Page 7 of 10 FirstFirst 12345678910 LastLast
Results 121 to 140 of 183

Thread: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

  
  1. #121
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Bước tới đi em

    • Lê Hải Lăng



    Bước tới đi em
    Tìm lại dòng sông tuổi mộng
    Dấu miệt mài ngất ngưỡng bước chân khô
    Quê hương đâu sao không thấy bến bờ
    Ai đứng chờ
    Ai ngồi đợi
    Ai phất ngọn cờ cho lá nở ra hoa
    Cho hồn Xuân lấp lánh mọi nhà
    Cho chim Quốc vọng lời ca bất diệt
    Có phải em là hoa hương diểm tuyệt
    Thắp đuốc mở đường đi
    Đánh thức
    Hàng triệu kẻ ngủ say ghì

    Bước tới đi em
    Quét rác bộ mặt đời
    Lũ côn trùng ngoại lai
    Mười lăm bàn tay xảo quyệt
    Xẻo từng mảng thịt đất đai
    Đổi trắng thay đen bài lịch sử
    “Xã hội chủ nghĩa” là cái chó chi
    “Cọng hoà nhân dân” trâu ngựa

    Bước tới đi em
    Gờn gợn hương thề trên mái tóc
    Bốn nghìn năm vương vấn nợ tâm tình
    Quê hương mình
    Phải có bàn tay thanh xuân ngoại lực
    Gió mười phương tiếp sức…
    Bước tới đi em
    Sương lấp lánh ôm bờ vai bé nhỏ
    Gió vấn vương mang ý Mẹ diệu kỳ
    Em vung trời xây mộng ước uy nghi

    Sáu mươi mùa Thu đi
    Hiện hữu hôm nay
    Đảng cướp vẫn múa may cười
    “Tàu phù” đã ra khơi
    Biển nổi sóng ngầm
    Đất dậy khói
    Lửa tới chân rồi
    Buồn đau ơi nòi giống.

    Lê Hải Lăng
    Lannguyen

  2. #122
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Tưởng nhớ tất cả các chiến sĩ

    Monday, May 25, 2009



    Tin Hình: Hoàng Mai Ðạt/Người Việt

    Bà Phạm Thị Trầm, 83 tuổi, một cư dân Garden Grove, đang cắm nhang tại mộ của cố Ðại Úy Lê Văn Hai, chồng của bà, tại nghĩa trang dành cho các chiến sĩ từng phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

    Nghĩa trang này nằm trong khuôn viên của Westminster Memorial Park, thành phố Westminster, được cắm đầy cờ nhân ngày Lễ Chiến Sĩ Trận Vong.

    “Hôm nay bác mới có dịp đi thăm ông ấy,” bà nói. Vào sáng Thứ Hai, các cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa đã tổ chức lễ tưởng niệm tại Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ, cũng ở Westminster.

    Ở Hoa Thịnh Ðốn, Tổng Thống Barack Obama đã viếng mộ Chiến Sĩ Vô Danh tại nghĩa trang quốc gia và gởi vòng hoa đến khu nghĩa trang dành cho các chiến sĩ thuộc phía miền Nam trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ. Khác với những vị tiền nhiệm, ông Obama cũng gởi hoa đến đài tưởng niệm dành cho 200,000 chiến sĩ da đen từng hy sinh trong cuộc nội chiến này.
    Lannguyen

  3. #123
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Cựu quân nhân VNCH tưởng niệm chiến sĩ trận vong

    Monday, May 25, 2009



    Nam nữ cựu quân nhân QLVNCH cử hành lễ Tưởng Niệm trước Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ trong ngày Chiến Sĩ Trận Vong. (Hình: KBC Hải Ngoại)

    WESTMINSTER (NV) - Sáng hôm qua Thứ Hai 25 Tháng Năm, vào lúc 10 giờ, hơn 60 anh chị em cựu quân nhân QLVNCH trong 17 hội đoàn của Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Nam California trong những lễ phục của binh chủng mình, đã làm lễ đặt vòng hoa Tưởng Niệm trước Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ nhân ngày lễ Memorial Day (Lễ Chiến Sĩ Trận Vong) của Hoa Kỳ.

    Tiếp đó phái đoàn cựu quân nhân thuộc Liên HộiCựu Chiến Sĩ VNCH Nam California đã đến Nghĩa Trang Quân Ðội VNCH tạiWestminster Memorial Park, chia nhau đi cắm cờ Vàng và hoa trên các mộ cựu quân nhân VNCH được an táng tại đây.

    Sau đó, vào buổi trưa cùng ngày, phái đoàn cũng sang tham dự Lễ Memorial Day tại nghĩa trang Westminster Memorial Park do thành phố Westminster tổ chức. Phái đoàn cựu quân nhân VNCH được kể là đông nhất trong buổi lễ của thành phố Westminster. (NH)
    Lannguyen

  4. #124
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà

    ( Nguyễn thị Thảo An)



    "...Người Cộng Sản chân chính có truyền thống là những người không hề biết hoà bình, không sống được trong hoà bình thật sự...
    Khởi đầu là việc cày nát nghĩa trang Quân đội và hạ tượng Người Lính Việt Nam Cộng Hoà..."


    Không biết bắt đầu từ thuở nào có một quy luật hình thành là ở một thể chế chính trị, đều thành lập một lực lượng để bảo vệ mình, lực lượng đó được gọi là quân đội. Quân đội sinh ra từ chế độ và nó cũng vẽ nên những chân dung của chế độ. Chế độ tốt sẽ xây dựng nên một quân đội tốt. Quân đội tốt sẽ không dung dưỡng một chế độ xấu. Từ hơn hai nghìn năm về trước, người lính Việt Nam với chiếc áo trấn thủ, mang gươm giáo ngàn xưa để gồng gánh trên vai những nhiệm vu giết thù diệt loạn, bảo quốc an dân, giữ gìn cơ nghiệp của tiền nhân. Trải qua bao thăng trầm của đất nước, hình ảnh của người lính thay đổi qua bao thời thế, nhưng trách nhiệm không hề thay đổi.

    Người thanh niên tuổi trẻ Việt Nam từ khi bước vào quân trường, khoác vội bộ đồ trận, lưng mang vác ba lô cho tới khi anh đứng nghiêm với lời tuyên thệ Vị Quốc Vong Thân. Người tuổi trẻ đã trở thành người lính. Anh trưởng thành hơn bóng dáng của quê hương. Người lính với chiếc nón sắt xanh đậm tròn tròn như nửa vầng trăng in rõ bóng trên nền trời xanh lơ. Anh đã bước ra, tay ôm súng và chân mang giày trận, anh giẫm mòn nửa vòng đất nước đi canh giữ cho quê hương.

    Bắt đầu từ thập niên Sáu Mươi, khi kẻ thù phương Bắc, với xe tăng súng cối, với những chủ thuyết ngoại lai, với những xích cồng nô lệ, đã toan tính nhuộm đỏ quê hương, thì từ đó, người lính đã hiện diện trong tuyến đầu lửa đạn. Anh mang vác hành trang, chiếc ba lô nặng cồng kềnh để chận bước quân thù, để bảo vệ miền Nam.

    Ðất nước hai mươi năm chiến tranh, hai mươi năm dài người lính hầu như không ngủ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn ngày để anh đi từ sáng tinh mơ, chân giẫm ướt ngọn sương mai trên cỏ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn đêm, bóng anh mịt mờ trong núi rừng lạnh giá. Hai mươi năm, anh nghe tiếng đại bác vang trời không nghỉ.

    Tiếng mưa bom đạn réo bên mình. Tiếng xe tăng nghiền nát đường quê hương. Hai mươi năm, anh đã đem sinh mạng của mình đặt trên đường bay của đạn. Ðã đem hy vọng cuộc đời đặt trên khẩu súng thân quen. Hay đã đem tình yêu và nỗi nhớ đặt trên đầu điếu thuốc. Hai mươi năm chiến tranh có bao ngày anh được ngủ yên trên chiếc giường ngay ngắn. Có bao đêm anh mơ được trọn giấc bình yên. Hay anh đã sống thân quen với đời gian khổ và đánh bạn với gian nguy.

    Anh với đầu đội súng và vai mang ba lô, lội qua những vũng sình lầy nước ngang tầm ngực. Anh đã đi qua những địa danh xa lạ: Ashau, Ia Drang, Kontum, Pleime, nơi giơ bàn tay cũng không thấy được bàn tay. Hay anh truy địch ở bờ sông Thạch Hãn lừng lững sương mai, ở phá Tam Giang sóng vỗ kêu gào hay ở Cổ Thành xứ Huế mù sương. Dài dọc xuống Miền Nam với rừng Tràm, rừng Ðước, đến Ðồng Tháp Mười anh đã nghe muỗi vo ve như sáo thổi.

    Anh đã đến những nơi mà anh không tưởng, anh đi diệt địch và anh đã ngã xuống địa danh chẳng quen dấu chân anh. Người lính nằm xuống ở Miền Nam xanh tươi ngọn mạ, ở những vùng trầm se rét Miền Trung, hay ở Miền Ðông xác thân thối rửa Từ Ấp Bắc, Ðồng Xoài, Bình Giả... cho tới Tống Lê Chân, An Lộc, Bình Long, người lính đã căng rộng tấm poncho để che kín bầu trời Miền Nam được yên ấm tự do. Nối gót tiền nhân, người lính, mỗi người lính đã đem 3.8 lít máu tươi, tưới cho thắm tươi hoa lá ruộng đồng, đã đem mỗi một 206 lóng xương khổ nạn của mình cắm trăm nẻo đường quê hương muôn ngã, để cho chính nghĩa quốc gia tự do được tồn tại. Ðể cho người dân quốc gia được sống no ấm ở hậu phương.

    Những người dân quốc gia, những người dân quốc gia không hề muốn trở thành dân Cộng Sản, những người quốc gia luôn muốn bỏ chạy khi Cộng Sản tới và núp bóng người lính để được sống an nhàn ở chốn hậu phương. Họ hoàn toàn trao trọng trách bảo vệ quốc gia, ngăn thù dẹp loạn như một thứ công việc và trách nhiệm của người làm nghề lính, như thể không liên quan gì tới họ. Và họ tự trấn an lương tâm rằng người lính sẽ không bao giờ buông súng và sẽ mãi mãi bảo vệ họ tới cùng. Vì thế, họ luôn yên tâm sống ở hậu phương, yên tâm kiếm tiền và tranh đua đời sống xa hoa phè phỡn trên máu xương của người lính.

    Và ở hậu phương, người lính đồng nghĩa với nghèo, đời lính tức là đời gian khổ, và tương lai người lính đếm được trên từng ngón taỵ Thế nên, người lính về hậu phương, anh ngỡ ngàng và lạc lỏng. Bỗng hình như anh cảm thấy mình như người Thượng về Kinh. Như vậy thì người ta tội nghiệp người lính và yêu người lính để thể hiện tình quân nhân cá nước trong sách vở, báo chí và truyền hình.
    Ðó là những người đàn bà bình dị với tấm áo vải nội hoá rẻ tiền, với đôi guốc vông kẻo kẹt, đóng vai vừa là người mẹ vừa là người cha nuôi con nhỏ dại, gói ghém đời sống bằng lương người chồng lính chỉ vừa đủ mua nửa tháng gạo ăn. Ðó là những người đàn bà tất tả ngược xuôi, lăn lộn thăm chồng ở các Trung Tâm Huấn Luyện, hay ở những nơi tiền đồn xa xôi với vài ổ bánh mì làm quà gặp mặt. Ðó là những người âm thầm và lặng lẽ, chịu đựng và hy sinh để chồng luôn an tâm chống giữ ngoài trận tuyến với đối phương.

    Hạnh phúc của họ mong manh và nhỏ bé, bất chợt như tình cờ. Có thể ở một thỏi son nhỏ bé mà người lính mang về để tặng vợ, có thể là một chiếc nón bài thơ, hay chút tình cờ ở một buổi tối người lính chợt ghé nhà thăm vợ. Hạnh phúc ở trong chén trà thơm uống vội, hay ở lúc nhìn đứa con bé nhỏ chào đời tháng trước.

    Người vợ lính cũng là những người hằng đêm thức muộn để lắng tai nghe tiếng đại bác thâu đêm, rồi định hướng với lo âu trằn trọc. Ðó là những người đàn bà mà sau mỗi lần đơn vị chồng đụng trận, đi thăm chồng giấu giếm mảnh khăn sô.

    Trong nỗi chịu đựng hy sinh, âm thầm và kỳ vĩ, họ vẫn sống và luôn gắng vượt qua để cho người chồng an tâm cầm súng. Ðể anh, người lính, anh mang sự bất công to lớn, sự bạc đãi phủ phàng, anh vẫn đi và vẫn sống, vẫn chiến đấu oai hùng giữa muôn ngàn thù địch.
    Ở chiến trường, anh đối diện với kẻ thù hung ác, ở hậu phương anh bị ghét bỏ khinh khi, trên đầu anh có lãnh đạo tồi, sẵn sàng dẫm xác anh để cầu vinh cho họ, đồng minh anh đợi bán anh để cầu lợi an thân.

    Những người dân của anh, những người anh hy sinh để bảo vệ từ chối giúp anh truy lùng kẻ địch, và điềm nhiên để anh lọt vào ổ phục kích của địch quân. Những người dân bán rẻ linh hồn cho quỷ, tiếp tay cho địch thác loạn ở hậu phương, đó là những kẻ chủ trương đòi quyền sống, trong đó không bao gồm quyền sống của anh.

    Những kẻ để trái tim rung động tiếc thương cho cái chết của kẻ thù nhưng dửng dưng trước sự ngã xuống của anh. A dua, xu thời là bọn báo chí ngoại quốc thiên tả, lệch lạc ngòi bút, ngây thơ nhận định, mù quáng trong định kiến. ất cả vây quanh anh để tặng cho anh những đòn chí tử. Người lính bi hùng và bi thảm. Anh chống địch mười phương, tận lòng trong đơn độc, anh vẫn hy sinh và chống giữ tới hơi thở cuối cùng.
    Lannguyen

  5. #125
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà [2]

    ( Nguyễn thị Thảo An)

    Ngày Hoà Bình, 28 tháng Giêng năm 1973 hiệp định Paris được ký kết Hoà Bình thật đến trên trang giấy, đến với thế giới tự do. Thế nên, thế giới tự do nâng ly để chúc mừng cho hoà bình của họ và nhận giải Nobel. Nhưng hoà bình đến ở Việt Nam tanh hôi mùi máu, đen ngòm như tấm mộ bia. Và anh, anh là vật thụ nạn trong cái hoà bình bi thảm. Người lính vẫn tiếp tục ngã xuống, đem xác thân đắp nên thành luỹ để ngăn bước quân thù. Từ Ðông sang Tây, từ Nam chí Bắc, từ ngàn xưa và cho tới ngàn sau, có một quân đội nào mang số phận bi thương và oai hùng như người lính?

    Những người lính chịu uống nước rễ cây và đầu không nhấc thẳng, đi luồn dưới Rừng Sát suốt 30 ngày không thấy ánh mặt trời. Những người lính đi hành quân mà không người yểm trợ để hai ngày ăn được bốn muỗng cơm, hay ăn luôn năm trái bắp sống và những lá cải hư mục ruỗng, miệng thèm một cục nước đá lạnh giữa cái nắng cháy da.
    Người lính, người ở địa đạo Tống Lê Chân ăn côn trùng để tử thủ giữ ngọn đồi nhỏ bé. Người nằm xuống ở An Lộc, Bình Long. Và thủ đô, vòm trời thân yêu mà anh mơ ước để tang truy điệu cho anh chỉ có ba ngày. Ba ngày cho sinh mạng của năm ngàn người ở lại. Người ta lại tiếp tục vui chơi và quên đi bất hạnh. Bởi bất hạnh nào đó chỉ là bất hạnh của riêng anh.

    Người lãnh đạo anh còn mè nheo ăn vạ. Và anh, anh phải đóng trọn vai trò làm vật hy sinh. Trước nguy nan, lãnh đạo anh tìm đường chạy trốn thì anh vẫn còn cầm súng ở tiền phương. Anh đã chống giữ, chịu đựng từng đợt xung phong ở Ban Mê Thuột mỗi ngày 24 giờ, không có ai yểm trợ, tiếp tế từ hậu phương. Nhưng ở đó, anh vẫn phải tử thủ cho con đường tẩu thoát của cấp lãnh đạo anh tuyệt đối được bình yên.

    Và đồng minh của anh, người đồng minh đã từng sát cánh, cùng chia sẻ nỗi gian nguy ở Hạ Lào, Khe Sanh dưới trời mưa pháo, nay lại nghiễm nhiên nhìn anh đi những bước cuối cuộc đời. Phải chăng nhân loại đang trút những hơi thở cuối cùng nên lương tâm con người đang yên nghỉ ?

    Cho nên, cả thế giới lặng câm để nhìn anh chết. Không chỉ cái chết riêng cho mỗi mình anh, vì bởi dưới đuờng đạn xuyên qua, xác thân anh ngã xuống thì đau thương đã vụt đứng lên. Cái bi thương có nhân dáng lớn lên và tồn tại suốt ngang tầm trí nhớ. Và người lính, anh vẫn kỳ vĩ và chịu đựng như vị thần Atlas mang vác quả địa cầu, người lính đã mang vác và bảo vệ mấy trăm ngàn người dân trên đường triệt thoái.

    Trên những con đường từ Cao Nguyên không thiếu những người lính gồng gánh cho những người cô dân chạy loạn. Tay anh dẫn em thơ, tay dắt mẹ già chạy trong cơn mưa pháo. Và anh đã làm dù, làm khiên đỡ đạn, cho nên thân xác anh đã căng cứng mấy đường cây số, hay xác làm cầu ở tỉnh lộ 7B, anh đã chết ở Cao Nguyên lộng gió và đếm những bước cuối đời ở ngưỡng cửa thủ đô.

    Bởi lãnh đạo đầu hàng nên anh nghẹn ngào vất đi súng đạn. Với nham nhở mình trần, anh vẫn chưa tin đời đã đổi thay. Có thật không? Hai mươi năm chiến tranh kết thúc? Giã từ những hy sinh và gian khổ của hôm quả có thật không? gày buông rơi vũ khí, anh mơ được về để an phận kẻ thường dân? Và có thật không? Anh được đi, được sống giữa một quê hương rối loạn tràn ngập bóng quân thù? Anh đã khóc nhiều lần cho quê hương chinh chiến và đã khóc nhiều lần cho những xác bơ vơ. Lính khổ lính cười, dân khổ để người lính khóc. Và có ai, từng có ai trong chúng ta đã khóc thương cho đời lính?

    Thương cho người lính với trái tim tan vỡ từ lâu. Bởi trái tim anh đã hơn một lần để lại dưới chân Cổ Thành Quảng Trị, ở một mùa Xuân xứ Huế năm nào, ở Hạ Lào, Tống Lê Chân hay ở trong cái nồi treo lủng lẳng trên ba lô khi anh hô xung phong để tiến vào An Lộc? Người lính thật sự trái tim anh tan vỡ từ lâu.

    Lịch sử đã sang trang, và loài người đã bắt đầu đi những bước cuối cùng trên trái đất? Thế nên thời trang nhân loại là thứ phấn hương tàn nhẫn, và môi tô trét thứ son vô tình. Cả thế giới đồng thanh công nhận và gửi điện văn chúc mừng sự thống nhất ở Việt Nam. Và người ta uống chén rượu mừng để truy điệu Việt Nam đi vào cõi chết, chúc mừng Việt Nam có thêm 25 triệu nô lệ mới nhập tên. Hoà bình đã nở hoa trong cộng đồng thế giới, trong đời người Cộng Sản, nhưng hoà bình không thật đến ở Việt Nam.

    Người Cộng Sản chân chính có truyền thống là những người không hề biết hoà bình, không sống được trong hoà bình thật sự. Như con giun, con dế sợ ánh sáng mặt trời. Thế nên họ dẫn dắt toàn dân đi xây dựng văn minh thời thượng.
    Khởi đầu là việc cày nát nghĩa trang Việt Nam Cộng Hoà và hạ tượng Người Lính Việt Nam Cộng Hoà. Người Lính rơi xuống vỡ tan trong lòng đường phố, nhưng từ đó anh mới thực sự đứng lên, đứng thẳng và oai hùng hơn trước trong trái tim của người dân Việt Miền Nam.

    Bởi từ khi những người bộ đội Cộng Sản bước chân vào thành phố, thì người dân Quốc Gia mới thật sự hiểu được giá trị của anh. Và những sự lầm lẫn và hối hận hôm nay hình như luôn theo nhau đi vào lịch sử. Vậy thì, khi ta chết trên con đường chạy loạn, khi ta chết ở bãi Tiên Sa, ta vùi thân nơi vùng kinh tế mới hay ta chìm dưới đáy biển Ðông, không phải vì khẩu súng rơi trên tay người lính, mà ta chết bởi viên đạn ích kỷ, viên đạn lãnh đạm và thờ ơ xuất phát từ trái tim bắn ngược lại chính ta. Bởi sự thật về người Cộng Sản đã đi quá tầm tưởng tượng và sự hy sinh của người lính vượt quá nỗi bi thương.

    Hai mươi năm chiến tranh, hơn hai trăm ngàn người lính, hơn năm trăm ngàn thương binh đã để lại hai trăm ngàn sinh mạng và năm trăm ngàn những phần cơ thể để lại trên chiến trường khốc liệt. Ðể cho chúng ta có một bầu trời để thở, có một khoảng không gian đi đứng tự do, để cho tuổi thơ của chúng ta không phải đi lượm ve, lượm giấy, không phải đeo khăn quàng đỏ và ngợi ca những điều dối gạt chính mình.

    Ðể cho bàn tay thiếu nữ không chạm bùn nhơ thủy lợi, tuổi thanh xuân không phải vùi chôn ở những gốc mì. Ðể cho bà mẹ già không phải ngồi mơ ước miếng trầu xanh, và những giọt nước mắt thôi không cần tuôn chẩy.

    Nhưng lịch sử đã sang trang, những trang hồng tươi màu máu cho người Cộng Sản và cũng là những trang đẫm máu và nhơ bẩn nhất cho cả lịch sử của dân tộc Việt Nam.
    Anh, người lính trong thời chiến thành người tù của thời bình. Người lính chịu số phận bi thương của chiến tranh và cũng chịu luôn số phận tàn nhẫn trong thời bình. Anh người lưu vong trong lòng dân tộc, và lưu đày ở chính quê hương anh.

    Bởi Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu một cuộc chiến tranh mới và đẩy anh xuống đáy trầm luân. Cũng chính từ chiến trường Tù Ngục này mà Cộng Sản đã chứng minh được Chúng và Anh không là đồng loại. Chúng, là lũ Cộng Sản cuồng tín, và tàn bạo nhất giữa thế giới Cộng Sản và vô nhân. Chúng lập nên một vương quốc mới mang tên là Lừa Dối, và mở ra một kỷ nguyên giết người theo kiểu mới, giết người bằng những mỹ từ đẹp đẻ, bằng lao động vinh quang
    Lannguyen

  6. #126
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà [3]

    ( Nguyễn thị Thảo An)



    Người lính bước vào trận chiến mới, chiến trường có tên là cải tạo, và anh người tù nhân không có án. Ở đây anh không có lãnh đạo, không có đồng đội, không có hậu phương. Kẻ thù vắt cùng, vắt kiệt sức lực anh trong rừng thẳm. ày đọa sỉ nhục anh dưới hố xí tanh hôi, đem thanh xuân và tài hoa của anh vùi chôn ở những vòng khoai vớ vẩn. Ðặt hy vọng của anh máng vào những mốc thời gian. Người lính đã trở thành vật thụ nạn thời bình. Anh chết đói bên những vòng xanh nở rộ do chính tay anh cày xới vun trồng. Anh chết khát khi bên ngoài mưa rơi tầm tã. Giữa những trùng vây sóng dữ, giữa bóng tối cô đơn Anh vượt qua sự chết để đem về nghĩa sống. Anh đi xiếc qua những ranh giới tử sinh để chứng minh được phẩm giá con người. Ðôi mắt anh cao ngạo và chân đạp chữ đầu hàng.

    Từ trong tăm tối hận thù, anh thắp sáng lên ý nghĩa đời người. Anh đã chiến đấu, để từ trong cõi chết anh bước ra mà sống. Ðể anh trở về từ địa ngục trần gian. Bao đồng đội bất hạnh đã ngã xuống trong rừng thẳm, cuối cùng anh đã trở về:

    Ta về cúi mái đầu sương điểm
    Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
    Cám ơn hoa đã vì ta nở
    Thế giới vui từ mỗi lẻ loi

    (Tô Thùy Yên)

    Nước mắt anh không rơi trong ngục tù Cộng Sản, nước mắt anh rơi khi anh được trả tự do. Anh bước về, anh đi giữa lòng quê hương. Anh ngỡ ngàng như thức từ cơn mộng. Có thật chăng đất nước Việt Nam, tàn hơn 30 năm chinh chiến và tù đày, để anh có được một đất nước thanh bình điêu tàn hơn thời chiến?

    Và tuổi trẻ, những mầm non đất nước hôm nay xa lạ như người không cùng chung dòng giống. Anh đi trên đường phố xưa, đường đã đổi tên. Anh tìm bạn bè cũ, đứa còn đứa mất. Quê hương này không có chỗ cho anh?

    Hai mươi năm chiến chinh, mười mấy năm tù đày trên chính quê hương để rồi anh phải tha hương biệt xứ. Người lính, mười bốn năm lính, mười bốn năm tù, tài sẵn có, được trí trá vài đô la, và mái đầu sương điểm để anh bước vào đời lần nữa.

    Anh không có quyền bắt đầu, chỉ có quyền tiếp tục trôi theo dòng đời nghiệt ngã. Người lính cũ ngồi bán nước đá bào cho học trò giờ tan học ở chính quê hương. Hay anh, người lính lưu vong ngồi bán thuốc lá lẻ hằng đêm trong những tiệm Seven Eleven trên đường phố Mỹ. Ba mươi năm vết thương cũ hầu như chưa lần khép kín. Ôi, hai mươi sáu chữ cái bắt đầu từ a, b, c, đ dẫu sắp xếp khéo léo tới đâu vẫn không đủ để viết nên những bi hùng anh đã đạt. Và cần phải thêm vào bao nhiêu chữ nữa mới diễn tả lên sự xót thương anh.
    Chúng ta đã quá may mắn, quá vinh dự để trang sử Việt Nam có thêm những anh hùng như người lính Việt Nam Cộng Hoà, những anh hùng vô danh và sống đời thầm lặng, những anh hùng bình thường mà ta chưa có dịp vinh danh.

    Nhưng cho tới nay, ta đã làm gì để tri ân người lính Quốc Gia. Chúng ta những người dân Quốc Gia đi chung con thuyền Miền Nam do các anh chèo chống, đưa qua những con sóng dữ Việt Nam. Những người quốc gia đã sang thuyền trong cơn quốc nạn, và đã để mặc anh chìm trong cơn Hồng Thuỷ của Việt Nam.

    Chúng ta, những người quốc gia tầm gửi, đã sống nhờ trên máu xương người lính, và chưa lần đóng góp nào cho chính nghĩa quốc gia. Có phải giờ đây, chúng ta tiếc thương người lính bằng đầu môi chót lưỡi, bằng những video, nức nở kêu gào, hay chúng ta khóc cho người lính bằng những trang thơ vớ vẩn? Và có ai, có ai trong chúng ta cảm thấy thẹn khi ta đã đôi lần hãnh diện vì ta nói tiếng Anh trôi chẩy hơn họ, xe ta đẹp, nhà ta to.

    Ngày nay, Người Cộng Sản ở quê hương với đôi tay đẫm máu của thuở nào cũng nói lời phản tỉnh. Vậy còn ta, bao nhiêu người Quốc Gia sẽ thức tỉnh để vẽ chân dung kỳ vĩ và nhiệm màu của Người Lính chúng ta. Có ai trong chúng ta sẵn sàng chi tiêu những bữa tiệc đắt tiền trong những nhà hàng danh tiếng, mua những tấm vé vào cửa của đại nhạc hội lừng tên mà ta tiếc bỏ tiền ra để quyên góp, xây lại tượng Người Lính ở thủ đô đã ngã xuống hôm nào.

    Ðể một mai, khi quê hương không còn giống Cộng Sản, ta đem anh về trở lại quê hương. Ðể anh được đứng lên chính nơi anh ngã xuống như cùng thời với đất nước lúc hồi sinh.
    Bao nhiêu chuyên gia nhóm họp nhan đề "xây dựng lại đất nước trong thời hậu Cộng Sản". Vậy có ai đã đặt kế hoạch tri ân cho người lính ? Bởi, một ngày nào mà ta chưa biết tri ân người lính và đặt họ ở một địa vị xứng đáng mà đáng lẽ họ phải ở từ lâu, thì làm sao ta có thể xây dựng được một xã hội đáng gọi là nhân bản.

    Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà.... Hãy giữ gìn và bảo vệ tinh thần Vị Quốc Vong Thân của họ như giữ gìn ngọn lửa thiêng trong lòng dân tộc, thì dân tộc ta mới mong có được những truyền nhân xứng đáng với thế hệ tương lai....

    Nguyễn thị Thảo An
    Lannguyen

  7. #127
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Ngày Cảnh Sát Quốc Gia 1 tháng 6

    Tuesday, May 26, 2009




    Quang cảnh phút khai mạc lễ Kỷ Niệm Ngày Cảnh sát Quốc Gia 1 Tháng Sáu tại nhà hàng Regent West.



    Hình dưới: Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh (thứ ba từ phải) cùng cựu Tư Lệnh CSQG Nguyễn Khắc Bình (thứ tư từ phải) cùng các niên trưởng CSQG đang dâng nén hương tưởng niệm đến các chiến sĩ CSQG và QLVNCH trong Ngày Cảnh Lực 1 Tháng Sáu.

    'Lương tri của người từng là một chiến sĩ Cảnh Sát VNCH không cho phép chúng ta thụ động chờ người khác làm.'

    Bài và hình: Nguyên Huy/Người Việt

    WESTMINSTER (NV) - Ngày 1 Tháng Sáu, Ngày Cảnh Lực hay Ngày Cảnh Sát Quốc Gia VNCH, từ bấy lâu nay vẫn được những cựu Cảnh Sát Quốc Gia hải ngoại khắp nơi tổ chức kỷ niệm, nhất là tại Little Saigon, thủ phủ của người Việt tị nạn.

    Năm nay, theo thông lệ , lễ kỷ niệm Ngày Cảnh Sát Quốc Gia vừa được tổ chức tại nhà hàng Regent West, ở thành phố Santa Ana, Nam California vào trưa Chủ Nhật 24 Tháng Năm. Trên 500 anh chị em cựu chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia từ nhiều nơi đã về tham dự.
    Trong số quan khách niên trưởng có cựu Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình, nguyên Chỉ Huy Trưởng ngành Cảnh Sát Quốc Gia, Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, Chủ Tịch Hội Ðồng Ðiều Hành Tập Thể Chiến Sĩ VNCH và nhiều niên trưởng trong ngành Cảnh Sát VNCH trước đây như cựu Chỉ Huy Trưởng Học Viện CSQG Trần Minh Công .

    Số anh chị em ở xa về có các phái đoàn đại diện Ái Hữu CSQG Úc Châu, Minesota, Orlando Florida, Âu Châu, Washington State, Bắc California, Nam California và San Diego... Theo ông Phan Tấn Ngưu, tân tổng hội trưởng Hội Ái Hữu CSQG thì có đại diện của 27 trong số 30 đơn vị CSQG trong tổng hội đã về tham dự, chỉ trừ có ba nơi là vì bận việc không về được là Dallas, Houston và Georgia.

    Khai mạc đại hội, cựu Ðại Tá Trần Minh Công, nguyên Chỉ Huy Trưởng Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia đã long trọng công bố thành phần tân Ban Chấp Hành của tổng hội trong nhiệm kỳ mới vừa được bầu trong Ðại Hội diễn ra hôm trước, là các chiến hữu Phan Tấn Ngưu, tổng hội trưởng, Phan Quang Hiệp phó ngoại vụ, Nguyễn Văn Ðang, phó nội vụ, Nguyễn Văn Lợi tổng thư ký, Nguyễn Hữu Thời thủ quỹ và các ủy viên phụ trách các phần hành xã hội, văn nghệ, báo chí... Cựu Tổng Hội Trưởng Trần Quan An nay được tín nhiệm vào chức vụ Chủ Tịch Hội Ðồng Quản Trị của tổng hội.

    Trong dịp này chiến hữu Trần Minh Công cũng nhắc nhở anh em cựu Chiến Sĩ CSQG đến tình đoàn kết mà anh chị em cựu CSQG đã giữ được từ bao nhiêu năm nay, không chỉ tại thủ phủ của người Việt tị nạn mà trên khắp thế giới. Chiến hữu Trần Minh Công nhấn mạnh: “Ðây là điểm son của chúng ta. Chúng ta hãy phát huy nó”.

    Tân Tổng Hội Trưởng Phan Tấn Ngưu trong diễn văn chào mừng Ðại Hội Ngày Cảnh Lực 1 Tháng Sáu cũng mong anh chị em CSQG/VNCH hãy nhìn mọi sự việc trong cuộc tranh đấu chung hiện nay, bằng con mắt của người CSQG ngày nào, nghĩa là phải nhìn được từ ngọn nguồn sự việc, không nên vội vã, hời hợt suy đoán. Có như thế người chiến sĩ CSQG, dù nay không còn trong hàng ngũ như xưa nhưng vẫn còn trách nhiệm với đất nước và dân tộc, mới nhận rõ được việc mình phải làm. Một điều khác nữa là người chiến sĩ CSQG ngày nào không nên ngoảnh mặt trùm mền nữa mà hãy cùng đồng ngũ tiến bước vào công cuộc đấu tranh tự do dân chủ cho VN và sự vẹn toàn của tổ quốc. Ông nói: “Không ai bắt chúng ta nhưng lương tri của người từng là một chiến sĩ Cảnh Sát VNCH không cho phép chúng ta thụ động chờ người khác làm”.

    Cũng trong dịp này Tân Chủ Tịch Hội Ðồng Quản Trị Trần Quan An cho biết chủ trương của hội đồng trước tình hình hiện tại là:

    - Không hợp tác, sửa sai, cải biến chế độ cộng sản VN vì cộng sản không có thể thay đổi mà chỉ có thể thay thế.

    - Tích cực giúp đỡ các chiến hữu Cảnh Sát gặp khó khăn và các Thương Binh VNCH. Không hưởng ứng hay thực hiện những hoạt động cứu trợ xã hội ở bên nhà thay cho nhà đương quyền CSVN.

    - Hỗ trợ tích cực và khéo léo các cuộc đấu tranh ở trong nước.
    - Hợp tác chặt chẽ với các tổ chức cựu quân nhân VNCH.
    - Hỗ trợ các cuộc đấu tranh chống Cộng chân chính của người Việt hải ngoại.

    Trong ít phút tiếp xúc với cựu Thiếu Tướng CSQG Nguyễn Khắc Bình, chúng tôi được vị niên trưởng Cảnh Sát này cho biết dù ở xa (Texas) nhưng ông luôn luôn có mặt với anh chị em cựu CSQG để cùng nhau giữ trọn được sự đoàn kết vững chắc của tập thể Cảnh Sát Quốc Gia để làm hậu thuẫn cho những công cuộc đấu tranh chung của người Việt hải ngoại nói riêng và toàn dân nói chung.

    Niên trưởng Nguyễn Khắc Bình cho biết: “Cảnh Sát Quốc Gia tuy là một lực lượng bán quân sự nhưng trong cuộc chiến bảo vệ tự do của miền nam VN người lính CSQG đã thọ địch tứ bề, từ các chiến trường trong thành phố đến các chương trình phản địch lừa địch, giữ an ninh, trị an cho dân chúng làm ăn sinh sống.
    Ðến nay, vì thời thế mà người chiến sĩ CSQG phải tị nạn khắp nơi, khi nhìn lại quê hương xứ sở và đồng bào mình trong vòng tay Cộng Sản, thì không thể nào không nhớ đến trách nhiệm và nhiệm vụ mà người chiến sĩ Cảnh Sát được giao phó cho ngày nào và đã thấy rằng cuộc chiến chưa thể tàn được với người thực sự là người quốc gia”. (NH)
    Lannguyen

  8. #128
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Đại hội 2009 cựu chiến binh Thiết Giáp VNCH
    Friday, May 29, 2009


    ‘Gặp lại nhau mà thiếu một vài anh em là ai nấy đều xúc động’

    Bài và hình: Nguyên Huy/Người Việt


    Hình tượng xưa trong ngày đại hội 2009 của các cựu kỵ binh VNCH.

    WESTMINSTER (NV) - Sáu niên trưởng cựu tướng lãnh trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) trong đó có ba vị từng là Chỉ Huy Trưởng Thiết Giáp Binh đã họp mặt cùng với gần 500 cựu chiến binh Thiết Giáp tại nhà hàng Paracel Hoàng Sa trên đường Brookhurst, thuộc thành phố Westminster vào trưa hôm Chủ Nhật 24 Tháng Năm vừa qua.

    Sáu niên trưởng là Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị, Thiếu Tướng Phan Hòa Hiệp, Thiếu Tướng Trần Quang Khôi, Thiếu Tướng Lý Tòng Bá và Thiếu Tướng Trần Văn Nhựt.

    Phần lớn anh em cựu Thiết Giáp Binh VNCH đã có mặt trước giờ khai mạc. Nhiều người đem theo cả gia đình lớn với các con cháu, dâu rể. Nhà hàng Paracel lại có thêm một buổi hội ngộ tưng bừng của các cựu chiến binh QLVNCH.

    Ngay từ cửa vào, ban tổ chức đã đặt một số hình tượng “xe tăng” quen thuộc với người dân miền Nam. Ðó là những chiếc Thiết Vận Xa M.113, M.41, M.48,... Vây quanh những hình tượng này, các chiến binh Thiết Giáp bỗng như được sống lại với đơn vị cũ, với chiến trường xưa.

    Một kỵ binh (danh từ các chiến sĩ Thiết Giáp VNCH thường gọi nhau) là ông Vĩnh Châu thuộc Chi Ðoàn 11 Thiết Giáp trước đây. Ông cho biết ông đã phục vụ tại đơn vị này đến 11 năm nên có rất nhiều kỷ niệm mà ngày hôm nay được gặp lại một vài anh em trong đơn vị cũ thấy “Thật là đã quá.”
    Ông Vĩnh Châu đã từng tham dự trận đánh Lam Sơn 1963 và tại Chợ Càng Quảng Trị năm 1967. Ông kể, “Trận này một chi đoàn chúng tôi phối hợp cùng 1 tiểu đoàn Dù đã xóa sổ một trung đoàn quân CSBV. Dĩ nhiên là chúng tôi cũng bị thiệt hại, một số hy sinh, một số bị thương. Nay nhớ lại thấy tình cảm giữa anh em kỵ binh chúng tôi không thể nào phai nhạt được.

    “Cứ mỗi lần gặp lại nhau trong đại hội mà thấy thiếu đi một vài anh em là ai nấy đều xúc động thương nhớ vô cùng. Cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam trước đây chống nạn Cộng Sản đã gắn bó chúng tôi mật thiết nên nay dù có không còn chiến đấu trên chiến trường chúng tôi vẫn chiến đấu bên nhau trong việc dậy dỗ hướng dẫn con cái và tham gia vào các cuộc đấu tranh cho một nước VN tự do, dân chủ và nhân quyền được tôn trọng.”

    Nhớ đến nhau nên anh em trong hội năm nào cũng tổ chức gây quĩ giúp các cựu chiến binh Thiết Giáp còn ở bên nhà. Có người như cựu chiến binh Thiết Giáp Phan Chí Hiệp đến từ Úc châu đã ủng hộ cho Quỹ hàng năm một số tiền khá lớn là 5 ngàn Mỹ kim.

    Trong buổi họp mặt này kỵ binh Lê Sơn trong ban tổ chức đã lên tường trình về hoạt động của Quỹ giúp thương phế binh Thiết Giáp ở bên nhà đồng thời kỵ binh Lê Sơn cũng vận động anh em Thiết Giáp tích cực hơn nữa đóng góp cho quỹ TPB/ Thiết Giáp.

    Trong dịp họp mặt này, Niên Trưởng cựu Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm đã ca ngợi tình Huynh Ðệ Chi Binh trong ngành Thiết Giáp đã gìn giữ được và gắn bó với nhau nhiều năm qua. Niên Trưởng Hoàng Xuân Lãm cũng ngỏ ý một ngày không xa nữa anh em Thiết Giáp thế nào cũng có được ngày mở đại hội trên quê hương thân yêu của mình.

    Tiếp đó ban tổ chức cũng mở ra cuộc hội thảo ngắn gọn về việc tổ chức Ðại Hội kỳ tới vào năm 2010. Hội Thiết Giáp Binh tại Houston, Texas sẽ trách nhiệm đứng tổ chức.
    Trong dịp này đại hội cũng bàn đến việc tiến tới thành lập Tổng Hội Thiết Giáp Binh để anh em cựu Thiết Giáp VNCH trên khắp thế giới có dịp gặp gỡ nhau.

    Sau đó, đại hội kỵ binh VNCH 2009 đã bừng lên với những tiếng hát tập thể kỵ binh VNCH với các bài “Chiến Xa VN,” “Thiết Giáp Binh Hành Khúc” và một chương trình văn nghệ vui nhộn do chính anh em Thiết Giáp Binh, con em và thân hữu phụ trách.

    Binh chủng Thiết Giáp VNCH là một trong những đại đơn vị của QLVNCH được thành lập từ rất sớm ngay khi Quân đội Quốc Gia VN được thành lập hoàn chỉnh sau hiệp Ðịnh Giơ Ne Vơ 1954.Trong hai năm 1955 và 1956, lực lượng thiết giáp đầu tiên được khai sinh với 4 Trung Ðoàn thiết giáp.

    Những vị tướng từng giữ chức Tư Lệnh Thiết Giáp như Thiếu tướng Lâm Văn Phát, Thiếu Tướng Dương Ngọc Lắm Trung Tướng Vĩnh Lộc, Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, Thiếu Tướng Lý Tòng Bá và Thiếu Tướng Phan Hòa Hiệp.

    Thiết Giáp binh VN ngay từ những ngày đầu thành lập đã gây biết bao kinh hoàng cho địch quân trên bất cứ một diện địa nào. Niên Trưởng Lý Tòng Bá đã viết trong hồi ký của ông là ông đã cho sử dụng chiến xa ngay trên chiến trường có đồi núi hiểm trở và đã thành công.
    Khi quân đội CSBV được khối Cộng Sản thế giới viện trợ ào ạt để xâm chiếm miền nam, chiến binh Thiết Giáp VNCH đã đương đầu thật anh dũng với các chiến xa T.54 và PT 76 hạng nặng của Liên Xô và đã từng chiến thắng oanh liệt trên các chiến trường như Hạ Lào, Lam Sơn 719, và Quảng Trị. (N.H)
    Lannguyen

  9. #129
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa



    Tôi đứng lặng giữa trời mây tháng Sáu

    Lòng trĩu buồn nhìn nấm mộ vô-danh

    Kèn truy-điệu trổi âm hờn u-uất

    Thoảng bên tai nghe tưởng khúc quân-hành.

    Ai sừng-sững thân làm bia đỡ đạn

    Cản bước thù em hãy thoát theo cha

    Rồi mai mốt trở nên người hữu-dụng

    Nhớ về đây vá lại mảnh sơn-hà.

    Ai bốc cháy giữa trời đêm tang-tóc

    Nhắn nhủ lời dao nhọn xoáy trong lòng

    Đi đi nhé lo chu-toàn đại-cuộc

    Để sau này tô thắm dải non sông.

    Bao lâu rồi bao nhiêu mùa lá rụng

    Mà tưởng chừng như mới thoáng hôm qua

    Cả dân-tộc vẫn ngày đêm khắc-khoải

    Đợi đoàn quân về giải-thoát quê nhà.

    Quê-hương ta đó tiền-nhân khai phá

    Đổ xuống bao đời xương máu cha ông

    Bồi đắp thành dải non sông gấm vóc

    Cho đàn sau hãnh-diện giống Tiên Rồng.

    Hỡi em bé ngày xưa giờ đã lớn

    Hỡi người trai nay tóc đã phai mầu

    Có nghe vọng từ những trang sử máu

    Tiếng Hồn-Thiêng-Sông-Núi réo canh thâu.


    Trần Ngọc Nguyên Vũ
    ( Pilot Việt Nam )

    (Một thời luân-lạc)

    Đây là những đóa hoa Lannguyen kính cẩn dâng lên tưởng niệm 43 năm Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, dâng lên thế hệ cha chú của Lannguyen đã hy sinh cho Tổ Quốc Miền Nam Việt-Nam, thế hệ cha chú của LN vẫn còn sống nơi quê nhà và khắp nơi trên thế giới!

    Kính mến,
    Lannguyen










    Lannguyen

  10. #130
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Chân dung người lính VNCH nhân ngày 19/06

    Babui



    Re: Chân dung người lính VNCH nhân ngày 19/06
    2009-06-18 21:25:31

    MXN

    Thương Ngưòi Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hoà!

    Không thể nào không nhắc tới cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, vị Tổng Tư Lệnh Quân Lực VNCH đầu tiên đã Vị Quốc Vong Thân cho Chính Nghĩa Quốc Gia.

    (Đời đời căm thù nguyền rủa bọn việt cộng, bọn nằm vùng, bè lũ bọn thành phần thứ ba, bọn ăn cơm Quốc Gia thờ ma cs và bọn biểu tình quấy phá miền Nam VNCH)


    Trong trí óc nhỏ nhoi của một ngưòi dân miền Nam VNCH:

    Chân Dung Người Lính VNCH = Nguời Chiến Sĩ Quốc Gia, đó là các anh Nghĩa Quân, Địa Phương Quân, Cảnh Sát, Bộ Binh, các binh chủng kiêu hùng của QLVNCH và toàn thể các cán bộ Quốc Gia đã hết lòng trung thành với Chính Nghĩa Quốc Gia và tận tuỵ trong công vụ. (vì vậy bọn ăn theo và đám tướng tá phản loạn đã nhận tiền của Mỹ để tham gia cuộc đảo chánh 11/1963 đều đáng bị nguyền rủa và phỉ nhổ đời đời).

    Trong tuần lễ kỷ niệm ngày Quân Lực VNCH,

    Xin thành kính tri ân Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm cùng các bào đệ Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn và toàn thể Quân Dân Cán Chính đã Vị Quốc Vong Thân trong công cuộc bảo vệ Miền Nam Việt Nam Cộng Hòa chống lại sự xâm lăng của của Cộng Sản.

    Cũng xin cầu chúc các cựu quân nhân QLVNCH cùng gia đình được mọi sự an lành. Mong sao các người LÍNH còn sống sót sau cuộc chiến tranh đau thương gây ra từ phương Bắc vẫn gìn giữ 6 điều tâm niệm của người LÍNH VNCH. Sống và hành xử sao cho khỏi tủi vong linh các đồng đội đã nằm xuống trong cuộc chiến.

    Re: Chân dung người lính VNCH nhân ngày 19/06

    oc

    6 Điều Tâm Niệm của người Chiến Sĩ VNCH .

    Là Chiến Sĩ VNCH ,

    Điều 1: Tôi nguyện chấp nhận mọi hy sinh gian khổ để chiến đấu bảo vệ cho sự sống còn của Tổ Quốc, của gia đình và của chính bản thân tôi.

    Điều 2: Tôi tuyệt đối chấp hành các mệnh lệnh của cấp chỉ huy, đề cao cảnh giác trước mọi âm mưu tuyên truyền chia rẻ của giặc cộng.

    Điều 3: Tôi luôn kính già,thương trẻ,đứng đắn với phụ nữ và giúp đỡ đồng bào .

    Điễu 4: Tôi luôn tâm niệm hành dộng làm mất lòng dân là xua dân về phía giặc cộng,là tự sát.

    Điều 5:Tôi luôn đối xữ tử tế với tù hàng binh địch (VC), không ngược đãi đánh đập họ, không đụng đến của riêng họ, để thêm bạn bớt thù.

    Điều 6. Thực hiện các điều trên là tôi tích cực xây dựng tự do cho đất nước, đem lại hạnh phúc cho toàn dân, tôi sẽ được đền bù bằng sự cảm mến và biết ơn của Đồng Bào .

    oc

    V N Cộng Hoà Lính chiến đấu
    Bảo vệ Tự Do cuộc sống lành
    V N Cộng Hoà Lính bất tử
    Trong tim Đồng Bào đồng đội anh

    Tưởng nhớ người Lính VNCH .

    Re: Chân dung người lính VNCH nhân ngày 19/06

    2009-06-19 10:34:10

    Stephen

    Chào các bạn :

    Nhân ngày Quân Lực VNCH thì tôi xin cám ơn các Anh, các Chị đã đem XƯƠNG MÁU để bảo vệ miền Nam được 20 tự do. Ngư dân Miền Nam được tự do ĐÁNH CÁ trên vùng biển của Cha Ông.

    Thế hệ trẻ của chúng tôi không bao giờ quên công lao của các Anh, các Chị.
    Lannguyen

  11. #131
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  12. #132
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  13. #133
    Join Date
    Jun 2009
    Posts
    1
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Địt mẹ mấy con đĩ, thằng chó phản động, lúc nào cũng dương mõm mà hót dân chủ
    Chúng mày bán nước cho Mỹ giờ phải nhục như chó sống lưu vong trên đất khách, không dám vác mặt về Việt Nam sợ chết
    Chúng mày chỉ giỏi to mồm ở đây thôi, có giỏi mà về Việt Nam đòi dân chủ xem có ai ủng hộ chúng mày không hay là người ta phơi xác chúng mày cho chó tha quạ mổ
    Khi đất nước chiến tranh chúng mày sung sướng sống trên sức lao động của bọn tao, đến khi giải phóng chúng mày sợ chết phải sống bám vào bọn Mỹ thối thây.
    Thôi chịu khó bên đất khách quê người mà làm phản động, ít ra bọn Mỹ nó cũng bố thí cho chúng mày vài đồng đấy không về Việt Nam thì chúng mày cũng bị vứt thây trôi sông thôi, cho quạ rỉa xác mà chết thê thảm thôi.

  14. #134
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Lannguyen

  15. #135
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    TẤM THẺ BÀI

    Thanh Vân


    Mười hai năm rồi em không gặp anh và sẽ không bao giờ gặp được anh nữa vì anh đã bỏ mình trong trại cải tạo đã sáu năm qua.

    Sáng nay nhận được thơ bạn anh từ Quê Hương gởi sang, nói đã làm xong nhiệm vụ em nhờ, đã đưa được hài cốt của anh từ Vĩnh Phú về Huế, nơi anh đã sinh ra, đã lớn lên, nơi chúng mình đã gặp nhau và thề nguyền sẽ yêu nhau mãi mãi, em buồn vui lẫn lộn.

    Anh ơi, em vui vì biết anh đã về lại được Quê Hương nhưng em xót xa khi đọc đến đoạn bạn anh viết về những gian nan phải vượt qua khi đi tìm mộ anh, vì tất cả chỉ là núi rừng hoang dại, mổi người tù chết đi chỉ được vùi sơ với miếng đá nhỏ ghi tên họ và ngày lìa đời cắm trên nấm mộ thấp. Đau đớn nhất cho em là khi đọc đến đoạn bạn anh kể xác thân đã rã mục của anh vẫn còn được bao trong chiếc áo len em tặng anh ngày xưa, chiếc mền dù bao phủ thân anh vẩn còn nguyên nhưng nơi xương cổ anh có mang thêm sợi xích nhỏ với tầm thẻ bài bằng nhôm ghi rõ tên họ và lý do bị quản thúc là "phản quốc"!

    Anh ơi, đã chết rồi mà thân thể còn mang nặng nhục nhằn. Có chế độ nào dã man hơn chế độ Việt Nam ngày nay ?

    Vậy mà ngày xưa anh đã hãnh diện biết bao về Quê Hương,Tổ Quốc của mình. Thật ra thì Quê hương vẫn còn đó, hai tiếng Việt Nam vẩn sống trong tim cả triệu người Việt xa xứ, nhưng với người ở lại, người đang trả nợ máu, người đã chết vùi thây trong núi rừng thì hai tiếng Việt Nam đè nặng tâm hồn.

    Hôm nay đọc thơ bạn anh, nhớ lại đoạn đường đã qua của mình, sao lòng em thật nhiều đau xót. Năm nay mùa Xuân đến chậm vì mùa Đông không muốn đi, đã tháng ba tháng tư mà khí hậu vẩn còn lạnh, nhưng cái lạnh ngoài trời có thấm chi với cái lạnh, cái buồn của người Việt ly hương, mổi năm khi tháng tư về ?

    Sáng nay em nhớ anh, em nhớ anh thật nhiều. Tháng tư làm em mất anh, giờ tháng tư lại trở về, trên tay em cầm tấm thẻ bài có ghi tên họ và lý do hai đứa mình xa nhau. Đau đớn quá anh nhỉ, hai tiếng "Phản Quốc" như muôn ngàn lưởi dao đâm vào tim em.

    Em nhớ ngày nào, mổi lần đi hành quân về, anh đến thăm em, mắt môi rạng rỡ. Mỗi lần được huy chương là một ngày vui của hai đứa mình. Anh đến khoe với em và hai đứa lại ra Đập Đá nhìn trăng, nghe tiếng sáo diều lơ lửng trên không, anh mỉm cười hãnh diện vì sự thanh bình của Quê Hương, cái thanh bình mà anh đã đem mạng sống ra để bảo vệ. Các huy chương đó ngày nay lại là bản án tử hình của các anh.

    Tháng tư là mùa Xuân phải không anh ? Mùa Xuân ở đây cũng như mùa Xuân của Huế xưa. Nhà nào cũng có một vài khóm hồng đang e ấp nở, nhà em lại có thêm cây anh đào đang rực đỏ với nằng Xuân. Quê Hương người đẹp quá, nhưng sao lòng em vẩn thấy mất mát ngậm ngùi.

    Em đang ngồi yên với tấm thẻ bài nhục nhã đau thương đã ôm ấp thân xác anh trong sáu năm qua dưới lòng huyệt lạnh, và em đang thả hồn về ngày hai đứa mình còn nhau. Tiếng đàn réo rắt ma quái, quyến rủ dị thường của người nhạc sĩ vô danh trong "Ru khúc mộng thường" đưa em về lại những ngày xưa cũ, những êm đềm của một mùa trăng xưa.
    Ở đây không có tiếng sáo diều lơ lững trên không, cũng không có những nữ sinh áo trắng mổi sáng từ Vĩ Dạ đi ngang qua Đập Đá để đến trường nhưng tiếng đàn của người nghệ sĩ tài hoa kia đã đưa em về lại Quê Hương, có trăng sáng, có trời xanh, có mộng ước bình thường. Không hiểu sao sáng nay tiếng đàn ma quái đó ám ảnh em, phải chi tất cả mọi người trên trái đất này đều yêu thơ, yêu nhạc thì ngày nay mình đâu có mất nhau, anh chết sáu năm đâu phải mang thêm tấm thẻ bài nhục nhã.

    Với tiếng Tây ban cầm độc tấu cô đơn nhưng đầy ắp tâm sự, em chắc người nhạc sĩ có cái tên cũng lạ như tiếng đàn phải có một nội tâm thật đẹp, một tâm sự thật buồn. Tên ông ta là "Vô Thường". Phải rồi anh nhỉ, tất cả chỉ là hư vô, tất cả chỉ là bình thường, chỉ có tình người, tình Quê Hương là vĩnh cửu.
    Nếu tiếng đàn của người Tây ban Nha mang âm điệu hoang dại của một dân tộc nồng nàn ham sống, thì tiếng tây ban cầm của Vô Thường mang âm giai của một người lạc lõng, một kẻ du mục, một kẻ đang đi tìm miền đất hứa. Tiếng đàn khi thổn thức, khi vỗ về, khi chia xẻ thương đau, tiếng đàn mang dư âm của tiếc thương nhung nhớ, của tình yêu đã có và đã bay xa, của Quê Hương hiện hữu nhưng quá tầm tay với, của những mộng ước bình thường nhưng đã vời vợi xa bay.

    Anh ơi, tiếng đàn ray rứt của người nhạc sĩ vô danh kia đã cho em ý thức được sự mất mát lớn lao của đời em, tấm thẻ bài nhục nhã trong tay em đã nói lên sự uất hận ngàn đời của người dân Việt phải xa lìa tổ quốc thân yêu.
    Quê Hương vẫn còn đó nhưng đã nhuộm màu, thành phố Huế của chúng mình còn đó nhưng đã đổ nát quạnh hiu. Nếu biết không có ngày trở lại, thì ngày xưa em đã rủ anh đi khắp hang cùng ngõ hẻm, đã yêu thương tâm sự với anh nhiều hơn. Quê Hương người tuy đẹp tuy giàu nhưng vẩn thiếu cái đậm đà giữa những người cùng huyết thống, thiếu khói lam chiều trên mái tranh xa, thiếu tiếng sáo diều lơ lửng đêm trăng, thiếu tiếng hò mái đẩy, thiếu tiếng rao hàng trên sông vắng mổi đêm khi khuya về sáng. Giờ chỉ còn lại đây tấm thẻ bài nhục nhằn của anh, của những người ngày xưa đã lấy "Tổ Quốc" làm lẽ sống và giờ đã chết vùi thây khắp các núi rừng gần trại tập trung với hai chữ "Phản Quốc" đè nặng linh hồn.

    Quê Hương! Quê Hương! Em đang nhớ nhung hay đang thù hận đây ? Xưa em hãnh diện về Quê Hương gấm vóc bao nhiêu thì giờ nhìn tấm thẻ bài khốn khổ với hai chữ "Phản Quốc" em lại thù ghét Quê Hương bấy nhiêu.

    Hãy trả lại cho em Quê Hương ngày cũ, ngày nào còn lũ giặc đỏ, còn hai chữ "Phản Quốc" trên cổ các người ngã ngựa thì ngày đó em còn xa lìa Quê Hương.
    Lạy trời cho con giấc mộng bình thường, cho còn tìm lại được quê xưa, ngày còn lá me bay, còn sân cỏ mướt chứ không phải như bây giờ, sân cỏ làm nông trường, sức người thay máy móc, nhiên liệu, trâu bò.

    Em sẽ thay anh mang tấm thẻ bài vào cổ, em sẽ mang nó với niềm hãnh diện vô biên của một người đã có người yêu suốt đời hy sinh cho lý tưởng, em cũng mang nó để nhắc nhở những người xa xứ hãy hướng về Quê Hương ngục tù khốn khổ mà làm một cái gì để thắp sáng ngày về.

    Thật ra thì đã mười hai năm qua, lòng người đã có phần nào thay đổi. Tháng Tư vẫn mang đến ngậm ngùi, thương tiếc nhưng rồi cuộc sống chạy theo đồng hồ, những nhu cầu cấp bách hàng ngày đã làm tâm hồn nhụt dần chí khí. Phải chi những tấm thẻ bài có ghi hai chữ "Phản Quốc" của các anh hùng đã hy sinh cho đất nước được gởi qua cho mổi người xa xứ thì ngày về của kẻ ly hương chắc sẽ gần hơn.

    Trong tận cùng linh hồn, em chắc người dân nào khi xa quê cũng hoài vọng một ngày về, và dù có mất gốc đến đâu thì cũng có một giờ phút trong đời mơ ước về lại quê xưa, thăm lại ngôi nhà cũ.
    Anh ơi, giờ em mới hiểu nỗi xúc động tận cùng của bà giáo sư người Pháp dạy em năm em học lớp sáu. Bà đã khóc khi hát cho chúng em nghe một bài nói về thành phố nơi bà đã sinh ra, bài hát lời lẽ thật đơn sơ mộc mạc nhưng sao người nghe thấy ngậm ngùi thổn thức. Bài hát chỉ có thế này:

    Quand tout renaît à l’espérance
    Et que l’hiver fut loin de nous
    Quand la nature est reverdie
    Quand l’hirondelle est de retour
    J’aime à revoir ma Normandie
    C’est le pays qui m’a donné le jour
    Em tạm dịch là :
    Khi nào hy vọng trở về
    Và khi mùa Đông đã đi xa
    Khi thiên nhiên trở lại xanh thẳm
    Khi chim én trở về cùng ta
    Tôi mơ ước nhìn lại Normandie
    Là nơi tôi đã chào đời.

    Anh ơi, tình hoài hương bàng bạc trong lòng mọi dân tộc. Em cũng đã khóc khi hát lại bài này. Em không mơ ước nhìn lại Normandie của bà giáo sư người Pháp nhưng em mơ ước nhìn lại xứ Huế nghèo nàn, thơ mộng của em ngày xưa. Em mơ ước nhìn lại một Việt Nam tự do đầy tình người, một Việt Nam mà em sẽ hãnh diện mang tấm thẻ bài có ghi hai chử "Phản Quốc" của anh để trở về đi trong lá me bay, trong giòng người cùng huyết thống, cùng lý tưởng, vì anh ơi, dù muôn vàn thay đổi, em muôn đởi vẫn là con bé Việt Nam thích lang thang khắp phố phường cho tóc bay, cho hồn mơ mộng và cho lá rơi đầy trên vai trên áo. Còn ở đây, cuộc sống sao quá vội vàng, bon chen, lừa lọc. Người ta yêu nhau cũng vội, ghét nhau còn vội vàng hơn.

    Mùa Xuân quê người, nhưng cũng là mùa Đông của người xa xứ đang mất mát như em. Tiếng đàn tức tưởi cô đơn của người nhạc sĩ vô danh cũng là tiếng khóc nghẹn ngào của người đã mất hết niềm tin, chỉ còn lại Tấm Thẻ bài ghi lại một thời Hạnh Phúc Xưa và đánh dấu một sự nhục nhằn khốn khổ của người ở lại ngày nay.

    Cầm tấm thẻ bài bằng nhôm bóng loáng trên tay, em liên tưởng đến trăm ngàn cái khác đang bị vùi sâu dưới lòng đất mẹ cùng những người con yêu của Tổ Quốc. Em chợt nhớ đến hai câu hát mở đầu trong bài Rêveries của Shumann:
    "Ce soir dans le jardin du ciel
    Les étoiles ont fleuri comme un bouquet d’argent"...

    Em hình dung ra một ngày gần đây, trăm ngàn tấm thẻ bài bằng nhôm đó sẽ trở thành những bó hoa bằng bạc nở trên bầu trời để soi sáng và chỉ đường cho những người con xa xứ trở về giải phóng Quê Hương.

    Thanh Vân
    Lannguyen

  16. #136
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    (Những ảnh ghi lại về cuộc biểu tình Nhân Quyền tại Genève ngày 8 tháng 5 năm 2009)

    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  17. #137
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    [Tưởng nhớ ĐT TQLC Nguyễn Năng Bảo] Mai văn Tấn: Định Mệnh Chua Xót

    By anlac • Jul 31st, 2009 • Category: Tài Liệu Lịch Sử



    (Đại Tá Nguyễn Năng Bảo chào chia tay 2009)

    Qua mấy ngày nay trên Diễn Đàn của Thủy Quân Lục Chiến, một số các chiến hữu có nhiều lời thăm hỏi và chúc lành Đại bàng Bắc Ninh cũng như được phép thâu lại lời nói của ĐB về căn bệnh của mình đã đến thời kỳ không còn hy vọng. Nhân tiện ĐB Bắc Ninh cũng nói lên lời từ biệt cũng như xin lỗi tất cả các chiến hữu khi làm việc với ông trong thời chinh chiến.Trong không khí Tết tha hương với nỗi buồn xa xứ nhất là những chiến hữu ở thật xa với cộng đồng người Việt thì nỗi buồn còn thấm thiết hơn. Thêm vào đó những lời trối trăn của một chiến hữu xa xưa cùng là một cấp chỉ huy đạo đức và đáng kính trong binh chủng thì nỗi buồn càng chua xót.
    Mặc dầu ai cũng phải một lần ra đi, mọi người ai cũng hiểu đó là quy luật tự nhiên của tạo hóa không ai tránh khỏi. Nhưng người ra đi đã làm cho lòng mọi người ở lại cảm thấy một sự tiếc nuối lẫn thương mến sâu sắc mới là điều đáng nói.
    Tôi có duyên gọi là “kế cận mình rồng” hay sao khó giải thích, được hân hạnh làm việc chung với các đại bàng trong binh chủng hơi nhiều. Làm việc với ĐB TANGO từ 1970 đến tháng 7/1971. Từ 7/1971 với ĐB Đồ Sơn cho đến cuối tháng 12/74. Đầu năm 1975 bắt đầu làm việc với ĐB Bắc Ninh.
    Tôi còn nhớ khi ĐB Bắc Ninh đến ngày hôm trước và sáng ngày hôm sau ĐB Đồ Sơn mới ra phi trường Phú bài để về Saigon thành lập Lữ Đoàn 468. Đêm đó ngồi tâm sự và đánh phé chơi, tôi hùn với Đồ Sơn cùng với Trung tá Lượm, Thiếu tá Châu. ĐB Bắc Ninh hên quá nên gom sòng. Phải nói ĐB Bắc Ninh với vẻ mặt buồn muôn thuở như lời của Ó biển Hùng diễn tả nên khó đoán được ông giữ bài tẩy là gì.
    Làm việc với ĐB Bắc Ninh cho đến ngày 30/4/1975. Sau đó đi tù CS với cấp bậc nhí mà cùng ở tù chung với quý đại bàng từ bang chủ Vũ hồng Khanh, Chu tử Kỳ đến Thủ tướng Nguyễn văn Lộc. Bộ trưởng Quốc phòng Nguyễn hữu Có,Thượng Nghị Sĩ, Dân Biểu, các Bộ Trưởng Tổng Giám Đốc…..

    Không biết điều đó may mắn hay không mà bị tù thời gian cũng bằng các đại gia, mặc dầu cũng có cấp Trung tá trở xuống như Trung tá Lê bá Bình, Lê văn Hiền,Thiếu tá Trần Vệ….. nhưng tất cả hoặc về miền Nam hoặc được thả ra coi như 1985 là hết. Ngay cả Đại bàng Tango, Hoàng tích Thông, Long Mỹ cũng xuôi Nam được thả ra cùng lúc nhưng tôi và Đại Bàng Bắc Ninh thì ở lại miền Bắc thả ra từ trại tù Nam Hà Thời gian tù CS coi như là thời gian dài hơn thời gian làm việc rất nhiều với các ĐB Tango, Bắc Ninh, Long Mỹ và Đại Tá Hoàng tích Thông.
    Quãng đời cực khổ và xót xa nhất một kiếp người trong giai đoạn đau thương cùng cực của chiều dài lịch sử dân tộc. Nhìn lại đoạn đường quá gian nan nhục nhã cùng cực tận cùng đáy địa ngục trần gian. Lúc đó nhìn hình hài các đại bàng càng thê thảm lê lết những chuỗi ngày vô vọng, bây giờ hình ảnh còn lại trong tôi là những bộ xương khô biết cử động.
    Lúc đó tôi không còn nhớ đến tôi như thế nào mà chỉ nhin qua hình ảnh đó tôi nghĩ tôi không hơn gì. Hình ảnh làm những người dân hoặc người nhà thăm nuôi phải rơi lệ khi nhìn thấy người thân của mình, buổi trưa nắng chói chang đang lê lết lên dốc về trại với quần áo rách rưới tơi tả bằng tất cả loại vải kể cả bao cát vá chằng chịt trong những bộ xương di động, mặt mày lem luốc tái mét.
    Hình ảnh ăn sâu vào tiềm thức tôi cho đến ngày nay và sẽ vĩnh viễn ở trong tâm tôi đến ngày xuôi tay nhắm mắt, những khi nhớ lại còn rùng mình sợ hãi. Vì thế có nhiều người còn bị ảnh hưởng tâm thần cho đến ngày hôm nay.

    Trại Nam Hà bao phủ bởi những núi đá vôi không trồng một thứ gì có thể sống được, thành thử tù nhân chỉ ăn những thứ gì trại phát cho mà tiêu chuẩn đói triền miên như bo bo, sắn lát, khoai lang khô, bắp cho súc vật ….Đến đây có người sẽ hỏi tại sao các anh sống được đến ngày hôm nay. Lý do CS thấy nếu tiếp tục thì sẽ không ai sống sót vì đói và bịnh không thuốc thang nên đã cho thân nhân gởi quà và sau đó cho thăm nuôi bắt đầu năm 1979. Vì vậy chúng tôi sống được là nhờ vào gia đình, điều này cho thấy một chế độ bạo tàn dã man nhốt người mà bắt gia đình phải lo nuôi sống. Tôi không nói nhiều vì biết bao người đã nói vấn đề này từ lâu.

    Những năm đó các ĐB khoảng dưới 50 tương đối còn khỏe và còn sức chịu đựng Thời gian ở tù lâu cũng được một sự đền bù quý hiếm và hiểu thêm được tình người. Đối với Bắc Ninh,Tango, Long Mỹ, ba cấp chỉ huy còn trong BC thì Bắc Ninh khỏe mạnh nhất, bắp thịt còn săn chắc, lao động còn khỏe…tương đối được gia đình thăm nuôi nhiều hơn Tango và Long Mỹ tuyệt đối không có thăm nuôi.

    ĐB Tango sức khỏe có kém đôi chút nhưng còn đi lao động được, giờ nghỉ cũng ra đồng bắt cua bắt ốc mặc dằu không dễ kiếm, Kỷ niệm tôi nhớ về Tango là gởi thư lộn mà chịu trừng phạt của bà xã thời gian khá lâu không thăm nuôi. Ngày tôi ra kỷ luật ĐB đến tôi đưa cho tôi một ca inox của quân đội với chè nấu bằng bí đỏ và đường trại phát, ông nói:

    - Tao không có gì chỉ nấu được một lon chè cho mày mà thôi.

    Cử chỉ và lời nói trong lúc đó làm tôi nhớ mãi cho tới bây giờ và thật sự xúc động.
    Lannguyen

  18. #138
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,265
    Thanks
    48
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    [Tưởng nhớ ĐT TQLC Nguyễn Năng Bảo] Mai văn Tấn: Định Mệnh Chua Xót [2]

    ĐB Long Mỹ sức khỏe yếu nhất lại không được thăm nuôi thành thử có phần cơ cực.Tuy nhiên ông sống với Đại Tá Phạm bá Hoa vì ông ta được gia đình tiếp tế rất là nhiều nên ĐB Long Mỹ ăn chung với ông ta sẽ được đầy đủ hơn, khỏi phải lo đói, chỉ lo góp công nấu nướng mà thôi. Sự việc này xẩy ra bình thường trong trại với nguyên tắc người có của kẻ có công nên ông cũng tìm cách giúp đỡ và bồi dưỡng cho tôi mau lại sức. Mỗi lần ăn với ĐT Hoa ông cũng gọi tôi hoặc tìm cách xin cho tôi một ít thực phẩm. Mặc dầu ai nói gì về ông ta tôi không bênh vực được nhưng luôn nhớ ơn ông ta đã giúp tôi trong lúc khốn cùng. Khi qua Mỹ tôi có gọi thăm ông vài lần, ông có khoe với tôi là đã đi đến trường huấn luyện TQLC Hoa kỳ để thăm lại, điều mà ông ước rằng sẽ làm khi ra khỏi trại tù. Giấc mơ của ông cũng trở thành sự thật trước khi ông vĩnh viễn ra đi.

    Bắc Ninh trong thời gian tù vì còn khỏe nên còn nóng giận và bất bình nên gây hấn vài lần với các bạn tù cùng cấp Đại tá. Một lần ĐB Bắc Ninh đòi đánh Đại tá HQ tôi phải chạy qua cản. Một lần với Đại tá BĐQ, vi ông này đội trưởng kêu ĐT Bảo cắt rau muống cho vợ của Công an trại tù ĐT Bảo cự lại đòi đánh lộn không làm. Trong tù tôi và Bắc Ninh cùng đội trồng rau muống, tôi không bao giờ trồng rau tốt như ông cả, phải nói tinh thần chịu đựng của ông hơn tôi rất xa. Tôi thường hỏi sao ĐB trồng rau tốt quá vậy, ông ta cười và nói :
    - Mày làm biếng không chịu tưới cũng như không bỏ phân làm sao mà tốt được.

    Vì thế mỗi lần ăn cắp rau, ông nói mày lấy rau của tao mà ăn. Mỗi lần thăm nuôi ông đều cho tôi một ít quà để xoa dịu cơn đói, tình nghĩa rất quý hiếm trong trại tù CS, bởi vậy tôi nhớ ơn ông và lúc nào cũng kính trọng tình cảm thiêng liêng đó. Trong trại tù không có gì gọi là thừa mà chỉ có sự san sẻ cho nhau. Một lần vừa trong kỷ luật ra sau hơn hai năm bị giam, ngày đó ông được chị ra thăm, ông bèn chạy sang hỏi tôi cần gì hiện chị đang ở nhà thăm nuôi. Tôi thấy cách đối xử đấy tình nghĩa mà phải rơi lệ để thấy một cái gì đó quá thiêng liêng mình không nghĩ đến trong bước đường cùng này, đến ngày hôm nay ngồi nghĩ đến sự ra đi của ông lòng tôi không khỏi dâng lên niềm cay đắng. Giờ đây giữa giờ phút biệt ly tôi không đến với ông quả là một sự đau đớn và hối hận. Trong lúc còn tỉnh táo nói chuyện không đến được với nhau thì những lời chia buồn trên báo và những vòng hoa phúng điếu đều không có ý nghĩa đầy đủ.

    Đối với ĐB Bắc Ninh, người cùng chung những bước quân hành nhiều nhất với ông là ĐB Đồ Sơn, trước sau là 9 năm cùng phục vụ ở TĐ2. 4 năm Đồ Sơn làm TĐT/TĐ2, Bắc Ninh làm TĐT/TĐ 3 , hai tiểu đoàn cũng thường hành quân song hành. Như cuộc hành quân vào vùng Phù Mỹ năm 67, hành quân vào giài tỏa An Lão. Hành quân vảo vùng Cà mâu và U minh đầu năm 69. Sau cùng Đồ Sơn LĐT 258, Bắc Ninh LĐT 147 cũng hành quân cùng nhau trong thời gian dầu sôi lửa bỏng nhất. Với thời gian hơn hai mươi năm chinh chiến có 15 năm cùng những bước quân hành tử Cà mâu ra Bến Hải. Người thứ nhất hiểu ĐB Bắc Ninh là ĐB Đồ Sơn. Nếu tôi không quá chủ quan có thể người thứ hai hiểu và gần Bắc Ninh là tôi. Mặc dầu chinh chiến với Bắc Ninh kể từ 12/1974 đén ngày 30/4/75 thời gian quá ngắn, nhưng ngược lại ở trong nhà tù CS hơn 10 năm là thời gian đủ những vui buồn với Bắc Ninh.

    Tôi còn nhớ ngày LĐ258 về Vũng Tàu, ông kêu tôi với Trung tá Lượm mà nói : Anh để dành 40000 đồng để LĐ tổ chức nhẩy đầm, bây giờ còn gì nữa anh đưa cho em và Trung tá Lượm lo lại phòng thuyết trình cho LĐ. Cũng lần đó ba tôi ra thăm, ông kêu tôi lại nói có cần tiền cho ông cụ về không để ông đưa. Tôi nói cảm ơn ĐB tôi có rồi. Cách đối xử đầy tình người của Bắc Ninh nghĩ lại lòng còn dâng niềm xúc động mạnh mẽ. Đối với tôi , tôi phải nói ông ta là một cấp chỉ huy đạo đức nhất, đầy ắp tình người mà tôi từng biết.

    Viết lại những lời này không có ý tô hồng cấp chỉ huy, trong lúc ta không còn đơn vị, không còn quân đội, không còn binh chủng, tất cả chỉ còn tình người, tình chiến hữu, mà chỉ nói lên một sự thật, đúng với lương tâm một con người. Một sự thật để cho những ai không biết và không cùng làm việc với Bắc Ninh hiểu, cũng như những ai từng làm việc với Bắc Ninh hay hiểu rõ Bắc Ninh để xác nhận và chứng minh. Đến nay trước giây phút sắp chia ly, tôi muốn nói lời trân trọng và quý mến một cấp chỉ huy mà tôi từng gặp và tôi nghĩ vĩnh viễn tôi không còn dịp nào để tiếp xúc chuyện trò những vui buồn đời lính với Đại bàng Bắc Ninh. Xin vĩnh biệt Đại bàng Bắc Ninh và xin cầu chúc an lành khi bước chân miền miên viễn.

    Mùa xuân Indiana
    Mai văn Tấn.
    Nguồn: Thủy Quân Lục Chiến VNCH
    Lannguyen

  19. #139
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Những Người Trai Oai Hùng Đã Tàn Nhưng Không Phế

    “Sau ngày 30 tháng 4, 1975 gia đình tôi sống khổ sở vì không có công ăn việc làm. Chúng tôi trở nên những kẻ nghèo đói trong xã hội mới. Chúng tôi đành phải sống tạm trong khu nghĩa địa, hằng ngày tôi lê đi bán vé số nuôi mấy đứa con dại. Sống giữa đám mồ mã ẩm thấp, hai vợ chồng bị mắc bịnh lao. Con nhỏ đau ốm èo uột.

    Vừa rồi đứa con nhỏ 6 tuổi do suy dinh dưỡng bị lao màng bụng, viêm bàng quang với thận rỉ máu phải đi điều trị ở bịnh viện nhi đồng. Thế là bao nhiêu vật dụng trong gia đình phải đem đi bán để lo cho nó. Nhưng vì không đủ tiền cho nên vợ tôi phải ôm con trốn về. Chưa được bao lâu bệnh tình của nó trở nên nguy kịch cho nên lại phải đưa vào bệnh viện cấp cứu ở trung tâm lao Phạm Ngọc Thạch. Nhưng không còn kịp nữa.

    Cháu đã qua đời. Nửa đêm đem xác con về nhưng chúng tôi kiệt quệ không có tiền mua đất mướn người để chôn cho cháu. Người hàng xóm thương tình cho ván đóng hòm rồi lén lút chôn cháu ở ven hông vườn nhà. Bây giờ tôi không còn đủ sức để đi bán dạo nữa. Đành phó mặc số phận cho vợ con. Vợ tôi cũng mang bịnh như tôi nhưng bà cũng phải dắt con đi bán vé số để kiếm sống cho gia đình. Bây giờ chỉ biết cầm cự được ngày nào hay ngày đó”.

    Đó là tình hình bi đát của gia đình thương phế binh Nguyễn Văn Hổ, hiện cư ngụ tại huyện Châu Thành, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Trước 75, anh phục vụ trong binh chủng Biệt Động Quân. Trong một cuộc hành quân nhằm giải vây cho một đơn vị bạn đang bị bao vây ở mật khu Tống Lê Chân anh bị thương, bị trúng đạn vào đầu. Tuy may mắn không chết nhưng anh bị liệt nửa thân người. Ngày 30/1/75 anh được giải ngũ vĩnh viễn với mức độ tàn phế 90% nhưng chưa kịp được hưởng trợ cấp thương binh của chính phủ Sài Gòn thì nước mất và nhà anh tan.

    Một trường hợp khác là TPB Đào Ngọc Khanh trước thuộc tiểu đoàn 8 TQLC. Anh bị thương ngày 31/3/73 tại tiền đồn Quảng Trị. Anh bị bắt làm tù binh và bị đưa đi tù ở miền Bắc. Được trả về sau ngày 30/3/75 với một chân trái còn lại, trôi nổi theo cuộc sống với những nghề thấp hèn nhất của xã hội là bán nhang và bán vé số.

    Trong số những hoàn cảnh đau xót nhất xảy ra sau ngày 30 tháng Tư 1975 tại Sài Gòn là các TPB của quân lực VNCH bị đuổi ra khỏi bệnh viện Cộng Hòa dù cho những vết thương chiến tranh của họ vẫn đang còn rỉ máu. Từng đoàn thương binh, nối gót dắt dìu ra cổng. Người sáng mắt dẫn đường kẻ mù loà, người bị thương nhẹ cõng người bị thương nặng. Khắp lối ra vào, máu me vương vãi, nước mắt quanh tròng những nạn nhân bị bỏ rơi, không thượng cấp, không đồng đội và cũng không còn hậu phương. Một số sau đó chết vì vết thương quá nặng, số khác sống trong cảnh tàn phế vĩnh viễn, vì vết thương không được tiếp tục điều trị.

    Trong đoàn người bất hạnh đó có TPB Nguyễn Đơn. Anh trước là thiếu uý Trung Đội trưởng Địa Phương Quân, bị thương ngày 2/4/1975 tại chi khu Tam Bình. Anh bị cụt 2 chân trên đầu gối và mức độ tàn phế là 100%. Anh may mắn được sống còn nhưng hiện đang sống thiếu thốn, sống khốn khổ và sống trong một hoàn cảnh khắc nghiệt cùng cha mẹ già đã hơn 80 tuổi và đứa em gái 45 tuổi bị bịnh câm điếc bẩm sinh.

    Đó là ba trường hợp thương tâm trong hàng trăm ngàn "mảnh đời rách nát" còn lại ở VN mà tôi biết được qua hội Tình Thương Foundation. Thương Phế Binh QLVNCH, các anh là ai? Trường hợp thứ nhất, TPB Nguyễn Văn Hổ sanh năm 1955. Trường hợp thứ hai, TPB Đào Ngọc Khanh sanh năm 1953 và trường hợp thứ ba TPB Nguyễn Đơn sanh năm 1954. Có nghĩa là lúc các anh bị thương và lúc nước mất nhà tan các anh chỉ đang ở độ tuổi đôi mươi. Các anh là những thanh niên lớn lên trong giai đoạn lịch sử nghiệt ngã, oan khiêng đang bị họa Cộng Sản xâm lược âm mưu thôn tính toàn vẹn lãnh thổ nên các anh đã phải lên đường thi hành bổn phận người trai thời chiến. Các anh chiến đấu vì lý tưởng, các anh chiến đấu để gìn giữ từng tấc đất của thôn xóm, của quê hương.

    Các anh là những người thanh niên tuổi trẻ tạm gác bút nghiêng, rời sân trường để bước vào quân trường cho tới khi các anh thề một lòng Vị Quốc Vong Thân. Khoác lên mình bộ đồ trận, mang lên lưng mình ba lô hành quân nặng nề nặng tình quê hương và đội lên đầu mình chiếc nón sắc xanh tròn, xanh như tuổi xanh của các anh và căng tròn như tấm lòng sắc son của các anh đối với dân tộc. Các anh đã trở thành người lính thực thụ. Các anh trưởng thành cùng với vận nước. Các anh bước đi tay bồng súng và chân mang giày trận làm kinh kha đi chống giặc giữ quê hương. Các anh đã đi qua và dẫm nát những địa danh như Kontum, Pleime, Ashau, Ia-Drang, ... Anh đã dự những trận chiến oai hùng từ Đồng Xoài, Ấp Bắc, Bình Giã đến Tống Lê Chân, Bình Long, An Lộc để giữ cho chính nghĩa quốc gia tự do được tồn tại, để giữ cho người dân được sống no ấm ở hậu phương.

    Nhưng lịch sử đã sang trang tháng 4 năm 75. Hình tượng người lính VNCH bị giật đỗ rơi xuống vỡ tan trên đường phố, nhưng từ đó các anh anh thực sự đứng lên oai hùng trong trái tim người dân miền Nam. Từ ngày Sàigòn bị cưỡng chiếm và từ khi những bộ đội CS chập chững, ngỡ ngàng và ngốc nghếch bước chân vào thành phố người dân mới thật sự hiểu được giá trị của người lính quốc gia. Hai mươi năm chiến tranh với hàng trăm ngàn sinh mạng người lính cùng vài trăm ngàn thương binh đã để lại những phần thân thể của họ trên những chiến trường khốc liệt của miền Nam.

    Những giờ phút cuối cùng, dầu biết nước sắp mất, chết chỉ uổng mạng nhưng họ vẫn hiên ngang chiến đấu ở những cứ điểm cuối cùng của miền Nam từ Khánh Dương, Phan Rang, Phan Thiết, Xuân Lộc, Long An, Tây Ninh, Củ Chi , Biên Hòa đến Sài Gòn. Tất cả là những chiến tích để đời và lưu danh thiên cổ trong dòng sử Việt. Ba mươi bốn năm qua rồi, chúng ta đã làm gì để tri ân người lính VNCH? Chúng ta, những người tỵ nạn tầm gửi, đã từng sống nhờ trên máu xương của người lính miền Nam.

    Ba mươi bốn năm qua rồi, đã đến lúc chúng ta phải vinh danh người lính VNCH. Những ai còn sống sót tới ngày hôm nay, phải nhỏ một giọt nước mắt, dù muộn màng để cảm ơn họ. Chúng ta hãnh diện vì có được những anh hùng làm rạng danh nước Việt. Họ đáng được ca tụng và kính phục. Họ đã nằm xuống vì quê hương dân tộc. Họ đã để lại một phần thân thể hay cả thân xác trên quê hương vì chính nghĩa quốc gia tự do. Ngày nay, vẫn còn nhiều thương phế binh lê lết phần thân thể còn lại của mình trên khắp các nẻo đường đất nước. Nhìn thấy những hình hài không nguyên vẹn ấy, có phút giây nào chúng ta nghĩ tới và tự hỏi “Họ là ai” hay không?

    Họ là những người lính tàn phế sau cuộc chiến nay phải sống những cuộc đời cơ cực, lang thang bên lề cuộc đời, rách nát và bơ vơ như một người xa lạ. Họ là những người lính oai hùng trong thời chiến và nay là người tù, người tàn phế trong thời bình. Họ “tàn nhưng không phế”. Những TPB bị bỏ lại sau cuộc chiến chẳng những bị bỏ rơi trong bệnh tật và nghèo đói cùng cực, không được giúp đỡ, mà trái lại họ còn bị bạo quyền CS hất hủi, trù dập, chà đạp lên danh dự và xua đuổi ra khỏi những sinh hoạt xã hội bình thường. Họ bị lưu đày trên chính quê hương họ.

    Người CS đẩy họ xuống đáy trầm luân. Có ai trong chúng ta, có người chưa từng đóng góp gì cho chính nghĩa quốc gia, cảm thấy thẹn với mình khi đã đôi lần tỏ ra hãnh diện vì mình nói tiếng Anh lưu loát hơn họ, nhà to cửa rông, xe đẹp và con cái thành tài hơn họ? Có ai trong chúng ta sẵn sàng hy sinh một bữa tiệc đắt tiền ở một nhà hàng danh tiếng, hy sinh một hai tấm vé vào cửa của một đại nhạc hội tưng bừng, hy sinh một buổi tiệc vui chơi cùng bè bạn, một buổi tiệc dạ vũ để bỏ tiền ra đóng góp một cách thiết thực hầu xoa dịu phần nào nỗi đau khổ và nhọc nhằn của người TPB bất hạnh?

    Chúng ta người Việt hải ngoại là những người được may mắn hơn họ, được sống trong tự do và sung túc. Chúng ta đã mất nước, chúng ta đã mất cả nơi chốn dung thân để phải tha hương lưu lạc khắp mọi phương trời. Chúng ta đã mất mát nhiều thứ, gần như tất cả, nhưng những người thương binh như các anh còn mất mát nhiều hơn nữa, các anh đã mất một phần thân thể, mất tuổi trẻ, mất tình yêu và cả tình người. Trong cuộc đời này không có điều gì cao thượng hơn là hy sinh cuộc đời mình để cho người khác được sống. Vậy mà các anh đã hy sinh. Sự hy sinh của các anh là sự hy sinh chính đáng, cao quý và đáng kính trọng.

    Chúng ta nên có ý thức trách nhiệm giúp đỡ những người TPB và gia đình của họ, bởi chính họ đã một thời vì lý tưởng Tự Do, vì chính nghĩa Quốc Gia và vì sự an bình của quê hương mà chiến đấu và hy sinh. Chúng ta không những không nên làm ngơ mà trái lại phải biết tri ân và đặt họ ở một địa vị xứng đáng mà đáng lẽ họ phải được hưởng từ lâu. Chúng ta hãy đem lại cho những người Thương Phế Binh VNCH ở quê nhà một niềm tin, để họ biết rằng bên kia bờ đại dương, những bạn đồng ngũ, đồng bào và cả thế hệ sinh sau, đẻ muộn, vẫn luôn luôn nghĩ đến thân phận cùng sự hy sinh cao cả của họ. Chúng ta có bổn phận đóng góp một cách thiết thực hầu xoa dịu phần nào nỗi đau khổ và nhọc nhằn của người Thương Phế Binh VNCH bất hạnh.

    Trần Việt Trình
    10 tháng 8 năm 2009

    * Source: http://lyhuong.net/viet/index.php?op...ndoc&Itemid=56
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  20. #140
    Join Date
    Aug 2009
    Posts
    204
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Người Lính Không Có Số Quân

    Trần Như Xuyên/k21

    Tối hôm đó, tôi dẫn Đại đội tới điểm đóng quân đêm, đây là ngày đầu tiên tôi nắm Đại đội. Sáng nay có cuộc bàn giao ở Tiểu đoàn, người Đại đội trưởng tiền nhiệm,cũng là khóa đàn anh của tôi, có sự vụ lệnh đi học khóa quân chánh.

    Ra trường được sáu tháng, từ anh Thiếu úy mới tò te ra trường, giờ đã lên nắm Đai đội, quả là thời gian hơi nhanh so với những đứa bạn cùng khóa ở các binh chủng khác như Nhẩy dù, Thủy quân lục chiến...Có lẽ họ vẫn còn đang thực tập ở Trung đội hay là Trung đội trưởng mà thôi. Tôi nắm Đại đội hơi nhanh không phải vì mình tài giỏi gì mà năm 67 khi ra trường, như bao đứa bạn khác chọn đi Bộ binh, các đơn vị rất thiếu sĩ quan, như Tiểu đoàn tôi về chẳng hạn, có Đại đội xử lý là một Chuẩn úy, gọi là xử lý cũng không đúng vì trong cấp số coi Đại đội thì tối thiểu phải là Thiếu úy, nhưng không hiểu sao vào những năm này, sĩ quan quá thiếu, bởi vậy khi vừa tới Trung đoàn, nghe tin có mấy sĩ quan Đà lạt mới ra trường là các đơn vị nhao nhao lên xin, tôi được đưa về Tiểu đoàn 4/46 thì một ông đàn anh khóa 16 đang làm Đại đội trưởng xin ngay tôi về. Ông tên Hồ Trang, khóa 16, ở miền Trung bị thuyên chuyển vào Nam vì dính dáng tới vụ Phật Giáo, ngoài đó ông đã là Tiểu đoàn phó nên vị Tiểu đoàn Trưởng cũng có hơi nể, quay quắt vì việc phải thuyên chuyển xa nhà, bị giam lon, giam chức nên ông gắt gỏng như mắm tôm, ông nghiêm khắc với mọi người nhưng rất chí tình trong việc chỉ bảo cho tôi từng ly, từng tí việc chỉ huy mà dầu sao tôi cũng còn quá mới. Quân trường dậy là một chuyện, ra đây đụng với thực tế lại là một chuyện khác.

    Cứ như vậy, những lần hành quân, ông cho tôi ở cạnh để học hỏi hoặc cho xuống trung đội để thưc tập, 6 tháng sau, khi thấy tôi đã tàm tàm gọi là đủ lông, đủ cánh bay solo được, ông nói với Tiểu đoàn Trưởng và bàn giao Đại Đội lại cho tôi, trước đó, ông đã thu xếp người Đại đội phó đi học để tôi coi Đ.Đ được danh chính ngôn thuận.

    Nói về tối đầu tiên tôi dẫn Đ.Đ đi đóng quân đêm, thường tọa độ đóng quân đêm cùng các điểm phục kích do Tiểu đoàn chấm, tối đó đang di chuyển trên đường tôi thấy có một người đàn bà đi lẫn trong toán đại liên, tôi hỏi Thượng sĩ Hội, thường vụ đại đội, ông ta đi lính hồi tôi còn học Tiểu học:

    - Ai vậy ông Hội, sao có đàn bà lẫn lộn vào đây?

    - Thưa Thiếu úy, đó là vợ thằng Nở, xạ thủ đại liên, nó ở với Đại Đội lâu rồi, hồi còn Trung úy Trang, ông cũng cấm nhưng chỉ được vài ngày là nó lại lẻn xuống sống với chồng nó.

    - Tôi thấy không được rồi đó ông, lỡ đêm Việt cộng tấn công thì làm sao, thằng Nở chỉ lo cho vợ nó thì còn đánh đấm gì được..

    - Thiếu uý đừng lo, vợ nó phụ nó rất đắc lực, chị ta biết xử dụng đại liên, biết tiếp đạn cho chồng, rồi Thiếu úy coi, hễ rảnh là nó lại lau chùi cây đại liên nữa.

    - Nhưng lỡ có chuyện gì làm sao mình báo cáo.

    Hôm sau tôi gọi Nở lên trình diện:

    - Sao cậu không để cho vợ cậu ở nhà mà cho đi theo Đại đội như vậy, lỡ có chuyện gì thì sao?

    - Thưa Thiếu úy, con Ba nó mồ côi từ nhỏ, không có nhà, em đã đưa nó về với má em rồi nhưng má em không ưng nó, cứ kiếm chuyện với nó hoài, cho nó theo ĐĐ, thấy cũng bất tiện, em biết chứ.

    Nở thực hiện lời"em biết chứ", vài ngày sau, tôi không thấy vợ Nở đi chung trong toán đại liên nữa, tôi hỏi Thượng sĩ Hội, ông ta cho biết Nở đưa vợ ra bến xe về quê mấy bữa nay rồi, tôi có hơi băn khoăn nhưng nghĩ vậy cũng phải, lỡ có chuyện gì thì làm sao, rồi má con sẽ phải hòa thuận với nhau chứ.

    Một hôm, Hạ sĩ quan quân số cầm về xấp thư của ĐĐ đưa cho tôi, trước đó tôi có dặn anh ta là thỉnh thoảng phải kiểm soát thư từ của binh sĩ xem biết đâu có đứa bị móc nối. Tôi dở xấp thư ra coi thấy có một lá đề tên Nở, khi tôi coi ĐĐ thì Nở không biết chữ, sẵn dịp, tôi hỏi các Trung đội xem còn ai không biết chữ gom tất cả lại, đâu cũng được 5,6 người, tôi nói Trung sĩ Hiển, Hạ sĩ quan CTCT mua tập vở về dậy họ học,"ngày mãn khóa", tôi kêu từng người đưa tờ Chiến sĩ Cộng Hòa cho đọc, ai đọc được, tôi thưởng cho bốn ngày phép, Hạ sĩ Nở biết chữ từ ngày đó.

    Có bốn ngày phép, Nở không đi đâu cả, anh ta và vợ quanh quẩn chơi ở mấy nhà quen trong xã. Hết bốn ngày, Nở về lại ĐĐ.

    Tôi mở lá thư của Nở ra đọc:

    Long Xuyên, ngày...
    Anh hai thương, em diết thơ nầy cho anh là lúc ba giờ phia, em chờ má ngủ mới dám diết cho anh, anh hai ôi, em nhớ anh quá hà, sao số kiếp cứ đài đọa tụi mình hoài, nhớ những lúc điêm tối cùng anh đi đóng quân, dầu gì vợ chồng được gần nhau cũng hơn há anh, hôm anh tiễn em ra bến xe em buồn quá, lúc xe chạy, em thấy như mất mác cái gì quí báo, em khóc ước cả mắt, em cố chìu chuộng má mà má vẫn hổng thương em, thôi để em lên quỳ xinh với ông thiếu úy để em được đi theo anh, liệu được hôn anh, diết thơ nầy xông, mơi sẽ gởi cho anh, anh hai nhớ trả lời em nghe.
    Em, Ba.

    Một tuần lễ sau khi đọc lá thư của Hạ sĩ Nở, buổi tối dẫn Đại Đội đi đóng quân, tôi lại thấy cái dáng nhỏ bé ấy đi chung với toán đại liên, lẫn vào hàng quân, không biết anh Hai có trả lời, trả vốn gì không hay nhớ chồng lên đại, tôi thấy chị ta cố lẩn vào đám đông, chắc sợ tôi nhìn thấy, hoặc có thể biết tôi đã thấy nhưng làm nước liều, có điều hôm nay không mặc bộ bà ba đen thường lệ mà là bộ đồ trận rộng thùng thình, đầu còn đội nón sắt, chị ta tính ngụy trang che mắt tôi, tôi cười thầm trong bụng khi thấy vợ Nở cuốn nguyên một dây đại liên quanh người, tôi mong chị ta đừng gặp tôi mà xin gì cả, chẳng thà để tôi lờ đi như không biết còn hơn là hợp thức hóa cho khó xử.

    Năm 67, các Tiểu đoàn Bộ binh thường có ba Đại đội tác chiến, chia nhau vùng trách nhiệm họat động, hành quân lục soát từng ĐĐ chung quanh bộ chỉ huy TĐ, đôi khi có cuộc hành quân cấp Tiểu đoàn thường là nhẩy trực thăng và xa hơn. Ba Đại đội trưởng tác chiến đều cùng khóa 21 Đà Lạt gồm Th/U Vũ đình Hà (ĐĐ1), Th/U Lê xuân Sơn(ĐĐ2) và tôi ĐĐ3.

    Một tối, Đại đội 1 bị tấn công, ĐĐ2 tối đó đóng xa, giữ con đường từ Long Thượng về Cần Giuộc, tôi nằm cách Hà(ĐĐ2) khoảng 500 thước, Tiểu đoàn mất liên lạc với Hà, kêu tôi lên tiếp cứu, chỗ Hà nằm tôi biết rõ vì đã từng đóng quân ở đây, chắc chắn là địch tấn công từ ngã rạch tấn công ra, tôi dẫn Đại đội chạy băng lên vì tình người bạn cùng khóa, tôi cho Đại đội bắn chặn nơi đầu rạch, nhưng vì không liên lạc được với Hà, tôi sợ quân ta bắn lầm quân bạn,, tôi chạy lại cây đại liên, cho chuyển hỏa lực về bên trái, dưới ánh sáng của pháo binh Cần Giuộc, tôi thấy vợ Nở nằm cạnh chồng, tay nâng dây đạn, Nở đang nghiến răng bóp cò, nhả từng loạt đạn về hướng địch.

    Như tôi đã nói ở trên, dạo đó ở Long An VC chưa nhiều, chắc khoảng hai chục tên, đợi mình ơ hờ, liều lĩnh tấn công.Cũng tại nơi con rạch này, ít lâu sau, ĐĐ tôi hành quân lục soát ở đây và đụng nặng, sở dĩ đụng nặng vì địch tụ ở đâu về, ém quân trong đám dừa lá dầy đặc như vùng bất khả xâm phạm, chắc chúng tập trung ở đây, đợi đêm xuống có giao liên dẫn chúng xâm nhập Đức Hòa, Đức Huệ rồi qua Campuchia, chúng không ngờ ta lùng sục, chúng buộc phải chống trả.

    Đám dừa nước cao ngất che dọc theo con rạch, hướng ĐĐ tiến vào là đồng trống, suốt vùng Long An này chỗ nào cũng vậy, bất ngờ ban đầu làm ta có ba binh sĩ bị thương và một chết, tôi xin pháo binh và Cobra lên vùng, hồi đó gọi máy bay ném bom còn là một điều mới mẻ, vũ khí xử dụng là của thời đệ nhị thế chiến, toàn là Garant, Carbin, cả Thompson nữa, ấy vậy mà cây đại liên 30 của Hạ sĩ Nở cũng có tác dụng. Nở người hơi thấp nhưng rất khỏe, một mình vác cây đại liên cả với chân ba càng, mỗi lần pháo bắn hay trực thăng phóng rocket là anh ta chạy nhào lên cho gần mục tiêu, lúc đó địch còn lo núp. Khi đã rất gần mục tiêu và có gò đất làm điểm tựa chắc chắn, cây đại liên mới phát huy được hiệu quả của nó, từng loạt đạn bắn ra làm bọn VC không ngóc đầu lên được, cộng thêm pháo và trực thăng bắn liên tục, ĐĐ chiếm được mục tiêu lúc gần tối, địch bỏ lại 6 xác và một số vũ khí. Trận đánh như thế này không đáng kể gì so với sau này khi SĐ 25 rời Long An di chuyển về vùng trách nhiêm mới là Tây Ninh, cuộc hành quân vượt biên năm 1970 cũng như ở Bình Long mùa hè đỏ lửa thì chiến trận lên tới cấp Sư đoàn, Quân đoàn.

    Sáng hôm sau, Tướng Phan trọng Chinh, Tư lệnh SĐ xuống quan sát trận đánh và gắn huy chương, tôi đề nghị với TĐT thăng cho Nở lên Hạ sĩ nhất nhưng Tướng Chinh là người rất ngặt nghèo trong việc ban thưởng huy chương và thăng cấp, Nở chỉ được cái huy chương đồng, ông bảo huy chương đồng của SĐ 25 bằng huy chương vàng của các nơi khác(!)

    Hai ngày sau ĐĐ còn được nghỉ dưỡng quân, tôi xuống tổ đại liên chơi, cả toán đang ngồi ăn cơm, tôi thấy vợ Nở đang mân mê cái huy chương của chồng, thấy tôi, chị có vẻ ngài ngại gật đầu chào rồi bỏ vào trong nhà, tôi nghĩ giá tôi có quyền, tôi sẽ tặng cho chị ấy một cái huy chương của buổi tối yểm trợ cho Vũ đình Hà.

    Đầu năm 1968, tôi được đề cử theo học khóa Tác chiến trong rừng ở Mã Lai, tôi còn gắn bó với ĐĐ hơn một tháng nữa. Một buổi sáng, đang đứng trước cửa ĐĐ thì vợ Nở bất chợt ngang qua, chắc đi chợ về, thấy tôi, chị ta khựng lại muốn thối lui nhưng không kịp, chị ta làm gạo bước tới và khi ngang qua tôi, vợ Nở mím môi lại và dơ tay chào theo kiểu nhà binh, tôi ngạc nhiên, trong một phản xạ, tôi chào lại, chào xong, tôi mới ngẩn người ra nghĩ: sao mình lại chào nhỉ, hóa ra ĐĐ này có một nữ quân nhân ư? Có lẽ chị ta thấy mọi người trong ĐĐ chào tôi nên khi gặp, chị cũng chào để cho giống như những người kia chăng! Tôi thấy hình như bụng vợ Nở có hơi to ra. Tôi đem điều này hỏi Thượng sĩ Hội thì ông ta bảo: có vẻ như vậy Trung úy.

    Tôi gọi Nở lên:

    - Vợ cậu có bầu phải không?

    - Dạ, thưa Trung úy.

    - Vậy thì cậu phải đưa cô ta về với bà già đi chứ, bầu bì rồi đi theo ĐĐ mãi sao được, phải lo sức khỏe cho cô ta.

    - Dạ, em cũng tính tháng này lãnh lương xong, Trung úy cho em cái phép để em đưa nó về gởi bà già.

    - Được rồi, lúc nào muốn cứ lên đây.

    Hai ngày sau, Đại Đội được lệnh đóng quân đêm và tổ chức một cuộc phục kich ở sau lưng quán Năm Ngói, một địa danh nổi tiếng về sự khuấy rối của VC nơi đây, tối đó, ĐĐ chạm địch, một tốp nhỏ bọn chúng gặp toán phục kích, hai tên bị bắn hạ, số còn lại nhập qua toán kia thì đụng phải ĐĐ, nhờ toán phục kích nổ súng trước nên ĐĐ không bị bất ngờ, địch bắn rất rát nhưng không chủ ý tấn công nên sau một hồi, chúng rút lui, hình như có chuyện gì xẩy ra ở cây đại liên vì tôi thấy nó nổ được một chập thì im bặt, tôi đảo nhanh vòng quanh tuyến phòng thủ, không có tổn thất nào, nhưng khi tới cây đại liên, tôi thấy có mấy người lố nhố, linh tính cho tôi biết có chuyện không hay, tôi hỏi giật giọng:

    - Gì vậy Nở?

    Không có tiếng trả lời, tôi bước vội tới, thấy Nở ôm vợ, y tá Thọ đang loay hoay băng vết thương nơi ngực chị ta, thấy tôi, Nở nghẹn ngào:

    - Vợ em nó chết rồi Trung úy ơi!

    Tôi ngồi xuống, chị ấy bị trúng đạn ở ngực, máu ướt đẫm cả cái áo trận, y tá Thọ đứng lên:

    - Chết rồi Trung úy.

    Tiếng thằng Năm trong toán đại liên:

    - Súng bị kẹt đạn, thằng Nở kéo mãi đạn không lên, con Ba nó chồm dậy mở nắp cơ bẩm, em la nó nằm xuống nhưng không kịp Trung úy.

    Tôi thấy nghèn nghẹn ở cổ họng, từng chứng kiến nhiều cái chết nhưng lần này tôi thật xúc động. Thôi, chị Nở, từ nay chị hết cần phải tránh né tôi nữa rồi, sao tôi lại không cứng rắn hơn nữa với chị, giá tôi đừng tình cờ đọc được lá thư chị viết cho chồng, ừ, đáng lẽ tôi phải cứng rắn hơn, nhất định không cho chị đi theo ĐĐ như vậy.

    Tôi báo cáo với Thiếu tá Hải, Tiểu đoàn Trưởng về sự việc xẩy ra, ông có biết vợ chồng Nở, ông cho Sĩ quan CTCT/TĐ mua cái hòm, cấp cho Nở một cái xe Dodge để đưa vợ về quê mai táng. Tôi lấy hết tiền có thể có được, cả tiền quỹ ĐĐ đưa cho Nở, buổi trưa cuối năm, trời hơi lành lạnh, chiếc xe chở Nở và quan tài vợ đi ngang qua ĐĐ, tôi đứng nghiêm chào như một lần chị đã chào tôi, chị chết đi mà cái hòm không có phủ cờ, không được mười hai tháng lương, không cả được lên cấp chỉ vì chị là NGƯỜI LÍNH KHÔNG CÓ SỐ QUÂN.

    Mười ngày sau, Nở trở lại đơn vị. Trước ít ngày tôi về SG để chuẩn bị đi học, Nở đào ngũ. Có lẽ Nở không chịu được cái cảnh mỗi tối vác cây đại liên tới chỗ đóng quân mà không có vợ bên cạnh.

    * * * *

    Chị Nở thân mến,
    40 năm sau ngày chị mất, hôm nay tôi ngồi viết lại chuyện này về chị, chỉ là một sự tình cờ thôi, hôm nọ tôi đọc loáng thoáng đâu đó người ta nói về những gương chiến đấu của Quân và Dân miền Nam trong công cuộc chống CS xâm lược trước đây, tôi chợt nhớ tới chị, một người không phải là quân, cũng không hoàn toàn là dân, gọi chị là gì nhỉ, chị lưng chừng ở giữa nhưng đã chiến đấu như một người lính thực thụ và đã hy sinh.
    Một lý do nữa để tôi viết về chị là vì mới đây, Cộng Sản Việt Nam đã làm ầm ĩ lên câu chuyện về Đặng thùy Trâm, một nữ cán binh CS xâm nhập vào Nam và đã chết ở chiến trường Quảng Ngãi, cô Trâm này chết ở đây nhưng không ai biết nắm xương khô vùi chôn nơi đâu, một người lính Mỹ hành quân qua nơi cô chết và nhặt được cuốn nhật ký của Đặng thùy Trâm, cuốn nhật ký này, như một kỷ niệm chiến tranh của người lính, anh ta đem nó về Mỹ, mấy chục năm sau, nó mới được đưa ra ánh sáng và trao cho mẹ của Đặng thùy Trâm ở Hà Nội.

    Nhà nước CSVN chụp được cơ hội này cho xuất bản cuốn nhật ký, dĩ nhiên với nhiều thêm thắt để khơi động lòng yêu nước của đám thanh niên càng ngày càng rời xa chủ nghĩa CS.. Đặng thùy Trâm là một Bác sĩ, nhưng không hiểu có được học hành tử tế để thành một Bác sĩ không, tôi đã đọc được một truyện khi ở tù ngoài Bắc là có một anh công nhân được tặng danh hiệu anh hùng lao động vì đã phục vụ 15 năm trong phòng bào chế thuốc, và vì phục vụ hăng say và lâu như vậy, anh được thăng lên làm dược sĩ vì quen với công việc bào chế, phong dược sĩ xong, anh ta mới đi học bổ túc văn hóa vì anh ta viết chữ cũng chưa gọn ghẽ mấy. Bởi vậy, tôi không biết Bác sĩ Thùy Trâm này trình độ có khá hơn y tá Thọ của Đại Đội mình năm xưa không, hay cũng như mấy bà mụ vườn ở nhà quê.

    Thưa chị Nở, cả chị và cô Đặng thùy Trâm này là hai người đàn bà ở hai chiến tuyến chết trong cùng cuộc chiến, trong cùng thời gian và độ tuổi cũng gần như nhau, nhưng hai cái chết mang hai ý nghĩa khác nhau, Thùy Trâm bị bắt buộc và tự đi tìm cái chết, còn chị, chị bị chết vì người ta ở mãi đâu vô đây tìm để giết chị, chị chỉ là tự vệ, chị không hận thù ai, không ai dậy chị oán thù, không ai tuyên truyền với chị về chủ nghĩa này, chủ nghĩa nọ và cũng không nhân danh chủ nghĩa để chém giết người khác, chị rất đôn hậu, còn cái cô Thùy Trâm kia đã từ ngoài đó vào đây, mang trong lòng sự thù hận bởi sự tuyên truyền nhồi nhét, miền Nam này nào có cần ai phải giải phóng đâu, cho mãi nhiều năm sau này, người miền Nam vẫn khẳng định rằng họ không cần ai giải phóng cả.

    Chị Nở có thấy điều buồn cười này không là trong cuốn nhật ký, Thùy Trâm viết là sao quân Mỹ Ngụy tàn ác, thích chém giết, chị Nở có thích chém giết ai không hay người ta vào đây tìm giết chị, từ ngoài đó lần mò vào tận trong này để tìm giết người ta lại còn hô hoán là sao người ta thích chém giết mình, thật kỳ lạ. Cũng trong cuốn nhật ký, Thùy Trâm than phiền là phấn đấu đã lâu nhưng chưa được kết nạp đảng, đây cũng là lý do vì sao Thùy Trâm đi B, cố gắng trong công tác để chỉ mong được đảng kết nạp, chị Nở có biết cô ta mong được kết nạp để làm gì không, thưa là để có cơ hội được làm lớn, có đảng mới được làm lớn, có làm lớn thì mới có quyền và có tiền, bây giờ cả cái nước Việt Nam này, đảng Cộng Sản thi nhau vơ vét tiền bạc của người dân, chúng giầu lắm rồi, hồi trước mỵ dân, chúng đem những người giầu có ra đấu tố, gọi họ là địa chủ, giờ thì ai đấu tố chúng? Thùy Trâm này nếu mà không chết và giả như có ô dù, giờ có thể là Bộ trưởng Y tế hay làm Giám đốc một bệnh viện nào đó thì cũng là những con giòi, con bọ đang tham gia đục khoét thân thể Việt Nam.

    Cũng là cái chết nhưng chị chết trong vòng tay người chồng, có mồ yên mả đẹp, có nhang, có khói, tội cho cha mẹ cô Thùy Trâm, không biết nắm xương khô con giờ ở chỗ nào, họa chăng là cái bàn thờ với tấm hình cô ấy mà thôi.

    Bốn mươi năm đã qua, bây giờ nhiều thay đổi lắm rồi chị Nở ạ, ông Thiếu úy trẻ năm xưa giờ là ông cụ già rồi, vẫn khó tính như trước và đang phiêu bạt nơi xứ người, Thượng sĩ Hội đã mất, Nở từ ngày đào ngũ tôi không gặp lại, chắc đã có vợ khác, xin được tạ lỗi cùng chị là đã không giữ được đất nước để rơi vào tay quân thù, thật không xứng đáng với sự hy sinh của chị, chúng tôi làm mất nước không phải vì hèn kém, không chiến đấu, mất nước vì bị phải mất nước.

    Quên kể cho chị nghe,mấy tháng sau ngày chị mất, vũ khí được tối tân hóa, những cây Garant cổ lỗ sĩ được thay bằng súng M16, còn cây đại liên 30 nặng chình chịc chị biết đấy, thay thế bằng đại liên M60, nhẹ hơn, bắn nhanh hơn và không hay bị kẹt đạn nữa chị Nở ạ. Thôi tất cả đã qua, chúng tôi vẫn không bao giờ quên những người đã hy sinh vì mảnh đất miền Nam thân yêu, không bao giờ quên được những gương chiến đấu dũng cảm của quân và dân trong việc chống lại quân Bắc phương xâm lược, hôm nay ngồi viết lại những hàng chữ này như được thắp nén hương trang trọng cho chị, thưa chị Nở.

    Trần như Xuyên

Page 7 of 10 FirstFirst 12345678910 LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Vinh danh ông Nam Lộc
    By banhtieu in forum Khoa Học Chính Trị ( Political Science )
    Replies: 8
    Last Post: 08-08-2019, 09:15 PM
  2. Vinh danh cờ vàng
    By BoBoTx in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 1
    Last Post: 02-24-2012, 11:57 AM
  3. úi chà chà VN lại được vinh danh tiếp :)
    By VietTaolao in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 8
    Last Post: 11-03-2009, 08:41 PM
  4. Vinh Danh, Tưởng Niệm và Tạ Ơn ai ?
    By Mokuradov in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 1
    Last Post: 04-26-2008, 10:26 AM
  5. Vinh Danh
    By convitcon in forum CLB Hội Họa & Nhiếp Ảnh
    Replies: 1
    Last Post: 05-30-2007, 04:52 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •