Page 1 of 2 12 LastLast
Results 1 to 20 of 40

Thread: Tổng thống Ngô Đình Diệm còn sống, VNCH còn tồn tại

  
  1. #1
    Join Date
    Oct 2007
    Posts
    375
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Nếu tổng thống Ngô Đình Diệm còn sống, thì VNCH còn tồn tại


    Di ảnh cố tổng thống Ngô Đình Diệm. Nguồn AP



    Hình cố tổng thống Ngô Đình Diệm bị ám sát chết trong 1 chiến xa của quân tướng tá VNCH phản nghịch, bất đạo. Nguồn AP


    Năm nay, nhân kỷ niệm 45 năm CIA dùng tay chân bộ hạ tổ chức đảo chánh lật đổ và giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Đài BBC mời một số nhà nghiên cứu viết bài đánh giá những khía cạnh khác nhau về thời kỳ Đệ Nhất Cộng Hòa của miền Nam Việt Nam.

    Dưới đầu đề “Liên minh bất hoà: Ngô Đình Diệm và Mỹ” , website BBCVietnamese.com ngày 17.9.2008 đã giới thiệu bài bài đánh giá những khía cạnh khác nhau về thời kỳ Đệ Nhất Cộng Hòa của Tiến Sĩ Philip E. Catton. Ông là giáo sư phụ khảo về lịch sử tại Stephen F. Austin State University. Ông được lựa chọn vì tác phẩm “Diem’s Final Failure: Prelude to America’s War in Vietnam” của ông xuất bản năm 2002, một tác phẩm được coi là có một cách nhìn mới về tương quan giữa Hoa Kỳ và chính phủ để nhất VNCH. Sau đây là một vài nhận xét về cuốn sách này:

    “Với nhiều chế nhạo nhưng lại thiếu hiểu biết, từ lâu Tổng Thống Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm thường được mô tả như là một nhà độc tài cứng đầu và không có khả năng thích hợp. Sự nghiên cứu một cách thấu đáo của Philip Catton đã cung cấp cho chúng ta nhiều hơn hình ảnh phúc tạp của ông Diệm về cả một nhà yêu nước nhiệt tình lẫn một kiến trúc sư thất bại trong việc canh tân hoá. Bằng cách đó, tác giả tỏa ra ánh sáng mới về một chế độ có nhiều tranh luận...”

    “Tập trung vào Chương Trình Ấp Chiến Lược ở tỉnh Bình Dương như là một mẫu mực về các nỗ lực của ông Diệm, Catton đã coi nhà lãnh đạo Việt Nam như là một người có tư tưởng tiến bộ cố gắng cùng một lúc đánh bại cộng sản và canh tân đất nước. Catton đã nhận xét rằng ông Diệm có một tầm nhìn vững chắc về xây dựng quốc gia và tìm cách vượt qua sự lệ thuộc vào viện trợ của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Catton cho thấy rằng kê hoạch của ông Diệm cho Miền Nam Việt Nam đụng chạm với kế hoạch của Hoa Kỳ và tỏ ra không địch được với cộng sản Việt Nam.”

    Mở đầu, BBC viết:

    “Trong vài năm gần đây, một thế hệ mới các sử gia Mỹ đã quan tâm trở lại và công bố những tác phẩm mới về thời kỳ nắm quyền của Ngô Đình Diệm.

    “Năm nay đánh dấu 45 năm ngày xảy ra cuộc đảo chính của các tướng lĩnh miền Nam với sự ủng hộ của Mỹ, lật đổ chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm. Nhân dịp này, BBC mời một số nhà nghiên cứu viết bài đánh giá những khía cạnh khác nhau về thời kỳ Đệ nhất Cộng hòa của miền Nam Việt Nam.

    “Mở đầu bàn tròn lịch sử, xin trân trọng giới thiệu bài viết của tiến sĩ Philip Catton. Ông lấy bằng tiến sĩ ở Đại học Ohio (1998) với luận án về chương trình Ấp Chiến lược đầu thập niên 1960”

    LIÊN MINH BẤT HÒA

    Tiến Sĩ Philip Catton đã viết về sự đụng chạm giữa Hoa Kỳ và ông Ngô Đình Diệm như sau:

    Winston Churchill từng có một bình luận nổi tiếng về bản chất phức tạp của những mối liên minh thời chiến. Đề cập quan hệ giữa Anh và Mỹ trong Thế Chiến Hai, ông bình phẩm: “Chỉ có một thứ tệ hơn việc chiến đấu cùng đồng minh, và đó là chiến đấu thiếu họ!”

    Mặc dù người Anh và Mỹ cần có nhau để đánh bại kẻ thù chung, nhưng đồng thời họ vẫn theo đuổi quyền lợi chính trị riêng và thường xuyên va chạm quanh câu hỏi về cách thức tiến hành chiến tranh.

    Điều này cũng đúng cho liên minh Mỹ - Nam Việt Nam. Chính phủ ở Sài Gòn và Washington đến với nhau vì cùng có kẻ thù chung, những người cộng sản Việt Nam. Nhưng điều đó không có nghĩa là họ luôn hòa thuận. Các khác biệt luôn tồn tại trong giai đoạn 1954-1963 khi Ngô Đình Diệm lãnh đạo Nam Việt Nam – cuối cùng, chúng trở nên không thể giải quyết và đưa người Mỹ can dự vào âm mưu lật đổ chính quyền Diệm.

    1.- Nghi ngờ và e ngại

    Ngay từ đầu, nghi ngờ và e ngại đã chi phối quan hệ Mỹ - Việt. Nhiều sử gia đã ghi nhận liên hệ mà Diệm tạo dựng được với các chính khách quan trọng ở Mỹ đầu thập niên 1950. Một số người thậm chí kết luận chính quan hệ này giúp Diệm trở thành thủ tướng năm 1954 – nói cách khác, họ cho rằng Diệm là đồ đệ của Mỹ.

    Nhưng không có nhiều bằng chứng ủng hộ luận cứ này. Bảo Đại, cựu hoàng và Quốc trưởng của Quốc Gia Việt Nam, có vẻ chọn Diệm chủ yếu là vì những lý do liên quan chính trị ở Việt Nam, chứ không phải Mỹ.

    Ngay cả sau khi Diệm đã thành công trong việc củng cố quyền lực, những lo ngại ban đầu không biến đi vì Diệm tỏ ra miễn cưỡng khi phải nghe lời khuyên của Mỹ.

    Thực ra người Mỹ nuôi một số lo ngại về Diệm. Họ ủng hộ chính phủ ông năm 1954 vì muốn ngăn cộng sản chiếm miền nam, nhưng họ không biết nhiều về tân thủ tướng và có những quan điểm trái ngược về khả năng cầm quyền của ông. Một mặt, họ ca ngợi phẩm cách, sự trung thực và lòng ái quốc của ông. Mặt khác, họ lo ngại ông quá cứng đầu, luôn tự cho mình là đúng và thiếu kinh nghiệm. Nhiều viên chức Mỹ cho rằng ông không đủ khả năng tổ chức một chính phủ hiệu quả.

    Ngay cả sau khi Diệm đã thành công trong việc củng cố quyền lực, những lo ngại ban đầu không biến đi vì Diệm tỏ ra miễn cưỡng khi phải nghe lời khuyên của Mỹ.

    Người Mỹ tin rằng họ có câu trả lời để xây dựng các tân quốc gia hiện đại, phú cường trong Thế giới thứ Ba và khuyến khích Diệm áp dụng các “đơn thuốc” cho sự phát triển của miền Nam. Đặc biệt vào những khi tình hình đất nước xấu đi, người Mỹ thúc Diệm sửa chữa cái mà họ xem là khiếm khuyết của chính thể: sự lộn xộn trong bộ máy hành chính do Diệm không muốn san sẻ quyền hành, sự thiếu dân chủ và thiếu ủng hộ chính phủ trong dân chúng.

    Người Mỹ lo ngại rằng quá thừa sự chuyên quyền, mà không đủ nỗ lực chinh phục thêm người ủng hộ. Nhưng họ bực tức thấy Diệm vẫn cứ làm theo ý mình.

    2.- Viễn kiến riêng

    Trong khi người Mỹ lo ngại về Diệm, bản thân nhà lãnh đạo cũng lo ngại về Mỹ. Ông vui lòng chấp nhận hỗ trợ quân sự và kinh tế của Mỹ, nhưng không sẵn sàng lắng nghe lời khuyên của Mỹ. Ông không tin người Mỹ biết gì nhiều về Việt Nam hay có nhiều hiểu biết chính trị.

    Em trai, Ngô Đình Nhu, có quan điểm đặc biệt tiêu cực về Mỹ. Có thể vì đi học trường Pháp, Nhu xem người Mỹ là hỗn xược và thô thiển.

    Kết quả là chính quyền Diệm không mấy tin vào nhận định của đồng minh Mỹ, xem các đề xuất chính sách của Mỹ là sai lầm. Diệm tin rằng chỉ có bàn tay sắt mới giải quyết được các vấn nạn của miền Nam.

    Khủng hoảng Phật giáo 1963 làm Mỹ tin rằng phải thay chính quyền Diệm.

    Trái ngược với ấn tượng xem ông là hẹp hòi và là “viên quan hoài cổ”, Diệm có viễn kiến riêng về cách xây dựng nhà nước hiện đại ở miền Nam.

    Ông muốn một nhà nước không sao chép cả tư bản lẫn cộng sản. Ông muốn một xã hội lấy cảm hứng từ mô hình văn hóa xã hội truyền thống của Việt Nam – vừa hiện đại nhưng hình như cũng phải thuần Việt.

    Không chỉ xem lời khuyên của Mỹ là vô ích, Diệm còn căm ghét nó. Có lần ông nói với nhà báo Mỹ Marguerite Higgins: “Nếu anh ra lệnh Việt Nam như con rối, thì anh có khác gì người Pháp?” Diệm rất nhạy cảm về sự độc lập và bất kỳ sự xâm phạm nào đến chủ quyền đất nước. Ông hiểu mình phụ thuộc trợ giúp của Mỹ, nhưng cảm thấy lúng túng và bực bội vì phụ thuộc.

    Ông cũng biết nó nguy hiểm về chính trị, vì người cộng sản có thể cáo buộc ông chỉ là kẻ phản bội và con rối. Để củng cố quyền uy lãnh đạo, ông phải chứng tỏ mình không phải là thế.

    3.- ‘Đụng độ giữa các nền văn minh’

    Những căng thẳng này cũng có thể kiềm chế được nếu dự án dựng xây một miền Nam vững chắc đã diễn ra suôn sẻ. Trong trường hợp đó, hai bên sẽ cảm thấy lợi ích của mối quan hệ lớn hơn sự bực mình.

    Nhưng vấn đề là nỗ lực xây dựng miền Nam dường như lại chuệch choạc. Năm 1960, những người cộng sản bắt đầu tổ chức du kích chống lại chính quyền Diệm, bằng sự thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Du kích nhanh chóng kiểm soát nhiều khu vực quan trọng ở nông thôn miền Nam.

    Lại có những dấu hiệu cho thấy Diệm để mất ủng hộ trong những người chống cộng, cụ thể là vụ đảo chính bất thành tháng 11.1960.

    Dù có kẻ thù chung, hai phía có tư tưởng riêng về cách đánh bại đối phương, viễn kiến riêng về hình hài của một Nam Việt Nam phi cộng sản

    Trong giai đoạn John F. Kennedy cầm quyền (1961-1963), người Mỹ một lần nữa thuyết phục Diệm thay đổi, đồng thời tăng cường hiện diện trên đất miền Nam. Nhưng Diệm tiếp tục chống lại đòi hỏi của Mỹ và khó chịu khi phải tiếp đón số lượng cố vấn Mỹ ngày càng tăng. Đến mùa xuân 1963, ông và Nhu bày tỏ lo lắng về cái mà họ xem là sự quá phụ thuộc vào Mỹ và nguy cơ đất nước của họ trở thành nước bị bảo hộ.

    Trong không khí căng thẳng này, Khủng hoảng Phật giáo trở thành giọt nước tràn ly. Phản ứng bản năng của Diệm là không nhượng bộ. Ông còn nghi ngờ người Mỹ tìm cách phá ông khi cứ đòi ông nhượng bộ người biểu tình. Ông cũng lo việc Henry Cabot Lodge trở thành tân đại sứ Mỹ báo hiệu chính sách kém thân thiện với chính quyền miền Nam.

    Với nhiều viên chức Mỹ, khủng hoảng Phật giáo và việc Diệm khăng khăng không chịu nhượng bộ xác nhận sự phá sản chính trị và đạo đức của chính quyền. Họ lý luận để cứu miền Nam, phải thay chính phủ Diệm. Cuộc đảo chính tháng 11.1963 diễn ra vì Diệm để mất ủng hộ của Mỹ.

    Ngô Đình Nhu có lần gọi quan hệ Việt – Mỹ là “sự đụng độ của các nền văn minh” . Có lẽ đó là sự mô tả hợp lý. Dù có kẻ thù chung, hai phía có tư tưởng riêng về cách đánh bại đối phương, viễn kiến riêng về hình hài của một Nam Việt Nam phi cộng sản.

    Một nghiên cứu chính thức của Mỹ sau này nhận xét: “Phần nào đó, người Mỹ và Việt Nam đi cùng một xe, nhưng thường bất đồng về việc ai lái xe, điểm đến là đâu, dùng tuyến đường nào. Chúng ta là những đồng minh không tin nhau, theo đuổi công việc chung nhưng chia rẽ.”

    Những khác biệt đó đã tạo thành mối liên minh bất hòa, và cuối cùng tan rã.

    KHỦNG HOẢNG NGHIÊM TRỌNG

    Giáo sư Tôn Thất Thiện, Tổng Giám Đốc Thông Tin kiêm thông dịch viên của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, có kể lại rằng khi đến Việt Nam quan sát tình hình vào đầu tháng 11 năm 1962, Hilsman có được ông Diệm tiếp kiến. Sau khi nói chuyện với Hilsman xong, ông Diệm lắc đầu và nói: “Mấy tên con nít này nó sẽ giết mình đây. Chúng nó chẳng hiểu gì cả!” Lúc đó Hilsman 43 tuổi.

    Trước những bất hoà nói trên, một số viên chức Hoa Kỳ, nhất là Thứ Trưởng Harriman, người được Tổng Thống Kennedy giao cho gần như toàn quyền quyết định về chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, đã tìm cách để lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm bằng mọi giá. Nhưng cuộc lật đổ và giết ông Diệm lại gây ra những khủng khoảng nghiêm trọng cho chính quyền Kennedy ở trong nội bộ của chính phủ Hoa Kỳ và làm phương hại đến chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ.

    1.- Tổng thống Kennedy bị khủng hoảng

    Trong cuốn hồi ký mang tên “In Retrospect, the Tragedy and Lessons of Vietnam” , ông McNamara cho biết những gì đã xẩy ra tại Tòa Bạch Ốc sau khi nghe tin Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã bị giết. Ông viết:

    “Lúc 9 giờ 30 phút sáng 2 tháng 11, chúng tôi gặp nhau với Tổng Thống, tiếp tục cuộc họp chiều hôm qua để thảo luận về các biến cố. Khi buổi họp bắt đầu, chưa ai rõ số phận ông Diệm và ông Nhu ra sao. Đến nữa chừng, Mike Forrestal từ Phòng Tình Hình tông cửa chạy vào. Trạm CIA tại Saigon báo cáo rằng họ được các nhân vật đối tác của Saigon cho biết hai anh em ông đã tự vẫn “trên đường từ thành phố đến Bộ Tổng Tham Mưu...”

    “Khi Tổng Thống Kennedy nhận được tin này, mặt ông tái xanh. Tôi chưa bao giờ thấy ông xúc động mạnh đến như thế. Sau này Forrestal thuật lại rằng cái chết của hai người “đã làm cho ông buồn bực về cả phương diện luân lý lẫn tôn giáo... làm lung lay lòng tin tưởng... về những gì ông đã khuyến cáo liên quan đến Nam Việt Nam.” Arthur Schlesiger Jr. ghi nhận rằng Tổng Thống “buồn thảm và bối rối”, tinh thần xem ra suy sụp chưa từng thấy từ sau vụ thất bại ở Vịnh Con Heo.”

    “Đọc xong bản tin, Tổng Thống nghĩ đến ảnh hưởng của cái chết của hai người có tác dụng xấu ngay trong nước và ở hải ngoại... Tổng Thống nghĩ rằng sau hai mươi năm phục vụ quê hương Việt nam, sinh mạng ông Diệm không thể kết thúc như vậy. Lập luận của ông cũng giống như lời của Mao Trạch Đông đã nói với Edgar Snow trong một cuộc phỏng vấn năm 1965 rằng Hoa Kỳ không chịu nghe lời ông Diệm. Mao Trạch Đông cho biết bản thân ông và ông Hồ Chí Minh đều nghĩ rằng ông Ngô Đình Diệm là người có tài. Rốt cuộc, ông hỏi rằng sau khi giết ông Diệm thì chuyện giữa Thiên Đường và Địa Ngục có bình yên không? Những ám chỉ trong lời nói của Mao Trạch Đông về các biến cố tại Việt Nam chúng tôi mới được biết sau khi cả Trung Hoa lẫn Việt Nam mở văn khố của họ, nhưng quan trọng hơn, câu nói đó đang tạo rất nhiều vấn đề.

    “Cái chết của ông Diệm đã làm xúc động Tổng Thống Kennedy, nhưng đó không phải là sự xúc động lớn nhất. Trong hồi ức, sự xúc động lớn nhất là chúng ta phải đối phó với một khoảng trống chính trị hoàn toàn ở Nam Việt Nam và không có căn bản nào để xúc tiến về bất cứ tiến trình nào phù hợp với các mục tiêu của Hoa Kỳ.”

    Hôm 4.11.1963, hai ngày sau khi ông Diệm bị ám sát, Tổng Thống Kennedy nói:

    “Theo sự xét đoán của tôi, bức điện đó (ra lệnh đảo chánh) đã được soạn thảo tồi tệ. Bức điện đó phải không bao giờ được gởi vào hôm thứ bảy. Tôi phải không bao giờ biểu đồng tình nếu không được bàn luận bàn tròn.”

    Tổng Thống Kennedy nói ông đã gởi một bức điện khác để đình hoản lại nhưng kế hoạt đảo chánh đã được tiến hành rồi.

    Phần băng ghi lại lời của Tổng Thống Kennedy ba tuần lễ trước khi ông bị ám sát tại Texas có đoạn như sau:

    “Tôi bị chấn động vì cái chết của Ngô Đình Diệm. Ông ta là một nhân vật khác thường. Trong khi ông ta bắt đầu gia tăng sự khó khăn trong vài tháng cuối cùng, ông ta đã có thể duy trì được đất nước về một mối trong 10 tháng cuối cùng.”

    Lo lắng về những hậu quả có thể xẩy ra sau khi ông Diệm bị ám sát, Tổng Thống Kennedy nói:

    “Vấn đề là các tướng lãnh có thể ngồi lại với nhau và xây dựng một chính quyền ổn định hay công luận có chuyển đổi tại Saigon hay không” .

    2.- Khủng hoảng ở quốc ngoại

    Ngoài việc làm cho tình hình miền Nam Việt Nam trở nên tồi tệ về cả chính trị lẫn quân sự, sự mất tin tưởng của các quốc gia Á Châu vào Hoa Kỳ là điều đáng quan tâm.

    Trong cuốn hồi ký mang tên “The memoirs of Richard Nixon” , Tổng Tống Nixon có kể lại rằng khi đến Pakistan, ông gặp lại người bạn cũ là Tổng Tống Ayub Khan. Tổng Thống Khan đã nói một cách đau buồn về việc hạ sát Tổng Tống Ngô Đình Diệm:

    “Tôi không thể nói – lẽ ra các ông đừng bao giờ ủng hộ ông Diệm ngay từ đầu. Nhưng các ông đã ủng hộ ông ta trong một thời gian dài và mọi người ở Á Châu đều biết điều đó. Dù họ có tán thành hay không tán thành điều đó, họ biết điều đó. Rồi đột nhiên các ông ngừng ủng hộ ông ta – và ông Diệm đã bị giết.” Ông ta lắc đầu và kết luận: “Việc hạ sát ông Diệm có ba ý nghĩa đối với các nhà lãnh đạo Á Châu: làm một người bạn với Hoa Kỳ là nguy hiểm; trung lập phải trả cái giá của nó; và đôi khi làm kẻ thù (của Hoa Kỳ) lại tốt hơn! Lòng tin cậy như một sợi chỉ mong manh và một khi nó đã đứt, rất khó mà nối lại.” (tr. 256 – 257).

    3.- Lãnh nhận cái chết

    Những sự kiện đã được trình bày trên cho thấy Tổng Thống Kennedy có hai khuyết điểm lớn trong việc lãnh đạo quốc gia:

    (1) Không có quyết định dứt khoát trước những vấn đề cần phải quyết định dứt khoát. Trước chủ trương của nhóm Harriman phải lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm bằng mọi giá, Tổng Thống không đưa ra quyết định dứt khoát.

    (2) Không kiểm soát được các nhân viên dưới quyền: Để cho Harriman và Cabot Lodge lộng hành. Họ muốn làm gì thì làm.

    Hai khuyết điểm này không phải chỉ tìm thấy trong vụ đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm mà còn tìm thấy trong vụ Vịnh Con Heo và vụ trung lập hoá Lào. Với hai khuyết điểm nghiêm trọng đó, ông không thể tiếp tục lãnh đạo quốc gia. Ông đã bị giết ngày 23.11.1963 tại Dallas.

    TÌM CÁCH ÉM NHẸM PHÚC TRÌNH LHQ

    Không như Cabot Lodge đã báo cáo, phái đoàn Liên Hiệp Quốc đã khám phá ra nhiều sự gian dối do CIA và một nhóm nhỏ Phật Giáo tạo dựng ra để đánh gục chế độ Ngô Đình Diệm. Vì thế, Đại Sứ Cabot Lodge và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã tìm các ém nhẹm bản phúc trình của phái đoàn.

    Cuộc điều tra kéo dài trong hai tuần lễ. Khi phái đoàn đang điều tra thì cuộc đảo chánh xẩy ra, nhưng phái đoàn vẫn làm báo cáo và đệ trình lên Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Bản phúc trình đã được phổ biến tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc ngày 9.12.1963. Ngày 20.12.1963, Đại Sứ Fernando Volio Jimenez của Costa Rica đã nói với hảng thông tấn NCWC như sau:

    “Cảm tưởng của riêng tôi là không có chính sách kỳ thị, áp bức hay khủng bố đối với Phật Giáo trên căn bản tôn giáo. Những khai báo về phương diện này thường là nghe nói, và trình bày một cách mơ hồ và tổng quát.

    “Mỗi khi một nhân chứng cố gắng tìm một bằng chứng cụ thể nào để trình Phái Đoàn, rốt cục sự kiện chỉ là một hành vi lẻ tẻ hay cá nhân. Căn cứ trên bằng chứng, chính quyền không có chủ trương chính sách chống Phật Giáo vì lý do tôn giáo.”

    Thấy nội dung bản phúc trình nói lên những sự bất lợi, Đại Sứ Cabot Lodge đã vận động để bản phúc trình này đừng được đưa ra thảo luận tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc.

    Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc đã trình với Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ rằng “sự công khai hóa những điều mà phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc phát hiện được sẽ gây lúng túng cho chế độ mới ở Saigon gồm những người đã phục vụ dưới thời ông Diệm. Thêm nữa, một cuộc bàn cãi công khai có thể cho thấy rằng chế độ mới này cũng chẳng kém độc tài hơn chế độ cũ và cho Hà Nội và Bắc Kinh thêm một dịp tố cáo chính phủ Hoa Kỳ đính líu vào cuộc đảo chánh.”

    Do sự vận động khéo léo của Cabot Lodge và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Gunewardene, trưởng phái đoàn điều tra, đã đề nghị xếp luôn hồ sơ vụ này.

    Thượng Nghị Sĩ Thomas Dodd, Chủ Tịch Ủy Ban Tư Pháp, đã đọc và khám phá ra những gian dối do CIA đã phối hợp với Phật Giáo và báo chí để đánh lừa dư luận thế giới. Ông đã hỏi lại một số nhân vật trong phái đoàn điều tra, rồi viết một văn thư dề ngày 17.2.1964 gởi cho ông James Easland, Chủ Tịch Tiểu Ban Nội An của Thượng Viện, yêu cầu in bản phúc trình này ra và gởi cho các nghị sĩ biết. Ông viết:

    “Tuy rằng bản phúc trình này chủ yếu chỉ trình bày dữ kiện - lời khai của nhân chứng và tài liệu, không đưa ra kết luận chính thức của Ủy Ban của Liên Hiệp Quốc, tôi tin rằng bất cứ người khách quan nào có đọc nó cũng phải kết luận rằng những báo cáo về [chính quyền] khủng bố Phật Giáo một cách quy mô, quá lắm chỉ là một sự thổi phồng quá mức, và ít lắm là tuyên truyền bẩn thỉu và gian lận.

    “Về điểm này, tôi xin lưu ý đến một phỏng vấn của Đại Sứ Fernando Volio Jimenez của Costa Rica với hảng thông tấn NCWC ngày 20 tháng 12 (đã trích dẫn trên). Đại sứ là người đã đưa ra đề nghị lập Phái Đoàn Điều Tra của Liên Hiệp Quốc, và là một thành viên của phái đoàn này.

    “Được đích thân đọc bản phúc trình của Liên Hiệp Quốc, những tuyên bố đó đã làm cho tôi xúc động, và khiến tôi gọi Đại Sứ Volio để thảo luận những lời tuyên bố của ông ta chi tiết hơn.

    “Đại Sứ Volio nói với tôi rằng, căn cứ trên những tường thuật mà ông đọc trong báo chí quốc tế, ông đã sẵn sàng bỏ phiếu lên án chế độ Diệm, nhưng khi Diệm mời Liên Hiệp Quốc gởi quan sát viên của chính cơ quan này sang Việt Nam, ông thấy rằng phải nhận lời mời này trước khi Liên Hiệp Quốc chính thức tỏ thái độ.

    “Đại sứ nói rằng sau hai tuần điều tra ráo riết tại Việt Nam, ông đi đến kết luận là những lời buộc tội chế độ Diệm tại Liên Hiệp Quốc không có căn bản, không chấp nhận được; ông nghĩ rằng những bằng cớ chất đống không cho thấy rằng có sự kỳ thị về tôn giáo hay xâm phạm tự do tôn giáo.”

    “Tóm tắt, theo ý tôi, một lần nữa nhân dân Hoa Kỳ đã bị một số báo chí của họ lừa dối trầm trọng về một tình hình quốc ngoại có tính chất cốt tử đối với họ.

    “Chúng ta đã được báo cáo rằng Chính Phủ Diệm đã khủng bố tôn giáo một cách tàn nhẫn đến nỗi những sư vô tội đã bị dồn váo thế phải tự vận để phản đối. Nhưng nay ta thấy sự thực không phải vậy; sự thật là không.”

    Vì lý do Hoa Kỳ đưa ra để tổ chức lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm có nhiều mờ ám, do đó cho đến nay, bản phúc trình của phái đoàn LHQ nói trên vẫn chưa được in ra và chính thức phổ biến. Tuy nhiên, chúng tôi đã dịch ra Việt ngữ và sẽ gởi đến độc giả một ngày gần đây.

    Ghi chú: Muốn tìm các bài của chúng tôi, xin vào website motgoctroi.com, mục “Mỗi tuần một chuyện”

    Lữ Giang


    Một nén hương lòng tưởng nhớ cố tổng thống Ngô Đình Diệm người vì nước vì dân đã vong thân. Sự thật lịch sữ và tài liệu giải mật của CIA Mỹ ngày càng cho thấy sự thật tốt đẹp nới con người tt Diệm và phơi bày tội ác xấu xa ghê tởm bẩn thỉu của những kẻ tham gia, nhúng tay máu vào việc giết chết vị tổng thống liêm chính, có tài của VNCH là ông Ngô Đình Diệm. Tài liệu CIA đã vạch mặt những kẻ bấy lâu nay vì lý do tị hiềm về tôn giáo mưu đồ cá nhân để cố bôi bẩn chế độ đệ I VNCH và gia đình ông Ngô Đình Diệm. Nguyện xin linh hồn ông vui vẻ nơi chốn vĩnh hằng.
    Sự thật lịch sử trước sau vẫn là sự thật lịch sử bất chấp miệng lưỡi thúi tha và độc ác của một số người Việt bất lương đã bịa đặt những chuyện độc ác nhất đổ vào đầu ông Diệm và gia đình.
    Đinh Ngọc Khuê

    Trước 1975 VNCH Đệ I & II vất vả đối phó tăng ni Phật tử xuống đường biểu tình, vc nằm vùng trong chùa làm loạn miền Nam giúp VC. Sau 1975 Phật giáo chiếm 85% dân số nhưng im re trước VC.

    Sau 1975 dân đạo Chúa xuống đường chống VC như vụ Thái Hà, Khâm Sứ, Tam Tòa dù họ chỉ chiếm 7% dân số.

  2. #2
    Join Date
    Apr 2001
    Posts
    689
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Nếu tổng thống Ngô Đình Diệm còn sống, thì VNCH còn tồn tại

    Quote Originally Posted by DinhNgocKhue View Post

    Di ảnh cố tổng thống Ngô Đình Diệm. Nguồn AP



    Hình cố tổng thống Ngô Đình Diệm bị ám sát chết trong 1 chiến xa của quân tướng tá VNCH phản nghịch, bất đạo. Nguồn AP


    Năm nay, nhân kỷ niệm 45 năm CIA dùng tay chân bộ hạ tổ chức đảo chánh lật đổ và giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Đài BBC mời một số nhà nghiên cứu viết bài đánh giá những khía cạnh khác nhau về thời kỳ Đệ Nhất Cộng Hòa của miền Nam Việt Nam.

    Dưới đầu đề “Liên minh bất hoà: Ngô Đình Diệm và Mỹ” , website BBCVietnamese.com ngày 17.9.2008 đã giới thiệu bài bài đánh giá những khía cạnh khác nhau về thời kỳ Đệ Nhất Cộng Hòa của Tiến Sĩ Philip E. Catton. Ông là giáo sư phụ khảo về lịch sử tại Stephen F. Austin State University. Ông được lựa chọn vì tác phẩm “Diem’s Final Failure: Prelude to America’s War in Vietnam” của ông xuất bản năm 2002, một tác phẩm được coi là có một cách nhìn mới về tương quan giữa Hoa Kỳ và chính phủ để nhất VNCH. Sau đây là một vài nhận xét về cuốn sách này:

    “Với nhiều chế nhạo nhưng lại thiếu hiểu biết, từ lâu Tổng Thống Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm thường được mô tả như là một nhà độc tài cứng đầu và không có khả năng thích hợp. Sự nghiên cứu một cách thấu đáo của Philip Catton đã cung cấp cho chúng ta nhiều hơn hình ảnh phúc tạp của ông Diệm về cả một nhà yêu nước nhiệt tình lẫn một kiến trúc sư thất bại trong việc canh tân hoá. Bằng cách đó, tác giả tỏa ra ánh sáng mới về một chế độ có nhiều tranh luận...”

    “Tập trung vào Chương Trình Ấp Chiến Lược ở tỉnh Bình Dương như là một mẫu mực về các nỗ lực của ông Diệm, Catton đã coi nhà lãnh đạo Việt Nam như là một người có tư tưởng tiến bộ cố gắng cùng một lúc đánh bại cộng sản và canh tân đất nước. Catton đã nhận xét rằng ông Diệm có một tầm nhìn vững chắc về xây dựng quốc gia và tìm cách vượt qua sự lệ thuộc vào viện trợ của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Catton cho thấy rằng kê hoạch của ông Diệm cho Miền Nam Việt Nam đụng chạm với kế hoạch của Hoa Kỳ và tỏ ra không địch được với cộng sản Việt Nam.”

    Mở đầu, BBC viết:

    “Trong vài năm gần đây, một thế hệ mới các sử gia Mỹ đã quan tâm trở lại và công bố những tác phẩm mới về thời kỳ nắm quyền của Ngô Đình Diệm.

    “Năm nay đánh dấu 45 năm ngày xảy ra cuộc đảo chính của các tướng lĩnh miền Nam với sự ủng hộ của Mỹ, lật đổ chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm. Nhân dịp này, BBC mời một số nhà nghiên cứu viết bài đánh giá những khía cạnh khác nhau về thời kỳ Đệ nhất Cộng hòa của miền Nam Việt Nam.

    “Mở đầu bàn tròn lịch sử, xin trân trọng giới thiệu bài viết của tiến sĩ Philip Catton. Ông lấy bằng tiến sĩ ở Đại học Ohio (1998) với luận án về chương trình Ấp Chiến lược đầu thập niên 1960”

    LIÊN MINH BẤT HÒA

    Tiến Sĩ Philip Catton đã viết về sự đụng chạm giữa Hoa Kỳ và ông Ngô Đình Diệm như sau:

    Winston Churchill từng có một bình luận nổi tiếng về bản chất phức tạp của những mối liên minh thời chiến. Đề cập quan hệ giữa Anh và Mỹ trong Thế Chiến Hai, ông bình phẩm: “Chỉ có một thứ tệ hơn việc chiến đấu cùng đồng minh, và đó là chiến đấu thiếu họ!”

    Mặc dù người Anh và Mỹ cần có nhau để đánh bại kẻ thù chung, nhưng đồng thời họ vẫn theo đuổi quyền lợi chính trị riêng và thường xuyên va chạm quanh câu hỏi về cách thức tiến hành chiến tranh.

    Điều này cũng đúng cho liên minh Mỹ - Nam Việt Nam. Chính phủ ở Sài Gòn và Washington đến với nhau vì cùng có kẻ thù chung, những người cộng sản Việt Nam. Nhưng điều đó không có nghĩa là họ luôn hòa thuận. Các khác biệt luôn tồn tại trong giai đoạn 1954-1963 khi Ngô Đình Diệm lãnh đạo Nam Việt Nam – cuối cùng, chúng trở nên không thể giải quyết và đưa người Mỹ can dự vào âm mưu lật đổ chính quyền Diệm.

    1.- Nghi ngờ và e ngại

    Ngay từ đầu, nghi ngờ và e ngại đã chi phối quan hệ Mỹ - Việt. Nhiều sử gia đã ghi nhận liên hệ mà Diệm tạo dựng được với các chính khách quan trọng ở Mỹ đầu thập niên 1950. Một số người thậm chí kết luận chính quan hệ này giúp Diệm trở thành thủ tướng năm 1954 – nói cách khác, họ cho rằng Diệm là đồ đệ của Mỹ.

    Nhưng không có nhiều bằng chứng ủng hộ luận cứ này. Bảo Đại, cựu hoàng và Quốc trưởng của Quốc Gia Việt Nam, có vẻ chọn Diệm chủ yếu là vì những lý do liên quan chính trị ở Việt Nam, chứ không phải Mỹ.

    Ngay cả sau khi Diệm đã thành công trong việc củng cố quyền lực, những lo ngại ban đầu không biến đi vì Diệm tỏ ra miễn cưỡng khi phải nghe lời khuyên của Mỹ.

    Thực ra người Mỹ nuôi một số lo ngại về Diệm. Họ ủng hộ chính phủ ông năm 1954 vì muốn ngăn cộng sản chiếm miền nam, nhưng họ không biết nhiều về tân thủ tướng và có những quan điểm trái ngược về khả năng cầm quyền của ông. Một mặt, họ ca ngợi phẩm cách, sự trung thực và lòng ái quốc của ông. Mặt khác, họ lo ngại ông quá cứng đầu, luôn tự cho mình là đúng và thiếu kinh nghiệm. Nhiều viên chức Mỹ cho rằng ông không đủ khả năng tổ chức một chính phủ hiệu quả.

    Ngay cả sau khi Diệm đã thành công trong việc củng cố quyền lực, những lo ngại ban đầu không biến đi vì Diệm tỏ ra miễn cưỡng khi phải nghe lời khuyên của Mỹ.

    Người Mỹ tin rằng họ có câu trả lời để xây dựng các tân quốc gia hiện đại, phú cường trong Thế giới thứ Ba và khuyến khích Diệm áp dụng các “đơn thuốc” cho sự phát triển của miền Nam. Đặc biệt vào những khi tình hình đất nước xấu đi, người Mỹ thúc Diệm sửa chữa cái mà họ xem là khiếm khuyết của chính thể: sự lộn xộn trong bộ máy hành chính do Diệm không muốn san sẻ quyền hành, sự thiếu dân chủ và thiếu ủng hộ chính phủ trong dân chúng.

    Người Mỹ lo ngại rằng quá thừa sự chuyên quyền, mà không đủ nỗ lực chinh phục thêm người ủng hộ. Nhưng họ bực tức thấy Diệm vẫn cứ làm theo ý mình.

    2.- Viễn kiến riêng

    Trong khi người Mỹ lo ngại về Diệm, bản thân nhà lãnh đạo cũng lo ngại về Mỹ. Ông vui lòng chấp nhận hỗ trợ quân sự và kinh tế của Mỹ, nhưng không sẵn sàng lắng nghe lời khuyên của Mỹ. Ông không tin người Mỹ biết gì nhiều về Việt Nam hay có nhiều hiểu biết chính trị.

    Em trai, Ngô Đình Nhu, có quan điểm đặc biệt tiêu cực về Mỹ. Có thể vì đi học trường Pháp, Nhu xem người Mỹ là hỗn xược và thô thiển.

    Kết quả là chính quyền Diệm không mấy tin vào nhận định của đồng minh Mỹ, xem các đề xuất chính sách của Mỹ là sai lầm. Diệm tin rằng chỉ có bàn tay sắt mới giải quyết được các vấn nạn của miền Nam.

    Khủng hoảng Phật giáo 1963 làm Mỹ tin rằng phải thay chính quyền Diệm.

    Trái ngược với ấn tượng xem ông là hẹp hòi và là “viên quan hoài cổ”, Diệm có viễn kiến riêng về cách xây dựng nhà nước hiện đại ở miền Nam.

    Ông muốn một nhà nước không sao chép cả tư bản lẫn cộng sản. Ông muốn một xã hội lấy cảm hứng từ mô hình văn hóa xã hội truyền thống của Việt Nam – vừa hiện đại nhưng hình như cũng phải thuần Việt.

    Không chỉ xem lời khuyên của Mỹ là vô ích, Diệm còn căm ghét nó. Có lần ông nói với nhà báo Mỹ Marguerite Higgins: “Nếu anh ra lệnh Việt Nam như con rối, thì anh có khác gì người Pháp?” Diệm rất nhạy cảm về sự độc lập và bất kỳ sự xâm phạm nào đến chủ quyền đất nước. Ông hiểu mình phụ thuộc trợ giúp của Mỹ, nhưng cảm thấy lúng túng và bực bội vì phụ thuộc.

    Ông cũng biết nó nguy hiểm về chính trị, vì người cộng sản có thể cáo buộc ông chỉ là kẻ phản bội và con rối. Để củng cố quyền uy lãnh đạo, ông phải chứng tỏ mình không phải là thế.

    3.- ‘Đụng độ giữa các nền văn minh’

    Những căng thẳng này cũng có thể kiềm chế được nếu dự án dựng xây một miền Nam vững chắc đã diễn ra suôn sẻ. Trong trường hợp đó, hai bên sẽ cảm thấy lợi ích của mối quan hệ lớn hơn sự bực mình.

    Nhưng vấn đề là nỗ lực xây dựng miền Nam dường như lại chuệch choạc. Năm 1960, những người cộng sản bắt đầu tổ chức du kích chống lại chính quyền Diệm, bằng sự thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Du kích nhanh chóng kiểm soát nhiều khu vực quan trọng ở nông thôn miền Nam.

    Lại có những dấu hiệu cho thấy Diệm để mất ủng hộ trong những người chống cộng, cụ thể là vụ đảo chính bất thành tháng 11.1960.

    Dù có kẻ thù chung, hai phía có tư tưởng riêng về cách đánh bại đối phương, viễn kiến riêng về hình hài của một Nam Việt Nam phi cộng sản

    Trong giai đoạn John F. Kennedy cầm quyền (1961-1963), người Mỹ một lần nữa thuyết phục Diệm thay đổi, đồng thời tăng cường hiện diện trên đất miền Nam. Nhưng Diệm tiếp tục chống lại đòi hỏi của Mỹ và khó chịu khi phải tiếp đón số lượng cố vấn Mỹ ngày càng tăng. Đến mùa xuân 1963, ông và Nhu bày tỏ lo lắng về cái mà họ xem là sự quá phụ thuộc vào Mỹ và nguy cơ đất nước của họ trở thành nước bị bảo hộ.

    Trong không khí căng thẳng này, Khủng hoảng Phật giáo trở thành giọt nước tràn ly. Phản ứng bản năng của Diệm là không nhượng bộ. Ông còn nghi ngờ người Mỹ tìm cách phá ông khi cứ đòi ông nhượng bộ người biểu tình. Ông cũng lo việc Henry Cabot Lodge trở thành tân đại sứ Mỹ báo hiệu chính sách kém thân thiện với chính quyền miền Nam.

    Với nhiều viên chức Mỹ, khủng hoảng Phật giáo và việc Diệm khăng khăng không chịu nhượng bộ xác nhận sự phá sản chính trị và đạo đức của chính quyền. Họ lý luận để cứu miền Nam, phải thay chính phủ Diệm. Cuộc đảo chính tháng 11.1963 diễn ra vì Diệm để mất ủng hộ của Mỹ.

    Ngô Đình Nhu có lần gọi quan hệ Việt – Mỹ là “sự đụng độ của các nền văn minh” . Có lẽ đó là sự mô tả hợp lý. Dù có kẻ thù chung, hai phía có tư tưởng riêng về cách đánh bại đối phương, viễn kiến riêng về hình hài của một Nam Việt Nam phi cộng sản.

    Một nghiên cứu chính thức của Mỹ sau này nhận xét: “Phần nào đó, người Mỹ và Việt Nam đi cùng một xe, nhưng thường bất đồng về việc ai lái xe, điểm đến là đâu, dùng tuyến đường nào. Chúng ta là những đồng minh không tin nhau, theo đuổi công việc chung nhưng chia rẽ.”

    Những khác biệt đó đã tạo thành mối liên minh bất hòa, và cuối cùng tan rã.

    KHỦNG HOẢNG NGHIÊM TRỌNG

    Giáo sư Tôn Thất Thiện, Tổng Giám Đốc Thông Tin kiêm thông dịch viên của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, có kể lại rằng khi đến Việt Nam quan sát tình hình vào đầu tháng 11 năm 1962, Hilsman có được ông Diệm tiếp kiến. Sau khi nói chuyện với Hilsman xong, ông Diệm lắc đầu và nói: “Mấy tên con nít này nó sẽ giết mình đây. Chúng nó chẳng hiểu gì cả!” Lúc đó Hilsman 43 tuổi.

    Trước những bất hoà nói trên, một số viên chức Hoa Kỳ, nhất là Thứ Trưởng Harriman, người được Tổng Thống Kennedy giao cho gần như toàn quyền quyết định về chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, đã tìm cách để lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm bằng mọi giá. Nhưng cuộc lật đổ và giết ông Diệm lại gây ra những khủng khoảng nghiêm trọng cho chính quyền Kennedy ở trong nội bộ của chính phủ Hoa Kỳ và làm phương hại đến chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ.

    1.- Tổng thống Kennedy bị khủng hoảng

    Trong cuốn hồi ký mang tên “In Retrospect, the Tragedy and Lessons of Vietnam” , ông McNamara cho biết những gì đã xẩy ra tại Tòa Bạch Ốc sau khi nghe tin Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã bị giết. Ông viết:

    “Lúc 9 giờ 30 phút sáng 2 tháng 11, chúng tôi gặp nhau với Tổng Thống, tiếp tục cuộc họp chiều hôm qua để thảo luận về các biến cố. Khi buổi họp bắt đầu, chưa ai rõ số phận ông Diệm và ông Nhu ra sao. Đến nữa chừng, Mike Forrestal từ Phòng Tình Hình tông cửa chạy vào. Trạm CIA tại Saigon báo cáo rằng họ được các nhân vật đối tác của Saigon cho biết hai anh em ông đã tự vẫn “trên đường từ thành phố đến Bộ Tổng Tham Mưu...”

    “Khi Tổng Thống Kennedy nhận được tin này, mặt ông tái xanh. Tôi chưa bao giờ thấy ông xúc động mạnh đến như thế. Sau này Forrestal thuật lại rằng cái chết của hai người “đã làm cho ông buồn bực về cả phương diện luân lý lẫn tôn giáo... làm lung lay lòng tin tưởng... về những gì ông đã khuyến cáo liên quan đến Nam Việt Nam.” Arthur Schlesiger Jr. ghi nhận rằng Tổng Thống “buồn thảm và bối rối”, tinh thần xem ra suy sụp chưa từng thấy từ sau vụ thất bại ở Vịnh Con Heo.”

    “Đọc xong bản tin, Tổng Thống nghĩ đến ảnh hưởng của cái chết của hai người có tác dụng xấu ngay trong nước và ở hải ngoại... Tổng Thống nghĩ rằng sau hai mươi năm phục vụ quê hương Việt nam, sinh mạng ông Diệm không thể kết thúc như vậy. Lập luận của ông cũng giống như lời của Mao Trạch Đông đã nói với Edgar Snow trong một cuộc phỏng vấn năm 1965 rằng Hoa Kỳ không chịu nghe lời ông Diệm. Mao Trạch Đông cho biết bản thân ông và ông Hồ Chí Minh đều nghĩ rằng ông Ngô Đình Diệm là người có tài. Rốt cuộc, ông hỏi rằng sau khi giết ông Diệm thì chuyện giữa Thiên Đường và Địa Ngục có bình yên không? Những ám chỉ trong lời nói của Mao Trạch Đông về các biến cố tại Việt Nam chúng tôi mới được biết sau khi cả Trung Hoa lẫn Việt Nam mở văn khố của họ, nhưng quan trọng hơn, câu nói đó đang tạo rất nhiều vấn đề.

    “Cái chết của ông Diệm đã làm xúc động Tổng Thống Kennedy, nhưng đó không phải là sự xúc động lớn nhất. Trong hồi ức, sự xúc động lớn nhất là chúng ta phải đối phó với một khoảng trống chính trị hoàn toàn ở Nam Việt Nam và không có căn bản nào để xúc tiến về bất cứ tiến trình nào phù hợp với các mục tiêu của Hoa Kỳ.”

    Hôm 4.11.1963, hai ngày sau khi ông Diệm bị ám sát, Tổng Thống Kennedy nói:

    “Theo sự xét đoán của tôi, bức điện đó (ra lệnh đảo chánh) đã được soạn thảo tồi tệ. Bức điện đó phải không bao giờ được gởi vào hôm thứ bảy. Tôi phải không bao giờ biểu đồng tình nếu không được bàn luận bàn tròn.”

    Tổng Thống Kennedy nói ông đã gởi một bức điện khác để đình hoản lại nhưng kế hoạt đảo chánh đã được tiến hành rồi.

    Phần băng ghi lại lời của Tổng Thống Kennedy ba tuần lễ trước khi ông bị ám sát tại Texas có đoạn như sau:

    “Tôi bị chấn động vì cái chết của Ngô Đình Diệm. Ông ta là một nhân vật khác thường. Trong khi ông ta bắt đầu gia tăng sự khó khăn trong vài tháng cuối cùng, ông ta đã có thể duy trì được đất nước về một mối trong 10 tháng cuối cùng.”

    Lo lắng về những hậu quả có thể xẩy ra sau khi ông Diệm bị ám sát, Tổng Thống Kennedy nói:

    “Vấn đề là các tướng lãnh có thể ngồi lại với nhau và xây dựng một chính quyền ổn định hay công luận có chuyển đổi tại Saigon hay không” .

    2.- Khủng hoảng ở quốc ngoại

    Ngoài việc làm cho tình hình miền Nam Việt Nam trở nên tồi tệ về cả chính trị lẫn quân sự, sự mất tin tưởng của các quốc gia Á Châu vào Hoa Kỳ là điều đáng quan tâm.

    Trong cuốn hồi ký mang tên “The memoirs of Richard Nixon” , Tổng Tống Nixon có kể lại rằng khi đến Pakistan, ông gặp lại người bạn cũ là Tổng Tống Ayub Khan. Tổng Thống Khan đã nói một cách đau buồn về việc hạ sát Tổng Tống Ngô Đình Diệm:

    “Tôi không thể nói – lẽ ra các ông đừng bao giờ ủng hộ ông Diệm ngay từ đầu. Nhưng các ông đã ủng hộ ông ta trong một thời gian dài và mọi người ở Á Châu đều biết điều đó. Dù họ có tán thành hay không tán thành điều đó, họ biết điều đó. Rồi đột nhiên các ông ngừng ủng hộ ông ta – và ông Diệm đã bị giết.” Ông ta lắc đầu và kết luận: “Việc hạ sát ông Diệm có ba ý nghĩa đối với các nhà lãnh đạo Á Châu: làm một người bạn với Hoa Kỳ là nguy hiểm; trung lập phải trả cái giá của nó; và đôi khi làm kẻ thù (của Hoa Kỳ) lại tốt hơn! Lòng tin cậy như một sợi chỉ mong manh và một khi nó đã đứt, rất khó mà nối lại.” (tr. 256 – 257).

    3.- Lãnh nhận cái chết

    Những sự kiện đã được trình bày trên cho thấy Tổng Thống Kennedy có hai khuyết điểm lớn trong việc lãnh đạo quốc gia:

    (1) Không có quyết định dứt khoát trước những vấn đề cần phải quyết định dứt khoát. Trước chủ trương của nhóm Harriman phải lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm bằng mọi giá, Tổng Thống không đưa ra quyết định dứt khoát.

    (2) Không kiểm soát được các nhân viên dưới quyền: Để cho Harriman và Cabot Lodge lộng hành. Họ muốn làm gì thì làm.

    Hai khuyết điểm này không phải chỉ tìm thấy trong vụ đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm mà còn tìm thấy trong vụ Vịnh Con Heo và vụ trung lập hoá Lào. Với hai khuyết điểm nghiêm trọng đó, ông không thể tiếp tục lãnh đạo quốc gia. Ông đã bị giết ngày 23.11.1963 tại Dallas.

    TÌM CÁCH ÉM NHẸM PHÚC TRÌNH LHQ

    Không như Cabot Lodge đã báo cáo, phái đoàn Liên Hiệp Quốc đã khám phá ra nhiều sự gian dối do CIA và một nhóm nhỏ Phật Giáo tạo dựng ra để đánh gục chế độ Ngô Đình Diệm. Vì thế, Đại Sứ Cabot Lodge và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã tìm các ém nhẹm bản phúc trình của phái đoàn.

    Cuộc điều tra kéo dài trong hai tuần lễ. Khi phái đoàn đang điều tra thì cuộc đảo chánh xẩy ra, nhưng phái đoàn vẫn làm báo cáo và đệ trình lên Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Bản phúc trình đã được phổ biến tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc ngày 9.12.1963. Ngày 20.12.1963, Đại Sứ Fernando Volio Jimenez của Costa Rica đã nói với hảng thông tấn NCWC như sau:

    “Cảm tưởng của riêng tôi là không có chính sách kỳ thị, áp bức hay khủng bố đối với Phật Giáo trên căn bản tôn giáo. Những khai báo về phương diện này thường là nghe nói, và trình bày một cách mơ hồ và tổng quát.

    “Mỗi khi một nhân chứng cố gắng tìm một bằng chứng cụ thể nào để trình Phái Đoàn, rốt cục sự kiện chỉ là một hành vi lẻ tẻ hay cá nhân. Căn cứ trên bằng chứng, chính quyền không có chủ trương chính sách chống Phật Giáo vì lý do tôn giáo.”

    Thấy nội dung bản phúc trình nói lên những sự bất lợi, Đại Sứ Cabot Lodge đã vận động để bản phúc trình này đừng được đưa ra thảo luận tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc.

    Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc đã trình với Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ rằng “sự công khai hóa những điều mà phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc phát hiện được sẽ gây lúng túng cho chế độ mới ở Saigon gồm những người đã phục vụ dưới thời ông Diệm. Thêm nữa, một cuộc bàn cãi công khai có thể cho thấy rằng chế độ mới này cũng chẳng kém độc tài hơn chế độ cũ và cho Hà Nội và Bắc Kinh thêm một dịp tố cáo chính phủ Hoa Kỳ đính líu vào cuộc đảo chánh.”

    Do sự vận động khéo léo của Cabot Lodge và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Gunewardene, trưởng phái đoàn điều tra, đã đề nghị xếp luôn hồ sơ vụ này.

    Thượng Nghị Sĩ Thomas Dodd, Chủ Tịch Ủy Ban Tư Pháp, đã đọc và khám phá ra những gian dối do CIA đã phối hợp với Phật Giáo và báo chí để đánh lừa dư luận thế giới. Ông đã hỏi lại một số nhân vật trong phái đoàn điều tra, rồi viết một văn thư dề ngày 17.2.1964 gởi cho ông James Easland, Chủ Tịch Tiểu Ban Nội An của Thượng Viện, yêu cầu in bản phúc trình này ra và gởi cho các nghị sĩ biết. Ông viết:

    “Tuy rằng bản phúc trình này chủ yếu chỉ trình bày dữ kiện - lời khai của nhân chứng và tài liệu, không đưa ra kết luận chính thức của Ủy Ban của Liên Hiệp Quốc, tôi tin rằng bất cứ người khách quan nào có đọc nó cũng phải kết luận rằng những báo cáo về [chính quyền] khủng bố Phật Giáo một cách quy mô, quá lắm chỉ là một sự thổi phồng quá mức, và ít lắm là tuyên truyền bẩn thỉu và gian lận.

    “Về điểm này, tôi xin lưu ý đến một phỏng vấn của Đại Sứ Fernando Volio Jimenez của Costa Rica với hảng thông tấn NCWC ngày 20 tháng 12 (đã trích dẫn trên). Đại sứ là người đã đưa ra đề nghị lập Phái Đoàn Điều Tra của Liên Hiệp Quốc, và là một thành viên của phái đoàn này.

    “Được đích thân đọc bản phúc trình của Liên Hiệp Quốc, những tuyên bố đó đã làm cho tôi xúc động, và khiến tôi gọi Đại Sứ Volio để thảo luận những lời tuyên bố của ông ta chi tiết hơn.

    “Đại Sứ Volio nói với tôi rằng, căn cứ trên những tường thuật mà ông đọc trong báo chí quốc tế, ông đã sẵn sàng bỏ phiếu lên án chế độ Diệm, nhưng khi Diệm mời Liên Hiệp Quốc gởi quan sát viên của chính cơ quan này sang Việt Nam, ông thấy rằng phải nhận lời mời này trước khi Liên Hiệp Quốc chính thức tỏ thái độ.

    “Đại sứ nói rằng sau hai tuần điều tra ráo riết tại Việt Nam, ông đi đến kết luận là những lời buộc tội chế độ Diệm tại Liên Hiệp Quốc không có căn bản, không chấp nhận được; ông nghĩ rằng những bằng cớ chất đống không cho thấy rằng có sự kỳ thị về tôn giáo hay xâm phạm tự do tôn giáo.”

    “Tóm tắt, theo ý tôi, một lần nữa nhân dân Hoa Kỳ đã bị một số báo chí của họ lừa dối trầm trọng về một tình hình quốc ngoại có tính chất cốt tử đối với họ.

    “Chúng ta đã được báo cáo rằng Chính Phủ Diệm đã khủng bố tôn giáo một cách tàn nhẫn đến nỗi những sư vô tội đã bị dồn váo thế phải tự vận để phản đối. Nhưng nay ta thấy sự thực không phải vậy; sự thật là không.”

    Vì lý do Hoa Kỳ đưa ra để tổ chức lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm có nhiều mờ ám, do đó cho đến nay, bản phúc trình của phái đoàn LHQ nói trên vẫn chưa được in ra và chính thức phổ biến. Tuy nhiên, chúng tôi đã dịch ra Việt ngữ và sẽ gởi đến độc giả một ngày gần đây.

    Ghi chú: Muốn tìm các bài của chúng tôi, xin vào website motgoctroi.com, mục “Mỗi tuần một chuyện”

    Lữ Giang


    Một nén hương lòng tưởng nhớ cố tổng thống Ngô Đình Diệm người vì nước vì dân đã vong thân. Sự thật lịch sữ và tài liệu giải mật của CIA Mỹ ngày càng cho thấy sự thật tốt đẹp nới con người tt Diệm và phơi bày tội ác xấu xa ghê tởm bẩn thỉu của những kẻ tham gia, nhúng tay máu vào việc giết chết vị tổng thống liêm chính, có tài của VNCH là ông Ngô Đình Diệm. Tài liệu CIA đã vạch mặt những kẻ bấy lâu nay vì lý do tị hiềm về tôn giáo mưu đồ cá nhân để cố bôi bẩn chế độ đệ I VNCH và gia đình ông Ngô Đình Diệm. Nguyện xin linh hồn ông vui vẻ nơi chốn vĩnh hằng.
    Sự thật lịch sử trước sau vẫn là sự thật lịch sử bất chấp miệng lưỡi thúi tha và độc ác của một số người Việt bất lương đã bịa đặt những chuyện độc ác nhất đổ vào đầu ông Diệm và gia đình.
    Đinh Ngọc Khuê


    Sự thực đã và đang được phơi bày ra ánh sáng; và cũng đang được dư luận của nhân dân Việt Nam trả lại "Danh Dự" cho "Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm". Vì bọn phản loạn gây nên cho riêng TT/Diệm cùng toàn thể nhân dân MIỀN NAM VIỆT NAM. Bọn tội đồ Dân Tộc làm tôi mọi phản lại Niềm Nam Việt Nam.

  3. #3
    Join Date
    Oct 2000
    Posts
    283
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Tổng thống Ngô Đình Diệm còn sống, VNCH còn tồn tại

    Tổng thống L. Johnson là người cảm phục Ngô TT, nhưng lúc bấy giờ ông ta chỉ là Phó TT, và không nằm trong hệ thống quyền lực của Kennedy, cho nên ông không thể ngăn cản được việc làm dơ bẩn của Kennedy. Ông chỉ biết chưởi bọn Minh, Khiêm, Đôn, Đính & Xuân là lũ côn đồ hung ác. Chính tên Mai Hữu Xuân, phụ trách Cảnh sát, đã tra tấn và sát hại hai ông Diệm và Nhu theo lịnh của Dương Vô Minh.

  4. #4
    Join Date
    Oct 2007
    Posts
    375
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Tổng thống Ngô Đình Diệm còn sống, VNCH còn tồn tại

    Nhà Văn Minh Võ Sẽ Ra Mắt Biên Khảo Mới Về Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm

    Nhà biên khảo Minh Võ cho biết sẽ tổ chức buổi ra mắt tác phẩm mới in của ông với nhan đề “Ngô Đình Diệm và Chính Nghĩa Dân Tộc” vào chủ nhật 2-11-2008 sắp tới.
    Theo thư mời cho biết, ngày 2-11-2008 là đúng ngày giỗ thứ 45 của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, và là dịp “Tác giả Minh Võ sẽ cùng với nhiều diễn giả mổ xẻ đến nơi đến chốn những bí mật và thắc mắc liên quan đến cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nguyên nhân của nó, những thủ phạm, chính phạm, tòng phạm.

    Đặc biệt một vấn đề nhạy cảm vốn gây nhiều tranh cãi sẽ được phân tích theo một quan điểm chính trị về chiến tranh ý thức hệ. Đó là những toan tính hiệp thương của anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm với miền Bắc. Có phải vì toan tính này mà chính quyền Kennedy lọai trừ ông Diệm, và vì ông Hồ Chí Minh cũng chủ trương nói chuyện với miền Nam, mà bị đàn em hãm hại, loại khỏi vòng quyền lực tối cao không?”

    Thư mời cho biết buổi ra mắt sách sẽ thực hiện tại phòng sinh họat của tòa thị chính Westminster, số 8200 Westminster Blvd, cạnh Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, từ 1:30 đến 5:00PM ngày chủ nhật 2-11-2008.

    Cuối Thư Mời viết: “Sự hiện diện của quý vị sẽ là vinh hạnh, niềm vui và sự cổ võ cho tác giả và ban tổ chức, đồng thời cũng là một cách tưởng nhớ tới vị Tổng Thống đầu tiên của nước Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh vào chính ngày này 45 năm trước.”

    Trước 1975 VNCH Đệ I & II vất vả đối phó tăng ni Phật tử xuống đường biểu tình, vc nằm vùng trong chùa làm loạn miền Nam giúp VC. Sau 1975 Phật giáo chiếm 85% dân số nhưng im re trước VC.

    Sau 1975 dân đạo Chúa xuống đường chống VC như vụ Thái Hà, Khâm Sứ, Tam Tòa dù họ chỉ chiếm 7% dân số.

  5. #5
    Join Date
    Oct 2007
    Posts
    375
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Nếu tổng thống Ngô Đình Diệm còn sống, thì VNCH còn tồn tại

    Quote Originally Posted by tdo007 View Post
    [/COLOR][/SIZE]

    Sự thực đã và đang được phơi bày ra ánh sáng; và cũng đang được dư luận của nhân dân Việt Nam trả lại "Danh Dự" cho "Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm". Vì bọn phản loạn gây nên cho riêng TT/Diệm cùng toàn thể nhân dân MIỀN NAM VIỆT NAM. Bọn tội đồ Dân Tộc làm tôi mọi phản lại Niềm Nam Việt Nam.
    Đúng vậy bạn ạ, nếu trời có cho Đinh Ngọc Khuê tôi 1 lời ước, thì tôi sẽ ước là cụ Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu không bị ám sát, thì lịch sử nước VNCH và toàn thể nước VN sẽ khác với bây giờ. Nhưng dù sao thì vận nước việt nam vẫn phải chịu bè lũ CSVN đọa đày, nên mới có chuyện đám tướng tá phản loạn như Dương Văn Minh, Tôn Thất Đính, Mai Hửu Xuân, Đỗ Mậu, v.v... nhận tiền của ngoại bang (CIA) để nhúng tay vào máu, giết đi người có lòng yêu nước thật sự & chống Cộng triệt để như 2 anh em ông Ngô Đình Diệm.
    Cái chết của anh em ông Diệm đã khiến miền Nam sau đó đi vào con đường loạn lạc, bất ổn triền miên và cái hệ luỵ sau cùng là tháng 4 đen năm 1975.

    Trước 1975 VNCH Đệ I & II vất vả đối phó tăng ni Phật tử xuống đường biểu tình, vc nằm vùng trong chùa làm loạn miền Nam giúp VC. Sau 1975 Phật giáo chiếm 85% dân số nhưng im re trước VC.

    Sau 1975 dân đạo Chúa xuống đường chống VC như vụ Thái Hà, Khâm Sứ, Tam Tòa dù họ chỉ chiếm 7% dân số.

  6. #6
    Join Date
    Oct 2007
    Posts
    375
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Tổng thống Ngô Đình Diệm còn sống, VNCH còn tồn tại

    Người trong cuộc kể chuyện về TT Ngô Đình Diệm

    Người Việt quốc gia bỏ chạy khỏi miền Bắc đã 50 năm và bỏ chạy khỏi miền Nam cũng đã gần 30 năm. Những sự uất hận và xúc động cũng đã bắt đầu lắng xuống dần. Nhiều người bắt đầu đặt câu hỏi: “Tại sao ta thua?”

    Ít ai dám trả lời một cách thẳng thắn câu hỏi này. Câu trả lời phổ thông nhất lại “tại Tây bỏ” rồi sau đó “tại Mỹ bỏ”! Đa số chỉ tìm cách che đậy hay biện minh cho những sai lầm của mình. Cách che đậy và biện minh phổ biến nhất là viết phịa sử!

    Đặc biệt, từ khi xẩy ra biến cố Phật giáo năm 1963 đến nay, một khối phịa sử khổng lồ đã được tung ra trên thị trường, tưởng có thể đánh lừa được dư luận, nhất là những thế hệ mai sau. Nhưng Emile Zola đã từng nói: “La vérité est en marche, rien ne peut plus l’arrêter”. Chân lý đang tiến bước, không có gì có thể làm nó ngưng lại được!

    Ngoài những tài liệu trong văn khố của Hòa Kỳ, nhiều nhân chứng và các tài liệu khác đang nói lên những sự thật lịch sử hoàn toàn trái với phịa sử.

    Một chuyện nhỏ như chuyện Bảo Đại đưa ông Ngô Đình Diệm về làm Thủ Tướng năm 1954, cũng đã được thêu dệt thành những chuyện hoang đường khó có thể tưởng tượng nổi. Trong cuốn “Việt Nam máu lửa quê hương tôi”, những người viết hồi ký cho Đỗ Mậu đã phịa ra rằng sở dĩ ông Diệm được Bảo Đại đưa về nước làm Thủ Tướng năm 1954 vì ba lý do sau đây: (1) Áp lực của Ngoại Trưởng Mỹ Foster Dullus, (2) sự can thiệp mạnh mẽ của Đức Hồng Y Spellman và (3) chính sách của Phong Trào Cộng Hòa Bình Dân Thiên Chúa Giáo Pháp (tr. 89). Các “sử gia” Phật giáo khác cũng đã viết theo lối rập khuôn như thế hết bài này qua bài khác, sách này qua sách khác. Mục đích của sự gán ghép đầy ác ý này là gì, mọi người đã quá rõ.

    Nhưng các tài liệu mật của Hoa Kỳ đã công bố trong thời gian gần đây cho thấy Mỹ và Pháp chẳng những không muốn đưa ông Diệm về mà còn chống đối rất mạnh mẽ. Như chúng tôi đã trình bày, ngày 13.6.1954, Tổng Ủy Viên Dejean của Pháp đã đến gặp Đại Sứ McClintock của Mỹ tại Đông Dương lúc đó và nói rằng ông Diệm quá nông cạn, cứng rắn, xa rời thực tế và trong sạch nên không thể thành lập một chính phủ hữu hiệu được. Ngày 15.6.1954, Đại Sứ McClintock lại gặp Dejean và Tướng Ély. Họ đều không hy vọng ông Diệm có thể lập được một chính phủ đoàn kết quốc gia. Đại Sứ McClintock muốn Bảo Đại từ chức và trao quyền cho Hội Đồng Phụ Chính. Cũng không có bắng chứng nào cho thấy Đức Hồng Y Spellman và Phong Trào Cộng Hòa Bình Dân Thiên Chúa Giáo Pháp đã can thiệp vào vụ này. Hôm nay, chúng ta lại có thêm một bằng chứng cụ thể nữa cho thấy sự thật hoàn toàn khác xa với những điều mà các nhà viết phịa sử đã sáng chế ra.

    Nhân kỷ niêm 50 năm ngày ông Điệm trở về chấp chánh, ông Tôn Thất Thiện, Giáo sư trường Đại Học Vạn Hạnh của Phật Giáo và là một Phật tử thuần thành, đã làm việc với ông Diệm trước khi ông Điệm được đưa về nước làm Thủ Tướng cho đến ngày ông Diệm bị giết, đã viết một bài dưới đầu đề “Cụ Diệm ở Paris 1953 - 1954”, tường thuật lại khá tỷ mỹ những điều mắt thấy tai nghe chuyện Bảo Đại mời ông Ngô Đình Diệm về nước làm Thủ Tướng năm 1954 mà ông là một trong những nhân chứng. Xin mời độc giả đọc toàn văn bài “Cụ Diệm ở Paris 1953 - 1954” của Giáo Sư Tôn Thất Thiện:

    I.- TÔI THÀNH “CẬN THẦN CỦA ÔNG DIỆM”

    Tôi viết bài này theo lời yêu cầu của một số anh em muốn biết về giai đoạn Cụ Diệm ta ở Pháp, mà những người “cận thần” của Cụ lúc đó - cách nay đã trên 50 năm --, mới thỏa mản ý nguyện này được. Tôi là một trong những người đó. Thật ra thì tôi chỉ biết một số chi tiết, nhưng nay tôi là một trong những người rất ít còn sống sót mà họ biết có thể xếp vào hạng “cận thần Ông Diệm ở Paris” được. Có thể là do một sự tình cờ của số kiếp hay lịch sử, có thể là kết quả của một sự tìm kiếm kéo dài hơn 18 năm -- từ năm 1935. Năm đó, tôi mới 11 tuổi. Nhưng đó là năm mà lần đầu tôi nghe nói đến “Cụ Ngô Đình Diệm”. Trong trường hợp như dưới đây.

    Năm 1933, thân phụ tôi đang làm Tổng Đốc Thanh Hoá, thì được lệnh chuyển về Huế để giữ chức Thượng Thơ Bộ Công kiêm Bộ Lễ. Theo lệ Triều Đình Huế hồi đó, một vị Thương Thơ được quyền có một người hầu có học thức, thuộc về một gia đình Nho sĩ, nhưng không đỗ đạt. Người được chỉ định hầu thân phụ tôi là một người tên Thuyên. Anh em tôi gọi ông ta là “Cậu Giáo Thuyên”. Tôi không biết Họ ông, tôi chỉ biết ông là người làng Mậu Tài, thuộc Huyện Hương Trà. Danh xưng “Cậu Giáo”này đúng, vì ông Thuyên không những biết chữ Hán và chữ Quốc ngữ, mà lại hiểu biết nhiều chuyện, và là một người, hiếm có thời đó, đọc báo hàng ngày.

    Cũng theo lệ của Triều Đình Huế, mùa hè, mỗi lúc mà Hoàng Đế (lúc đó là Bảo Đại) đi nghỉ mát ở Đà Lạt, thì các Thượng Thơ phải thay phiên nhau đi Đà Lạt để chầu Vua hai tuần hay một tháng gì đó. Trong thời gian mà thân phụ tôi đi vắng lâu ngày như vậy, ông giao anh em chúng tôi cho Câu Giáo Thuyên trông coi. Nhờ đó mà chúng tôi, tuy tuổi còn non, nhưng được biết về những sự việc xảy ra trong nước và thế giới, nhờ mỗi tối được Cậu Giáo Thuyên kể cho nghe tin tức mà ông đọc trong báo hàng ngày. Tôi còn nhớ rõ ông kể cho tôi nghe tin quân Đức vào chiếm vùng Sarre, Đức chiếm Tiệp khắc, Chiến Tranh Thế Giới II bùng nổ, quân Đức tiến đến đâu v.v... Nhưng điều mà tôi nhớ kỹ hơn cả là một đêm mùa hè năm 1935 ông đề cập đến “Cụ Ngô Đình Diệm” một cách rất kính cẩn và khâm phục, và nói cho tôi biết ông ấy là ai.

    Trong thời gian tôi học Trung học, từ năm 1936 đến năm 1944, tôi không bận trí gì về chính trị vì tôi chỉ lo học, nhưng tên “Ngô Đình Diệm” là tên của nhân vật chính trị đầu tiên, và duy nhất, mà tôi biết đến, ngay cả trước khi tôi nghe nói đến Cụ Phan Bội Châu (vào năm 1940). Năm 1943, tôi bị Mật Thám Pháp làm lôi thôi vì ông, nhưng lúc đó tôi không biết. Tôi sẽ kể chi tiết về việc này ở đoạn sau. Còn Nguyễn Ái Quốc và những tên khác thì đến năm 1945 tôi mới nghe nói đến. Trong trí tôi, tên “Ngô Đình Diệm” vẫn chiếm hàng đầu danh sách các nhân vật chính trị cho đến khi tôi sang Âu Châu tiếp tục việc học năm 1947.

    Trong thời gian học ở Âu Châu, bắt đầu từ năm 1950, như nhiều thanh niên khác, có vấn đề lựa chọn giữa hai Chính Phủ Bảo Đại và Hồ Chí Minh, hoặc không lựa chọn Chính Phủ nào cả, đứng vào thế lưỡng lự, trung lập. Người Pháp bực bội gọi những người này là “attentistes, (“kẻ đợi chờ”). Đây là một danh từ mà tôi cho là đúng, đúng hơn danh từ “trùm chăn” mà một số người Việt dùng để gọi những người tuyên bố “không theo bên nào cả”. Những người “attentistes” đợi chờ một giải pháp, thích hợp hơn, đem lại độc lập mà không mang theo cộng sản. Trong chính trị, một giải pháp là một tên, một người xứng đáng làm lãnh tụ, chủ trương giải pháp đó. Vì vậy những người “attentistes” không thể “trùm chăn” được, mà phải ngẩng đầu lên hoài hoài để xem có thấy ai đủ điều kiện đó không. Riêng tôi, người đó xuất hiện năm 1953. Ông mang tên Ngô Đình Diệm. Và tôi được gặp ông lần đầu ở Paris, vào mùa Thu năm đó.

    1.- Cụ Diệm đến Pháp, 1950:

    Để hiểu rõ tại sao sự gặp gỡ lại xảy ra lúc đó, cần nhắc rằng cuối năm 1949, Cụ Diệm khước từ lời của Cựu Hoàng Bảo Đại mời ông làm Thủ Tướng vì ông cho rằng Hiệp Định mà Cựu Hoàng vừa ký với Pháp (Hiệp Định Elysées) không mang lại độc lập thực sự cho Việt Nam, nhứt là về mặt ngoại giao. Sau đó, Ông nhận lời Đức cha Thục cùng với Đức cha đi một vòng thế giới nhân dịp Ông này đi dự một cuộc họp lớn của Giáo hội ở La Mã. Hai ông đi Nhật Bản, rồi từ đó sang Hoa Kỳ. Sau mấy tuần ở Hoa Kỳ, hai ông sang La Mã. Từ đó Đức cha Thục đi hành hương ở Tây Ban Nha, rồi về Việt Nam, còn Cụ Diệm thì đi Thụy sỹ và Pháp.

    Trong thời gian ở Paris Cụ Diệm có dịp gặp lại bào đệ Ngô Đình Luyện và gia đình ông này. Ông cũng được cái vui gặp lại anh Võ Văn Hải, đã từng sát cánh Cụ trong những năm 1945-1949. Ngoài ra, một sở thích của Cụ là đi quan sát Paris, và viếng các nhà thờ lớn. Cụ toàn đi bộ, đến nỗi viên mật thám có nhiệm vụ theo giõi Cụ phải kêu trời rằng: “ông này điên rồi! ông muốn viếng hết Paris, mà toàn đi bộ!”. Tất nhiên Cụ cũng được nhiều người tìm gặp. Vì vậy mà nhà chức trách Pháp muốn mời Cụ ra khỏi Pháp.

    Vừa lúc đó thì Cụ Diệm được tin Tu viện Maryknoll ở New York, mời Cụ làm nhân viên giảng dạy đặc biệt, nên Cụ lại trở sang Hoa Kỳ. Giữa năm 1953, Cụ lại đi Âu Châu, trú tại Tu viện (Bénédictin) Saint André ở Bruges, nước Bỉ (Belgique). Lý do của sự lựa chọn nước Bỉ là lúc đó những quyết định lớn về Việt Nam thường được lấy ở Paris, nhưng ở Paris thì gây ồn ào, và bị mật thám Pháp rình mò. Ở Bỉ có cái lợi là gần Paris, mà tránh được hai sự phiền phúc trên.

    Mùa Thu năm 1953 tình hình Việt Nam sôi động, lôi theo sôi động tình hình chính trị Pháp. Và viễn ảnh điều đình để tái lập hoà hình được đồn đãi. Đặc biệt là có tiếng đồn là trong trường hợp hoà bình tái lập, Ông Ngô Đình Diệm sẽ là Thủ Tướng Việt Nam. Thật ra, thì đây cũng là thời gian mà Cựu Hoàng Bảo Đại bắt đầu tìm cách liên lạc với Ông Ngô Đình Luyện để “nối lại tình xưa” (vì lúc nhỏ, trước Chiến Tranh Thế Giới II, hai ông là bạn chơi với nhau ở Paris). Nhưng Ông Luyện thừa hiểu rằng nguời mà Cựu Hoàng muốn móc nối thực sự không phải là ông mà là Cụ Diệm. Về điểm này, tôi sẽ trình bày chi tiết trong đoạn sau.

    Để theo dõi tình hình sát hơn, Cụ Diệm tất nhiên phải ở Paris, nơi tụ tập các chính khách Việt Nam, và cũng là nơi quyết định về Việt Nam - lúc đó đang bị Pháp chi phối -- Nhưng đồng thời muốn được kín đáo, ông không ở với Ông Luyện, ở Choisy, vùng ngoại ô Paris, mà ở với ông Tôn Thất Cẩn, ở vùng Gentilly, phía sau khu Học Xá Đại Học Paris. Ông Cẩn là con của Quận Vương Tôn Thất Hân, từng là Phụ Chính, rất thân với Cụ Ngô Đình Khả (người đã lén giúp Cụ Ngô Đình Khả trong thời gian Ông này khốn đốn vì bị tước hết chức vụ -- nghĩa là mất hết bổng lộc -- vì không chịu ký kiến nghị truất phế Vua Thành Thái). Chính ở đây mà tôi được hội kiến Cụ Diệm lần đầu trong đời tôi, trong những trường hợp như sau.

    2.- Tiếp xúc với Cụ Diệm lần đầu, 1953:

    Lúc đó tôi đang làm luận án ở Đại Học Genève. Thị xã này cách Paris chỉ có vàì giờ xe hoả nên vào các dịp nghỉ dài ngày, đặc biệt là về mùa hè, tôi thường đi Paris vui chơi với bạn bè. Một hôm, vào tháng 10, lúc buổi tối, tôi ngồi uống bia ở một quán cà phề ở khu Montparnasse với anh Trần Thuyên. Anh này là cựu học sinh trường Thiên Hựu, ở Huế. Trong những câu chuyện trao đổi, anh Thuyên kể cho tôi những chuyện xảy ra trong những năm 1945-1949. Anh nói nhiều về Cựu Hoàng Bảo Đại, nhưng nhiều hơn nữa về Cụ Diệm. Lúc đó tôi mới biết là anh ấy thân cận Cụ Diệm.

    Trong lúc chuyện trò, anh ấy hỏi tôi: “Sao Thiện không tìm gặp Cụ Diệm?” Tôi dật mình, trả lời: “Biết Cụ ấy ở đâu mà gặp. Mà chắc chi Cụ ấy cho tui gặp!” Anh Thuyên nói: “Cho chớ! Hiện chừ Ông đang ở Paris. Để tui thu xếp cho. Qua ông Ngô Đình Luyện. Chiều mai, điện thoại cho Ông ấy. Số ni nì. Sáng mai tui sẽ điện thoại báo cho ông ấy biết trước”. Thế là chiều hôm sau tôi điện thoại cho ông Luyện. May gặp ông ngay. Và tôi nói anh Thuyên khuyên tôi làm như vậy. Ông ấy trả lời rất tử tế, và nói: “Ừ, để tui trình với Cụ”. Qua hai ngày sau, ông điện thoại lại khách sạn tôi, nói Cụ sẽ tiếp tôi ngày X giờ Z, tại địa chỉ Y.

    Đúng ngày giờ tôi đến bấm chuông địa chỉ ông Luyện cho (ở Gentilly, như kể trên). Một người mà tôi không quen, nhưng biết, vì ông ấy là bạn học ở cùng nhà với một người anh tôi ở Paris trong những năm 1930-1936. Ông đó là ông Tôn Thất Cẩn (như đã nói đến ở trên). Ông đưa tôi vào phòng khách, nói vài lời xã giao, rồi kín đáo rút lui. Chừng 10 phút sau, Cụ Diệm trên lầu đi xuống, Ông mặc một bộ đồ màu nâu lạt, có gạch trắng, má hồng hào, đi dáng khoẻ. Ông vui vẻ bắt tay tôi, và nói ông xin lỗi vì để tôi phải chờ, nhưng Ông đang bận viết cho xong ngay một bức thơ quan trọng để đưa cho một người tối đó phải lên máy bay về Sài Gòn cho kịp việc. Và không đợi tôi hỏi là chuyện chi, Ông giải thích đó là ông căn dặn một số người không nên bỏ phiếu đòi ra khỏi Liên Hiệp Pháp lúc đó.

    Tưởng nên nhắc là tháng 10 năm 1953, ở Sài Gòn có một đại hội các đoàn thể chính trị, và một số chính khách và đoàn thể đòi Việt Nam ra khỏi Liên Hiệp Pháp, và chính quyết định này là lý do mà các chính giới Pháp dùng để lập luận rằng Việt Nam không còn là một thành phần của Liên Hiệp Pháp nữa nên Pháp không còn trách nhiệm bảo vệ Việt Nam, không còn lý do để tiếp tục hy sinh chiến đấu ở Việt Nam nữa, và phải điều đình với phe Cộng sản để chấm dứt chiến tranh và rút quân. Quyết định này dẫn đến những thăm dò về chấm dứt chiến tranh trong mấy tháng sau đó, đến Hội Nghị các Cường quốc về Đại Hàn vào tháng 4, 1954, và nhân dịp đó bàn về vấn đề Đông dương luôn, nghĩa là Hội nghị Genève 1954 đưa đến đình chiến, và chia đôi Việt Nam.

    Trở lại Cụ Diệm và tôi. Khởi đầu, Cụ nói ngay rằng lúc ở Bình Thuận thân phụ tôi xử mấy cái án “đàng hoàng lắm” (Cụ Diệm là người thay thế thân phụ tôi ở chức Tuần Vũ Bình Thuận/Phan Thiết lúc thân phụ tôi được chuyển về làm Phủ Doãn Thừa Thiên, năm 1929). Tôi đoán đó là một cách Cụ Diệm thông tin cho người đối thoại là Ông ấy coi mình là bạn. Sau này, làm việc với Cụ Diệm nhiều, tôi thấy tôi đoán như vậy là đúng.

    Phần tôi thì tôi nói: “Thưa Cụ tôi đã nghe tiếng Cụ lâu rồi, từ hồi còn nhỏ, mà nay mới được gặp Cụ, nên lấy làm hân hoan lắm”. Ông đáp lại: “Tui cũng biết anh từ lâu rồi. Hồi đó tui hỏi ông (Tạ Quang) Bửu trong nhóm thanh niên có ai khá không, thì ông ấy có nói tới anh”. Đây tôi mới nhớ lại là tháng 3 năm 1943, lúc Pháp vây bắt Ông Diệm và cho rình Nhà Ga Huế thì tôi lại ra Ga đợi ông Bửu đi cưới vợ ở Hà Nội về. Có một người mật thám thấy tôi lảng vảng ở Ga bèn đến hỏi giấy tờ tôi. Tôi chẳng hiểu vì sao. Nhưng có chuyện cãi qua cãi lại vì, là học sinh, tôi chẳng có giấy tờ gì cả. Tôi chỉ khai là tôi là học sinh trường Thiên Hựu, và ông ấy có thể kiểm điểm dễ dàng. Lúc đó ông mới để tôi yên. Mãi sau này tôi mới hiểu rằng tôi bị làm lôi thôi vì bị nghi là dính líu với Cụ Diệm.

    Cụ Diệm tiếp tôi vào khoảng một giờ. Trong thời gian đó, ông giảng cho tôi nghe tình hình quốc tế, và nói: mình may mắn hơn Tàu, vì họ ở Đài Loan không có hy vọng lấy lại được Lục Địa, trong khi mình có nhiều may mắn hơn. Ông cũng kể về những năm Ông phải nghỉ việc, Ông dành thì giờ nghiên cứu thuyết cộng sản, đọc sách, trồng hoa (hoa sở thích của Ông là Hoa Hồng). Ông muốn một thể chế tối thiểu ngang với Dominion” như các Dominion Anh. “Dominion” là danh từ chính Ông dùng. Ông không nói gì về thể chế tương lai của Việt Nam, nhưng căn cứ trên lý lịch và khuôn khổ gia đình, và cách Ông cư xử với Cựu Hoàng Bảo Đại, tôi đoán rằng thể chế mà Cụ thích là thể chế quân chủ lập hiến.

    Ở đây tôi xin mở một dấu ngoặc để nói rằng lúc Ông được bổ nhiệm làm Thủ Tướng, rất ít người biết rõ về Ông, và lúc tôi dùng những chi tiết Ông cho viết một bài gởi về Việt Nam qua ông Ahon, đại diện Việt Tấn Xã ở Paris, với tít: “Ông Ngô Đình Diệm là ai?”. Đó là tài liệu đầu tiên nói về Ông, và được các báo đăng tải rất rộng rãi. Trước khi từ giã Cụ Diệm, tôi hỏi Ông, Ông khuyên những người trẻ như tôi phải làm gì. Ông nói: “Các anh nên vô làm việc trong các cơ quan đi, để lấy kinh nghiệm sau ni mà làm việc”. Tôi thấy đây là một lời khuyên hơi lạ, vì xu hướng “attentiste” khá phổ cập nói trên trong giới thanh niên, và muốn làm việc với một Chính phủ thì phải lựa giữa Chính phủ Bảo Đại - lúc đó đang bị nhiều người cho là “theo Pháp” --, hoặc Chính phủ Hồ Chí Minh - lúc đó đang ở trong rừng, mà lại là cộng sản --. Nhưng nghĩ kỹ thì có lý, vì muốn làm được việc thì phải có kinh nghiệm về hành chánh/tổ chức, mà muốn có kinh nghiệm đó thì phải làm việc trong các cơ quan chánh phủ. Tôi cho là đúng vì vào thời gian đó tôi được đọc một phỏng vấn của một chính khách cộng sản Pháp nói: nên tham gia chính phủ, vì ở trong chính phủ mới được đọc hồ sơ và hiểu tình hình; ông ta biết như vậy nhờ ông đã tham gia Chính phủ Liên hịệp của de Gaulle lúc de Gaulle cầm quyền sau Chiến Tranh Thế Giới II. Điều này giúp tôi sau này hiểu tại sao Cụ Diệm lại tin dùng những người như ông Nguyễn Ngọc Thơ và công chức cao cấp các thời trước, kể các thời Pháp.

    Tôi từ giã Cụ Diệm với một niềm thiện cảm và tin tưởng hơn.

    3.- Tiếp xúc lần thứ hai, 1954:

    Trên đây là cuộc tiếp xúc đầu tiên của tôi với Cụ Diệm. Cuộc tiếp xúc thứ hai dài hơn, và cũng có hậu quả dài hơn. Đó là vào tháng 6 năm 1954, nhân dịp Hội Nghị Genève, lúc Ông được bổ nhiệm Thủ Tướng, đang ở Paris, và tôi được gọi làm tùy viên báo chí cho Ông. Sự viêc xảy ra như sau.

    Vào mùa hè 1953, Cựu Hoàng Bảo Đại ngõ ý muốn gặp Ông Luyện, qua trung gian. Nhưng Ông Luyện thoái thác. Như vậy đến 4 lần. Nhưng cuối cùng, vào tháng 3 năm 1954 Ông nhận lời. Tất nhiên là Cựu Hoàng muốn gặp Ông Luyện không phải để nhắc chuyện xưa giữa hai người, mà thực sự, để nhắn mời Ông Diệm ra chấp chánh. Để những vụ gặp gỡ Ông Luyện có vẻ tự nhiên, Cựu Hoàng bổ nhiệm Ông Luyện làm Quan sát viên riêng của Ngài tại Genève, trong lúc các nước đang họp.

    Lúc đó tôi đang ở Genève, như đã kể trên. Một hôm một người bạn học tìm gặp tôi. Người bạn đó là Trần Tế Dương, sau này làm Tổng Giám Đốc Ngoại Thương một thời gian, lúc Cụ Diệm cầm quyền. Trần Tế Dương là bạn học cùng trường, cùng lớp với tôi trước ở Trường Thiên Hựu, và Khải Định, Huế. Tôi thỉnh thoảng gặp anh ta ở Paris, nhưng tôi không biết rằng sau Paris anh qua học ở Genève, vì anh ta học ban khác và Trường khác. Lúc ở Paris, anh ta cho tôi biết là anh ta có liên hệ với Bác sỹ Phan Quang Đán, nhưng lúc đó, 1953, anh ủng hộ Ông Diệm. Do vậy mà anh ấy có qua lại với ông Luyện. Và anh tìm tôi để nói ông Luyện cần một người giúp việc thạo tiếng Anh, và ông muốn mời tôi hợp tác. Tất nhiên là tôi nhận lời ngay, và một hai ngày sau gì đó, anh Dương dẫn tôi đến gặp ông Luyện

    Như tôi đã kể ở trên, tôi đã có liên lạc với Ông Luyện năm trước, lúc xin hội kiến Cụ Diệm, nhưng chỉ qua điện thoại. Nay gặp mặt trực tiếp, tôi thấy Ông là người vui vẻ, cỡi mở, giản dị, rất dễ chịu. Và cuộc hội kiến mở đầu cho một sự hợp tác lâu dài và rất thoải mái cho tôi. Nó lại là mối dây dẫn tôi đến tư thế một người “cận thần của Cụ Diệm”.

    Lúc Hội nghị Genève đang họp và có vẻ gây cấn thì có tin Nôi Các Pháp Joseph Laniel bị đổ. Đó là ngày 12 tháng 6, 1954. Ngày hôm sau, có tin Ông Mendès France được đề cử thay thế Ông Laniel. Ông Mendès France có tiếng là chống chiến tranh Đông Dương. Và trong tuyên bố trước Quốc Hội Pháp Ông cam kết sẽ đem lại hoà bình trước ngày 20 tháng 7. Lúc đó cũng bắt đầu có những tin đồn về Việt Nam sẽ bị chia.

    Chính phủ Laniel, mà Tổng Trưởng Ngoại Giao là Georges Bidault, được coi như một chính phủ thân thiện với Cựu Hoàng. Ông Mendès France thì ngược lại. Cho nên thay đổi trong Chính phủ Pháp tất nhiên kéo theo thay đổi về phiá Việt Nam. Vì vậy không lạ gì mà ngày 13 tháng 6 cũng có tin rằng Ông Diệm được Cựu Hoàng chọn làm Thủ Tướng mới của Việt Nam, thay thế Hoàng Thân Bữu Lộc. Nhưng đến ngày 18-6-1954 Cựu Hoàng mới ký Chỉ dụ chính thức bổ nhiệm Ông Diệm làm Thủ tướng. Về những chi tiết dẫn đến sự Cựu Hoàng bổ nhiệm Ông Ngô Đình Diệm tôi đã có kể trong môt bài báo viết từ lâu, và đăng lại dưới đây. (Xin xem Phần II)

    Lúc đó tôi đang ở Genève, và có tới lui với Phái đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị Genève. Ngày 19 hay 20 tháng 6, tôi không nhớ rõ, một người ở Phái đoàn, là Ông Bửu Kỉnh, điện thoại bảo tôi đến Phái Đoàn, có tin quan trọng. Khi tôi đến Ông Kỉnh cho tôi biết là “Paris kêu toa gấp đó”. Ông Kỉnh với tôi là chỗ thân tình, và khi nói chuyện với nhau “Paris” là Toà Cao Ủy Việt Nam (danh xưng Toà Đại Diện Việt Nam hồi đó, sau này là Toà Đại Sứ). Ông cũng là nhân viên Toà Cao Ủy và Phái đoàn Việt Nam ở Genève. Ông ghé tai tôi nói nhỏ: “Cụ Diệm kêu toa đó!”. Tôi cũng không biết rõ ai gọi, nhưng tôi đoán đó là Ông Luyện. Dù sao, tôi cũng biết là tôi phải đi Paris gấp. Ra cửa, gặp anh gác, một người tôi quen vì anh ta làm ở Paris khá lâu rồi, cúi nói nhỏ với tôi: “Này, Paris gọi ông gấp đó. Ông có tiền mua vé máy bay không, tôi cho mượn”.

    Như vậy là ngày sau tôi đi xe hoả về Paris. (Lúc đó còn là sinh viên, nên tôi không nghĩ đến việc di chuyển bằng máy bay!) Đến Paris, tôi dò hỏi biết Cụ Diệm ở Khách sạn “Palais d’Orsay”. Đó là một khách sạn hạng sang, dành cho các nhân viên ngoại giao, ở gần Bộ Ngoại Giao Pháp, trên bờ sông Seine. Về chi phí tôi không biết ai đài thọ, nhưng tôi đoán là Toà Cao Ủy Việt Nam lo.

    Tôi đến thì gặp anh Võ Văn Hải. Lúc đó tôi mới biết là anh Hải là người rất gần gũi Ông Diệm. Cũng như Trần Tế Dương, anh ấy là học trò cũ của Trường Thiên Hựu, Huế, nhưng anh học lớp trên tôi nên tôi không quen anh nhiều, và anh tuy cũng học ở Genève, nhưng học trường khác, nên tôi chỉ gặp có một hai lần. Rồi gặp Ông Luyện. Ông bảo tôi lo việc tiếp báo chí cho “Ông Cụ” vì Ông ấy bận lắm. Sau đó gặp anh Võ Lăng, anh của anh Hải. Ngoài tiếp liệu của Cụ Diệm, anh Lăng có trách nhiệm gì lúc đó tôi không rõ, nhưng sau này anh làm Chánh Văn phòng của Ông Luyện, và phụ trách đặc biệt về liên lạc với Văn phòng Ông Mendès France cùng phía Sứ quán Mỹ. Lúc đó quanh Cụ Diệm ở Khách sạn Palais d’Orsay tôi chỉ thường gặp có mấy người đã kể tên, cùng với Trần Tế Dương. Thế là tôi thành tùy viên báo chí của Ông Diệm, thuộc nhóm “cận thần của Thủ Tướng Diệm”, một chuyện tôi không hề nghĩ đến trước đó.

    Ông Diệm được chính thức bổ nhiệm làm Thủ Tướng ngày 18/6, và ông rời Paris bay về Sài Gòn nhậm chức ngày 26/6. Trong thời gian 20 - 26/6 đó, Ông Diệm không bị báo chí phỏng vấn nhiều, một phần vì dư luận chú ý đến Chính phủ Mendès France và những biến chuyển ở Genève hơn, một phần vì Cụ Diệm chú tâm hơn vào việc tham khảo ý kiến của các giới. Tôi nhớ chỉ có một cuộc phỏng vấn do ông Stanley Karnow, của báo Time. Đây là cuộc phỏng vấn Cụ Diệm đầu tiên của ông ta. Sau cuộc phỏng vấn trực tiếp Cụ Diệm ông ta còn trở lại muốn hỏi thêm gì nữa, nhưng Cụ Diệm bận quá không tiếp ông ấy được, và ông Luyện bảo tôi lo việc này. Đây cũng là cuộc tiếp xúc đầu tiên của tôi với báo chí Mỹ. Sau này, năm 1990 lúc tôi viếng Wahsington, ông Karnow mời tôi ăn cơm, và vào dịp này đã đem ra một bài báo ông viết về cuộc phỏng vấn năm 1954 đó và cho tôi bản đó làm kỷ niệm.

    Vì ít bận về báo chí, tôi có thì giờ quan sát, và theo dõi hoạt động của Cụ Diệm. Cụ tiếp khách liên miên, không ngớt, từ sáng đến tối, vì rất nhiều người, nhất là chính khách Việt Nam, muốn gặp Ông, và Ông cũng muốn có một cuộc thăm dò rộng rãi. Cứ đến chiều tối là Ông nhoài ra. Do đó, tôi không dám làm phiền xin gặp Ông. Nhưng có một hôm về chiều, anh Hải thấy Ông thong thả nên anh nói tôi “vô ông đi”, và anh vào báo cho Ông biết là có tôi chờ gặp Ông. Ông tiếp tôi rất thân mật. Trong buổi gặp mặt đó tôi nhớ tôi có nói với Ông môt điều mà tôi cho là rất quan trọng: chúng tôi, giới trẻ, rất ủng hộ Ông, nhưng vì chúng tôi trẻ, chúng tôi tính bộc trực, nên xin Ông chấp nhận: cho chúng tôi nói thẳng, nói thiệt với Ông; khi nào thấy gì không được thì Ông cho nói với Ông, và xin Ông đừng phiền. Ông nghe tôi nói vậy, tuy không trả lời, nhưng Ông vẫn vui vẻ; như vậy tỏ ra Ông không phiền gì về điều tôi nói.

    Có một điều khá đặc biệt là tuy rằng Cụ Diệm làm việc, tiếp khách tại Khách sạn sang trọng Palais d’Orsay, ông không ngủ ở đó, và tối ông lại về ngủ ở một khách sạn tầm thường, loại “touriste” một sao, phòng không có phòng tắm riêng, Hotel de la Gare, ở gần Ga d’Austerlitz.

    Ngày 26/6 là ngày Cụ Diệm ra sân bay Orly để lấy máy bay về nước nhậm chức và lập chính phủ. Ngày đó, tất nhiên sân bay rộn rịp, rất đông người đưa tiễn. Trong số đó có tôi. Trong số mấy “cận thần” Ông ở Paris, chỉ có anh Hải là đi với Ông. Riêng tôi thì ngày trước đó tôi có nhờ anh Hải hỏi Ông có muốn tôi về cùng với Ông không, và ông trả lời, qua anh Hải, rằng: lúc này chưa cần lắm, chưa biết tình hình ngả ngũ ra sao, hãy đợi một thời gian xem đã. Nhưng Ông cũng nhận diện được tôi, và bắt tay tôi nói mấy tiếng. Về Việt Nam cùng chuyến máy bay đó, ngoài anh Hải, tôi chỉ quen có ông Trần Chánh Thành, mà tôi có gặp đâu trước, có lẽ với Ông Luyện (sẽ làm Tổng Trưởng Thông Tin), ông Phạm Huy Cơ (về Việt Nam, ông không tham gia Chính phủ), ông Nguyễn Văn Thoại, (làm Tổng Trưởng Kế Hoạch, nhưng bỏ Chính phủ lúc đi dự Hội nghị Bandung). Còn mấy người khác thì tôi không được biết.

    Sau khi Cụ Diệm rời Paris, tôi và các anh Võ Lăng và Trần Tế Dương theo Ông Luyện trở lại Genève, vì lúc này Ông Luyện là một nhân vật quan trọng, vì ông không những là Đại diện của Cựu Hoàng, mà lại là Đại diện của Thủ Tướng Diệm nữa. Và vì vậy, ông mở một văn phòng tại Genève, gần trụ sở Liên Hiệp Quốc. Tôi và mấy anh em kia tụ tập, làm việc ở đó, cho đến khi Hội nghị Genève kết thúc. Sau đó chúng tôi lại cùng nhau trở lại Paris, và Ông Luyện lại mở một văn phòng ở đó, với chức vụ Đại sứ lưu động. Và tôi làm việc với Ông Luyện ở Paris đến tháng 11 năm đó, đến khi tôi tháp tùng Ông về Sài Gòn nhân một chuyến công vụ của Ông, và lại “dính” Cụ Diệm lần nữa. Khi Ông Luyện trở lại Paris, Ông để tôi ở lại lo báo chí cho Thủ Tướng Diệm. Tôi “dính” Cụ Diệm cứng hơn, cho đến năm 1963, và có thể nói là đến ngày nay, là từ đó.

    Một trong những chuyển biến quan trọng nhứt trong thời gian nói trên là sự kiện Cụ Ngô Đình Diệm đuợc Cựu Hoàng Bảo Đại mời làm Thủ Tướng giữa năm 1954, và Cụ nhận lời, sau nhiều điều đình, tất nhiên là mật, giữa hai người, qua trung gian của Ông Ngô Đình Luyện. Là một cộng sự viên gần gủi của Ông Luyện, tôi cũng được nghe phong phanh về những sự điều đình đó. Sau này nhân dịp tôi gặp Ông Luyện ở Paris, ông kể chi tiết về sự việc trên. Những chi tiết đó được đăng trong Phần II của bài này. Nó đã được đăng lại từ nguyệt san Việt Nam-Canada, số 37, ngày 1-10-1985, với vài sửa đổi nhỏ.

    II.- ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM NHẬN LÀM THỦ TƯỚNG TRONG NHỮNG ĐIỀU KIỆN NÀO?

    1.- Sự việc qua trình bày của Cựu Hoàng:

    Trong suốt những năm cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm nắm chính quyền, Việt Cộng không ngớt la lối rằng Ông Diệm là “người của Mỹ”, do Mỹ lựa và đưa ra làm Thủ Tướng năm 1954.

    Chính giới cũng như báo chí Pháp, vì khhông ưa thái độ độc lập của ông Diệm, cũng phụ hoạ theo luận điệu đó. Và ngay cả ở Mỹ, trong nhiều giới, nhất là báo chí, đại học thiên tả, cũng rêu rao như vậy, với mục đích làm giảm uy tín ông Diệm.

    Có thể nói rằng có một huyền thoại “ông Diệm là người của Mỹ chọn”. Huyền thoại đó do cộng sản và các giới thiên cộng, thực dân tung ra và duy trì.

    Nhưng sự thực ra sao?

    Ông Diệm ra chấp chánh tháng 6 năm 1954, trong những điều kiện nào, tất nhiên chỉ có Cựu Hoàng Bảo Đại và ông Diệm biết rõ, vì hai người là đương sự.

    Về phía Cựu Hoàng, trong Hồi ký “Le Dragon d’Annam” (1980, Paris, Plon) ông ta đã đề cập đến vấn đề đó như sau (trang 328-343):

    Ngày 12 tháng 6, 1954 Chính phủ Laniel đổ. Ngày 14 tháng 6 Tổng Thống Coty bổ nhiệm Mendès France làm Thủ tướng. Lúc đó Bảo đại gọi tất cả các xu hướng chính trị và tinh thần đến Cannes, để hỏi ý kiến. Ông ta trình bày tình hình nguy cập ra sao và đề nghị thay ông Bữu Lộc bằng ông Ngô Đình Diệm. Cựu Hoàng ghi: “Tất cả đều chấp nhận đề nghị một cách sốt sắng”.

    Sau ông ta gặp ông Dulles, Ngoại trưởng Hoa kỳ và báo cho ông này biết ý định của mình, rồi gọi ông Diệm, mời ông Diệm làm Thủ tướng.

    Cựu Hoàng nói với ông Diệm: Mỗi lần tôi mời ông làm Thủ tướng, ông đều chối từ. Ngày nay, tình thế rất nguy cấp, xứ sở có thể bị cắt làm đôi. Ông phải đứng ra cầm đầu chính phủ.

    Ông Diệm từ chối, nói rằng ông sắp vào nhà Dòng. Cựu Hoàng cố nài và kêu gọi tinh thần ái quốc của ông Diệm và nhấn mạnh nhu cầu cứu quốc.

    Rốt cuộc ông Diệm trả lời: “Nếu vậy, tôi xin lãnh sứ mạng đó”.

    Hồi ký của Cựu Hoàng ghi:

    Ngay lúc đó tôi cầm tay ông ta, dẫn ông ta vào một phòng bên cạnh có thánh giá. Trước thánh giá, tôi nói:

    “Thượng Đế của ông đó. Ông thề trước thượng đế của ông rằng ông sẽ giữ vững lãnh thổ mà tôi giao cho ông. Ông sẽ chống cộng sản và nếu cần chống người Pháp để giữ lãnh thổ đó”

    Ông Diệm mặc niệm một lúc, rồi nhìn tôi, quay lại thánh giá, và nói:”tôi xin thề”. Bốn mươi tám giờ sau, ông Diệm lên đường về Sài Gòn nhậm chức. (18-6-1954). Trước khi lên đường tôi trao cho ông Diệm một chỉ dụ cho ông toàn quyền dân sự và quân sự.

    Về cá nhân ông Diệm, Cựu Hoàng nói ông ta là người “khó tính” và mộ đạo, nhưng trong tình hình hiện tại không có ai là một bảo đảm chắc chắn nhất để chống Cộng sản. Ông ta thật là người của thời cuộc.

    2.- Sự việc theo trình bày của Ông Luyện:

    Về phía Ông Diệm, Ông ta bị ám sát năm 1963 nên không để lại Hồi ký. Nhưng may thay, bào đệ Ông, là ông Ngô Đình Luyện, cựu Đại sứ tại Anh, đã biết rất rõ về việc này, vì chính ông là trung gian giữa Cựu Hoàng Bảo Đại và Ông Diệm.

    Trong một buổi gặp ông tại tư thất ông ở ngoại ô Paris mùa hè vừa qua (1984) ông đã bằng lòng kể cho tôi nghe về vụ điều đình giữa Cựu Hoàng và Cụ Diệm trong thời gian 1953-1954, với đầy đủ chi tiết. Nếu trước kia tôi chỉ biết qua loa về giai đoạn này, thì nay tôi có thể kể lại sự việc một cách đích xác hơn. Dưới đây tôi trình thuật nội dung những gì mà Đại sứ Luyện đã kể cho tôi nghe trong buổi hội ngộ nói trên.

    Mùa Hè năm 1953, Cựu Hoàng ngỏ ý muốn gặp ông Luyện sau bao năm xa cách. Lúc đó ông Luyện ở vùng Choisy, ngoại ô Paris, còn Cựu Hoàng Bảo Đại thì ở Cannes, nhưng thường lên Paris. Ý muốn của Cựu Hoàng được chuyển cho ông Luyện qua Giáo sư Bữu Hội (lúc đó là một người gặp Cựu Hoàng thường và cũng là bạn của ông Luyện).

    Lý do Cựu Hoàng đưa ra là để nhắc lại chuyện thời trẻ vì Ông ta và ông Luyện là bạn học, và bạn chơi đùa với nhau ở Paris lúc hai người đều khoảng 11-12 tuổi, và ở Paris lúc đó, vào khoảng năm 1930, ngoài ông Luyện, chung quanh Cựu Hoàng không có người Việt-Nam nào đồng tuổi để chơi.

    Tuy Cựu Hoàng nhắn ông Luyện đến 4 lần (hai lần qua Giáo sư Bữu Hội), ông Luyện thối thoát. Tất nhiên ông Luyện nghĩ rằng Cựu Hoàng muốn gặp ông ta không phải chỉ muốn hàn thuyên về thời trẻ của hai ông, nhưng mà theo ông, muốn móc nối với Ông Diệm (mà có thể giữ kín đáo). Vì vậy, ông Luyện báo cho Ông Diệm biết sự kiện nói trên.

    Ông Diệm rời Việt Nam năm 1950, qua Nhật, rồi sau đó qua Mỹ, ở tại Tu viện Maryknoll, ở New York. Mùa hè 1953 ông rời Mỹ qua Âu Châu để tiện theo dõi tình hình Việt Nam, lúc đó đang biến chuyển nhanh. Lúc đó, Ông tránh Paris và lựa Bruges (Bỉ) làm nơi tạm trú.

    Được tin ông Luyện, Cụ Diệm hiểu rõ rằng Cựu Hoàng muốn bắt liên lạc với Ông với ý định mời Ông ra tham gia chính quyền, và Ông muốn xúc tiến việc này. Ông cho rằng, khác với nhiều lần trước mà Ông đã từ chối làm Thủ tướng, lúc này là lúc Ông phải ra gánh vác trách nhiệm để cứu nước. Vì vậy, Ông rời Bruges về Paris để tiện liên lạc và giao dịch. Ông ở Choisy với ông Luyên một thời gian, nhưng sau, để tránh dòm ngó (nhất là của Pháp), ông dọn đến nhà ông Tôn Thất Cẩn ở Gentilly, phía sau Khu Học Xá Đại Học Paris (Cité Universitaire de Paris).

    Ông Diệm nóng lòng muốn xúc tiến cuộc gặp gỡ với Cựu Hoàng, nhưng ông Luyện hết sức can ngăn vì lúc đó, Hè 1953, về Việt Nam chưa làm được việc gì và Pháp sẽ ra sức phá Ông.

    Lúc đó Cựu Hoàng cũng nóng gặp Ông Diệm, nên từ Cannes ông ta lên Paris, ở Khách sạn Plaza Athénée, và mỗi ngày phái ông Nguyễn Duy Quang (lúc đó là Bí thư cũa Ông) đi mời ông Luyện. Nguyễn Duy Quang hết sức năn nỉ ông Luyện vì sợ Cựu Hoàng cho là không làm tròn sứ mạng được giao phó. Cuối cùng ông Luyện nhận lời. Lúc đó là tháng 3 năm 1954, lúc Hội nghị Genève sắp khai mạc, và Việt Cộng bắt đầu tấn công Điện Biện Phủ.

    3.- Cựu Hoàng muốn móc nối với Ông Diệm:

    Trong một buổi gặp ông Luyện sau đó, Cựu Hoàng cho biết rằng, sau khi đi quan sát Genève, Ông ta thấy các ông Bữu Lộc và Nguyễn Quốc Định (Ngoại trưởng) không tin được. Vì vậy, Ông ta muốn có một người đáng tin cậy để theo dõi tình hình, và muốn ông Luyện đảm nhiệm trách nhiệm đó.

    Ông Luyện, vì không muốn dính líu đến chính trị, và muốn tránh gây cảm tưởng là ông đi dò la 2 ông Lộc - Định, nên khước từ với lý do là chuyện ngoại giao đòi hỏi áo quần, phương tiện, những thứ mà ông không có. Nhưng vì tình xưa, nếu Cựu Hoàng nhờ ông chuyện riêng gì khác thì ông không giám từ chối. Ông cho đó là một câu nói hớ, và Cựu Hoàng vin vào đó để nhờ ông giúp cho Ông ta một việc riêng, là làm quan sát viên, đại diện riêng cho Ông. Do đó, ông Luyện phải nhận, và Cựu Hoàng ra lệnh cho Toà Cao Ủy Việt Nam phải lo phương tiện cho ông.

    Với tư cách quan sát viên riêng của Cựu Hoàng, ông Luyện đi đi, về về Genève.

    Một thời gian sau đó, ông Nguyễn Duy Quang điện thoại cho ông, nói Cựu Hoàng mời ông xuống Cannes. Khi đến nơi, thấy Cựu Hoàng đã ra lệnh cho ông Nguyễn Duy Quang sắp xếp nơi ăn chốn ở cho ông rất chu đáo. Thêm vào đó, Cựu Hoàng đích thân lái xe Sport riêng và dùng thuyền riêng của Hoàng hậu Nam Phương đưa ông đi chơi để tỏ ưu ái riêng của Cựu Hoàng đối với ông ta, chỉ dành riêng vinh dự đó cho ông ta.

    Sau mấy lần như vậy, trong thời gian khoảng 4 tuần, một hôm Cựu Hoàng nói huỵch toạc với ông Luyện là chuyện quan sát viên không phải là chuyện chính, mà chuyện chính là tình hình Việt Nam.

    Cựu Hoàng nói thẳng rằng: “Tout est foutu, bên nhà sắp tiêu rồi” (“Hỏng hết rồi) và từ năm trước Ông ta đã bỏ đi vì lý do đó. Nhưng Đại chiến thứ III sắp xảy ra, và những vũ khí kinh khủng sẽ được xử dụng. Mỹ đã cho Ông ta coi phim về hiệu quả của các vũ khí đó. Cộng sản sẽ tiêu hết. Nhưng sau khi Mỹ thắng, Việt Nam sẽ về ai? Cựu Hoàng muốn giữ ngôi Vua Việt Nam cho Họ Nguyễn. Vì vậy ông cần đến Họ Ngô. Ông muốn Ông Diệm “giữ ngôi đó cho nóng” (“garder au chaud”) cho đến lúc Ông về. Phải làm sao cho Việt Nam tồn tại cho đến lúc đó. Nhiệm vụ rất nguy hiểm, sinh mạng không được bảo đảm. Nó đòi hỏi một sự hy sinh rất lớn. Và chỉ có một mình Ông Diệm là làm được việc đó mà thôi.

    Ông Luyện cũng thẳng thắn trả lời rằng ông không thấy vì sao mà ông anh ông sẽ ngu xuẩn đến nỗi nhảy vào cái “lỗ” (“un trou”) như vậy, vì hy vọng tồn tại mười phần chỉ có một. Xin mở một dấu ngoặc ở đây để nói rằng: sau này, lúc ở Genève, ông Nguyễn Hữu Châu, Phụ tá Ngoại trưởng Trần Văn Đổ, nói với tôi rằng việc bổ nhiệm Ông Diệm làm Thủ tướng lúc đó là “un coup vache” (“một đòn hiểm độc”) nhằm “couler” (“nhận chìm”) Ông Diệm.

    Cựu Hoàng giải thích rằng Ông ta không yêu cầu ông Luyện thuyết phục Ông Diệm, mà chỉ yêu cầu ông chuyển đề nghị đó đến ông Diệm mà thôi.

    4.- Thoả hiệp Bảo Đại-Ngô Dình Diệm ngày 16.6.1954:

    Khi ông Luyện báo cáo với Cụ Diệm về đề nghị của Cựu Hoàng, Cụ Diệm muốn chấp nhận vì Ông nghĩ rằng tình hình xứ sở khẩn trương, càng đợi thì càng khẩn trương thêm, và Ông cần chấp nhận hy sinh để có hy vọng cứu nguy xứ sở. Nhưng ông Luyện nghĩ rằng cần có bảo đảm trước khi nhận, và muốn vậy, phải đòi Cựu Hoàng ký với Ông một thỏa hiệp trao cho Ông toàn quyền dân sự và quân sự.

    Cựu Hoàng đồng ý. Ngược lại, Cựu Hoàng đòi Ông Diệm phải tự tay viết cho Ngài một bức thư bằng tiếng Pháp mà Ông ta sẽ xác nhận. Thêm vào đó, Cựu Hoàng đòi Ông Diệm phải hứa là bất cứ lúc nào cũng phải theo chỉ thị của Ngài.

    Ông Diệm bằng lòng, và giao cho ông Luyện thảo bức thư đó. Theo lời ông Luyện, sự thảo bức thư này rất gay go, sau không biết bao nhiêu thì giờ và gói thuốc lá mới thảo xong. Trong thư đó, câu then chốt là: “Naturellement, je resterai prêt à tout instant à appliquer les sages Conseils de Sa Majesté” (“Tự nhiên, tôi sẽ luôn thi hành chỉ thị sáng suốt của Ngài” (Nhưng nếu chỉ thị đó không “sáng suốt” thì sao?)

    Bức thư đó được Cựu Hoàng và ông Nguyễn Đệ (Đổng Lý Văn Phòng Đức Quốc Trưởng) và các cố vấn Việt và Pháp của Cựu Hoàng phân tích kỹ lưỡng. Mấy ông cố vấn của Cựu Hoàng không hài lòng cho lắm vì họ cho rằng câu nói trên đây không đủ bảo đảm và phải làm sao loại bỏ hoàn toàn nguy cơ Cựu Hoàng có thể bị truất phế.

    Muốn vậy, lời lẽ bức thư phải phản ảnh thật rõ ràng tinh thần Ông Diệm, phải là lời của chính Ông Diệm thốt ra. Do đó, đoạn “les sages Conseils de Sa Majesté” được đổi ra: “la sainte Volonté de Sa Majesté”. Tiếng Việt là: “theo thánh ý của Ngài”. (Nhưng nếu ý của Ngài không “thánh” thì sao?)

    Sau 3 ngày thảo luận, 2 bên chấp thuận một thỏa hiệp gồm 2 phần: 1/ Toàn quyền dân sự và quân sự; 2/ “Theo Thánh ý”. Đó là ngày 16.6.1954.

    Sau này, vào tháng 4-5 năm 1955, lúc Cựu Hoàng bênh vực Bình-Xuyên và Giáo Phái, muốn tước toàn quyền dân sự của Ông Diệm bằng cách buộc Ông phải rời Sài Gòn đi Cannes (ngày 29-4-1955) và toàn quyền quân sự bằng cách bổ nhiệm Tướng Nguyễn Văn Vỹ làm Tham mưu trưởng với ý định lật đổ Cụ Diệm (ngày 30-4-1955), thoả hiệp Bảo Đại- Ngô Đình Diệm ngày 16-6-1954 coi như hết hiệu lực.

    Ngày 18-10-1955 Cựu Hoàng cách chức Thủ tướng Ngô Đình Diệm, ngày 23 tháng 10-1955, một cuộc trưng cầu dân ý truất phế Bảo Đại, ngày 26-10-1955 Việt Nam Cộng Hoà được thành lập, với Ông Ngô Đình Diệm là Tổng Thống.

    Tôn Thất Thiện

    Ottawa, Tháng 10, 2004

    Viết nhân dịp Lễ Tưởng Niệm Tổng Thống Ngô Đình Diệm

    NHỮNG HẬU QUẢ TRÔNG THẤY

    Đống phịa sử mà khối Phật Giáo Ấn Quang đang có và đang cố gắng tạo thêm, ít ra cũng đã đưa đến ba hậu quả nghiêm trọng mà chúng ta có thể thấy được:

    Hậu quả thứ nhất: Phịa sử và sự đối kháng phịa sử đã tạo nên sự chia rẽ nghiêm trọng trong cộng đồng người Việt chống cộng, khi ở trong nước cũng như khi ra hải ngoại. Việt Cộng đã khai thác triệt để hiện tượng này bằng cách cho in lại các phịa sử đã viết tại hải ngoại và phổ biến trong nước, làm cho sự chia rẽ lan rộng xa hơn.

    Hậu quả thứ hai: Alexander Pope đã từng nói: “Kẻ thốt ra một lời nói dối không tiên liệu trước cái việc mà họ dự định, vì phải nói dối hàng ngàn lần nữa để chống đối lời nói dối đầu tiên.”

    Hậu quả thứ ba: Sự lãnh nhận liên tục những hậu quả của ác nghiệp: Theo quan niệm của đạo Phật, phịa sử là vọng ngữ, tức là ác nghiệp. Kinh Phật dạy: “Những kẻ tạo ác nghiệp nhất định phải cùng ác nghiệp đi đến khổ báo.” Do đó, trong hơn 40 năm qua, “sự khổ đã theo nghiệp kéo đến như bánh xe lăn theo chân con vật kéo xe” (Kinh Pháp Cú, câu 1 và 66). Trước khi rời cõi thế ở trại Hàm Tân, Thượng Tọa Thích Thiện Minh cũng đã trối lại: “Cái nghiệp mình tạo ra thì mình phải lãnh nhận cái quả”.

    Muốn thoát khỏi những ác nghiệp đó, phải qua ba giai đoạn: Hoàn nghiệp, giải nghiệp rồi mới đoạn nghiệp. Khi mà nghiệp cũ chưa hoàn hết đã vội tạo ra nghiệp mới, rất khó giải nghiệp được!

    Đại văn hào Voltaire của Pháp đã từng nói: “Le mauvais politique est celui qui ne sait que filer la carte, et qui tôt ou tard est reconnu.” Nhà chính trị vụng là người chỉ biết gian bài, chẳng sớm thì muộn cũng bại lộ.
    Lữ Giang

    Trước 1975 VNCH Đệ I & II vất vả đối phó tăng ni Phật tử xuống đường biểu tình, vc nằm vùng trong chùa làm loạn miền Nam giúp VC. Sau 1975 Phật giáo chiếm 85% dân số nhưng im re trước VC.

    Sau 1975 dân đạo Chúa xuống đường chống VC như vụ Thái Hà, Khâm Sứ, Tam Tòa dù họ chỉ chiếm 7% dân số.

  7. #7
    Join Date
    Oct 2007
    Posts
    375
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Tổng thống Ngô Đình Diệm còn sống, VNCH còn tồn tại

    Mời tham dự Lễ giổ Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm

    KHỐI TINH THẦN NGÔ ĐÌNH DIỆM

    Künzensau, ngày 15.10.2008

    THƯ MỜI THAM DỰ THÁNH LỄ GIỖ CỐ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM

    Kính thưa Quý vị

    Nhân ngày giỗ Cố Tổng Thống Gioan Baotixita Ngô Đình Diệm lần thứ 45 (1963-2008), khối Tinh Thần Ngô Đình Diệm sẽ tổ chức một Thánh Lễ tưởng niệm Nhà Chí Sĩ Ngô Đình Diệm, một người Quốc Gia yêu nước đã hy sinh phục vụ cho lý tưởng Tự Do và cũng là vị Tổng Thống tiên khởi sáng lập ra nền Cộng Hòa Việt Nam, đồng thời cũng cầu nguyện cho các Chiến Sĩ và Đồng Bào đã hy sinh vì Chính Nghĩa Quốc Gia.

    Thánh Lễ sẽ do Linh Mục Stephanô Bùi Thượng Lưu chủ tế vào ngày thứ bảy 01.11.2008,

    Chương trình như sau:

    · 14 giờ 30: Tiếp đón quan khách
    · 15 giờ 00: Thánh Lễ
    · 16 giờ 30: Nghi thức dâng hương tưởng niệm

    Tại hội trường Nhà Thờ Thánh Đường St. Anderas
    Nürnberger Str. 184
    72760 Reutlingen
    West Germany

    Sự hiện diện đông đảo của quí vị sẽ nói lên tấm lòng tri ân đối với những người đã khuất và cho Thánh Lễ được trang trọng.

    Trân trọng kính mời
    Khối Tinh Thần Ngô Đình Diệm
    Liên lạc viên: Nguyễn văn Năng, tel: 07940/939 583
    Khối Tinh Thần Ngô Đình Diệm

    Trước 1975 VNCH Đệ I & II vất vả đối phó tăng ni Phật tử xuống đường biểu tình, vc nằm vùng trong chùa làm loạn miền Nam giúp VC. Sau 1975 Phật giáo chiếm 85% dân số nhưng im re trước VC.

    Sau 1975 dân đạo Chúa xuống đường chống VC như vụ Thái Hà, Khâm Sứ, Tam Tòa dù họ chỉ chiếm 7% dân số.

  8. #8
    Join Date
    Oct 2007
    Posts
    375
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Tổng thống Ngô Đình Diệm còn sống, VNCH còn tồn tại

    CHUYỆN TRÒ VỚI BÀ NGÔ ĐÌNH NHU


    Hình bà Ngô Đình Nhu (Trần Lệ Xuân)


    Ông Ngô Đình Nhu


    Bà Nhu và TT Hoa Kỳ Johnson (tháng 5, 1961)



    Bà Nhu và con gái Ngô Đình Lệ Thủy. Cô Ngô Đình Lệ Thuỷ sau này bị bọn đâm thuê chém mướn nhận tiền của đám tướng tá phản tặc VNCH (tham gia đảo chánh ông Diệm) cho xe hơi tông chết qua vụ dàn cảnh tai nạn xe hơi tại Paris, Pháp.


    Tôi đến thăm Bà Ngô Đình Nhu vào lúc 2 giờ trưa ngày 16 tháng 3 năm 2002 tại kinh thành Paris của nước Pháp. Nắng êm dịu vừa lên sau buổi sáng ẩm ướt của những ngày đầu Xuân và Paris thì lúc nào cũng chật ních những người và xe. Thành phố có cả một kho tàng bảo vật và huyền thoại. Ở đây người đi bộ đầy đường với những tiệm ăn và quán cà phê nối tiếp chạy dài cả dẫy phố. Người Paris nhàn hạ và ham muốn hưởng thụ, chậm chạp nhưng thon thẻ hơn người Seattle. Cuộc sống thư giãn chậm chạp của những ông Tây bà Đầm là niềm ước mơ của những người luôn phải vội vã lập cập với tốc độ từ sáng sớm đến nửa đêm ở Cali hay Texas.

    Bà Nhu ở một mình trong một đơn vị gia cư (apartment) của một toà nhà mới xây gần tháp Eiffel. Nói là mới để phân biệt với những chung cư san sát ở Paris đã được xây cất cả đến vài ba thế kỷ với những đường nét hoa văn cổ kính. Chung cư Bà Nhu ở có những nét kiến trúc đương đại giống như một cái hộp khổng lồ bằng kính, có lẽ đã được tạo dựng từ 30 đến 40 năm. Bà Nhu là sở hữu chủ hai (02) đơn vị gia cư ở trên tầng lầu thứ 11 của toà nhà cao tầng ở khu vực có địa thế rất đẹp và đắt tiền nhất thủ đô Paris, ngay giữa cái nôi của văn hoá và chính trị thế giới. Nơi đây một tấc đất chẳng biết giá tới mấy chục hay mấy trăm tấc vàng. Cả vùng này hầu như là nơi cư ngụ của các nhân viên và phái đoàn ngoại giao trên đất Pháp. Bà Nhu ở một đơn vị và cái thứ hai cho thuê để lấy tiền sinh sống. Đó là lợi tức duy nhất của Bà, cũng tiệm tạm đủ sống và không cần nhờ vả đến các con. Bà sống ẩn dật, đi về lẻ loi thầm lặng đến nỗi một khuôn mặt quen thuộc của cộng đồng người Việt quốc gia ở Paris là cựu Trung Tướng Trần Văn Trung vẫn nghĩ là Bà Nhu sống ở bên Ý.

    Trên đường đến thăm Bà Nhu, tôi vẽ ra trong đầu óc qua hình ảnh cuả những chung cư đắt tiền ở New York hay San Francisco đã xem trên những tạp chí chuyên về địa ốc ở Mỹ và nghĩ là nơi cư ngụ của Bà Nhu chắc phải sang trọng lắm. Những apartment của Jacqueline Kennedy hay John Lennon ở New York và của các tay tài phiệt ở San Francisco gợi cho tôi một náo nức mong chờ. Các cụ mình ngày xưa vẫn nói “ăn cơm Tầu, ở nhà Tây” thì chắc là đã có một so sánh cẩn trọng. Tôi bước đi vội vàng với những lung linh nơi lãnh điạ của giới thượng lưu. Những dòng họ quý tộc từ bao nhiêu đời cấu trúc nên vẻ hào nhoáng phong nhã của kinh thành Anh Sáng và dân cư ngụ dù ở chân trời góc biển nào lưu lạc tới đây cũng được nhận lãnh ấn tích của người Paris.

    Chiếc thang máy nhỏ hẹp vừa đủ chỗ đứng cho một ông Mỹ quá khổ đưa tôi lên tầng th? mu?i m?t của toà nhà cao tầng. Bà Nhu mở cửa đón khách trong chiếc áo kimono Nhật mầu xanh nước biển, khuôn mặt trang điểm kỹ lưỡng với giọng nói đặc Huế. Bà đón tôi trong một tư thái rất chánh trị, không vồn vã mà cũng chẳng quá lạnh nhạt. Bà Nhu sắp vào tuổi 80 nhưng rất khoẻ mạnh. Bà đi đứng nhanh nhẹn, lưng thẳng, đôi mắt to và sáng. Có người nói từ năm 1963 đến nay Bà chẳng già đi chút nào. Thật ra đó chỉ là một lối nói để diễn tả sức khoẻ sung mãn của một người tuy đã nhiều tuổi đời nhưng vẫn giữ dược vóc dáng linh hoạt và nét mặt không có những nếp nhăn theo thời gian. Tuy nhiên “cái già” cũng vất vưởng đâu đó trên khoé mắt vành môi. Khi Bà cười thì khuôn mặt trông rất tươi trẻ phô bầy bộ răng trắng vẫn còn đầy đủ trong tình trạng hoàn hảo.

    Chỗ ở của Bà Nhu tuy không nghèo nàn nhưng chẳng có gì đáng nói, ngay cả không bằng cái apartment mà tôi thuê mướn ở ngoại ô thành phố Seattle vào mùa Đông năm 1975 khi vừa đến Mỹ. Đơn vị gia cư của Bà Nhu rất tầm thường, giống như những apartment rẻ tiền ở Mỹ với hai phòng ngủ và một diện tích nhỏ làm phòng khách. Phía tay trái lối đi từ cửa ra vào là nhà bếp. Trên tường phòng khách treo vài khung hình lớn có những tấm hình Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Đức Cha Ngô Đình Thục, Ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, cô trưởng nữ Ngô Đình Lệ Thủy và nhiều người thân tộc đã quá vãng. Khoảng trống phía bên tay phải là phòng khách có một bộ xa-lông, bên cạnh kê bàn ăn với 6 cái ghế. Bộ bàn ghế này và vài cái tủ nhỏ kê ngoài phòng khách làm bằng gỗ gụ mầu đen với những nét chạm trổ Việt Nam quen thuộc. Bà Nhu cho biết trước kia thân sinh là Ông Bà Trần Văn Chương có một apartment ở Paris và những đồ đạc này được mang từ Việt Nam qua, lâu lắm rồi. Khi hai cụ thân sinh bán cái apartment đi thì cho Bà Nhu bộ bàn ăn và hai cái tủ nhỏ này. Tôi đã đọc mấy bài báo nói về khiếu thẩm mỹ của Bà Nhu qua việc sắp xếp và trang hoàng Dinh Độc Lập. Giờ này được đứng ngay giữa cơ ngơi của riêng Bà mà chẳng thấy một “công trình” nào xem cho bắt mắt, có thể vì điều kiện tài chánh hay thời trưng diện của Bà đã qua.

    Ông Ngô Đình Nhu
    Đứng ở nhà bếp nhìn ra ngoài có cảm tưởng như tháp Effeil sát ngay bên cạnh khung cửa kính. Tôi tiếc thầm, phải như phòng khách mà được xếp đặt ở chỗ này thì đẹp biết bao. Ngồi đây nhâm nhi ly cà phê nhìn thiên hạ từ khắp nơi trên thế giới đổ xô đến chân tháp chờ lên thang máy nhìn cả kinh thành Paris. Ngày như đêm lúc nào cũng là hội hè đình đám. “Vui với cái vui của thiên hạ” chắc lòng mình cũng phần nào đỡ trống trải. Có lẽ cũng vì vậy mà phòng ngủ bên cạnh nhà bếp có kê một bộ xa-lông để bù đắp lại sự thiếu sót to lớn của người thiết kế khu chung cư. Phòng ngủ thứ hai là chỗ làm việc của Bà Nhu với đủ loại sách báo. Cả đơn vị gia cư của một người sống lẻ loi một mình không có đến một cái giường nhỏ. Buổi tối Bà Nhu trải một cái chăn trên nền nhà, ở một chỗ nào đó trong “căn hộ” nhỏ hẹp để nghỉ qua đêm. Bà không ngủ trên giường nệm nên mặc dầu đã lớn tuổi mà vẫn giữ được lưng thẳng và đi đứng nhanh nhẹn mạnh dạn.

    Bà Nhu mời tôi ngồi trên một cái ghế ngay đầu bàn ăn cạnh khu phòng khách. Bà ngồi ghế đối diện, chân trái gác lên một chiếc ghế thấp hơn. Bà nói kỳ này khí hậu thay đổi bất thường nên cái chân hơi bị đau vì vết thương ngaỳ trước. Bà Nhu bị gẫy chân trái trong vụ hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử ném bom Dinh Độc Lập vào ngày 27 tháng 2 năm 1962. Sau này Bà đang đi bộ thì trượt chân ngã và cũng cái chân trái này bị gẫy lần thứ hai. Mặc dầu Bà không gặp khó khăn gì khi đi đứng nhưng đôi khi cũng thấy khó chịu.

    Đối với tôi đây chỉ là một cuộc thăm viếng thường tình giữa người đồng hương nơi xứ lạ. Tôi không có ý định phỏng vấn Bà Nhu và chắc chắn Bà sẽ không được tự nhiên, thoải mái khi phải đóng khung trong những câu hỏi của một cuộc phỏng vấn. Phần khác tôi cũng không muốn khơi lại những đau thương mà Bà phải gánh chịu trong cơn bão táp lịch sử và bể oan cừu cay nghiệt của cuộc đời. Tôi muốn cuộc thăm viếng không bị gò bó và trói buộc vào một chủ đề đồng thời cũng không muốn tìm tòi những gì mà cá nhân tôi và rất nhiều người được nghe đủ loại chuyện tốt xấu về Bà mà chẳng biết hư thực ra sao, và từ những mù mờ đó đã có biết bao câu hỏi về một người đàn bà một thời xe ngựa thênh thang. Tôi muốn câu chuyện được tự nhiên và để Bà chủ động bất cứ những gì Bà muốn nói. Tôi có thể dùng những tiểu xảo của kỹ thuật phỏng vấn “gài” Bà vào những sơ hở để thoả mãn những gì tôi muốn biết hoặc chỉ nghe đồn thổi. Tôi đã không làm như vậy vì lòng kính trọng đối với Bà và lương tâm ngay lành của tôi.

    Tôi mở đầu câu chuyện bằng mấy lời xã giao thông thường, kính chúc Bà luôn được mạnh khoẻ an vui. Bà bắt đầu nói về lai lịch nơi hiện cư ngụ. Rất nhiều người biết qua báo chí chuyện một người Pháp giầu có biếu Đức Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục một món tiền lớn và Đức Cha Thục đã cho Bà Nhu để mua một đơn vị gia cư trong toà nhà cao tầng này và sau đó Bà dành dụm mua thêm được một đơn vị nữa. Sự thật không phải như vậy. Bà Nhu trực tiếp nhận được một số tiền rất lớn từ một vị ân nhân ẩn danh. Có tiền trong tay, Bà đã nhờ một cựu bộ trưởng thời chính phủ De Gaulle giúp mua liền một lúc hai đơn vị gia cư này. Vào những năm mà người Việt vượt biển ra đi một cách rầm rộ gần như công khai, Bà Nhu cho mấy thanh niên mới bơ vơ đến Pháp tạm trú ở đơn vị gia cư thứ hai và không lấy tiền thuê mướn hay bất cứ chi phí điện nước nào cả. Một thời gian sau những thanh niên này tìm được thân nhân hay vì nhu cầu công việc ra đi tạo lập đời sống mới thì Bà Nhu cho một nhà ngoại giao Nhật Bản thuê mướn cho đến ngày nay. Vị ân nhân tặng Bà Nhu số tiền kếch xù đó là Bà Capaci, một cư dân thành Milan nước Ý và cũng là một trong bẩy người phụ nữ giầu nhất thế giới. Bà Nhu chưa được một lần gặp vị ân nhân này và mãi đến bốn năm sau khi Bà Capaci tạ thế Bà Nhu mới được biết tên cũng như thanh thế và sự nghiệp của người đã gia ân cho mình.

    Trên bức tường ngăn phòng khách và nhà bếp có treo tấm hình đen trắng ngôi nhà của Ông Bà Nhu ở Đà Lạt, tôi kể cho Bà nghe chuyến đi về Việt Nam nhân dịp Tết Tân Tỵ, lần đầu tiên sau 26 năm vội vã ra đi lánh nạn cộng sản. Tôi đã đi Đà Lạt, ghé lại thăm ngôi nhà xưa của thời trung học, bước qua đường đứng nhìn nhà Ông Bà Nhu một lúc lâu. Ngôi nhà của Ông Bà Nhu hiện không có người ở nhưng được bảo quản khá tốt, không thấy những đổ vỡ hoang tàn vì thời gian hay qua những biến động. Hiện nay Bà Nhu không ý định về thăm Việt Nam mặc dầu Bà được nhà cầm quyền Hà Nội đánh tiếng cho biết là nếu Bà muốn về thì cũng chẳng có trở ngại gì. Những kỷ niệm về một nơi chốn thân thương xa xưa gợi lại miền ký ức dấu ái, Bà nói “tôi gặp Ông Cố Vấn năm 16 tuổi, đến năm 18 tuổi thì làm đám cưới”. Bà có vẻ buồn khi nói đến ngôi nhà ở Đà Lạt. Một vùng trời mộng mơ với những kỷ niệm của ngày tháng êm đềm nơi xứ sương mù vẫn còn vương vất đâu đây.

    Bà Nhu và con gái Ngô Đình Lệ Thủy
    Khi nói về những người con thì Bà Nhu có vẻ bằng lòng với chút hãnh diện. Tôi cố tình không hỏi han gì về trưởng nữ Ngô Đình Lệ Thủy đã bị chết thảm trong một tai nạn xe cộ trên xa lộ vòng đai của Paris. Rất có thể đây là một âm mưu quốc tế còn nhiều nghi vấn chưa được sáng tỏ và tôi cũng không muốn khơi lại những kỷ niệm đau buồn để rồi những giọt nước mắt của bà mẹ lại một lần nữa ướt đẫm trên khuôn mặt đã có quá nhiều khổ đau. Ông con trai lớn Ngô Đình Trác tốt nghiệp kỹ sư canh nông, năm nay cũng đã 55 tuổi, lấy vợ người Ý và có bốn con, ba trai một gái. Bà Nhu nói về những đứa cháu nội, con trai của Ông Trác, trong niềm vui “cao một mét tám, to lớn và đẹp trai lắm”. Vợ Ông Trác thuộc giòng dõi qúy tộc rất giầu có. Ông Trác rất đam mê công việc trồng trọt chăn nuôi và đã chế tạo được nhiều dụng cụ nông cơ thích hợp cho việc canh tác những thửa đất nhỏ. Gia đình Ông Trác sỡ hữu một biệt thự to và rất đẹp trong nội thành La Mã. Ngôi biệt thự này có cách cấu trúc và dáng dấp như một tu viện. Bà Nhu đã ở đây nhiều năm nên rất nhiều người lầm tưởng rằng Bà đã tá túc ở một tu viện Công giáo trong khoảng thời gian dài.

    Người con trai thứ hai là Ngô Đình Quỳnh cũng đã trên 50 tuổi, tốt nghiệp trường E.S.E.C (Ecole Superieure de l’Economie et du Commerce) chứ không phải trường H.E.C (Hautes Etudes Commerciales) như rất nhiều báo chí và sách vở đã sai lầm. E.S.E.C là trường tư đào tạo các chuyên gia kinh tế và tài chánh cao cấp, có học trình gay gắt và học phí rất cao. Sinh viên được nhận vào học trường này phải vượt qua những cuộc thi cử cam go và sau khi tốt nghiệp được các cơ quan kinh tế và tài chánh trên toàn thế giới trọng vọng. Khi Ngô Đình Quỳnh học trường này, Bà Nhu đã không đủ khả năng trả học phí nên phải làm giấy xin nợ tiền học. Hiện Ông Quỳnh làm đại diện thương mại cho một số công ty Hoa Kỳ ở Bruxelles, thủ đô nước Bỉ. Ông Quỳnh không lập gia đình. Bà Nhu cười nói “Ông Quỳnh giống Ông Bác”, hàm ý sống độc thân như Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Đang lúc tôi nói chuyện với bà Nhu thì một thiếu nữ người Pháp gõ cửa buớc vào với một xấp hình trên tay. Cô bé 17 tuổi này vừa trở về sau chuyến đi làm công việc thiện nguyện giúp các thanh nữ Phi Luật Tân bị bệnh AIDS. Tất cả chi phí cho chuyến đi của cô bé này do Ông Ngô Đình Quỳnh đài thọ. Cô bé có những lọn tóc mầu hạt dẻ khoe những tấm hình chụp chung với các nạn nhân của căn bệnh thời đại và ước mong sẽ được trở lại thủ đô của nước Phi Luật Tân để tiếp tục công việc bác ái. Bà Nhu nói ông Quỳnh sống đạm bạc và rất tích cực trong những hoạt động từ thiện nên ước vọng của cô bé chẳng phải là một giấc mơ.

    Cô con gái út Ngô Đình Lệ Quyên có bằng tiến sĩ Luật từ trường đại học Roma. Lệ Quyên là một luật gia ngành Công Pháp rất nổi tiếng nhưng chỉ được mời thỉnh giảng và tham luận ở phân khoa Luật của đại học Roma mà thôi. Lý do đơn giản là Lệ Quyên không chịu vào quốc tịch Ý. Luật lệ nước Ý lại không cho phép những người không có quốc tịch được thủ đắc hàm giáo sư và do vậy không được quyền giảng dậy một cách chính thức trong học trình. Lệ Quyên thường xuyên được mời dự các hội nghị quốc tế và có nhiều bài tham luận xuất sắc làm sửng sốt các “cây đại thụ” của ngành công pháp thế giới. Lệ Quyên có chồng người Ý nhưng đứa con trai 7 tuổi lại chính thức mang họ mẹ trên giấy tờ hộ tịch. Bà Nhu hãnh diện nói tên cháu bé là Ngô Đình Sơn, một tự hào dòng họ hay là sự giữ gìn gốc rễ gia tộc.

    Mỗi buổi sáng sớm, bất kể thời tiết, Bà Nhu đều “xuống đường” đi bộ chừng độ 10 phút đến nhà thờ Saint Leon dâng thánh lễ hằng ngày. Cũng tại ngôi thánh đường này, lần đầu tiên vào tuần lễ đầu tháng 11 năm 2001, Bà Nhu tổ chức lễ tưởng niệm Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Thông thường sau thánh lễ Bà ở lại giúp dọn dẹp nhà thờ và xếp đặt trưng bầy hoa nến. Ngày chúa nhật Bà phụ trách dậy lớp thánh kinh cho các trẻ nhỏ. Bà gia nhập đạo công giáo khi lập gia đình nhưng lúc thiếu thời được giáo dục trong các trường công giáo nên có thể nói là Bà đã lớn lên và trưởng thành trong tín lý của đạo Chúa. Trong câu chuyện, Bà Nhu nhiều lần biểu lộ đức tin tuyệt đối nơi sự an bài của Thiên Chúa. Bà đặt niềm cậy trông và phó mặc tất cả mọi sự vui buồn, may rủi vào sự xếp đặt và định đoạt của Đấng Tối Cao. Khi nghe tôi nói có thân nhân đang bị bệnh và rất muốn trở về Mỹ sớm hơn, Bà Nhu đi vào phòng làm việc lấy cho tôi một tượng ảnh Đức Mẹ Maria đúc bằng kẽm to hơn đồng một xu mỹ kim. Bà nói mang tượng ảnh về cho bệnh nhân thì Đức Mẹ sẽ cứu giúp và chữa khỏi. Tôi nghĩ là vì có đức tin mạnh mẽ như vậy nên Bà đã vượt qua được bao cơn sóng gió ba đào mà sống mạnh khoẻ đến ngày nay.

    Trên đường từ nhà thờ về Bà Nhu cũng thỉnh thoảng ghé lại tiệm bán hoa và cây cảnh mua vài bông hoa hay một chậu cảnh trang hoàng trong nhà. Ít khi Bà phải nấu nướng vì ăn rất ít và những bà bạn người Pháp thường mang đồ ăn đến cho nên cũng chẳng bận rộn gì việc bếp núc. Trước kia tôi nghe có người nói Bà Nhu chỉ ăn qua loa, hai ba lần một tuần. Tôi nghĩ là nếu ăn uống như vậy thì làm sao mà…thở được. Bây giờ tôi nghe chính Bà Nhu nói “hai ngày nay tôi chưa ăn gì cả, vì tôi không ăn nên không có bệnh”. Các vị tu sĩ An Độ giáo rất ít khi ăn uống nhưng người nào cũng mạnh khoẻ và sống lâu trăm tuổi. Ở các nước Âu Mỹ đa phần người ta chết vì ăn chứ có ai chết vì đói.

    Bà Nhu hầu như không đi sắm sửa quần áo giầy dép. Mỗi năm một bà bạn người Nhật gửi qua cho vài cái áo kimono đủ mặc trong nhà, có việc đi đâu thì mặc mấy cái quần áo cũ cũng còn tạm được. Nói đến quần áo Bà có vẻ đăm chiêu “ở Sài Gòn nóng quá nên tôi mặc áo dài hở cổ, Tổng Thống không bằng lòng”. Chiếc áo dài hở cổ được đặt tên là “kiểu áo Bà Nhu” đã một thời là “mốt” của các thiếu nữ Sài Gòn và cũng là một đề tài xôn xao của những người vô công rồi nghề. Bà kể chuyện trước kia phải đại diện chính phủ tiếp đón phu nhân các vị quốc khách mà chẳng có đến một món trang sức nên thấy thiếu sót. Nhân có bà vợ một ông bộ trưởng muốn bán mấy món đồ trang sức làm bằng đá đỏ (ruby), Bà Nhu có trình và xin Tổng Thống số tiền sáu ngàn đồng bạc Việt Nam để mua lại. Tổng Thống nghe lời giãi bầy cũng hợp lý nhưng yêu cầu người bán phải viết một tờ giấy biên nhận với đầy đủ lai lịch của những món đồ trang sức này. Bà Nhu nói đó là lần duy nhất Tổng Thống cho tiền và cũng chẳng còn nhớ những đồ trang sức đó bây giờ thất lạc nơi đâu.

    Trong lúc nói chuyện, thỉnh thoảng Bà Nhu cũng đề cập đến những diễn biến chính trị, kinh tế và xã hội toàn cầu. Bà có những phân tích, lượng giá vấn đề một cách chi tiết và hợp lý đồng thời đưa ra những kết luận làm người nghe dễ dàng bị thuyết phục. Điều này chứng tỏ tuy sống khép mình trong một căn phòng nhỏ bé nhưng Bà vẫn theo dõi thời cuộc một cách cẩn thận. Bà vẫn còn giữ những liên lạc cần thiết với giới ngoại giao quốc tế trong một giới hạn cẩn trọng. Nhớ lại Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới năm xưa, Bà nắm hai tay ngước mắt nhìn lên trần nhà nói bằng tiếng Pháp “phụ nữ phải được giải phóng, phụ nữ phải được tôn trọng”. Giấc mơ của Bà là người phụ nữ phải có chỗ đứng và tiếng nói trong xã hội. Ước vọng của Bà là người phụ nữ phải có những cơ hội thuận tiện để thăng tiến trong mọi lãnh vực của đời sống. Tiếng nói của Bà rõ ràng, chắc nịch, lên xuống với những cảm xúc làm người nghe rất dễ bị lôi cuốn rồi nhiệt tình ủng hộ.

    Bà Nhu và TT Hoa Kỳ Johnson (tháng 5, 1961)
    Trong cả một buổi chiều, lúc nói chuyện này và đột nhiên nói sang chuyện khác nhưng Bà không hề đả động gì đến nước Mỹ, mặc dầu Bà biết tôi đến từ một tiểu bang ở vùng Tây Bắc nước Mỹ. Nhiều người nói Bà Nhu căm thù Mỹ lắm vì những sai lầm trong chính sách đối với Việt Nam và nhất là đối với Đệ Nhất Cộng Hoà Việt Nam. Vào những ngày tháng cuối năm 1963, cả thế giới đã kinh ngạc nghe và nhìn Bà Nhu mạt sát nước Mỹ và những nhà lãnh đạo của siêu cường này ở tại một địa điểm chỉ cách Toà Bạch Oc một quãng đường. Tôi nghĩ là Bà đã không còn mang những “hận thù” đó trong tim óc nữa và thưc sự muốn quên hết để mọi chuyện nhẹ nhàng đi vào lịch sử. Bà kể chuyện vào mùa Xuân năm 1975, sau khi cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hoà, hệ thống truyền thanh NBC của Mỹ có xin phỏng vấn trong 30 phút. Lý do Bà chấp nhận lời yêu cầu của NBC và đòi mười ngàn (10,000) mỹ kim thù lao cộng với hai vé máy bay khứ hồi hạng nhất Paris – Washington DC, vì lúc đó Lệ Quyên rất nhớ và muốn đi gặp ông bà ngoại. Bà Nhu không có tiền trang trải cho chuyến đi nhưng vì thương con nên bằng lòng trả lời cuộc phỏng vấn để có tiền đưa con gái đi gặp Ông Bà Trần Văn Chương ở thủ đô của nước Mỹ. Đối với một tổ hợp truyền thông to lớn như NBC thì những điều kiện đó thật quá nhỏ bé và họ đã vội vàng thực hiện cuộc phỏng vấn. Đó là lần duy nhất Bà đi Mỹ và cũng là lần duy nhất Bà tiếp xúc với giới truyền thông quốc tế sau năm 1963. Ngoài ra Bà chưa từng gặp gỡ hoặc tiếp xúc với báo giới Việt ngữ dưới bất cứ hình thức nào. Trong quá khứ đã có vài tờ báo ở Đức quốc và California đăng tải bài phỏng vấn Bà Ngô Đình Nhu. Tất cả những bài “phỏng vấn” đó đều là những ngụy tạo mà độc giả rất dễ dàng nhận ra tính chất giả dối và bịa đặt của người viết.

    Bà Nhu cũng không nói gì về vụ phản loạn 1-11-1963 và những người được ngoại bang thuê mướn sát hại chồng Bà. Tôi có nói xa gần đến đám quân nhân phản lọan để dò xét phản ứng của Bà nhưng không trông chờ ở một sự tức giận thường tình của một con người vì thời gian đến gần 40 năm cũng đã làm nguôi ngoai cơn thịnh nộ. Bà có vẻ buồn, nhìn qua khung cửa sổ nói một cách nhỏ nhẹ bằng tiếng Anh “đó là một bọn ngu dốt”.

    Đồng hồ chỉ tám giờ rưỡi tối. Những ngọn đèn của Paris kết nối làm thành một biển ánh sáng và thành phố đã bắt đầu đi vào cuộc sống ban đêm. Hơn sáu giờ đồng hồ ngồi nói chuyện, tôi đã uống hết hai ly nước bưởi to nhưng tuyệt nhiên không thấy Bà Nhu uống một chút nước nào. Tôi sợ ngồi lâu quá Bà sẽ mệt mỏi nhưng thực sự thì chính tôi là người đã thấm mệt. Bà Nhu không tỏ ra mệt mỏi hay có một dấu hiệu nào biểu hiện sự rã rời sau một buổi chiều dài chuyện trò. Trước khi tôi xin cáo từ Bà Nhu có nói đến cuốn sách của Bà. Theo chỗ tôi được biết thì cuốn sách này sẽ được phát hành cùng một lúc tại nhiều nơi trên thế giới bằng bốn thứ ngôn ngữ: Việt Nam, Anh, Pháp và Ý. Bà viết bằng tiếng Pháp và tự dịch sang tiếng Anh và Ý. Bản dịch tiếng Việt đang trong giai đoạn nửa chừng. Cũng vì vậy mà tôi hạn chế bài viết này trong một kích thước vừa đủ, những gì độc giả muốn biết hay những gì gọi là “bí mật lịch sử” sẽ rất có thể được nói đến hoặc phân giải trong cuốn sách mà rất nhiều người đang chờ đợi.

    Tôi bước ra chỗ thang máy để xuống phố lang thang với người Paris mà trong lòng xôn xao niềm vui vì không ngờ một “bà cụ” gần 80 tuổi đã vật vã với bao sóng gió phũ phàng của cuộc đời mà lại còn có một sức khoẻ thật sung mãn, trí óc minh mẫn đến như thế. Ở vào tuổi đời như vậy mà còn giữ được thể chất và tinh thần trong một tình trạng gần như lý tưởng thì thật là hiếm có. Bà Nhu đã thực sự lánh xa những tục lụy phù phiếm của trần gian. Bà sống trong hơi thở nhịp tim cũa đời sống tận hiến và phó dâng với niềm cậy trông tuyệt đối nơi sự quan phòng của Đấng Tạo Hoá. Tôi cầu chúc Bà luôn mạnh khoẻ, an vui.

    Trương Phú Thứ

    Trước 1975 VNCH Đệ I & II vất vả đối phó tăng ni Phật tử xuống đường biểu tình, vc nằm vùng trong chùa làm loạn miền Nam giúp VC. Sau 1975 Phật giáo chiếm 85% dân số nhưng im re trước VC.

    Sau 1975 dân đạo Chúa xuống đường chống VC như vụ Thái Hà, Khâm Sứ, Tam Tòa dù họ chỉ chiếm 7% dân số.

  9. #9
    Join Date
    Jun 2008
    Posts
    3,492
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Tổng thống Ngô Đình Diệm còn sống, VNCH còn tồn tại

    Tại sao tất cã các tướng lĩnh cũa VNCH...sau khi wa Mĩ... vẫn hỗng chịu nói sự thật...? tàn là thấy tép riu nói... ai tin....

    The Truth is Like The Sun ....You Can Shut it Out For Awhile, But it Ain't Going Away - (Elvis Presley)

  10. #10
    Join Date
    Oct 2000
    Posts
    283
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Tổng thống Ngô Đình Diệm còn sống, VNCH còn tồn tại

    Quote Originally Posted by 2hon View Post
    Tại sao tất cã các tướng lĩnh cũa VNCH...sau khi wa Mĩ... vẫn hỗng chịu nói sự thật...? tàn là thấy tép riu nói... ai tin....
    Hổ thẹn, chỉ trừ lão Kỳ già.

  11. #11
    Join Date
    Oct 2007
    Posts
    375
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Tổng thống Ngô Đình Diệm còn sống, VNCH còn tồn tại

    Thư Mời

    Trân trọng kính mời:

    • Quý vị lãnh đạo các Tôn giáo,
    • Quý Hội đoàn, Đoàn thể
    • và Quý đồng hương, tới tham dự:

    Lễ Tưởng Niệm Chí Sĩ Ngô Đình Diệm,
    Vị Tổng Thống đầu tiên và
    là Người Khai Lập nền Cộng Hòa Việt Nam.


    Trong tinh thần tưởng nhớ và vinh danh lòng yêu nước, đức tính liêm khiết, quyết tâm bảo vệ quyền tự quyết dân tộc và tận trung báo quốc của một vị lãnh đạo quốc gia sáng suốt.

    Ban Đại Diện Cộng Đồng Việt Nam Bắc California với sự phối hợp của các Hội đoàn, Đoàn thể sẽ tổ chức.


    Lễ Tưởng Niệm
    Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm

    Thời gian:
    Thứ Bảy, ngày 01 tháng 11 năm 2008
    Từ 1:00 pm đến 4:00 pm.

    Địa điểm:
    Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng VN/BCL
    2129 South 10th Street, San Jose, CA 95112

    Ban Tổ Chức kính mong Quý vị đến tham dự Lễ Tưởng Niệm để thắp nén tâm hương tưởng nhớ công đức vị Tổng Thống trọn đời hiến dâng cho Tổ Quốc và cũng tưởng nhớ đến Toàn thể Quân Dân Cán Chánh đã hy sinh trong biến cố ngày 01 tháng 11 năm 1963.
    Sự hiện diện của Quý vị sẽ làm cho buổi lễ thêm phần long trọng.

    San Jose, ngày 11 tháng 10 năm 2008
    TM. Ban Đại Diện CĐVN/BCL
    Trưởng Ban Tổ Chức

    Nguyễn Ngọc Tiên
    Chủ tịch CĐVN/BCL

    Trước 1975 VNCH Đệ I & II vất vả đối phó tăng ni Phật tử xuống đường biểu tình, vc nằm vùng trong chùa làm loạn miền Nam giúp VC. Sau 1975 Phật giáo chiếm 85% dân số nhưng im re trước VC.

    Sau 1975 dân đạo Chúa xuống đường chống VC như vụ Thái Hà, Khâm Sứ, Tam Tòa dù họ chỉ chiếm 7% dân số.

  12. #12
    Join Date
    Oct 2007
    Posts
    375
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Tổng thống Ngô Đình Diệm còn sống, VNCH còn tồn tại

    Khui hồ sơ "Tối Mật": Mỹ chủ mưu thanh toán anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm

    • Ngô Kỷ

    Đảo chánh!
    Ngày 01 tháng 11 năm 1963, 43 năm qua, có thể chuyện đã trở thành cũ so với một đời người, nhưng lại quá mới nếu đem so với chiều dài của lịch sử. Từ trước đến nay, có rất nhiều cựu tướng lãnh, chính trị gia Việt Nam lẫn Mỹ viết những cuốn hồi ký nói về ngày đảo chánh, nhưng hầu hết đều có tính cách chủ quan và mang màu sắc đánh bóng, chạy tội.

    Vì viết về "cái tôi" nên các chi tiết họ đưa ra chứa đầy thiên kiến, ích kỷ và cố tạo thành một "diễn đàn" để nhục mạ đối tượng nhằm thỏa mãn tự ái và trốn chạy mặc cảm tội lỗi. Vì không đồng ý với lề lối viết đó, nên chúng tôi cố gắng sưu tầm và trích dịch một số dữ kiện có tính cách khả tín vì được trình bày trùng hợp với nhau từ hơn chục quyển sách ngoại quốc. Các chi tiết này được thâu thập từ văn khố chính phủ, từ các cuộc phỏng vấn trực tiếp, từ các bản tự thú hữu thệ và từ các buổi điều trần tại Quốc Hội Hoa Kỳ v.v...

    Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm
    Trong tập tài liệu này, có đề cập đến những chữ như "chính phủ Diệm", "Tổng Thống Diệm", điều đó không nhất thiết Tổng Thống Diệm là người đích thân hay trực tiếp ra lệnh, sắp xếp, thông tường tất cả mọi sự kiện, vấn đề đang xảy ra trong nước. Nhưng vì với chức vụ Tổng Thống, nên Tổng Thống Diệm phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về mọi hành động, lời nói của thuộc cấp, luôn cả của ông bà Cố Vấn Ngô Đình Nhu, ông Ngô Đình Cẩn v.v...

    Vì đề tài quá rộng lớn và vô cùng phức tạp, vì chúng tôi không phải là sử gia, do đó các chi tiết trong tập tài liệu chỉ có tính cách tóm lược mà thôi. Vì tôn trọng sự trung thực của vấn đề, chúng tôi cố gắng giữ vai trò thật khách quan trong khi dịch thuật, mà không suy diễn, không phân tích, không ca ngợi, không chỉ trích, không vu cáo, không bênh vực, không lên án, không bào chữa...

    Chúng tôi chỉ ước ao những người từng chủ trương, tham dự cuộc đảo chánh năm 1963 nhân danh vì đạo pháp, vì tự do, vì dân chủ, vì nhân quyền, vì hạnh phúc, vì độc lập dân tộc, thì cũng xin đừng quên rằng hiện nay nơi quê nhà, Cộng Sản Việt Nam là một tập đoàn "đảng trị", đang kỳ thị, đàn áp, bắt bớ, giam cầm các lãnh tụ tôn giáo, đang đóng cửa, tịch thu các chùa chiền, nhà thờ, thánh thất, đang thủ tiêu, giết chóc các nhà chính trị đối lập, đang liếm gót giày Nga, Tàu, "đế quốc Mỹ", và đang vi phạm gấp hàng triệu lần những gì mà quý vị đã từng hô hào xuống đường, tranh đấu.

    Tổng Thống đầu tiên của miền Nam Việt Nam: Ngô Đình Diệm
    Tiểu sử và sự nghiệp tổng thống Ngô Đình Diệm

    Ông Ngô Đình Diệm sinh ngày 03 tháng 01 năm 1901 trong một gia đình có 9 người con. Thân phụ là ông Ngô Đình Khả từng phục vụ dưới triều vua Thành Thái. Ông Diệm thuộc gia đình Công Giáo và từng có ý muốn lớn lên làm linh mục. Học trường Quốc Học Huế và tốt nghiệp lúc 16 tuổi. Sau đó ghi danh học trường Luật và Quản Trị của Pháp ở Hà Nội, tỏ ra là một sinh viên thông minh, xuất sắc và ra trường đứng đầu lớp. Tốt nghiệp, ông Diệm đi làm việc ngay cho chính phủ.

    Ông tiến thân rất mau trên con đường công danh. Lần lượt ông được bổ nhậm vào các chức vụ: Quan Hậu Bổ, Tri Huyện tỉnh Thừa Thiên, Tri Phủ tỉnh Quảng Trị

    TT. Ngô Đình Diệm và gia đình tại Phu Cam, Hue
    Là người Việt Nam ái quốc, ông Diệm chống đối sự đô hộ của Pháp và lên án chủ nghĩa Cộng Sản, mà theo ông đó là kẻ thù của người Việt Quốc Gia. Vì thấy ông Diệm có khả năng và năng động, nên vào ngày 02 tháng 03 năm 1933, Vua Bảo Đại bổ nhiệm ông Diệm nắm chức vụ Thượng Thư Bộ Lại đứng đầu nội các (tương đương với Bộ Nội Vụ).

    Ông Diệm rất thích thú với công việc mới này, ông đưa ra một số biện pháp và chương trình cải tổ guồng máy cai trị, nhưng bị Vua Bảo Đại và Pháp từ chối. Thất vọng và bất mãn, ông từ chức và không giữ chức vụ gì sau đó nữa cho đến khi ông làm Thủ Tướng vào năm 1954.

    Ông Diệm sống tại nhà của thân sinh gần Huế. Ông từ chối mọi sự mời mọc của Nhật, Việt Minh, Bảo Đại và không tham gia vào bất cứ chính quyền nào lập sau Đệ Nhị Thế Chiến. Có một lần ông bị Việt Minh bắt và giải đến Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh mời ông tham gia chính phủ nhưng ông từ chối với lý do Việt Minh giết anh cả của ông.


    Ngày 2 tháng 1 năm 1955, Tổng Thống Ngô Đình Diệm xuất hiện trong buổi lễ long trọng mừng ngày thành lập chính thể Việt-Nam Cộng-Hoà tại Sài Gòn.
    Năm 1951, ông Diệm qua Mỹ và sống 2 năm tại Lakehurst , New Jersey . Ông đi vòng quanh nước Mỹ để vận động độc lập cho Việt Nam . Ông Diệm nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của Đức Hồng Y Francis Cardinal Spellman, Phát ngôn viên của Công Giáo Hoa Kỳ, Đức Hồng Y Richard Cardinal Cushing, Linh Mục Raymond J. de Jaegher, Thượng Nghị Sĩ William F. Knowland, Thượng Nghị Sĩ John Kennedy, Thượng Nghị Sĩ Mike Mansfield, Dân Biểu Walter Judd và Chánh Án Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ William O. Douglas.

    Vào năm 1954, khi có triệu chứng Pháp thua tại Đông Dương và Cộng Sản có cơ hội chiếm Việt Nam , Hoa Kỳ quyết định can thiệp để thay thế Pháp và cố bảo vệ miền Nam Việt Nam. Chính phủ Mỹ muốn tìm người để ủng hộ. Lúc đó Ngoại Trưởng Mỹ John Foster Dulles biết được ông Diệm. Với tài quản trị, ái quốc, và chống Cộng triệt để, ông Diệm lấy được cảm tình của nhân dân Mỹ.
    Vua Bảo Đại cử ông Diệm làm Thủ Tướng. Về nước ngày 25 tháng 06 năm 1954, ông Diệm lấy làm lo lắng và xót xa khi thấy quốc gia đang bị băng hoại, tham ô, và quan lại. Ông phải phấn đấu và giữ sáng suốt để đương đầu trước một hoàn cảnh đầy khó khăn, phức tạp và tế nhị khi hai cường quốc Pháp và Mỹ đang tranh giành xâu xé ảnh hưởng tại Việt Nam .


    Những nhân vật Mỹ chính yếu đứng sau lưng ông Diệm thời đó là Giám Đốc Cơ Quan Trung Ương Tình Báo (CIA) Đại Tá Không Quân Edward G. Landsdale và Tướng J. Lawton "Lightning Joe" Collins, Đặc Sứ của Tổng Thống Eisenhower đặc trách miền Nam Việt Nam.

    Ngày 23 tháng 10 năm 1955, ông Diệm tổ chức cuộc trưng cầu dân ý. Ông Diệm đạt 98.2% phiếu thắng Vua Bảo Đại, và ông Ngô Đình Diệm trở thành Tổng Thống đầu tiên của miền Nam Việt Nam.

    Trong 9 năm thăng trầm của lịch sử, có những lúc Tổng Thống Diệm phải đương đầu với ý muốn bành trướng quân đội Mỹ tại Việt Nam . Vì muốn có chủ quyền và khỏi mất chính nghĩa, nên Tổng Thống Diệm mạnh mẽ chống lại việc đưa lính "tác chiến" Mỹ vào Việt Nam, ông chỉ nhận viện trợ và cho phép Cố Vấn Mỹ vào Việt Nam mà thôi, sự kiện này đã sinh ra bất đồng giữa hai chính phủ.

    Sau những chua cay ngọt bùi, khó khăn, nguy hiểm, vinh nhục trong chức vụ Tổng Thống, sự nghiệp và sinh mạng của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã kết thúc vào năm 1963, mà bắt nguồn từ biến cố Phật Giáo ngày 08 tháng 05 năm 1963 tại Huế.

    Diễn biến đưa đến đảo chánh

    Ngày 05 tháng 05 năm 1963, thành phố cổ kính Huế treo đầy cờ và khẩu hiệu để mừng Đức Giám Mục Ngô Đình Thục, bào huynh của Tổng Thống Diệm. Trong số cờ đó có cờ của Giáo Hội Công Giáo Vatican tức cờ nửa vàng nửa trắng và hình Đức Giáo Hoàng. Biểu tượng này được nhìn như là Tòa Thánh Vatican công nhận miền Nam và đạo Công Giáo tại Việt Nam , xóa đi hình ảnh đô hộ của Pháp Quốc lâu nay.

    Ngày 08 tháng 05 năm 1963, Phật tử tại Huế treo cờ Phật Giáo để mừng Đại Lễ Phật Đản thứ 2.507, nhưng chính quyền không cho phép. Vì tức giận, tối đó một số Phật tử kéo đến biểu tình tại đài phát thanh để phản đối chính quyền. Trong khi xô xát, một quả bom nhỏ hay một trái lựu đạn phát nổ, tình hình hổn loạn. Kết quả có 9 người chết, trong đó có một trẻ em, và 20 người khác bị thương.

    Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Đại Sứ Mỹ Henry Cabot Lodge
    Chính quyền quy kết Cộng Sản trà trộn đặt chất nổ giết người để gây xáo trộn. Phía biểu tình kết án Thiếu Tá Đặng Sỹ ra lệnh nổ súng giết người biểu tình. Theo lời kể của ông Lãnh Sự Mỹ tại Huế: "Lính chính quyền hốt hoảng vì tiếng nổ và la hét của đám biểu tình nên xả súng bắn vào đám biểu tình". Ông John Mecklin, Phát ngôn viên tòa Đại Sứ tuyên bố: "Cấm treo cờ Phật Giáo trong ngày Phật Đản không khác chi đi cấm người Mỹ hát nhạc mừng trong ngày Chúa Giáng Sinh". Cũng có tin cho rằng chính phủ Tổng Thống Diệm không cho phép treo cờ Phật Giáo lớn hơn và ngang hàng với cờ Quốc Gia Việt Nam vì đó là theo luật lệ của chính phủ đã có từ lâu, chứ không phải là cấm treo cờ Phật Giáo.

    Vào thời điểm này, Phật giáo có khoảng 10.5 triệu người, và Công Giáo có khoảng 1.5 triệu người.

    Hôm sau, ngày 09 tháng 05 năm 1963, hơn 10 ngàn người kéo đến nhà Tỉnh Trưởng Huế biểu tình và đòi hỏi 5 điểm:

    1. Hủy bỏ lệnh cấm treo cờ Phật Giáo.
    2. Phật Giáo được quyền bình đẳng như Công Giáo.
    3. Không được đàn áp Phật Giáo.
    4. Phật Giáo được quyền thờ phượng tôn giáo của mình.
    5. Chính quyền phải bồi thường cho các gia đình nạn nhân, và phải trừng trị các người có trách nhiệm trong vụ bắn chết người trong ngày 08 tháng 05 năm 1963.

    Ngày 15 tháng 05 năm 1963, phái đoàn Phật Giáo gồm 8 người từ Huế vào Sài Gòn trình kiến nghị cho Tổng Thống Diệm. Tổng Thống Diệm đồng ý hầu hết các yêu sách, và hứa sẽ điều tra. Tuy nhiên Tổng Thống Diệm không chịu bồi thường cho các gia đình nạn nhân vì sợ Phật Giáo làm tới. Nhưng tuần sau Tổng Thống Diệm đổi ý, không chịu nhượng bộ Phật Giáo, sự kiện này làm Phật Giáo bất mãn.

    Ngày 28 tháng 05 năm 1963, Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, Lãnh Đạo Phật Giáo Việt Nam lên tiếng kêu gọi biểu tình. Tại Huế, hàng ngàn tăng ni xuống đường.

    Tổng Thống đầu tiên của miền Nam Việt Nam: Ngô Đình Diệm

    Tại Sài Gòn hàng trăm tăng ni biểu tình và tuyệt thực 48 giờ trước Quốc Hội. Đại Sứ Mỹ Frederick E. Nolting vắng mặt tại Sài Gòn, Bộ Ngoại Giao Mỹ Mỹ chỉ thị ông Phó Đại Sứ William C. Trueheart (Deputy Chief of Mission ) giải quyết.

    Ngày 02 tháng 06 năm 1963, tại Huế, 500 sinh viên biểu tình chống chính quyền kỳ thị. Biến thành bạo động, cảnh sát dùng chó, lựu đạn cay tấn công đoàn biểu tình, 67 sinh viên bị thương phải vào bệnh viện. Chính quyền ra lệnh giới nghiêm Huế và cho cảnh sát, công an kiểm soát đường phố.

    Để tránh đụng chạm, Tổng Thống Diệm thải hồi 3 viên chức có trách nhiệm vụ bắn chết người biểu tình ngày 08 tháng 05 năm 1963, trong đó bị thải hồi có Thiếu Tá Đặng Sỹ. Chính quyền lên tiếng xin lỗi Phật Giáo, nói là các nhân viên chính quyền đã thiếu tế nhị khi hành xữ công tác và hứa sẽ cho một phái đoàn chính phủ tiếp xúc với Phật Giáo để bồi thường các gia đình nạn nhân.

    Ngày 04 tháng 06 năm 1963, Phó Đại Sứ Trueheart gặp Ông Nguyễn Đình Thuần, Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống để yêu cầu giải quyết. Phật Giáo có gặp nhưng hai bên bất đồng ý kiến.

    Ngày 07 tháng 06 năm 1963, bà Ngô Đình Nhu tức bà Trần Lệ Xuân ca ngợi tổ chức Phụ Nữ Liên Đới và lên án những vị lãnh tụ Phật Giáo do Cộng Sản giật dây.

    Sáng ngày 11 tháng 06 năm 1963, Phát ngôn viên của Phật Giáo thông báo cho các phóng viên, ký giả Mỹ biết sẽ có một biến cố quan trọng sẽ xảy ra tại ngã tư Lê Văn Duyệt và Phan Đình Phùng thành phố Sài Gòn. Hàng ngàn tăng ni, phật tử đứng chung quanh, HòaThượng Thích Quảng Đức 73 tuổi ngồi bình thản tự thiêu bằng xăng. Chính quyền tuyên truyền rằng Hòa Thượng Thích Quảng Đức ngồi bình tỉnh là do bị chích ma túy nên không biết nóng.

    Bà Ngô Đình Nhu tuyên bố về cái chết của Hòa Thượng Thích Quảng Đức: "Tất cả cái mà các vị lãnh đạo Phật Giáo đóng góp vào quốc gia này là đi nướng một vị tăng (barbecue)". Chính quyền Tổng Thống Diệm cho rằng việc tự thiêu là do Cộng Sản sắp đặt, và chính Đại Sứ Mỹ Nolting cũng ủng hộ lời giải thích này, ông nói: "Theo tôi nghĩ, đây là do Việt Cộng. Động lực thúc đẩy việc này là do chính trị chứ không phải do vấn đề tín ngưỡng".

    Thượng Toạ Thích Quảng Ðức tự thiêu lúc 9:22 sáng ngày 11 tháng 6 nãm 1963
    Cái chết của Hòa Thượng Thích Quảng Đức là ngọn lửa châm ngòi cho Phật Giáo đấu tranh kịch liệt và mạnh mẽ hơn. Hình ảnh tự thiêu đã gây xúc động nhân dân, chính phủ Mỹ và toàn thế giới. Chính phủ Mỹ lên án Tổng Thống Diệm. Bộ Ngoại Giao Mỹ chỉ thị Phó Đại Sứ Trueheart bí mật tiếp xúc với Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ để báo tin cho biết là Mỹ sẽ ủng hộ Phó Tổng Thống Thơ nếu Tổng Thống Diệm ra đi.

    Vì thấy Đại Sứ Mỹ Nolting quá thân với Tổng Thống Diệm, nên Tổng Thống Kennedy tuyên bố thay thế Đại Sứ Nolting bằng tân Đại Sứ Henry Cabot Lodge trong khi Đại Sứ Nolting đang đi Âu Châu mà không thông báo cho ông biết.

    Đại Sứ Nolting chỉ được biết qua đài phát thanh mà thôi. Tức bực, Đại Sứ Nolting phát biểu: "Tôi nói thẳng là tôi nghĩ có một số người có thế lực tại Bộ Ngoại Giao, họ là những người rất vui mừng khi thấy tôi phải ra đi bởi vì họ muốn cho ông Diệm thật nhiều sợi dây thừng để ông tự treo cổ ông ta. Có một chiến dịch đạp đổ ông Diệm làm tôi nghĩ rằng nó phát xuất từ các ông Thứ Trưởng Averrell Harriman, Roger Hilsman và một số viên chức trong Tòa Bạch Ốc. Điều đó đi ngược lại sự cố vấn của CIA. Tôi muốn các điều tôi nói đây được ghi vào hồ sơ".

    Sau này, Tướng Maxwell D. Taylor, từng là Chủ Tịch Liên Quân Hoa Kỳ (Tổng Tham Mưu Trưởng) thời đó kể lại là Ban Cố Vấn của Tổng Thống Kennedy chia làm 2 phe: một phe thì muốn lật đổ Tổng Thống Diệm vì nói là "không thể thắng Cộng Sản nếu còn Tổng Thống Diệm", còn phía ủng hộ Tổng Thống Diệm mà trong đó có Tướng Taylor thì nói là "có thể chúng ta không thể thắng Cộng Sản nếu đi với Tổng Thống Diệm, nhưng nếu không đi với Diệm thì đi với ai?" Mọi người đều im lặng, không ai trả lời được câu này.

    Ngày 16 tháng 06 năm 1963, Ủy Ban Chính Phủ và Phật Giáo ký bản Thông Cáo Chung, đồng ý thỏa mãn các đòi hỏi của Phật Giáo, nhưng lại không nhận trách nhiệm. Báo chí Mỹ, đài VOA chỉ trích chính quyền Tổng Thống Diệm. Phật Giáo thay thế Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết bằng Thượng Tọa Thích Trí Quang lãnh đạo cuộc đấu tranh. Theo báo cáo của CIA, Thượng Tọa Thích Trí Quang là người Bắc, sinh năm 1922, là "một người khôn lanh, thâm hiểm, không tình cảm, có mưu đồ chính trị và đầy tham vọng lãnh tụ".

    Ngày 25 tháng 06 năm 1963, Trưởng Phòng CIA John Richardson tại Sài Gòn (CIA Chief Station) thất bại trong việc đứng ra điều đình giữa chính quyền Tổng Thống Diệm và Phật Giáo. Ông Cố Vấn Nhu nói: "Các lãnh tụ Phật Giáo không bao giờ tuyên bố và cũng không bao giờ chống Cộng Sản cả". Ông Nhu cũng chỉ trích thái độ mềm dẽo của Tổng Thống Diệm vì làm như vậy khiến cho chính quyền khó giải quyết vấn đề. Ông Nhu tuyên bố: "Nếu chính phủ không áp dụng luật pháp thì chính phủ sẽ sụp đổ và tôi là người đầu tiên nghĩ như thế". Ông Nhu hàm ý rằng trong tình trạng khẩn trương của đất nước, nếu cần, ông sẽ đứng ra ngoài tình cảm gia đình, ông có thể chống cả chính phủ và Tổng Thống Diệm.

    Khi thấy phong trào đấu tranh của Phật Giáo bùng nổ mạnh mẽ dưới sự chỉ đạo của Thượng Tọa Thích Trí Quang, Tổng Thống Kennedy hỏi ông Phụ Tá Tổng Thống Michael Forrestal rằng: "Họ là ai? Tại sao chúng ta không biết đến họ trước kia vậy?”

    Những ngày cuối tháng 06 năm 1963, Phó Đại Sứ Trueheart tiếp xúc Tổng Thống Diệm hàng ngày để đòi hỏi Tổng Thống Diệm nhượng bộ Phật Giáo. Vì thấy Tổng Thống Diệm không nghe lời, Phó Đại Sứ Trueheart đe dọa Mỹ sẽ không ủng hộ chính phủ Tổng Thống Diệm. Bị xúc phạm bởi những lời đe dọa của Mỹ, kể từ đây Tổng Thống Diệm tỏ ra bất cần Mỹ, và kêu gọi dân chúng thắt lưng buộc bụng để độc lập với Mỹ.

    Ông Ngô Đình Nhu
    Ngày 04 tháng 07 năm 1963, tờ báo viết bằng Anh ngữ Times of Viet Nam do ông Nhu tài trợ viết bài tấn công Mỹ và nói Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu vì bị chích ma túy.

    Tại Hoa Thịnh Đốn, các giới chức cao cấp Bộ Ngoại Giao phúc trình Tổng Thống Kennedy biết tình trạng bất ổn tại Việt Nam và kết tội ông Nhu phá hoại bản Thông Cáo Chung ký ngày 16 tháng 06.

    Tại Hoa Thịnh Đốn, bàn tán xôn xao về kế hoạch loại ông Cố Vấn Nhu và bà Nhu ra khỏi chính quyền. Đại Sứ Nolting được gọi họp tại Tòa Bạch Ốc. Tại đây, ông Nolting khuyến cáo Tổng Thống Kennedy rằng nếu đảo chánh sẽ tạo ra nội chiến, và ông Nolting hy vọng là ông có thể thuyết phục được Tổng Thống Diệm. Mặc dù Tổng Thống Kennedy đã tuyên bố bổ nhiệm ông Henry Cabot Lodge thay thế ông Nolting để làm đại sứ tại Việt Nam, nhưng Tổng Thống Kennedy lại chỉ định ông Nolting qua Sài Gòn lần nữa để thuyết phục Tổng Thống Diệm.

    Ngày 11 tháng 07 năm 1963, Đại Sứ Nolting trở lại Sài Gòn. Tuyên bố với báo chí, ông nói ông qua lần này nhằm thuyết phục Tổng Thống Diệm thay đổi lập trường. Ông khuyến khích Tổng Thống Diệm lên đài phát thanh để nhận lỗi về việc tranh chấp với Phật Giáo.

    Ngày 18 tháng 07 năm 1963, Đại Sứ Nolting dành cả ngày thuyết phục, khuyến khích, yêu cầu và ngay cả đe dọa Tổng Thống Diệm, tuy nhiên không đạt được gì khả quan cả, trừ việc Tổng Thống Diệm đồng ý lên đài phát thanh để hứa "cộng tác" chặt chẽ với Phật Giáo. Vụ tự thiêu lần thứ hai xảy ra.

    Ngày 19 tháng 07 năm 1963, Tổng Thống Diệm nói trên đài phát thanh chỉ 2 phút. Với giọng nói lạnh lùng, Tổng Thống Diệm hứa hẹn rất ít, yêu cầu mọi người kính trọng chức vụ Tổng Thống của ông, và hứa sẽ chỉ định một Ủy Ban Chính Phủ khác điều tra các khiếu nại của Phật Giáo. Dù vậy, cảnh sát vẫn tiếp tục bao vây các chùa chiền bằng dây kẽm gai.

    Ngày 05 tháng 08 năm 1963, tại Phan Thiết, sư Nguyên Hương tự thiêu bằng xăng.

    Ngày 13 tháng 08 năm 1963, một vị sư ở Huế quấn cờ Phật Giáo tự thiêu.

    Tại Ninh Hòa, một ni cô ngồi tại nhà thờ Công Giáo tự thiêu.

    Ngày sau đó, một vị sư 71 tuổi tự thiêu trong sân chùa Từ Đàm Huế.

    Vì phong trào Phật Giáo đấu tranh mạnh tại Huế và Nha Trang, nên chính quyền Tổng Thống Diệm ban tình trạng thiết quân luật tại hai tỉnh này. Quân đội xao động, truyền đơn rải cùng các căn cứ lính. Các quân nhân bắt đầu mang khăn quàng vào tay ủng hộ Phật Giáo đấu tranh.

    Ngày 14 tháng 08 năm 1963, Đại Sứ Nolting từ biệt Tổng Thống Diệm về Mỹ. Ông Nolting yêu cầu Tổng Thống Diệm thỏa hiệp với Phật Giáo và muốn Tổng Thống Diệm lên tiếng phủ nhận lời tuyên bố "đổ dầu vào lửa" của bà Nhu, cũng như muốn Tổng Thống Diệm cho biết ai là người thực sự lãnh đạo đất nước. Nếu Tổng Thống Diệm không thực hiện các điều kể trên thì "chính phủ Mỹ khó có thể tiếp tục giữ tình hữu nghị như hiện tại".

    Ông cố vấn Ngô Đình Nhu, bào đệ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm

    Tổng Thống Diệm nói với Đại Sứ Nolting rằng Hoa Kỳ phải nên hiểu rằng việc rối rắm này "không phải do Phật Giáo mà cũng chẳng phải do gia đình ông tạo nên". Tuy nhiên, có lẽ vì chỗ thân tình với ông Nolting nên Tổng Thống Diệm hứa là sẽ đưa ra một bản Thông Cáo. Thế nhưng, trong buổi phỏng vấn ngày sau đó, Tổng Thống Diệm lại tuyên bố: "Chính sách liên kết với Phật Giáo của tôi không thể thực hiện được".

    Chính phủ Tổng Thống Diệm muốn đánh một ván bài chót là đàn áp Phật Giáo thật mạnh mẽ, với hy vọng là nếu thành công thì đây là món quà đón tiếp tân Đại Sứ Henry Cabot Lodge. Mỹ cho đây là kế hoạch của ông Cố Vấn Nhu.

    Ngày 15 tháng 08 năm 1963, Đại Sứ Nolting rời Sài Gòn. Ông Nhu cảnh giác cho các tướng lãnh Việt Nam biết chính sách Mỹ thay đổi và có thể Mỹ sẽ bỏ rơi Việt Nam . Ông trưng dẫn bằng chứng là Mỹ vừa ký thỏa hiệp cấm thử bom nguyên tử với Liên Sô, có nghĩa là Mỹ đi hòa hoãn với Cộng Sản.

    Ngày 20 tháng 08 năm 1963, mười vị tướng lãnh yêu cầu Tổng Thống Diệm ban bố tình trạng thiết quân luật để quân đội có thể đưa các vị tăng ni ngoài Sài Gòn trở về chùa. Tối đó, ông Nhu tự ý hành động mà không thông báo cho các tướng lãnh. Tấn công chùa Xá Lợi, phá cửa chính bằng súng, lựu đạn cay, bắt bớ lên xe. Tại Huế, lực lượng an ninh dùng súng tiểu liên M1 bắn chùa Từ Đàm, bắn bể tượng Phật và tịch thu 30 ngàn mỹ kim của chùa. Gần chùa Diệu Đế, đàn bà, đàn ông, trẻ em đương đầu với cảnh sát. Sau năm tiếng đồng hồ xô xát cho đến khi có xe tăng tới, tại chùa có 30 người chết, 200 bị thương và chở giam 10 xe người.

    Ngày 21 tháng 08 năm 1963, sau khi Tổng Thống Diệm ban bố tình trạng thiết quân luật, ông Nhu ra lệnh Lực Lượng Đặc Biệt (Special Forces) do Đại Tá Lê Quang Tung cầm đầu, và Cảnh Sát Dã Chiến (Combat Police) tấn công chùa chiền. Có khoảng 2 ngàn chùa chiền bị bố ráp trên toàn quốc và bắt giam hơn 1.400 vị tăng ni. Ít nhất có năm mươi đến hàng trăm người bị chết. Sự kiện này đã làm cho Mỹ tại Sài Gòn cũng như Hoa Thịnh Đốn bực tức và lên án Tổng Thống Diệm gắt gao. Tại Honolulu, ông Nolting gặp tân Đại Sứ Lodge và một số giới chức Mỹ. Ông Nolting gởi cho Tổng Thống Diệm một điện thư: "Đây là lần đầu tiên ông đã nuốt lời hứa với tôi". Hết sức chịu đựng, và không còn nhẫn nại được nữa, Tổng Thống Kennedy quyết định giao cho CIA giải quyết vấn đề.

    Cũng trong ngày này, 6 giờ sáng, đài phát thanh Sài Gòn phát thanh lời Tổng Thống Diệm nói rằng 3 tháng thương thảo với Phật Giáo thất bại. Ông tuyên bố toàn nước đặt trong tình trạng thiết quân luật. Binh sĩ tại Sài Gòn mặc áo giáp, mang tiểu liên, lựu đạn cay và canh gác khắp các ngã đường, các cây cầu chính yếu. Xe Jeep trang bị súng lớn 30 caliber tuần tiểu thành phố. Sinh viên xuống đường biểu tình bất tuân lệnh thiết quân luật.


    BộTrưởng Ngoại Giao Vũ Văn Mẫu từ chức, cạo trọc đầu để phản đối Tổng Thống Diệm và xin đi Ấn Độ tu học. Tệ hại hơn là Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ là ông Trần Văn Chương, thân sinh của bà Trần Lệ Xuân (tức bà Nhu) từ chức và chỉ trích chính quyền Tổng Thống Diệm là chế độ độc tài. Phái đoàn Mỹ cứu trợ phải quay trở lại Mỹ vì cảnh sát không cho phép máy bay hạ cánh. Chính phủ Mỹ bị hiểu lầm là đứng sau vụ đàn áp Phật Giáo.

    Ngày 22 tháng 08 năm 1963, lúc 9 giờ 30 tối, tân Đại Sứ Henry Cabot Lodge đến Tân Sơn Nhất, Sài Gòn.

    CIA Lucien E. Conein
    Ngày 23 tháng 08 năm 1963, Tướng Trần Văn Đôn mời ông CIA Lucien Conein đến Bộ Tổng Tham Mưu để nhận thư trao tận tay cho tân Đại Sứ Lodge, nói là quân đội không có nhúng tay trong việc đàn áp Phật Giáo vừa rồi. (Ông Lucien Conein, CIA Operative, giữ vai trò chính yếu trong việc phối hợp với các tướng đảo chánh).

    Tướng Lê Văn Kim là phụ tá của tướng Đôn và là anh em rể của tướng Đôn đòi triệt hạ ông Nhu và yêu cầu chính phủ Mỹ lên tiếng ủng hộ thì quân đội sẽ đứng lên lật đổ chính phủ Tổng Thống Diệm.

    Bí thư của Tổng Thống Diệm là ông Võ Văn Hải yêu cầu bảo toàn Tổng Thống Diệm nếu loại bỏ ông Nhu. Tân Đại Sứ Lodge báo cáo về Hoa Thịnh Đốn tất cả sự kiện, nhưng ông Lodge không ủng hộ việc loại bỏ ông Nhu. Ông Lodge khuyên nếu Mỹ ủng hộ đảo chánh thì nên núp trong bóng tối.

    Bức điện văn tố cáo "ông Nhu đang bị dân chúng chán ghét" được gởi đến bàn ông Phụ Tá Ngoại Trưởng Roger Hilsman. Ông Hilsman lên án ông Nhu và nói rằng nếu còn ông Nhu thì chẳng những đưa miền Nam Việt Nam vào thảm họa, mà còn kéo theo Mỹ xuống bùn đen nữa. Ông Thứ Trưởng Ngoại Giao Đặc Trách Chính Trị Vụ Averell Harriman cũng đồng ý là Mỹ không nên ủng hộ chính phủ Diệm-Nhu nữa.

    Ngày 24 tháng 08 năm 1963, Đại Sứ Lodge đánh điện văn cho Bộ Ngoại Giao. Phụ Tá Ngoại Trưởng Hilsman phúc đáp, chỉ thị cho tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn tiếp xúc với các tướng lãnh để thực hiện đảo chánh.

    Trúng vào thứ bảy cuối tuần, Tổng Thống Kennedy, Bộ Trưởng Ngoại Giao Dean Rusk, Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert S. McNamara không có mặt tại Hoa Thịnh Đốn, nhưng các phụ tá của họ như ông Thứ Trưởng Ngoại Giao Harriman, và ông Phụ Tá Tổng Thống Forrestal có mặt làm việc, với sự hỗ trợ của Phụ Tá Ngoại Trưởng Hilsman. Các người này thảo một bức điện văn để trả lời cấp tốc cho Đại Sứ Lodge. Bức điện văn "tối mật" ngày 24 tháng 8 năm 1963 này có nội dung như sau:

    "Bộ Ngoại Giao gởi Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn để thi hành ngay lập tức.
    Tối Mật. Không được phép phổ biến.
    Chỉ đích thân Đại Sứ Lodge mới được phép đọc mà thôi. Đối với CINPAC/POLAD thì chỉ Đô Đốc Felt được phép đọc mà thôi.
    Theo CAS Sài Gòn 0265 báo cáo về quan điểm của Tướng Đôn; Saigon 320, Saigon 316, Saigon 329. (Các con số là những ký hiệu mật mã).

    Bức điện thư Mỹ ra lệnh thanh toán Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu ngày 24 tháng 8 năm 1963.


    Bây giờ thì rõ là hoặc quân đội đề nghị lệnh thiết quân luật hoặc ông Nhu đã lừa họ. Ông Nhu đã lợi dụng tình trạng đó để tấn công chùa chiền bằng cảnh sát và Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Tung trung thành với ông ta, làm cho nhân dân Việt Nam và thế giới ngỡ lầm rằng quân đội làm. Hơn nữa, cũng thật quá rõ là ông Nhu đã âm mưu sắp đặt ông ta vào vị trí chỉ huy.

    Chính phủ Hoa Kỳ không thể dung dưỡng tình trạng mà quyền hành lại nằm trong tay ông Nhu. Ông Diệm phải loại bỏ ông Nhu và các thuộc hạ của ông để thay vào đó bằng quân đội tinh nhuệ và các chính trị gia có tư cách.

    Nếu ông (tức Đại Sứ Lodge) cố gắng hết sức, nhưng ông Diệm vẫn ngoan cố và từ chối thì chúng ta phải đối đầu với một điều có thể xảy ra, là ngay cả bản thân ông Diệm cũng không thể tồn tại được.

    Ký tên: Hilsman, Forrestal, Ball, W.Everell Hariman ".

    Sau khi soạn bản điện văn này, ông Forrestal gọi Tổng Thống Kennedy đang nghỉ cuối tuần tại Hyannis Port , Massachusetts và đọc cho nghe. Tổng Thống Kennedy hỏi lại: "Có thể chờ cho đến thứ Hai để có đủ người họp được không?". Ông Harriman và Hilsman trả lời là "phải cần gởi gấp ngay bây giờ". Nghe thế, Tổng Thống Kennedy đồng ý và bảo "hãy gởi đi". Ông Hilsman cũng gọi báo cho Ngoại Trưởng Rusk và cũng được đồng ý cho phép gởi đi. Ông Hilsman gởi ngay điện văn này qua Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn, và được coi như Mỹ "bật đèn xanh" đảo chánh.
    Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara và Giám Đốc CIA McCone chưa được đọc bức điện văn trước khi gởi đi nên rất bất mãn. Đại Sứ Lodge nhận được điện văn và gởi ngay cho ông Xếp CIA William Colby, lúc đó đang làm Giám Đốc CIA Vùng Viễn Đông (Chief of the CIA's Far East Division) trụ sở tại Langley Virginia. Ông Xếp CIA Colby có quyền đọc tất cả điện văn tại trung tâm chỉ huy CIA ở Virginia .

    Ngày 25 tháng 08 năm 1963, Đại Sứ Lodge báo cáo Bộ Ngoại Giao là ông đã nhận được bức điện văn, nhưng nói "căn bản quyết định vẫn là từ Hoa Thịnh Đốn".

    Tướng Mỹ Maxwell Taylor và Tồng Thống Ngô Đình Diệm
    Ngày 26 tháng 08 năm 1963, sáng thứ Hai, các cố vấn của Tổng Thống Kennedy chia làm hai phe: Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Maxwell Taylor phàn nàn Bộ Ngoại Giao quyết định làm bức điện văn ngày 24 tháng 08 mà không hội ý các nhân vật cao cấp, tạo nên sự nghi ngờ về mức độ thành công của việc đảo chánh. Bộ Trưởng Quốc Phòng và Giám Đốc CIA cùng quan điểm. Giám Đốc CIA McCone cho rằng: "Tổng Thống Diệm là người lãnh tụ xứng đáng nhất tại Việt Nam, và CIA cũng khó mà thực hiện được tinh thần bức điện văn ngày 24 tháng 08 năm 1963". Tổng Thống Kennedy khiển trách ông Phụ Tá Forrestel đã không chịu giữ lại bức điện văn cho tới thứ Hai. Ông Forrestal xin từ chức nhưng Tổng Thống Kennedy muốn giữ ông ta lại. Bộ Quốc Phòng bất đồng với Bộ Ngoại Giao nên muốn có thêm một cơ hội nữa để thuyết phục Tổng Thống Diệm loại bỏ ông Nhu.

    8 giờ sáng, đài VOA lên tiếng chỉ trích cảnh sát của ông Nhu tấn công chùa chiền, và minh xác là quân đội không có nhúng tay. Đài VOA cũng tuyên bố Mỹ cắt viện trợ chính phủ Tổng Thống Diệm. Đại Sứ Lodge gọi Ngoại Trưởng Rusk phàn nàn về việc đài VOA đi thông báo việc cắt viện trợ, vì 11 giờ sáng này Đại Sứ Lodge sẽ gặp trình Ủy Nhiệm Thư cho Tổng Thống Diệm. Ông Ngoại Trưởng Rush gởi điện văn qua xin lỗi ông Lodge, và đài VOA đính chính không cắt viện trợ. Trong dịp này, Đại Sứ Lodge yêu cầu Tổng Thống Diệm loại trừ ông Nhu ra khỏi chức cố vấn, nhưng quá trễ vì lúc này ông Nhu đã trở thành tai, mắt và là bàn tay sắt của Tổng Thống Diệm.

    Cũng trong ngày này, ông CIA Conein tiếp xúc với Tướng Trần Thiện Khiêm tại Bộ Tổng Tham Mưu. Tướng Khiêm khuyên ông CIA Conein tiếp xúc với Tướng Dương Văn Minh tức "Big" Minh. Tướng Minh đang là cố vấn quân sự cho Tổng Thống Diệm, và càng tréo cẳng ngổng nữa là ông ta cũng lại là Chủ Tịch Ủy Ban Đảo Chánh. Trong khi đó thì ông CIA AlSpera bay lên vùng cao nguyên để gặp tướng Nguyễn Khánh. Tướng Khánh không nêu danh tánh các tướng tham dự đảo chánh, nhưng khi nghe nhắc đến tên tướng Khiêm thì tướng Khánh nói "chúng tôi thích vậy".

    Ông Robert McNamara, Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng và Đại Tướng Maxwell Taylor, Chủ Tịch Ủy-Ban Tham-Mưu liên quân Hoa Kỳ, đã đến Sài Gòn ngày 24 tháng 9 năm 1963 để hội kiến với ôngHenry Cabot Lodge, Đại sứ Hoa Kỳ bên cạnh chính phủ Việt-Nam Cộng-Hoà. Chuyến công du của hai Ông McNamara (trái) và Tướng Taylor (giữa) sang Việt Nam có mục đích tìm hiểu tình hình tại chỗ liên quan đến những xáo trộn xảy ra trong thời gian qua.
    Thứ Ba ngày 27 tháng 08 năm 1963, Tổng Thống Kennedy họp các cố vấn cao cấp lại. Có cựu Đại Sứ Nolting tham dự. Ông Nolting không tin tưởng cuộc đảo chánh thành công vì ông cho rằng các tướng đảo chánh không can đảm như anh em ông Diệm-Nhu, họ không thống nhất mà lại chia rẽ, họ không có lãnh đạo thật sự và họ không có thực lực quân đội trong tay. Tổng Thống Kennedy hỏi lại ông Nolting: "Tại sao Tổng Thống Diệm không giữ lời hứa với chúng ta? Tại sao chính quyền Tổng Thống Diệm dùng sức mạnh đàn áp Phật Giáo? Bà Nhu hiện đang nắm chức quyền gì?". Ông Nolting cố bào chữa cho Tổng Thống Diệm và đề nghị chính phủ Mỹ nên cho thêm một cơ hội nữa để đòi Tổng Thống Diệm loại bỏ ông Nhu và truất quyền bà Nhu. Ông Nolting nói với Tổng Thống Kennedy rằng: "Ông Diệm và ông Nhu cũng giống như cặp song sinh Siamese dính nhau nên không thể tách ra được". Ông Nolting cũng nhắc cho Tổng Thống Kennedy biết về việc 3 năm trước đây, ông Đại Sứ Mỹ Durbrow cũng đòi Tổng Thống Diệm loại bỏ ông Nhu nhưng thất bại nên đã trở về Mỹ. Tổng Thống Kennedy mỉm cười và nói rằng: "Nếu ông nói đúng, thì chuyến đi của Đại Sứ Lodge kỳ này sẽ là chuyến đi ngắn nhất trong lịch sử". Cuối cùng Tổng Thống Kennedy vẫn giữ lập trường ủng hộ bức điện văn ngày 24 tháng 08.

    Tại Sài Gòn tất cả trường học đóng cửa, ra lệnh bắt đối lập, tin tức đảo chánh loan truyền. Các tướng đảo chánh âm thầm di chuyển các đơn vị Dù vào Sài Gòn. Có 2 đơn vị Dù khác có thể tiến vào thủ đô trong vòng 8 tiếng đồng hồ. Chính quyền Diệm-Nhu ra lệnh bố trí chống đảo chánh.

    Người tín cẩn nhất của chính quyền Diệm-Nhu là Tướng Tôn Thất Đính, Tư Lệnh Thủ Đô Sài Gòn. Trong tay có 2,500 lính Dù, 1,500 lính Thủy Quân Lục Chiến, 700 Quân Cảnh. Ngoài ra Tướng Đính có liên hệ với Sư Đoàn 5 Bộ Binh.

    Chính quyền Diệm-Nhu có Đại Tá Lê Quang Tung, chỉ huy 1,700 lính Phòng Vệ Phủ Tổng Thống, 900 lính Lực Lượng Đặc Biệt và 700 Cảnh Sát Dã Chiến.

    Ngày 08 tháng 08 năm 1963, ông CIA Conein gặp lại các tướng đảo chánh lần thứ nhì, gồm các Tướng: Dương văn Minh, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh, Lê Văn Kim và Đại Tá Nguyễn văn Thiệu. Các tướng muốn Mỹ chính thức ủng hộ cuộc đảo chánh bằng sự lên tiếng của Đại Sứ Lodge.

    Ông Trưởng Phòng CIA John Richardson khuyến cáo rằng tình hình không thể thối lui. Sài Gòn bây giờ đã biến thành một trại lính. Đây là trận đánh cuối cùng của gia đình Tổng Thống Diệm. Ông tiên đoán rằng các tướng đảo chánh sẽ thắng, tuy nhiên phải thuyết phục cho được Tướng Tôn Thất Đính và Đại Tá Lê Quang Tung gia nhập đảo chính. Đảo chánh sẽ chết nhiều sinh mạng. Ông Đại Sứ Lodge ủng hộ đảo chánh và nói rằng "nếu trễ sẽ bị thất bại". Trái với ý kiến của ông Trưởng Phòng CIA Richardson và Đại Sứ Lodge, Tướng Paul D. Harkins, Tư Lệnh Quân Đội Mỹ tại Việt Nam nghi ngờ khả năng các tướng đảo chánh. Ông khuyên Mỹ nên đứng ngoài cuộc đảo chánh.

    Tại Hoa Thịnh Đốn, Hội Đồng An Ninh Quốc Gia họp ủng hộ đảo chánh. Cựu Đại Sứ Nolting phản đối nói rằng: "Nếu Mỹ bỏ rơi hai ông Diệm-Nhu tức là Mỹ đã nuốt lời cam kết trong quá khứ". Thứ Trưởng Ngoại Giao Harriman chống lại ý kiến ông Nolting, và chỉ trích ông Nolting đã không phục vụ quyền lợi nước Mỹ trong thời gian ông làm đại sứ tại Việt Nam . Tổng Thống Kennedy phân vân, nhưng cuối cùng đồng ý ủng hộ cuộc đảo chánh, tuy nhiên ông muốn trao quyền quyết định cho Đại Sứ Lodge. Tổng Thống Kennedy nói với ông Lodge: "Tôi tin là ông sẽ không ngại ngùng khi đưa ra quyết định đình hoãn hay thay đổi kế hoạch đảo chánh nếu ông nghĩ là cần thiết".

    Các tướng Kim, Đỉnh, Đôn, Vy và Xuân tại nhà nghỉ Đà Lạt năm 1964
    Bây giờ, Ngoại Trưởng Rusk tự tay gởi điện văn cho Đại Sứ Lodge, chỉ thị mọi cách phải loại bỏ cho được ông bà Nhu ra khỏi chính quyền. Khoan cắt đứt viện trợ mà hãy chờ cho đến khi nào các tướng sẵn sàng đảo chánh. Sợ rằng nếu Tổng Thống Diệm biết được thì Tổng Thống Diệm sẽ kêu gọi Bắc Việt ủng hộ để đánh đuổi Mỹ.
    Ngày 29 tháng 08 năm 1963, Tổng Thống Kennedy gởi điện văn cho Đại Sứ Lodge: "Tôi chấp thuận tất cả những điều đề cập trong cái điện văn mà những vị khác gởi cho ông (tức bức điện văn "tối mật" ngày 24 tháng 8), và tôi ủng hộ các điều đó hết mình. Chúng tôi sẽ cố gắng làm hết sức để có thể giúp ông hoàn thành sứ mạng này một cách mỹ mãn. Cho đến khi các tướng lãnh ra tay, tôi xin được dành cái quyền thay đổi kế hoạch hay đảo ngược chỉ thị vào giờ chót. Tôi hoàn toàn nhận hết trách nhiệm về bất cứ sự thay đổi nào, và tôi cũng chịu hoàn toàn trách nhiệm về kế hoạch này và hậu quả của nó".

    Tại Sài Gòn, Chánh Phòng CIA Richardson và ông CIA Conein nhận điện văn của tướng Cố Vấn Quân Sự Tổng Thống Taylor từ Hoa Thịnh Đốn, đòi phải "suy nghĩ lại" việc ủng hộ đảo chánh. Vì 10 giờ sáng phải gặp lại Tướng Minh, do đó ông Chánh Phòng CIA Richardson ra lệnh cho ông CIA Conein không được tuyên bố gì mà chỉ đến nghe và về trình lại ý kiến của Tướng Minh thôi.

    Tướng Minh đòi hỏi Mỹ phải chứng tỏ việc ủng hộ các tướng lãnh đảo chánh, bằng cách tuyên bố Mỹ cắt viện trợ kinh tế cho chính phủ Diệm. Đại Sứ Lodge điện về Ngoại Trưởng Rusk nói là quá trễ để mà suy nghĩ lại, ông nói: "Chúng ta đã bước sâu quá rồi nên không thối lui được, hãy dồn mọi nỗ lực ủng hộ các tướng đảo chánh ngay". Đại Sứ Lodge xin phép để Tướng Harkins tiếp xúc với các tướng đảo chánh và cũng yêu cầu Mỹ cắt viện trợ kinh tế chính phủ Diệm để các tướng đảo chánh tin tưởng có Mỹ ủng hộ. Cùng ngày, Tòa Bạch Ốc cho phép Tướng Harkins tiếp xúc các tướng đảo chánh và cho phép Đại Sứ Lodge cắt đứt viện trợ kinh tế chính phủ Diệm.

    Tổng Thống Kennedy gởi thư riêng cho Đại Sứ Lodge nói rằng Tổng Thống Kennedy ủng hộ các kế hoạch đảo chánh của ông Lodge. Tuy nhiên Tổng Thống Kennedy không đồng ý với ông Lodge về việc ông Lodge nói là "không thể thối lui được". Tổng Thống Kennedy nhắc Đại Sứ Lodge về kinh nghiệm đau thương tại Vịnh Con Heo ở Cu Ba. Tổng Thống Kennedy nói: "Kinh nghiệm dạy tôi rằng sự thất bại mang lại cái tệ hại nhiều hơn là việc đi thay đổi quyết định...Khi chúng ta làm, chúng ta phải thắng, nhưng nếu cần phải thay đổi quyết định thì cũng phải nên thay đổi, hơn là để thất bại".

    Thứ Sáu, ngày 30 tháng 08 năm 1963, Tổng Thống Kennedy lo có cảnh tắm máu tại Sài Gòn. Ông đưa ra kế hoạch dự trù di tản gần 5,000 cư dân Mỹ tại Việt Nam . Một tàu chiến chở trực thăng, tàu tấn công, tàu destroyer nằm sẵn tại ven biển Việt Nam . Tại Okinawa, có 3,000 Thủy Quân Lục Chiến ứng trực 100%. Tại Bộ Ngoại Giao, Phụ tá Ngoại Trưởng Hilsman báo cáo lên Ngoại Trưởng Rusk rằng có thể trận đánh đảo chánh kéo dài quá lâu, và nếu vậy thì quân đội Hoa Kỳ phải nhảy vô vòng chiến để ủng hộ phe đảo chánh cho thành công.

    Ngày 31 tháng 08 năm 1963, Tướng Minh thông báo cho Tướng Harkins biết là kế hoạch đảo chánh phải "trì hoãn". Các tướng đảo chánh sợ sự thân thiết giữa Chánh Phòng CIA Richardson với Tổng Thống Diệm sẽ làm bại lộ kế hoạch đảo chánh. Tướng Harkins mời Tướng Minh đến cơ quan MACV, và hứa là Mỹ ủng hộ các tướng đảo chánh. Tướng Khiêm thông báo cho Tướng Minh biết ý kiến của Mỹ.

    Ngày hôm sau, Tướng Khiêm lại gặp Tướng Harkins. Tướng Minh lo hoạch định kế hoạch đảo chánh. Tướng Khiêm thì cho biết là các tướng không có đủ sức thắng lực lượng trung thành Tổng Thống Diệm. Lực lượng lính Bộ Binh sẽ không tham dự đảo chánh nếu không đánh tới cùng. Tướng Harkins và ông Chánh Phòng CIA Richardson báo cáo thẳng về Hoa Thịnh Đốn nói là kế hoạch đảo chánh bất thành. Đại Sứ Lodge than: "Không có ai, không có tổ chức nào trong đám tướng lãnh này làm nên trò trống gì cả". Tin tức các tướng bỏ cuộc đảo chánh khiến cho Tổng Thống Kennedy và các cố vấn tại Tòa Bạch Ốc hoang mang.

    Đầu tháng 9 năm 1963, Tổng Thống Kennedy chỉ định Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara qua Việt Nam . Tháp tùng có một số cố vấn cao cấp trong đó có Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Phòng William Bundy. Tại Việt Nam có 800 học sinh bị bắt nhốt.

    Ngày 02 tháng 09 năm 1963, Tổng Thống Kennedy trả lời câu phỏng vấn của Walter Cronkite trên đài CBS rằng Mỹ vẫn tiếp tục ủng hộ miền Nam Việt Nam, nhưng ông nói tiếp: "Tôi không nghĩ là có thể thắng chiến tranh được trừ khi họ được nhân dân ủng hộ. Và theo ý tôi, trong 2 tháng qua chính phủ Diệm đã quá xa rời quần chúng".

    Phụ Tá Ngoại Trưởng Hilsman suy diễn lời chỉ trích trực tiếp và công khai này của Tổng Thống Kennedy rằng sẽ có một cuộc đảo chánh, nhưng không biết bao giờ xảy ra. Dù vậy, các tướng đảo chánh vẫn án binh bất động. Cùng ngày, phe ông Nhu viết bài trên báo Times of Viet Nam lên án Mỹ ủng hộ đảo chánh.

    Ông Xếp CIA Colby nói: "Ý họ muốn khuyên chúng ta nên đứng ngoài". Bà Nhu viết bài chửi Mỹ. Bà xưng bà là người cứu tinh cho miền Nam Việt Nam, và bà còn tố cáo Mỹ và Cộng Sản giật dây Phật Giáo biểu tình làm loạn. Bà tố cáo Đại Sứ Lodge mưu sát bà. Để trả thù, em bà Nhu là ông Trần Văn Khiêm lập một danh sách ám sát lại người Mỹ. Trong cuộc phỏng vấn với ký giả Úc Denis Warner, ông Khiêm tiết lộ các người Mỹ nằm trong danh sách bị ám sát đó có tên ông Chánh Phòng CIA Sài Gòn Richardson, ông CIA Conein và Phát Ngôn Viên Tòa Đại Sứ John Mecklin. Tình cảm giữa Việt Nam và Hoa Kỳ căng thẳng và tồi tệ trầm trọng.

    Trong thời điểm này, Hoa Thịnh Đốn bất mãn việc Pháp đứng làm trung gian giải quyết chiến tranh Việt Nam . Đại Sứ Pháp đến miền Nam Việt Nam thảo luận bí mật với Hồ Chí Minh và Tổng Thống Diệm qua trung gian của người Ba Lan tên Mieczyslaw Maneli, thành viên Polish Member of the International Control Commission, cơ quan này được thiết lập để quan sát Hiệp Định Genève. Trong suốt nhiều tháng, Maneli qua lại Sài Gòn - Hà Nội nhiều lần để tìm giải pháp thương thảo. Vào tháng 07 năm 1963, Bắc Việt đồng ý căn bản là lập chính phủ Liên Hiệp cầm đầu bởi Tổng Thống Diệm để miền Nam trở thành trung lập. Họ muốn Mỹ phải rút quân.

    10 giờ 30 sáng ngày 6 tháng 9 năm 1963, tại buổi họp trong Tòa Bạch Ốc, Bộ Trưởng Tư Pháp Robert Kennedy, tức bào đệ của Tổng Tống John Kennedy nêu ra các câu hỏi: "Liệu có thắng hai ông Diệm-Nhu? Liệu ông Nhu có bị ông Diệm loại bỏ? Phải xử sự ra sao nếu không thể thắng ông Diệm được?". Cuối cùng ông Robert Kennedy đề nghị phải cứng rắn với Tổng Thống Diệm và cắt đứt viện trợ. Bộ Trưởng Quốc Phòng trả lời là không có cái tin tức nào chính xác cả. Tướng Taylor đề nghị cử Tướng Victor Krulak đi Việt Nam . Bộ Ngoại Giao cử ông Joseph A. Mendenhall tháp tùng.

    6 giờ sáng ngày 08 tháng 09 năm 1963, hai viên chức này đến Việt Nam . Tướng Krulak phỏng vấn 80 cố vấn Mỹ luôn cả các viên chức cao cấp. Nhà Ngoại Giao Mendenhall lại dành thì giờ đi Sài Gòn, Huế, Đà Nẳng để thăm viếng một số bạn bè cũ.

    Ngày 09 tháng 09 năm 1963, hai vị này trở về Hoa Thịnh Đốn phúc trình lại cho Tổng Thống Kennedy. Tướng Krulak báo cáo là "tinh thần chiến đấu cao và tốt. Việc xáo trộn chính trị không ảnh hưởng gì đến việc đánh giặc. Dân chúng ghét ông Nhu thôi chứ không ghét Tổng Thống Diệm". Trái lại, nhà ngoại giao Mendenhall thì báo cáo là "chính phủ Diệm bị dân chúng chán ghét, chế độ sắp sụp đổ, và không thể chiến thắng Cộng Sản được nếu còn Diệm-Nhu". Nghe xong hai báo cáo, Tổng Thống Kennedy ngơ ngẫn vì hai báo cáo hoàn toàn trái ngược nhau, khiến T.T. Kennedy phải hỏi: "Có phải là hai vị đã đến cùng một quốc gia không vậy?" Tuy vậy, Tổng Thống Kennedy ra lệnh cho các cố vấn nghiên cứu việc cắt viện trợ kinh tế Việt Nam.

    Ngày 11 tháng 09 năm 1963, Tổng Thống Kennedy lại nói chưa thể cắt viện trợ chính phủ Diệm. Không được đảo chánh. Tổng Thống Kennedy muốn thuyết phục Tổng Thống Diệm loại bỏ ông Nhu khỏi chính quyền.

    Ngày 17 tháng 09 năm 1963, Hội Đồng An Ninh chỉ thị Đại Sứ Lodge hòa hoãn với Tổng Thống Diệm, nhưng bằng mọi cách thuyết phục Tổng Thống Diệm loại bỏ ông Nhu. Đại sứ Lodge rất bất mãn vì lệnh này, ông muốn đảo chánh Diệm và cắt đứt viện trợ. Đại Sứ Lodge liên lạc với Tướng Minh bàn việc đảo chánh. Hội Đồng An Ninh muốn tìm một giải pháp khác. Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara và Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Taylor qua Việt Nam để nhìn tận mắt tình hình Phật Giáo, và nếu cần thì phải áp lực Tổng Thống Diệm. Tháp tùng trong chuyến đi có ông Xếp CIA Colby, đại diện Tòa Bạch Ốc Forrestal, đại diện Bộ Ngoại Giao William Sullivan và Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Phòng P. Bundy.

    Trước khi trở lại Hoa Thịnh Đốn, Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara, Tướng Taylor và Tướng Harkins ghé thăm Tổng Thống Diệm tại Dinh Gia Long. Tổng Thống Diệm hút thuốc liên miên và chỉ tay vào bản đồ để khoe thành tích tiến triển tốt đẹp. Ông McNamara nhắc Tổng Thống Diệm về các xáo trộn chính trị và tình hình nguy ngập. Tổng Thống Diệm không đồng ý và bào chữa rằng đó là do báo chí xuyên tạc làm người Mỹ hiểu lầm. Tổng Thống Diệm phàn nàn các học sinh nông nổi, thiếu giáo dục và không hiểu trách nhiệm nên gây rối trật tự, do đó không có giải pháp nào hơn là tống giam họ. Tổng Thống Diệm thú nhận đã để xáo trộn là vì ông "quá nhẹ tay và đối xử quá tốt với Phật Giáo".

    Tổng Thống Diệm lên án Mỹ ủng hộ đảo chánh. Vì trước khi đi, Tổng Thống Kennedy đã ra lệnh các nhân viên đừng có ý kiến gì về vấn đề này nên mọi người đều nín thinh. Bộ Trưởng McNamara hỏi tại sao chính phủ không cải chính những lời tuyên bố "ồn ào" của bà Nhu, và nhắc đến việc bà Chiang Kai-shek lạm quyền nên đẩy nước Tàu vào tay Cộng Sản. Tổng Thống Diệm biện minh rằng "bà Nhu là một dân biểu, nên bà có quyền phát biểu theo ý của bà. Người Mỹ phải thông cảm cho bà vì bà bị báo chí truyền thông tấn công và xuyên tạc bà với đầy ác ý". Phái đoàn không lấy làm thỏa mãn về thái độ của Tổng Thống Diệm.

    Ngày 02 tháng 10 năm 1963, phái đoàn trở về Hoa Thịnh Đốn báo cáo tình hình với Tổng Thống Kennedy: "Về lãnh vực quân sự tốt, nhưng sự tai tiếng chính trị của hai ông Diệm-Nhu sẽ làm xấu đi". Thảo kế hoạch cắt viện trợ chương trình Commodity Import Program, đó là chương trình viện trợ kinh tế giúp Việt Nam 40% số lượng nhập cảng của quốc gia, và sinh ra một số ngân quỹ lớn cho quân đội. Tổng Thống Kennedy tuyên bố giờ phút này các cố vấn trong chính phủ ông không còn có những ý kiến dị biệt nữa.

    Từ trái: 1. Tướng Dương Văn Minh. 2.Tướng Lê Văn Kim, 3. ??? 4. Tướng Trần Văn Đôn.

    Tướng Trần Văn Đôn gặp lại bạn cũ là ông CIA Conein tại Tân Sơn Nhất. Rồi lại hẹn gặp nhau lại tại Nha Trang, hai trăm dặm cách Sài Gòn. Phó Đại Sứ Trueheart ra lệnh ông CIA Conein không được tuyên bố gì cả, chỉ lấy tin tức mà thôi.

    Tại Nha Trang, Tướng Đôn công bố đảo chánh. Điều đặc biệt và quan trọng trong buổi họp này là có sự tham dự của Tướng Tôn Thất Đính. Tướng Tôn Thất Đính khoe rằng ông là người cứu Tổng Thống Diệm thoát khỏi cuộc đảo chánh tháng 8, từng cứu Tổng Thống Diệm thoát khỏi các vụ đụng đầu với Phật Giáo, Cộng Sản v.v... Vì những công lao đó nên Tướng Đính xin Tổng Thống Diệm trả ơn bằng cách bổ nhiệm ông làm Bộ Trưởng Nội Vụ, nhưng bị Tổng Thống Diệm từ chối nên Tướng Đính sinh ra thù vặt và bất mãn Tổng Thống Diệm. Tướng Đôn biết được tình cảnh ấm ức này nên đã tìm cách chiêu dụ Tướng Đính gia nhập đảo chánh. Tướng Đôn đề nghị ông CIA Conein gặp riêng với Tướng Minh.

    Ngày 05 tháng 10 năm 1963, ông CIA Conein gặp Tướng Minh tại Sài Gòn, nói chuyện bằng tiếng Pháp. Tướng Minh đưa ra các điểm:

    - Phải biết lập trường của Mỹ có ủng hộ chính phủ mới tương lai không?
    - Không đòi hỏi Mỹ ủng hộ đảo chánh, nhưng Mỹ đừng cản đường.
    - Muốn Mỹ tái viện trợ kinh tế và quân sự cho chính phủ mới.

    Tướng Minh đưa ra các kế hoạch giết ông Nhu và giết ông Ngô Đình Cẩn, bao vây Sài Gòn bằng lính, đánh thẳng vào phòng tuyến bảo vệ Phủ Tổng Thống. Ông CIA Conein không có ý kiến. Tướng Minh hẹn sẽ gặp lại.

    Hoa Thịnh Đốn biết tin nên vừa háo hức mà vừa hồi hộp. Tổng Thống Kennedy nói với Đại Sứ Lodge rằng chính phủ Mỹ không muốn giật dây cuộc đảo chánh này, nhưng cũng không muốn bị hiểu lầm là cản trở đảo chánh hay từ chối viện trợ kinh tế và quân sự cho chính quyền mới. Điều quan tâm lớn nhất của Hoa Thịnh Đốn là rủi cuộc đảo chánh thất bại thì Mỹ sẽ bị cáo buộc là cấu kết với đám đảo chánh chủ mưu phản loạn. Tòa Bạch Ốc ra lệnh Đại Sứ Lodge phải cẩn thận và làm sao để mà "có thể chối được". Các báo cáo liên quan đến tình hình đảo chánh phải báo cáo riêng, không được báo cáo chung với bản báo cáo thường nhật của Tòa Đại Sứ. Phải báo cáo riêng và báo cáo về Hoa Thịnh Đốn phải dùng qua ngã CIA, chứ đừng qua ngã lỏng lẻo Bộ Ngoại Giao. Hơn nữa, chỉ có Đại Sứ Lodge mới được quyền chỉ thị CIA hành động và chỉ thị bằng khẩu lệnh mà thôi. Đại Sứ Lodge nói với ông CIA Conein: "Nếu có gì trục trặc, tôi sẽ chối tuốt luốt".

    Biết Tướng Minh chống Tổng Thống Diệm, Mỹ tuyên bố cắt viện trợ Tổng Thống Diệm, hứa ủng hộ tân chính phủ. Muốn chứng tỏ Mỹ ủng hộ các tướng đảo chánh, Mỹ triệu hồi ông Trưởng Phòng CIA Richardson về Mỹ vì cho rằng ông này thân thiện với Tổng Thống Diệm.

    Ngày 26 tháng 10 năm 1963, ngày Quốc Khánh kỷ niệm năm thứ tám, thành lập VNCH, TT Ngô Đình Diệm duyệt binh cùng Tướng Dương Văn Minh, cố vấn Tổng Thống Phủ, mấy ngày sau, Dương Văn Minh tạo phiến loạn 1-11-1963 sát hại toàn gia đình TT Ngô Đình Diệm.
    Ngày 05 tháng 10 năm 1963, Ông Giám Đốc CIA tại Mỹ McCone phản đối kế hoạch giết ông Nhu và muốn đứng ngoài cuộc đảo chánh. Tuy nhiên vẫn muốn theo dõi kế hoạch đảo chánh. Ông CIA Conein gặp Tướng Minh nói là Mỹ chống ám sát, do đó Tướng Minh nói: "Nếu quý vị không thích thì chúng tôi sẽ không đề cập đến nó nữa". Tướng Minh muốn biết quan điểm của Mỹ nếu có cuộc đảo chánh "sắp tới đây". Ông CIA Conein liên lạc với Đại Sứ Lodge và trả lời "bảo đảm ủng hộ chính phủ tương lai". Từ lúc này, ông CIA Conein biết là nhân vật mà ông cần liên lạc thường xuyên chính là Tướng trẻ Trần Văn Đôn. Có những cuộc tiếp xúc thường xuyên giữa CIA và các tướng đảo chánh.

    Ngày 17 tháng 10 năm 1963, Mỹ báo cho chính phủ Diệm biết là viện trợ Lực Lượng Đặc Biệt của ông Nhu chỉ được tiếp tục nếu được chỉ huy bởi quân đội. Tướng Đôn gặp Đại Sứ Lodge tại một buổi tiệc. Ông Lodge nói là không có nhận được dấu hiệu đảo chánh nào cả.

    Ngày 24 tháng 10 năm 1963, Trung Tá Phạm Ngọc Thảo kéo quân vể Sài Gòn đảo chánh hụt vì các tướng đảo chánh tại Sài Gòn thay đổi kế hoạch.

    Ngày 25 tháng 10 năm 1963, ông CIA Conein hỏi Tướng Đôn bao giờ đảo chánh? Tướng Đôn trả lời là không biết và hỏi lại ông CIA Conein có được phép của chính phủ Mỹ để thảo luận về cuộc đảo chánh không? Conein trả lời là Đại Sứ Lodge ra lệnh. Sau đó Tướng Đôn được Đại Sứ Lodge xác nhận tại phi trường.

    Ngày 27 tháng 10 năm 1963, Tổng Thống Diệm mời vợ chồng Đại Sứ Lodge lên Đà Lạt gặp mặt. Sau nhiều lần thuyết phục nhưng Tổng Thống Diệm không nghe, Đại Sứ Lodge nói với Tổng Thống Diệm: "Thưa Ngài, tất cả lời đề nghị rõ ràng của tôi đều bị Ngài từ chối hết. Theo Ngài nghĩ thì liệu Ngài có thể làm cái gì mà điều đó có thể đem lại cái nhìn thiện cảm nơi người Hoa Kỳ?". Mỗi lần nhắc câu hỏi giống vậy thì Tổng Thống Diệm lại đổi đề tài.

    Hình chụp tại Đà Lạt ngày 28 tháng 10 năm 1963, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Đại Sứ Lodge trước 4 ngày xảy ra đảo chánh.
    Ngày 28 tháng 10 năm 1963, Tướng Đôn gặp ông CIA Conein tại Bộ Tổng Tham Mưu. Tướng Đôn không cho biết chắc chắn ngày đảo chánh, nhưng nói là rất gần. Tướng Đôn nói sẽ thông báo cho Tòa Đại Sứ biết vài giờ trước khi bắt đầu đảo chánh. Tuy nhiên Tướng Đôn muốn Đại Sứ Lodge đừng đình chuyến bay Hoa Thịnh Đốn đã định vào ngày 31 tháng 10 năm 1963. Tướng Đôn cho biết nhiệm vụ Tướng Minh lo quân đội, Tướng Kim lo chính trị, và Tướng Đôn lo liên lạc với Mỹ. Hỏi về nhiệm vụ Tướng Tôn Thất Đính, Tướng Đôn nói Tướng Đính vì từng trung thành với Tổng Thống Diệm, nên do đó không dám giao trọng trách vì e ngại bị phản.

    Ngày 29 tháng 10 năm 1963, Đại Sứ Lodge thông báo cho Hoa Thịnh Đốn sắp có đảo chánh. Nói rằng không thể trì hoãn được và không kịp thông báo cho Tổng Thống Diệm.

    Ngày 30 tháng 10 năm 1963, Mc George Bundy gởi điện văn nói là Tổng Thống Kennedy vẫn còn ý muốn đảo chánh. Tổng Thống Kennedy chỉ thị Đại Sứ Lodge "nên can thiệp nếu cảm thấy kế hoạch đảo chánh nguy hiểm, chúng ta ủng hộ nếu thấy diễn tiến đảo chánh tốt, nhưng nếu thấy tình hình không thuận tiện thì trì hoãn lại để khỏi làm ảnh hưởng đến chỗ đứng của Mỹ tại Đông Nam Á".

    Bản điện văn thứ nhì của Tòa Bạch Ốc thì bày tỏ sự bất mãn và nói rằng "chúng ta không thể chấp nhận cái luận điệu cho rằng chúng ta không có đủ tư cách để trì hoãn hay ngăn cản cuộc đảo chánh".

    Đại Sứ Lodge nghĩ là chính phủ Mỹ muốn ngăn cản đảo chánh, do đó ông gởi một điện văn về Hoa Thịnh Đốn: "Đừng có nghĩ là chúng ta có quyền trì hoãn hay ngăn cản đảo chánh. Không thể thông báo cho Tổng Thống Diệm được vì làm như vậy là chúng ta phản bội các tướng lãnh đảo chánh".

    Trái lại, đối với ông Xếp CIA Colby thì nhận định lại khác: "Bây giờ đảo chánh thì nói là do người Việt Nam làm, nhưng theo tôi nghĩ thì trên thực tế quyết định này đã được Tòa Bạch Ốc quyết định từ vài tuần trước, lúc mà trong cuộc họp báo công khai tuyên bố là cần có một bộ mặt mới trong chính phủ Việt Nam, ám chỉ muốn thay đổi hai anh em Diệm-Nhu. Chúng ta cắt ngân khoản CIA viện trợ Lực Lượng Đặc Biệt của ông Nhu, điều đó có nghĩa là khi chúng ta không đồng ý với họ chỗ nào thì chúng ta cắt chỗ đó. Mỹ đã bật đèn xanh để các tướng đảo chánh ra tay".

    Tư Lệnh Mỹ tại Việt Nam , Tướng Harkins không tin tưởng Đại Sứ Lodge và cũng không tin tưởng các tướng lãnh đảo chánh. Ông nói: "Tướng Đôn nói dối, ông ta nói với ông CIA Conein là có đảo chánh trước ngày 02 tháng 11, nhưng lại nói với tôi là không có đảo chánh".

    Tổng Thống Ngô Đình Diệm (1/03/1901 - 11/02/1963)
    Tướng Harkins ra lệnh Thủy Quân Lục Chiến lên bờ Việt Nam . Tướng Harkins gởi điện văn cho Tướng Taylor ở Mỹ bày tỏ sự chống đối âm mưu đảo chánh Tổng Thống Diệm. Ông nói: "Chúng ta ủng hộ T.T. Diệm trong suốt 8 năm khó khăn. Thật sai lầm nếu hạ ông xuống, đá ông lăn lóc và đi truất phế ông ta". Chống lại ý kiến ủng hộ đảo chánh của Đại Sứ Lodge, Tướng Harkins gởi điện văn cho ông Lodge: "Chúng ta phải cần thu thập thêm tin tức. Mặc dù Tướng Đôn tuyên bố là đảo chánh là do chính người Việt Nam thực hiện. Tuy nhiên trong ngày gần đây rồi Mỹ cũng phải nhào vô dù có muốn hay không. Chúng ta cần phải tiếp tục ủng hộ Tổng Thống Diệm cho đến khi nào chịu đựng hết nổi".

    Ngày 31 tháng 10 năm 1963, Hoa Thịnh Đốn gởi cho Đại Sứ Lodge một điện văn được coi là điện văn cuối cùng. Nội dung là chính phủ Mỹ ra lệnh: "Không được đứng về phe nào. Nếu tình thế xảy ra không rõ ràng, thì Mỹ phải đứng hòa hoàn giữa hai bên. Nếu đảo chánh bị thất bại, tòa đại sứ nên cho phép họ tỵ nạn tùy theo sự quyết định của Đại Sứ Lodge. Nhưng cố gắng khuyến khích họ nên đi nơi khác tỵ nạn. Dù vậy, nếu có cuộc đảo chánh xảy ra thì Mỹ vẫn mong là nó thành công". Đại Sứ Lodge đình chuyến bay trong ngày này.

    Ngày 01 thá ng 11 năm 1963, Tướng Trần Văn Đôn đến Bộ Tổng Tham Mưu lúc 7 giờ 30 sáng, 6 tiếng đồng hồ trước khi đảo chánh. Tướng Đôn chuẩn bị gặp Tướng Harkins và Đô Đốc Tư Lệnh Thái Bình Dương Harry D. Felt lúc 9 giờ 15 sáng. Đô Đốc Felt muốn gặp Tướng Đôn tại Bộ Tổng Tham Mưu nhưng Tướng Đôn lại muốn gặp nhau tại cơ quan MACV. Tướng Đôn nói chuyện bình thường. Ông nói nếu đảo chánh thành công thì sẽ thắng Cộng Sản. Trong khi nói chuyện, Đô Đốc Felt chỉ lên bản đồ hỏi rằng có 2 Tiểu Đoàn Dù chưa đồng ý gia nhập đảo chánh. Tướng Đôn bảo đảm là các lực lượng này trên đường đến Tây Ninh, Tây Bắc của Sài Gòn, sẽ kéo về thủ đô và chủ động cuộc đảo chánh.

    9 giờ 45 sáng, Đô Đốc Felt rời MACV để đến thăm Tổng Thống Diệm. Tướng Đôn sợ Tổng Thống Diệm rời Sài Gòn nên nhờ Đô Đố Felt cầm chân Tổng Thống Diệm. Đại Sứ Lodge làm hẹn và muốn tham dự. Gặp mặt tại Dinh, Tổng Thống Diệm nói: "Mỗi lần Đại Sứ Mỹ đi Hoa Thịnh Đốn là có tin đồn đảo chánh. Tôi biết là đang có sửa soạn đảo chánh, nhưng tôi không biết ai chủ mưu vì họ giữ bí mật kỹ quá". Khi Đại Sứ Lodge sắp đi thì Tổng Thống Diệm kéo qua một bên và nói là ông sẳn sàng thực hiện những điều chính phủ Mỹ muốn ông ta làm. Nhưng đã quá trễ, lúc Đại Sứ Lodge và Đô Đốc Felt từ biệt thì lính đã bao vây thủ đô Sài Gòn.


    Đại Sứ Lodge ngồi lại nói chuyện với Tổng Thống Diệm tại Dinh Gia Long. Tổng Thống Diệm nói là Mỹ giật dây xúi Phật Giáo biểu tình và tung tin đảo chánh. Đại Sứ Lodge trả lời: "Thưa Ngài, nếu một người Mỹ nào hứa hẹn một điều gì sai trái thì tôi sẽ tống cổ họ ra khỏi nước ngay". Bào chữa cho ông Cố Vấn Nhu, Tổng Thống Diệm khuyên ông Lodge nên gọi nói chuyện với ông Xếp CIA Colby và cựu Đại Sứ Nolting để họ giải thích cho ông Lodge biết lý do tại sao Tổng Thống Diệm cần đến ông Nhu nhiều như vậy.

    Trước khi Đại Sứ Lodge đứng ra về, Tổng Thống Diệm nói: "Xin ông vui lòng nói với Tổng Thống Kennedy rằng tôi là đồng minh tốt và thẳng thắn, tôi muốn là chúng ta nên thẳng thắn cùng giải quyết những vấn đề bây giờ hơn là nói về nó sau khi chúng ta đã mất tất cả".

    CIA Lucien E. Conein
    Khi Đại Sứ Lodge tiếp chuyện với Tổng Thống Diệm thì có một vị tướng đến nhà ông CIA Conein báo tin giờ đảo chánh sắp bắt đầu. Vị tướng này bảo ông CIA Conein mang tất cả số tiền lên Bộ Tổng Tham Mưu. Ông CIA Conein ôm 3 triệu đồng Việt Nam tương đương với 42,000 mỹ kim ra đi. Ông mang theo khẩu súng lục và mấy trái lựu đạn và một cái máy truyền tin đặc biệt để liên lạc với các viên chức CIA khác. Theo ông Conein thì số tiền này được rút từ quỹ của CIA để dùng mua thực phẩm cho lính đảo chánh và bồi thường các gia đình có lính chết vì đảo chánh. Trước khi đến Bộ Tổng Tham Mưu, ông CIA Conein bấm mật mã 9,9...9,9...9,9 để thông báo đến các nhân viên CIA biết đảo chánh bắt đầu. Tuy nhiên, theo tờ báo Times of Viet Nam phát hành ngày 02 tháng 09 năm 1963, trên trang nhất có tựa lớn "CIA Tài Trợ Đảo Chánh" (CIA Financing Planned Coup d'Etat). Trong bài báo này có nói đến việc cơ quan CIA của Mỹ chi từ 10 triệu tới 24 triệu để tài trợ cho cuộc đảo chánh chính phủ Tổng Thống Diệm. Số tiền này được ứng ra để trả lương và tưởng thưởng cho lính, cảnh sát, công chức. Và số tiền đó cũng được dùng để trả cho các tổ chức Phật Giáo, phong trào thanh niên đấu tranh, các cơ sở tuyên truyền và cho các trường hợp bất khả kháng. Tòa Đại Sứ Mỹ từ chối nguồn tin này. Khi hỏi Tổng Thống Diệm thì Tổng Thống Diệm nói: "Ông có nghĩ là tờ báo Times of Viet Nam lại đi in như vậy nếu đó không phải là sự thật?". Sau đó Tổng Thống Diệm có trưng dẫn một số bằng chứng để xác nhận điều đó là đúng.

    Các tướng đảo chánh đã nối đường dây điện thoại từ Bộ Chỉ Huy Đảo Chánh và Tòa Đại Sứ. Một đường dây điện thoại khác được bắt từ Bộ Tổng Tham Mưu đến tư thất của ông CIA Conein với mục đích để ông CIA Conein có thể liên lạc thường xuyên với 12 lính Biệt Kích "A" Team đang bảo vệ vợ con ông. Nếu đảo chánh bất thành, các người lính này sẽ tự động đưa vợ con ông ra khỏi nước. Ông CIA Conein đến Bộ Chỉ Huy Đảo Chánh khoảng 12 giờ 15 - 12 giờ 30 trưa. Tướng Đôn vắng mặt vì tiển Đô Đốc Felt ra phi trường. Khi Tướng Minh nhìn thấy người Mỹ thì hất hàm hỏi: "Ông làm gì đây?". Ông CIA Conein trả lời là "Tôi được kêu tới đây". Tướng Minh dằn mặt: "Nếu đảo chánh thất bại thì ông phải đi cùng với chúng tôi".

    Hầu hết các tướng lãnh trung thành với Tổng Thống Diệm hay theo đảo chánh đều đến Bộ Tổng Tham Mưu do Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Trần Thiện Khiêm khoản đãi. Sau khi mọi người an tọa, Tướng Minh đứng dậy và tuyên bố đảo chánh, vừa lúc đó Quân Cảnh tràn vào phòng với súng tiểu liên vây xung quanh. Tướng Minh kêu gọi các tướng ủng hộ đảo chánh. Họ được phép rời phòng Tổng Tham Mưu nhưng không được ra khỏi Bộ Chỉ Huy.

    Những vị còn ngồi tại chỗ, trong đó có Đại Tá Lê Quang Tung phản đối đảo chánh bị tống giam ngay. Tướng Minh sai đem cái máy thâu băng vào phòng, trong băng ông thâu lời tuyên bố đảo chánh, lên án gia đình Tổng Thống Diệm độc tài và hứa là quân đội có khả năng cai trị nước hơn. Tướng Minh đòi các tướng hiện diện ký vào bản tuyên cáo và hỗ trợ quân đội đảo chánh. nhưng lần này đảo chánh ban ngày nên lính chính phủ Tổng Thống Diệm không chuẩn bị ứng phó kịp thời. Lính đảo chánh mang khăn quàng đỏ, dấu hiệu đảo chánh tại miền Nam Việt Nam . Hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến tiến vào Sài Gòn từ Biên Hòa. Một tiểu đoàn Dù, một tiểu đoàn Bộ Binh từ Vũng Tàu. Hai tiểu đoàn Dù từ Bình Dương. Sư Đoàn 5 Bộ Binh và Quân Trường gần đó. Đụng độ yếu ớt, quân đảo chánh chiếm phi trường Tân Sơn Nhất, Bộ Chỉ Huy Hải Quân, Bộ Quốc Phòng. Khoảng 500 Thủy Quân Lục Chiến bao vây Tổng Nha Cảnh Sát vì nơi đó phe Tổng Thống Diệm chứa rất nhiều vũ khí. Lính đảo chánh chiếm Sở Bưu Điện Trung Ương và Phòng Điện Tín. Phe chính phủ Tổng Thống Diệm tử thủ tại Đài Phát Thanh Sài Gòn và các đài phát thanh khác.

    3 giờ chiều, Tướng Đôn gọi cho Tòa Đại Sứ để hỏi có kế hoạch nào để đưa Tổng Thống Diệm và gia đình ra khỏi Việt Nam nếu họ đầu hàng, Đại Sứ Lodge nói chắc chắn có máy bay vì chính Đại Sứ Lodge đang có máy bay sẵn dự định để chở ông đi Mỹ, nhưng ông hoãn lại chuyến bay.

    3 giờ 30 chiều, quân đảo chánh chiếm Đài Phát Thanh. Đụng độ nặng nề nhất là tại lô cốt Cộng Hòa của lực lượng Phòng Vệ Phủ Tổng Thống gần Dinh Gia Long. Chiến xa của phe trung thành Tổng Thống Diệm bắn hỏa tiễn vào các cao ốc làm bể kiếng khiến dân chúng hốt hoảng di tản.

    Tổng Thống Ngô Đình Diệm
    Khi nghe báo cáo là gặp sức kháng cự quá mạnh của phe Tổng Thống Diệm tại lô cốt Cộng Hòa, Tướng Khiêm gọi Trung Tá Nguyễn Cao Kỳ tại Bộ Chỉ Huy Không Quân, Tướng Khiêm nói: "Kỳ, lính phòng vệ ông Diệm chống cự mạnh quá và thì giờ không còn nhiều nữa. Ngay bây giờ hay không còn dịp khác nữa, ông có sẵn sàng giúp đỡ không?" Kỳ trả lời: "Dĩ nhiên, ngay lập tức". Với tướng mạo màu mè, bộ râu kẽm, luôn choàng cái khăn cổ tím và mang bên mình cái súng lục cán mạ ngà voi, ông ra lệnh cho 2 phi công xuất trận. Khoảng 4 giờ chiều, hai chiếc máy bay T-28 xuất hiện trên bầu trời Sài Gòn, một chiếc từng dội bom Dinh Độc Lập năm 1962. Bom thả trật mục tiêu, một quả bom thả rớt xướng hầm trống của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ bên kia Dinh Gia Long. Dù là bị oanh kích, nhưng trận đánh vẫn tiếp diễn tới tối.

    Khi nhận được báo cáo đầu tiên về việc có quân đội tiến về Dinh Gia Long một cách bất thường, ông Nhu tỏ ra không mấy quan ngại. Ông nghĩ đó chính là nằm trong kế hoạch đảo chánh giả của ông gồm 2 phần: nhận diện và tiêu diệt đám đối nghịch chế độ. Phần một ám hiệu là Bravo I, một cuộc đảo chánh giả. Với rất nhiều đơn vị lính trung thành với chế độ trú đóng xung quanh Sài Gòn, các lực lượng này sẽ tấn công một số mục tiêu đã được định sẵn trong thủ đô. Khi cuộc tấn công bắt đầu, Tổng Thống Diệm và ông Nhu sẽ thoát xuống Vũng Tàu, cách Sài Gòn 50 dặm về phía Đông-Nam. Sau nhiều ngày vô luật lệ và xáo trộn, chính phủ của phe phản loạn sẽ ra mặt. Lúc đó những lực lượng lính trung thành với chính phủ Diệm sẽ tiến vào Sài Gòn và tiêu diệt phản loạn trong phần "phản đảo chánh" với ám hiệu Bravo II. Theo kế hoạch này, ông Nhu tiên đoán là "chúng ta sẽ lừa bọn tay sai của Mỹ rúc hết vào một cái rọ trong thủ đô".

    Nhưng thật rủi cho anh em Tổng Thống Diệm, ông Nhu vì quá tin nên giao kế hoạch làm đảo chánh giả cho Tướng Tôn Thất Đính thực hiện. Vào trưa 01 tháng 11 ông Nhu cố liên lạc với Tướng Đính nhưng không gặp, ông Nhu liên lạc với các tướng trung thành chế độ nhưng cũng không gặp được, lúc đó thì ông Nhu mới nhận thức ra là đảo chánh thật.

    Khoảng sau 4 giờ chiều, Tổng Thống Diệm gọi Tướng Khiêm, người đã cứu Tổng Thống Diệm trong cuộc đảo chánh năm 1960. Thay vì nói chuyện với Tướng Khiêm, thì Tướng Đôn trả lời. Tổng Thống Diệm hỏi: "Các tướng đang làm cái gì vậy?". Tướng Đôn trả lời: "Thưa Ngài, thời điểm đã đến, quân đội phải đáp lại nguyện vọng của đồng bào". Tổng Thống Diệm quở trách Tướng Đôn ăn nói thiếu lễ độ. Sau đó Tổng Thống Diệm tuyên bố là ông muốn thực hiện những điều cải tổ như ý quân đội miền Nam Việt Nam đòi hỏi trong tháng 09 rồi. Tổng Thống Diệm mời Tướng Đôn và những tướng lãnh khác vào Dinh Gia Long để thảo luận. Vì nhớ lại cái kinh nghiệm chua cay của cuộc đảo chánh thất bại 1960 khi Tổng Thống Diệm dùng kế hoãn binh để đoàn quân trung thành với ông có đủ thì giờ về giải cứu, do đó Tướng Đôn từ chối lời mời.

    4 giờ 30 chiều, Tổng Thống Diệm gọi điện thoại cho Đại Sứ Lodge hiện đang ở nhà. Theo lời Đại Sứ Lodge báo cáo cho Bộ Ngoại Giao sau này, thì cuộc đối thoại có nội dung như sau:

    "Tổng Thống Diệm: Có một số đơn vị lính phản loạn và tôi muốn biết thái độ của chính phủ Mỹ ra sao?

    Đại Sứ Lodge: Tôi hiện không có đủ chi tiết để trình với Ngài. Tôi có nghe tiếng súng nổ, nhưng tôi không biết nguyên do. Vả lại, bây giờ ở Hoa Thịnh Đốn là 4 giờ 30 sáng do đó chính phủ Mỹ chắc không thể có quan điểm gì.

    Tổng Thống Diệm: Nhưng ông phải có vài ý kiến tổng quát chứ? Tôi là Tổng Thống. Tôi đã cố gắng thi hành những bổn phận của tôi. Bây giờ tôi muốn sử dụng cái bổn phận của tôi. Tôi tin là bổn phận trên tất cả.

    Đại Sứ Lodge: Ngài lẽ dĩ nhiên đã làm những bổn phận của Ngài. Tôi cảm phục sự can đảm và công lao đóng góp lớn lao của Ngài vào quốc gia của Ngài. Không ai có thể tướt đi cái công ơn mà Ngài đã làm. Bây giờ tôi đang lo ngại cho sự an toàn tính mạng của Ngài. Tôi đã sắp xếp để đưa Ngài và em của Ngài ra nước ngoài để bảo toàn tính mạng nếu Ngài từ chức. Còn nếu như Ngài không đồng ý, thì tôi cũng đã sắp đặt để Ngài mang tước vị Quốc Trưởng và Ngài có thể ở lại đây an toàn.

    Tổng Thống Diệm: Không, không, tôi không muốn vậy. Tôi muốn tái lập trật tự. Tôi phải tái lập trật tự.(cúp máy)

    Tướng Đôn có kể lại là trong khi đang đảo chánh thì Tổng Thống Diệm gọi điện thoại nói chuyện với Tướng Đôn, Tướng Đôn nói với Tổng Thống Diệm: "Thưa Tổng Thống, tôi lấy làm tiếc về sự việc xãy ra, nhưng điều tôi muốn Tổng Thống bây giờ là hãy khôn ngoan và hiểu cho hoàn cảnh, và hiện có một chiếc máy bay đặc biệt sẵn sàng đưa Tổng Thống và gia đình ra khỏi nước nếu Tổng Thống đầu hàng vô điều kiện".

    4 giờ 30, Tướng Minh lên tiếng với ông Nhu rằng nếu ông Nhu và Tổng Thống Diệm không ra đầu hàng thì Dinh Tổng Thống sẽ bị pháo kích và dội bom. Phe đảo chánh mang Đại Tá Lê Quang Tung đến, ông ta là người chỉ huy Lực Lượng Đặc Biệt trung thành với Tổng Thống Diệm.

    Họ kê súng vào đầu Đại Tá Tung bắt gọi. Đại Tá Tung báo cáo thẳng là phe đảo chánh bắt giam tất cả tướng lãnh và viên chức trung thành chính phủ, và Tướng Khiêm với Tướng Đính đã gia nhập phe đảo chánh rồi. Đại Tá Tung kêu gọi đầu hàng, nhưng ông Nhu không chịu.

    Tối hôm đó, phe đảo chánh trói tay Đại Tá Tung và em của ông ta giữ chức Phó Chỉ Huy Lực Lượng Đặc Biệt Họ bị giao cho cận vệ của Tướng Minh chở về Bộ Tổng Tham Mưu bắn chết và chôn vào 2 cái hố mới được đào.

    5 giờ 15 chiều, Tướng Minh gọi Tổng Thống Diệm đầu hàng. Tổng Thống Diệm từ chối nói chuyện với Tướng Minh phản loạn và khinh bỉ cúp máy. Quá tức giận về thái độ của Tổng Thống Diệm làm bẽ mặt Tướng Minh trước binh sĩ, sau đó vài tiếng, Tướng Minh gọi lại vào Dinh, Tướng Minh dọa nếu anh em Tổng Thống Diệm không ra đầu hàng thì Dinh này sẽ trở thành "bình địa". Tổng Thống Diệm vẫn từ chối nói chuyện với vị tướng lãnh đạo cuộc đảo chánh này.

    Để chứng tỏ lời đe dọa là thật, Tướng Minh ra lệnh tấn công vào Dinh. Lý do Tướng Minh chần chừ không tấn công là vì muốn giảm thiểu sự đổ máu của hai bên. Hơn nữa, Tướng Minh và các tướng đảo chánh không có ý định tấn công vào Dinh là vì nghĩ là khi thấy lực lượng quân đội đảo chánh hùng hậu như vậy thì tự động anh em Tổng Thống Diệm ra đầu hàng. Sự từ chối giải pháp đầu hàng của Tổng Thống Diệm đã làm Tướng Minh và các tướng ngạc nhiên, bực tức vô cùng.

    Không tướng nào muốn tấn công vào Dinh Gia Long cả. Tổng Thống Diệm hiện vẫn còn là khuôn mặt đáng kính. Họ không muốn mang tiếng nhục khi tấn công trực tiếp vào Tổng Thống Diệm. Các tướng đảo chánh chọn Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu vì Đại Tá Thiệu là người Công Giáo. Họ muốn người Công Giáo diệt người Công Giáo. Đó là lối lý luận và tính toán của các tướng đảo chánh theo đạo Phật.

    Khoảng hơn 3 giờ sáng ngày 02 tháng 11 năm 1963, Đại Tá Thiệu tấn công Dinh Gia Long bằng vũ khí hạng nặng .50 caliber, 75 mm và xe tăng, phá sập cổng Dinh, dù vậy Tổng Thống Diệm cũng không chịu đầu hàng.

    Rạng sáng, phe đảo chánh tiến vào Dinh Gia Long với cảnh tượng đổ nát, ngổn ngang. Họ tìm kiếm Tổng Thống Diệm và ông Nhu, lúc đó mới phát giác là hai ông đã thoát thân từ lúc 8 giờ tối hôm qua, tức buổi tối 01 tháng 11.

    Anh em Tổng Thống Diệm trốn khỏi Dinh Gia Long bằng đường hầm bí mật cổng sau và chạy lên núp trong một nhà của người thương gia Tàu tên là Mã Tuyên tại Chợ Lớn vào lúc 9 giờ tối ngày 01 thá ng 11. Trong nhà này trang bị đầy đủ hệ thống điện thoại tối tân để Tổng Thống Diệm và ông Nhu gọi cầu cứu. Hai ông muốn lên cao nguyên hoặc xuống biển để đích thân điều động cuộc "phản đảo chánh", nhưng khi gọi không được ai thì hai ông thất vọng não nề. Hai ông có ý xin tỵ nạn tại tòa Đại Sứ Trung Hoa Quốc Gia nhưng thất bại.

    6 giờ sáng, Tổng Thống Diệm gọi Tướng Đính ra lệnh các tướng đảo chánh đầu hàng.

    6 giờ 20 sáng, Tổng Thống Diệm vẫn lại từ chối nói chuyện với Tướng Minh, nhưng lại gọi Tướng Đôn và chịu đầu hàng trong "danh dự". Hai ông muốn được hộ tống ra phi trường an toàn để đi ra khỏi nước. Tướng Minh vì bị Tổng Thống Diệm làm nhục mấy lần trước mặt binh sĩ nên không chấp nhận cho anh em Tổng Thống Diệm đầu hàng cho đến khi nào "người Việt ngưng giết người Việt", có ý là tại Dinh Gia Long vẫn đang còn đánh nhau.

    Ba mươi phút sau, Tổng Thống Diệm gọi lại Bộ Chỉ Huy Đảo Chánh, Tổng Thống Diệm báo là ông đã ra lệnh lính Phòng Vệ Phủ Tổng Thống ngưng bắn và ông đồng ý đầu hàng vô điều kiện. Lần này các tướng đồng ý.

    Trong khi thương thảo, các tướng đảo chánh yêu cầu ông CIA Conein thu xếp máy bay chở Tổng Thống Diệm và gia đình ra khỏi nước. Ông CIA Conein gọi cho Phó Trưởng Phòng CIA David Smith. Chờ độ 10 phút thì ông Smith trả lời là cần 24 tiếng đồng hồ mới thu xếp có máy bay. Chính phủ Mỹ muốn đưa Tổng Thống Diệm bay đến một quốc gia khác tỵ nạn, có lẽ là Âu Châu, vì tại đó ông khó về để phục thù. Chuyến bay được chỉ thị phải bay trực tiếp và không được ngừng lấy xăng, và chỉ ở Guam mới có loại máy bay đó mà thôi. Ông CIA Conein báo lại cho các tướng đảo chánh biết lời của ông Trưởng Phòng CIA Smith, Tướng Minh gắt gỏng nói: "Chúng tôi không thể giữ họ lâu nữa được".

    Chấp thuận lời đầu hàng của anh em Tổng Thống Diệm, Tướng Minh ra lệnh cho một chiếc xe thiết giáp M 113 và 4 xe Jeep đi đón anh em Tổng Thống Diệm do Tướng Mai Hữu Xuân và Đại Tá Dương Ngọc Lắm cầm đầu. Sau khi cái xe rời Bộ Tổng Tham Mưu thì được báo là anh em Tổng Thống Diệm không có tại Dinh Gia Long. Tướng Minh ra lệnh lục soát khu vực Sài Gòn, và do chỉ điểm của mật báo viên, các tướng đảo chánh mới biết là anh em Tổng Thống Diệm đang ở nhà thờ tại Chợ Lớn. Đoàn xe được lệnh đổi lộ trình và tiến về Chợ Lớn.

    8 giờ 30 sáng, Tổng Thống Diệm và ông Nhu cùng mặc bộ đồ vest màu xám bị bắt tại nhà thờ Don Thanh mà hay gọi là nhà thờ Cha Tam tại Chợ Lớn trong khi họ đang cầu nguyện vì là ngày lễ Các Đẳng Linh Hồn của đạo Công Giáo.

    Theo lời kể của một sĩ quan Việt Nam : "Tổng Thống Diệm thì chứng tỏ cái phong cách lịch sự, nhưng ông Nhu thì kèn cựa cho tới phút chót". Ông Nhu phản đối: "Các ông đem chiếc xe như vậy để mà chở Tổng Thống hả?". Hai tay bị trói ra đàng sau, hai ông bị đẩy vào trong chiếc xe thiết giáp M113. Trên đường về Bộ chỉ Huy, đoàn xe ngừng tại cổng xe lửa độ 5 phút. Theo hầu hết lời kể, thì chính cận vệ của Tướng Minh là Đại Úy Nguyễn Văn Nhung đã bắn và đâm anh em Diệm-Nhu.

    Tổng thống Ngô Đình Diệm bị giết chết trong xe thiết giáp.
    Theo lời kể khác, thì Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa tài xế xe thiết giáp cũng là người giết hai ông. Theo lời kể của Tướng Khánh, người điều tra cái chết của Tổng Thống Diệm sau cuộc chỉnh lý nói rằng: "Đại Úy Nhung đã giết anh em ông Diệm. Nó là tên giết người chuyên nghiệp. Nó đã giết 40 người, nó gạch một gạch trên dao găm mỗi lần nó giết một người". Đại Úy Nhung bị Tướng Khánh giam năm 1964 nhưng không sống lâu để khai ai ra lệnh giết anh em Tổng Thống Diệm, và Đại Úy Nhung bị chết trong nhà tù bằng cách treo cổ.

    Có nhiều mâu thuẫn giữa các tướng trong việc ai là người ra lệnh giết anh em Tổng Thống Diệm. Theo lời thuật của Tướng Đôn trong quyển hồi ký của ông ta thì Tướng Minh ra lệnh giết anh em Tổng Thống Diệm. Tướng Đôn viết: "Tôi khẳng định là Tướng Minh và một mình ông ta quyết định thôi". Trái lại, các sĩ quan cho rằng nếu không phải tất cả, thì hầu hết các tướng đảo chánh đã cùng quyết định giết Tổng Thống Diệm. Theo lời khai của Thiếu Tá Nghĩa thì "số mạng của Tổng Thống Diệm được quyết định bởi đa số tướng lãnh trong Ủy Ban Cách Mạng".

    Theo ông xếp CIA William Colby thì: "Thật quá rõ ràng chính Tướng Minh đã giết anh em Diệm-Nhu". Trái lại, theo lời của một viên chức cao cấp CIA khác, ông George Carver thì hoài nghi: "Tôi không nghĩ là Tướng Minh quyết định một mình, vì theo cái bản tính của ông, ông ta thích thảo luận và chia xẻ trách nhiệm khi làm một quyết định quan trọng vì ông ta sợ đổ thừa sau này".
    Nhưng cũng theo người khác kể thì chính Tướng Mai Hữu Xuân đã ra lệnh giết.

    Theo lời kể của ông CIA Conein thì khi ông ta rời Bộ Tổng Tham Mưu cũng cùng lúc với xe thiết giáp đi đón ông Diệm. Báo chí được mời tới Bộ Chỉ Huy Đảo Chánh (tức Bộ Tổng Tham Mưu). Về đến nhà, ông CIA Conein nhận lệnh của ông Phó Trưởng Phòng CIA Smith đòi đi kiếm Tổng Thống Diệm.

    CIA Lucien E. Conein chết ngày 3/6/1998
    Khoảng 10 giờ 30 sáng, khi ông CIA Conein trở lại Bộ Chỉ Huy, thì các tướng nói là anh em Diệm-Nhu đã tự tử trong nhà thờ tại Chợ Lớn. Theo ông CIA Carver:"Cái việc cứng đầu tới giờ chót, tạo nên những cái chết vô ích cho đôi bên, và làm bẽ mặt Tướng Minh trước binh sĩ, tức anh em ông Diệm-Nhu đã ký vào một bản án tử hình". Tướng Minh bảo ông CIA Conein đến nhìn xác chết anh em ông Diệm-Nhu nhưng ông CIA Conein từ chối. Vì với con mắt nhà nghề tình báo, ông CIA Conein rất dễ nhận ra là bị giết hay tự tử, và điều biết đó sẽ rất là nguy hiểm.

    Xác hai ông được mang tới bênh viện St.Paul tại Sài Gòn để làm giấy khai tử, và được chôn tại một nghĩa trang dân sự cách nhà Đại Sứ Lodge một block đường mà trên mộ không có bia tên gì cả. Trong tờ giấy chứng tử thì lại đề ông Diệm là Thượng Thư thời Pháp thuộc chứ không phải là Tổng Thống, và đề ông Nhu là Quản Thủ Thư Viện, một chức vụ cũ rồi.

    Tại Hoa Thịnh Đốn thì các cố vấn cao cấp của Tổng Thống Kennedy theo dõi sát nút cuộc đảo chánh từ lúc 1 giờ 30 sáng ngày 01 tháng 11 khi được CRITIC báo cáo là có đảo chánh. Vì việc Đại Tá Thảo kéo quân về Sài Gòn đảo chánh hụt trước kia làm cho Hoa Kỳ hơi bi quan về việc đảo chánh. Sau khi nối trực tiếp đường dây với Tòa Đại Sứ Mỹ tại Việt Nam , Phụ tá Tổng Thống Forrestal nói chuyện với Phó Đại sứ Trueheart. Ông Trueheart báo cáo là "có ông CIA Conein túc trực bên bộ chỉ huy đảo chánh, và đây là cuộc đảo chánh thật. Bây giờ không còn các báo cáo hồi hộp nữa đâu". Nghe xong, ông Forrestal đánh thức Tổng Thống Kennedy và họ cùng xuống phòng Situation Room để theo dõi suốt cuộc đảo chánh.

    Tướng Taylor có mặt với Tổng Thống Kennedy trong lúc đó đã ghi lại trong hồi ký như sau: "Khi nghe tin Tổng Thống Diệm bị giết, mặt mày Tổng Thống Kennedy tái méc và run lập cập. Ông bước vội ra khỏi phòng với cái trạng thái hốt hoảng chưa từng thấy. Trở lại phòng, Tổng Thống Kennedy nói với các phụ tá: "Tại sao họ phải làm vậy? Tổng Thống Diệm đã chiến đấu khổ nhọc trong 9 năm trời chống Cộng Sản, lẽ ra ông ta phải nhận được sự đền bù xứng đáng hơn là cái việc bị giết chớ ?!".

    Lễ Tưởng Niệm Tổng Thống Ngô Đình Diệm

    Ông xếp CIA Colby kể lại: "Tổng Thống Kennedy xúc động và buồn bã quá chừng. Ông ta cảm thấy như mình dự phần nào trách nhiệm về việc này". Tổng Thống Kennedy từng ủng hộ đảo chánh, rồi rút lui, rồi ủng hộ lại. Cố vấn đặc biệt của Tổng Thống Kennedy là ông Arthur Schlesinger nói: "Việc giết Tổng Thống Diệm và ông Nhu không nằm trong kế hoạch chúng tôi và chúng tôi cũng không mong điều đó. Vì nhiều lý do mà các tướng đảo chánh đã giết hai ông.

    Cái chết của Tổng Thống Diệm làm Tổng Thống Kennedy buồn rầu bởi vì Tổng Thống Kennedy là con người đạo đức, ông ta không muốn người khác bị giết, hơn nữa người đó lại là vị nguyên thủ quốc gia. Tuy nhiên, một phần khác nữa là Tổng Thống Kennedy sợ rằng cái chết của Tổng Thống Diệm sẽ lôi kéo thêm quân Mỹ vào Việt Nam ". Cũng theo Schlesinger thì vào thời điểm đó có 16 ngàn cố vấn Mỹ tại Việt Nam, và có 75 lính Mỹ chết.

    Mặc dù Tổng Thống Kennedy mất bình tĩnh, nhưng các giới chức Mỹ thì bình thường. Quân đội và CIA thì luôn nhận thức rằng có đảo chánh là có đổ máu chết chóc. Tướng Taylor sau này nói rằng: "Thực hiện một cuộc đảo chánh không phải giống như một tiệc trà. Nó là một việc làm vô cùng nguy hiểm". Trước khi đảo chánh, Phó Đại Sứ Mỹ Trueheart có gởi một điện văn cho Bộ Ngoại Giao khuyến cáo rằng: "Thật nguy hiểm cho hai ông Diệm-Nhu có thể bị tử hình vì các tướng đảo chánh sợ rằng hai ông sẽ tìm cách trở về chiếm lại quyền". Còn ông Phụ Tá Ngoại Trưởng, Roger Hilsman, người đồng tác giả bức điện văn "tối mật" ngày 24 tháng 08 ủng hộ đảo chá nh, khi bị hỏi ông nghĩ gì khi bàn tay ông đang dính đầy máu, thì ông Hilsman dững dưng, tỏ vẻ chính phủ Mỹ không quan tâm lắm về cái chết của ông Diệm. Ông nói: "Cách mạng thì ghê gớm lắm. Người ta phải chịu trả giá chết chóc mà".

    Lễ Tưởng Niệm Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

    Theo lời của ông Thiện, Bí Thư Báo Chí của Tổng Thống Diệm nói là có phỏng vấn Tướng Kim, một tướng có thiện cảm với Tổng Thống Diệm trước kia nhưng nay tại sao theo phe đảo chánh, thì Tướng Kim trả lời: "Chính phủ Mỹ bảo chúng tôi chọn giữa Tổng Thống Diệm và viện trợ của Mỹ. Chúng tôi không còn chọn lựa nào khác hơn". Đang họp tại Pháp, vì quá mừng khi nghe được tin hai anh em Tổng Thống Diệm bị giết, ông Nguyễn Hữu Thọ, Chủ Tịch Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam của Cộng Sản reo lên: "Đây là một món quà từ Trời cho chúng tôi”

    Bào huynh Tổng Thống Diệm là Đức Giám Mục Ngô Đình Thục và Bà Nhu đang ở nước ngoài khi đảo chánh. Vài ngày sau đảo chánh, Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn sắp đặt cho 3 đứa con của ông bà Ngô Đình Nhu ra khỏi nước.

    Ngày 02 tháng 11 quân đảo chánh vây nhà ông Ngô Đình Cẩn, ông Cẩn chạy đến trốn trong một nhà thờ Công Giáo tại Huế. Các Linh Mục đến Tòa Lãnh Sự Mỹ ở Huế xin tỵ nạn cho ông Cẩn nhưng không được, vì theo luật quốc tế chỉ có Tòa Đại Sứ mới có quyền cho tỵ nạn mà thôi. Ông Lãnh Sự John Helble hỏi lệnh Tòa Đại Sứ và Bộ Ngoại Giao. Bộ Ngoại Giao chỉ thị Lãnh Sự Helble phải cho ông Cẩn tỵ nạn.

    10 giờ 45 sáng, một mình ông Cẩn đến trú ẩn tại Tòa Lãnh Sự Huế. Tướng Đỗ Cao Trí, Tư lệnh Sư Đoàn I đến Tòa Lãnh Sự yêu cầu đừng chứa chấp ông Cẩn vì e dân chúng tràn vào không giữ an ninh nổi. Cùng ngày, tòa Lãnh Sự Mỹ ở Huế yêu cầu tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn di chuyển gấp ông Cẩn.

    Ông Lãnh Sự Helble kể :"Tôi được cho biết là sẽ đưa anh em ông Diệm-Nhu ra khỏi nước". Tháp tùng bởi một người sĩ quan Mỹ, ông Cẩn lên máy bay đi vào Sài Gòn. Hạ cánh Tân Sơn Nhứt, thay vì gặp một viên chức tòa Đại Sứ như đã hứa, nhưng ông CIA Conein đón bắt ngay ông Cẩn và giao cho quân đảo chánh giam giữ. Trên lúc chiếc máy bay chở ông Cẩn đang bay, thì Đại Sứ Lodge gọi về Hoa Thịnh Đốn báo tin là Tướng Đôn hứa sẽ cho ông Cẩn được xử án một cách phân minh và công bằng, bởi vậy ông quyết định giao ông Cẩn cho phe đảo chánh.

    Ông CIA Conein kể là Đại Sứ Lodge dặn: "Tôi sắp xếp chuyến bay đặc biệt này và ông phải giải giao người trên phi cơ này cho quân đảo chánh". Vào mùa Xuân 1964, ông Cẩn bị ghép đủ thứ tội như: tội thủ tiêu, tổ chức ám sát, bắt người vô cớ, làm thiệt hại kinh tế quốc gia mặc dù có lời xin ân xá của Đại Sứ Lodge. Ông Cẩn bị xử bắn ngày 09 tháng 05 năm 1964, tức 1 năm 1 ngày sau ngày nổi dậy biểu tình của Phật Giáo Huế.

    Phó Tổng Thống Mỹ Johnson hội kiến Tổng Thống Ngô Đình Diệm tháng 05 năm 1961.
    Ngày 22 tháng 11 năm 1963. Tổng Thống Kennedy bị ám sát chết tại thành phố Dallas, Texas, Phó Tổng Thống Lyndon B. Johnson lên nhậm chức Tổng Thống Mỹ. Lúc còn là Phó Tổng Thống, ông Johnson từng qua hội kiến với Tổng Thống Diệm vào tháng 05 năm 1961 để bàn việc đưa quân Mỹ tham chiến Việt Nam. Vì cảm phục và nể trọng Tổng Thống Diệm, nên ông Johnson đã ca ngợi rằng: "Thủ Tường Diệm là một Churchill của Á Châu...Lịch sử xếp ông ta như là một trong những vĩ nhân của thế kỷ 20".
    Sau cuộc đảo chánh 1963, đất nước liên tiếp trải qua bao cảnh chính biến và cuối cùng đưa cả một dân tộc vảo một thảm họa đen tối nhất lịch sử là để miền Nam Việt Nam rơi vào tay bọn Cộng Sản vô thần. Để rồi hôm nay đây, nơi đất khách quê người, chúng ta xót xa mang nỗi hờn vong quốc, và ngậm ngùi tiếc nhớ những kỷ niệm, dĩ vãng xa xưa!!!

    Ngô Kỷ
    [email protected]

    Trước 1975 VNCH Đệ I & II vất vả đối phó tăng ni Phật tử xuống đường biểu tình, vc nằm vùng trong chùa làm loạn miền Nam giúp VC. Sau 1975 Phật giáo chiếm 85% dân số nhưng im re trước VC.

    Sau 1975 dân đạo Chúa xuống đường chống VC như vụ Thái Hà, Khâm Sứ, Tam Tòa dù họ chỉ chiếm 7% dân số.

  13. #13
    Join Date
    Jan 2007
    Posts
    1,859
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Tổng thống Ngô Đình Diệm còn sống, VNCH còn tồn tại

    mơ mộng hảo huyền, giống như chuyện tiểu thuyết !

  14. #14
    Join Date
    Oct 2007
    Posts
    375
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Tổng thống Ngô Đình Diệm còn sống, VNCH còn tồn tại

    Mùa thu khởi điểm kết liễu miền Nam tự do
    Mùa thu ấy, vào sáng 02/11/1963, chiến tuyến chống cộng miền Nam, nơi quy tụ cuối cùng của lực lượng quốc gia chống cộng đã mất đi một con người của phép lạ của các năm 1954 - 1956, đó là Tổng Thống Diệm, một tiên khởi của VNCH, một niềm kiêu hãnh và tướng tiên phong đương cự với xâm lăng CSVN và Đệ III Quốc Tế CS. Để rồi kể từ ngày ấy, cuộc chiến đấu cho tư do bị cướp mất chính nghiã và cuối cùng thua cuộc. Nhắc đến một thu cũ của niềm đau. Nay một thu nữa lại về, gợi lại thu xưa. Xin thắp một nén hương lòng tưởng niệm và vinh danh một tinh thần.

    Thanh gươm và cành ô liu của cố TT Kennedy.

    Tàn sát bạn từ vịnh Con Heo tới Việt Nam

    Vịnh Con Heo: Niềm đau của các chiến sĩ tự do Cuba

    Ngày 17/04/1961, vào lúc 2 giờ sáng, khoảng 1' 500 chiến sĩ di cư Cuba chống Fidel Castro, được huấn luyện tại Guatamala và Nicaragua, bắt đầu đổ bộ tại hai bãi biển Playa Girón và Playa Larga của bờ biển có tên Con Heo. Bờ biển nầy nằm ở phía nam thủ đô La Havane và xa cách 200 km. Dùng lữ đoàn 2506 với mật mã I.D. (Invasion Day). Sau 72 giờ giờ chiến đấu (vào ngày 20/04/1963), thành phần đổ bộ mất 90 lính do tử thương và 1179 lính bị bắt và bị kết án 30 năm tù. (Sau nầy Mỹ chuộc họ bằng viện trợ cho Fidel Castro 63 triệu Mỷ Kim hồi ấy, để mua máy cày và thuốc men).

    Cuộc đổ bộ thành thảm thương, ngoài lý do tình báo Mỹ sai lầm, vì TT Kennedy không cho phép không quân và hải quân Mỹ yểm trợ. Nên lực lượng đỗ bộ đã bị 200’ 000 quân của Fidel Castro tiêu diệt bằng phi cơ, chiến xa và trọng pháo. Thanh gươm của TT Kennedy bị gãy. Ngoài ra vào ngày 28/10/1963, TT Kennedy dùng cành ô liu qua tuyên bố cam kết không tấn công và tháo gỡ các tên lửa Jupiter đặt tại Thổ Nhĩ Kỳ hướng vào Nga như đổi chác để Nikita Khrouchtchev rút các hỏa tiễn từ Cuba về nước Nga. Nông nỗi nầy do ai?

    Trung lập Lào - Niềm đau của TT Diệm và các chiến hữu Lào

    Người Pháp suốt cả một chiều dài lịch sử 80 năm cai trị, không bao giờ thành thật với Việt Nam. Nhưng truớc lúc rời khỏi Việt Nam, vào năm 1956, đã để lại một di chúc cho lực luợng chống cộng miền Nam: “ CSVN và CS Quốc Tế sẽ xâm lăng miền Nam tự do qua ngã Lào”.

    TT Einsenhower truớc lúc rời khỏi chức vụ đã nhắc nhỡ TT Kennedy: “ Lào là vòm trời bảo vệ tự cho miền Nam. Có thể quân đội Mỹ sẽ phải chiến đấu tại đây”. Nhưng TT Kennedy cương quyết trung lập hóa Lào, để rút chân ra khỏI nơi đây. Trong lúc quân CSVN đang tìm cách xâm lăng tạo địa bàn chuyển quân và vũ khí vào Nam cho cuộc xâm lăng (1960-1975).

    TT Diệm, cùng đồng quan điểm với TT Eisenhower và di chúc Pháp: “ CSVN sẽ dùng đất Lào để chuyển quân vào miền Nam”, đã đáp lởi kêu gọi khẩn trương của tướng hữu phái chống cộng Phoumi của Lào quốc. Ông nôn nóng xin TT Diệm quân viện và TT Diệm đã đáp lời qua lệnh mở các kho vũ khí do Pháp để lại. Nhưng TT Kennedy cương quyết không dùng thanh gươm và nhất định cắm cành ô liu tại Lào qua Hiệp Định trung lập Lào vào tháng 07/1962. Tất cả các lực lưỡng chống cộng phải rút khỏi Lào và CSVN ở lại. Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã cực lực phản đối quyết định trên và từ đó mối tình Việt Mỹ trở nên thù nghịch tới chỗ phải hạ hạ sát TT Diêm sau nầy.

    Riêng các chiến sĩ hữu phái như tuớng Phoumi Nosavan và các tuớng lãnh khác phải lao đao chống đỡ các hiệu quả của cái Hiệp Định ác quái và ngu ngốc cũng như làm tàng của Mỹ. Rồi khi Đệ I Cộng Hoà miền Nam, người bạn độc nhất và tận tụy với họ, bị TT Kennedy tàn sát còn tàn nhẫn hơn khi ông tàn sát họ. Họ trở thành cô đơn và rơi vào tuyệt vọng. Tướng Phoumi Nosavan rời quê hương để rồi mất tại Thái Lan sau đó (1964).

    Kennedy và tội ác giết nền Đệ I Cộng Hoà miền Nam non trẻ và sát hại TT Diệm cùng hai bào huynh của TT Diệm!

    Thanh gươm và cành ô liu của TT Kennedy tại Việt Nam.

    Các nhà nghiên cứu chính trị đồng thanh về sách lược của TT Kennedy như sau: “ Ứng biến tùy khi! Hôm nay thế nầy. Mai thế nọ của năm 1963!. Từng hồi- Gián đoạn- Tất cả trái ngược của một chiê’n lược chính trị có suy nghĩ và cương quyết. Trong thời kỳ của chính phủ Kennedy,chỉ có thuyết nhị nguyên liên tại (dualisme persiste): “Their War-Our War”. Cuộc chiến của chúng nó- Cuộc chiến của chúng ta ».

    Không quan tâm tới sự cương quyêt xâm lăng của cộng sản Việt nam trong suốt chiều dài của nhiệm kỳ, TT Kennedy chỉ đối mặt với ba chọn lựa chính:

    1. Có nên nhúng tay vào Việt Nam để tránh cộng sản chiến thắng không?

    2. Có nên ủy thác quân bộ chiến Mỹ hoàn thành nhiệm vụ ấy không?

    3. Có nên dành ưu tiên cho giải pháp quân sự chống cộng sản hay cho giải pháp cải thiện chính trị cần thiết hầu được sự ủng hộ của dân chúng miền Nam không?

    Sự ngớ ngẫn về tinh thần chống cộng của bọn chính trị xa lông ở Miền Nam Việt Nam đã tạo ra sự nghi ngờ nầy cho chính quyền Kennedy.

    Một đêm với TT Diệm qua ghi chép của Nguyễn Mẫu:

    1.- « Quốc gia đang trải qua một giai đoạn cực kỳ nguy hiểm. Quân lực ta thiếu cán bộ. Các tướng lãnh được người Pháp đặt để trong ý thức dùng thâm niên quân vụ như một yếu tố hợp lý cho sự tùng phục để chỉ huy. Quân đội cần những tướng lãnh có học, có tài, có óc hơn cái gọi là thâm niên quân vụ… »

    2.- « Ta cần thời gian để xây dựng quân đội và kiện toàn tổ chức quốc gia hầu ứng phó với CSVN».

    3.- « Họ (Mỹ) muốn lật đổ chế độ này để cho lính Mỹ vào Việt Nam. Việt Nam không cần lính Mỹ mà chỉ cần duy trì các quan hệ chính trị quốc tế hiện hữu, dành thời gian cho quân lực trường thành và cho tồ chức quốc gia kiện toàn từ trên xuống dưới »

    4.- «Lính Mỹ đến. Lính Mỹ không dẹp được du kích CS. Lính Mỹ không ngăn chận được quân Bắc Việt vào Nam…. Lính Mỹ sẽ ra đi và lính Mỹ để lại xã hội Việt Nam băng hoại thui chột đạo đức cổ truyền ».

    5.- « Lính Mỹ đền rồi lính Mỹ sẽ ra đi… Không, ta sẽ chết ở đây cho quê hương. Không, ta sẽ chết ở đây cho đồng bào ruột thịt, Bắc Nam cũng như nhau ».

    Những lời nói chót của TT Diệm

    1.- Vào một buổi tối, trời đã khuya, TT Diệm đi bách bộ bộ trong vườn, tùy viên Lê Công Hoàn nghe TT nói đi và nói lại một một mìnhnhiều lần: « Sau nhiệm kỳ nầy thì mình xin nghỉ, cũng đã ngoài 60 mươi. Xin nghỉ để về lo phụng dưỡng bà cụ. Ở xa mãi chắc bà cụ cũng buồn ».

    2.- Riệng đối với Đại Sứ Cabot Lodge ra mặt chủ động và hách dịch, TT Diệm đập mạnh tay xuống bàn và nói qua sự giận dữ tột độ: « Ông nên nhớ rằng tôi vẫn còn là Tổng Thống của một quốc gia có chủ quyền. Tôi muốn ông phải nghe câu hỏi nầy của tôi, là người Mỹ các ông muốn gì ? Tôi sẽ ở đây, và nếu cần, tôi sẵn sàng chết cho danh dự Dân Tộc tôi ».

    3.- Khi Thiều Tá Duệ nhờ tùy viên Lê Công Hoàn trình TT Diệm: « Xin sử dụng toàn bộ lực luỡng lữ đoàn, gồm cả thiềt giáp, đánh chớp nhoáng… Phải đánh ngay để hốt gọn bộ tham mưu của họ trước khi cuộc đảo chánh thu hút thêm những đơn vị khác. Lưc luỡng của lữ đoàn sẽ không khó khăn gì nhiều trong việc áp đảo tân binh quân dịch (hình như nhóm quân nầy tới từ TTHL Quang Trung ? ». TT Diệm sau khi nhìn bào đệ Ngô Đình Nhu rồi trầm ngâm: « Đã đành thì thế nào cũng đổ máu. Rồi vợ con của những đứa bị chết, bị thương sẽ ra sao ? Tiết kiệm xương máu để đánh thằng CS không lợi ích hơn hay sao ? Mi nói với Duệ gọi cho họ coi họ muốn gì ở nơi chính phủ ? Nói Duệ đùng có hành động gì nóng nảy ».

    4.- Vào lúc 11 giờ 30 tối ngày 01/11/1963, TT Diệm hội tùy viên Đỗ Thọ và Lê Công Hoàn lại và dặn: « Hai đứa mi, một đứa đi theo tau, một đứa ở lại lo việc canh phòng dinh ». Rồi vào lúc 4 giờ sáng, tùy viên Đỗ Thọ gọi về cho tùy viên Lê Công Hoàn và chuyển lệnh của TT Diêm không biết đang ở đâu: « Nếu hôm nay họ có kéo đến đánh dinh thì nói anh em đừng kháng cự, tránh mọi cuộc đổ máu ». Sau chẳng bao lâu TT đã trở thành người thiên cổ bên cạnh xác cố vấn Nhu, đầy máu me và vết đạn cũng như vêt dao găm, trong thiêt vân xa.

    Thời gian và chất liệu đã đủ để ghi công một con người

    Từ dạo ấy tởi nay đã 45 năm trôi qua. Một chiều dài thời gian, tuy ngắn so với lịch sử của một dân tộc, được xem như đã khá dài so với chiều dài của một đời người. Một khoảng thời gian được xem khá đủ để làm lắng đọng những nét nóng bỏng do các sự kiện đã tạo ra nơi quần chúng. Cũng với thời gian qua, các chất liệu thông tin xem như khá đầy đủ để cho phép có một cái nhìn bao quát về cuộc hành trình của cố TT Diệm trên đường phục vụ quê hương.

    Lịch sử chỉ có nhiệm vụ ghi lại một cách đúng đắn về cuộc đời một nhân vật cùng các việc họ đã làm được, gồm tốt lẫn xấu. Những nhận xét phải thật công tâm và phải có nền tảng dựa trên các sự kiện có thật. Xuyên suốt cuộc đời của cố TT Diệm là một hành trình phục vụ quê hương. Vào thời điểm của năm 1954, tại miền Nam không ai có thể hơn cố TT Diệm được từ qúa khứ tới con người. Tuy thế, tới nay vẫn còn một bài viêt nặng mùi hẳn học, cay cú và nhục mạ cố TT Diệm. Đó là nhũng nhận xét đầy cảm tính và lệch lạc.

    Không ai có thể chối cãi đuợc là cố TT Diệm, lúc về chấp chánh vào tháng 6 năm 1954, đã phải chấp nhận một di sản hấp hối, xem như tuyệt vọng của nmiền Nam. Nhưng đã tạo được những thành tích vẻ vang: Đón tiếp và an cư lạc nghiệp gần 1’ 000’ 000 đồng bào di cư từ Bắc vào Nam. Tiếp đến khai trương một thể chế dân chủ đầu tiên cho Việt Nam. Và cố TT Diệm đã tạo đuợc sự kính nể của nhiều quốc gia trên thế giới đối với chính phủ dân chủ miền Nam non trẻ. Miền Nam Việt Nam từ trước tới nay chỉ có 9 năm dân sung suớng và an lành duới một thể chế dân chủ đầu tiên. Thời gian dưới sự lãnh đạo cửa cố TT Diệm ( 1954 – 1963).

    Vào lúc CSVN, được CS quốc tế yểm trợ từ vật chất tới tinh thẩn, đang tấn công mãnh liệt vào miền Nam. Thanh gươm và cành ô liu của cái chính phủ thuộc loại ngu ngốc nhất của Mỹ đã gieo rắc tan nát từ Cuba, qua Lào, rồi tới miền Nam Việt Nam. Bất hạnh chồng chất bất hạnh, cũng thanh gươm ấy đã sát hại cố TT Diệm và hai bào đệ của Ông. Nhưng chính phủ ấy đã không có can đảm nhìn nhận đã ra lệnh ấy. Một tồi tàn của tận đáy của tồi tàn.

    Tưởng niệm và vinh danh tinh thần Ngô Đình Diệm

    Gần ba chục năm gian khổ tìm đường sống cho dân tộc và quốc gia miền Nam Việt Nam, cố TT Diệm đã tạo được một ý thức cao độ về ý niệm danh dự, uy tín và chủ quyền của quốc gia Việt Nam.

    Trong tương quan với nước Mỹ, dầu là một quốc gia viện trợ sinh tử cho miền Nam chống cộng, nhưng cố TT Diệm đã chấp nhận cái chết, chứ quyết không chịu bất cứ một chà đạp nào trên danh dự của quốc gia Việt Nam. Cố TT Diệm đã chọn cho mình một tư thế cũa một thủ lãnh miền Nam Việt Nam trên trận tuyến chống cộng sản, quyết không phải cúi mặt khi thương thuyết.

    Suốt thời gian chấp chính 9 năm, cố TT Diệm đã không quản ngại vất vả và nguy hại tới tính mệnh, luôn kinh lý tìm hiểu tầt cả sự tình dân gian.

    Một vị Tổng Thống có một không hai dùng đồng lương của mình để ủng hộ xây đắp chùa chiền và hàn huyên với các chân tu tại chùa Từ Đàm khi có dịp về Huế.

    Một vị Tổng Thống luôn chấp nhận thiệt thòi cho chính bản thân, để tránh đổ máu cho lính tráng trong chính biến 63. Sự thiệt thòi nầy được thể hiện qua nấm mộ sơ sài của Ông tại Lái Thiêu.

    Cố TT Diệm đã để lại cho hậu thế một di sản cao quý: Vì dân, vì nước hy sinh tính mạng mình. Trong hàng ngũ các nhà dân chủ hôm nay, thử hỏi có bao nhiêu người can đảm chấp nhận thái độ quyết liệt và dứt khoát như cố TT Diệm, khi phải đối phó với kẻ thù đáng sợ nhất?

    Trước 1975 VNCH Đệ I & II vất vả đối phó tăng ni Phật tử xuống đường biểu tình, vc nằm vùng trong chùa làm loạn miền Nam giúp VC. Sau 1975 Phật giáo chiếm 85% dân số nhưng im re trước VC.

    Sau 1975 dân đạo Chúa xuống đường chống VC như vụ Thái Hà, Khâm Sứ, Tam Tòa dù họ chỉ chiếm 7% dân số.

  15. #15
    Join Date
    Oct 2007
    Posts
    375
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Tổng thống Ngô Đình Diệm còn sống, VNCH còn tồn tại

    Cần thẩm định lại giá trị của ông Ngô Đình Diệm và chế độ Việt Nam Cộng Hòa I


    Ông Diệm do chính phủ Pháp đưa lên cầm quyền và được Pháp ủng hộ ?

    Thuyết Nhân Vị phủ nhận cá nhân, cốt lõi của dân chủ ?

    Trong những năm gần đây vấn đề xét lại lịch sử Việt Nam được đặt ra và càng ngày càng được hưởng ứng. Trong sự xét lại này, giai đoạn 1954-1963, giai đoạn ông Ngô Đình Diệm cầm quyền, là một giai đoạn rất sôi động nhưng lại chưa được khảo xét đầy đủ và đứng đắn, và nay cần được chú ý nhiều hơn. Về điểm này có thể nhắc đến những tác phẩm :

    - Nhớ lại những ngày ở cạnh tổng thống Ngô Đình Diệm của đại tá Nguyễn Hữu Duệ (1),

    - Dòng họ Ngô Đình, ước mơ chưa đạt của ông Nguyễn Văn Minh (2),

    - Đệ nhất Cộng Hòa Việt Nam, 1954-1963, Một cuộc cách mạng của tiến sĩ Phạm Văn Lưu và tiến sĩ Nguyễn Ngọc Tấn (3).

    Những tác phẩm trên đây đáng đánh giá cao vì các tác giả của nó hội đủ những điều kiện cần thiết về vô tư và chính xác. Những tác phẩm này ra đời đúng lúc. Nó có tác dụng góp một phần quan trọng vào sự dọi ánh sáng mới vào lịch sử giai đoạn 1954-1963. Đặc biệt nhất là nó đã nói lên những điều mà, đáng lẽ, chính anh em họ Ngô phải nói lên trong hơn 50 năm qua để trả lời những công kích chỉ trích về họ và chế độ Việt Nam Cộng Hòa I. Anh em họ Ngô đã im lặng. Họ đã im lặng, vì họ đã bị sát hại. Nay mới có người nói thay họ.

    Bài này chỉ bàn về tác phẩm của tiến sĩ Phạm Văn Lưu và tiến sĩ Nguyễn Ngọc Tấn, vì, khác với các tác phẩm của đại tá Nguyễn Hữu Duệ và của ông Nguyễn Văn Minh, nó không thuộc về loại hồi ký/hồi ức, mà là một công trình sử học, đúng nghĩa của nó, nghĩa là thỏa mãn những tiêu chuẩn về khoa học của những trường đại học lớn của thế giới : khảo sát tường tận, hoàn toàn khách quan, dữ kiện được cân nhắc kiểm tra kỹ lưỡng, trình bày một cách bình tĩnh, vô tư, ngôn ngữ đứng đắn. Nó thỏa mãn những điều kiện trên vì nó trích từ những luận án tiến sĩ của hai tác giả.

    Hai tác giả trên đây đã tốt nghiệp từ Đại học Monash University ở Melbourne, Úc, và đã từng là giáo sư của các đại học đó. Họ đã chọn Việt Nam và giai đoạn Ngô Đình Diệm làm đề tài luận án tiến sĩ, và những bài họ viết được trích từ các luận án của họ. Năm nay họ đều 62 tuổi, nghĩa là trong thời gian 1954-1963 họ còn là học sinh nên không có liên hệ gì với chế độ Cộng Hòa I. Họ cũng không có quan hệ gia đình gì với họ Ngô. Sau khi đến Úc, họ theo học các đại học nói trên, và họ đã bỏ rất nhiều công đi sưu khảo tại rất nhiều nơi có chứa tài liệu dồi dào liên quan đến Việt Nam : Bảo tàng viện chiến tranh Úc; East-West Center, Đại học Hawaii; Archives of Indochina, Đại học Berkeley, C.A.; Thư viện của Austin University, Texas; Đại học Harvard; Đại học Cornell, Ithaca, N.Y.; Thư viện Eisenhower, Thư viện Kennedy, Thư viện Johnson; và Library of Congress, Washington D.C. Cuối cùng, sau khi tốt nghiệp, họ đã giảng dạy ở những đại học Úc, và vị thế này bắt buộc họ phải vô tư để giữ uy tín đứng đắn của mình và... khỏi mất việc. Như thế ta có thể chắc về tính chất khả tín của những gì họ viết : chính xác, vô tư, và đứng đắn.

    Quyển Đệ nhất Cộng Hòa Việt Nam 1954-1963 (ĐNCHVN I), 229 trang, có 5 chương. Hai chương 4 và 5 không quan hệ lắm vì nó chỉ chứa một số hình ảnh về các cuộc viếng thăm các quốc gia bạn, hay đăng lại một số diễn văn của Tổng thống Diệm. Ba chương còn lại là những chương đáng chú ý. Chương 1, "Những thách thức nghiệt ngã khi về chấp chánh" của P. V. Lưu, nói về những thách thức mà ông Diệm gặp phải trong hai năm 1954-1955 sẽ được bàn đến một cách khá chi tiết, vì nó chứa đựng nhiều điều mới mà người Việt Nam cần biết. Chương 2, "Chủ nghĩa Nhân Vị, con đường mới, con đường tiến bộ", của N. N. Tấn, nói về thuyết Nhân Vị cũng vậy vì đây là lần đầu mà thuyết này được trình bày một cách tường tận, đầy đủ, và nhất là trung thực khách quan. Chương 3, "Thành quả 9 năm cầm quyền" của tiến sĩ Lưu, nói về thành tích 9 năm cai trị của ông Diệm cũng là một cái gì mới. Trong quá khứ, sách báo nói về ông Diệm và chế độ ông thường chú tâm vào khía cạnh chính trị, cá nhân và gia đình ông - độc tài, gia đình trị - nhưng không hề đề cập đến những thành quả lớn mà chính phủ ông đạt được trong 9 năm ông lãnh đạo : kiện toàn độc lập - lấy lại chủ quyền quốc gia trong tất cả các lãnh vực : chính trị, ngoại giao lẫn quân sự và kinh tế tài chính - cải thiện đời sống của dân chúng bằng cách phát triển tất cả các lãnh vực hoạt động - kỹ nghệ, nông thôn, ngư nghiệp, chuyên chở, giáo dục... Chương này rất phong phú về thống kê, cho độc giả một ý niệm rõ ràng về những thành tích lớn lao mà Việt Nam đã đạt được dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa I.

    Trong 50 năm qua, sách báo về Việt Nam rất nhiều, nhưng phần lớn trong loại "khảo cúu" xuất phát từ các giới Tây phuơng, đặc biệt là Hoa Kỳ, thường xuyên tạc sự thực, bôi xấu Việt Nam, và đặc biệt là ông Diệm. Đó là vì, như David Horrowitz, lãnh tụ phát động trào phản chiến "sit in" của Đại học Berkeley, C.A., trong thập niên 1960 thú nhận sau khi đã bỏ và chống lại phong trào này trong thập niên 1980, những giới đại học và truyền thông Hoa Kỳ đã bị các tổ chức phản chiến và cộng sản mang danh "cách mạng" xâm nhập, chi phối và áp đặt quan điểm "politically correct" của họ. Ông Diệm bị công kích bôi xấu đặc biệt vì ông chống thực dân cả Pháp lẫn Mỹ đã gắt gao mà chống cộng sản còn gắt gao hơn nữa. Phần khác, trên những kệ sách của các thư viện vắng bóng những tác phẩm loại "khảo cứu" của người Việt có đủ tầm thuyết phục, phản bác lại các tác phẩm của những giới phản chiến và "cách mạng" trên đây. Có nhiều tác giả lại vô tình a dua người Tây phương lặp lại những luận điệu bôi xấu Việt Nam và lãnh tụ Việt Nam, nhứt là lãnh tụ chống cộng hữu hiệu như ông Diệm.

    Vì lý do trên đây, không ít người Việt phe "quốc gia" thường có mặc cảm xấu hổ hay nghi hoặc về xứ sở, dân tộc, và các lãnh đạo của Việt Nam khi nghĩ hay bàn về thời sự. Riêng về ông Ngô Đình Diệm, thì họ lại càng chê bai, kết tội hơn nữa, và những gì tốt về ông thì không nói đến. Khuyết điểm trên đây cũng dễ hiểu. Đối với nhiều người Việt, Bụt nhà không thiêng !

    Trong chương 1, tiến sĩ Lưu đã dùng những từ ngữ "thách thức" và "nghiệt ngã" để nói về những trở ngại mà ông Diệm gặp phải khi về nước chấp chánh và trong hai năm đầu để giữ chính quyền. Hai từ ngữ này rất đúng. Ông Diệm đã găp vô vàn trở ngại. Nhưng những trở ngại lớn nhất là do chính phủ Pháp ở Paris hoặc Washington, những viên chức Pháp và những giới tài phiệt Pháp ở Việt Nam gây ra trong việc tìm cách lật đổ ông, một đằng bằng cách xúi giục những người Việt chống đối ông dùng đủ mọi cách, kể cả quân sự, để gây bất ổn, một đằng bằng cách thuyết phục lôi kéo đại diện chính phủ Hoa Kỳ ở Paris, ở Sài Gòn, và ngay cả ngoại trưởng và tổng thống Hoa Kỳ ở Washington đừng ủng hộ ông ấy nữa.

    Tuyên truyền cộng sản và các giới phản chiến "politically correct" Tây phương đã không ngớt quả quyết rằng ông Diệm là "người của Mỹ", được chính phủ Mỹ lựa chọn và đưa lên làm thủ tuớng và yểm trợ hết mình. Phần khác, gần đây lại có tác giả quả quyết rằng "Ngô Đình Diệm do chính phủ Pháp đưa lên cầm quyền và được Pháp hỗ trợ" (4). Cả hai luận cứ trên đều là những quả quyết vu vơ, và đã bị tiến sĩ Phạm Văn Lưu phản bác với những dữ kiện rất vững chắc không thể phủ nhận được, vì rút ra từ các điện văn mật trao đổi giữa những toà đại sứ Mỹ ở Paris, Sài Gòn, bộ ngoại giao Mỹ và Tòa Bạch Ốc, và với chính phủ Pháp. Các điện văn đó được bạch hóa và phổ biến trong những năm gần đây đã cho ta biết được sự thực đích xác về những gì đã xảy ra ở Việt Nam trong những năm 1954-1956, thời gian mà ông Diệm chấp chánh và ổn định tình hình.

    Ông Lưu đã cho ta thấy rằng ngay từ ngày được cựu hoàng Bảo Đại bổ nhiệm làm thủ tướng ngày 16-6-1954, và ngay cả trước đó nữa, cho đến cuối năm 1956 ông đã bị nhân viên dân sự cũng như quân sự Pháp ở Sài Gòn và chính phủ Pháp, dù là thiên tả như Mendès-France, hay thiên hữu như Edgar Faure ở Paris, nói xấu và tìm đủ mọi cách lật đổ. Và trong cố gắng thực hiện ý đồ này, họ đã hết mình thuyết phục các đại diện Mỹ ở Sài Gòn, Paris, bộ trưởng ngoại giao J.F. Dulles, và ngay cả tổng thống Eisenhower chấp nhận giải pháp loại bỏ ông Diệm, và đã suýt thành công trong sự vận động này.

    Ngày 13-6-1954, ba ngày trước khi ông Diệm được chính thức bổ nhiệm làm thủ tướng, ông Dejean, phó cao ủy Pháp ở Sài Gòn, nói với ông McClintock, đại diện Mỹ tại Sài Gòn, rằng ông Diêm "không có cơ may để lập một chính phủ hữu hiệu cho Việt Nam". Ngày 15-6-1954, một tuần trước khi ông Diệm bước chân xuống Sài Gòn và ba tuần trước khi ông Diệm trình diện chính phủ của ông, tướng Ely, cao ủy Pháp ở Sài Gòn cũng nói với ông McClintock rằng ông Diệm không đủ khả năng lãnh đạo. Ngày 20-6-1954 tại Paris, ba ngày trước khi ông Diệm đáp máy bay đi Sài Gòn, hơn hai tuần trước ngày ông Diệm trình diện chính phủ của ông (7-7-1954), thủ tướng Pháp Mendès-France nói với đại sứ Mỹ Dillion rằng ông Diệm là một người cuồng tín và nhờ Hoa Kỳ ngăn cản không cho ông làm hỏng Hội nghị Genève. Ông Mendès-France không đặt vấn đề không cho ông Diệm làm thủ tướng vì bận tâm của ông ta (Mendès) lúc đó là phải ký cho đuợc hiệp định nội trong ngày 20-7, nếu không ông ta phải từ chức, vì khi nhận chức thủ tướng ông đã cam kết với Quốc hội Pháp như vậy ! Trong nhưng cuộc tiếp xúc khác với đại diện Mỹ, lúc ông Diệm quyết định dùng binh đương đầu với thách thức quân sự của Bình Xuyên, tướng Ely nói ông Diệm là người "mắc chứng hoang tưởng tự đại" (mégalomane), hoặc "điên khùng". Trong cuộc hội nghị với các ngoại trưởng Mỹ, Anh, ở Paris ngày 8-5-1955, thủ Tướng Pháp E. Faure đã kích ông Diệm nặng nề, gọi ông là "điên khùng".

    Trong những buổi họp với đại diện Hoa Kỳ để bàn về Việt Nam, luận đề được đại diện Pháp luôn luôn đưa ra là "giải pháp" Ngô Đình Diệm chỉ là một cuộc thí nghiệm, "thời gian thí nghiệm đã qua", ông Ngô Đình Diệm đã tỏ ra "không có khả năng tập họp các lực lượng chính trị", không được quân đội yểm trợ, không ổn định được tình hình, gây hận thù đối với Pháp, cho nên phải thay thế ông bằng một người, hay nhóm người, có khả năng hơn. Người, hay nhóm người "có khả năng hơn" này tất nhiên lấy trong những nhân vật mà Pháp chi phối.

    Những đại diện Mỹ ở Sài Gòn - các cố vấn McClintock và Kidder, đại sứ Heath, đặc sứ Collins - cũng ngã xiêu theo quan chức Pháp, nhất là những quan chức này có uy tín như phó cao ủy Dejean, và tướng Ely, và nhiều lần đề nghị với chính phủ Hoa Kỳ nên thay thế ông Diệm. Ngay cả ngoại trưởng Dulles và tổng thống Eisenhower cũng chấp nhận nguyên tắc này sau khi nghe phúc trình của đặc sứ Collins về vụ ông Diệm ra lệnh cho quân đội quốc gia dẹp Bình Xuyên, và ngày 27-4-1955 đã điện cho tòa đại sứ Sài Gòn chỉ thị về quyết định này. Họ bực bội với ông Diệm vì ông từ chối những giải pháp mà họ cho là có khả năng ổn định tình hình.

    Lý do thật sự của thái độ này là sự bực bội của họ trước thái độ cứng rắn, không nhân nhượng của ông Diệm. Nói cho đúng, quan chức Pháp cũng như quan chức Mỹ ở Sài Gòn hồi đó bực bội với ông Diệm vì ông tỏ ra một người không dễ bảo. Nói trắng ra, ông Diệm không chịu làm bù nhìn, dù là của Pháp hay của Mỹ, nhất là khi những đề nghị của họ vi phạm độc lập, danh dự, và tương lai của Việt Nam. Ví dụ : sau những xáo động ở thủ đô do Bình Xuyên và tướng Hinh gây ra trong mùa thu 1954, đại sứ Heath đề nghị ông Diệm lưu tướng Hinh lại trong quân đội, nhưng ông Diệm không chấp nhận. Đại sứ bèn quyết định là ông Diệm phải ra đi, và ông tường trình về Washington như sau : "chúng ta phải tranh thủ thời gian để chuẩn bị điều mà Mendès-France gọi là một cơ cấu chính quyền khác... Tất cả mọi người ở tòa đại sứ tin chắc rằng ông Diệm không thể tổ chức và điều hành một chính quyền vững mạnh".

    Đặc sứ Collins đã nhiều lần, đặc biệt là ngày 13-12-1954 và ngày 31-3-1955, điện cho Tòa Bạch Ốc đề nghị thay thế ông Diệm vì ông Diệm "quá cứng rắn". Các đề nghị của ông không được chấp nhận. Nhưng hạ tuần tháng 4-1955, sau vụ chạm súng giữa Bình Xuyên và quân đội quốc gia, một buổi họp quan trọng được tổ chức tại Tòa Bạch Ốc để nghe ông phúc trình, một giải pháp do ông đề nghị được chấp nhận : loại ông Diệm khỏi chức vụ thủ tướng, đưa ông Trần Văn Đỗ thay thế ông, và cử bác sĩ Phan Huy Quát làm phó thủ tướng. Trong những người chấp thuận có cả ngoại trưởng Dulles và tổng thống Eisenhower. Lập trường này được thông báo cho tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn ngày 27-4-1955.

    Sự chấp nhận trên đây của ngoại trưởng Dulles cũng khá lạ, vì ông là người ủng hộ giải pháp Diệm mạnh nhất. Nhưng thật ra, ông cũng đã phòng xa. Trong một văn thư gởi cho đặc sứ Collins ngày 20-4-1955, trước khi ông này rời Sài Gòn đi Washington, ông nêu ra hai điều kiện để quyết định sự ở lại hay ra đi của ông Diệm : 1/ Ông Diệm có can đảm và quyết tâm để hành động và 2/ Ông ta có được sự trung thành của quân đội không ? Nếu ông Diệm thất bại một trong hai điều kiện này thì ông phải ra đi.

    Nhưng ngày 28-4-1955 quân đội Bình Xuyên lại tấn công quân đội quốc gia. Ngày 29-4-1955, bất chấp sự khuyến cáo của tướng Ely, ông Diệm ra lệnh cho quân đội đánh trả, và quân đội quốc gia đã thắng. Chính phủ Mỹ hiểu rằng những dự đoán của tướng Ely về ông Diệm không có khả năng địch lại Bình Xuyên là sai lầm, và làm cho đặc sứ Collins cùng chính phủ Mỹ quyết định sai lầm. Từ nay họ không còn tin vào nhận định của Pháp nữa. Ngày 1-5-1955 nhận lệnh tổng thống Eisenhower, ngoại trưởng Dulles gởi điện đến Paris và Sài Gòn hủy bỏ điện tín ngày 27-4-1955. Ngày 8-5-1955, tại hội nghị Anh-Mỹ-Pháp ở Paris, ngoại trưởng Dulles tuyên bố rằng về Việt Nam, từ nay sẽ không còn thỏa hiệp chung Mỹ-Pháp nữa.

    Tổng thống Ngô Đình Diệm công du Hoa Kỳ (1957)

    Tổng thống Eisenhower và Ngoại trưởng Dulles

    nghênh tiếp tại sân bay

    Ông Diệm thắng.

    Cái thắng của ông Diệm là sự thắng của can đảm, và cương quyết bảo vệ chính nghĩa quốc gia Việt Nam. Đặc biệt hơn nữa, nó là một cái thắng của chính ông, dù ông bị Pháp cản trở và không có sự ủng hộ của Hoa Kỳ.

    Sự thắng này đưa đến những quyết định căn bản mang lại độc lập thật sự cho Việt Nam trong vòng chỉ một năm:

    - về chính trị Việt Nam ra khỏi Liên Hiệp Pháp tư chọn quy chế cho mình - chế độ Cộng Hòa;

    - thu hồi chủ quyền về ngoại giao : bang giao giữa Việt Nam và Pháp qua Bộ Ngoại Giao Pháp thay vì Bộ Các Quốc Gia Liên Kết và Cao Ủy Pháp ở Sài Gòn và Cao Ủy Việt Nam tại Paris thành Tòa đại sứ, chấm dứt lệ thuộc ngoại giao Việt Nam vào Pháp;

    - thu hồi chủ quyền về quân sự : ngày 26-4-1956 quân đội Pháp rút hết khỏi Việt Nam, quân đội Việt Nam không còn lệ thuộc vào Pháp nữa, viện trợ Hoa Kỳ cấp trực tiếp cho Việt Nam;

    - chủ quyền kinh tế tài chính : cuối tháng 12 năm 1955, Việt Nam ra khỏi khu Phật lăng;

    - giáo dục : Việt Nam tự do nhận giáo sư, chuyên viên từ bất cứ nơi nào, và gởi sinh viên ra bất cứ nơi ngoại quốc nào.

    Như tiến sĩ Lưu nhấn mạnh : những chuyển biến trên "mang theo ý nghĩa chính thức chấm dứt 72 năm chế độ Pháp bảo hộ Việt Nam (1884-1956)". Người thực hiện được điều này cho Việt Nam là ông Ngô Đình Diệm. Với tác phẩm "Đệ nhất Cộng Hòa Việt Nam 1954-1963", tiến sĩ Phạm Văn Lưu đã giúp ta thấy rõ điều này.

    Cũng như với tiến sĩ P. V. Lưu, những sưu khảo của tiến sĩ Nguyễn Ngọc Tấn đóng góp một phần quan trọng vào vào việc soi sáng giai đoạn lịch sử 1954-1963, thời gian ông Diệm cầm quyền. Những sưu khảo này nhằm vào chủ thuyết Nhân Vị. Theo tiến sĩ Tấn, trong 40 năm qua, "chưa có cuốn sách nào viết về chủ nghĩa Nhân Vị dưới khía cạnh hàn lâm [khoa học] cũng như đánh giá về tầm quan trọng của nó như là một chủ thuyết chính trị" dù rằng chủ thuyết này là chủ thuyết khai sanh ra nền Cộng Hòa đầu tiên tại Việt Nam. Đây là "một vấn đề lịch sử còn tồn đọng" trong thế kỷ qua. Bài của ông tìm hiểu vấn đề này, đặc biệt là tìm giải đáp cho những "nghi vấn lịch sử" sau đây :

    1. Chủ nghĩa Nhân Vị là gì ?

    2. Quan niệm Nhân Vị về các lý tưởng của cuộc cách mạng quốc gia ra sao và thể hiện qua các đường lối chính sách như thế nào ?

    3. Về nguồn gốc triết học Nhân Vị là một thuyết ngoại lai hay mang bản chất chính trị văn hoá của Việt Nam?

    Ông Tấn nói : những câu trả lời cho các nghi vấn trên đây "sẽ đặt nền móng cho công việc thẩm định phẩm chất lãnh đạo và những đóng góp lịch sử của tổng thống Ngô Đình Diệm trong 9 năm cầm quyền...". Bài khảo luận của tiến sĩ Tấn "Chủ nghĩa Nhân Vị, con đường mới, con đường của tiến bộ" chứa rất nhiều dữ kiện, suy diễn, và phân tích rất tỉ mỉ, buộc độc giả phải đọc kỹ và nghiền ngẫm, không thể kể chi tiết ở đây. Bài này chỉ đề cập đến một số khía cạnh cần được độc giả đặc biệt chú tâm.

    Về Nhân Vị là gì, tiến sĩ Tấn đã dựa trên những lời của chính ông Diệm để giải thích : Về Nhân Vị là gì, TS Tấn đã dựa trên những lời của chính Ông Diệm để giải thích: Nhân và Vị là hai học thuyết Nho giáo. Nhân 仁 do chữ Nhân 人 và chữ Nhị 二 hợp thành (仁) có nghĩa là lòng thương người, đạo lý làm người; Vị 位 do chữ Nhân 人 và chữ Lập 立 hợp thành (位) có nghĩa là người có cái vị trí của họ, đứng giữa và ngang hàng với Trời và Đất. Hai chữ này hợp lại để diễn tả ý tưởng: vị trí và phẩm giá con người trong cộng đồng nhân loại và trong vũ trụ. Ông viết :

    "Tóm lại, chủ thuyết Nhân Vị là một triết lý nhằm đề cao giá trị của con người trong tương quan với vũ trụ, Trời và Đất, với người khác trong xã hội. Lý thuyết Nhân Vị chủ trương rằng : vì con người có một giá trị tối thượng nên mọi sinh hoạt trên đời này đều phải hướng về việc phục vụ con người. Chủ nghĩa Nhân Vị lấy CON NGƯỜI biết tu thân (vừa tĩnh vừa động) làm nền tảng để giải quyết các mâu thuẫn trong sinh hoạt của con người".

    Về nguồn gốc, tiến sĩ Tấn nhận xét rằng trong suốt 40 năm qua không mấy ai chú ý tìm hiểu "Lý thuyết Nhân Vị" vì cho rằng lý thuyết đó là ngoại lai, cho rằng "Nhân Vị của các ông Diệm, ông Nhu là của Mounier, là của Công Giáo". Những lời phê bình này hoặc:

    a/ mang một chủ đích chính trị nào đó, hoặc b/ thiếu hiểu biết về chủ nghĩa Nhân Vị.

    Trong số những người loại (a) có những người như Nguyễn Thái. Trong tác phẩm Is South Vietnam Viable ?, ông nói rằng ông Nhu đã say mê thuyết dân chủ xã hội dựa trên lòng bác ái và giá trị nhân bản mang danh "Personnalisme" của Emmanuel Mounier, và "mối liên hệ của nó với xã hội mà ông Nhu cổ võ chẳng có gì là mới mẻ", và cái thuyết Nhân Vị "Personnalisme" cũng chẳng có gì xa lạ vì trong một trường phái triết học Pháp trong đó có Emmanuel Mounier và Jacques Maritain để hết mình cổ võ cho nó... Trong số những người loại (b) thì có thể kể ông Nguyễn Gia Kiểng. Gần đây, trong một bài phê phán ông Ngô Đình Diệm, ông viết :

    ông cố vấn Ngô Đình Nhu

    "Nếu dựa trên những gì ông Nhu đã viết [sic!] về chủ nghĩa nhân vị thì có thể nói là chính ông cũng chỉ hiếu lơ mơ [sic!] Có lẽ [sic!] ông đã du nhập chủ nghĩa nhân vị vào Việt Nam vì lý do là lúc đó nó được coi là giải pháp Thiên chúa giáo cho hòa bình Công giáo của thế giới. Nó có tham vọng là một vũ khí tư tưởng chống lại chủ nghĩa cộng sản. Trên thực tế, nó là một bước lùi lớn, gần như một sự đầu hàng, bởi vì nó phủ nhận cá nhân [sic!], cốt lõi của dân chủ" (5).

    Tiến sĩ Tấn đã bác bỏ dễ dàng những nhận định sai lầm nặng nề và những phê phán hời hợt trên đây. Ông đã trích dẫn những tuyên bố, phát biểu của các ông Diệm-Nhu, và những khảo luận của những nhà học giả Việt Nam có úy tín để chứng minh rằng "Nhân Vị là một lý thuyết chính trị mang một bản sắc dân tộc rõ rệt", và "với biện chứng mạch lạc rõ rệt của triết gia Kim Định, giáo sư Nghiêm Xuân Hồng, và học giả Đinh Văn Khang, Chủ Nghĩa Nhân Vị (Tâm linh, Đông phương) của ông Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu bắt nguồn từ nền tảng văn hóa của Việt Nam, không thể nào lầm lẫn với Personalisme của Mounier (Duy tâm Tây phương) được". Ông nói : "Mọi việc đã được sáng tỏ và cuộc điều tra lịch sử này chấm dứt với kết luận : Chủ Thuyết Nhân Vị của hai ông Diệm-Nhu mang một bản chất văn hóa và chính trị hoàn toàn Việt Nam" (in đậm của chính TS Tấn).

    Tiến sĩ Tấn đã minh chứng thêm xác quyết của ông với những trích dẫn trực tiếp từ một số tuyên bố của ông Diệm và ông Nhu.

    Ông Ngô Đình Diệm : "Nhắm mắt bắt chước nước ngoài khác gì nhận trước sự bảo hộ của ngoại bang” (nói với ký giả Marguerite Higgins).

    Ông Ngô Đình Nhu :

    - "Chủ thuyết [Nhân Vị] đặt nền tảng trên quan niệm tôn trọng phẩm giá con người và đẩy mạnh sự phát triển đến mức độ cao nhứt. Quan niệm này... ở ngay trong truyền thống dân gian Việt Nam" (Đại hội văn hóa quốc gia, 11-1-1957).

    - "Tôi phải nói ngay rằng : chủ thuyết Nhân Vị của tôi chẳng có dính dáng gì đến cái Nhân Vị Công Giáo đang được giảng dạy bởi các tổ chức Công Giáo tại miền Nam Việt Nam... Hiện nay cái học thuyết nhân vị mà tôi cổ võ là một nền dân chủ đấu tranh trong đó tự do không phải là một món quà của ông già Noel, nhưng mà là kết quả của một cuộc chinh phục bền bỉ và sáng suốt trong đời sống thực tế, không phải trong một khung cảnh lý tưởng, mà trong những điều kiện địa lý chính trị đã được định sẵn" (Phỏng vấn với báo Toronto Globe and Mail, trong Nguyệt san Gió Nam, 5-5-1963).

    Tiến sĩ Tấn kết luận : "Giải pháp Nhân Vị mà ông Diệm và ông Nhu đã cổ võ 40 năm về trước là mô hình “xã hội dân chủ nhân vị” đã được thí nghiệm ở miền Nam từ 1954 đến 1963 : kinh tế thị trường với sự mềm dẻo của một chính phủ phúc lợi, thực hiện công bằng xã hội và dân chủ thực sự ở hạ tầng cơ sở với định hướng dân chủ trên thượng tầng cấu trúc... Chủ nghĩa Nhân Vị chỉ được thử nghiệm trong một thời gian ngắn ở Miền Nam Việt Nam, nhưng trong lãnh vực lý thuyết hàn lâm, Chủ Nghĩa Nhân Vị có một giá trị đóng góp lâu dài và quan trọng vào công cuộc phát triển con người nói chung và đặc biệt tại các quốc gia nghèo đói hiện nay".

    Và "ông Diệm đã hạ quyết tâm, "chọn con đường hy sinh để bênh vực phẩm giá con người:. ..người ta có thể hủy diệt ông Diệm, nhưng không thể cướp đi những giá trị thuộc về ông ấy. Do đó trên căn bản đạo đức nghề nghiệp, các sử gia có bổn phận đem trả lại cho ông Diệm những gì thuộc về ông ấy và nền Đệ Nhất Cộng Hòa. Hãy trả lại cho lịch sử những gì thuộc về lịch sử".

    Tôn Thất Thiện
    (Ottawa)

    Chú thích :

    (1) Nguyễn Hữu Duệ, 4366 Menlo Avenue # 23, San Diego, C.A. 92115, U.S.A. ĐT: 619-284.5484. Giá bán : 15 USD.

    (2) Nhà xuất bản Hoàng Nguyên, P.O.Box 2637, Garden Grove, C.A.92642-2637, U.S.A. Giá bán : 20 USD.

    (3) Nếu muốn mua sách ở Úc, xin liên lạc trực tiếp với nhà xuất bản : Center For Vietnamese Studies Publications, Reservoir, Victoria, 3073, Australia. Ở Mỹ, xin liên lạc với ông Lê Tinh Thông, 2362 Ashbury Circle, Westminster, C.A., 92683, USA. ĐT: 714-891.6216. Giá bán : 10 USD. Ở Châu Âu : xin liên lạc với nhà sách Nam Á : Centre Commercial Les Olympiades, 44 avenue d'Ivry, 75013 Paris, France.

    (4) Nguyễn Gia Kiểng, "Ông Ngô Đình Diệm lên cầm quyền như thế nào ?", Thông Luận, tháng 4, năm 2005.

    (5) "Nhìn lại kinh nghiệm Ngô Đình Diệm", Thông Luận, tháng 11, 2005.

    Nguồn: www.thongluan.org
    Giáo sư Tôn Thất Thiện

    Trước 1975 VNCH Đệ I & II vất vả đối phó tăng ni Phật tử xuống đường biểu tình, vc nằm vùng trong chùa làm loạn miền Nam giúp VC. Sau 1975 Phật giáo chiếm 85% dân số nhưng im re trước VC.

    Sau 1975 dân đạo Chúa xuống đường chống VC như vụ Thái Hà, Khâm Sứ, Tam Tòa dù họ chỉ chiếm 7% dân số.

  16. #16
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    178
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Tổng thống Ngô Đình Diệm còn sống, VNCH còn tồn tại











  17. #17
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    178
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Tổng thống Ngô Đình Diệm còn sống, VNCH còn tồn tại









    Enjoy!

  18. #18
    Join Date
    Dec 2002
    Posts
    894
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Tổng thống Ngô Đình Diệm còn sống, VNCH còn tồn tại

    Quote Originally Posted by damtachoa View Post








    Enjoy!
    Cám ơn anh damtachoa vì những tấm hình anh sưu tầm được, hoatrinhnu có vài câu hỏi cho anh là làm sao anh tìm ra được những tấm hình về 2 ngội mộ của anh em Ngô tổng thống vậy? Nghe nói là 2 ngôi mộ đó được người Công giáo cải tán lại tại nghĩa trang Lái Thiêu Sài Gòn phải không vậy?

    Hoatrinhnu xin cám ơn anh damtachoa, chúc anh luôn vui

    Nguyện cầu Chúa cho 2 linh hồn Goan Baoxisita John the First Ngô Đình Diệm và Giaccôbê James Ngô Đình Nhu được lên chốn nghĩ ngơi và xem thấy mặt Đức Chúa Trời sáng láng vui vẽ vô cùng, Amen.
    Tình Nhân của Bác Hồ Chí Minh

  19. #19
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    178
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Tổng thống Ngô Đình Diệm còn sống, VNCH còn tồn tại

    "Nghe nói là 2 ngôi mộ đó được người Công giáo cải tán lại tại nghĩa trang Lái Thiêu Sài Gòn phải không vậy?"

    Mấy báo chí hải ngoại đưa tin rằng anh em ông Diệm được cải táng rồi đem chôn ở Lái Thiêu là "Lầm Tuốt". Ba anh em họ Ngô và thân mẫu của họ đều chôn ở nghĩa trang Vườn Ngâu - Thủ Đức, chỗ này còn có tên là Thừa Thiên Tương Tế. Bởi vì bên kia xa lộ có cái bảng đề là Lái Thiêu nên người ta tưởng lầm vậy, chứ phía bên này đường là thuộc về quận Thủ Đức. Còn đây là bản đồ dẫn tới mộ của anh em họ.



    Cái màu cam thập giá là nơi mộ anh em họ Ngô chôn cất.


  20. #20
    Join Date
    Nov 2008
    Posts
    233
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Tổng thống Ngô Đình Diệm còn sống, VNCH còn tồn tại

    Tôi có người bạn việt nam bên Pháp, anh này đi qua Pháp theo diện hôn thê anh ta bảo lãnh chớ không phải vượt biên, anh ta qua Pháp sau khi có phong trào giải tỏa nghĩa tranh Mạc Đỉnh Chi tại Sài Gòn.anh ta nói là lúc đó trong nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi có mấy ngôi mộ của anh em ông Ngô Đình Diệm và thân Mẫu, nghe nghĩa trang bị giải tỏa thì người thân hay những người từng phục vụ cho chính quyền ông Diệm lên lấy hài cốt anh em ông Diệm, ông Cẩn, và thân Mẫu rồi cải tán lại nghĩa trang Thủ Đức.tới vùng Thủ Đức nếu nói đi thăm mộ ông Huynh ông Đệ thì người xung quanh sẽ biết và dẫn đi thăm mộ của dòng họ nhà Ngô ngay.Điều thắc mắc là lúc VNCH còn trước năm 1975 thì mộ của ông bố Hồ Chí Minh nơi Cao Lãnh vẫn được phía VNCH bảo vệ, cấm phá phách, và vẫn đề tên ông phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, còn bây giờ không biết tại sao việt cộng không dám đề tên 2 anh em ông Diệm, ông Nhu vào mộ phần / Có lẽ tụi vc còn sợ ảnh hưởng mặt chánh trị, tinh thần của 2 anh em ông ta chăng?

Page 1 of 2 12 LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Cảm xúc 30/4 của người lính VNCH
    By chendo in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 12
    Last Post: 04-26-2013, 01:30 AM
  2. Tem thư VNCH
    By TanCang in forum Hình Ảnh Ðẹp Sưu Tầm
    Replies: 6
    Last Post: 04-29-2010, 08:50 PM
  3. Replies: 5
    Last Post: 12-08-2009, 07:39 AM
  4. Ê chề VNCH
    By VN.VN in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 115
    Last Post: 10-12-2009, 09:22 PM
  5. Trịnh Công Sơn + thầy chùa, sư cái Phật giáo quậy phá VNCH
    By DinhNgocKhue in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 29
    Last Post: 07-23-2009, 07:39 AM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •