Page 1 of 3 123 LastLast
Results 1 to 20 of 49

Thread: Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong

  
  1. #1
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong

    Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong


    "Trích Từ Tác Phẩm: Bát Nhã Tâm Kinh
    Tác Giả: Osho
    Dịch Giả : Vạn Sơn
    [email protected]"



    Om!
    Vinh danh Trí Huệ Bát Nhã,
    rất đáng yêu và rất thánh!
    Quán Tự Tại, Bồ Tát và chúa tể linh thiêng, trong lúc đi sâu trong Trí Huệ Bát Nhã,
    trong cõi siêu việt, từ trên cao nhìn xuống,
    Ngài chỉ thấy năm hợp phần,
    và khi nhìn vào tự tánh của chúng,
    Ngài thấy tất cả đều trống không.


    Xin chào vị Phật bên trong bạn. Có thể bạn không biết điều đó. Có thể bạn chưa từng mơ tới điều đó - rằng bạn là một vị Phật; rằng bạn chỉ là bạn mà không thể là bất kỳ cái gì khác. Phật tính chính là cốt lõi, là trọng tâm của con người bạn, và điều đó không phải sẽ xảy ra trong tương lai, mà đã xảy ra rồi. Phật tính chính là cội nguồn từ đó bạn tới, không những là nguồn gốc mà còn là mục đích nữa. Chính từ Phật tính mà chúng ta xuất phát, và cũng chính Phật tính mà chúng ta trở về.

    Từ ‘Phật tính’ này bao gồm tất cả - một vòng tròn đời sống tròn đầy, từ điểm đầu đến điểm cuối.

    Nhưng vì đang ngủ say, bạn không biết mình là ai. Không phải là bạn phải trở thành Phật. Bạn chỉ cần nhận ra điều đó, và bạn phải quay trở về với cội nguồn của mình; bạn phải nhìn vào bên trong mình. Việc đối đầu với chính mình sẽ làm bạn nhận ra Phật tính của mình. Cái ngày mà bạn nhận ra chân tánh của mình, toàn thể vũ trụ bừng sáng, giác ngộ. Không thể nói rằng người nào đó đã giác ngộ! Bằng cách nào mà người đó có thể trở nên chứng ngộ được? Chính ý tưởng về một người nào đó là một phần của tâm trí còn mê hoặc. Vậy không nói là ‘tôi’ đã chứng ngộ. Cái ‘tôi’ đó phải bị loại bỏ thì mới nói đến chứng ngộ được. Cho nên sao tôi có thể trở thành chứng ngộ được? Đó là điều vô lý. Cái ngày mà tôi chứng ngộ thì toàn thể thế giới hiện hữu cũng đã chứng ngộ. Từ giây phút ấy tôi không thấy gì khác ngoài các vị Phật – dù là hình sắc khác nhau, hoặc tên gọi khác nhau, với đủ loại vấn đề, nhưng tất cả đều là Phật.

    Vì vậy, tôi xin chào vị Phật bên trong bạn.

    Tôi vui mừng khôn xiết khi thấy rất nhiều vị Phật đã tụ họp nơi đây. Sự kiện mà các bạn tới với tôi là bắt đầu việc thừa nhận ấy. Sự kính trọng mà các bạn dành cho tôi, và tình yêu trong tim của các bạn đối với tôi, chính là sự kính trọng và tình yêu mà các bạn dành cho Phật tính của riêng mình. Sự tin tưởng nơi tôi không phải là cái gì ngoại lai với bạn; đó là sự tin tưởng nơi chính con người của bạn. Đặt tin tưởng nơi tôi, các bạn sẽ học được cách tin tưởng ở chính mình. Bởi tự tìm đến với tôi, bạn sẽ tìm tới chính bản thân của mình. Bạn chỉ cần nhận ra điều đó. Hột kim cương đã ở đó tự bao giờ; bạn đã quên hẳn rồi, hay bạn chưa hề nhớ tới ngay từ lúc đầu.

    Emerson có câu nói để đời, rằng, “Con người là Thượng Đế trong điêu tàn.” Tôi đồng ý mà cũng không đồng ý. Nhận xét này có một phần nào chân lý - con người chưa phải là con người đáng lẽ phải trở thành. Đó là một trực giác nhưng bị đảo lộn. Con người không phải là Thượng Đế trong điêu tàn, mà là Thượng Đế đang hình thành; con người là một vị Phật đang hé mở. Nụ hoa đã có sẵn, có thể nở hoa bất cứ lúc nào: chỉ một chút cố gắng nữa, chỉ một chút ít trợ lực nho nhỏ nữa... Và sự giúp đỡ ấy không phải là yếu tố đưa đến sự nở hoa – vì mầm mống đã có sẵn rồi! Nỗ lực của bạn sẽ giúp bạn nhận ra điều đó, và sự giúp đỡ sẽ giúp làm lộ ra cái đã có sẵn nhưng bị che lấp. Đấy là một sự khám phá, nhưng chân lý thì đã có từ muôn đời, hằng hữu, bất sinh, bất diệt.

    Hãy nghe những lời kinh này, bởi vì đây là bộ kinh quan trọng nhất trong kho tàng kinh điển vĩ đại của Phật giáo. Do đó, kinh này được gọi là Tâm Kinh; Đó chính là tâm điểm, là cốt lõi của thông điệp của Đức Phật.

    Nhưng tôi muốn bắt đầu từ ngay từ tâm điểm ấy. Chỉ từ điểm này mới thấy được tinh hoa của Phật giáo: đừng bao giờ quên rằng bạn là một vị Phật. Tôi biết điều đó nghe quá kiêu căng, tựa như một giả thuyết, và bạn không thể đặt trọn niềm tin vào đó được. Đó là lẽ tự nhiên, tôi biết rõ lắm. Nhưng hãy gieo vào trong tim điều ấy, như một hạt mầm. Quanh hạt giống đó nhiều phép lạ sẽ xảy ra, và chỉ qua sự kiện đó, bạn sẽ hiểu những lời kinh này. Tâm Kinh này màu nhiệm vô cùng - rất nhỏ, rất cô đọng nhưng xúc tích, như thể hạt mầm. Nhưng với miền đất này, với hình ảnh này trong tâm trí, rằng bạn là một vị Phật, rằng bạn là một vị Phật đang hình thành, rằng bạn có mọi khả năng tiềm tàng để trở thành một vị Phật, rằng tất cả đã sẵn sàng, không thiếu gì cả. Chỉ cần sắp đặt lại thứ tự; chỉ cần ý thức hơn, tỉnh thức hơn một chút nữa là đủ... Kho tàng đã sẵn có, chỉ cần thắp lên ngọn đèn nhỏ để nhìn thấy. Khi bóng tối biến mất, bạn sẽ không còn là kẻ ăn mày nữa, mà là một vị Phật; bạn sẽ là một hoàng đế, một ông vua. Hết thảy vương quốc này là của bạn. Bạn chỉ cần đòi lại chủ quyền ấy.

    Nhưng chủ quyền ấy không thể đòi lại được nếu bạn tin rằng bạn là kẻ ăn mày. Bạn không thể đòi lại, thậm chí bạn không bao giờ mơ tới việc đòi lại nếu tự nghĩ rằng mình là tên ăn mày.

    Cái ý tưởng rằng bạn là tên ăn mày, dốt nát, đầy tội lỗi, đã được các tôn giáo rao giảng từ đời này qua đời khác, nhiều đến nỗi nó đã in sâu trong tâm khảm của bạn, khác gì bị thôi miên. Việc nhồi sọ này cần phải bị đập tan. Để giúp bạn tự đập vỡ cái ngục tù ấy, tôi xin bắt đầu bằng cách: xin chào vị Phật bên trong bạn...

    Đối với tôi, tất cả các bạn đều là Phật. Không có gì lố bịch hơn khi bạn cố gắng bằng mọi cách để được giác ngộ! Bạn phải chấp nhận sự kiện cơ bản này, bạn phải hiểu biết ngầm rằng không có gì để chứng đắc vì bạn đã là Phật rồi! Đây là sự bắt đầu đúng đắn, thích hợp, ngay từ tâm điểm của Tâm Kinh, nếu không, bạn sẽ lạc đường. Bắt đầu như vậy là đúng! Hãy bắt đầu với hình ảnh này, và đừng e ngại rằng điều này có thể gây nên cái tôi - rằng, “Ta là Phật!” Đừng lo sợ như vậy, vì toàn bộ tiến trình của Tâm Kinh sẽ giúp bạn nhận ra một cách rõ ràng rằng cái tôi là cái duy nhất không có thực – cái duy nhất không hiện hữu! Ngoài ra, tất cả đều là thật.

    Có những đạo sư nói thế giới này là ảo tưởng và linh hồn là hiện thực - cái ‘Tôi’ mới có thật, ngoài ra đều là giả dối. Đức Phật dạy khác hẳn. Ngài nói chính cái ‘Tôi’ mới không có thật, còn mọi thứ khác đều là thật. Và tôi đồng ý với Đức Phật nhiều hơn các quan điểm khác. Nhận xét của Ngài rất là thâm sâu và rất sắc bén. Không ai có thể nhìn thấu đáo vào mọi cảnh giới, với những chiều sâu và đỉnh cao như Ngài.

    Nhưng hãy bắt đầu với ý tưởng này, với bầu khí như vậy, với hình ảnh này. Hãy để điều đó ăn sâu trong từng tế bào, từng ý nghĩ của bạn. Hãy để cho nó thấm sâu vào từng ngõ ngách, từng xó xỉnh của con người bạn, rằng “Ta là Phật!” Và đừng lo nghĩ về cái ‘tôi’... mọi sự sẽ được thu xếp ổn thỏa.
    Cái ‘tôi’ và Phật tính không thể cùng hiện hữu một lúc. Một khi Phật tính được nhận ra, ‘cái tôi’ sẽ biến mất, tựa như bóng tối tan biến khi ánh sáng lan vào.

    Trước khi đi vào lời kinh này, chúng ta cần một ít khuôn mẫu, một ít cấu trúc, một ít phạm trù để dễ thông suốt vấn đề hơn.
    Kinh sách Phật giáo cổ đại nói về bảy đền thờ . Giống như các đạo sĩ Sufi nói về bảy thung lũng, Ấn Độ giáo nói về bảy luân xa, Phật tử nói về bảy đền thờ .

    Đền thờ thứ nhất thuộc về thể chất.
    Đền thờ thứ hai thuộc về thân-tâm
    Đền thờ thứ ba là tâm lý.
    Đền thờ thứ tư là tâm lý-tâm linh.
    Đền thờ thứ năm là tâm linh.
    Đền thờ thứ sáu là tâm linh siêu việt.
    Đền thờ thứ bảy - đền thờ tối thượng - là siêu việt.

    Bộ Bát Nhã Tâm Kinh này thuộc đền thờ thứ bảy. Những lời kinh này là tuyên ngôn của người đã nhập vào đền thờ thứ bảy, thế giới siêu việt, tuyệt đối. Đó là ý nghĩa của từ Phạn, prajnaparamita - trí huệ của cõi bên kia, từ cõi bên kia, trong cõi bên kia (Trí Huệ đáo bỉ ngạn). Trí huệ đó chỉ đạt được khi bạn đã vượt qua mọi ràng buộc, không còn đồng nhất với bất cứ điều gì - thấp hơn hay cao hơn, thế giới này hay thế giới kia, khi bạn đã vượt trên tất cả các loại đồng nhất, khi bạn không còn bị đồng nhất níu kéo, khi sự tỉnh thức của bạn ngời sáng như ngọn lửa tinh khiết không một chút ám khói. Đó là lý do Phật tử tôn thờ cuốn sách nhỏ này, cuốn sách rất nhỏ bé này. Và họ đặt tên nó là Kinh Trái Tim – nghĩa là tâm điểm, là tinh túy, là cốt tủy của tôn giáo.

    Đền thờ thứ nhất thuộc về thể chất (physical), tương ứng với luân xa thứ nhất, muladhar.
    Đền thờ thứ hai là tâm thần, ứng với luân xa thứ hai, svadisthan.
    Đền thờ thứ ba là tâm lý, ứng với manipura.
    Đền thờ thứ tư là tâm lý-tâm linh, ứng với anahatta.
    Đền thờ thứ năm là tâm linh, ứng với vishudha.
    Đền thờ thứ sáu alf tâm linh siêu việt, ứng với agya.

    Đền thờ thứ bảy là siêu việt, ứng với sahasrar. ‘Sahasrar’ nghĩa là hoa sen một ngàn cánh. Đó là biểu tượng của sự thăng hoa tối thượng, không còn gì che dấu nữa, tất cả đã trở nên sáng tỏ, hiển hiện. Hoa sen một ngàn cánh đã mở ra, hương thơm tỏa khắp bầu trời, cùng với cái đẹp lộng lẫy và đầy phước lành của nó.

    Cách đây không lâu lắm nhiều khảo cứu vĩ đại đã được thực hiện để tìm cái cốt lõi thâm sâu nhất của con người. Chúng ta cần phải hiểu rõ những nỗ lực hiện đại ấy sẽ đưa chúng ta về đâu.

    Pavlov, B.F. Skinner và các nhà hành vi học khác (behaviorists), cứ luẩn quẩn mãi quanh luân xa thứ nhất - muladhar. Họ nghĩ con người chỉ là thân xác. Họ bị kẹt lại ở đền thờ thứ nhất. Họ bị vật chất ám ảnh mà quên mọi chiều kích khác. Những người này tìm sự giải thích con người qua khía cạnh thể chất, vật chất. Họ đã bị cản trở vì quan niệm như vậy không cho phép họ nhìn xa hơn nữa. Khi ngay từ đầu mà bạn đã từ chối rằng chẳng có gì khác hơn thân xác, bạn sẽ không chịu tìm kiếm xa hơn nữa. Quan niệm như vậy rõ ràng là lệch lạc. Những người cộng sản, Mác xít, hành vi học, vô thần - đều tin rằng con người chỉ là thân xác - với niềm tin như vậy họ đã tự khép lại cánh cửa dẫn tới những chiều kích cao hơn. Họ trở thành mù quáng. Vật chất rõ ràng quá rồi, cần gì phải chứng minh? Thân xác, vật chất ai cũng thấy, cần gì phải có băng chứng? Vì không cần phải chứng minh, vật chất trở thành thực tại duy nhất. Vô lý hoàn toàn. Nếu thế thì con người chẳng còn nhân phẩm gì nữa. Nếu không có gì để phát triển nội tâm hay hướng thượng, cuộc sống trở lên vô nghĩa hoàn toàn. Con người như vậy có khác chi đồ vật. Khi bạn đã tự đóng lại cánh cửa, chẳng còn gì hơn nữa có thể xảy ra cho bạn. Bạn chỉ là thân xác nên chỉ biết ăn, tiêu hoá, tình ái, con cái, mang gánh cực đổ trên non rồi ngày nào đó lăn ra chết. Cuộc sống trần tục, tầm thường, máy móc như vậy có gì đáng để nói đến, có ý nghĩa gì đâu. Tìm đâu thấy thơ văn? Điệu vũ nào có thể khởi lên từ cuộc sống tẻ nhạt, vô vị ấy?


    Còn tiếp

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  2. #2
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong

    Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong

    "Trích Từ Tác Phẩm: Bát Nhã Tâm Kinh
    Tác Giả: Osho
    Dịch Giả : Vạn Sơn
    [email protected]"


    Skinner đã viết cuốn, Bên Ngoài Tự Do và Nhân Phẩm (Beyond Freedom and Dignity). Phải gọi là bên dưới tự do và nhân phẩm mới đúng, không phải bên ngoài. Gọi là bên dưới vì đó là quan điểm thấp nhất về con người, cái xấu nhất. Thân xác con người chẳng có gì xấu xa hết, hãy nhớ điều ấy. Tôi không chống lại thân xác; nó là một đền thờ đẹp. Cái xấu chỉ xen vào khi bạn nghĩ thân xác là tất cả.

    Con người có thể được ví như chiếc thang có bảy bậc, mà bạn chỉ biết có bậc thứ nhất. Chiếc thang như vậy chẳng hữu dụng gì. Mà thang là dụng cụ để nối thế giới này qua thế giới khác, nối vật chất với Thượng Đế. Bậc thứ nhất là tuyệt hảo nếu nó được dùng như một bậc thang. Nếu được dùng như bước đầu thì cực kỳ tuyệt đẹp. Người ta nên biết quý trọng thân xác. Nhưng nếu tôn thờ bậc thứ nhất mà quên hẳn sáu bậc còn lại, và quên hẳn toàn bộ chiếc thang, bạn trở thành khép kín, bị giới hạn trong bậc thứ nhất. Thế thì nó không còn là bậc thang nữa, bởi vì một bậc thang chỉ có nghĩa khi nó là một phần của chiếc thang. Nếu bậc thang đó không dẫn đến những bậc khác, bạn bị kẹt ở đó. Do đó, những người duy vật bao giờ cũng bị kẹt. Họ luôn luôn cảm thấy thiếu thốn cái gì đó; đời sống của họ mất hẳn định hướng. Họ chạy quanh trong cái vòng luẩn quẩn, và cảm thấy mệt mỏi, chán chường. Việc tìm cái chết ám ảnh họ thường xuyên. Và toàn bộ cuộc sống của họ chỉ thu gọn lại trong việc tìm cảm giác mới, hy vọng cái gì mới có thể xảy ra. Nhưng cái gì ‘mới’ nào có thể xảy ra được? Tất cả những cái bận tâm họ chẳng qua chỉ là những đồ chơi mà thôi.

    Hãy suy nghẫm câu nói của Frank Sheed, “Trong khi linh hồn con người kêu khóc đi tìm mục đích và ý nghĩa thì các nhà khoa học nói, ‘Điện thoại này!’, ‘Ti vi này!’ – khác gì ta cố dỗ đứa trẻ đang khóc đòi mẹ bằng cách cho nó kẹo, hay làm trò hề với nó. Những đợt phát minh liên tiếp đã làm con người phải bận rộn, khiến hắn quên hẳn những ưu tư vẫn thường ray rứt tâm hồn hắn.”

    Tất cả những cái mà thế giới hiện đại đang cung cấp cho bạn chẳng qua là những chiếc kẹo, đồ chơi - còn bạn thì đang kêu gào tìm mẹ, kêu gào đòi tình yêu, đòi tâm thức, đòi hỏi một ý nghĩa nào đó trong cuộc sống. Và họ nói, “Coi nè! Điện thoại này! Ti vi nè! Lại còn bao nhiêu thứ đẹp khác nữa.” Chơi mãi những đồ chơi ấy rồi cũng chán. Họ lại kiếm đồ chơi khác mới hơn cho bạn.

    Cuộc sống như vậy mới thật nực cười, vô lý đến độ không thể tưởng tượng sao ta có thể sống đời như vậy được. Chúng ta bị kẹt tại bậc thang thứ nhất.
    Hãy nhớ rằng, bạn cần phải có cơ thể để sống, nhưng bạn không phải chỉ là thể xác. Hãy nhớ kỹ điều đó, đừng quên một phút giây nào. Bạn sống trong cơ thể và đó là một chỗ ở tuyệt đẹp. Và xin nhớ điều này, rằng nói như vậy không có nghĩa là bạn phải chống đối, kiềm chế thân xác, rằng bạn phải chối bỏ thân xác như những cái-gọi-là thánh nhân đã làm xưa nay. Người duy vật cho rằng thân xác là tất cả những gì hiện thực. Lại có những người ở cực đoan đối lập nói rằng thân xác là ảo ảnh, không có thực. Họ dạy rằng khi thân xác bị phá hủy, ảo ảnh sẽ bị phá hủy theo, và cái còn lại thực sự mới đúng là bạn.

    Cực đoan đối lập này là một phản động lực. Chủ trương của duy vật đã đưa đến quan điểm của duy linh, nhưng cải hai đều là thành viên của cùng một dich vụ; họ không khác nhau nhiều lắm. Thân xác đẹp đẽ, hiện thực. Cần phải có thân xác để được sống. Vì vậy thân xác cần được săn sóc. Đó là món quà vĩ đại của Thượng Đế. Đừng bao giờ chống lại thân xác, dù chỉ một khoảnh khắc, mà cũng đừng nghĩ rằng bạn chỉ là thân xác, dù chỉ một giây. Còn nhiều hứa hẹn lớn hơn nữa. Hãy dùng thân xác như một bàn đạp.
    Bậc thứ hai là thân-tâm hợp nhất (psychosomatic), svadisthan.

    Phân tâm học của Sigmund Freud nằm ở đấy. Freud đi cao hơn một chút so với Skinner và Pavlov, bằng cách nghiên cứu một ít những bí ẩn của tâm lý. Ông ta không phải chỉ là một nhà hành vi học, nhưng tự giới hạn trong việc phân tách giấc mơ. Phân tích các giấc mơ là nghề riêng của ông ta.

    Giấc mơ đến với bạn như một ảo ảnh. Nó là một sự gợi ý, một biểu tượng, một điều gì đó mà vô thức muốn gửi cho ý thức. Nhưng dành quá nhiều thì giờ cho nó cũng chẳng lợi ích gì. Hãy phân tách giấc mơ, nhưng đừng trở thành giấc mơ. Bạn không phải là giấc mơ.

    Mà cũng không nên ồn ào quá đáng về nó, như học phái Freud đang làm. Toàn bộ nỗ lực của họ xoay quanh thế giới của mộng tưởng. Hãy ghi lại giấc mơ của bạn; hãy để ý xem nó muốn nói gì, mà không cần phải tìm đến người khác để phân tích giấc mơ của bạn. Nếu bạn không phân tích được giấc mơ của mình, chẳng ai khác có thể làm được, vì giấc mơ của bạn là của bạn. Và vì giấc mơ của bạn là của bạn nên chẳng ai khác có thể mơ theo cách bạn mơ. Người nào có giấc mơ của người ấy nên không ai mơ giống bạn được; vì vậy chỉ mình bạn mới có thể giải thích được giấc mơ của mình. Người nào giải thích giấc mơ, giải thích ấy thuộc về người ấy. Chỉ mình bạn mới có thể quan sát nó. Mà thật ra, ta cũng chẳng cần phải phân tích giấc mơ làm gì. Nếu quan sát toàn bộ giấc mơ với sự sáng tỏ, với sự tỉnh táo, bạn sẽ thấy nó muốn nói gì. Thật là nực cười! Chẳng cần phải mất ba, năm, bảy năm để phân tâm làm gì.

    Có người mỗi đêm ngủ mơ, ban ngày tìm đến nhà phân tâm để được phân tích, riết rồi bị ảo tưởng bao vây. Tựa như loại người thứ nhất bị ám ảnh với muladhara, thể chất, loại người thứ hai bị ám ảnh vì dục... bởi vì loại người thứ hai - phạm vi của thân tâm - là dục. Loại thứ hai lấy dục để giải thích mọi thứ. Chẳng cần biết bạn làm gì. Cứ đến với người theo Freud là ông ta sẽ kết luận là dục. Đối với ông ta, bên trên dục chẳng còn gì nữa. Ông ta sống trong bùn, chẳng hề biết có sen. Nếu bạn đem sen tới, ông ta sẽ nhìn vào nó và bảo là bùn. Ông ta sẽ nói, “Cái này là cái quái gì? Chỉ là bùn mà thôi. Nó chẳng mọc ra từ bùn sao? Nếu mọc ra từ bùn, nó phải là bùn rồi.” Giản lược mọi thứ về nguyên nhân rồi kết luận nguyên nhân là cái thực.

    Vậy thì bài thơ nào cũng đều bị dẫn về tình dục. Cái gì đẹp cũng bị dẫn về dục, lại còn trụy lạc và đè nén. Michelangelo là họa sĩ thiên tài ư? - thế thì nghệ thuật của ông ấy phải có ít nhiều dục trong đó! Những người theo Freud vẽ rắn thêm chân là chuyện thường. Theo họ thì Michelangelo, Goethe , Byron , hay tất cả các công trình nghệ thuật vĩ đại đem lại niềm vui cho triệu triệu con tim, chẳng là gì khác ngoài dục bị đè nén - có thể Goethe muốn thủ dâm nhưng bị ngăn cản. Hàng triệu người bị ngăn cản không được thủ dâm, nhưng có ai trở thành thiên tài như Goethe đâu.

    Vô lý thật! Nhưng Freud là sư tổ của thế giới nhà vệ sinh. Ông ta sống ở đó, đó là đền thờ của ông ta. Nghệ thuật bị coi là tâm bệnh, thi ca trở thành tâm bệnh, tất cả đều trở thành trụy lạc. Nếu phân tích của Freud mà đúng, sẽ không có Kalidas, không có Shakespeare, không có Michelangelo, không có Mozart, không có Wagner vì người nào cũng bình thường. Những người này là bất thường. Theo Freud, họ đều bị bệnh tâm thần.. Cái vĩ đại nhất bị kéo xuống thành thấp kém nhất.

    Theo Freud, Phật cũng bị tâm bịnh - bởi vì bất kỳ điều gì Ngài nói chẳng qua là dục bị đè nén.

    Quan điểm này biến cái vĩ đại của con người thành xấu xí hết. Phải cẩn thận về điều đó. Phật không tâm bệnh, mà thật ra, Freud mới chính là người tâm bệnh. Sự im lặng của Phật, niềm vui sướng của Phật, sự an nhiên, tự tại của Phật - không phải là tâm bệnh. Đấy là sự thăng hoa trọn vẹn trong niềm an lạc, hạnh phúc tràn đầy.

    Nhưng với Freud, người bình thường là người không biết ca hát, không biết khiêu vũ, không biết tiệc tùng, không bao giờ cầu nguyện, không biết thiền, chưa bao giờ làm được gì sáng tạo; hắn chỉ biết đi làm, về nhà, ăn uống, ngủ, rồi chết; hắn không hề để lại bất cứ một sự sáng tạo nào, không để lại bất cứ một dấu vết nào. Bình thường kiểu này thì rất tầm thường, đần độn, khác gì đã chết rồi. Một số người nghi ngờ rằng vì Freud không phải là người sáng tạo nên ông ta kết án sự sáng tạo là tâm bệnh. Cũng có thể ông ta chỉ là người tầm thường. Sự bình thường của ông ta bị xúc phạm bởi những thiên tài thế giới.

    Còn tiếp.

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  3. #3
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong

    Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong

    "Trích Từ Tác Phẩm: Bát Nhã Tâm Kinh
    Tác Giả: Osho
    Dịch Giả : Vạn Sơn
    [email protected]"


    Tâm trí tầm thường cố gắng thu nhỏ tất cả những cái vĩ đại. Tâm trí tầm thường không thể nào chấp nhận bất kỳ người nào vĩ đại hơn mình. Điều đó làm tổn thương tự ái của hắn. Đó là cách báo thù của tâm trí tầm thường - khoa phân tâm học và lối giải thích của nó về cuộc sống con người. Phải cẩn thận. Bậc thứ hai khá hơn bậc thứ nhất một chút, nhưng ta còn phải đi tiếp, đi xa hơn nữa, vượt xa hơn nữa.

    Bậc thứ ba là tâm lý. Alfred Adler sống trong thế giới tâm lý, ý chí quyền lực; mặc dù là rất ích kỷ, nhưng có ít còn hơn không; Adler cởi mở hơn Freud một chút. Nhưng vấn đề là, cũng như Freud dẫn mọi thứ về dục, Adler đưa mọi thứ về mặc cảm tự ti. Người ta cố gắng trở thành vĩ đại bởi vì mặc cảm thấp kém. Một người muốn trở thành chứng ngộ là người cảm thấy thấp kém, và một người cố gắng trở thành chứng ngộ là người muốn tìm quyền lực. Điều này sai hoàn toàn. Bởi vì những người như Đức Phật, Chúa Giê Su, Krishna là những người đã chấp nhận tất cả, không đòi hỏi bất kỳ một điều gì thì không thể nói rằng các Ngài đi tìm quyền lực. Và khi Phật giác ngộ, Ngài chẳng còn một ý tưởng nào, kể cả mặc cảm tự tôn. Ngài đã hòa nhập làm một với đại thể. Ngài chẳng có ý tưởng là Ngài thánh thiện hơn người khác. Tất cả đều là thần thánh, ngay cả hạt bụi cũng thiêng liêng. Không, Ngài không nghĩ mình tài giỏi, và Ngài không cố gắng để trở thành tài giỏi hơn người khác. Ngài không cảm thấy thấp kém chút nào. Ngài được sinh ra là một ông vua nên không có vấn đề thấp kém. Ở trên chóp đỉnh ngay từ đầu nên Ngài không thể cảm thấy thấp kém. Ngài là người giầu có nhất trong nước, uy quyền nhất trong nước mình: không còn quyền lực nào cao hơn cần phải đạt tới, không cần phải giầu hơn nữa. Ngài là một trong những người đẹp nhất đã sinh ra trên thế gian này; cung phi, mỹ nữ của Ngài toàn là những người đẹp. Không có gì mà Ngài không có.

    Nhưng Alder sẽ tìm ra một cái thấp kém nào đó, bởi vì ông ta tin rằng người ta chỉ có một mục tiêu duy nhất là bản ngã. Điều này tốt hơn, khá hơn Freud, cao hơn chút ít. Bản ngã cao hơn dục một chút, không cao hơn lắm, nhưng cao hơn ít nhiều.

    Bậc thứ tư là tâm lý-tâm linh (psychological-spiritual), anahatta, trung tâm trái tim. Carl Jung, Roberto Assagioli và những người khác len lỏi vào cõi này. Họ tiến xa hơn Pavlov, Freud và Alder. Nhiều triển vọng đã được mở ra. Họ chấp nhận thế giới của cái phi lý, vô ý thức. Họ không giam mình trong lý lẽ. Họ là người phải chăng hơn - họ chấp nhận cả cái không hợp lý nữa. Cái phi lý không bị chối bỏ mà được chấp nhận. Đây là nơi tâm lý học hiện đại bế tắc - tại bậc thang thứ tư. Và bậc thứ tư chỉ mới là nửa đường của toàn bộ chiếc thang: ba bậc bên trên và ba bậc bên dưới.

    Tâm lý học hiện đại chưa phải là một khoa học đúng nghĩa. Nó treo lơ lửng ở giữa, rất lung lay, không có gì chắc chắn cả. Nó nghiêng về giả thuyết hơn thực nghiệm. Nó đang chật vật để sống còn.

    Bậc thứ năm là tâm linh: Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Do Thái giáo - các tôn giáo của quần chúng còn bị kẹt tại bậc thứ năm. Họ không vượt quá tâm linh. Tất cả các tôn giáo có tổ chức, các giáo hội, còn bị kẹt ở đó.

    Bậc thứ sáu là tâm linh siêu việt (spiritual-transcendental) - yoga và các pháp môn khác. Trên khắp thế giới, qua nhiều thời đại, nhiều phương pháp đã được phát triển. Các pháp môn này không tổ chức như tôn giáo, không có giáo điều mà nhiều thực nghiệm hơn. Nếu cần phải thao luyện thân xác và tâm trí, nếu muốn có một sự hài hòa nào đó trong thân-tâm, để có thể nương vào sự hài hòa đó mà vươn lên trên cái thực tại bình thường của mình, Yoga có thể giúp bạn điều đó. Đó là bậc thứ sáu.

    Và bậc thứ bảy là sự siêu việt: Mật tông, Lão giáo, Thiền. Trí huệ của Phật là bậc thứ bảy – Bát Nhã Ba La Mật Đa (prajnaparamita), có nghĩa là trí huệ siêu việt. Trí huệ này chỉ hoạt động khi bạn đã vượt qua mọi tầng lớp thân-tâm, và khi bạn chỉ là một sự tỉnh thức trong suốt, một quan sát viên vô tư, một chủ quan tinh ròng.

    Chừng nào con người còn chưa đạt tới sự siêu việt, hắn vẫn cần đồ chơi, kẹo bánh. Hắn vẫn còn bị phỉnh gạt bởi những ý nghĩa sai lầm.

    Một hôm tôi thấy tấm bảng quảng cáo xe hơi Mỹ, đặt trên mui chiếc xe tuyệt đẹp, có hàng từ. “Có gì để mà tin.”

    Con người chưa bao giờ sa ngã thấp như thế! Có gì để mà tin… Tin vào chiếc xe ư? Đúng đấy, người ta tin mọi thứ - tin vào nhà cửa, tin vào xe hơi, tin vào tiền trong băng. Nếu để ý một chút bạn sẽ ngạc nhiên - Phật, Chúa đã biến mất, nhưng niềm tin thì vẫn còn. Chúa đã nhường chỗ cho Cadillac, Lincoln! Chúa đã biến mất và đã được thay thế bởi các thần mới như - Stalin, Mao, Hitler... Chúa đã biến mất và con người đã tạo ra các thần mới - các minh tinh điện ảnh.

    Đây là lần đầu tiên trong lịch sử tâm thức nhân loại con người đã sa đọa như thế. Thậm chí nếu đôi khi bạn cầu nguyện, đó cũng chỉ là một danh xưng trống không, vô nghĩa. Có thể khi bị đau ốm, có khi thất vọng, bạn cầu nguyện – như thể Chúa là những viên aspirin. Đó là điều mà những tà giáo muốn bạn tin tưởng. Họ nói, “Cầu nguyện ba lần một ngày thì sẽ hết bịnh” Chúa không phải là những viên aspirin, không phải thuốc an thần.

    Một vài người cầu nguyện theo thói quen, một số khác là chuyên viên cầu nguyện. Thầy tu là chuyên viên cầu nguyện. Ông ta chẳng dính dáng gì với Chúa, ông ta được trả tiền để cầu nguyện. Ông ta là kẻ thiện nghệ. Một vài người cầu theo thói quen, một vài người cầu theo lối chuyên nghiệp, nhưng chẳng được mấy người nhớ tới Chúa trong tình yêu nồng nàn cả. Một vài người cầu tới Ngài trong lúc khốn khổ; lúc đang vui sướng, họ quên mất cả. Và khi vui sướng mới đúng để mà cầu nguyện - bởi vì chỉ khi vui sướng, vui sướng vô biên, bạn mới gần Chúa. Trong cơn khốn khổ bạn xa lìa, khép kín. Trong phút hoan lạc bạn cởi mở, thảnh thơi, dễ hội nhập với Chúa hơn.

    Cho nên bạn cầu nguyện theo thói quen vì đã được dạy ngay từ lúc còn thơ, riết rồi thành thói quen, giống như hút thuốc. Hút thuốc cũng không khoái lắm, mà nếu không hút, bạn cảm thấy như thiếu cái gì đó. Nếu bạn cầu nguyện mỗi sáng, mỗi chiều, cũng chẳng đạt được gì cả, bởi vì cầu nguyện kiểu đó không phải là tiếng nói của con tim - chỉ là chót lưỡi, đầu môi, máy móc. Nhưng nếu không cầu nguyện, bạn cảm thấy có gì thiếu sót. Cầu nguyện đã trở thành lễ nghi bắt buộc. Đừng biến cầu nguyện thành lễ nghi, và hãy tránh trở thành kẻ cầu nguyện chuyên nghiệp.

    Còn tiếp.

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  4. #4
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Re: Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong

    Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong

    "Trích Từ Tác Phẩm: Bát Nhã Tâm Kinh
    Tác Giả: Osho
    Dịch Giả : Vạn Sơn
    [email protected]"


    Tôi được nghe một câu chuyện rất nổi tiếng:
    Câu chuyện về một đạo sĩ yoya rất nổi tiếng. Nhà vua hứa rằng nếu có thể đi vào thiền định và nằm dưới đất trong một năm, ông ta sẽ được thưởng con ngựa quí nhất của vương quốc. Nhà vua biết đạo sĩ này chết mê, chết mệt vì ngựa; ông ta yêu thích ngựa hơn mọi thứ gì khác.

    Đạo sĩ ưng thuận và bị chôn sống trong một năm. Nhưng trong năm đó vương quốc đã bị đánh bại và chẳng ai nhớ tới đạo sĩ này nữa.

    Mười năm sau đó có người chợt nhớ và tự hỏi là điều gì xảy ra cho đạo sĩ này. Nhà vua sai người đi tìm. Đạo sĩ đó được đào lên. Ông ta vẫn còn trong hôn mê. Thỏa thuận ngày trước được rỉ vào tai ông ta. Lập tức ông ta ngồi dạy và hỏi, “Ngựa của tôi đâu?”

    Sau mười năm nằm im dưới đất mà tâm trí chẳng thay đổi chút nào - “Ngựa của tôi đâu?” Đạo sĩ này có thực đi vào đại định không? Ông ấy có suy tư về Thượng Đế không? Nhất định ông ấy phải liên tục nghĩ về ngựa. Nhưng ông ấy là tay chuyên nghiệp, thành thạo, tài giỏi. Ông ấy đã học được phép ngừng thở và phép chết giả - nhưng đấy là kỹ thuật.

    Mười năm hoàn toàn im lặng như thế mà tâm trí chẳng thay đổi tí nào! Có khác gì mười năm đó chưa hề trôi qua. Nếu bạn cầu nguyện một cách kỹ thuật, một cách chuyên nghiệp, theo thói quen, hay một cách máy móc, chẳng có gì có thể xảy ra cả.

    Tất cả đều có thể xảy ra, nhưng mọi ngã đường đều phải bắt đầu bằng con tim. Do đó tên của bài kinh này: Tâm Kinh – Kinh của Trái Tim.

    Trừ phi bạn làm điều gì đó với tình yêu nồng cháy, với sự tham dự của cả linh hồn lẫn thể xác, với một cam kết chắc chắn, với một lòng thành, với sự chân thực, với toàn bộ con người bạn, chẳng có gì sẽ xảy ra.

    Một số người coi tôn giáo như tay, chân giả, chẳng có hơi ấm, cũng chẳng có sự sống. Và mặc dầu giúp cho họ đi được loạng choạng, chẳng bao giờ nó trở thành một phần thân xác của họ; ngày nào họ cũng phải tháo ra rồi buộc lại.

    Hãy nhớ điều này là hàng triệu, triệu người trên thế gian đã làm như vậy. Rất có thể bạn cũng thế thôi. Đừng tạo ra tay, chân giả. Hãy để tay, chân thật của bạn cứng cáp hơn. Nếu được vậy, cuộc sống của bạn mới ấm áp. Được như thế bạn mới thấy niềm vui - không phải là nụ cười giả tạo trên môi, không phải loại hạnh phúc mà bạn tự dối mình, không phải mặt nạ để khoe người khác, mà cái mặt thật. Bình thường ta mang những đồ giả này mà không biết. Người có nụ cười đẹp, kẻ đeo khuôn mặt từ bi, người có nhân cách rất đáng yêu - nhưng những thứ này chẳng khác quần áo bạn mặc lên người mình. Sâu bên trong thì chẳng có gì khác lạ.

    Bát Nhã Tâm Kinh có thể đổi hẳn đời bạn. Những lời kinh này có thể đưa đến cuộc cách mạng nội tâm.

    Trước hết, ngay từ đầu, bao giờ cũng phải hỏi, “Tôi là ai?” Và bạn cứ phải hỏi mãi mãi. Khi lần đầu tiên bạn hỏi, “Tôi là ai?” bậc thang thứ nhất (muladhar) sẽ trả lời, “Bạn là thân xác! Sao hỏi vớ vẩn vậy? Không cần phải hỏi nữa, bạn đã biết rõ rồi.” Kế tiếp, bậc thứ hai sẽ nói, “Bạn là dục.” Rồi bậc thứ ba sẽ nói, “Bạn là con đường quyền lực, là bản ngã” - và cứ thế mãi.

    Hãy nhớ điều này, là bạn chỉ dừng lại khi không nghe câu trả lời nào nữa. Còn câu trả lời thì còn hỏi. Nếu nhận được câu như “bạn là thế này, hay bạn là thế nọ,” thì bạn phải biết rằng trung tâm nào, luân xa nào đó đang mớm cho bạn câu trả lời. Khi đã vượt qua tất cả sáu trung tâm, mọi câu trả lời đều bị triệt tiêu. Cứ tiếp tục hỏi, “Tôi là ai?” mà không nhận được câu trả lời từ bất kỳ đâu thì đấy là tuyệt đối im lặng. Câu hỏi, “Tôi là ai?” rền vang trong bản thân mình mà chỉ thấy im lìm, không một câu trả lời nào nghe được từ bất kỳ ngóc ngách, từ bất kỳ xó xỉnh nào. Bạn hoàn toàn hiện diện, thinh lặng hoàn toàn, một rung động nhỏ cũng không có. “Tôi là ai?” – mà thấy lặng như tờ. Đó là lúc phép lạ xảy ra: ngay cả câu hỏi cũng không thành hình được. Vậy thì câu trả lời thành ngớ ngẩn. Đầu tiên câu trả lời biến mất, kế đến là câu hỏi cũng biến theo - vì chúng nương tựa nhau mà có. Chúng là hai mặt của cùng một đồng tiền - nếu mặt này ra đi, mặt kia không thể tồn tại được. Câu trả lời biến trước, rồi câu hỏi biến theo. Và với sự triệt tiêu của câu hỏi và câu trả lời, bạn sẽ nhận ra rằng: đó là siêu việt, đó là bờ bên kia.

    Bạn biết rõ điều đó, nhưng không thể nói thành lời. Bạn biết rõ điều đó nhưng ấp úng, không thể nói một cách lưu loát được. Từ đáy sâu trong bản thể, bạn biết mình là ai, nhưng điều ấy không thể nói bằng lời được. Đó là tri thức sống, không thể tìm trong thánh thư, không thể vay mượn được, cũng không thuộc về người khác. Nó chuyển hóa từ bên trong bạn.

    Và với việc chuyển hóa này, bạn là một vị Phật. Lúc đó bạn sẽ phá lên cả cười vì nhận ra rằng bạn đã là một vị Phật từ ngay ban đầu. Chỉ vì bạn chưa bao giờ nhìn sâu hơn thế. Bạn chỉ chạy lòng vòng, loanh quanh bên ngoài bản thể, bạn chưa bao giờ tìm về nhà.

    Triết gia Arthur Schopenhauer đang đi trên phố vắng. Trong lúc mãi mê suy nghĩ, ông ta bỗng nhiên đâm sầm vào một người đi ngược chiều. Tức mình vì bị húc mạnh và cái mặt tỉnh bơ của triết gia, người này hét lên, “Này! Ông nghĩ ông là ai vậy?”

    Tiếp tục miên man trong tư tưởng, triết gia nói, “Tôi là ai ư? Ước gì tôi biết được điều đó.”

    Có ai biết đâu!

    Nếu biết được điều này - rằng tôi không biết tôi là ai - cuộc hành trình bắt đầu.

    Còn tiếp.

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  5. #5
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong

    Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong

    "Trích Từ Tác Phẩm: Bát Nhã Tâm Kinh
    Tác Giả: Osho
    Dịch Giả : Vạn Sơn
    [email protected]"


    Lời kinh thứ nhất:

    Vinh danh Trí Huệ Bát Nhã,rất đáng yêu và rất thánh!

    Đây là lời cầu nguyện.
    Thánh thư của Ấn Độ bao giờ cũng bắt đầu bằng một lời cầu nguyện bởi một lý do quan trọng. Điều này khác hẳn các nơi khác và trong các ngôn ngữ khác. Điều này không thấy ở Hy Lạp. Sự hiểu biết của Ấn Độ là thế này, rằng chúng ta chỉ là những ống tre rỗng, để qua đó những điệu sáo du dương của thế giới siêu việt trổi lên. Chúng ta phải cầu khẩn, chúng ta phải trở thành môi trường để cho đều tối thượng thông qua chúng ta. Đó là lý do tại sao chúng ta không biết ai tác giả của bộ Tâm Kinh này. Không có người ký tên bởi vì người viết ra nó không tin rằng mình là người viết ra nó. Người ấy chỉ là phương tiện. Người ấy chỉ giống như một thư ký ghi lại thông điệp gửi đến từ cõi siêu việt. Thông điệp đó đã được đọc cho người ấy, và người ấy đã viết lại một cách trung thực. Nhưng người ấy không phải là tác giả - mà chỉ là người viết lại.

    Vinh danh Trí Huệ Bát Nhã,rất đáng yêu và rất thánh!

    Đây là một lời cầu khẩn, chỉ một vài từ, nhưng mỗi từ chứa đầy ý nghĩa.

    Vinh danh Trí Huệ Bát Nhã...


    Trí Huệ Bát Nhã, dịch từ từ prajnaparamita. Prajna nghĩa là trí huệ. Prajna không có nghĩa là tri thức. Tri thức là sản phảm của tâm trí, là cái tới từ bên ngoài. Tri thức là cái vay mượn từ bên ngoài, không phải là một sáng tạo nguyên thủy, bởi chính bản chất, tri thức là đồ vay mượn. Trí huệ là sự sáng tạo nguyên bản của bạn; nó không tới từ bên ngoài mà trưởng thành bên trong bạn. Nó không giống như cái hoa giả mà bạn ra mua ngoài chợ. Nó là bông hồng thật mọc trên cây, mọc từ cây. Nó khoe cái đẹp của cây. Nó mọc từ trong ruột của cây; từ đáy sâu của cây nó mọc ra. Ngày nào đó nó còn thẹn thùng e lệ, ngày nào đó nữa nó nở ra rực rỡ, lộng lẫy.

    Prajna có nghĩa là trí huệ. Prajna trong Anh ngữ thường được dịch là wisdom (khôn ngoan), nhưng từ khôn ngoan ấy cũng không thể lột hết ý nghĩa của Prajna. Trong tiếng Anh, knowledge (tri thức) hiểu ngầm là không có kinh nghiệm. Bạn tới đại học để thu thập tri thức. Khôn ngoan có nghĩa là bạn phải lăn lộn với đời mà thu thập kinh nghiệm. Cho nên một người trẻ có thể có tri thức, nhưng không bao giờ khôn ngoan, bởi vì khôn ngoan cần thời gian. Một người trẻ có thể có đủ bằng cấp - tiến sĩ, thạc sĩ - điều đó chẳng khó khăn gì - nhưng chỉ người già mới khôn ngoan. Khôn ngoan là loại tri thức được thu thập qua kinh nghiệm riêng của mỗi người, nhưng nó vẫn là từ bên ngoài.
    Prajna không phải là tri thức, cũng chẳng phải là sự khôn ngoan như người ta vẫn thường hiểu. Đó là sự thăng hoa của nội tâm - không phải qua kinh nghiệm, không phải vay mượn của người khác, không phải tìm từ cuộc sống, cũng không phải nhờ lăn lộn với đời mà có. Không, bạn phải quay trở về với nội tâm, trong im lặng hoàn toàn, và để cho cái vẫn ẩn náu sẵn ở đó nổ tung ra. Bạn đang mang trí huệ như một hạt giống bên trong mình; chỉ cần mảnh đất thuận tiện để hạt mầm ấy nở ra. Trí huệ bao giờ cũng là chánh gốc, nguyên thủy. Nó bao giờ cũng là của bạn, duy nhất là của bạn.

    Nhưng hãy nhớ là khi tôi nói ‘của bạn’ không có nghĩa là có bản ngã nào dính líu vào đó. Nói là ‘của bạn’ nghĩa nó có từ tính bẩm sinh của bạn, nhưng nó không thuộc về bản ngã - bởi vì bản ngã lại là một phần của tâm trí, không phải của cái im lặng nội tâm của bạn.

    Paramita nghĩa là từ bờ bên kia – đáo bỉ ngạn - thuộc về thế giới bên ngoài, từ bên ngoài, bên ngoài thời gian và không gian. Khi bạn đạt tới một trạng thái nơi mà thời gian biến mất, khi nội tâm của bạn vươn tới một nơi mà không gian biến mất, khi bạn không biết bạn ở đâu và khi nào, khi mà cả hai chiều kích này đều biến mất. Thời gian nằm hẳn bên ngoài bạn, không gian cũng ở bên ngoài bạn. Có một điểm cuối cùng bên trong bạn, nơi mà cả không gian lẫn thời gian không mò đến được.

    Có người hỏi Chúa Giê Su, “Xin hãy nói về nước Trời. Có gì đặc biệt ở đó?” Chúa đáp lại, “Thời gian không còn nữa.” Đó là vĩnh cửu, vô thời gian. Đó là siêu việt – siêu việt trên không gian và thời gian – nơi mà không gian và thời gian đều biến mất. Bạn không còn bị giam hãm, thu hẹp. Không thể nói bạn ở nơi này, hoặc nơi kia vì bạn bao trùm tất cả.

    Hãy nhìn vào tôi: tôi không thể nói tôi đang ở đây, bởi vì tôi cũng đang ở đàng kia nữa. Mà không thể nói tôi đang ở Ấn Độ, bởi vì tôi cũng đang ở Trung Quốc nữa. Và tôi cũng không thể nói rằng tôi đang ở hành tinh này, bởi vì tôi không ở hành tinh này. Khi bản ngã biến mất, bạn đã hội nhập làm một với toàn thể. Bạn vừa ở mọi nơi và không ở nơi nào cả. Bạn không còn là một thực thể tách biệt nữa, mà đã hợp làm một với vũ trụ.

    Hãy lấy một thí dụ.

    Một buổi sáng đẹp trời, trên một chiếc lá thật xinh, một hạt sương mai lung linh trong nắng, đẹp làm sao! Và thế rồi nó biến đi, lăn mình vào lòng đại dương. Khi còn đọng trên lá, nó có mặt ở một thời điểm nào đó, và chiếm một khoảng không gian nào đó; sự hiện hữu của nó được đã xác định; nó có đặc tính riêng của nó. Nhưng một khi nó rớt vào lòng đại dương, ta không thể tìm được dấu vết của nó nữa. Không phải bởi vì nó đã biến mất. Không phải thế. Bây giờ nó ở mọi nơi; vì vậy ta không thể nào tìm thấy nó ở bất kỳ chỗ nào. Ta không thể xác định được vị trí của nó, bởi vì toàn thể đại dương đã trở thành vị trí của nó. Bây giờ nó không còn tách biệt nữa.

    Khi bạn không còn tách biệt với toàn thể, trí huệ bát nhã ba la mật đa – prajnaparamita – phát khởi. Đó là trí huệ siêu việt, trí huệ từ thế giới bên kia.

    Vinh danh Trí Huệ Bát Nhã, rất đáng yêu và rất thánh!


    Còn tiếp.

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  6. #6
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong

    Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong

    "Trích Từ Tác Phẩm: Bát Nhã Tâm Kinh
    Tác Giả: Osho
    Dịch Giả : Vạn Sơn
    [email protected]"


    Một lời cầu khẩn chân thành... Lời nguyện ấy nói rằng sự tôn kính của bạn đối với trí huệ đã phát khởi khi bạn đã đến bờ bên kia. Và trí huệ đó rất đáng yêu, và rất linh thiêng - linh thiêng vì bạn đã trở thành một với toàn thể; đáng yêu vì cái bản ngã vốn từng tạo ra những xấu xa trong đời bạn nay không còn nữa. Chỉ còn lại Chân, Thiện, Mỹ.

    Satyam, shivam, sunderam: nghĩa là Chân, Thiện, Mỹ. Đó là ba đặc tính của Trí Huệ Bát Nhã.

    Vinh danh Trí Huệ Bát Nhã - chân lý...


    Trí Huệ Bát Nhã là chân lý (Chân), là sự hoàn hảo của trí huệ, cái đáng yêu, cái đẹp (Mỹ), cái linh thiêng, và cái Thiện.

    Tại sao Trí Huệ Bát Nhã lại được coi là linh thiêng? Bởi vì chư Phật được sinh ra từ đó. Đó là nơi cưu mang chư Phật. Bạn thành Phật khi trí huệ này phát khởi. Bạn thành Phật khi giọt sương tan biến vào đại dương, không còn phân cách, không còn mâu thuẫn, đối kháng với toàn thể nữa, đã buông lơi, mất hẳn cá nhân tánh, không còn đi ngược lại với toàn thể nữa. Vì vậy lời khuyên của tôi là đừng bao giờ đi ngược thiên nhiên; đừng bao giờ chống lại nó.

    Đừng bao giờ tranh thắng với nó, đừng bao giờ cố gắng chinh phục nó, đừng bao giờ cố gắng khuất phục nó. Nếu bạn cố gắng khuất phục nó, sự thất bại là chắc chắn rồi, bởi vì thành phần không thể thắng toàn thể được - mà đó là điều mà mọi người đều làm. Do đó nhìn quanh ta chỉ thấy thất vọng tràn trề, vì tất cả đều thất bại, vì người nào cũng đều cố gắng chinh phục thiên nhiên, cố gắng đi ngược dòng. Cứ làm như vậy, tự nhiên ngày nào đó bạn sẽ mệt mỏi, kiệt sức, rã rời. Bởi vì sức của bạn chỉ có hạn, mà dòng sông thì mênh mông, vô tận. Rồi ngày đó bạn sẽ bị cuốn trôi, chỉ còn lại thất vọng, ê chề.

    Nếu có thể chấp nhận trong hân hoan, bạn sẽ thấy thảnh thơi, hỉ hả. Lúc đó không còn là thất bại nữa mà là thắng lợi hoàn toàn. Thắng lợi chỉ có khi hợp tự nhiên. Đừng bao giờ chống lại thiên nhiên. Và hãy nhớ, thiên nhiên không bao giờ hại bạn. Thất bại của bạn là tự bạn gây ra. Bạn thất bại bởi vì bạn đi ngược tự nhiên. Nếu muốn nếm mùi thất bại, hãy tranh đấu. Nếu muốn chiến thắng, hãy buông lơi. Nghe có vẻ mâu thuẫn phải không? Rằng người sẵn sàng chịu thua lại trở thành người thắng. Đối với thiên nhiên chỉ người nào chịu thua mới là kẻ thắng. Cố gắng mà tranh thắng thì sự thất bại của bạn cầm chắc trong tay - vấn đề chỉ là thời gian, vào lúc nào đó, nhưng chẳng chóng thì chầy nó sẽ chắc chắn xảy ra.

    Gọi là linh thiêng vì bạn đã hội nhập với toàn thể. Tim bạn đập cùng một nhịp với nó, bạn cùng nhảy múa với nó, cùng ca hát với nó. Khác nào chiếc lá trong cơn lốc. Theo điệu vũ của gió mà nó tung bay, mất hẳn ý riêng của mình. Việc mất ý riêng này tôi gọi là sannyas, cái mà Bát Nhã Tâm Kinh gọi là linh thiêng.

    Linh thiêng (holy) được dịch từ chữ bhagavati của Phạn ngữ. Từ đó còn quan trọng hơn từ thiêng liêng nữa nên cần phải hiểu cho rõ, bởi vì từ thiêng liêng hàm chứa ít nhiều ý nghĩa Ki Tô Giáo. Bhagavati...

    Bhagavati là giống cái của từ bhagavan. Điểm nổi bật nhất là Bát Nhã Tâm Kinh không dùng từ bhagavan – thuộc giống đực, mà dùng bhagavati - giống cái. Bởi vì cội nguồn của tất cả là nữ, không phải nam, là âm chứ không phải dương, là mẹ chứ không phải cha.

    Khái niệm của Ki Tô Giáo về Thiên Chúa như người cha không hợp lý lắm. Chẳng qua đó là cái tôi của đàn ông. Sự tự tôn của đàn ông không thể nào nghĩ rằng Chúa lại có thể là đàn bà; bản ngã đàn ông muốn Chúa phải là đàn ông. Bạn đã biết về Chúa Ba Ngôi của Ki Tô Giáo: cả ba đều là đàn ông; đàn bà không được tính ở đây, hoàn toàn vắng mặt – Một Chúa Ba Ngôi gồm có Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Đấy là một câu lạc bộ của đàn ông.

    Và hãy nhớ cho kỹ rằng nữ tính mới là nền tảng của cuộc sống, không phải nam tính. Bởi vì chỉ đàn bà mới có tử cung, chỉ đàn bà mới có thể mang thai, chỉ đàn bà mới có thể sinh đẻ được. Cuộc sống phải qua giống cái mà có.
    Nhưng tại sao đời sống phải tới qua giống cái? Điều ấy không phải ngẫu nhiên đâu. Đời sống tới qua giống cái bởi vì chỉ giống cái mới cho phép nó tới - bởi vì bản chất của nữ tính là tiếp nhận. Nam tính thì hung hăng, hiếu chiến; nữ tính dễ tiếp nhận, hấp thụ, dễ trở thành chiếc cầu cho đời sống.

    Bát Nhã Tâm Kinh dùng từ bhagavati, không phải bhagavan. Đó là một điều vô cùng quan trọng. Trí Huệ Bát Nhã mà chư Phật đều tới từ đó là một yếu tố nữ, một người mẹ. Nói đến bụng mẹ thì phải là một người mẹ. Một khi nói về Chúa như người cha, dường như bạn không hiểu mình đang nói gì. Cha là một thể chế phi tự nhiên. Cha không có trong thiên nhiên. Ý tưởng về cha chỉ xuất hiện mới vài ngàn năm nay; đó là một thể chế của người. Mẹ thì có mặt mọi nơi; mẹ mới là tự nhiên.

    Ý tưởng về cha xuất hiện trong thế giới này vì quyền tư hữu. Cha thuộc về góc cạnh kinh tế hơn là tự nhiên. Một khi tư hữu biến mất - nếu nó biến mất - ý tưởng về cha cũng biến luôn. Mẹ thì còn mãi mãi. Chúng ta không thể quan niệm được một thế giới không có mẹ. Quan niệm về một thế giới không có cha rất dễ dàng.

    Và chính ý tưởng về cha lại là hùng hổ, hung hăng. Bạn biết không? Chỉ người Đức mới gọi nước mình là ‘đất cha’, mọi nơi khác đều gọi là ‘đất mẹ’. Đây là ý tưởng nguy hiểm. ‘Đất mẹ’ thì được. Gọi nước mình là ‘đất cha,’ bạn đang bắt đầu một điều gì đó nguy hiểm, bạn đang gieo hạt giống cho sự tranh chấp. Chẳng chóng thì chầy sự hiếu chiến sẽ hiện ra, chiến tranh sẽ tới. Hạt mầm đã có sẵn.


    Còn tiếp.

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  7. #7
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Re: Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong

    Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong

    "Trích Từ Tác Phẩm: Bát Nhã Tâm Kinh
    Tác Giả: Osho
    Dịch Giả : Vạn Sơn
    [email protected]"


    Tất cả những tôn giáo nghĩ về Thiên Chúa như người cha đều là tôn giáo hung hăng. Ki Tô Giáo là hung hăng, Hồi giáo cũng vậy. Thiên Chúa của người Do Thái là một Thiên Chúa rất nóng giận và ngạo mạn. Thiên Chúa phán: Nếu ngươi không theo ta, tức là ngươi chống ta, và ta sẽ tiêu diệt ngươi. Còn ta là một Chúa rất đố kỵ; các ngươi chỉ tôn thờ mình ta thôi. Dân tộc nào nghĩ về Chúa như người mẹ đều là dân tộc không bạo lực.

    Phật tử chưa bao giờ tham dự vào một cuộc chiến tranh vì danh tôn giáo. Chưa bao giờ họ ép người khác theo Phật giáo bằng bạo lực, hay bằng cưỡng bách dưới bất kỳ hình thức nào. Người Hồi giáo đã cố gắng cải đạo người khác bằng gươm, ngược lại ý muốn của họ, ngược lại lương tâm của họ, chống lại tâm thức của họ. Người Ki Tô Giáo dụ người khác theo đạo bằng đủ mọi cách - khi thì bằng súng đạn, khi bằng cơm gạo, khi thì bằng thuyết phục, hứa hẹn khác. Phật giáo là tôn giáo duy nhất không bắt người khác theo đạo ngược lại ý muốn của người đó. Chỉ có Phật giáo là tôn giáo không bạo lực vì khái niệm về thực tại tối thượng là nữ tính.

    Vinh danh Trí Huệ Bát Nhã, rất đáng yêu và rất thánh!


    Hãy nhớ rằng chân lý là cái đẹp. Chân lý là đẹp bởi vì chân lý là phúc lành. Chân lý không thể nào xấu được bởi vì cái xấu xí không thể nào có thật; xấu xí chỉ có trong ảo tưởng.

    Khi thấy một người xấu thì đừng bị lừa dối bởi cái xấu bên ngoài. Nếu tìm sâu hơn một chút, bạn sẽ thấy con người khả ái nằm ẩn bên trong. Đừng bị lừa dối bởi cái xấu. Xấu xí là cái nhìn lệch lạc của bạn. Cuộc sống là đẹp, chân lý là đẹp, hiện hữu là đẹp - hoàn toàn không có cái xấu.

    Và Trí Huệ Bát Nhã là đáng yêu, đầy nữ tính và rất linh thiêng. Nhưng phải nhớ kỹ là từ ‘linh thiêng’ không nên hiểu theo nghĩa thường - như ám chỉ một thế giới khác, hay ngược với nghĩa trần tục và ô uế. Không. Tất cả đều linh thiêng. Không có gì có thể gọi là trần tục hay ô uế cả. Tất cả đều là thiêng liêng bởi vì tất cả đều tràn ngập trong Nhất Thể.

    Tất cả đều là Phật! - Phật-cây và Phật-chó và Phật-chim và Phật-đàn ông và Phật-đàn bà, Hình tướng khác nhau nhưng tất cả đều là Phật. Tất cả đều đang trên đường thành Phật! Con người không phải là Thượng Đế trong điêu tàn, con người là Thượng Đế đang hình thành, đang trên đường.
    Lời kinh thứ hai:

    Quán Tự Tại, Bồ Tát và chúa tể linh thiêng,
    trong lúc đi sâu trong Trí Huệ Bát Nhã,
    trong cõi siêu việt, từ trên cao nhìn xuống,
    Ngài chỉ thấy năm hợp phần.
    Và khi nhìn vào tự tánh của chúng,
    Ngài thấy tất cả đều trống không.

    Avalokita - Quán Tự Tại - là tên của Phật. Nghĩa đen của từ Avalokita là người nhìn xuống từ bên trên. Avalokita - người nhìn xuống từ bên trên, người đứng tại trung tâm thứ bảy, sahasrar, thế giới siêu việt, và nhìn xuống từ đó. Thông thường, những gì bạn nhìn thấy đều bị ô nhiễm bởi chỗ mình đứng nhìn, bị ô nhiễm bởi khoảng không gian mà bạn đang có mặt.

    Một người sống tại bậc thang thứ nhất - thân xác vật lý - nhìn vào bất kỳ cái gì thì anh ta cũng đều nhìn từ quan điểm đó. Anh ta chỉ nhìn vào thân xác bạn khi nhìn bạn; anh ta không thể nào nhìn sâu hơn thân xác, anh ta không thể thấy gì khác hơn. Cái bạn nhìn thấy được tùy thuộc vào chỗ bạn đứng nhìn.

    Một người đang bị dằn vật vì sắc dục, bị chìm đắm trong mộng tưởng về dục, thấy gì cũng là dục. Một người đang đói chỉ nhìn thấy thức ăn.

    Hãy lấy bạn làm thí dụ. Bạn nhìn thấy đủ mọi thứ, và mỗi lần bạn lại nhìn chúng thì chúng lại khác nhau, bởi vì bạn luôn luôn thay đổi. Buổi sáng mọi sự trông có vẻ đẹp hơn chút ít so với buổi tối. Buổi sáng bạn còn tươi mát, và buổi sáng bạn trỗi dạy từ giấc ngủ dài, giấc ngủ lâu, giấc ngủ không mông mị. Bạn đã nếm được mùi vị của siêu việt, mặc dầu là vô ý thức. Cho nên vào buổi sáng mọi thứ trông có vẻ đẹp, tươi tắn. Mọi người từ bi hơn, đáng yêu hơn, trong sạch hơn, hồn nhiên hơn trong buổi sáng. Đến chiều tối thì chính những người đó trở nên khó chịu hơn, khôn lỏi hơn, láu cá hơn, tham lam hơn, bạo hành và lừa dối hơn. Cũng những con người ấy về buổi sáng rất gần với siêu việt, nhưng chiều tối họ sống trong trần thế, trong thế tục, trong vật chất quá nhiều, và họ đã bị quay cuồng, quáng mắt ở đó.

    Con người toàn hảo là người có thể qua lại trong bảy luân xa này một cách dễ dàng. Đó là con người đã tìm được giải thoát, hoàn toàn tự do, không trụ vào bất kỳ điểm nào, tựa như người đứng ở giữa vòng quay theo mọi hướng một cách dễ dàng. Con người thực sự tự do ấy được gọi là mukta. Người ấy có thể qua lại trong mọi chiều kích mà không gì có thể động chạm tới được. Sự thuần khiết của người ấy chẳng bao giờ mất; sự trinh khiết ấy thường trú trong siêu việt.

    Phật có thể tới cầm lấy tay bạn và chữa bệnh cho bạn. Lúc đó Ngài trở thành thân xác, và đó là tự do lựa chọn của Ngài. Ngài có thể trở thành tâm trí để nói với bạn và giải thích mọi điều cho bạn, nhưng Ngài không phải là tâm trí. Ngài tới và đứng sau tâm trí, sử dụng nó, giống như bạn lái xe – nhưng bạn không phải là chiếc xe. Ngài dùng cả bảy bậc thang này vì Ngài là toàn bộ chiếc thang. Nhưng điểm trụ tối hậu của Ngài vẫn nằm trong siêu việt. Đó là bản tính của Ngài.
    ‘Avalokita’ - Quán Tự Tại, nghĩa là người từ cõi bên kia nhìn vào thế giới.

    Quán Tự Tại, Bồ Tát và chúa tể linh thiêng, trong lúc đi sâu trong Trí Huệ Bát Nhã trong cõi siêu việt.

    Bát Nhã Tâm Kinh nói trạng thái của cõi bên ngoài không phải là tĩnh chỉ mà luôn chuyển động. Đó là một tiến trình, luôn luôn thay đổi, giống như dòng sông. Nó không phải là một danh từ, mà là một động từ. Nó không ngừng biểu hiện. Đó là ý nghĩa của hoa sen một ngàn cánh. ‘Một ngàn’ nghĩa là vô hạn, vô tận; đó là biểu tượng của vô hạn. Cánh hoa nọ chồng lên cánh kia, lớp hoa này nối tiếp lớp kia, trùng trùng điệp điệp không bao giờ chấm dứt. Cuộc hành trình bắt đầu nhưng không bao giờ chấm dứt. Đó là cuộc hành hương muôn thuở, vĩnh viễn.

    Quán Tự Tại, Bồ Tát và chúa tể linh thiêng, trong lúc đi sâu trong Trí Huệ Bát Nhã, trong cõi siêu việt..

    Quán Tự Tại luôn luôn tuôn chảy như một dòng sông trong thế giới của cõi bên ngoài. Ngài được gọi là chúa linh thiêng và là bồ tát. Một lần nữa từ Phạn này cần phải được ghi nhớ. Từ Phạn là iswara, được dịch thành ‘Chúa Linh Thiêng’. ‘Iswara’ nghĩa là người sung mãn về mọi mặt, và sự sung mãn ấy từ tính trời mà có, không ai có thể lấy đi được, không cách nào mất đi được. Tất cả của cải của bạn có thể bị lấy đi, có thể bị đánh cắp, sẽ có ngày bị mất - một ngày nào đó thần chết sẽ tới và lấy đi mọi thứ. Khi người nào đó tìm được viên kim cương bên trong nội tâm, nghĩa là bản thể riêng của mình thì dẫu cái chết cũng không thể nào lấy đi được. Thần chết chẳng còn sức mạnh nữa. Nó không thể nào bị đánh cắp, nó không thể nào bị mất đi. Lúc đó người ấy trở thành iswara, chúa linh thiêng. Thế thì người ấy đã trở thành bhagavan.


    Còn tiếp.

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  8. #8
    Join Date
    Jul 2008
    Posts
    24
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong

    Cám ơn Minh Nguyệt cho đọc những chương "Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong".
    Công Đức Vô Lượng
    A Di Đà Phật
    BC


  9. #9
    Join Date
    Oct 2004
    Posts
    249
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong

    Quote Originally Posted by BìnhChánh View Post
    Cám ơn Minh Nguyệt cho đọc những chương "Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong".
    Công Đức Vô Lượng
    A Di Đà Phật
    BC


    Đem đờn giải của tên hoang tưởng Osho vào đây vải tùn lum làm ô uế diễn đàn Phật Giáo mà bạn còn cho là công đức vô lương. Bạn có phải là Phật tử không vậy mà thốt lên từ công đức vô lượng. Bạn có hiểu nghĩa Công Đức là thế nào không?
    Như ong đến với hoa

    Không hại sắc và hương

    Che chở hoa lấy nhụy

    Bậc Thánh đi vào làng.

  10. #10
    Join Date
    May 2006
    Posts
    948
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong

    Đạo sư Osho là 1 con heo, dâm dật, hoang phí và dối trá. Những gì Minh Nguyệt Việt dich là các thứ viết ra bởi 1 con người tài ba nhưng vô hạnh, thời đó Osho khoảng 33 tuổi, sống tại 1 khu hộ nhỏ bé, bắt đầu có chút danh, công phu nhiếp tâm người khác rất cao, có cái phòng trong dẫn nữ đệ tử vào sờ mó và làm bậy.

    Đạo sư Krisnamurty (khác với Jiddu Chrinamurity) từng mắng thẳng Osho là 1 con heo dơ bẩn !

    Ôi, tôi đã thấy Osho cà chớn rõ ràng qua ống kính TV khi năm 1980-1984 Osho và bè lũ giáo phái áo đỏ tung hoành tại Oregon rất lố bịch mà tôi lúc đó cũng ở cùng tiểu bang đó.

    Vậy mà MinhNguyet cung thỉnh các sách Osho về đây dịch thuật, làm ô nhiễm các Phật Tử dễ tin.

    Các bạn phải cẩn thận với tà thuyết từ tà sư Osho. Có những đoạn ấu trĩ được thêu dệt làm mờ mắt người đọc.

    HC

  11. #11
    Join Date
    Jun 2005
    Posts
    160
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong

    Ông Osho này thuộc về là quỉ ma chứ không phải người... với triết lý dâm dục, hành động dâm dục, và phương pháp dâm dục của ông ta đã thu hút rất nhiều người và cũng để lại cho đời không biết bao nhiêu là tai tiếng từ môn đồ của ông ta.

    Cả lũ thác loạn dâm dục đó thì biết gì là Bát Nhã mà giảng giải... Trong Tâm Kinh Bát Nhã lại mang đậm tính dâm dục của ông ta quá rõ ràng...

    Ai mà theo ông ta, học theo ông thì coi như kiếp sau sanh vào loài Ma.

    Bình Chánh... khen Minh Nguyệt công đức vô lượng vì post bài Bát Nhã Tâm Kinh do Dâm Sư Osho giảng à???

    Tội A Tỳ Địa Ngục vô lượng kiếp thì có...
    Nam Mô A Di Đà Phật
    "... Hộ niệm cho:
    bảy kiếp cha mẹ chúng con đượm nhuần mưa pháp
    còn tại thế:
    thân tâm yên ổn, phát nguyện tu trì
    đã qua đời:
    ác đạo xa lìa, chóng thành phật quả
    Ngửa mong các đức Như Lai
    Khắp cõi hư không, từ bi gia hộ"

  12. #12
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Re: Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong

    Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong

    "Trích Từ Tác Phẩm: Bát Nhã Tâm Kinh
    Tác Giả: Osho
    Dịch Giả : Vạn Sơn
    [email protected]"


    Từ bhagavan nghĩa là ‘người được ân huệ’. Thế thì người ấy đã trở thành người được ân huệ. Ân huệ ấy vĩnh viễn là của người ấy; nó không phụ thuộc vào bất cứ cái gì, hoàn toàn độc lập. Không có gì là nguyên nhân của nó nên không thể nào bị lấy đi. Nó không do duyên khởi mà có, nó là bản tính nội tại của người ấy.

    Và Quán Tự Tại được gọi là bồ tát. Bồ tát là một khái niệm tuyệt đẹp của Phật giáo. Bồ tát là một người đã trở thành Phật nhưng vẫn ở lại trong thế giới của không gian và thời gian để giúp người khác. Bồ tát nghĩa là ‘Phật về mặt yếu tính’. Tựa như hạt sương mai sẵn sàng rơi xuống đại dương và tan biến, Bồ Tát sẵn sàng nhập niết bàn. Không còn gì phải giải quyết nữa, mọi khúc mắc của người ấy đã được giải quyết. Người ấy không cần phải ở lại đây nữa, nhưng vẫn cố nán ở lại đây. Không còn gì khác để học nữa, nhưng người ấy vẫn ở lại. Và người ấy giữ mình trong thân xác, trong tâm trí, cố giữ lại toàn bộ chiếc thang. Người ấy đã vượt sang cõi bên kia, nhưng vẫn lưu giữ toàn bộ chiếc thang - mục đích là để giúp đỡ chúng sinh. Tất cả chỉ vì lòng từ bi.

    Một câu chuyên kể về Phật. Khi Ngài tới cửa tối hậu niết bàn. Cửa được mở ra, các thiên thần nhảy múa và ca hát để đón chào Ngài, bởi vì lâu lắm mới có người thành Phật, có khi cả triệu, triệu năm. Những cánh cửa đó đã mở ra, và ngày đó dĩ nhiên phải là một ngày hội lớn. Chư Phật đời trước đều có mặt. Niềm vui lớn lan tràn khắp nơi. Hoa trút xuống như mưa. Đàn ca vang lừng. Tất cả được trang hoàng lộng lẫy - thật là ngày hội lớn.

    Nhưng Phật không chịu bước vào. Chư Phật đời trước, tất cả đều chắp tay, yêu cầu Ngài, xin Ngài hãy đi vào. Các Ngài nói với nhau, “Sao Ngài ấy không chịu bước vào vậy?” Phật đáp lại, “Chừng nào những người khác đang đến sau tôi mà chưa vào, tôi sẽ không vào đâu. Tôi ở lại bên ngoài, bởi vì một khi đã vào rồi, tôi biến mất luôn. Thế thì tôi sẽ không có cách nào giúp những người này nữa. Tôi thấy hàng triệu người đang lần mò trong bóng tối. Chính tôi cũng đã từng mò mẫm như vậy qua hàng triệu kiếp. Tôi muốn giúp họ một tay. Xin hãy đóng cửa lại. Khi mọi người đã tới hết, tôi sẽ gõ cửa. Lúc đó các Ngài có thể đón tôi vào.”

    Một câu chuyện thực hay, và vô cùng cảm động... Nó nói lên hạnh nguyện độ tha của bồ tát, là người đã sẵn sàng qua bờ bên kia nhưng vẫn lưu lại - trong thân xác, trong tâm trí, trong thế giới, trong thời gian và không gian - để giúp người khác.

    Phật nói, “Thiền định có thể giúp bạn giải quyết mọi vấn đề, nhưng vẫn còn thiếu cái gì đó – đó là lòng từ bi. Nếu có thêm từ bi nữa, bạn có thể giúp cho người khác giải quyết vấn đề của họ.” Ngài nói:, “Thiền là vàng ròng; một mình nó cũng có giá trị rồi. Nhưng nếu có thêm từ bi, vàng còn có hương thơm nữa - cả hai cộng lại thì còn gì quý hơn, vàng với hương thơm ngát. Vàng một mình nó đã giá trị rồi - rất có giá trị - nhưng cộng từ bi nữa thì thiền có hương thơm.”

    Từ bi là yếu tố khiến các vị Bồ Tát không thành Phật. Các Ngài dừng lại trên đường ranh giới - bờ bên này và bờ bên kia. Nhưng chỉ được vài ngày, vài năm, các vị ấy có thể lưu lại được, nhưng không lâu - bởi vì dần dần mọi thứ sẽ tan biến theo quy luật của chúng. Khi bạn không còn gắn bó với thân xác nữa, trọng tâm của bạn không nằm ở đó nữa. Đôi khi bạn có thể lui tới, nhưng với nhiều nỗ lực. Bạn có thể dùng thân xác, với nhiều cố gắng, nhưng bạn không còn thường trú ở đó nữa. Khi không còn nằm trong tâm trí, đôi khi bạn có thể dùng nó, nhưng nó không còn hoạt đông trôi chảy như trước đây nữa. Khi không dồn năng lực cho nó, khi không dùng đến nó, nó trở thành vô dụng. Tựa như một chiếc xe lâu ngày không dùng đến, bụi bậm sẽ bám vào.
    Khi một người đã đạt tới bậc thứ bảy, trong vài ngày, vài năm, người ấy có thể dùng sáu bậc bên dưới. Người ấy có thể quay lại và dùng chúng, nhưng dần dần chúng bắt đầu hư hỏng. Dần dần chúng sẽ không hoạt động nữa. Một vị bồ tát có thể ở lại bờ bên đây chỉ trong một kiếp, nhiều nhất là một kiếp. Sau đó người đó phải biến mất vào bờ bên kia, bởi vì chiếc xe đã biến mất.

    Biết là vậy nhưng những người đã đạt đạo vẫn cố gắng bằng mọi cách, để dùng thân-tâm mà giúp những người chỉ có thể hiểu được ngôn ngữ của thân xác và tâm trí, và để giúp cho các đệ tử của họ.

    "Quán Tự Tại, Bồ Tát và chúa tể linh thiêng,
    trong lúc đi sâu trong Trí Huệ Bát Nhã
    trong cõi siêu việt, từ trên cao nhìn xuống,
    Ngài chỉ thấy năm hợp phần.
    Và khi nhìn vào tự tánh của chúng
    Ngài thấy tất cả đều trống không."

    Khi bạn nhìn từ bậc thang thứ bảy, sahasrar... Chẳng hạn, tôi vừa nói với các bạn rằng tôi chào vị Phật trong bạn. Đó là một cái nhìn từ cõi bên kia: rằng tôi thấy bạn là một vị Phật đang hình thành. Và một cái nhìn khác, tôi thấy bạn trống không bên trong.

    Những điều bạn nghĩ về chính mình chẳng khác gì cái vỏ không. Có người nghĩ mình là đàn ông; đó là một ý tưởng rỗng tuếch. Tâm thức chẳng phải nam, chẳng phải nữ. Có người nghĩ mình có một thân xác rất đẹp, có sắc đẹp tuyệt vời, lực lưỡng, và thế này hay thế nọ - tất cả đều là những ý tưởng không tuếch; hắn không biết là đang bị bản ngã của hắn phỉnh gạt. Có người nghĩ mình thông thái - cũng hoàn toàn vô nghĩa. Các bộ phận của hắn đã tích lũy ký ức và chính ký ức ấy đang lừa dối hắn. Những ý tưởng ấy tất cả đều trống không.

    Cho nên khi từ siêu việt, một mặt tôi thấy các bạn là những vị Phật đang hình thành, và từ mặt khác tôi thấy các bạn chỉ là những cái vỏ trống không.

    Phật đã nói rằng con người hợp bởi năm hợp phần, ngũ uẩn (skandhas), và tất cả đều là trống không. Và do hỗn hợp của năm yếu tố này mà một sản phảm phụ nảy sinh, gọi là bản ngã, cái ta. Tựa như sự hoạt động của đồng hồ: nó cứ tích tắc, tích tắc không ngừng. Khi bạn lắng nghe, nó vẫn tích tắc. Rồi bạn mở đồng hồ ra, tháo rời tất cả các bộ phận ra để xem tiếng tích tắc từ đâu tới. Tiếng tích tắc từ đâu tới? Bạn sẽ chẳng tìm thấy đâu cả. Tiếng tích tắc ấy là một sản phảm phụ. Nó chỉ là một hỗn hợp của các bộ phận rời. Những bộ phận ấy hợp lại với nhau đã tạo ra tiếng tích tắc.

    Đó là cái ‘tôi’ của bạn – do năm yếu tố hoạt động với nhau đã tạo ra tiếng tích tắc được gọi là cái ‘tôi’. Nhưng nó trống không, chẳng có gì trong đó cả. Nếu cứ truy tầm cái thực chất trong đó, bạn sẽ không tìm được gì.

    Đây là một trong những trực giác, phát kiến sâu sắc nhất của Phật: rằng cuộc sống là trống không, rằng cuộc sống mà chúng ta biết là trống không. Mà cuộc sống thì đầy tràn, nhưng chúng ta không hề biết gì về điều đó cả. Từ cái trống không này bạn phải đi đến cái tràn đầy, nhưng cái tràn đầy đó không thể nào hình dung nổi ngay bây giờ - bởi vì cái tràn đầy đó từ trạng thái này chẳng khác gì trống không. Từ trạng thái đó cuộc sống tràn đầy của bạn dường như trống không - ông vua trông như kẻ ăn mày; một người của hiểu biết, đầy tri thức, trông như đần độn, dốt nát.

    Một câu chuyện nhỏ.

    Một đạo sư thâu nhận một học trò và nói với anh ta, “Con hãy cố gắng viết ra những gì con hiểu biết về đời sống đạo và yếu tố nào đã dẫn con tới đời sống ấy.”

    Anh ta lui ra đi và bắt đầu viết. Một năm sau tìm gặp thầy, anh ta nói, “Con đã cố gắng hết sức mình, và mặc dầu còn nhiều thiếu sót, đây là những lý do chính mà con đang gặp phải.”

    Đạo sư đọc bài viết, có đến hàng ngàn từ, rồi nói anh ta, “Bài con viết rất có lý và phát biểu rất rõ ràng, nhưng dài quá. Hãy cố gắng thu ngắn lại một chút.” Anh ta lại ra đi, và sau năm năm anh quay lại chỉ còn một trăm trang giấy.

    Đạo sư mỉm cười, và sau khi đọc bài viết, ông nói, “Nay con đang tới gần tâm điểm vấn đề. Ý tưởng của con rất sáng tỏ và mạnh mẽ. Nhưng vẫn còn hơi dài; hãy cố gắng thu hẹp lại hơn nữa.”

    Anh ta lại buồn bã ra đi vì đã làm việc vất vả để đạt tới yếu tính. Nhưng sau mười năm quay lại, anh ta cúi lạy và trao cho thầy có vài trang giấy rồi nói, “Đây là cốt lõi của niềm tin của con, là tinh túy của cuộc đời con, và con xin thầy ban ơn vì đã đưa con tới điều ấy.”

    Đạo sư đọc một cách chậm rãi và cẩn thận, rồi nói: “Kỳ diệu thay!” ông nói, “rất đơn giản và bay bướm, nhưng vẫn chưa hoàn hảo. Hãy cố gắng đạt tới sự sáng tỏ tột cùng.”

    Và khi đạo sư sắp lìa đời và đang sửa soạn cho cái chết của mình, anh ta tìm đến. Anh quì xuống dưới chân thầy để nhận ân huệ rồi trao cho thầy chỉ một tờ giấy trắng tinh, không có một từ nào trên đó.

    Thế rồi đạo sư đặt tay lên đầu anh và nói, “Nay con đã hiểu rồi.”

    Nhìn từ điểm siêu việt ấy, cái bạn có là rỗng tuếch. Từ cái nhìn của bạn, cái tầm nhìn bệnh hoạn của bạn thì cái tôi đang có là rỗng tuếch.

    Phật nhìn không có gì cả - chỉ là cái trống không thuần khiết - đối với bạn.

    Bởi vì các ý tưởng của bạn, bởi vì sự bám víu của bạn, bởi vì tính muốn chiếm đoạt mọi thứ của bạn nên Phật có vẻ rỗng không. Phật thực sự tràn đầy; bạn mới là trống không. Cái nhìn của Ngài là tuyệt đối; cái nhìn của bạn còn nhiều vẩn đục...

    Lời kinh:

    "Quán Tự Tại, Bồ Tát và chúa tể linh thiêng, trong lúc đi sâu trong Trí Huệ Bát Nhã trong cõi siêu việt, từ trên cao nhìn xuống, Ngài chỉ thấy năm hợp phần. Và khi nhìn vào tự tánh của chúng, Ngài thấy tất cả đều trống không."

    Chân không là chìa khóa của Phật giáo - shunyata. Chúng ta sẽ bàn thêm ngày càng nhiều khi đi vào những địa hạt thâm sâu hơn của Bát Nhã Tâm Kinh.

    Hãy suy tư về những lời kinh này - hãy suy tư bằng tình yêu, bằng sự thông cảm, không phải bằng logic và lập luận. Nếu tìm hiểu những lời kinh này bằng logic và lập luận, bạn chỉ thấy xác mà không thấy hồn của chúng. Đừng phân tích. Hãy cố gắng hiểu. Cố gắng hiểu bằng tuệ giác và đừng đem tâm trí vào - tâm trí bạn sẽ là một cản trở.

    Nếu có thể hiểu những lời kinh này mà không dùng tâm trí mình, một sự sáng tỏ lớn sẽ xảy ra cho bạn.


    Hết Chapter 02. Đón xem Chapter03 kỳ tới.


    Còn tiếp.

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  13. #13
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Phủ Định Trí Thức

    Phủ Định Trí Thức

    "Trích Từ Tác Phẩm: Bát Nhã Tâm Kinh
    Tác Giả: Osho
    Dịch Giả : Vạn Sơn
    [email protected]"



    "Tại đây, này Sariputra,
    sắc tức là không, không tức là sắc,
    sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc,
    sắc chính là không, không chính là sắc.
    Thọ, hành, tưởng, thức cũng đều như thế.
    Tại đây, này Sariputra,
    vạn pháp đều không;
    Chúng không sinh, không diệt;
    Không nhơ, không sạch,
    Không tăng, không giảm.
    Do đó, này Sariputra,
    vì vậy trong không, không có sắc, thọ, tưởng; cũng không có hành, thức;
    không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý;
    không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp;
    không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới;
    không có vô minh, cũng không có hết vô minh; không có già chết cũng không có hết già chết;
    không khổ, tập, diệt, đạo;
    không có trí huệ, không có chứng đắc, cũng không có không chứng đắc..."


    Tri thức là điều nguyền rủa, là tai ương, là ung thư. Chính vì qua tri thức mà con người bị chia lìa khỏi đại thể. Tri thức tạo ra khoảng cách.

    Bạn thấy một hoa dại trên núi, bạn không biết nó là gì, tâm trí bạn chẳng có ý kiến gì, tâm trí thinh lặng. Bạn nhìn vào hoa ấy, bạn thấy bông hoa, nhưng tri thức không nảy sinh trong đầu - rất là kỳ diệu, rất là bí ẩn. Hoa ở đấy, bạn ở đấy. Qua sự kì diệu ấy bạn không tách biệt, bạn được nối liền.

    Nếu biết đã rằng đây là hoa hồng hay, cúc vạn thọ, hay hoa gì khác thì sự cái hiểu biết đó tách rời bạn. Hoa ở đó, bạn ở đây, nhưng không có cầu nối - bạn biết rồi! Tri thức tạo khoảng cách. Bạn biết càng nhiều, khoảng cách càng lớn; bạn biết càng ít, khoảng cách càng nhỏ. Và nếu bạn không biết gì thì không có khoảng cách, bạn được nối liền.

    Bạn yêu một bà hay một ông - cái ngày bạn mới yêu thì không có khoảng cách. Chỉ có điều kì diệu, sự hồi hộp, sự kích động, sự khoan khoái - nhưng không có tri thức. Bạn không biết người này là ai. Không có tri thức thì chẳng có gì chia rẽ bạn. Do đó phút đầu gặp gỡ bao giờ cũng đẹp. Bạn sống với người này chỉ mới hai mươi bốn giờ đồng hồ, tri thức đã nảy sinh. Nay bạn đã có một số ý tưởng về người này: bạn biết người ấy là ai, bạn có một hình ảnh nào đó về người ấy. Hai mươi bốn giờ đã tạo ra một quá khứ. Hai mươi bốn giờ đã ghi lại dấu vết trong tâm trí: bạn nhìn vào cũng người này, bí ẩn ngày trước không còn nữa. Bạn đang đi xuống đồi, cái đỉnh của sự kỳ diệu đã mất.

    Hiểu điều này là hiểu nhiều lắm. Hiểu rằng tri thức phân chia, rằng tri thức tạo ra khoảng cách, là hiểu được chính cái bí mật của thiền định. Thiền định là trạng thái không biết. Thiền là không gian thuần khiết, không bị tri thức quấy nhiễu. Quả đúng vậy, chuyện trong kinh thánh thế mà lại đúng - rằng con người đã sa ngã vì tri thức, bởi việc ăn trái của cây hiểu biết. Không thánh thư nào khác trên thế giới vượt qua điều đó. Dụ ngôn đó là lời cuối cùng; không có dụ ngôn nào khác đạt tới đỉnh cao và nhận thức đó.
    Mới nghe có vẻ rất phi lý khi nói con người đã sa ngã vì tri thức. Có vẻ phi lý bởi vì logic là một phần của tri thức. Nhiệm vụ của logic là hỗ trợ tri thức.

    Điều đó có vẻ phi lý, bởi vì logic là nguyên nhân chính của sự sa ngã của con người. Một người tuyệt đối logic, tuyệt đối lành mạnh, bao giờ cũng lành mạnh, không bao giờ cho phép bất kỳ điều phi lý nào trong cuộc sống mình là người điên. Sự lành mạnh cần phải được cân bằng bởi sự không lành mạnh; logic cần được cân bằng bởi phi logic. Các cực đối phải gặp nhau và cân bằng. Một người duy trí là người không biết điều - hắn sẽ không hiểu nhiều lắm. Thực ra, hắn sẽ không hiểu những cái đẹp (mỹ) và những cái đúng đắn (chân). Hắn chỉ thu thập những cái vớ vẩn; cuộc sống của hắn chỉ là cuộc sống trần tục. Hắn chỉ là một phàm phu.

    Ngụ ngôn của kinh thánh đó thhạt là thâm thúy. Tại sao con người sa ngã qua tri thức? - bởi vì tri thức tạo ra khoảng cách, bởi vì tri thức tạo ra cái ‘ta’ và ‘người’, bởi vì tri thức tạo ra chủ thể và khách thể, người biết và cái được biết, quan sát viên và cái được quan sát. Tri thức là một loại bệnh tâm thần; nó tạo ra sự rạn nứt. Và thế thì không có cách nào nối liền được nữa. Đó là lý do tại sao khi con người càng trở nên hiểu biết nhiều, hắn càng ít đạo đức hơn. Người nào học càng nhiều, càng ít có triển vọng tìm về đạo.
    Chúa Giê-Su nói rất đúng, “Chỉ có trẻ con mới vào được nước trời”... chỉ có trẻ con.

    Trẻ con có phẩm chất gì đặc biệt mà bạn đã mất? Phẩm chất của trẻ con là không tri thức, hồn nhiên. Nó nhìn gì cũng ngạc nhiên; mắt nó hoàn toàn trong sáng. Nó nhìn rất kỹ, nhưng nó không có định kiến, không phán xét, không có ý tưởng tiên quyết. Nó không cho thêm ý kiến, do đó nó biết thế nào là chân như.

    Hôm trước chúng ta đã nói về sự khác biệt giữa thực tại và chân lý. Trẻ con biết chân lý, bạn chỉ biết thực tại. Thực tại là cái mà bạn đã thêu dệt quanh mình – tô màu, ham muốn, suy nghĩ. Thực tại là giải thích của bạn về chân lý. Chân lý là chân như; thực tại là cái bạn hiểu biết bằng trí năng, là ý tưởng của bạn về chân lý. Thực tại là một tổ hợp gồm nhiều thứ, tất cả đều tách biệt. Chân lý chỉ là một năng lượng vũ trụ duy nhất. Chân lý là nhất thể, thực tại là vạn thù. Thực tại là đám đông, chân lý là tích hợp.

    Trước khi bàn về lời kinh này, ta phải hiểu một cách rõ rằng: tri thức là sự nguyền rủa.

    J. Krishnamurti nói, “Phủ định là im lặng.” Phủ định cái gì? - phủ định tri thức, phủ định tâm trí, phủ định mối bận tâm thường xuyên trong nội tâm bạn, để tạo ra một không gian trống rỗng. Khi tâm trí trống rỗng, bạn hài hòa với đại thể. Khi bận bịu, bạn mất hẳn sự hài hòa. Do đó, khi nào bạn có được một khoảnh khắc im lặng thì có niềm vui sướng mênh mông. Trong khoảnh khắc đó cuộc sống đầy ý nghĩa, trong khoảnh khắc im lặng đó cuộc sống lộ ra nét hùng vĩ mà không bút mực nào diễn tả nổi. Trong khoảnh khắc đó cuộc sống là một điệu vũ. Trong khoảnh khắc đó nếu thần chết viếng thăm, nó cũng nhảy múa và ca hát, bởi vì khoảnh khắc đó không biết gì ngoài niềm vui sướng. Khoảnh khắc đó là vui sướng, là phúc lạc.


    Còn tiếp.

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  14. #14
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Phủ Định Trí Thức

    Phủ Định Trí Thức

    "Trích Từ Tác Phẩm: Bát Nhã Tâm Kinh
    Tác Giả: Osho
    Dịch Giả : Vạn Sơn
    [email protected]"



    "Tại đây, này Sariputra,
    sắc tức là không, không tức là sắc,
    sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc,
    sắc chính là không, không chính là sắc.
    Thọ, hành, tưởng, thức cũng đều như thế.
    Tại đây, này Sariputra,
    vạn pháp đều không;
    Chúng không sinh, không diệt;
    Không nhơ, không sạch,
    Không tăng, không giảm.
    Do đó, này Sariputra,
    vì vậy trong không, không có sắc, thọ, tưởng; cũng không có hành, thức;
    không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý;
    không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp;
    không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới;
    không có vô minh, cũng không có hết vô minh; không có già chết cũng không có hết già chết;
    không khổ, tập, diệt, đạo;
    không có trí huệ, không có chứng đắc, cũng không có không chứng đắc..."


    Tri thức phải bị phủ định. Nhưng không phải vì tôi nói thế, hay bởi vì J. Krishnamurti nói thế, hay bởi vì Phật Cồ Đàm đã nói thế. Nếu bạn phủ định bởi vì tôi đang nói thế, bạn sẽ phủ định tri thức của bạn, và bất kỳ cái gì tôi đang nói, sẽ trở thành tri thức của bạn; bạn sẽ thay thế nó. Sự phủ định không được tới từ tâm trí, nếu không, tâm trí sẽ rất ma mãnh. Thế thì bất kỳ cái gì tôi nói cũng đều trở thành tri thức của bạn, bạn sẽ bám lấy nó. Bạn vất bỏ thần tượng cũ của mình và thay thế bằng cái mới. Nhưng đấy lại là trò chơi cũ với lời lẽ mới, ý tưởng mới, ý nghĩ mới.

    Vậy thì phủ định tri thức bằng cách nào? Không phải bằng tri thức khác: chỉ cần hiểu rõ sự kiện rằng tri thức tạo ra khoảng cách, chỉ nhìn ra sự kiện này một cách mãnh liệt, toàn triệt là đủ. Không phải là phải thay thế nó bằng một cái khác; sự mãnh liệt đó là ngọn lửa, nó sẽ đốt tri thức của bạn thành tro bụi. Sự mãnh liệt đó là đủ. Sự mãnh liệt đó là cái được gọi là ‘trực giác’. Trực giác sẽ đốt cháy tri thức của bạn, và nó sẽ không bị thay thế bởi tri thức khác. Còn lại sau đó chỉ là cái trống không, shunyata. Chỉ còn chân không, bởi vì không còn gì bên trong; ở đó chân lý không bị xáo trộn, không bị bóp méo.

    Bạn phải hiểu điều tôi đang nói, và đừng học điều tôi đang nói. Bạn ngồi đây với tôi hàng ngày và nghe tôi nói, nhưng đừng thu thập tri thức, đừng tích trữ. Việc lắng nghe tôi nên coi như một thí nghiệm nội tâm. Bạn nên lắng nghe với sự mãnh liệt, với cả con người, với sự tỉnh thức cao độ nhất mà bạn có thể làm được. Trong chính sự tỉnh thức đó bạn sẽ hiểu, và chính sự hiểu biết đó sẽ thay đổi bạn. Bạn không phải làm gì cả sau này; chính sự hiểu biết sẽ đem tới sự chuyển hoá. Nếu bạn phải nỗ lực, điều đó nghĩa là bạn đã không hiểu. Nếu ngày mai bạn trở lại và hỏi tôi, “Con đã hiểu rằng tri thức là một nguyền rủa, rằng tri thức tạo ra khoảng cách. Bây giờ làm sao để vứt bỏ nó?” - thì bạn không hiểu. Nếu còn hỏi ‘làm sao’ thì bạn không hiểu. Cái ‘làm sao’ không thể nảy sinh, bởi vì ‘làm sao’ là đang đòi hỏi thêm tri thức. Cái ‘làm sao’ đang đòi hỏi phương pháp, kỹ thuật: “Phải làm gì đây?” Chỉ cần trực giác là đủ; nó không cần bất cứ sự giúp đỡ nào cả. Ngọn lửa của nó quá đủ để thiêu đốt tất cả tri thức mà bạn mang trong mình. Chỉ hiểu đúng vấn đề thôi.

    Hãy nghe tôi nói, hãy đi cùng tôi. Hãy lắng nghe tôi, hãy cầm tay tôi và đi vào trong không gian mà tôi đang cố giúp bạn đi vào. Và hãy nghe rõ cái tôi đang nói, đừng tranh luận. Đừng nói có, đừng nói không. Đừng đồng ý, đừng không đồng ý. Hãy ở lại với tôi trong khoảnh khắc này - và bỗng nhiên sự sáng suốt lộ ra. Nếu bạn lắng nghe một cách chăm chú... và nói đến chăm chú tôi không có ý nói sự tập trung; chăm chú nghĩa là bạn phải lắng nghe với sự tỉnh thức, không phải với một tâm trí buồn chán. Hãy lắng nghe với sự thông minh, với sự sống động, với sự cởi mở. Hãy ở ngay đây, ngay bây giờ với tôi. Đó là điều tôi muốn nói về sự chăm chú: đừng hướng tâm trí đi đâu khác. Đừng so sánh điều tôi đang nói với ý nghĩ cũ của bạn. Đừng so sánh, đừng phán đoán. Tôi muốn nói rằng bạn đừng phán đoán, dù điều tôi đang nói là đúng hay không, hay nó đúng đến đâu.

    Mới ngày hôm nọ tôi đã nói với một người tìm đạo. Anh ta có phẩm chất của người tìm đạo, nhưng nặng gánh vì tri thức. Trong khi tôi đang nói với anh ta, mắt anh ta đẫm lệ. Trái tim anh ấy vừa sắp mở ra, và trong chính khoảnh khắc đó tâm trí nhào vô và phá hủy mọi cái đẹp của nó. Anh ta đang hướng về trái tim và cởi mở, nhưng ngay lập tức tâm trí đã chen vào. Những giọt nước mắt đó vừa mới ló ra, liền biến mất. Mắt anh ta liền khô ráo. Điều gì đã xảy ra? - Tôi đã nói điều gì đó mà anh ta không thể đồng ý. Anh ta đã đồng ý với tôi, tới điểm nào đó. Thế rồi tôi đã nói điều gì đó đi ngược lại với đầu óc Do Thái của anh ta, đi ngược lại Kabbala, và ngay lập tức mọi sự đã thay đổi. Anh ta nói, “Mọi thứ đều đúng. Bất kỳ điều gì thầy đang nói cũng đều đúng, chỉ trừ mỗi điều này: rằng Thượng Đế không có mục đích, rằng hiện sinh không mục đích - với điều này con không thể nào đồng ý được, bởi vì Kabbala nói khác hẳn - rằng cuộc sống có mục đích, rằng Thượng Đế có chủ đích, rằng Ngài đang dẫn hướng chúng ta tới một định mệnh nào đó, rằng có một cái đích.”

    Anh ta có thể không nhìn vào điều đó theo cách này - rằng anh ta đã không hiểu vì sự so sánh đã xen vào. Kabbala nói có liên quan gì tới tôi đâu? Khi bạn đang nghe tôi nói, hãy vứt tất cả các tri thức về Kabbala, về yoga, về mật tông, về cái này hay cái khác. Khi bạn đang ở cùng tôi, hãy cùng tôi đi. Nếu bạn chăm chú nghe tôi hoàn toàn... và tôi không nói rằng bạn đang đồng ý với tôi, hãy nhớ vậy. Tôi không nói rằng bạn phải đồng ý với tôi: không có vấn đề về đồng ý hay không đồng ý.

    Khi thấy một bông hồng, bạn đồng ý với nó hay không đồng ý với nó? Khi thấy mặt trời lên, bạn đồng ý hay không đồng ý? Khi ngắm trăng đêm, bạn nhìn thấy nó! Hoặc bạn thấy nó hoặc không thấy nó, nhưng không có vấn đề đồng ý hay không đồng ý.

    Theo cách đó, hãy ở cùng tôi; đó là cung cách khi ở với thầy. Hãy ở lại với tôi. Tôi không cố thuyết phục bạn về bất kỳ cái gì. Tôi không thuyết phục bạn theo một lý thuyết nào đó, một triết lý nào, một học thuyết nào, hay theo đạo nào đó, không! Tôi chỉ chia sẻ điều đã xảy ra cho tôi. Và trong chính việc chia sẻ đó, nếu bạn tham gia, điều ấy có thể xảy ra cho bạn nữa. Đấy là sự truyền nhiễm. Trực giác có sức mạnh chuyển hoá.

    Khi tôi nói tri thức là điều nguyền rủa, bạn có thể đồng ý hay không đồng ý - và cả hai trường hợp bạn đều hiểu lầm hết! Bạn chỉ lắng nghe thôi, chỉ nghe lời bàn về nó, hãy nghe rõ toàn thể tiến trình của tri thức. Bạn hiểu tri thức tạo ra khoảng cách như thế nào; tri thức trở thành rào chắn như thế nào; tri thức đứng chắn lối như thế nào; tri thức tăng trưởng như thế nào, và khoảng cách tăng trưởng như thế nào; tri thức là sự hồn nhiên mất đi như thế nào; kỳ quan bị phá hủy, bẻ quặt, tàn sát như thế nào; tri thức làm cuộc sống trở thành đờ đẫn và chán chường như thế nào. Bí ẩn mất đi, và với bí ẩn Thượng Đế cũng mất theo.

    Còn tiếp.

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  15. #15
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong

    Phủ Định Trí Thức

    "Trích Từ Tác Phẩm: Bát Nhã Tâm Kinh
    Tác Giả: Osho
    Dịch Giả : Vạn Sơn
    [email protected]"



    Tri thức phải bị phủ định. Nhưng không phải vì tôi nói thế, hay bởi vì J. Krishnamurti nói thế, hay bởi vì Phật Cồ Đàm đã nói thế. Nếu bạn phủ định bởi vì tôi đang nói thế, bạn sẽ phủ định tri thức của bạn, và bất kỳ cái gì tôi đang nói, sẽ trở thành tri thức của bạn; bạn sẽ thay thế nó. Sự phủ định không được tới từ tâm trí, nếu không, tâm trí sẽ rất ma mãnh. Thế thì bất kỳ cái gì tôi nói cũng đều trở thành tri thức của bạn, bạn sẽ bám lấy nó. Bạn vất bỏ thần tượng cũ của mình và thay thế bằng cái mới. Nhưng đấy lại là trò chơi cũ với lời lẽ mới, ý tưởng mới, ý nghĩ mới.

    Vậy thì phủ định tri thức bằng cách nào? Không phải bằng tri thức khác: chỉ cần hiểu rõ sự kiện rằng tri thức tạo ra khoảng cách, chỉ nhìn ra sự kiện này một cách mãnh liệt, toàn triệt là đủ. Không phải là phải thay thế nó bằng một cái khác; sự mãnh liệt đó là ngọn lửa, nó sẽ đốt tri thức của bạn thành tro bụi. Sự mãnh liệt đó là đủ. Sự mãnh liệt đó là cái được gọi là ‘trực giác’. Trực giác sẽ đốt cháy tri thức của bạn, và nó sẽ không bị thay thế bởi tri thức khác. Còn lại sau đó chỉ là cái trống không, shunyata. Chỉ còn chân không, bởi vì không còn gì bên trong; ở đó chân lý không bị xáo trộn, không bị bóp méo.

    Bạn phải hiểu điều tôi đang nói, và đừng học điều tôi đang nói. Bạn ngồi đây với tôi hàng ngày và nghe tôi nói, nhưng đừng thu thập tri thức, đừng tích trữ. Việc lắng nghe tôi nên coi như một thí nghiệm nội tâm. Bạn nên lắng nghe với sự mãnh liệt, với cả con người, với sự tỉnh thức cao độ nhất mà bạn có thể làm được. Trong chính sự tỉnh thức đó bạn sẽ hiểu, và chính sự hiểu biết đó sẽ thay đổi bạn. Bạn không phải làm gì cả sau này; chính sự hiểu biết sẽ đem tới sự chuyển hoá. Nếu bạn phải nỗ lực, điều đó nghĩa là bạn đã không hiểu. Nếu ngày mai bạn trở lại và hỏi tôi, “Con đã hiểu rằng tri thức là một nguyền rủa, rằng tri thức tạo ra khoảng cách. Bây giờ làm sao để vứt bỏ nó?” - thì bạn không hiểu.

    Nếu còn hỏi ‘làm sao’ thì bạn không hiểu. Cái ‘làm sao’ không thể nảy sinh, bởi vì ‘làm sao’ là đang đòi hỏi thêm tri thức. Cái ‘làm sao’ đang đòi hỏi phương pháp, kỹ thuật: “Phải làm gì đây?” Chỉ cần trực giác là đủ; nó không cần bất cứ sự giúp đỡ nào cả. Ngọn lửa của nó quá đủ để thiêu đốt tất cả tri thức mà bạn mang trong mình. Chỉ hiểu đúng vấn đề thôi.

    Hãy nghe tôi nói, hãy đi cùng tôi. Hãy lắng nghe tôi, hãy cầm tay tôi và đi vào trong không gian mà tôi đang cố giúp bạn đi vào. Và hãy nghe rõ cái tôi đang nói, đừng tranh luận. Đừng nói có, đừng nói không. Đừng đồng ý, đừng không đồng ý. Hãy ở lại với tôi trong khoảnh khắc này - và bỗng nhiên sự sáng suốt lộ ra. Nếu bạn lắng nghe một cách chăm chú... và nói đến chăm chú tôi không có ý nói sự tập trung; chăm chú nghĩa là bạn phải lắng nghe với sự tỉnh thức, không phải với một tâm trí buồn chán. Hãy lắng nghe với sự thông minh, với sự sống động, với sự cởi mở. Hãy ở ngay đây, ngay bây giờ với tôi. Đó là điều tôi muốn nói về sự chăm chú: đừng hướng tâm trí đi đâu khác. Đừng so sánh điều tôi đang nói với ý nghĩ cũ của bạn. Đừng so sánh, đừng phán đoán. Tôi muốn nói rằng bạn đừng phán đoán, dù điều tôi đang nói là đúng hay không, hay nó đúng đến đâu.

    Mới ngày hôm nọ tôi đã nói với một người tìm đạo. Anh ta có phẩm chất của người tìm đạo, nhưng nặng gánh vì tri thức. Trong khi tôi đang nói với anh ta, mắt anh ta đẫm lệ. Trái tim anh ấy vừa sắp mở ra, và trong chính khoảnh khắc đó tâm trí nhào vô và phá hủy mọi cái đẹp của nó. Anh ta đang hướng về trái tim và cởi mở, nhưng ngay lập tức tâm trí đã chen vào. Những giọt nước mắt đó vừa mới ló ra, liền biến mất. Mắt anh ta liền khô ráo. Điều gì đã xảy ra? - Tôi đã nói điều gì đó mà anh ta không thể đồng ý. Anh ta đã đồng ý với tôi, tới điểm nào đó. Thế rồi tôi đã nói điều gì đó đi ngược lại với đầu óc Do Thái của anh ta, đi ngược lại Kabbala, và ngay lập tức mọi sự đã thay đổi. Anh ta nói, “Mọi thứ đều đúng. Bất kỳ điều gì thầy đang nói cũng đều đúng, chỉ trừ mỗi điều này: rằng Thượng Đế không có mục đích, rằng hiện sinh không mục đích - với điều này con không thể nào đồng ý được, bởi vì Kabbala nói khác hẳn - rằng cuộc sống có mục đích, rằng Thượng Đế có chủ đích, rằng Ngài đang dẫn hướng chúng ta tới một định mệnh nào đó, rằng có một cái đích.”

    Anh ta có thể không nhìn vào điều đó theo cách này - rằng anh ta đã không hiểu vì sự so sánh đã xen vào. Kabbala nói có liên quan gì tới tôi đâu? Khi bạn đang nghe tôi nói, hãy vứt tất cả các tri thức về Kabbala, về yoga, về mật tông, về cái này hay cái khác. Khi bạn đang ở cùng tôi, hãy cùng tôi đi. Nếu bạn chăm chú nghe tôi hoàn toàn... và tôi không nói rằng bạn đang đồng ý với tôi, hãy nhớ vậy. Tôi không nói rằng bạn phải đồng ý với tôi: không có vấn đề về đồng ý hay không đồng ý.

    Còn tiếp.

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  16. #16
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong

    Phủ Định Trí Thức

    "Trích Từ Tác Phẩm: Bát Nhã Tâm Kinh
    Tác Giả: Osho
    Dịch Giả : Vạn Sơn
    [email protected]"



    Khi thấy một bông hồng, bạn đồng ý với nó hay không đồng ý với nó? Khi thấy mặt trời lên, bạn đồng ý hay không đồng ý? Khi ngắm trăng đêm, bạn nhìn thấy nó! Hoặc bạn thấy nó hoặc không thấy nó, nhưng không có vấn đề đồng ý hay không đồng ý.

    Theo cách đó, hãy ở cùng tôi; đó là cung cách khi ở với thầy. Hãy ở lại với tôi. Tôi không cố thuyết phục bạn về bất kỳ cái gì. Tôi không thuyết phục bạn theo một lý thuyết nào đó, một triết lý nào, một học thuyết nào, hay theo đạo nào đó, không! Tôi chỉ chia sẻ điều đã xảy ra cho tôi. Và trong chính việc chia sẻ đó, nếu bạn tham gia, điều ấy có thể xảy ra cho bạn nữa. Đấy là sự truyền nhiễm. Trực giác có sức mạnh chuyển hoá.

    Khi tôi nói tri thức là điều nguyền rủa, bạn có thể đồng ý hay không đồng ý - và cả hai trường hợp bạn đều hiểu lầm hết! Bạn chỉ lắng nghe thôi, chỉ nghe lời bàn về nó, hãy nghe rõ toàn thể tiến trình của tri thức. Bạn hiểu tri thức tạo ra khoảng cách như thế nào; tri thức trở thành rào chắn như thế nào; tri thức đứng chắn lối như thế nào; tri thức tăng trưởng như thế nào, và khoảng cách tăng trưởng như thế nào; tri thức là sự hồn nhiên mất đi như thế nào; kỳ quan bị phá hủy, bẻ quặt, tàn sát như thế nào; tri thức làm cuộc sống trở thành đờ đẫn và chán chường như thế nào. Bí ẩn mất đi, và với bí ẩn Thượng Đế cũng mất theo.

    Bí ẩn biến mất bởi vì bạn đã có ý tưởng rằng bạn biết. Nếu bạn biết rồi, làm sao còn bí ẩn nữa? Bí ẩn chỉ có thể có khi bạn không biết.

    Và hãy nhớ, con người chẳng biết gì hết! Tất cả những cái mà chúng ta đã thu thập đều chỉ là rác rưới. Điều tối hậu vẫn còn bên ngoài sự hiểu biết. Cái chúng ta thu thập chỉ là sự kiện, chân lý vẫn còn vượt tầm với của chúng ta, dù có nỗ lực đến đâu. Và đó là kinh nghiệm không phải chỉ của Đức Phật, của Krishna, của Krishnamurti hay của Rama; đấy là kinh nghiệm ngay cả của Edison, của Newton, của Albert Einstein . Đấy là kinh nghiệm của các nhà thơ, họa sĩ, vũ công. Những thiên tài của thế giới - họ có thể là nhà huyền môn, có thể là nhà thơ, có thể là nhà khoa học – tất cả đều hoàn toàn đồng ý về một điều: rằng càng biết nhiều, chúng ta càng hiểu rằng cuộc sống là một bí ẩn hoàn toàn. Tri thức của chúng ta không phá hủy được bí ẩn của đời sống. Chỉ người ngu mới nghĩ rằng vì họ mới biết có chút ít, nên bây giờ không còn bí ẩn nào trong cuộc sống. Chỉ tâm trí tầm thường mới quá gắn bó với tri thức; tâm trí sáng suốt không coi trọng tri thức. Họ dùng nó, chắc chắn phải dùng nó - nó là một lợi ích, nó là một tiện ích - nhưng họ biết rất rõ rằng tất cả những cái đúng đắn đều bị giấu kín, vẫn còn bị giấu kín. Chúng ta có thể biết càng ngày càng nhiều, nhưng Thượng Đế vẫn mãi mãi vô tận.
    Hãy lắng nghe với trực giác, một cách chăm chú, với cả con người. Và trong chính tâm trạng đó bạn sẽ thấy điều huyền diệu, và việc đó làm thay đổi bạn. Bạn không hỏi “cách nào” nữa.

    Đó là ý nghĩa khi Krishnamurti nói, “Phủ định là im lặng.” Trực giác phủ định tất cả mọi loại tri thức. Và khi một cái gì đó bị phủ định và không có gì được thay thế vào đó, khi một cái gì đó đã bị phá hủy và không có gì khác được đặt vào, được thay thế vào chỗ của nó thì có im lặng. Bởi vì ở đó có khoảng trống. Có im lặng bởi vì cái cũ đã bị ném đi mà cái mới chưa được thay thế. Cái im lặng đó Phật gọi là shunyata. Cái im lặng đó là cái trống không, chân không. Và chỉ chân không đó mới có thể hiện diện trong thế giới của chân lý.
    Ý nghĩ không thể hiện diện ở đó. Ý nghĩ chỉ hoạt động trong thế giới của sự vật bởi vì ý nghĩ cũng là sự vật - tinh tế, nhưng nó cũng là vật chất. Đấy là lý do tại sao ý nghĩ có thể được ghi lại, đó là lý do tại sao ý nghĩ có thể được chuyển tiếp, được truyền đạt. Tôi có thể phóng một ý nghĩ vào bạn; bạn có thể giữ lấy nó, bạn có thể có nó. Nó có thể được cho và nhận, có thể chuyền tay được, bởi vì nó là một vật. Nó là một hiện tượng của vật chất.

    Cái trống không không thể cho đi, không thể nào được dùng để nhắm vào bạn được. Bạn có thể tham gia, có thể hòa tan vào trong nó, nhưng không ai có thể trao nó cho bạn. Nó không thể trao đổi được. Và chỉ có cái trống không mới vận hành được trong thế giới chân lý. Chân lý chỉ được biết tới khi tâm trí vắng mặt. Muốn biết chân lý thì tâm trí phải tĩnh chỉ, nó phải chấm dứt hoạt động. Nó phải im lặng, tĩnh lặng, không giao động.

    Ý nghĩ không thể nào vận hành trong chân lý, nhưng chân lý thì lại có thể vận hành qua ý nghĩ. Bạn không thể nào đạt tới chân lý bằng suy tư, nhưng khi đắc đạo thì bạn có thể dùng ý tưởng để phục vụ chân lý. Đó là điều tôi đang làm, đó là điều Phật đã làm, đó là điều thánh nhân xưa nay đã làm.


    Còn tiếp.

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  17. #17
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong

    Phủ Định Trí Thức

    "Trích Từ Tác Phẩm: Bát Nhã Tâm Kinh
    Tác Giả: Osho
    Dịch Giả : Vạn Sơn
    [email protected]"


    Điều tôi đang nói là một ý nghĩ, nhưng đằng sau đó là chân không. Cái trống không đó không phải là sản phẩm của ý nghĩ; nó nằm ngoài ý nghĩ. Ý nghĩ không thể vươn tới đó được; thậm chí ý nghĩ cũng không thể suy tư về nó.
    Bạn đã bao giờ quan sát hiện tượng này chưa? - đó là bạn không thể nghĩ về cái trống không được; bạn không thể nào biến cái trống không thành một ý nghĩ. Bạn không thể nào nghĩ về nó; nó là cái không thể suy nghĩ được. Nếu bạn có thể nghĩ về nó, nó không còn là trống không nữa. Ý nghĩ phải ra đi để nhường chỗ cho cái trống không; chúng chưa gặp nhau bao giờ. Một khi cái trống không đã tới, nó có thể dùng mọi phương tiện để diễn tả về nó.

    Trực giác là trạng thái không còn ý nghĩ. Bất kỳ khi nào bạn khám phá cái gì đó, bao giờ bạn cũng nhận được khi không có ý nghĩ. Tại đây cũng vậy, khi nghe tôi nói, đôi khi bạn đạt được trạng thái ấy. Nhưng những khoảnh khắc đó là khoảng trống không có ý nghĩ. Một ý nghĩ đã qua, mà ý nghĩ khác chưa tới thì có khoảng trống; và trong khoảng trống đó cái gì đó lóe lên, cái gì đó bắt đầu rung động. Thí dụ như cái trống: nó trống rỗng bên trong. Vì vậy mới có chỗ dụng của nó. Cái âm thanh tạo ra được từ cái trống không. Khi tâm trí bạn không có ý nghĩ, cái gì đó có thể, rất có thể xảy ra. Thế thì bạn có thể hiểu được điều tôi đang nói. Và như vậy điều tôi đang nói không phải chỉ là lời bạn nghe thấy, mà nó trở thành một trực giác, một sự thấu suốt, một mặc khải. Bạn đã thể nghiệm; bạn đã chia sẻ với tôi.

    Trực giác là trạng thái không suy nghĩ, không ý nghĩ. Nó là khoảng trống, một khoảng hở trong tiến trình suy nghĩ, và trong khoảng trống đó là chân lý.
    Từ ‘empty’ (trống không) trong tiếng Anh bắt nguồn từ một gốc có nghĩa là giải trí, nhàn rỗi. Đó là một từ rất đẹp nếu hiểu từ gốc rễ. Từ gốc ấy rất ý nghĩa: nó có nghĩa là giải trí, nhàn rỗi, buông lỏng. Bất kỳ khi nào nhàn rỗi, giải trí, bạn trống không. Và hãy nhớ, câu ngạn ngữ ‘nhàn cư vi bất thiện’ là hoàn toàn vô nghĩa. Chính điều ngược lại mới là đúng: tâm trí bận bịu là chỗ ở của ma quỉ. Tâm trí trống không là đền thờ của Thượng Đế, không phải của quỉ. Nhưng bạn phải hiểu ý tôi nói ‘trống không’ là gì – buông lơi, thảnh thơi, không căng thẳng, không vọng động, không ham muốn, không mơ màng, hoàn toàn tỉnh thức. Một tâm trí trống không là sự hiện diện toàn vẹn. Và mọi sự đều có thể xảy ra trong sự hiện diện toàn vẹn đó, bởi vì toàn bộ vạn hữu bắt nguồn từ sự hiện diện tuyệt đối ấy.

    Cây cối lớn lên từ sự hiện diện thuần khiết đó, trăng sao này được sinh ra từ sự hiện diện thuần khiết đó; chúng ta và chư Phật, tất cả đều bắt nguồn từ sự hiện diện thuần khiết này. Trong sự hiện diện thuần khiết đó bạn là một với Thượng Đế, bạn là Thượng Đế. Tâm trí bận bịu thì bạn sa ngã; tâm trí bận bịu thì bạn bị đuổi ra khỏi vườn Địa đàng. Khi nhàn rỗi bạn quay trở lại vườn này, khi nhàn rỗi bạn đã trở về nhà.

    Khi tâm trí không bận bịu bởi thực tại, bởi sự vật, bởi ý tưởng thì thấy được chân tướng của sự vật. Và chân tướng ấy là chân lý. Chỉ trong chân không mới có sự gặp gỡ, hội nhập. Chỉ trong chân không bạn mới cởi mở với chân lý, và chân lý thâm nhập vào trong bạn. Chỉ trong chân không bạn mới trở thành hàm súc với chân lý.

    Tâm trí có ba trạng thái.

    Trạng thái thứ nhất là nội dung và tâm thức. Tâm trí bao giờ cũng có nội dung - một ý nghĩ chuyển động, một ham muốn nảy sinh, tham, sân, si. Tâm trí bạn bao giờ cũng có ý tưởng nào đó, không bao giờ nhàn rỗi cả. Giao thông đều đều, ngày này qua ngày khác. Khi bạn tỉnh ngủ nó có mặt; khi bạn ngủ mê, nó cũng có mặt. Khi tỉnh ngủ, bạn gọi nó là suy nghĩ; khi ngủ, bạn gọi là mơ mộng - cả hai chỉ là một tiến trình mà thôi. Mơ mộng đơn giản hơn; đó là sự suy nghĩ bằng hình ảnh. Nó không dùng đến khái niệm, mà dùng hình ảnh. Nó đơn giản hơn; trẻ con cũng suy nghĩ bằng hình ảnh. Cho nên sách cho trẻ con phải có hình lớn, nhiều màu sắc bởi vì chúng nghĩ qua hình ảnh. Qua hình ảnh chúng sẽ học mặt chữ. Dần dần những hình ảnh đó bé dần đi, và cuối cùng không cần nữa.

    Người tiền sử cũng nghĩ bằng hình ảnh. Chữ viết lâu đời nhất là chữ tượng hình. Chữ Tầu là tượng hình, không có mẫu tự. Nó là chữ viết cổ đại nhất. Khi ngủ, bạn trở nên đơn giản hơn; bạn quên mất cái phức tạp của ban ngày và suy nghĩ bằng hình ảnh - nhưng chỉ là một.

    Và phát kiến của các nhà phân tâm cũng có giá trị - họ nghiên cứu giấc mơ của bạn. Như vậy thì đúng hơn bởi vì bạn đơn sơ hơn trong mộng; bạn không cố gắng lừa dối ai, bạn chân thực hơn. Ban ngày bạn mang nhiều mặt nạ để che dấu mình - hết tầng cá tính nọ đến tầng cá tính kia, rất khó mà tìm ra con người thật. Phải đào sâu qua những mặt nạ ấy, và điều đó chạm tự ái, và bạn sẽ kháng cự. Nhưng trong đêm, ngay khi cởi quần áo ra đi ngủ, bạn cũng cởi bỏ luôn cá tính của mình đi nữa. Bạn không cần nó nữa bởi vì bạn sẽ không giao thiệp với bất kỳ ai, còn lại chỉ có một mình bạn. Bạn sẽ cắt đứt với thế giới bên ngoài và tuyệt đối đơn độc trong cõi riêng tư của mình.

    Không cần phải che dấu, không cần giả vờ. Đó là lý do tại sao các nhà phân tâm muốn nghiên cứu giấc mơ của bạn, bởi vì chúng bày tỏ về bạn một cách trung thực hơn. Đấy cũng lại là cùng một trò chơi nhưng diễn ra trong ngôn ngữ khác mà thôi. Đây là trạng thái thông thường của tâm trí: tâm trí và nội dung, tâm thức cộng với nội dung.

    Còn tiếp.

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  18. #18
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Bát Nhã Tâm Kinh - Phủ Định Trí Thức

    Phủ Định Trí Thức

    "Trích Từ Tác Phẩm: Bát Nhã Tâm Kinh
    Tác Giả: Osho
    Dịch Giả : Vạn Sơn
    [email protected]"


    Trạng thái thứ hai của tâm trí là tâm thức không nội dung; đó chính là ý nghĩa của thiền. Bạn hoàn toàn tỉnh táo, và có khoảng trống, một khe hở. Không ý nghĩ nào hiện lên trong tâm thức của bạn. Bạn không ngủ và hoàn toàn tỉnh thức - nhưng không có ý nghĩ. Đây là thiền. Trạng thái thứ nhất gọi là tâm trí, trạng thái thứ hai được gọi là thiền.

    Và còn có trạng thái thứ ba. Khi nội dung đã biến mất, khi khách thể cũng biến mất, chủ thể không thể nào còn lại được - bởi vì chúng nương nhau mà có. Chúng sinh ra lẫn nhau. Khi chỉ còn lại chủ thể, nó chỉ lơ lửng thêm một chút nữa, nhờ cái trớn của quá khứ. Không có nội dung, ý thức không thể nào tồn tại lâu dài được; nó sẽ không có chỗ dùng nữa. Bởi vì ý thức bao giờ cũng là một ý thức về cái gì đó. Khi bạn nói ‘ý thức’ người ta có thể hỏi “Về cái gì?” Bạn nói, “Tôi đang ý thức về...” Phải cần có khách thể; nó là cái phải có để chủ thể tồn tại. Một khi khách thể đã biến mất, chẳng bao lâu chủ thể cũng sẽ mất theo. Trước hết nội dung ra đi, sau đó là ý thức theo sau.

    Trạng thái thứ ba được gọi là thiền định (samadhi) - không nội dung, không ý thức. Nhưng hãy nhớ, cái không nội dung này, không ý thức này không phải là trạng thái vô ý thức. Nó là trạng thái của siêu ý thức, của ý thức siêu việt. Tâm thức bây giờ chỉ là ý thức về chính nó. Ý thức đã hướng về chính nó; vòng tròn được kiện toàn. Bạn đã về nhà. Đây là trạng thái thứ ba - samadhi - mà Phật gọi chân không.

    Trước hết hãy gạt bỏ nội dung - bạn còn trống một nửa, sau đó gạt bỏ tâm thức - bạn trở thành trống không hoàn toàn. Và cái trống không hoàn toàn này là điều đẹp đẽ nhất có thể xảy ra, một phúc lạc lớn nhất.

    Trong chân không này, trong cái trống không này, trong cái vô ngã này, bạn sẽ an toàn và hoàn toàn ổn định. Bạn sẽ ngạc nhiên mà biết rằng sự an toàn và ổn định trọn vẹn khi cái ta không còn. Tất cả mọi lo sợ đều biến mất. Bởi vì cái sợ cơ bản là gì? Cái sợ căn bản là sợ chết. Tất cả các nỗi sợ khác chỉ là phản ánh của cái sợ căn bản này. Tất cả các nỗi sợ khác đều có thể qui về cái sợ này: sợ chết. Sợ rằng ngày nào đó mình biến mất, một ngày nào đó mình phải chết. Mình đang sống đây, rồi một ngày sẽ tới khi mình sẽ không còn nữa. Điều đó rất đáng sợ; đó là nỗi sợ căn bản.

    Để tránh cái sợ đó chúng ta tìm mọi cách để có thể sống càng lâu càng tốt. Và chúng ta cố gắng làm cho cuộc sống mình an toàn. Chúng ta sẽ nhượng bộ để được an ninh hơn, an toàn hơn, chỉ vì cái sợ đó. Chúng ta trở nên tê liệt, bởi vì càng an toàn hơn, càng an ninh hơn, bạn sẽ càng kém sống động hơn.

    Cuộc sống hiện hữu giữa những thách đố và vươn lên trong khủng hoảng. Cuộc sống cần bất an. Nó trưởng thành trong mảnh đất của bất an. Khi mà bạn thấy bấp bênh, bạn sẽ thấy mình sống động hơn, tỉnh táo hơn. Đó là lý do tại sao người giầu lại trở thành đờ đẫn: một loại đần độn và ngẩn ngơ bao quanh họ. Họ an toàn quá, chẳng còn thách thức nào nữa. Họ an toàn quá, không cần đến trí thông minh nữa. Họ an toàn quá - vậy họ cần thông minh để làm gì? Thông minh chỉ cần tới khi có thách đố. Thông minh được mài giũa bởi thách đố.

    Cho nên vì sợ chết mà chúng ta cố gắng để được an toàn, để có tiền trong ngân hàng, để có bảo hiểm, có hôn nhân, để được an cư, để được lạc nghiệp. Chúng ta trở thành công dân của một nước, gia nhập đảng phái chính trị, gia nhập tôn giáo. Đó là những cách để tìm an ninh. Đó là những chỗ chúng ta tìm mà gia nhập - tổ quốc, đạo pháp. Bởi nỗi sợ này nên bạn bị chính khách và thầy tu lợi dụng mãi. Nếu bạn không sợ gì, không chính khách, không thầy tu nào có thể lợi dụng bạn được. Chính vì bạn sợ nên ông ta mới có thể khai thác được, bởi vì ông ta có thể làm cho bạn được an toàn - ít nhất ông ta cũng có thể hứa là làm được: “Điều này sẽ giúp bạn an toàn, bảo đảm trăm phần trăm.” Hàng có thể chẳng bao giờ nhận được - đấy lại là việc khác - nhưng cứ hứa đã... Và chính lời hứa ấy làm mọi người bị bóc lột, bị áp bức. Nó đã trói buộc mọi người.

    Một khi đã biết cái chân không nội tâm này, bạn không còn sợ gì nữa, bởi vì cái chết đã xảy ra rồi. Trong cái trống không đó nó đã xảy ra. Trong cái trống không đó bạn đã biến mất. Vậy thì sao bạn có thể sợ gì nữa? Sợ cái gì? Sợ ai? Bạn đâu còn nữa để mà sợ? Trong cái trống không này mọi sợ hãi đều biến mất bởi vì cái chết đã xảy ra rồi. Cho nên không còn cái chết nào nữa. Bạn cảm thấy bất tử, vô thời gian. Vĩnh cửu đã tới. Bây giờ bạn không tìm kiếm an ninh nữa, không cần nữa.

    Đây là trạng thái của sannyasin. Đây là trạng thái mà một người không cần quốc gia, không cần tôn giáo, hay những nhảm nhí như thế.

    Chỉ khi đã trở thành chân không bạn mới có thể là chính mình. Nghe có vẻ nghịch lý.

    Và bạn không cần phải thỏa hiệp. Bởi vì sợ và tham lam mà người ta phải thỏa hiệp. Và bạn có thể sống bất cần bởi vì không có gì để mất cả. Bạn có thể trở thành bất khuất; không có gì để sợ cả. Không ai có thể giết bạn được vì bạn đã làm điều đó rồi. Không ai có thể lấy bất kỳ cái gì của bạn được vì bạn đã vất bỏ tất cả những cái có thể lấy đi rồi. Bây giờ bạn trụ trong chân không, bạn là chân không. Do đó mới có hiện tượng nghịch lý này: rằng trong chân không này lại có an ninh lớn, an toàn lớn, ổn định lớn - vì không thể chết thêm một lần nữa được.

    Và với cái chết, thời gian biến mất. Và tất cả các vấn đề từng do cái chết và thời gian gây ra cũng mất theo cái chết. Sau tất cả những biến mất này, cái còn lại là bầu trời trong suốt. Bầu trời thuần khiết này là samadhi, là niết bàn. Phật đã nói nhiều về điều này.

    Những lời kinh này đã được nói cho Sariputra (Xá Lợi Phất), một trong các đại đệ tử của Phật. Tại sao lại Sariputra?

    Còn tiếp.

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  19. #19
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Phủ Định Trí Thức

    Phủ Định Trí Thức

    "Trích Từ Tác Phẩm: Bát Nhã Tâm Kinh
    Tác Giả: Osho
    Dịch Giả : Vạn Sơn
    [email protected]"


    Ngày đầu tiên tôi đã nói cho các bạn rằng có bảy giai đoạn, bảy bậc của chiếc thang. Bậc thứ bảy là sự siêu việt: Thiền, Mật tông, Lão. Bậc thứ sáu là siêu việt tâm linh: yoga. Cho tới bậc thứ sáu, phương pháp vẫn còn quan trọng, ‘làm sao’ vẫn còn là quan trọng. Cho tới bậc thứ sáu, kỷ luật vẫn còn quan trọng, lễ nghi còn quan trọng, kỹ thuật vẫn còn quan trọng. Chỉ khi đạt tới bậc thứ bảy, bạn mới thấy chẳng cần gì nữa.

    Sariputra được dạy trong kinh này vì Sariputra đã ở trung tâm thứ sáu, bậc thứ sáu. Ông ấy là một trong những đại đệ tử của Phật. Phật có tám mươi đại đệ tử; Sariputra là một trong trong số người này. Ông ấy là đệ tử hiểu biết nhất của Phật. Ông ấy cũng là học giả lỗi lạc nhất. Khi đến với Phật, ông ấy đã có năm ngàn đệ tử.

    Khi tới gặp Phật lần đầu tiên, ông ấy tới để tranh luận, để đấu lý và đánh bại Phật. Ông ấy tới với năm ngàn đệ tử của mình - để khoa trương. Và khi đối diện với ông ấy, Phật cười to.

    Ngài nói, “Sariputra, ông biết quá nhiều, nhưng lại chẳng biết gì cả. Tôi biết ông đã thâu thập rất nhiều tri thức, nhưng ông thì rỗng tuếch. Ông tới để tranh luận và để đánh bại ta, nhưng nếu ông thực sự muốn thảo luận với ta, ông sẽ phải đợi ít nhất là một năm.”

    Sariputra nói, “Một năm ư? Để làm gì vậy?”

    Phật nói, “Ông sẽ phải giữ im lặng trong một năm; đó là cái giá phải trả. Nếu có thể giữ im lặng trong một năm, ông có thể tranh luận với ta bởi vì điều ta định nói với ông sẽ tới từ im lặng. Ông cần có một chút ít kinh nghiệm về nó. Và dưới mắt ta, Sariputra, ông chưa biết im lặng là gì. Ông ngập tràn tri thức; đầu ông nặng nề quá. Ta thấy tội nghiệp cho ông, Sariputra. Ông đã mang của nợ đó trong nhiều kiếp rồi. Không phải ông chỉ là Bà La Môn trong kiếp này. Sariputra, ông đã từng là brahmin trong nhiều kiếp rồi. Và trong nhiều kiếp ông từng mang nặng nào là kinh Vệ Đà và nào là kinh sách. Đó là cách sống của ông trong nhiều kiếp... nhưng ta thấy nhiều hứa hẹn. Ông là mọt sách, nhưng thế mà lại nhiều triển vọng. Ông là người hiểu biết, nhưng tri thức của ông vẫn chưa che lấp hoàn toàn bản thể ông; một vài cửa sổ vẫn còn mở. Ta muốn, trong một năm, lau sạch những cửa sổ này, để sửa soạn cho sự gặp gỡ, cho việc đàm đạo và sự sống của chúng ta. Hãy ở lại đây trong một năm.”

    Điều này thật kì lạ. Sariputra đã từng ngao du khắp nước, đánh bại mọi người. Đó là một truyền thống của Ấn Độ: người trí thức hay du hành khắp nước và đánh bại người khác trong những cuộc tranh luận và thảo luận lớn. Và điều đó được coi là một trong những việc vĩ đại phải làm. Nếu thắng cả nước và đánh bại tất cả các học giả, người đó có một vinh dự rất lớn. Người đó được coi trọng hơn cả vua chúa, hơn cả người giầu có.

    Sariputra đã du hành. Và theo lẽ tự nhiên, ông ấy không thể tự tuyên bố là mình thắng khi chưa đánh bại được Phật. Cho nên ông ấy đã tới vì điều đó. Ông ấy chấp nhận điều kiện và nói, “Được, nếu phải đợi một năm, tôi sẽ đợi.” Và trong một năm ông ấy đã ngồi trong im lặng. Trong một năm, cái im lặng đã ngấm vào ông ấy.

    Một năm sau Phật hỏi ông ta, “Bây giờ chúng ta có thể thảo luận, và ông có thể đánh bại tôi, Sariputra. Ta sẽ sung sướng vô cùng được ông đánh bại.”

    Ông ấy cười lớn và quỳ xuống chân Phật mà nói, “Xin thầy hãy điểm đạo cho con. Trong một năm im lặng này, lắng nghe thầy, đã có vài khoảnh khắc được trí huệ mở ra. Mặc dầu tới như một đối thủ, con tự nghĩ, ‘Trong khi ngồi lặng thinh suốt một năm, tại sao ta không lắng nghe người này, nghe người ấy nói gì?’ Cho nên từ sự tò mò mà con bắt đầu lắng nghe.

    Nhưng nhiều lúc thầy đã qui phục con; thầy đã làm tim con rung động; từng phím đàn bên trong con ngân lên, và con đã nghe được tiếng nhạc. Thầy đã đánh bại con mà không phải tranh luận.”

    Sariputra trở thành đệ tử Phật, và năm ngàn đệ tử của ông ấy cũng quy y theo Phật. Sariputra là một trong những học giả rất nổi tiếng thời đó. Những lời kinh này nói cho Sariputra.

    Tại đây, này Sariputra, sắc tức là không, không tức là sắc, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc chính là không, không chính là sắc.
    Thọ, hành, tưởng, thức cũng đều như thế.



    Tại đây, này Sariputra... Phật muốn nói gì khi nói ‘tại đây’? Ngài muốn nói tới không gian của mình. Ngài nói, “Nhìn từ thế giới của ta, từ quan điểm siêu việt, từ không gian nơi ta hiện hữu và cái vĩnh hằng nơi ta hiện hữu...”

    Tại đây, này Sariputra, sắc tức là không, không tức là sắc;

    Đây là một trong những tuyên cáo quan trọng nhất. Toàn bộ giáo pháp của Phật giáo nằm gọn trong điều này: rằng cái hiển hiện là cái ẩn tàng; rằng hình sắc chẳng qua là một hình thức của chính cái trống không, và cái trống không cũng chẳng là gì ngoài hình sắc, khả hữu của hình sắc. Phát biểu này là phi logic và thoạt nhìn có vẻ là vô nghĩa. Làm sao hình sắc lại có thể là trống không được? Chúng là những cái đối lập. Sao trống không có thể là hình sắc được? Chúng là hai đối cực.

    Một điều cần phải được hiểu trước khi chúng ta bàn về kinh một cách đúng đắn: Phật không dùng logic, mà dùng biện chứng.

    Còn tiếp.

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  20. #20
    Join Date
    Sep 2008
    Posts
    5,125
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post

    Default Re: Bát Nhã Tâm Kinh - Phật Bên Trong

    Tui đồng ý là " Phật bên trong " nhưng cũng cần " Phật bên ngoài " hai bên hổ tương nhau để mà hành trì Phật Pháp.
    Sống vì Tổ Quốc-Dân Tộc Việt Nam .
    ( Ai là người Việt Nam thì phải biết yêu nước . )



    -Không theo Đại Thừa - Tịnh Độ để đưa Dân tộc diệt vong .
    -Không tiếp tay làm tay sai để nô lệ Hán tộc 1.000 năm .
    -Không tiếp tay cho thực dân ngoại bang và Vatican đô hộ Việt Nam .

    Việt Nam anh hùng - Bền vững muôn năm .



Page 1 of 3 123 LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Mười Điều Răn trong Kinh Khánh
    By tondo in forum Tìm hiểu về Công Giáo
    Replies: 8
    Last Post: 06-07-2012, 12:27 PM
  2. Bắc Kinh trừ mưa như thế nào trong kỳ Olympic
    By thangvietcong in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 1
    Last Post: 07-03-2008, 01:07 PM
  3. Đuốc Olympic Bắc Kinh qua London trong nhục nhã
    By hny1984 in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 9
    Last Post: 04-07-2008, 06:07 AM
  4. Học Kinh Thánh trong Tam Kỳ Phổ Độ
    By daocaodai in forum Tìm hiểu về Cao Đài Đại Đạo
    Replies: 0
    Last Post: 02-25-2008, 08:32 PM
  5. Kinh Tế TƯ BẢN trong Chế Độ Cọng Sản
    By Hunhanh in forum Bình Luận Tin Tức
    Replies: 5
    Last Post: 11-06-2007, 09:43 AM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •