Page 5 of 10 FirstFirst 12345678910 LastLast
Results 81 to 100 of 183

Thread: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

  
  1. #81
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Cuộc sống của người dân sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975

    2006-05-07

    Trà Mi, phóng viên đài RFA

    Trong chương trình đánh dấu 31 năm ngày cuộc chiến Việt Nam kết thúc, quý vị đã cùng chúng tôi lật lại trang sử của ngày 30/4/1975 đong đầy niềm vui và nước mắt, qua lời kể của các nhân chứng lịch sử từ khắp 3 miền đất nước. Kể từ đó, quê hương và cuộc sống người dân Việt đã thay đổi như thế nào, nhất là trong quãng thời gian tiếp theo sau biến cố đó?

    Mời quý vị tiếp tục theo dõi câu chuyện trao đổi giữa Trà Mi với ông Lâm, cựu binh sĩ nhảy dù thuộc lữ đoàn 2, quân lực Việt Nam Cộng Hoà, anh Quốc, một cư dân tại thành phố Đà Nẵng, và cựu đại tá Cách Mạng Phạm Triệu Huấn từ Hà Nội.

    Trước tiên, Ông Lâm kể lại những gì xảy ra đối với đồng bào miền Nam kể từ ngày cuối tháng tư năm ấy.

    Cựu chiến sĩ quân lực Cộng hoà ở miền Nam: Sau ngày 30/4 những ai là binh sĩ chế độ cũ đều bị bắt đi học tập cải tạo. Ai nói chạm phạm đến mấy ổng thì tối họ đến kêu cửa dắt đi một là chết hai là đi tù nhiều năm. Còn những người mang tội ác giết Việt cộng này kia thì xử bắn liền không tha.

    Trà Mi: Thưa ông, cuộc sống của đồng bào miền Nam nói chung hay của nhân dân Sài Gòn lúc bấy giờ nói riêng như thế nào sau ngày 30/4?

    Cựu chiến sĩ quân lực Cộng hoà ở miền Nam: Người ta sống rất khổ sở như rắn mất đầu không ai nâng đỡ. Có nhiều người trốn chui trốn nhủi vẫn bị chết.

    Bạn nghĩ gì về những nhận xét này? Xin email về [email protected]

    Chế độ cũ ở lại miền Nam bị bắt buộc phải đi kinh tế mới, không cho ở thành phố. Họ bảo phải đi lao động cho biết cực khổ họ không dùng mình nữa.

    Nhà cửa tài sản mấy ổng tiếp thu lấy hết, đem vợ con từ Bắc vào, độc tài vậy đó. Cấp trên ăn theo cấp trên, lính dứơi ăn theo lính dưới chứ không ai ngăn cản cả.

    Trà Mi: Khi nhắc lại ngày 30/4/1975, ba mươi mốt năm rồi nhìn lại, trong lòng ông có cảm nghĩ như thế nào?

    Cựu chiến sĩ quân lực Cộng hoà ở miền Nam: Tôi rất buồn. Cho tới giờ phút này gia đình tôi vẫn phải chịu cực khổ. Một số người nằm xuống, một số người mất xác.. Rất nhiều gia đình đau khổ lắm đó chứ. Cộng sản miền Bắc vào miền Nam là mọi người không ai đồng ý hết.

    Đó là lời kể của một nhân chứng về đời sống dân tình kể từ sau khi Cách Mạng tràn vào miền Nam. Trong khi đó thì tình hình đồng bào tại khu vực miền Trung ra sao? Anh Quốc, một cư dân ở thành phố Đà Nẵng, nhận xét:

    Anh Quốc cư dân Đà Nẵng: Tất cả đều thân tàn ma dại, không ai ra gì hết.

    Trà Mi: Xin anh kể thêm nếu như so sánh đời sống trứơc và sau năm 75 của người dân Đà Nẵng ra sao thưa anh?

    Anh Quốc cư dân Đà Nẵng: Trứơc năm 75 đa số người dân theo chế độ cũ, đời sống tốt đẹp do đồng lương của Mỹ chi phối. Chính vì vậy khi Cách Mạng chiến thắng thì họ phải trả giá.

    Người ta nói phải tập lao động cải tạo cho quen. Hễ 4,5,6 tuổi tất cả đều ra đồng hết. Tội lắm, tôi nghĩ lại mà muốn khóc, vì lúc đó chúng tôi quá bé, mà cũng phải xếp hàng ra đồng lao động, mà giống như Polpot là dần công đổi công…Chúng tôi không có một hột cơm để ăn vì nhỏ quá không biết cách lao động, không có đủ điểm đổi lúa gạo. Đó là sự thật, những người khác cũng vậy, chịu đói hết.

    Trong khi đó tất cả những người chiến thắng đều vui vì sau khi thành công, họ có chức vụ, địa vị, có cơ ngơi, có đất, có nhà, có tương lai. Nhưng cũng một ngày hôm nay đây, chúng tôi từ những người có cơ ngơi sự nghiệp trở thành kẻ chiến bại. Đối với những ai liên đới với kẻ chiến bại thì ngày này đây là ngày buồn vì họ phải bỏ mạng vì vượt biên, vì cải tạo, vì ốm đau bệnh tật, vì nghèo đói túng quẫn, vì lên rừng lên núi đi kinh tế mới. Đó là ngày đám giỗ. Hoàn cảnh đã đưa đẩy họ trở thành những con người tận cùng đáy xã hội này rồi.

    30 năm một thế hệ quá thê thảm, quá đau thương và tôi thấy quanh tôi, những người tôi thân quen đều như thế cả. Cái đó một phần do chế độ, một phần do cách hành xử của thể chế. Sau khi dành chiến thắng, người ta quên đi đây là cùng giống nòi…khiến cho thế hệ thứ hai cũng bị ảnh hửơng quá nặng, không ngóc đầu lên nổi.

    Trà Mi: Thế thì anh nghĩ như thế nào khi sử sách Việt Nam thường ghi chép ngày 30/4 là ngày giải phóng đất nước. Những cụm từ đó xét theo ý nghĩa lịch sử thì có đúng chưa, thưa anh?

    Anh Quốc cư dân Đà Nẵng: Hoàn toàn không đúng, không khách quan mà trong cuộc sống đã viết sử phải viết trung thực vì chúng ta không thể dấu sự thật được. Lịch sử mà dối thì lịch sử đó không có giá trị…

    Ý kiến của phe đựơc gọi là Cách Mạng trước những lời tố cáo này ra sao? Họ có nhận ra những sai lầm đã gieo rắc cho chính đồng bào cùng chung dòng máu Lạc Hồng hay không? Chúng tôi đã đặt câu hỏi này với cựu đại tá Phạm Triệu Huấn, nhà cách mạng lão thành đi bộ đội từ năm 15 tuổi và từng tham gia các chiến trường ác liệt từ Quảng Trị, Khe Sanh, đến Đường 9 Nam-Lào. Ông phát biểu.

    Cựu đại tá Phạm Triệu Huấn từ Hà Nội: Nguyện vọng của người dân là thống nhất đất nứơc để yên bình, thì phía chúng tôi cũng muốn thống nhất bằng con đường đỡ tốn xương máu hơn. Thế nhưng không thực hiện được.

    Sau hiệp định Paris tình hình vẫn không ổn định. Chiến cuộc vẫn diễn ra ở các vùng tranh chấp. Cả 2 phía đều có ý đồ chiến lựơc tiến công. Hai hiệp định hoà bình đều bị thất bại, thế nên cuộc chiến cuối cùng phải đi đến kết thúc bằng cách phải tiến công vào những thành phố.

    Trà Mi: Nhiều ý kiến trong đó có cả những nhà cách mạng lão thành và ngay cả nguyên thủ tứơng Võ Văn Kiệt cũng nhìn nhận rằng những chính sách, đường lối sau 75 đối với các thành các thành phần thuộc chế độ cũ là quá độc đoán và tàn bạo. Là một người tham gia cách mạng lâu năm, ông đánh giá như thế nào về những nhận xét đó?

    Cựu đại tá Phạm Triệu Huấn từ Hà Nội: Tôi thấy có rất nhiều chính sách mà bây giờ mình mới nhận ra sai lầm. Sau khi thống nhất đất nứơc, thay vì phải tập trung vào mặt hoà bình, kiến thiết xây dựng thì lúc đó lại xảy ra những chính sách không thích hợp. Sau này thì tất nhiên trên, đảng, chính phủ cũng nhận ra sai lầm.

    Nhân dân cũng nhận ra sai lầm, tức là sau khi hoà bình thống nhất đất nứơc đáng lẽ phải tập trung xây dựng thì lại tập trung vào chuyện đấu tranh không những đối với phía đối phương mà ngay cả trong nội bộ những người kháng chiến như chúng tôi cũng bị những sai lầm đó thao túng…

    Trà Mi: Thưa ông, bắt đầu từ bao giờ thì những người Cách Mạng mới nhận ra mình có những sai lầm như vậy?

    Cựu đại tá Phạm Triệu Huấn từ Hà Nội: Tôi nghĩ rằng bắt đầu từ công cuộc đổi mới, tức là sau thời gian hàng chục năm thì tất cả những việc như tập trung cải tạo tư sản, cải cách ruộng đất…đều gây những hậu quả lớn cho nhân dân, gây sự đổ vỡ mà sau này phải hàn gắn lại.

    10 năm sau khi thống nhất đất nứơc thì có một phần những người Cách mạng vỡ lẽ ra được thôi, chứ vẫn còn một phần những người bảo thủ. Tới khi chế độ kinh tế chỉ huy của Liên Xô sụp đổ thì người ta mới thay đổi đựơc cái nhãn quan đi…

    Quý vị vừa cùng Trà Mi tìm hiểu những thay đổi của quê hương và cuộc sống người dân Việt Nam trong quãng thời gian tiếp theo sau biến cố lịch sử 30/4/1975 qua cuộc trao đổi với các nhân chứng lịch sử từ 3 miền đất nước.

    Chính những người kháng chiến cũng nhìn nhận các chính sách-đường lối áp dụng kể từ sau ngày hợp nhất đã để lại những hậu quả khắc nghiệt cho những ai liên quan trực tiếp đến cuộc chiến. Thế còn tác động của nó lên thế hệ thứ hai và sự phát triển của đất nước đến tận ngày nay ra sao?

    Làm thế nào để khắc phục sai lầm, hàn gắn các hố sâu ngăn cách trong xã hội Việt Nam lâu nay?
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  2. #82
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    NỖI CÔ ĐƠN CỦA NGÀI TỔNG THỐNG

    THANH THƯƠNG HOÀNG

    truyện



    Tại Thủ đô Saigon cũng như khắp các Tỉnh, Thành phố miền Nam trong những ngày tháng cuối năm 1974 và đầu năm 1975, tất cả mọi người đều sống trong lo âu phập phồng hoang mang sợ hãi đến tột độ. Những tin tức bất lợi do các đài phát thanh ngoại quốc loan báo càng khiến người ta lún sâu vào con đường tuyệt vọng. Người ta bỏ hết công ăn việc làm. Người ta xôn xao bàn tán về những tin đồn.

    Các cấp quân cán chính không ai còn tinh thần làm việc nữa, chỉ tính cách tìm đường thoát thân ra ngoại quốc. Nhất là với bọn nhà giầu phất lên nhờ cuộc chiến tranh này. Chưa bao giờ tinh thần chủ bại thảm hại đến như thế phủ trùm lên khắp miền Nam. Còn trong Dinh Độc Lập, nơi đầu não của cả guồng máy điều hành quốc gia, nơi nắm vận mệnh đất nước và sinh mệnh mấy chục triệu con người dân cũng như quân?

    Đêm đã vào khuya, rất khuya. Ngài tổng thống đứng bên cửa sổ phía mặt tiền Dinh Độc Lập. Con đường Thống Nhất rộng trải dài tới Sở thú hun hút im lìm như một con đường chết trong giờ giới nghiêm. Chưa bao giờ ngài tổng thống thấy lòng mình trống trải và buồn thảm chán nản mệt mỏi đến thế.

    Bây giờ ngài mới thấy mình thực sự là kẻ cô đơn, có lẽ cô đơn nhất nước. Chỉ cách đây mấy năm thôi cũng trên con đường này ngài đã sống những ngày tháng vinh quang huy hoàng nhất trong đời mình. Ngày quốc khánh trên khán đài danh dự, ngài đứng nhìn từng đoàn hùng binh của các binh chủng rầm rập diễn hành qua khán đài với khí thế uy nghi ngút trời, oai phong lẫm liệt. Nghe những tiếng vỗ tay và reo hò hân hoan của dân chúng đứng tràn đầy hai bên lề đường, lòng ngài tổng thống dâng lên một niềm sung sướng hãnh diện. Ngài đang làm lịch sử. Ngài đang dẫn dắt dân tộc bước lên con đường vinh quang tự do no ấm.

    Tổ quốc và sinh mệnh của cả dân tộc đang nằm trong tay ngài. Và không chỉ riêng ngài mà toàn dân toàn quân thời điểm đó cũng nức lòng, cũng hân hoan rộn ràng tin tưởng vào ngày mai tươi sáng của đất nước. Họ vỗ tay như sấm dậy chào đón đoàn quân đang hùng dũng cất bước trên đại lộ kia. Họ hãnh diện, họ tin tưởng gần như tuyệt đối vào những người con thân yêu của tổ quốc. Ngài tổng thống cũng vậy. Tuy bề ngoài ngài giữ sắc mặt nghiêm trang với chút lạnh lùng nhưng trong lòng ngài trái tim đang đập mạnh theo từng bước quân hành. Ngài không dấu được sự hãnh diện: nhân dân, đất nước và cả lịch sử dân tộc đang nằm trong sự chỉ đạo của ngài.

    Đây là thời gian, là cơ hội để ngài trở thành anh hùng dân tộc, bước vào cửa lớn lịch sử. Rồi mai này sử sách sẽ ghi tên ngài với những nét vàng son chói lọi. Môi ngài suýt nở nụ cười. Một mảng dĩ vãng chợt thoáng hiện khi ngài còn là tư lệnh một đơn vị quân đội ngồi nơi khán đài danh dự, chỗ giành cho các sĩ quan cao cấp, ngài mong ước một ngày nào đó mình cũng sẽ đứng trên chiếc xe díp sơn bóng láng duyệt qua những toán quân danh dự như vị tổng thống oai nghiêm lẫm liệt kia. Thế rồi…

    Ngài tổng thống thở dài ngước nhìn bầu trời thăm thẳm mờ mịt, mãi nơi cuối chân trời mới có một vài vì sao lẻ loi vàng vọt, lấp lánh một cách yếu ớt buồn tẻ. Ngài lại nhìn xuống đoạn đường Thống Nhất trống vắng một cách lạ lùng. Con đường rộng chạy dài từ Thảo cầm viên tới cổng Dinh Độc Lập, ngài tổng thống bây giờ mới “nhìn ra” như một cái gươm hay một mũi tên đâm thẳng vào giữa Dinh. Ngài tổng thống bỗng rùng mình.

    Mấy năm trở lại đây ngài tin một cách lạ lùng vào tử vi lý số, đôi khi đi tới dị đoan mê tín. Ngài luôn hỏi ý kiến một ông thầy tướng số địa lý nổi tiếng thời đó mỗi khi cần có quyết định quan trọng. Khi mới nhậm chức, ngài đã nghe theo thầy tướng số địa lý cho xây sửa lại hồ con rùa để “chận cái đuôi rồng khỏi quẫy”, tức là để ngôi tổng thống của ngài không bị “thiên hạ” làm đảo chánh lật đổ. (Trong dân gian thời đó nói là theo “mạch đất”, đầu con rồng nằm ở Dinh Độc Lập, còn đuôi con rồng ở hồ con rùa. Vì tổng thống Ngô Đình Diệm không chịu làm phép trấn ếm nên cái đuôi con rồng quẫy làm ngài bị lật đổ và sát hại).

    Có lần, trong một buổi họp đại hội lưỡng viện Quốc hội tại trụ sở Thượng nghị viện, theo chương trình khai mạc đúng 10 giờ, quan khách lớn trong ngoài nước đã tề tựu đông đủ nhưng chờ mãi tới 11 giờ ngài tổng thống mới tới, lại không thông báo, làm cả hội trường nhốn nháo hẳn lên. Nhất là bọn báo chí nước ngoài thi nhau bàn tán nêu ra biết bao giả thiết rồi vểnh tai nghe ngóng, nhóng mắt chờ đợi một cái gì không tốt đẹp sắp xẩy ra. Bọn này chẳng khác gì bầy kên kên chỉ chờ con mồi bị hạ là xúm lại xâu xé. Họ có biết đâu ông thầy tướng số bấm đốt ngón tay bói dịch rồi “phán”: nếu tổng thống khởi hành vào lúc 10 giờ là giờ sát chủ, nên tránh!

    Người ta còn kể rằng vào những năm cực thịnh của ngài tổng thống (khoảng cuối thập niên 60) ngài mời một phái đoàn ký giả của tờ tuần báo ảnh lớn nhất nước Pháp - Paris Match - sang Saigon để làm một thiên phóng sự dài (gồm chụp ảnh, quay phim, viết bài) về những sinh hoạt đời thường riêng tư cũng như đời công của vị tổng thống Việt Nam Cộng Hòa. (Tất nhiên ngài tổng thống phải bỏ tiền ra thuê bao họ tất cả mọi thứ). Phái đoàn đông cả chục người, trong số có hai nữ phóng viên trẻ. Họ thường xuyên có mặt trong Dinh Độc Lập để theo dõi rồi chụp ảnh quay phim và viết về những hoạt động thường ngày của tổng thống, từ trong giờ làm việc nơi bàn giấy, tiếp khách, tới hết giờ nghỉ ngơi giải trí. Họ bám sát ngài cả ngày đêm để cho thiên phóng sự được sống động, phong phú. Họ mải miết làm việc, hết trong Dinh Độc Lập ra tới ngoài thành phố Saigon.

    Tổng thống vốn là người sau sự đam mê quyền lực là ham mê câu cá.
    Cũng như ông phó của ngài, ngoài ham mê hưởng thụ rượu chè cờ bạc là chơi chọi gà. Một buổi sáng đẹp trời ngày chủ nhật, ngài tổng thống cùng phái đoàn ký giả Pháp đi ra biển câu cá. Ngài dùng tầu chiến Hải quân để ra ngoài khơi.

    Tầu chiến thuộc loại nhỏ nên khi phóng ra xa bị sóng biển nhồi lên nhồi xuống làm hai cô nữ ký giả Pháp, vì không quen đi biển, chịu không nổi nôn mửa ra cả quần áo và nằm lăn trên sàn tầu. Một sĩ quan an ninh phải bồng bế hai nàng vào trong một cái buồng nhỏ sơ sài trống trải, thay hai bộ đồ nhà binh cho hai nàng. Viên sĩ quan này thật bất ngờ khi nghe hai nàng giận dữ lớn tiếng rủa sả: “tổng thống của các anh là đồ man rợ”.

    Liền đó họ đòi vào ngay đất liền. Tổng thống nghe “báo cáo”(tất nhiên viên sỹ quan không dám nói lại lời rủa sả) liền ra lệnh cho một tầu chiến hải quân khác đưa hai nàng vào bờ, còn ngài vẫn thản nhiên tiếp tục ngồi câu cá tới chiều tối. (Hai cô ký giả Pháp dám “mắng” tổng thống như vậy, dù là mắng sau lưng, có lẽ vì ngài cứ tỉnh bơ không thèm hỏi han quan tâm tới hai nàng, tức không chịu “ga lăng” mà phụ nữ Pháp vốn ưa thích và quen được thế). Sau buổi câu cá trở về Saigon, phái đoàn ký giả tuần báo Paris Match do áp lực của hai nữ ký giả, đã bỏ luôn việc làm thiên phóng sự mới được nửa phần và trở về Pháp ngay.

    Thế là dân Việt Nam mất một tài liệu sống về một mảng đời của ngài tổng thống nền đệ nhị cộng hòa! Cũng trong buổi câu cá này một viên chức có mặt kể lại rằng ngài tổng thống muốn biểu diễn tài nghệ câu cá “siêu” của mình cho bọn báo chí Pháp phục, nhưng ngồi thả câu cả giờ mà chẳng có con cá nào bơi qua đớp mồi. Máu mê tín dị đoan của ngài bỗng nổi lên (hay là lớp lang của một màn kịch đã soạn sẵn?).

    Ngài cất tiếng nói lớn: “Này tướng Nguyễn Viết Thanh sống khôn thác thiêng cho tổng thống một con cá đi”. Sau khi ngài dứt lời khoảng ba phút, ngài giật cần câu lên với một con cá lớn khiến các sỹ quan tùy tùng phải xúm lại giúp ngài đưa con cá lên tầu. Mọi người ngạc nhiên và trầm trồ khen ngợi. Nhất là mấy ký giả Pháp cứ trố mắt ra nhìn. Ngài tổng thống tủm tỉm cười đắc thế. Sau này có kẻ đa sự nói là ngài cho người nhái bí mật ôm một con cá nhẩy xuống biển móc vào lưỡi câu của ngài. Lại có dư luận khác bàn tán là tổng thống muốn bầy trò bắt chước vua Lê Thái Tổ ngày trước cùng các quan văn võ trong một buổi nhàn hạ bơi thuyền rồng du ngoạn trên cái hồ lớn giữa thành Thăng Long và thần Rùa đã từ đáy hồ ngoi lên mặt nước bơi theo thuyền rồng. Nhà vua lấy cây kiếm, đang cầm nơi tay, gạt thần Rùa ra, bị thần Rùa ngoạm lấy cây kiếm rồi lặn xuống nước luôn.

    Câu chuyện này được loan truyền để nhà vua chứng tỏ cho khắp bàn dân thiên hạ biết là điềm trời báo từ nay về sau, dưới sự trị vì của ngài, đất nước an huởng thái bình thịnh trị, không còn chinh chiến khỏi cần tới khí giới nữa nên thần Rùa đã thu gươm về. Và vì vậy nhà vua mới đặt tên cho hồ này là hồ Hoàn Kiếm. Còn ngài tổng thống ngày nay gọi hồn người chết (lại là một vị tướng tài ba chết vào giờ thiêng thành thần) phù trợ, khiến ngài “câu” được thiên hạ (tượng trưng qua con cá) và đồng thời cũng là để “nói” cho mọi người biết đấng tối cao đã giúp ngài “trị vì thiên hạ”.

    Tổng thống vốn xuất thân là quân nhân, đi từ cấp nhỏ lên cấp tướng, nên ngài quen coi tất cả mọi người đều là lính dưới quyền sai khiến của mình. Nhất là khi ngài lên “ngôi” tổng thống. Từ trước tới nay, từ thời vua chúa phong kiến đến các nhà lãnh tụ tự phong hoặc được dân chúng bầu lên, đều mắc chung một “chứng bệnh tệ hại” đó là: “mục hạ vô nhân” (dưới mắt không có ai, tức chẳng coi ai ra gì).

    Ngài tổng thống của chúng ta (và hầu như đa số các vị nguyên thủ khác) lại còn mắc thêm chứng bệnh nữa là ưa nịnh hót tâng bốc (thời đó người ta gọi là “nâng bi”). Thích dùng những tên tay sai, dù vô tài, dễ bảo hơn dùng người tài năng đức độ nghĩa khí và thiện chí. Nên khi ngài cho những gã “gia nô” này nghỉ việc là họ quay ra chống phá ngài liền.

    Mắt ngài tổng thống lướt nhanh từ phía cổng Thảo cầm viên mờ tối và dừng lại trước ngôi giáo đường đồ sộ. Nóc ngôi giáo đường nhọn hoắt vươn cao sừng sững trong đêm, chập chờn lung linh như ẩn như hiện sự huyền bí mầu nhiệm và chao ôi, “nó” như một ngọn giáo đâm thẳng lên trời. Tổng thống rùng mình, ngài không dám nghĩ xa hơn nữa. Tổng thống tuy là người tân tòng nhưng ngài tin nơi Chúa và rất chăm lễ. Ông bà, cha mẹ ngài theo truyền thống dân tộc thờ tổ tiên. Lúc bấy giờ có dư luận ngài theo đạo vì muốn lấy lòng tin nơi ngài tổng thống đương nhiệm tạo cơ hội leo cao địa vị. Dư luận khác lại cho rằng bà vợ ngài buộc ngài phải theo đạo của bà trước khi làm lễ cưới. Có lẽ vì những nguyên do trên, ngài bị các nhà lãnh đạo một tôn giáo lớn khác chống phá kịch liệt từ lúc ngài lên cầm quyền cho tới lúc ngài từ chức tháng Tư năm 1975.

    Bất giác khuôn mặt của một vài vị linh mục hiện ra trước mặt ngài. Những linh mục này trước đó ẩn mình trong giáo đường ít người biết tới, tất nhiên trừ con chiên họ đạo. Thế mà một sớm một chiều họ bất thần ra khỏi nhà thờ, xuất hiện trước đám đông khua chuông trống ầm ĩ và to tiếng giảng thuyết cũng như vận động quần chúng, họp báo tố cáo tổng thống tham nhũng đòi trất phế. Tổng thống khẽ nhếch môi cười chua chát. Ngài chẳng có thù hiềm gì các linh mục này, nếu không nói là đã ban phát cho họ khá nhiều ân huệ. Mới ngày nào họ xin gặp ngài để không tiếc lời ca tụng - tiếng bình dân trong dân gian gọi là “bốc thơm” - ngài tổng thống anh minh.

    Bây giờ họ in cả một cuốn “hắc thư” phổ biến rộng rãi kể tội tổng thống và gia đình, họ hàng quyến thuộc. Mật báo cho ngài biết là những tài liệu này do bọn CIA cung cấp nên mới có thể biết rõ những việc riêng tư của ngài như có mấy căn nhà, đất đai, khai khẩn đồn điền này nọ…nhằm bôi bẩn ngài thực hiện âm mưu lật đổ, để phe thứ ba lên nắm chính quyền ngõ hầu dễ dàng thương thuyết với cộng sản. Vì ngài chủ trương bốn không, tức không đội trời chung với cộng sản (ngài đâu ngờ chính ngài lại trở thành “nạn nhân” của chính ngài, của bốn không và bây giờ ngài sắp trở thành con người bốn không). Nếu bây giờ cho lệnh bắt giam những linh mục gây loạn này - như ngài đã từng làm với vụ Phật giáo đem Phật xuống đường trước đây - thì sẽ bị dư luận trong và cả ngoài nước la toáng lên rồi kết án đàn áp tôn giáo. Bọn báo chí ngoại quốc, nhất là bọn truyền hình Mỹ, lúc nào chúng cũng rình rập, cũng sẵn sàng to mồm la lối xuyên tạc, phá thối. Và biết đâu tấn trò hạ sát vị tổng thống tiền nhiệm lại chẳng tái diễn với ngài? Còn không trừng trị thì họ ngày càng làm lộng coi thường pháp luật, phá rối an ninh trật tự tạo sự hoang mang xáo động lòng người.

    Ngài tổng thống lâm vào nước bí. Ngài họp bộ tham mưu tối cao, một thứ siêu nội các, bàn tính phương sách đối phó. Nhưng ngài thất vọng biết bao khi những người mà ngài coi là cánh tay mặt của mình chỉ toàn bàn ra hoặc ngồi im thin thít hoặc nói xuôi theo ngài. Theo những báo cáo mật cho ngài biết trong số này đã có người “đi đêm” với tướng Dương văn Minh để hòng kiếm chác ghế ngồi trong chính phủ thuộc thành phần thứ ba. Nghĩ tới viên tướng “to đầu” này lòng ngài sôi lên một niềm phẫn nộ.

    Mấy năm trước, khi bị trục xuất lưu vong nơi nước ngoài, ngài ra lệnh cho Tòa đại sứ ở Thái Lan hàng tháng cung cấp cho ông ta tám trăm đô. Ông ta nhiều lần nhờ người vận động với ngài để xin về nước sống. Và chính ông ta đã viết thư riêng cho ngài gần như năn nỉ và cam kết khi về nước sẽ sống một cuộc đời bình thường dân dã, từ bỏ hẳn chính trường cũng như những tham vọng quyền lực. Nghĩ tình chiến hữu đàn anh và là người đã cất nhắc phong tướng cho ngài năm 1963 sau khi lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm, ngài bằng lòng cho ông ta về nước sống.Và chính ông ta đã đích thân vào Dinh Độc Lập gặp ngài để nói lời cám ơn.

    Nhưng ngài đã lầm, đã tính sai nước cờ. Xưa nay ngài vốn có tính đa nghi không tin bất cứ một ai, kể cả người thân trong gia đình, thế mà lần này ngài lại tạo thêm một lưỡi gươm nữa cho những kẻ âm mưu lật đổ ngài. Viên tướng “to đầu” này khi trước đem quân đi đánh Bình Xuyên, theo tài liệu báo cáo của các đơn vị trưởng tham gia trận đánh trình lên vị tổng thống tiền nhiệm, đã vì tiền bạc của bọn họ bỏ lại khiến lòng tham trỗi dậy, giở trò chiếm đoạt nên bị tổng thống truất hết binh quyền, cho ngồi chơi sơi nước với hư vị cố vấn quân sự. Ông ta nuôi sự căm giận tổng thống Diệm từ đó và quyết chí phục hận. Thực ra ông tướng “to đầu”này về tài ba quân sự chẳng có gì đặc biệt, sống lâu lên lão làng. Không trí, không dũng lại không cả mưu. Về thủ thuật chính trị càng là một con số không.

    Ông ta thực sự chỉ là một ông phỗng đá bị đám đàn em vây quanh - toàn những kẻ chuyên bợ đỡ chạy cờ hiệu, bất mãn vì không được chia phần bổng lộc cũng như ghế ngồi - tung hô thổi phồng ông lên để hy vọng có cơ may kiếm chác danh lợi địa vị. Cái bả vinh hoa phú quý - núp dưới danh nghĩa phục vụ quốc gia dân tộc - đã làm họ mờ mắt. Chính bọn này mới là chính danh thủ phạm trong việc âm mưu tìm đủ mọi cách để thay đổi, lật đổ tổng thống. Ngài đang miên man quay cuồng với dĩ vãng với hiện tại bỗng giật mình khi nghe tiếng nói: “Đêm khuya quá rồi, ông đi nghỉ đi”. Thì ra là bà vợ tổng thống. Bà tới bên ngài lúc nào không hay. Ngài đưa tay quàng qua vai bà bước về phòng ngủ.
    “Thì ra bà cũng không ngủ được?”. Ngài tổng thống nói với vợ.
    “Ông còn thức làm sao tôi có thể nằm yên”. Bà đáp.

    Trên cõi đời đầy gian manh xảo trá lật lọng bất nhân bất nghĩa, giờ phút này ngài thấy chỉ còn có bà vợ là người duy nhất ngài tin tưởng. Ngài có thể mở cả ruột gan cho bà biết mà không sợ phản bội. Ngài ân hận đã nhiều lần không chịu nghe theo “ ý kiến” của bà. Giờ đây ngài muốn nói với bà những lời thật âu yếm:

    “Bà là một người vợ hiền vô cùng quý báu. Tôi rất sung sướng hãnh diện có một người vợ như bà, vẹn toàn cả đức lẫn hạnh. Lão thầy tướng đã nói đúng: bà có tướng vượng phu ích tử, có tướng đại mệnh phụ phu nhân”.
    Nhưng không biết nghĩ sao ngài lại không nói. Có lẽ bản tính ngài vậy. Ngài chỉ hôn nhẹ lên mái tóc bà thoang thoảng mùi nước hoa thơm mát quý phái mà ngài vẫn ưa thích.

    Trong lúc tâm trạng rối bời con người dễ trở nên yếu đuối, ngài tổng thống cũng như những người đàn ông khác từ xưa tới nay trên cõi đời này, có vẻ ân hận về những cuộc ngoại tình của mình đã làm buồn phiền và gây tức giận bi phẫn cho bà vợ. Bây giờ trong lúc cô đơn như thế này, ngài tổng thống mới thấy “thương” và quý bà hơn lúc nào hết.

    Thời gian trôi nhanh, thời cuộc biến chuyển dồn dập. Ngài tổng thống vốn là người trầm tĩnh cũng thấy lòng mình xôn xao dấy động bất an, nhất là cái chết thê thảm của anh em tổng thống Ngô Đình Diệm (mà bàn tay ngài có dính máu) ít ngày nay cứ luôn hiện về ám ảnh ngài. Những lo toan quốc gia đại sự, ngài chỉ có thể san sẻ được với vài người thân tín, còn tất cả đối với ngài bây giờ đều là nguy hiểm, nếu không đi đêm với cộng sản thì cũng làm tay sai cho Mỹ. Và nhất là đối với bọn Mỹ. Lão cáo già Nixon trước đó ít ngày còn gửi thư tay cam kết danh dự với ngài quyết gắn bó và bảo vệ miền Nam tới cùng. Thế mà chỉ ít ngày sau lão ta trở giọng liền, đem cái chết của vị tổng thống tiền nhiệm ra dọa dẫm làm áp lực ngài.

    Còn lão “đại gian hùng” Kít-Sinh-Giơ với những lời lẽ hỗn xược khiến ngài tức giận đến cực độ mà vẫn cứ phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Bất giác ngài thở dài nhớ tới câu nói của mình, dựa vào câu nói của người xưa, ngài sửa lại và đã đi vào lịch sử là: “Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn những gì cộng sản làm”.

    Nếu bây giờ có cơ hội nói lại, ngài sẽ nói là: “Đừng nghe những gì bọn trùm đế quốc nói…”. Nếu bây giờ ngài đem những lá thư này, những sự việc này ra công bố cho toàn thể nhân dân biết sự phản bội của người bạn đồng minh chí cốt, để kêu gọi và kích thích lòng tự ái, khơi dậy lòng yêu nước của mọi người, ngài tin tất cả sẽ sôi lên sùng sục và đồng tâm nhất trí một lòng cùng ngài quyết chiến đấu tới cùng với bọn cộng sản và có thể cả bọn “đế quốc Mỹ” nữa.

    Nhưng thật đau lòng khi súng ống đạn dược nhiên liệu và cả tiền bạc (cam kết viện trợ từ trước) đã bị người bạn đồng minh quý hóa cắt, hoặc giở trò hạn chế tối đa.

    Lại nữa, cũng rất có thể vì sự công bố những sự thật này, bọn “chuyên viên” đối lập, bọn chính khách xôi thịt, bọn bất mãn kinh niên sẽ lợi dụng cơ hội xúm lại làm thịt ngài với sự khuyến khích tiếp tay của người đồng minh khổng lồ. Ngài biết bọn họ đã liên kết với nhau quyết hạ ngài bằng được. Có những tên tiểu tốt vô danh chỉ có mỗi tài xách cặp theo hầu và nịnh các sếp, nhờ cơ hội ngài cho nắm giữ một vài phần việc quốc gia, nghe ngóng tình hình thấy gió đang soay chiều bèn giở trò âm mưu đảo chánh ngài, thật hết chỗ nói!

    Rồi một số bọn nhà báo Việt xưa nay vốn ngoan ngoãn chuyên “chạy” cửa sau xin áp phe, xin bông giấy để bán chợ đen cho bọn ba tầu, giờ cũng hùa theo đám báo chí ngoại quốc loan tin giật gân đồn nhảm. Họ loan tin nào là từng đàn sâu rầy lạ hoắc chưa từng thấy bay rợp trời nơi quê nhà tổng thống, hủy hoại hết hoa mầu. Nào ngôi mộ cụ tổ tổng thống xây cất vững chắc bỗng dưng bị nứt đôi. Nào hai tảng đá lớn giống hình cái bút và thanh gươm (biểu tượng ngôi “đất”phát về đế vương, quyền uy, đứng đầu văn võ bá quan) đứng bên nhau nơi phía ngoài đầu làng có từ cả trăm năm giờ bỗng bị sét đánh gẫy.

    Có nhiều anh lại còn viết bài ca ngợi bốc thơm lão tướng “to đầu”. Và theo sự xúi giục của bọn cộng sản nằm vùng, của bọn chính khách đối lập, của bọn thành phần thứ ba, của bọn bất mãn, họ rầm rộ tổ chức một buổi xuống đường gọi là “ngày ký giả đi ăn mày”. Buồn cười nhất là mấy anh chính khách sa lông suốt đời ôm ấp giấc mộng ngồi vào chiếc ghế thủ tướng hay bộ trưởng để có dịp vênh váo với đời, với họ hàng bà con - nhất là tiền bạc với nhà cao cửa rộng - cứ chạy như cờ lông công và suốt ngày đêm chầu chực hết nhà chùa tới nhà thờ để “lạy thầy, lạy cha”.

    Chính bọn này trước đây đã nhiều phen xin gặp ngài để “trình bầy” quốc kế dân sinh. Không được ngài nghe theo bèn quay ra diễn trò đối lập, viết báo chỉ trích bươi móc nói xấu. Ngài quên sao được, mới đây thôi, một gã có bằng cấp tiến sĩ nước ngoài về, tìm đủ mọi cách gặp bằng được ngài để trình bầy sách lược kinh tế. Ngài đã biết rõ “thành tích” lưu manh bất hảo của gã hoạt đầu chính trị này nhưng rồi sau mười mấy lần tiếp xúc, không hiểu sao ngài lại mềm lòng, bị gã mê hoặc giao cho một chức vụ quan trọng trong chính phủ để hắn kéo theo mấy tay cộng sản nằm vùng vào nắm giữ chức vụ bộ trưởng.
    Người ta đồn sau một thời gian cố gắng vùng vẫy “còn nước còn tát” như tập hợp tàn quân, cử sứ giả sang Mỹ cầu cạnh, ngài tổng thống thấy mình đã đi vào còn đường bế tắc hết phương cứu vãn nên ngài buông xuôi mặc cho thế sự soay vần, thời cuộc đưa đẩy. Bây giờ cái sự “lỳ” nổi tiếng đã trở lại với ngài. Nhất là sau cái vụ ngài chơi ván bài liều “tháu cáy” bọn Mỹ cho lệnh quân đội rút bỏ vùng Cao nguyên. Ngài đâu ngờ lại mắc đúng vào bẫy của bọn họ. Trong khi ấy nước lũ lụt đang tràn vào sắp ngập sân dinh Độc Lập mà một số bọn chính khách sa lông, bọn đầu cơ chính trị vẫn lăn xả vào ngài, nịnh hót tâng bốc hòng vớt vát kiếm chút quyền hành địa vị mà họ thừa biết là đã tới buổi chợ chiều, tấn kịch nền đệ nhị cộng hòa sắp hạ màn và số phận chính vị nguyên thủ quốc gia cũng tới ngày tàn!

    Trong đám này lại có những tay thuộc loại đại trí thức đã ngồi chiếu trên trong guồng máy thượng tầng quốc gia bao năm trời. Khi tại chức thì khệnh khạng đóng vai người trí thức quân tử, một lòng vì quốc gia dân tộc chống bọn cộng sản xâm lăng tới cùng. Tới lúc bị mất chức bèn quay ngoắt 180 độ đóng trò đối lập chính quyền và đưa ngay bàn tay cùi lở van vái với bọn cộng sản qua trung gian móc ngoặc của những thầy tu. Ngài tổng thống thấy tởm lợm về cái bọn đầu cơ chính trị này. Trong lòng ngài lúc nào cũng như lửa cháy. Ngài không thể ngồi yên trong Dinh. Ngài không thể chịu bó tay để “bọn chúng nó” muốn làm gì thì làm. Nhưng lệnh của ngài ban ra không còn hiệu lực, nhất là sau khi miền Cao nguyên thất thủ, quân lính tan hàng bỏ ngũ, dân chúng thì hoang mang hoảng hốt sợ hãi tột cùng. Thêm vào đó các tướng lãnh, mà ngài tin tưởng rất nhiều ở họ, đều tìm cách lánh mặt ngài và đang kiếm cớ tìm đường tháo chạy ra ngoại quốc một cách chính danh. Cũng có một vài “cận thần” tỏ lòng trung với ngài nhưng họ lại không có quân có lính.
    Nặng nề nguy hiểm hơn cả là bọn Mỹ nơi phía Tòa đại sứ luôn thúc giục ngài tỏ một “cử chỉ can trường yêu nước” là từ chức tổng thống. Họ bảo đảm an nính cho ngài khi rời khỏi Dinh Độc lập ra nước ngoài.

    Sau khi bay thị sát các mặt trận, với những báo cáo quá thảm hại, thấy tận mắt nghe tận tai, ngài tổng thống đã tuyệt vọng càng thêm tuyệt vọng, hết luôn hy vọng về bài bản “còn nước còn tát”. Vì nước đã cạn hết rồi, giờ đây chỉ còn trơ một con cá đang cố quậy cọ cái đuôi trên đống bùn lầy. Đau đớn thay con cá ấy lại chính là ngài. Bản chất “lỳ” trong ngài phút chốc tiêu tan. Đáp trực thăng về tới Saigon ngài nhận được một bức điện tối mật và tiếp theo là một cú điện thoại tối khẩn. Mặt ngài tái hẳn đi. Thế là ngài tổng thống của nền đệ nhị nước Việt Nam Cộng Hoà đi đến quyết định. Một quyết định quan trọng và vô cùng thê thảm tăm tối cho cả miền Nam Việt Nam mấy chục năm sau. Liền đó ngài bàn bạc thu xếp để ông tướng làm thủ tướng lâu năm nhất trong nền đệ nhị cộng hòa từ chức và “bố trí” một nhân vật khả tín chân chất người miền Nam (mà ngài tin là không phản bội ngài) vào chức vụ trọng yếu này để ngài có thể “ra đi” một cách an toàn.
    Rồi ngài cho vợ con và tài sản chất lên phi cơ bay ra nước ngoài trước.

    Mấy ngày sau, vào buổi tối, ngài tổng thống triệu tập các viên chức chính phủ và các nghị sĩ dân biểu lại trong phòng hội Dinh Độc Lập. Số người tham dự không đông đủ (vì có nhiều người vắng mặt hoặc đã chuồn ra nước ngoài hoặc còn đang bận đi móc ngoặc với “người anh em bên kia” để xin tí chức tí quyền).

    Ngài tổng thống long trọng tuyên bố từ chức và “hạ quyết tâm” trở lại quân đội để ra chiến trường chiến đấu cùng anh em chiến sĩ. (Lúc ấy quân cộng sản đã đánh vào thành phố Long Khánh và chiến trận đang diễn ra ác liệt). Đồng thời dịp này, để sả bớt niềm phẫn uất cố kìm nén bấy lâu, ngài đã thốt ra những lời cay đắng - một phần thôi - về sự phản bội tệ hại của người bạn đồng minh vĩ đại Hoa Kỳ.

    Cái đau đớn nhục nhã ê chề của những người cầm quyền các nước nhỏ nghèo, phải sống nhờ vào viện trợ nước ngoài là thế đó! Bài học này không phải là lần đầu và cũng không phải chỉ riêng nước Việt Nam Cộng Hòa là nạn nhân. Ngài tổng thống thừa thông minh để nhận biết người Mỹ đem quân và vũ khí tiền bạc sang Việt Nam trước hết là vì quyền lợi của họ, chứ không phải vì “tình” đồng minh như họ thường rêu rao. Và ngài trước nay quá tin tưởng vào người Mỹ giờ tỉnh ngộ thì đã muộn (?).
    Người Mỹ vì quá giầu, ỷ vào tiền bạc, nên cũng mắc chứng bệnh khinh người (mà ngày nay người ta quen gọi là kỳ thị). Họ là những người kỳ thị, coi khinh thiên hạ nhất thế giới. Thêm nữa họ sử dụng người như sử dụng tay sai, đầy tớ.
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  3. #83
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    NỖI CÔ ĐƠN CỦA NGÀI TỔNG THỐNG[2]

    THANH THƯƠNG HOÀNG

    truyện

    Trong lúc ngài tổng thống trao quyền tổng thống cho ngài phó tổng thống, mời các tướng lãnh giữ những chức vụ quan trọng trong guồng máy an ninh quốc gia lên tỏ bầy sự trung thành và cam kết đứng sau lưng tân tổng thống chiến đấu tới cùng bảo vệ nhân dân, đất nước.
    Tới lượt một viên tướng, ngồi hàng ghế xa, được mời lên mà vẫn không thấy lên. Mọi người nôn nao hồi hộp và cả lo lắng. Nhất là với ngài cựu tổng thống. Mặc dầu đã mặc áo giáp trong mình, mặt ngài vẫn tái nhợt, tuy bề ngoài cố giữ bình tĩnh.

    Mấy vị dân biểu, nghị sĩ ngồi hàng ghế đầu đã nhìn thấy sự lúng túng bối rối của ngài cựu tổng thống. Ngài lo sợ viên tướng này có thể vào phút chót giở trò phản bội. Ngài rùng mình chợt nghĩ tới tổng thống Phác Chánh Hy của Đại Hàn trước đây bị chính tay một viên cận tướng thân tín dùng súng hạ sát.

    Tiếp đó là hình ảnh anh em cựu tổng thống Ngô Đình Diệm bị giết chết thảm trong lòng xe tăng…

    Ngài tổng thống mở to mắt nhìn về phía viên tướng. Chẳng lẽ… Nhưng mọi việc êm thắm trôi qua. Không có cái trò hạ sát vị nguyên thủ tái diễn. Hình như viên tướng lên trình diện trễ vì khi đứng lên ông bị tuột giây giầy, phải cúi xuống thắt lại. Buổi lễ chấm dứt, các viên chức âu sầu thảm não ra về. Con đường Thống Nhất trước Dinh Độc Lập bóng tối bao phủ mịt mù. Những chiếc xe hơi mầu đen tiếp nối nhau rời khỏi Dinh Độc Lập phóng nhanh vào các ngả đường đêm như vội vã trốn chạy.

    Năm xưa ngài tổng thống của nền đệ nhị cộng hòa được người Mỹ đưa lên ngôi trong hai nhiệm kỳ với sự cam kết hết lòng ủng hộ. Bây giờ vì “nhu cầu thời cuộc”, họ chẳng những không sát hại ngài còn cho người của họ bảo vệ ngài cẩn mật (thay vì người Việt nhân viên an ninh của ngài) đưa ngài ra tận phi trường để đi nước ngoài tỵ nạn.

    Trong đêm tối, khi cả thành phố Saigon nhà nhà tắt đèn cửa đóng kín mít, im ỉm nín thở trong đêm (vì họ đang nơm nớp lo âu sợ sệt không tài nào nhắm mắt ngủ nổi) thì ngài tổng thống Việt Nam Cộng Hòa mới từ chức cách đó mấy ngày, ngồi trong chiếc xe hơi mầu đen của người Mỹ, có một hai xe lính Mỹ hộ tống, lặng lẽ phóng về phía phi trường Tân Sơn Nhất, khu vực giành riêng cho phi cơ quân sự Mỹ.

    Ngài cựu tổng thống lặng nhìn những hàng cây, những cột đèn đường nhả ánh sáng hiu hắt buồn thảm, những nhà cửa hàng phố thân yêu của quê hương đất nước buồn thảm lần chót.

    Mới đây thôi, mỗi lần ngài di chuyển trên đường phố thì rầm rầm rộ rộ xe cộ từng đoàn còi hú vang trời. Khi đi đâu cũng có kẻ đón người đưa. Thế mà đêm nay… Mắt ngài cựu tổng thống bỗng mờ hẳn đi. Viên chức cao cấp Mỹ ngồi bên cạnh ngài cựu tổng thống sau đó có kể với bạn bè là ngài lúc ấy hình như cố kìm nén một tiếng nấc và có lẽ ngài đang khóc thầm vì ông lờ mờ thấy mấy giọt nước mắt của ngài lăn xuống má.

    Viên chức này mãi những năm về sau vẫn không thể nào hiểu nổi ngài cựu tổng thống Việt Nam Cộng Hòa khóc vì bị mất hết địa vị, quyền lực, quyền lợi hay vì xót xa đau đớn cho phận nước và đồng bào, chiến hữu của ngài. Có lẽ ngài cựu tổng thống bây giờ mới thật sự thấm thía cái trò đời phản trắc bỉ ổi bất lương của người đời. Và đau đớn biết bao khi ngài nhận ra mình chỉ là con tốt thí trên bàn cờ của bọn trùm quốc tế. Nhưng ngài cũng cố tự an ủi là dù sao ngài vẫn còn hơn vị tổng thống tiền nhiệm, không đến nỗi bị hạ sát chết thê thảm trong lòng xe tăng, lại còn được an toàn do chính người Mỹ bảo vệ và đưa đi ra nước ngoài với tất cả tài sản, vợ con.

    Người ta kể lại là vị đại sứ Mỹ đêm đó đưa tiễn ngài cựu tổng thống nơi chân thang máy bay, bắt tay xong, vị đại sứ cố nở một nụ cười - một nụ cười ngoại giao gượng gạo. Lúc đó ngài tổng thống thấy hai hàm răng trắng của ông đại sứ mà bắt rùng mình. Ngài chợt liên tưởng tới chuyện con chó Sói trùm khăn đỏ đóng vai bà ngoại khi nhe hàm răng trắng hếu nhọn hoắt ra sắp ăn thịt cô bé ngây thơ. Nụ cười xã giao gượng gạo của ngài đại sứ Mỹ mở đầu cho mấy chục năm sau người dân miền Nam không tài nào nhếch môi cười nổi, dù là cười gượng gạo như ngài đại sứ Mỹ.

    Trái lại, họ đã khóc và nước mắt đau thương phẫn uất của họ tuôn trào ngập cả sông cả biển, tới bây giờ ngót nửa thế kỷ trôi qua vẫn chưa ngưng! Và oán khí của những người chết trên đất liền trong những trại tù đầy, trong rừng sâu biên giới, trên biển khơi vẫn ngùn ngụt bốc lên từ đất nước Việt Nam vượt qua đại dương tới nước Mỹ! Ôi nước Mỹ vĩ đại, người ta nói đúng:

    làm kẻ thù của nước Mỹ sướng hơn làm bạn nhiều! Những người lãnh đạo nước Mỹ lúc nào cũng coi các nước bạn họ trợ giúp - mà họ gọi là đồng minh - là tay sai là đầy tớ! Và bây giờ ngài tổng thống càng thấm thía thấy rằng làm tổng thống một nước chậm tiến sung sướng thì có sung sướng thật, quyền uy chẳng khác gì một ông vua, nhưng cũng vô cùng nhục nhã ê chề khi bị nước bạn đồng minh ruồng bỏ.

    Linh hồn hai ngài tổng thống đệ nhất, đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa giờ đây có còn tích tụ những nỗi u uất, phẫn nộ, đau đớn cho cái thân phận quốc gia nhược tiểu?! *

    Thanh Thương Hoàng
    ____________________
    *Tác giả xin minh xác đây chỉ là sản phẩm
    của hư cấu mặc dầu có dựa vào vài sự kiện đã xẩy ra.
    http://www.coinguon.us/THANHTHUONGHOANG/noicodon.html
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  4. #84
    Join Date
    Oct 2008
    Location
    Rome
    Posts
    243
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Attached Images Attached Images  

  5. #85
    Join Date
    Oct 2008
    Location
    Rome
    Posts
    243
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Attached Images Attached Images  

  6. #86
    Join Date
    Oct 2008
    Location
    Rome
    Posts
    243
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa


    Attached Images Attached Images  

  7. #87
    Join Date
    Oct 2008
    Location
    Rome
    Posts
    243
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa
    Attached Images Attached Images  

  8. #88
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Tôi Phải Đi Thơ: Lê Quang Tích Nhạc: Xuân Điềm

    [ame="http://www.youtube.com/watch?v=4sOp4IWBZLA"]YouTube - T�i Ph?i ?i[/ame]
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  9. #89
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Một số trong 91 ảnh về buổi biểu tình tại Hội Triển Lãm Nghệ Thuật Lên Tiếng VAALA:















    Vào đây xem rõ hơn > nguồn:

    http://picasaweb.google.com/quy161/H...56078635971426
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  10. #90
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Tình thư của lính

    Friday, February 13, 2009

    *KBC Hải Ngoại

    Những bức tình thư trao gởi giữa anh chiến sĩ Cộng Hòa và người em gái hậu phương thời Chiến Tranh Việt Nam hồi thế kỷ trước, tuy không thuộc loại “những bức thư tình hay nhất thế giới,” vẫn là những dấu ấn tuyệt vời của một đời yêu nhau giữa mùa tao loạn tại Miền Nam Việt Nam.

    Phải biết rằng, đối với các anh chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với đời lính nay đây, mai đó, sống rày chết mai, cũng như đối với biết bao người yêu bé nhỏ kia, mỗi một ngày trôi qua đều là Ngày Của Tình Yêu Ðôi Lứa, chứ không cứ phải chờ đợi tới ngày 14 Tháng Hai hằng năm mới có được Ngày Valentine đúng nghĩa như thế gian thường tình!

    Hai lá thư sau đây - trích từ nguyệt san KBC Hải Ngoại - có thể tiêu biểu cho niềm yêu thương dào dạt của hằng trăm, hằng vạn người tình thời chinh chiến tại Miền Nam Việt Nam vào giai đoạn quân và dân Miền Nam Việt Nam đang nỗ lực chiến đấu chống quân Cộng Sản Bắc Việt xâm lược với ý đồ áp đặt chế độ Cộng Sản không tình yêu lên dân chúng Miền Nam Việt Nam hiền hòa và lúc nào cũng dào dạt yêu thương.

    Thư tiền tuyến

    KBC.4737, ngày... tháng... năm...

    Cô bé mến,

    Vậy là muốn làm quen với lính thiệt tình sao mà gởi thư cho anh đây hở bé! Anh nhận được thư bé, bé Khánh Linh, từ xế trưa hôm qua, khi chiếc xe dodge chở đồ tiếp tế cho đơn vị tận vùng hành quân. Nghe anh hạ sĩ quan CTCT của đại đội bảo anh có thư, thật là một sự ngạc nhiên. Vì là một trong những thằng gọi là “con bà Phước” từ lúc ở quân trường, đến khi ra đơn vị anh chẳng hề thư từ gì với ai cả, và đương nhiên là anh không hề nhớ là bé hứa sẽ viết thư cho anh. Không hề, và thật ra là không tin những gì mấy cô nói. Thiệt đó! Có giận không?

    Không mong, nhưng có thì chộp ngay và chẳng có lời cảm ơn. Anh chắc chắn là anh chàng trung sĩ nầy chẳng buồn hay giận, vì lính mà, lính hiểu lính có những tâm tình bất chợt, nhất là ngoài phong bì với những dòng chữ mực tím nắn nót của tuổi học trò. Nhìn thư người gởi tên Nguyễn Thị Khánh Linh, đường số..., Saigon, là anh vội xếp đôi cho vào túi quần đùi treilli bên trái, quắc mắt nhìn những anh lính thuộc quyền đứng quanh tủm tỉm cười, bảo họ nhận tiếp tế và chuyển ngay ra các vị trí, phân phối cùng chuẩn bị cơm chiều nhanh để chuyển quân.

    Lính là thế đó, cái gì cũng nhanh lẹ, cũng phải cấp bách, ăn uống vội vàng để rồi di chuyển khi trời sụp tối. Ở đây, ở những vườn cây, rừng rậm bạt ngàn nầy trời bỗng chợt tối thật nhanh. Những tia nắng vàng long lanh trên những tàng cây kẽ lá vừa nhợt nhạt là tắt lịm để trả lại xung quanh một màn đêm sậm màu nhuốm mùi chết chóc. Bọn anh đã quen đối diện những cảnh tình nầy từ ngày nọ qua ngày kia, chừng như cơm bữa nên rất thông thường với kiếp đời lính chiến.

    Nói thiệt, anh cũng rất nôn nóng, rất muốn đọc bức thư kia để xem bé nói những gì, có chửi rủa gì anh hay không bởi thái độ ban đầu bất cần, nhiều lúc chọc quê những con bướm trắng thành đô đã cất công bỏ những ngày cuối tuần dạo phố Nguyễn Huệ, Lê Lợi, hay rong chơi dọc hàng Duy Tân rợp lá me bay... để lên những chiếc GMC đưa đến những vùng đất đỏ mịt mù, vào các vùng đóng quân rừng rú, mật khu hầu biểu lộ tấm lòng của những Em Gái Hậu Phương với các Anh Trai Tiền Tuyến, nhưng... không thể được! Kiểm soát súng đạn trang bị, hối một buổi ăn chiều vội vã để rồi hướng dẫn trung đội di quân theo điều động của đại đội trong đội hình của một tiểu đoàn bộ binh ngày càng đi sâu vào vùng đất địch.

    Ðã nói là đất địch thì không nơi nào an toàn. Thỉnh thoảng vài nơi có những nhóm nhà nhưng bọn anh phải lảng đi, không dại gì chui vào trong để làm điểm cho địch quân dễ dàng tập kích nên kê đầu lên ba-lô, cạnh hố cá nhân rải đều quanh tuyến, nằm ngắm trên vòm trời đen, qua những tàng cây xem đêm nay có được bao sao trời lấp lánh. Thành thử thư của bé cũng cam phận chưa bóc, nằm êm trong lớp vải kaki đang thấm mềm xương lạnh.

    Mới bao nhiêu đó, đủ chán chưa bé? Có chán không khi muốn làm quen với lính, viết thư cho lính, phải bao nhiêu ngày từ phố thị qua bao giai đoạn mới ra tới chiến trường mà vẫn phải phẳng lặng im lìm chưa hề được ngó tới. Và nếu đêm nay, ác chiến có xảy ra, và nếu anh có ra đi thì vĩnh viễn thư của bé sẽ đi vào lãng quên theo một người đã xuôi miền miên viễn. Nhưng chắc không hề gì, biết đâu chừng đó anh sẽ thảnh thơi để ngồi đọc thư bé, nhìn những nét chữ học trò của bé và chiêm nghiệm tâm tư của một cô bé nữ sinh muốn làm ấm lòng người lính đang dấn thân vào chiến địa.

    Rừng khuya, đêm lại càng im vắng. Dưới những tàng cây rậm chỉ một màu đen, anh không tìm thấy một ánh sao nên lòng càng thêm trầm mặc. Và một dáng dấp chợt hiện với mái tóc thề bay bay trong gió, theo đợt nhún nhẩy của những bước chân chim trong đoàn bướm trắng dọc lối mòn theo những bờ cây, tíu tít bắt chuyện với những chàng lính ngây ngô trước bóng hồng thành thị, tiến về phía anh khẻ nghiêng đầu chào mỉm cười, răng khểnh.

    - Có mệt không, cô bé?

    Dù đứng tựa thân cây, mắt hướng nhìn những lọn thuốc loãng bốc lên trời xanh nhưng anh vẫn thoáng thấy một nét phụng phịu, hơi bĩu môi trên khuôn mặt xinh xinh mà mồ hôi bắt đầu lấm tấm. Anh lại chưa tha, nhếch cười nói tiếp:

    - Ở Saigon không vui sao lủi đến chỗ nầy? Việt Cộng nó không từ gì đâu, tụ tập lại tụi nó pháo tới là phiền lắm! Mất công...

    Chừng bé hơi thẹn thuồng, run tay đưa anh một vật:
    - Em tặng anh một món quà kỷ niệm.

    Nhìn lại là chiếc khăn tay phớt màu xanh hy vọng, chỉ màu thêu uốn khúc chung quanh, nơi góc khăn chìa ra là một hay hai mẫu tự gì thêu cuống quýt, sau nầy anh mới biết là 2 chữ KL, là tên của cô bé Khánh Linh. Ðẹp thật! Nhận quà rồi, chưa có tiếng cảm ơn mà anh lại hỏi một câu thật... cà chớn:

    - Cô bé muốn làm quen với lính thiệt tình sao?
    - Sao là... sao? Bé cong cớn hỏi lại.
    Lại giọng của một thằng nào vang lên “Không muốn quen mà muốn là... Người yêu của lính”.

    Sau những câu thăm hỏi bình thường, khi bé hỏi nguyên họ tên cùng KBC -vì đơn vị thì mấy cô biết rồi- để dễ dàng liên lạc thư từ và có dịp sẽ viếng thăm thì bị anh chặn lại:
    - Mấy cô có tới hai chỗ nầy chưa?
    Bé ngạc nhiên:
    - Hai chỗ nào?
    Anh đã cười và nói, nói rất thật tình:
    - Muốn thân quen với đám lính chiến tụi nầy thì mấy cô nên đi mỗi nơi ít nhứt là một chuyến rồi hẳn quyết định. Ðó là... Tổng Y Viện Cộng Hòa và Nghĩa Trang Quân Ðội.
    Thoáng thấy bé một chút rùng mình nhưng vẫn nghe bé hỏi:
    - Tại sao?
    - Vì... đó là nơi rồi bọn anh sẽ tới. Bé không nghe câu nhật tụng của bọn anh là “đường nào cũng về... Nghĩa Trang Quân Ðội” sao?
    Bé lắc đầu trách cứ:
    - Lính đánh giặc mà sao mấy anh chán nản thế!
    Bé nhớ là anh vẫn cười tỉnh queo chứ:
    - Chán nản sao. Sai bét. Tụi anh chấp nhận ở mức cuối cùng của cuộc sống, vì tụi anh không phải chiến đấu cho bản thân nên chấp nhận như vậy mới dễ dàng xông vào lửa đạn, vào chỗ chết để tìm cái sống, cái sống của bản thân và chính là cái sống của mọi người.

    Nói chơi vậy thôi, tất cả chỉ là bình thường trên những sự bình thường của bọn anh. Rủi dong trên những vùng đất đỏ miền Ðông, Khu 32 Chiến Thuật, xuôi ngược từ An Sơn, Tân Thạnh, Hố Bò, Bến Cát, Hòa Lợi, Tam Giác Sắt, Long Nguyên,... chưa nơi nào cản được những vết giày saut của các đơn vị nền xanh sao trắng. Nơi bé đến hôm đó cũng là một vùng mang danh mật khu nhưng là hạng xoàng đối với tụi anh, chỉ có ban đêm thì giặc Cộng mới đôi khi dám mon men vượt sông Saigon, từ Rạch Dứa, Bình Mỹ, Trung An,... sang quấy phá rồi chuồn sau khi bỏ lại một số xác chết được gọi là chủ lực miền của cái gọi là mặt trận để bắc cầu cho quỷ đỏ Miền Bắc tràn vào giải phóng sự tự do và an bình của một Miền Nam êm ấm...

    Thời gian vút qua khá nhanh nhưng anh cảm thấy hình như kéo dài vì càng chậm trễ thì đơn vị anh sẽ càng cập rập chuyển quân, thoắt biến chỗ hiện tại để âm thầm hiện hữu ở một tọa độ khá xa trong tiến trình ngăn chận địch tiến quân công đồn cũng như truy lùng những hậu cần của Cộng Sản. Thành thử sự phân tâm khiến anh có nhiều lời không được đẹp lòng, mong bé thông cảm, và nên hiểu những điều anh nói đó là thật...

    Và anh hứa với bé, chắc chắn là anh sẽ đọc thư và sẽ viết thư về cho bé để bé không cho anh là hứa cuội. Anh sẽ viết, viết thật dài như những bức thư tình tiền tuyến ở “Trang của Lính” trên nhật báo Công Luận mà thỉnh thoảng trong rừng tụi anh được xem. Ở đó, anh thường đọc những lá thư Hậu Phương của Nhóm Cỏ Tím Bình Dương, một trong những vùng mà bọn anh thường trú đóng, đôi khi cảm thấy lòng mình ấm lại và mộng tưởng ngày nào đó sẽ có người viết gởi chính anh. Không dè hôm nay mộng đã thành thực nên anh cũng muốn hồi âm lại cho bé.

    Tuy nhiên, lính rừng thì không văn hoa bóng bẩy, lính rừng chỉ có cái thật, cái thật của con người lưng dựa vào hai nỗi sống chết mà cách ngăn chỉ bằng sợi chỉ mong manh thì nói dối làm gì phải không bé? Do đó, mong bé đừng phiền khi anh lỡ lời... thật của những người lính chiến. Ðược vậy thì anh hứa sẽ viết, như đã hứa là viết thật dài như người ta đã viết trên báo. Và đoan chắc là chỉ gởi cho bé, duy nhất mình bé thôi, chứ không gởi cho tờ báo mà anh đề cập đâu. Bé chịu vậy không?

    Ðồng ý thì hồi âm cho anh nghen. Anh cũng mong thư bé thật nhiều.
    Chúc bé mải vui tươi trong tuổi học trò với chân tình của người Em Gái Hậu Phương luôn nghĩ đến Anh Trai Tiền Tuyến.
    Chào bé! Cô bé Khánh Linh!
    M. Lê Xuân

    Thư hậu phương

    Phố đêm, Ngày..., tháng..., năm 197...

    Anh Xuân thân mến,

    Hôm nay nhận được phong bì màu xanh, dầy cộm, Bé đã hết hồn, khi ông phát thư trao cho lá thư tiền tuyến, từ KBC.

    Những tờ giấy viết thư cũng mang màu xanh lơ rất đỗi dễ thương. Ở đâu ra được mấy thứ nầy đây, ông mãnh. Lính mà cũng thích màu hy vọng trữ tình nầy à. Nhưng... những dòng chữ ngoằn ngoèo của anh khó đọc muốn chết, làm bé hậu phương liên tưởng tới mấy câu ca trên đài phát thanh, nghe hoài, hông chán:

    “...Thư của lính, ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay...”

    Anh mến,

    Hôm trường cho phép đi ra tiền đồn thăm các anh, bé theo, mà lòng cứ hồi hộp lo và sợ nữa. Lo vì không biết mình có làm tròn chuyện mang niềm tin vui tới cho các anh hay không, sợ... vì..., lâu lâu thấy mấy anh lính từ rừng về thành phố, nhìn thấy... dễ sợ quá! Dễ sợ bởi một hậu phương quá yên bình, không khí thành đô phẳng lặng bỗng chốc dường như sôi động khi có một đoàn công-voa với những chiếc GMC chở đầy lính trận, ba-lô súng đạn đằng đằng, những người lính hồn nhiên vui vẻ hát những bài hùng ca, cười đùa với theo những người dân thành phố bên đường như mãn nguyện sự an lành của hậu phương đã do các anh cố gắng giữ gìn từ trận tuyến. Và liến thoắng vang rần khi nhìn thấy những bóng hồng xuất hiện.

    Kể anh nghe, bữa hổm tan trường về, bé cùng mấy bạn đang tung tăng trên lề đường đầy bóng mát thì có một đoàn xe GMC trên đầy những bộ áo hoa rừng chạy tới. Các anh thấy bầy bướm trắng thì la hét, và xe ngừng lại, không nghĩ suy ngại ngần bởi những bộ đồ trận còn vướng đầy đất cát mấy ảnh chọc ghẹo hét lớn vang hè phố “Mấy bé lên xe không?”

    Trời ơi, ai mà dám.

    Tụi bé đều ríu ríu tay chân, lắc đầu. Tiếng các anh cười phá lên, rồi xe vụt chạy đi, tung bụi mù, bỏ rơi rớt những tiếng cười đùa lẫn trong lớp bụi đường. Bé đứng đó, ôm cặp trước ngực, ngó theo, tim còn đập thình thịch!

    Tụi bé hiểu những vui đùa chọc ghẹo không ẩn ý của những người lính cố tìm vui trong cái vui của những người khác. Các anh chỉ hưởng chút không khí an vui khi lướt ngang thành thị để rồi ra biên cương, ra xa tít những vùng trời không còn những tiếng cười mà thay vào đó là những tiếng ầm vang của đạn pháo, của những tràng liên thanh với bao làn đạn vi vút xuyên người, cướp đi mạng sống của những lứa tuổi hoa niên đã sớm giã từ áo trắng thư sinh dấn thân ngăn chặn làn sóng đỏ...

    Ðọc lá thơ nầy, bé lại liên tưởng tới hình ảnh hôm qua, thấy bóng dáng anh đâu đó.

    Chắc chắn là bé không thể nào hình dung được những cảnh mà anh diễn và tả trong lá thư nầy vì nó quá lạ xa mà ở thành phố nầy không thể biết. Thành phố như một guồng máy êm đềm, lăn đều với những chuỗi ngày phẳng lặng. Người lớn thì sáng đi đến sở làm, vào chợ, đến hãng xưởng; tuổi trẻ thì tung tăng cắp sách đến trường, và chiều thì tất cả quây quần bên mâm cơm sum họp dưới những mái nhà chan chứa bao thân tình nồng ấm. Chẳng phải như các anh, những người lính chiến, lìa xa gia đình xa cách người thân để băng rừng vượt núi, xuyên qua những bưng biền, tiến vào các mật khu mà lúc nào hiểm nguy cũng rình rập. Mìn bẫy, hầm chông, những loạt đạn của quân thù sẽ khai hỏa chẳng biết lúc nào. Sinh mạng con người rất là mỏng manh nơi tiền tuyến vậy mà khi gặp các anh, trông các anh vui đùa giỡn cợt như cuộc đời được trải bằng gấm vóc.

    Bé hiểu, gấm vóc của các anh là những hố cá nhân, những nệm đất thiên nhiên được trải bằng cỏ lá, đầu gối ba-lô hay mô đất, hoặc những gốc cây để cố tìm trong bầu đêm đen xem có mấy vì sao. Ước mơ giản dị và bình thường như thế mà lắm khi không được. Bé đọc xong thư nửa phần muốn khóc mà nửa phần lại muốn cười.

    Khóc vì thương đời lính quá phong sương gian khổ, cười vì những cái tiếu, cái ngang tàng liều mạng rất lạ lùng. Chẳng có tí gì là hào hoa phong nhã, chiều chuộng phái nữ. Cho bé xin lỗi anh nha. Cũng như bé đã không chấp lỗi giận hờn khi các anh coi thường, chọc quê và hù dọa cái đám nữ sinh lặn lội từ thành đô tới thăm. Muốn quen với lính cũng có điều kiện nữa à? Dữ vậy sao hay là một sự thách thức? Ðể coi, anh thách bé tới hai chỗ đó à?

    Một chỗ là Tổng Y Viện Cộng Hòa, thì khoe với anh, bé đã tới mấy lần rồi, và... lần nào bé cũng... khóc. Xấu ghê há.

    Hôm cận Tết, bé theo phái đoàn của trường Gia Long, đi ủy lạo và phát quà cho các anh thương bịnh binh trong đó. Bé nhớ, bé đi ngang qua một chiếc giường nhỏ, có những thanh sắt chung quanh giường, bé không biết để làm gì? chắc là giăng mùng. Bé thấy trên sợi dây cột nối hai thanh sắt nhỏ là những con chim xếp bằng giấy bạc, loại giấy bao thuốc lá đó anh.

    Nhiều lắm.
    Những con chim nhỏ xếp bằng giấy bạc, sáng loáng, hai cánh chấp chới rung rung trên sợi dây treo, ánh nắng từ khung cửa sổ chiếu xiên xiên, đẹp lạ lùng.
    Bé ngừng lại, ngắm nghía mấy con chim thích thú, nên đã vén tà áo dài trắng, ngồi xuống chiếc giường đó, bắt chuyện với người thương binh. Anh biết không, anh ấy đã tặng cho bé hai con chim thiệt xinh xắn. Và bé cũng trao cho anh ấy gói quà nhỏ, trong đó, có chiếc khăn tay thêu rua, cành hoa chỉ màu với mũi đôi, mũi xương cá quấn quít mà tụi bé đã cặm cuội thêu cả tháng trước.

    Bé cười với anh ấy, cám ơn và từ giã. Nhưng lúc bé quay lưng đi, thì hai hàng nước mắt đã chảy dài trên má bé. Bé đã nhìn thấy tấm ra trắng đắp lên thân thể anh ấy, phần dưới chân nằm sát xuống mặt giường, anh ấy đã bị cưa cụt cả hai chân. Ðôi mắt nâu buồn của người thương binh còn đeo đuổi theo bé tới giờ.

    Thôi, bé không kể nữa đâu. Nhưng chuyến đi đó đã khiến cho bé bằng mọi cách, có mặt trong đoàn bướm trắng bay ra tận chiến trường, để rồi, thư đi biền biệt không biết có kịp theo những bước chân anh khi núi thẳm, khi rừng sâu và tới bao giờ. Nay đã có hồi âm. Bé mừng lắm!

    Còn Nghĩa Trang Quân Ðội à, anh ơi, ba của bé đã bị Cộng Sản giết năm Mậu Thân, một số người thân cũng đã hy sinh yên bình nằm trên khu đồi bát giác đó. Bè đã từng đi, thường đi lên đó để viếng thăm thì bé nào lạ gì nỗi đau đớn ấy nữa. Nên nơi đó cũng là chỗ thân quen để nhớ để thương. Thương nhớ người thân, thương nhớ những người đã hy sinh cuộc đời trẻ trung để hậu phương nầy được sống. Coi như bé cũng đã “dựa lưng nỗi chết” không thua các anh đâu...

    Bé đến với các anh, bằng niềm rung cảm sâu xa nhất, đơn thuần nhất, muốn chia sẻ tinh thần, mối tình Hậu Phương & Tiền Tuyến, để phần nào, giúp các anh đang chiến đấu gian khổ, vẫn vững lòng ở một hậu phương thắm tình lúc nào cũng thương nhớ yểm trợ các anh.

    Và, dù... sợ lắm, bé vẫn gom đủ cái gan cóc tía để viết lá thư hậu phương nầy, hồi âm cho anh.

    Lá thư đầu tiên của anh mang đầy mùi thuốc súng, bụi chiến chinh, màu lá rừng, và cả mùi tử khí nữa. Ðọc thư anh thì bé cũng sợ lắm, tim bé đập thình thịch theo từng lời viết, bị cuốn hút theo như gió thổi lá bay. Sợ, nhưng vẫn muốn đọc. Kỳ ghê nơi!...

    Bé thông cảm nhiều lắm, đừng coi thường những con bướm trắng hậu phương nha anh. Rồi anh sẽ biết, lúc thấm mệt giữa rừng sâu, hay khi trở về hậu cứ, những lá thư hậu phương nầy là nguồn nước mát trong lành nhất dành cho các anh.

    Hậu phương an lành quá, nên bé chẳng có điều gì hay ho để kể cho anh nghe, ngoài chuyện học hành. Ðêm đêm, học bài thi, bé hay nhìn lên bầu trời xanh thẫm, để đón những đốm mắt hỏa châu màu xanh biếc. Xa mịt mù kia, bé biết, anh và những đồng đội vẫn miệt mài ôm súng, chong mắt, bước chân kiêu dũng.

    Bé xin chia sẻ với anh một niềm tin, tự do, một ngày mai không Cộng Sản.

    Bé K.L.

    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  11. #91
    Join Date
    Oct 2008
    Location
    Rome
    Posts
    243
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Ngọn cờ chính nghiã
    Attached Images Attached Images  

  12. #92
    Join Date
    Oct 2008
    Location
    Rome
    Posts
    243
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Attached Images Attached Images  

  13. #93
    Join Date
    Oct 2008
    Location
    Rome
    Posts
    243
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Attached Images Attached Images  

  14. #94
    Join Date
    Oct 2005
    Posts
    3,477
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    DV bị hack rồi hay sao? Software forum mất tiêu..., còn mấy cái forum khác không giống ai???
    Tui xuống còn Trung tướng??? Database tiêu rôi??

  15. #95
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Quote Originally Posted by Butthep View Post
    DV bị hack rồi hay sao? Software forum mất tiêu..., còn mấy cái forum khác không giống ai???
    Tui xuống còn Trung tướng??? Database tiêu rôi??
    Không có ai trả lời mô Butthep ui, ĐV còn đây mà các Mod. và nhân tài bỏ đi gần hết! KS thấy buồn rứa tề!
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  16. #96
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Một ngàn năm đô hộ giặc Tầu

    “Một ngàn năm đô hộ giặc Tầu”. Cụm từ này tưởng đã thuộc về quá khứ lịch sử. Nhưng nào ai ngờ được ngày hôm nay câu nói trên đang có nguy cơ trở thành một thực tại mà nguyên nhân đưa đến thảm trạng này không ai khác hơn là cái chế độ bán nước buôn dân Cộng sản Việt Nam.

    Ba mươi ba mùa Quốc hận 30/4 đã trôi qua với biết bao thăng trầm trên quê hương Việt Nam. Ba mươi ba năm Mẹ Việt buồn nhìn những giá trị tinh thần đạo đức ngày càng băng hoại trong xã hội và con người Việt Nam. Ba mươi ba năm Mẹ cay đắng nhìn con dân nước Việt bị đem đi buôn bán làm nô lệ nơi xứ người. Ba mươi ba năm Mẹ xót xa phẫn uất nhìn dòng sử Việt quằn quại dưới gót giày của kẻ bán nước âm thầm lén lút dâng đất biển của tổ tiên cho Tầu Cộng. Những Ải Nam Quan (1973), Thác Bản Giốc (1976), bản Lủng Sẻo (1992), Hoàng Sa - Trường Sa (1988) và những hiệp ước cột mốc dâng đất biển (1999-2000) vẫn chưa đủ cho đàn anh Trung Cộng mãn nguyện. Để làm vừa lòng và giúp quan thầy Trung quốc thực hiện mộng ước đô hộ Việt Nam, ngày hôm nay những kẻ đầy tớ lãnh đạo CSVN đã không ngần ngại mở cửa Tây Nguyên để cho hàng trăm ngàn dân Tầu sang khai thác Alumina. Một hành động phản bội tổ tiên dân tộc và cũng là một tội ác lớn nhất trong lịch sử Việt Nam !

    Khai thác Bô-xít ở Tây Nguyên là một hình thức cõng rắn Trung Cộng về cắn gà nhà Việt Nam. Trong khi dân tình điêu đứng trước số người thất nghiệp ngày càng gia tăng thì Nguyễn Tấn Dũng lại thản nhiên mời dân Trung Quốc sang làm việc để giật công ăn việc làm của người dân lầm than. Thêm vào đó, ngoài những thiệt hại về sự tàn phá môi sinh ảnh hưởng trầm trọng và lâu dài đến sự an nguy của dân tình cũng như những thiệt hại về kinh tế trong dài hạn cho đất nước, sự có mặt của hàng trăm ngàn người dân Tầu tại Tây nguyên là một mối nguy cơ rất lớn đối với an ninh quốc phòng. Còn một mối nguy cơ khác trầm trọng hơn nữa là thực hiện ý đồ thâm độc của Trung Quốc xử dụng chiêu bài kinh tế để mang dân họ sang VN đồng hóa dân tộc Việt Nam. Một chiêu bài “Việt Nam Hóa” chiến tranh không tốn một viên đạn để đạt đến mục đích đô hộ VN mà TQ ôm ấp thèm khát từ hơn 2000 năm qua. Chiêu bài này cũng giúp cho Trung Quốc giải quyết được vấn nạn trai thừa gái thiếu ở xứ sở họ.

    Thật vậy, chính sách hạn chế sinh đẻ chỉ cho phép mỗi gia đình được quyền sanh một con đã đưa đến tình trạng gái thiếu trai thừa 320 triệu ở Trung Quốc ngày hôm nay. Để giải quyết vấn đề này, Trung Quốc cần gửi thanh niên qua Tây Nguyên lấy vợ VN. Còn về phiá VN, các cô gái nghèo khỏi cần phải rời xứ lấy chồng Đài Loan, kết hôn với anh chồng Tàu ngay trên quê hương là tiện mọi bề. Phong trào lấy chồng Trung Quốc sẽ nở rộ khắp mọi miền. Những đứa con mang hai giòng máu sẽ có nhiều xác xuất nói tiếng Tàu. Và chả bao lâu sẽ nảy sinh ra cái xã hội Tầu ngay trên đất nước Việt Nam, với những dịch vụ thương mại, trường học, nhà thương, v.v... mang bảng hiệu viết bằng chữ Tàu mọc ra như nấm. Cả vùng Tây Nguyên sẽ trở thành một “tiểu vương quốc” Tàu ngay trên đất nước Việt Nam. Tiểu vương quốc này ngày càng lan rộng với thời gian và chỉ cần vài thế hệ chạy theo đồng tiền là người dân Việt Nam sẽ không còn biết hay thiết tha gì đến tiếng mẹ đẻ hay văn hóa Việt Nam. Khi văn hóa Việt không còn thì đất nước VN rồi cũng sẽ chẳng còn. Và cái hiểm họa một ngàn năm đô hộ giặc Tầu sẽ có nguy cơ trở thành vĩnh viễn một khi con người VN đã đánh mất văn hóa mình.

    Trong mùa tưởng niệm 34 năm Quốc Hận 30/4 năm nay, một câu hỏi cần phải được đặt ra cho mỗi người con dân nước Việt là chúng ta phải làm gì trước hiểm hoạ “một ngàn năm đô hộ giặc Tầu”. Chỉ có một câu trả lời duy nhất là chính người dân Việt phải quyết tâm đứng lên bứng tận gốc rễ nguyên nhân đưa đến hiểm họa này là cái chế độ bán nước buôn dân Cộng sản Việt Nam. Chủ quyền độc lập của một quốc gia phải do chính dân tộc đó tự quyết mà thôi. Lịch sử nhân loại đã chứng minh điều đó. Và người dân Việt ngày hôm nay ở trong cũng như ở ngoài nước không còn sự chọn lựa nào khác hơn là phải nhận gánh lấy trách nhiệm này.

    Nam Dao
    Tưởng niệm 34 năm Quốc hận 30/4
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  17. #97
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Nhớ lại chuyện Tam Quốc

    Trong vài năm trở lại đây, bọn Việt Cộng đã tỏ dấu hoang mang, lúng túng trong việc đàn áp sự đòi hỏi nhân quyền cũng như đấu tranh chống bất công trong xã hôi. Tuy nhiên, câu hỏi nêu lên là đâu là phương cách để cho sự đấu tranh của người dân không còn là những tiếng kêu cứu cô đơn và tuyệt vọng nưa? Và với số lượng là bao nhiêu người thì mới có thể tạo được một đối trọng cho việc bắt buộc bọn Cộng Sản phải theo yêu sách của người dân? Thật ra, trong công việc chiến đấu với sức mạnh của một chính quyền độc tài, người dân không thôi vẩn chưa đủ để có thể bẩy được chính quyền khi mà bọn Công An có tai mắt khắp mọi nơi, bọn côn đồ sẳn sàng tiếp tay làm tay mắt hoặc đi đầu trong việc khủng bố người dân vô tôi. Có thể nói cách khác là những điều Cần đã có nhưng những điều Đủ thì chưa.

    Vậy thì muốn có đủ điều kiện để có thể bẩy được chính quyền Cộng Sản, chúng ta phải gió "Đông", trong trường hợp nảy chính là sự ủng hộ của quân đội.

    Quân đội lâu nay vẩn im tiếng, hầu như không hề có tham gia gì vào chuyện của chính quyền và của dân... Cho nên nếu có vài dấu hiệu, hoặc những bài viết phản đối từ phía quân đội thì chắc chắn sẽ có hiệu quả hơn, và cũng từ đó; khi người dân biết được quân đội đã vào cuộc thì họ không còn khiếp sợ Công An nữa... Việc Trung Quốc lấn áp cướp đoạt Hoàng Sa, Trường Sa và việc biên giới Việt Trung đã tạo ra những ngấm ngầm bất mãn trong lòng của những quân nhân chân chính. Nếu kếp hợp họ lại được với nhau sẽ tạo nên một 8406 thứ hai. Chắc chắn là thế cuộc sẽ nghiêng hẳn về phía những người đấu tranh cho sự tự do dân tộc. Và quan trọng hơn hết là tránh được một Thiên An Môn hai cho con dân Việt.

    TRUNG CỘNG ÐÃ CHIẾM VIỆT NAM.

    ( Ðã đăng trọn bài Thơ trong ViệtLand & Thế giới Người Việt... )

    CÔNG NHÂN KHAI QUẶNG LÀ LÍNH TRUNG CỘNG
    Tàu bao thầu khắp lãnh thổ Việt nam
    Lãnh đạo đớp , kéo thêm lũ quan tham
    Bắt dân cả Nước đút vào thòng lọng.

    TRUNG CỘNG ÐÃ CHIẾM VIỆT NAM TỪ LÂU
    Trí thức Hải ngoại chực chầu khuấy động
    Bạc bẻo , vô ơn cấu xé lẫn nhau
    Ðánh mất danh dự và lòng tự trọng.
    ...

    LÊ VĂN KỲ
    ( Hawaii 2009 )

    --------------------------------------------------------------------------------

    ""..... trong trường hợp này chính là sự ủng hộ của quân đội. .."""

    Bạn "cuc_bot" mong chờ quân đội nào vậy ? Hy vọng không phải cái bọn có tên là " quân đội nhân dân " .. Vì sao?? đơn giản thôi

    quân đội nhân dân ==> quân dận nhân đôi

    mà đôi đồng nghĩa với 2 , nên

    quân dận nhân đôi = quân dận nhân hai



    quân dận nhân hai =====> quân hại nhân dân
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  18. #98
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    34 năm sau và họ là ai ?

    Ba mươi bốn năm (34) so với chiều dài lịch sử của một triều đại thời xưa thì ngắn, nhưng với một đời người thì dài lắm, nhất là đối với những ai quan tâm đến thời cuộc, đến vận mệnh khổ đau của dân tộc Việt Nam thì nó lại càng dài hơn.

    Ba mươi bốn năm trôi qua quả thật như một giấc mơ hãi hùng! Máu, nước mắt, khổ lụy, nghiệt ngã vẫn còn đây! Những cuộc vượt thoát vô tiền khoáng hậu của người Việt trốn chạy cộng sản – mà cả thế giới đều biết – vẫn còn ghi đậm trong lịch sử nhân loại. Riêng đối với người Việt tị nạn, làm sao có thể quên được những ngày tháng hãi hùng ấy. Có lẽ nó sẽ nằm sâu, nằm mãi trong tiềm thức của mỗi chúng ta.

    Ba mươi bốn năm rồi mà người đi vẫn đi, không còn đi được bằng cách vượt biển, vượt biên thì cũng tìm cơ hội khác để đi: ODP (đoàn tụ), lấy vợ, lấy chồng, du học, chạy chọt làm sao để rời xa cái gọi là “thiên đường xã hội chủ nghĩa” . Chính ngay những người theo cộng sản cả đời, những người được hưởng ơn mưa móc như núi, nhưng nếu có cơ hội ra đi là họ đi ngay để trốn khỏi cái “thiên đường” quái đản ấy.

    Chừng đó thôi cũng đủ để chứng minh một cách hùng hồn rằng con người không thể sống dưới chế độ cộng sản. Khổ thay, Việt Nam là một trong bốn nước cộng sản còn lại mà loay hoay mãi vẫn không thể nào thoát khỏi cái thiên đường mù đầy oan nghiệt ấy! Nếu miền Nam Việt Nam không bị bán đứng vào tay cộng sản vào 1975, thì chắc chắn, sau sự sụp đổ của khối cộng sản Ðông Âu và Nga Sô, toàn cõi Việt Nam bây giờ đã là một xứ tự do, giàu mạnh như bao nhiêu quốc gia văn minh khác. Ít ra cũng bằng Nam Hàn với nền văn minh nhân bản như ngày nay.

    Khỏi cần phải tố cáo hay chê bai chế độ; khỏi cần luận tội tập đoàn cộng sản lãnh đạo đất nước đã tàn phá quê hương như thế nào sau 34 năm thống nhất hai miền Nam-Bắc; khỏi cần so sánh với các nước láng giềng và các quốc gia khác trên thế giới – cũng bằng ấy thời gian đã vươn lên như đi hia bảy dặm – mà cứ nhìn vào xã hội tan nát, luân thường đạo lý tiêu tan, thị trường cung cầu quái dị, con người chạy theo vật chất một cách điên cuồng là biết ngay.

    Khỏi cần phải nghe những luận điệu vì cảm tính của một số người về thăm quê hương rồi trở lại hồ hỡi ca ngợi: “Ðất nước ngày nay khá rồi, thôn quê đã có điện nước, người dân có quyền đi lại và có quyền chửi luôn cán bộ cộng sản”. Thế sao? Chỉ có ba bóng đèn thắp sáng trong vài túp lều thô sơ, nghèo khổ, lạc hậu; chỉ có vài người vụt miệng chửi đổng cán bộ là đã có tự do, là đất nước khá rồi hay sao? Trong khi đó đa số các quốc gia tự do trên thế giới đã và đang tiến vào một đời sống sung túc và văn minh nhất của con người lại không đem ra so sánh!

    Ðúng! Việt Nam đã có tự do, nhưng đó là thứ tự do của giai cấp cai trị được “tự do” ăn trên ngồi trước, “tự do” trấn lột quần chúng để thụ hưởng những xa hoa, phù phiếm trên nỗi thống khổ của toàn dân, vốn đã quá khổ trong một thế kỷ qua vì chiến tranh bom đạn. Phải, Tự là “tự” họ quyết định sự sống của người khác bằng họng súng và Do là “do” họ tạo nên những thủ đoạn đê hèn để áp đảo người dân, tước đoạt mọi thứ quyền tự do căn bản của con người.

    Ðúng! Có tiến bộ, nhưng là thứ tiến bộ lừa đảo, mưu mô xảo quyệt cướp giựt để đàn áp mọi sự chống đối của người dân – khao khát hít thở không khí tự do – đã và đang đứng lên đòi tự do tôn giáo, tự do được sống làm người.

    Nói tới chính trị là phải chứng minh bằng dữ kiện, bằng đường lối cai trị của một chế độ đang điều hành guồng máy quốc gia. Chế độ ấy như thế nào thì chúng ta đã thừa biết, khỏi cần nhắc lại làm gì cho tốn giấy tốn mực. Nếu họ thật tâm lo lắng cho quyền lợi của quê hương đất nước, cho người dân được hưởng những quyền tối thiểu của con người thì 34 năm qua đất nước đã khá lên rồi. Nếu họ có thật tâm xây dựng đất nước thì tại sao chúng ta phải bỏ nước ra đi, phải tiếp tục ra đi cho đến ngày nay, và phải chấp nhận sống chết trong đường tơ kẽ tóc để tìm tự do? Vì thế, những luận điệu nông cạn thiếu suy nghĩ ấy chỉ là mớ lý luận có lợi cho cục tuyên vận của CSVN.

    Vậy, họ là ai?

    Họ là những thành phần ích kỷ, chỉ biết sống cho mình, miễn sao có một đời sống sung túc trên xứ người là đã thỏa mãn. Còn quê nhà, bà con làng xóm có sống như thời kỳ “đồ đá” thì cũng mặc. Miễn sao lâu lâu ta về thăm cái xứ lạc hậu ấy để thí cho một vài đồng đô, vừa được tiếng, vừa được những người thọ ơn ca tụng cho thỏa cái tự ái vị kỷ của mình.

    Họ là ai?

    Họ là thành phần cán bộ được cộng sản cấy theo đoàn người tỵ nạn, nằm vùng khắp mọi nơi, đóng vai quốc gia trá hình, chờ cơ hội là bò dậy tấn công vào hàng ngũ người Việt Quốc Gia, vốn đã chia rẽ trầm trọng do bản chất vị kỷ, phi chính trị của những người sinh hoạt ngoài công cộng.

    Họ có mặt sinh hoạt nội gian, nội gián trong mọi tổ chức, đảng phái chính trị. Mục tiêu chính của họ là phá nát các tổ chức chính trị chống cộng, bày mưu, chước kế đâm bên này, thọc bên kia, gây mâu thuẫn nội bộ, tung những nguồn tin giật gân ra ngoài làm cho quần chúng mất niềm tin... Mục tiêu của họ chỉ có thế thôi. Khi đã thành công vì phá được các tổ chức chính trị đi đến tình trạng gần như bị tê liệt thì họ đi đâu và làm gì? Dĩ nhiên là họ đã lặn thật kỹ, viện cớ chán ngán thế sự, lui về ngồi rung đùi đếm tiền và hưởng nhàn, ôm theo một đống tiền, gọi là công tác phí trọn đời.

    Họ là ai?

    Thà rằng tỏ rõ thái độ đầu hàng như một ông tướng, ông nhạc sĩ “nhớn” đã quay về với đảng và nhà nước, ăn năn sám hối để được hưởng “lộc” cuối đời. Dù xú danh muôn thuở, người đời nguyền rủa, nhưng ít ra họ đã biểu lộ thái độ chính trị dứt khoát theo cộng để người ta phân biệt lằn ranh biên giới rõ ràng giữa họ và chúng ta. Còn hơn những tên nằm vùng sống với nhiều mặt nạ khác nhau để quậy phá các tổ chức chính trị, hội đoàn, cộng đồng; thậm chí trong giới cầm bút cũng không thiếu những tên tự xưng là người cầm bút, nhưng bất xứng, lại háo danh, hám lợi. Chính họ là một thứ bồi bút không hơn không kém, viết lách theo đơn đặt hàng, núp bóng trong tổ chức Văn Bút, để “cố đấm ăn xôi” một cách quyết liệt với mục đích xé nát tổ chức nhằm xóa bỏ dấu tích còn lại của người Việt quốc gia trên diễn đàn quốc tế. Họ cố đấm dù không ăn được xôi đến độ một cách phi lý, phi văn hóa mà bất cứ ai có chút suy nghĩ cũng phải nghi ngờ chắc chắn đàng sau họ phải có một sức đẩy nào đó. Họ chính là “những kẻ vô lại may mắn” như nhà văn Phạm Ngũ Yên đã đặt tên trong một loạt bài tố cáo đích danh những tên vô lại này trước công luận vào năm 2008.

    Họ là ai?

    Họ cũng là những người vượt biển vượt biên ra đi tìm tự do, nhưng sống “với vật chất và vì vật chất” nên theo thời gian, thời thế thế thời phải thế. Họ đã quay lưng, cúi đầu phục vụ trực tiếp, hay gián tiếp cho cục tuyên vận CSVN, sẵn sàng đâm vào vết thương lòng của tập thể người Việt tỵ nạn để kiếm lợi.

    Họ là ai?

    Họ là những nhà “làm chính trị” theo kiểu lập dị, với mớ lý luận thiên tả, ưa bềnh bồng, không định hướng như con thuyền không bến. Họ sống bên này với thế giới tự do văn minh, phủ phê vật chất nhưng luôn luôn mơ mộng ở một “thiên đường” khác: thiên đường của hoang tưởng, thiên đường của không tưởng. Nhưng nếu họ được sống thực trong cái “thiên đường” ấy, chắc chắn là họ phải lên cơn điên và trở thành người điên sớm nhất. Tiếc thay, khi va chạm với thực tế trong cái xã hội tha hóa ấy thì hối hận cũng đã muộn màng!

    Họ là ai?

    Họ là thành phần làm chính trị theo kiểu salon, thích đọc diễn văn “xa đấm, gần đâm”. Nghĩa là ở xa thì hô hào “Ðấm” đá, những ở gần thì “Ðâm” đầu bỏ chạy. Họ cứ tưởng sẽ hòa hợp được với cộng sản bằng một mớ kiến thức về kỹ thuật mà họ học được từ hải ngoại. Về nước họ sẽ được trọng dụng và đảng cộng sản sẽ nghe theo họ. Ðúng là hoang tưởng!

    Họ là ai?

    Họ là những thương gia, với quan niệm “chỉ làm thương mại, không làm chính trị”. Giấc mơ của họ là giấc mơ của những “đại gia” thời mới, đượỳc nhà nước ca tụng và tâng bốc trên tận mây xanh. Trước khi đặt vấn đề đầu tiên là “tiền đâu”; dĩ nhiên là họ phải chạy theo giai cấp thống trị, làm theo lệnh của bạo quyền để kiếm lợi. Vì vậy, với thành phần chỉ biết mua bán để kiếm lợi thì trách họ làm gì cho bận tâm. Với họ. quê hương dân tộc không bằng một quả chanh, khi vắt hết nước là liệng vỏ ngay. Gần đây, nhiều “đại gia” đổ tiền về làm ăn vì được đảng nâng bi ca tụng hết mình, nhưng chỉ một thời gian sau thì những đại gia này đều bị trấn lột sạch sành sanh... kêu Trời không thấu! Cái giá “không làm chính trị, chỉ biết làm ăn” họ đã phải trả một cách cay đắng.

    Lời kết:

    May thay, dân tộc Việt trường tồn qua mấy ngàn năm nay cũng nhờ vào hồn thiêng tổ tiên phù trợ, nên thành phần “Họ Là Ai” nói trên chỉ là thiểu số ung nhọt, sâu mọt trong đại gia đình dân tộc Việt mà thời nào cũng có trong lịch sử. Còn đại đa số những người bỏ nước ra đi tìm tự do thật sự từ năm 1975 đến nay, vẫn một lòng, một chí hướng, đó là giải thể chế độ cộng sản để đưa đất nước tiến lên trong tự do dân chủ. Ngày nào còn bóng dáng cộng sản là còn đấu tranh đòi quyền sống cho đồng bào ruột thịt đang chịu đựng trăm đắng ngàn cay ở quê nhà.

    Ba mươi bốn năm rồi, mặc dù những hiện tượng chia rẽ trong hàng ngũ của chúng ta đã xảy ra vì địch và vì chính chúng ta tạo nên cũng có, nhưng những chiến sĩ can trường đã và đang âm thầm hay công khai đấu đầu với CSVN ở khắp mọi nơi vẫn kiên trì, bất khuất, vẫn một lòng với đại cuộc đấu tranh chống cộng. Ở quốc nội, các vị chân tu của các tôn giáo, các nhà đấu tranh cho dân chủ vẫn không sờn lòng đứng lên đòi quyền sống, quyền hành đạo, quyền được phát biểu tư tưởng, mặc dù bị bắt bớ giam cầm dã man trong suốt 34 năm qua. Ở hải ngoại, vẫn những chiến sĩ xung trận ngăn chặn mọi sự xâm nhập của CSVN trên mọi chiến tuyến. Xin cầu chúc “chân cứng đá mềm” tới những tấm lòng bất khuất mà thời nào họ cũng đứng lên trong dòng sinh mệnh của dân tộc Việt.

    Là những người may mắn thoát khỏi nanh vuốt của tập đoàn cộng sản, chúng ta không thể nào ngồi yên để hưởng thụ, mà đã đến lúc phải góp sức vào công cuộc chung, tiếp tay với những anh hùng đang xả thân vì nước bằng cách vận động, góp tinh thần – dù chỉ là lời nói – cho quí vị lãnh đạo tinh thần, những nhà đấu tranh cho dân chủ ở trong nước đang ngày đêm gian khổ, sống chết trước sự đàn áp dã man của bạo quyền cộng sản.

    Có như thế thì chúng ta mới không phụ lòng những anh hùng liệt sĩ đã nằm xuống cho chính chúng ta được sống. Có như thế thì mới không hổ thẹn với chính lương tâm mình mỗi khi nhìn lại chặng đường lưu lạc gian khổ suốt ba mươi bốn năm qua: “Ta đã làm được gì cho quê hương dân tộc”? Có như thế mới làm gương cho thế hệ trẻ trong việc gìn giữ nguồn gốc và tinh thần trách nhiệm đối với sự sinh tồn của dân tộc. Một Brian Doan, một Madison Nguyễn, một John Nguyễn... cũng chỉ là một thiểu số nhỏ bé, bé hơn cả những hòn sỏi khi ném xuống mặt hồ yên lặng, vẫn chưa đủ sức làm gợn sóng lăn tăn. Thế nhưng, mặt khác của vấn đề là sự tỉnh thức của chúng ta, của tập thể người Việt không cộng sản, đó là đoàn kết và cố gắng chăm sóc cho thế hệ nối tiếp gìn giữ truyền thống giáo dục gia đình.

    Nhân mùa quốc nạn, xin được thắp nén hương lòng gửi đến hồn thiêng của các anh linh tử sĩ, đồng bào vượt biển, vượt biên đã anh dũng nằm xuống cho đất mẹ sớm nở hoa tự do. Ðồng thời cũng xin được nguyện cầu bình an cho những anh hùng dân tộc đang ngày đêm chiến đấu một mất một còn với CSVN trên mọi mặt trận.

    Lão Gà Tre
    [email protected]

    * Source: http://lyhuong.net/viet/index.php?op...ndoc&Itemid=56
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  19. #99
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    34 năm nhìn lại cuộc chiến chống CSVN. --------------------------------------------------------------------------------

    1. Cuộc chiến sau cuộc chiến 1954-1975.

    Việt Nam Cộng Hòa chúng ta bị quân cộng sản nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gây chiến tranh từ năm 1954. Sau 21 năm với khoảng 10.000.000 thanh niên “sinh Bắc tử Nam”, họ đã chiếm Việt Nam Cộng Hòa chúng ta vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 (con số này trích đoạn bà Lê Duẫn trả lời phỏng vấn của phóng viên Xuân Hồng đài BBC ngày 23/12/2008). Từ đó, chúng ta mất tự do! Mất tự do là mất tất cả trên quê hương Việt Nam!
    Từ những đợt di tản đầu tiên (1975) đặt chân trên những xứ sở đón nhận chúng ta tị nạn cộng sản, lần lượt 20 năm kế tiếp (1976-1995) với làn sóng ào ạt vượt biên vượt biển và các chương trình đoàn tụ gia đình, HO, con lai, nhân đạo, đến nay (2009) ước tính Cộng Đồng chúng ta trên khắp thế giới vào khoảng 3.000.000 người mà đa số đã trở thành công dân bản xứ. Ngoài bổn phận với quê hương thứ hai, chúng ta còn bổn phận với quê hương Việt Nam cội nguồn. Đó là bổn phận góp phần dân chủ hóa chế độ trên quê hương Việt Nam để giành lại quyền làm người cho 86 triệu đồng bào. Đây là cuộc chiến có tính cách toàn diện, một cuộc chiến mà mọi sinh hoạt xã hội đều là “vũ khí” trong cuộc chiến này và “truyền thông và vận động chinh trị tại các quê hương thứ hai ” là vũ khí quan trọng nhất.

    Sau 34 năm (1975-2009) nhìn lại những gì Cộng Đồng chúng ta trên khắp thế giới có hay không có kết quả trong cuộc chiến tiếp tục chống CSVN. Tôi nói “tiếp tục chống cộng sản” vì sau khi bị cộng sản Việt Nam cai trị (1975) với chế độ độc tài, tôi quan niệm những hành động: (1) Không chấp nhận giao nhà cửa tài sản cho chúng để đi khu kinh tế mới là hành động chống cộng sản. (2) Vượt biên vượt biển để chạy trốn chế độ độc tài tàn bạo là hành động chống cộng sản. (3) Với những cách phản kháng quân đội và công an trong những trại tập trung (họ gọi là trại cải tạo) là hành động chống cộng sản. (4) Những người ra đi trong các chương trình “đoàn tụ gia đình, con lai, nhân đạo, H.O. là hành động chống cộng sản. Nói chung bất cứ những hành động nào thể hiện ý thức chính trị không chấp nhận chế độ độc tài cho dù hiểu theo nghĩa thụ động hay chủ động, đều là hành động chống cộng sản.

    Tại hải ngoại, phương thức đấu tranh thông thường của Cộng Đồng chúng ta để phản đối hay ủng hộ một vấn đề nào đó, như mít tinh biểu tình, thư phản kháng, thư thỉnh nguyện, điện thoại, điện thư (fax), vi thư (e-mail), … . Đó là hành động bày tỏ ý thức chính trị chớ chưa phải làm chính trị như không ít người cho rằng “tôi không làm chính trị nên tôi không tham gia” như cái cớ để đứng bên ngoài, trong khi tự cho mình cái quyền phê phán người khác. Trong sinh hoạt Cộng Đồng, chúng ta đến với nhau là do tinh thần trách nhiệm, không một ai hưởng bất cứ một quyền lợi vật chất nào từ tổ chức mà người đó tham gia, trái lại thường bị những mẫu người nói trên chỉ trích lắm khi nặng lời. Một câu nói tưởng như đùa nhưng là kinh nghiệm thực tế với chút đắng cay: “Sinh hoạt Cộng Đồng mà không bị chửi là chưa có kinh nghiệm” Nghĩ cho cùng, cấu ấy rất thực. Dĩ nhiên, với quyền tự do ngôn luận tại các quê hương thứ hai, mọi người đều có quyền khen hay chê những cá nhân khác, nhưng không phải vì vậy mà tự chà đạp liêm sĩ chính mình.
    Trong những năm gần đây có dư luận cho rằng: “Mấy chục năm nay các anh đấu tranh gì mà chẳng thằng cộng sản nào rụng cái lông chân, vậy mà các anh cứ nhắm mắt đấu tranh cho mất thì giờ vô ích”. Riêng bản thân tôi khi đến dự đại hội của Hội Thủ Đức Houston kỷ niệm 25 năm thành lập vào cuối tháng 12 năm 2008, ngay lối vào cửa nhà hàng Ocean Palace tôi gặp người bạn “thích nói nhưng không thích làm”. Trong khi bắt tay nhau, anh ấy “phang” tôi một câu: “Già rồi sao kh ông nghĩ cho khỏe, dính líu hội hè chi cho mệt. Tôi mới từ Việt Nam về lại Mỹ, cộng sản nó giàu nó mạnh lắm, 50 năm nữa mấy anh chẳng làm gì nó được đâu”. Nói xong, anh ấy ra xe với dáng “hiên ngang” như thể vừa dạy tôi bài học. Vâng, tôi vừa học bài học, nhưng là “bài học để tránh anh ấy chớ không phải bài học để làm theo anh ấy”. Tôi nghĩ, quí vị đã và đang tham gia sinh hoạt Cộng Đồng, thể nào cũng có lần nghe những câu đại loại vừa châm biếm vừa chê bai như vậy! Xin quí vị hãy kiên nhẫn nếu quí vị tin rằng “con đường” quí vị đã chọn và đang đi là đúng.
    Tôi có nét nhìn khác với anh bạn vừa “dạy tôi bài học” nói trên, anh ấy thuộc mẫu người thích “xênh xang áo gấm về làng hưởng thụ trên sự đau khổ của người con gái Việt Nam”, và càng khác những ai cho rằng cuộc đấu tranh của Cộng Đồng chúng ta không làm rụng sợi lông chân nào của cộng sản. Xin hiểu rằng, mục đích cuối cùng trong cuộc đấu tranh của chúng ta là góp phần triệt tiêu chế độ độc tài giành lại quyền làm người cho dân tộc, và vá lại mảnh giang sơn đã bị CSVN xé lởm chởm trên đầu (biên giới phía Bắc), nham nhở một bên vai (vịnh Bắc Việt), và loang lỗ một phần bên hông phải (Biển Đông)!

    2. Chúng ta có đạt được gì không?

    Vậy, 34 năm qua Cộng Đồng chúng ta có đạt được gì không? Xin trả lời ngay là CÓ, và đây là những gì đạt được:

    a. Được sống tại các quốc gia tự do.
    Trong số khoảng 3.000.000 người Việt chúng ta tại hải ngoại, có thành phần cựu quân nhân sau hơn 20 năm chiến đấu bảo vệ tổ quốc với những trận chiến vang danh trên thế giới và vô số trận chiến âm thầm đơn lẻ trên khắp miền đất nước, thành phần tù chính trị bị quân cộng sản giam giữ đọa đày trong hơn 200 trại tập trung từ 1975 đến 1992, thành phần gia đình cựu quân nhân viên chức cán bộ, và các thành phần kinh tế tài chánh bị áp bức trong xã hội chẳng khác tình cảnh “lưu vong ngay trên quê hương Việt Nam”, nay được sống tại các quốc gia mà nền dân chủ pháp trị được nhà cầm quyền và người dân tôn trọng. Đây chính là điều đạt được lớn nhất, và là hạnh phúc lớn nhất của Cộng Đồng chúng ta tị nạn cộng sản. Từ căn bản đó, chúng ta đạt được những lãnh vực khác.

    b. Được học hỏi tổ chức & quản trị xã hội.
    Sống trên các quê hương thứ hai, chúng ta học hỏi nhiều về tổ chức và quản trị xã hội. Thêm nữa, chúng ta có nhiều cơ hội du lịch đó đây trên thế gới, nhờ đó mà kiến thức tổng quát được trang bị thêm phần phong phú, tầm nhìn được trải rộng trên các sinh hoạt quốc gia, nhất là hiểu biết những nền văn hoá khác nhau. Nhờ vậy mà chúng ta hình thành khái niệm căn bản về tổ chức và quản trị một xã hội cho quê hương Việt Nam ngày mai, khả dĩ dung hợp hài hòa giữa nếp sống văn hoá Việt Nam với nền khoa học kỹ thuật tân tiến trong bối cảnh một thế giới phát triển.

    c. Được một Cộng Đồng hải ngoại.
    Theo tác giả Đỗ Tăng Bí với bài “Nghiên Cứu Dòng Nhập Cư Vào Hoa Kỳ” và tác giả Hồng Châu với bài “Sự Phân Tán & Tập Trung Của Người Việt Tại Hoa Kỳ”, người Việt Nam tại Hoa Kỳ từ trước cho đến năm 1950 -cách nay 59 năm- vào khoảng 500 người. Con số đó đến năm 1970, tăng lên khoảng 5.000 người. Từ đó đến năm 1974, Việt Nam chúng ta trên đất Mỹ gộp chung vào khoảng 20.000 người, sống rãi rác các tiểu bang miền Đông Bắc và miền Tây Hoa Kỳ. Lúc bấy giờ cũng chưa hình thành tổ chức Cộng Đồng. Mãi đến đợt di tản cuối tháng 4 đầu tháng 5 năm 1975 khoảng 150.000. Theo tài liệu của Cao Ủy Tị Nạn/Liên Hiệp Quốc, thành phần vượt biên vượt biển từ năm 1976 đến 1995 có 839.200 người nhập cư khoảng 94 quốc gia trên thế giới, mà Hoa Kỳ là quốc gia tiếp nhận nhiều nhất. Theo tài liệu của US Census Bureau năm 2000, Cộng Đồng Việt Nam là 1.122.528 người, qui tụ trong 293.621 gia cư với số nhân khẩu từ 3 người trở lên (chiếm 80.5% trong tổng số). Cũng theo US Census Bureau, đến 1/6/2008 Cộng Đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ khoảng 1.500.000 người. Sau những năm ổn định cuộc sống từ khi nhập cư, lần lượt những tổ chức Hội Đoàn và Cộng Đồng được thành lập theo nhu cầu sinh hoạt chung để hỗ trợ lẫn nhau. Đây là “cái được mà tôi xếp vào loại quan trọng bậc nhất”.
    Bởi từ nét nhìn lạc quan khi nhìn vào tổ chức Cộng Đồng tại Orange County, các thành phố San Jose, Houston, Dallas-Fort Worth, ..v..v.. , mỗi nơi nhu thể một quốc gia thu nhỏ tại hải ngoại. Đứng đầu là tổ chức Cộng Đồng điều hợp sinh hoạt chung gồm: Các Hội đoàn đồng hương cấp tỉnh , Hội đoàn quân đội với màu áo các quân binh chủng. Hội đoàn văn hoá, Hội đoàn khoa học kỹ thuật, Hội đoàn ngành nghề chuyên môn, Hội đoàn trường hay liên trường trung học, đại học, các tổ chức bảo tàng lịch sử, các cơ sở giảng dạy Việt ngữ, ..v..v... Bên cạnh đó còn có các tổ chức tôn giáo: Phật Giáo, Thiên Chúa, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, với các cơ sở thờ phượng. Và Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản ngày càng lớn mạnh:

    (C-1)Với khối nhân lực quí giá.
    Một phần thế hệ chúng ta trong cuộc chiến 1954-1975, và liên tục những thế hệ sau chúng ta được đào tạo trong những nền giáo dục tân tiến trên thế giới, với số lượng học sinh sinh viên “du học tại chỗ” không một quốc gia nào sánh được. Tuổi trẻ hải ngoại trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản đã hình thành khối tài nguyên nhân lực quí giá, sẽ là lực lượng nòng cốt cùng với tuổi trẻ trong nước, thúc đẩy quê hương Việt Nam phát triển theo hình tượng chiếc phản lực cơ thương mại vừa cất cánh khỏi đường băng vươn mình lên bầu trời xanh thẳm khi cộng sản độc tài sụp đổ.
    Khối nhân lực quí giá này là sự mơ ước của CSVN qua đoạn ngắn dưới đây trong bài “Cộng Đồng Việt Nam Ở Nước Ngoài, Khơi Dậy Nguồn Lực Chất Xám” ngày 11/08/2005 của Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Phú Bình: “Trong số gần 3.000.000 người Việt Nam sinh sống định cư ở nước ngoài, ước tính có khoảng 300.000 người được đào tạo ở trình độ đại học và công nhân kỹ thuật cao, có kiến thức cập nhật về văn hoá, về khoa học, công nghệ, về quản lý kinh tế. Trong đó có nhiều người đạt vị trí quan trọng trong các viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện, công ty kinh doanh của các nước, và các tổ chức quốc tế. Tiềm lực khoa học và công nghệ của các thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài không ngừng phát triển. Trong đó, một thế hệ trí thức mới người nước ngoài gốc Việt đang hình thành và phát triển, nhất là ở các nước Bắc Mỹ, Tây Âu, và Châu Đại Dương. Đội ngũ này tập trung ở nhiều lãnh vực khoa học chuyên ngành và kinh tế như tin học, viễn thông, điện tử, vật liệu mới, chế tạo máy, điều khiễn học, sinh học, quản lý kinh tế, ngân hàng, chứng khoán, ..v..v.. Theo ước tính, chỉ số học vấn đại học và trên đại học của người Việt Nam tại các nước công nghiệp phát triển gần ở mức trung bình của người dân sở tại.
    Thế hệ trẻ này đang trở thành một thành phần quan trọng của công tác vận động nhằm động viên khuyến khích sự hợp tác, đóng góp của họ vào công cuộc xây dựng quê hương đất nước. Thế mạnh của đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài là được đào luyện, tiếp cận môi trường khoa học công nghệ tiên tiến, và nắm bắt được phương pháp quản lý kinh tế vĩ mô và chuyên ngành. Họ có khả năng phát kiến sáng tạo, có năng lực tổng hợp thông tin, tư vấn, và tạo dựng mối quan hệ với các cơ sở khoa học, cơ sở kinh tế ở nước sở tại. Từ trước đến nay, đội ngũ trí thức kiều bào vẫn được các cơ quan chức năng trong nước đánh giá là thế mạnh của người Việt ở nước ngoài, là một nguồn lực có thể góp phần tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước”.
    Trong những năm gần đây có dư luận cho rằng “tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại về xây dựng quê hương chỉ là giấc mơ không thể có”. Tôi xin phép thưa rằng, tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại chịu ảnh hưởng văn hoá tại các quốc gia bản xứ nhất là Hoa Kỳ, điều này đúng, nhưng không phải vì vậy mà xem thường ý thức trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương Việt Nam cội nguồn. Tôi có nhiều dịp tiếp xúc với tuổi trẻ khi tham gia “Ban Phát Thưởng Học Sinh Giỏi” (lớp 5 đến lớp 12) tại Houston từ năm học 1998-1999 đến 2003-2004. Sau khi các cháu vào đại học, hằng năm các cháu đều đến tham gia Ban Phát Thưởng và các cháu không từ chối bất cứ công tác nào nhờ đến. Đúng là tuổi trẻ thừa nhận trong những năm tiểu học trung học, con cháu chúng ta tự nghĩ mình là người Mỹ (tôi nghĩ những nơi khác cũng vậy). Nhưng từ lớp 11 lớp 12, sau đó vào đại học, tuổi trẻ bắt đầu tham gia sinh hoạt văn hoá xã hội, những sinh hoạt này cũng là cách mà nhà trường giúp sinh viên trang bị ý thức trách nhiệm cộng đồng trong hành trang vào đời. Qua tiếp xúc với sinh viên nhiều chủng tộc khác nhau trong công tác cũng như trong sinh hoạt học đường, những va chạm giữa những nền văn hoá khác nhau, chính là cơ hội giúp tuổi trẻ nhận ra mình vẫn là người Việt Nam dù quốc tịch bản xứ, vì nhìn lại từ vóc dáng màu da tóc tai mặt mũi đến ánh mắt nụ cười của mình không phải người bản xứ. Từ đó, tuổi trẻ Việt Nam tìm về quê hương cội nguồn.
    Cũng trong những năm gần đây, với phương tiện truyền thông vừa nhanh chóng vừa chính xác -đài truyền hình SBTN và Hồn Việt là một phương tiện- cung ứng những bài viết, những hội luận, cùng với những hình ảnh cho thấy tuổi trẻ nhập cuộc trong các sinh hoạt văn hoá xã hội cũng như trong sinh hoạt bày tỏ ý thức chính trị ngày càng đông trên các quê hương thứ hai, chứng tỏ khả năng và tinh thần trách nhiệm của tuổi trẻ hải ngoại. Với vị trí ông bà cha mẹ, xin quí vị cố gắng giúp các con các cháu nói chung là tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại học hỏi văn hoá Việt Nam, ngoài những giải thích hướng dẫn bằng lời, nếu được, nên đưa tuổi trẻ đến với các lễ hội văn hoá như Tết Nguyên Đán, trung thu, picnic, mà các Hội Đoàn tổ chức. Nếu tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại không hiểu chút gì về quê hương Việt Nam cội nguồn, tôi nghĩ, một phần trách nhiệm thuộc về thế hệ chúng ta. Và xin quí vị thật lòng tin tưởng con cháu chúng ta, những thế hệ tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại đối với quê hương Việt Nam cội nguồn tự do dân chủ và nhân quyền.


    (C-2)Với kinh nghiệm vận động chính trị.
    Tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại nhất là tại Hoa Kỳ, Germany, Canada, Australia, ..v..v.., đã góp mặt trong các cơ quan Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp, trong các trường đại học, trong các tổ chức khoa học kỹ thuật cũng như trong các tổ chức chính trị bản xứ, và đã góp phần vào các thành tựu quan trọng. Tiến sĩ Philipp Roesler Bộ Trưởng Kinh Tế tiểu bang Niedersachsen, Germany. Cô Eve Mary Thái Thị Lạc, đắc cử Dân Biểu Canada năm 2007. Tại Hoa Kỳ, có Dân Biểu liên bang Cao Quang Ánh, Dân Biểu tiểu bang Trần Thái Văn và Hubert Võ. Tuổi trẻ đã có mặt trong Cơ Quan Quản Trị Hàng Không & Không Gian (NASA), đặc biệt là khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh, và ít nhất có một phi hành gia Eugene Trịnh Hữu Châu. Trong NASA còn có nhiều chuyên gia gốc Việt Nam, như: Ông Bà Hữu Trịnh -tiến sĩ kỹ thuật- và Diệp

    Trịnh -tiến sĩ hóa học- cùng làm việc trong cơ quan này, tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tiến, tiến sĩ Jonathan Lee Điền Lê, tiến sĩ Bruce Vũ Thanh, tiến sĩ Bùi Trí Trọng, tiến sĩ Nguyễn Quang Việt, tiến sĩ Đinh Bá Tiến, và nhiều nhiều nữa. Trong ngành vũ khí, đặc biệt nữ khoa gia Dương Nguyệt Ánh nổi danh trong giới quân sự quốc tế về vũ khí. Tiến sĩ hóa lý sinh Võ Đình Tuấn, Viện Trưởng Viện Fitzpatrick/Đại học Duke, được Creator Synectics chọn là 1 trong 100 thiên tài thế giới. Tiến sĩ Huỳnh Mỹ Hằng là một trong 24 người nhận giải MacArthur Fellowship năm 2007 được gọi là “Genius Grants” (giải Thiên Tài) về các ngành khoa học, xã hội, nhân văn, nghệ thuật. ..v..v.. Trong quân đội Hoa Kỳ, nhiều sĩ quan giữ những chức vụ quan trọng như: Hạm trưởng hàng không mẫu hạm, Hạm trưởng tàu ngầm, Hạm Trưởng khu trục hạm, Tư lệnh Sư Đoàn và Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, phi công phản lực cơ chiến đấu Elizabeth Phạm, ..v..v... Nhìn chung, khối tài nguyên quí giá này tiếp tục được bổ sung trong dài lâu.
    Khối cử tri chúng ta tại các quê hương thứ hai ngày càng nhân lên, tùy thời gian không gian hoàn cảnh, lá phiếu chúng ta có ảnh hưởng vào chính trường, tuy chưa hoàn toàn như ý muốn nhưng chắc rằng sẽ trở thành nhân tố quan trọng trong chính trường. Thêm nữa, trong những năm gần đây, những giới chức gốc Việt trong cơ quan chánh quyền và các lãnh vực kinh doanh thương mãi, có khả năng trong vận động chính trị ủng hộ Cộng Đồng chúng ta về quyền lợi của Cộng Đồng, và ảnh hưởng phần nào trong chính sách đối với CSVN, nhất là tại cơ quan Lập Pháp từ trung ương xuống đến tiểu bang và thành phố. Nhìn chung, quyền lợi và cái “thế chính trị” của Cộng Đồng từng bước sẽ được bảo đảm hơn, và từ vị trí công dân các quê hương thứ hai giúp cho cuộc đấu tranh của chúng ta sẽ hiệu quả hơn.

    (C-3) Với khối tài chánh quan trọng.
    Từ những bàn tay trắng khi chạy trốn khỏi chế độ độc tài tàn bạo trên quê hương, ngày nay khả năng kinh tế tài chánh của Cộng Đồng Việt Nam tị nạn tại hải ngoại ngày càng lớn mạnh thể hiện bởi:
    Khối mỹ kim do bà con gởi về Việt Nam giúp thân nhân hằng năm như sau: Năm 1991; 35 triệu. Năm 1995; 285 triệu. Năm 2000; 1 tỷ 700 triệu. Năm 2002; 2 tỷ 100 triệu. Năm 2004; 3 tỷ mỹ kim. Năm 2007; 7 tỷ 800 triệu. Những con số trên đây là của từng năm chớ không phải gộp lại của các năm trước. Theo tài liệu thì khoảng 70% lượng tiền trên đây chuyển qua hệ thống ngân hàng, tỷ lệ này có khuynh hướng ngày càng giảm, trong khi lượng tiền chuyển về Việt Nam qua các công ty có khuynh hướng ngày càng tăng. Với lại còn một khối lượng mỹ kim khác do khoảng 250.000 đến 300.000 người hằng năm mang theo khi về Việt Nam thăm thân nhân. Nếu tạm chấp nhận trung bình mỗi người về Việt Nam chi tiêu 300 mỹ kim, thì con số đó sẽ là 90 triệu mỹ kim. Nhìn chung qua những con số mà tôi có được từng năm kể từ năm 1991 đến cuối năm 2007, thì lượng tiền mà bà con trong Cộng Đồng tị nạn tại hải ngoại gởi về Việt Nam lên đến 25 tỷ 431 triệu mỹ kim.
    Sự lớn mạnh về kinh tế của riêng Cộng Đồng Việt Nam tị nạn tại Hoa Kỳ theo thống kê năm 2000 như sau: Về cơ sở kinh doanh sản xuất và dịch vụ do người Việt Nam làm chủ: Năm 1982, trên toàn liên bang có 4.989 cơ sở với doanh thu hằng năm là 215 triệu mỹ kim. Năm 1987, Việt Nam làm chủ 25.671 cơ sở với doanh thu hằng năm là 1 tỷ 361 triệu mỹ kim. Năm 2000, Việt Nam làm chủ 97.784 cơ sở với doanh thu 6 tỷ 768 triệu mỹ kim. Và cũng tiêu biểu sự lớn mạnh của Cộng Đồng tị nạn tại Hoa Kỳ, theo thống kê năm 2000 lợi tức của 293.621 gia đình có 3 người trở lên vào khoảng 18.641.000.000 (18 tỷ 641 triệu) mỹ kim, bao gồm: (1) 27.4% hay là 89.452 gia đình có lợi tức dưới 25.000 mỹ kim. Nếu chấp nhận trung bình 20.000 mỹ kim, thì 89.452 gia đình có lợi tức chung là 1 tỷ 789 triệu. (2) 27.2% hay là 79.864 gia đình có lợi tức từ 25.000 đến dưới 50.000 MK. Nếu chấp nhận trung bình 35.000 mỹ kim, thì 79.864 gia đình có lợi tức chung là 2 tỷ 795 triệu. (3) 31.3% hay là 91.903 gia đình có lợi tức từ 50.000 đến dưới 100.000 MK. Nếu chấp nhận trung bình 75.000 MK, thì 91.903 gia đình có lợi tức chung là 6 tỷ 892 triệu. (4) 12.3% hay là 36.115 gia đình có lợi tức từ 100.000 đến dưới 200.00 MK. Nếu chấp nhận trung bình 150.000 MK, thì 36.115 gia đình có lợi tức chung là 5 tỷ 417 triệu. (5) 1.8% hay là 5.825 gia đình có lợi tức từ 200.000 MK trở lên. Nếu chấp nhận trung bình 300.000 MK, thì 5.825 gia đình có lợi tức chung là 1 tỷ 747 triệu.

    Trên đây chỉ ước tính 80.5% trong tổng số 1.122.528 người sống trong 293.621 đơn vị gia cư từ 3 người trở lên, như vậy còn lại 19.5% hay là 218.892 người sống trong chung cư hoặc trong những căn phòng hay thuê phòng trong những nhà riêng, tạm gọi là “tiểu gia cư” một người hay hai người. Nếu sử dụng lợi tức tối thiểu “đầu người hằng năm” ngang bằng số trợ cấp an sinh xã hội của chánh phủ liên bang tính tròn 6,000 mỹ kim, chúng ta có lợi tức chung của 218.892 người là 1 tỷ 313 triệu mỹ kim. Một cách tổng quát, nếu chúng ta gộp chung lợi tức của gần 300 ngàn gia đình (18 tỷ 641 triệu), và lợi tức của những người sống riêng lẽ hoặc trong gia đình 2 người (1 tỷ 313 triệu), thì lợi tức của Cộng Đồng Việt Nam chúng ta tại Hoa Kỳ trong năm 2000 vào khoảng 20 tỷ mỹ kim (tính theo số tròn). Từ con số này, ước tính một cách tổng quát về tổng lợi tức của Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn tại Hải Ngoại trong năm 2008 có thể lên đến hơn 30 tỷ mỹ kim. Khối tài chánh tuy chưa phải lớn lao so với các Cộng Đồng Trung Hoa, Do Thái, Ấn Độ, hay Phi Luật Tân, nhưng so với nhu cầu trong nước, chúng ta có khả năng đóng góp quan trọng vào mục tiêu phát triển quốc gia sau khi cộng sản độc tài sụp đổ.

    (C-4) Với trận chiến dựng lại quốc kỳ.
    Tại Hoa Kỳ, bắt đầu ngày 19/2/2003 với thành phố Westminster (California), từ đó đến ngày 15/3/2009, đã được 112 cơ quan hành chánh ban hành văn kiện công nhận quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ là biểu tượng tự do của Cộng Đồng chúng ta, gồm: 15 tiểu bang + 7 Quận Hạt (Counties) + 90 Thành Phố. (Danh sách các tiểu bang theo mẫu tự: California, Colorado, Florida, Georgia, Louisiana, Michigan, Minnesota, New Jersey, Nebraska, Ohio, Oklahoma, Oregon, Texas, Utah, và Virginia. Riêng tiểu bang Louisiana và Ohio công nhận bằng Luật. Cộng Đồng chúng ta còn non trẻ so với các cộng đồng bạn dài lâu trên đất Mỹ, nhưng đặc biệt là Cộng Đồng chúng ta có quốc kỳ riêng sử dụng thích hợp trong từng trường hợp. Trên thế giới, hầu như chưa có trường hợp chế độ nào sụp đổ mà quốc kỳ đó vẫn tồn tại trên các quê hương thứ hai như trường hợp Cộng Đồng chúng ta.

    (C-5) Với bia và đài tưởng niệm.
    Song song với nỗ lực vận động cho “Trận Chiến Dựng Lại Quốc Kỳ”, đến đầu năm 2009, Cộng Đồng chúng ta khắp nơi đã đặt Bia Tưởng Niệm và dựng Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ, Tưởng Niệm Thuyền Nhân, sau đây: (1) Australia, tại các thành phố Fairfield (NSW), Perth (West Australia), Melbourne và Dandenong (Victoria), Brisbane (Queensland), và Adelaide (S. Australia). (2) Bỉ, tại thành phố Liège. (3) Canada, tại thủ đô Otttawa và thành phố Montréal. (4) Germany, tại thành phố Hamburg và Troisdorf. (5) Hoa Kỳ, tại các thành phố Westminster (California), Houston (Texas), West Valley (Utah), Saint Cloud (Minnesota), Honolulu (Hawaii), Fayetteville (North Carolina). (6) Indonesia, trênđảo Galang. (7) Malaysia, trên đảo Bidon. (8) Và Thụy Sĩ, tại Genève.

    (C-6) Với hỗ trợ lực lượng dân chủ trong nước.

    Từ bản chất độc tài tàn bạo, những chính sách cai trị của CSVN tạo cho mọi người trong xã hội xã hội chủ nghĩa thường xuyên sống trong nỗi sợ hãi để phục tùng họ, nhưng sự lớn mạnh của Cộng Đồng chúng ta về các mặt kể cả những hình thức chống đối CSVN đến mức lãnh đạo cao cấp nhất của họ cũng không dám đối mặt với Cộng Đồng, đã góp phần quan trọng cho lực lượng dân chủ trong nước từng bước hình thành, và thật sự có ý nghĩa khi lực lượng này chánh thức tuyên bố thành lập tại Hà Nội và Sài Gòn ngày 8 tháng 4 năm 2006, gọi tắt là “Khối 8406”.

    Đồng hành với “Khối 8406” là “Khối Dân Oan” cũng đứng lên từ các địa phương bị lãnh đạo của họ sử dụng mọi hình thức gian trá trấn lột cướp đoạt đất đai vườn ruộng, đã từng đoàn từng đoàn kéo đến các cơ quan ở Sài Gòn và Hà Nội vì bị cấp tỉnh cấp thành phố trấn áp. Nhưng rồi các cơ quan cao cấp ở Sài Gòn và Hà Nội giải quyết bằng cách giao cho Công An lùa, đẩy, và khiêng dân oan lên từng đoàn xe đưa về các địa phương sau khi bắt những người mà họ cho là “cầm đầu chống đối”. Không có gì phải ngạc nhiên cách hành sử của lãnh đạo CSVN, vì tất cả họ trong một hệ thống tham nhũng từ trên “đỉnh cao trí tuệ” len vào mọi ngóc ngách sinh hoạt xã hội xuống đến tận cùng hàng hàng lớp lớp “viên chức đầy tớ” của dân.
    Chưa hết, CSVN gần như thẳng tay đàn áp bắt giam, bỏ tù, quản chề các vị lãnh đạo và tín đố của Phật Giáo Thống Nhất, Thiên Chúa, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo. Tuy các giáo hội không cùng lúc cùng nơi cũng không cùng phương cách phản kháng, nhưng sức phản kháng CSVN mạnh mẽ không kém gì nhau.
    Với thế mạnh của Cộng Đồng đối với CSVN, chúng ta đã và đang hỗ trợ lực lượng dân chủ trong nước bằng những cách khác nhau: (1) Chuyển các tin tức quốc nội và quốc tế về Việt Nam cho lực lượng dân chủ, các cá nhân, cho các lãnh đạo CSVN trong đảng, nhà nước, quân đội, công an, nhất là những tin liên quan đến tội ác của CSVN trên quê hương, vì truyền thông trong nước bị cấm loan các loại tin mà CSVN gọi là “phương hại đến ổn định xã hội” hoặc loại tin “gây mất đoàn kết nội bộ”. (2) Ủng hộ lực lượng dân chủ, ủng hộ các giáo hội ngoài quốc doanh, ủng hộ dân oan, và ủng hộ bất cứ ai kể cả đảng viên cộng sản, có lời nói hay hành động phản kháng CSVN trong mọi hành động đàn áp các công dân thực hiện những quyền mà Hiến Pháp (CSVN) qui định. (3) Vận động Liên Hiệp Châu Âu, Hoa Kỳ, Canada,

    Australia, ..v..v.., lên án CSVN vi phạm nhân quyền kể cả buôn bán thanh niên nam nữ ra ngoại quốc làm nô lệ dưới dạng “môi giới lao động”, vi phạm Hiến Pháp của chính họ. (4) Và các cách ủng hộ khác.

    3. Sự thất bại của lãnh đạo CSVN.

    Nhớ lại, từ sau ngày 30/4/1975, người dân Việt Nam Cộng Ḥòa cũ bị khủng bố đàn áp bằng mọi cách khác nhau đến mức không thể sống nỗi, nên tự động lần lượt rồi ào ạt vượt lên cái chết đi tìm tự do bằng vượt biên vượt biển, lúc ấy CSVN gọi chúng ta là bọn ngụy quân ngụy quyền, bọn phản quốc vong quốc, bọn đĩ điếm, bọn lưu manh rác rưởi xã hội, ..v..v.. Nghĩa là CSVN dùng bất chữ nghĩa nào tồi tệ hơn hết trong ngôn ngữ hàng tôm hàng cá để chửi rủa nhục mạ chúng ta. Từ giữa thập niên 80 khi lãnh đạo CSVN thấy Cộng Đồng chúng ta tạo dựng được những cơ sở kinh doanh thương mại, có tiền gởi về giúp thân nhân bạn bè bằng hữu trên quê hương. Lúc ấy CSVN tìm cách khai thác nguồn tài chánh từ Cộng Đồng Tị Nạn Hải Ngoại nên hạ giọng gọi chúng ta là Việt kiều yêu nước. Kế tiếp, CSVN nâng công tác Kiều Vận lên thành chính sách và trực thuộc trung ương với hai tổ chức: (2) Ủy Ban Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài do Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Đình Bin làm Chủ Nhiệm, nhắm vào Cộng Đồng Tị Nạn chúng ta. (2) Và Ủy Ban Vận Động Thành Lập Hội Liên Lạc Người Việt Nam Ở Nước Ngoài do tiến sĩ Nguyễn Văn Đạo, Giám Đốc trường đại học tổng hợp Hà Nội làm Trưởng Ban, nhắm vào thân nhân của Cộng Đồng Tị Nạn đang sống trên quê hương, để áp lực chúng ta. Cùng lúc, CSVN lại hạ giọng thêm nữa để gọi chúng ta là “khúc ruột ly hương ngàn dặm”. Nhưng chính sách đó vẫn thất bại.
    Theo thời gian, CSVN thấy Cộng Đồng chúng ta ngày càng lớn mạnh các mặt, đồng thời với những hoạt động chính trị chống chế độ độc tài của họ ngày càng phát triển, một lần nữa họ nâng chính sách Kiều Vận lên hàng quốc sách với Nghị Quyết 36 ngày 26/3/2004, qui định một chính sách toàn diện nhắm vào Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn tại hải ngoại mà họ gọi là những người Việt Nam ở nước ngoài. Quốc sách này được hỗ trợ tài chánh do “Quỹ Hỗ Trợ & Vận Động Người Việt Nam Ở Nước Ngoài” thành lập trước đó một năm (ngày 25/4/2003) tại Bộ Ngoại Giao ở Hà Nội. Vậy là CSVN chánh thức mở “mặt trận chính qui”, vừa đánh vào Cộng Đồng chúng ta trên toàn thế giới mà mục tiêu chính là Cộng Đồng tại Hoa Kỳ, vừa tìm mọi phương cách lôi cuốn những cá nhân trong Cộng Đồng chúng ta mang tiền và kỹ thuật về Việt Nam kinh doanh giúp họ giàu sang và tồn tại. Lúc này nhóm “đỉnh cao trí tuệ” lại hạ giọng thấp xuống nữa để gọi chúng ta là “bộ phận không thể tách rời cộng đồng dân tộc”.

    Nghị Quyết 36 chẳng khác một một lệnh tổng tấn công Cộng Đồng chúng ta với 3 điểm căn bản sau đây: (1) Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời, và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước ta với các nước. (2) Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân. Các tổ chức đảng, nhà nước, và các đoàn thể nhân dân, các ngành các cấp từ trung ương đến địa phương, ở trong nước và ngoài nước, và toàn dân ta cần coi đây là một nhiệm vụ quan trọng nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. (3) Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, cần mang tính đồng bộ, kết hợp việc xây dựng cơ chế chính sách với công tác vận động, kết hợp các hoạt động trong nước với các hoạt động ở ngoài nước, và phải được tiến hành thông qua nhiều loại hình hoạt động và biện pháp phù hợp với các đối tượng và địa bàn khác nhau, trên cơ sở tự nguyện và không trái pháp luật, phong tục, tập quán của nước sở tại. Từ 3 điểm đó, nội dung NQ 36 vạch ra 7 mục tiêu tấn công Cộng Đồng chúng ta, và 2 mục tiêu sau cùng ra lệnh cho đảng, tình báo, ngoại giao, công an, quân đội, tới toàn dân thi hành. Nhưng thật ra CSVN không dám xuất hiện mà họ dùng đồng tiền, cũng có thể có cả nquyền lợi ảo về chính trị, để thúc đẫy những tên tay sai của họ trong Cộng Đồng chúng ta thực hiện.
    Đúng. Trong những năm gần đây, một số tổ chức trong Cộng Đồng đã xảy ra những xáo trộn dẫn đến một số Hội Đoàn thành hai tổ chức. Điều dễ nhận ra là bàn tay của những tên tay sai CSVN và đồng tiến cũng từ CSVN, cộng với đám tuyên truyền xám Công An CSVN tung hỏa mù trên hệ thống thông tin toàn cầu (NET) nhắm vào những cá nhân những tổ chức chống cộng quyết liệt, dẫn đến trường hợp một số cá nhân và tổ chức chống cộng sản chống lại cá nhân và tổ chức chống cộng sản.

    Cũng đúng. Đúng là CSVN vẫn thất bại. Tuy Cộng Đồng chúng ta tùy nơi tùy hoàn cảnh có tình trạng nêu trên, nhưng rõ ràng là lãnh đạo trong “nhóm đỉnh cao trí tuệ” CSVN mỗi khi đặt chân đến Hoa Kỳ, đến Australia, đến Pháp, đến Đức, họ không thấy cờ máu nào của họ mà chỉ thấy rừng cờ vàng giữa rừng người với biểu ngữ phản đối họ vi phạm nhân quyền, nên rất sợ đối mặt với Cộng Đồng chúng ta. Điển hình tại Hoa Kỳ:

    - Ngày 22/6/2007, Nguyễn Minh Triết, Chủ Tịch nước Việt Nam cộng sản khi vào dinh Tổng Thống Hoa Kỳ, chẳng những không có đội quân danh dự, không một phát súng chào mừng, cũng không một âm thanh quân nhạc chào đón, chỉ được viên chức tòa Bạch Ốc lặng lẽ hướng dẫn vào cửa sau để gặp Tổng Thống Bush, vì công viên phía trước tràn ngập bởi bà con trong Cộng Đồng chúng ta từ các tiểu bang đổ về đây với rừng cờ vàng và rừng biểu ngữ phản đối CSVN vi phạm nhân quyền. Ông ta không dám đối mặt với Cộng Đồng chúng ta nên chịu nhục vào cửa hậu. Ngày hôm sau (23/6/2007), ông Triết cùng đoàn tùy tùng đến khách sạn Saint Regis Resort ở thành phố Dana Point, nhưng xe chở ông Triết không dám cắm cờ CSVN theo nghi thức ngoại giao, vì sợ rừng người tị nạn cộng sản “dàn chào” trước khách sạn biết ông ngồi trong xe đó mà phản ứng mạnh hơn.

    - Ngày 22/6/2008, Nguyễn Tấn Dũng, Thủ Tướng đảng CSVN đến Hoa Kỳ nhưng không dám xuống phi trường quốc tế vì Cộng Đồng chúng ta đã chuẩn bị “dàn chào” phản đối, mà đáp phi trường quân sự chỉ có nhóm người từ tòa đại sứ của họ đón. Ngày 26/6/2008, khi đến Houston dự hội thảo với nhóm doanh gia Hoa Kỳ trong khách sạn “The Westin Oaks” trên đường Westheimer, không thể vào cửa chánh vì Cộng Đồng chúng ta dày đặc với rừng cờ vàng và biểu ngữ phản đối, đoàn xe phải vòng qua đường S. Post Oaks vào khách sạn.
    Ngang qua hai đảng viên lãnh đạo trong Bộ Chính Trị nói trên đã chứng tỏ sự thất bại của lãnh đạo CSVN dù Nghị Quyết 36 do những tên tay sai len lõi đánh phá Cộng Đồng chúng ta. Rõ ràng là cấp lãnh đạo cao nhất của nhà nước VNCS đã không dám đối mặt với Cộng Đồng chúng ta thì làm gì khống chế được chúng ta.

    4. Kết luận.
    Với tội ác trong 10 năm gần đây của lãnh đạo VNCS không thể phũ nhận: (1) Năm 1999, bán 789 cây số vuông trên bộ cho THCS từ nợ vũ khí đạn dược xâm lăng VNCH. (2) Năm 2000, bán 11.362 cây số vuông trong vịnh Bắc Việt cho THCS với giá 2 tỷ mỹ kim. (3) Đầu tháng 12/2007, thỏa hiệp cho THCS sáp nhập quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa vào quận Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam. (4) Ngày 9 & 16/12/2007 tại Sài Gòn và Hà Nội, học sinh sinh viên mít tinh biểu tình phản đối THCS chiếm hai quần đảo nói trên của Việt Nam, bị hung thần Công An ngăn chận đe dọa. (5) Ngay trước ngày 14/9/2008, các thành phần xã hội phẫn uất hành động của THCS cũng như phản ứng nhẹ nhàng của VNCS, chuẩn bị mít tinh trước tòa đại sứ THCS ở Hà Nội phản đối THCS trưng dẫn văn kiện của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng gởi THCS vào ngày này 50 năm trước, lại bị đám “hung thần” Công An tại Hà Nội cũng như tại các địa phương thẳng tay ngăn chận bắt giữ những ai mà họ nghi sẽ tham gia mít tinh biểu tình. (6) Tháng 12/2008, do thỏa hiệp trước, THCS đưa hằng ngàn công nhân và lực lượng bảo vệ an ninh đến Dak Nong khai thác quặng bauxite, gây tác hại môi trường khu vực rộng lớn trên Cao Nguyên miền Trung, đã gây phẫn uất trong giới tướng lãnh về hưu cũng như tại chức ngang qua các thư gởi đến các cấp lãnh đạo của họ trong Bộ Chính Trị. (7) Theo tờ Tuổi Trẻ ngày 27/3/2009 tại Hà Nội, ký giả Cam Văn Kình với bài “Hằng vạn công nhân Trung Hoa đã vào Việt Nam”, dẫn lời ông Trần Ngọc Hùng, Chủ Tịch Tổng Hội Xây Dựng Việt Nam, thực tế hiện nay hầu hết các cuộc đấu thầu thực hiện các dự án lớn về điện, xi măng, hóa chất, đều vào tay nhà thầu Trung Hoa vì họ được chánh phủ họ nâng đỡ nhiều mặt nên giá thầu giảm. Nhà thầu Trung Hoa đưa sang Việt Nam hằng mấy ngàn công nhân với các loại máy móc và thực phẩm mà họ không mua bất cứ thứ gì Việt Nam có. Ngoài tai hại về môi trường và kinh tế, liệu rồi đây sẽ có những làng mạc của Trung Hoa ngay bên trong lãnh thổ Việt Nam, và phải chăng đây là chiến lược cài người của lãnh đạo CSTH, rồi theo vết dầu loang tiến đến đồng hóa dân tộc Việt Nam vào Trung Hoa mà không tốn một viên đạn, không tốn một mạng người, cũng chẳng nhỏ một giọt mồ hôi, chỉ cần họ nhép miệng ra lệnh cho lãnh đạo CSVN thi hành, và nhón tay ký vào thỏa ước hợp pháp hóa là xong?

    Dù thế nào đi nữa, chỉ riêng 7 tội ác trên đây đang gây phẫn uất trong các thành phần xã hội, người dân “lương cũng như giáo”, sinh viên học sinh, lực lượng đấu tranh dân chủ trong nước, thành phần đảng viên về hưu và cả tại chức, qua những cách khác nhau đã cho thấy người dân không còn sợ hãi đảng với nhà nước như trước kia nữa. Thoạt nghe có chút tàn nhẫn, nhưng thật sự khi lãnh đạo CSVN càng lún sâu vào tội ác với dân với nước, nhất là càng lệ thuộc vào CSTH, chế độ độc tài này càng sớm đến ngày sụp đổ vì khi nỗi phẫn uât đến tột cùng chính là lúc người dân đứng dậy lật đổ chúng. Không loại trừ một thành phần quân đội cộng sản sẽ cùng hàng ngũ với người dân, vì lãnh đạo của họ lệ thuộc cộng sản Trung Hoa đến mức cắt đất xén biểncho CSTH mà họ là thành phần có trách nhiệm bảo vệ.

    Vì vậy, Cộng Đồng chúng ta hãy nhiệt tình hơn nữa trong nỗ lực chống CSVN và những tên tay sai của chúng ngay trong Cộng Đồng, cùng lúc tiếp tục hỗ trợ các lực lượng dân chủ trong nước và hỗ trợ tinh thần dân oan khiếu nại giành lại tài sản của họ bị các lãnh đạo địa phương cướp đoạt. Đặc biệt liên tục chuyển những tin về tội ác của CSVN nhất là tình trạng lệ thuộc CSTH về trong nước gồm các thành phần trong xã hội, và những tin tức thế giới liên quan đến Việt Nam vi phạm nhân quyền, giúp các thành phần này hiểu được những sự thật mà truyền thông của CSVN che giấu. Đây là cách góp phần quan trọng vào công cuộc lật đổ chế độ độc tài toàn trị CSVN, vì lịch sử đã chứng minh người dân không được sử dụng lá phiếu với đầy đủ quyền chính trị của mình để chuyển hóa chế độ này, vì lãnh đạo CSVN không có người nào tử tế cả. Trong khi bối cảnh chính trị quốc tế ngày nay, không một chế độ độc tài nào lường trước được những đột biến đối với họ, điển hình rõ nhất là các quốc gia cộng sản đàn anh lớn và đàn anh nhỏ của CSVN vào đầu những năm 90 là Liên Bang Sô Viết sụp đổ, khối Đông Âu Ba Lan, Tiệp Khắc, Rumani, Hungary sụp đổ, bức tường Bá Linh sụp đổ, ..v..v... Và chế độ cộng sản tan rã do chính đồng bào của họ với hỗ trợ của thế giới tự do.

    Tôi nghĩ, mỗi người chúng ta tùy khả năng, hoàn cảnh, thời gian, không gian, đều có thể tham gia vào cuộc chiến này, như: Tham gia sinh hoạt trong tổ chức Cộng Đồng, sinh hoạt Hội Đoàn nào đó hay tổ chức đấu tranh, nhẹ nhàng và thuận tiện hơn hết là giúp các cháu nói tiếng Việt, giải thích cho con cháu biết về quê hương Việt Nam, một cách tồng quát về lịch sử Việt Nam, nguyên nhân ông bà cha mẹ các cháu có mặt tại hải ngoại, giúp các cháu tham gia lễ hội Việt Nam để các cháu có cơ hội nhìn thấy, nhận biết một hình ảnh văn hoá Việt, cùng lúc làm quen với các bạn trang lứa. Nếu được, khuyến khích các cháu tham gia sinh hoạt Hướng Đạo, sinh hoạt trong tổ chức tôn giáo dành cho tuổi trẻ. Xa chút nữa, khuyến khích các cháu tham gia sinh hoạt trong tổ chức sinh viên khi các cháu vào đại học dù chỉ sinh hoạt trong phạm vi văn hoá xã hội. Vì tất cả đều là góp phần vào cuộc chiến chống cộng sản Việt Nam độc tài.

    Tôi nghĩ, chúng ta có đủ lý lẽ để vững tin vào mục đích cùng hướng đi, để tiếp tục phát triển cuộc đấu tranh của Cộng Đồng chúng ta hơn nữa, đó là cách hỗ trợ mạnh mẽ lực lượng dân chủ trong nước góp phần quan trọng vào sự sụp đổ của cộng sản Việt Nam độc tài toàn trị, khi mà sự phẫn uất của người dân đến mức tột cùng, đó là lúc mục tiêu góp phần dân chủ hóa chế độ chính trị trên quê hương Việt Nam của Cộng Đồng chúng ta đạt được, rồi cùng nhau vá lại quê hương gấm vóc đã bị lãnh đạo CSVN “xé rách lởm chởm!”

    Houston, tháng 4 năm 2009
    Phạm-Bá-Hoa.
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  20. #100
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    NGÀY 30 THÁNG 4 - TÂM BÚT CỦA TRẦN TRUNG ĐẠO

    Đối với người Việt Tự Do, ngày 30 tháng 4 mang nhiều ý nghĩa. Trên bình diện lịch sử ngày 30 tháng 4 là một ngày đen.

    Ngày những chiếc tăng T54 do Liên-Xô chế tạo nghiền nát đường phố Sài Gòn thân yêu rợp bóng me xanh. Ngày những chiếc trực thăng cất cánh từ sân thượng của những cao ốc. Ngày có những tiếng loa phóng thanh ra lịnh các cấp chính quyền miền Nam tập trung, trình diện vang lên trên đường phố. Ngày với những tiếng hát cao the thé của những nữ văn công miền Bắc vọng ra từ đài phát thanh vừa rơi vào tay Cộng Sản.

    Ngày những Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ, Lê Văn Hưng, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Văn Long và bao nhiêu người con yêu khác của mẹ VN đã dò theo bước chân của Trần Bình Trọng, Hoàng Diệu, Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương mà lần lượt ra đi.

    Trong bình diện xã hội, 30 tháng 4 là ngày điêu tàn tang tóc. Mẹ mất cha, anh xa em, vợ lạc chồng, những đứa trẻ mồ côi lạc loài trên đường phố, nước mắt ai rơi trên bờ biển, tiếng khóc thét của em bé vừa sinh ra trên những chuyến hải hành vội vã trong đói khát, lo âu, tuyệt vọng. Trong bình diện đấu tranh 30 tháng 4 là ngày quốc kháng. Ngày khởi điểm cho một mặt trận mới vì nhân quyền, tự do và dân chủ. Dù gọi 30 tháng 4 là ngày quốc hận, quốc nạn, quốc kháng hay là ngày gì đi nữa, thì trong tâm tư của mỗi người miền Nam sống trong ngày tháng đó vẫn là một tâm tư hãi hùng, lo sợ, bàng hoàng và đau xót.

    Tất cả hình ảnh đó dường như đang xảy ra trong phút giây chúng ta đang thở. Tiếng súng như vẫn còn nghe. Ngọn lửa như vẫn còn đang nóng.

    Thế nhưng đã là 32 năm. Đứa bé nằm trên bụng mẹ ngậm núm vú lạnh tanh không còn một giọt sữa mà không biết mẹ mình đã chết từ lâu, trong một bức ảnh đăng trong một tờ báo Mỹ, nay đã hơn 30 tuổi. Và chúng ta, những người VN may mắn còn sống sót, vẫn như em bé kia, đang ngậm nỗi buồn nơi đất khách.

    Dù tự an ủi bằng bao nhiêu bài thơ, bài hát chuyên chở niềm tin và hy vọng, bao nhiêu tuyên ngôn, tuyên cáo khẳng định lập trường, thì giấc mơ VN về một buổi sáng đẹp trời cho dân tộc vẫn còn là một giấc mơ thôi. Ba mươi hai năm qua đi. Thế giới đã đổi thay nhanh chóng. Cuộc vận hành của lịch sử văn minh con người không chạy bằng những chuyến tàu điện nhưng đã chuyển sang thời kỳ của những máy bay siêu tốc. Tín hiệu Morse đã được chính thức thành lịch sử. Ông Denis Tito đã mua vé đi du lich trong quỹ đạo trái đất và trở về bình an. Ông Nelson Mandela đã ra khỏi tù và đưa đất nước ông vững tiến trên con đường dân chủ. Anh Ismail Darramy cụt hai tay của xứ Sierra Leon đã cười tươi vì được quyền bỏ phiếu. Những đồ dùng chúng ta đang xử dụng trong nhà từ chiếc máy điện toán, chiếc microwave, DVD v.v. đều không có ba mươi năm trước, hay nếu có, cũng chỉ trong phòng thí nghiệm. Nói chung, tiến bộ và văn minh nhân loại đã bước một bước rất dài.

    Nhìn lại đất nước VN, trong mọi lãnh vực, sau 32 năm chẳng những không bước thêm một bước nào; trái lại, về kinh tế, chính trị, đã lùi xa hơn vào quá khứ, và văn hóa đạo đức thì đang trở về gần với thời sơ khai nô lệ, nghĩa là thời kỳ mọi của cải đều có thể mua bán, trao đổi, kể cả mua bán, trao đổi chính con người. Và do đó, vấn nạn lớn nhất mà dân tộc VN đang phải đối diện hiện nay là lạc hậu về kinh tế chính trị và lạc hậu về văn hóa tư tưởng.

    Khi nhận xét rằng VN lạc hậu kinh tế, không ít độc giả trong nước chưa có dịp tiếp xúc và so sánh giữa tiến bộ của thế giới và thay đổi tại VN, có thể không đồng ý với tôi. VN có cao ốc mới, khách sạn mới, cầu mới, đường mới, xe mới, nhà mới, số lượng du khách ngày càng tăng. Vâng, không ai chối cãi điều đó. Thế nhưng, trong một nền kinh tế thế giới đang toàn cầu hóa, mức độ phát triển của một quốc gia được xác định không phải bằng các chỉ tiêu riêng của từng quốc gia nhưng bằng sự so sánh với các quốc gia trong cùng khu vực, cũng như trong tương quan kinh tế thế giới. So sánh với đà phát triển của nhân loại, ba mươi hai năm, nền kinh tế VN như người bộ hành già nua đang đếm từng bước thầm trên xa lộ tân thời. Hãy nhìn bầy kiến cõng những hạt gạo nhỏ li ti kia, nếu chúng cõng liên tục ba mươi năm cũng có thể tạo nên một cao ốc đừng nói chi con người. Câu khẩu hiệu "Với sức người sỏi đá cũng thành cơm" không phải nói lên sự cố gắng nhưng phản ảnh sự lạc hậu về kỹ thuật, và cũng tố cáo bản chất bất nhân, tàn nhẫn của một giai cấp thống trị đối với nhân dân VN.

    Ba mươi hai năm qua, nếu không có nhiều tỉ đô-la hàng năm gởi về từ những người một thời đã bị chế độ nguyền rủa, trù ẻo để bị chết trôi, chết chìm trên biển Đông thì nền kinh tế VN còn tệ hại đến mức nào. Hai triệu người Việt hải ngoại gởi tiền về để giúp đỡ gia đình, bà con, thân thuộc, trại mồ côi, trại cùi bởi vì họ là những người đã được nuôi dưỡng bằng những lời ru đậm đà tình thương của mẹ, bằng những câu ca dao chan chứa tình đồng bào "Lá lành đùm lá rách", "Chị ngã em nâng". Nếu họ được giáo dục bằng hận thù giai cấp, bằng sắc máu đấu tranh như những người Cộng Sản thì nền kinh tế VN ngày nay có thể vẫn còn đứng đầu bảng xếp hạng các quốc gia nghèo đói hàng năm của Liên Hiệp Quốc.

    Khi nhắc đến những đổi thay kinh tế tại VN, một yếu tố quan trọng khác cũng cần lưu ý là những cái mới đó thuộc về ai. Hãy bước ra đường hỏi người lái chiếc xe Nhật đắt tiền kia ông là ai, bà là ai. Hãy bước vào một cao ốc hỏi ông chủ khách sạn năm sao nguy nga tráng lệ kia, trong điều kiện xã hội chủ nghĩa thì tiền ở đâu ông có để xây một khách sạn nhiều tầng như thế.

    Hãy bước vào nhà ông Chủ Tịch Huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên hỏi rằng với đồng lương của cán bộ cấp thấp như ông, thì mấy chiếc xe tải và đàn bò mấy chục con của ông từ đâu tới. Hãy bước vào trụ sở Hội Đồng Bộ Trưởng để hỏi các ông bà ủy Viên Trung Ương Đảng, Bộ Trưởng, với cấp số lương Bộ Trưởng mà Chủ Tịch Quốc Hội Cộng Sản Nguyễn Văn An than thở "Lãnh đạo VN là những người nghèo nhất" thì làm sao các ông, các bà có dư hàng trăm ngàn đô-la để lo cho con sang Mỹ học. Sẽ không ai trả lời. Đơn giản bởi vì chẳng một kẻ cướp nào muốn thừa nhận mình là cướp, nhất là cướp từ những người cùng khổ nhất trong xã hội. Tương tự, hãy đi bờ sông Thu Bồn, sông Trà Khúc và hỏi những người đang đào hến, họ đã đào như thế bao nhiêu năm rồi. Hãy bước vào chợ Bến Thành hỏi những đứa bé đang lượm từng con cá ươn trong buổi chợ chiều, cha mẹ em đâu, nhà cửa em đâu, trường học em đâu. Hãy lên bịnh viện Chợ Rẫy hỏi những bà mẹ đang sắp hàng chờ bán máu, trong ba mươi hai năm qua, bà đã bao nhiêu lần bán máu. Hãy bước ra đường hỏi người phu đang cong chiếc lưng hốt từng đống rác, bao nhiêu chiếc chổi đời đã quét xuống lưng ông.

    Hãy vào những con hẻm tối hỏi các em thanh niên nam nữ tuổi hai mươi đang bán á-phiện, ma túy, làm điếm trên những công viên tăm tối hay đang tự giết đời mình bằng những cuộc đua xe bạt mạng trên đường phố, hoài bão của các em về cuộc sống hôm qua, hôm nay và mai sau rồi sẽ ra sao. Họ có thể cũng không trả lời; không phải họ không muốn nói, nhưng như một Mục Sư làm công tác thiện nguyện tại VN đã viết: "Tuổi trẻ VN ngày nay không biết định nghĩa của hai chữ hoài bão là gì". Một dân tộc mà thế hệ hai mươi không có một hoài bão cho đời mình, dân tộc đó sẽ đi về đâu ? Một dân tộc với 65 phần trăm tuổi trẻ nhưng không có một cơ hội để tiến thân, sống trong hoang phí, sống như những tử tù đang chờ chết thì tương lai của họ sẽ về dầu Muốn biết đất nước về đâu, hãy nhìn thẳng vào đôi mắt sâu chứa đầy nỗi lo âu, chiếc lưng đầy vết sẹo, bàn tay còn hàng trăm dấu chích của họ để qua đó đọc được cả quá khứ lẫn tương lai của một đất nước. Đất nước của họ không phải là bài ca anh hùng đánh thắng bao nhiêu đế quốc nhưng là một địa ngục đày đọa kiếp con người mấy chục năm qua.

    Số lượng du khách đến VN ngày một đông. Vâng. Hãy hỏi một người du khách, phải chăng bà đến đây vì long kính phục VN như một nhà thơ phản chiến Thụy Điển, đã từng viết trong thời kỳ chiến tranh: "Tôi mơ sáng mai thức dậy biến thành người VN", hay chỉ vì VN là một nơi hưởng thụ rẻ nhất Á Châu. Hãy hỏi ông du khách phải chăng ông đến VN để tìm hiểu một dân tộc có hơn bốn ngàn năm văn hiến hay là vì trên quê hương tôi giá trị đồng đô-la còn hấp dẫn hơn nhân cách con người. Hai chữ đầu tiên trên những tờ quảng cáo du lịch VN bao giờ cũng bắt đầu hai chữ Hấp Dẫn và Rẻ Tiền. Hấp dẫn và rẻ tiền chứ không phải nhân phẩm và lịch sử.

    Đúng thế. Phóng viên ký tên Tương Lai của báo tuổi trẻ trong bài viết "Nỗi Đau Từ Những Con Số", đăng vào sáng ngày mùng Một Tết vừa qua, mô tả số phận của 65 ngàn phụ nữ VN đang sống với những ông chồng già Đài Loan, bất đồng ngôn ngữ, tuổi tác, học vấn. Họ bỏ gia đình và quê hương đi làm tôi mọi cho ngoại nhân, chỉ vì một vài trăm đô-la. Ngoại trừ VN, có lẽ không có nơi nào trên thế giới, chính phủ lại cho phép mua bán đàn bà, con gái một cách công khai như thế.

    Ngoại trừ VN, có lẽ không một quốc gia nào có một bà Bộ Trưởng Lao Động Xã Hội và Thương Binh Nguyễn Thị Hằng miệng cười như hoa nở khi đặt bút ký hợp đồng xuất cảng lao động ra nước ngoài, thực chất là xuất cảng mồ hôi, máu, nước mắt và cả thể diện quốc gia.

    Phải chăng, sau 32 năm, những định nghĩa của phẩm cách con người cũng theo đà tiến lên chủ nghĩa xã hội mà thay dần ý nghĩa. Nhắc chuyện đạo đức, tôi chợt nhớ lại một đêm thật khuya của mười hai năm trước, ngồi đọc phóng sự của một nhà báo Mỹ viết về cảnh các cô gái VN vừa mới lớn đang hành nghề mãi dâm trên trên đại lộ Sri Ayuthaya, thủ đô Bankok, Thái Lan. Tôi buồn không ngủ được. Các em đều trong tuổi vị thành niên. Hầu hết chỉ mười sáu, mười bảy tuổi. Lẽ ra giờ này các em phải ngồi trong lớp học, học làm người phụ nữ VN, học chuyện thêu thùa, may vá, trông con và học cả chuyện yêu đương, đẹp như trăng khi tròn khi khuyết. Thế nhưng, nghèo đói đã xô đẩy em khỏi ngôi trường mà em yêu mến. Nghiệt ngã đã xua em ra khỏi vòng tay nuông chiều của mẹ. Lạc hậu đã xô em xuống giòng sông Chao Phraya nước đục quê người. Ngày đó tôi vẫn nghĩ hoàn cảnh như thế là đau thương và bi thảm nhất, như tôi đã viết trong bài thơ:

    Sau những lúc đau thương da thịt rã rời
    Em có khóc một mình trong bóng tối
    Mỗi giọt lệ sẽ mang màu sám hối
    Mỗi lời rên chôn giấu những ăn năn
    Tóc thu buồn như những sợi oan khiên
    Trói lấy cuộc đời em nghiệt ngã
    Về đâu em chiều nay trên đất lạ
    Về đâu em mưa gió phủ đầy sông
    Người con gái VN trên đại lộ Sri Ayuthaya
    Đang nhắm mắt nhìn đời trôi vô tận
    Lịch sử VN vinh nhục thăng trầm bao nhiêu bận
    Nhưng chưa bao giờ đen tối hơn hôm naỵ

    Ngày đó Internet chưa thịnh hành như bây giờ, nhưng cũng đã có nhiều khuynh hướng. Có anh chị thích bài thơ, nhưng cũng có người cho rằng tôi đã bi thảm hóa tình trạng VN chỉ nhằm mục đích tuyên truyền chống chế độ.

    Theo anh chị đó, đất nước đã chuyển mình sang thời kỳ mới, nghèo đói đã đi dần vào quá khứ, một tương lai tươi sáng đang mở ra, hãy để cho nhà nước một cơ hội thay cũ và đổi mới, v.v.và v.v. Mười hai năm sau, điều mà trước đây tôi bị gọi là đã làm "thảm hóa" thực trạng VN lại càng thê thảm hơn nhiều. Những cô gái 16, 17 tuổi đứng trên đường Sri Ayuthaya hay trên đường phố Nam Vang ngày nào, bây giờ không còn nữa. Các em đã về đâu giữa một thành phố, mà nơi đó, theo thống kê của cơ quan AIDS Liên Hiệp Quốc, UNAIDS, 44 phần trăm gái mãi dâm mang trong người bịnh AIDS. Các em hoặc đã chết trong một trại AIDS ở Bangkok, ở Chiang Mai, hay nếu may mắn sống sót trở về được quê hương cũng chỉ để lây lất ở một góc tối nào đó trong chuỗi ngày tàn tạ của đời mình. Chỗ của em đứng ngày xưa không phải vì em chết đi mà bỏ trống.

    Chiếc giường tre nơi em đã nằm chờ khách không phải vì em ra đi mà bỏ trống. Nơi em đứng năm xưa đã có một bàn chân khác vừa đứng đó. Trên manh chiếu em nằm đã có người con gái khác đang nằm. Bàn chân của kẻ đến sau nhỏ nhắn hơn em. Bàn tay như hai búp măng non của kẻ đến sau hồng hào xinh xắn hơn em. Đôi mắt của kẻ đến sau đen và tròn hơn đôi mắt của em. Thân hình của kẻ đến sau không lớn hơn thân hình của những con búp-bê Barbie đang bày trên giá của tiệm bán đồ chơi. Vâng, những kẻ đến sau chính là những Barbie VN. Nói như chị Nam Dao, chúng là những con búp-bê biết khóc tiếng người. Những kẻ đến sau chính là những cháu bé, lẽ ra giờ này đang ngồi trong trường mẫu giáo, học những bài hát tuổi thơ "Kìa con bướm vàng", "Ông trăng xuống chơi" thay vì những tiếng lóng "yum yum", "bom bom" nhục nhã. Nghe các cháu vừa cất giọng bằng tiếng Việt, tôi cảm thấy như đang một viên thuốc đắng vừa vỡ ra trong cổ mình.

    Tôi chỉ mong các cháu nói dùm tiếng Thái, tiếng Miên, tiếng Lào. Tôi biết mình nghĩ thế là ích kỷ nhưng vẫn hơn là tiếng Việt. Không, các cháu nói tiếng Việt. Đau xót, nhục nhã, bất hạnh đã không còn đủ nghĩa. Lâu lắm rồi tôi mới cảm thất mất bình tĩnh như thế.

    Tôi viết khá nhiều thơ về thực trạng VN, từ những bà mẹ chết trôi sông cho đến những trẻ thơ lạc loài trên vùng Kinh Tế Mới, nhưng tôi không đủ can đảm xem hết đọan phim phóng sự về nạn bán dâm tại Campuchia, đừng nói gì đến chuyện cầm bút viết một bài thơ hay một đoản văn. Tôi sẽ viết gì? Ngôn ngữ dù phong phú bao nhiêu cũng có giới hạn, nhưng sự tủi nhục khi nhìn một đứa bé VN 8 tuổi bán dâm đã vượt qua sức chịu đựng của tôi. Loài cầm thú còn biết chọn nơi, chọn tuổi đừng nói chi là con người. Khi bàn đến sự lạc hậu về tư tưởng tại VN, cũng có thể một số bạn trong nước cho rằng tôi xa nhà lâu năm nên không biết.

    VN có tư tưởng chứ. Tư tưởng Mác Lê-Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là những ngọn hải đăng của thời đại. Nhắc đến Mác, tôi chợt nhớ câu chuyện đọc trên báo cách đây không lâu nhân ngày sinh nhật 5 tháng 5 của Các Mác. Sáng ngày đó, một bản tin nhỏ được gởi đi từ nghĩa trang High Gates, nơi có ngôi mộ của triết gia Cộng Sản nàỵ Bản tin không phải trích lời chúc mừng sinh nhật Các Mác của một chủ tịch nước hay một tổng bí thư đảng Cộng Sản nhưng trích lời than thở của người quản lý 166 ngàn ngôi mộ, trong đó có Các Mác, chen chúc nhau trong nghĩa địa thuộc phía đông thành phố London, Anh Quốc. Trong bản tin, người quản lý nghĩa địa High Gates than phiền rằng ông không có một ngân khoản nào để mướn người cắt cỏ hoang trong nghĩa trang rộng 36 mẫu nàỵ Từ sau khi Liên Xô và hệ thống Cộng Sản thế giới sụp đổ không còn ai buồn thăm viếng Mác, và đương nhiên cũng không còn ai đóng góp tiền bạc để chăm sóc mộ Mác. Nghĩa trang High Gates tiêu điều và hoang vu đến nỗi một lần đã được chọn để làm ngoại cảnh cho một cuốn phim ma. Mặc dù nơi chon cất của Mác là nơi dựng phim kinh dị, câu chuyện về thiên đường Cộng Sản đã nhiều lần được viết thành hài kịch, chủ nghĩa Mác đã bị các phần lớn trường đại học thế giới loại bỏ khỏi giáo trình, thành phố Leningrad đã được đổi lại tên cũ Saint Petersburg, có một nơi vẫn còn con đường mang tên Mác, còn công viên mang tên Lênin, và những bài viết đấu tranh giai cấp đầy sắc máu hận thù của Mác, Lênin, Stalin vẫn được xem là kinh điển, vẫn mỗi ngày nhuộm đỏ lên tâm hồn trong như ngọc của tuổi thơ. Nơi đó là VN.

    Sau sự sụp đổ của hệ thống Cộng Sản thế giới, giới lãnh đạo Cộng Sản VN không còn chỗ dựa về mặt lý luận nên đã Việt hóa ý thức hệ Cộng Sản bằng việc thêm cụm từ tư tưởng Hồ Chí Minh sau khẩu hiệu chủ nghĩa Mác Lênin đã không còn dụ dổ được ai. Thật sự làm gì có tư tưởng Hồ Chí Minh, một người cả đời không viết được một tác phẩm lý luận hoàn chỉnh, ngoài tác phẩm Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch ký dưới tên Trần Dân Tiên.

    Hầu hết các tác phẩm gọi là của Hồ Chí Minh được phát hành tại VN luôn bắt đầu với chữ "Về", như "Về Độc Lập Dân Tộc", "Về Chủ Nghĩa Xã Hội". Đó là những lời phát biểu trong các buổi mít-tinh được chép lại. Khi gọi những bài nói chuyện, bài viết không đầu không đuôi của Hồ Chí Minh là tư tưởng độc lập của dân tộc VN, giới lãnh đạo Cộng Sản đã chứng tỏ sự khinh mạn đối với truyền thống lịch sử dân tộc. Ý thức độc lập tự do của dân tộc bắt đầu từ hơn bốn ngàn năm trước chứ không phải từ ngày thành lập đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930.

    Quyền tự chủ của dân tộc VN đã được Trưng Trắc, Trưng Nhị, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi và vô số anh hùng dân tộc khẳng định từ nhiều ngàn năm trước chứ không phải từ Hồ Chí Minh.

    Giới lãnh đạo Cộng Sản VN đã cướp đoạt không những chỉ tài nguyên của cải đất nước, mà cướp đoạt cả những giá trị tinh thần đã hun đúc nên giòng giống Đại Việt. Mười lăm năm sau ngày đế quốc Cộng Sản Liên Xô sụp đổ, trên đường phố Hà Nội vẫn còn treo khẩu hiệu "Chủ Nghĩa Mác-Lênin Vô Địch Muôn Năm" để mừng ngày đại hội đảng. Thật là chuyện mỉa mai, buồn cười và ngu xuẩn vượt thời gian. Nếu Jay Leno và David Letterman có dịp thăm viếng VN, hai danh hề này sau khi trở về, sẽ làm khán giả cười nghiêng ngửa với những mẫu chuyện có thực trong đời sống tại VN.

    Hiểu được điều này chúng ta sẽ thấy tại sao các thế hệ trẻ VN ngày nay không còn quan tâm đến trường học, không biết chọn một hướng đi cho đời mình. Làm sao các em có thể thấy hướng đi khi bị nhồi sọ bằng những lý thuyết viễn vông mà nhân loại đã xếp vào ngăn tủ từ bao nhiêu năm trước. Làm sao các em có thể thấy tương lai, hiểu được tình người, khi cả tuổi ấu thơ đến lúc trưởng thành bị nhào nặn bằng những tư tưởng hận thù giai cấp, bóc lột, đấu tranh. Tuổi trẻ VN thà chọn lựa những trò tiêu khiển hiểm nguy, chọn lựa đời sống ngoài khuôn thước hơn là phấn đấu để vào đoàn, vào đảng.

    Chúng ta đều biết đến thảm trạng tại VN nhưng ai sẽ là những người chịu trách nhiệm trước lịch sử và trước tòa án lương tâm của dân tộc VN sau nàỷ Đối với tuyệt đại đa số người Việt yêu chuộng tự do, câu trả lời rất dễ dàng. Thủ phạm đã gây ra những điêu linh tang tóc, nghèo nàn lạc hậu, làm mất nhân phẩm của người Việt, đầu độc các thệ trẻ VN, hủy diệt mọi mầm xanh đang cố gắng vươn lên của dân tộc, không ai khác hơn là giới lãnh đạo Đảng Cộng Sản VN.

    Điều đó không sai nhưng tôi vẫn cảm thấy chưa đủ. Một băng cướp ngân hàng không thể di chuyển hàng tỉ đô-la ra khỏi nhà băng nếu không có kẻ đưa đường, người dẫn lối, không có tay trong, tay ngoài, bao che, thờ ơ, dung túng.

    Tương tự, đảng Cộng Sản VN sau 32 năm vẫn còn tiếp tục trấn áp nhân dân VN bởi vì, ngoài nhà tù và sân bắn, họ cũng đã được dung túng, bao che, thờ ơ và thỏa hiệp. Và những người đã thờ ơ, dung túng cho Cộng Sản trong 32 năm qua không ai khác hơn là những người VN có quyền hạn tinh thần, có trách nhiệm xã hội, có kiến thức văn hóa, có lương tâm tôn giáo nhưng đã vì quyền lợi cá nhân, tổ chức, tôn giáo riêng mà làm ngơ trước đau thương của đất nước.

    Tôi thật sự không tin rằng nhà nước Cộng Sản sẽ bỏ tù Hòa Thượng Thích Chơn Thiện hay Linh Mục Nguyễn Công Danh nếu hai ngài đã từ chối không chịu ra ứng cử dân biểu quốc hội bù nhìn tại VN. Tôi thật sự không tin Cộng Sản VN dám kết án Hòa Thượng Thích Trí Tịnh hay Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã "âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân" nếu các ngài gióng lên tiếng nói bất bình trước cảnh những em bé 8 tuổi đã phải làm những việc vô cùng thương luân bại lý tại Campuchia. Cả nhân loại đều phẫn uất khi biết một em bé VN chỉ vỏn vẹn 8 tuổi đầu phải phục vụ nhu cầu sinh lý cho những người bằng tuổi cha, bằng tuổi ông của các cháu. Ký giả Chris Hansen lên tiếng.Bộ Trưởng Ngoại Giao Mỹ lên tiếng. Bộ trưởng Tư Pháp Mỹ lên tiếng. Liên Hiệp Quốc lên tiếng. Đức Giám Mục Agustinus Agus của Nam Dương lên tiếng. Nhưng các ngài thì không. Con biết các ngài có trọng trách đối với giáo hội mà các ngài đang lãnh đạo. Con biết mọi hành vi của các ngài có ảnh hưởng nghiêm trọng đối với tôn giáo mà các ngài đang dẫn dắt tại VN. Vâng, nhưng tôn giáo đó, giáo hội đó, tín đồ đó từ đâu mà có. Phải chăng đã bắt đầu từ những tiếng khóc, tiếng cười, trái tim, bàn tay, khối óc của một giống dân đã vượt qua bốn nghìn năm gian khổ để tạo thành dải đất thân thương hình cong chữ S hiện naỷ Phải chăng đã bắt đầu từ Cha Lạc Long, Mẹ Âu Cơ trong một đêm huyền diệu của đất trời và để lại 80 triệu người con, trong đó có các ngài, hiện diện cùng năm châu nhân loại như ngày naỷ. Trên con đường các ngài đi còn vọng lên tiếng kêu trầm thống của cả dân tộc chịu đựng khổ đau suốt 32 năm qua. Hạt gạo, hạt muối mà các ngài ăn là tích lũy của bao nhiêu hy sinh gian khổ mà dân tộc VN đã đổ xuống trong 32 năm qua. Tất cả đều từ Dân Tộc VN mà có. Các ngài có trách nhiệm với giáo hội của các ngài thì ai sẽ có trách nhiệm với đất nước đâỷ Các ngài quan tâm đến sự thịnh suy của tôn giáo các ngài, thì ai sẽ quan tâm đến sự thịnh suy của dân tộc VN đâỷ Phát triển tôn giáo là trách vụ của các bậc lãnh đạo tinh thần, vâng, nhưng trách vụ đó không nên và ngay cả không được quyền đi ngược lại quyền lợi sống còn và thiêng liêng của dân tộc VN.

    Hôm nay, những tiếng kêu của những con búp-bê VN biết khóc ở Campuchia vẫn như những viên sỏi nhỏ rơi vào biển cả, không tạo nên chút sóng lương tâm nào trong lòng những vị lãnh đạo tinh thần cao cấp nhất VN. Trong lời kinh đêm nay, ngoài việc cầu nguyện các đấng thiêng liêng để ban cho các ngài cuộc sống bình an, phò trợ cho tôn giáo của các ngài không ngừng phát triển, xin các ngài dành một lời cầu nguyện cho những đứa bé 8 tuổi bất hạnh kia được có cơ hội trở về với lớp học mẫu giáo của các cháu như hàng triệu trẻ thơ khác trên thế giới. Tôi không tin đảng Cộng Sản VN có thể đồng loạt bỏ tù hàng trăm nhà văn, nhà thơ một lúc nếu họ gióng lên tiếng nói ủng hộ nhà thơ Tiêu Dao Bảo Cự, ủng hộ nhà văn Dương Thu Hương, ủng hộ nhà trí thức phản kháng Hà Sĩ Phu.

    Tôi không tin rằng đảng Cộng Sản có thể bỏ tù tất cả trí thức VN vì dám lên tiếng chia xẻ quan điểm dân chủ của bác sĩ Phạm Hồng Sơn, luật sư Lê Chí Quang. Tôi không tin chế độ Cộng Sản VN bỏ tù tất cả những người cầm bút khi họ viết về cuộc sống khổ đau của hàng trăm ngàn phụ nữ VN trên đất Thái, Miên, Đài Loan, Nam Hàn. Cuộc đời họ là những tác phẩm, những vở kịch, những cuốn phim đau thương đang cần được viết lại, chiếu lại cho các thế hệ hôm nay để đọc, để xem và và cho ngàn đời sau để tránh. Im lặng là đồng lõa. Im lặng là dung túng. Nếu một nhà văn, nhà thơ không đủ can đảm nói lên sự thật, viết lên sự thật của xã hội mình đang sống thì liệu có xứng đáng để được gọi là "những phát ngôn nhân thời đại" hay không?

    Điều kiện chính trị ngày nay không giống như thời Nhân Văn Giai Phẩm. Để nhận được viện trợ của nước ngoài và được công nhận như một chính phủ trong cộng đồng thế giới, Cộng Sản VN buộc lòng phải tháo lỏng bớt chiếc dây thòng lọng trên cổ văn nghệ sĩ. Nhưng tiếc thay những nhà văn, nhà thơ sĩ khí thời nay lại cũng không nhiều như thời Nhân Văn Giai Phẩm. Một tiếng nói trung thực chưa kịp vang xa đã chìm vào im lặng. Một tác phẩm mang tinh thần cách mạng xã hội vừa ra đời đã bị thu hồi. Tác giả của chúng sau một chuyến được phép tham quan nước ngoài đã tự nguyện biến thành những con cừu non nằm yên trong một góc chuồng để được chờ chủ nhân sai bảo như xưa. Ngày 30 tháng 4, ngoài tất cả ý nghĩa mà chúng ta đã biết, với tôi, còn là ngày để mỗi chúng ta nhìn lại chính mình, ngày để mỗi chúng ta tự hỏi mình đã làm gì cho đất nước, và đang đứng đâu trong cuộc vận hành của lịch sử hôm naỵ Mỗi người VN có hoàn cảnh sống khác nhau, quá khứ khác nhau, tôn giáo khác nhau, bức xúc khác nhau và mang trên thân thể những thương tích khác nhau, nhưng chỉ có một đất nước để cùng lo gánh vác. Đất nước phải vượt qua những hố thẳm đói nghèo lạc hậu và đi lên cùng nhân loại. Không ai có quyền bắt đất nước phải đau nỗi đau của mình hay bắt đất nước phải đi ngược chiều kim lịch sử như mình đang đi lùi dần vào quá khứ.

    Sức mạnh của dân tộc VN không nằm trong tay thiểu số lãnh đạo đảng Cộng Sản VN. Tương lai dân tộc không nằm trong tay thiểu số lãnh đạo đảng Cộng Sản VN. Sinh mệnh dân tộc VN do chính nhân dân VN quyết đi.nh. Và do đó, con đường chung để đến một điểm hẹn lịch sử huy hoàng cho con cháu, chính là con đường dân tộc và không có một con đường nào khác.

    Trần Trung Đạo
    ___________
    Nguồn : MGP
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

Page 5 of 10 FirstFirst 12345678910 LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Vinh danh cờ vàng
    By BoBoTx in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 1
    Last Post: 02-24-2012, 11:57 AM
  2. úi chà chà VN lại được vinh danh tiếp :)
    By VietTaolao in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 8
    Last Post: 11-03-2009, 08:41 PM
  3. Vinh Danh, Tưởng Niệm và Tạ Ơn ai ?
    By Mokuradov in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 1
    Last Post: 04-26-2008, 10:26 AM
  4. Vinh danh ông Nam Lộc
    By banhtieu in forum Khoa Học Chính Trị ( Political Science )
    Replies: 5
    Last Post: 01-05-2008, 02:10 PM
  5. Vinh Danh
    By convitcon in forum CLB Hội Họa & Nhiếp Ảnh
    Replies: 1
    Last Post: 05-30-2007, 04:52 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •