái xe con con để đẩy, những cái cối xay lúa cho chuột kéo, những cái nhật quỹ để đo bóng mặt trời mà tính giờ. Ai cũng bảo cái ngữ đó, sau có giỏi thì chỉ làm được thợ máy, đốc công là cùng.

    Không ngờ sau vụ hạ một đứa bạn đã chế giễu ông, lòng tự ái phát triển, ông gắng học để hơn chúng, tuy chẳng đứng đầu lớp, nhưng cũng vào hạng khá khá. Thấy vậy, mẫu thân ông cho tiếp tục học nữa và năm mười chín tuổi ông thi đậu vô một trường có tiếng, trường Cambridge.

    Lúc đó ông đã có khiếu về toán, mấy năm trước cặm cụi tự học môn toán, rồi vô trường, lại may mắn gặpđược một nhà toán học có danh là giáo sư Isaac Barrow.
    Thế kỷ 18 ở bên Anh, các trường Đại học không bắt buộc sinh viên phải theo một chương trình nhất định như ngày nay. Ai muốn học môn nào tùy ý. Và Newton chỉ thích môn hình học, đọc hết sách của Euclide và của Descastes. Ông Isaac Barrow, một người phiêu lưu khắp Pháp, Ý, có lần sống ở Constantinople, có lần lại đánh nhau với bọn hải tặc Alger, tác giả một cuốn về Quang học, tỏ vẻ mến Newton, khen là “Có khả năng xuất chúng và một cái tài đặc biệt”. Nhưng sinh viên “xuất chúng” đó vẫn chẳng hơn ai trong các kỳ thi: năm thi vô Cambridge, lấy 24 người thì ông đậu thứ 24, rồi năm thi ra để lấy bằng thạc sĩ, thì ông lại chiếm chỗ của Tôn Sơn một lần nữa: đậu thứ 11 trong số 11 thí sinh.

    Newton học ở Cambridge được một, hai năm thì trường đóng cửa vì Luân Đôn bị bệnh dịch hạch. Lần đó là một thiên tai ghê gớm nhất trong lịch sử châu Âu. Chỉ trong có ba tháng, thần chết đã hái hết một phần mười dân số Luân Đôn. Ai nấy xanh mặt, đóng cửa im ỉm, nhà nào có người chết thì quét vôi trắng ở cánh cửa, đêm đêm những xe ngựa lọc cọc nối hàng nhau chở quan tài và thây ma dưới ánh sáng yếu ớt của những ngọn đuốc. Các trường học đều bãi khóa. Dân chúng rủ nhau tản cư về miền quê. Mà bệnh dịch vẫn tiếp tục hoành hành, gần hai năm như vậy, mãi đến khi có người đốt một tiệm bánh mì, cho hỏa hoạn lan ra 400 ngõ hẻm ở châu thành, thì tai nạn mới diệt được. Tính ra trước sau có đến trên mười vạn người chết!

    Newton phải nghỉ học, về Woolsthrope để “trầm tư mặc tưởng” mười tám tháng trong trại ruộng của mẫu thân. Ông bỏ hết cả sách vở lại Luân Đôn, đi chơi khắp đồng quê, thấy cái gì cũng nhận xét, suy nghĩ. Chính trong thời gian đó ông đã đặt được cơ sở cho học thuyết của ông sau này: ông đã tìm ra được luật vũ trụ dẫn lực (gravitation universelle), đặt ra môn vi tích toán (cacul infinitésimal) và lập ra một thuyết mới về quang học. Lúc ấy ông mới hai mươi ba, hai mươi bốn tuổi.

    Ông chỉ mới tìm ra lý thuyết, chứ chưa chứng thực được. Vả lại tánh vốn nhút nhát, không ưa sự quảng cáo, tranh biện, chỉ sợ bị chỉ trích, lắm lúc ngờ vực mọi người, nên ông không khoe với ai cả.

    Khi bệnh dịch đã hết, Newton trở về Luân Đôn học tiếp, đem những thuyết của mình ra bàn với thầy là giáo sư Barrow. Barrow nhận thấy thiên tài của ông, lúc về hưu đề nghị cho ông lên thay, nhờ vậy mới hai mươi sáu tuổi Newton đã chiếm được một ghế giáo sư ở Giảng đường đại học Cambridge. Ông giữ ghế đó luôn ba mươi năm, không lập gia đình, về già ở với một người cháu gái, không giao thiệp với ai, suốt ngày tính toán, nghiên cứu.

    Công việc của ông rất nhàn: mỗi tuần chỉ dạy có một giờ. Mà ông dạy lại rất dở, chẳng đào tạo nổi một nhà bác học nào hết, giảng bài thì sinh viên không hiểu cho nên lớp học rất thưa thớt. Có lần ông tới Giảng đường, thấy vắng hoe, chẳng có ma nào tới nghe, ông khoan khoái, xoa tay bước về nhà, tiếptục chế tạo một ống kính viễn vọng để ngắm trăng, sao.

    Hồi ba chục tuổi tóc đã bạc nhiều, nhưng cặp mắt rất sáng, vẻ mặt thanh tú, rất ít ốm đau. Trực giác của ông rất cao, không cần phân tích dài dòng mà có thể đi sâu ngay vào vấn đề, bao quát mọi phương diện. Kinh khủng nhất là khả năng tập trung tư tưởng của ông. Ông có thể suy nghĩ liên tục suốt ngày về những vấn đề cực kỳ phức tạp, rồi một khi ý gì xuất hiện ông chạy ngay lại bàn viết, cứ đứng mà viết hàng giờ, không cần ngồi. Ông thường quên thì giờ, quên ăn, quên ngủ. Rất ít khi đi ngủ trước hai giờ khuya. Pierre Rousseau bảo lúc làm việc thì những nhu cầu thể chất của ông biến hết: cái con người ông không cần nữa.
    Người ta kể chuyện có lần ông đãng trí mời bạn đến dùng cơm tối mà rồi ông mải làm việc, quên bẵng đi. Người bạn tới, đợi hoài không thấy chủ nhà đâu cả, chỉ thấy một con gà luộc còn nóng đặt trên bàn, dưới một cái chuông úp, cắt gà ra ăn một mình, để phần một nửa cho Newton. Mấy giờ sau, Newton mới ở trong phòng viết bước ra, chẳng chào hỏi gì bạn, chỉ kêu đói quá, mở cái chuông lên, ngạc nhiên, thốt: “Ủa, tôi cứ tưởng là tôi chưa ăn, không ngờ đã ăn hết nửa con gà rồi!”

    Câu chuyện đó có thể chỉ là một giai thoại bịa đặt. Điều chắc chắn là chính Newton cũng nhận rằng một khi đã nghĩ về một vấn đề nào thì cứ phải nghĩ hoài cho tới khi giải quyết xong mới thôi. Ông bảo:
    “Óc tôi không có gì là minh mẫn đặc biệt mà chỉ có một khả năng suy nghĩ khá mạnh. Sở dĩ tôi phátminh được ít nhiều là nhờ tôi chịu nghĩ hoài về một vấn đề, để cho những tia sáng hiện ra lần lần đến khi thành một ánh sáng rực rỡ mới thôi”.

    Đọc đoạn dưới về sự tìm tòi ra luật vũ trụ dẫn lực, độc giả sẽ thấy lời đó là đúng.

    Năm 1672, ông chế tạo được một kiểu kính viễn vọng có gương. Tuy hình còn thô sơ nhưng quy tắc đã gần hoàn hảo, và những kiếng viễn vọng tối tân nhất hiện nay cũng vẫn còn áp dụng kiểu của ông. Hội Phát triển Khoa học Vạn vật ở Luân Đôn đặt ông chế tạo một cái cho hội, rồi lại bầu ông làm hội viên, yêu cầu ông tuyên bố những thí nghiệm của ông về quang học cho hội hay.

    Từ trước người đã biết rằng ánh sáng mặt trời chiếu qua một tam lăng kính (prisme) thì thành bảy thứ ánh sáng, mỗi thứ một màu, những màu mà ta thấy trên cầu vồng. Newton suy nghĩ về hiện trạng đó rồi tính toán, lập ra một thuyết rằng ánh sáng phát ra nhờ những phần tử rất nhỏ. Thuyết đó, người đồng thời ông không ai bác được, nhưng hội Vạn vật học ở Luân Đôn cũng cứ la ó rầm lên vì nó khác hẳn những thuyết cũ của Euclide, Archimède, Descartes. Cũng ở thế kỷ XVIII, Huyghens đặt ra một thuyết khác: ánh sáng truyền đi xa được là nhờ những luồng sóng (quang ba); về sau Fresnel, Maxwell lại lập ra những thuyết khác và hiện nay nhiều nhà bác học vẫn đương nghiên cứu, chưa ai dám quả quyết là nắm chắc được chân lý. Vậy mà các bạn của ông trong hội Vạn vật học chế giễu ông, mỉa mai ông, làm cho ông chua chát, than thở:
    - Tôi thấy rằng có ý gì mới thì đừng nên đưa nó ra, hoặc nếu đưa ra thì phải làm mọi cho những ý mới của mình mà chống đỡ nó cho tới cùng.
    Từ đó ông lại càng chán ghét, không muốn tuyên bố gì cả. Nhưng ông vẫn tiếp tục nghiên cứu.

    Ông muốn yên ổn sống, song không được. Năm 1684 Leibniz phát minh được một môn toán, môn vi tích. Chúng tôi không muốn giảng, dù là giảng rất sơ sài về môn này, sợ chỉ làm cho một số đông độc giả thêm ngán. Chúng tôi chỉ thưa rằng nó là một môn hơi cao, dạy cách tính những vật nhỏ li ti, không có trong chương trình trung học, nhưng rất cần thiết cho khoa học, không hiểu nó thì không thành một kỹ sư giỏi được. Đồ đệ của Leibniz, đem truyền bá môn đó ở các nước châu Âu và xuất bản một cuốn nhan đề là Analyse des infiniment petits (Phân tích những cái vô cùng nhỏ). Năm 1693, Newton hay tin đó, rất bực mình vì chính môn toán đó ông đã phát minh từ hồi ngoài 20 tuổi, non ba chục năm trước rồi, bây giờ có kẻ ra sau ông tranh mất danh của ông. Đến khi môn toán của Leibniz đem dạy ở ngay Luân Đôn thì cuộc xung đột bùng nổ. Người Anh bảo rằng Newton đã phát minh và Leibniz đã “đạo toán” của ông. Leibniz cãi lại rằng nếu Newton phát minh trước, sao không tuyên bố, không in sách? Lời qua tiếng lại luôn mấy năm.

    Ông Robert Strother, trong bài Sir Isaac Newton à la découverte de l’Univers (tạp chí Sélection du Reader’s Digest số tháng 10 năm 1955) bảo rằng một đồ đệ của Leibniz, tên là Jean Bernouilli - nhà toán học Thụy Sĩ - tìm ra một cách để giải quyết vụtranh chấp giữa Anh và Đức đó: ông ra hai đầu bài toán cho Newton và Leibniz giải xem ai hơn ai kém. Kỳ hạn là một năm.

    Leibniz giải được một bài, đương giải bài kia, thì hết hạn. Còn Newton giải xong cả hai bài trong hai mươi bốn giờ, rồi gởi cho Hội nghiên cứu Vạn vật học ở Luân Đôn để đem in mà ký tên là vô danh. Bernouilli đọc bài giải của Newton, chua chát nhận rằng: “Chỉ trông thấy bàn cẳng đã biết ngay là loài sư tử rồi”.
    Giai thoại đó không thấy chép trong sách khác, nên tôi ngờ là truyện bịa.

    Bây giờ đây các nhà bác học có đủ tài liệu để xử vụ đó, đều nhận rằng không có ai “đạo” của ai hết. Mỗi người ở một nơi, và cùng đi đến mục đích, do những con đường hơi khác nhau. Con đường của Newton không tiện lợi mà Leibniz có công đăng kết quả trên báo, đào tạo đồ đệ, còn Newton cứ khép cửa tháp ngà, nên cái danh đó phải trả lại cho Leibniz, và hiện nay các nhà toán học đều theo phương pháp của Leibniz.

    Mà có trả cho Leibniz thì cũng chẳng thiệt gì cho Newton cả vì chỉ một sự phát minh ra luật vũ trụ dẫn lực cũng đủ cho thế giới đặt ông ngang hàng với các bậc thánh.

    Chắc nhiều vị độc giả đã được nghe truyện trái táo của Newton. Tôi còn nhớ các nhà cách mạng của ta hồi ba, bốn chục năm trước thường dùng chuyện đó để cảnh tỉnh đồng bào, và có một lần tôi đã mắc cỡ đến đỏ mặt vì nó.
    Hồi ấy, tôi mới đậu bằng cấp tiểu học, mà ở một làng hẻo lánh tại Sơn Tây vào năm 1926 thì đậu bằng tiểu học đã là có hạng lắm rồi. Người làng gọi tôi là “cậu giáo” mặc dầu tôi vẫn còn đi học. Một hôm, trong một đám giỗ, đông đủ họ hàng và hương chức trong làng, bác tôi hỏi tôi có biết truyện quả táo tây của Ngưu Đốn không.

    Tôi bí, mà lại nói toạc cái dốt của mình ra:
    - Thưa bác, con không biết Ngưu Đốn là ai.
    Bác tôi mỉm cười:
    - Giáo gì mà ngu thế? Không biết Ngưu Đốn là ai? Một nhà bác học danh tiếng bậc nhất châu Âu mà mày không biết? Tao chẳng học tiếng Tây tiếng u gì mà tao cũng biết. Để tao kể cho mày nghe chuyện quả táo của Ngưu Đốn.



    Nghe xong, tôi phục bác tôi lắm, nhưng quả thực là xấu hổ với họ hàng, làng mạc. Sau này lớn lên, đọc bộ Ẩm băng thất của Lương Khải Siêu tôi mới biết rằng bác tôi hiểu được ít nhiều về văn minh phương Tây đều là nhờ nhà cách mạng họ Lương của Trung Hoa. Họ Lương đem truyện trái táo của Newton để mắng dân Trung Hoa là có mắt mà như đui, nghĩ là chỉ biết nhìn những cái phù phiếm, những mũ cánh chuồn, những cân đai võng lọng, chứ không biết nhìn như Newton nhìn trái táo, nên chẳng phát minh ra được cái gì cả, đến nỗi cái thứ thuốc mà tổ tiên họ tìm ra từ hồi xửa hồi xưa, chỉ để làm pháo đốt chơi cho phí tiền thì người Âu biết cái thiện, chế ra đạn đại bác để đánh bại họ trong trận Nha phiến. Tôi sợ bác tôi và nhà cách mạng họ Lương quá. Độc giả thử nghĩ coi: mắt mình đương to như vậy, các cụ mắng rằng mình đui, mà mình không cãi vào đâu được, thì làm sao mà chẳng bái phục kia chứ!

    Về câu chuyện trái bơm đó có nhiều thuyết lắm. Nhiều sách chép rằng một người cháu gái của Newton, bà Conduitt, kể cho Voltaire trong một buổi chiều nọ - có sách bảo là một đêm trăng, - rằng trong lúc trốn bệnh dịch hạch, tản cư về quê nhà, Newton thấy một trái táo từ trên cây rụng xuống. Ông bèn tự hỏi “Tại sao trái táo thì rụng mà mặt trăng lại không rớt nhỉ?”

    Rồi ông suy nghĩ, tìm ngay ra được luật vũ trụ dẫn lực, mà người ta còn gọi là luật Newton. Hình như về già, ông có kể chuyện đó lại cho một bạn thân là ông William Stukely, bảo rằng trái bơm đó làm cho ông ngờ rằng trái đất có một sức hút nó; mà trái táo cũng có một sức hút trái đất, nhưng trái đất lớn hơn nhiều, nên sức hút nó thắng sức hút của trái táo và trái táo rớt xuống đất đúng theo cái hướng về trung tâm trái đất.

    Nhưng có nhiều người cho truyện đó là hoang đường, người ta bịa ra, gán cho nhà thiên văn học Képler, rồi lại gán cho Newton. Nhà toán học Đức Gauss (1778 - 1855) nghe được đã nổi giận, bảo: “Đồ điên! Sự thực là như vầy: có kẻ muốn bợ Newton hỏi ông làm sao đã tìm ra được luật vũ trụ dẫn lực, Newton thấy óc hắn còn non nớt, không sao hiểu nổi, muốn đuổi hắn đi cho khỏi mất thì giờ, nên đáp: “Nhân một trái táo rớt đúng vào mũi tôi, mà tôi tìm ra được luật ấy””.
    Không biết thuyết nào đúng, nhưng điều chắc chắn là Newton tuy không được hưởng một chút di truyền gì của tổ tiên, như tôi đã nói ở trên, ít nhất cũng đã chịu ảnh hưởng những tư tưởng của nhà bác học tiền bối. Trước ông, Copernic và Képler đã ngờ rằng tinh tú có sức hấp dẫn nhau; rồi người Ý Borelli, người Pháp Bouilliaud, các người Anh Wren, Halley và Hocke đã đoán rằng sức hấp dẫn đó thay đổi tùy theo các tinh tú cách nhau xa hay gần, hễ khoảng cách tăng lên gấp đôi thì sức hấp dẫn nhỏ đi, còn có một phần chín. Nhưng họ chỉ đoán lờ mờ như vậy thôi, chứ không chứng thực nổi. Đọc lịch sử khoa học, ta thấy rằng một thiên tài dù là “trên trời rớt xuống” như Newton, nếu không sinh đúng cái thời thuận tiện, có người trước mở đường, được người đồng thời có một trình độ đủ hiểu mình, lại có đủ phương tiện để làm việc, thí nghiệm thì không thể nào phát minh được một thuyết mới. Có khi gặp thời đã chín mùi, một ý mới nào đó xuất hiện ở nhiều nơi một lúc - người Pháp bảo là ý đó “bàng bạc” trong không trung - và hai nhà bác học ở xa nhau, không liên lạc gì với nhau, cùng nghiên cứu một vấn đề, cùng tìm ra được một kết quả, tức như trường hợp lập ra môn vi tích toán của Newton và Leibniz.

    Vậy ở thế kỷ XVIII, luật vũ trụ dẫn lực đã có nhiều nhà mờ mờ thấy rồi và Newton có tài hơn hết thẩy nên đã tìm ra được rồi chứng thực được. Nếu câu chuyện trái táo có thiệt thì chắc ông đã suy nghĩ như vầy:
    “Trái táo ở trên cây rớt xuống; nhưng nếu cây đó cao hơn trăm, ngàn lần nữa thì trái có rớt không? Sức bí mật nó hút mọi vật về trái đất đó, có ảnh hưởng gì tới những vật cách trái đất cả trăm ngàn cây số không? Chẳng hạn, mặt trăng cách trái đất 384.000 cây số, có bị trái đất hút không? Chắc là có. Nhưng như vậy tại sao mặt trăng không rớt mà cứ chạy vòng vòng trên không trung? Vậy thì có một sức gì khác nữa ảnh hưởng đến mặt trăng?...”

    Rồi ông giả thiết một luật: tất cả các vật trong vũ trụ đều hút lẫn nhau, vật càng lớn thì hút càng mạnh, lớn gấp hai, gấp ba thì sức hút mạnh gấp hai gấp ba; vật càng xa thì hút càng yếu, nếu xa gấp hai thì sức hút chỉ còn một phần tư, xa gấp ba thì sức hút chỉ còn một phần chín; nói theo nhà toán học thì sức hút thay đổi tỉ lệ thuận với trọng khối, và theo tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách nhau của các vật.

    Muốn thử xem luật đó đúng không, ông tính sức hút lẫn nhau của mặt trăng và trái đất. Nhờ những người trước đã tính sẵn, ông biết khoảng cách của mặt trăng với trái đất: nó bằng sáu chục lần bán kính trái đất.

    Ông lại biết được bán kính mặt trăng, do đó biết được trọng khối của nó; nhưng còn bán kính trái đất thì chưa biết chắc. Snellius năm 1617 và Norwood năm 1633 đã đo bán kính đó, kết quả khác nhau khá nhiều mà đem dùng để thử luật của ông thì sai bét. Ông bỏ, không nghiên cứu vấn đề đó nữa, quay về môn quang học. Nhưng ông vẫn không thể không nghĩ hoài đến nó được. Ông đợi đến năm 1682. Trong một phiên họp của hội Vạn vật học Luân Đôn, một ông bạn cho hay người Pháp Picard đã đo được trái đất một cách rất đúng, đúng hơn người trước nhiều. Ông hỏi ngay: Picard cho bán kính trái đất là bao nhiêu toise (thước hồi xưa, bằng 1,949 mét). Đáp: 3.269.000 toise. Ông vội vàng ghi con số đó, về nhà thử lại bài toán về luật vũ trụ dẫn lực. Làm gần xong, thấy luật đúng quá, ông mừng rỡ, cảm động đến nổi không đủ bình tĩnh để làm nốt, phải nhờ bạn làm tiếp. Ít bữa sau ông thử đi thử lại. Thế là tháng sáu năm 1682, một phát minh lớn lao nhất của nhân loại đã xuất hiện.

    Nhưng ông vẫn chưa vội tuyên bố, bỏ ra bốn năm nữa, tính toán suốt ngày, áp dụng luật đó vào các hành tinh khác, cũng lại đúng nữa, áp dụng vào hiện tượng thủy triều, cũng vẫn đúng. Lúc đó (1686) ông mới nghĩ tới việc tuyên bố kết quả. Một người bạn sẵn sàng bỏ tiền ra in cho ông, nhan đề là Quy tắc (Principles). Sách cao quá, cả châu Âu thời đó chỉ có độ ba, bốn người đọc mà hiểu rành được. Năm đó ông 44 tuổi, tính ra đã suy nghĩ về vấn đề đó non 20 năm. Vậy chẳng những ông được hưởng cái công của người trước mà còn được hưởng công của một người Pháp đồng thời với ông nữa. Khoa học quả thực là chung của nhân loại chứ chẳng phải của riêng nước nào.

    Đúng một trăm sáu mươi năm sau khi tập Quy tắc ra đời, người ta mới thấy luật vũ trụ dẫn lực của Newton hiệu nghiệm ra sao. Một nhà thiên văn Pháp, tên là Le Verrier, không dùng kính viễn vọng đểngắm trời, chỉ cặm cụi tính trong phòng giấy, luôn trong mười một tháng, áp dụng luật Newton, bôi đầy 10.000 trang toán - kinh hồn chưa! - rồi tuyên bố với thế giới rằng, ở nơi đó trên trời phải có một hành tinh nhỏ mà mắt trần không thấy. Các nhà thiên văn nhao nhao lên, đồn tin đó như trước đây chúng ta đồn tin hỏa tiễn lên cung trăng vậy. Galle, nhà bác học Đức, hay tin ngày 26 tháng 9 năm 1846, vội vàng ngay đêm ấy, chĩa kính viễn vọng về điểm mà Le Verrier đã chỉ, quả nhiên thấy một hành tinh, mà người ta đặt tên là Neptune. Bộ óc của loài người nhỏ chỉ bằng nắm tay mà vĩ đại thật!

    Tập Quy tắc tuy chỉ có ba bốn người hiểu, nhưng đã làm cho mọi người thán phục. Sau này Laplace bảo: “Cuốn sách đó sẽ còn là một công trình bất hủ, thâm thúy của một thiên tài đã phát lộ cho ta cái luật lớn lao nhất của vũ trụ.” Còn Lagrange thì có vẻ như ghen tuông, thở dài: “Newton đã sung sướng quá, có một vũ trụ để mà giảng! Khổ thay! Không còn một vũ trụ thứ nhì nữa!” Ý ông muốn nói: “Không có một vũ trụ thứ nhì để ông khám phá, tìm ra luật nữa như luật của Newton”. Voltaire thì hồn thơ lai láng. hỏi rằng những thánh thần ở trên cao kia, có ghen với Newton vĩ đại không?

    Confidents du très Haut, substances éternelles,
    Parlez: du grand Newton, n’étiez vous pas jaloux?



    Danh ông vang lừng. Năm 1688, viện Đại học Cambridge bầu ông vào Quốc hội đại diện cho viện. Nhưng nhà bác học thiên tài của chúng ta là một nghị sĩ rất tồi, hạng nghị câm. Suốt hai năm ở Quốc hội ông chỉ mở miệng có mỗi một lần, không phải để phát biểu ý kiến gì cả mà chỉ để bảo kẻ môn lại đóng giùm cho ông cái cửa sổ.

    Năm 1693, ông được bổ nhiệm chức Giám đốc ngân khố, lương rất cao, 30.000 quan mỗi năm. Ông không có tài gì về hành chánh nhưng làm việc rất cần mẫn, bảo: “Tôi không muốn cho người ta ngờ rằng tôi đem thì giờ làm việc công để làm việc tư”.

    Lạ lùng hơn nữa là ông rất lý tài, khéo làm ăn, dành dụm, mặc dầu chẳng có con cái gì cả mà chết đi cũng để lại được một gia tài rất lớn: ba mươi hai ngàn bảng Anh. Người ta chê ông hơi ích kỷ, không có bạn thân, và không có lòng thương người - hình như khi bộ óc phát triển quá thì con tim cũng chịu ảnh hưởng mà teo lại - có kẻ lại xấu miệng bảo ông là hà tiện, suốt đời không hút một điếu thuốc, nhưng ông đáp rằng dại gì mà tạo thêm một nhu cầu mới.
    Năm 1705, Hoàng hậu Anh làm lễ phong hầu cho ông. Ông là nhà bác học đầu tiên của Anh được vinh dự đó. Hàn lâm viện Ba-lê tặng ông một ghế trong số tám ghế dành cho người ngoại quốc.

    Nhưng có lẽ vì bao nhiêu tinh anh đã phát tiết hết, nên từ hồi 48 tuổi ông không nghiên cứu gì được nữa. Có lần chỉ trông thấy một ngọn cỏ dại trong vườn ông cũng nổi cơn điên lên. Nhiều khi ông lảo đảo quay tròn, tỉnh rồi, chép trong nhật ký: “Tôi đâm ra oán ghét khoa học”. Ông nghỉ ngơi ba năm, đếnnăm 1695, hết bệnh điên, nhưng không làm việc tinh thần nặng nhọc nữa.
    Ông thọ 84 tuổi, trong hai chục năm cuối, bị chứng bệnh có sạn trong mật. Khi nổi cơn lên, ông đau dữ, toát mồ hôi, nhưng can đảm chịu, không rên, không kêu; và cơn qua rồi thì ông lại vui vẻ như thường.

    Ông mất ngày 20-3-1726. Triều đình Anh làm lễ quốc táng, đặt ông nằm chung với các vua chúa Anh ở điện Westminster. Đó không phải là một vinh dự cho ông mà cho Hoàng gia Anh. Trên mộ có khắc hàng chữ tôi đã dẫn ở đầu bài này:
    “Loài người nên hoan hỉ rằng một vinh quang lớn lao bực ấy của nhân loại đã xuất hiện”.

    Trong số người đi sau linh cữu, ngoài bậc vương, hầu, các nhà khoa học, các danh nhân Anh, còn có một văn sĩ Pháp: Voltaire. Vì bạt tai quận công De Rohan, ông bị đày qua Anh. Thấy đám tang cực kỳ long trọng, ông ngạc nhiên tự hỏi: “Newton có công lao gì mà được cái vinh dự đó?”.

    Về nhà ông tra cứu, tìm hiểu sự nghiệp của Newton, viết tập Những bức thư ở Anh (Lettres anglaises, cũng có tên là Lettres philosophiques) đả đảo chánh quyền Pháp, coi vua Pháp ngang hàng với mình, và hô hào đồng bào đừng tin phương pháp lý luận của Descartes mà nên theo phương pháp thực nghiệm của Bacon và Newton.
    Năm 1734 trở về cố hương, ông xuất bản ngay tập đó, gây một cơn dông dữ dội. Triều đình Pháp tịch thu sách đem đốt, ông phải trốn ở Lorraine với “người đẹp” là bà Du Châtclet. Hình như bà cũng chẳng đẹp gì lắm, đã hai mươi chín cái xuân xanh, có chồng, mặt thon, răng hư mà ngực lép. Nhưng bà thông minh, thích khoa học, nhất là môn vật lý và thiên văn. Ở Lorraine bà thì dịch tập Quy tắc của Newton, còn ông thì soạn một cuốn nhan đề là Toát yếu triết học Newton (Eléments de la philosophie de Newton). Nhờ vậy mà những phát minh của Newton được truyền bá rất mau ở Pháp. Thực là không ngờ một cái bạt tai lại có ảnh hưởng lớn bậc ấy đến khoa học.

    Nguyễn Hiến Lê
    www.tapchithegioimoi.com
    Lannguyen

  3. #83
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    Thịt Gây Bệnh Ung Thư



    Theo tờ báo Reuter, những người ăn nhiều thịt đỏ (red meat) và thịt được biến chế (processed meats), có nguy cơ dễ bị nhiều thứ bệnh ung thư, như ung thư phổi và ung thư ruột già, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ báo cáo hôm thứ Hai, ngày 10 tháng 12 năm 2007.
    Đây là công việc nghiên cứu lớn đầu tiên cho thấy sự liên hệ giữa thịt và ung thư. Cuộc nghiên cứu này cũng cho biết những người ăn nhiều thịt cũng dễ bị bệnh ung thư gan và cổ họng, còn đàn ông thì dễ bị ung thư tụy tạng.

    Giảm ăn thịt có thể làm giảm bị ung thư trong nhiều cơ quan. Dr. Amanda Cross và cộng sự viên tại Viện Ung thư Quốc gia ở Hoa Kỳ viết trong tờ báo cáo, xuất bản tại Public Library of Science Journal PLoS Medicine.

    Thịt đỏ ở đây được định nghĩa là tất cả các loại như thịt bò, thịt heo, và thịt cừu. Còn thịt biến chế gồm: thịt ba rọi, thịt nhồi (sausage), thịt nguội (cold cut), thịt heo quay (ham) và hầu hết các thứ hot dogs, gồm cả hot dogs làm bằng thịt gà tây.

    Các nhà nghiên cứu đã học hỏi 500,000 người, tuổi từ 50 tới 71. Những người này tham gia vào cuộc nghiên cứu về cách ăn uống và sức khỏe. Sau tám năm nghiên cứu, có 53,396 trường hợp được chẩn bệnh là bị ung thư.

    By Maggie Fox,
    Health and Science Editor.
    Lannguyen

  4. #84
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    Cuộc thám hiểm sao chổi đầu tiên



    Phi thuyền Rosetta vừa "thức dậy" sau 10 năm để bắt đầu cuộc thăm dò nghiên cứu sao chổi.
    Ảnh: ESA - AOES Medialab

    Trọng Thành

    Sau cuộc du hành 7 tỷ km trong mười năm, phi thuyền Rosetta vừa tỉnh dậy. Tín hiệu đầu tiên của phi thuyền này đã được trạm tiếp sóng của Nasa ở Goldstone (Hoa Kỳ) nhận dạng vào lúc 18 giờ 18 phút ngày 20/01/2014. Đây là phi thuyền đầu tiên thực hiện một sứ mạng nghiên cứu dài ngày và sâu về sao chổi.


    Nhiệm vụ của phi thuyền là nghiên cứu sao chổi Tchourioumov-Guerassimenko trong vòng 18 tháng. Phi thuyền sở dĩ phải ngủ đông trong vòng 10 năm liền, vì vị trí của nó ở quá xa mặt trời để có thể thu được nguồn năng lượng cần thiết. Cuộc du hành 10 năm của phi thuyền Rosetta vô cùng gian truân. Thoạt tiên phi thuyền phải lợi dụng lực hấp dẫn của trái đất và của hỏa tinh để di chuyển được đến vùng vành đai của hệ mặt trời, nơi “cư trú” của sao chổi Tchourioumov-Guerassimenko.
    Nhiệm vụ của Rosetta mang tính cách mạng trên nhiều bình diện. Đây là lần đầu tiên một phi thuyền tiếp cận sát được một sao chổi đến như vậy. Trong thời gian 18 tháng nghiên cứu, Rosetta sẽ quay xung quanh sao chổi, theo hình ngôi sao, và quỹ đạo của phi thuyền sẽ liên tục được điều chỉnh, để nó có thể đến gần sao chổi nhất.
    Trên Rosetta có trang bị cả một modul tiếp đất, mang tên Philae. Khối hình lục lăng có 10 thiết bị này sẽ được ném xuống bề mặt của sao chổi để tiến hành lấy mẫu bề mặt và trong lòng sâu của sao chổi này. Philae sẽ lấy các mẫu ở độ sâu khoảng 30 cm dưới bề mặt, đồng thời các phương tiện của modul này sẽ phân tích thành phần khí của sao chổi, mật độ, hàm lượng các bon, những yếu tố cần thiết cho cuộc sống…

    Lợi ích của việc nghiên cứu sao chổi có đường kính 4 km với nhiều băng đá này, chính là để mang lại các thông tin sơ bộ để giúp cho việc hiểu được nguồn gốc hình thành của hệ mặt trời chúng ta. Các sao chổi hình thành cùng lúc với hệ mặt trời, nhưng chúng nằm lại ở phần ngoại vi của hệ này, và bị đông cứng lại. Việc tìm hiểu thành phần của sao chổi cho phép biết được trạng thái của các hành tinh hệ mặt trời vào thời điểm mà chúng ra đời.
    Các sao chổi rất phong phú về chất tiền biotic, như các axit amin : các yếu tố là nguồn gốc của sự sống…. Việc Rosetta nghiên cứu về sao chổi có thể sẽ cung cấp cho chúng ta một số dự liệu hiểu được nguồn gốc của sự sống trên trái đất. Phi thuyền Rosetta cũng sẽ quan sát sao chổi biến chuyển như thế nào trong quá trình tiếp cận hoặc rời xa mặt trời.

    Tuy nhiên, các nhà khoa học còn phải chờ đợi đến tháng 5 tới để phi thuyền đến gần sao chổi Tchourioumov
    Guerassimenko. Và phải đến tháng 8, modul Philae mới hạ cánh được xuống sao chổi và gửi thong tin về các trạm của cơ quan không gian châu Âu trái đất, qua phi thuyền. Tất cả thong tin đều được thực hiện của viễn thong, vì trong cuộc du hành này, không có bất cứ mẫu vật thật nào trở về được trái đất. Cuộc du hành của Rosseta và Philae là một đi không trở lại.

    tags: Khoa học - Thám hiểm - vũ trụ
    www.viet.rfi.
    Lannguyen

  5. #85
    Join Date
    Mar 2008
    Posts
    5,131
    Thanks
    2
    Thanked 13 Times in 13 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    @ ..&..%...*..*..#..#[email protected]@..''..$..$..!..!>..>...). .)..#..#[email protected]+.......

  6. #86
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    HO DO CẢM, CÚM

    Bác sĩ Nguyễn Văn Đức

    Mùa này, nhiều người chúng ta đang bị cảm, cúm.

    Cả tuần nay bị cúm, ho quá là ho, uống thuốc ho hoài không bớt, bạn muốn bác sĩ cho thuốc ho khác mạnh hơn, và thêm cả trụ sinh nữa. Nhưng bác sĩ lại bảo, ho cấp tính do cảm hay cúm, thuốc ho hay trụ sinh đều không giúp.

    Đúng vậy bạn ạ, dù ái ngại nhìn bạn đang ho như pháo nổ, nhưng cũng phải nói thật theo sách, với cái ho do cảm, cúm, thuốc ho nào cũng vậy thôi, chúng giúp rất ít hoặc chẳng giúp gì cả, và trụ sinh lại càng vô ích [vì cảm, cúm do siêu vi (virus), trụ sinh chỉ đánh được vi trùng (bacteria), không trị các siêu vi]. Thậm chí, American College of Chest Physicians, một hiệp hội y khoa của các bác sĩ chuyên về lồng ngực ở Mỹ, còn khuyên chúng ta không nên dùng thuốc ho cho cơn ho vì cảm, cúm.

    Bệnh cảm thường (common cold) là bệnh nhẹ đường hô hấp trên, rất hay xảy ra, trẻ em 5 đến 7 lần một năm, còn người lớn chúng ta cũng 2-3 lần một năm. Cúm (flu) nặng hơn, gây do những siêu vi dữ hơn, xảy ra vào mùa thu, đông hàng năm, đến tận tháng Năm. Có đến trên 200 loại siêu vi có thể gây bệnh cảm, và 3 dòng siêu vi A, B, C gây bệnh cúm.

    Siêu vi cảm, cúm ẩn trong nước mũi, nước miếng người bệnh. Chúng ta nhiễm cảm, cúm khi bắt tay người bệnh có dính siêu vi, rồi vô tình đưa lên mắt, mũi, miệng chúng ta, hoặc chúng ta rờ phải các đồ vật chung quanh người bệnh có dính siêu vi. (Nhiều siêu vi cảm, cúm có thể sống vài tiếng đồng hồ bên ngoài cơ thể ta.) Bệnh cũng truyền từ người bị cảm, cúm sang ta khi những hạt nước nhỏ li ti có chứa siêu vi, bắn ra từ mũi, miệng họ trong lúc họ ho, hắt hơi, ...

    Cúm có thể đưa đến biến chứng nguy hiểm như sưng phổi (pneumonia). Cảm không dữ bằng cúm, song cũng có thể gây các biến chứng viêm các xoang quanh mũi (sinusitis), viêm tai giữa (external otitis), khiến suyễn trở lại, bệnh phổi, bệnh tim có sẵn nặng hơn.

    Triệu chứng cảm, cúm

    Thời gian từ lúc mới lây bệnh cảm đến lúc bệnh phát ra ngắn, chỉ khoảng 24-72 tiếng đồng hồ. Khác với cúm (triệu chứng rất đột ngột và nặng), triệu chứng cảm nhẹ và từ từ hơn.

    Triệu chứng thay đổi tùy người, nhưng nói chung, khi bị cảm, chúng ta hay chảy mũi, nghẹt mũi, hắt xì, rát họng, ho, nhức đầu, thấy trong người ớn lạnh, uể oải không khỏe. Cúm gây sốt cao, còn cảm thường không gây sốt, hoặc chỉ sốt nhẹ.
    Rát họng do cảm, cúm khó chịu nhất trong ngày đầu, trong khi chảy mũi, nghẹt mũi, hắt xì nặng nhất khoảng ngày thứ 2 và thứ 3. Ho thường bắt đầu làm phiền chúng ta khoảng ngày thứ 4, 5, và sau đó có thể rất dữ, rồi dịu dần.

    Cảm thường kéo dài khoảng 10 ngày, người hút thuốc lá lâu khỏi hơn, khoảng 13 ngày. Một số người đến 2 tuần sau mới khỏi hẳn. Cũng có người tuy khỏe rồi, vẫn ho lai rai vài tuần sau khi cảm. Cúm dữ hơn, khiến ta mệt hơn, ho lâu hơn, có khi cả tháng vẫn chưa hết mệt, hết ho (năm có 12 tháng, cúm hành hết 1 tháng hay hơn, đời còn gì! mọi người chúng ta nên ngừa cúm hàng năm).

    Chữa trị cảm, cúm

    Sự chữa trị bệnh cảm thường (common cold), trong những trường hợp không có biến chứng, gồm các phương cách giúp chúng ta dễ chịu, trong lúc chờ cho cơn cảm đi qua. Cúm có hai thuốc chữa đặc biệt, Tamiflu và Relenza, dùng trong một số trường hợp.

    Trụ sinh (antibiotics) vừa tốn kém, lại chẳng ăn thua, không làm cảm, cúm sợ và đi mau hơn. Trụ sinh chỉ diệt được vi trùng (bacteria), không có kết quả trong những bệnh gây do siêu vi như bệnh cảm, bệnh cúm. Chúng... “siêu” hơn vi trùng, nên không sợ trụ sinh. (Các tài liệu y học, và cả cơ quan y tế CDC của chính phủ Mỹ vẫn luôn đưa lời kêu gọi, yêu cầu các bác sĩ không nên dùng trụ sinh để chữa cảm, cúm). Việc sử dụng trụ sinh chỉ cần thiết, khi đã có các biến chứng (complications) do vi trùng, như sưng phổi, viêm tai giữa, viêm các xoang quanh mũi, ... Các khảo cứu cho thấy, nếu dùng sớm, trụ sinh cũng không ngăn ngừa được các biến chứng. Và một khi biến chứng xảy ra, vi trùng đã kháng, đã lờn mặt loại trụ sinh đang sử dụng; dĩ nhiên lúc đó chúng ta cần đổi trụ sinh, có khi phải dùng một loại trụ sinh khác độc hại hơn, đắt tiền hơn. (Người ta cũng nhận thấy, cộng đồng nào sử dụng nhiều trụ sinh, số vi trùng kháng thuốc trụ sinh trong cộng đồng đó cũng nhiều hơn các cộng đồng khác, chứng tỏ việc dùng trụ sinh bừa bãi không những hại cho mình, mà còn hại cho cả người chung quanh.)

    Ta dùng Tylenol hay các thuốc Aspirin, Advil, Nuprin, Aleve, (mua không cần toa bác sĩ) để bớt nhức đầu, rát cổ, ớn lạnh.
    Các thuốc uống như Sudafed, Genaphed và các thuốc xịt mũi như Afrin, Dristan dùng vài ngày giúp chúng ta bớt nghẹt mũi; các thuốc xịt Ipratropium, Cromolyn giúp chúng ta đỡ chảy mũi. Những thuốc chữa dị ứng như Claritin, Loratadine, Clarinex, Allegra, Zyrtec không ăn thua, uống vào nước mũi vẫn chảy ròng ròng. Những thuốc mạnh hơn như Benadryl, Chlor-Trimeton giúp bớt chảy mũi, song làm khô luôn môi, miệng, mắt, và ở các vị cao niên, có thể nguy hiểm, gây bí tiểu, dật dờ, trí óc mất sáng suốt.

    Còn ho? Ho ít chúng ta không cần uống thuốc ho, khi ho nhiều, các thuốc ho chứa chất dextromethorphan hay guaifenesin như Robitussin DM, Robafen DM giúp chúng ta bớt ho chút nào hay chút nấy thôi, lúc ho dữ quá, chúng chẳng công hiệu gì, uống thường còn có thể khiến chúng ta mệt. Và xin đừng hy vọng có thuốc ho nào khác mạnh hơn, giúp bớt ho hơn Robitussin DM, Robafen DM. Các thuốc ho chứa chất Codein càng không giúp cái ho do cảm, cúm, và gây nhiều tác dụng phụ hơn thuốc ho Robitussin DM, Robafen DM. American College of Chest Physicians không cổ võ việc dùng thuốc ho khi bị cảm, cúm, theo họ, ho cứ để cho ho, nhất là khi ho có đàm, vì ho là cơ chế tốt của cơ thể giúp chúng ta tống xuất bớt đàm nhớt dơ trong bộ hô hấp ra ngoài, không để chúng ứ đọng trong phổi gây sưng phổi.
    Bạn đang bị cảm hay cúm, nóng lòng muốn “chích thuốc” để cảm mau hết. Đúng theo sách vở, các siêu vi cảm đâu có sợ kim chích, làm gì có thuốc chích để cảm cuốn gói đi nhanh hơn. Bạn đừng tin vào ai dụ bạn, bảo chích thuốc hoặc dùng trụ sinh cảm, cúm sẽ mau hết, tốn tiền vô ích, có khi còn hại.
    Chúng ta khó tránh cảm 2-3 lần mỗi năm, vì khác với cúm đã có cách ngừa (chích ngừa, thuốc xịt Flumist), cảm chưa có cách phòng ngừa hữu hiệu. Nhưng xin đừng sợ lắm, cảm là bệnh nhẹ thôi, thường sẽ mau chóng ra đi. Đa số các trường hợp cảm, chúng ta có thể tự chữa lấy ở nhà, không cần đến bác sĩ, nếu không nóng sốt cao, đau vùng các xoang quanh mũi, đau tai, khò khè, khó thở, hoặc ho dữ trên 10 ngày chưa thấy bớt. Còn thuốc ho, muốn dùng lúc ho nhiều không ngủ được hoặc sợ ho làm phiền người khác, bạn thử các thuốc ho Robitussin DM, Robafen DM (mua không cần toa bác sĩ), chúng giúp được chút nào hay chút nấy, không giúp thì thôi. (Nhưng nhớ dùng đúng theo chỉ dẫn ghi trên chai thuốc, không nên uống quá liều; có vị đã phải vào bệnh viện bằng xe cấp cứu vì uống quá liều thuốc ho.)

    Còn cúm, cách tránh cúm tốt nhất là ngừa cúm hàng năm (chích ngừa, hoặc dùng thuốc xịt Flumist).

    Cảm, cúm là những bệnh xảy ra nhiều, nên triệu triệu đô la đã được đổ ra để nghiên cứu. Một trong những triệu chứng làm chúng ta khổ sở nhất là ho. Nhưng trái với điều chúng ta vẫn hy vọng, trong trường hợp ho cấp tính vì cảm, cúm, các thuốc ho đều giúp rất ít, hoặc không giúp gì cả. Nếu cái ho dữ quá khiến bạn đâm lo, bạn đi khám bác sĩ, sau khi thăm khám kỹ, không thấy có biến chứng gì của cảm, cúm, bác sĩ khuyên bạn kiên nhẫn chờ cái ho tự nó lui dần, bạn nên tin lời, vì chẳng có loại thuốc ho nào khác thần hiệu hơn, giúp hơn Robitussin DM, Robafen DM.

    Ngày nay, với phương tiện truyền thông internet, chúng ta dễ dàng tìm hiểu nhiều vấn đề liên quan đến sức khỏe chúng ta, chẳng hạn, chúng ta có thể vào các websites www.uptodate.com, www.webMD.com để đọc những tài liệu về các bệnh tật thông thường hay xảy ra. Nâng cao kiến thức về mọi mặt, bao giờ cũng tốt cho bản thân chúng ta và gia đình.

    Bài này viết dựa theo những kiến thức mới nhất về cảm, cúm trong website www.uptodate.com của trường đại học Johns Hopkins.

    http://www.tapchithegioimoi.com/
    Lannguyen

  7. #87
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    Khoa Học: Câu Chuyện về Chất Phản Vật Chất
    Friday, 11 April 2014 20:24

    Written by Trần Hồng Văn.



    Lời Dân Nhập: “Chúng ta cần phải tìm cách thoát ra khỏi trái đất này càng sớm càng tốt vì tôi sợ là nó sẽ bị hủy diệt sớm”. Đó là lời phát biểu nửa đùa nửa thật của một nhà khoa học đang làm giám đốc trung tâm nghiên cứu để sản xuất một loại vật chất mới gọi là PHẢN VẬT CHẤT, vì chính chất này sẽ được dùng để chế tạo loại bom POSITRON có sức tàn phá mạnh gấp ngàn lần một quả bom nguyên tử. Nhưng ai là người đã khám phá ra loại Phản Vật Chất này và vận hành của nó ra sao? Xin mời độc giả theo dõi bài viết dưới đây của Tiến Sĩ Trần Hồng Văn.
    (Người Lính Già 73: Lê Phú Nhuận)

    Khái niệm về nguyên tử:

    Trên 2000 năm trước, nhà hiền triết và toán học Hy Lạp Democritus (460 BC-370 BC) đã đưa ra một giả thuyết là vật chất được cấu tạo bởi những đơn vị nhỏ nhất gọi là nguyên tử. Giả thuyết này đầu tiên được nêu ra từ khái niệm của Leucippus, người thầy của ông. Nhưng ngay sau khi giả thuyết này được đưa ra thì bị các nhà triết học đương thời khác khinh miệt, điển hình là Plato cũng là một nhà triết học và toán học Hy Lạp, là học trò của Socrates, là thầy của Aristotle và cũng là người sáng lập ra Viện Hàn Lâm tại Athenes. Plato viết là ông không ưa giả thuyết của Democritus và mong đốt hết tất cả sách của ông ta viết ra. Trong suốt một giai đoạn dài cả 2000 năm, giả thuyết về nguyên tử bị lãng quên. Cho đến nay Democritus được coi là ông tổ của ngành khoa học hiện đại.

    Với sự tiến bộ của ngành khoa học hiện nay, người ta đã chứng minh được nguyên tử không phải là phần tử nhỏ nhất của vật chất. Nếu quan sát vật chất với một độ cực nhỏ thì thế giới của nguyên tử hiện ra, càng gần thì càng thấy một thế giới lạ lùng, đó là thế giới định lượng. Thế giới đó không phải là những quả bóng, những đám mây hay những vật thể mà ta thường gặp phải, mà là một thế giới của các nhân tố định lượng, từ đó có thể cho ta biết một phân tử được thành lập từ những nguyên tử ra sao. Nó cũng cho ta biết sự “chuyển động” của một vài hạt trong một nguyên tử.
    Hình dưới đây miêu tả một nguyên tử được cấu tạo bằng các hạt điện tử (electron), các điện tử này quay chung quanh một nhân (nucleus). Nhân được cấu tạo bằng những hạt dương điện tử (proton) và các trung hòa tử (neutron). Các hạt này lại được cấu tạo bởi những phần tử nhỏ hơn nữa gọi là các quarks. Do luật bảo tồn năng lượng và sự đối xứng, chúng có những tác động hỗ tương, nói cách khác là chúng mang những điện tích và có những lực quán tính hay quay chung quanh nhau. Các electron mang điện tích âm (-) trong khi proton mang điện tích dương (+). Mặc dù neutron không có điện tích nhưng vẫn có lực quán tính như các electron và proton.


    Chất Phản Vật Chất:

    Paul Dirac là người đầu tiên đưa ra giả thuyết về chất phản vật chất. Ông là một nhà vật lý học người Thụy Sĩ, sau đó giáo sư môn toán học và vật lý học tại Đại học Cambridge, Anh Quốc cho tới 1969. Suốt 14 năm sau cùng trong đời, ông làm việc cho các trường Đại học Miami, Florida và Florida State University. Ông được coi là một lý thuyết gia vĩ đại ngành vật lý học của Anh Quốc sau Isaac Newton.

    Vào năm 1930, Dirac đưa ra một giả thuyết về lý thuyết định lượng, trong đó nói tới các chuyển động của các hạt điện tử trong điện trường và từ trường. Ông tiên đoán là phải có một loại hạt khác, cùng một khối lượng như hạt điện tử (electron) nhưng lại mang một điện tích dương thay vì điện tích âm như các hạt điện tử thông thường. Hạt này được gọi là positron, một hạt phản lại với hạt điện tử (electron). Đây là một khái niệm về chất phản vật chất.

    Ngay năm sau, năm 1931, giả thuyết về chất phản vật chất trên đuợc kiểm chứng bởi Carl D. Anderson, một nhà vật lý học Hoa Kỳ. Anderson đã chứng minh và chụp hình được một loại hạt đã đi xuyên qua một tấm chì dầy. Khi quan sát tia vũ trụ với những hạt có năng lượng cao đi qua một làn hơi nước, Anderson thấy có một loại hạt có những đặc tính tương tự như electron nhưng hướng đi lại cong vòng xuống phía dưới, điều này chứng tỏ hạt mới tìm được này mang một điện tích dương và bị hút bởi lực từ trường. Chúng có cùng một khối lượng và cùng có những đặc tính khác như electron và được gọi là positron. Do kết quả thí nghiệm trên cùng lý thuyết định lượng về hạt electron khiến Dirac được trao giải thưởng Nobel Vật Lý vào năm 1933, lúc đó ông mới được 31 tuổi và được coi là cha đẻ thuyết vật lý học lượng tử (Quantum Physics). Ngày nay người ta đã thu thập những số lượng positron rất lớn để áp dụng vào các ngành khoa học ứng dụng.


    Khi hạt vật chất và hạt phản vật chất gặp nhau, chúng sẽ tiêu diệt nhau và phóng thích tất cả năng lượng chứa trong khối lượng của chúng, kết quả là sẽ tạo ra tia gamma và đôi khi tạo ra một cặp vật chất và phản vật chất mới..
    Tiên đoán của Dirac không phải chỉ áp dụng cho hạt electron mà áp dụng cho tất cả những hạt căn bản tạo nên vật chất. Mỗi loại hạt đều có những hạt phản lại. Cả hai loại này có cùng một khối lượng và tính chất tương tự như nhau chỉ có điện tích là ngược lại nhau.

    Ví dụ proton mang điện tích dương (+) nhưng hạt phản proton lại mang điện tích âm (-). Cho đến nay, hiện diện của những hạt phản vật chất đã được xác định rõ ràng và người ta đã tìm được hàng trăm loại hạt phản vật chất như vậy.

    Mỗi khi cặp hạt này gặp nhau, chúng tiêu diệt lẫn nhau, kết quả là cả hai đều biến mất và năng lượng của chúng sẽ biến đổi thành dạng khác. Cả hai dạng vật chất và phản vật chất đều không khác biệt nhau, nghĩa là các định luật vật lý áp dụng cho chất phản vật chất tương tự như cho vật chất, chỉ có một khác biệt là thế giới này được tạo dựng bởi vật chất, còn những chất phản vật chất sẽ bị biến mất nhanh chóng vì chúng sẽ bị tiêu diệt ngay khi gặp các loại vật chất tương ứng.

    Khám phá các chất phản vật chất.

    Các nhà vật lý học ngày nay đã hiểu nhiều về chất phản vật chất sau khám phá của Carl Anderson. Một khám phá lạ lùng nữa là vật chất và chất phản vật chất có lực cuốn hút nhau (vì chúng có điện tích đối nghịch nhau) sau đó tiêu diệt nhau rồi phát nổ mạnh rồi tạo ra những luồng quang tuyến hay tạo ra một dạng vật chất khác.

    Lý thuyết về vật lý cho rằng vào khoảng 13.7 tỉ năm trước có một trận nổ khủng khiếp (hiện tượng Big Bang) để tạo dựng ra vũ trụ, lúc đó vật chất và phản vật chất được tạo ra với một số lượng tương đương. Hai loại vật chất này tiêu diệt nhau để tạo ra năng lượng và các luồng quang tuyến mà bây giờ người ta vẫn còn nhìn thấy, đó là các tia vũ trụ nguyên thủy. Trong một phần ngàn của một giây sau Big Bang, số lượng vật chất lại hơn số phản vật chất, do đó, một giây sau Big Bang, phần lớn số phản vật chất bị tiêu diệt, không gian chỉ chứa đầy vật chất. Các nhà vật lý học chưa giải thích được hiện tượng tại sao lại có số khác biệt nhau như vậy. Hiện nay, chất phản vật chất chỉ thấy ở các tia vũ trụ, những hạt ngoài không gian có năng lượng cao và chúng tạo thành những hạt mới khi tới bầu khí quyển trái đất.

    Theo các định luật và nguyên lý về vật lý học, vũ trụ này không thể hiện diện như ngày nay được. Để giảng nghĩa tại sao các tinh tú, các giải ngân hà đang lấp lánh trong vũ trụ này hay con người lại hiện diện tại đây, các nhà khoa học đã dựng lại khung cảnh thủa khai thiên, bắt đầu bằng hiện tượng Big Bang lúc mà vật chất và phản vật chất tiêu diệt nhau.

    Big Bang thành lập năng lượng và vật chất vào thời điểm vũ trũ có số tuổi là 1/1000 của một nano giây (1 nano= một phần tỉ), rồi:

    - Big Bang tạo ra số lượng vật chất và phản vật chất tương đương nhau, lúc này nhiệt độ cực cao.
    - Vật chất và phản vật chất tiêu diệt nhau
    - Kết quả: Chất phản vật chất tiêu diệt 99.999999% vật chất trong vũ trụ
    - Ba phút sau, nhiệt độ giảm dần, nguyên tử đầu tiên xuất hiện.
    - Hạt vật chất còn sót lại sau vụ nổ kết hợp lại với nhau theo một nhóm, gồm các hạt proton, neutron và electron để tạo ra nguyên tử. Những nguyên tử đầu tiên là hydrogen, deuterium và helium.
    - 13.7 tỉ năm sau và sau này: các nguyên tử kết hợp với nhau tạo ra các ngôi sao, các giải ngân hà và vũ trụ như ngày nay

    Những loại hạt này xuất hiện trong những thí nghiệm gia tốc tại cơ quan CERN, tại đây các nhà khoa học tạo ra một cuộc đụng chạm mạnh với một năng lượng thật cao để tạo ra các hạt và các hạt phản lại, sau đó sẽ nghiên cứu các đặc tính của chúng để tìm hiểu nguyên nhân của sự mất quân bằng về số luợng hai loại hạt vào thủa ban đầu khi vũ trụ mới thành lập. Vào năm 1967, nhà vật lý học người Nga là Andrei Sakharov đưa ra một giả thuyết để giải thích hiện tượng này. Ông cho là do tính tự hủy hoại của chất phản vật chất nhanh hơn vật chất đã đưa đến tình trạng trên. Trước đó vào năm 1964, các nhà vật lý đã làm thí nghiệm với một hạt vật chất có tên là K-meson và chất phản K-meson. Kết quả cho thấy chất phản K-meson bị tự hủy hoại nhanh hơn là K-meson (về phương diện vật lý học, khi nói tự hủy hoại có nghĩa là chất đó không còn ở tình trạng cũ nữa mà biến đổi thành một dạng vất chất khác. Phần lớn các hạt mới được tạo ra đều không bền, chỉ sau một khoảng thời gian thật ngắn, nó chịu những thay đổi và cuối cùng đạt tới tình trạng bền vững).

    Một vài lý thuyết gia còn đưa ra giả tthuyết là những chất phản vật chất không phải bị tiêu hủy hết mà vẫn còn hiện diện tại một nời nào đó trong vũ trụ. Cho đến nay, người ta vẫn chưa tìm ra một phản vũ trụ hay những vùng chứa chất phản vật chất rộng lớn hiện diện trong vũ trụ này, tuy vậy các cơ quan nghiên cứu vẫn gửi những máy móc ra ngoài không gian để quan sát.

    Tiếp sau thí nghiệm của Carl Anderson, những nhà vật lý học tại phòng thí nghiệm quang tuyến Lawrence (California) đã tạo ra hạt phản-Proton vào năm 1950. Hạt này có cùng một khối lượng và tốc độ quay như Proton nhưng lại mang điện tích âm (-) và có quán tính ngược chiều.

    Các nhà khoa học đã dùng viễn vọng kính không gian Fermi để khám phá ra những tia phản vật chất sản xuất từ những sấm sét trong các trận bão tạo ra. Họ nghĩ là những tia gamma được tạo ra do sự đụng chạm của hạt vật chất với những hạt phản vật chất, một tiếng nổ ngắn ngủi phát ra kèm theo với những làn chớp. Có khoảng 500 tia gamma xuất hiện trong bầu khí quyển trái đất mỗi ngày. Như một máy làm tăng gia tốc, bão tố có thể tạo ra những tia gamma do đụng chạm giữa electron và positron. Viễn vọng kính Fermi được chế tạo và phóng lên không gian với mục đích ban đầu và chính yếu là quan sát những biến cố có năng lượng cao và các hiện tượng lạ xẩy ra trong vũ trụ.


    Các chất phản vật chất được thành lập phía trên đám bão (hình vẽ).
    Vào năm 1977, các nhà khoa học cho là có thể những chất phản vật chất còn hiện diện tại gần tâm của các giải ngân hà. Tháng 7. 2011, các nhà khoa học phân tích các dữ kiện từ vệ tinh PAMELA (Payload for Antimatter/Matter Exploration and Light-Nuclei Astrophysics), một hợp tác nghiên cứu của các nhà khoa học Ý, Đức, Nga và Thụy Điển đã tìm ra một vòng đai chất phản-proton nằm tại vòng trong của bầu khí quyển trái đất. Alessandro Bruno, thành viên trong nhóm nghiên cứu cũng là giáo sư tại Đại Học Bari, Ý, giải thích như sau: “Hạt phản-proton sinh ra từ hạt phản-neutron, hạt này được tạo ra do phản ứng của tia vũ trụ khi tới gần trái đất thì đụng vào phần lớp trên bầu khí quyển (cách mặt đất hàng chục kilô mét). Các hạt phản-neutron sẽ thoát lên cao rồi bị hủy hoại để tạo ra các hạt phản-proton tại các độ cao hơn. Phản ứng của tia vũ trụ khi gặp bầu khí quyển cũng sinh ra những cặp proton và phản-proton. Những hạt phản-proton có khuynh hướng tụ lại tại vùng cách mặt đất vài trăm kilô mét”. Vòng đai phản-proton này được lực từ trường của trái đất giữ lại và đây có thể là nguồn năng lượng chính cho những chuyến du hành của các phi thuyền bay ra ngoài thái dương hệ trong tương lai với vận tốc gần với tốc độ ánh sáng (186,000 miles/giây).

    Một loại hạt nữa đang được nghi ngờ là nhân tố chính làm cho mất thằng bằng giữa vật chất và phản vật chất vào lúc ban đầu vũ trụ mới được thành lập và đang được tìm hiểu: đó là hạt neutrino. Thoạt đầu các nhà vật lý học hạt nhân cho rằng neutrino không có khối lượng nhưng vào thập niên 1990, các nhà nghiên cứu Nhật Bản chứng minh loại hạt này có khối lượng, tuy rất nhỏ, chỉ bằng một phần triệu của electron. Đặc tính này có thể giải thích tại sao vũ trụ được tạo dựng bằng vật chất chứ không phải là các chất phản vật chất. Vào năm 2011, các nhà khoa học Ý tuyên bố là hạt neutrino bay nhanh hơn vận tốc ánh sáng. Đây là một cú shock cho giới khoa học vì nếu đúng như vậy thì các định luật về vật lý học sẽ bị đảo lộn, nhưng sau đó người ta đã chứng minh là lời tuyên bố trên là không đúng và chúng chỉ bay gần bằng tốc độ ánh sáng thôi. John Conway, giáo sư môn vật lý học tại University of California, Davis tuyên bố: “Neutrino là một loại hạt lạ lùng vì hầu như nó chẳng là gì cả, không mang điện tích, như không có khối lượng .. chẳng là gì cả, nó là loại hạt ma ... “. Bộ năng lượng Hoa Kỳ đã chi ra 30 triệu đô la cho chương trình hợp tác với Trung Quốc để nghiên cứu về hạt neutrino. Kwong Lau và Lisa Whiteheada, hai giáo sư môn vật lý học tại đại học Houston đã tham gia vào chương trình này. Những lò nguyên tử hạt nhân đặt tại Quảng Đông rất thuận tiện cho việc nghiên cứu vì máy móc được đặt trên vùng đất cao cả cây số. Sau 7 tuần làm việc, vào tháng Giêng năm 2013 hai nhà nghiên cứu trên đã thu thập được nhiều kết quả rất khích lệ.

    Chế tạo ra các chất phản vật chất

    Hạt phản-proton trong nhân nguyên tử phản hydrogen (hình trên) mang điện tích âm có hạt phản electron, positron, mang điện tích dương quay chung quanh. Một nguyên tử hydrogen bình thường có hạt proton mang điện tích dương có hạt electron mang điện tích âm quay quanh (hình bên).

    Phòng thí nghiệm tại cơ quan CERN (European Organization for Nuclear Research) tại biên giới Thụy Sĩ và Pháp gần Genève thường xuyên sản xuất ra những chất phản vật chất. Vào năm 2002, cơ quan này lần đầu tiên đã sản xuất ra một số lượng lớn chất phản vật chất. Họ đã thành công trong việc sản xuất ra nguyên tử phản Hydrogen và các phản nguyên tử khác.

    Việc sản xuất ra các hạt phản vật chất hiện nay được phổ biến, nhưng việc kết hợp các hạt này với nhau để tạo ra các phản nguyên tử lại là một vấn đề vì chúng gặp các nguyên tử sẽ bị tiêu diệt liền để phát sinh ra năng lượng. Vào ngày 5 tháng 6, 2011, cơ quan CERN tại Genève, Thụy Sĩ đã sản xuất ra và dự trữ 309 nguyên tử phản hydrogen tổng cộng trong vòng 1,000 giây.

    Trong tháng 11 năm 2010, các nhà khoa học tại đây cũng đã sản xuất được 38 nguyên tử phản hydrogen và giữ chúng trong vòng 1/6 giây. Mỗi ngày việc thu thập và dự trữ các nguyên tử phản vật chất này một nhiều và lâu hơn. Jonathan Wurtele, làm việc tại Bộ Năng Lượng Hoa Kỳ tại Lawrence Berkeley và cũng là thành viên của CERN tuyên bố: “Trước tiên chúng tôi muốn chứng tỏ là có thể giữ được các nguyên tử phản hydrogen, sau đó sẽ cải thiện hệ thống để có thể dự trữ chúng lâu hơn nữa”.

    Suốt 20 năm nghiên cứu, vào ngày 18.11.2010, lần đầu tiên cơ quan CERN đã giữ được nguyên tử phản hydrogen lâu đủ trước khi nó biến mất và chứng minh được là chúng có thể giữ lâu hơn nữa để có thể nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Jeffrey Hangst, giáo sư môn Vật Lý và Thiên Văn Học tại Đại Học Aarhus, Đan Mạch cùng các cộng sự viên gồm những nhà khoa học Anh, Ba Tư, Canada, Do Thái và Hoa Kỳ đã giữ được 38 nguyên tử phản Hydrogen trong vòng 1/10 giây. Vì các chất phản vật chất và vật chất khi gặp nhau thì tiêu diệt nhau lập tức, giáo sư Hangst nói là “mục tiêu nghiên cứu hiện nay của cơ quan CERN là giữ chúng lại trong một thời gian lâu hơn nữa”. Hiện nay người ta dùng điện trường và từ trường để giữ những nguyên tử phản vật chất.

    Ứng dụng các chất phản vật chất

    1- Chữa bệnh ung thư:

    Người ta hy vọng một ngày gần đây các chất phản vật chất có thể là một công cụ hữu hiệu để chữa bệnh ung thư. Từ năm 2003, lần đầu tiên các nhà khoa học tại Phòng Thí Nghiệm Tế Bào tại CERN nghiên cứu những hiệu quả sinh học của chất phản proton. Họ thấy là tia phản proton đã gây tổn thương cho tế bào 4 lần nhiều hơn là tia proton. Kết quả này thật khích lệ vì bệnh nhân nếu được chữa trị bằng tia phản proton sẽ được nhận số lượng tia phóng xạ ít hơn nhiều cũng như số tế bào ung thư bị tiêu diệt nhiều hơn so với lối chữa trị hiện nay.

    2- Chụp hình ba chiều trong cơ thể:

    Những chất phản vật chất được dùng thường xuyên trong ngành y khoa để kiểm tra sự hoạt động của các cơ quan trong cơ thể. Chất phản vật chất này thường là những positrons được đưa vào trong các bộ phận, khi gặp vật chất đối nghịch là những electrons sẽ phát ra những tia quang tuyến gamma người ta sẽ chụp được bộ phận đó. Ngày nay hầu hết các bệnh viện đều trang bị máy PAT (Positron Emission Tomography). Các bác sĩ điều trị rất thích phương pháp này vì đơn giản và chụp những bức hình trong nội tạng thật chính xác. Một PAC Scan chính xác trong khoảng vài mili-mét của bộ phận cần quan sát. Tùy vào loại phản vật chất những tiến trình biến dưỡng sẽ được quan sát, ví dụ như chất phân tử phản oxgen sẽ dùng để quan sát não bộ … Những chất phản vật chất còn được dùng để khám phá ra những ung bướu hay các hoá chất trong não bộ.

    3- Trong phim khoa học giả tưởng:

    Star Trek: Chất phản vật chất là nguồn năng lượng tuyệt vời đưa con thuyền không gian Entreprise tới những nơi thật xa với vận tốc nhanh hơn tốc độ của ánh sáng. Tuy rằng việc du hành trong không gian như vậy không thực tế nhưng lý thuyết của chất phản vật chất đã quyến rũ những người say mê khoa học giả tưởng và các nhà khoa học về những khám phá vùng đất hứa tại những giải ngân hà xa xăm nào đó cũng như nguồn gốc của vũ trụ.

    Hình chụp tại cơ quan CERN cho thấy một electron và một positron (chất phản electron) quay ngược chiều nhau.
    Thiên Thần và Ác Qủy (Angels and Demons): Chất phản vật chất giữ vai trò chính trong cuốn tiểu thuyết “Thiên Thần và Ác Qủy” của Dan Brown và đã được dựng thành phim với tài tử Tom Hanks. Câu chuyện kể một giáo phái muốn tiêu diệt Vatican bằng một “trái bom có sức tàn phá không thể dừng được”. Sau khi đóng xong phim này, Tom Hanks nói đùa là muốn làm việc với cơ quan CERN để tạo ra chất phản vật chất.

    4- Ứng Dụng Trong Việc Thám Hiểm Vũ Trụ

    Tất cả những phim khoa học giả tưởng đều dựa vào chất phản vật chất làm nhiên liệu cho thuyền không gian với một lý do giản dị và có lý, đó là nguồn nhiên liệu tốt nhất. Trong khi với nguồn nhiên liệu hiện nay phải dùng tới hàng tấn hoá chất để đẩy con thuyền lên thám hiểm Hoả Tinh, với chất phản vật chất người ta chỉ cần một phần mười của một mili-gram thôi. Tuy vậy, phản ứng của vài chất phản vật chất lại phát ra những tia gamma, những tia này phá vỡ những phân tử trong các tế bào nên có kết quả xấu. Hiện nay cơ quan NASA đang nghiên cứu cho một dự án với thuyền không gian dùng chất phản vật chất chỉ phát ra những tia gamma có năng lượng thấp.

    Khi chất phản vật chất gặp vật chất, chúng tiêu diệt lẫn nhau để phát sinh ra năng lượng. Vì khối lượng chất này hoàn toàn biến thành năng lượng nên phản ứng của chất phản vật chất rất mạnh, trong khi với phản ứng của một quả bom nguyên tử thì chỉ có chừng ba phần trăm tổng số khối lượng biến thành năng lượng mà thôi. Trước kia, các dự án cho phi thuyền không gian thám hiểm Hoả Tinh có người dùng chất phản proton, chất này sản xuất ra những tia gamma có năng lượng cao, nhưng đến nay những dự án mới lại dùng chất positron với những luồng tia gamma có số năng lượng thấp hơn gấp 400 lần. “Điều quan quan trọng nhất là an toàn”, Tiến sĩ Gerald Smith làm việc cho trung tâm nghiên cứu Positronics Rearch tại Santa Fe, New Mexico tuyên bố như trên. Sức đẩy nguyên tử này sẽ làm giảm thời lượng tới Hoả Tinh, giảm thời gian phải tiếp xúc với tia vũ trụ. Hơn nữa nếu phi thuyền dùng năng lượng bằng hoá chất thì nặng, cồng kềnh và chi phí cao hơn nhiều. Một điểm lợi nữa là làm tăng tốc độ của phi thuyền. Người ta có thể đưa phi hành gia lên tới Hoả Tinh trong 180 ngày với tiến bộ khoa học hiện nay, “Dựa trên ý niệm và nghiên cứu trong tương lai, các phi hành gia có thể đổ bộ lên hành tinh này trong vòng 45 ngày”, Kirby Meyer, một khoa học gia là việc tại cơ quan Positronics Research tuyên bố như trên. Các nhà khoa học hy vọng là vào một ngày nào đó, với việc sử dụng chất phản vật chất là nguồn nhiên liệu chính sẽ rút ngắn hành trình tới Hỏa Tinh từ 11 tháng xuống còn một tháng. Theo như bản phúc trình của cơ quan NASA năm 2010, lò phản ứng nguyên tử với nhiên liệu là chất phản vật chất có thể đẩy phi thuyền cho những chuyến thám hiểm xa hơn nữa vào cuối thế kỷ này, nó có thể hạ xuống Mộc Tinh chỉ trong vòng 4 tháng thay vì hàng vài năm và mở đầu cho những cuộc thám hiểm có người tới các hành tinh xa xăm phía ngoài của thái dương hệ.

    Theo như “Technology Frontiers”, phúc trình của cơ quan NASA thì chỉ cần 1 microgram chất phản vật chất anti-proton hay 10 milligram chất phản electron (positron) đủ để đẩy một phi thuyền nặng 110 tấn trong chuyến du hành khứ hồi tới Hoả Tinh và 1.16 gram chất phản vật chất anti-proton hay cũng đủ cho một chuyến du hành tới Mộc Tinh (hành tinh thứ năm và lớn nhất trong Thái Dương Hệ, cách mặt trời 778 triệu kilômét, xa mặt trời 5.2 lần trái đất). Tuy vậy, việc sản xuất ra chất anti-proton rất đắt. Với tình trạng như hiện nay thì giá thành cho việc sản xuất ra vài gram chất này là nhiều tỉ tỉ đô la và sản xuất ra 10 milligram chất positron sẽ tốn khoảng 250 triệu đô la. Các nhà khoa học hy vọng là sẽ cải thiện để việc sản xuất nhanh và rẻ hơn nhiều trong tương lai và sau khi đổ bộ lên Hoả Tinh và Mộc Tinh, con người có thể đi tới những hành tinh xa lạ ngoài Thái Dương Hệ nữa.

    5- Ứng dụng trong quân sự:

    Không lực Hoa Kỳ đã sử dụng nhiều triệu đô la cho việc nghiên cứu nguồn năng lượng cao từ các chất phản vật chất cho võ khí tương lai trong quân đội.

    Chất phản vật chất không còn là một sản phẩm của khoa học giả tưởng dùng trong tiểu thuyết hay các phim khoa học chiếu nhiều kỳ trên TV nữa mà đã được các nhà vật lý học tích cực nghiên cứu. Theo như định nghĩa thì vật chất và chất phản vật chất là âm và dương. Mỗi loại hạt trong một nguyên tử đều có loại hạt phản lại tương đương. Khi hai loại hạt này gặp nhau thì chúng tiêu diệt nhau để sản xuất ra một số năng lượng thật cao.

    Trong thời chiến tranh lạnh, Bộ Không Lực Hoa Kỳ đã chi ra những ngân khoản để nghiên cứu tính vật lý cơ bản của chất phản vật chất và hướng về việc chế tạo các võ khí như các loại bom phản vật chất hay các phi cơ quan sát có thể bay 24/7. Ứng dụng có hậu quả ghê gớm là việc chế tạo ra các võ khí trong tương lai: quả bom dùng chất phản vật chất có sức công phát mãnh liệt và không để lại các tia phóng xạ. Ứng dụng khác của chất phản vật chất là tạo ra các mạch điện từ trường làm tê liệt hệ thống điện và hệ thống thông tin của bên địch khiến cho họ không thể điều hành xã hội cũng như quân đội được nữa. Vào muà hè năm 2004, Bộ không quân đã ra chỉ thị cấm nhân viên không được nói về các chương trình nghiên cứu chất phản vật chất trước công chúng, tuy vậy chi tiết về các chương trình này đã được phổ biến rộng rãi trước khi lệnh cấm được ban hành.

    Vào ngày 24.3.2004, Kenneth Edwards, giám đốc sở quân dụng tại căn cứ không quân Eglin tại Florida là diễn giả chính tại buổi hội nghị tại Arlington do cơ quan NASA tổ chức. Trong hội nghị này, Edwards đề cập tới việc sử dụng chất phản vật chất positron. “Năng lượng sản xuất ra do sự đụng chạn giữa positron và electron nhiều hơn gấp 10 tỉ lần …” - Edwards giảng nghĩa - Một gram chất phản vật chất có thể đưa 23 con thuyền không gian lên qũy đạo hay chỉ với 50 phần triệu của một gram chất positron sẽ phát ra một lực tương đương với 4,000 pounds TNT, đã phá hủy toà nhà liên bang Alfred P. Murrah tại Oklahoma City năm 1995.

    Không giống như bom nguyên tử, bom positron không phát tán ra các tia phóng xạ. Khi một số lượng lớn positron và electron đụng độ sẽ phát sinh ra tia gamma vô hình nhưng có sức tàn phá mạnh gấp ngàn lần bom nguyên tử. Trong lý thuyết thì bom positron là một võ khí mơ ước của các nhà quân sự và được gọi là siêu bom “sạch” vì nó có sức công phá mãnh liệt mà không để lại những tia phóng xạ độc hại. Sau lệnh cấm, các viên chức của Bộ không quân không được phép tiếp xúc với các phóng viên nữa, tuy vậy, bộ này đang cộng tác với trường đại học Washington State University trong việc sản xuất chất phản vật chất positron. Kelvin Lynn, giám đốc trung tâm nghiên cứu tại đại học này nhiệt tình trong việc nghiên cứu việc sử dụng chất phản vật chất cho chương trình thám hiểm không gian nói đùa: “Chúng ta phải thoát nhanh ra khỏi hành tinh trái đất này vì tôi sợ là nó sẽ bị hủy diệt sớm”.


    *Trần Hồng Văn.
    [email protected]


    Tài liệu tham khảo:

    - Barnette, Michael. What is antimatter? 2002. Scientific American.
    - Baquero-Cruiz and Chuckman So. Physics Store Antimatter Atoms for 1,000 seconds – and Still Counting. June 5, 2011. Science Daily.
    - Cowen, Ron. Antimatter Belt Found Circling Earth. August 2011. Science Now.
    - Davidson, Keay. Air Force Pursuing Antimatter Weapons. October 4, 2004. San Francisco Chronicle.
    - Jordans, Frank. Scientists Isolate Anti-Atom for Study. Nov. 18, 2010. Associated Press.
    - Moyer, Michael. Antimatter. March 27, 2002. Popular Science.
    - Nasa. NASA's Fermi Catches Thunderstorms Hurling Antimatter into Space. 1.10.2011. nasa.gov/mission.
    - Nasa Science. Thunderstorms Make Antimatter. 2011. Science News.
    - Wall Mike. Antimatter Spaceships Could Make Long Flights Before End Of Century. 9/12/2012. Huff Post Science.

    Và nhiều tài liệu khác nữa.

    *Lannguyen chân thành cảm ơn http://vietvungvinh.com/
    Last edited by Lannguyen; 05-04-2014 at 05:51 AM.
    Lannguyen

  8. #88
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    Loài Người Bị Tuyệt Chủng Như Thế Nào?


    Written by Trần Hồng Văn.





    Nhiệt độ trái đất ngày càng nóng.


    Dẫn nhập:
    Đời sống con người không những gắn liền với đồng loại, với môi trường chung quanh, với đời sống của trái đất, mà còn bị tác động bởi cả một bầu trời bao la chung quanh. Loài người có thể bị hủy diệt bởi chính mình, mà cũng có thể bất chợt bị tiêu diệt bởi sự biến chuyển đột ngột của trái đất, hoặc của các thiên thể, thiên thạch, các hành tinh rải rác chung quanh trái đất.

    Khoa học đã xác định được một số nguyên nhân có thể đưa loài người đến chỗ diệt vong mà tiến sĩ Trần Hồng Văn đã tóm lược trong bài viết công phu dưới đây. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả.

    NLG73- Lê Phú Nhuận.

    Chúng ta đang ở trong giai đoạn bị tiêu diệt và loại trừ ra khỏi vũ trụ? Các tôn giáo đã nói nhiều đến sự việc này như Do Thái Giáo với sách của nhà tiên tri Daniel, Ky Tô Giáo với sách Khải Huyền, Hồi Giáo với lời tiên tri của Imam Mahdi, đạo thờ thần lửa (Zoroastrianism) tại Ấn Độ và Ba Tây nói về việc trở lại của người con thứ ba của Zoroaster để cứu nhân loại (Đạo này rất thịnh hành ở Ấn Độ, sau được Zoroaster mang vào xứ Ba Tư vào thế kỷ thứ 6 trước tây lịch, những khái niệm như Chúa Trời, thiên đàng địa ngục, ngày phán xét cuối cùng … có ảnh hưởng sâu xa tới các tôn giáo khác như Do Thái Giáo, Ky Tô Giáo và Hồi Giáo). Ta hãy nhìn vào những lý do có thể đưa đến thảm hoạ cho loài người, như do thiên nhiên, thiên tai do con người thúc đẩy, tự hủy diệt hay do những lực siêu nhiên.

    Khoảng 500,000 năm về trước, giống người Homo sapiens xuất hiện trên mặt đất, dần dần họ xây dựng lên các đô thị, tạo ra các thứ tiếng nói khác nhau rồi gửi người đi thám hiểm các hành tinh lân cận. Như vậy có lý nào mà nền văn minh này lại đang ở trong giai đoạn bị tiêu diệt? Nhìn lại quá khứ, 99 phần trăm sinh vật từng hiện diện trên trái đất này đã biến mất, ngay cả những loài người tiền sử. Các nhà nghiên cứu đang lo nghĩ về sự tuyệt chủng của loài rùa biển, loài sóc đỏ … và loài người có thể là loài động vật sẽ ở trong danh sách này chăng?

    A. Thảm hoạ do thiên nhiên:

    1- Siêu thiên thạch: Không còn nghi ngờ việc trái đất bị thiên thạch đụng phải. Năm 1908, một mảnh của sao chổi có đường kính rộng 60 mét rơi vào bầu khí quyển rồi phát nổ trên bầu trời vùng Tunguska, Siberia thuộc Nga Sô. Sức nổ phát ra một năng lượng lớn gấp 1,000 lần trái bom nguyên tử thả xuống Hiroshima. Các nhà thiên văn học ước tính là cứ từ một tới ba thế kỷ thì biến cố tương tự lại xẩy ra. Benny Peiser, giáo sư môn nhân chủng học tại đại học Liverpool John Moores, Luân Đôn viết là những đụng chạm tương tự như vậy trong quá khứ đã liên tiếp làm gián đoạn nền văn minh của loài người. Ông lấy một ví dụ thiên thạch rơi xuống tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc năm 1490 đã giết chết 10,000 người. Tuy các thiên thạch thường rơi xuống biển và những tảng nhỏ rơi vào đất liền nhưng thường là những vùng hoang vu, những tảng thiên thạch lớn thì thường gây tai hoạ bất kể nó rơi ở nơi nào. Cứ mỗi 250,000 năm, một tảng đá rộng hơn nửa dặm đụng vào trái đất một lần gây nên những trận bão lửa, sau đó là thời đại băng giá. Con ngưòi có thể sống sót nhưng nền văn minh bị tiêu diệt. Một thiên thạch rộng 5 dặm sẽ làm đa số loài sinh vật trên trái đất bị tiêu diệt, như đã từng chấm dứt thời đại loài khủng long vào 65 triệu năm trước: một thiên thạch có bề rộng 9 dặm rơi xuống bán đảo Yucatan, Mễ Tây Cơ được coi là nguyên nhân chính cho biến cố này.



    Lưu Lệ Hằng, sinh năm 1963 tại Saigon, theo gia đình tỵ nạn tại Hoa Kỳ vào tháng 4/1975, hiện là giáo sư môn thiên văn học tại đại học Harvard.

    Vòng đai Kuiper (Chú thích: vòng đai Kuiper nằm ngoài Hải Vương Tinh chứa trên 100,000 tảng đá có đường kính rộng trên 50 dặm, vòng đai này được khám phá bởi một khoa học gia gốc Việt Nam vào năm 1992, cô Lưu Lệ Hằng.) là nơi phát xuất những sao chổi nhỏ bay hướng về phía trái đất. Nếu một tảng thiên thạch cỡ lớn đâm thẳng vào trái đất thì đời sống các sinh vật tại nơi đây sẽ bị tiêu diệt, ngay cả loài dán. Theo ước tính thì vào năm 2028, thiên thạch 1997XF11 sẽ tới gần trái đất nhưng các nhà khoa học trấn an dân chúng khi nói rằng nó sẽ không đụng vào hành tinh chúng ta. Tuy vậy, nếu viên đá có chiều rộng một dặm này lao xuống trái đất với tốc độ 30,000 dặm/giờ, phần lớn đời sống sẽ bị xoá sạch, sinh vật sống sót sẽ trải qua một thời đại thật đen tối vì tro bụi bắn tung và hiện diện trong bầu khí quyển suốt nhiều năm, ngăn chặn ánh sáng mặt trời, phá hủy đời sống các loài thảo vật và ngập lụt suốt địa cầu.


    Vào năm 2004, các nhà khoa học tính toán là thiên thạch Apophis với chiều rộng 300 mét có một xác xuất là 2 phần trăm cơ hội đụng vào trái đất vào năm 2029. Cơ quan NASA đưa ra một kết luận là cứ mỗi 100 năm, một thiên thạch lớn cỡ 20 mét đụng vào trái đất và gây nên những thảm hoạ cho địa phương như lụt lội, phá hủy đô thị và nền nông nghiệp nơi đó, và cứ mỗi 100,000 năm tiếng nổ trong bầu khí quyển của một viên đá rộng cỡ 3/5 dặm gây nên những hậu quả tai hại như tạo nên mưa acid, mùa màng bị phá hủy, bụi bặm che ánh nắng mặt trời, những trận bão lửa … NASA cũng khám phá có khoảng 900 tới 1,000 viên đá rộng cỡ 3/5 dặm bay qua qũy đạo trái đất. Nhà khoa học hành tinh Erik Asphaug làm việc tại đại học California, Santa Cruz phát biểu: “Không có gì chắc chắn là chúng ta sống hay phải chết với những thiên thạch này”. Các nhà khoa học Nga mới đây đưa ra một bản báo cáo là theo lý thuyết thì thiên thạch tên là Apophis có chiều rộng bằng hai sân banh có thể đụng vào trái đất vào ngày 16.4.2036. Sergei Smirnov, phát ngôn viên của đài quan sát thiên văn Pulkovo tại St. Petersburg, Nga tuyên bố: “Hiện tại thì chưa thể kết luận về sự đe doạ này mà phải đợi tới năm 2028 khi thiên thạch này ở vị trí gần trái đất. Nếu nó đụng vào trái đất, nhân loại sẽ trải qua một tại hoạ ghê gớm và nhiệt độ trên trái đất sẽ hoàn toàn biến đổi.




    2- Hố đen:
    Khi một thiên thể bị hủy hoại sẽ phát sinh ra hố đen (Black hole), trọng lực ở mức vô cùng lớn, nó có thể hút mọi vật, kể cả ánh sáng. Qua các nghiên cứu và quan sát, các nhà khoa học ước tính là rải rác trong giải ngân hà Milky Way có chừng 10 triệu hố đen như vậy. Chúng ta có thể nhận biết một ngôi sao tiến gần lại trái đất, nhưng với một hố đen thì rất khó mà phát hiện ra được. Khi một hố đen tiến lại gần thì ta có thể nhận ra việc các qũy đạo của các hành tinh nằm phía ngoài hệ thống thái dương hệ bị nhiễu loạn. Hố đen không cần phải tiến gần để nuốt chửng trái đất mà chỉ đi qua hệ thống thái dương thôi cũng đủ làm qũy đạo trái đất bị sai lệch đi, qũy đạo này có thể bị kéo dài ra thành hình bầu dục khiến khí hậu trên trái đất trở nên khắc nghiệt, đời sống sinh vật bị đảo lộn, hoặc là trái đất bị kéo ra khỏi hệ thống thái dương hệ để bay lang thang trong vùng đen tối lạnh lẽo của vũ trụ.




    3- Hoạt động của mặt trời:
    Mặt trời trải qua một giai đoạn hoạt động tối đa với những trận nổ khủng khiếp theo một chu trình 11 năm một lần. Những vụ nổ tại mặt trời như vậy khiến trái đất phải hứng chịu những trận bão các hạt nhỏ hơn nguyên tử và những tia quang tuyến điện từ đổ xuống và được gọi là bão mặt trời. Mặc dù bầu khí quyển và từ trường của trái đất có thể ngăn chặn một phần những loại hạt này nhưng có nhiều hậu quả to lớn khác như làm hư hỏng các nguồn cung cấp điện cho hàng 100 triệu người riêng trong nước Hoa Kỳ, thiệt hại hàng triệu tỉ dollars và nhiều năm để sửa chữa, giao thông bị gián đoạn, mậu dịch quốc tế phải đình trệ và hàng triệu người chết. Theo tính toán của các nhà khoa học thì trong năm 2013 này hoạt động của mặt trời ở mức mạnh nhất. Bradley Schaefer tại đại học Yale đã chứng minh là nhiều ngôi sao tương tự như mặt trời có hoạt động mạnh hơn gấp 20 lần. Khi mặt trời có hoạt động tương tự thì trái đất sẽ bị nung nóng như lò lửa. Măc dù chứng cớ cho thấy là ngôi mặt trời này không có những hoạt động mạnh mẽ như vậy nhưng cho đến nay người ta vẫn chưa hiểu tại sao nó lại có những hoạt động theo một chu kỳ đều đặn. Ngược lại, Sallie Baliunas tại trung tâm nghiên cứu Vật Lý Thiên Văn Học tại Harvard-Smithsonian tuyên bố là nhiều ngôi sao giống mặt trời trải qua những giai đoạn yên tĩnh, lúc đó chúng sẽ mờ đi khoảng một phần trăm. Nghe như chẳng đáng bao nhiêu nhưng lúc đó trái đất sẽ trải qua một thời kỳ băng đá. Baliunas kể tới việc cường độ hoạt động của mặt trởi giảm đi đã gây nên 17 tới 19 thời đại băng đá trên trái đất trong vòng 10,000 năm qua.

    Ngôi mặt trời đốt cháy liên tục, chất hydrogen trong lõi biến đổi thành helium khiến nó trở nên nóng hơn, sáng hơn và phình ra to lớn hơn và dần dần tới một lúc sẽ nuốt chửng trái đất. Khoảng một tỷ năm nữa, các nhà khoa học tiên đoán là ngôi mặt trời sẽ sáng hơn bây giờ 10 phần trăm, lúc đó nhiệt độ trên trái đất cao hơn 200 độ F, nước trong các đại dương sẽ bốc hơi hết, cả hệ thống sinh thái trên mặt đất bị suy sụp. Lúc đó, theo như giáo sư môn vật lý thiên văn học Klaus-Peter Schoeder tại đại học Guanajuato tại Mễ Tây Cơ thì: “Chúng ta phải tìm một hành tinh khác để sinh sống” hoặc là theo như giáo sư Robert Smith tại University of Sussex thì lúc đó các nhà khoa học phải nghĩ tới việc nới rộng qũy đạo của trái đất ra.




    4- Tia Gamma:
    Nhìn lên bầu trời một đêm trong sáng, bạn nghĩ là mình đang xem một bức hình. Rồi một lúc nào đó bạn sẽ nhìn thấy một luồng sáng chói xuất hiện rồi biến mất. Mới đây các nhà vật lý thiên văn học cho biết đó là trận bộc phá của luồng tia gamma có nguồn gốc từ những giải ngân hà xa xăm. Chúng có một lực mạnh gấp 10 ngàn tỉ lần năng lượng phát ra từ mặt trời. Có thể đây là kết quả của hai ngôi sao đụng vào nhau hay một ngôi sao phát nổ. Nếu chỉ ở khoảng cách 1,000 năm ánh sáng, xa hơn bất cứ ngôi sao nào mà bạn có thể nhìn thấy vào một đêm trong sáng thì bạn sẽ thấy rõ hiện tượng trên vì nó sáng như ngôi mặt trời. Càng gần thái dương hệ thì sức công phá của hiện tượng này càng mạnh. Bầu khí quyển của trái đất che chở cho chúng ta khỏi những sự độc hại của các quang tuyến X và tia Gamma nhưng phải trả một giá đắt: bầu khí quyển bị nóng lên, tạo ra chất oxýt nitrogen, chất này sẽ phá hủy lớp ozone. Lúc đó tia tử ngoại từ mặt trời sẽ chiếu xuống mặt đất với cường độ tối đa, gây ra chứng bệnh ung thư da cho con người và quan trọng hơn nữa là tiêu diệt các loài phiêu sinh vật tại các đại dương. Các phiêu sinh vật này có nhiệm vụ quang tổng hợp, phóng thích khí oxygen vào bầu khí quyển. Tuy những trận bộc phá của các tia gamma như vậy phát xuất tại những nơi cực xa nhưng biết đâu vào lúc nào đó lại ở vị trí gần hơn khiến các sinh vật trên trái đất này bị tiêu diệt hoàn toàn. Nếu một ngôi sao phát nổ chỉ cách chúng ta trong khoảng 30 năm ánh sáng sẽ gây thảm hoạ lớn lao cho trái đất như phần lớn bầu khí quyển sẽ bị phá hủy, các loài sinh vật trên mặt đất bị tiêu diệt trong vòng vài tháng và trên mặt đất lửa cháy khắp nơi.

    5- Siêu Hoả Diệm Sơn: Vào năm 1783, ngọn núi lửa Laki tại Băng Đảo Quốc hoạt động phun ra 3 dặm vuông chất phún xuất thạch. Lụt lội, tro bụi và khói đã lấy đi 9,000 nhân mạng và 80 phần trăm gia súc, tiếp theo đó nạn đói xẩy ra làm một phần tư dân số quốc gia này tử vong. Bụi bặm tung lên bầu khí quyển khiến nhiệt độ vào mùa đông năm đó tụt xuống 9 độ. Nhưng đây chỉ là “gãi ngứa” nếu so với hoạt động của hệ thống núi lửa trong quá khứ. Sáu mươi lăm triệu năm trước, một cột đá nóng bỏng tử lớp vỏ trái đất phun lên tại vùng đất Ấn Độ và kéo dài suốt từ thế kỷ này sang thế kỷ kia, một phần tư dặm vuông chất phún xuất thạch trào ra nhiều gấp 100,000 lần nhiều hơn tại Laki. Có nhà nghiên cứu đã cho rằng chính sự hoạt động này đã tiêu diệt loài khủng long trên thế giới chứ không phải do thiên thạch gây ra. Trước đó, biến cố trọng đại về hoạt động của núi lửa xẩy ra tại Siberia vào cuối kỷ nguyên Permian-Triassic (250 triệu năm trước) khiến 95 phần trăm sinh vật trên trái đất bị tiêu diệt.




    Núi lửa phun hơi lưu huỳnh sẽ tạo nên mưa acid, hỗn hợp chứa Chlorine phá hủy lớp ozone. Núi lửa thải ra chất carbon dioxide (CO2) có hậu quả lâu dài là tạo nên tình trạng nhà kiếng hâm nóng nhiệt độ trên toàn trái đất

    Trong hơn 500 ngọn núi lửa đang hoạt động trên trái đất, có ba ngọn siêu hoả diệm sơn tại Hoa Kỳ, thêm vào đó là ngọn Toba tại Nam Dương, Taubo tại Tân Tây Lan, Aira Caldera tại Nhật Bản. Mỗi ngọn này khi hoạt động có thể gây sức tàn phá cho một vùng 240 dặm vuông. Sức tàn phá rất lớn, ví dụ như ngọn Yellowstone có thể phóng thích ra 2000 triệu tấn sulfuric acid, tro bụi ngăn ánh nắng mặt trời trong nhiều năm. Theo các nhà nghiên cứu về hoả diệm sơn thì một ngọn siêu hoả diệm sơn hoạt động cách đây 75,000 năm, đó là ngọn núi Toba tại Sumatra, Nam Dương. Hàng ngàn kilô mét vuông tro bụi và chất sulfur dioxide bắn tung vào bầu khí quyển, ngăn cản ánh nắng mặt trời xuống toàn bộ trái đất hậu quả là nhiệt độ trên trái đất tụt xuống 21 độ C., ba phần tư sinh vật trên vùng bắc bán cầu bị tiêu diệt. Các nhà khoa học nói về hoạt động tương tự xẩy ra trong tương lai với siêu hoả diệm sơn Yellowstone, Wyoming. Hỏa diệm sơn này nằm ngay trên lớp phún xuất thạch và có nhiều dấu hiệu nó đang ở trong giai đoạn hoạt động. Nếu xẩy ra, nửa nước Hoa Kỳ sẽ bị phủ một lớp phún xuất thạch dầy một mét. Theo tính toán, hoạt động của siêu hoả diệm sơn chỉ xẩy ra trong khoảng 600,000 năm nhưng lần cuối siêu hoả diệm sơn hoạt động đã hơn 640,000 năm rồi, có nghĩa là nó có thể hoạt động trở lại bất cứ lúc nào và nếu xẩy ra, cả vùng bắc Mỹ sẽ bị tiêu hủy.

    Hoạt động của siêu hoả diệm sơn gây nên nạn tuyệt chủng nhiều hơn là do thiên thạch. Những nghiên cứu mới đây cho thấy là chỉ vài trăm năm sau khi núi lửa thành lập, tai hoạ mang lại có thể lớn hơn gấp ngàn lần xẩy ra cho núi lửa St. Helen vào năm 1980, nhiệt độ trên trái đất sẽ bị hâm nóng, tro bụi tung vào bầu khí quyển ngăn chặn ánh sáng mặt trời và sau đó là tình trạng băng giá kéo dài hàng trăm năm, tiêu diệt hàng triệu loài sinh vật. - Ngọn núi St. Helens nằm tại quận Skamania, tiểu bang Washington, 96 miles (154 km) phía nam Seattle và 50 miles (80 km) đông bắc Portland. Núi St. Helens hoạt động vào ngày 18.5.1980, lúc 8:32 sáng, gây tử thương cho 57 người, 250 căn nhà, 47 cây cầu, 15 miles (24 km) đường rầy xe lửa và 185 miles (298 km) xa lộ bị phá hủy.

    6- Dịch tể toàn cầu: Nếu thiên nhiên không gây ảnh hưởng cho con người thì các loài vi sinh vật sẽ là nguyên nhân tiêu diệt nhân loại. Con người và các loài vi sinh vật thường sống cộng sinh, nhưng tới một lúc nào đó cân bằng này bị phá vỡ. Trận dịch tễ xẩy ra giết hại một trong bốn người tại Âu Châu trong thế kỷ thứ 14, trận cúm giết hại 20 triệu người trong những năm 1918 và 1919. Bệnh AIDS có những hậu quả tương tự. Từ năm 1980 tới 1992, phúc trình của trung tâm phòng chống bệnh tật cho biết là các chứng bệnh lây nhiễm trên nước Mỹ tăng lên 58%. Các vi trùng gây bệnh như dịch tả, bệnh sởi đã phát triển thành những loài chống lại thuốc kháng sinh. Khai thác đất đai và nông nghiệp triệt để đưa con người gần lại với các loài vi khuẩn gây bệnh cho loài thú. Du lịch xuyên quốc gia làm bệnh tật lan tràn nhanh chóng hơn bao giờ hết. Khoảng 12,000 năm trước, một trận dịch thình lình xẩy ra khiến hầu hết loài thú có vú bị tiêu diệt tại Mỹ Châu. Ross MacPhee tại viện bảo tàng Lịch Sử Thiên Nhiên cho rằng một trận bệnh dịch do siêu vi trùng gây ra là nguyên nhân chính gây nên thảm hoạ này khi người ta di cư sang tân thế giới mang theo và reo rắc mầm bệnh.




    Các nhà khoa học Hoa Kỳ và Hòa Lan khi nghiên cứu siêu vi trùng trên loài chồn đã đưa đến kết luận là sự đột biến trong di thể (genes) làm cho chúng trở nên rất nguy hiểm. Trước khi di thể bị biến đổi thì các con chồn chỉ bị lây bệnh qua tiếp xúc, nhưng khi các di thể trong cơ thể siêu vi trùng đã có sự thay đổi thì bệnh có thể lây lan qua không khí.

    Như vậy siêu vi trùng có thể tiêu diệt loài người được chăng?

    Nhà nghiên cứu khủng bố về sinh học tại đại học UCLA Peter Katona cho rằng một loại siêu vi trùng đơn thuần không thể nào tiêu diệt loài người hay động vật trên trái đất được vì sinh động vật tính đa dạng, vài loài có thể có khả năng miễn nhiễm. Giáo sư môn siêu vi trùng học Alice Huang tại Caltech đồng ý khi cho rằng: “Nếu loài siêu vi trùng nào tiêu diệt loài người trên trái đất thì phải tiêu diệt thật nhanh, trong vòng một tuần hay nhanh hơn nữa. Nếu lâu hơn, hệ thống miễn nhiễm trong cơ thể con người có khả năng sản xuất ra kháng thể để chống lại”.

    B- Thảm hoạ do con người tạo ra:

    7- Hâm nóng toàn cầu: Nhiệt độ trái đất ngày càng nóng và các nhà khoa học đều đồng ý là con người phải chịu trách nhiệm cho hiện tượng này. Các nhà nghiên cứu như giáo sư Paul Epstein tại trường đại học y khoa Harvard đã cảnh cáo là các chứng bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng và các bệnh nhiệt đới lây lan mạnh hơn, bao gồm cả những bệnh cho thảo mộc. Nạn đói trầm trọng sẽ xẩy ra cho nhân loại trong tương lai gần. Các chất hơi trong bầu khí quyển thu hút nhiệt nhiều hơn khiến nước bốc hơi nhanh, các tảng băng đá tan ra, chất carbon dioxide trong các tảng đá bị phóng thích nhanh làm trái đất bị nung nóng nhiều hơn và tới một lúc trái đất sẽ ở trong tình trạng như Kim Tinh, một hành tinh hỏa ngục mà nhiệt độ tại đó lên tới 900 độ F.


    IPCC (The International Panel on Climate Change, Hội Đồng Nghiên Cứu về Thay Đổi Nhiệt Độ Quốc Tế) đưa ra một dự đoán là nếu nhiệt độ tăng lên 6 độ C. nữa thì rừng nhiệt đới trên toàn cầu sẽ biến mất, đất đai sẽ khô cằn không còn màu mỡ để trồng trọt, những tảng băng đá ở Bắc cực tan hết, dù cho là ở giữa mùa đông. Thành phố Luân Đôn sẽ nóng như mùa hè ở Ai Cập, chất lượng của không khí thật tồi tệ và có ảnh hưởng nhiều đến hệ thống hô hấp con người. Những thành phố đông dân cư và thấp trên thế giới như Tokyo, Nữu Ước, Mumbai, Thượng Hải, Dhaka sẽ bị ngập lụt sau khi nước biển dâng cao 11 mét. Những thảm hoạ khác liên quan tới thời tiết như bão tố, hạn hán xẩy ra thường hơn, các bệnh truyền nhiễm lan tràn nhanh chóng hơn. Tổ chức y tế quốc tế ước tính là hiện nay mỗi năm có 150,000 chết vì những nguyên nhân liên hệ tới sự thay đổi của khí hậu và Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc cũng báo động là hiện tượng hâm nóng trái đất cũng gây thiệt hại về nhân mạng tương tự như chiến tranh.





    8- Hệ sinh thái bị suy sụp:
    Việc tiêu diệt các đàn voi hay đốt rừng nhiệt đới gây cảm xúc mạnh cho người ta, nhưng còn vấn đề to lớn hơn mà ít người lưu tâm tới, đó là sự mất quân bằng trong hệ sinh thái. Sau hàng tỉ năm qua tiến trình biến hoá và tiến hoá, thế giới ở trong một trạng thái quân bình giữa các loài thực và động vật. Tuy vậy một nghiên cứu tại công viên quốc gia Isle Royal, Đại Hồ, đưa ra một ví dụ cho tình trạng sinh thái hiện nay đang bị mất quân bằng. Mùa đông kéo dài, chó sói phải đi săn nhiều hơn đưa đến tình trạng mật độ loài chuột giảm sút. Số chuột trong vùng giảm đi khiến cây tùng non nẩy nở nhiều hơn, rồi những cây tùng này tiêu thụ chất oxygen và thải chất carbon dioxide vào bầu khí quyển nhiều hơn, tác động tới nhiệt độ của trái đất, tất cả đều có những liên hệ hỗ tương. Để cung cấp cho nhu cầu sinh sống, con người phá hủy rừng để lấy gỗ làm nhà và canh tác thâm canh, nhiều hoá chất được dùng và thải vào môi trường. Khoảng chừng 30,000 sinh vật trên trái đất bị hủy diệt mỗi năm do tác động của con người, điều này nói lên một điều là chúng ta đang ở trong giai đoạn sinh vật bị hủy diệt mạnh mẽ nhất trong lịch sử của trái đất.

    9- Rủi ro của các máy gia tốc: Theodore Kaczynski tức là Unabomber, cho là máy gia tốc hạt nhân sẽ tạo ra những phản ứng dây chuyền và phá hủy trái đất. Lạ lùng là nhiều nhà bác học khác cũng có cùng một ý nghĩ trên. Nhật báo London’s Sunday Times cũng có một bài nói về máy gia tốc RHIC (Relativistic Heavy Ion Collider) tại Long Island, New York, bài báo cho rằng máy này có thể sẽ tạo nên một hố đen và phá hủy trái đất. Tuy vậy một số nhà vật lý học làm việc tại đây đưa ra những lý lẽ bênh vực và cho rằng máy này không đủ mạnh để có thể tạo ra một hố đen mà một số người lo ngại.





    Theodore Kaczynski sinh năm 1942, được nhận vào học tại đại học Harvard khi mới được 16 tuổi, tốt nghiệp bằng tiến sĩ toán tại đại học Michigan rồi trở thành giáo sư tại đại học California tại Berkeley năm 1967 khi được 25 tuổi. Từ năm 1979 tới 1995, hắn trở thành một tên khủng bố, gửi 16 trái bom tới các trường đại học và hàng không (nên có tên là Unabomer= University and Airline)), giết chết 3 người, 23 người bị thương. Kaczynski bị bắt năm 1996.
    Nhiều khoa học gia lại cho rằng máy gia tốc hạt nhân Large Hadron Collider được xây dựng dưới mặt đất giữa biên giới nước Pháp và Thuy Sĩ có thể là mối đe dọa cho nhân loại. Hai chùm hạt được phóng theo chiều ngược nhau chạy quanh đường hầm có chu vi là 17 miles. Tại 4 nơi, những chùm hạt này gặp nhau, đụng nhau dưới tốc độ ánh sáng (86,000 miles/giây). Một sơ xuất nhỏ có thể biến nó thành một hố đen và tiêu diệt trái đất trong khoảnh khắc.


    10- Tai hoạ của kỹ thuật điện tử:
    Kỹ thuật điện toán tiến triển hàng ngày, nhiều người cho rằng một ngày nào đó loại máy móc này có thể tự hoạt động mà không cần tới con người. Khi đó chúng sẽ tự lập và quay ra chống lại với kẻ tạo ra chúng. Khoa học gia lừng danh Stephen Hawking nghĩ là máy điện toán là một đe doạ, nhân loại phải chuẩn bị đối phó với nền văn minh máy móc này: “Nguy hiểm này là có thực, máy điện toán có thể tự phát triển và tạo nên một nền văn minh mới để ngự trị trái đất”.

    Các nhà khoa học đang nghĩ cách chế tạo ra những loại máy robot thật nhỏ như những nguyên tử, ngành này được gọi là kỹ thuật nano. Vài thập niên nữa hay sớm hơn, những con robot thật nhỏ này được chế tạo ra, chúng có thể tự sao chép (sinh sản) và được sử dụng trong việc giải phẫu trong cơ thể bệnh nhân, chế tạo ra những sản phẩm mong muốn từ sản phẩm thô hay là khám phá thế giới mới. K. Eric Drexler tại Foresight Institute nói những máy móc nhỏ như những nguyên tử này sẽ sinh sản nhiều như phấn hoa và có thể sẽ biến thế giới này thành tro bụi trong thời gian thật ngắn. Bill Joy, đồng sáng lập ra hãng Sun Microsystems báo động là loại máy móc này sẽ trở thành công cụ cho mục tiêu quân sự hay khủng bố.

    Người ta đã chế tạo ra những con robot thông minh nhưng một ngày nào đó chúng sẽ quay ngược lại để thống trị thế giới này. Hans Moravec, một trong những người sáng lập khoa robot, đại học Cargenie Mellon, tiên đoán là tới năm 2040, những con robot sẽ có trí thông minh như con người. Marvin Minsky tại đại học MIT cũng nhìn thấy một viễn ảnh tương tự: Con người sẽ sao chép bộ não họ vào con robot để những máy móc này có những dữ kiện và kinh nghiệm,



    11- Thế chiến:
    Chỉ riêng hai nước Hoa Kỳ và Nga Sô đã có 19,000 đầu đạn nguyên tử. Ngoài các võ khí nguyên tử ra, võ khí sinh học cũng được nhiều quốc gia nghiên cứu và là một mối đe doạ toàn cầu. So sánh với các loại bom nguyên tử, việc sản xuất võ khí sinh học rẻ, đơn giản và cất dấu dễ dàng hơn.

    Có những tác nhân khác ngấm ngầm tiêu diệt con người như phẩm chất của không khi, nước uống, thực phẩm độc hại cũng mang đến những hậu quả nguy hiểm không kém gì võ khí nguyên tử, gây tử vong cho cả một hay nhiều dân tộc trong khoảng thời gian dài vài chục năm.

    C- Do các lực siêu nhiên

    12- Sinh vật ngoài hành tinh: Cơ quan SETI tại California trong nhiều năm qua đã cố gắng phóng những tín hiệu mong liên lạc được với sinh vật ngoài hành tinh nhưng vẫn chưa đạt được kết quả nào. Nhiều nhà khoa học đã báo động là không những không nên liên lạc mà còn phải tìm cách ngăn chặn không cho họ tới hành tinh này. Các nhà khoa học lý luận là kinh nghiệm trong quá khứ với các cuộc thám hiểm và khai phá lục địa mới đã đưa đến những kết quả thật nguy hiểm, như thổ dân và cả nền văn minh cũ bị tiêu diệt. Tương tự như vậy, sinh vật ngoài hành tinh có thể khai thác những tài nguyên có trong thái dương hệ, như nước trong đại dương là nguồn giầu chất hydrogen, họ sẽ sẵn sàng tiêu diệt con người nếu ta ngăn cản, giống như người ta tiêu diệt giống ruồi muỗi vậy. Nhà vật lý học Gerard O’Neill phát biểu “Nền văn minh tây phương đã từng tiêu diệt những nền văn minh địa phương khác và tôi cũng thấy không một lý do nào mà nền văn minh ngoài hành tinh sẽ không tiêu diệt chúng ta”.




    Kết Luận.


    Bạn nói với tôi là có thể vào một lúc nào đó bừng tỉnh dậy thấy mình ở một nơi hoàn toàn xa lạ, rồi nhớ lại là vừa trải qua một giấc mộng, trong giấc mộng đó thấy mình đã sống một quãng thời gian tại một nơi gọi là hành tinh trái đất. Giấc mộng của bạn làm tôi nhớ tới câu chuyện: “Trang Chu Mộng Hồ Điệp” (Chú thích: Trang Chu tức Trang Tử, 365-290 trước công nguyên, người nước Tống, Trung Quốc, sống vào thời Chiến Quốc). Chuyện kể như sau:

    “Trang Chu nằm mộng thấy mình hoá bướm vui vẻ bay lượn mà không biết mình là Chu nữa. Rồi bỗng tỉnh dậy, ngạc nhiên thấy mình là Chu chứ không phải là bướm. Chu tự hỏi không biết có phải mình là Chu nằm mộng thấy hoá bướm hay là bướm mộng thấy hoá ra Chu”.

    Tác giả xin lấy hai câu thơ của Lý Thương Ẩn để kết thúc cho bài viết:
    Trang Chu hiểu mộng mê hồ điệp
    Thục đế xuân tâm thác đỗ quyên.

    *Trần Hồng Văn.
    [email protected]
    Tài liệu tham khảo:
    1- Bourne, David. My Boss, The Robot. May 2013. Scientific American. P. 39-41.
    2- Drexle, Kim Eric: Nanosystems: Molecular Machinery Manufacturing and Computation. 1992.
    3- Dye, Lee. This Is The Way The World Ends? 6.6.2012. ABC News.
    4- Hernandez, Daniela. Ways The World Could Actually End. 01.17.2012. Science.
    5- Horatiu, Nastase. The RHIC fireball as a dual black hole. 2006. Cornell University.
    6- Leslie, Gaby. Five Ways The World Could End. 12.22.2011. Yahoo! News.
    7- MacPhee, R.D.E. In press. The Legacy of the Mastodon: The Golden Age of Fossils in America. (2008)]. Nature.
    8- Powell, Corey S. and Diane Martindale. Twenty Ways The World Could End. 10. 01. 2000. Discover.
    9- Rees, Martin. Is This Our Final Century? July 2013. Astronomy. P 30-35.
    10- Roco Mihail C. Rise of the Nano Machines. Science American. P. 48
    11- Sanders, Robert. What Can Happen When Computers Take Over. 01/1998. University of California at Berkeley.
    12- Stern, Alan. Secrets of the Kuiper Belt. April 2010. Astonomy. P. 3035

    Và nhiều tài liệu khác nữa


    *Lannguyen chân thành cảm ơnTrần Hồng Văn và http://vietvungvinh.com/
    Lannguyen

  9. #89
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay

    Vũ Trụ Bao Nhiêu Tuổi … Vũ Trụ Già?
    Written by Trần Hồng Văn


    Vũ trụ
    Lời Dẫn Nhập: Trái đất, mặt trời cũng có Sinh và có Diệt. Con người, vạn vật trên trái đất và ngay cả vũ trụ này cũng không thoát khỏi diệt vong. Nhưng không cần phải quá lo âu. Hàng tỉ năm nữa cơ! Còn nhiều thời gian để con người tìm cách chế ngự không gian, khai phá vũ trụ, tìm nơi định cư mới. Đề tài không gian, vũ trụ vẫn luôn hấp dẫn những ai muốn khám phá, tìm hiểu… trong đó có cả tác giả bài viết này. Xin mời người đồng điệu cùng thả hồn vào vũ trụ bao la . . .
    [NLG73 Lê Phú Nhuận]

    *Trần Hồng Văn.

    Cả ngàn năm trước công nguyên, các nhà thiên văn học vùng Lưỡng Hà đã vẽ những chòm sao với những hình dạng khác nhau. Vào giai đoạn này, nền văn hoá Lưỡng Hà và Babylone cũng đã ghi lại sự di chuyển của các hành tinh trên bầu trời. Mãi đến thế kỷ thứ 16 người ta vẫn tin trái đất là trung tâm của vũ trụ.

    Khởi đầu vào khoảng năm 350 trước tây lịch, Aristole đã phác họa một mô hình trong đó mặt trời, mặt trăng và các hành tinh khác đều quay quanh trái đất trên một bầu trời hình cầu. Quả cầu bầu trời này hoàn hảo, không thay đổi và làm bằng những nguyên tố trong suốt mà cả bốn loại vật chất là đất, lửa, không khí và nước cũng không thể tinh khiết bằng. Theo Aristole thì phần ngoài cùng của quả cầu là những ngôi sao nằm ở những vị trí cố định, phần trong là những ngôi sao có những hành tinh. Những ngôi sao phía trong này di chuyển và sau hết là trái đất và mặt trăng nằm phía trong cùng. Dù cho vào năm 250 trước tây lịch, nhà thiên văn học Hy Lạp là Aristarchus of Samos là người đầu tiên đưa ra giả thuyết là trái đất quay quanh mặt trời, tuy vậy khuôn mẫu vũ trụ mà Aristole đưa ra vẫn tồn tại suốt 1,800 năm sau. Cho mãi tới năm 1610 một bài viết của Galileo Galieli mới thực sự chấm dứt quan niệm về hệ thống cấu tạo vũ trụ của Aristole. Galileo Galilei là nhà khoa học người Ý, ông là người đầu tiên dùng viễn vọng kính quan sát bầu trời và nhận ra mặt trăng có những hố sâu, Kim Tinh vận chuyển tương tự như mặt trăng và Mộc Tinh có những vệ tinh giống như trái đất.

    ***

    Cho mãi tới năm 1908, các khoa học gia vẫn tin là giải ngân hà Milky Way của chúng ta bao gồm toàn thể vũ trụ. Đó là một cấu tạo gồm những chòm sao và một khoảng trống rộng lớn bao quanh phía bên ngoài. Đến ngày nay thì người ta đã biết giải ngân hà này chỉ là là một trong số hơn 400 tỉ giải ngân hà khác quan sát được. Vào năm 1908, các nhà khoa học đều đồng ý là vũ trụ bất biến và vô tận cũng nhưng chưa nghĩ tới việc khởi thủy của vũ trụ là do một trận nổ kinh hoàng (Big Bang), sự tổng hợp các nguyên tố của vũ trụ xẩy ra chỉ vài giây sau vụ nổ hoặc là việc cấu tạo ra nhân của các ngôi sao cũng chưa hiểu rõ. Phải cho đến vài chục năm gần đây, do tiến bộ của khoa học và việc phát minh ra các kỹ thuật tân tiến, người ta mới hiểu được tiến trình bành trướng của vũ trụ hoặc là việc vũ trụ này được tắm ngập trong các luồng bức xạ.

    Với những công trình nghiên cứu trong vài thập niên vừa qua, các nhà vũ trụ học chú tâm vào việc tìm hiểu về sự bành trướng của vũ trụ trong suốt 5 tỉ năm qua và họ cũng nhận thấy là hiện tượng này xẩy ra mỗi lúc một nhanh. Nguồn gốc của hiện tượng “đối kháng trọng lực vũ trụ” đã được coi là một dạng giao thoa của “vật chất đen” cùng với khoảng trống của vũ trụ. Các lý thuyết gia đã đoán trước được kết quả khi dựa vào sự đo lường gián tiếp, nhưng đối với các nhà vật lý học thì đó là do những quan sát trực tiếp mà ra. Sự bành trướng của vũ trụ bao hàm ý nghĩa là khoảng không gian trống rỗng của vũ trụ chứa một số năng lượng nhiều gấp 3 lần tổng số những cấu trúc mà ta nhận biết được, như ánh sáng, những chòm sao, những giải ngân hà hay những chùm giải ngân hà. Trước kia, nhà bác học Einstein đã đưa ra giả thuyết là chính những loại năng lượng này giúp cho vũ trụ ở trong trạng thái cân bằng, yên tĩnh và bất biến. Ông gọi đó là “hằng số vũ trụ”.

    “Vật chất đen” giữ một vai trò chủ yếu cho tương lai của vũ trụ. Vào năm 1999, cùng với nhà thiên văn học Glen Starkman, Lawrence M. Krauss, Giám Đốc Trung Tâm Giáo Dục và Nghiên Cứu Thiên Văn thuộc trường Đại Học Case Western Reserve, Ohio, Hoa Kỳ đã đi tìm một mối liên quan giữa đời sống của vũ trụ với hằng số vũ trụ. Trước đó, Abraham Loeb và Kentaro Nagamine tại Đại Học Harvard cũng đã khám phá và chứng tỏ là vật chất trong vũ trụ bị kéo ra phía ngoài mỗi ngày một nhanh, dần dần những nhóm ngân hà nằm phía trong (như giải ngân hà Milky Way, giải Andromeda và các giải ngân hà trẻ chung quanh) sẽ bị suy xụp để họp thành một chùm sao vĩ đại, còn những giải ngân hà khác thì bị đẩy ra phía ngoài biên giới vũ trụ. Tiến trình này xẩy ra khoảng 100 tỉ năm, nói có vẻ lâu nhưng nếu so với cái vô cùng thì đây chỉ là một khoảng thời gian ngắn mà thôi.

    ***

    Định luật về trọng lực của Newton là nền tảng cho khoa thiên văn học trong suốt 300 năm qua. Định luật này thật xuất sắc khi áp dụng tại trái đất hay tại giải ngân hà, nhưng hoàn toàn không áp dụng vào khối vật chất vô cùng to lớn trong vũ trụ được. Sau đó thuyết tương đối của Einstein đã giải quyết được những thiếu xót này. Ngay sau khi Einstein tuyên bố thuyết tương đối vào năm 1916, nhà vật lý học người Hoà Lan Willem de Sitter đã áp dụng thuyết này với hằng số vũ trụ để vẽ ra một khung cảnh cho vũ trụ lúc đó: một giải ngân hà nằm giữa một khoảng không rộng lớn không biến đổi.

    Dần dần các nhà vũ trụ học nhận ra rằng quan niệm như trên không đúng nữa mà vũ trụ mỗi ngày một bành trướng, như nhà bác học người Bỉ Georges Lemaitre đã nói: “Áp dụng những phương trình của Einstein để tiên đoán một vũ trụ vô tận, đồng nhất và bất biến là lầm lẫn, mà vũ trụ phải bành trướng hay co rút lại”. Rồi từ đó lý thuyết về một trận nổ kinh hoàng (Big Bang) ra đời.

    Vào năm 1920, nhà thiên văn học Mỹ là Vesto Slipher dựa vào những chứng cớ từ việc quan sát được đã tuyên bố là vũ trụ đang bành trướng. Khi dùng quang phổ để quan sát và đo lường các giải ngân hà gần trái đất, ông nhận thấy hầu hết các giải ngân hà đang từ từ di chuyển xa dần chúng ta và hình như trái đất chúng ta đang cư ngụ này là trung tâm cho sự bành trướng vậy. Tuy vậy, người có công nhiều nhất trong việc khám phá ra sự bành trướng của vũ trụ phải là nhà thiên văn học người Mỹ là Edwin Hubble. Không những Hubble xác định được tốc độ di chuyển của các giải ngân hà mà còn đo được khoảng cách của chúng, cũng như có một mối liên hệ thật đơn giản giữa khoảng cách và tốc độ di chuyển của các giải ngân hà với nhau nữa: “Một giải ngân hà này cách xa giải ngân hà kia hai lần so với một khoảng cách mẫu mực thì chúng sẽ di chuyển nhanh gấp đôi”. Mối liên hệ giữa khoảng cách và tốc độ xẩy ra thật đúng với những gì xẩy ra khi vũ trụ ở trong tình trạng bành trướng. Sự đo lường của Hubble sau đó được kiểm chứng, nhất là việc quan sát những ngôi sao to lớn tại những nơi rất xa xăm đang bị suy xụp và sau đó dẫn tới việc khám phá ra sự hiện diện của “vật chất đen” có đầy rẫy trong vũ trụ.

    Tất cả các ngôi sao chỉ chiếm khoảng dưới 1% toàn thể khối lượng trong vũ trụ trong khi khối lượng toàn thể các chất hơi và các loại vật chất khác nhận biết, đo đếm được thì ở mức dưới 5%. Tất cả những vật chất này đắm chìm trong một biển chứa đầy một loại vật chất khác mà người ta chưa nhận biết được bằng các phương pháp cân đo đong đếm và tính toán thông thường, đó là “vật chất đen” hay “năng lượng đen”. Trong nhiều thập kỷ qua, người ta đã đưa ra nhiều chứng cớ về sự hiện hữu của loại vật chất này nhưng các nhà khoa học vẫn chưa thoả mãn. Tuy vậy mọi người đều phải công nhận là chính loại vật chất đen này đã tạo ra những lực khiến vũ trụ bành trướng ra và cũng do nó mà vũ trụ mỗi ngày bành trướng một nhanh.

    Như vậy vật chất đen là gì và nó được cấu tạo ra sao? Trước kia người ta nói nhiều tới chất neutrino, tuy vậy các thí nghiệm đã chứng tỏ là neutrino quá nhẹ, lại “nóng” và di chuyển với tốc độ ánh sáng do đó nó không thể ảnh hưởng nhiều tới toàn thể vũ trụ được. Vật chất đen phải “lạnh” và di chuyển chậm chạp hơn. Hiện nay một chất được nhiều người lưu ý tới là chất “neutralino”, một hỗn hợp giữa quang tử và vài nguyên tử khác. Cả hai chất neutrino và neutralino có vài đặc tính giống nhau nhưng chức năng của chúng lại hoàn toàn khác biệt. Neutralino nhẹ, bền, không có điện tích nên không bị ảnh hưởng của lực điện từ. Những đặc tính này thích hợp cho việc giải thích chính chất neutralino này là một thành phần cấu tạo nên vật chất đen.

    Vào những giây phút đầu tiên trong việc thành lập vũ trụ khi độ đậm đặc còn rất cao thì một số lượng thật lớn chất neutralino được cấu tạo ra và hiện tại nó chiếm đa số trong số các vật chất hiện diện trong vũ trụ. Vì mang màu sắc đen, nó không bao giờ mất năng lượng do việc tỏa ra các bức xạ hay không kết tụ lại với nhau để tạo nên các ngôi sao hay các giải ngân hà được. Trái lại, chúng lan tràn ra khắp khoảng không gian giữa các ngôi sao hay các giải ngân hà. Hệ thống thái dương hệ của chúng ta quay quanh trung tâm giải ngân hà Milky Way với tốc độ 220 kilô mét một giây trong khi trái đất quay quanh mặt trời với tốc độ 30 kilô mét một giây, như vậy vận tốc của lớp vật chất đen bay quanh chúng ta vào mùa hè tại miền bắc bán cầu là 235 kilô mét mỗi giây là 205 kilô mét vào mùa đông. Nói cách khác, lúc nào chúng ta cũng bị trận gió của lớp vật chất đen thổi qua với vận tốc trên 200 kilô mét một giây.


    Vật chất đen trong vũ trụ được phân bố bằng những dây như một “mạng lưới”. Hình nhỏ phía dưới là một phần của mạng lưới này, chiều ngang là 10 tỉ năm ánh sáng, gồm hơi và vật chất đen.
    Vào tháng 1/2014, lần đầu tiên các nhà thiên văn học đã chụp được những giải vật chất đen khi dùng một quasar như một chiếc đèn “pin” (Quasar là một vật thể giống như một ngôi sao, phát ra một bức xạ điện từ rất mạnh). Các nhà khoa học tại University of California, Santa Cruz và viện nghiên cứu thiên văn Max Planck, Heidelberg, Ohio đã dùng viễn vọng kính Kech có chiều dài 10 mét đặt tại Hawaii quan sát một quasar cách xa trái đất 10 tỉ năm ánh sáng. Khoảng cách tới quasar này quá xa khiến những làn tia tử ngoại vô hình bắn vào vũ trụ lại trở thành hữu hình khi tới viễn vọng kính. Với sự tính toán, các nhà khoa học kết luận là khi vũ trụ mới thành lập, vật chất tụ lại với nhau thành cụm và tạo nên những “mạng vũ trụ”, rồi dệt thành những sợi giăng mắc và nối kết các giải ngân hà với nhau.

    Trong cuộc hội thảo 3 ngày từ 26 tới 28 tháng 2, 2014, 190 khoa học gia trên toàn thế giới đã quy tụ tại đại học UCLA. Họ đã bàn thảo về các phương cách để nhận biết và khám phá ra loại vật chất bí mật này. David Cline, giáo sư môn vật lý học tại UCLA và cũng là một trong vài nhà nghiên cứu về vật chất đen nổi tiếng trên thế giới tuyên bố: “Vật chất đen là nền móng cho việc tạo nên các giải ngân hà và các ngôi sao, đó là chất tối cần cho trái đất và cả vũ trụ”.
    Giai đoạn kế tiếp là việc khám phá ra các làn vi ba thật mờ nhạt từ một cõi thật xa vọng lại. Đây là một khám phá thật bất ngờ vào năm 1965 do nhà 2 nhà vật lý học Arno Penzias và Robert Wilson khi hai ông đi tìm kiếm nguyên nhân gây nên sự nhiễu loạn vô tuyến. Nhanh chóng, những làn vi ba này được xác nhận ra, đó là di tích còn xót lại khi vũ trụ ở trong giai đoạn ban sơ mới thành lập và bắt đầu bành trướng, kết quả là đã chứng minh được lúc đó vũ trụ thật nóng, cô đặc rồi sau đó bành trướng ra và trở nên lạnh và mỏng dần.

    Giai đoạn sau cùng của hiện tượng Big Bang là một vũ trụ sơ khởi thật nóng, đậm đặc. Đó là một nơi toàn hảo cho một lò tổng hợp hạt nhân nguyên tử. Khi nhiệt độ lên từ 1 tỉ tới 10 tỉ độ Kelvins (nhiệt độ tuyệt đối, 0o Kelvin tương đương với –273.15o C), những hạt nhân nhẹ có thể tổng hợp thành những hạt nhân nặng, tiến trình này được gọi là giai đoạn tổng hợp hạt nhân (nucleosynthesis) trong biến cố Big Bang và chỉ kéo dài trong vài phút, sau đó vũ trụ bành trướng ra và lạnh dần. Hầu hết các chất khí helium và deuterium (còn gọi là chất khí hydrogen nặng) trong vũ trụ được thành lập trong giai đoạn này. Do sự đo lường các chất helium và deuterium cùng với sự tiên đoán về một phản ứng hoá học trong việc tổng hợp hạt nhân trong biến cố Big Bang đã là một bằng chứng cho giả thuyết này, cũng như sự chính xác của việc phỏng đoán số lượng dương điện tử và trung hoà tử có đầy rẫy trong vũ trụ.

    ***

    Mặc dù có sẵn và đầy đủ những dữ kiện, một khuôn mẫu về vũ trụ đúng đắn và chính xác vẫn không rõ ràng. Ví dụ vào thập niên 1940 tới giữa thập niên 1960, dù cho với kết quả to lớn do sự quan sát của Hubble đã đưa đến kết luận là vũ trụ đang bành trướng, một số nhà vũ trụ học vẫn làm sống lại quan niệm bất biến, cho là vũ trụ đang ở trong trạng thái tĩnh, không thay đổi. Họ lý luận là cho dù vũ trụ có bành trướng nhưng đồng thời số lượng vật chất cũng được tạo ra liên tục nên vẫn duy trì được tính bất biến này.

    Khi vũ trụ bành trướng, các nhà thiên văn học trong tương lai còn có thể tìm ra được những chứng cớ còn sót lại của hiện tượng Big Bang, như còn khám phá ra những làn sóng vi ba cực ngắn ở những cõi thật xa xăm còn sót lại sau vụ nổ kinh hoàng nữa không? Câu trả lời là “không”, vì khi đó các làn sóng này bị khuyếch tán mỏng, cường độ bức xạ bị mờ nhạt dần và không còn ghi nhận được, lúc đó khoảng không gian giữa các ngôi sao trong giải ngân hà của chúng ta sẽ chứa đầy những làn hơi điện tử bị ion hoá. Những làn sóng quang tuyến cực ngắn cũng không thể đi qua được, chúng sẽ bị hấp thu hay phản chiếu lại. Cụ thể hơn khi mà vũ trụ ở số tuổi 25 lần hiện nay, người ta không thể ghi nhận những làn vi ba cực ngắn nguyên thủy ở cõi xa xăm được nữa.

    Liệu các nhà khoa học tương lai có thể dựa vào những nguyên tố hoá học đầy rẫy trong không gian để nghiên cứu hiện tượng Big Bang như các nhà khoa học hiện nay đang làm không? Câu trả lời cũng là “không”. Vật chất trong vũ trụ bao gồm những chất khí như hydrogen và helium. Những chất này được sản xuất trong 3 phút đầu tiên sau vụ nổ kinh hoàng (big bang). Về sau, những ngôi sao cũng biến đổi hydrogen ra helium nhưng với số lượng không đáng kể. Những loại vật chất này cần yếu cho việc nghiên cứu hiện tượng Big Bang. Trong tương lai, các chất như deuterium và helium không biến đổi nhiều như trong 14 tỉ năm vừa qua. Các nhà khoa học có một dự phóng về thành phần vật chất trong vũ trụ trong tương lai như sau: “Vài phút đầu tiên sau hiện tượng Big Bang: tổng số các chất hơi bao gồm 76% là hydrogen và 24% helium. Hiện nay tổng số chất hydrogen là 70%, 28% là helium và còn lại 2% là những chất khí nặng hơn helium. Vào thời điểm năm 1,000 tỉ năm nữa, chất khí hydrogen chỉ còn 20%, helium chiếm 60% và 20% là những chất khí nặng hơn helium”. Hiện nay yếu tố chủ yếu cho việc tìm hiểu phản ứng tổng hợp hạt nhân trong biến cố Big Bang là chất deuterium có đầy rẫy trong không gian, việc quan sát và đo lường chất deuterium nguyên thủy dựa vào những luồng mây hydrogen ở cõi xa xăm. Trong tương lai, những luồng mây này bị đẩy ra khỏi biên giới của vũ trụ nên việc quan sát này không còn thực hiện được nữa.

    Vào thời điểm 100 tỉ năm tới, một nhà khoa học tương lai nhìn lên bầu trời sẽ thấy gì? Không cần viễn vọng kính, ông ta sẽ thấy những gì mà hiện nay ta đang nhìn thấy: đó là bầu trời đầy rẫy những ngôi sao trong giải ngân hà. Tuy những ngôi sao lớn đã đốt cháy hết nguyên liệu và đã tắt lịm nhưng những ngôi sao nhỏ vẫn chiếu sáng. Sự khác biệt lớn lao là với một viễn vọng kính, nhà thiên văn học này chẳng còn nhìn thấy các giải ngân hà khác nữa. Những giải ngân hà lân cận đã sát nhập vào giải Milky Way trong khi hàng tỉ giải ngân hà xa xăm khác đã bị kéo ra khỏi vùng biên giới của vũ trụ rồi. Tất cả vật chất đã bị kéo ra khỏi phạm vi vũ trụ, các giải ngân hà đã biến mất, đó là một diễn biến từ từ. Do ảnh hưởng của trọng lực, lúc này tất cả chỉ còn lại những chòm sao nằm trong giải Milky Way mà thôi. Vũ trụ quan sát được chỉ còn lại một “ốc đảo” mà người ta quan niệm về vũ trụ vào năm 1908: đó là một chùm sao đơn độc, tĩnh lặng, bất biến và được bao quanh bởi một khoảng không rộng lớn.

    Tóm lại, những quan niệm về vũ trụ được tóm lược như sau:
    - Khoảng một thập niên qua, các nhà thiên văn học đã khám phá ra tốc độ bành trướng của vũ trụ mỗi ngày một nhanh.
    - Việc bành trướng nhanh như vậy làm các giải ngân hà ngày càng tách rời xa nhau với tốc độ nhanh hơn ánh sáng và tới lúc nào đó người ta không còn quan sát chúng được nữa. Tiến trình này đưa đến việc xoá dần những dấu vết còn sót lại của hiện tượng Big Bang, hay nói cho rõ hơn là sẽ không còn chứng cớ nào về hiện tượng Big Bang nữa.
    - Trong nhiều tỉ năm tới, vũ trụ quan sát được chỉ còn lại một chùm sao bao quanh bởi một khoảng không gian trống rỗng vô tận.

    Một bức tranh vẽ về vũ trụ trong quá khứ, hiện tại và tương lai được các nhà khoa học phác hoạ ra như sau:

    - 10-30 giây đầu tiên sau vụ nổ kinh hoàng (Big Bang), vũ trụ bắt đầu được thành lập và bành trướng.
    - 100 giây sau đó, các chất deuterium và helium được cấu tạo.
    - 400,000 năm sau, các luồng bức xạ được phóng đi.
    - 8 tỉ năm sau: vũ trụ bành trướng với tốc độ nhanh.
    - 14 tỉ năm sau: - hiện tại – Con người có thể quan sát các giải ngân hà lân cận như Andromeda và Magellanic Clouds bằng mắt thường và hàng tỉ giải ngân hà khác bằng viễn vọng kính.
    - 5 tỉ năm sau đó: Các giải ngân hà Milky Way (của chúng ta) và Andromeda xát nhập lại với nhau (hiện nay hai giải Andromeda và Milky Way đang tiến gần lại với nhau). Lúc đó mặt trời phình to thành một quả cầu màu đỏ rồi tắt lịm, trái đất trở thành một khối đá lạnh lẽo và đen tối.
    - Năm 100 tỉ: Tất cả các giải ngân hà bị kéo ra vùng biên giới của vũ trụ và không còn quan sát được nữa.
    - Năm 1,000 tỉ: Những chất đồng vị ban đầu trong vũ trụ biến mất.
    - Năm 100,000 tỉ: Ngôi sao cuối cùng trong vũ trụ lịm tắt. Vũ trụ lúc này là một khoảng không gian khổng lồ, trống rỗng, lạnh lẽo và đen tối.

    ***

    Milky Way và Andromeda là hai giải ngân hà to lớn nhất trong nhóm hơn 40 giải ngân hà lân cận khác. Giải ngân hà Andromeda còn được gọi là giải ngân hà M31, là một vật thể xa nhất mà mắt thường có thể nhìn thấy được, nằm cách xa trái đất từ 2.2 tới 3 triệu năm ánh sáng. Vật chất đậm đặc nằm ở phía bên trong giải ngân hà trong khi phía ngoài là một đĩa chứa chất hơi, bụi bặm và những ngôi sao. Andromeda dài 260,000 năm ánh sáng, tức là dài hơn 2.5 lần chiều dài của giải ngân hà Milky Way của chúng ta và có khoảng 1,000 tỉ ngôi sao, trong khi giải Milky Way chỉ có khoảng nửa tỉ ngôi.


    Giải ngân hà Andromeda.

    Dựa vào các dữ kiện của viễn vọng kính Hubble, hai giải ngân hà Milky Way và Andromeda sẽ sáp nhập lại với nhau trong vòng vài ỉ năm nữa (hình vẽ).
    Theo hai nhà khoa học Kahn F.D. và Woltjer L., vào giai đoạn ban đầu thành lập vũ trụ, cả hai được cấu tạo xát bên nhau, rồi qua tiến trình bành trướng, chúng xa nhau dần. Cho đến nay, hai giải ngân hà này cách nhau 2.2 triệu năm ánh sáng. Trong suốt 10 tỉ năm qua, cả hai được lớp vật chất đen bao quanh, lớp vật chất này có khối lượng nhiều hơn gấp 20 lần toàn khối lượng đĩa và phần bên trong giải ngân hà và cũng là nguyên động lực chính tạo ra một lực kéo hai giải ngân hà này lại gần nhau. Hiện nay chúng tiến gần nhau với tốc độ là 200 kilô mét mỗi giây. Càng lại gần giải Milky Way, Andromeda càng phình to ra và khoảng 5 tỉ năm nữa, hai giải ngân hà này sẽ nhập lại với nhau và đây cũng là thời điểm đời sống của ngôi mặt trời chấm dứt. Lúc đó mặt trời đã đốt cháy hết các nguyên liệu (tức là chất hydrogen), nó sẽ phình to lên thành một quả cầu màu đỏ rồi trở thành một ngôi sao màu trắng còm cõi (White Dwarf). Trước khi hai giải ngân hà nhập lại với nhau, giải Andromeda sẽ hút ngôi mặt trời về phía mình và từ trái đất (nếu còn) nhìn lên bầu trời, giải Milky Way lúc này chỉ là một giải ngân hà láng giềng. Theo tính toán, đời sống của sinh vật tại hành tinh trái đất chỉ tồn tại được trong 1.1 tỉ
    năm nữa, trước đó người ta phải di cư tới những hành tinh của thái dương hệ khác nếu những cuộc viễn du trong vũ trụ thực hiện được.

    ***

    Trở về với thái dương hệ này, chúng ta hiểu rằng cùng chung một số phận với vạn vật trong vũ trụ trong tiến trình biến hoá, mặt trời và trái đất không thể tồn tại mãi mãi được. Các nhà khoa học đã nghiên cứu, tính toán là đặc tính của mặt trời sẽ thay đổi lớn lao trong khoảng 1.1 tỉ năm nữa và sẽ đời sống của nó cũng kết thúc giống như những ngôi sao khác trong vũ trụ. Tổng quát về tiến trình tiến hoá này sẽ ra sao?

    - Trước hết, các chất hoá học cấu tạo tại nơi đây sẽ làm cho nó nở lớn lên gấp hai lần, cường độ ánh sáng do đó cũng tăng lên gấp đôi làm ảnh hưởng tới nhiệt độ trên trái đất: từ nhiệt độ trung bình là 68 độ F. sẽ tăng lên 167 độ F., nước bốc hơi hết, sông ngòi, đại dương sẽ khô cạn. Đây chỉ là giai đoạn khởi đầu cho tiến trình này mà thôi.

    - Rồi ngôi mặt trời sẽ nở lớn gấp 166 lần so với kích thước ngày nay. Núi non trên mặt đất sẽ nóng chẩy, mặt đất tràn đầy phún xuất thạch.


    Núi non trên mặt đất sẽ nóng chẩy, phún xuất thạch sẽ tràn ngập mặt đất..
    Càng ngày mặt trời càng nở lớn, luồng gió mặt trời dữ dội bắn tung vào không gian làm mọi thứ, như những hành tinh, bay ra xa hơn. Khi giai đoạn này chấm dứt, các nguyên liệu trên mặt trời cạn gần hết, nó đã nở lớn gấp 180 lần và ánh sáng phát ra khi đó mạnh gấp nhiều ngàn lần so với hiện nay.

    - Các hành tinh quay quanh mặt trời gồm cả trái đất khi đó chỉ là những vết tích cháy thành than, lơ lửng trong không gian như những dấu vết còn sót lại trong ký ức.

    Bây giờ chúng ta sẽ đi vào chi tiết hơn về tiến trình tiến hoá này:

    Ngôi mặt trời của chúng ta là một ví dụ điển hình của một ngôi sao bình thường trong hàng tỉ tỉ ngôi khác trong vũ trụ, nó trải qua những giai đoạn như sinh ra, lớn lên và bị hủy diệt.

    Giai Đoạn Thành Lập:

    Khởi thủy, mặt trời chỉ là thành phần thật nhỏ trong một đám mây bụi bặm và các phân tử thể hơi lạnh lẽo. Rồi, khoảng 4.6 tỉ năm trước, một sự việc nào đó tác động mạnh vào đám mây này, như tác động từ trường của một ngôi sao bay qua hoặc là do một cú “shock” gây ra do một ngôi sao lớn phát nổ khiến cho đám mây này bị suy xụp, hậu quả là hấp lực được tạo ra tại các hạt trong đám mây khiến chúng đước kéo lại gần nhau. Diễn biến kéo dài hàng chục ngàn năm, dần dần tạo thành những cụm vật chất dầy trong đám mây. Do nguyên lý bảo tồn động lượng của các hạt khiến chúng bắt đầu quay và chính giữa là một khối vật chất nhỏ, khối này lớn lên dần và chung quanh là một đĩa vật chất dẹp. Trải qua hàng tỉ năm, khối vật chất ban đầu này trở thành ngôi mặt trời và đĩa dẹp chung quanh sẽ tạo nên các hành tinh. Phải qua 100,000 năm kể từ lúc khởi đầu, nhiệt độ và áp xuất mới tạo ra việc tổng hợp hạt nhân tại lõi được, sau đó nó bắt đầu hoạt động mạnh như phun ra những luồng gió thật mạnh gọi là gió mặt trời. Sau đó vài triệu năm, hoạt động của nó trở nên dịu lại rồi ở trong trạng thái như hiện nay.


    Giai Đoạn Trưởng Thành

    Tương tự như những ngôi sao khác trong vũ trụ, mặt trời có một giai đoạn chính, hay giai đoạn trưởng thành trong cuộc đời. Trong giai đoạn này tại lõi, 600 triệu tấn khí hydrogen được biến đổi ra khí helium mỗi giây, tức là sản xuất ra một số năng lượng là 4x1027 watts. Suốt 4 tỉ năm qua, mặt trời liên tục sản xuất ra khối năng lượng như vậy, tuy nhiên số nguyên liệu trong lõi không phải là vô giới hạn mà sẽ cạn dần. Khoảng 7 tỉ năm nữa số lượng hydrogen cuối cùng sẽ cạn hết.


    Khi đó, trái đất sẽ ở trong tình trạng như Kim Tinh ngày nay.
    Khi mà mặt trời tạo ra nhiều chất helium trong lỏi, nó phải đốt cháy nhiều chất hydrogen, hậu quả là thải ra không gian càng nhiều (gió mặt trời) càng ngày nó càng sáng và càng nóng. Mặt trời càng nóng thì trái đất chịu nhiều tai hại. Trong khoảng 1.1 tỉ năm nữa, mặt trời sẽ nóng hơn 10% so với hiện nay. Khởi đầu sức nóng này sẽ gây nên tình trạng “hậu quả nhà kiếng”, tương tự như tình trạng hiện nay tại Kim Tinh, sau đó sẽ làm nước trên mặt đất bốc hơi. Trong khoảng 3.5 tỉ năm nữa, sức nóng của mặt trời sẽ 40% mạnh hơn hiện nay, nước trong đại dương sôi lên và hơi nước sẽ thoát vào không gian và không trở lại được. Tất cả băng đá ở hai cực sẽ tan hết, mưa tuyết chỉ còn là chuyện cổ tích.

    Cái Chết của Vừng Thái Dương

    Vạn vật phải có lúc tận cùng, điều này đúng cho chúng ta, đúng cho trái đất và đúng cho cả ngôi mặt trời nữa. Việc này không xẩy ra vào ngày mai, nhưng là một ngày nào đó trong tương lai khi mà nó đã sử dụng hết nguồn nhiên liệu cuối cùng, cuộc đời nó sẽ kết thúc tương tự như hàng tỉ tỉ ngôi sao khác trong vũ trụ.

    Khoảng 6 tỉ năm nữa, lõi của mặt trời sẽ hết nhiêu liệu hydrogen. Chất tro helium “trơ” tích tụ trong lõi này trở nên không bền và bị suy xụp. Lúc này lõi mặt trời trở nên nóng hơn, đậm đặc hơn. Nó sẽ phình to ra và ở trong giai đoạn mới trong tiến trình tiến hoá để trở thành một “ngôi sao đỏ khổng lồ” (Red Giant), bao chùm cả qũy đạo Thủy Tinh (Mercury) và Kim Tinh (Venus), có thể tới cả trái đất nữa.


    Khi mà lớp ngoài bị thổi bay hết, ngôi mặt trời lúc này trở thành ngôi sao màu trắng còm cõi, chỉ còn trơ lại chiếc lõi carbon, có kích thước tương tư như trái đất hiện nay.
    Khi ở trong giai đoạn này thì cuộc đời của ngôi mặt trời đã sắp tới thời kỳ kết thúc. Lúc này nó vẫn còn đủ hơi nóng và áp xuất tại lõi để bắt đầu cho một tiến trình mới: đốt chất helium để tạo ra chất carbon. Tiến trình kéo dài khoảng 100 ngàn năm cho đến khi nhiên liệu trong lõi hoàn toàn cạn kiệt. Trong giai đoạn này, lớp khí quyển bao quanh mặt trời bị thổi bay vào không gian. Khi mà lớp ngoài đã bị thổi bay hết thì ngôi mặt trời lúc này chỉ còn trơ lại chiếc lõi carbon, có kích thước tương tự như trái đất ngày nay. Mặt trời lúc này trở thành “Ngôi Sao Trắng Còm” (White Dwarf), nó vẫn còn nóng đủ để toả ra ánh sáng, rồi nguội dần cho đến khi nó trở về cùng nhiệt độ với vũ trụ, chỉ vài độ trên độ tuyệt đối.
    Và … chu trình đời sống của một ngôi sao, ngôi mặt trời chấm dứt hẳn.

    Mặt Trời Có Nổ Không?

    Trước hết, mặt trời là một ngôi sao có khối lượng tương đối nhỏ so với nhiều ngôi sao khác trong vũ trụ. Khi nguồn nhiên liệu cạn kiệt, nó sẽ phình lên thành ngôi sao khổng lồ màu đỏ, những lớp vỏ ngoài sẽ bị bắn tung vào không gian, rồi sẽ biến thành ngôi sao trắng còm cõi và nguội lại dần dần.

    Ví dụ nếu ngôi mặt trời có một khối lượng nhiều hơn gấp 10 lần, khi đã đốt hết chất nhiên liệu hydrogen trong lõi, nó sẽ sử dụng tới chất helium rồi tới các nguyên tử carbon. Nó tiếp tục tiêu dùng các nguồn nhiên liệu nặng có trong các lớp, tương tự như các lớp của củ hành. Rồi chất sắt bắt đầu tích tụ dần trong lõi, sắt không phát ra năng lượng dưới sự tổng hợp hạt nhân nên ngôi sao không có áp xuất hướng ra phía ngoài. Khi khối lượng chất sắt nhiều khoảng 1.38 khối lượng của ngôi sao, nó sẽ phát nổ (Supernova) và phát ra số năng lượng khổng lồ. Trận nổ như vậy khiến số nhiệt lượng tới trái đất chỉ trong vòng 8 phút và đốt cháy mọi vật trong thái dương hệ.

    Nhưng … mặt trời chỉ có một khối lượng nhỏ và không thể phát nổ được, xin đừng lo!

    Ngày Tàn Của Trái Đất:

    Mặt trời trở thành “Ngôi Sao Trắng Còm Cõi” trong vòng 6- 7 tỉ năm nữa, còn số phận của trái đất sẽ ra sao? Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì toàn thể các loài thực vật và động vật trên mặt đất sẽ bị hủy diệt hết trong khoảng một tỉ năm nữa. Hiện nay, chúng ta lo ngại quá nhiều chất carbon dioxide trong bầu khí quyển mang đến hậu quả là trái đất bị hâm nóng, nhưng trong tương lai, chính vì quá ít chất này trong bầu khí quyển sẽ đưa đến việc sinh vật trên trái đất bị tiêu diệt. Khi mặt trời ngày một nóng hơn, mức độ bốc hơi của nước ngày một gia tăng cũng như những phản ứng với nước mưa khiến lượng khí carbon dioxide trong không khí ngày một giảm dần. Trong khoảng dưới một tỉ năm nữa, số lượng này quá ít khiến những phản ứng quang tổng hợp của thực vật không thực hiện được nữa.


    Khi mặt trời ngày một nóng, nước tại sông, hồ, đại dương bị bốc hơi ngày một nhiều, lượng carbon dioxide trong bầu khí quyển giảm dần tới lúc các phản ứng quang tổng hợp không thể thực hiện được nữa.
    Thực vật bị tiêu diệt thì các loài động vật cũng biến mất dần, lúc đó trên trái đất chỉ còn những loài vi trùng sống sót thôi. Trong vòng một tỉ năm sau đó khi đại dương hoàn toàn khô cạn nhà thiên văn sinh vật học tại đại học St. Andrews, Tô Cách Lan là Jack O’Malley-James miêu tả: “Khi đó trái đất là nơi thù nghịch của đời sống, trái đất sẽ chịu cái nóng khủng khiếp cũng như những làn bức xạ của tia tử ngoại thật ghê gớm”.

    Nói một cách chi tiết hơn, hiện tại trái đất đang ở trong giai đoạn toàn hảo hay là thiên đường cho các loài sinh vật, thực vật cũng như động vật. Các nhà khoa học nói là những điều kiện thích hợp nhất cho sự sống bắt đầu xấu dần đi để đi đến giai đoạn cuối và con người chỉ còn chừng nửa tỉ năm nữa để có thể cư ngụ trên hành tinh trái đất này. Hiện tại mặt trời tỏa ra sức nóng gấp 30% nhiều hơn là giai đoạn ban đầu mới thành lập, nhờ hệ thống phức tạp của lớp khí quyển làm nhiệt độ trên mặt đất tương đối ổn định, ngoại trừ thỉnh thoảng phải trải qua thời đại băng đá trong suốt 4.5 tỉ năm vừa qua. Tại sao khi mặt sức nóng của trời tăng lên 30% mà trái đất duy trì nhiệt độ ở mức ổn định được? Nhà thiên văn vật lý học Donald Brownlee tại đại học Washington giải thích: “Khi mặt trời nóng dần lên, thành phần các chất khí trong bầu khí quyển của trái đất thay đổi mà chất carbon dioxide giữ vai trò chủ yếu. Vào giai đoạn ban đầu khi ngôi mặt trời mới được thành lập thì nó còn mờ, các chất khí này dầy đặc trong bầu khí quyển giữ cho nhiệt độ trên mặt đất được ấm áp. Khi mặt trời nóng lên dần, chất khí carbon dioxide trong bầu khí quyển bị nước mưa kéo xuống để tích tụ trên mặt đất thành chất carbonate. Khi mà trái đất càng bị hâm nóng, hiện tượng này xẩy ra càng nhanh và khoảng chừng vài trăm triệu năm nữa, lượng chất khí carbon dioxide quá ít trong bầu khí quyển sẽ đưa đến hậu quả nghiêm trọng”

    Chất carbon dioxide là “thực phẩm cho đời sống”, nó cần thiết cho thực vật sinh trưởng (phản ứng quang tổng hợp). Không còn thực vật, các loài động vật sẽ tuyệt chủng dần. Vài loài sẽ tiến trở về sinh sống tại các khu dầm lầy, biển để tránh cái nóng, tức là đi ngược lại thuyết tiến hoá. Khi mà mặt trời phình lớn để trở thành “Ngôi Sao Khổng Lồ Màu Đỏ”, trái đất khi đó quá nóng, nước tại đại dương bốc hơi hết và khi mặt trời trở thành “Ngôi Sao Màu Trắng Còm Cõi” thì trái đất và các hành tinh trong thái dương hệ sẽ trở thành cụm tro tàn màu đen và vĩnh viễn biến mất khỏi tầm quan sát từ các thái dương hệ hay các giải ngân hà khác.

    Đời sống ngắn ngủi của ngôi định tinh mặt trời và hành tinh trái đất chấm dứt từ đó.

    Trần Hồng Văn.
    [email protected]
    4/2014

    *Lannguyen chân thành cảm ơnTrần Hồng Văn và http://vietvungvinh.com/
    Lannguyen

  10. #90
    Join Date
    Sep 2017
    Posts
    31
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default You’ve been chosen

    Today is your lucky day as you’ve been chosen to receive this generous Welcome Bonus. This exclusive offer only goes to a select number of people, so don’t miss out. Previous recipients have gone on to win thousands, so use this offer today to double your deposits and become another winner. Welcome Bonus skyliteboom.com Has sido elegido Hoy es tu dia de suerte ya que has sido elegido para recibir este generoso bono de bienvenida. Esta oferta exclusiva solo va a un numero selecto de personas, por lo que no se pierda. Los beneficiarios anteriores han ganado miles, asi que use esta oferta hoy para duplicar sus depositos y convertirse en otro ganador. Has sido elegido

  11. #91
    Join Date
    Sep 2017
    Posts
    31
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default You’ve been chosen

    Today is your lucky day as you’ve been chosen to receive this generous Welcome Bonus. This exclusive offer only goes to a select number of people, so don’t miss out. Previous recipients have gone on to win thousands, so use this offer today to double your deposits and become another winner. Welcome Bonus skyliteboom.com Has sido elegido Hoy es tu dia de suerte ya que has sido elegido para recibir este generoso bono de bienvenida. Esta oferta exclusiva solo va a un numero selecto de personas, por lo que no se pierda. Los beneficiarios anteriores han ganado miles, asi que use esta oferta hoy para duplicar sus depositos y convertirse en otro ganador. Has sido elegido

  12. #92
    Join Date
    Nov 2017
    Posts
    7
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Tìm Hiểu Về Khoa Học Ngày Nay


Page 5 of 5 FirstFirst 12345

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Giấc mơ và khoa học
    By badv in forum Kiến Thức Khắp Nơi
    Replies: 3
    Last Post: 01-14-2010, 06:43 PM
  2. Đức tin và Khoa học
    By cdcd in forum Tìm hiểu về Công Giáo
    Replies: 0
    Last Post: 12-03-2009, 11:03 AM
  3. Học chứng khoán không tốn tiền?
    By trungtu in forum Ðầu Tư Cổ Phiếu, Bond, Mutual Funds
    Replies: 14
    Last Post: 07-27-2009, 12:48 PM
  4. Dứt khoát không làm tôi hai chủ
    By noname1234 in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 9
    Last Post: 07-31-2008, 04:17 PM
  5. Xem tin tức về Thị trường chứng khoán ở đâu?
    By trungtu in forum Ðầu Tư Cổ Phiếu, Bond, Mutual Funds
    Replies: 4
    Last Post: 12-24-2007, 06:16 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •