Page 1 of 10 12345678910 LastLast
Results 1 to 20 of 183

Thread: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

  
  1. #1
    Join Date
    Apr 2005
    Posts
    397
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    THƯ TRẢ LỜI ĐẠI SỨ CỘNG SẢN VIỆT NAM NGUYỄN TÂM CHIẾN VỀ VIỆC VINH DANH LÁ CỜ VIỆT NAM CỘNG HÒA VÀ DỰ ÁN TƯỢNG ĐÀI CHIẾN SĨ TỰ DO TẠI TB WASHINGTON.

    Nhân vụ Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang là Pam Roach đưa ra hai nghị quyết tại Thượng Viện Tiểu Bang. Nghị quyết thứ nhất là công nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa cũ; nghị quyết thứ hai ủng hộ dự án xây tượng đài tại tiểu bang Washington kỷ niệm các chiến sĩ chiến đấu cho Tự Do.

    Sau đó Nghị Sĩ Roach nhận một bức thư từ Đại sứ Cộng sản Việt Nam phản đối cả hai Nghị quyết trên. Ông Terrell A. Minarcin đã đánh máy lại thư Nguyễn Tâm Chiến và viết thư trả lời.

    Đại sứ Cộng sản Việt Nam tại Washington D.C. đã phản ứng một cách điên cuồng, nên đã phạm phải những lỗi lầm nghiêm trọng về ngoại giao và bang giao quốc tế, trong đó có việc xâm phạm vào công việc nội bộ của công dân và đất nước Hoa Kỳ.

    Sau đây là thư phản đối của Nguyễn Tâm Chiến, Đại Sứ Cộng sản Việt Nam gửi Thượng Nghị Sĩ Pam Roach, tiểu bang Washington .

    Ngày 10-2-2004

    Kính thưa Thượng Nghị Sĩ Roach:

    Với sự quan tâm đặc biệt mà tôi viết thư này gửi ông liên quan đến một nỗ lực thứ hai nhằm thừa nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa cũ được trình bày trong văn kiện SJM8045. Đây là để tái khẳng định rằng nhân dân và chính phủ Việt Nam không thể chấp thuận với dự án xây dựng Tượng Đài. Tôi xin chia sẻ với ông về ý nghĩ của tôi.

    Thứ nhất, dự án Tượng Đài đi ngược lại những quy ước quốc tế và thực tiễn. Bây giờ, cái gọi là Việt Nam Cộng Hòa đã không còn tồn tại, hơn ba mươi năm qua, lá cờ của nó đã không còn chỗ đứng hợp pháp tại Việt Nam. Giống như một số văn bản hoặc nghị quyết, ngôn ngữ của dự án Tượng Đài Kỷ Niệm rõ ràng đã phủ định sự hiện hữu của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ vối Hoa Kỳ từ năm 1995.

    Thứ hai, kể từ khi khởi đầu của giai đoạn mới của sự bình thường hóa và hòa giải với quý quốc vào năm 1995, Việt Nam đã làm hết sức mình để đẩy lùi quá khứ và nhìn về phía tương lai, phấn đấu để xây dựng một quan hệ mà đôi bên đều có lợi. Trong tiểu bang của ông, hãng Boeing đã bán máy bay cho Việt Nam và Cảng Seattle vẫn là một cảng chị em với cảng Hải Phòng của miền Bắc Việt Nam trong chương trình trao đổi. Theo ý tôi, dự án Tượng Đài Kỷ Niệm, dấu hiệu làm sống lại quá khứ của hận thù và buồn đau, không phục vụ cho lợi ích của cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ hoặc tiểu bang Washington.

    Thứ ba, với một chính sách kiên định, Việt Nam hoan nghênh sự tham gia năng động của Việt kiều trong việc mở rộng quan hệ có lợi cả hai bên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ và sự hội nhập hữu hiệu của họ vào dòng sinh hoạt chính lưu của đời sống Mỹ.Việt Nam hy vọng mãnh liệt rằng cộng đồng của người Mỹ gốc Việt, khoảng gần năm mươi ngàn đã chọn tiểu bang của ông làm quê hương mới, sẽ cũng tiếp nhận tinh thần thân hữu và hợp tác.

    Sau hết, ở cấp liên bang vị Ngoại Trưởng và các giới chức cao cấp Hoa Kỳ đã luôn luôn tuyên bố rằng Hoa Kỳ không công nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa cũ. Trong cuộc họp với tôi vào mùa hè vừa qua, Thống Đốc Gary Locke đã nói ông ta và tiểu bang Washington ủng hộ sự gia tăng quan hệ hai bên cùng có lợi giữa tiểu bang Washington và Việt Nam .

    Như ông có thể nhớ lại, Nghị Quyết Thượng Viện loại này số 8659 đã bị rút lại sau cuộc duyệt xét vào mùa xuân vừa qua, khi những ý tưởng này được đưa ra bàn thảo.

    Cuối cùng nhưng không kém quan trọng; tôi tin dự án Tượng Đài Kỷ Niệm, một khi được cơ quan lập pháp của ông thông qua, sẽ đâm bổ vào chính Hiến Pháp Hoa kỳ là nền tảng trao quyền hành cho việc thi hành chính sách đối ngoại duy nhất trong hệ thống liên bang. Vả lại, bằng sự kêu gọi công nhận lá cờ cũ ấy như là lá cờ chính thức duy nhất của nhân dân Việt Nam , nó sẽ làm cho quyền tự do phát biểu bị nghi ngờ.

    Dưới ánh sáng của những nhận xét này, tôi thành kính yêu cầu ông đừng hành động hỗ trợ cho dự án Tượng Đài Kỷ Niệm.

    Tôi cảm ơn ông về sự quan tâm và hợp tác.

    Với lòng kính trọng cao nhất của tôi.

    Ký tên : Nguyễn Tâm Chiến,

    Đại Sứ.

    THƯ PHÚC ĐÁP TỪ WASHINGTON STATE .

    Ngày 23-2-2004

    Thưa Ông Đại Sứ,

    Tôi vừa nhận được một bản sao của thư ông gửi đến Nghị Sĩ Pam Roach đề ngày 10-2-2004. Tôi xin trả lời thư đó.

    Nếu bất cứ một nước nào khác viết bức thư này, thì sẽ đơn thuần một chuyện buồn cười. Nhưng đây lại là của nước ông, Ông Đại Sứ, nước Cộng sản Việt Nam . Nước ông chưa bao giờ tôn trọng hoặc thành thật tuân theo những thủ tục và quy định của bất cứ một thỏa hiệp quốc tế nào mà nước ông đã ký kết vào. Tuy nhiên, nước ông sẽ chỉ núp đằng sau các Thỏa hiệp ấy khi nào chúng thích hợp cho quyền lợi của nước ông. Khi có những cá nhân, chẳng hạn như bản thân tôi hoặc Ông M. Benge, hoặc các tổ chức như Ân Xá Quốc Tế, Ủy Ban Tự Do, Tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền, cáo buộc quý quốc với vô số hành động vi phạm nhân quyền hoặc tổn hại, thì lập tức quý quốc đáp lại bằng cách nói rằng những vấn đề mà chúng tôi đang quan tâm tới là những vấn đề nội bộ và rằng chúng tôi đã can thiệp vào chính sách của quý quốc. Thế cũng được. Ở đây, với quá trình được sắp đặt, chính ông đang can thiệp vào Tiểu bang Washington về những vấn đề không liên quan gì đến ông cả. Sao mà chúng tôi vinh danh sự đóng góp của các cá nhân hoặc các cộng đồng dân tộc ở đây tại Washington lại là ăn nhập đến ông. Xin hãy từ bỏ hành động can thiệp vào những vấn đề nội bộ của chúng tôi.

    Ông muốn chúng tôi công nhận và vinh danh lá cờ của ông. Lá cờ đại diện cho một quốc gia đã thực hiện những cuộc tàn sát diệt chủng, huynh đệ tương tàn và buôn bán nô lệ quốc tế. Tôi, với tư cách một cư dân của tiểu bang Washington , không thể nào tha thứ hành động ấy. Sao ông dám đòi hỏi tôi làm? Làm như thế sẽ đưa tôi đến sự đồng lõa với những tội ác lớn lao chống nhân loại của nước ông.

    Ông nói rằng dự án Đài Tưởng Niệm phủ định sự tồn tại của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam . Nó chẳng làm được việc nào như thế đâu. Đối lại với các bảo tàng viện và đài tưởng niệm của nước ông, Đài Tưởng Niệm này bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với những người đã trả cái giá cao nhất cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền trong nước Việt Nam Cộng Hòa cũ. Ngọn cờ của Việt Nam Cộng Hòa từ đó được công nhận như là ngọn cờ của tranh đấu cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền trên khắp thế giới. Các màu sắc của nó thật là tiêu biểu. Ba sọc đỏ tượng trưng cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Trong lúc màu vàng nói lên sự quý giá biết bao của những lý tưởng ấy, màu đỏ tượng trưng cho sự đổ máu để bảo vệ những lý tưởng đó. Cả trong quá khứ và cả đối với những người sẽ bảo vệ những lý tưởng ấy cho đến chết. Tôi, trước hết, hân hạnh công nhận lá cờ Tự Do và tỏ lòng vinh danh nó. Tôi cũng sẽ hân hạnh công nhận lá cờ của ông khi ông công nhận lá cờ của chúng tôi. Trước khi ấy, đối với tôi, lá cờ của ông tượng trưng cho giết hại, khủng bố, ngược đãi, tráo trở, buôn bán nô lệ và vi phạm nhân quyền.

    Ông tuyên bố rằng ông đang cực kỳ nỗ lực để đẩy lùi quá khứ. Vâng, với nước của ông, hồ sơ quá khứ là sự xâm phạm tất cả các tiêu chuẩn của hành động văn minh, nên tôi hoàn toàn hiểu được mong muốn đẩy lùi quá khứ của ông. Sau hết, mục đích về sự thừa nhận của ông chỉ bị tổn thương bởi những hành động quá khứ của nước ông.

    Tất cả các cư dân của tiểu bang Washington sẽ cảm thấy sung sướng hơn để mở bàn tay thân hữu và hợp tác khi nước ông có đầy đủ Tự Do, Dân Chủ và mở rộng Nhân Quyền cho tất cả người dân Việt Nam. Trước khi đó, xin hãy tránh khỏi công việc nội bộ của chúng tôi.

    Dự án Đài Tưởng Niệm không phải là một lời tuyên bố của chính sách ngoại giao. Nơi mà ông lấy ra cái ý tưởng đó ngoài phạm vi của tôi. Một lần nữa, ông lại cố gắng làm mờ tối vấn đề. Những gì mà nhân dân Mỹ làm không mắc mớ gì tới ông. Đây là một vấn đề nội bộ của tiểu bang Washington do những công dân bình thường vinh danh những người đã hy sinh mạng sống của mình để bảo vệ Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền, là những lý tưởng đáng nguyền rủa đối với chính phủ chuyên chính bạo ngược của ông. Đó là những lý tưởng mà lá cờ nền vàng với ba sọc đỏ đã tượng trưng.

    Bây giờ chúng ta hãy nhìn kỹ vào những gì mà nước ông đã làm và đang tiếp tục làm.

    Cộng sản Việt Nam đã tham gia vào hành động diệt chủng. Nó đã chính thức bắt đầu suốt trong cuộc Chiến Tranh Đông Dương lần thứ hai. Chính nước ông đã tuyên chiến Cuộc Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai. Theo định nghĩa lúc bấy giờ, đó là một cuộc chiến tranh. Như vậy, nước ông bị ràng buộc bởi những Quy Ước Genève về cách đối xử với Tù binh chiến tranh. Thế nhưng, như tôi đã nói trước đây, nước ông chưa đủ thành thật và tôn trọng đối với những nguyên tắc căn bản của bất cứ một hiệp định quốc tế nào mà nước ông đã ký vào.

    Sự đối xử với tù binh chiến tranh của các ông đã chứng minh cho điều đó. Ngoài ra, các ông đã hành quyết ít nhất là 11 tù binh Hoa Kỳ đang bị các ông giam giữ. Đó là một tội phạm chiến tranh và diệt chủng. Cho đến ngày nay, các ông vẫn cố tình phạm tội diệt chủng. Hãy lấy trường hợp của Lý Tống, một người Mỹ gốc Việt. Các ông đã tìm cách can thiệp vào tòa án và luật pháp của Thái-Lan và yêu cầu Thái-Lan hãy hành quyết Lý Tống. Tội danh của ông ta là gì? Nói cho dân Việt Nam về Tự Do là một trường hợp mà các ông không thể nào tha thứ được.

    Cộng sản Việt Nam đã tham gia và tiếp tục tham gia vào cuộc huynh đệ tương tàn. Việc này đã khởi đầu vào năm 1956 khi chế độ Cộng sản tại Hà Nội phát động chương trình Cải Cách Ruộng Đất. Trong lúc có thể dễ dàng trút trách nhiệm lên kẻ khích động của Cộng sản Quốc tế là Hồ Chí Minh, thì kiến trúc sư thực sự là Trường Chinh. Đã có bao nhiêu người Việt Nam chết dưới cuộc tàn sát này? 10,000? - 50,000? - 100,000? Nhiều hơn? Ngay cả chỉ có một nạn nhân của cuộc tàn sát này, cũng đã tạo nên cảnh tương tàn huynh đệ rồi. Cuộc tàn sát nhắm vào người thiểu số Việt Nam tại miền Tây Bắc Việt Nam cũng cùng một loại (với cải cách ruộng đất). Mục đích của cuộc tàn sát này là xóa sạch chủng tộc số người Việt Nam thiểu số đã giúp cho người Pháp. Tôi nhắc đến điều này là để chứng minh rằng các ông đã tiếp tục chính sách này sau khi kết thúc Cuộc Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai với sự bắt đầu chính sách cưỡng bách tái định cư những người Việt Nam đã cộng tác với Việt Nam Cộng Hòa cũ tại những vùng mà các ông thản nhiên gọi là Vùng Kinh Tế Mới. Các ông tiếp tục chính sách diệt chủng hiện nay dưới dạng ngược đãi và khủng bố tôn giáo, nó cũng là một bằng chứng hiển nhiên về vi phạm nhân quyền. Bất cứ một người nào bị giết hại trong cuộc tàn sát này cũng là nạn nhân của chính sách diệt chủng và tương tàn của nước ông.

    Hãy nhìn vào sự gắn bó của nước ông trong hành động buôn bán nô lệ. Nhiều lần trong cuộc Chiến Tranh Đông Dương lần thứ hai và cả sau đó, nước ông bán người Mỹ, bán đồng minh và tù binh Việt Nam qua nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Bang Xô-Viết. Một bằng chứng, năm 1983, nước ông bán 275 người Mỹ và 27,000 tù binh Việt Nam qua Liên-xô để trừ nợ đã vay trong chiến tranh. Đây là một vi phạm quá trọng đại đối với nhân quyền và là một tội ác chống nhân loại. Đã có nhiều lần nước ông bán người Mỹ, đồng minh và tù binh Việt Nam qua Liên-Xô, nhưng mỗi một lần số lượng không nhiều lắm.

    Nước ông có thể giải quyết nhiều trường hợp Tù Binh/Người Mất Tích Trong khi làm nhiệm vụ một cách dễ dàng bằng cách mở các hồ sơ quân đội và Công an của nước ông. Nhưng nước ông đã không làm chỉ vì không có lợi lộc gì trong việc giải quyết nhân đạo vấn đề tình cảm này. Nước ông tống tiền nước Mỹ cho lợi nhuận riêng và hưởng thụ. Tại sao? Bởi vì nước ông nhận thấy rằng Tổng Thống Nixon đã hứa viện trợ tái thiết cho nước ông khoảng 4 tỷ 3 đô-la. Điều này có thể xảy ra, nước ông có thể nhận được số tiền này một cách dễ dàng, nếu chịu công bố hồ sơ và danh sách tù binh của nước ông cho các gia đình và cho thế giới. Ít ra việc này cũng có thể làm giảm nhẹ một phần nào trong số tội ác của nước ông.

    Rồi thì ông dám trơ tráo đòi hỏi rằng người Mỹ đừng can thiệp vào công việc nội bộ của ông và đòi vinh danh lá cờ của nước ông. Với hồ sơ của nước ông, lẽ ra ông nên vui mừng là đã không bị đưa ra xét xử bởi một Tòa án Quốc Tế về những tội ác chống nhân loại mà nước ông đã phạm.

    Vậy thì, xin đừng can thiệp vào các vấn đề nội bộ của chúng tôi trong việc vinh danh những người đã chết vì Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Xin đừng xen vào để xem làm sao chúng tôi vinh danh những công dân đã đóng góp vào sự an sinh và no ấm của Tiểu bang chúng tôi.

    Terrell A. Minarcin

    Concerned Citizen for Freedom, Democracy, and Human Rights for Vietnam .

    Bản dịch của NGUYỄN-CHÂU ( San Jose )

    NGUYÊN VĂN ANH NGỮ

    From: Terrell Minarcin <[email protected] net>

    Subject: Another International Incident

    Date: Feb 23, 2004 9:30 PM

    This is a rather long e-mail and for that I apologize. However, I

    think it is well worth reading, even if I did write.

    Recently, State Senator Pam Roach introduced two resolutions in our

    State Senate. The first dealt with recognizing the flag of the former

    Republic of Vietnam. The second dealt with support for a proposed

    Freedom Fighters Memorial to be built here in Washington State .

    Senator Roach then received a letter from the ambassador for communist

    Vietnam that protested both resolutions. I have re-typed the

    ambassador's letter. If you wish a copy of the letter with the

    letterhead on it, please e-mail me back and I will see that a copy of

    it is FAXed to you. After the ambassador's letter is my response to

    him.

    Please feel free to pass this e-mail to any one you wish.

    Terry Minarcin

    Dear Senator ROACH: February 10, 2004

    It is with particular concern that I am writing to you regarding a

    second attempt to recognize the flag of the former Republic of Vietnam ,

    as expressed in SJM8045. This is to reaffirm that the people and

    Government of Vietnam cannot agree with the proposed Memorial. Let me

    share with you my thoughts.

    First, the proposed Memorial runs counter to international conventions

    and practices. Now that the so-called Republic of Vietnam ceased to

    exist over thirty years ago, its flag therefore no longer has legal

    standing in Vietnam . Like a number of similar bills or resolutions,

    the language of the proposed Memorial clearly negates the existence of

    the Socialist Republic of Vietnam that has established full diplomatic

    relations with the United States since 1995.

    Secondly, since the start of the new phase of normalization and

    reconciliation in 1995 with your country, Vietnam has been doing her

    utmost to put the past aside and look forward to the future, striving

    to build a relationship that benefits both sides. In your State,

    Boeing has been selling airplanes to Vietnam and the Port of Seattle

    maintaining a sister port exchange program with Vietnam 's northern port

    of Hai Phong. In my opinion, the proposed Memorial, languaged to

    revive the past of hatred and sadness, does not serve the interests of

    either Vietnam , or the United States , or Washington State .

    Thirdly, as a consistent policy, Vietnam welcomes active participation

    by Vietnamese Americans in expanding the mutually beneficial

    relationship between Vietnam and US and their effective integration

    into the mainstream of the US life. It is Vietnam 's strong hope that

    the community of Vietnamese Americans, about nearly fifty thousand of

    whom have chosen your State as their new home, will also adopt the

    spirit of friendship and cooperation.

    Finally, at the federal level the Secretary of State and other senior

    US officials have repeatedly stated that the US does not recognize the

    former Republic of Vietnam flag. In his meeting with me last summer,

    Governor Gary Locke said he and the State of Washington are supportive

    of the acceleration of mutually beneficial ties between Washington

    State and Vietnam .

    As you may recall, the similar Senate Resolution 8659 was withdrawn

    from consideration last spring when those thoughts were taken into

    account.

    Last but not least; I believe the proposed Memorial, once passed by

    your legislature, could run afoul of the very US Constitution that

    vests the powers to conduct foreign policy solely in the federal

    system. Furthermore, by calling for the recognition of the former flag

    'as the only legitimate flag of the Vietnamese people,' it also renders

    the freedom of expression questionable.

    In light of these considerations, I respectfully urge you not to act in

    favor of the proposed Memorial.

    I thank you for your consideration and cooperation.

    With my best personal regards,

    (signed)

    NGUYEN TAM CHIEN

    Ambassador

    Mr. Ambassador; February 23, 2004

    I recently received a copy of your letter to State Senator Pam Roach

    dated February 10, 2004. I would like to respond to that letter.

    If any other country had written this letter, it would be, simply put,

    laughable. But it was your country, Mr. Ambassador, communist Vietnam .

    Your country has never honorably or honestly met the protocols of any

    international agreement that you are a signatory to. Yet, you hide

    behind these agreements only when they suit your fancy. When

    individuals, such as myself or Mr. M. Benge, or organizations, such as

    Amnesty International or Freedom House, or Human Rights Watch, charge

    your country with numerous counts of violations of human rights or

    worse, you immediately respond by saying that the matters we are

    concerned with are internal matters and that we are interfering with

    your country's policies. So be it. You are interfering with due

    process here in the State of Washington in matters that do not concern

    you. How we honor the contributions of individuals or ethnic

    communities here in Washington is of no concern to you. Quit

    interfering in our internal matters.

    You want us to recognize and honor your flag. The flag represents a

    country that has promulgated pogroms of genocide, fratricide and

    international slave trafficking. I, as a resident of the State of

    Washington, can not condone such behavior. How dare you insist that I

    do? To do so makes me an accomplice to your egregious crimes against

    humanity.

    You state that the proposed Memorial negates the existence of the

    Socialist Republic of Vietnam . It does nothing of the sort. In

    contrast to your museums and memorials, this Memorial pays tribute to

    those who paid the ultimate price for Freedom, Democracy and Human

    Rights in the former Republic of Vietnam . The flag of the former

    Republic has since come to be recognized as the flag for the struggle

    for Freedom, Democracy, and Human Rights throughout the World. The

    colors are quite symbolic. The three bands stand for Freedom,

    Democracy, and Human Rights. While the gold shows how precious these

    ideals are, the red stands for the blood shed for these ideals, both in

    the past and for those who will defend these ideals to the death. I,

    for one, am glad to recognize the Freedom Flag and to pay honor to it.

    I will be glad to recognize your flag when you recognize mine. Until

    then, your flag, for me, stands for murder, persecution, duplicity,

    slave trading, and human rights violations.

    You state that you are trying your utmost to put the past aside. With

    your country's past records of abuse of all standards of civilized

    behavior, I fully understand your desire to brush the past aside.

    After all, your cause for recognition is only hurt by your past actions.

    All of the residents of Washington will be more than happy to extend to

    you the hand of friendship and cooperation when you fully embrace

    Freedom, Democracy and to extend Human Rights to all Vietnamese. Until

    then, stay out of our internal affairs.

    The proposed Memorial is not a statement of foreign policy. Where you

    got that idea is beyond me. Once again, you try to cloud the issue.

    What the people of America do is not your concern. It is an internal

    affair of the State of Washington by private citizens to honor those

    who gave their lives defending Freedom, Democracy, and Human Rights,

    ideals which are anathematic to your despotic government. That is what

    that flag of gold with three horizontal red stripes stand for.

    Now let us look closely at what your country has done and continues to

    do.

    Communist Vietnam has engaged in genocide. This began in earnest

    during the Second Indochina War. You declared it the Second Indochina

    War. By definition then, it was a war. As such, you were bound by the

    Geneva Conventions governing the treatment of Prisoners of War (POWs).

    But, as I stated before, you have yet to honestly and honorably meet

    the tenets of any international agreement to which you are a signatory.

    Your treatment of POWs testifies to this. In addition, you executed

    at least 11 American POWs who were in your custody. This is a war

    crime and genocide. To this day, you try to commit genocide. Take the

    matter of Ly Tong, a Vietnamese-American . You tried to interfere in a

    Thai court of law and demanded that Thailand execute Ly Tong. His

    crime? Telling the Vietnamese about Freedom, a condition that you can

    not tolerate.

    Communist Vietnam has engaged in and continues to engage in fratricide.

    This began in 1956 when the communist regime in Hanoi started their

    land reform programs. While it would be easy to blame the agent

    provocateur of the Communist Internationale, Ho Chi Minh, the real

    architect was Truong Chinh. How many Vietnamese died under this

    pogrom? 10,000? 50,000? 100,000? More? Even one victim of this

    pogrom constitutes fratricide. The pogrom initiated against the

    Vietnamese minorities in northwest Vietnam fall into this same

    category. The aim of this pogrom was to 'ethnically cleanse' Vietnam

    of those minorities who had helped the French. I mention this to show

    that you continued this policy after the conclusion of the Second

    Indochina War with the start of your forcible relocation of Vietnamese

    who were associated with the former Republic of Vietnam to those areas

    you so blithely called New Economic Areas. You continue your ethnic

    cleansing today under the guise of religious persecution, which is also

    a blatant human rights violation. Any one executed under this pogrom

    is a victim of your genocidal and fratricidal policies.

    Let us take a look at your country's involvement in the international

    slave trafficking movement. Several times during the Second Indochina

    War, and even afterwards, you sold American, allied, and Vietnamese

    POWs to the former Union of Soviet Socialist Republics . To whit, in

    1983, you sold 275 American and 27,000 Vietnamese POWs to the USSR to

    reduce your war debt to them. This is a most egregious violation of

    human rights and a crime against humanity. There were other times you

    sold other American, allied and Vietnamese POWs to the USSR but not so

    many at one time.

    You could resolve many of the POW/MIA cases with ease by opening up

    your military and political police files. You do not because there is

    no profit in humanely resolving this emotional issue. You extort

    monies from America for your own profit and gain. Why? Because you

    feel that President Nixon promised you some $4.3 billion dollars in

    reconstruction aid. Be that as it may, you can recover that money

    easier if you release your files publicly to the families and to the

    world. At least this can mitigate some of your crimes.

    And then you have the gall to demand that Americans not interfere in

    your internal affairs and to honor your flag. With your record, you

    should be happy not to be on trial by an international court for your

    crimes against humanity.

    Until then, do not interfere in our internal affairs in how we honor

    those who have died for Freedom, Democracy, and Human Rights. Do not

    interfere with how we honor our citizens who contribute to the well

    being and welfare of our State.

    Terrell A. Minarcin

    Concerned Citizen for

    Freedom, Democracy, and Human Rights

    for Vietnam

  2. #2
    Join Date
    Nov 2006
    Posts
    6,719
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Cảm động quá ông Mỹ ơi ông Thượng Nghị Sĩ Pam Roach .

    Ông là người khác Chủng Tộc của bt ,nhưng ông còn biết cái gì gọi là chánh nghĩa ,ông khác với đồng hương của bt về cái Chân Lý lẽ sống làm người,còn đồng hương của bt ,1 thời bị việt cộng chửi như chó ,xua đuổi như lũ ăn mày ,nhưng ko ngờ bây giờ họ quay vìa để bưng bô cho việt cộng kẻ thù xưa của mình như lũ xướng ca vô loại
    Làm theo chú dũng,nhỏ hoh đi học lớn lên làm thủ tướng Vietnam

  3. #3
    Join Date
    Feb 2008
    Posts
    26
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Cám ơn Hoang Oanh rất nhiều, chúc an bình.

  4. #4
    Join Date
    Mar 2006
    Posts
    56
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Bài đọc rất hay cám ơn HO

  5. #5
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Lannguyen mời quý bạn vào góp ý, dán vào những bài viết về Việt-Nam Cộng Hoà để tất cả chúng ta cùng tìm hiểu thêm về Lịch sử Việt-Nam nhé, xin cảm ơn quý bạn, chúc quý bạn luôn an vui.
    Lannguyen

  6. #6
    Join Date
    Oct 2005
    Posts
    3,477
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Quote Originally Posted by Lannguyen View Post
    Lannguyen mời quý bạn vào góp ý, dán vào những bài viết về Việt-Nam Cộng Hoà để tất cả chúng ta cùng tìm hiểu thêm về Lịch sử Việt-Nam nhé, xin cảm ơn quý bạn, chúc quý bạn luôn an vui.
    Flag of the Republic of Vietnam
    The flag of former South Vietnam was designed by Emperor Thành Thái in 1890 and was used by Emperor Bảo Đại in 1948. It was the flag of the former State of Vietnam (the French-controlled areas in both Northern and Southern Vietnam) from 1949 to 1955 and later of the Republic of Vietnam (South Vietnam) from 1955 until April 30, 1975 when the south unconditionally surrendered to the north, where it was officially joined in a unified Vietnam a year later. The flag consists of a yellow field and three horizontal red stripes to and can be explained as either symbolising the unifying blood running through northern, central, and southern Vietnam, or as representing the symbol for "south" (as in, south from China), in Daoist trigrams.

    It is still used by some Vietnamese immigrants now living in other countries. From February 2003 to January 2006, in the United States, nine states, three counties and 76 cities have adopted resolutions recognizing the yellow flag as the "Vietnamese Heritage & Freedom Flag



    In 1802-1820, Emperor Gia Long, the yellow flag was also used as the symbol of the Empire of Vietnam.

    In 1890, the Emperor Thành Thái passed a decree, changing the flag with Chinese characters to a new flag. The yellow flag with three red stripes was created and used for the first time as the national flag (Đại Nam National Flag 1890-1920). It should be noted that the yellow flag with three red stripes (called The Yellow Flag for short) is the first true "national flag" of the Vietnamese people for it reflects the aspiration and hope of the people, not just the emperors, for independence and unification of the Viet nation.[citation needed]

    In 1916-1925, after Emperors Thanh Thai and Duy Tan were exiled to Africa and obeying the French, Emperor Khải Định issued a decree to change the national flag, the Yellow Flag, which signified the three unified regions (North, Central, and South) was replaced by a yellow flag with one red horizontal stripe. This yellow flag with one red stripe was also called the “Long Tinh” flag because it was transformed from the original Long Tinh flag of the Nguyen Dynasty.

    In 1945, during Tran Trong Kim's government that is called the Empire of Vietnam by Japan, the two red bands were added to the middle broken red band to form the Quẻ Ly Flag. The Quẻ Ly Flag was the official flag of Vietnam at that time. Quẻ Ly is a divination trigram of "fabulous unicorn", sixth of the Bát Quái (the Eight Trigrams): Càn, Khâm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. This divination sign of fabulous unicorn represents the sun, fire, beam of light, and civilization. And more importantly, it also represents the direction of south, emphasizing that Vietnam, as the lands "passed the clouds" (see Yunnan) is southward from China.(See I Ching)

    In 1948, when the former Emperor Bảo Đại became the Chief of State of Vietnam, he ordered to change the broken red band (which was then the central element of the Vietnamese flag) into a continuous red band, and form the Yellow Flag with three yellow red bands.

    On 2 June 1948, the Chief of the Provisional Central Government of Vietnam, Brigadier General Nguyen Van Xuan, signed an ordinance to specify the characteristics of the Vietnamese National Flag as follows: "The national emblem is a flag of yellow background, the height of which is equal to two-thirds of its width. In the middle of the flag and along its entire width, there are three horizontal red bands. Each band has a height equal to one-fifteenth of the width. These three red bands are separated from one another by a space of the band's height."

    The three red bands have the divination sign of Quẻ Càn, the first of the Eight Trigrams mentioned above. Quẻ Càn represents heaven. Based on the worldview of Vietnamese people, Quẻ Càn indicates the South Sky, the Vietnamese Nation, Vietnamese people, and the people's power. Another interpretation places the three red bands as symbols of the three regions of Vietnam: North, Central, and South. The yellow or gold background on the flag represents the Vietnamese skin color.

    The flag was used by the Republic of Vietnam (more commonly known as South Vietnam) for the duration of that state's existence (1954 - 1975). It was abolished by Vietnamese government on 30 April 1975, when the South unconditionally surrendered to the North.

  7. #7
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Lannguyen

  8. #8
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa



    GÓP Ý VỚI BIỂU TƯỢNG CỦA MỘT LÁ CỜ

    NGUYỄN HỌC TẬP

    Gs Nguyễn Học Tập trả lời bài "Cờ Đỏ Cờ Vàng" của ĐHY Phạm Minh Mẫn

    ( Nhân đọc bài “ BIỂU TƯỢNG MỘT LÁ CỜ ” trên Net, xin góp ý với Tiến Sĩ Bửu Sao, Chị Ngọc Lan và Ông Phạm Đỉnh, về bài thảo luận của TS với Ông Nguyễn Gia Kiểng liên quan đến tổ chức Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên ).
    Sau phần giới thiệu tình hình tổng quát của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại, TS Bửu Sao (TSBS)

    Đi vào vấn đề bằng cách đặt câu hỏi:

    - “ Từ 1975 đến 1995, tôi đã xuất ngoại vì sao và bằng cách nào? ”.

    Và câu giải đáp được TSBS khai trển: - “ …chúng ta xuất ngoại vì không thể sống dưới chế độ Cộng Sản, …hòng tìm một lối sống thích hợp với bản tính con người trong xã hội công dân thật sự với đầy đủ tự do dân chủ…”.

    Câu trả lời rất chính xác, nói lên tâm trạng đại chúng chạy trốn chế độ Cộng Sản, đàn áp, kềm kẹp và tha hoá con người. Chế độ Cộng Sản không có lối sống thích hợp với bản tính con người trong xã hội tự do dân chủ.

    Ghi lại tâm trạng đó của dân chúng trốn chạy, mặc nhiên TSBS cho thấy rằng lối sống của người dân trong chế độ Cộng Hoà của Miền Nam Việt Nam, trước năm 1975, là lối sống thích hợp với bản tính con người trong xã hội tự do dân chủ, bởi lẽ trong đó dân chúng đang sống đến lúc đó và không ai bỏ chạy.

    Do đó khi thấy chế độ Việt Nam Cộng Hoà không còn có khả năng chống lại Cộng Sản bằng vũ lực, Cộng Sản được các nước Cộng Sản Anh Em Vĩ Đại Nga-Tàu cung cấp cho đầy đủ khí giới đạn dược và Đồng Minh của Việt Nam Cộng Hoà ích kỷ tháo chạy, “ lối sống thích hợp với bản tính con người trong xã hội tự do dân chủ ” của mình bị nguy ngập, người dân liền liều chết, bỏ chạy, tỵ nạn.

    Rất tiếc là TSBS không khai triển thêm tư tưởng trên để có thể giải đáp thích đáng hơn những vấn nạn sắp tới trong cuộc hội thoại với ông Nguyển Gia Kiểng, người đại diện cho tổ chức Tập Họp Dân Chủ Đa Nguyên.

    Đáng lý ra TSBS khai triển thêm cho mọi người thấy rằng lối sống bị đàn áp, kềm kẹp và tha hoá con người, “ không có lối sống thích hợp với bản tính con người trong xã hội tự do dân chủ ” không có gì khác hơn là kết quả của ý thức hệ, thể chế Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, được áp dụng trong cuộc sống qua tổ chức chế độ Cộng Sản.

    Cả thể chế Marx- Lenin, Hồ Chí Minh và áp dụng cơ chế Cộng Sản vào lối sống độc tài, đàn áp và tha hóa con người, “ không có lối sống thích hợp với bản tính con người trong xã hội dân chủ” đó, được biểu tượng bằng lá cờ Cộng Sản, cờ đỏ sao vàng.

    Cũng vậy, cả chế độ thua trận của Việt Nam Cộng Hoà với thể chế nhân bản và dân chủ, hàm chứa những giá trị tối thượng về con người và lối sống bình đẳng, tương thân tương ái giữa người với người, có “ lối sống thích hợp với bản tính con người trong xã hội dân chủ tự do”, được biểu tượng bằng lá cờ của Việt Nam Cộng Hoà, cờ vàng ba sọc đỏ.

    Hiểu như vậy, khi thấy chế độ Việt Nam Cộng Hoà không thể bảo đảm cho mình lối sống với những giá trị tối thượng của con người, người dân bỏ nước trốn chạy, bỏ lại chế độ Việt Nam Cộng Hoà chết dưới bàn tay bạo tàn của Cộng Sản, nhưng họ vẫn đem theo trong tâm tư những giá trị tối thượng về con người và về dân chủ tự do đến bất cứ phần đất nào họ có thể sống được.

    Họ mất đi đất nước vì chiến cuộc và vì số phận một Quốc Gia nhược tiểu, nằm trong lợi nhuận thương luợng của các cường quốc, nhưng bản tính con người họ vẫn còn, và biểu tượng cho “ lối sống thích hợp với bản tính con người trong xã hội dân chủ tự do ” họ sẽ làm cho xuất hiện lại ở nơi họ có điều kiện cho phát sinh, lá cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng các giá trị nhân bản và dân chủ, mà họ đã phải trả đắc giá để mong đạt được cho chính mình và đem về cho đồng bào bất hạnh của mình.

    Bao lâu họ còn là người, ước vọng giá trị con người được tôn trọng, có được cuộc sống nhân bản và dân chủ không bao giờ dập tắt được trong tâm khảm họ.

    Bởi lẽ ước vọng đó phát xuất từ bản thể con người.

    - “ Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm.

    Như vậy, dân tộc Đức nhận biết các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người là nền tảng của mọi cộng nhân loại, của hoà bình và công chính trên thế giới ” (Điều 1, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).

    Nếu cờ vàng ba sọc đỏ tượng trưng cho những giá trị tối thượng về con người, gắn liền với bản thể con người, mà con người phải liều chết bỏ chạy để mong giữ vững được, vậy thì cờ đỏ sau vàng của Cộng Sản, lá cờ của chế độ và của thể chế mà người dân phải “bán thân” bỏ chạy để lẫn tránh, tượng trưng cho những gì?

    Chắc chắn phải tượng trưng cho những gì ghê tởm, đàn áp, đê tiện và hèn hạ hóa con người, khiến cho con người sống với con người có lối sống như súc vật, tha hóa bản thể con người, nên con người mới liều cả mạng sống, nhiều lúc bỏ cả cha mẹ, vợ con, anh em để trốn chạy.

    Sau những dòng suy diển thêm trên đây ý kiến của TSBS, chúng ta đi vào cuộc đối thoại giữa TSBS và ông Nguyễn Gia Kiển ( NGK).

    Một trong những câu nói đầu tiên của ông NGK, nói lên lý do tại sao các ông chủ trương ra tổ chức Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên ( THDCDN) là:

    - “ Thời đại các chủ nghĩa và ý thức hệ đã chấm dứt. Nay sự đồng thuận căn bản là tranh đấu cho một thể chế chính trị dân chủ đa nguyên, trong tinh thần hoà giải, hoà hợp dân tộc, …trong một quốc gia được định nghĩa là không gian liên đới và một dự án tương lai chung ”.

    TSBS:
    - “ …Song nhìn vào thực tế VN hiện nay, tôi nhận thấy chủ nghĩa và ý thức hệ chưa thật sự chấm dứt, bằng chứng là CSVN vẫn còn tồn tại…với tất cả mọi phương tiện cực kỳ man rợ của chúng, rốt cuộc dự án tương lai cho Quốc Gia Việt Nam còn xa vời lắm ”.

    Câu trả lời trên của TSBS có thể bị bát bẻ, và đó là những gì đã xảy ra trong bài bình luận của ông Phạm Đỉnh ( PĐ):

    - “ Chủ nghĩa Marx- Lenin và mô hình “ dân chủ xã hội chủ nghĩa ” mà nó đề xướng đã hoàn toàn sụp đổ. Các chế độ cộng sản còn lại chỉ là những chế độ độc tài, bạo ngược thuần túy…”.

    Đọc câu bình luận trên, người ta có cảm tưởng rằng các cách hành xử kềm kẹp, độc tài, đối đải với người dân như súc vật:

    - công an ập vào nhà riêng anh em Tin Lành đang cầu nguyện để đánh đập, đả thương, bắn giết, bắt giam tùy hỷ…ở Sàigòn mới đây,

    - công an lôi " mụ Uá " xuống sông để trấn nước cho chết, vì " con mẻ cứ lãi nhãi" đòi lại nhà đất của " con mẻ " bị Chính Quyền mượn xài tạm rồi giựt luôn,

    - công an "bịt miệng Cha Lý " trong phiên toà, khi Cha vùa mở miệng để tự biện hộ, là phien toà có cách hành xử mọi rợ, vi phạm quyền được biện hộ và tự biện hộ trong bất cứ phiên toà nào ở một nước văn minh, một quyền căn bản bất khả xâm phạm của con người,

    Đó chỉ là do tổ chức cơ chế ( chế độ) gây ra, tệ hợn nữa đó là cách lạm quyền của công an địa phương thôi, chớ thể chế Marx-Lenin và tư tưởng “ đỉnh cao trí tuệ Hồ Chí Minh ” không còn nữa, có người cho như vậy.

    Câu xác quyết vừa rồi làm cho người viết nhớ lại cách đây trên dưới 3 năm, trong một cuộc Hội Luận để ra mắt quyển sách “ Di Sản Mác Xít ở Việt Nam ”của Giáo Sư Đổ Mạnh Tri tại Frankfurt (Đức), một vị Tiến Sĩ ngồi bên cạnh Giáo Sư Tri cũng phát biểu một câu tương tợ, để bênh vực cho thể chế Marx- Lenin và Hồ Chí Minh của Cộng Sản Việt Nam không phải sai lạc, và từ đó đưa đến độc tài và đê tiện hoá con người.

    Có chăng những đau khỗ và những hành động bỉ ổi dân chúng phải gánh chịu, chỉ là do cơ chế, nhứt là cơ chế địa phương lộng hành thôi.

    Và vì cuộc Hội Luận được tổ chức tại Frankfurt (Đức), nên người viết xin được lãnh ý vị Tiến Sĩ:

    - “ Kinh thưa Tiến Sĩ, nếu vậy, mọi đại họa và đau khổ cho dân chúng chỉ do các tổ chức cơ chế lộng hành, nhứt là cơ chế địa phương, vậy xin hỏi Tiến Sĩ, ở tại Cộng Hoà Liên Bang Đức nầy, Quốc Gia Đức có tổ chức thành cơ chế ( lập pháp, hành pháp, tư pháp) không ạ? Và nếu có, thì ở Cộng Hoà Liên Bang Đức có xảy ra những vụ đàn áp, đánh đập, bắt bớ và đối đải con người như thú vật không ạ?

    Hỏi cách khác, ở Đức con người được đối đải với “ Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm ” (Điều 1, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức), là do thể chể quyết định và ra lệnh phải tuân hành hay là do lòng nhân đạo của những người hành xử cơ chế ạ? ”.

    Câu hỏi được trả lời trong thinh lặng.

    Đến một đoạn ở giữa cuộc đối thoại được TSBS thuật lại, ông NGK cho biết ý kiến:

    - “ Thí dụ nữa, đó là lá cờ, ở cả hai phía vẫn còn những người khư khư đòi lá cờ phe mình phải được coi là quốc kỳ không thể thay đổi. Chúng tôi không chọn lá cờ nào làm biểu tượng cho cuộc vận động dân chủ cả, và vẫn thường bị chỉ trích. Chúng tôi nghĩ rằng đã đến lúc mọi người từ trong đến ngoài nước, dù thuộc phe nào trước đây, nên quên quá khứ, để hướng về tương lai ”.

    Nghe đến đây thì chị Ngọc Lan can thiệp:

    - “ Thế các anh bảo hạ lá cờ Quốc Gia Việt Nam xuống sao? Như vậy, các anh định thay thế bằng lá cờ nào? ”.

    Câu trả lời của ông NGK :

    - “ Thưa chị, lá cờ Quốc Gia cũng như lá cờ Cộng Sản được hình thành trong một dĩ vãng đau buồn, tủi nhục , chi rẽ, tương tàn…”.

    Câu trả lời của ông NGK cho thấy TSBS không phân tích thêm cho ông những gì chúng tôi chú giải thêm ở trên.

    Đàng rằng trong vĩ vãng cả hai lá cờ, cả hai ý thức hệ và chế độ va chạm nhau tạo nên “đau buồn, tủi nhục, chia rẽ, tương tàn…”.

    Nhưng lá cơ Quốc Gia biểu tượng và đứng ra bênh vực cho những giá trị nhân bản và dân chủ, “ lối sống thích hợp với bản tính con người trong xã hội công dân thật sự với đầy đủ tự do dân chủ ”, trong khi đó thì là cờ Cộng Sản chỉ là biểu tượng của ý thức hệ sai lạc, kềm kẹp, đàn áp và đê tiện hoá cuộc sống con người, biểu tượng cho lối sống độc tài, đàn áp, mọi rợ.

    Như vậy, không có lý do gì chúng ta phải vất đi cả hai, vất đi một lá cờ, một ý thức hệ với giá trị cao cả về con người và về dân chủ cùng chung vào sọt rát với tâm thức đê tiện, bần cùn hóa và mọi rợ hóa con người.

    Đó có phải là hành động của người có lương tri hay không?

    Ở một đoạn khác, ông NGK trả lời chị Ngọc Lan lý do tại sao tổ chức THDCDN không treo cờ trong các buổi hội:

    - “ Thưa chị, chúng tôi không treo cờ trong các buổi hội. Trong lãnh vực chính trị, vấn đề cờ không phải là then chốt ”.

    Đọc đến đây, người viết không biết được lá cờ có một giá trị nào đối với ông NGK.

    Lá cờ tam sắc của Pháp, Quốc Gia nơi ông NGK cư ngụ không phải chỉ là miếng vãi trang hoàng sặc sở cho đẹp mắt mỗi năm vào 14 juillet, cho người dân Pháp đi xem diển hành ở Champ d’ Élisée cho vui nhà vui cửa.

    Màu xanh, trắng, đỏ của lá cờ Pháp tượng trưng cho Liberté ( Tự Do), Égalité ( Bình Đẳng) và Fraternité ( Huynh Đệ Hỗ Tương), mà người Pháp phải tốn bao nhiêu xương máu mới dành được.

    Lá cờ biểu thị cho những bực thang giá trị về con người, về dân chủ ở bên dưới.

    Hiểu như vậy, chúng ta hiểu tại sao người Pháp đặt những giá trị tối thượng về con người và về dân chủ ngay ở Tiền Đề của Hiến Pháp để long trọng cam kết với mọi người như là lý tưởng sống, phải được bảo đảm bằng mọi giá:

    - “ Dân tộc Pháp long trọng tuyên bố trung thành với các quyền của con người và với các nguyên tắc tối thượng của quốc gia như đã được định nghĩa trong Bản Tuyên Ngôn 1789, được xác nhận và bổ túc trong Tiền Đề Hiến Pháp 1946 ” ( Tiền Đề Hiến Pháp 1958 Pháp Quốc).

    Điều vừa kể cho thấy Tổng Thống Chirac “ không thể không đếm xỉa ” gì đến các giá trị nằm bên dưới lá cờ tam sắc.

    Nói cách khác, Tổng Thống Chirac và cả Thủ Tướng lẫn nội các do ông hướng dẫn không thể làm chính trị, đưa ra dự án luật, ký toả ước, phát hoạ chương trình hành chánh để quản trị đất nước…, mà “ không đếm xỉa ” gì đến các giá trị được lá cờ biểu tượng, hay

    - “trong lãnh vực chính trị, vấn đề lá cờ, không phải là then chốt”.
    Lannguyen

  9. #9
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    GÓP Ý VỚI BIỂU TƯỢNG CỦA MỘT LÁ CỜ [2]

    NGUYỄN HỌC TẬP

    Như vậy, nếu “ trong lãnh vực chính trị, vấn đề lá cờ, không phải là then chốt ”, thì thử hỏi lãnh vực chính trị mà ông NGK muốn chủ trương, để quy tự nhiều người vào cộng tác trong THDCDN, có nằm trong các giá trị nhân bản và dân chủ, được lá cờ biểu tượng hay không hề có liên hệ gì, và cũng có thể ngược lại chăng?

    “ Lãnh vực chính trị ” mà ông NGK và THDCDN chủ trương là “ lãnh vực chính trị” nhằm tôn trọng những giá trị tối thượng của con người và thể chế dân chủ hay ngược lại?

    Và rồi ông NGK lo ngại, không có can đảm dám bày tỏ những gì mình xác tín, mình cho là lẽ phải, khi thấy người khác không đồng ý với mình, trong câu tâm sự với chị Ngọc Lan:

    - “…Thử tưởng tượng trường hợp người Việt ở Mỹ lấy cờ vàng ba sọc đỏ làm biểu tượng, trong khi người Việt tại Nga lấy cờ đỏ sao vàng làm biểu tượng thì sao?”.

    Không sao cả!

    Tại vì những người có tổ chức và làm truyền thông như ông NGK không quảng bá cho người Việt ở Nga biết ý thức hệ sai lạc, đàn áp và bần tiện hoá con người, xem con người như sút vật, hành xử độc tài chống dân chủ, của lá cờ đỏ sao vàng, của ý thức hệ và chế độ Cộng Sản nằm bên dưới lá cờ mà họ có trong tay đó thôi.

    Ý thức hệ và chế độ đó, chính Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết, chiếc nôi đã sinh ra nó, đã từ chối và vất nó vào sọt rác, với việc Tổng Thống Boris Eltsin đặt ý thức hệ Cộng Sản và Đảng Cộng Sản ra ngoài vòng pháp luật năm 1991.

    Và rồi cả khối Đông Âu cũng vất ý thức hệ và chế độ Cộng Sản của họ vào sọt rác, từ Ba lan, Tiệp Khác, Hung Gia Lợi, Bulgaria, Romania, Yougoslavia và luôn cả Đông Đức, khi dân chúng ùa ra phá tan bức tường ô nhục Berlin để mở ngỏ chạy sang Tây Đức, thiên đàng của tự do dân chủ và nhân bản.
    Xin ông NGK và THDCDN cũng nên nói cho họ biết, cho những người Việt ở Nga biết, giá trị thượng đẳng về con người và về dân chủ được chứa đựng bên trong lá cờ vàng ba sọc đỏ.

    Ông NGK và THDCDN sẽ thấy người dân Việt không u mê đến nỗi không hiểu được sự thật hiển nhiên trước mắt đâu.

    Ở một đoạn khác ông NGK rất hảnh diện bộc lộ với TSBS rằng:

    - “…chúng tôi đã thiết lập được những mối liên hệ mất thiết với nhiều anh em dân chủ trong nước, kể cả một số anh em do hoàn cảnh còn ở trong chính quyền, đôi khi với chức vụ cao…”.

    Và cũng chính vì đó mà anh em trong THDCDN không muốn xử dụng lá cờ Quốc Gia để có thể gây khó chịu cho anh em, như trường hợp người Việt bên Nga vừa kể.

    Biết được những thành quả như vậy của ông NGK và THDCDN, chắn chắn ai cũng nức lòng về tương lai thống nhứt và xây dựng đất nước.

    Nhưng những ai có chút suy nghĩ sẽ đặt dấu hỏi:

    “ các anh em trong nước…, đôi khi với chức vụ cao ” như vậy, đến với THDCDN với tâm thức nào?

    “ Anh em…” đến vì chán ngán ý thức hệ và chế độ độc tài, tha hóa đồng bào mình như súc vật, buôn bán phụ nữ và trẻ em chưa tới sáu bảy tuổi làm nô lệ tình dục bên Trung Cộng, Đài Loan, Nam Hàn, Cam bốt và Thái Lan, chính sách buôn bán và sai công dân đi làm công ở đợ ở ngoại quốc, với chính sách “ xuất khẩu lao động ”, điều mà ngay cả thời thực dân Pháp đô hộ cũng chưa xảy ra, các “ anh em…” chán nãn đến với THDCDN để cùng nhau cộng tác, xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho Việt Nam, hay đến để “ nằm vùng ” , lủng đoạn cho mục đích nào khác?

    Nếu “ anh em…” đến vì chán ngán Cộng Sản, ông NGK và THDCDN vất đi cờ đỏ sao vàng, biểu tượng cho bao nhiêu điều bất hạnh của đồng bào, chắc chắn sẽ làm cho “ anh em…” phấn khởi và hơn nữa, nếu được ngọn cờ Quốc Gia biểu tưởng cho thể chế Nhân bản và Dân Chủ hướng dẫn những bước đi trong tương lai thì còn gì bằng.

    Chúng tôi không thấy đâu là vấn đề có thể đưa đến việc ông NGK và THDCDN :

    - “ Thưa chị, chúng tôi không treo cờ trong các buổi hội…”.

    Viết đến đây, chắc chắn người viết cũng như người đọc sẽ đặt câu hỏi với ông NGK và THDCDN, không biết chính sách “ Dân Chủ Đa Nguyên” mà qúy vị muốn “ Tập Hợp” là chính sách nào?

    Dân Chủ Đa Nguyên chỉ với những khuynh hướng tôn trọng những giá trị nhân bản và dân chủ hay chủ trương của quý vị là “ hoà hợp hòa giải, xoá bỏ hận thù ”, bất cứ “ nguyên ” nào cũng có thể hợp tập với tổ chức qúy vị được, kể cả những khuynh hướng đàn áp, tha hóa con người và độc tài đảng trị ?

    Ai trong chúng ta cũng biết Cộng Hoà Liên Bang Đức là một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ giữa những Quốc Gia tiền tiến nhứt Âu Châu.

    Là một Quốc Gia Dân Chủ Đa Nguyên với nhiều chính đảng và khuynh hướng chính trị khác nhau, đảng C.D.U., C.S.U., S.P.D.,
    F.D.P., Đảng Xanh…

    Nhưng không phải vì đó mà đường lối chính trị của các chính đảng có thể lệch lạc, đi ra ngoài phương thức Nhân Bản và Dân Chủ, ai muốn hành xử cách nào tùy hỷ:

    - “ Không thể chấp nhận bất cứ một sự sửa đổi nào đối với Hiến Pháp nầy, có liên quan đến mối tương quan giữa Liên Bang ( Bund) và các Tiểu Bang ( Laender); đến việc tham dự của các Tiểu Bang vào quyền lập pháp và đến các nguyên tắc đã được tuyên bố ở điều 1 và điều 20” (Điều 79, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).

    (Điều 1 bảo vệ “ Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm”, và điều 20 định nghĩa thể chế chính trị của Quốc Gia, là một “ Quốc Gia Liên Bang, Dân Chủ và Xã Hội ” ).

    Dù trong thể chế Dân Chủ Đa Nguyên, Hiến Pháp cũng không ngần ngại đặt ra ngoài vòng pháp luật những chính đảng cũng như cá nhân có khuynh hướng lệch lạc hay hành động sai trái, chống lại thể chế Nhân Bản và Dân Chủ của Hiến Pháp:

    - “ Các chính đảng có mục đích hoặc cách hành xử của những thành viên thuộc hệ, nhằm gây tổn thương hoặc loại trừ định chế căn bản Dân Chủ và Liên Bang hoặc hăm dọa sự tồn vong của Cộng Hoà Liên Bang Đức, là những chính đảng vi hiến…” (Điều 21, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).
    Như vậy “ Dân Chủ Đa Nguyên” không phải là nồi canh thập cẩm, trong đó mọi khuynh hướng đều được chấp nhận, dân chủ hay độc tài, tôn trọng hay đê tiện hoá con người.

    Muốn có “ Dân Chủ Đa Nguyên”, trước tiên chúng ta phải bảo đảm được “ Dân Chủ ”.

    Bởi lẽ không bảo đảm được Dân Chủ, Tập Hợp Da Nguyên sẽ trở thành một nhà chứa hổn loạn.


    Chúng tôi hy vọng rằng lời nhận xét của ông Phạm Đỉnh đối với TSBS là chính xác:

    - “ Thứ nữa là mức độ ghi nhận chi tiếc liên quan đến quan điểm của ông NGK ( không được chính xác)”.

    Do đó những gì chúng tôi diển giải và đặt dấu hỏi dựa vào những gì TSBS ghi chú đều không chính xác.

    Còn nếu ngược lại, TSBS đã ghi lại một cách chính xác cách suy nghĩ của ông NGK và cũng là cách hành xử của THDCDN, mà chúng tôi đã phải đặt vấn đề như trên, thì thật bất hạnh cho đất nước.

    Chúng tôi tin rằng “ Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên ” là tổ chức đặt ưu tiên hàng đầu của tổ chức là phương thức Nhân Bản và Dân Chủ, những giá trị được lá cờ vàng ba sọc đỏ biểu tượng.

    Nói cách khác chủ trương của “ Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên ” cũng là chủ trương tôn trọng những giá trị tối thượng của con người và tư do dân chủ mà chính danh xưng của Tập Hợp đã nói lên và chính lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng.

    Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên ” là ngôi nhà quy tựu sức mạnh để thực hiện Dân Chủ, tôn trọng phẩm giá con người cho đất nước.

    Đó là những gì mọi người đang ngước mắt nhìn và ngưỡng mộ, kỳ vọng ở “ Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên”.

    Sau cùng chúng tôi xin chia xẻ những lo lắng của ông Phạm Đỉnh về mối tương quan giữa lá cờ vàng ba sọc đỏ và Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại. Ông Phạm Đỉnh nhận xét:

    - “ Lại càng không thể bảo rằng lá cờ vàng đã là biểu tượng cho đoàn kết của cộng đồng người Việt hải ngoại…, nhiều nhóm khác nhau cùng trương cao một ngọn cờ biểu tượng, mà vẫn “ trời không chịu trời, đất chẳng chịu đất ”.
    Chúng tôi hoàn toàn đồng ý nhận xét rất chính xác của ông Phạm Đỉnh.
    Đó là chuyện xảy ra hàng ngày.

    Trong cuộc sống bình thường, những tổ chức và chính kiến khác biệt về chính trị, về phương thức thực hiện, “ trời không chịu trời, đất chẳng chịu đất ”, không có gì lạ. Đó là chuyện “ Dân Chủ Đa Nguyên”, những chuyện đụng chạm trong tư tưởng và phương thức hành động là chuyện thường tình và sung mãn của cuộc sống “ Dân Chủ Đa Nguyên ”.

    Nhưng lý tưởng cùng tranh đấu chống Cộng Sản độc tài và thú vật hoá con người, mong đem lại Nhân Bản và Dân Chủ cho đất nước, vẫn được lá cờ vàng ba sọc đỏ biểu tượng và hướng dẫn với những giá trị tối thượng về con người và dân chủ tự do hàm chứa bên dưới.

    Đụng chạm thì có đụng chạm, và nhiều khi cả gay gắt, nhưng không đi ra ngoài phương thức dân chủ (Điều 21, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).

    Đó là lối sống phong phú đa dạng Dân Chủ.

    Nhưng lá cờ vàng ba sọc đỏ với những giá trị hàm chứa bên dưới vẫn là biểu tượng đoàn kết cho người Việt không chấp nhận Cộng Sản.

    Nếu chẳng vậy, không ai có thể hiểu được tại sao cả rừng cờ vàng ba sọc đỏ đã rợp trời quy tựu hàng chục ngàn hay hàng trăm ngàn người Việt Hải Ngoại trong việc chống Trần Trường làm cho ảnh Hồ Chí Minh và cờ Cộng Sản phải tháo chạy.


    Cũng vậy, mới đây rừng cờ vàng đã quy tựu hằng chục hay hằng trăm ngàn người Việt Hải Ngoại để “ long trọng ” đón rước Phan Văn Khải, khiến nhân viên phái đoàn Cộng Sản đã phải cúi mọp đầu chạy giữa rừng cờ vàng và Phan Văn Khải, một Thủ Tướng Quốc Gia phải luồn ra cửa hậu sau khi hội kiến với Tổng Thống Bush.

    Cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng cho giá trị Nhân Bản và Dân Chủ, có là biểu tượng cho “đoàn kết Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại ” hay không, có khả năng quy tựu đồng bào để tranh đấu cho Nhân Bản và Dân Chủ Tự do hay không, hai sự kiện vừa được ghi lại ở trên đã là câu trả lời.

    Qua những gì vừa suy tư ở trên, chúng tôi không thấy có lý do nào để cờ vàng ba sọc đỏ của người Quốc Gia, tượng trưng cho lòng yêu chuộng, tôn trọng, bảo vệ và phát huy những giá trị nhân bản và dân chủ, có thể đồng hoá với cờ đỏ sao vàng, lá cờ của ý thức hệ độc tài và tha hoá con người như thú vật.

    Nói cách khác, đặt chung cờ vàng ba sọc đỏ nhân bản và dân chủ của người quốc gia, hoà hợp hoà giải trong các cuộc biểu tình, chung với cờ đỏ sao vàng, độc tài và đê tiện hoá con người như súc vật là vô tình đồng hoá cách sống con người với lối sống súc vật.


    Nguyễn Học Tập

    Lannguyen

  10. #10
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Vẫn Nợ Ai Lời Trăn-Trối…

    Trần Ngọc Nguyên Vũ



    Tôi đứng lặng giữa trời mây tháng Sáu
    Lòng trĩu buồn nhìn nấm mộ vô-danh
    Kèn truy-điệu trổi âm hờn u-uất
    Thoảng bên tai nghe tưởng khúc quân-hành.

    Ai sừng-sững thân làm bia đỡ đạn
    Cản bước thù em hãy thoát theo cha
    Rồi mai mốt trở nên người hữu-dụng
    Nhớ về đây vá lại mảnh sơn-hà.

    Ai bốc cháy giữa trời đêm tang-tóc
    Nhắn nhủ lời dao nhọn xoáy trong lòng
    Đi đi nhé lo chu-toàn đại-cuộc
    Để sau này tô thắm dải non sông.

    Bao lâu rồi bao nhiêu mùa lá rụng
    Mà tưởng chừng như mới thoáng hôm qua
    Cả dân-tộc vẫn ngày đêm khắc-khoải
    Đợi đoàn quân về giải-thoát quê nhà.

    Quê-hương ta đó tiền-nhân khai phá
    Đổ xuống bao đời xương máu cha ông
    Bồi đắp thành dải non sông gấm vóc
    Cho đàn sau hãnh-diện giống Tiên Rồng.

    Hỡi em bé ngày xưa giờ đã lớn
    Hỡi người trai nay tóc đã phai mầu
    Có nghe vọng từ những trang sử máu
    Tiếng Hồn-Thiêng-Sông-Núi réo canh thâu.

    Trần Ngọc Nguyên Vũ
    ( Pilot Việt Nam )

  11. #11
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa


    kieusa xin trích một đoạn để các bạn xem hỉ:

    Cờ Vàng Quốc Gia VN (2 Jun, 1948 - 20 Jul, 1954)

    * 2-6-48: Chính Phủ Trung Ương dùng Cờ Vàng làm quốc kỳ giống như Đại Nam Kỳ thời 1890-1920.

    * 20-7-54: Đất nước chia đôi theo Hiệp Định Genève. Từ đó, Cờ Vàng vẫn được dùng làm Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hoà từ 20-7-54 đến 30-4-75.

    Vào năm 1948, Bảo Đại không muốn tái sử dụng Long Tinh Kỳ vì đó là Đế Kỳ của một đế chế mà ông đã chấm dứt vào tháng 8 năm 1945. Một ông vua tha thiết với nền độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ, đến nỗi chịu thoái vị vì quyền lợi tối thượng của đất nước, hẳn dư biết nguồn gốc của lá Cờ Vàng. Ngoài ra, một vài chi tiết lịch sử quan trọng khác cũng đã góp phần vào việc chọn lựa Cờ Vàng: Đó là cái chết oan ức tại Phi Châu vào cuối năm 1945 của hoàng tử Vĩnh San, tức là cựu hoàng Duy Tân, và sự hiện diện tại Sài Gòn từ năm 1947 của cựu hoàng Thành Thái, thân sinh của Duy Tân.

    Cờ Vàng đã được dùng làm Quốc Kỳ lần đầu trong triều đại của hai vị vua này. Cả hai đã là linh hồn của cuộc kháng chiến chống Pháp dành độc lập vào đầu thế kỷ 20, mà hậu quả là cuộc xử tử các thủ lãnh Quang Phục Hội như anh hùng Thái Phiên, Trần Cao Vân vào năm 1916, và án lưu đày Phi Châu của hai vị vua ái quốc ấy. Năm 1942, hoàng tử Vĩnh San gia nhập quân đội Pháp (cánh De Gaulle), đến năm 1945 được thăng cấp Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng. Khi Thế Chiến thứ 2 kết thúc, Tướng De Gaulle về Pháp cầm quyền, dự định cho ông về Việt Nam.

    Nhưng sau đó, có người tố cáo cho De Gaulle biết Vĩnh San luôn luôn ấp ủ chủ trương Việt Nam độc lập và thống nhất Nam, Trung, Bắc. Vì vậy, trong lần hội kiến với De Gaulle vào ngày 14-12-1945, ông bị khiển trách nặng nề và bị tước mất cấp bậc. Ông đã tâm sự với người bạn thân rằng ông lo ngại sẽ bị hại. Ngày 24-12-45, ông bị đưa về lại đảo Réunion.

    Hai hôm sau, ông bị tử nạn máy bay tại Trung Phi. Cái chết đầy nghi vấn của cựu hoàng Duy Tân đã làm dư luận Việt Nam xúc động và thương tiếc vị vua ái quốc. Năm 1947, cha ông là cựu hoàng Thành Thái lúc bấy giờ đã 68 tuổi, được Pháp cho về Sài Gòn, với điều kiện là ông không giữ bất cứ một trách nhiệm chính trị nào cả.

    Dù vậy, sự hiện diện của cựu hoàng Thành Thái cùng với cái chết của cựu hoàng Duy Tân hiển nhiên đã gợi lên tinh thần tôn kính hoài bão của hai vua. Chắc chắn Bảo Đại có đến thăm bậc Thái Thượng Hoàng khả kính của ông, và hội ý trong việc chọn Cờ Vàng làm Quốc Kỳ, nhưng ông không thể tiết lộ ra, vì sẽ phạm vào điều kiện của De Gaulle khi cho cựu hoàng Thành Thái về VN, là không được tham dự vào chính trị phục quốc. Sự rao truyền rằng Cờ Vàng do họa sĩ Lê Văn Đệ vẽ ra mà không nhắc đến sự hiện hữu của Cờ Vàng 50 năm trước, cũng có dụng ý. Đó là vì nhu cầu bảo vệ an nguy của cựu hoàng Thành Thái. Vì thế, việc Quốc Trưởng Bảo Đại lựa chọn Cờ Vàng của thời chống Pháp làm Quốc Kỳ cho tân chế độ là một quyết định sáng suốt và hợp chính nghĩa.

    Vì nguồn gốc kháng Pháp hào hùng của Cờ Vàng, mà năm 1955, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm tổ chức "trưng cầu dân ý", lập ra chế độ Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà, quốc hội mới vẫn giữ nguyên quốc kỳ của một chế độ đã cáo chung. Cuộc đảo chánh năm 1963, chấm dứt nền Đệ Nhất Cộng Hòa, lập nên Đệ Nghị Cộng Hoà, Cờ Vàng vẫn được giữ nguyên là Quốc Kỳ cho đến khi miền Nam bị miền Bắc thôn tính.

    KẾT LUẬN

    Chúng ta đã lược qua bối cảnh lịch sử của những lá "quốc kỳ" Việt Nam và các chế độ trong thời cận kim đến nay để nghiệm thấy rằng: Việt sử là của cả quốc dân qua các thời đại chứ không phải của riêng một chế độ nào. Những gì được tạo nên bằng thủ đoạn và bạo lực sẽ không được tồn tại lâu dài, vì những yếu tố đó không là bản sắc truyền thống của dân tộc Việt Nam.

    Sau hơn nửa thế kỷ, những sử gia Việt Nam nên nhìn cuộc chính biến tháng 8 năm 1945 một cách khách quan, để có thể đồng ý rằng cuộc chính biến ấy quả thật có một số đặc tính biểu kiến của một cuộc "cách mạng quần chúng" và có hình thái "độc lập tự quyết". Nhưng vì những thủ đoạn hiểm độc trước và sau khi nắm được chính quyền, với lý tưởng phi dân tộc, và với cứu cánh độc tôn đảng trị, đảng CSĐD đã làm mất đi chính nghĩa cao quý của một cuộc "cách mạng dân chủ đích thực". Mặt khác, tính chất "độc lập tự quyết" của cuộc chính biến cũng bị lu mờ vì hành động "thiếu đại đoàn kết toàn dân" mà đảng CSĐD đã phát khởi qua các cuộc sát hại dân lành và các đảng phái đối lập một cách khốc liệt. Cờ Đỏ đã được khai sinh nhờ các thủ đoạn "phi dân tộc" đó.

    Ngược lại, Cờ Vàng xuất hiện hơn trăm năm về trước, thể hiện ước vọng độc lập, tự do và dân chủ của dân tộc, sẽ được hậu duệ Việt Nam tiếp tục trân quý như một đặc sản truyền thống của dân tộc. Vì vậy, Cờ Vàng mãi mãi là "Quốc Kỳ" trong trái tim người Việt hải ngoại và đại khối đồng bào "không cộng sản" tại quốc nội. Sẽ có ngày Cờ Vàng trở lại cương vị Quốc Kỳ trên quê hương Việt Nam như đã hai lần xuất hiện trong quá khứ.

    Nguyễn Đình Sài

    www.thegioi-song

  12. #12
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa


    Nhìn ảnh "Tượng Đài Chiến Sĩ QLVNCH" KS thấy thương quá thế hệ của quý ông, quý bác và quý chiến hữu đồng minh của QLVNCH thời đó!

    Tổng Thống Hoa Kỳ, Ông Ford, đã từng nói: "Chúng tôi không thể bỏ được những người bạn của chúng tôi". Nhưng nói là nói như vậy, mà họ lại không làm đúng như vậy !!!! CÒN AI TIN ĐƯỢC HOA KỲ NỮA ĐÂY ?

  13. #13
    Join Date
    Oct 2000
    Posts
    283
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    Quote Originally Posted by Kieusa View Post

    Nhìn ảnh "Tượng Đài Chiến Sĩ QLVNCH" KS thấy thương quá thế hệ của quý ông, quý bác và quý chiến hữu đồng minh của QLVNCH thời đó!

    Tổng Thống Hoa Kỳ, Ông Ford, đã từng nói: "Chúng tôi không thể bỏ được những người bạn của chúng tôi". Nhưng nói là nói như vậy, mà họ lại không làm đúng như vậy !!!! CÒN AI TIN ĐƯỢC HOA KỲ NỮA ĐÂY ?
    Bọn đảng Dân chủ Mỹ là cái bước cản đó.

    1-1963 John F Kennedy ( Dân chủ ) sát hại TT Diệm,
    2-1974- 1975 : Quốc hội Dân chủ Mỹ ra luật trói tay TT Mỹ ( Nixon & Ford ), cắt viện trợ cho VNCH.
    3- 1979 Jimmy Carter ( Dân chủ ) năn nỉ ban giao với CSVN, nhưng CSVN từ chối ( hành động đâm sau lưng đồng minh VNCH )
    4- Bill Clinton ( Dân chủ ) thiết lập ban giao với CSVN và năn nỉ xin được viện trợ cho Bắc Hàn.
    5- Joe Biden - ứng viên Phó TT hiên nay ( 1974-1975 ) đã bỏ phiếu cắt viện trợ VNCH & 1979 bỏ phiếu bác bỏ việc cho công chức quân nhân của chính quyền VNCH được định cư ở Mỹ.

  14. #14
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default QuÂn ĐỘi viỆt nam cỘng hÒa

    Đỗ Thái Nhiên



    Lúc bấy giờ là tháng năm, 1985, người Việt Nam tại quốc nội, nhất là dân chúng cư ngụ vùng Saigòn, Gia Định, vẫn nô nức nhưng kín đáo tìm đường vượt biên. Trong trường hợp âm mưu vượt biên thất bại, người vượt biên sẽ bị Cộng Sản Việt Nam hành hạ dưới tội danh "phản quốc". Vì thế, công việc chuẩn bị vượt biên cần phải được bảo mật tuyệt đối.

    Chính vì hai chữ "bảo mật", nhiều người đã ra khơi một cách hoàn toàn bất ngờ, không một lời giã biệt bằng hữu. Riêng tôi, tôi nhất định vượt biên, nhất định bảo mật, nhất định ân cần thăm viếng và từ biệt bạn bè cũ. Nhằm đáp ứng các "nhất định" vừa nêu, một ngày trước khi rời xa quê hương, tôi quyết định tìm gặp những người bạn đặc biệt của tôi. Những người bạn đó hoàn toàn kín tiếng. Những người bạn đó không còn bận tâm chọn lựa đời sống ở bên này hay bên kia bờ đại dương. Những người bạn đó đã đi trọn đường trần bằng tất cả gian khổ với một ước mơ bất thành: ước mơ Việt Nam thống nhất, dân chủ và thịnh vượng. Những người bạn đó chính là các bạn đồng ngũ thương mến của tôi đang an nghỉ tại nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa.

    Chiều hôm ấy, khoảng ba giờ, một mình tôi thẫn thờ bước vào nghĩa trang Biên Hòa. Bức tượng Thương Tiếc nằm ở ngay cổng đã bị mang đi nơi khác tự bao giờ. Con đường từ xa lộ chạy vào tới đài kỷ niệm Chiến Sĩ Trận Vong vẫn còn đó, vẫn dài, vẫn thẳng, nhưng hai hàng phượng đứng bên đường trông thật tiều tụy và ủ dột. Có thể vì phượng thiếu nước, thiếu gió. Có thể vì phượng muốn biểu tỏ tấm lòng trắc ẩn của cỏ cây dành cho hàng ngàn anh linh chiến sĩ đã vị quốc vong thân nhưng nay phải ngậm đắng nuốt cay nơi suối vàng trước cảnh "quốc" đang bị đè bẹp dưới ách độc tài Cộng Sản. Vào tới khu dành cho mộ phần của chiến sĩ, khách viếng mộ tận mắt chứng kiến toàn thể nghĩa trang đều bị đập phá tàn nhẫn. Đây là một ngôi mộ bị đào bới để lộ cả quan tài mở nắp, di cốt tử sĩ đã biến mất. Kia là một ngôi mộ nằm ở triền đồi, bia đá vẫn còn nguyên nhưng di ảnh của người quá cố có dấu vết vài phát đạn vào mắt, vào miệng. Kế đó là nơi an nghỉ của một sĩ quan cấp tá, trên bia đá, người nào đó lấy sơn đen viết một câu giễu cợt, rất phản văn hóa.

    Cứ như vậy, khách viếng nghĩa trang lần lượt ghi nhận vô số hình ảnh não nề của một nghĩa trang bị nhận xuống tận cùng của hố ô nhục. Mặc cho ô nhục chồng chất, toàn bộ mộ phần của nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa vẫn lặng lẽ hướng về đài chiến sĩ trận vong. Đài này nằm trên đỉnh một ngọn đồi tọa lạc tại trung tâm nghĩa trang. Kiến trúc trọng yếu của đài chiến sĩ trận vong là một tháp xi-măng xám, cao vời vợi. Tháp này gợi nhớ hình ảnh cây bảo kiếm của người chiến sĩ vô danh năm xưa đã để lại nơi dương thế trước khi đi vào cõi vĩnh hằng. Từ cõi vĩnh hằng xa xăm kia, người ta vẫn nghe vang vọng một câu hỏi, nửa như kinh ngạc, nửa như phẫn hận: tại sao nghĩa trang của những anh hùng vị quốc vong thân lại có thể bị lăng nhục???

    Bây giờ nhiều năm đã trôi qua... Bây giờ những xót xa về cảnh tượng hoang phế và cô tịch của nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa đã lắng đọng... Bây giờ những uẩn ức về lệnh buông súng tức tưởi đã trôi xa vào quá khứ... Bây giờ thời gian là năm 2002, một chiều tĩnh lặng cuối thu. Không gian là công viên tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ thuộc thị xã Westminster, California.

    Tôi ngồi tựa lưng vào chân tượng đài, trầm ngâm suy nghĩ về quân đội Việt Nam Cộng Hòa.

    I. Phương pháp đánh giá một Quân Ðội.

    Trước tiên, tôi nghĩ tới những luận cứ chê trách QĐVNCH. Có người nêu rõ danh tánh vài ba ông tướng buôn lậu để đơn giản cho rằng QĐVNCH là quân đội buôn lậu. Người khác đã viện dẫn trường hợp đào ngũ, nghịên ngập của năm bẩy quân phạm trong quân lao Gò Vấp để vội vàng kết luận: QĐVNCH là quân đội vô kỷ luật. Người khác nữa đã kể lại câu chuyện một quân nhân đầu hàng địch quân trên trận địa đê? Nhanh chóng nhận định QĐVNCH là quân đội hèn nhát... Tất cả các đánh giá vừa kể hiển nhiên là kiểu đánh giá xuất phát từ những người rất giầu ác ý nhưng vô cùng nghèo nàn hiểu biết về phương pháp đánh giá. Làm thế nào để chúng ta có thể đánh giá một tập thể trên căn bản chừng mực và nghiêm chỉnh?

    Đi tìm giải đáp cho câu hỏi vừa kể, có lẽ chúng ta nên suy nghĩ về một phương pháp đánh giá trong khoa kinh tế học. Mỗi khi tổng sản lượng quốc gia gia tăng, chưa hẳn người dân được sống trong thịnh vượng. Những năm gần đây, tổng sản lượng quốc gia Việt Nam được ghi nhận là gia tăng nhưng tuyệt đa số quần chúng Việt Nam vẫn bị giam cầm trong cuộc sống cùng khổ.

    Lợi nhuận của sinh hoạt kinh tế phải là lợi nhuận chung của toàn bộ xã hội. Lợi nhuận kia phải được phân bổ hợp lý cho toàn dân. Thế nhưng CSVN đã cưỡng chiếm lợi nhuận kinh tế cho đảng CS và cho cá nhân đảng viên nhất là đảng viên thuộc giai cấp tư bản đỏ. Đó là lý do giải thích tại sao tổng sản lượng quốc gia VN gia tăng nhưng hai chữ "thịnh vượng" vẫn là ngườI khách cực kỳ xa lạ đối với quần chúng nghèo túng. Vì vậy, muốn so sánh mức độ thịnh vượng giữa hai hay nhiều nền kinh tế, các chuyên viên kinh tế phải đồng thuận với nhau về một người tiêu thụ mẫu mực gọi là "kinh tế nhân". Kinh tế nhân là người tiêu thụ một số lượng nhất định về các sản phẩm kinh tế căn bản như vải vóc, lương thực v...v... trong một thời lượng đã được quy ước trước. Thế rồi từ ý niệm kinh tế nhân, chúng ta có thể xác định mức độ thịnh vượng của một nền kinh tế bằng cách cân đo xem nền kinh tế đó đã thực sự nuôi dưỡng được bao nhiêu kinh tế nhân trên tổng dân số. Kết quả của việc cân đo này giúp chúng ta dễ dàng thiết lập bảng xếp hạng kinh tế thịnh vượng giữa các quốc gia.

    Đánh giá một nền kinh tế, chúng ta cần "kinh tế nhân" làm thước đo. Đánh giá một quân đội, chúng ta cũng cần một thước đo tương tự. Thước đo đó chính là một người lính bình thường. Người lính đó không phải là một ông tướng lúc nào cũng sẵn sàng "bỏ quân chạy lấy người". Người lính đó không phải là anh binh nhì, suốt ngày ngồi ở vọng gác thì thầm ca bài "Kỷ Vật Cho Em".

    Người lính đó mang trong người đầy đủ "tính lính" mà hầu hết binh lính trong QĐVNCH đều có. NgườI lính đó là "người lính tiêu biểu". Bây giờ chúng ta hãy khảo sát phẩm cách người lính tiêu biểu, mà bài viết này chỉ gọi tắt là người lính.

  15. #15
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default QuÂn ĐỘi viỆt nam cỘng hÒa[2]

    II. Quá trình thụ giáo của người lính.

    Muốn xác định phẩm chất của một quân đội, chúng ta không thể không tìm hiểu cội nguồn giáo dục đã đào tạo ra hàng ngũ quân nhân cho quân đội đó. Chế đô. CSVN là chế độ độc tài, tham ô và bóc lột. Vì vậy chế độ này cần rất nhiều tay sai để bảo vệ giới thống trị. Cũng vì vậy giáo dục của CSVN là giáo dục đào tạo tay sai. Chủ nghĩa Marx Lenine và luận cứ ca tụng đảng, suy tôn Hồ Chí Minh, là các công cụ trọng yếu của guồng máy giáo dục CS.

    Ngược lại, VNCH có một nền giáo dục "rất Người". Trên toàn lãnh thô? VNCH, các môn học như: công dân giáo dục, sử học, văn chương, triết học v...v... không hề có chỗ đứng dành cho tư tưởng độc tôn lãnh tụ hay độc tôn chế độ. Đó là nội dung cốt lõi của chương trình giáo dục nhân bản mà người lính của QĐVNCH đã được hấp thụ trong toàn bộ học trình của tiểu, trung và đại học. Đó là một sự thực mà không một người nào đã từng sinh ra và lớn lên trong xã hội VNCH có thể phủ nhận được. Một sự thực mà guồng máy thông tin tuyên truyền của CSVN không thể xuyên tạc hoặc bóp méo.

    Ngay sau khi "xếp bút nghiên theo việc đao cung", người lính lại bước vào trường học mới: ngành tâm lý chiến của QĐVNCH. Tại đây người lính không hề bị nhồi sọ để trở thành tay sai cho lãnh tụ hay chế độ chính trị nào. Người lính của QĐVNCH chỉ được trang bị một loại võ khí tinh thần duy nhất là lòng yêu nước và tinh thần tôn trọng kỷ luật quân đội.

    Song song với giáo dục học đường dân sự và giáo dục tâm lý chiến của quân đội, người lính còn được hấp thụ một nền giáo dục nhân bản của toàn bộ xã hội. Người ta có thể không đồng ý với các chế độ chính trị tại VNCH về một số sự việc nào đó nhưng không thể chối cãi rằng VNCH là một chế độ tôn trọng quyền tự do tư tưởng. Quyền tự do này được thể hiện đậm nét trên hai lãnh vực: nghệ thuật trình diễn và nghệ thuật văn học. Điều này giải thích lý do tại sao sau nhiều năm bi. CSVN tìm đủ mọi phương cách để tiêu diệt, những tác phẩm văn học nghệ thuật xuất phát từ xã hội VNCH vẫn được lưu truyền càng ngày càng mạnh mẽ trong dân gian ở cả hai miền Nam và Bắc.

    Nhìn chung lại, giáo dục học đường, giáo dục tâm lý chiến cùng với giáo dục xã hội là ba nguồn giáo dục nhân bản mà người lính VNCH đã được tôi luyện từ thời niên thiếu cho đến hết cuộc đời binh nghiệp.Trong thực tiễn đời sống, ba nguồn giáo dục căn bản kia đã hướng dẫn người lính VNCH sống và chiến đấu đúng với hướng phát triển tình cảm trong sáng của một Con Người. Hướng phát triển đó được triết học cụ thể hóa bằng biểu đồ hình trôn ốc.

    Vạn vật vận động theo hình trôn ốc. Hình trôn ốc triết học có đỉnh đặt trên mặt đất, đáy hướng lên trời. Hình trôn ốc là hình vẽ diễn ý rằng mỗi vận động trong vạn vật đều xuất phát từ một điểm để sau đó phát triển rộng ra, cao lên, cả về lượng lẫn phẩm.

    Khảo sát diễn tiến phát triển tình cảm của một cá nhân,chúng ta thấy: ngay sau khi được cha mẹ cho chào đời, đứa bé quyến luyến cha me. Đó là tình con cái đối với cha mẹ (đỉnh của hình trôn ốc) Thế rồi theo đà khôn lớn, đứa bé tìm tới tình anh chị em ruột thịt, rồi tình họ hàng gần xa, rồi tình làng xã, tình quốc gia dân tộc, tình nhân loạị..

    Cứ như thế tình cảm của con người sau khi rời đỉnh hình trôn ốc đã men theo các vòng xoáy hình trôn ốc để từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phong phú cả về phẩm lẫn lượng. Không còn nghi ngờ gì nữa, quá trình giáo dục của người lính VNCH hoàn toàn phù hợp với nhận định của triết học về vận động của vạn vật. Sự phù hợp vừa nói khẳng định mạnh mẽ rằng: môI trường sống cùng với môi trường giáo dục tại miền Nam Việt Nam trước 1975 đã tạo điều kiện cho người lính VNCH trở thành những người thực sự yêu quê hương đất nước theo đúng quy luật sinh hoạt tình cảm tự nhiên của Con Người.

    III. Bản chất của người lính VNCH.

    Do yêu quê hương đất nước, người lính VNCH đã nhận thức được rằng cuộc chiến đấu chống quân đội CSVN trước 1975 là cuộc chiến đấu cho tự do dân chủ, cho chính nghĩa. Sau 1975, nhà khoa học Nguyễn Thanh Giang đã kêu gọi mọi người Việt Nam (Bắc cũng như Nam) hãy tri ân chiến sĩ VNCH trong trận hảI chiến chống Trung quốc ơ? Hoàng Sa.

    Mới đây nhà văn Dương Thu Hương, một "chiến sĩ chống Mỹ cứu nước" trước kia đã giác ngộ chính nghĩa bằng cách viết bài "Tiếng Vỗ Cánh Của Bầy Qua. Đen". Qua bài viết này, Dương Thu Hương tố cáo cuộc chiến tranh tại Việt Nam trước 1975 do CSVN phát động là một tội ác phỉnh gạt vĩ đại.

    CSVN phỉnh gạt đồng bào miền Bắc bằng cách nhân danh tự do và cơm áo, đẩy đồng bào lao thân vào cuộc chiến tàn khốc tại miền Nam Việt Nam. Để rồi sau 30/4/1975, CSVN đã để lộ nguyên hình là một đảng Mafia tham ô và bóc lột. Nói ngắn và gọn, nhà văn Dương Thu Hương đã xác nhận điều được gọi là chiến tranh "Giải Phóng Miền Nam" do CSVN phát động chẳng qua chỉ là một hành động phi nghĩa. Các sự thể kể trên đã mạnh mẽ làm nổi bật tính chất chính nghĩa trong cuộc chiến đấu bảo vệ tự do cho miền Nam VN của người lính VNCH.

    Do yêu quê hương đất nước, người lính VNCH chấp nhận phục vụ quê hương với những điều kiện sinh hoạt rất thanh bạch. Nghèo khổ không than trách. Nguy hiểm không sờn lòng. Người lính VNCH bao giờ cũng tận tình với nghĩa vụ bảo quốc, an dân. Người lính tuyệt vời kia đã được đền thưởng những gì? Phần đền thưởng đó lại chính là con đường "vị quốc vong thân" trong tuyệt đối hiu quạnh. Con đường ấy đưa đẩy người lính rơi vào một tình huống cực kỳ quái dị, cực kỳ tê táị "Đám Ma Tù" là điển hình của tình huống vừa kể:

    "Vài tên cầm súng bước đi đầu
    Tên nữa AK tiếp theo sau
    Một xác bó tròn đôi manh chiếu
    Hai đầu buộc tréo bốn dây lau
    Không kèn, không trống, không đưa tiễn
    Chẳng khói, chẳng nhang, chẳng nguyện cầu
    Chỉ có bạn tù khiêng lặng lẽ
    Vùi nông một khối hận thù sâu !!!"
    NgôMinh Hằng--Thi Phẩm Gọi Đàn

    Do yêu quê hương đất nước, người lính VNCH bao giờ cũng chuyên cần đổ mồ hôi trên thao trường của các quân trường, bao giờ cũng thiện chiến và anh dũng đoạt chiến thắng lừng danh trên mọi hình thái trận địa. Các chiến thắng Bình Long, An Lộc, tái chiếm cổ thành Quảng Trị, mùa Hè Đo? Lửa 1972, phản ứng nhanh và chính xác trong biến cố Tết Mậu Thân v...v... là những thí dụ điển hình tạo nên "Quân Sư? Vàng" của QĐVNCH.

    Do yêu thương quê hương đất nước, người lính VNCH bao giờ cũng nêu cao gương trách nhiệm trong mỗi hành động chiến đấu. Hải Quân Thiếu Tá Ngụy Văn Thà anh dũng trầm mình theo chiến hạm do ông chỉ huy trong trận hải chiến với Trung Cộng tại quần đảo Hoàng Sa. Các Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Nguyễn Văn Hai,Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn và vô số anh hùng quân đội vô danh khác đã ngạo nghễ chọn cái chết thay vì đầu hàng địch quân vào ngày 30/4/1975.

    Do yêu thương quê hương đất nước, người lính VNCH bao giờ cũng tôn trọng quân kỷ. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là người lính chỉ biết tuân hành mọi loại mệnh lệnh một cách mù quáng. Trong rất nhiều trường hợp, nghĩa vụ ân cần chăm sóc thương bệnh binh phải được xem trọng hơn nghĩa vụ tự giam bó trong quân kỷ. Đó là ý nghĩa của Kinh và Quyềợn trong tinh thần quân kỷ của người lính VNCH. Đó là ý nghĩa của kỷ luật tự giác mà người lính VNCH muốn đề cao. Đó còn là lý do giảI thích tại sao trong QĐVNCH lại có những hành động phản kháng kiểu Bác Sĩ Quân Y Hà Thúc Nhơn, Bác Sĩ Quân Y Phạm văn Lương.

  16. #16
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default QuÂn ĐỘi viỆt nam cỘng hÒa[3]

    IV. Hệ lụy của một quân đội bị bức tử.

    Phẩm chất người lính tiêu biểu của QĐVNCH như đã trình bày ở trên chính là phẩm chất của toàn thê? QĐVNCH. QĐVNCH sinh ra, lớn lên và hùng mạnh trong môi trường nhân bản. QĐVNCH không hề là, không thể là quân đội tay sai của ngoại bang hay bất kỳ chế độ chính trị nào. QĐVNCH là hình ảnh sinh động của lương tri và ái quốc. QĐVNCH thiện chiến và chiến đấu dũng cảm.

    Thế nhưng, hành động phản bội của người bạn đồng minh Hoa Kỳ đã mặc nhiên trói tay QĐVNCH. Khai thác hoàn cảnh "bị trói tay" đó, CSVN vội vàng tạo tội ác 30/4/75. Nói rõ ràng hơn, Hoa Kỳ phản bội cộng với bản chất gian ác của CSVN là hai lý do chủ yếu dẫn đến "cái chết" của QĐVNCH. Thông thường chết có nghĩa là từ giã mọi hệ lụy. Thế nhưng, ngay sau ngày bị "bức tử", QĐVNCH đã để lại cho dương gian ba hệ lụy căn bản như sau:

    Hệ lụy 1: Hơn ai hết, VC nhận biết rất rõ bản chất nhân bản và ái quốc của QĐVNCH. Vẫn hơn ai hết VC tự nhận biết bản chất Mafia của CSVN.

    Nhà văn Dương Thu Hương gọi Mafia VC là "Bầy Quạ Đen". Lo sợ lòng yêu nước và tính dũng cảm của QĐVNCH được dư luận truyền tụng rộng rãi và lâu dài. Sự thể này sẽ làm gia tăng vượt bực lòng căm phẫn của nhân dân VN đốI với "Bầy Quạ Đen". Vì vậy trong các thập niên qua, CSVN không ngừng nỗ lực phá hoại uy danh của QĐVNCH. Ngày 24/9/2002 trên báo The Orange County Register, qua bài viết "Victory most can celebrate" của ký gia? Gordon Dillow, đã nhắc lại các sự việc:

    VC phá hủy có phương pháp nghĩa trang QĐVNCH
    • VC đẩy hàng ngàn cựu chiến binh tàn phế của QĐVNCH vào cảnh sống hành khất.
    • VC kiên trì và nỗ lực phá hoại công cuộc xây dựng tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ tại Westminster, California.


    Ba sự việc nêu trên đi kèm với khối sách báo của VC viết về QĐVNCH là những bằng chứng mạnh mẽ cho thấy ác ý hủy diệt uy danh QĐVNCH của VC.

    Hệ lụy 2: Sau chiến tranh Việt Nam, dư luận không hề cho rằng Hoa Kỳ đã thua kém VC trên địa bàn quân sự. Tuy nhiên "Hoa Kỳ phản bội QĐVNCH" là một sự thực không thể chối cãị nhằm xóa bỏ mặc cảm phản bội, giới truyền thông Hoa Kỳ đã cố gắng làm cho thế giới hiểu rằng chiến tranh VN là chiến tranh giữa Hoa Kỳ và VC.

    Đó là lý do giải thích tại sao sách báo và nhất là điện ảnh Hoa Kỳ triệt để tránh né đề cập tới vai trò của QĐVNCH trên chiến trường VN. Sự thể "tránh né" vừa nói đã làm cho dư luận hiểu lệch đi rằng QĐVNCH chỉ là cáI bóng mờ bên cạnh binh sĩ Hoa Kỳ và rằng QĐVNCH rất ngại chiến đấu. Để bác khước kiểu "hiểu lệch" kia, chúng ta hãy mang con số 400.000 tử sĩ VNCH đặt bên cạnh con số 50.000 binh sĩ Hoa Kỳ tử vong trong chiến tranh VN (http://encyclopediạcom/section/ vietnam w. end of the war) . Sự sai biệt lớn lao giữa hai con số là một bằng chứng bằng máu về lòng ái quốc và dũng cảm của QĐVNCH.

    Hệ lụy 3: Đương đầu với hệ lụy (1) và (2), QĐVNCH hoàn toàn im lặng trong cõi bức tử. Tình trạng im lặng kia là cơ hội làm cho một số người, nhất là những người ra đời sau 1975 hiểu lầm tai hại về thanh danh của QĐVNCH. Đó là hệ lụy thứ ba mà QĐVNCH đang gánh chịu.

    V. Giải trừ oan khiên.

    Những điều trình bày ở trên đã minh chứng cả ba hệ lụy là ba oan khiên. Làm thế nào để giải trừ oan khiên?

    Giải trừ một: qúi vị cựu quân nhân của QĐVNCH hãy hãnh diện về tư cách cựu quân nhân của mỗi quý vị. Quý vị gia đình cựu quân nhân và tất cả những người xuất thân từ xã hội VNCH hãy ghi khắc trong tim óc của mỗi quý vị: chúng ta đã có nhiều thập niên sống trong sự che chở ân cần của QĐVNCH. Một quân đội đã bảo vệ người dân bằng chính sinh mệnh của người lính.

    Giải trừ hai: người Việt Nam lớn lên trong chiến tranh hãy giải thích cho người VN ra đời sau 1975, nhất là những người VN sinh trưởng tại quốc ngoại để họ hiểu biết tường tận về lương tri và lòng ái quốc của QĐVNCH trêạn những liên hệ thân thiết giữa người dân và QĐVNCH.
    Hành động giải thích này hoàn toàn không mang ý nghĩa của một cảm tính. Nó là sự truyền đạt từ thế hệ này qua thế hệ khác những hiểu biết về vận động quan trọng của lịch sử.
    Nó ẩn chứa trong nó ước mơ rằng: trong tương lai, quốc gia Việt Nam sẽ có một quân đội thực sự vì nhân dân. Các loại quân đội tay sai của "Bác", của Đảng, của bất kỳ phe phái chính trị nào phải triệt để bị loại bỏ. Ước mơ vừa nêu tuy gián tiếp nhưng mạnh mẽ vinh danh QĐVNCH.

    Giải trừ ba: đất nước là tài sản chung của toàn dân. Người dân phải thực sự là chủ nhân ông tối cao và duy nhất của đất nước. Đó là chân ý nghĩa của công bằng và lẽ phải. Đó là quy luật sống tự nhiên của mỗi dân tộc và của toàn nhân loại. Quy luật sống tự nhiên kia đòi hỏi những hoạt động kiểu giáo dục, luật pháp, kinh tế, nhất là quân sự phải là sinh hoạt nhân bản và công bằng của xã hội. Bài viết này chỉ xin nhấn mạnh đến guồng máy quân đội.

    Quân đội dân chủ bao giờ cũng vận động theo chuẩn mực bởi dân, của dân và vì dân. Nhà cầm quyền dân chủ không bao giờ nuôi tham vọng biến quân đội trở thành công cụ bảo vệ ngôi vị cầm quyền. Qua quá trình giáo dục, qua quân sử và nhất là qua thực tiễn chiến đấu và phục vụ, QĐVNCH đích thực là một quân đội của xã hội dân chủ. QĐVNCH và dân chủ như hình vớI bóng. Chế độ dân chủ bị chà đạp, QĐVNCH bị lăng nhục. Vì vậy mọi người Việt Nam trong cũng như ngoài nước hãy nỗ lực mang lại dân chủ cho Việt Nam. Ngày chế độ dân chủ được tái lập tại Viet Nam chính là ngày danh dự của QĐVNCH được phục hồi.

    Như vậy là ba phương pháp giải trừ đi kèm với ba hệ lụy.
    Mỗi giải trừ tượng trưng bởi một nén nhang.

    • Nén nhang thứ nhất là lời tri ân của TỔ QUỐC
    • Nén nhang thứ hai là lời vinh danh tinh thần TRÁCH NHIỆM của QĐVNCH
    • Nén nhang thứ ba là lời nguyền quyết tâm phục hồi DANH DỰ cho QĐVNCH, một quân đội thực sự yêu nước , thiện chiến, và dũng cảm.

    Người viết bài này kính cẩn đặt ba nén nhang kia dưới chân TƯỢNG ĐÀI CHIẾN SĨ Việt Mỹ ,Westminster,California. Hành động này mang hàm ý chúc mừng ngày khánh thành tượng đài.



    Hành động này còn là sự biểu tỏ lòng tuyệt đối tôn kính và thương yêu đối với QĐVNCH./.

    Đỗ Thái Nhiên
    Nguyên thiếu úy , trưởng ban Quân số
    Tiểu Đoàn 3, Pháo Binh Phòng Không
    KBC 4314

  17. #17
    Join Date
    Jun 2004
    Location
    Japan
    Posts
    2,815
    Thanks
    18
    Thanked 5 Times in 4 Posts

    Default Con ngước nhìn



    Con ngước nhìn ngọn cờ Vàng
    Lung linh bóng cha, bóng muôn vàn tử sĩ
    Bắc Trung Nam ôi ba dòng huyết lệ !
    Của những con người làm giang san hùng vĩ

    Con ngước nhìn tuyết rơi đầu núi
    Gốc dương già vươn nhánh gầy che bớt gió sương
    Cho tuyết rơi cành non không ngập lá
    Chạnh lòng con khao khát bóng hình cha

    Con ngước nhìn đêm thâu vằng vặc ánh tinh cầu
    Trong tim con bỗng dâng nỗi tự hào
    Tay ngang trán con chào những vì sao
    Cha mĩm cười cúi hôn trên mái đầu

    Con ngước nhìn bầu trời trong xanh quá
    Mầu áo Không Quân, bóng dáng cha
    Phải ! Lính Không Quân - Không bao giờ chết !
    Người trở thành thiên sứ cuối đường mây .

    VNAF WARRIORS NEVER DIE - THEY BECOME ANGELS
    canhthep.com

  18. #18
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default "Ngụy" !

    "Ngụy" !

    Tiểu Tử

    Trong ngôn ngữ thông thường miền Nam Việt Nam trước tháng tư 1975, tiếng "ngụy" – nghĩa là "giả" – ít thấy có ai dùng tới. Cái gì không phải thứ thiệt, không phải thứ "chánh cống", không phải thứ "có cầu chứng tại tòa"... là người ta gọi hoạch tẹt là "đồ giả", chớ không ai gọi là "đồ ngụy" hết. Ví dụ như rượu giả, thuốc giả, vú giả, bạc giả... vv. Bởi vì từ ngữ hồi đó rất... thật !

    Sau tháng tư 1975, tiếng “ngụy” đã theo gót... dép râu (Xin lỗi ! Chỗ này văn chương nghe chỏi lỗ tai một chút, nhưng rất... tả chân. Không thể viết "theo gót giày" như xưa nay thường viết, vì đối tượng ở đây toàn mang dép râu cả !) quân nón cối và quân mũ tai bèo vào Nam làm cách mạng...

    Sau biến cố, toàn dân miền Nam đều phải đi “học tập” ba hôm. Chính trong ba hôm đó người ta mới nghe lần đầu tiên tiếng "ngụy". Và nghe... đầy lỗ tai !
    Vậy là đầu hôm sớm mai, tiếng “ngụy” được... nhét vào ngôn ngữ miền Nam một cách "ngang xương", không cần… trưng cầu dân ý! Mới đầu nghe lạ hoắc, không hiểu ý nghĩa sâu đậm của nó. Cũng chẳng có ai giải thích. Mà ví dụ có ai to gan lớn mật đặt câu hỏi thì cán bộ cũng chỉ giải thích... ngang như cua thôi!

    Thành ra nhân dân miền Nam hiểu tiếng "ngụy" một cách rất... tự do, và sử dụng tiếng "ngụy" rất... rộng rãi (Được "giải phóng", có khác!). Thôi thì cái gì của miền Nam cũng đều biến thành "ngụy" ráo. Để phân biệt với "cách mạng"!.. Thằng ngụy, vợ ngụy, con ngụy, lính ngụy, chánh quyền ngụy, cơ sở ngụy, xí nghiệp ngụy, công nhân ngụy, "hàm-bà-lằng" ngụy... Và người ta nghĩ một cách rất đơn giản, rất thật thà: "Hễ thấy không có đóng con dấu ngôi sao đỏ thì cứ xếp vào đồ ngụy, là ăn chắc!".

    Thật ra, khi dán cái nhãn "ngụy" lên miền Nam, "Đảng và Nhà Nước" muốn nhân dân – chủ yếu là nhân dân miền Bắc – hiểu theo định nghĩa "ngụy" là giả – giả nhân giả nghĩa, giả đạo đức, giả yêu nước thương dân – "ngụy" là đoạt của người ta mà nói là của mình, là bịp, là láo, là phiến loạn... Về sau, khi nhân dân cả hai miền đều... mở mắt, tiếng “ngụy” ít thấy dùng tới. Nhưng bây giờ thì mọi người đều nhận ra ai mới đúng là ngụy. Lớp ngụy trang bị rơi xuống, những ngụy ngôn bị vạch trần, thì chân tướng ngụy lòi ra rõ rệt, đến người mù cũng phải thấy!

    Viết dài dòng để... “đả thông tư tưởng” trước khi vào chuyện.
    Lannguyen

  19. #19
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default

    "Ngụy" ! [2]

    …Ông H là thiếu tá quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Ông làm việc ở Tổng tham mưu. Ông thuộc gia đình trung lưu. Hồi 1945, cha và anh của ông đi kháng chiến rồi đi luôn ra Bắc. Từ đó, không được tin tức gì hết. Mẹ của ông là giáo viên tiểu học, xem việc dạy dỗ trẻ con là một thiên chức. Bà thường nhắc về người cha và người anh vắng mặt, nhứt là người anh với những kỷ niệm đẹp của thời mà hai anh em còn ở chung với nhau: "Anh Hai của con thương con lắm. Đi học về là cởi trần rồi cõng con chạy cà bồng cà bồng quanh sân vừa chạy vừa hí rân như ngựa làm cho con cười hắc hắc.

    Mà con thì hay nhõng nhẽo với anh Hai con, đi đâu cũng bắt nó cõng hết. Còn khi nào con đòi cái gì không được, con hay vừa khóc vừa la để ba tưởng là anh Hai chọc con, ba rầy ảnh! Tội nghiệp! Những lúc thấy con sắp sửa làm trận như vậy, anh Hai con thường đưa đầu biểu con đánh nó đi chớ đừng khóc la, sợ ba rầy!". Rồi bà kết luận: "Tánh tình nó tốt lắm!".

    Ông lớn lên trong vòng tay người mẹ, được giáo dục bằng tình thương, xem gia đình là căn bản, lấy đạo đức làm phương châm. Và ông giữ mãi trong lòng sự mến mộ "người anh Hai lúc nào cũng làm vui lòng em, lo lắng cho em, bảo vệ em".

    Mãi đến năm 1973, mới được tin qua một người bà con rằng cha mất đã lâu và người anh bây giờ là tướng của "ngoài đó". Thật là bàng hoàng. Mẹ ông khóc hết nước mắt. Thời gian sau, bà nói: “Mẹ chỉ mong cho mau hết giặc, để anh em con về sống bên mẹ yên vui như ngày xưa. Chừng đó, mẹ mãn nguyện để theo ông theo bà...". Mẹ ông qua đời vào giữa năm 1974, chưa kịp thấy cảnh “hết giặc” ra làm sao và chưa kịp gặp lại đứa con làm tướng...

    ... Mấy hôm sau ngày 30 tháng tư 1975, ông tướng nhờ người bà con đưa lại nhà ông H. Xa cách đã ba mươi năm, nhưng hai anh em vẫn nhìn ra được nhau. Bởi vì họ giống nhau như đúc. Sau mấy giây ngỡ ngàng, họ xà vào ôm lấy nhau siết chặt. Cả hai đều không cầm được nước mắt. Bà H và bốn đứa con – ba trai một gái, đã lớn hết, hai đứa đại học và hai đứa trung học cấp hai – đứng nhìn cảnh hai anh em ôm nhau, cũng bồi hồi xúc động...

    Sau đó là bữa cơm gia đình để hai anh em kể cho nhau nghe những biến thiên của đời mình, của thời cuộc. Tiếp theo là ông tướng mang hành trang lại ở với gia đình ông H, để có anh có em.

    Ông bà H có hai cái nhà. Cái mà ông bà đang ở với hai con học trung học, là loại vi-la lầu có sân lót gạch và vườn cây kiểng hồ cá trang trí theo kiểu Nhựt. Nhà này do ông bà tự cất lấy hồi thời các con còn nhỏ. Về sau, ông được thuyên chuyển ra miền Trung một thời gian. Ông đem hết gia đình ra ngoài đó, để nhà cho Mỹ mướn. Nhờ vậy, mấy năm sau, ông mua thêm một căn phố nhỏ cho hai đứa con trai lớn ở, khi chúng nó vừa vào đại học.
    Sau khi đi xem nhà, ông anh bảo:

    - To thế thì ở làm gì cho hết? (Bây giờ ông anh nói pha giọng Bắc rất nhiều). Nguyên cái buồng ngủ thôi cũng chứa cả môt hộ bốn nhăm người đấy!

    Hôm sau, ông H được người anh khuyên:
    - Chú làm cái vườn như thế này là phí đất. Đào lên đi để trồng trọt khoai bắp cho các cháu có mà ăn. Phải biết tăng gia chứ!

    Mới đầu, ông hơi phật ý. Nhưng, khi nhìn sang hàng xóm thấy nhà nào cũng đào cũng xới kể cả dải đất hẹp té nằm dọc theo chân tường rào phía ngoài đường, ông nghĩ: "Mình cũng phải làm như thiên hạ, cho yên thân". Vậy là cha con ông hè hụi đập nạy cạy khượi, gạch, bê-tông, hồ cá... cho lòi đất rồi trỉa đậu trồng mì! Khu vườn Nhựt Bổn mà ông Bà H đã tự tay xây đắp, bây giờ tan hoang lồi lõm giống như bãi đổ... xà bần. Nhà ông H bây giờ mới thật sự mang nét cách mạng!

    Ông anh – tên R – làm việc ở đâu, hỏi không bao giờ nói. Chỉ thấy mỗi sáng có xe của cơ quan đến rước, chiều đưa về. Ông H, sau khi trình diện khai lý lịch, tối ngày ngồi nghe tin tức qua ra-đi-ô. Bà H không dám nấu nướng trong bếp bằng lò ga, bà sợ làm như vậy nó... ngụy quá đi, nên bà dựng ở hàng ba mấy cục gạch rồi nấu bằng củi bằng lá khô... Bà kê cạnh đó một cái bàn thấp để chén đũa mắm muối, còn nồi niêu dao thớt thì cứ bỏ nằm lỏng chỏng dưới đất bên cái thau nhôm lớn đựng nước để dùng cho việc nấu nướng rửa ráy.

    Nước lấy từ ống cao su trước đây dùng tưới vườn. Nước dơ thì cứ tạt... cha nó ra sân. Bà H ngồi chồm hổm làm bếp, chổng khu thổi lửa khói bay um tùm làm đôi khi bà nhớ thời thơ ấu – bốn mươi mấy năm về trước – hồi ở dưới quê với bà ngoại, bà hay nhìn bà ngoại nấu cơm như bà làm bây giờ. Chỉ khác là hồi đó chưa có cách mạng! Ông anh có vẻ hài lòng về tác phong của bà H, nên khen: "Cô thật là sớm giác ngộ!".

    Một hôm, đài phát thanh gọi các sĩ quan ngụy đi trình diện học tập. Và nói rõ: "Đem theo tiền ăn cho một tháng”. Ông H lo lắng, hỏi ý kiến ông anh thì được trả lời:

    - Chú cứ yên tâm đi học tập. Anh bảo đảm không sao hết.

    Vậy là ông H hun vợ con, xách ba-lô lên đường, còn dặn:
    - Ở nhà có bác Hai. Mẹ con bây cần gì thì nhờ bác, nghen.

    ... Một tháng sau, không thấy ông về, bà H hỏi ông anh thì được trấn an một cách rất bình thản:
    - Cô yên tâm. Vài hôm là về thôi !

    Cứ thế, vài hôm rồi vài hôm... dài dài... Bà H nóng lòng, chạy đi gặp mấy bà bạn cũng là vợ sĩ quan, mới hay rằng có thể chồng đã bị chở đi luôn ra ngoài Bắc. Bà lau nước mắt, về quây quần với mấy con, ngồi đợi ông anh. Gặp ông, bà mếu máo:
    - Họ chở nhà tôi đi mất rồi...
    - Đi đâu mà mất ? Còn tập trung cải tạo ở trong Nam chứ phải biệt xứ đâu mà mất? Đi học tập chứ đi tù đâu mà cô sợ.
    - Nghe đồn trong trại khổ lắm. Nhờ anh can thiệp cho nhà tôi về. Dù gì anh cũng là tướng và cha đã hy sinh vì cách mạng.
    - Cách mạng không phải như ngụy đâu cô! Không có chuyện móc ngoặc bè phái. Không có chuyện tư vị nể nang. Luôn luôn xử sự có tình có lý. Chú ấy cứ học tập tốt là về ngay thôi! Nói thế chứ... để tôi xem có làm gì được không.

    Một hôm, ông anh họp các con ông H lại, khuyên:
    - Ba các cháu là ngụy. Cách mạng khoan hồng gởi đi học tập cải tạo. Ba các cháu có sớm được trả về hay không là còn tùy thuộc ở thái độ học tập của ba các cháu. Và cũng tùy thuộc ở trình độ giác ngộ cách mạng của má các cháu và các cháu nữa.
    - Vậy, mình phải làm sao ?
    - Dễ thôi! Bác sẽ giới thiệu các cháu vào đội thanh niên xung phong, nếu các cháu muốn giúp ba các cháu.
    - Vô đó để làm cái gì, thưa bác?
    - Để phục vụ nhân dân theo khả năng của mình. Nếu các cháu có tinh thần phục vụ cao, Nhà Nước sẽ cho điểm tốt trong việc cứu xét trường hợp của ba các cháu.

    Sau một lúc bàn tính, cả bọn bốn đứa đều đồng ý... xung phong. Bốn đứa được thâu nhận nhưng không cùng ở chung một đơn vị. Phân tán chúng nó ra, cô lập từng đứa một, để dễ theo dõi kiểm soát, tránh mầm móng phản loạn... Nhà Nước đi một nước cờ thật cao!
    Lannguyen

  20. #20
    Join Date
    May 2004
    Location
    Abuja-Nigeria
    Posts
    9,267
    Thanks
    49
    Thanked 149 Times in 98 Posts

    Default Re: Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa

    "Ngụy" ! [3]

    Chúng nó được đưa đi đào đất đắp nền ở các vùng kinh tế mới hay đi đào kinh làm thủy lợi. Lâu lâu mới về thăm nhà một vài hôm. Nhưng không bao giờ cùng về một lúc. Và đứa nào về cũng xác xơ hốc hác, tay chân ghẻ lở giống như bị đi đày! Đứa con gái trước đây học năm thứ bảy dương cầm ở quốc gia âm nhạc, bây giờ tay cứng còng, không đánh nổi một bài tầm thường của hồi đó. Bà H nhìn các con mà đứt ruột. Cho nên mỗi lần đứa nào về, bà cũng chạy lo thuốc men và nấu nướng cho ăn uống tẩm bổ. Chỉ có ông anh là hài lòng và cho rằng đó là thành quả tốt đẹp của lao động!

    Một hôm, ông anh bảo người em dâu:
    - Bây giờ các cháu đã có Nhà Nước lo. Cô giữ làm gì đến hai cái nhà? Đây là lúc mà cô phải chứng tỏ trình độ giác ngộ cách mạng của mình bằng cách hiến cái nhà này cho Nhà Nước để làm cơ quan phục vụ nhân dân. Như vậy, chú ấy có cơ được về sớm.

    Sau vài phút suy nghĩ, bà H chỉ bằng lòng cho Nhà Nước mượn thôi.
    - Ừ! Thì cho mượn cũng được, tôi nghĩ thế. Để tôi liên hệ với các đồng chí ấy xem sao.

    Vậy là tuần lễ sau, bà dọn về căn phố nhỏ ở cách đó độ mười lăm phút xe đạp, nhưng thuộc về một quận khác. Sự chuyển hộ – nghĩa là dời chỗ ở, địa chỉ – không gặp khó khăn, nhờ ông anh cách mạng (Trong thời này, muốn chuyển hộ phải làm đơn xin phép nơi mình sắp dọn đến. Phải “có lý do chánh đáng” và điều này phải được chứng nhận bởi chánh quyền nơi mình đang ở! Khi đã được nơi sắp dọn đến chấp thuận – có ký tên đóng dấu – đương sự phải vác đơn đó về trình cho chánh quyền nơi đang ở để... xin phép được di chuyển. Khi được chấp thuận – ký tên đóng dấu- mình mới được quyền dọn đi!

    Rắc rối như vậy nên lúc nào cũng có một sự giải thích rất "có trình độ”: “Đằng kia có cho anh vô thì ở đây tôi mới cho anh ra. Chớ tôi cho anh ra mà đằng kia không cho anh vô thì anh... đi đâu?”.

    Rõ như vậy, nhưng nhiều khi vác đơn đến “đằng kia” trước, thì bị từ chối và dĩ nhiên được giải thích cũng rất “có trình độ” không kém: “Anh phải xin phép nơi anh đang ở trước rồi mới đến đây sau. Anh có được cho đi thì tôi mới nhận cho anh đến. Chớ bảo tôi nhận cho anh đến, trong lúc anh chưa được cho đi thì làm sao được? Phải có đi rồi mới có đến chớ! Dễ hiểu thôi!”.

    Cứ lẩn quẩn loanh quanh như vậy nên việc chuyển hộ thật là khó khăn. Trong trường hợp chuyển từ tỉnh sang tỉnh hay từ vùng sang vùng thì khỏi nói, thật là “trần ai gian khổ”!).Ông tướng có “động viên” một số đồng chí trẻ trong cơ quan đến phụ dọn nhà cho bà H. Và có cho mượn một chiếc xe cam-nhông-nét – cũng của cơ quan – nên việc dọn nhà cũng nhanh.

    Sau đó, ông anh cho bà ký tên tờ ủy quyền để ông anh thay mặt bà quản lý cái nhà lớn mà ông đang ở. Bởi vì bây giờ, bà đã chuyển hộ thì mặc nhiên ông anh trở thành chủ hộ ở ngôi nhà đó, mà muốn sử dụng cái nhà thì phải có sự ủy quyền của chủ nhà.

    Mười lăm ngày sau, bà H được biết là nguyên cả tầng trệt nhà của bà đã trở thành "tổ gạo", còn ông anh thì vẫn ở một mình trên lầu. Nghe nói bà tướng có vào thăm chồng một lần, ở độ mười lăm hôm rồi trở về Hà Nội. Không hiểu sao ông tướng không có đưa bà vợ lại thăm cô em dâu. Cách mạng có khác!

    Bẵng đi một thời gian dài gần cả năm, một hôm ông anh ghé nhà thăm bà H để báo tin đã tìm ra trại cải tạo của người em ở ngoài Bắc và chỉ vẽ cho bà cách thức xin đi thăm nuôi, đường đi nước bước, xe cộ v.v... và nhứt là những thứ cần thiết như lương khô quần áo. Nghe như vậy, bà H đã đoán ra phần nào đời sống của chồng ở ngoài đó, nên bà rớt nước mắt hỏi:

    - Sao trước đây anh không nói rõ để tôi lo cho nhà tôi có đầy đủ phải hơn không?
    - Chuyện Nhà Nước, đâu nói ra được. Cô phải hiểu như thế chứ!
    - Cái gì cũng che đậy. Cái gì cũng giấu giếm. Nhưng lần hồi thiên hạ đều biết hết. Bộ anh tưởng thiên hạ đui sao?

    Đến đây bỗng nghe tiếng bà hàng xóm la lớn: “Đi đâu đó nữa? Mấy bữa nay tao nói mầy kê lại giùm mấy ông Táo kẻo mấy ổng sụm xuống thì không còn khỉ gì để nấu nướng... mà mầy cứ ăn rồi là xách đít đi hà!”.

    Giọng người con trai: “Bộ má tưởng con đi chơi hả?”. Giọng bà hàng xóm: “Chớ đi đâu mà ngày nào cũng đi, mầy nói tao nghe coi!”.

    Giọng người con, có vẻ hãnh diện, nói rời ra từng tiếng: “Con-đi-phục-vụ-nhân-dân!”. Giọng bà hàng xóm, tức tối: “Phục vụ nhân dân! Phục vụ nhân dân! Con gái mẹ mầy cũng là nhân dân đây nè! Mầy phục vụ cho nó đi! Kẻo không chổi chà nó đơm lên đầu bây giờ!”.

    Ngừng một lúc, lại nói: “Cha... Lúc này nói giọng cách mạng quá há! Phải mà! Con mẹ buôn gánh bán bưng này hăm mấy năm nay nó kềm kẹp mầy quá mà! Nó nhét cho mầy ăn để mầy lớn! Nó ép mầy học để mầy khôn! Nó ác ôn quá phải hông? Nó ngụy quá phải hông? Nó giả nhơn giả nghĩa quá phải hông?”
    Nghe đến đây, ông tướng nhăn mặt:

    - Ăn với nói! Rõ là không có trình độ!

    Rồi ông đứng lên:

    - Tôi phải vào cơ quan. Bao giờ cô được phép đi thăm nuôi, gặp chú ấy nhớ bảo tôi nhắn chú ấy luôn vững tin vào sự sáng suốt của Đảng và Nhà Nước. Ta khác ngụy ở chỗ xử sự có tình có lý và lúc nào cũng khoan hồng đối với những người biết quay về với nhân dân.

    Bà H làm thinh, nhưng nhìn người anh chồng chỉ có nửa con mắt! Lúc đó, nghe tiếng thằng con trai nhà hàng xóm: “Rồi đó! Con kê lại mấy ông Táo rồi đó!”. Giọng bà mẹ, vẫn còn hậm hực: “Dữ hôn! Có bao nhiêu đó mà cũng phải đợi tao nhắc năm lần bảy lượt! Thôi! Mầy đi phục vụ nhân dân của mầy, đi. Chiều, vác mỏ về, con mẹ ngụy này nó nấu cơm cho mà ăn”.

    ... Từ ngày dọn về đây, bà H đi làm ở tổ hợp may thêu gần đó. Cũng phải đi làm như thiên hạ để đừng bị để ý theo dõi, chớ thật ra bà chưa đến nỗi túng thiếu nhờ đã cất giữ nữ trang trong nhà thay vì gởi ở ngân hàng. Bây giờ, lâu lâu bà bán một vài chỉ...

    Bà hàng xóm – tên là bà Năm – có cái sạp cháo lòng ở đầu ngõ. Sáng nào, bà cũng đi bộ theo thằng con trai đạp xe ba bánh chở thùng tô dĩa muỗng đũa, thùng lòng dồi gia vị, nồi cháo lớn bằng nhôm, lò dầu hôi và mấy can nhựa đựng nước rửa chén... ra cây trứng cá nằm trên lề đường Phan Đăng Lưu (tức là đường Chi Lăng hồi trước).

    Ở đây, có cái sạp gỗ dựng đứng và bốn năm cái ghế gỗ nhỏ được... xiềng vào gốc cây trứng cá. Hai mẹ con mở ống khóa, hạ cái sạp rồi kê ngay ngắn dưới tàn cây. Xong, thằng con về nhà lấy xe đạp, đạp đi “phục vụ nhân dân” cho tới tối. Thành ra, đến trưa khi bán hết nồi cháo – bà chỉ bán có buổi sáng – bà thâu xếp dọn dẹp một mình ên, rồi đẩy xe ba bánh chở đồ nghề về nhà (Bà không đạp vì không biết đi xe đạp!).

    Cứ vài bữa, bà lại mang biếu bà H một tô cháo lòng. Bà biết bà H là vợ thiếu tá quốc gia và chồng đi học tập nên bà hay tới lui thăm viếng để an ủi. Bà H thật cảm động. Có hôm bà nhắc chừng:

    - Bà Năm cẩn thận. Có thể tụi nó theo dõi.
    - Ối... Cái lũ cô hồn đó tôi đâu có sợ, cô Hai. Hồi tụi nó mới vô, bắt mình làm tờ “báo công báo tội”. Tôi phát ghét nên khai là tôi tội lỗi đầy đầu bởi vì gần hai chục năm nay tôi bán cháo lòng cho ngụy ăn chớ không cho cách mạng ăn! Vậy mà có thấy thằng nào đụng tới tôi đâu, cô Hai!
    - Coi vậy chớ cũng nên coi chừng, bà Năm à! Nhứt là khi bà rầy la thằng nhỏ, nói đụng chạm tới họ quá, không nên.
    - Tụi nó đã coi mình là ngụy thì cứ thí mạng cùi chửi cho sướng miệng. Tội vạ gì mà nín thinh? Há?

    Nói xong, bà Năm nhếch mép cười, làm như bà đang thách đố cách mạng vậy!
    ... Khi bà H được giấy phép đi thăm nuôi chồng, bà báo tin cho bà Năm và nhờ bà Năm coi chừng nhà giùm. Bà Năm mừng rỡ, làm như ông H là người nhà:
    - Dữ hôn! Tới bây giờ mới cho con người ta đi thăm nuôi. Quân ác ôn! Được rồi, cô Hai cứ yên tâm, tôi giữ nhà cho. Mà chừng nào cô Hai định đi?
    - Chắc mười hôm nữa, bà Năm à. Để có thì giờ lo cho đầy đủ. Chớ gấp rút quá thì quên trước quên sau...
    - Cô Hai nói phải đó. Đi ra tới ngoài Bắc chớ bộ gần gụi gì hay sao?

    Ngừng một chút, bà Năm cầm tay bà H lắc nhẹ:
    - Cần gì thì cứ nói nghe cô Hai, đừng ngại. Mình với nhau mà...

    Bà H xúc động, lí-nhí “cám ơn” mà nước mắt chảy quanh. Lạ quá! Chỉ có mấy tiếng “mình với nhau” mà sao nghe ấm cúng vô cùng. Nhứt là trong hoàn cảnh này, trong giai đoạn này. “Mình với nhau” là sự nhận diện của những người cùng đứng về một phía. “Mình với nhau” nói lên sự cảm thông của những người cùng cảnh ngộ, cần nương tựa vào nhau, nâng đỡ nhau để sinh tồn. “Mình với nhau" là tình người không phân biệt giai cấp. Cho nên, khi mở rộng vòng tay, bà Năm cháo lòng chỉ cần nói có mấy tiếng đó thôi là quá đầy, quá đủ...
    Lannguyen

Page 1 of 10 12345678910 LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Vinh danh cờ vàng
    By BoBoTx in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 1
    Last Post: 02-24-2012, 11:57 AM
  2. úi chà chà VN lại được vinh danh tiếp :)
    By VietTaolao in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 8
    Last Post: 11-03-2009, 08:41 PM
  3. Vinh Danh, Tưởng Niệm và Tạ Ơn ai ?
    By Mokuradov in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 1
    Last Post: 04-26-2008, 10:26 AM
  4. Vinh danh ông Nam Lộc
    By banhtieu in forum Khoa Học Chính Trị ( Political Science )
    Replies: 5
    Last Post: 01-05-2008, 02:10 PM
  5. Vinh Danh
    By convitcon in forum CLB Hội Họa & Nhiếp Ảnh
    Replies: 1
    Last Post: 05-30-2007, 04:52 PM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •