Page 4 of 14 FirstFirst 12345678910111213 ... LastLast
Results 61 to 80 of 266

Thread: Phật Giáo Trong Mắt Tôi .

  
  1. #61
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Trong Mắt Tôi .

    BỒ ĐỀ TÂM .

    Nói đến Tâm Phật hay Tánh Phật tôi mới nhớ Tâm Bồ Đề hay Bồ Đề Tâm cũng giống nhau . Vậy chúng ta hiểu Bồ-đề tâm là gì?

    Bồ đề tâm, đó là chí nguyện nóng bỏng của một con người tự thấy mình đang sống trong cảnh tối tăm, giữa đọa đày khổ nhục, mong tìm một con đường sáng không những để giải thoát bản thân khỏi những đe dọa áp bức mà còn là mong muốn để giải thoát cho tất cả những người cùng cảnh ngộ. Bồ-đề tâm, đó là ý chí kiên cường bất khuất của một người bị cột trói trên ngọn lửa rực cháy, bị chà đạp dưới những sức mạnh tàn khốc của tham vọng điên cuồng của chính ta và của một tập thể ma quái chung quanh ta. Khi Bồ Đề Tâm đi vắng , con người trở thành quỹ dữ , Giáo hội trở thành điên cuồng và sẽ đốt cháy trí tuệ khi cứ lăng xả vào dục vọng , thế quyền , danh lợi , vật chất .....

    Đại Trí Độ nói:

    -"Phật pháp như biển cả, có thể vào bằng tín, có thể vượt qua bằng trí. "

    Đối với tâm nguyện Bồ-đề chỉ có thể được phát khởi khi gốc rễ của "tín tâm" đã được gieo trồng cẩn thận. Nhưng muốn vượt qua phải đùng đầu óc hay TRÍ TUỆ không phải bằng lòng tin ,sự giữ đúng lời hứa . Chúng ta bày tỏ niềm tin sâu sắc không những đối với Phật, hiện thân của nhân cách toàn thiện, toàn giác mà còn tin tưởng ở khả năng thành tựu nhân cách ấy của chính mình. Vì Ngài luôn luôn nhắc nhở ta " Hãy tự thắp đuốc lên mà đi " , không ai hiểu ta bằng chính ta , không ai yêu thương ta bằng chính ta , cho nên TA là tất cả . Cho nên chúng ta cầu nguyện và mong rằng Như Lai "thương xót, che chở con " chính là lời tuyên thệ gởi trọn đời mình nương tựa nơi Như Lai, và cũng chính là nương tựa trên Pháp thân thường trụ sẵn có nơi mình, chứ không nương tựa một ai khác. Đại diện cho Như Lai lại là các Tỳ Kheo trưởng tử của Ngài , tức là chúng ta sống hiện tại là NƯƠNG TỰA TĂNG . Nếu Tăng chăm sóc vun trồng cho đời sống tâm linh ngày một hướng thiện , đời sống hạnh phúc và an lạc thì đó là Tăng đi đúng chánh pháp , xứng đáng là một đệ tử tốt của Như Lai . Hiện nay ( nhất là hải ngọai ) vào thế kỷ 21 này , tâm chúng ta không đựơc yên ổn lấy đâu mà an lạc . Vì mỗi chủ nhật đến chùa mong tìm về với chánh pháp thì Thầy lại cầu an cho dân VN trong nước đựơc " Quốc Thái dân an " . Quốc có thái thì dân mới an , nhưng quý thầy thuộc GHPGVNTN có để cho dân an đâu mà Quốc thái đựơc . Không đấu tranh cũng sách nhiểu , bôi nhọ , tuyệt thực , biểu tình ..... Thầy trong nước đựơc mời qua Mỹ thuyết pháp thì họ chụp nón là SƯ QUỐC DOANH . Khi muốn đến chùa PGVNTN chỉ mong cầu Tăng giảng giải , hoằng pháp , độ sanh ...... đốt đuốc từ Âu sang Mỹ rất ít thầy , chùa mở khóa tu , thuyết pháp cho Phật tử muốn nghe . Còn nghe các Thầy trong nước qua giảng thì họ chống đối , biểu tình , đuổi Thầy về nước . GHPGVNTN làm như cái nước Mỹ này là của Giáo Hội không bằng .

    - Bồ-Tát sơ phát tâm, lấy vô thượng Bồ-đề làm đối tượng, nói rằng:

    "Mong tôi sẽ thành Phật."

    ( Đó gọi là bồ-đề tâm.)

    - Bồ Tát Di-lặc nói với Thiện Tài :

    " Bồ-đề tâm là hạt giống của hết thảy Phật pháp. Bồ-đề tâm là ruộng phước vì nuôi lớn pháp bạch tịnh. Bồ-đề tâm là cõi đất lớn, vì nâng đỡ hết thảy thế gian. Bồ đề tâm là tịnh thủy, vì rửa sạch tất cả cáu bợn phiền não ."


    Tâm là vũ trụ.....là tất cả.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  2. #62
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Trong Mắt Tôi .

    BẢY NGÀY NHẬP THẤT .


    Hằng năm tôi đều dành một tuần để ngồi một mình trong phòng yên lặng , tự kiểm điểm bản thân thời gian một năm qua.
    Tôi bắt đầu bước vào ngày thứ nhất của nhập thất . Trong căn phòng vuông vắn , yên tịnh , trên bàn thờ chỉ có tượng Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni đang ngồi kiết già hoan hỹ . Thắp một nén nhan và tôi ngồi trước mặt Ngài định tâm an lạc , với tâm tĩnh lặng , chánh niệm, tỉnh giác, ly dục, đi vào sơ thiền , nhị thiền, tam thiền và lần lượt nhập lên tứ thiền, sau đó hướng tâm đến tam minh.

    Dùng trực giác, tôi thấy rõ nguyên nhân vì sao con người có sự đau khổ và gây ra sự của khổ đau. Chính sự tập khởi của 12 nhân duyên là tập khởi của toàn bộ khổ uẩn .Đến 1 giờ khuya , tôi chứng " Túc Mệnh Minh ", thấy rõ vô lượng kiếp quá khứ của mình. Sang 2 giờ sáng , tôi chứng "Thiên Nhãn Minh ", nhưng chỉ thấy lờ mờ các kiếp quá khứ của chúng sanh với các nghiệp nhân và nghiệp quả của cá nhân mình ( có lẽ chưa đạt tột đỉnh để thấy rõ ).
    Tôi nhận được đã từng làm quan Đại Thần oai hùng tiết liệt , cũng có kiếp làm kẻ hiền giã lang thang phiêu bạt giang hồ , lấy sương gió , trăng mây làm vui thú . Có kiếp tôi là một Thiền sư nổi tiếng về thuyết pháp , độ sanh .... có những kiếp hình ảnh lờ mờ tôi không nhận thực là tôi , một bóng dáng ai đó gần như xa lạ, nhưng bản thân quán chiếu biết đích thực là tôi . Có kiếp tôi đã từng là viện chủ ( Moderator , Admin....) .Tôi chủ trương lấy tâm bình đẳng , tôn trọng tự do và lấy đối thoại làm trọng tâm trao đổi , học hỏi....... Phải chăng người làm viện chủ như tôi vì có lòng khoan dung độ lượng , lấy đức Từ Bi cảm hoá con người , lấy trí tuệ dìu dắt tìm về chánh pháp mà không bao giờ nặng lời hay đem pháp luật ra dọa các hội viên nên được nhiều người hoan hỹ và đóng góp ý kiến . Cũng có nhiều Ma vương , quỹ dữ đến thử tài , khuấy phá , nhưng tất cả đều đựơc tôi hoá giải và đưa họ quay về chánh pháp , đi đúng con đừơng Tứ Vô Lượng Tâm .

    Tứ vô lượng tâm là gì ? là "bốn trạng thái tâm thức vô lượng", còn được gọi là Tứ phạm trú , "bốn cách an trú trong cõi Phạm". Là thuật ngữ chỉ một phép thiền định, trong đó hành giả tạo điều kiện cho bốn tâm thức cao thượng phát sinh. Bốn tâm vô lượng là:

    -Từ vô lượng .

    -Bi vô lượng .

    -Hỉ vô lượng .

    -Xả vô lượng .


    Bốn tâm này đối trị bốn phiền não là sân hận, ganh tị, buồn bực và tham muốn. Trong Đại thừa, Bốn tâm vô lượng cũng được gọi là hạnh Ba-la-mật-đa (Lục độ). Đó là tâm thức của Bồ Tát muốn cứu độ chúng sinh. Thực hành Tứ vô lượng, thiền giả sẽ tái sinh tại cõi Thiên . Phật Thích-ca Mâu-ni giảng về phép thiền định này như sau:

    “Có bốn vô lượng. Hỡi các tỉ-khâu, một người tràn đầy tâm từ (bi, hỉ, xả) sẽ phóng tâm đó đi một phương, hai phương, ba phương, bốn phương, rồi phía trên, phía dưới, xung quanh mình. Người đó phóng tâm đi khắp thế giới, chiếu rọi khắp nơi với tâm từ (bi, hỉ, xả), tâm thức vô lượng vắng bóng sân hận và phiền não.”


    -Ngày thứ hai tôi quán chiếu tiếp thì thấy thân mình bay bổng lạc vào một ngôi chùa . Tuy cảnh vật có khác nhưng những dấu vết quen thuộc lắm . Vô thường làm đổi thay sự vật và biến hóa vô song .

    -Quán chiếu ngày thứ ba , ngòai cửa chùa lúc nào cũng có hai ông Hộ Pháp : Ông Ác , ông Thiện . Nhìn tướng Hộ Pháp Ugly hung dữ , vai mang " Thượng Thiên bảo kiếm " . Mặt lúc nào cũng hầm hầm như hù doạ ai đó .... cho nên nhìn không mấy đẹp trai , thế mà vô số người run sợ ,nhất là mấy yêu nữ , bởi vậy mới là Ác Hộ Pháp . Tôi nhìn bên trái là ông" Người hiền ", chắc ông này là ông Thiện Hộ Pháp ( ? ) . Đúng ra ông Thiện phải đứng canh cửa cùng ông Ác , nhưng ông ta lại ngồi , cũng mệt mỏi rồi chăng ? Đằng sau lưng có treo câu biểu ngữ " Quốc có Quốc Pháp , Gia có Gia quy " . À ! Thì ra ông này nắm quyền luật pháp ở chùa này . Nhưng thật tình mà nói , Pháp với Quốc nào đây ? Pháp như VN ta có làm gì Đại lão HT Thích Quãng Độ đang vi phạm Quốc Pháp . VC đem Pháp ra đụng đến Ngài là đệ tử Ngài , Quốc Tế , Quê Mẹ .... la làng ĐÀN ÁP TÔN GIÁO . Vậy thì Quốc Pháp làm chi đựơc Ngài nào ???? Ngài TGM Ngô Quang Kiệt đấu tranh đòi Tòa Khâm , đất cho Nội Hà đã tuyên bố :".... tôi vô cùng nhục nhã khi nắm hộ chiếu nước Việt Nam." nhà nước CSVN có dám đụng sợi lông chân Ngài Kiệt đâu? Còn Gia có Gia Quy . Quy cái gì mà nhiều cư sĩ trí thức vào wuậy chơi ,chẳng tìm sơ hở chỗ nào để áp dụng Gia Quy, lấy lỗi lầm nào để trị , vì họ viết đúng chủ trương của mỗi phòng qui định . Ví như năm 2005 , tôi quán chiếu thấy cư sĩ GS001 vào chùa Đất Việt phá suốt hai năm . God thì ông ta cứ in đậm , chữ to " GOD TÀO LAO " , phải chi một lần , mà lần nào ông cũng la ầm như thế . Còn các Phật tử thì ông chê người thì vô minh , người thì ông ta gọi là Phật Tử DỐT . Tội cho ông Thiện giữ chùa hồi đó cũng không làm sao đem Cái Gia- Gia ra mà trừng phạt đựơc . Tôi nhảy vào cuộc , không nói nặng , cũng không có quyền đem cái Gia Gia ra dọa dẩm ông ta , tôi đóng vai một tín hữu ( con chiên ) và tranh luận suốt 3 tháng với GS001 , tôi bênh vực và chứng minh "GOD NEVER TÀO LAO ". Ông GS001 bảo God có vợ đâu mà cho con một ( Jesus) chịu hy sinh trên Thánh giá ? Tôi đã phản biện đưa đến sự bí lối của ông ta , cuối cùng ông GS bị banned.

    Đức Phật dạy " Ác lai thì ác báo " . Lấy ĐỨC mà trị dân , lấy Tâm mà sống với đạo , lấy từ bi , hỹ xã mà sống với chúng sanh . Không nhất thiết lúc nào cũng cứng rắn đem luật ra mà trị , đó là kế hạ sách của những người trí .


    -Ngày thứ tư tôi quán chiếu trở lại ông "Người Thiện " , sau câu biểu ngữ " Quốc Pháp ... Gia quy " , trên vách tường dưới ánh đèn lờ mờ có ai viết bài thơ của Lục Tổ Huệ Năng khi xưa thì phải :

    Bồ Đề bổn vô thụ ,
    Minh cảnh diệt phi đài .
    Bổn lai vô nhất vật ,
    Hà xứ nhạ trần ai .


    Nhưng quán chiếu nhìn kỷ thì không phải , mà là bài thơ của ai đề tặng về " Happy birthday " cho ông Thiện.

    -Qua những ngày tiếp , tôi quán chiếu thấy khổ đau, nguyên nhân của khổ đau, sự đoạn tận của khổ đau, con đường đưa đến đoạn tận khổ đau, và đã chứng . Vì vậy tôi nguyện sau này không làm cho ai khổ đau nữa , tôi sẽ nguyện đọan diệt hoàn toàn . Thực ra khi quán chiếu những điều ở trên cũng làm nhiều người khổ đau , nhưng đó là sự thật và tôi chỉ nói đây là lần chót . Tôi nguyện đọan diệt khổ đau nên mới thuật lại những điều mình quán chiếu một lần và chỉ một lần rồi thôi , mong những AI ĐÓ cũng đừng gây khổ đau sau lưng người khác bất cứ dưới hình thức lén lút nào .

    Tôi chứng đắc quả vị Chánh đẳng ,Chánh giác khi ngày thứ 7 cũng vừa chấm dứt , tuy không đạt đựơc VÔ THƯỢNG như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni , nhưng cũng đạt đến mức độ giác ngộ tối thiểu , cuộc đời còn muôn ngàn vô lượng kiếp , tôi sẽ nguyện tiếp tục tu hành ở những kiếp sau để đạt đến vô thượng Bồ Đề .
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  3. #63
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Trong Mắt Tôi .

    ÂN ÓAN VÀ HẬN THÙ .

    Nhân nói đến câu "tu vạn kiếp, ngộ nhất thời" của người đời thì ra chuyện tu cũng dễ đấy chứ ? Có lẽ đây cũng là một môn phái ,không biết có nằm trong 84 vạn cách tu của Như Lai không ? Vì họ đưa cách" tu tâm dưỡng tính thì không cần phải gõ mõ tụng kinh mỗi ngày hay phải ngồi thiền mới có thế đạt được, mà trước tiên mình phải hiểu được mình đang làm gì và xuất phát từ tâm thiện = tâm Phật .. hay ác = tâm ma !" Có phải " bản lai diện mục " hay cách tu " trực chỉ chân tâm " mà tôi đã từng đưa ra . Biết đâu họ cũng là một " Thanh Hải Vô Thượng Sư " thứ hai thì sao ? Ai cũng có tâm Phật và thành Phật đựơc mà . Chỉ có điều tâm nó to hay nhỏ , tròn hay méo , ở trong hay ở ngoài thân .......... Hay chỉ là do chuyện Ân Oán, tức là chuyện ân nghĩa thì đi theo ca tụng và chuyện oán thù thì tìm dịp " luồn gió bẻ măng " . Theo thói thường, con người chóng quên chuyện ân nghĩa, nhưng chuyện oán thù thì nhớ đời đời, sống để dạ chết mang theo , cứ nấp lén , rình mò có dịp là ra tay trả đủa ngay . Cho dù không cầm dao chém , búa bổ ngang lưng cũng viết vài câu chửi xéo , chửi xiên cho thỏa dạ . Có người quan niệm: Ân đền oán trả , hay óan thù mười năm báo cũng chưa muộn . Kẻ thù không đội trời chung .

    Tôi cho rằng , một nguyên nhân khác cũng thường đem lại sự bất an trong nội tâm của con người, cùng một nghĩa, hay tương đương, đó là: chuyện thương ghét. Con người thường đem lòng thương yêu những người đem lại ích lợi, đem lại an vui hạnh phúc cho mình và ghét bỏ những người gây ra thiệt hại, hoặc đem phiền não khổ đau đến cho mình. Trên cõi đời này, con người thương yêu người khác thì rất ít, nhưng ghét bỏ thì rất nhiều , nhất là nữ giới . Nhưng mấy ai biết đựơc rằng : chuyện ân oán và chuyện thương ghét chính là những nguyên nhân, dẫn dắt chúng sanh vào vòng sanh tử luân hồi, nhận chìm chúng sanh trong biển khổ đau, không bao giờ dứt, nếu không biết tìm cách thoát ra. Cho nên họ cứ khổ đau và đau khổ vì tình yêu ... Yêu là chia một quả tim
    Là trao một nửa, là thêm một lần ...!
    , nghe răng mà khổ rứa hỷ ? Tại sao họ không tìm cho mình một lối thóat , họ phải biết để tâm họ về hướng Phật mà tu niệm , nguyện đem lòng Từ Bi , Hỹ Xã sống với chúng sanh .Hay vì kiếp trước tàn ác , chua ngoa nên kiếp này mới tái sanh làm thân nữ , mà loại thân nữ đau khổ vì tình , có lẽ là thân nữ loại ma chê , quỹ hờn hay loài ma cô , đĩ điếm mới bị đàn ông khinh rẽ như vậy.

    Vì tình yêu đã nhiều lần gây cho họ khổ đau , những chuyện yêu thương trai gái vụn vặt , những nỗi khổ đau xảy ra hàng ngày , hàng giờ trên thế gian, nhiều ví như cát trên sông Hằng , như biển cả mênh mông, với hàng vạn ngọn sóng cao ngất, liên tiếp đổ ập lên đầu con người và nhận chìm xuống vũng lầy khổ đau , như muốn nhận chìm những tâm hồn mê muội và có tâm thù hằng , bỏn xẻn , hơn nữa những lọai người này không có đủ nghị lực vươn lên, để tự giải thoát khỏi sự đau khổ của kiếp luân hồi, để sống một cuộc đời an nhiên tự tại . Điều mà Phật giáo thường nhắc nhở là lòng Từ Bi , Hỹ Xã mới cứu vớt những người đang khổ đau như vậy .

    Đối với cá nhân tôi khi làm ơn cho ai , giúp đở ai từ việc làm hay lời nói là tôi quên ngay chuyện đã làm . Tuy nhiên,chúng ta cũng nên biết , khi đã thọ nhận sự giúp đỡ, sự quan tâm, sự chiếu cố, bất cứ từ đâu đến, bất cứ do ai làm, dù lớn lao hay nhỏ nhặt đến đâu, người biết tu tâm dưỡng tánh, phải biết tri ân và báo ân, tức là biết ơn và đền ơn mặc dù người ra ơn không còn nghĩ đến . Chuyện đời cũng xảy ra không hiếm , cùng chung loài người nhưng chuyện ân óan cũng nhiều khi không mấy phân minh " cứu vật trả ơn , cứu nhân nhân trả óan " là chuyện thường tình . Trên cõi đời này, chuyện ân nghĩa biến thành oán thù rất dễ dàng, như trở bàn tay. Ngược lại, chuyện oán thù trở thành ân nghĩa thực là khó khăn vô cùng, chỉ có những bậc Thánh hiền, hoặc những người biết tu tâm dưỡng tánh, tức là những người muốn sống an lạc hạnh phúc, mới có thể thực hành được mà thôi.

    Cũng có người khi nói ra những lời vô thưởng vô phạt chẳng có dụng tâm, chẳng có tà ý, chẳng ám chỉ ai, hoặc trời cho có tài ăn nói khéo léo , viết văn trôi chảy , lúc online khiến cho những kẻ khác sanh tâm ganh tị, bảo sao chẳng tức, chẳng giận cho được , chém giết thì không có quyền hành , chỉ còn " xút gió bụi tre " cho chúng chém giết lẫn nhau ngầm trả mối hận thù , họ luôn luôn nuôi chí " làm sao giết đựơc người trong mộng , để trả thù riêng dám chọc bà .... " . Con người thường hay, trả thù báo oán, nên tìm mọi cách, trả đủa cho hơn, cho thỏa tâm tham, cho vừa tâm sân, cho hợp tâm si, thử hỏi như vậy: bao giờ oán thù, mới được chấm dứt, cuộc đời mới được, bình yên vui vẻ? Tôi viết những lời này là để phân tích cho họ hiểu chứ KHÔNG NHẰM BÁO THÙ hay trả óan gì cả , mà đây là một vấn nạn thường tình trong xã hội loài người đang sống với nhau mà thôi .

    Những lời khó nghe chúng ta cứ bỏ qua như gió thỏang , mây bay đừng lưu trữ lời lẽ khó nghe đó trong kho tàng tâm thức của mình, tức là quên luôn đi, bỏ qua luôn, không nhớ tới nữa, mới thực là khó , ngay cá nhân tôi đã từng quán chiếu như vậy nhiều lần , nhưng cũng vượt qua chậm chạp , tôi nguyện tiêu trừ , triệt bỏ từ từ , vì mình đang tu mà .....

    Tôi cũng biết rằng : "Một sự nhịn chín sự lành" nhưng đôi lúc mình nhịn thì họ leo lên đầu ngồi cười .

    Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:

    "Lấy oán báo oán, oán nghiệp chồng chất .
    Lấy ơn báo oán, oán nghiệp tiêu trừ ".


    Phải cảm hóa người ác bằng giáo huấn Từ Bi trong câu chuyện về kẻ sát nhân Angulimala trong kinh điển Pali đã minh họa một cách hùng hồn cho tâm từ bi vô lượng của Đức Phật đã chuyển hoá được tâm của một tên sát nhân hung bạo như thế nào và cũng cho thấy sức mạnh của lòng từ bi :

    Một buổi sáng, đức Thế Tôn vào thành, đang bưng bát đi khất thực thì nghe có tiếng chân chạy phía sau. Ngài biết rằng Angulimala đang đuổi theo, nhưng vẫn bình thản bước đều. Angulimala lớn tiếng gọi:

    -“Ông khất sĩ kia, đứng lại!”

    Thế Tôn vẫn tiếp tục đi, không mau hơn, không chậm hơn. Phong độ của Ngài rất an nhiên tự tại.

    Thấy vậy, Angulimala lớn tiếng hơn:

    -“Đứng lại! ông khất sĩ kia, đứng lại! “

    Đức Thế Tôn thản nhiên tiếp tục bước đi, vẻ tự tại vô úy. Angulimala chạy mau hơn chỉ trong khoảnh khắc đã đuổi kịp và la lên:

    -“Tôi bảo ông dừng lại, tại sao không dừng?”

    Thế Tôn vẫn bước đi, nói với giọng bình thản:

    - “Này Angulimala! Ta đã dừng lại từ lâu rồi, chính anh mới là người chưa dừng lại.”

    Angulimala không thể hiểu được ý nghĩa của những lời này. Vì thế y lại hỏi:

    -"Này khất sĩ, tại sao ông nói rằng ông đã dừng lại còn tôi vẫn chưa dừng?"

    Đức Phật đáp:

    - "Ta nói rằng ta đã dừng lại vì ta đã từ bỏ việc giết hại chúng sanh. Ta đã từ bỏ thói bạo hành, tàn sát mọi loài và ta đã an trú vào lòng từ đối với muôn loài, lòng kham nhẫn và trí tuệ do tư duy quán sát. Song ngươi vẫn chưa từ bỏ việc giết hại và đối xử tàn bạo với người khác cũng như chưa an trú vào lòng từ bi và kham nhẫn đối với mọi loài hữu tình. Do đó, người vẫn là người chưa dừng lại".

    Thái độ điềm đạm và câu trả lời của Phật đã làm cho Angulimala kinh ngạc và đột nhiên buông dao hối hận. Phật liền làm lễ thế phát cho Angulimala trở thành một tu sĩ ngay tại chỗ. Từ đó về sau, Angulimala (pháp danh mới là Ahimsaka) đã tu tập rất tinh tấn, trở thành một trong những đệ tử lớn của Phật và đạt được giác ngộ .


    Những lúc tâm không đựơc thanh tịnh vì chuyện đời thường , lòng sân hận sẽ đưa đến đổ vỡ và khổ đau không những cho mình và những người chung quanh , mà còn làm cho cuộc sống không an vui hạnh phúc . Tôi vẫn nguyện rằng : nếu có dịp giúp đỡ được những người đó, trong lúc họ gặp khó khăn hay thất tình , đau khổ , chúng ta có nhiều cơ hội hóa giải oán hờn, biến thù thành bạn. Như vậy chắc chắn tốt đẹp, hơn là tiếp tục tranh chấp, thù hận, để rồi nơm nớp lo sợ bị trả thù, phập phồng âu lo, đời sống không lúc nào được bình an .

    Nếu chúng ta ai cũng sẵn sàng tha thứ lỗi lầm cho người khác, cũng như đã từng nhiều lần trong đời, tha thứ cho chính bản thân mình, thì cảnh giới Thiên đàng - Niết bàn - Cực lạc chính là ở thế gian này vậy .Tôi lấy lời cầu nguyện trong Kinh Từ Bi thuộc Kinh tạng Pali để kết luận :

    "Nguyện cho đừng loài nào sát hại loài nào, đừng ai coi nhẹ tính mạng của ai, đừng ai vì giận hờn hoặc ác tâm mà mong cho ai bị đau khổ và khốn đốn.”
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  4. #64
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Trong Mắt Tôi .

    ĐAU VÀ KHỔ.


    Vì có đau nên mới khổ , nhưng có lúc đau mà không khổ hoặc khổ mà không đau hay vừa đau vừa khổ . Biên giới giữa đau và khổ vốn khó mà phân định .Ví dụ :

    - ĐAU : Bạn chạy vấp té chảy máu nên chân rất đau , đau này là thể xác .

    - KHỔ : Cuộc đời làm mải không có tiền đủ sống , phương tiện vật chất thiếu thốn , nên đời sống thấy khổ , khổ này là khổ vật chất nhưng chưa hẳn làm đau thể xác .

    - VỪA ĐAU , VỪA KHỔ : Bạn bị cơn bệnh ngặt nghèo , gây nên sự đau đớn cho thể xác , nhưng không có tiền đi Bác sĩ , tiền mua thuốc do nghèo khổ , nên đành ôm cái đau vì do khổ mà nên .

    Từ cái đau của thân thể con người có tánh hay ôm chặt lấy bản thể chủ quan và có tánh cách vị kỷ. Đối với chủ trương của Phật hoàn toàn không nhắm vào mục đích đó. Vấn đề Khổ Đế trong Phật giáo chỉ cho con người thấy cái bản chất phổ biến và không tránh khỏi cho con người trong màn ảo vọng của vô minh và do vị kỷ mà gây ra .

    Isha de Lubicz, trong cuốn The Opening of the Way (1979), phân định rỏ ràng những khác biệt quan trọng và cơ bản giữa khổ và đau:

    "Cho mỗi hình thức vị tha chân thực thì có một sự giả dạng của vị kỷ. Từ Bi (Compassion) có nghĩa rằng trong mối tương đồng của tâm thức, chúng ta cảm nhận được cái khổ của kẻ khác. Nhưng chỉ những ai thực sự yêu thương bằng một Tình yêu không dựa trên cái ta (impersonal Love), không mang một bóng dáng phản ứng vị kỷ, mới có thể đem trái tim mình đến với tha nhân nhằm làm nhẹ cái khổ của họ bằng lòng Từ Bi có hiệu quả.

    Nhưng hãy đừng nhầm lẫn giữa khổ và đau. Đau là kết quả của mất quân bình, hay là bất hòa, giữa ước vọng cá nhân đối với ý chí siêu hình nội tại. Đau có thể là kết quả của nghiệp căn hay là của vô minh đang là; nhưng tâm thức có thể vượt qua cái đau dù rằng cái khổ thì không tránh khỏi. Đau là sự phản ứng của cá tánh trên mặt thể xác hay là tình cảm. Nhưng khổ là sự vật lộn trong điều kiện phân chia giữa điều kiện thực tại đối với điều kiện mà cá nhân muốn đạt đến, và cái nỗ lực muốn trở lại toàn hảo tạo nên mối căng thẳng này.

    Khi có sự phản kháng trên bình diện cá nhân, thân thể hay đạo đức, thì kết quả là đau; nhưng nếu điều kiện này được chấp nhận thì cái đau có thể sẽ được loại trừ để chuyển hóa thành nỗi khổ. Khổ chính là một sự thử thách (trial); và sự đối ứng nghiêm túc trong trường hợp này có thể biến thử thách thành niềm hoan lạc. Khổ là trường học và là điều kiện cần có cho tâm thức. Từ Bi đồng ý sinh nghiệm những thử thách của sự khổ của nhân loại để thăng hóa chúng. Đó là một hành động Yêu thương chân thực."

    Tôi nghĩ , nếu theo quan niệm của Isha de Lubicz thì Đau này là thuộc mặt tinh thần , đạo đức hay tâm linh . Ví dụ : Anh ta đau khổ vì thất tình . Do tình yêu không đựơc như ý muốn nên anh ta cảm thấy nhức nhối con tim " như là đau " vậy , từ chỗ đau ( tinh thần ) đó nên anh cảm nhận sự khổ ( tinh thần ) . Theo như Isha quan niệm thì cái ĐAU và KHỔ này phải gắn chặc và đi đôi với nhau . Có Đau thì mới Khổ . Theo tôi nghĩ nếu anh ta không ĐAU thì chưa hẳn đã khổ vì tình yêu , cho nên sự nhìn này như là một phiếm diện .

    Nói cho dễ hiểu hơn cái Đau và Khổ thuộc tinh thần ( tâm linh ) gắn chặc lẫn nhau . Ví dụ : bớt chút lòng si mê, hận thù chúng ta bớt được chút khổ đau,bởi vì mê thì mất tiền, mất của, hận thù thì không còn ai là bạn bè và sẽ mất tất cả .

    Theo Kinh Phật , tiết mục 31 (XVI, III) :

    ** Có tất cả 12 thứ khổ:

    1. Sinh là khổ;

    2. Già là khổ;

    3. Chết là khổ;

    4. Buồn rầu là khổ;

    5. Than khóc, than vãn là khổ;

    6. Ðau đớn, khó nhọc là khổ;

    7. Sầu tiếc, thương tiếc là khổ;

    8. Thất vọng là khổ;

    9. Sống gần vớí người, vật mình không thương yêu là khổ;

    10. Xa lìa người, vật mình thương yêu là khổ;

    11. Không được những gì mình muốn là khổ.

    12. Ngũ uẩn đeo níu là khổ (Thủ ngũ uẩn).

    Chúng ta chú ý ở đây Buddhaghosa không nhắc đến bệnh khổ, vì bệnh khổ thuộc về đau đớn và cũng có những trường hợp mà không có người bệnh . Trong kinh Dìgha Nikàya (Trường Bộ Kinh) (ii, 305) cũng không có nhắc đến bệnh khổ.

    Vậy thì Đau Khổ là chúng ta nghĩ đến về tinh thần , còn khổ mà không đau hoặc đau mà không khổ hay vừa đau vừa khổ nó gần như ở trạng thái thể xác nhiều hơn .
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  5. #65
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Trong Mắt Tôi .

    ĐỨC MẸ.

    Khi nói đến hai chữ ĐỨC MẸ thì ai cũng tưởng là Mẹ Maria sinh ra Chúa Jesus , nhưng Phật Giáo cũng có Đức Mẹ đó là Ngài Bồ Tát Quán Thế Âm . Đã là Mẹ thì lúc nào cũng dịu hiền , nhẫn nhục , thương con và cũng KHỔ VÌ CON . Trên phương diện giúp con , cứu con , dạy dỗ con v.v.... thì hai bà Mẹ này hoàn toàn khác hẳn nhau . Chúng ta thử tìm hiểu và phân tích tình thương và cách cứu độ của hai bà Mẹ này :

    1-MẸ MARIA:

    Đối với đạo Công Giáo, vai trò của Đức Trinh Nữ Maria hết sức quan trọng, được phản ánh qua sự kiện là trong mỗi thánh đường Công giáo đều có một bàn thờ hay là nơi chốn riêng dành để tôn kính Đức Mẹ Maria với nhiều tước hiệu như: Mẹ Thiên Chúa, Đức Nữ Trinh, Đức Mẹ Hòa Bình, Mẹ Mân Côi, v.v... Hiến Chế công Đồng Vatican II về Giáo Hội ban hành ngày 21-11-1964 được các nghị phụ Công Đồng bỏ phiếu chấp thuận đã thêm các tước hiệu này cho Đức Maria, đó là "Đấng Bầu Cử", "Đấng Trợ Giúp" và "Đức Nữ Trung Gian".
    Căn cứ theo Thần học Công Giáo, dù Đức Maria có tinh tuyền thế nào chăng nữa, Ngài cũng vẫn là một thụ tạo , và cũng cần được ơn cứu độ. Đức Maria là người duy nhất trọn vẹn thánh thiện, nhưng Đức Maria không bình đẳng với Đấng Kitô Cứu Thế được. Dầu vậy mặc lòng thì các thánh Giáo Phụ đề xem vai trò của Đức Maria là rất quan trọng trong công trình cứu độ loài người của Đức Kitô .

    Tại sao các nhà thờ công giáo lập bàn thờ riêng cho Mẹ Maria ? Theo tôi nghĩ , đó là một nơi dành cho những con chiên muốn cầu nguyện , xin ân đức với Mẹ . Ngay tại mỗi nhà và hàng đêm người tín hữu đọc kinh cầu nguyện Mẹ Maria nhiều nhất . Mỗi lần khổ đau , hay muốn cầu cứu một sự việc hoặc muốn đến gần bên Mẹ như là sự an ủi về tâm linh cần có , cách cầu nguyện được ưa chuộng nhất là dùng Tràng Chuỗi Mân Côi. Đây là hình thức tụng kinh lập đi lập lại như một lời chào dâng lên Mẹ, vì đó cũng chính là lời chào ca tụng của Thiên sứ Gabriel kính chào Đức Trinh Nữ Maria và loan báo tin mừng mời gọi Maria làm Mẹ Thiên Chúa. Cách thức đọc kinh Mân Côi gồm việc đọc một Kinh Lậy Cha, 10 Kinh Kính Mừng và Kinh Sáng Danh.

    Do lòng sùng kính và tin tưởng Mẹ là nguồn an ủi lớn nhất của con người , Mẹ là bao la , biển cả . Những lúc tâm hồn trống rổng , thất bại trên đừơng đời , khổ đau vì tình yêu , vì gia đình bất hạnh v.v...... chỉ đến với Mẹ và tâm sự vì ai cũng tin rằng Mẹ là người hiểu nhất và có thể đem lại niềm an ủi trong cuộc đời . Có thể nói rằng không ai hiểu mình , thương mình bằng Mẹ , dù cho con cái làm những việc sai trái , tàn ác Mẹ vẫn tha thứ và bỏ qua . Đặt ra ngoài chuyện Khoa học ( Science ) và Tâm lý học (Psychology ).... tôi chỉ nhấn mạnh đến tiềm năng về đức tin ( Faith ). Tâm lý con người khi yêu thương , nhớ nhung về ai , thì hình ảnh đó sẽ ngự trị trong tim mình và hiển hiện ra trong trí não hay hiện ra trước mắt . Đó là một vấn đề thuộc về Thần học mà ngay Khoa học cũng chưa chứng minh đựơc . Từ những đặc tính đó cho nên hình ảnh Mẹ Maria hiện ra trên Thế giới nhiều lần ,dù có thật hay không nó cũng mang tính chất Tâm lý . Riêng tại Việt Nam Mẹ cũng hiện ra nhiều nơi như : Đức mẹ hiện ra ở La Vang bắt đầu vào năm 1798 thời vua Cảnh Thịnh của Phong trào Tây Sơn , Tháng 08/2003, tại khu vực đồi Chuối, xã Phú Lâm, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai ,Đức Mẹ khóc tại giáo xứ Bạch Lâm, thuộc địa bàn xã Gia Tân 1, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai từ ngày 7/7/2008 , 04-11-2005 Mẹ khóc tại nhà thờ Đức Bà SaiGon , 25-7-2008 Đức Mẹ vỗ tay ở Sóc Trăng , 13-6-2008 Đức Mẹ làm dấu lạ ở La vang .........


    Đức Mẹ khóc .



    Đức Mẹ chảy máu mắt .


    ĐỨC MẸ KHI NÀO CŨNG KHÓC - VÌ SAO?

    <object width="425" height="344"><param name="movie" value="http://www.youtube.com/v/qJ_7DFwNH-M&hl=en&fs=1"></param><param name="allowFullScreen" value="true"></param><param name="allowscriptaccess" value="always"></param><embed src="http://www.youtube.com/v/qJ_7DFwNH-M&hl=en&fs=1" type="application/x-shockwave-flash" allowscriptaccess="always" allowfullscreen="true" width="425" height="344"></embed></object>
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  6. #66
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Trong Mắt Tôi .

    ĐỨC MẸ MARIA (tiếp theo )


    Trước khi tôi có vài nhận định ( theo ngu ý của tôi ) , mời các bạn tìm hiểu sơ qua Tiểu sử của Mẹ Maria :

    TIỂU SỬ :

    Tiểu sử về Maria được biết đến rất ít trong Tân Ước. Maria có họ hàng với Elizabeth (vợ của tư tế Zachariah) thuộc dòng dõi Aaron (Luke 1:5, 1:36). Theo phỏng đoán thì Maria sống cùng với cha mẹ tại Nazareth, xứ Galilee khi đã đính hôn với Joseph (Giuse), dòng dõi nhà David. Một số học giả bảo thủ cho rằng, Joseph là con cháu Vua David (vì nhiều suy đoán hợp với phong cách ngôn từ và và việc giới thiệu gia phả trong Phúc Âm Matthew). Trong thời gian đã hứa hôn (là thời kì đầu theo phong tục Do Thái), Maria được thiên thần Gabriel đến báo tin rằng cô sẽ trở thành mẹ Đấng Messiah theo ý định của Thiên Chúa. Joseph chưa nhận ra việc mang thai của Maria là do quyền năng siêu nhiên của Chúa Thánh Thần nên tỏ ra băn khoăn và muốn bỏ Maria cách kín đáo. Nhưng trong một giấc mơ, Joseph được thiên thần bảo đừng lo nghĩ mà hãy nhận Maria về làm vợ mình để hợp với lề luật.

    Khi được thiên thần báo tin về việc người chị họ Elizabeth mang thai lúc tuổi già, Maria vội vã đến thăm Elizabeth (Luke 1:39). Vừa đến nhà, Maria thiết tha gọi Elizabeth thì được Elizabeth đáp lời bằng câu: "Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?" và họ đã đọc một bài Thánh ca Ngợi khen mà được biết đến nhiều với cái tên Magnificat (Luke 1:46). Ba tháng sau, Maria quay trở về nhà mình. Theo Phúc âm Luke, một sắc lệnh của Hoàng đế La Mã Augustus quy định, Joseph phải cùng hôn thê mình về Bedlem (gần Jerussalem) để đăng kí nhân khẩu. Khi họ đang ở Bedlem, Maria đã sinh ra Giêsu và đặt con trẻ trong chiếc máng cỏ vì họ không tìm được nhà trọ nghỉ chân. Sau tám ngày, con trẻ được cắt bì và gọi tên là Giêsu, đúng như những gì Joseph được thiên thần chỉ dạy trong giấc mơ. Sau cuộc viếng thăm của ba nhà đạo sĩ Phương Đông, gia đình Nazareth phải lánh sang Ai Cập. Khi Vua Herod "Cả" chết, họ mới quay trở về. Năm 12 tuổi, trên đường từ Jerussalem trở về sau Lễ Vượt Qua, Maria và Joseph bị lạc mất Giêsu và họ tìm thấy Giêsu trong Đền Thờ đang trò chuyện cùng với những thầy dạy. Sau khi Giêsu chịu phép rửa bởi John the Baptist và bị ma quỷ cám dỗ trong hoang địa, Maria lại được biết đến trong một tiệc cưới ở Cana, khi đó, Giêsu đã biến nước lã thành rượu và bắt đầu công việc giảng đạo (Jonh 2:1-11). Trong Mark 6:3, Maria còn được giới thiệu cùng với những người anh em của Giêsu: "Ông ta không phải là bác thợ, con bà Maria, và anh em của các ông James, Jpseph, Judas và Simon sao? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao?". Trong cái chết của Giêsu, Maria đứng cạnh người môn đệ Giêsu yêu quý, cùng với bà Maria vợ ông Clopas và bà Maria Magdalene (John 19:25-26). Maria cũng là người đã ôm xác Giêsu nhưng chi tiết này không được ghi chép trong Kinh Thánh, đó là một mô-típ nghệ thuật phổ biến gọi là "pietà" hoặc "piety" (tạm dịch là "Mẹ đồng trinh ôm xác Chúa").

    Kể từ lúc này, Maria không còn được nhắc đến trong Kinh Thánh, dù vậy, vẫn được một số nhóm Cơ Đốc giáo nhớ đến, đặc biệt liên tưởng đến hình ảnh Người phụ nữ và con mãng xà trong Sách Khải Huyền. Việc Maria qua đời cũng không được Kinh Thánh ghi chép. Nhưng Phúc âm James (không được xem là một bộ phận của Tân Ước) còn cung cấp những tư liệu về Maria, và được Chính thống giáo Đông phương coi là hợp lý: Maria là con gái của Joachim và Anna. Trước khi có thai Maria, Anna được coi là hiếm muộn. Khi Maria ba tuổi, họ đưa Maria đến sống trong Đền Thờ Jerussalem, điều này trùng hợp với sự kiện Hana đưa Samuel vào Lều Thánh được ghi trong Cựu Ước.

    Công giáo La Mã và Chính thống giáo Đông phương tin rằng, trong khoảng 13 đến 15 năm sau khi Chúa Giêsu lên trời thì Maria qua đời (có thể tại Jerussalem hoặc Ephesus) trong sự chứng kiến của các Tông đồ. Sau đó không lâu, các Tông đồ mở hầm mộ Maria ra thì bên trong chẳng còn gì, và họ xác quyết rằng xác Maria đã được mang về Thiên Đàng. (Nhưng mãi đến Thế kỉ thứ 6 người ta mới tìm ra ngôi mộ này tại Jerussalem và Giáo sư Holger người Đức lại tìm ra ngôi mộ có bia đá khắc tên " MARIA CHI MỘ " chôn tại ẤN Độ , vì ông khám phá ra rằng bà Maria theo Giesu sống ở Ấn Độ sau khi thoát chết )
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  7. #67
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Trong Mắt Tôi .

    **** Đối với Đức Mẹ Maria nhưng niềm tin khác nhau , sau đây là bản so sánh :



    Một số niềm tin tương đồng và dị biệt về Maria giữa Công giáo và Hồi giáo.

    Công giáo
    :

    1-Là mẹ Thiên Chúa: Vì tin rằng Giêsu vừa là Thiên Chúa, vừa là con người, nên mẹ của Người cũng là mẹ của Chúa Mẹ của tiên tri Giêsu: Vì không tin Giêsu là Thiên Chúa làm người, mà chỉ là một nhà tiên tri mà thôi .

    2-Trọn đời đồng trinh: Giuse là hôn phu, nhưng Mary vẫn đồng trinh trọn đời Trọn đời đồng trinh: Sau khi sinh hạ tiên tri Giesu sống suốt đời đồng trinh .

    3-Người nữ được nhiều ơn phúc nhất vì cưu mang Giêsu Người nữ được nhiều ơn phúc nhất vì cưu mang Giêsu .

    4-Cao trọng nhất trên thiên đàng Cao trọng nhất trên thiên đàng .

    5-Cả hồn và xác đều được lên trời Chết và được chôn như người bình thường .

    6-Vô nhiễm nguyên tội Không tin vào nguyên tội, vì thế không có khái niệm Vô nhiễm nguyên tội .

    Hồi Giáo :


    1-Mẹ của tiên tri Giêsu: Vì không tin Giêsu là Thiên Chúa làm người, mà chỉ là một nhà tiên tri mà thôi .

    2-Trọn đời đồng trinh: Sau khi sinh hạ tiên tri Giesu sống suốt đời đồng trinh .

    3-Người nữ được nhiều ơn phúc nhất vì cưu mang Giêsu .

    4-Cao trọng nhất trên thiên đàng .

    5-Chết và được chôn như người bình thường .

    6-Không tin vào nguyên tội, vì thế không có khái niệm Vô nhiễm nguyên tội .




    Hồi Giáo tin Mẹ Maria "Chết và được chôn như người bình thường ." Nay theo Giáo Sư Hol người Đức khám phá ngôi mộ Mẹ Maria chôn tại Ấn Độ (có bia đá tên Maria chi mộ ) , khi Chúa Jesus và Mẹ trú tại đây .
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  8. #68
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Trong Mắt Tôi .

    Nhận định :

    Hôm nay tôi không đặt trọng tâm phân tích và nhận định theo Khoa học , Đức tin trong vấn đề " Vì sao Mẹ Maria hay khóc có khi đến chảy máu mắt " , mà tôi chỉ nhận định về mặt Tâm Lý Học ( Psychology ) . Khoa học đem phân chất nước mắt thì họ hoàn toàn bác bỏ , đưa đến kết luận là độ ẩm trong ciment rịn ra , hoặc do sương , ve sầu đái v.v.... Còn Đức tin là lòng tin của mỗi con người ( dù đúng hay sai ) đối với tôn giáo , nhất là Mẹ Maria , nhưng trên mặt tâm lý thì khó ai từ chối , bác bỏ đựơc vì Mẹ cũng là một người phụ nữ như hàng triệu người phụ nữ khác , không mang một biệt lệ đặc biệt nào như Giáo Hội méo mó giải thích.

    Bản tánh tự nhiên của phụ nữ hầu hết là nhạy cảm , đa sầu ( hay khóc ) , nhẹ dạ , lòng thương với gia đình , con cái rất là bao la , lúc hận thù thì nhớ dai ,chung thuỷ , dịu hiền và dễ mến v.v.....

    Đức Maria sống cùng với cha mẹ tại Nazareth, xứ Galilee khi đã đính hôn với Joseph (Giuse), dòng dõi nhà David. Một số học giả bảo thủ cho rằng, Joseph là con cháu Vua David . Trong thời gian đã hứa hôn (là thời kỳ đầu theo phong tục Do Thái), Maria được thiên Thần Gabriel đến báo tin rằng cô đã trở thành mẹ Đấng Messiah theo ý định của Thiên Chúa. Ngày xưa Trung Đông thuộc về châu Á , đây là một châu phát xuất những đấng lãnh đạo các tôn giáo lớn như Kito , Bà La Môn , Phật Giáo ........ Bản chất người phụ nữ Châu Á hầu hết là kín đáo , bị ràng buộc đến độ mất hết quyền tự do làm người như đi đứng , làm việc , ra ngoài xã hội lẫn trong gia đình ...... nghĩa là phụ nữ giống như một công cụ , đôi lúc gần như nô lệ của đàn ông , hoàn toàn bị ràng buộc do lễ giáo . Họ không đựơc học hành , giao tiếp với đàn ông , kể cả lúc có chồng con cũng phải kín đáo che mặt , hay ra đừơng phải có chồng đi theo ( Hồi giáo ) , hoặc ràng buộc bởi luật " Tam tòng , tứ đức " ( Trung Hoa , Việt Nam ) . Từ những yếu tố xã hội , tập tục cổ truyền đã in sâu vào người con gái lúc mới ra chào đời .

    Ông Joseph nhận ra việc mang thai của Maria là do quyền năng siêu nhiên của Chúa Thánh Thần nên tỏ ra băn khoăn và muốn bỏ Maria cách kín đáo. Nhưng trong một giấc mơ, Joseph được thiên thần bảo đừng lo nghĩ mà hãy nhận Maria về làm vợ mình để hợp với lề luật. Sự thật , bất cứ một người chồng nào khi biết vợ dù chưa cưới hay đã cưới lại mang thai với người khác thì tỏ ra tức giận , bất mãn nhiều khi khủng hỏang tinh thần và điên dại . Riêng bà Maria bị mang thai dù " Từ đầu thai, Đức Maria không hề có đam mê nhục dục " , nhưng chắc chắn là bà không đồng ý trong cuộc nhập thể ( giao cấu - sex ) của Chúa Thánh Thần chứ không bởi một nam nhân trần tục . Làm sao một người phụ nữ đã hứa hôn lại chịu ăn nằm với một người khác , dù là Thánh Thần cũng chỉ là hình thức áp đặt , cưỡng bách . Trên phương diện pháp luật , người cưỡng hiếp ( vì không đồng thuận ) cho dù đó là một vị Thần cũng tội giống dân thường , God thì lại càng nặng tội hơn . Nhưng với đức tin bà Maria và Joseph phải chấp nhận lấy nhau . Về mặt Tâm lý , bà Maria vẫn mang một ấn tượng , mặc cảm tội lỗi suốt cuộc đời ( dù không ai bắt ) đối với người chồng và gia tộc . Những tâm tư thầm kín của phụ nữ ít ai mà hiểu thấu , không nhờ đức tin về Thần linh thì bất cứ người phụ nữ nào cũng muốn tìm cái chết , không muốn sống trong tội lỗi . Nếu không có đức tin thì đứa bé " không muốn mà có " đôi lúc người Mẹ không thích cho nó chào đời , nó sẽ là hình ảnh đau khổ , tội lỗi , mặc cảm vì xấu hổ , tủi nhục , dù không ai nói , nhưng trí não vẫn không dễ dàng xóa mờ đựơc , đó là thuộc về TÂM LÝ HỌC tự nhiên .Đây cũng là nguyên nhân vì sao Kito giáo cương quyết CHỐNG PHÁ THAI hàng chục thế kỷ này , nếu cho phá thai thì không có Chúa Jesus ra đời làm đau khổ bà Maria và cả loài người với tội Tổ Tông.


    Từ những phân tích và lý luận trên dù bất cứ một phụ nữ nào ở vào hoàn cảnh này cũng sống về đau khổ nội tâm một cách dai dẳng không lối thoát . Để giải quyết nổi sầu phụ nữ thường chỉ biết khóc để vơi bớt nổi buồn , lo trong lòng . Nước mắt là giòng suối rửa sạch ưu tư , làm dịu bớt u sầu thầm kín . Khóc là một giải bày tâm sự cho chính mình cùng mọi người . Vì vậy hình ảnh Mẹ Maria hay xuất hiện dưới hình thức KHÓC đôi lúc đến độ CHẢY MÁU mắt lúc hiện ra , hay đứng một mình ở trong , ngoài sân cỏ các thánh đừơng . Trước một sự kiện về Mẹ Maria xảy ra thì hầu hết mọi người ( nhất là con chiên ) đưa ra những lý do :

    -Mẹ vì thương các con bị tù , giết chóc .

    -Vì con bị lưu đày tha phương .

    -Vì chiến tranh hay sống như nộ lệ v.v...

    Nghĩa là tuỳ từng hoàn cảnh và điều kiện để họ giải thích , dù trong tâm theo ý nghĩ riêng mà xét đóan hay đưa lên báo chí ..... Hành động Mẹ khóc là để AN ỦI chứ không phải là CỨU GÍUP , nhưng thực tế chúng ta nào thấy Mẹ có ra tay làm cho kẻ thù bị chết hay làm cho kẻ thù ngừng tay đàn áp đâu ? Theo ý tôi thì những suy luận đó , chung chung là để giải đáp hiện tượng , nhưng tôi hiểu tâm lý của Đức Maria là KHÓC VÌ NỔI BUỒN NGƯỜI CON GÁI kéo dài trong cuộc đời khi bị cưỡng dâm ( to rape ) , dù đó là một vị Thần chỉ dùng hình thức nhập thể qua hình bóng chứ không bằng tình dục thể xác như Thánh Kinh gượng ép giải thích .Nếu không mang tiếng HIẾP DÂM tại sao God không báo mộng trước vài giờ cho bà Maria chuẩn bị tư tưởng là được THỤ NHẬN thay vì sẽ có bầu rồi mới báo tin , đó là cưỡng hiếp.God không thể lầy quyền tối cao để " TIỀN DÂM HẬU THÚ " , điều này là tội lỗi và vô lý.


    Khi các con chiên tin rằng Mẹ hiện thân hay khóc là cứu giúp họ thì đó là ĐỨC TIN . Tôi hoàn toàn tôn trọng niềm tin tôn giáo đó . Đức Maria đã cứu giúp bằng im lặng và buồn thương ( khóc ) như là một sự giúp đở đàn con họan nạn , đau khổ như là một sự an ủi , vỗ về thì không đúng nghĩa .Nhưng thực chất Mẹ khóc vì bị ô nhục ngàn đời do mặc cảm bị hiếp dâm đúng theo Tâm lý học phân tích là thực tế và hợp lý nhất. Đặc biệt là phần lớn Mẹ chỉ khóc và xuất hiện ở nhữNg nước nghèo nàn , kém văn minh và nhiều lần nhất là Việt Nam.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  9. #69
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Trong Mắt Tôi .

    Trước khi vào phần tìm hiểu và nhận định về sự cứu độ của Đức Phật Quán Âm , mời các bạn tìm hiểu sự tích lịch sử :

    Quan Âm Thị Kính .

    Một sự tích được phổ biến tại Việt Nam là Quan Âm Thị Kính, kể rằng ngài đã đầu thai và tu hành 9 kiếp. Trong kiếp thứ 10, ngài được đầu thai làm một con gái trong một gia đình họ Mãng ở nước Cao Ly (ở bán đảo Triều Tiên ngày nay), và được đặt tên là Thị Kính.

    Thị Kính được gả cho Thiện Sĩ của gia đình họ Sùng. Khi ở nhà chồng, Thị Kính giữ phận làm dâu, tôn kính phụng dưỡng bố mẹ chồng. Một hôm, khi Thiện Sĩ đang ngủ sau khi đọc sách, Thị Kính thấy ở cầm của chồng mình có mọc sợi râu. Thị Kính đang may vá nên cằm một con dao nhíp trong tay và sẵn tiện cắt đứt sợi râu. Thiện Sĩ giật mình thức giấc, thấy vợ đang cầm dao gần cổ, tưởng rằng Thị Kính đang định giết mình nên la lên.

    Sau khi Thị Kính kể lể đầu đuôi, cha mẹ chồng vẫn ngờ rằng Thị Kính có âm mưu giết chồng, bắt Thiện Sĩ phải bỏ vợ. Thị Kính phải trở về nhà cha mẹ mình, quyết định xuất gia đi tu. Bà cải trang thành một người nam giới, trốn nhà đến chùa xin đi tu, lấy pháp danh là Kỉnh Tâm.

    Tuy là gái giả trai, Kính Tâm có tướng mạo đẹp đẽ, cho nên có nhiều tín nữ ngưỡng mộ. Thị Mầu, con của một trưởng giả giàu có, trêu ghẹo Kính Tâm, nhưng không được đáp lại. Thị Mầu lại có thai với người đầy tớ. Khi bị tra hỏi, Thị Mầu khai rằng Kính Tâm là cha của thai nhi. Kính Tâm tuy kêu oan nhưng không dám tiết lộ ra bí mật của mình. Sau đó, Kính Tâm phải tu ở ngoài cổng chùa để chùa không bị tiếng tăm.

    Thị Mầu sinh ra được một đứa con trai, đem đứa nhỏ đến chùa gửi cho Kính Tâm. Kính Tâm vì tính thương người, nhận đứa trẻ vào nuôi dưỡng. Khi đứa trẻ lên 3 tuổi thì Kính Tâm bị bệnh nặng. Biết mình sắp chết, Kính Tâm dặn dò đứa trẻ đưa thư cho sư cụ của chùa và cho ông bà họ Mãng.

    Sau khi đọc rõ sự tình, sư cụ kêu người khám xét thi thể Kính Tâm, mới biết rằng Kính Tâm là gái giả trai. Thị Mầu xấu hổ, đành phải tự tử. Thiện Sĩ ăn năn, bèn đi tu, sau này biến thành một con chim.

    Quan Âm Bồ Tát (Thị Kính sau khi chết) cũng cứu độ đứa con nuôi, con ruột của Thị Mầu, đem về Nam Hải, để làm người hầu.

    Do đó, người ta họa hình Quan Thế Âm Bồ Tát đội mũ ni xanh, mặc áo tràng trắng, ngự trên tòa sen, bên tay mặt có con chim mỏ ngậm xâu chuỗi bồ đề, bên dưới có đứa trẻ bận khôi giáp chắp tay đứng hầu.



    Bồ Tát Quán Thế Âm nhờ thực hành hạnh lắng nghe mà thành tựu viên mãn Lục độ. Chúng ta nên hiểu rằng , từ sự lắng nghe sẽ dẫn đến trí tuệ. Ta lắng nghe để thấy rõ chơn vọng của cuộc đời, thấy rõ tác nhân, tác duyên của mọi vấn đề, thấy rõ nhân quả nghiệp báo , như vậy là ta thành tựu trí tuệ Ba - La - Mật.

    Hình ảnh đặc biệt và độc đáo do lòng do TÂM TỪ của Bồ Tát Quán Âm hòan toàn khác với Mẹ Maria . Nơi nào có bất công, kỳ thị, thì nơi đó có Bồ Tát Quán Thế Âm xuất hiện. Ngài đã hoá thân thành Quan Âm Diệu Thiện để chữa lành bệnh cho cha. Ngài đã hoá thân thành Quan Âm Thị Kính bị bà mẹ chồng hiểu lầm, đã nhẫn nhục kiên trì, không nổi tâm thù oán, sân hận. Bồ tát Quán Thế Âm đã hiện làm Tiêu Diện Đại sĩ để nhiếp phục loài đầu trâu mặt ngựa, khiến chúng trở về với đạo đức lương thiện. Trái lại Mẹ Maria lúc xuất hiện chỉ im lặng hoặc thóang hiện như bóng mây , hoặc chỉ biết khóc vì con tim bị rạng nức , mang một vết thương lòng nhức nhối đời con gái bị cưỡng dâm , mà không nhằm cứu giúp , chữa bệnh , mà mục đích khóc là giải bớt nổi oan khiên tích trữ trong lòng .

    So sánh về mặt khoa học hiện đại ngày nay qua làn sóng Radio , Television , Internet ......... khi chúng ta bắt đúng tầng số AM, FM , cable 12 , 34 , 67 ........ chúng ta sẽ nghe đựơc âm thanh hay hình ảnh của đài đó . Cầu nguyện cũng vậy , khi chúng ta có lòng thành cầu đến Ngài Quán Âm hay Mẹ Maria đúng tầng số trên không gian các vị đang ngự trị , các tầng sóng giao thoa sẽ tiếp cận ( bắt gặp ) các Ngài mà ta muốn giúp đở . Muốn đạt đựơc sự cảm thông về mặt Tâm linh đó , chúng ta phải cố ắng thực tập hạnh lắng nghe của Bồ Tát Quán Thế Âm, hy sinh vì hiếu như Quan Âm Diệu Thiện, chấp nhận mọi ngộ nhận để đem lại lợi ích cho xứ sở như Quan Âm Thị Kính, phải biết thể hiện hành động Đại hùng - Đại lực như Tiêu diện đại sĩ để cứu nước, cứu dân, và nghe bất cứ nơi nào có tiếng gọi bị áp bức, thì Bồ Tát liền xuất hiện ở đó, dưới nhiều hình dạng để lắng nghe và cứu hộ mà đôi lúc không cần sự cầu nguyện .

    Hình ảnh Ngài Quán Âm mặc áo trắng , tay cầm nhành dương liễu , đôi lúc cầm bình nước Cam lồ , nét mặt Từ bi , dịu hiền mang nét độc đáo của đức từ tâm và phổ độ Đặc biệt là Ngài Quán Âm KHÔNG BAO GIỜ KHÓC NHƯ MẸ MARIA mặc dù Ngài cũng bị khổ đau , oan ức , miệng tiếng tà dâm với đời khi bị nghi oan làm Thị Mầu có thai , nhưng đựơc rữa sạch khi Bà qua đời và thành Bồ Tát . Ngài Quán Âm không bị sĩ nhục , hại đến thân thể , gây cơn Shock đau đớn lớn nhất đối với ngừơi con gái lần đầu trong cuộc đời bị xúc phạm về thân xác , mà người đó lại không phải là chồng , người yêu lý tưởng để trao thân , gởi phận ,trái tim trinh trắng . Chính vì vậy Ngài Quán Âm không có HẬN TÌNH nên chẳng bao giờ oán hận , tủi hờn để than khóc .

    Đối với Á Châu , nhất là Trung Hoa , Việt Nam vv.... Ðức Quán Âm được nhiều người tôn kính và thờ phụng tin tưởng rất phổ biến , nhất là trong lúc gặp khó khăn hoạn nạn đều hướng về Ngài như là một vị cứu tinh vì danh hiệu Ngài là "Cứu khổ cứu nạn". Những năm gần đây, niềm tin này lại được bộc lộ qua việc thờ Quán Âm ở tại các chùa , tư gia , nhất là ngoài trời hay nơi sân thượng . Việc thờ Quán Thế Âm là một niềm tin mang tinh thần Từ bi của Ðạo Phật nó còn là biểu trưng cho niềm khát vọng hướng tới nguồn tâm linh muốn " lìa khổ để được an vui , hạnh phúc ".
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  10. #70
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Trong Mắt Tôi .

    Về giáo lý Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni luôn luôn khẳng định của Ngài không có phân biệt nam - nữ, đối với người nữ trong Phật giáo tuy không giữ vai trò quan trọng nhưng luôn luôn được xem bình đẳng dù bên cạnh đó là sự ràng buộc của Bát kỉnh pháp mà thời kỳ Ðức Phật quy định trong đời sống Tăng đoàn . Thế giới ngày nay hoàn toàn chấp nhận " CHỈ CÓ PHẬT GIÁO LÀ HÒA BÌNH VÀ BÌNH ĐẲNG NHẤT " , điều này không bao giờ có ở các tôn giáo khác .

    Nhiều bạn thắc mắc hỏi tôi :

    - Tại sao khi thì gọi : Quan Thế Âm Bồ Tát .

    - Khi thì gọi : Quan Âm Bồ Tát .

    Chữ Quan Âm (zh. 觀音, ja. kannon), nguyên là Quán Thế Âm nhưng do tránh chữ Thế trùng tên nhà vua Đường là Lý Thế Dân nên phải gọi là Quan Âm hoặc Quán Âm, là tên của Bồ Tát Quán Thế Âm (zh. 觀世音, sa. avalokiteśvara) để tránh phạm húy với tên vua , tại Trung Quốc, Việt Nam và các nước lân cận. Phật tử Trung Quốc thường thờ cúng Quan Âm bên cạnh các vị Bồ Tát Phổ Hiền (zh. 普賢, sa. samantabhadra), Địa Tạng (zh. 地藏, sa. kṣitigarbha) và Văn-thù-sư-lợi (zh. 文殊師利, sa. mañjuśrī). Đó là bốn vị Đại Bồ Tát của Phật giáo Trung Quốc.

    Bài đọc thêm :

    Quan Âm hiện thân trong mọi hình dạng để cứu độ chúng sinh, nhất là trong các nạn lửa, nước, quỷ dữ và đao kiếm. Phụ nữ không con cũng hay cầu Quan Âm. Quan Âm cũng hay được nhắc tới bên cạnh Phật A-di-đà (sa. amitābha) và trong kinh Diệu pháp liên hoa, phẩm 25 với tên Phổ môn, các công hạnh của Bồ Tát trình bày rõ ràng và tán thán. Tại Trung Quốc và Việt Nam, Quan Âm hay được diễn tả dưới dạng nữ nhân.

    Trong thần thoại, văn học bác học (như tác phẩm Tây Du Ký của Trung Quốc), văn học dân gian, hay trong kinh sách nhà Phật (ví dụ phẩm Phổ môn), thì Quán Thế Âm Bồ Tát được xem là vị Bố Tát có thần lực nhất, chỉ sau Phật Tổ. Điều này có thể là do Quán Âm là vị Bồ Tát cứu độ chúng sanh và là Bồ Tát đặc trưng cho tinh thần của Phật giáo Đại thừa - giác tha, có nghĩa là cứu vớt và giác ngộ người khác - cho nên có thể Phật giáo Đại thừa đã nâng ngài lên tầm quan trọng như vậy, khác biệt với Phật giáo Tiểu thừa. Điều này càng làm tăng lòng sùng kính của người theo đạo Phật đối với Quán Âm. Trong mọi ngôi chùa, thường thì chính giữa là tượng đức Phật Tổ, hai bên là tượng Quán Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát, tuy nhiên ở ngoài khuôn viên chùa hầu hết đều có tượng đức Phật Tổ hay Quán Thế Âm mà không thấy hoặc ít thấy hơn tượng của các vị Phật hay Bồ Tát khác.

    Tranh tượng thường trình bày Quan Âm dưới nhiều dạng khác nhau, nhưng phổ biến nhất là dạng một vị Bồ Tát nghìn tay nghìn mắt. Có khi Quan Âm ẵm trên tay một đứa bé, có khi một đồng tử theo hầu. Người ta cũng hay vẽ Quan Âm hiện trong mây, hoặc cưỡi rồng trên thác nước. Hình ảnh Quan Âm đứng trên một hải đảo cứu người bị nạn cũng phổ biến, biển cả tượng trưng cho Luân hồi. Tay Quan Âm thường cầm hoa hoa sen hay bình nước Cam lộ.

    Danh xưng Quán Thế Âm là xuất phát từ một truyền thuyết của Phật giáo, tin rằng những người tu hành đạt tới chính quả, thì ngũ giác của họ có thể dùng chung được. Nghĩa là họ có thể dùng tai để "nhìn" thấy hình ảnh, dùng mắt để "nghe" thấy âm thanh, lưỡi có thể ngửi được v.v. Theo lòng tin này, thì danh xưng Quán Thế Âm Bồ Tát có nghĩa là : vị Bồ Tát luôn "nhìn thấy" tiếng ai oán, đau khổ trong bến mê của chúng sinh và sẵn sàng cứu giúp hay nói pháp khi cần.

    Theo quan niệm Trung Quốc, Quan Âm ngự tại Phổ-đà Sơn, miền Đông Trung Quốc, đó là một trong Tứ đại danh sơn, là bốn trú xứ của bốn Đại Bồ Tát của Phật giáo Trung Quốc.

    Tại Trung Quốc - đến thế kỉ 10 - Quan Âm còn được giữ dưới dạng nam giới, thậm chí trong hang động ở Đôn Hoàng, người ta thấy tượng Quan Âm để râu. Đến khoảng thế kỉ thứ 10 thì Quan Âm được vẽ mặc áo trắng, có dạng nữ nhân. Có lẽ điều này xuất phát từ sự trộn lẫn giữa đạo Phật và đạo Lão trong thời này. Một cách giải thích khác là ảnh hưởng của Mật tông (xem Tantra) trong thời kì này: đó là hai yếu tố Từ bi (sa. maitrī-karuṇā) và Trí huệ (sa. prajñā) được thể hiện thành hai dạng nam nữ, mỗi vị Phật hay Bồ Tát trong Mật tông đều có một "quyến thuộc" nữ nhân. Vị quyến thuộc của Quán Thế Âm được xem là vị nữ thần áo trắng Đa-la (sa. tārā), và Bạch Y Quan Âm là tên dịch nghĩa của danh từ đó. Kể từ đó quần chúng Phật tử Trung Quốc khoác cho Quan Âm áo trắng và xem như là vị Bồ Tát giúp phụ nữ hiếm muộn.

    Một trong các lí do đó là đối với Phật Giáo, Phật không phân biệt nam hay nữ. Khác với các thần thoại sơ khai quan niệm các vị thần có giới tính và co sự sinh sản, Phật giáo và các tôn giáo lớn trên thế giới không cho rằng thần của họ có giới tính và sự sinh sản. Do đó việc quan niệm Quán Âm là nam hay nữ không phải là vấn đề quan trọng trong Phật giáo. Vả lại, theo phẩm Phổ môn, khi muốn cứu vớt hoặc giác ngộ cho chúng sinh, Quán Âm có thể hóa thành 32 sắc tướng[1] như Phật, Bồ Tát, Càn-thát-bà, thiện nam, tín nữ v.v tùy theo đối tượng để cứu giúp chúng sanh.

    Có rất nhiều huyền thoại về Bồ Tát Quan Âm. Theo một huyền thoại Trung Quốc thì Quan Âm là con gái thứ ba của một nhà vua. Lớn lên, mặc dù vua cha ngăn cản nhưng công chúa quyết đi tu. Cuối cùng vua nổi giận, sai đem giết nàng. Diêm vương đưa nàng vào địa ngục, ở đó công chúa biến địa ngục thành Tịnh độ, cứu giúp người hoạn nạn. Diêm Vương thả nàng ra và công chúa tái sinh lại trên núi Phổ-đà biển Đông và trở thành người cứu độ cho ngư dân. Đến khi vua cha bị bệnh nặng, nàng cắt thịt đắp lên chỗ bệnh. Nhà vua khỏi bệnh và nhớ ơn, cho tạc tượng nàng. Tương truyền rằng, vì hiểu lầm ý của nhà vua mà người ta tạc nên bức tượng nghìn tay nghìn mắt, được lưu truyền đến ngày nay.

    Tại Trung Quốc, các ngư dân thường cầu nguyện Quan Âm để được bình an trong các chuyến đi đánh cá. Vì thế có Quan Âm cũng có biệt hiệu "Quan Âm Nam Hải".



    Đức Mẹ Quán Âm
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  11. #71
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Trong Mắt Tôi .

    ****Trước khi đi vào diễn giải kinh Phổ Môn Quán Âm Cứu Độ , tôi xin thưa với các Phật tử đôi điều . Khi đọc và muốn hiểu Kinh Phật phải nhìn bằng con mắt TRẠCH PHÁP . Những hình ảnh hay những con số đôi lúc gần như giống nhau ví dụ :

    Ngài Quán Âm có 1.000 cánh tay , 1.000 con mắt hoặc Đức Phật có 84.000 pháp môn , hay khi đề cập đến con số vi trùng cũng thế .v.v.. đó là nhưng con số BIỂU TƯỢNG để chỉ về số nhiều , chứ không hẳn là luôn luôn tình trạng giữ nguyên đúng số lượng như vậy . Nếu quý vị biết khái niệm con số thì khi tôi đi vào giải kinh quý vị rất dễ dàng giác ngộ , và cũng có thể thành Phật ( biết đâu chừng ) .

    Trước khi giảng xin quý vị xem thêm về sự tích :


    QUAN ÂM DIỆU THIỆN hay QUAN ÂM NAM HẢI.
    Theo sự khảo cứu của học giả De Groot, người Hòa Lan, kiếp chót của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là Công Chúa Diệu Thiện, con của vua Linh Ưu nước Hưng Lâm, một Tiểu quốc của Ấn Độ, ở về phía Đông Ấn Độ.

    Từ ngày nhà vua lên ngôi đến nay đã 40 năm mà Hoàng Hậu Bửu Đức không hạ sanh được một vị Hoàng tử nào. Nhà vua cùng Hoàng Hậu đi lên núi Huê sơn cầu tự. Trên núi Huê sơn có một vị Thần rất linh hiển, ai cầu chi được nấy. Cầu tự xong, ít lâu sau, Hoàng hậu có thai, sanh đặng một Công Chúa, đặt tên là Diệu Thanh. Sau đó lại tiếp tục có thai sanh thêm hai nàng Công Chúa nữa là: Diệu Âm và Diệu Thiện; không sanh được một Hoàng Tử nào.

    Ba nàng Công Chúa lớn lên, nhà vua định hôn cho hai chị của Diệu Thiện là Diệu Thanh và Diệu Âm, với hai vị quan trẻ tuổi và tài giỏi trong triều đình; còn nàng con gái út Diệu Thiện thì nhứt định không chịu lấy chồng, mà lại còn có ý xin phép vua cha và mẫu hậu xuất gia tu hành.

    Vua Linh Ưu tức giận, đày Diệu Thiện vào trong Hoa Viên lo việc gánh nước tưới hoa, làm các công việc cực khổ; đồng thời cho người khuyến dụ nàng bỏ ý định đi tu, nhưng nàng nhứt định cam chịu khổ chớ không từ bỏ ý định tu hành.

    Thấy vậy, Hoàng Hậu rất đau lòng, liền xin với vua Linh Ưu cho Diệu Thiện vào chùa Bạch Tước tu hành. Nhà vua chấp thuận, và ngầm ra lịnh cho các tăng ni trong chùa bắt Diệu Thiện làm các công việc nặng nhọc vất vả, để nàng không chịu nổi mà sớm trở về Cung nội.

    Diệu Thiện, tâm vẫn cương quyết, làm đầy đủ các bổn phận, dầu rất cực khổ, nhưng không một tiếng than, và luôn luôn lo việc tu hành.

    Nhà vua thấy cách nầy thất bại, nên nghĩ ra cách sai lính đốt chùa, để Diệu Thiện không còn nơi tu hành, phải trở về Cung nội. Quân lính phóng hỏa khắp bốn mặt, các tăng ni hốt hoảng lo chạy thoát thân, riêng DiệuThiện vẫn điềm tỉnh, nàng lâm râm cầu nguyện, rồi lấy cây trâm chích vào lưỡi, ngước mặt phun máu lên không, tức thì mây đen hiện ra, mưa tuôn xối xả, dập tắt hết các ngọn lửa. Quân lính đều hết sức kinh ngạc.

    Nhà vua không vì sự mầu nhiệm đó mà hối hận, lại bắt Diệu Thiện về triều, tổ chức các cuộc đàn hát vui chơi, để làm cho Diệu Thiện say mê, bỏ việc tu hành. Nhưng vua cha vẫn thất bại bởi Đạo tâm vững chắc của nàng con gái út.

    Nhà vua quá tức giận vì không thực hiện được ý mình, nên ra lịnh tối hậu cho nàng Diệu Thiện chọn một trong hai điều: một là phế việc tu hành, lo bề gia thất; hai là chịu xử trảm vì cãi lịnh vua cha.

    Nàng Diệu Thiện nhứt quyết chịu chết chớ không chịu bỏ việc tu hành.

    Thần Hoàng Bổn Cảnh vội vã bay về Trời tâu trình Thượng Đế, và Đức Thượng Đế ra lịnh cho Thần mau trở về bảo hộ nàng Diệu Thiện.

    Diệu Thiện bị đưa ra pháp trường hành quyết. Khi đao phủ đưa đao lên định chém xuống thì đao liền gãy nát; lại lấy cung tên đặng bắn cho chết thì khi mũi tên gần tới Diệu Thiện thì mũi tên bị gãy nát. Thấy không giết được Diệu Thiện bằng hai cách trên, kẻ hành quyết liền dùng hai bàn tay đến siết cổ Diệu Thiện.

    Bỗng đâu cuồng phong nổi lên, cát bay đá chạy, thiên ám địa hôn, một đạo hào quang bay đến bao phủ nàng Diệu Thiện, rồi Thần Hoàng hóa thành một con hổ lớn cõng Công Chúa Diệu Thiện chạy bay vào rừng. Các quan giám sát cuộc hành quyết bị một phen hoảng vía, trở về triều báo cáo lại với vua Linh Ưu tất cả các việc.

    Nhà vua không chút nao núng phán rằng: Công Chúa mang tội bất hiếu nên bị cọp tha mất xác cho đáng kiếp.

    Công Chúa Diệu Thiện bất tỉnh, hồn Công Chúa thấy một vị Sứ giả mặc áo xanh, tay cầm tờ giấy nói rằng: Diêm Vương mời nàng xuống Diêm Cung để xem các cảnh khổ não và những hình phạt nặng nề những linh hồn mà trong kiếp sanh đã làm nhiều điều ác độc.

    Thập Điện Diêm Vương cũng muốn nghe nàng thuyết pháp. Công Chúa vâng lịnh, dùng tâm từ bi và sức thần thông thuyết pháp cho 10 vua nghe, các tội hồn trong ngục cũng được nghe và liền giác ngộ. Trong phút chốc, chốn U Minh thành Lạc Cảnh, và các tội hồn đều được thoát ra khỏi ngục, đầu kiếp trở lại cõi trần.

    Thấy các cửa ngục đều trống trơn, Thập Điện Diêm Vương vội đưa hồn Diệu Thiện trở lại dương thế và cho nhập vào xác. Nàng tỉnh dậy, thấy mình đang nằm giữa rừng vắng vẻ, không biết phải làm sao và đi phương nào.

    Đức Phật Nhiên Đăng hiện ra trên mây, bảo nàng hãy đi ra biển Nam Hải, đến núi Phổ Đà, tu hành thêm một thời gian nữa thì sẽ đắc đạo, đạt vị Như Lai. Muốn đi đến đó, phải trải qua 3000 dặm đường. Đức Phật Nhiên Đăng lại tặng cho nàng một trái Đào Tiên, ăn vào không biết đói khát trọn năm mà còn được trường sanh bất lão.

    Nàng Diệu Thiện nhận lãnh và bái tạ Đức Phật, đoạn nàng tìm đường đi đến Nam Hải. Thái Bạch Kim Tinh hiện xuống, truyền cho Thần Hoàng biến ra Thần hổ, cõng Diệu Thiện đến Phổ Đà Sơn cho mau lẹ.

    Tại Phổ Đà Sơn, nàng Diệu Thiện tu thiền định trong 9 năm, đạo pháp đạt được cao siêu.

    Ngày 19 tháng 2 năm ấy, là ngày thành đạo của Công Chúa Diệu Thiện. Chư Thần,Thánh,Tiên, Phật, đến chúc mừng và xưng tụng vị Bồ Tát mới đắc đạo. Công Chúa ngự trên tòa sen, hào quang sáng lòa, xưng là Quan Thế Âm Bồ Tát.

    Lúc ấy chư Thánh muốn lựa một đồng tử để theo hầu Ngài, thì may đâu lúc đó có một vị tên là Hoàn Thiện Tài, mồ côi cha mẹ, phát nguyện tu hành, qui y Phật pháp, nhưng chưa chứng quả, nay nghe nơi Phổ Đà Sơn có một vị Bồ Tát mới đắc đạo, nên xin đến hầu Ngài.

    Trước khi chấp thuận lời thỉnh cầu ấy, Đức Quan Âm muốn thử xem tâm chí của Thiện Tài ra sao. Ngài truyền cho Sơn Thần Thổ Địa hóa làm ăn cướp đến bắt Ngài, Ngài giả bộ sợ sệt kêu la cầu cứu và ngã té xuống hố sâu. Thiện Tài chạy đến cứu thầy, và nhảy theo xuống hố. Thiện Tài thiệt mạng, chơn hồn liền xuất ra khỏi xác, đến hầu Đức Quan Thế Âm Bồ Tát và được thâu làm đệ tử.

    Về sau, Đức Quan Âm Bồ Tát thâu thêm Long Nữ, con gái của Đệ Tam Thái Tử của Long Vương Nam Hải, làm đệ tử.

    Nguyên ngày kia, Long Nữ hóa làm con cá đi dạo chơi trên mặt biển, chẳng may bị một ông chài bắt được. Ông đem cá ấy ra chợ bán. Đức Quan Thế Âm Bồ Tát biết được, sai Thiện Tài đồng tử hóa ra một người thường, đi ra chợ hỏi mua con cá ấy, rồi đem ra biển Nam thả xuống.

    Nam Hải Long Vương nhớ ơn cứu tử cháu nội của mình, nên dạy Long Nữ đem một cục ngọc quí Dạ Minh Châu đến dâng Bồ Tát để Bồ Tát đọc sách ban đêm mà không cần đèn.

    Long Nữ đến dâng ngọc xong, lòng hết sức cảm phục Bồ Tát, nên xin qui y và được Bồ Tát thâu làm đệ tử.

    Từ ấy, Thiện Tài đồng Tử và Long Nữ luôn luôn theo bên cạnh để lo phụng sự Bồ Tát.

    Nhắc lại, từ khi vua Linh Ưu ra lịnh giết chết Diệu Thiện, và Diệu Thiện được Thần Hoàng cứu thoát, nhà vua mắc một chứng bịnh nan y vô cùng khổ sở, thân thể nhà vua bị lở loét ngoài da cùng mình, mùi hôi thối xông ra nồng nặc, nhức nhối đau đớn vô cùng. Nhiều danh y tới điều trị mà bịnh vẫn không thuyên giảm chút nào.

    Đức Quan Thế Âm Bồ Tát ở Nam Hải hay biết việc đó, nên Ngài hóa ra một vị sư già, đi đến kinh thành xin vào trị bịnh cho vua Linh Ưu.

    Sau khi xem mạch vua, vị sư già tâu: Bịnh của Bệ hạ do oan nghiệt nhập với chất độc cao lương mỹ vị và tửu nhục hằng ngày, nên phát sanh ra ngoài da thành bịnh nan y. Nếu muốn chữa lành thì phải có đôi mắt và đôi cánh tay của một người con thì mới chế thuốc được.

    Nghe vậy, nhà vua cho đòi hai Công chúa Diệu Thanh, Diệu Âm và hai Phò mã đến, rồi nhà vua lập lại lời nói của vị sư già, hỏi xem có đứa con nào dám hy sinh để trị bịnh cho vua cha không?

    Hai Công chúa cùng tâu: Xin Phụ vương đừng nghe lời ông sãi mầm nầy, bởi vì một người bị khoét đôi mắt và bị chặt hết hai tay thì dù có sống cũng chẳng ra chi. Chẳng lẽ cứu bịnh một người mà lại hủy hoại một người khác hay sao?

    Vua Linh Ưu chợt nhớ tới Công chúa út là Diệu Thiện, liền than: Nếu Diệu Thiện còn sống thì Trẫm ắt lành bịnh, vì Diệu Thiện sẽ hy sinh cho Trẫm.

    Vị Sư già liền tâu: Tâu Bệ hạ, Bần tăng biết rõ Công chúa Diệu Thiện hiện vẫn còn sống, ở tại núi Phổ Đà, biển Nam Hải. Xin Bệ hạ cho người đi đến đó, tìm Công chúa thì may ra chế được thuốc cho nhà vua. Bần tăng xin để thuốc lại đây, khi nào có đôi mắt và đôi tay của Diệu Thiện đem về thì nhập với thuốc nầy, nấu chung lại, rồi trong uống, ngoài thoa, bịnh của Bệ hạ sẽ hết ngay.

    Vị Sư già nói xong thì từ giã nhà vua trở về núi.

    Vua Linh Ưu rất mừng, liền cho sứ giả sắp đặt hành trang lên đường đi Nam Hải, tìm Công chúa Diệu Thiện. Khi sứ giả đến được Phổ Đà Sơn thì gặp một đồng tử bưng ra một cái mâm phủ vải trắng còn thấm máu tươi, trong đó có đôi mắt và đôi tay của Diệu Thiện, đem ra trao cho sứ giả và nói:

    Đây là đôi mắt và hai cánh tay của Công chúa Diệu Thiện, sứ giả hãy mau đem về chế thuốc trị bịnh cho vua.

    Hoàng Hậu khi nhìn thấy sứ giả đem đôi mắt và đôi tay của Diệu Thiện về, còn dính máu tươi thì òa lên khóc mướt. Thị vệ liền đem nấu với thuốc do vị Sư già để lại, cho nhà vua uống phân nữa, còn phân nữa để thoa lên khắp mình mẩy, phút chốc, thân thể nhà vua lành lặn như xưa, hết đau nhức, mà lại còn cảm thấy khỏe khoắn hơn trước.

    Vua Linh Ưu và Hoàng Hậu cảm mến ơn nghĩa của Diệu Thiện, nên quyết định đi ra Phổ Đà Sơn một chuyến để tạ ơn. Xa giá đăng trình, gặp không biết bao nhiêu nguy hiểm, nhưng đều được Quan Âm Bồ Tát dùng thần thông cứu khỏi.

    Đến nơi, vua Linh Ưu và Hoàng Hậu thấy một vị Bồ Tát đang ngự trên tòa sen, nhưng mất cả hai cánh tay và hai con mắt. Vua biết đó là Công chúa Diệu Thiện, con của mình, nên vô cùng xúc động, nhớ lại mà ăn năn sám hối lỗi lầm, rồi đồng quì xuống cầu nguyện cùng Trời Phật xin cho Công chúa được lành lặn như xưa.

    Sự thành tâm cầu nguyện của vua và Hoàng Hậu có kết quả, Bồ Tát Diệu Thiện liền hiện hào quang với đầy đủ hai tay và hai mắt như lúc trước.

    Lúc ấy, vua và Hoàng Hậu đều giác ngộ, quyết rời bỏ điện ngọc ngai vàng, đem mình vào chốn Thiền môn, lo tu hành cầu giải thoát.

    Nguyên căn của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát:

    Đức Chí Tôn giáng cơ cho biết, nguyên căn của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là do Đức Từ Hàng Bồ Tát biến thân.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  12. #72
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Trong Mắt Tôi .

    Như vậy , Quán Thế Âm Bồ Tát nghĩa là vị Bồ tát có hạnh nguyện quán sát tìm nghe âm thanh hay tiếng than khóc kêu thương của thế gian để mà cứu độ , hình ảnh của một NGƯỜI MẸ đúng nghĩa của nó từ hành động , lòng từ bi và tình thương đối với chúng sanh rất rõ ràng , không những Ngài thị hiện nhiều lần và nhiều dáng nam , nữ khác nhau nhằm hoá độ , giúp đời chứ không khóc , hay im lặng mà không hành động để nhằm giải quyết một nguyện cầu gì . Vị Bồ tát nầy còn có đặc điểm là tùy theo chúng sanh mong muốn Ngài hiện thân như thế nào: Có lúc làm vua quan, sang hèn, giàu nghèo, già trẻ... hay nam nữ thì Ngài cũng chiều theo hiện thân như thế mà cứu độ có nghĩa là như vậy . Bồ tát thì đâu có tướng nam nữ, sang hèn , sầu bi hay khóc chảy máu làm gì? Có ích lợi nào đâu ???? v.v.... hình ảnh hiện ra của Ngài là tượng trưng cho lòng thương chúng sanh như mẹ thương con, nên người ta tạc tượng Ngài trong dáng người phụ nữ dịu hiền , từ bi có ý nghĩa như thế .

    Ngài luôn luôn lắng nghe và sự xuất hiện của Bồ tát Quán Thế Âm được các kinh công nhận là độc đáo nhất trong hạnh nguyện của các vị Bồ tát. Ngài đã chứng ngộ bằng âm thanh qua nhĩ căn viên thông, và lấy âm thanh là mục đích tối thượng trong việc cứu khổ cứu nạn cho tất cả chúng sanh.Vì sao nói đến âm thanh , giữa Ngài và chúng sanh làm sao mà nghe? Như tôi đã dẫn chứng bài ở trên về tầng số AM , FM..... của Radio hay các tầng số bắt sóng của TV.... khi đúng làn sóng thì chúng ta nghe tiếng , thấy hình. Cũng vậy Bồ Tát QUán Âm đang ở trên 9 tầng mây , nếu lời cầu nguyện của ta gặp dược tầng số của Ngài thì chúng ta sẽ nghe hoặc thấy Ngài thị hiện để cứu độ. Với danh hiệu "Đại từ đại bi tầm thinh cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát " đã nói lên đầy đủ ý nghĩa hạnh nguyện đó.

    Nhiều bộ kinh, có nói về Quán Thế Âm Bồ Tát; nhưng chúng ta không thấy đề cập đến phương pháp chứng ngộ của Ngài. Duy bộ kinh Lăng Nghiêm có đề cập đến sự chứng ngộ ấy, kinh Lăng Nghiêm trực chỉ ghi rõ rằng:

    Sau khi đức Thế tôn gạn hỏi chỗ sở chứng của 24 Thánh đệ tử xong, đến lượt Bồ tát Quán Thế Âm bày tỏ chỗ sở chứng của mình như sau:


    " Quán Thế Âm Bồ tát bạch rằng:
    Tôi nhớ là: Hàng hà sa số kiếp về trước, có một vị Phật hiệu là Quán Thế Âm; vị Phật đó dạy tôi muốn vào chánh định thì phải theo nghe-nghĩ-tu. Từ trong nghe, khi trở về tự tánh thì sở duyên biến mất và con đường vào trở nên vắng lặng (sở không có, năng không có chỗ duyên, nên năng vẫn không hiện hữu, ở trong tự tánh vắng lặng). Hai tướng động và tịnh không sinh. Từ từ mà tiến lên như vậy, thì nghe và đối tượng bị nghe đều hết. Nghe đã hết không trụ, thì giác và đối tượng của bị giác đều không khi không giác đã tròn đầy, thì không và đối tượng không đều diệt. Khi sinh và diệt đã mất, thời cảnh tịch diệt hiện ra trước mắt."


    Vì sao có tiếng nói , âm thanh đôi lúc hình ảnh các Bồ Tát ?...... Ngài Đại Lãn giải thích :

    Chữ âm là biểu tượng ý nghĩa cuộc sống, thế giới ngoại tại của chúng sanh trong pháp giới duyên khởi này chính là hiện tướng của nghiệp tướng vô minh con người đang lôi kéo con người trong bể khổ sanh tử luân hồi. Những khổ đau tai nạn của kiếp người, cùng tiếng kêu gào van xin, cầu cứu của chúng sanh trong bể khổ đã làm cho nguyện lực độ sanh của Bồ Tát Quán Thế Âm phát sinh. Ngài đã cùng nhĩ căn viên thông, thường xuyên quán sát và nghe tiếng cầu cứu của chúng sanh, tùy theo căn cơ của từng loại mà Ngài hóa độ, cứu vớt .


    Ở đây, về ý nghiã danh xưng, chúng ta thấy sự khác biệt giữa kinh Lăng Nghiêm và kinh Pháp Hoa trong lòng bi nguyện của Ngài. Một đàng hướng nội nghe bản thể tự tánh, tức là Như Lai tạng tâm và đó cũng chính là bản thể của chúng sanh, của vũ trụ mà lập cứ (theo nhân hạnh) để cứu vớt; một đàng hướng ngoại nghe quả khổ của chúng sanh, cùng tiếng cầu cứu mà lập cứ (theo quả đức) để cứu vớt . Nếu căn cứ nơi nhân và quả để hiểu thì làm sao có sự gặp gỡ hạnh nguyện giữa Kinh Lăng Nghiêm và kinh Pháp Hoa trong lòng bi nguyện của Ngài? Đó là câu hỏi cần đặt ra và cần giải đáp. Sự xuất hiện của Ngài vì lòng bi ngưỡng vô úy, cùng với chúng sanh cùng một thể tánh. Ngài đã mang danh hiệu Đại Từ Đại Bi tầm thanh cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát, nói lên lòng bi ngưỡng vô úy đó . Lòng bi ngưỡng vô úy mà chúng sanh đã đánh mất, thay vào đó lòng sợ hãi. Chính vì lòng sợ hãi mà con người luôn ở trong tình trạng lo đối phó, nhưng đối phó với phương pháp chạy trốn thực tại, tìm cách né tránh với tương lai . Mà tương lai là những gì chưa xảy đến với họ hay sẽ không xảy đến. Vì sợ hãi lo âu nên con người tự đánh lừa chính mình và dần dần trở thành vong thân. Từ đó thần thánh, ma quỷ, Thượng đế được xuất hiện bởi con người và do con người đặt ra, con người lấy đó làm nơi nương tựa. Cuộc sống của chúng ta đầy dẫy những biểu tượng, biểu tượng của sợ hãi, do đó chúng ta đã tự đánh mất bản tính vô úy của ta. Con người không dám nhìn thực tại, không dám nhìn vào chính mình, không dám sống với thực tại, luôn luôn sống với tương lai; mà tương lai là những gì ảo tưởng. Con người luôn tìm cách nắm bắt những ảo tưởng đó để rồi thất vọng đau khổ .

    Ngài Quán Âm đầy đủ tất cả những hạnh lành của một người Mẹ , một người Cha đi thẳng vào cuộc đời an ủi , hoá giải oan khiên , vổ về , khuyên nhủ...... mà không nhằm tạo ra một sự mê hoặc , hù dọa chúng sanh như con người thường dùng hình ảnh thị hiện Mẹ Maria khóc để lấy lòng tin tuyệt đối đôi lúc nhằm vào mục đích mê hoặc tôn giáo , đấu tranh chính trị , tranh đấu dành đất , lấn chùa mà không có một giải pháp đưa đến an vui , hạnh phúc cho con người , hoàn toàn chỉ là một mục đích làm cho con người sự RUN SỢ ma quoái nhằm đánh lạc hướng tình thương đúng nghĩa của một NGƯỜI MẸ mà dù Mẹ Maria hay Mẹ Quán Thế Âm đều có tình thương yêu giống nhau .


    Như trên tôi đã trình bày , muốn hiểu Kinh Phật một cách sâu sắc và rốt ráo phải nhìn bằng con mắt TRẠCH PHÁP. Tất cả những ẩn dụ hay hình tượng như nước , lữa , nghìn tay , nghìn mắt v.v..... là phải hiểu theo nghĩa bóng của giáo pháp. Nay tôi đi vào Kinh Pháp Hoa , Phẩm Phổ Môn nói về hạnh nguyện cứu độ của Mẹ Quán Âm Bồ Tát. Lần lược giải Kinh theo link :

    http://www.thienlybuutoa.org/Kinh/PhapHoa/25-PhoMon.htm


    Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu, chấp tay hướng Phật mà bạch rằng: "Thế Tôn! Ngài Quán-Thế-Âm Bồ-Tát do nhân duyên gì mà tên là Quán-Thế-Âm?"

    Phật bảo ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát: "Thiện-nam-tử! Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sanh chịu các khổ não, nghe Quán-Thế-Âm Bồ-Tát này một lòng xưng danh. Quán-Thế-Âm Bồ-Tát tức thì xem xét tiếng tăm kia, đều được giải thoát.

    - Nếu có người trì danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ-Tát này, dầu vào trong lửa lớn, lửa chẳng cháy được, vì do sức uy thần của Bồ-Tát này được như vậy.

    - Nếu bị nước lớn làm trôi, xưng danh hiệu Bồ-Tát này liền được chỗ cạn.



    Khi gặp nạn người trì danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ-Tát :

    1-vào trong lửa lớn, lửa chẳng cháy được :

    Nếu hiểu lửa ( fire ) thì không phải. Cho dù sắt , đồng chì ...... đưa vào lửa cũng chảy thành lỏng hoặc tiêu tán chứ nói chi là con người bằng da , bằng thịt. Nếu hiểu lửa như thế thì bị chê cười và ngoại đạo sẽ bác bỏ ngay , đôi lúc còn cho là TÀ KIẾN ( ý kiến tầm bậy ).

    Lửa này là LỬA SÂN SI. Khi ta đang nóng giận vì tức vợ , đánh con , hay ai đó nói khích , mạ lỵ , châm chọc làm cho ta tức giận , hung hăng muốn nhào vô ăn thua đủ. Những lúc đó ta múa tay , múc chân , miệng há hốc văng tục , chửi bới , mặt ĐỎ RẦN RẦN như thiêu đốt. Đó chính là lửa sân si mà Kinh nói đến. Nếu gặp lửa này thiêu đốt , ngay lúc đó ta biết ngừng lại những hành động , ghìm giử ngôn ngữ và calm down lập tức miệng lâm râm niệm Phật lập đi lâp lại nhiều lần :

    -" Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát "

    Tức thì lửa ( sân si ) đó sẽ hạ xuống và tắt ngay ,lửa chẳng cháy được, vì do sức uy thần của Bồ-Tát như vậy.

    "- Nếu bị nước lớn làm trôi, xưng danh hiệu Bồ-Tát này liền được chỗ cạn. "

    Nước lớn không phải là do nước lụt ( flood ware ) chảy xiết làm cho ta bị trôi , mà nước này là do một sức tấn công xối xả của kẻ địch hay đối thủ , như chửi mắng , văng lời mạ lỵ thô tục , có lúc cả 5-7 người cùng hùa vào tấn công , nói xấu...... làm cho ta ê mặt , mắc cở , run rẩy vì bị ô nhục.... Ta không còn mặt mũi NHÌN AI CHUNG QUANH , tay chân tê dại , cảm thấy mình mẩy lạnh cóng như những gáo nước lạnh tạt vào mặt. Những lúc đó ta bình tâm niệm Phật nhiều lần :

    -" Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát "

    Cứ đứng yên niệm Phật như vậy liền được chỗ cạn , tức là kẻ đối diện sẽ ngưng tấn công ngay. Đó là tâm lý , khi kẻ thù không phản ứng , tấn công trở lại thì người sỉ vả cũng không còn xúc tác giận hờn để tiếp tục ra tay.

    -Nếu có trăm nghìn muôn ức chúng sanh vì tìm vàng, bạc, lưu ly, xa-cừ, mã-não, san-hô, hổ-phách, trân châu các thứ báu, vào trong biển lớn, giả sử gió lớn thổi ghe thuyền của kia trôi tắp nơi nước quỉ La-sát, trong ấy nếu có nhẫn đến một người xưng danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, thì các người đó đều được thoát khỏi nạn quỉ La-sát. Do nhân duyên đó mà tên là Quán-Thế-Âm.

    Giải nghĩa :

    Đối với loài người những thứ như :"vàng, bạc, lưu ly, xa-cừ, mã-não, san-hô, hổ-phách, trân châu các thứ báu " là thuộc đồ quý giá , có thể trở nên giàu có. Cho nên nghe ở đâu có những vật báu đó thì dù ở trên núi , dưới biển sâu..... con người cũng tìm đến khai thác hay chiếm hữu. Cũng vì từ lòng tham đó nên nhân loại trở nên cấu xé , đánh nhau và đưa đến chiến tranh. Một ví dụ rõ nhất hiện nay là dầu hoả trở thành một vật báu quý giá làm cho các nước hùng mạnh tìm cách chiếm lĩnh , khai thác để làm lợi ích cho mình , bao nhiêu bom đạn , máu đổ thịt rơi do lòng tham của con người mà nên.

    Khi vượt biển tìm đồ quý , chẳng may gặp gió lớn thổi ghe thuyền của kia trôi tắp nơi nước quỉ La-sát. Nước " QUỈ LA SÁT " là biểu tượng cho sóng to gió lớn , biển sâu , loài cá mập , cá xà..... đang chờ đợi để giết những kẻ tham.Nước Quỉ đó cũng có nghĩa là giữa con người và con người tranh dành , chém giết nhau để lấy của điều mà TT Bush gán cho Bắc Hàn , Iran , Iraq là trục ( nước ) ma quỉ . Nếu lúc đó có nhẫn đến một người xưng danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, thì các người đó cũng niệm Quán Âm Bồ Tát tiếp theo thì tất cả đều được thoát khỏi nạn quỉ La-sát , tức là sự giết hại từ thiên nhiên hay từ lòng tham giữa con người và con người. Khi niệm danh Ngài thì ai cũng biết dừng tay , ngưng chiến tranh , ngưng sợ sệt bảo táp , phong ba thì tâm sân si chìm xuống và tâm THANH TỊNH hiện rõ giúp con người nhận thức được sự nguy hại vì lòng tham để ngồi lại với nhau dàn xếp , hòa đàm hoặc cũng nhờ tâm thanh tịnh nên không làm chao đảo thuyền bè không bị lật chìm.

    Khi niệm danh Ngài , nhờ Ngài mà đưa tâm chúng ta trở về với lòng tư bi ( thương yêu ) và hỷ xả ( tha thứ ). Chỉ có tâm thiện thì con người mới an lạc và thoát nguy hiểm sau tâm si quá hung bạo sẽ gặt lấy kết quả đôi bên nhận lấy hậu quả vì lòng tham mà ra .
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  13. #73
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Trong Mắt Tôi .

    "Nếu lại có người sắp sẽ bị hại, xưng danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, thì dao gậy của người cầm liền gãy từng khúc, người ấy liền được thoát khỏi ."

    Giải nghĩa :

    Vì bất đồng ý kiến trong lúc tranh cải , hoặc cuộc sống đời thường va chạm đưa đến cải cọ , chém giết lẫn nhau. Những lúc đó ta phải kịp thời ngăn chận sân si và biết kìm hảm tâm ta kịp thời , bằng cách hay nhất là niệm " Nam mô Quán Âm Bồ Tát " thì dao gậy của người cầm tấn công ta liền gãy từng khúc. Ý nghĩa câu này không phải do câu niệm quán Âm có phép thuật làm cho dao , gậy gảy từng khúc , mà phải hiểu nghĩa bóng là TÂM NGƯỜI CẦM DAO GẬY sẽ lắng dịu mà buông dao xuống không còn muốn rượt chém nữa. Vì sao? Khi ta không phản kháng , tấn công trở lại thì tâm lý người đối phương cũng không còn tác động để đành ra tay hạ độc thủ chém ta. Dao gậy gãy từng đoạn mang ý nghĩa như thế........... Khi dao gậy gãy thì tai qua nạn khỏi.

    Tổng quát hầu hết trong Kinh Phật , nhất là đối với Phẩm Phô Môn hạnh Quán Âm trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa đều mang ý nghĩa bóng như thế. Tôi mong rằng quý Phật tử sẽ hiểu sâu , thấy rộng Kinh pháp và tôi xin tạm ngừng giải Kinh Phổ môn ở đây. Vì cách giảng giải hầu hết là ý nghĩa như thế , kéo dài sẽ làm cho quý Phật tử nhàm chán.

    Nam Mô Công Đức Lâm Bồ Tát Ma Ha Tát.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  14. #74
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Trong Mắt Tôi .

    ÁNH TRĂNG.

    Đây là câu chuyện có thật. Tháng 3/1975 khi CSVN tấn công Cao Nguyên , 7 sư đoàn VC vây quanh để đánh Ban Mê Thuộc. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu của VNCH ra lệnh cho Trung Tướng Nguyễn Văn Phú , tư lệnh Quân khu 2 phải rút lui và bỏ ngõ Cao Nguyên. Đơn vị của Thiếu Tá Nguyễn -Th vì đóng xa trên vùng núi không rút lui kịp. Sau khi bị CSVN tấn công giết trọn cả Tiểu Đoàn , chỉ còn Thiếu Tá Nguyễn -Th sống sót. Ông tìm cách ẩn náu và sau khi nghe tin miền Nam thất thủ 30-4-1975 nên đi tu sống luôn trong rừng không chịu ra đầu hàng.

    Thời gian thắm thoát đã 10 năm , vị thiền sư quyết tâm tu tập và quên đi chuyện thế gian trần tục. Ngài dựng một túp lều tranh đơn sơ trên ngọn đồi thông trong rừng sâu và thiền định hàng ngày.Trải qua nhiều năm vật đổi sao dời , xa xa dưới chân đồi mọc lên những ngôi nhà di dân kinh tế mới đến lập nghiệp . Nhưng Ngài không dám hành khất và hoằng pháp ở thôn làng dưới chân núi vì sợ lộ tung tích.

    Những đêm trăng rằm trong sáng. Ngồi toạ thiền Ngài quán chiếu được sự vô thường của thế gian. Những phút trầm tư , tưởng nhớ gia đình , vợ con thoáng qua , nhưng Ngài cố gắng gạt tất cả . Sáng sớm từ canh ba lúc nghe gà rừng gáy sáng , Ngài ngồi thiền và định tâm quán chiếu về DUYÊN và NGHIỆP.... quá khứ thì đã trôi qua, tương lai thì chưa đến, còn hiện tại thì sinh diệt không ngừng như đốm lửa quay thành vòng trên không gian . Chính "vòng lửa vô thường" đó đã nói lên cái bản chất giả tạo về sự vận hành của tri giác. Có những con người cho rằng : dục lạc là nguồn hạnh phúc, Niết-bàn. Sự chấm dứt danh sắc không đáng ưa thích, đạo dẫn đến Niết-bàn thì lắm cam go và gian khổ, nên họ tìm cách thỏa mãn dục vọng qua ba lối hành động và tạo nghiệp là: hành động về thân, hành động về lời nói, hành động về tâm ý. Trong ba loại hành động này, thiện cũng có, ác cũng có. Một số thực hành bố thí mong cầu lợi ích mai sau, trong khi một số khác lại lường gạt, trộm cướp để làm giàu. Cho nên kiếp người vì tham vọng mà tạo ra không biết bao nhiêu nghiệp quả chồng chất .

    Cuộc đời tu hành biết buông xã tất cả , không dính mắc vào một vi trần nào là mục đích cần đạt đến . Bố thí , hành thiện là đem phước báu cho kiếp này và muôn kiếp sau....... Thời gian trôi qua , cứ sáng thiền định đến lúc mặt trời đứng bóng Ngài tự vào rừng kiếm ăn , sinh sống qua ngày. Sau giờ ngọ trai Ngài thiền hành để quán chiếu sự đổi thay của vô thường , tối vào ngôi chùa nhỏ tịnh tâm , nhiếp pháp thiền định .

    Một buổi chiều nọ , Ngài ra đi thiền hành quanh ngọn núi như thường lệ , cho đến khi ánh trăng rằm đã mọc lên sau đồi . Lúc trở về chùa Ngài phát hiện có kẻ trộm đang lục lạo bên trong . Ngài đứng bên ngoài quan sát thấy kẻ thanh niên vóc dáng gầy gò không lấy cắp được vật gì ngoài cái thân tứ đại và chiếc áo chấp vá sờn vai trên mình thầy đang mặc .Lát sau tên trộm quay trở ra , thầy vội cởi chiếc áo duy nhất đưa cho anh ta và nói :

    -Anh hãy mặc chiếc áo này đi về kẻo sương lạnh.


    Thầy đưa cặp mắt hiền từ nhìn theo anh thanh niên đi xuống núi và nghĩ thầm :" Tại sao ta không cho anh ta một ánh trăng? ". Thầy trở vào an nghĩ với tâm thanh tịnh nhưng không vui .

    Sáng mai vừa thức dậy , thầy thấy chiếc áo được xếp ngay ngắn để trước cửa chùa. Thầy mỉm cười an lạc và hoan hỹ :

    -Thế là anh ta đã có một ánh trăng.

    Nhận định :

    Tâm lý khi gặp ai vào nhà ăn trộm thì hô hoán , đuổi bắt , đánh đập . Nhưng Thiền sư không làm vậy , thầy quán chiếu " Vì sao họ phải ăn cắp?" Phải chăng vì túng thiếu , đói rách..... điều đó phải đau xót , thương tâm mới đúng. Hơn nữa , với con người đã thấm nhuần lý vô thường của Đức Phật thì mọi vật chất , gia tài , của cải trên đời này không nghĩa lý gì cả. Vàng bạc , châu báu chỉ là phù vân , sanh rồi diệt , có rồi mất , ngay chính bản thân tứ đại này cũng không có gì là trường tồn bất biến. Vậy mà không thiếu những làm giàu trên sự đau khổ , bạo tàng bất chấp thủ đoạn để thủ lợi cũng vì nó. Ngày nay ngoài trần tục thế gian , không thiếu các tu sĩ của các tôn giáo ở hải ngoại , tán tận lương tâm kiếm tiền , thủ đắc lợi nhuận trên đức tin của phật tử , giáo dân. Họ tham quyền , đoạt lợi xây chùa , nhà thờ lớn. Tranh chấp ngay cả lợi lộc tiền tam bảo cúng dường , thật là đáng hổ thẹn . Chúng còn ham danh , tước vị lãnh đạo , nào là Tăng Thống , Tăng già , viện chủ v.v..... Danh mà làm chi , lợi mà làm chi???? Sao không nhìn tấm gương Đức Phật Thích Ca , cả ngai vàng , điện ngọc , vợ đẹp con thơ ..... tất cả Ngài xem như đôi dép rách cần vứt bỏ. Trái lại các tu sĩ ra hải ngoại có điều kiện ăn ngon , mặc đẹp , xe xịn , sống trong giường ấm nệm êm ,máy điều hòa cung phụng , lại bắt người hầu hạ cơm nước , quỵ lụy đủ điều. Bản chất tu hành của Như Lai chỉ dạy hoàn toàn bị biến hoá. Vì vậy phần lớn các thầy đang tha hoá , tâm trở nên bỏn xẻn , đố kị và chấp ngã quên cả việc tu hành theo lời dạy Đức Phật .

    Nếu ai cũng tu hành với tâm quãng đại , lòng từ bi thương người như vị thiền sư này thì đạo Phật đã ra tay cứu độ biết bao nhiêu là chúng sanh. Thầy cho anh ăn trộm chiếc áo , chỉ là tình thương vật chất , cứu người đói khổ. Chiếc áo dù tốt bao nhiêu cũng có ngày rách nát , hủy hoại theo lý vô thường . Như vậy thầy ân hận theo giáo tâm là đúng , tại sao ta không cho anh ta một ánh trăng để soi sáng tâm hồn vô minh , chỉ vì không phấn đấu qua được sự nghèo đói mà đi vào vòng tội lỗi do trộm cắp. Chính hành động im lặng và bố thí , thầy đã đánh thức được lương tâm con người. Sự hỹ xã và cúng dường chính là ánh trăng soi đường cho vô minh bừng sáng. Anh ta đã trở lại với con người lương thiện , tốt lành nhờ lòng từ bi và hỹ xã vô lượng của thiền sư .
    Nếu hôm đó thầy hô hoán hay bắt bớ thì có lẽ anh ta chạy trốn , đôi lúc phản ứng trở lại mà không bao giờ trở thành người tốt . Điều quan trọng nhất là anh không phản tĩnh , suy nghĩ lẽ phải trái và tiếp tục đi vào con đường tăm tối. Đức Phật đã dạy :

    -Tay ta chỉ mặt trăng , đừng lầm tưởng ngón tay ta là mặt trăng.


    Tánh khiêm nhường và nhân ái của Đức Phật rất rõ ràng , không vơ bậy lời nào , việc nào trên thế gian đều do mình tạo ra cả. Ngài cũng nhấn mạnh sự chỉ lối , đưa đường thì cố gắng mà đạt đến , đừng sùng bái , tôn thờ hay nhân cách hoá " ngón tay " chỉ đường của Ngài là ánh trăng là tuyệt vời hay Thần Thánh nào cả. Đức Phật không lừa dối ai , với kẻ trí , đấng giác ngộ như Ngài không lấy hư danh làm lẽ sống và thu thập chúng sanh .

    Đạo Phật nhằm cứu giúp chúng sanh tự giải thoát ra khỏi mê lầm để khỏi đi vào đường tội lỗi. Đạo Phật không cần con số Phật tử cho đông , cũng không cần bòn mót những linh hồn lạc đạo. Đạo Phật là tu để giác ngộ và giải thoát cho chính mình và cho tha nhân .

    Anh ăn trộm đã biết ăn năng lỗi lầm , sau khi về nhà kể chuyện lại cho hàng xóm nghe. Ai cũng cảm kích và nghĩ rằng đây là bậc MINH SƯ. Ngày mai họ rủ nhau lên chùa lễ bái và cúng dường , nhưng thầy đã rời tịnh xá ra đi một phương trời khác mà không màng chuyện ơn nghĩa .
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  15. #75
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Trong Mắt Tôi .

    NHẨN NHỤC GIẢI OAN KHIÊN.
    (Câu chuyện có thật )

    Ngày 30-4-1975 CSVN chiếm hoàn toàn miền Nam Việt Nam , thống nhất lãnh thổ. Sau 3 ngày , tất cả sĩ quan , công chức " nguỵ quyền " SaiGon bị tập trung " cải tạo" (ở tù ). Trong số này có Đại uý Trần Công Ch.

    Suốt 10 năm tù tội , anh chỉ được vợ thăm nuôi 2 lần vào những năm đầu. Ngày trở về tháng 11/1985 anh trở lại ngôi nhà xưa của gia đình thì không còn ai nữa , người chủ mới cũng không hay biết chuyện vợ và hai đứa con của anh là ai , đi đâu. Buồn cho thế thái nhân tình sau khi thăm viếng bạn bè , người thân mới tìm hiểu căn gốc " người vợ bạc tình ". Anh lang thang đây đó , không nơi nương tựa khi mà tóc đã lâm râm muối tiêu với tuổi đời 45. Anh tìm việc làm , phấn đấu làm lại cuộc đời nhưng không còn hăng say và mang ý nghĩa. Những đồng tiền kiếm được lúc lao động , anh chỉ dùng ít tiền mua thức ăn , còn lại đem bố thí cho những người nghèo khổ. Hình ảnh này qua nhiều năm nên ai cũng biết gọi tên " anh Ba tốt bụng ". Công An cũng nghi ngờ theo dõi , nhưng thấy anh không có gì nguy hiểm vì an ninh nên cũng quen đi.

    Một ngày nọ , anh được người em họ nhường lại cho mái tranh nhỏ ở P.18 Quận Bình Thạnh ,TP Hồ Chí Minh để về quê vợ sống ở Đồng Tháp Mười. Anh Trần Công Ch vẫn điều đặn ngày hai buổi đi làm kiếm tiền và bố thí người nghèo , tối về một mình thiền định , tu tâm. Suốt 3 năm dùi mài kinh kệ , anh đã trang bị một kiến thức Phật Pháp đủ nhận thức " cuộc đời vô thường và lý nhân quả ".

    Hàng xóm nhìn được đạo hạnh và công đức tu hành của anh nên đến tụ tập hàng đêm nghe anh giảng kinh và thuyết pháp. Với giọng trầm buồn nhưng lạc quan đầy êm ái , quyến rủ cũng lôi kéo được hơn 10 người đến tu tập cuối tuần và lễ lớn. Từ những lợi ích của Phật pháp cho đến lòng từ bi , hạnh bố thí đã đưa đến lòng mến mộ , kính trọng của mọi người dân quanh vùng. Tuy không xuống tóc , mặc áo cà sa , nhưng mỗi lần anh ra chợ khất thực , kẻ cho tiền , người cho gạo , thức ăn........ Anh đem những vật thí có được đi giúp những người già neo đơn , nghèo khổ sống lang thang đầu đường xó chợ , sau khi ăn một ít vật cúng dường của bá tánh đúng vào giờ ngọ. Công việc hành trì Phật pháp như vậy kéo dài hàng năm và tiếng tốt cũng đồn xa , nên ai cũng hoan hỷ bố thí , cúng dường khi anh đến khất thực mà không nghi ngờ gì cả .

    Để giúp đở chùa , thực ra là một mái tranh và bàn thờ Phật Thích ca đơn giản. Sau giờ làm việc buôn bán giúp bà Tám , cô Hai năm nay vừa tròn 20 cũng mộ đạo và chạy sang chùa giúp Thầy quét dọn , đèn đóm..... Thầy cũng hoan hỹ và không nói lời nào. Suốt ba năm như thế , ngày thầy đi khất thực , bố thí kẻ nghèo khó , Cô Hai tối về là qua chùa giúp đở Thầy một cách tự nhiên mà Thầy cũng không cần quan tâm hay để ý đến công việc diễn biến điều đặn như vậy , có những lúc cô Hai vắng cả tuần không qua chùa Thầy chẳng hỏi han , thắc mắc . Một sáng nọ , sau giờ Thiền định , nhiếp thọ...... Thầy sửa soạn hành khất thì tiếng bà Tám chanh chua , la lối om sòm trước chùa :

    -Đồ đội lốt thầy tu ... đồ dâm dật... con Thầy thì nuôi đi.

    Thầy chấp tay Mô Phật và trả lời :

    -Thế à !


    Sau khi tru tréo một hồi bà ẩm đứa bé đặt trước mặt chùa và vung vẩy bỏ về.

    Thầy bàng hoàng như đang mộng , Thầy sực tỉnh khi tiếng khóc đứa bé trai vang dội. Thầy im lặng bồng đứa bé mới sanh vào tìm sữa cho bú. Tiếng xấu đồn xa , không mấy chốc cả Quận Bình Thạnh đều biết tin này. Thầy vẫn im lặng và bế đứa bé đi hành khất mỗi ngày , nhưng đến đâu cũng từ chối cúng dường đôi lúc còn bị xua đuổi kèm theo vài lời sỉ vã chua ngoa. Thầy im lặng và khất thực nuôi đứa bé suốt ba năm trong tủi nhục và hổ thẹn.

    Theo dỏi và nhìn hình ảnh con mình được Thầy ẩm đi khất thực , nuôi nấng , không một tiếng thở than. Cô Hai động lòng hối hận không nguôi , sau nhiều đêm suy nghĩ cô lấy hết can đảm thưa chuyện với Mẹ :

    -Thưa Mẹ ! Đứa con đó không phải của Thầy , con đã chữa hoang với anh Tư Đen đầu xóm.


    Bà Mẹ nghe qua như sét đánh ngang tai , hỏi kỹ con gái một lần nữa. Rồi sáng sớm chạy qua chùa quỳ trước mặt Thầy xin lỗi để nhận lại đứa bé :

    -Con thật là tội lỗi. Con nghi oan cho Thầy. Xin Thầy tha lỗi và cho con lại đứa bé.


    Thầy im lặng , hiền từ trả lời :

    -Thế à !


    Nhận định :

    Tu là một chuyện khó , hành là một chuyện khó hơn. Thầy Trần Công Ch đã vượt qua mọi khó khăn , sĩ nhục đời thường để tiến đến tâm Phật. Oan ức không cần biện minh , oán thù không cần đền đáp. Tu là tu ở Tâm và sự nhẫn nhục do lòng Hỹ xã. Từ Bi là chuyện dễ , nhưng Hỹ xã mới là điều khó khăn của kẻ tu hành. Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni trong 14 điều dạy , có điều thứ nhất là quan trọng nhất :

    1- Kẻ THÙ LỚN NHẤT trong đời người là CHÍNH MÌNH.


    Kẻ thù có thể là bên kia chiến tuyến , cầm đao , gậy gộc , súng ống giết địch . Kẻ thù là tâm bỏn xẻn , lời lẽ chua ngoa tìm cách hại nhau. Nhưng kẻ thù nguy hiểm và lớn nhất là CHÍNH MÌNH. Vì Đức Phật dạy " Tất cả do tâm tạo ". Mọi hành động đạo đức hay tàn ác , thù hằn là do tâm mình suy nghĩ để đưa đến hành động. Kẻ thù trước mắt dễ nhìn thấy và đối kháng , nhưng kẻ thù nội tâm khó thấy và khó vượt qua. Ngài vừa thị hiện ở trần gian , chân đi 7 bước và câu nói đầu tiên :

    -"THIÊN THƯỢNG THIÊN HẠ DUY NGÃ ĐỘC TÔN."


    ( Trên trời , dưới đất , cái bản Ngã là trên hết )

    Ai cũng cho ta là giỏi , là hay , là quyền uy là quan trọng nhất trên đời , từ đó đâm ra Ngã mạng khinh khi tất cả những người chung quanh. Sự thông minh và hiểu biết , ưa lý sự đưa đến Ngã chấp.... tất cả những cái Ngã đó đã kéo sâu và nhận chìm con người xuống tội lỗi và bùn đen. Nhất là những bậc tu hành , thân mang chiếc áo cà sa , miệng niệm Phật thì lại càng nắm cái lý lẽ này để tu tập và tiến đến giải thoát .

    Nhẫn là một điều khó , kèm theo sự nhục lại càng khó hơn. Oán thù nên bỏ mà không nên buộc , cố chấp , nghi nan điều mà Thầy Trần Công Ch đã làm được và vượt qua được cả NHẨN lẫn NHỤC. Cuối cùng nhẫn nhục đã tự giải nổi oan khiên của Thầy , nhưng Thầy không hề chấp trước . Từ đó tiếng lành đồn xa , tất cả chúng sanh , Phật tử kể cả ngoại đạo hâm mộ đến cúng dường và đồng lòng rũ nhau quyên góp thành lập chùa để cung thỉnh thầy trù trì làm Viện chủ. Nhưng khi đến đã vắng bóng Thầy trong ngôi chùa tranh nhỏ bé đơn sơ , và cũng từ đó không còn hình ảnh một khất sĩ bồng con đi khất thực quanh vùng Sai Gòn Việt Nam. Thầy đã quán đỉnh LÝ VÔ THƯỜNG , tất cả đều là hư ảo không nên vướn mắc giống như đôi dép rách cần vức bỏ. Tu là tu cho chính mình và tu ở tâm.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  16. #76
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Trong Mắt Tôi .

    GIÁO DỤC.

    Ngày nay sự giáo dục của thế hệ trẽ đang suy thoái và xuống trầm trọng. Do ảnh hưởng những cái gọi là TỰ DO quá đà theo thời đại mang đến. Phật giáo lấy Trí huệ , Hiếu đạo , Đức dục làm câu sửa mình , nhưng đứng trước phong ba , bão táp của vô minh cũng không làm chùn bước sự hoằng pháp chúng sanh đối với Phật giáo . Những gì gọi là đóng góp của Phật giáo đối với nền giáo dục thật sự rất ít người biết đến , hầu hết đạo phật âm thầm hoạt động , không phô trương , tranh dành , lôi kéo như các tôn giáo khác . Ngay cả trong những quốc gia có truyền thống giáo dục Phật giáo như Ấn Độ , Trung Hoa , Việt Nam , Tích Lan , Tây Tạng v.v.....không bị gián đoạn trong nhiều thế kỷ.

    Ngày Đức Phật hiện tiền , hệ thống giáo dục Phật giáo đã bắt đầu hình thành và tuần tự phát triển. Bốn yếu tố liên quan đến quá trình giáo dục của đức Phật tạo thành những nền tảng căn bản cho nền giáo dục Phật giáo là:

    1-Đức Phật là bậc Đạo Sư mẫu mực.

    2-Tăng đoàn là hội chúng có học thức.

    3-Những cơ sở tu viện là cơ sở nền tảng cho nền giáo dục học Phật giáo.

    4-Chủ nghĩa giải thoát có trí tuệ của Phật giáo là động cơ phát triển giáo dục.


    Muốn giáo dục ai thì bậc trưởng thượng đứng đầu phải gương mẫu mới dạy kẻ khác vâng phục , noi theo. Người muốn học phải có kiến thức , trí tuệ rồi sau đó mới đề cập đến cơ sở , tài liệu và lời giảng.

    Đức Phật không dùng những Phép lạ trong sự giáo huấn mà chỉ giảng về " Giáo hoá thần thông ". Khi giảng Đức Phật thường được trình bày chi tiết và tỉ mỉ. Tính rõ ràng, trong sáng , có logic đã làm nỗi bật các bài pháp dài của Ngài, không giảng vô căn cứ , nói hoa hoè , lừa dối chúng sanh như các giáo chủ khác.
    Với một đề tài nào ,Ngài cũng đều tìm cách hướng dẫn người nghe tiến dần từng bước bằng những ví dụ , điễn tích rõ ràng nhằm hướng dẫn người nghe đi đến ý tưởng Ngài muốn diễn tả. Đề cập Kinh chuyển Pháp Luân và Kinh Niệm Xứ là những bài kinh tiêu biểu có một vài đặc điểm dễ nhận biết, vì Ngài thường bắt đầu bài kinh bằng lời giáo huấn gợi sự chú tâm như:

    "Có hai cực đoan người tìm chân lý cần nên tránh."

    "Có một con đường thẳng tắt và đảm bảo đến đích…"


    Ngài giảng rất thực tế , dễ hiểu ứng dụng phép so sánh và phép suy diễn một cách uyển chuyển , được rút ra từ nếp sống hằng ngày của quần chúng để dẫn dụ. Về cuộc đàm thoại với cá nhân Ngài thường sử dụng một vài phương pháp học thuật làm cho câu chuyện trở nên sinh động: thường Ngài làm cho người tranh luận trình bày rõ quan điểm của mình và chấp nhận một lập trường tư tưởng nào đó. Đức Phật sẽ không tiến hành cuộc thảo luận, trừ khi Ngài chắc chắn đã hiểu rõ quan điểm người tranh luận hoặc lời văn hồ đồ , hoặc thảo luận không có chủ đích nhằm bán bổ, mạ lỵ người khác , Ngài chấm dứt hay IM LẶNG.

    (còn tiếp ).
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  17. #77
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Trong Mắt Tôi .

    Đặc điểm của Đức Phật lúc tranh luận không chê bai cũng không bài bác ý tưởng của đối phương, mà Ngài bắt đầu đặt câu hỏi giống như tui hay đặt câu hỏi với các bạn khác . Những câu hỏi này chỉ là những câu hỏi thăm dò, được sắp xếp cẩn thận nhằm chinh phục đối phương nhận ra những lý lẽ ngụy biện của chính mình. Cuối cùng được đưa dần đến chỗ nhượng bộ và bỏ hẳn quan điểm ban đầu của mình , nhưng thực chất tui chưa thấy ai chịu nhường bộ mà còn quay ra chụp mũ , mắng chửi với những ngôn từ không đẹp. Họ lại ăn nói trịch thượng làm như ai già khú đế là giỏi Phật pháp không bằng.

    Đối với Đức Phật rất khuyến khích đệ tử bàn bạc, thảo luận hơn là hùa theo gật đầu , nói suông đôi lúc paste bài người khác mà chẳng hiểu tác giả muốn nói gì. Chúng ta vào Website là để trao đổi , học hỏi lẫn nhau , cái gì hay chúng ta truyền miệng lại để bảo tồn chánh pháp, triển khai những bản luận giải và thu phục ngày càng nhiều đồ chúng nối tiếp tương tự một tiến trình học tập khắp nhân gian. Ngày nay văn minh khoa học giúp cho con người hiểu biết nhanh chóng và dễ dàng khai trí không bị bề trên lừa dối như xưa.

    Ngài thường dùng hình ảnh dẫn dụ , hoặc bằng tranh nhằm giáo dục chúng sanh tuỳ căn cơ mà hoá độ. Trong tất cả những ứng dụng thực hành về một số phương thức giáo dục quan trọng hơn hết của Đức Phật về vấn đề dạy và học cùng các chủ đề liên hệ khác .

    Một đoạn văn thú vị trong Kinh Thiện Sanh (Sigàlovàda) liệt kê bổn phận của thầy và trò như sau. Bậc thầy nên:

    Có lòng thương tưởng đến học trò.

    Rèn luyện phẩm hạnh và tư cách đạo đức cho học trò.

    Truyền dạy cho học trò đến nơi đến chốn kiến thức khoa học và trí tuệ của người xưa.

    Ngợi khen học trò trước mặt các bạn bè và người thân thuộc.

    Bảo vệ học trò khỏi những nguy khốn của cuộc đời.

    Đáp lại, người học trò nên:

    Phụng dưỡng thầy chu đáo.

    Đứng dậy chào khi thầy đi tới và hầu hạ khi thầy cần đến.

    Lắng nghe những lời thầy dạy với lòng tôn kính.

    Thực hiện những bổn phận cần thiết đối với thầy.

    Hết lòng thực hiện những điều thầy truyền dạy.

    Mục đích và ý nghĩa bài giảng nói lên bổn phận giữa thầy , trò trong mối quan hệ giáo dục thế tục ( hay giáo dục học đường). Hơn thế nữa, bản Kinh còn nêu ra một chuỗi bổn phận tương tự giữa bậc Đạo Sư và người đệ tử cư sĩ, trong tương quan của tôn giáo. Ngài đề xướng tự do thảo luận và học hỏi , kể cả lúc Ngài sắp nhập diệt vẫn khuyến khích các đệ tử hỏi Ngài những gì còn chưa hiểu. Ngài còn bảo đảm cho mỗi con người có quyền đầy đủ và không thể bác bỏ trong việc suy tư cho chính mình. Phương pháp tự do và không bị trói buộc về việc phát triển khả năng tư duy trí thức của từng con người. Ngài không muốn chúng ta đọc tụng như những con vẹt. Bởi thế Ngài thường nhắc :

    "Học giáo lý Ta mà không hiểu là phỉ báng Ta "
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  18. #78
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Trong Mắt Tôi .

    ĐIỀU QUAN TRỌNG.

    Như quý vị biết A Na Luật Tôn giả là một vị đệ tử bị mù, tuy bị mù nhưng trong tâm rất sáng tỏ. Lúc đó, A Na Luật vẫn biết Ðức Phật Thích Ca sắp nhập Niết bàn, mà cứ thấy A Nan mãi khóc lóc không ngớt như thế, nên ông ta đến bên cạnh A Nan nói rằng:

    Này A Nan! Ông khóc gì vậy?

    A Nan nói: Ðức Phật Thích Ca sắp nhập Niết bàn, làm sao thầy bảo tôi không khóc! Không có cách nào mà không khóc cả?

    A Na Luật nói: Ồ! Bây giờ thầy đang có nhiều việc trọng yếu phải làm mà! Thầy khóc có ích lợi gì cơ?

    A Na Luật nói vậy, A Nan cũng tỉnh ra một chút và ngớt khóc.

    A Nan nói: À, có việc quan trọng, việc quan trọng gì?

    A Na Luật liền nói: Ðức Phật sắp nhập diệt, chúng ta phải thỉnh vấn, là sau này kết tập Kinh Tạng, thì tất cả những điều Ðức Phật tuyên thuyết sau này, sẽ kết tập thành Kinh điển thì phải mở đầu Kinh điển như thế nào?

    A Nan đáp: Việc này quan trọng đấy, đó là việc phải làm, còn việc gì nữa không?

    Tôn Giả A Na Luật nói: Lúc Ðức Phật còn tại thế chúng ta được theo Phật mà an trú, sau này Ðức Phật nhập Niết bàn rồi chúng ta phải ở trú xứ nào?

    A Nan ngừng một lát rồi bảo: Ồ! Giờ tôi như lẩn thẩn, nếu thầy không bảo tôi có lẻ tôi không nghĩ ra. Việc này cũng khá trọng yếu đấy! Còn việc gì nữa không?

    A Na Luật lại bảo rằng: Lúc Phật còn tại thế, Phật là Ðấng Ðạo Sư của chúng ta, sau khi Phật nhập Niết bàn, chúng ta nên tôn ai làm thầy? Chúng ta nên tiến cử ai làm lãnh tụ Tăng đoàn, một người đại biểu của Tăng già mà mọi người phải tuân thủ?

    A Nan đáp rằng: Ồ! Thầy nói điều này cũng rất quan trọng, đó là điều thứ ba, còn có điều gì nữa không?

    A Na Luật Tôn giả bảo: Ðiều thứ tư là lúc Ðức Phật còn tại thế, có một số Tỳ kheo tha hóa, phạm giới gọi là ‘ác tính Tỳ kheo’ thì Ðức Phật có thể chế phục và giáo huấn được. Sau này Ðức Phật đã nhập diệt thì các ‘ác tính Tỳ Kheo’ này làm sao có biện pháp nghiêm trị?

    A Nan đáp: À! Ðiều này cũng rất quan trọng, còn có vấn đề gì nữa không?

    A Na Luật nói: Không còn nữa! Những vấn đề tôi muốn đề cập tôi đã nói hết. Còn chính thầy còn thắc mắc vấn đề gì nữa không? Tự thầy nghĩ lại xem!

    A Nan đáp: Chính tôi cũng không còn vấn đề gì, bốn điều này đã đủ rồi!

    Vì thế Tôn giả A Nan vội vàng đến chỗ Ðức Phật mà thỉnh vấn:

    Bạch Ðức Thế Tôn! Ngài đã sắp nhập Niết bàn, bây giờ chúng con có mấy vấn đề thắc mắc, kính xin Ðức Phật từ bi chỉ giáo.

    Ðức Phật bảo: Vấn đề gì, ông cứ trình bày ra!

    A Nan liền bạch Phật: Bạch Ðức Thế Tôn! Lúc Ngài tại thế, Ngài có thể giáo hóa được hạng ‘ác tính Tỳ kheo’, còn sau khi Ngài diệt độ rồi thì làm sao có thể hoán cải được họ. Dạ! Ðây là điều thứ tư lẻ ra con không nên hỏi trước, nhưng cũng có thể làm điều thứ nhất để tham vấn Ngài.

    Ðức Phật đáp rằng: Ác tính Tỳ kheo làm sao chế phục ư?

    Các Ngài phải dùng pháp ‘Mặc tẩn’ để bắt đầu hoán đổi họ.

    Sao gọi là mặc? Mặc là im lặng, không có giảng giải gì thêm với họ. Tẩn là gì? Nghĩa là mọi người phải nên cho họ biệt lập, mọi người không được trao đổi, quan hệ gì với họ. Hãy dùng sự ‘im lặng sấm sét’ của Ðại chúng để giải hóa họ? Lời nói không lời ấy sẽ làm cho họ có một sức nén để bừng tỉnh! Ðiều này Ðức Phật có dạy rõ trong Giới luật.

    Ðức Phật bảo: Còn có thắc mắc gì nữa không, ông cứ nói ra.

    A Nan liền bạch: Bạch Ðức Thế Tôn! Lúc Ngài còn tại thế. Ngài là Ðấng Ðạo Sư của chúng con, vậy sau khi Ngài diệt độ, chúng con phải tôn ai làm thầy? Chúng con có phải tìm một vị thầy nào khác để thọ giáo không?

    Ðức Phật bảo: Không phải vậy! Sau khi ta diệt độ, các ông hãy lấy ‘Giới luật’ làm thầy, lấy Ba La Ðề Mộc Xoa làm thầy của các ông. Phàm là Tỳ kheo phải nghiêm trì Giới luật, lấy Giới luật làm thầy!

    A Nan lại bạch Phật: Bạch Ðức Thế Tôn! Lúc Ngài còn tại thế, chúng con được hầu cận bên Ngài, vậy sao khi Ngài diệt độ chúng con biết dời đến trú xứ nào mà cư trú?

    Ðức Phật dạy: Sau khi Ta diệt độ, các ông hãy y theo ‘Tứ Niệm Xứ’ mà an trú. Tứ Niệm Xứ như ta đã từng dạy, các ông phải dùng ‘bốn loại quán’ này để an trú, ngỏ hầu tiến xa trên lộ trình đạo nghiệp.

    A Nan bạch Ðức Phật tiếp: Con còn có vấn đề này nữa, vấn đề này rất trọng yếu hơn các vấn đề trước.

    Ðức Phật bảo: Vấn đề gì nữa, ông cứ nói ra.

    A Nan liền bạch Phật. Bạch Ðức Thế Tôn! Tất cả những lời dạy của Ngài được tuyên thuyết trong đời này. Sau khi Ngài nhập diệt, chúng con phải kiết tập Kinh điển, lúc biên tập chúng con nên dùng chữ gì để mở đầu các Kinh điển, xin Ngài Di giáo.

    Ðức Phật liền dạy: Vấn đề này cơ? Ông nên dùng bốn chữ ‘Như Thị Ngã Văn’ để làm sự mở đầu cho các Kinh điển.


    Nhận định :


    Trước cảnh sắp chia lìa khó ai mà giữ đựơc tâm bình tĩnh , người thân yêu kính trọng nhất đời đó lại là bậc Thầy đại giác ngộ . Nếu không nhờ A Nan Luật nhắc nhở thì có lẽ Ngài A Nan vẫn còn đắm chìm trong đau khổ , hay Ngài A Nan Luật mù loà nên không cảm nhận sự ra đi , sắp mất mác quá vỹ đại đang giáng họa cho đại chúng ?

    Vấn đề A Nan Luật nhận thấy rõ nhất là vấn đề kinh điển phải ghi lại thế nào cho hợp lý . Sau kinh điển là việc trú xứ , ăn ở của tăng đoàn . Điều quan trọng không kém : ai là người chịu trách nhiệm lãnh đạo , làm thầy hướng dẫn . Nếu không có bậc tôn sư lãnh đạo , nghiêm trị cứng rắn , chắc chắn trong hàng ngủ tỳ kheo sẽ lắm người thóai hoá , phạm giới gọi là : "ác tính Tỳ kheo "

    Khi A Nan hỏi làm sao chế ngự " ác tính Tỳ kheo " thì Đức Phật dạy phải dùng " Mặc tẩn " để giáo dục và hóan đổi họ .

    Sao gọi là mặc? Mặc là im lặng, không có giảng giải gì thêm với họ. Tẩn là gì? Nghĩa là mọi người phải nên cho họ biệt lập, mọi người không được trao đổi, quan hệ gì với họ. Hãy dùng sự ‘im lặng sấm sét’ của Ðại chúng để giải hóa họ? Lời nói không lời ấy sẽ làm cho họ có một sức nén để bừng tỉnh! Ðiều này Ðức Phật có dạy rõ trong Giới luật.

    Đây là một bài học Tâm lý mà ngày nay ta có môn gọi là Tâm Lý Học (Psychology) .Khi sắp có vấn đề tranh cải , cách hay nhất để tránh né là IM LẶNG , không giảng giải , reply trả lời tranh cải hơn thua , thời gian làm cho đối phương nguội lạnh ( calm down ) , giảm bớt hung hăng mà văng tục , thô lổ . Ngoài đời thì cách ly , biệt lập không giao du , đếm xỉa làm cho người đó mất đối tác hơn thua . Quả nhiên Đức Phật là bậc thông minh đầy cao kiến . Tôi đã dùng phương thức này áp dụng rất thành công mỗi khi online bị đối thủ xúc phạm .

    Còn khi ghi lại Kinh tại sao phải dùng " Như thị ngã văn " ?Ý là : Tôi nghe (Phật giảng ) như vầy .

    Vì vậy, nên tất cả các Kinh Phật hiện giờ đều mở đầu bằng ‘Như Thị Ngã Văn’. Nghĩa là tất cả những Kinh pháp này là đích thân A Nan tôi tận tai nghe Ðức Phật tuyên thuyết. Tất nhiên Tôn giả A Nan là ‘Ða văn đệ nhất’ nên Ðức Phật đã mật ý phó chúc cho A Nan ‘tái phát âm’. Vì Tôn giả A Nan có một công năng kỳ lạ mà không ai có: Ðó là một điều nghe qua đều nhớ rõ mồn một, gọi là ‘quá nhĩ bất vong’, không bao giờ quên sót.

    Bốn chữ ‘Như Thị Ngã Văn’ này có 3 ý nghĩa.

    Thứ nhất là khác với ngoại đạo.

    Thứ hai tránh tranh luận.

    Thứ ba là đoạn lòng nghi.



    Thứ nhất là khác ngoại đạo: Sao gọi là khác ngoại đạo? Vì tất cả những kinh điển của ngoại đạo. một khi mở đầu thường dùng hai chữ A [ ] và ÚM [ ]. A nghĩa là ‘Vô’ . Úm nghĩa là hữu, mở đầu liền nói ‘Vô hữu’ hoặc ‘hữu vô’. Ngoại đạo có kiến giải rằng, tất cả vạn hữu có hai đạo lý, một là ‘hữu’ và một là ‘vô’.

    ‘Hữu’ có nghĩa là chấp thường.

    ‘Vô’ nghĩa là đã chấp đoạn.

    Nói như vậy thì bất kể cái gì, không phải là ‘vô’ thì nghĩa là ‘hữu’ mà không phải là ‘hữu’ thì là ‘vô’. Nói tóm lại là không thể chấp nhận hai phạm trù ‘hữu vô’ này cũng tức là không thể đưa ra hai kiến giải một đằng là ‘đoạn kiến’, một đằng là ‘thường kiến’

    Ở đây nói ‘Như Thị Ngã Văn’ này cũng không phải chấp đoạn, cũng chẳng phải chấp thường, cũng không phải là ‘hữu’ chẳng khẳng quyết là ‘vô’. Ðó là sự khác nhau với kiến giải ngoại đạo là ở chỗ này vậy.



    Thứ hai là tránh tranh luận.

    Lúc ấy, Tôn giả A Nan chỉ mới chứng Nhị quả Tư Ðà Hàm, tuy về sau lúc kết tập Kinh Tạng A Nan đã chứng được Tứ quả A La Hán, nhưng cũng là một vị A La Hán rất nhỏ tuổi. Trong lúc các vị như Ðại Ca Diếp, Tu Bồ Ðề đều là các vị trưởng thượng, tuổi cao tác lớn, lạp tuế cao thâm, đức độ tròn đầy. Vì A Nan là người tuổi còn trẻ như thế, nên lúc thăng tòa kết tập Kinh Tạng, thì sợ trong đại chúng có người tranh chấp. Bạn cũng muốn là đệ nhất, tôi cũng muốn là đệ nhất, nhưng vì ‘đệ nhất’ chỉ có một người, không thể có nhiều người. Vậy thì nhiều vị A La Hán như thế sẽ tiến cử vị nào? Cho người tuổi lớn thì sợ người tuổi nhỏ không cảm phục, chọn người tuổi nhỏ thì người tuổi lớn không bằng lòng, chọn người trung niên thì cũng chẳng biết chọn ai là hay nhất? Cho nên sẽ không có cách nào sẽ xử lý được sự kiện này, nếu như Ðức Thế Tôn không Di huấn lại.

    Như thế nên dùng bốn chữ ‘Như Thị Ngã Văn’ nghĩa là điều ấy không phải là ý bạn, cũng chẳng phải là ý tôi mà cũng chẳng phải ý của bất cứ một ai cả. Ðó là tất cả những điều mà Ðấng Ðạo Sư tuyên thuyết, nay được kết tập mà không một ai có quyền ‘can gián’ vào đó. Bạn cũng không phải là đệ nhất, tôi cũng không phải là đệ nhất, không có đệ nhất nên mọi người không có sự tranh chấp gì cả.



    Thứ ba là đoạn các nghi.

    Bốn chữ ‘Như Thị Ngã Văn’ này là được Ðức Phật phó thác Di huấn lại. Cũng có nghĩa là những điều sau này được chép lại trong Kinh điển là điều ‘chắc thật’. Ðức Thế Tôn Di huấn là bốn chữ ‘Như Thị Ngã Văn’, trong mật ý là Ðức Phật đã tin chắc và xác quyết lại một lần nữa, là những Kinh điển sau này được Tôn giả A Nan ‘tái thuyết’ thì đều là sự thật. Vì Bảo Tạng Kinh trong ‘Tạng thức ký ức’ của A Nan cũng là Bảo Tạng Kinh mà Ðức Thế Tôn đã từng tuyên thuyết.

    Vì thế bốn chữ này cũng là đại biểu cho ‘Kim khẩu’ của Ðức Phật, nên trong Tăng đoàn và chúng sanh về sau không ai còn có thể thắc mắc, hay nghi hoặc nhữngđiều trong Kinh Tạng nữa.



    ‘Như Thị’ là tín thành tựu.

    ‘Ngã Văn’ là văn thành tựu.

    ‘Nhất thời’ là thời thành tựu.

    ‘Thích Ca Mâu Ni Phật’ là chủ thành tựu.

    ‘Tại Phổ Ðà Lạc Già Sơn’ là xứ thành tựu.

    ‘Lục thành tựu’ này là một sự ‘xác quyết chắc thật’ về những gì xung quanh một Pháp Hội mà Ðức Thế Tôn đã từng thuyết pháp.

    ‘Phổ Ðà Lạc Già’ là tiếng Phạm. Trung văn dịch là ‘Tiểu Bạch Hoa’, vì trên núi này có nở một loại hoa Tiểu Bạch nên gọi núi này là Tiểu Bạch Hoa Sơn hay còn gọi là Phổ Ðà Lạc Già Sơn.

    ‘Quán Thế Âm Bồ Tát cung điện’, đó là cung điện thị hiện của Ðức Quán Thế Âm.

    ‘Bảo Trang Nghiêm Ðạo Tràng Trung’: Là ở trong đạo tràng này đều làm bằng thất bảo rất trang nghiêm. Chính trong đạo tràng này Ðức Thế Tôn ngồi trên bảo tòa Sư tử để đăng đàn thuyết pháp.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  19. #79
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Trong Mắt Tôi .

    BÔNG HOA .

    Nói đến Hoa tức là nghĩ đến cái đẹp , cái tinh khiết , thanh nhàn và cái đẹp của Hoa không có vị bẩn thỉu , nham nhở của xác thịt, vẻ đẹp của Hoa không có mùi quyến rũ của tội lỗi, vẻ đẹp của Hoa là hiện thân của vô thực, vì vô thực chưa hẳn là vô minh , Hoa biết khoe mình trong ánh nắng , biết cất giọng hát theo làn gió đưa buổi sớm mai , cùng sự huyền diệu của ánh nắng kết tinh thành muôn màu sắc thắm tươi dịu hiền , quyến rủ . Cũng từ đó Hoa chính là vị Bồ Tát hoá thân làm đẹp mắt mọi người, để những ai chuộng sắc trần vào Đạo , quên đi giây phút trầm kha của cuộc đời .

    Trong một cành Hoa có mang đầy đủ nhiều sắc tố , trong Hoa có ánh nắng mặt trời , có mây , mưa và gió , có tình thương và trìu mến . Hoa cũng mang những rác rến loại phế thải của cuộc đời khi người ta làm phân bón cho Hoa . Nhưng Hoa đã lớn lên không ô nhiểm vì bụi trần , Hoa vẫn mang hương thơm ngào ngạt , điểm trang góp phần làm đẹp cho cuộc sống . Từ đó Hoa là Từ bi, một đời tặng hết dịu dàng và an ủi cho chúng sanh. Hoa là Hỷ xả, sau khi đem giọt nước mắt của chân mỹ đến để ra đi, không bận tâm vì kiếp sống vô thường. Hoa là Bồ Tát dạy con “tâm vô trụ”, mỗi giây phút của cuộc đời rất quý, đừng để những giây phút ấy trôi qua trong đau khổ, trong địa ngục của giận hờn và lo toan không có ý nghĩa . Mỗi bước chân đi thiền hành trong tĩnh lặng là sự bừng nở của ngàn vạn đoá Hoa theo từng nhịp hơi thở , những giây phút này là sự bừng nở của ngàn vạn đoá Hoa . Hoa sống một cuộc đời bình thản và an lạc nơi mảnh vườn dù hoang vắng, Hoa vẫn bình đẳng trải rộng lòng Từ bi, không phân biệt , đắn đo về lẽ thân tình của mình sẽ đến với ai cho dù được tiếp nhận hay không .
    Chúng ta nên sống trong vô trụ, trải rộng lòng Từ bi đến muôn lòai , không phân biệt tình cảm của người đối người hay với vật vô tri nhỏ bé . Chúng ta hảy để cho đóa Hoa Tâm bừng sáng , bản ngã phải dìm xuống lắng đọng , cho duyên lành đủ môi trường gieo hạt giống Từ Bi nảy nở . Tu là tu ở Tâm và tu cho chính mình hầu đạt đến sự giải thóat khỏi cảnh sanh - già - bệnh - tử .

    Khi Tâm đựơc bình an chính là giải thóat . Giải thóat không phải là trốn tránh cuộc đời mà chính là lúc lăng xã vào cõi Ta Bà cứu nhân độ thế . Lòng còn nghĩ đến sự được mọi người khen tặng là điều không thể có, nhưng hoàn toàn bị chê bai cũng là điều không thật. Nghĩ rằng mình bị mọi người chú ý để chê bai cũng chính là ta đang đề cao cái NGÃ đáng ghét của ta . Bản chất của Hoa mang tướng vô thường mà sống đời vĩnh cửu của Đại Từ - Đại Bi , chính những giây phút đi qua trần thế, nên giọt nắng cõi trần soi vào mắt chúng sanh , khai thị điều thiện mà con người chưa tự chứng hoàn toàn đạt đến thanh tịnh và giải thóat trong thanh khiết như vẽ đẹp muôn thuở của lòai Hoa . Hoa là vĩnh cữu là nếp sống vô ưu . Hoa là biểu tượng là cứu cánh cho chúng ta nhắm đạt đến để vươn lên .
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



  20. #80
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Phật Giáo Trong Mắt Tôi .

    HỘI HOẠ.

    Hội hoạ là một nghệ thuật thanh tao và đẹp đẽ nhất khi mà những nét chấm phá của tâm hồn nghệ sĩ gởi gấm đầu ngọn bút lông và nhờ màu sắc để nói lên sự tao nhã , êm ái của cuộc đời. Nếu hội hoạ được lợi dụng , chuyển hướng cho chiến tranh điêu tàn , dâm ô trụy lạc thì hội hoạ đang đi vào tâm tối và sa đoạ của linh hồn.Cho nên hội hoạ là nói đến cái ĐẸP ( Mỹ ) của thiên nhiên lẫn tâm hồn , từ đó sẽ thấy tất cả vũ trụ này là hiện thân của cái đẹp toàn diện. Vì tất cả vũ trụ tuân theo quy luật hài hoà, cân đối một cách tuyệt vời.

    Tất cả mọi vật lớn nhỏ đều mang cái Nghiệp riêng của nó. Ví như hạt bụi cũng có chỗ đứng của nó trong thế giới này , cũng có số phận, cũng có bắt đầu và chấm dứt , nghĩa là cũng Sanh - Già - Bệnh - Tử . Nói khác đi, cũng bắt đầu hiện diện và có diệt vong. Khi ta vẽ một bức tranh là dùng đôi mắt để quan sát chi tiết sự vật , đặt hết tâm trí quan sát cọng thêm một tâm hồn nghệ sĩ , ta sẽ đạt đến cái đẹp của nó tức là Chân - Thiện - Mỹ. Vậy khi ta hoạ thế giới là hoạ tâm của ta bao trùm vũ trụ. Mà tâm ấy thì bao giờ cũng huyển hoá vô cùng , giống như con vượn trên cành.

    Ta lấy gì để nhìn thế giới , cảnh vật ? Đương nhiên phải lấy “Tánh Không” mà nhìn. Mà “Tánh Không” chẳng phải cần luyện tập mới có, đó là bản tánh tự nhiên vốn sẳn có của muôn vật. Một cây Đào , cây Ổi..... Ta không nhìn thấy cái đẹp của những chùm hoa Đào đang đơm bông nở nụ , cái đẹp sẳn có hồn nhiên trước làn gió thoảng ban mai , với những giọt sương đêm còn đọng lại trên lá lấp lánh khoe màu khi ánh mắt trời ló dạng. Bạn không nhìn cái đẹp của nó vì bạn mang nặng thành kiến của loài người, với Đào , Ổi chỉ là thức ăn cung phụng chúng ta . Vì ta đang mang ảo tưởng về thân làm người của mình, tận đáy lòng vẫn chưa chấp nhận sự thật là không có gì khác nhau giữa con người và một con kiến, con mèo, cây cỏ; chỉ có sự khác biệt về nghiệp quả, mà nghiệp quả thì không thường hằng. Con có cái nhìn buộc tội mọi người đó là bất bình đẳng. Con người không ưa thích sự sống chan hòa , yêu thương lẫn nhau , mà tâm địa lúc nào cũng muốn cai trị , đè đầu kẻ khác dù đồng loại ,đó là tâm bất bình đẳng. Thế thì ta làm sao thấy cái đẹp thật sự được mà hoạ. Bất bình đẳng là căn bệnh tàn phá vũ trụ , giết hại và gậm nhấm tâm hồn. Hình ảnh con chó , con mèo , vi khuẩn.... khi đã phát tâm thệ nguyện tu tập , cầu mong nghiệp dứt chúng không còn bị đoạ trong kiếp ấy, nên hoá sanh vào một thân tướng khác, không còn phải sống kiếp súc vật mà mong hoá thành người . Điều ấy ta nên hiểu và giải thích vì sao có người phát tâm tu thì gặp hiểm nạn , vẫn còn khổ đau hay chưa hoá kiếp . Phát tâm là một việc rất cao quý, đó là sức mạnh thu nhiếp thời gian, sức mạnh vượt qua sanh tử, thu bao nhiêu kiếp vào làm một, sức mạnh của người lội ngược dòng, sức của người chiến đấu với chính mình, sức mạnh của thiên nhiên. Đó là cái năng lực phi thường biến chúng sanh trở thành Phật khi đã vượt qua màng vô minh đi đến giác ngộ.

    Vậy thì hội hoạ là vẽ phương pháp hữu vy. Tả, chỉ lột được cái sự thật ấy, cái bản chất, cái hình dáng thật của mọi vật, thay vì uốn nắn thêm giả tướng theo ý mình. Khi ta có một tình yêu thật sự thì tâm hồn sẽ được diễn tả , nhảy nhót bay bướm trên đầu ngọn bút lông cùng màu sắc hòa nhịp với tâm hồn đơn điệu. Trong cuộc đời thường con người đã bỏ chiếc bóng vốn quý của mình. Thế nên, con người là nguồn ánh sáng rực rỡ mà không tự biết, đi tìm ánh sáng bên ngoài để nhìn mình, để chồng chất thêm những màn đêm làm mờ đi ánh quang minh của tự thân , phải biết kìm chế cái Ngã cho thân được tự tại và tâm hồn sẽ vươn lên. Từ đó tâm sẽ hòa nhịp cùng linh hồn đưa ngọn bút kỹ thuật hội hoạ đạt đến đỉnh cao. Nói chung , hội hoạ gắn liền với tâm cùng linh hồn , mà đôi mắt là ngưỡng cửa của linh hồn từ đó đi ra.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



Page 4 of 14 FirstFirst 12345678910111213 ... LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. ảnh hưởng Cơ Đốc giáo trong lịch sữ Mỹ ..
    By cdcd in forum Tìm hiểu về Tin Lành
    Replies: 3
    Last Post: 04-07-2010, 08:02 PM
  2. ảnh hưởng Ki tô giáo trong lịch sữ Mỹ ..
    By cdcd in forum Tìm hiểu về Công Giáo
    Replies: 3
    Last Post: 03-04-2010, 01:43 PM
  3. Trộn đất và cây trong chậu...
    By DanOngThoiNay in forum Hoa và Cây Cảnh
    Replies: 17
    Last Post: 07-30-2009, 03:55 PM
  4. Phật Giáo Trong Mắt Tôi ( câu hỏi )
    By annsie in forum Tìm hiểu Về Phật Giáo
    Replies: 0
    Last Post: 07-15-2009, 06:51 PM
  5. Khôn Ngoan Trong Việc Ác, Dốt Nát Trong Việc Lành
    By thằng vẹm in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 10
    Last Post: 05-19-2008, 04:24 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •