Page 4 of 10 FirstFirst 12345678910 LastLast
Results 61 to 80 of 183

Thread: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

  
  1. #61
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    NGHỀ CHỤP MŨ –[4]

    Đinh Lâm Thanh

    Chụp mũ là thủ đoạn của cộng sản, hành động nầy là nghề nghiệp của các diệp viên, những tên cán bộ công an núp bóng trong hàng ngũ tỵ nạn. Những người quốc gia chân chính, đừng vì ganh ghét cá nhân, đừng vì một chút lợi lộc tiền bạc hay những lời hứa hẹn của địch mà nhắm mắt làm theo lệnh quan thầy, đánh lung tung người nầy đến người khác.

    Một khi Hà Nội chỉ thị phải đánh một người nào thì phải nghĩ rằng người đó là cái gai trước mặt mà chúng cần phải nhổ bỏ. Nếu đánh gục họ thì xem như một người quốc gia đã dùng vũ khí cộng sản đánh thẳng vào cộng đồng người Việt Tự Do ở hải ngoại.

    Việc vạch mặt chỉ tên những tên cộng sản nằm vùng phá hoại cộng đồng là một việc phải làm của tất cả mọi người. Nhất trong giai đoạn nầy để loại những phần tử đang ráo riết gây rối và phá hoại cộng đồng dưới nhiều lãnh vực. Nhưng tuyệt đối đừng nghe lời của những người có thành tích bất hảo, miệng chống cộng vung vít nhưng đàng sau chúng đưa tay nhận tiền bạc lợi lộc của kẻ thù để đội lên đầu những người chống cộng chân chính và nhiệt huyết những cái nón cối.

    Cần phải tìm hiểu, nghiên cứu thật chính xác về đời tư, quá trình hoạt động của hai đối tượng, người hành nghề chụp mũ cũng như nạn nhân để tránh việc xét đoán lầm người. Chỉ một hành động chuyền miệng rỉ tai bôi xấu một người nào đã là hành động của kẻ tiểu nhân, chưa kể đến những chuyện bày đặt buồn cười vô căn cứ thì chúng ta nên xét lại và ngăn chận kịp thời, tránh chuyện ‘tam sao thất bổn’ nhỏ biến thành lớn, chuyện ruồi bu thành vấn đề quan trọng.

    Thật ra không có chuyện gì có thể bưng bít lâu dài, không nhanh thì chậm. Tất cả sự thật sẽ được phơi bày dưới ánh mặt trời, chừng đó người đời sẽ phê phán hành động của những người hành nghề chụp mũ và con cái cháu chắc sẽ tủi nhục vì những hành động của cha ông mình. Nhưng hiện tại nếu không mau trừ khử những người hành nghề chụp mũ kịp thời thì trong giai đoạn quyết liệt nầy cộng đồng chúng ta sẽ thiếu hoặc mất đi những người tiên phong chống cộng.

    Chụp mũ là nghề của bọn công an, điệp viên nằm vùng. Nếu là người quốc gia, những ai đã bỏ xứ ra đi vì không chấp nhận chế độ Cộng sản thì xin hãy dừng tay, đừng vì cá nhân, tiền bạc, phe nhóm mà nhắm mắt chụp mũ những người đang tranh đấu nhiệt tình trong lòng cộng đồng người Việt. Một điều khẳng định rằng, một khi Cộng sản ra lệnh chụp mũ một người nào thì chắc chắn rằng Hà Nội muốn bịt miệng và tách rời người đó ra khỏi cộng đồng bằng trò chia rẻ.

    Cũng xin nhắc nhở những người đang hành nghề chụp mũ, không phải ai cũng sợ chiếc nón cối, mà một số người chống cộng nhiệt tình, có lý tưởng từ trong máu huyết mà họ đã chứng minh bằng những hành động bất vụ lợi từ lúc cắp sách đến trường cho đến ngày nay, thì không bao giờ cái nón cối đánh gục được họ. Đối với những người nầy, càng bị chụp mũ, họ càng đứng dậy, hiên ngang tiếp tục con đường tranh đấu cho đến ngày nhắm mắt.

    Mong rằng những người trong hàng ngũ quốc gia thường xử dụng đòn chụp mũ hãy lấy lương tâm tìm hiểu nạn nhân. Thật tình mà nói, những người chống cộng thật cô đơn, chính vợ con họ phản đối vì đã gây cho gia đình biết bao lo lắng buồn phiền mà còn bị những người thường về Việt Nam như bà con, thân nhân, bạn bè cũng như đồng hương, đồng chí…tránh né vì sợ cộng sản khám phá ra có liên hệ thân thiết với những tên ‘cực kỳ phản động’ ở nước ngoài !

    Tóm lại, người trí thức quân tử dám nói dám làm, tôn trọng sự thật và sẵn sàng chấp nhận sai trái của mình, nếu có. Tiểu nhân, ngữa tay nhận ân huệ tiền bạc của bất cứ ai để thi hành bất cứ tội ác nào được giao phó, từ ném đá giấu tay, mang tên ảo, rỉ tai, bôi xấu đến chụp mũ những người bị đối phương xếp vào loại ‘phản động’. Thế thì người Việt Tự Do nuôi dưỡng bao che cho tiểu nhân làm gì để chúng tiếp tay Hà Nội, bôi nhọ những phần tử Quốc gia…để rồi cộng đồng sẽ thiếu nhiều chiến sĩ tiền phong trong hàng ngũ chống Cộng sản.

    Nếu còn chút lương tri, xin hãy nghĩ lại xem….

  2. #62
    Join Date
    Oct 2008
    Location
    Rome
    Posts
    243
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Attached Images Attached Images  

  3. #63
    Join Date
    Oct 2008
    Location
    Rome
    Posts
    243
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Attached Images Attached Images  

  4. #64
    Join Date
    Oct 2008
    Location
    Rome
    Posts
    243
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Attached Images Attached Images  

  5. #65
    Join Date
    Oct 2008
    Location
    Rome
    Posts
    243
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Attached Images Attached Images  

  6. #66
    Join Date
    Oct 2008
    Location
    Rome
    Posts
    243
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Attached Images Attached Images  

  7. #67
    Join Date
    Jun 2003
    Posts
    6,662
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Xin quý bạn cho lời khuyên nên ứng xử thế nào khi mà chuyện dị ứng cờ vàng đã và đang xảy ra rất lớp lang! Mấy tháng trước dùng tôn giáo với hồng y PMM, bây giờ dùng từ thiện với nhóm người cô Tim Thụy-Sĩ.
    Khi đoàn phụ nữ miền Nam vượt Trường Sơn ra thăm Bác, các chị được Bác đón tiếp thân tình. Thấy các chị gầy, xanh, hốc hác, Bác hỏi: “Các cháu kinh nguyệt có đều không?".

    Ông không vội hỏi han gì về thành tích chiến đấu của Hằng. Câu hỏi đầu tiên của vị Chủ tịch nước là: "Cháu có buồn đi tiểu, Bác chỉ chỗ cho mà đi."

  8. #68
    Join Date
    Aug 2008
    Posts
    724
    Thanks
    2
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Quote Originally Posted by nguyekn View Post
    Xin quý bạn cho lời khuyên nên ứng xử thế nào khi mà chuyện dị ứng cờ vàng đã và đang xảy ra rất lớp lang! Mấy tháng trước dùng tôn giáo với hồng y PMM, bây giờ dùng từ thiện với nhóm người cô Tim Thụy-Sĩ.
    chào ng !
    Đại tướng cầm quần nè...Thấy cái chữ ký của bạn giống tên này nên mang về.


    chúc vui
    Vivi

  9. #69
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa




    Đài tưởng niệm thuyền nhân tại Paris

  10. #70
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Tâm thư của một phế binh Việt Nam Cộng Hòa

    Lời phi lộ:
    Một anh bạn tôi ở Chicago đã nhận được một bức thư của một người phế binh QLVNCH bị cụt một chân và hư một mắt tại chiến trường An Lộc năm 1972 gởi từ Việt Nam sang Mỹ cho các cấp chỉ huy ngày xưa của mình.
    Tôi đã mạn phép nhuận sắc lại bức thư đó cho lời thư gãy gọn và nhẹ nhàng hơn.

    Kính tặng tất cả Cựu Quân Nhân QLVNCH.

    Chúng ta nên đọc bức thư nầy để suy gẫm.

    Huỳnh Vĩnh Ninh
    North Carolina

    ---o0o---

    Việt Nam ngày... tháng.... năm...

    Các Anh kính quý,

    Thật tình tôi không biết phải xưng hô với các Anh thế nào cho phải đạo, bởi lẽ dù sao đi nữa, các Anh cũng đã có một thời là thượng cấp, là cấp chỉ huy của chúng tôi. Giờ đây, cho dù thời gian có vô tình lặng lẽ đi qua hơn 33 năm, trong lòng chúng tôi vẫn khắc ghi hằng khối những kỷ niệm của một thời binh lửa, thời mà chúng tôi và các Anh còn xông pha giữa lằn tên mũi đạn, thời mà chúng ta còn được vinh dự cầm súng bảo vệ quê hương.

    Những trận chiến càng về cuối của năm 1975 càng khốc liệt, người lính chiến chúng tôi đã không nao núng, không rời hàng ngũ mà càng sát cánh hơn với các Anh, không màng nguy hiểm, không sợ cái chết lúc nào cũng sẵn sàng đến với người lính trong thời lửa đạn. Quả tình lúc ấy trong lòng chúng tôi khâm phục các Anh nhiều lắm, các Anh là những người có học thức, được huấn luyện những kiến thức quân sự để trở thành những sĩ quan chỉ huy chiến trường, chỉ huy chúng tôi. Lòng dũng cảm cùng với kiến thức của các Anh đã phát sinh từ trong thâm tâm của chúng tôi một thứ tình đồng đội tình thầy trò trong thời chinh chiến, mặc dù kỹ luật quân đội đã bắt buộc chúng tôi luôn luôn chỉ biết tuân lệnh của các Anh, nhưng trong lòng chúng tôi không hề than oán mà còn cảm thấy thật vui mỗi khi thực hiện được một việc gì cho đơn vị, hay nói đúng hơn là cho các Anh. Chúng tôi là những người lính trơn ít học, nên với những suy nghĩ thật đơn giản lúc bấy giờ: Làm vui lòng các Anh chính là chúng tôi đã làm tròn nợ nước, nhiều lúc tuân hành và thực hiện mệnh lệnh xung phong vào mục tiêu, ôm súng băng mình qua tuyến, chúng tôi chỉ với hai điều tâm niệm: Thắng trận nầy thật nhanh và bảo vệ cho bằng được... các Anh.

    Chúng tôi ít học chưa có ý niệm về quê hương dân tộc, chúng tôi thật tình lúc bấy giờ cũng chưa hiểu được thế nào là lòng yêu nước. Chính các Anh đã dạy cho chúng tôi những điều trọng đại ấy và với đầu óc của chúng tôi, chúng tôi chỉ hiểu nôm na: Bổn phận chúng tôi là những thanh niên Việt Nam, chúng tôi phải cầm súng bảo vệ Tổ Quốc, chấp nhận tất cả những hy sinh gian khổ cùng những hiểm nguy mà chiến trường đã dành riêng cho người lính. Và... chúng tôi đã cảm thấy vô cùng hãnh diện với việc làm của mình. Cũng chính vì thế, chúng tôi đã lăn xả vào trận địa để trong mặt trận cuối cùng, chính tôi đã để lại chiến trường một phần thân thể. Không kịp nói lên một lời từ giã các Anh khi trực thăng bốc vội tôi về Quân Y viện. Sáu tháng dài ở bệnh viện đủ cho tôi lấy lại được chút hơi tàn mà đủ sức chống nạng khi di chuyển. Tôi rời khỏi quân đội trong một nỗi buồn không tả được, cuộc chiến đã đến giai đoạn sau cùng và tôi vẫn theo dõi tin tức của Miền Nam, nhất là bước tiến quân của đơn vị cũ của mình.

    Ngày Miền Nam hoàn toàn sụp đổ làm tôi chết lặng người, bạn bè đồng đội tôi sẽ ra sao? và nhất là các Anh - những cấp chỉ huy của tôi sẽ ra sao?
    Mặc dù đã bị cắt phần tiền thương tật, "học tập" ở xã hết 1 tuần, tôi đã phải bán đi cái radio yêu quý đã theo tôi suốt đoạn đường chinh chiến để lấy tiền tìm đến nhà của các Anh mà hỏi thăm tin tức. Chị nhà cho hay Anh đã bị tập trung "cải tạo". Tôi buồn quá lủi thủi về nhà, lòng vẫn luôn luôn van vái những an lành sẽ đến với các Anh.

    Bạn bè đồng ngũ về quê tôi khá đông nhưng không có công việc làm nên càng bi thảm hơn. Thằng vá xe đạp ở cuối phố, thằng khuân vác, thằng chạy xe ôm, chúng tôi không từ chối bất cứ một việc làm gì để kiếm được chút đỉnh tiền vừa để tạm sinh sống no đói qua ngày vừa gom góp lại được vài mươi đồng nhờ Chị nhà có đi thăm nuôi thì mua một ít thức ăn và đồ dùng cần thiết gởi đến Anh. Chúng tôi dù trong nhọc nhằn vẫn thường hay nhắc đến các Anh, ở trong tù dù buồn nhưng nhận được quà của chúng tôi chắc các Anh cũng vui được phần nào vì nghĩ rằng mấy thằng em vẫn còn nhớ đến ông thầy xưa.

    Đó ! Chúng tôi chắc chiu những tình cảm trân quý, thủy chung gởi đến các Anh, mỏi mong các Anh một ngày nào đó được tự do mà tính chuyện quang phục lại quê hương mình. Thằng thượng úy trưởng Công an phường lợi dụng việc cấp giấy phép đi thăm nuôi đã hãm hiếp bà Trung Úy Phúc, sự nhục nhã nầy đã khiến Bà Trung Úy Phúc phải treo cổ tự tử. Tôi nghỉ từ trong tù các Anh buồn và hận lắm.

    Ngày Anh được ra tù chắc Anh còn nhớ chứ? Chúng tôi đã đón mừng các Anh như đơn vị của mình được tái lập, bao nhiêu vui mừng không kể xiết, mừng đến rơi lệ, mừng vui khi nỗi mong mỏi rửa nhục của chúng ta đã được gần kề.

    Rồi các Anh được sang Hoa Kỳ, niềm vui thật sự càng nhân lên gấp bội, ngày chia tay rượu hồng đã pha nước mắt, tiễn các Anh đi mà lòng thầm mong đợi một ngày về trong danh dự của các Anh.
    Chúng tôi - những người lính QLVNCH vẫn ấp ủ một niềm tin tưởng vào các Anh như ngày xưa. Sự ra đi của các Anh là điều kiện thuận lợi cho công cuộc đấu tranh với bọn Cộng sản vô thần đang thống trị quê hương.

    Các Anh a. ! Bây giờ thì buồn quá ! Các Anh - những sĩ quan hào hùng của QLVNCH ngày nào, những người Anh của chúng tôi, những Đại bàng, những Bắc Đẩu, Hắc Báo của một thời oanh liệt, một thời tung hoành ngang dọc khắp các chiến trường, các Anh đã có một thời vinh quang và một thời nhục nhã, giờ đây sau hơn 33 năm lặng lẽ, các Anh cũng bị nhòa đi hình ảnh của ngày xưa? Các Anh đã quên rồi sao? Quên rồi những chiến sĩ thuộc cấp của các Anh đã nằm xuống vĩnh viễn trên đất Mẹ thiêng liêng, quên đi những đồng đội còn sống sót trong một tấm thân tật nguyền đau khổ, sống lây lất ở đầu đường xó chợ.

    Xin cảm ơn các Anh về những đồng Dollars mà các Anh đã gởi về cho chúng tôi trong chương trình giúp đỡ thương phế binh QLVNCH. Những đồng tiền đó dù có giúp cho chúng tôi trong một thời gian ngắn, dù có an ủi cho những đớn đau vật chất được đôi phần nhưng cũng không làm sao giúp chúng tôi quên đi nỗi nhục mất nước. Chúng tôi cần ở các Anh những chuyện khác, các Anh có thấu hiểu cho chúng tôi hay không?

    Tôi đã hiểu vì sao thằng khuân vác ở xóm trên, thằng vá xe đạp ở đầu đường, thằng chống nạng đi bán vé số ở cạnh nhà lại ghét cay ghét đắng đám Việt Kiều. Họ là những người lính năm xưa, họ đã từng tuân hành lệnh của Đại bàng, Thần Hổ xông pha nơi trận mạc, họ đã từng chắt chiu từng đồng bạc nghĩa tình chung thủy gởi vào tận chốn tù đày cho các Anh, họ đã từng uống với các Anh chung rượu ân tình ngày đưa tiễn các Anh lên Phi cơ về vùng đất mới, họ đã từng nuôi nấng một hoài vọng, một kỳ vọng trong ngày về vinh quang của QLVNCH. Nhưng chính các Anh đã làm họ oán ghét, oán ghét đến độ khinh bỉ khi các Anh áo gấm về làng, chễm chệ ngồi dựa ngữa ở nhà hàng khách sạn 5 sao, tung tiền ra để chứng tỏ mình là một "Việt Kiều yêu nước" là "Khúc ruột xa ngàn dặm" về thăm "quê hương là chùm khế ngọt". Thậm chí có những Anh còn đú đởn với những đóa hoa biết nói biết cười tuổi đáng con hoặc đáng cháu nội cháu ngoại mình.

    Các Anh có biết không? Từ trong sâu thẳm của cuộc đời, những người lính của QLVNCH đang lê lết ở ngoài cửa các nhà hàng mà các Anh đang ăn uống vui chơi, đang nhìn các Anh với một ánh mắt hận thù. Hận thù lớn nhất của người lính là sự bội bạc, là sự phản bội. Không biết khi tôi kết tội các Anh là phản bội có quá đáng hay không, nhưng các Anh tự suy nghĩ một chút sẽ hiểu rõ hơn chúng tôi.

    Tôi không tin là tất cả các Anh đã biến thái thành những tên Việt gian, nhưng sự trở về như các Anh trong hiện tại là đồng nghĩa với sự phản bội. Các Anh đã phản bội lại Tổ quốc và rõ ràng nhất các Anh đã phản bội lại chúng tôi. Các Anh chống Cộng mà cứ về Việt Nam hà rằm thì còn chống Cộng gì nữa? Ôi ! không lẽ nỗi nhục nầy đời ta không rửa được?

    Các Anh kính quý,
    Chúng tôi là những người lính năm xưa của các Anh đây. Toàn thể quân nhân và đồng bào đang tin tưởng vào các Anh. Tin tưởng một ngày về rửa nhục, để Mẹ Việt Nam không còn cất lên tiếng than ai oán, để chúng ta cùng nhau trở lại kiếp làm người, chấm dứt đêm trường u tối đã phủ trùm lên Tổ quốc hơn 33 năm dài.

    Người lính chỉ biết tuân hành mệnh lệnh của cấp chỉ huy, nhưng qua bức thư góp ý nầy, mong các Anh thứ lỗi cho những suy nghĩ của chúng tôi.
    Các Anh, cho dù đã chậm, nhưng chúng tôi vẫn mong mỏi các Anh ở một ngày về.

    Trân trọng,
    Nhân Trần

  11. #71
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Hồi ký Cải Tạo (Nguyên tập)

    Đôi lời người viết.

    Xin để lại đây những ngày tháng nhục nhằn trong trại tù Cải tạo, tuy trong đó có những ý nghĩ, quan điểm và nhận xét riêng của cá nhân nhưng mục đích hoàn toàn không phải để tranh luận, mà chỉ muốn thuật lại những sự thật không thể quên trong đời.

    Học tập mười ngày.

    Tôi chở vợ đến cổng trường Pétrus-Ký lúc năm giờ chiều, và hai vợ chồng chia tay. Mặc dù cả hai chúng tôi đều sinh trưởng ở Sàigòn suốt từ thuở ấu thời, lúc đó tôi vẫn cảm thấy vợ mình thật bé nhỏ và lạc lõng, lòng chợt thương nhớ nàng vô hạn, dù chúng tôi chỉ vừa xa nhau chưa đầy một phút, và bóng nàng còn chưa khất hẳn. Nhìn nàng thật mỏng manh tội nghiệp trên chiếc xe đạp một mình quay về nhà. Chiếc xe đạp nhỏ này là kỷ niệm quí giá duy nhất còn lại của hai vợ chồng sau ngày ba mươi tháng tư 1975. Khi chúng tôi mới lấy nhau, tôi thích chở nàng bằng chiếc xe đạp này chứ không dùng xe gắn máy.

    Khi bóng nàng khuất hẳn, tôi quay mình thẫn thờ đi vào khuôn viên nhà trường trình diện cải tạo. Đúng như thông báo của ủy ban quân quản thành phố Sàigòn “mang theo mười ngày lương thực. Học tập tốt sẽ được trở về với gia đình”. Lòng tôi như chùng xuống, ân hận đã không chờ thêm một lúc nữa hãy trình diện, như vậy còn được ở bên cạnh vợ thêm vài tiếng nữa. Tội cho vợ tôi mới lấy chồng hồi giữa tháng một, đầu tháng năm đã phải xa nhau. Chính tôi cũng cảm thấy mắt mình nhòa đi, hỏi nàng sao khỏi đau buồn.
    Đầu óc miên man những lo nghĩ mông lung, không rõ rồi họ sẽ đối xử với mình ra sao. Người vào trình diện càng lúc càng đông, khoảng chín giờ tối đã dầy ắp các phòng học. Mười một giờ đêm, những lo nghĩ mông lung ban đầu của mọi người đã biến thành nỗi lo sợ nặng chĩu vì tiếng máy của đoàn xe vận tải Molotova vừa ngừng ngoài cổng trường. Chắc chắn chúng tôi sẽ bị di chuyển đi một nơi xa xôi nào đó, không phải chỉ học tập mười ngày ở trong phạm vi Sàigòn Gia Định như một số anh em đã bàn tán hồi chập tối.

    Tháng năm trời Sàigòn dù về đêm vẫn oi ả không dịu bớt chút nào, những chiếc Molotova căng bạt bít bùng, làm sao chúng tôi chẳng lo sợ? Bắt đầu lên xe từ mười một giờ đêm, đến gần hai giờ sáng mới xong, chúng tôi bị dồn vào những chiếc Molotova tối thui. Mỗi xe nhét khoảng ba chục anh em và hai bộ đội trang bị AK47 ngồi ở hai góc cuối xe chỉa súng nhăm nhăm. Anh em ngồi chặt cứng như những bó giò, muốn xoay trở một chút thật là cả một vấn đề khó khăn. Không khí trong xe rất ngột ngạt, phần vì hai họng AK đen ngòm, phần vì xe được bao kín mít, ngay cả đằng sau chỗ hai tên bộ đội ngồi cũng có phủ bạt, không để hở. Tinh cảnh này càng làm cho sự lo sợ của mọi người tăng lên gấp bội. Đi học tập sao lại phải bịt kín mít, và di chuyển đêm, để che mắt dân chúng?

    Đêm Sàigòn dạo này đường phố vắng tanh vắng ngắt. Vốn từng được mệnh danh thành phố về đêm, đèn mầu luôn rực sáng, xe cộ tấp nập, du khách dập dìu. Từ ba mươi tháng tư, Sàigòn ban đêm đã hoàn toàn đổi hẳn, không khác nào một bãi tha ma. Có phải Sàigòn vẫn còn kinh hoàng vì cái ngày đau thương ba mươi tháng tư? Hay Sàigòn đã kiệt sức qua những máu lửa ngụt trời? chán chường cho cuộc đổi thay? Và chuyến ra đi âm thầm của chúng tôi, Sàigòn không hề hay biết.

    Tiếng xì xào chuyền tai nhau, bắt nguồn từ hai anh bạn ngồi ở hai góc phía đầu xe, họ đã nhận ra lộ trình chuyến đi qua khe hở nhỏ của miếng bạt phía trước. Từ Pétrus Ký, đoàn xe theo đại lộ Cộng Hòa ra đường Lê Văn Duyệt hướng thẳng về phía Tây Ninh. Họ đưa chúng tôi lên biên giới Kampuchia!
    Tám giờ sáng hôm sau đoàn xe vào Trảng Lớn, căn cứ pháo binh của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi tạm trú ở đây và được chia ra thành từng nhóm:

    Nhóm một, gồm các sĩ quan từ cấp Thiếu tá trở lên.

    Nhóm hai, cấp trung úy trở xuống của các binh chủng Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Lực Lượng Đặc Biệt, Tình Báo, và Chiến Tranh Chính Trị.

    Nhóm ba, từ Trung úy trở xuống của hai Quân chủng Không Quân, Hải Quân và các binh chủng Thiết Giáp, Pháo Binh.

    Nhóm bốn, từ Trung úy trở xuống của các binh chủng Bộ Binh, Địa Phương Quân, và Nghĩa Quân.

    Riêng cấp đại úy cũng có một số được xếp vào nhóm hai ở các trại tù trong miền nam. Tuy nhiên nếu là đại úy thuộc Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Dộng Quân và Chiến Tranh Chính Trị, đều bị đưa vào nhóm một với cấp tá. Sau này tôi được biết Việt Cộng đã liệt các vị thuộc nhóm một vào thành phần Ngụy quân cấp cao cực kỳ ác ôn, và đưa ra các trại tù cải tạo miền bắc, nhóm hai thành phần cực kỳ ác ôn có nhiều nợ máu, nhóm ba Thành phần cực kỳ ác ôn, nhóm bốn Thành phần ác ôn.

    Sau thời gian tạm trú khoảng một tháng, đội ngũ đuợc chia xong. Đại đội họ gọi là đội, trung đội là B, tiểu đội là A. Chúng tôi bị đưa đi lao động khổ sai khắp các trại tù dọc biên giới Việt, Miên, Lào. Tôi thuộc tiểu đoàn đến trại Long Khánh. và cuộc đời tù binh thực sự khởi đầu từ đó.

    Quê hương ta rừng vàng biển bạc.

    Đến Long Khánh lúc chập choạng tối. Theo một vài bạn tù cho biết, đây vốn là trại gia binh của sư đoàn 18 bộ binh lúc trước. Một ý nghĩ khôi hài chợt hiện đến làm tôi chua xót cuời thầm. “Có ai như chúng tôi, khăn gói tự động trình diện để được vào tù, mặc dù mình chưa hề làm nên tội lỗi gì“.

    Dù không tin vào bản thông cáo mười ngày học tập, khi đi trình diện, tôi vẫn ngây thơ nghĩ: mình chỉ phải xa nhà cùng lắm là khoảng một tới ba tháng, nên đã chuẩn bị hành trang thật nhẹ nhàng. Mang theo vỏn vẹn chỉ một bộ quần áo cùng hai bộ đồ lót để thay đổi, một ít đồ dùng lặt vặt như bàn chải, kem đánh răng , khăn lau mặt. Tất cả để trong một túi nylon cho nhẹ. Một buổi trưa rất nóng ở Trảng Lớn, tôi vào một lô cốt tránh nắng đã tìm được một đôi giầy vải, một chiếc ba-lô và một xấp năm bao cát. Tất cả đều còn mới. Ba-lô và đôi giày vải đã trở nên vật dụng tiện lợi và cần thiết nhất cho tôi những ngày tháng sau này.

    Tuần lễ đầu chúng tôi ổn định chỗ ăn ở, thu dọn trại mà lòng lúc nào cũng băn khoăn không biết số mạng mình rồi sẽ ra sao? Long Khánh là vùng cao nguyên. Trời nắng hè, bụi đất đỏ luôn phủ đầy cây lá và mọi vật dụng nhà cửa. Khi mưa xuống, đất dính bết vào giầy dép, làm cho chân người đi càng lúc càng nặng. Ngày đầu mới đến, trời đã đổ một cơn mưa thật lớn. đôi dép cũ không còn chịu nổi nữa, quai dép sau nhiều lần tuột lên tuột xuống đã đứt mất. Tìm một miếng gỗ thông mỏng, tôi hì hục mãi, đẽo được một đôi guốc gỗ. Không hiểu vì sao guốc gỗ lại ít bị dính đất, và chuyện đi đứng đã dễ dàng hơn. Một tuần lễ sau chúng tôi được báo chuẩn bị hôm sau lên hội trường học tập. Mọi người đều mừng rỡ, nghĩ đã đến lúc học tập tất cũng sẽ có lúc học xong. Nghĩa là chúng tôi còn hy vọng có ngày về.

    Do một thượng úy ủy viên chính trị từ trung đoàn xuống giảng bài đầu tiên với tựa đề thật bóng bẩy: “Quê hương ta giàu đẹp nhân dân ta anh hùng”. Anh cán bộ chính trị này thao thao bất tuyệt trên hội truờng:

    “Quê hương ta rừng vàng biển bạc. Cả ba miền bắc, trung, nam, đều không thiếu gì sông biển bạc, và rừng rậm vàng tươi…. Nhân dân ta anh hùng, lại có sự lãnh đạo tài tình trong bao nhiêu năm của bác và đảng … Đảng là đỉnh cao trí tuệ của loài người đã lãnh đạo khéo léo đánh cho Mỹ cút ngụy nhào … bộ đội ta có óc sáng tạo khi đánh Mỹ, chỉ với súng lục và súng trường đã bắn rơi cả máy bay B52 của địch …”.
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  12. #72
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Hồi ký Cải Tạo [2](Nguyên tập)

    Tôi nghe tới đó ngẩn người tự nghĩ: “Không lẽ anh cán bộ ủy viên chính trị này coi chúng tôi là trẻ nhỏ thất học? Nhìn anh ta với vẻ thành khẩn nghiêm nghị, chắc hẳn đang say xưa với việc thuyết giảng. Không hiểu anh ta có thực sự hiểu mình đang nói gì? hay chỉ học thuộc lòng bài viết sẵn và đọc thao thao như thế. Có một điều tôi dám quả quyết: anh ta tuyệt đối tin tưởng những gì mình đang nói. Đến mục nêu câu hỏi, tôi đã liều đứng lên.

    - Nhờ Cán bộ nói rõ thêm chỗ nước ta rừng vàng biển bạc một chút nữa tôi không hiểu rõ lắm.

    - Thế là anh nghe giảng không được tập trung lắm rồi nhá. Trong bài tôi đã nói rõ ràng, miền bắc nước ta sông ngòi rất nhiều ngày đêm chảy ra biển không ngừng. Mà biển nước ta thì lạ lắm, mênh mông lúc nào cũng lóng lánh như bạc, đẹp không thể nào tả xiết được. Rừng thì bao phủ khắp cao nguyên bắc phần chạy dọc miền trung vào trong nam chỗ nào cũng có rừng. Rừng nước ta rất nhiều loại gỗ quí như gõ, trắc, gụ, lim vân vân. Các loại gỗ qúy này mầu sắc vàng tươi xuất cảng ra nước ngoài rất được ưa chuộng.

    Anh còn hỏi gì khác nữa không?
    - Máy bay B52 bay rất cao, súng lục chỉ có thể bắn được xa nhất là khoảng năm chục thước, nếu bắn ngược lên cao, tầm bắn có thể còn ngắn hơn thế nữa, vậy làm thế nào mà súng lục bắn rơi được máy bay?

    - Đó là tại các anh không biết đấy thôi. Các đồng chí anh hùng lái máy bay Mig của ta đã sáng tạo ra một cách để diệt các máy bay Mỹ. Khi ra trận họ tìm một cụm mây to rồi nấp vào trong đấy tắt máy nằm chờ, như thế còn tiết kiệm cả xăng nữa đấy nhá. Bất thình lình khi chiếc máy bay B52 vừa trờ đến là đồng chí ấy mở máy rồi bay ra chẹt ngay đằng đầu mà bắn làm cho chúng nó không kịp giở tay và bị rơi rất nhiều.

    Về sau tụi giặc lái Mỹ hoảng vía không dám bay cao nữa, cứ khi nào vào đến vùng thả bom thì nó bay xà xà xuống thật thấp, và bị quân dân ta dùng súng trường và súng lục bắn rơi. Chính tôi cũng đã dùng khẩu súng này hạ được một chiếc hồi chiến dịch mùa hè đấy nhá. Nói đến đây anh cán bộ giảng viên chính trị đưa tay trỏ vào khẩu K54 đang đeo bên hông với vẻ mặt đầy kiêu hãnh.

    Đánh tư sản.

    Bỗng dưng sáng nay Long Khánh trở lạnh . Những làn gió sớm cao nguyên lùa vào trại làm mọi người đều rùng mình. Tôi lặng lẽ đi làm, đầu óc suy nghĩ vẩn vơ. Đi chung toán với Tạo, Tạo nguyên là trung úy nhẩy dù, rất gan dạ, khi còn trẻ thường hay ngang tàng phá phách coi trời bằng vung. Sáng nay Tao tuy có hơi co ro nhưng vẫn tươi cười xông xáo như thường lệ, quả không hổ danh thiên thần mũ đỏ.

    Nguyên cả A không ai là không nao núng sau buổi tối qua, chỉ có anh bạn dù này là không tỏ vẻ gì chán nản cả. Tôi cẩn thận đảo mắt nhìn quanh, khi chắc chắn không ai ở gần có thể nghe được đối thoại của chúng tôi mới hỏi.
    “Chắc mày biết rành khu này hả Tạo?”

    Tạo cũng đảo mắt vòng quanh như tôi rồi tủm tỉm
    “Vùng này, trước đây tao đã dẫm nát cả rồi“.

    Tôi và Tạo không những cùng chung A, chỗ ngủ còn ở ngay bên cạnh nhau nữa, vì vậy tuy mới hơn ba tháng mà tình bạn đã thân thiết lắm.

    Đưa tay rờ gấu áo, thấy chiếc nhẫn cưới vẫn nằm ẩn an toàn trong đó, lòng cảm thấy ấm lại đôi chút. Chiếc nhẫn cưới này tôi quyết không nộp ra.
    Hôm qua chúng tôi được lệnh phải nộp tất cả tài sản cá nhân cho tiểu đoàn cất giữ. Bao gồm mọi thứ như đồng hồ đeo tay, nhẫn cưới, dây chuyền, tiền mặt v . . v . . . Chỉ trừ quần áo và đồ ăn.
    Tôi nghĩ: tù nhân, mạng còn chưa biết sống nay chết mai ra sao, lo gì đến những vật ngoại thân đó, tuy vậy nhưng lòng lại ấm ức. Nộp tiền có thể cho là đúng đi, vì trong trai tù kín mít cũng không thể mua bán gì được, nhưng đồng hồ hay nhẫn cưới cũng phải nộp thì vô lý qúa.
    Thủ tục gom đồ nộp cũng không minh bạch, không có danh sách liệt kê các món đồ và tên người nộp. Nếu sau này học tập xong được cho về, liệu cán bộ có chịu lục tìm trong đống đồ lung tung như thế không? và nếu chịu tìm, làm sao có thể tìm ra được món đồ không có ghi tên đây? biết bao nhiêu cái đồng hồ giống hệt như nhau?
    Nhẫn cưới hoặc dây chuyền lại càng khó phân biệt hơn? Nếu tìm không ra rồi mới tính sao? Thêm nữa, các món này có bảo đảm còn nguyên vẹn cho đến lúc chúng tôi về hay không? Hoặc mấy ngày nữa chúng tôi lại chuyển trại thì sao đây? Cuối cùng tôi đã quyết định dấu chiếc nhẫn cưới vào gấu áo, dấu đồng hồ vào quai ba-lô và may lại như cũ.

    Buổi chiều nộp đồ xong cũng đã gần tối. Đêm đó khoảng hai giờ rưỡi sáng bỗng có lệnh di chuyển. Chúng tôi được lệnh ra sân tập họp với tất cả hành trang trong vòng mười lăm phút để lên xe. Cũng may tôi không có nhiều thứ lỉnh kỉnh. Một tấm chăn tự làm bằng vải bao cát mà tôi đã nhặt được từ Trảng Lớn, một chiếu nylon nhỏ mang theo từ ngày đầu trình diện, một lon sữa Guigo dùng để nấu nước uống.
    Tôi nhét tất cả vào ba-lô, ra sân nhìn quanh mới có hai ba người. Lạ thật, mới vừa ổn định trại và dù đã bắt đầu học tập chính trị, nhưng mới có một bài sao đã di chuyển? và chuyển trại sao không thấy xe cộ gì cả? mấy nghi vấn này của tôi không bao lâu đã được giải đáp ngay.

    Các anh mỗi người đứng cách xa nhau một khoảng nhỏ và bày hết đồ của mình ra trước mặt. Mọi thứ đều phải mở ra sẵn sàng.

    Khi mọi người đã đủ, cuộc khám xét bắt đầu. Đại đội của tôi do một thiếu úy cán bộ Việt cộng làm đại đội trưởng. Anh cán bộ này bắt chúng tôi phải lộn trái hết các túi áo túi quần để xét. Một số anh em hồi chiều còn dấu tiền và dây chuyền không chịu nộp, giờ không những bị lấy hết mà hôm sau còn bị họp kiểm thảo: Nặng tư tưởng tư bản, không tin tưởng vào cách mạng. Ba-lô của tôi cũng bị lộn trái ra lục kỹ lưỡng. Té ra chúng tôi chẳng có di chuyển đi đâu cả. Đây chỉ là cách để chúng tôi phải lộ hết những đồ còn dấu chưa chịu nộp hồi sáng cho họ lột sạch, vì họ không tin chúng tôi chịu dễ dàng nộp hết mọi thứ.

    Tối đó mọi người phải lên hội trường họp. Cả tiểu đoàn nghe chửi về tội không thật lòng tin tưởng vào đảng và nhà nước.

    “Các anh đã dấu diếm không chịu nộp hết những đồ tiểu đoàn ra lệnh nộp. Đây là vì các anh đã không tin tưởng cán bộ, không tin tưởng đảng và chính sách của nhà nước. Như vậy làm sao các anh học tập mau tốt được? Hơn thế nữa, những của cải của các anh đang có cũng do bóc lột nhân dân mà ra, nay còn luyến tiếc, chưa dứt được đầu óc tư bản. Các anh phải kiểm điểm lại. Tối nay về họp A thảo luận cho kỹ càng. Có từ bỏ được những tư tưởng tư sản thì các anh mới học tập tiến bộ được”.

    Sau này, tôi không hề nghe có người tù cải tạo nào ra về được trả lại những gì đã nộp. Qủa thật là một lối ăn cướp thật tinh vi. vừa ăn cướp vừa la làng, kết quả tội vẫn đổ lên đầu chúng tôi.

    (Còn tiếp)
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  13. #73
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Hồi ký Cải Tạo [3](Nguyên tập)

    Học tập.

    Thời gian ở Long Khánh, chúng tôi không đi lao động xa trại quá một cây số. Làm những việc lặt vặt trong phạm vi doanh trại, như cuốc đất làm vườn, trồng trọt, hoặc làm cỏ khai hoang. Có lẽ vì còn đang ở giai đoạn đầu. Các sư đoàn bộ đội sau cuộc chiến chiếm miền nam chưa hoàn toàn ổn định. Việc tổ chức quản trị các trại cải tạo chưa được sắp xếp hoàn tất.

    Học tập cải tạo chính trị chỉ là một cách nói bóng bẩy của đảng Cộng Sản Việt Nam để trấn an người dân Sàigòn nói riêng, và dân miền nam nói chung. Thật sự chúng tôi không có bài học nào nói về thể chế chính trị, về nền hành pháp, hoặc tư pháp của chính quyền đương thời. Cũng không hề nói gì về sự thành lập của đảng cộng sản và nhà nước Việt cộng. Không nói về hiến pháp cũng như quyền lợi và trách nhiệm của người dân, không hề nói về chủ thuyết cộng sản. Tất cả đều tập trung vào ba mục đích chính.

    1- Bắt chúng tôi phải công nhận đảng Cộng Sản Việt Nam do Hồ chí Minh sáng lập, là đỉnh cao trí tuệ loài người, đã đánh đuổi Mỹ ngụy, lo cho dân tộc ấm no hạnh phúc. Chúng tôi phải tuyệt đối tin tưởng vào đường lối đảng đề ra không thắc mắc, lại càng không được chỉ trích, vì chỉ trích là phản động gây rối.

    2- Phải tự nhận, là những người đã làm tay sai cho Đế Quốc Mỹ, giết hại đồng bào. Nay được cách mạng khoan hồng cho đi học tập cải tạo.
    3- Phải tích cực lao động đóng góp cho xã hội chủ nghĩa. Và phải tuyệt đối an tâm học tập.

    Thấm thoát đã hơn năm tháng qua. Không hiểu các bạn khác ra sao? Riêng tôi những ngày tháng này thật buồn thảm. Nhớ nhà, thương cha mẹ và đàn em nhỏ, không rõ cuộc sống dưới chế độ mới cơ cực như thế nào? Và nhất là thương nhớ người vợ mới cưới. Ngày cũng như đêm, khi làm việc cũng như lúc ngồi nghỉ. Lúc nào đầu óc cũng có bóng dáng người vợ mà tôi hết lòng yêu thương. Không hiểu bây giờ nàng đang làm gì ? Ở đâu ? Có được bình an? hay đang phải vất vả vật lộn với cuộc sống kìm kẹp khó khăn mà Đảng Cộng Sản Việt Nam áp đặt lên đầu người dân miền nam? Nàng có nhớ đến tôi như tôi hiện đang nhớ nàng quay quắt.

    Mỗi ngày lao động một gắt gao, nặng nhọc thêm. Lao động khiến chúng tôi không còn thì giờ rảnh rang suy nghĩ. Thời gian dường như muốn dừng hẳn lại. Phần ăn mỗi ngày một ít đi, ăn uống thiếu thốn khiến mọi người không còn sức phản kháng, dù chỉ là phản kháng bằng lời nói.

    Ba tháng đầu chúng tôi còn được phát gạo. Không hiểu gạo đã chôn ở đâu? từ bao lâu? hạt gạo vừa vàng vừa xốp. Khi vo gạo nấu cơm nếu chà mạnh tay một chút, hạt gạo lập tức vỡ tan ra thật dễ dàng. Những anh em phụ trách nấu ăn trong ngày thường đổ đầy nước vào chảo gạo thật lớn, quấy sơ sơ mấy vòng cho gạo lắng xuống rồi gạn nước.

    Một số những con sâu gạo mập mạp ngộp nước nổi lên được gạn đi. Gạn như thế khoảng hai ba lần, chảo gạo có thể nấu, vì nếu làm nhiều lần gạo sẽ hết cám. Có một số anh em nay đã bị phù thủng rất cần vitamin C trong cám.

    Ban đầu, ban nấu ăn còn ngồi nhặt sâu. Những con sâu không biết sống trong các bao gạo này từ bao giờ đã to gấp bốn năm lần hạt gạo, chúng nhả tơ làm tổ dính quyện những hạt gạo vào thành một cục to bằng đầu ngón tay cái.

    Sau vì nhặt sâu vừa mất qúa nhiều thời gian, lại tốn mất nhiều gạo, vì số lượng sâu nhiều vô kể, nên anh em đã đồng ý không nhặt sâu nữa. Sau vài lần gạn nước cho bớt sâu, còn lại cứ để nguyên thế mà nấu. dù sao thì cũng là sâu gạo! lúc đầu ăn còn thấy sợ, sau đói qúa cũng phải nuốt tuốt.

    Ăn riết rồi cũng quen. Ngày hai buổi sau khi lãnh cơm, chia mỗi người được hơn một chén nhỏ. Nếu để cả sâu hy vọng chén cơm có thể đầy thêm một chút. Buổi sáng được phát nửa chén cháo toàn nước, đi làm đến giữa trưa. Thức ăn mỗi tháng một lon muối hột đen ngòm những đất, muốn dùng được phải hòa tan ra nước, lọc sạch rồi đem đun sôi. Hai tháng một lần mỗi A được phát một bó rau muống.
    Bắt đầu khoảng hai tháng nay, chúng tôi không còn được phát rau nữa. Gạo cũng đã hết, và thay bằng Bo-Bo. Lúc đầu ăn Bo-Bo không quen nên chúng tôi càng đói thêm. Tuy không quen nhưng nhờ bo-bo còn mới nên những anh em bị phù cũng dần dần được lành lại.

    Hy vọng ba tháng học tập của tôi đã thực sự trở thành hão huyền. Vả lại lao động và họp kiểm thảo càng ngày càng gắt gao. Một chút rảnh rỗi nhớ về gia đình và người vợ mới cưới cũng không đủ, còn thời gian đâu để nghĩ về chuyện khác.

    Liên tục một tuần nay, theo lệnh cán bộ. Tối nào tôi cũng bị đưa ra A để anh em phê bình kiểm thảo về tội dám chất vấn cán bộ chính trị về thời gian học tập, làm lung lạc tinh thần của anh em cải tạo. Nguyên sau buổi học tập về đề tài “Tất cả những ai trong quân đội VNCH đều là tay sai đế quốc Mỹ và đều có tội với nhân dân“. Tôi đã nêu lên câu hỏi:

    - Thưa anh, khi nhà nước ra thông cáo cho toàn thể chúng tôi đem theo lương thực đủ ăn muời ngày, đi học tập trở thành công dân tốt của xã hội mới. Học tập tốt, sẽ được thả về đoàn tụ với gia đình. Chúng tôi đã thi hành triệt để, trình diện đúng ngày. Nhưng nay đã hơn sáu tháng, vẫn chưa nghe nói gì cả. Vậy học tập thế nào là tốt? Và bao giờ chúng tôi mới được thả? Hay nhà nước đã quên thông cáo lúc trước?

    - Anh xuyên tạc thông cáo của nhà có ý định tuyên truyền để làm xao động lòng anh em phải không nào? Nhà nước nói đem theo lương thực đủ ăn mười ngày, đâu có nói các anh sẽ đi học tập mười ngày. Anh rõ ràng là ngoan cố không chịu an tâm học tập chỉ mong ngóng ngày về. Tối nay về họp A, anh phải kiểm thảo lại lỗi lầm của mình cho thông suốt“.

    Tôi nghĩ thầm, tên cán bộ này đã nói hắn có thể dùng súng K54 để hạ được máy bay B52, làm sao mình có thể lý luận lại với hắn. Hơn nữa vậy cũng coi như câu hỏi đã được trả lời, tôi đành ngồi xuống. Cũng chỉ vì câu hỏi đó tôi đã bị chú ý, và sau này bị hành hạ khổ sở.
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  14. #74
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Hồi ký Cải Tạo [4](Nguyên tập)

    Ngụy phá hoại làm nổ kho đạn.

    Cả tuần nay trời nắng gắt, cỏ xung quanh trại vàng khô, nhất là phía bên kia hàng rào, chỗ dẫy Barrack luôn luôn đóng kín cửa, sau này tôi mới biết đó là kho đạn, cỏ khô dầy, cao ngang đầu gối. Sát vòng rào kẽm gai, tháng trước chúng tôi đã đào một giao thông hào khá rộng, lấy đất gánh về giữa trại vun luống trồng khoai lang và khoai mì. Đào giao thông hào cạnh vòng rào trại không phải chỉ để lấy đất, bởi chúng tôi có thể cuốc đất vun thành luống ngay tại chỗ, mục đích có lẽ nhằm làm nản chí những ai trong chúng tôi mang ý định vượt trại, vì sẽ phải vượt thêm một chướng ngại vật nữa, Và cũng có lẽ nhằm làm cho chúng tôi thêm mỏi mệt, không còn nghĩ đến việc chống đối, hay bạo động. Vừa phải làm việc nặng quần quật cả ngày lại thêm ăn uống thiếu thốn, dù ai to lớn khoẻ mạnh cách mấy, tất cũng phải mềm nhũn thôi.

    Hôm nay tôi lãnh công tưới rau cho B. Ra phía sau trại lấy thùng và đòn gánh, thoáng thấy một bộ đội đang châm lửa đốt cỏ khô phía ngoài hàng rào. Nắng gắt mấy ngày liền, cỏ cháy rất mau. Khi tôi tưới được gần hai luống rau, bãi cỏ bên hông barrack cháy đã gần phân nửa, trong đám cháy thỉnh thoảng có tiếng đạn nổ.
    Lẫn trong cỏ có những viên đạn, có khi nguyên cả dây dạn đã rớt từ hôm ba mươi tháng tư trong lúc hỗn loạn, lâu lâu chúng tôi vẫn thường thấy khi làm cỏ. Do đó lửa cháy, đạn phát nổ không làm chúng tôi mấy ngạc nhiên. Chợt có tiếng nổ làm mọi người đều giật mình, vì tiếng nổ khá lớn, và chỉ vài giây sau lại có thêm những tràng nổ tiếp tục dòn dã, khiến mọi nguời đều dừng tay ngẩng nhìn. Chỗ đang cháy nguyên day đạn đại liên phòng không 50 ly đang nổ, đầu đạn bay tứ tung.
    Một viên bay xẹt ngang đầu làm tôi theo phản xạ tự nhiên vội cúi rạp xuống. Có mấy viên khác bay thẳng vào dẫy Barrack, và sau đó, cả dẫy Barrack cũng bắt đầu phát nổ. Tôi quăng thùng nước tại chỗ, ngồi sụp xuống giữa hai luống rau. Kho đạn chính thức bắt đầu nổ khoảng mười giờ trưa. Anh em tù ai cũng bỏ dụng cụ làm việc chạy tìm chỗ núp.
    Đủ mọi loại đạn lớn nhỏ, đạn đại liên phòng không, đạn súng cối 60 và 81 ly, đạn đại pháo 105, 155 ly của Việt Nam Cộng Hòa, đạn súng cối 61 và 82 ly, đạn hỏa tiễn chống chiến xa B40, B41, hỏa tiễn 122 ly của Việt Cộng. Đạn bay tứ tung. “Phịch”, tôi đang nằm giữa hai vồng lang chợt nghe tiếng trái đạn rớt rất gần, vội ngẩng nhìn.
    Một viên đạn cối 81 ly rớt ngay trước mặt, chỉ cách khoảng hai thước. Lăn vội qua vồng lang bên cạnh, hai tay ôm kín đầu, chờ một phút sau viên đạn vẫn chưa nổ. Chắc số tôi chưa đến lúc chết, trái đạn không nổ.
    Tôi liền chồm dậy cắm đầu chạy ra phía giao thông hào. Nhẩy xuống đó thấy có sẵn một số anh em khác nhanh chân tới trước. Đạn nổ suốt ngày, mãi đến gần nửa đêm mới hết. Không hiểu đây là kho đạn cũ của Việt Nam Cộng Hòa để lại hay kho đạn mới do Việt Cộng vừa gom vào? mà đạn có đủ mọi loại của cả đôi bên.

    Trong vụ nổ kho đạn, tiểu đoàn tôi có anh bạn đại úy bắc sĩ quân y chết.

    Trái lựu đạn rớt trúng ngay chỗ núp, nổ liền khiến anh không kịp tránh, miểng lựu đạn xuyên giữa ngực, anh đã chết liền tại chỗ. Hai tiểu đoàn bên cũng có mỗi tiểu đoàn hai người chết. Người cán bộ đốt cỏ, chết vì trúng đạn đại liên 50 ly ngay từ phút đầu.
    Anh em chúng tôi bị thương nặng nhẹ rất nhiều. Mấy ngày sau lên tiểu đoàn khai bệnh xin thuốc trị thương được phát mỗi người một gói muối hột. Vẫn biết, dù khai bất cứ bị bệnh gì cũng thế, từ sốt rét ngã nước, cảm cúm, tiêu chảy, đến trật gân gẫy xương, hay ói mửa trúng độc, đều chỉ được phát duy nhất một thứ thuốc đó là muối hột. Nhưng trong tù không có thuốc sát trùng, chúng tôi đành khai bệnh lấy muối pha nước rửa vết thương.

    Ba ngày sau, Cán bộ tiểu đoàn tập họp chúng tôi lên hội trường để giải thích về vụ nổ như sau: Các anh đã chính mắt thấy rõ ràng đấy nhá, bọn Mỹ Ngụy thật là độc ác, đã bị đập tan từ lâu mà vẫn còn tìm đủ mọi cách để phá hoại. Chúng đã cho đặc công lén lút làm nổ kho đạn. Tuy tiểu đoàn đã bắt được hai tên phá hoại, nhưng kết quả một cán bộ đảng viên cũng đã chết. Và trong các anh cũng có mấy người chết vì vụ nổ này.

    Cả tháng sau đó, chúng tôi họp A vẫn phải học tập về tội ác Mỹ Ngụy đã làm nổ kho đạn. Sau này trong một dịp thăm nuôi, vợ tôi cho biết vụ nổ đã làm xao động dân chúng ngoài trại. Nhà nước Việt Cộng loan báo cùng dân chúng Sài Gòn: có một bọn ngụy quân phá hoại làm nổ kho đạn trong trại tù, nhưng cán bộ quản trại đã bắt được bọn phá hoại và bảo vệ an toàn cho cải tạo.

    Cây Cà Chớn.

    Những ngày cuối năm 1975, với tôi, là những ngày lê thê nhất trong đời. Tết Mậu Thân khi Việt Cộng tràn vào Sàigòn, cướp đi mùa xuân an lành, vui tươi của người dân miền nam. Đường phố tấp nập, dập dìu muôn mầu áo bay lượn của các cô gái, chen lẫn mầu sắc của hàng ngàn đóa hoa trong chợ hoa dọc đường Nguyễn Huệ, hòa với những cánh bướm chập chờn trong nắng, như muốn đua sắc cùng những bông hoa biết nói, gợi lên nỗi rộn rã tưng bừng đầy êm ấm vào lòng người, đã thay bằng im lặng, vắng vẻ, đầy lo âu. Thỉnh thoảng một vài người vội vã trên đường về, khuôn mặt vừa lo âu vừa hốt hoảng. Những tiếng pháo nổ vang thay bằng tiếng súng AK47 và hỏa tiễn pháo kích.
    Cái tết máu lửa đó vĩnh viễn nằm trong tiềm thức tôi. Nhưng những ngày đó vẫn không dài lê thê ảm đạm như những ngày tết trong tù cải tạo.

    Chúng tôi đều là những người đã dày dạn khói lửa. Có người từng trải qua những giây phút thập tử nhất sinh xác chết cận kề, vẫn không hề nháy mắt cau mày. Có người trọn đêm dài chong mắt trên biển vắng hải hành, đưa chiến hạm tuần tiễu bảo vệ vùng biển quê hương, và đôi mắt vẫn đầy tinh anh. Nay trong vòng rào trại tù, hình như mắt anh em ai cũng rưng rưng uất nghẹn. Anh Lạc, người lớn tuổi nhất trong tiểu đội được cử làm anh nuôi, phát cho mỗi chúng tôi một vắt cơm nếp anh đã nấu từ tờ mờ sáng. Hôm qua mỗi tiểu đội được lãnh một lít nếp, cán bộ nói đó là nhờ lòng ưu ái của đảng và nhà nước.

    Tết năm trước, tuy chiến tranh đang đè nặng trên toàn quốc, SàiGòn vẫn tưng bừng đón xuân. Tôi đã chở vợ, lúc đó còn là người yêu chưa cưới, đi Lăng Ông xin xâm. Nhìn nàng tha thướt trong tà áo lụa vàng, thật vui tươi, thật hồn nhiên mà lòng tôi cũng nao nức rộn rã. Giờ đây xa nhau tôi mới nhận thức được, nàng chính là nguồn sống của đời mình.
    Nhớ đến nàng, miếng cơm tôi vừa bỏ vào miệng bỗng như nghẹn ở cổ, mắt tôi mờ hẳn đi. không muốn các bạn thấy mình bật khóc, và nhìn quanh ai cũng rưng rưng. Tôi bỏ nắm cơm xuống chỗ đầu nằm, chạy vội ra ngoài rủ Tạo đi coi đấu cờ tướng cho khuây khỏa.
    Trại được nghỉ lao động ba ngày tết, đã tổ chức các trận đấu bóng chuyền, túc cầu, cờ tướng, giữa các B với nhau cho anh em vui tết. Tôi vẫn thấy những ngày tết này thê lương và dài dằng dặc, vui sao được mà vui! Tết này gia đình tôi ngoài đó có vui vẻ như xưa? Vợ tôi đang ở đâu? Nàng có vui vẻ hồn nhiên như ngày chúng tôi còn bên nhau?

    Khi tôi đi nàng vừa có mang, nay đã sanh chưa? Nếu đã sanh, sức khỏe mẹ con nàng ra sao? Đứa con đầu lòng của chúng tôi là trai hay gái? Chắc dễ thương lắm? Những câu hỏi này cứ quẩn quanh trong đầu ngày đêm không thể giải đáp. Lòng nhớ nhung người vợ trẻ làm tôi cứ thẫn thờ, và tết đã trở nên vô nghĩa.
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  15. #75
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Hồi ký Cải Tạo [5](Nguyên tập)

    Cái tết buồn thảm ấy rồi cũng qua đi. Chúng tôi vẫn tiếp tục cuộc sống nhục nhằn. Ngày ngày làm việc nặng nhọc quần quật từ sáng tới tối, còn phải nghe những lời trái tai vô lý của những người cai tù thâm hiểm, phải làm vẻ ngu khờ gật đầu đồng ý để sống cho qua kiếp tù đày. Sống với niềm hy vọng mong manh, một ngày nào đó sẽ được thoát về.
    Nhiều lúc tôi có cảm tưởng như mình đang bị bao vây giữa một đám người tiền sử ngô nghê, không văn hóa. Với vũ khí trong tay họ cưỡng ép chúng tôi phải tin chung niềm tin với họ. Nhưng chính họ cũng không hiểu rằng họ đã bị giới lãnh đạo đầu độc lâu ngày, nhồi vào đầu họ những hiểu biết nông cạn vô lý, hoặc có khi còn đi ngược hẳn với lý lẽ thông thường. Cán bộ chuyền radio vào loa trên cột cao hai góc trại, suốt ngày đi làm mệt mỏi, tối về phải nghe những lời dối trá bịp bợm của bọn cầm quyền Việt Cộng trên đài phát thanh tới nửa khuya, thiệt là dở khóc dở cười.

    Một phút trước đài loan tin: năm nay dân ta chịu nhiều thiên tai, ba tháng trước miền Trung có bão lớn dọc từ Thanh Hoá xuống Thừa Thiên. Tháng trước bão lại thổi qua miền Thanh Hóa Nghệ Tĩnh, và tuần này khắp đồng bằng miền nam đang bị lụt lớn. Một phút sau đài đã trắng trợn tuyên bố: kết quả vụ thu hoạch lúa mùa năm nay so với năm ngoái, miền bắc tăng gấp ba, miền nam tăng gấp đôi.

    Một buổi chiều , tôi và Tạo vừa tưới xong mấy cây cà chua, đang định cùng nhau ra giếng lấy thêm nước. Một cán bộ đi ngang qua lên tiếng khen thưởng:
    - Hai anh này giồng được mấy cây cà chua chất lượng đấy nhỉ. Các anh có bón phân nhiều không mà cây lắm quả thế?

    Tôi đảo mắt nhìn quanh trước khi trả lời
    - Chào cán bộ. Tôi chẳng phải tưới phân gì cả đâu, chi tưới độc có nuớc đái thôi đấy!
    - Ờ, thế thì phải rồi! Trách gì cà anh cấy sai quả, nhưng quả lại không được to. Các anh phải tưới phân thì quả mới to được. Ở ngoài Bắc có nhiều người giồng cà chua, tưới phân đúng cách quả ra to gần bằng quả bóng đá vậy đấy.
    Tạo nhìn tôi, nháy mắt và nói:
    - Ô! Tôi biết loại cà mà cán bộ nói rồi! Nhưng loại cà này khó trồng lắm! Ở miền Nam hình như đã bị mất giống rồi. Nghe bà nội tôi nói loại cà đó tên là “cà chớn”.

    Nghe Tạo nói, tôi giật mình đảo mắt nhìn quanh nghĩ bụng “cái anh chàng Nhẩy Dù này quả nhiên rất gan lì”. May mắn, vẫn chỉ có hai chúng tôi cùng anh cán bộ đang mỉm cuời khoái chí kia, nếu không, “Ang-ten“ nghe được, chắc chắn hai đứa tôi sẽ phải ốm đòn.
    - Anh này nói đúng rồi đấy, đúng là cà chớn đấy.
    Hú vía!!! mọi người ai nấy đều bận với công việc đang làm, không chú ý đến cuộc nói chuyện của chúng tôi.

    Lon Guigo đựng cơm.

    Tôi thuộc đại đội một, Hạ ở đại đội ba. Tuy là bạn cùng khóa Hải Quân nhưng chúng tôi không mấy thân, nay dù ở cùng trại tù, gặp nhau cũng chỉ chào hỏi sơ sài. Vả lại từ chỗ tôi qua chỗ Hạ, phải đi ngang trạm gác và bộ chỉ huy cán bộ coi tù, nếu không vì đi công tác lao động, hay vì chuyện cần thiết, thường ai cũng ngại đi ngang đó.

    Lúc còn ở quân trường , Hạ thường trầm lặng ít nói, không phá phách đùa giỡn. Đôi khi bị các bạn chọc phá, Hạ chỉ cười bẽn lẽn. Khi ra trường, Hạ nhận đơn vị đầu tiên là giang đoàn 70, thuộc Hải Đội 5 Lực Lượng Đặc Nhiệm Thủy Bộ Hải Quân. Năm 1973, trong một dịp đơn vị tôi hộ tống tàu dầu vào tiếp tế cho căn cứ Nam Căn. Gặp Hạ lúc đó thấy anh đã thay đổi nhiều. Tuy vẫn dáng gầy gầy nhưng nước da đã sam đen, trông khoẻ mạnh hẳn ra. Anh đã hoàn toàn mất hẳn cái dáng công tử yếu đuối của ngày mới nhập ngũ ở trại tạm trú Bạch Đằng Hai. Có lẽ những tháng năm lăn lóc dày dạn chiến trường, với những trận chạm trán sống chết cùng Việt Cộng ở vùng đầm lầy nước mặn đã nung đúc anh trở nên rắn rỏi với đầy nét cương nghị.

    Chiều nay đột nhiên Hạ đến thăm và ngỏ ý muốn đổi tấm chăn của anh cùng nải chuối chín lấy chiếc áo mưa. Anh nói vì không có áo mưa, mùa hè Long Khánh lại hay mưa tầm tã suốt ngày, khi đi lao động thường bị ướt. Tôi đưa tặng Hạ tấm poncho mới đã nhặt được khi còn ở trại Trảng Lớn. Hạ không chịu lấy không, nhất định ép tôi phải nhận vật trao đổi. Kết quả tôi đành nhận tấm chăn, dù sao tôi cũng đang cần chăn, và bẻ mấy quả chuối cùng ăn với Hạ cho anh ta vui. Nhìn thấy mắt Hạ sáng hẳn lên khi cầm chiếc poncho trong tay tôi cũng cảm thấy an ủi.

    Ba giờ rưỡi sáng đêm đó, toàn trại bỗng có lệnh điểm danh bất thuờng. Khi các đại đội đã tập họp đầy đủ ngoài sân, cán bộ vào lục lọi trong trại rất kỹ luỡng, tuy không rõ vì sao, nhưng chúng tôi cũng đoán được đã có chuyện bất thường xẩy ra trong đêm. Sáng sớm khi chuẩn bị đi lao dộng, nghe anh bạn B trưởng nói tôi mới biết đêm trước đã có năm người trốn trại, trong số đó có Hạ. Thì ra Hạ cần áo mưa và ép tôi nhận tấm chăn là vì thế. Tôi thầm mong cho anh trốn thoát, đừng gặp trở ngại. Một tuần sau, trong số người trốn trại có ba người bị bắt lại cùng với Hạ.

    Hạ bị bắt lại hai ngày sau thì tôi bị gọi lên tiểu đoàn. Trong lòng hồi hộp không biết vì chuyện gì, khi bị dẫn vào phòng kín có bốn tên bộ đội đeo AK đứng canh bốn góc, tôi biết lần này thiệt dữ nhiều lành ít.

    - Cách mạng khoan hồng cho anh học tập cải tạo sao không biết hối cải còn định trốn?
    - Tôi còn đang đứng đây mà, đâu có trốn trại đâu?
    - - Chúng tôi biết rõ anh móc nối, trốn trại mà vẫn còn chối hả. Anh phải nên khai cho rõ ràng đi, đã móc nối được những ai nào ?
    Nếu chúng biết rõ ràng sao còn phải tra hỏi mình làm gì? chứng tỏ chúng chỉ nghi ngờ và muốn tìm cách chặn đầu mình thôi.
    - Tôi không hề có ý trốn trại, cũng chẳng có móc nối hay tổ chức gì cả.

    Chưa dứt lời bỗng như có ai đập mạnh vào lưng làm mắt tôi hoa lên. Chắc hẳn tôi đã bị tên đứng phía sau dộng một báng AK ngay lưng trong lúc đang nói. Tôi không còn nhìn rõ tên bộ đội trước mặt, mắt tôi đã mờ hẳn đi, và đầu óc choáng váng, ngã chúi về truớc. Tuy thế tôi vẫn thoáng thấy tên đứng phía trước đưa chân đá cho tôi bật ngược dậy. Theo phản ứng tự nhiên tôi vòng tay ôm ngực và co người lại bảo vệ chỗ nhược. Bị cú đá đó bật nghiêng người qua phải, tôi chưa kịp gượng lại đã bị tên bên phải đạp bồi một đạp vào vai, tôi té qụy xuống.

    - Mày vẫn còn ngoan cố à? thế ai đã tiếp tế áo mưa cho thằng Hạ trốn trại nào?

    Thấy tên cán bộ đã đổi giọng lỗ mãng mày tao, không biết hắn vì tức giận đã không làm được cho tôi khai theo ý muốn, hay vì muốn tỏ sự hung hãn để tôi sợ mà khai. Tôi chờ một chút, để trấn tỉnh rồi mới trả lời:
    - Tại tôi có dư một cái áo mưa, anh Hạ dùng chuối để đổi, tôi thích chuối mới chịu đổi thôi, chứ đâu có biết anh ta chuẩn bị đồ dùng vượt trại đâu.
    Đúng đã có “angten” mách lẻo nên tụi nó mới biết chuyện tôi đưa áo mưa cho Hạ.

    Trong lúc bị đánh, tôi được biết, họ liệt tôi vào thành phần ngoan cố không chịu hối cải học tập, còn có ý nêu những câu hỏi bóp méo chính sách cải tạo của cách mạng, cố tình sách động, gây hoang mang cho anh em. Bằng chứng là trong buổi học tập chính trị đầu tiên, tôi đã chất vấn cán bộ về lệnh học tập muời ngày.
    Giờ đây còn thêm tội tổ chức tiếp tế cho người trốn trại.

    Tôi trước sau chỉ nói: Vì mình không hiểu rõ nên mới hỏi như thế, không phải cố ý bóp méo hay sách động chi cả, và cũng không hề giúp ai vượt trại hết. Có lẽ họ chỉ nghe “angten” báo cáo thấy tôi đưa poncho cho Hạ, nên tra hỏi xem tôi có là đồng lõa muốn trốn trại với Hạ không, và cũng nhân dịp này moi luôn việc tôi đã hỏi khó tên cán bộ chính ủy Trung đoàn, để có thêm cớ đập tôi một trận nhừ tử. Sau ba ngày liên tục tra hỏi đánh đập, cuối cùng đánh chán cũng không hỏi được gì hơn, đành thả tôi về trại.

    Hạ bị nhốt trong một “connect” ngoài bãi dất trống sau trại. Giờ trưa ở vùng cao nguyên nắng lửa mưa dầu này, trời nóng như nung. Connect bằng sắt vuông vức mỗi bề khoảng hai thước, dù có một anh em nào đó lén chặt đâu được hai tàu lá dừa úp lên trên nóc, tôi nghĩ nhiệt độ bên trong chắc vẫn nóng khủng khiếp lắm, rất có thể làm người bị nhốt điên lên được
    .
    Mỗi ngày hai lần, một anh em cải tạo do bộ đội có súng hộ tống đưa cơm cho Hạ và cũng chính với lon Guigo đựng cơm này, Hạ phải dùng để đi đại tiện khi cần. Hai tháng sau, Hạ bị chuyển đi đâu không rõ, nhưng cho đến nay tôi không còn được tin gì của anh nữa.
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  16. #76
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Hồi ký Cải Tạo [6](Nguyên tập)

    Kàtum hết về.

    Cuối năm đó tôi chuyển đi Katum. Đây là một trong những trại lao động khủng khiếp hàng đầu của tù cải tạo trong miền nam Việt Nam lúc đó. Kàtum thuộc Quận Bổ Túc tỉnh Tây Ninh, Trại nằm sâu trong khu rừng gìa, gần biên giới Việt Miên.

    Đoàn xe chở chúng tôi mỗi lúc một sâu vào rừng. Khi xe ngừng, trời đã xế trưa. Có lẽ đây là một khu xóm cũ của người Thượng đã bỏ hoang vì chiến tranh. Nhìn quanh, tôi còn thấy dấu vết của mấy chòi tranh sót lại đã rách bươm.

    Tuy sinh ra ở ngoại ô Hà Nội, nhưng khi mới lên năm đã theo gia đình chạy trốn Cộng Sản, di cư vào Nam năm 1954, vì thế có thể nói là tôi sinh trưởng tại SàiGòn. Cuối năm thứ nhất Luật Khoa, thi rớt phải nhập ngũ. Tôi đã tình nguyện vào Hải Quân. Đời lính toàn lênh đênh trên biển cả, nếu có thấy rừng chỉ là nhìn từ xa chứ đâu bao giờ biết đến rừng rú như thế này.

    Xuống Molotova, xung quanh rừng dầy bạt ngàn. Chỗ chúng tôi đứng là một khoảng trống nhỏ, có hai chòi tranh đã rách nát lâu đời. Bên phải là một trảng trống lớn, cỏ tranh cao ngang thắt lưng. Bên trái là khu rừng chồi thưa, lỗ chỗ mấy hố bom B52 từ bao giờ nay đã đầy nước. Tôi có cảm tuởng như mình đang bị đi đày với án khổ sai biệt xứ. Chúng tôi căng bạt dưới gốc cây ở tạm tuần lễ đầu, sau đó mới đốn cây, đào gốc dọn chỗ đắp nền nhà, chia nhau vào rừng chọn cây đốn làm cột, kèo, chặt le làm rui mè, cắt tranh đánh tấm lợp mái, dựng nhà.

    Dụng cụ dùng trong tiểu đoàn toàn bộ chỉ có 5 con dao, 3 cuốc, và 3 xẻng. Chúng tôi tìm được ngoài bìa rừng một ít cọc sắt hàng rào kẽm gai, đập dẹp biến chế thêm dao, xẻng, cuốc. Những cây to một hai người ôm, chúng tôi đốn xuống, đào gốc, và dọn chỗ làm nền nhà, đều dùng các dụng cụ này.
    Ba tháng tới trạI, tôi có cảm tuởng đã như ba năm. Ban đêm dù mệt nhoài vì phải làm việc quần quật suốt ngày, tôi vẫn thao thức khó ngủ. Tối nào cũng nằm trằn trọc nhớ mãi người vợ nhỏ yêu thương đang vất vả cô đơn, và nghe tiếng tắc kè trong bọng cây kêu từng hồi như tiếng thở dài não nề: “TTTTắắc… kèè… TTTắc...kkèè... Tắắc...kkèèèèèèè...“

    Có vài bạn nói: Nghe càng lâu càng giống như “hhhhhếết… vvềề…. Hhhếết…vvềề…. Hết…vvềềềềềềềềề..“ Tít ngoài xa, vẳng tiếng vượn hú lanh lảnh, càng làm tăng cái cảm giác cô quạnh cho phận tù nhân hơn nữa. Mãi đến thật khuya tôi mới có thể thiếp đi trong mệt nhọc.

    Đồng hồ không người lái.

    Tôi lãnh nhiệm vụ đi cắt tranh sáng nay. Chỉ tiêu đủ mười lăm tấm nộp trong ngày. Húp vội chén nước cháo, rồi xách gậy và liềm đi ngay vào rừng. Tôi biết, bên trái khu rừng chồi trước trại, rừng rất dày, nhiều gai Mây và Song, nhưng chỉ là một giải rừng hẹp, tuy rậm rạp khó đi, nhưng nếu chịu khó len lỏi qua được phía bên kia sẽ thấy một trảng tranh lớn, vẫn còn nhiều tranh dài có thể đánh tấm. Đến đó sẽ không phải đi tìm xa và không sợ thiếu thời gian.

    Tuy nhiên tôi vẫn muốn vào rừng sớm một chút, hôm qua khi chặt le về phát giác cây cám to đã có qủa chín nằm khuất trong cánh rừng le bên phải khu rừng chồi. Đêm qua gió khá lớn, nhất định sẽ có trái chín rụng đầy mặt cỏ, có trái rừng ăn no, còn có thể để dư cho buổi chiều. Tù cải tạo lúc nào bụng cũng đói meo, có dịp kiếm được ít trái cây rừng nhét bụng, khi nào tôi chịu bỏ qua.
    Toán lao động vừa ra khỏi trại, tôi tách rời anh em, rảo bước như chạy về phía khu rừng chồi. Băng ngang giải rừng song tới gần cây cám, từ xa đã ngửi mùi thơm ngào ngạt của trái chín. Dưới gốc cây có hai anh bạn ở trại khác cũng vừa chạy tới. Chúng tôi lục tìm trong cỏ nhặt những trái chín rớt xuống đêm qua. Tôi được khoảng mười trái, ăn ba còn lại bỏ cả vào túi và đi cắt tranh, tính chiều nay về trại sẽ chia cho Điển mấy trái. Điển là bạn học cùng trường trung học, tôi đã gặp hôm mới tới đây.

    Khi ra lại khu rừng chồi để băng ngang qua bên kia, tôi thấy có một bộ đội tách rời toán tù chặt cây và lẽo đẽo theo sau tôi quẹo phải. Qua rừng chồi, xuyên ngang giải rừng rậm đầy gai góc hắn ta vẫn theo sau. Tới trảng tranh hắn ngồi trên một gốc cây đổ chăm chú nhìn tôi cắt tranh. Khi tôi ngưng lại uống nước xả hơi, hắn tới gần hỏi:

    - Anh này cắt tranh cũng khá chất lượng đấy nhỉ! Anh ở đội nào thế?
    - Chào anh, Tôi ở đội một.
    - Anh cho tôi mượn xem cái đồng hồ anh đang đeo được không?
    Tôi vốn đang lo không biết hắn muốn gì mà vác súng theo tôi cả buổi, giờ hiểu ra mới biết hắn mê cái đồng hồ đeo tay. Tôi gật đầu và tháo đưa cho hắn coi. Hắn ta ngắm nghía một lúc và hỏi?
    - Đồng hồ này cũng khá đẹp đấy, mười ba nến, hai cửa sổ, nhưng mà đồng hồ này của anh có người lái không?
    Tôi ngẫn người không biết hắn ta nói gì. Mười ba nến hai cửa sổ là sao?
    - Tôi không biết thế nào là có, hay không có người lái? Nhưng đồng hồ này của tôi chạy rất đúng giờ.
    - Thế anh lúc xưa trong quân đội ngụy cấp bậc gì?

    Nghe hỏi vậy, tôi lại càng không hiểu tên này muốn gì. Cấp bậc của tôi có liên quan gì đến việc này? Tôi vẫn biết trong đầu óc bộ đội, tù cải tạo chúng tôi cấp bậc càng cao tội càng lớn. Nhưng tại sao khi không lại hỏi cấp bậc của tôi?
    - Xưa tôi là Trung úy.
    - Trung úy ngụy các anh sao mà dốt thế! đồng hồ không người lái mà cũng không biết. Này nhá! đồng hồ không người lái là mình không phải lái gì hết cả, cứ để mặc nó cũng vẫn chạy như thường đấy.
    - Ồ, vậy đồng hồ của tôi không người lái.
    - Anh có bán không? tôi mua cho anh giá cao.
    - Tôi không bán.
    Nghĩ nếu có tiền cũng chẳng xài gì được trong tù, nên dù hắn ta nói thế nào tôi cũng không chịu bán. Thích quá, hắn giữ lại ngắm nghía mãi mới chịu trả. Sau lần đó, tôi bỏ đồng hồ trong túi và không bao giờ đeo ở tay nữa, sợ sẽ gây nhiều chú ý.

    Trăn của nhân dân.

    Một sáng sớm, Điển và tôi đi rừng lấy cột nhà. Tiêu chuẩn cột phải thẳng, phải tương đối đều, không thể gốc quá to ngọn quá nhỏ, vì sẽ rất khó đục mộng dặt kèo, đường kính từ hai mươi hai đến hai mươi lăm cm, dài bẩy mét và phải là gỗ tốt.

    Các loại cây Dầu, Chai hay Bứa đều là những cây cao thẳng tắp, muốn tìm được cây thẳng dài trên bẩy thước thiệt không khó khăn chút nào, khi hạ xong chỉ cần róc một chút vỏ phía dưới gốc làm chỗ nắm và kéo ngược lên trên, nguyên lớp vỏ sẽ lột ra thành từng dây dễ dàng nhanh chóng, không như các loại cây khác, muốn lột vỏ, phải dùng một khúc gỗ đập vào thân cây, vỏ ở chỗ bị đập sẽ dập nát ra, đập như thế trên toàn bộ cây cột mới chặt cho hết vỏ, thường đập khoảng ¼ cây đã ê ẩm cả cánh tay. Chai, Bứa, cũng như Dầu, nhựa cây tuôn ra rất nhiều ngay lúc lột vỏ, khiến cho cây nhẹ hẳn đi, vác từ rừng về trại tuy cũng rất mệt nhưng không đến nỗi đôi vai bị tê nhức tới ngày hôm sau như vác các loại cây nặng khác.
    Khổ một nỗi, các loại cây đó đều không được nhận, vì gỗ của nó rất được mối ưa thích. Cây rừng tươi, gỗ tốt thường rất nặng, phải hai hay ba người mới vác nổi về trại.
    Mãi gần trưa chúng tôi mới tìm được một cây trường vừa ý. Mở ngàm cho cây đổ đúng hướng và hì hục thay nhau chặt. Cây ngả, tôi đo đủ bẩy thước và chặt ngọn.

    Khi đo tôi thấy có con trăn lớn, dài gần ba thước bị đè chặt dưới ngọn cây đang cố tìm cách thoát ra. Có lẽ lúc nó đang trên cây, cây ngả chạy không kip nên bị đè. Chúng tôi liền đập chết trăn và tiếp tục chặt ngọn, lóc vỏ cây, sau đó cuốn trăn vào cây và dùng dây rừng cột chặt, hớn hở cùng nhau về trại. Hai chúng tôi bảo nhau: sẽ có thịt cho nguyên tuần lễ sắp tới. Về dến ngang chòi canh cổng trại, Người bộ đội gác cổng chỉa súng chặn chúng tôi lại và sừng sộ:

    - Hai anh kia đứng lại ngay cho tôi coi nào, sao hai anh dám bắt trăn của nhân dân?
    - Con trăn này trong rừng. Lúc chúng tôi chặt cây thấy nó kẹt chết dưới cây đổ nên lấy về, chúng tôi đâu có bắt trăn của dân đâu.
    - Anh còn ngoan cố hả! trăn trong rừng là của nhân dân đó biết không?
    - Anh nói thế tôi thấy không đúng! Trong khu rừng này đâu có nhà dân, mà dân đâu có ai nuôi trăn bao giờ.
    - Rừng là tài sản của dân, vậy trăn trong rừng cũng là của nhân dân chứ còn gì nữa. Bọn tù các anh quen thói bóc lột của nhân dân vẫn không chừa. Mau đưa con trăn cho tôi ngay.
    - Nếu vậy chúng tôi đem thả nó ở chỗ đã bắt được.
    - Bộ đội chính là từ nhân dân mà ra. Các anh đã học tập chính trị bao nhiêu lâu nay còn chưa thông suốt sao. Cứ để con trăn xuống đó, tôi đem nó lên báo cáo cho cấp trên biết không?

    Điển và tôi đành hậm hực tháo trăn bỏ xuống đất. Dù uất ức cũng phải chịu. Làm sao cãi được với những lý lẽ chày cối như thế, lại thêm họng AK đen ngòm nữa. Đã tưởng sẽ có một ít thịt, nhưng miếng thịt đã như đến miệng vẫn còn bị họng súng móc ra mất.

    Tự túc lương thực.

    Chúng tôi phá rừng làm rẫy, trồng khoai mì, khoai lang theo kế hoạch tự túc lương thực. Câu nói “quê hương ta đất đai mầu mỡ” quả nhiên rất đúng cho lúc này. Những gốc mì lên nhanh như thổi, chẳng bao lâu các dải đồi đã biến thành cánh rừng mì xanh ngát cao gấp hai người dứng, và chúng tôi đã có thêm công tác nhổ khoai mì.

    Nghe thật nhẹ nhàng, nhưng khi vác bao khoai len lỏi trong rừng mì ra chỗ cân nộp cho đội thật không dễ dàng như tôi tuởng. Đất tốt, mỗi gốc mì ít nhất cũng có trên bốn năm củ đâm ngang. Gò lưng nắm gốc mì kéo lên phải vận dụng toàn bộ sức lực mới keo nổi, mà sức thì đã mỏi mòn từ mấy năm nay. Nhất là khi trời vừa tạnh mưa, tay còn dính đất khi bẻ các củ khoai bỏ vào bao, gốc cây mì trở nên trơn tuột như lươn, nắm nhổ được lên càng phải tốn sức nhiều hơn nữa.

    Áp dụng đúng chủ thuyết xã hội chủ nghĩa, mọi tài sản đều là của chung, các đội nộp toàn bộ số khoai thu hoạch cho tiểu đoàn, và tiểu đoàn sẽ phân phối đồng đều trở lại theo tiêu chuẩn làm nhiều ăn nhiều, làm ít ăn ít. Sau mỗi lần thu hoạch, tiểu đoàn cho chúng tôi một tuần khoai mì điểm tâm thay cho nước cháo. Cán bộ nói đó là lòng ưu ái của đảng đối với anh em cải tạo. Hàng bao nhiêu tấn khoai không cánh đã bay mất nhanh hơn cả ảo thuật.

    Ngay từ ngày đầu cải tạo, bữa ăn luôn luôn thiếu lại không có chất dinh dưỡng, sức lực anh em càng ngày càng lụn bại. Bụng đói triền miên đó là chuyện thường, khi bị thương các vết thương phải mất thời gian lâu gấp đôi gấp ba mới có thể lành. Cóc, nhái, thằn lằn, chuột, bọ, rắn rết, hay bất cứ con vật gì có thể cung cấp chất thịt cải tạo viên đều không chừa. Đã có nhiều anh em chết vì ngộ độc cóc tía, nấm độc v.v...

    Sau Khi việc dựng nhà ở, hội truờng cho trại tạm xong, chúng tôi đắp lò rèn, đúc dụng cụ mộc. Cưa, đục, bào, đủ loại. Từ đó, chuyển sang đóng đồ dùng trong nhà. Lúc đầu bàn ghế còn thô sơ bằng gỗ tròn, dùng trong hội trường và nhà ở, dần dần chúng tôi phải vào sâu trong rừng tìm hạ các loại gỗ quí, như gõ, cẩm lai, Trắc v.v… Nghề dậy nghề, kỹ thuật đóng đồ gỗ của anh em cải tạo càng ngày càng cao.

    Mặc dù toàn bộ dụng cụ dùng đều do tự chế, chúng tôi vẫn xẻ ván từ những cây to hai ba người ôm, đóng thành những bộ sa-long, bàn ghế, tủ dựng quần áo, hay những chiếc giường thật đẹp, không thua gì những đồ bày bán trong các tiệm đồ gỗ nổi tiếng dọc đường Hồng Thập Tự ở Sàigòn trước năm 1975. Đồ sản xuất rất nhiều, cán bộ lấy đem về nhà riêng, hoặc đem bán kiếm tiền. Tiểu đoàn nào sản xuất được nhiều cán bộ tiểu đoàn đó giầu, lâu ngày trở thành một phong trào ganh đua giữa các cán bộ. Thi nhau bắt cải tạo đóng đồ gỗ đem bán.

    Lần đầu tiên chúng tôi được viết thư cho gia đình cũng từ trại KàTum. Trước khi viết thơ, cả tiểu đoòn phải học tập về điều lệ và nội dung bức thơ được chấp thuận cho gởi. Những thơ không hội đủ tinh thần sẽ bị giữ lại.

    1- Nội dung không được than thở, trái lại phải động viên tinh thần thân nhân, khuyên họ luôn nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp chính quyền địa Phương
    2- Cổ võ tinh thần người thân khuyên họ phải tin tưởng vào chính sách cải tạo của đảng Cộng Sản Việt Nam.
    3- Cho thân nhân biết, cai tạo viên được đối đãi tử tế, được cấp phát quần áo và lương thực rất đầy đủ.

    Thăm nuôi.

    Ba tháng trước, Chúng tôi được lệnh dựng một khu nhà tranh ngoài bìa rừng cách trại khoảng năm cây số. hai dẫy dài nối đuôi nhau thành hình chữ L, nằm lọt ở giữa là một căn nhà nhỏ, ba vách, vách trước để trống quay về hướng hai dẫy nhà dài, tất cả nằm trong một vòng rào kín, nay được biết đó là khu thăm nuôi. Căn nhà nhỏ nằm gần cửa hàng rào, làm chỗ cho thân nhân khi đến trại vào đăng ký. Lúc dựng căn này, tôi đã thấy hơi lạ, cán bộ muốn chúng tôi để trống bức vách nhìn ra hai dẫy nhà dài. Đến ngày có người nhà lên thăm tôi mới hiểu. Từ căn nhà nhỏ có thể dễ dàng kiểm soát mọi động tĩnh bên hai dẫy nhà ngang.

    Đa số khi viết thơ về gia đình, ai cũng xin đồ ăn. Không ngoại lệ, tôi cũng xin nhà một lọ mắm ruốc, nghĩ thứ đó rẻ và có thể để được lâu không hư, một chai nước mắm, thuốc ngừa sốt rét, và một chút mật gấu nếu có. Được báo có người nhà tới thăm, tôi vừa mừng vừa lo. Mừng vì sắp được gặp mặt người thân, lo vì không biết vợ con tôi có đi được không? Từ bao lâu nay tôi luôn mong ước được thấy lại người vợ mà tôi ngày đêm nhung nhớ. Chuyến thăm đầu, có ba tôi và đứa em trai. Nhưng tôi vui mừng hơn cả có lẽ vì có vợ tới, nàng còn bồng cả con gái đầu lòng của chúng tôi theo nữa.
    Gia đình tôi quây quần cả bên cái bàn trong một gian của dẫy nhà ngang.

    Trong góc gian phòng, có bộ đội đeo AK ngồi canh nên chúng tôi đặc biệt cẩn thận từng lời nói. suốt hai tiếng đồng hồ tôi không rời vợ và đứa con gái vừa được hơn ba tháng. Nàng cứ nhìn tôi mà khóc chẳng nói được gì. Ba tôi đã gìa nhiều, ngày tôi đi ông còn rất trẻ trung . nay mới năm mươi mà tóc bạc trắng như đã trên lục tuần. Ông cứ thắc mắc mãi, vì sao tôi xin mật gấu.

    Cuối cùng tôi hạ nhỏ giọng cho ông biết tôi bị tra tấn cần mật gấu để trị nội thương . Vợ tôi nghe được, nước mắt càng dàn dụa. Hai tiếng thăm nuôi sao ngắn qua, giống như chỉ hai phút. Lúc chia tay tôi không ngăn được cảm xúc. Ba tôi cũng bùi ngùi dặn tôi nên bảo trọng. Vợ tôi bịn rịn chẳng muốn rời.

    Đường từ khu thăm nuôi về trại sao dài thăm thẳm. Các bạn khác vì xin quá nhiều đồ ăn phải gồng gánh nặng nề, có người phải đi dây chuyền hai gánh nên đi thật chậm. Tôi chỉ có một bao nhỏ xách tay cũng được nên không khó nhọc lắm trên đường về.

    Tôi ở Katum ba năm, được thăm nuôi hai lần , mỗi lần ba tiếng . Lần thứ nhì vợ tôi đi cùng mẹ và đứa em gái lên trại.

    (Còn tiếp)
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  17. #77
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Hồi ký Cải Tạo [7](Nguyên tập)

    Canh da trâu.

    Sang nay tiểu đoàn họp sớm, chúng tôi không những không phải đi rừng, còn được phát mỗi người một bộ đồ kaki mới. Tiểu đoàn ra lệnh:

    1- Hôm nay không phải lao động, nhưng mọi người không đuợc mặc đồ cũ, rách rưới. Trong vòng 2 ngày, bất cứ lúc nào, sẽ có phái đoàn quốc tế gồm đại diện các nước Nga, Anh, Pháp, Hòa lan, Bungary tới thăm trại.

    2- Trong trại phải hoạt động bình thường, và vui vẻ cười nói, không được nhăn nhó chán nản.

    3- Cấm tuyệt đối không được tự ý tiếp xúc trò chuyện hay nêu câu hỏi với phái đoàn. Cán bộ đã chỉ định người và chuẩn bị sẵn các câu hỏi cho mấy người này.

    4- Đặc biệt nếu ai dùng tiếng nước ngoài như Anh, Pháp v.v… nêu câu hỏi hay nói gì với phái đoàn sẽ bị trừng phạt nặng nề.

    5- Người đã được chọn sẵn, phải nêu đúng những câu hỏi cán bộ soạn trước, không được sửa đổi lệch lạc .

    Sau khi họp, về trại nghỉ nguyên ngày. Thật bất ngờ, các anh em trong tổ anh nuôi được lệnh đi lãnh đồ ăn. Mỗi đội ba ký lô da trâu và một rổ rau muống. Đã mấy năm không có thịt cá chi hết, nay bỗng có canh rau muống nấu da trâu, cộng thêm một bộ đồ kaki mới, còn được nghỉ xả hơi khỏi lao động. Đúng là đảng có lòng ưu ái cải tạo. Nhưng suốt hôm đó chẳng có ma nào tới. Gần trưa hôm sau mới thấy phái đoàn gồm ba nguời ngoại quốc được cán bộ đón đi xem hội trường. Họ đứng nói chuyện trên hội truờng một lúc, sau đó đi thăm nhà cán bộ rồi ra về. Không thắc mắc, không thăm viếng, không có câu hỏi cũng chẳng có trả lời.

    Sau buổi đóng kịch hụt, ngoài việc lao động từ sáu giờ sáng đến sáu giờ tối, Kàtum không còn gì đáng nhớ. Tôi ở trại này khoảng trên ba năm, cuối năm thứ ba có mười mấy anh em được thả, số còn lại chuyển về Thành Ông Năm Hóc Môn.
    Tôi về Hóc Môn càng buồn hơn, một số bạn được đi phép năm ngày thăm nhà, tôi không có may mắn đó. Trại gần thành phố nên được canh giữ rất kỹ luỡng, không có lao động xa, chỉ làm việc trồng trọt dọn dẹp lặt vặt trong vòng rào trại. Tôi giết thời gian ở đây bằng cách học guitar với Linh, một anh bạn mới quen.
    Một buổi tối tôi buồn và nhớ vợ, ra sau dẫy nhà ngủ, ngồi một mình dưới gốc cây hát cho vơi sầu. Bài “chiều hành quân”, Linh nghe được dem cay dan da chiến ra dệm cho toi. Từ đó chúng tôi thường quây quần lén hát nhạc vàng cho nhau nghe. Tạ Kỳ Linh, là con trai lớn của nhà văn Tạ Tỵ, chúng tôi đổi ngược tên thật của anh lại thành “Tinh Kỳ lạ” cho hợp với cái tài chơi đàn xuất chúng, dù chỉ với cây đàn do chúng tôi tự dùng ván thông và gò nhôm làm thành. Ngoài ra tôi còn cắt nhôm làm kẹp tóc, lược, lắc đeo tay và khắc hình hay chữ trên đó. Khoảng mấy tháng ở đây vì ít phải lao động cực nhọc sức khoẻ tôi đã phần nào hồi phục.

    Hơn ba năm từ ngày Cộng Sản chiếm Sàigòn, thành phố tráng lệ của miền Viễn Đông. Chúng tôi, những người con hiên ngang gánh vác trách nhiệm bảo vệ tự do cho miền Nam đã không dứt áo ra đi, đã không nỡ xa rời quê mẹ.
    Dù sao cũng vẫn cùng một giống nòi Hồng Lạc. Đất nước hợp nhất, không còn chiến tranh. Chiến tranh dứt thù hận cũng tiêu tan. Ở lại dù có khổ sở thế nào cũng vẫn là người dân nước Việt sống trên quê hương Việt Nam.

    Không lẽ Việt Cộng nay đã lấy được trọn cả nước lại đi giết tập thể hàng trăm ngàn người dân chúng tôi sao? Vì ý nghĩ đó, chúng tôi đã tự nguyện ở lại đem thân vào chốn lao tù, làm việc khổ sai đày đọa, cách biệt hẳn với xã hội bên ngoài.

    Nhưng hỡi ôi! Việt cộng dưới quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam không giết chúng tôi tập thể. Chúng chưa muốn người dân Việt Nam kinh hãi, và nhìn rõ bộ mặt thật của Cộng Sản. Đảng đã thâm hiểm hơn gấp trăm gấp ngàn lần, đã đánh lừa gom những người con ưu tú của miền Nam vào các trại tù khổng lồ, và che mắt mọi người bằng mỹ danh trại “Cải Tạo”.

    Xã hội sẽ không còn người chống đối phản kháng những việc làm bán nước hại dân của chúng. Trong trại tù chúng không những hành hạ bắt làm việc nặng nhọc ngoài sức chịu đựng của con người, còn cướp hết những lương thực sản phẩm do tù nhân làm ra để họ ngày một đói, không chết vì rừng thiêng nước độc, bệnh hoạn không thuốc men, cũng chết dần vì thiếu đói, vì kiệt quệ, hao mòn trong lao động khổ sai, triền miên. không còn lầm lẫn nào lớn hơn lầm lẫn này. Cái ý nghĩ cùng một giống nòi Hồng Lạc mới mỉa mai làm sao!!! Cuối năm thứ tư tôi bị chuyển đi Phước Long.

    Phước Long.

    Phước Long là vùng cao nguyên, Trại cải tạo nằm sâu trong rừng, về sáng sương mù và khí lạnh rất lâu tan. Những khu rừng lồ ô thường nằm dưới thung lũng, thấp và thiếu ánh sáng nên ẩm ướt càng thêm ẩm ướt, lá lồ ô rụng thành một lớp dầy, lâu ngày mục nát rất thích hợp cho vắt sinh sống.

    Tôi ghét cay ghét đắng công tác lấy lồ ô, không phải vì nặng nhọc, chỉ vác hai cây dài đã nặng quằn vai, trong trại tù, có công tác nào mà không nặng nhọc? cũng không phải vì rừng lồ-ô ở khá xa trại, chặt dủ bốn cây vác về đã mất hơn hẳn nửa ngày còn mệt bở hơi tai, nghỉ nguyên buổi chiều cũng không lại sức. Tôi ghét đi lấy lồ ô vì rừng lồ ô đầy vắt. Bất cứ ngừa cách nào, bó chặt tay áo, cột kín ống quần v.v.. đều không thể tránh bị vắt cắn.

    Mỗi lần đi lấy lồ ô ít nhất cũng bị năm ba con hút no máu to phồng, đó là chưa kể hàng chục con khác mới vừa bắt đầu hút máu đã bị phát giác và bị giết ngay tại chỗ, thật khốn khổ hơn nữa nếu không may ta bị một con chui vào tai hay hậu môn.

    Có lần chặt xong hai cây, róc sơ cành lá cho khỏi vướng, tôi gò lưng, è cẳng kéo ra ngoài trống chỗ có ánh sáng mặt trời, vì biết vắt rất kỵ ánh nắng, cảm thấy trên mu bàn chân vừa ngứa vừa đau vội cởi giầy ra xem, vừa lột được chiếc vớ tôi đã rùng mình, tóc gáy dựng dứng.

    Một cảm giac ớn lạnh thật khó tả, suốt đời tôi không bao giờ quên, chạy doc xương sống làm trán toát mồ hôi. Thấy trên bàn chân chín, mười con vắt bu kín đang đua nhau hút máu, con nào cũng đã căng tròn. Tôi vội vàng dùng luỡi dao gạt hết xuống, bằm nát, rồi lấp đất lên để khỏi phải nhìn máu của chính mình loang đầy mặt đất.

    Một lần khác, nộp lồ ô xong trời đã chiều, ra giếng tắm, cởi áo mới thấy con vắt to căng tròn máu rớt từ sau lưng xuống, vì quá no không còn hút thêm được đã căng tròn như một viên bi nên tự động rớt ra.

    Chúng tôi đã gầy gò vì thiếu ăn lâu ngày, bị mất máu như thế, với tôi là một cực hình ghê sợ nhất. Cái tệ hại bị vắt cắn không những chỉ mất số lượng máu đã bị hút, chỗ vắt cắn thường rất lâu lành, máu vẫn tiếp tục chảy dù con vắt đã bị chúng ta lấy ra. Trên miệng vắt tiết ra chất chống đông máu. Khi vắt đã nhả, trung bình phải mất ít nhất từ hơn nửa tiếng đến một tiếng máu mới có thể ngừng chảy.

    Từ khi đến Phước Long, Tinh Kỳ Lạ và tôi ở khác đội, ít có dip gặp nhau. Việc học đàn với anh phải tạm gác lại. Các bạn cùng đội biết tôi từng mê chuyện kiếm hiệp Kim Dung, mỗi tối đều tìm cách mời tôi kể lại, họ nấu chè hoặc bất cứ món ăn gì có thể tìm được, đặc biệt để dành cho “thầy kể chuyện”.

    Tối nay buổi kể chuyện cũng tạm ngưng vì tập họp điểm danh bất thường. Hồi sáng đi cuốc cỏ ruộng mì tôi có gặp Linh, tôi chỉ chào hỏi qua loa và nhận ra Linh có vẻ vội vã. Không rõ như thế nào, nhưng Linh đã âm thầm sắp xếp với vợ qua mấy lần nuôi, và hôm nay chị Linh chạy xe Honda vào tận khu rừng thưa mang quần áo civil cho anh thay, hai người giả trang dân trong vùng cùng nhau trốn thoát về SàiGòn.

    Sau này tôi có đến khu chung cư Minh Mạng thăm nhưng không gặp linh, lúc đó đã đi Cà Mâu dò đường vượt biên, gặp chị Linh, tôi có gởi lời hỏi thăm anh. Nghe đâu anh cũng vượt biên an toàn và nay đang định cư tại Mỹ.
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  18. #78
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Hồi ký Cải Tạo [8](Nguyên tập)

    Xuyên Mộc, trại cuối cùng.

    Chuyển về Xuyên Mộc chúng tôi ai cũng mặt mày ủ dột. Đây là trại tù do Công an coi. Ngày đầu vào trại một cán bộ khi tập họp chúng tôi đã tuyên bố rõ ràng: Các anh ngụy quân ngụy quyền chuyển về trại này đều thuộc thành phần còn ngoan cố, học tập lâu vẫn không có kết quả tốt. Đã qua nhiều lần thanh lọc còn lọt lại. Những ai học tập tốt đều đã được cho về đoàn tụ với gia đình. Còn các anh có thể phải ở đây mãi mãi.

    Ở Xuyên Mộc khoảng năm tháng, người Thiếu úy cán bộ đại đội gọi tôi lên để nói chuyện rieng. Trong lòng hồi hộp không biết mình đã ăn nói sơ hở gì để ang-ten báo cáo.

    Kinh nghiệm mấy lần, khi bị gọi lên gặp riêng với cán bộ lần nào tôi cũng mang cái thân ốm đòn trở về. Cũng may lần này anh chàng cán bộ đại đội trưởng này cho tôi biết anh ta nghe một người bạn tù giới thiệu, tôi khéo tay, biết vẽ và xủi đồ nhôm.
    Anh ta muốn nhờ tôi xủi hình một cô gái và đóa hoa hồng vào mặt hộp quẹt máy cho anh. Tôi nhận lời ngay vì đây là dịp may khỏi bị đào đất khiêng cây hoặc làm những việc nặng nhọc khác. Hết quẹt máy này anh ta đưa quẹt máy khác, hết quẹt đến vòng, lắc, kẹp tóc v.v…

    Một thời gian mấy tháng tôi luôn được ngồi trong gốc cây mát làm đồ riêng cho anh ta.

    Một hôm đang cùng các bạn đào gốc cây anh ta lại đến gọi tôi ra nói chuyện riêng. Lần này vừa mở lời đã chặn đầu: Anh phải làm tốt một việc sau đây, tháng sau anh sẽ được đề nghị cho về, và nhớ phải giữ kín chuyện tôi nói với anh hôm nay, nếu không anh sẽ bị giữ lại học tập thêm. Tôi rất ngạc nhiên, hôm mới vào trại có một cán bộ đã nói tụi tôi có thể sẽ phải học tập suốt đời ở đây. Anh ta tiếp: Trong vòng một tuần anh phải viết cho tôi bài báo cáo về tất cả những hanh dộng va tu tuởng sai trai phản dộng của mọi nguời trong đội. Nếu bản báo cáo tốt anh sẽ được về. Tuyệt đối không được dấu diếm che đậy chuyện gì cả .

    Đêm đó tôi trằn trọc mãi. Thi ra hắn muốn mình làm ang-ten. Thiệt là khôi hài, muốn tôi làm ăng-ten bán rẻ anh em, đừng hòng tôi làm chuyện đó! Nhưng nếu lỡ hắn ta nói thật thì sao đây? nghĩa là nếu tôi không viết báo cáo hắn có thể giữ tôi lại không? Không thể bỏ uổng dịp may hiếm có cũng không thể làm hại anh em. Vợ con tôi ở ngoài đang trông đợi tôi về, còn có gia đình tôi nữa. Thật là một đòn thâm độc. Suy nghĩ mãi tôi đã quyết định chờ tới ngày chót mới viết báo cáo. Trong báo cáo tôi viết: Tôi nhận thấy các bạn trong đội người nào cũng cố gắng hết sức lao động, học tập, chăm chỉ. Người nào cũng nôn nóng mong học tập mau về. Họ cố gắng nhiều quá nên mệt nhọc, công việc có hơi chậm lại. Ban đêm họ đều mệt, ngủ say không bàn tán xì xào gì được cả .

    Một tuần sau, buổi sáng sớm khi tiểu đoàn tập họp đi lao động, 12 người được giữ lại trại cho lãnh giấy ra về trong đó có tôi. Về đến nhà gặp cha mẹ vợ con mấy tháng sau có người dắt mối nhờ lái ghe vượt biên. Tôi không ngần ngại nhận lời ngay. Cuối năm 1980 may mắn đã đưa được gia đình thoát nạn tới Indonesia và đi định cư năm 1981 . Một thời kinh hoàng tủi nhục của đời người đã qua, nay nhớ lại tôi vẫn còn kinh tởm cộng sản vô cùng.


    Dung2
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  19. #79
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Những Gương Bất Khuất

    Đứng Thẳng Trước Mũi Súng Quân Thù

    Đỗ Văn Phúc


    Thời còn đi học, chúng tôi bị ảnh hưởng bởi những truyện lịch sử truyền thống Việt Nam, quan niệm rằng các vị anh hùng phải là thuộc giai tầng ưu tú xã hội như những vị vua hay các vị tướng lãnh thống soái… Nhờ chế độ Cộng Hòa và nền văn minh dân chủ khai sáng, người Việt Nam đã nhìn đến những người anh hùng ở các tầng lớp thấp hơn như các thiếu úy, trung úy, các hạ sĩ, binh nhì, thậm chí đến những chị Ba Hàng Xanh, em học sinh Quách Thị Trang.

    Mỗi lần Bộ Tổng Tham Mưu tưởng thưởng chiến sĩ anh hùng, đều có đủ mặt các cấp từ tướng tá trở xuống đến binh nhì, có đủ quân binh chủng từ Dù, TQLC, BDQ cho đến Địa Phương Quân và Nghĩa Quân. Nói đến anh hùng thời chiến là nói đến nhưng chiến sĩ quả cảm, lập nên chiến công hiển hách trong phạm vi khả năng của họ; Thời bình hay nơi hậu phương là nói đến những nhân vật có những hành vi hơn người, vượt thắng khó khăn sợ hãi để bảo toàn danh dự, hay lý tưởng; hoặc có hành vi hy sinh bản thân để cứu người.

    Sự phong tặng danh vị Anh Hùng của chúng ta không quá lạm dụng như trong chế độ Cộng Sản. Họ phong anh hùng cho ngay những tên ngu muội, điên rồ bị lừa gạt chết oan nghiệt cho cái lý tưởng sai lầm; hay những kẻ vai u thịt bắp, đem sức mình ra làm hùng hục để kiếm tiếng khen.Thời chiến trận, quân lực ta vốn đã sản sinh nhiều gương anh dũng. Thời quốc nạn, những người tù cải tạo cũng không kém phần can trường. Không thiếu gì những gưong bất khuất mà chúng ta có bổn phận phải ghi nhớ và nhắc lại để con cháu hãnh diện về cha anh họ.

    Mười năm tù, tôi đã chứng kiến nhiều hành vi dũng cảm mà không phải ai cũng có khi đối diện với mũi súng, cùm kẹp của kẻ thù. Họ anh hùng hơn trăm lần những tên cán binh VC ngoan cường trong trại giam tù binh của chúng ta. Vì người CS bị giam giữ trong khi còn chiến tranh tức là còn niềm hy vọng, còn hậu phương của họ, còn công ước Geneve về tù binh bảo vệ. Những người tù cải tạo thì hoàn toàn cô đơn và tuyệt vọng. Cái gì đã giúp họ thắng được sự hãi của cái chết, sự tra tấn, sự đày ải? Đó là lý tưởng, tinh thần quốc gia, là lòng tự trọng và sĩ khí của người lính Việt Nam.

    Người mà tôi khâm phục nhất không mang cấp bậc tướng, tá, mà là một hạ sĩ tầm thường. Hạ sĩ Nguyễn Văn Đèn dáng người thấp, đậm, da ngăm đen, có buớc đi mạnh, vững. Anh người miền Bắc, tham chiến từ đầu thập niên 1950 trong binh chủng Nhảy Dù. Từ Z30D, anh được chuyển về Xuân Phước cùng một đợt với chúng tôi. Câu nói thường xuyên của Hạ sĩ Đèn là: "Ngày nào còn Cộng Sản, tôi còn chống." Anh không những nói với anh em, mà còn dư can đảm để nói trước mặt bọn cán bộ trại giam. Anh vào ra xà lim như người ta đi chợ. Nhưng dù bao đe dọa, đàn áp, anh vẫn không sờn lòng, không thay đổi lập trường, hay ít ra thay đổi thái độ bên ngoài để được tạm yên. Đèn đã có lần phanh áo, ưỡn ngực ra thách thức tên cán bộ: "Tôi chống Cộng đó, anh muốn bắn thì bắn đi."

    Điều đặc biệt là suốt thời gian chúng tôi biết anh, không thấy ai thăm nuôi anh một lần. Anh là con bà Phước thực thụ, nhưng lúc nào anh cũng giữ gìn tư cách, không để miếng ăn làm hạ phẩm giá mình. Tôi từng chứng kiến những lần hiếm hoi trong năm, khi tù được ăn cơm trằng, có cá thịt; anh chẳng bao giờ đứng gần chỗ chia thức ăn để soi mói nhìn vào cái chén của mình, so đo sự chia chác.

    Anh Đèn hình như về trước tôi vài năm. Vì đối với trại, miễn đừng làm gì nghiêm trọng như cướp súng, trốn trại, thì dù chống đối đến đâu cũng được về khi đã đáo hạn mà bọn cai tù đã âm thầm tuyên án vào những năm đầu tiên (1975-1976). Điều này cũng áp dụng cho những anh hăng say lao động, làm ăng ten lập công mà tưởng sẽ được về sớm.

    Có nhiều anh em dân chính mà tôi không nhớ hết tên họ. Những người mới lớn lên trước khi miền Nam sụp đổ. Họ hoặc còn mài đũng quần trong các lớp học Trung và Đại học, hoặc làm những việc rất khiêm tốn trong guồng máy xã ấp. Nhưng họ lại có những ý chí bất khuất và hành vi dũng cảm không ngờ trong trại giam. Tôi muốn nhắc đến vài tiêu biểu là sinh viên Vũ Mạnh Dũng. Trắng trẻo, đẹp trai, hiền lành, tư cách; Dũng làm cho chúng tôi thương mến và khâm phục. Sau này Dũng bị liệt bán thân, anh em cựu tù A-20 hải ngoại có quyên góp gửi về nhiều lần cả ngàn đô la cho Dũng tạm sống qua ngày.

    Nguyễn Văn Phước, biệt danh Phước Chột, vì anh hư một mắt. Gốc gác từ miền quê xa xôi ở đồng ruộng Nam phần, thuộc thành phần Hoà Hảo. Phước thất học, hình như làm nghề chăn vịt và bị bắt vì theo kháng chiến Hoà Hảo sau 1975. Phước làm đủ thứ linh tinh trong trại tù.
    Bắt trộm vịt, cá của trại để ăn, nhổ rau trộm của bệnh xá. Trong tay Phước khi nào cũng có một cái lon gô. Phước làm thế nào mà câu được cả con vịt rồi lột da, nhét trọn vào lon nấu có khi chưa kịp chín. Có khi Phước bẫy cả đàn chuột kho nấu bay mùi rất hấp dẫn. Nhưng Phước rất thảo ăn và có tình với anh em. Phước đã tận tình săn sóc Phạm Đức Nhì trong hàng tháng trời khi Nhì bị liệt, ăn uống vệ sinh tại chỗ. Đói thì lấy trộm của trại giam, Phước không bao giờ lấy của anh em; và cũng chẳng bán mình làm tay sai cho bọn cai tù. Phước sẵn sàng liều mạng nhảy hàng rào xà lim tiếp tế cho các đồng tù bị biệt giam (việc này xin ghi thêm công lao của Phạm Tuế khóa 2 CTCT đã tiếp tế đường, thuốc lào, giấy bút cho tôi liên tục trong lần cùm đầu tiên cuối năm 1979).

    Lâm Sơn Hải cũng là dân chính. Anh là con của cố Thiếu Tướng Hoà Hảo, Lâm Thành Nguyên. Hải tuy nhỏ tuổi nhưng chững chạc, tư cách đứng đắn. Ít nói nhưng chân tình, rất đáng tin cậy. Mỗi lần Hải được thăm nuôi tiếp tế, Hải chia xẻ cho anh em rất rộng rãi.

    Tôi bị chuyển khỏi trại Suối Máu trước khi nổ ra vụ nổi loạn đêm Giáng sinh 1978. Chia cùng một cặp cùm chân trên chiếc Molotova rời Suối Máu lúc sau nửa đêm là anh bạn Trần Hướng Đạo. Trần Hướng Đạo, Nguyễn (?) Văn Nhựt và tôi bị nhốt chung một Conex nhỏ ngay trước cổng trại K-5. Loại Conex mà quân đội Mỹ dùng để chứa hàng hóa, làm bằng loại sắt dày khoảng 2, 3 li, rất kín vì có thể bỏ xuống biển để kéo mà nước không vào được. Có 3 conex để trước cổng trại, sát chòi gác tên lính canh. Hai cái lớn thì chỉ nhốt mỗi cái một người (Đại Úy Nguyễn Văn Tuấn, tội trốn trại,và Thiếu Úy Dù Nguyễn Xuân Dũng, tội viết nhật ký nói xấu chế độ).

    Conex nhỏ nhất (1.2 x 1.6) thì có ba người. Đó là Đạo, Nhật và tôi. Muà hè Suối Máu, nắng đổ lửa, ít lắm cũng 40 độ C bên ngoài. Trong conex thì hừng hực như lò nướng bánh mì. Từ 9 giờ sáng, đã cảm thấy cái nóng nung người và chỉ dịu hẳn vào lúc gần nửa đêm. Nóng đến độ mà khi tên cán bộ coi tù và anh tù đưa phần cơm trưa độc nhất trong ngày phải dội lui vài bước sau khi cánh cửa conex được mở ra. Ba anh em chia nhau ngồi ba góc, cởi tuốt tuồn tuột. May mắn là conex đã cũ, có nhiều nơi sắt đã mục. Vì thế, mỗi ngày khi được ra ngoài một lần làm vệ sinh, chúng tôi lén nhặt các cục đá, cây đinh đem vào. Chờ khi trời làm cơn giông, thì rán đục vài lỗ cho không khí lọt vào. Anh em chúng tôi cũng lén lượm bất cứ thứ gì để quăng lên nóc conex để ngăn bớt sức nóng mặt trời. Nằm ba bốn tháng trong cái thùng sắt phơi giữa trời nóng mùa hạ Biên Hoà, thì dù Paven Korsagin trong chuyện Thép Đã Tôi Thế Đấy cũng chưa thấm vào đâu. Đạo, Nhật, Dũng, anh Tuấn và tôi bị đưa đi Hàm Tân trong cái đêm "kinh hoàng" cùng tất cả những người đang bị biệt giam của toàn trại Suối Máu.

    Đến Hàm Tân, Đạo, Dũng, Tuấn và tôi lại cùng ở chung đội 45 là đội bị lưu ý nhất của Z30C. Sau này Dũng chuyển hướng vì có người bố tập kết trở về hình như đang làm Trưởng Ty Công an Phú Khánh. Ông ta đã đến thăm con sau gần 30 năm xa cách và chắc có hứa hẹn điều gì đó; làm cho Dũng thay đổi lập trường mà tôi là nạn nhân đầu tiên.

    Đến A-20, Đạo gia nhập ngay đám sĩ quan trẻ như Phạm Đức Nhì, Lê Trung Phương, Nguyễn văn Hải (Hải Cà), Hải Bầu, Nguyễn Hạnh, Bùi Đạt Trung thành một nhóm hoạt động chống đối liên tục và tích cực. Nhóm lớn tuổi hơn thì có Vũ Trọng Khải (CSQG), Vũ Ánh (Ký giả), Nguyễn Chí Thiệp (Quốc Gia Hành Chánh), Trần Danh San (Luật sư), Tăng Ngọc Hiếu (Giáo sư biệt phái), Phạm Chí Thành (Con trai Đại Tá sử gia Phạm Văn Sơn), Trần Trọng Minh (Không quân), nhà văn Duy Lam, ca sĩ Khuất Duy Trác. Nhóm Sĩ quan xuất thân từ cựu Hướng Đạo Huế thì có Võ Xuân Hy, Võ Trịnh Xuân, Cái Trọng Ty.

    Nhóm tù chính trị tôn giáo thì có Châu Sáng Thế (Hồi giáo), các Linh Mục Nguyễn Văn Vàng, Nguyễn Quang Minh, Nguyễn Huy Chương (Vinh Sơn)… Nhiều lắm không thể nhớ ra hết. Những người này là linh hồn của các cuộc đấu tranh trong tù. Họ là những con đại bàng dù sa cơ vẫn không để bị lẫn lộn trong đám gà qué.

    Những ngày lễ lớn của VNCH, thế nào cũng có những buổi hát ca nhạc chiến đấu, phát hành nội san, vẽ cờ vàng trên vách. Vì thế, gần như thông lệ, gần đến các ngày 1-11 (quốc khánh VNCH), 19-6 (ngày Quân Lực), 25-12 (Giáng Sinh)… bọn cai tù lùa các anh vào xà lim nhốt lại cho chắc ăn, phòng trước những biến cố có thể xảy ra. Những lần ruồng bố này, chúng không cần đọc bản án trước trại như những lần khác. Có lần, xà lim trại E chật quá, dù đã cùm 4 người một phòng vẫn không đủ chỗ. Chúng đưa các anh vào tận trong các phân trại B, C để nhốt. Và thời hạn thì vô chừng. Có người một tháng, có người vài ba tháng. Cho đến khi nào bọn cai tù thấy tình hình có vẻ yên ổn, chúng mới thả các anh ra.

    Điều cảm động và khích lệ nhất đối với tôi là lần các anh Phùng Văn Triển, Cái Trọng Ty và tôi bị đem vào cùm giữa năm 1980 do việc lãng công phản đối sau vụ hai tên cán bộ quản giáo Quyền và Hoà đánh trọng thương hai anh Ty và Triển trong nhà lô; anh em toàn trại đã không chịu nhận khoai mì sáng hôm sau và đồng thanh la lớn: "No Eat, No Work" Tiếng la vọng đến tận xà lim như một sự nhắn gửi"Có chúng tôi bên các anh đây." Trại đã phải thả chúng tôi ra vài ngày cho dịu cơn phẫn nộ của tù nhân. Sau đó tìm cách bắt lại vào biệt giam. Lần này thì cả loạt cũng đến hơn mười người.

    So với con số ít ỏi những tên làm ăng ten thì thành phần bất khuất chiếm một đại đa số áp đảo. Thành phần thầm lặng cũng khá nhiều, nhưng họ không làm gì đáng trách ngoại trừ việc giữ im lặng, nín thở qua sông. Ngoài ra có một số ít thì biểu lộ "an tâm" cải tạo, hăng say lao động để giữ quyền lợi thăm viếng, được bình bầu khá và xuất sắc để được ăn phần 21, 18 ký khoai mì khô mỗi tháng. Chính những người thuộc thành phần sau này đã làm cho chỉ tiêu của trại tăng lên gấp ba, gấp năm lần so với thời gian đầu khi chúng tôi mới đến.

    Chúng tôi còn nhớ những ngày đầu vào cuối năm 1979, chúng ra lệnh cho mỗi người phải đào 1 mét khối đất mỗi ngày. Anh em chúng tôi chỉ nhẩn nha khoét sâu chừng 2 tấc rồi lấy cớ đói, bệnh không thể làm hơn. Thậm chí chúng tôi còn lợi dụng sự ngu dốt của bọn cán bộ để qua mặt bắng cách đắp một lớp đất mỏng dài 3 mét, rồi bảo chúng nó :"Một mét khối (1 m3) bằng ba mét thường." Sau này chỉ tiêu lên đến 7 mét khối, mà vẫn có anh làm vượt để được đi tắm suối, được bầu xuất sắc. Từ chỉ tiêu hai hố trồng khoai mì, sau này đã lên đến 45, 50 hố mỗi ngày.

    Nguyễn Chí Thiệp có lần đã lớn tiếng với tên cán bộ quản giáo Quyền khi tên này lên án anh em tù gian lận về chỉ tiêu. Anh nói: "Cán bộ không làm nên nói dễ dàng lắm. Còn chúng tôi, chúng tôi phải so đo tính toán vì đổ bao mồ hôi, công sức."

    Lần thứ hai bị cùm ở A-20 vào khoảng giữa năm 1980, khi tôi từ nhà kỷ luật ra, được chuyển qua đội 21 xây dựng (là đội lao động xuất sắc nhất của trại). Hai chân tôi còn rất yếu, chưa đi đứng vững mà đã được giao việc chuyển đất từ dưới độ sâu hơn 2 mét đem lên bờ. Dĩ nhiên cho dù có muốn làm cũng không thể nào làm được. Anh em thương tình xin cho tôi đứng trên bờ cầm cuốc để ban đất. Ấy thế mà khi bình bầu hàng tháng, có một anh trong đội đã phán một câu xanh rờn: "Anh Phúc chây lười,
    yếu kém, bóc lột sức lao động của anh em khác." Tôi trả lời ngay: "Các anh xuất sắc thì các anh một tô đầy ụ khoai mì, còn tôi chỉ vài lát. Như thế anh chưa vừa lòng ư?"

    Nhà bếp được lệnh chia khoai mì theo tiêu chuẩn cho từng loại: thau dành cho các anh tích cực (21kg/tháng), một thau dành cho loại khá (18 kg/tháng), thau dành cho trung bình (15 kg/tháng), và thau dành cho loại kém (12 kg/tháng). Trên mỗi thau đều có ghi số lượng người trong phân loại đó. Nhưng có lần, anh em nhà bếp lấy cớ không đủ thau để chia ra từng loại, nên phát chung, và có ghi nhận số từng loại trong đội. Chúng tôi biết thâm ý của nhà bếp là để anh em tù tìm cách chia xẻ đồng đều cho nhau. Nhưng thế nào khi chia khoai mì, cũng có vài anh đứng quanh soi mói nhìn và thắc mắc: "Anh A thuộc loại kém, sao chia nhiều thế? gần bằng các anh loại khá?"`

    Hai đội tích cực của Phân trại E là đội Xây Dựng, đội Mộc. Có ít nhất là ba phần tư các thành viên trong hai đội đó thuộc loại xuất sắc. Tuy nhiên đa số các anh vẫn luôn tỏ ra thông cảm, che chở cho các anh yếu sức và bị trù dập.

    Nhìn chung, nhờ thành phần chống đối bất khuất khi nào cũng đông và đoàn kết, nên dù qua bao giai đoạn căng thẳng, khủng bố, anh em tù nhân vẫn giữ được khí thế làm cho bọn ăng ten phải e dè, bọn trật tự thi đua phải khâm phục và ngay một số cán bộ cũng dần dần bị cảm hóa.

    [Nguyệt San Mạch Sống thuộc hệ thống truyền thông của Uỷ Ban Cứu Người Vượt Biển: http://www.machsong.org.]
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

  20. #80
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Làm thế nào để hàn gắn hố sâu ngăn cách trong xã hội Việt Nam sau năm 75?

    2006-05-07

    Trà Mi, phóng viên đài RFA

    Chiến tranh Việt Nam đi qua gieo rắc bao nhiêu vết thương chưa kịp hàn gắn thì những chính sách xây dựng đất nước kể từ sau ngày hợp nhất đã phạm những sai lầm mà hậu quả của nó không chỉ ảnh hưởng đến những người liên quan trực tiếp với cuộc chiến, mà còn tác động không nhỏ tới thế hệ thứ hai cũng như sự phát triển của đất nước đến tận ngày nay.

    Những ảnh hưởng ấy là gì? Và làm thế nào để khắc phục những sai lầm để hàn gắn các hố sâu ngăn cách trong xã hội Việt Nam lâu nay? Mời quý vị cùng Trà Mi tìm hiểu qua câu chuyện trao đổi với chính những người trong cuộc.

    Nhắc tới một trong những hậu quả khắc nghiệt của các chính sách cai trị độc đoán được áp dụng sau ngày hoà bình lập lại, một thanh niên thuộc thế hệ thứ hai tên Quốc chua chát nhận xét:

    Anh Quốc: Phe Việt Nam cộng hoà thất bại thì phải lãnh đủ. Điều đó tôi không trách vì trên thế giới này bao nhiêu cuộc chiến đều đúng như thế, nhưng trách là trách cách họ xử với thế hệ sau như chúng tôi. Chúng tôi là những người vô tội, mà bị đày đoạ quá thảm khốc.

    Hàng triệu đồng bào thuộc thế hệ của tôi ở lại đây gánh chịu một hậu quả rất nặng, không thua gì những người vượt biên. Sau 30 năm chúng tôi quằn quại hơn nhiều, ăn học không tới nơi tới chốn. Một kiếp người 30 năm sau không còn gì nữa. Sống thừa. Vì chúng ta xử với nhau hơi quá mức để rồi gây ra hậu hoạ cho đến ngày hôm nay. 30 lận đận, thê thảm, những con người đáng thương không được ai giúp đỡ cả, phải sống lây lất cho qua đi.

    Đó là lời tâm sự của một trong số hàng triệu nạn nhân thuộc thế hệ thứ hai đã nếm trải những cay đắng, khổ đau khi hoà bình lập lại, chỉ vì là con em của các thành phần được coi là chế độ cũ.

    Ý kiến của những người Cách Mạng như thế nào? Họ nói gì về cách thức thực hiện tinh thần chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam?
    Sau những sai lầm đáng tiếc đã xảy ra, làm thế nào để có thể khắc phục và củng cố lòng tin trong nhân dân?

    Đó là những câu hỏi chúng tôi nêu ra với nhà cách mạng lão thành có nhiều cống hiến cho đảng cộng sản, Cựu đại tá Phạm Triệu Huấn ở Hà Nội.

    Bạn nghĩ gì về nhận xét này? Xin email về [email protected]

    Cựu đại tá Phạm Triệu Huấn ở Hà Nội: Chúng tôi nghĩ thì trong quá khứ có những cái sai và có những cái đúng. Cái sai thì không phải một lúc mà giải quyết được, mà thậm chí ngay đến bây giờ nhiều người cũng chưa nhận ra là sai.

    Trà Mi: Thưa ông có những ý kiến cho rằng những người Cách mạng đã không thực hiện đúng tinh thần của chủ nghĩa cộng sản vốn đề cao bình đẳng giai cấp, xoá bỏ sự bóc lột giàu nghèo hay khoảng cách giữa kẻ thống trị và người bị trị.

    Nhưng nhìn vào thực tế hiện nay thì những ngừoi giàu có quyền lực trong xã hội chính là những đảng viên tham nhũng, lộng hành, hưởng thụ trên công sức lao động của nhân dân, điển hình như vụ PMU18 mới đây, thì đâu là bình đẳng xã hội. Đâu là lý tưởng chủ nghĩa cộng sản?

    Cựu đại tá Phạm Triệu Huấn ở Hà Nội: Tôi nghĩ bất bình đẳng xã hội thì vẫn còn rất nhiều. Muốn giải quyết phải cần thời gian, tất nhiên là thời gian ấy cũng đã hơn 30 năm rồi chứ không phải ít.

    Trà Mi: Nhưng nói về việc thực hiện tinh thần của chủ nghĩa cộng sản thì ông đánh giá như thế nào?

    Cựu đại tá Phạm Triệu Huấn ở Hà Nội: Cái đó bây giờ bất khả thi rồi. Nếu đúng tinh thần chủ nghĩa cộng sản thì đó là sự lãng mạn và không có biện chứng.

    Thực tế cho thấy nếu xây dựng đúng như các lý thuýêt đó thì chỉ dẫn đến đổ vỡ thôi, nhưng tất nhiên nó cũng làm được một số vấn đề, nhưng mang lại hạnh phúc cho nhân dân thì nó gặp rất nhiều khó khăn…Bản thân chủ nghĩa cộng sản tôi nghĩ là không làm được.

    Trà Mi: Hồi nào giờ mình vẫn đặt ra chủ nghĩa đó là kim chỉ nam và cho tới nay vẫn nhất quyết đi theo đường lối của chủ nghĩa đó, thì nói như ông bây giờ làm thế nào để đem lại công bằng và hạnh phúc cho nhân dân, thưa ông?

    Cựu đại tá Phạm Triệu Huấn ở Hà Nội: Phải cải cách, chúng tôi cũng nghĩ đến việc chuyển đổi giống như 1 cuộc cách mạng. Bây giờ tư hữu hoá nhiều rồi đấy...

    Trà Mi: Xin cảm ơn thời gian ông dành cho cuộc trao đổi hôm nay.
    "And in the end, it's not the years in your life that count. It's the life in your years - Và cuối cùng, không phải đếm kể bao nhiêu năm ta sống. Chính là ta đã sống như thế nào và ra sao trong những năm tháng đó"

    Tổng thống Abraham Lincoln

Page 4 of 10 FirstFirst 12345678910 LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Vinh danh cờ vàng
    By BoBoTx in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 1
    Last Post: 02-24-2012, 11:57 AM
  2. úi chà chà VN lại được vinh danh tiếp :)
    By VietTaolao in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 8
    Last Post: 11-03-2009, 08:41 PM
  3. Vinh Danh, Tưởng Niệm và Tạ Ơn ai ?
    By Mokuradov in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 1
    Last Post: 04-26-2008, 10:26 AM
  4. Vinh danh ông Nam Lộc
    By banhtieu in forum Khoa Học Chính Trị ( Political Science )
    Replies: 5
    Last Post: 01-05-2008, 02:10 PM
  5. Vinh Danh
    By convitcon in forum CLB Hội Họa & Nhiếp Ảnh
    Replies: 1
    Last Post: 05-30-2007, 04:52 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •