Page 1 of 3 123 LastLast
Results 1 to 20 of 55

Thread: Mật Tông Tâm Pháp (Tập I) :)

  
  1. #1
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Mật Tông Tâm Pháp (Tập I) :)

    "Thế Giới Của Mật Tông"



    Trích từ tác phẩm"Mật Tông Tâm Pháp"
    Bàn về bộ kinh Vigyana Bhairava Tantra
    với 112 Phương Pháp Thiền Của Shiva
    Chuyển ngữ: Vạn Sơn 2007
    [email protected]


    Giới Thiệu

    Osho nói rằng thiền là một khoa học. Đó là một phát biểu rất đơn giản nhưng có rất nhiều ý nghĩa. Thiền không phải tín ngưỡng, không phải giáo điều, không phải nghi lễ mà là một khoa học, một sự thí nghiệm không phải với thế giới bên ngoài, mà trong thế giới nội tâm của hành giả.

    Khoa học đó đã được các nhà huyền môn thực hành trong nhiều ngàn năm mà đám đông chỉ nghe nói tới. Kiến thức đó không thể học qua sách vở, mặc dù tài liệu về khoa học đó không hề thiếu, chẳng hạn bộ Mật Tông Tâm Pháp này. Tuy nhiên, ý nghĩa của những thánh thư đó chỉ có thể được truyền bởi những người đã đi qua những con đường đó. Chúng chỉ có thể được truyền từ đạo sư qua đệ tử.

    Con người hiện đại, đặc biệt là Tây Phương, và Đông Phương ngày càng bị Tây Phương hóa, đã quên hẳn thiền là gì; tất cả đã thay nó bằng tín ngưỡng và nghi lễ. Chúng ta có những thoáng nhìn về thiền khi bị ngẩn ngơ trước vẻ đẹp, hay câm nín khi được yêu. Nhưng chúng ta đã được điều kiện hóa để nhìn ra ngoài, đến nỗi chúng ta quên hẳn thế nào là nhìn vào bên trong. Mà nếu thỉnh thoảng có nhìn vào bên trong, chúng ta rất căng thẳng, rất phức tạp, quá bận rộn về những ưu tư bên ngoài đến nỗi chúng ta không biết bắt đầu từ đâu, hay bằng cách nào.

    Đó là việc làm của Osho. Ngài đã dành cả đời hoằng pháp của Ngài để làm sáng tỏ khoa học đó và giúp con người hiện đại hiểu được nó. Những bài giảng về những phương pháp mà Shiva nói với hiền thê Devi là một trong những kiệt tác của Osho. Những bài giảng của Ngài về một trăm mười hai phương pháp thiền của bộ Mật Tông Tâm Pháp này là toàn bộ khoa học về thiền. Osho nói rằng bộ kinh ấy đều có những phương pháp cho mỗi loại người trên thế gian này. Ngài giảng mỗi phương pháp và trả lời những câu hỏi liên quan đến những phương pháp đó. Ngài khuyến khích người nghe thực tập những phương pháp đó một cách thư giãn để biết phương pháp nào thích hợp với mình, mà nếu đã thử tất cả mà không cảm thấy cái nào thích hợp, thiền không phải là cái họ phải quan tâm.

    Cho nên điều quan trọng nhất là bạn không phải chỉ là một độc giả, mà là một khoa học gia của chính thế giới nội tâm của bạn. Và một vài điều có thể hữu ích cho bạn nên chúng tôi muốn nêu ra trong phần giới thiệu này.

    Trong phần đầu của tập sách này Osho so sánh giữa Yoga và Mật tông. Yoga là con đường của ý chí, mà Mật tông là con đường buông thả, tự nhiên. Ngài nói rằng Tây Phương đã có một ý chí được phát triển rất mạnh, và vì lý do đó Yoga không giúp họ được nhiều lắm. Mật tông là con đường xây trên sự chấp nhận. Ngài nói,

    "Mật tông nói bạn phải chấp nhận bất cứ bạn là gì. Bạn là một bí ẩn với nhiều sinh lực trong mọi chiều. Hãy chấp nhận sinh lực đó với sự nhạy cảm sâu sắc, với tỉnh thức, với tình yêu, với hiểu biết. Hãy đi theo sinh lực ấy. Được vậy thì mỗi ham muốn đều trở thành một phương tiện để vượt qua nó, và mọi sinh lực đều có lợi ích riêng của nó. Và thế giới này sẽ là Niết Bàn; thân xác này sẽ là một đền thờ."

    Osho cũng nói rằng nếu biết thế nào là yêu, chúng ta chẳng cần phải học một phương pháp thiền nào cả. Bởi vì nhiều lắm là chúng ta chỉ có những thoáng nhìn về tình yêu, những phương pháp này có thể giúp chúng ta vượt qua giới hạn của chúng ta. Nhưng nếu không được Osho hướng dẫn, những phương pháp này thật là khó hiểu.

    Osho giải thích mỗi phương pháp một cách kiên nhẫn, và Ngài nói rõ phương pháp nào thích hợp loại người nào. Chẳng hạn, có những phương pháp thích hợp giới trí thức; lại có những phương pháp hợp với người nhiều cảm xúc.

    "Suy nghĩ và cảm xúc là hai loại căn bản. Bạn phải biết bạn thuộc loại nào. Và chẳng có loại nào cao, loại nào thấp. Đừng nghĩ rằng trí thức cao hơn cảm xúc. Không! Chúng chỉ là những loại người khác nhau. Không có ai cao hơn hay thấp hơn."

    Chỉ riêng lời khuyên này cũng tiết kiệm cho chúng ta rất nhiều thời giờ để biết phương pháp nào không hợp với loại người của chúng ta.

    Những phương pháp này này cũng khác hẳn nhau vì chúng dựa vào giác quan. Có cái liên quan đến mắt, đến thị giác, đến hình ảnh. Có những phương pháp dùng cho âm thanh. Lại có cái áp dụng cho vị giác và khứu giác.

    Những phương pháp ấy cũng có liên hệ với những trung tâm sinh lực của cơ thể. Có những phương pháp giúp đưa sinh lực xuống những luân xa bên dưới, đến trung tâm dục, đến đan điền, và có những phương pháp để khai thông sinh lực của trái tim, của cuống họng, của mắt thứ ba hay đỉnh đầu.

    Vì những phương pháp này do Shiva đặt ra để dạy cho hiền thê Devi, nhiều phương pháp đó rất thích hợp với phụ nữ. Vì lý do đó Osho đã bàn nhiều về sự khác nhau giữa sinh lực của phái nam và phái nữ. Ngài vạch ra phương pháp nào thích hợp với đàn ông, phương pháp nào hợp với đàn bà.

    Thí nghiệm với các phương pháp.

    Mặc dù đã rất lâu đời, những phương pháp này vẫn còn thích hợp với người đời nay, mà có lẽ còn hơn thế nữa, nếu được áp dụng theo sự hướng dẫn của Osho. Trong ba năm qua Deva Wadud và tôi đã dùng những phương pháp đó trong các khóa huấn luyện Khoa học Huyền bí tai đại học đường Osho ở Poona, Ấn Độ. Một trăm mười hai phương pháp đó không thể dạy hết trong ba tháng. Cho nên chúng tôi chỉ dùng một phần nhỏ khi nghe học viên phát biểu ý kiến. Diễn tả kinh nghiệm thiền bằng lời là một điều không thể làm được. Và chỉ có người điên mới muốn giải thích kinh nghiệm thiền của mình. Dĩ nhiên là nó chẳng làm hại ai, nhưng đó là một việc làm vô ích.

    Chẳng hạn, trong giai đoạn đầu của khóa thiền, học viên ra vườn để nhìn hoa lá, nhưng tới một điểm nào đó hướng nhìn được thay đổi, và họ phải hướng sinh lực trở về bên trong qua đôi mắt. Osho giảng về pháp thiền này như sau:

    "Khi bạn nhìn một bông hoa, hay một người, một loại sinh lực nào đó được tạo ra. Cái nhìn của bạn tạo ra sinh lực… bỗng dưng, sự chú ý của bạn từ bông hoa đó trở lại với chính bạn. Nó đã trở thành một vòng tròn… Và nếu lúc đó bạn không có một ý tưởng nào, hiện tượng này sẽ xảy ra. Thế thì bạn không chỉ nhìn hoa mà bạn đang nhìn cả người nhìn hoa nữa. Người nhìn hoa và hoa đã trở thành hai khách thể, trong lúc bạn quan sát cả hai."

    Sau khi đã tập phương pháp này, có người nói, “Tôi cảm thấy như thể hoa đang nhìn tôi,” hoặc “Tôi cảm thấy hoa rất yêu tôi.” Người khác nói, “Tôi cảm thấy như thể hoa va tôi đã làm một.” Người khác lại nói, “Tôi cảm thấy chẳng có sự tách biệt nào giữa hoa và tôi.” Người đời sẽ cho rằng nhiều người chúng ta đã trở nên khùng điên, lập dị nếu nghe được những câu như thế.

    Vì vậy, trong nhiều lần chia sẻ kinh nghiệm, chúng tôi phải lắng nghe cả từ những người đã từng thiền, và phải nghe “bằng con tim.” Nếu không, chúng tôi không thể hiểu được người ấy đang muốn nói gì.

    Đôi khi có người có phản ứng trong cơ thể khi thực tập phương pháp thiền nhìn này. Có người cảm thấy nóng bỏng ở mắt, và nước mắt chảy dài, hoặc muốn mở to mắt ra những chúng cứ nhắm lại. Có người có phản ứng khác nên chúng tôi phải bảo họ đi bác sĩ. Nếu bác sĩ nói không có gì bất bình thường, chúng tôi đoán rằng chuyện gì đó đã xảy ra cho sinh lực của họ.

    Trong trường hợp đó chúng tôi giúp họ thiền một cách thoải mái, nhưng phần lớn là họ có thể tự tìm ra cách để sinh lực có thể lưu thông một cách tự nhiên. Kết quả là cơ thể của họ được thư giãn và những phản ứng ấy sẽ biến mất. Và sau một thời gian họ có thể mở mắt thật lâu mà không phải dụi mắt.
    Sau đó có người trở lại nói rằng, “Tôi có thể áp dụng phương pháp thiền nhìn này bất cứ nơi nào, thậm chí khi họ đang sắp hàng, hoặc khi đi trên phố, hoặc khi chờ khám bệnh. Tất cả trở nên ổn định yên tĩnh. Nhưng tôi không muốn nói với y tá rằng hoa đang nhìn tôi!”

    Con Tim Là Cánh Cửa

    Thật ra, theo kinh nghiệm của tôi, những phương pháp thiền bằng con tim là chỗ quan trọng nhất để bắt đầu toàn thể quá trình thiền. Thiền có thể được nói là có hai giai đoạn: từ trung tâm đầu xuống trung tâm tim, và từ tim xuống đan điền, trung tâm nguyên thủy. Cho nên chúng tôi giới thiệu những phương pháp thiền bằng con tim ngay từ đầu khóa học, và trong suốt ba tháng thiền ấy chúng tôi đào sâu vào phương pháp ấy. Ban đầu học viên không nhận ra khoảng trống trong con tim. Osho nói với điều đó như sau:

    Có đủ loại học đường, đại học rèn luyện tâm trí, nhưng không có chỗ nào dạy về con tim cả… Thật vậy, con người càng trở nên văn minh, con tim càng bị lãng quên hơn. Chúng ta đã quên hẳn nó – rằng nó tồn tại, hoặc không nghĩ rằng nó cần phải được huấn luyện.

    Cho nên chúng ta phải đến với con tim một cách gián tiếp. Trong một lần thực hành, học viên cứ hai người ngồi đối diện nhau; họ cố điều chỉnh vào cảm xúc bên trong của nhau. Phần lớn rất ngạc nhiên và thích thú khi thấy rằng chín mươi phần trăm cảm giác của họ rất chính xác. Trong giai đoạn này họ có khuynh hướng là họ có thể cảm thấy được con tim của người khác. Nhưng không nhất thiết phải như vậy.

    Một phương pháp thiền nhìn mà chúng tôi dùng là “Con mắt của tình nhân.” Chúng tôi bảo học viên nhắm mắt và hồi tưởng lại cách mà họ nhìn người yêu, hay một đứa trẻ mới sinh. Sau đó chúng tôi bảo họ mở mắt ra mà nhìn những người trong phòng với cùng ánh mắt ấy. Phương pháp “con mắt của tình nhân” rất hiệu nghiệm trong việc giúp mọi người hòa nhập với nhau. Nhưng sự hòa thuận này cũng không đúng là sinh lực của con tim, mà thuộc về trung tâm thứ hai, mặc dù nó cũng bao gồm cả trung tâm tim.

    Một cách khác để hòa nhập với người khác là lắng nghe với phương pháp con tim mà chúng tôi đã đề cập tới. Học viên chỉ cần tưởng tượng rằng mọi âm thanh, mọi tiếng động mà họ nghe được trong phòng là những âm thanh phát ra từ trái tim của người đối diện, và âm thanh đó đi vào con tim của mình. Phương pháp này không khác thiền nhìn, nhưng nó hợp với người thính tai hơn. Nó giúp học viên hòa nhập vào sinh lực và cảm xúc của người khác.

    Chúng tôi bắt đầu với những kinh nghiệm này mặc dù chúng không phải là phương pháp thiền con tim, bởi vì nó hơi giống cách học lái xe đạp. Lúc đầu người ấy phải té nhiều lần. Người ấy phải tập trung vào chân đang đạp xe, và phải tập trung vào tay lái để có thể giữ xe được cân bằng mà đi về hướng mà người ấy muốn. Người ấy phải nhìn vào mọi hướng để không đâm sầm vào những chướng ngại trước mặt. Cùng một lúc người ấy phải nhớ cách sang số, và phải nhớ thắng xe ở đâu. Lúc đầu rất là phức tạp. Nhưng dần dần người ấy tìm ra được cách để lái xe một cách dễ dàng. Những phương pháp thiền con tim cũng tương tự như thế.

    Những bước đầu rất quan trọng nên chúng tôi áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Chẳng hạn, phương pháp hòa nhập vào ý thức của người khác. Vì đang trong giai đoạn đầu, khó mà học viên có được kinh nghiệm về ý thức của người khác, nhưng họ có thể cảm thấy như thể họ đang ở trong hoàn cảnh của người khác, và cảm thấy được cảm xúc của người khác. Thường thì họ biết được cảm xúc bên trong của người khác. Điều này chúng ta có thể cảm thấy được qua luân xa thứ hai. Đó không phải là sinh lực của trung tâm tim, mà là sinh lực của luân xa thứ hai; đó là nơi thuận tiện nhất để bắt đầu.

    Sau này khi học viên đã học được nhiều phương pháp, họ có thể xuyên thấu qua nhiều tầng lớp cảm xúc và tình cảm mà đi vào một không gian mà chúng tôi gọi là “khoảng trống của con tim”. Tại đây cảm xúc thay đổi từ đam mê đến trầm tĩnh. Đó là thời điểm mà học viên kinh nghiệm được sự mở rộng của con tim. Trước đó đôi khi họ cảm thấy được sự mở rộng của con tim, nhưng cảm giác đó không kéo dài được lâu.

    Một khi con tim đã mở ra, học viên có thể chấp nhận sự việc một cách dễ dàng. Một khi sự chấp nhận sâu sắc ấy xảy ra, người ấy có khả năng hướng về bên trong mà quan sát những gì đang xảy ra bên trong của họ. Nếu sự chấp nhận này không xảy ra, khó mà quan sát được thế giới nội tâm của mình.
    Chúng ta đã được dạy để phán xét, phê bình, để chối bỏ chính mình. Cho nên những gì bị phán xét, bị phê bình và chối bỏ sẽ lẩn trốn bên trong, và khó mà chúng ta thấy được chúng. Chúng ta chỉ quan sát được chúng khi con tim đã mở ra.

    Đó là lý do mà chúng tôi nghĩ rằng Osho đã nói rằng con tim là cánh cửa dẫn về thiền. Khi khoảng trống này, sự chấp nhận này xuất hiện, nó không phải là cảm giác đam mê mà người đời nghĩ là tình yêu – vốn chỉ là một phản ứng hóa học và hoóc-môn với người khác, với một sự gắn bó mạnh mẽ, hoặc hấp dẫn mà chúng ta thường gọi là tình yêu.

    Vì lý do đó chúng tôi không dùng cụm từ “tình yêu” trong khóa học, bởi vì ý nghĩa ấy rất hỗn độn đối với nhiều người. Osho nói,

    "Tình yêu tự nó là một phương pháp tốt nhất, nhưng khó mà có tình yêu đối với con người ngày nay. Yêu nghĩa là phải lấy bạn ra khỏi ý thức của bạn, và bạn phải đặt người khác trong cùng một chỗ mà cái tôi của bạn đang ngự trị. Thay thế bạn bằng người khác nghĩa là yêu."

    Với quan niệm về tình yêu như thế tôi không nghĩ mấy người trong chúng ta có thể hiểu được tình yêu là gì. Cho nên chúng tôi cố tránh dùng cụm từ “tình yêu” mà dùng các cụm từ như chấp nhận, từ bi, trực giác, thinh lặng, tin tưởng. Đó là những phẩm chất được cảm thấy lần đầu tiên khi trung tâm tim thực sự mở ra.

    Lý do mà một người không thể có kinh nghiệm thiền cho đến khi trung tâm tim mở ra vì điều kiện ắt có là người ấy không phán xét. Osho đã nói rằng phẩm chất tối quan trọng của thiền là quan sát, thư giãn và không phán xét. Chỉ khi trung tâm tim mở ra ta mới có thể chấp nhận và không phán xét. Lúc đó chúng ta mới có thể nhìn vào bên trong của chúng ta. Có những người đi trước chúng ta vài bước, và họ có thể nhìn vào bên trong chúng ta, nhưng điều quan trọng không phải người khác có thể nhìn được, mà là chính người ấy phải nhìn được bên trong của mình với sự chấp nhận, hay không phán xét, không chối bỏ, không cố thay đổi nó. Thậm chí chỉ ý tưởng muốn thay đổi nó cũng là sự phán xét chính bạn một cách tinh tế.

    Cho nên khi con tim mở ra, và sự chấp nhận được cảm thấy, bạn sẽ có nhiều bộc phát về sinh lực, tự phát, hỗn độn và vui đùa. Và sau kinh nghiệm đó người ấy không tăng trưởng theo đường thẳng nữa – không phải từng bước một – nhưng tăng trưởng một cách nhảy vọt. Và nhiều sáng tạo được tạo ra trong quá trình đó.


    Còn tiếp.

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  2. #2
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Mật Tông Tâm Pháp (Tập I) :)

    "Thế Giới Của Mật Tông"



    Trích từ tác phẩm"Mật Tông Tâm Pháp"
    Bàn về bộ kinh Vigyana Bhairava Tantra
    với 112 Phương Pháp Thiền Của Shiva
    Chuyển ngữ: Vạn Sơn 2007
    [email protected]


    Thám Hiểm Luân Xa

    Học viên thực sự khám phá sự trống rỗng của con tim với phẩm chất đặc biệt này một vài tháng sau khi thực tập những phương pháp này. Nhưng một khi sự chấp nhận này đã có, họ có thể bắt đầu cuộc hành trình. Họ bắt đầu nhận ra nhiều bí ẩn bên trong, và họ thấy rằng những huyền bí ấy chỉ là những dữ kiện đơn giản trong cuộc sống.

    Chỉ khi khoảng trống trong con tim này mở ra, những luân xa bên dưới mới có thể khám phá được. Chúng ta có thể khám phá quyền lực và sự lạm dụng quyền lực ở luân xa thứ ba; khám phá những cảm xúc như giận dữ, buồn chán, sợ hãi tại luân xa thứ hai; khám phá dục tình cũng như sự tham sống, sợ chết tại luân xa thứ nhất.

    Nhiều điều từ lâu lẩn trốn trong vô thức từ từ nổi lên như thể bọt trong sâm banh. Chúng xuất hiện lên ý thức để được phóng thích và nhường chỗ cho những cái nằm sâu hơn bên dưới. Nếu có thể ở lại trong con tim, nơi đó không có phán xét, không có phê bình, không có chối bỏ thì những gì bị đè nén sẽ tự hiện ra. Và một khi những đè nén này được phóng thích, kho báu của chúng ta tự động hiện ra. Những đè nén ấy chẳng khác gì rác rưởi, một khi được phóng thích, chúng ta sẽ nhận ra kho báu của mình. Một khi những luân xa bên dưới được khai thông hết những đè nén và sợ hãi, những cái ngăn trở sự lưu thông sẽ được khai quang.

    Một khi chúng được khai thông, sinh lực từ những luân xa bên dưới sẽ đi vào luân xa tim; rồi từ đó nó đi lên luân xa cuống họng. Sáng tạo được khai thông và theo sau là sống một cách tự phát. Điều đó cho phép chúng ta sống từng khoảnh khắc một, thay vì sống theo chỉ đạo hoặc ước định của vô thức vốn có nhiều liên hệ với những đè nén của họ. Từ sự tự phát đó, sự dịu dàng và yêu thương là sự vui đùa và khả năng mà một người có thể tự cười chính mình sẽ xảy ra. Tiếng cười đó có khả năng chữa lành tất cả.

    Một khi điều đó xảy ra, những phương pháp thiền để khai thông mắt thứ ba sẽ được giới thiệu với học viên. Có hai phương pháp để mở mắt thứ ba, tức là luân xa thứ sáu. Một là đưa sinh lực từ cuối cột xương sống qua mọi trung tâm khác cho đến khi nó ngừng ở mắt thứ ba. Phương pháp khác là dùng phương pháp thiền nhìn.

    Osho nói rằng khoảng tám mươi phần trăm sinh lực của chúng ta được dùng cho mắt. Từ mắt nó đi ra và mất hẳn. Thiền nhìn làm cho sinh lực trở ngược lại, và nó đi qua mắt rồi đập vào mắt thứ ba làm cho nó mở ra. Đôi khi phương pháp này hợp với người này mà không thích hợp người khác. Mỗi người phải thí nghiệm để biết phương pháp nào thích hợp với mình. Ngoài ra còn có phương pháp thiền do Osho sáng chế gọi là Gourishanka. Phương pháp này dùng ánh sáng màu xanh để mở mắt thứ ba.

    Vòng Tròn Tình Yêu

    Một khi những luân xa bên dưới được khai thông, nhiều phương pháp đặc biệt của Mật tông có thể được áp dụng. Dĩ nhiên là những phương pháp này chỉ thích hợp với một nhóm người. Và người nào muốn tập những phương pháp này có thể tập một mình hay với người yêu, tùy theo mỗi phương pháp.

    Nhưng tôi có thể chia sẻ với bạn kinh nghiệm cá nhân của tôi. Trước hết, tôi không muốn mọi người hiểu lầm về ý nghĩa của Mật tông. Mật tông không phải là dục tình. Mật tông là tình yêu nhưng dùng dục để đạt đến thiền định. Osho nói,

    Mật tông là sự thăng hoa của tình yêu đến thiền định. Vì lý do đó Mật tông nói rất nhiều về dục và tình yêu. Mật tông nói rất nhiều về tình yêu, về dục. Tại sao? Bởi vì tình yêu là cánh cửa tự nhiên và dễ nhất để bạn có thể siêu việt thế giới này, chiều ngang này…

    Tình yêu bất ngờ thay đổi chiều của bạn. Bạn bị ném ra khỏi thời gian và đối diện với vĩnh cửu. Tình yêu có thể trở thành thiền rất sâu sắc – sâu sắc nhất…

    Tình yêu đối với Shiva là một cánh cửa rất tốt. Dục đối với ông ấy không phải là cái phải nguyền rủa. Nó là hạt giống mà tình yêu là hoa. Nếu nguyền rủa hạt giống, bạn cũng nguyền rủa hoa. Dục có thể trở thành tình yêu. Nếu không trở thành tình yêu, nó đã bị tê liệt. Hãy nguyền rủa sự tê liệt, đừng nguyền rủa dục. Tình yêu phải thăng hoa, và dục phải trở thành tình yêu. Nếu không, đó là lỗi của bạn, không phải tại dục.

    Dục không thể là dục mãi mãi; đó là quan điểm của Mật tông. Nó phải biến thành tình yêu. Và tình yêu cũng không phải là tình yêu mãi mãi. Nó phải biến thành kinh nghiệm tâm linh, thành đỉnh cao của huyền niệm. Chuyển hóa tình yêu như thế nào? Hãy trở nên hành động và quên người hành động. Khi yêu, trở thành tình yêu. Nó sẽ không phải là tình yêu của bạn, hay của tôi, hay của người khác. Nó chỉ là tình yêu. Khi không còn nữa, bạn hội nhập với cái nguồn tối thượng. Khi yêu, bạn không phải là người đang yêu. Khi đã bị tình yêu nhận chìm, bạn đã biến mất; bạn đã trở thành sinh lực đang lan tràn.


    Có một số phương pháp căn bản trong bộ sách này mà chúng ta có thể tự áp dụng. Nhưng trước hết chúng ta phải hiểu quan niệm về dục hiện nay của chúng ta không phải là thiền. Đối với Mật tông, dục đã bị lạm dụng vì nó đã bị kết án quá nhiều trong quá khứ. Những sự kết án quá nhiều về dục đã buộc nó phải lẩn trốn trong vô thức, đến nỗi chúng ta cũng không nhận ra nó. Osho nói:

    Sự nhồi sọ liên tục rằng dục là tội lỗi đã tạo ra một rào chắn bên trong bạn. Bạn không cho phép bạn thư giãn. Sự nguyền rủa ấy luôn luôn ám ảnh mọi thế hệ, kể cả thế hệ mới. Họ có thể nói rằng họ không bị ràng buộc, không bị ám ảnh, rằng dục không phải là cái bị cấm đoán đối với họ, nhưng bạn không thể trút bỏ gánh nặng của vô thức một cách dễ dàng. Nó đã kéo dài qua nhiều thế kỷ; tất cả quá khứ của nhân loại đều có đủ. Cho nên một cách ý thức bạn có thể không nguyền rủa dục, nhưng nó luôn luôn bị vô thức ám ảnh. Vì vậy bạn không đi vào dục một cách trọn vẹn. Cái gì đó luôn luôn bị đè nén. Cái bị đè nén ấy làm bạn phân liệt. Cho nên Mật tông nói bạn phải đi vào với cả thể xác và tâm hồn. Hãy quên chính mình, quên văn minh, quên tôn giáo, văn hoá và ý hệ. Hãy quên tất cả mà chỉ biết có dục. Hãy đi vào một cách trọn vẹn; đừng để lại gì cả. Và tuyệt đối không có một ý tưởng nào. Được như thế thì bạn mới nhận ra là bạn đã trở thành một với người nào đó. Và cảm giác nhất thể này có thể tách rời khỏi người yêu của bạn mà gắn liền với toàn thể vũ trụ. Bạn có thể yêu cây, yêu trăng sao, yêu tất cả. Một khi bạn biết nối vòng tay lớn này, bạn có thể thực hiện với tất cả - thậm chí bạn cũng chẳng cần gì cả.

    Vì lý do nói trên, Osho nói có những phương pháp thích hợp cho nam giới, có phương pháp hợp với nữ giới. Sự phân biệt này dựa trên sự hiểu biết về cơ thể của nam và nữ. Trước hết, Ngài nói rằng trong nam và nữ đều có một nữa nam và một nữa nữ, bởi vì họ là một sản phẩm của một nam và một nữ. Nhưng nam là dương; nữ là âm. Luân xa thứ nhất của nam là dương nên dương khí có thể đi lên từ đó. Đó là lý do vì sao đàn ông kinh nghiệm được sinh lực kundalini đi lên từ xương sống. Ngược lại, vì cơ thể đàn bà là âm nên nữ giới dễ tiếp nhận, dễ thư giãn hơn.

    Lực dương của các bà nằm tại ngực. Cho nên có hai phương pháp dành cho nữ giới. Một là tìm ra sinh lực giữa hai nách, nghĩa là tất cả vùng nằm quanh trái tim. Nếu tập trung vài vùng này, các bà sẽ cảm thấy lực dương tại đó. Phương pháp thứ hai là tập trung ngay tại hai đầu ngực cùng một lúc. Osho nói rằng điều này sẽ mang lại hương thơm cho cơ thể người nữ và có thể giảm cân, có thể cảm thấy nhẹ hơn, hoặc có viễn kiến. Ngược lại thì đàn ông có thể tập trung ở cuống ngọc hành vì sinh lực ở đó là dương.

    Thật vậy, nếu đàn ông cố tập trung ở ngực sẽ cảm thấy khó chịu. Chỉ vài phút ông ấy sẽ cảm thấy có mồ hôi, bởi vì ngực của nam giới là âm; ông ấy sẽ cảm thấy tiêu cực. Ông ấy sẽ cảm thấy khó chịu, không thoải mái, như thể cơ thể không được khoẻ mạnh. Nhưng ngực của các bà là dương. Nếu các bà tập trung ở ngực, họ sẽ cảm thấy rất thoải mái, rất an bình, một sự thư giãn sẽ thấm qua cả bản thể, và họ sẽ cảm thấy rất nhẹ nhàng, như thể họ có thể bay được. Và tập trung tại ngực sẽ thay đổi nhiều cái khác; tình mẹ của họ sẽ đằm thắm hơn. Đối với người khác họ cũng từ bi hơn, yêu thương hơn. Nhưng sự tập trung ở ngực này phải thực hiện một cách thư giãn, không căng thẳng. Nếu không, sẽ có sự phân chia giữa bạn và ngực của bạn. Hãy thư giãn và hòa làm một với chúng, và hãy cảm thấy như thể bạn không còn nữa, và còn lại chỉ là ngực. Nếu người nam muốn làm như thế, ông ấy phải tập trung tại bộ phận sinh dục, không phải ngực. Đó là lý do Mật tông nhấn mạnh vào luân xa thứ nhất.

    Còn tiếp.

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  3. #3
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Re: Mật Tông Tâm Pháp (Tập I) :)

    "Thế Giới Của Mật Tông"



    Trích từ tác phẩm"Mật Tông Tâm Pháp"
    Bàn về bộ kinh Vigyana Bhairava Tantra
    với 112 Phương Pháp Thiền Của Shiva
    Chuyển ngữ: Vạn Sơn 2007
    [email protected]


    Thám Hiểm Luân Xa

    Lại có những phương pháp mà người nam và người nữ có thể thực hành với nhau. Phương pháp khác gọi là “Vòng tròn tình yêu”. Khi hai người yêu nhau, nếu ông ấy trao sinh lực dương từ luân xa thứ nhất cho bà, vốn là âm và sẵn sàng tiếp nhận, nó sẽ đi vào cơ thể và lên đến vùng trái tim vì đó là dương. Từ đó nó có thể đi vào vùng trái tim của ông ấy vì đó là âm, và nếu ông ấy biết cách nhận được nó, nó sẽ đi xuống luân xa thứ nhất. Một vòng sinh lực tình yêu được tạo ra.

    Có lần tôi thực tập phương pháp này với chồng mà không cho ông ấy biết. Kết quả là quá nhiều sinh lực tập trung tại tim làm tôi cảm thấy nó sẽ nổ tung. Tôi phải nói với anh ấy, “Anh có thể mở tim anh ra một chút được không?” Sau khi tim anh ấy mở ra, một vòng sinh lực được tạo ra.

    Osho cũng nói thêm rằng nếu vòng tròn tình yêu được tạo ra, một cảm giác thay đổi giới tính có thể xảy ra; lúc ấy người nam cảm thấy là nữ, và người nữ cảm thấy là nam, và sau đó trở lại như cũ.

    Khi hai người yêu gặp nhau và làm thành một vòng tròn tình yêu, một sự thay đổi có thể xảy ra. Trong một khoảnh khắc người nam trở thành nữ, và nữ trở thành nam, và trong khoảnh khắc tới lai xảy ra như thế. Nam trở thành nữ, và nữ trở thành nam trong một khoảnh khắc – bởi vì sinh lực di chuyển và đã trở thành một vòng tròn.

    Ngoài ra, còn có hai phương pháp bạn có thể tập một mình, dựa trên sự hiểu biết về cảm giác hạnh phúc mà chúng ta cảm thấy trong tình yêu không phải do người kia mà có.

    Khi hai người yêu nhau, dần dần họ cảm thấy không tồn tại nữa. Chỉ còn lại là sự tồn tại thuần khiết – không có cái tôi, không có xung đột… chỉ là một đồng cảm. Bạn cảm thấy phúc lạc trong đồng cảm ấy. Phúc lạc ấy bị hiểu lầm là đến từ người yêu của bạn. Nó có vì vô tình bạn đã đi vào một phương pháp thiền rất sâu sắc. Bạn có thể làm một cách đầy ý thức, và khi làm một cách có ý thức, nó đi sâu hơn, bởi vì bạn không lệ thuộc và người khác. Đừng quên điều này, phúc lạc xảy ra bởi vì bạn. Bởi vì bạn đã mất hút trong người yêu, phúc lạc tự xảy ra.

    Cho nên phương pháp tập một mình đầu tiên của Mật tông là “lắc lư trong dục”. Thật ra, phương pháp này có thể tập với người yêu, và nó có thể giúp chúng ta trở nên trọn vẹn khi yêu. Phương pháp thứ hai gọi là “Yêu mà không có người yêu”. Nếu bạn đã kinh nghiệm được “vòng tròn tình yêu” với người yêu, bạn có thể kinh nghiệm được một mình.

    Nếu bạn đã có cảm giác, nếu bạn đã biết một khoảnh khắc khi bạn chỉ là một sinh lực rung động mãnh liệt đã trở thành một, và đã làm thành một vòng tròn với người yêu. Trong khoảnh khắc đó chẳng có người yêu. Trong khoảnh khắc đó bạn hiện hữu, nhưng đối với người yêu, bạn không hiện hữu: chỉ có một người thôi. Nhất thể đó nằm bên trong bạn; người yêu không còn nữa.

    Và điều này đã xảy ra cho phụ nữ hơn vì họ yêu bằng cả tâm hồn lẫn thể xác. Bạn có thể tự tạo ra vòng tròn vì người nam vừa là nam, vừa là nữ; và nữ cũng vừa là nữ, vừa là nam. Bạn là cả hai vì bạn được sinh ra bởi một nam và một nữ. Vì vậy bạn có thể quên tất cả mà vẫn có thể tạo ra vòng tròn bên trong bạn. Một khi vòng tròn được tạo ra bên trong – người nam của bạn và người nữ của bạn, người nữ bên trong gặp người nam bên trong – cả hai ôm chặt lẫn nhau bên trong. Khi vòng tròn bên trong này xảy ra, bạn không cần người khác nữa.

    Thiền Trong Bóng Tối

    Tôi đã đề cập đến phương pháp thiền trong bóng tối ngay từ đầu trong suốt khóa thiền ba tháng. Tất cả cửa được bít kín để ánh sáng không thể lọt vào. Trong phòng tối đen như mực chúng tôi ngồi trong một tiếng đồng hồ với mắt mở để quên với bóng tối, như thể bọt biển thấm nước. Chúng tôi cho phép cơ thể chìm trong bóng tối. Đó là giai đoạn đầu của phương pháp thiền trong bóng tối.

    Nếu tập phương pháp thiền này, bạn phải lưu ý là Osho khuyên chúng ta thiền với ánh sáng, hoặc thiền động, trong lúc tập phương pháp này. Nếu không sinh lực sẽ trở vào trong và kẹt trong đó.

    Giai đoạn thứ hai của thiền trong bóng tối là chúng tôi ngồi khoảng 45 phút trong bóng tối. Sau đó chúng tôi nằm theo tư thế của đứa trẻ trong bào thai và tưởng tượng chúng tôi đang nằm trong bụng mẹ.

    Giai đoạn thứ ba là khi đã thiền trong bóng tối nhiều tháng: khi bạn rời khỏi phòng thiền bóng tối, dù là ngày hay đêm, bạn vẫn có thể mang theo với bạn một vùng tối bên trong. Một cách vắn tắt là phương pháp này giúp sinh lực của bạn trầm tĩnh hơn, thư giãn hơn và dễ tiếp nhận hơn.

    Một thiền sinh nói, “Phương pháp này giúp tôi tồn tại trong một không gian mênh mông, vô hạn không biên giới.” Người khác nói rằng thiền bóng tối này “có khả năng chữa lành tất cả và rất dễ chịu, như thể nhạc cổ điển vậy.” Người thứ ba nói rằng ông ấy đã bịt mắt, bịt tai trong ba ngày, nhưng phương pháp thiền trong bóng tối này còn hiệu nghiệm hơn nhiều.

    Thực tập

    Tôi muốn nhấn mạnh rằng cách tiếp cận của Osho rất khoa học. Ngài không hề bảo chúng tôi phải tin tưởng những gì Ngài nói. Ngài luôn luôn khuyến khích chúng tôi tự thí nghiệm. Nhưng nếu bạn đọc sách của Ngài mà không thí nghiệm những phương pháp đó, chúng sẽ chỉ là thông tin và kiến thức; chúng sẽ không giúp được bạn trong sự tìm kiếm của bạn. Dĩ nhiên, không phải một trăm mười hai phương pháp này đều thích hợp với mọi người, nhưng ít nhất một phương pháp nào đó sẽ thích hợp cho mỗi loại người.

    Khi bạn đọc những phương pháp do Osho giảng, một phương pháp nào đó có thể hấp dẫn bạn. Đó là phương pháp bạn nên tự thí nghiệm. Osho nói rằng nếu bạn cảm thấy thích phương pháp ấy, hãy thử trong ba ngày, sau đó hãy thư giãn và để tự nhiên. Nếu bạn vẫn cảm thấy thoải mái với phương pháp ấy, và nếu bạn cảm thấy có kết quả khả quan, hãy tập trong ba tháng.
    Một điều tối quan trọng là nếu lần đầu tiên bạn đọc một phương pháp mà hiểu và chẳng phải thực tập, bạn vẫn cần phải đọc lại những gì Osho nói về phương pháp ấy để bạn có thể hiểu mọi khía cạnh và những điểm tinh tế sau khi bạn đã có kinh nghiệm về phương pháp ấy.

    Một người thiền một cách thành thật sẽ tự khám phá những gì là đúng. Cho nên nếu bạn tập phương pháp nào, bạn sẽ thấy được hiệu nghiệm của nó bằng chính thẩm quyền của bạn. Nhưng có một điểm phải ghi nhớ là theo quan điểm của Osho, những phương pháp này không phải để “làm”, nghĩa là tập nhưng đừng mong kết quả.

    Phúc lạc là một phó sản. Bạn không thể tìm nó một cách trực tiếp. Đó là một hiện tượng rất tinh tế mà bạn phải tiếp cận nó một cách gián tiếp. Làm một việc khác thì nó tự động xảy ra. Bạn không thể tìm nó một cách trực tiếp được… Nếu bạn chỉ mong kết quả, nó sẽ không xảy ra. Và nó trở nên rất lạ lùng. Có người nói với tôi, “Thầy nói nếu thiền, điều này sẽ xảy ra, nhưng chúng tôi làm hoài mà không có kết quả gì cả.” Họ nói rất đúng, nhưng họ quên một điều kiện: bạn phải quên kết quả; được vậy nó mới xảy ra. Bạn phải thực hành một cách triệt để. Càng triệt để bao nhiêu, kết quả càng xảy ra sớm bấy nhiêu. Nhưng bạn phải làm một cách gián tiếp. Bạn không thể hùng hổ với nó, không thể bạo động với nó. Nó là một hiện tượng rất tinh tế mà bạn không thể đòi hỏi gì cả. Nó chỉ đến với bạn khi bạn đang bận tâm về một việc khác một cách toàn bộ để một khoảng trống bên trong lộ ra. Nhưng phương pháp này đều gián tiếp. Chẳng có phương pháp trực tiếp nào cho vấn đề tâm linh cả.

    Một khi kinh nghiệm, bạn sẽ tin tưởng. Tôi có một chuyện nói về kinh nghiệm thiền quán. Chuyện ấy nói về một tiều phu. Một hôm trong rừng ông ấy gặp ông già, một nhà huyền môn Bạch Y Giáo. Ông già ấy hỏi tại sao ông ta phải cắt củi khi có một mỏ đồng gần đó, và chỉ cần lấy đồng đem bán một ngày cũng đủ sống cả tuần. Lão tiều phu đó lấy đồng đem bán chỉ một ngày là đủ sống trong một tuần. Vì vậy ông ta đến cám ơn nhà huyền môn kia. Ông ấy bảo lão tiều phu đi xa hơn chút nữa thì sẽ gặp mỏ bạc vì chỉ cần một ngày làm cũng đủ cho cả tháng. Lão tiều phu lại đến cám ơn, nhưng nhà huyền môn lại bảo ông ta đi xa hơn nữa thì sẽ gặp mỏ vàng, và chỉ một ngày làm cũng đủ cho cả năm. Sau đó lão tiều phu mặc quần áo đẹp đến cám ơn nhà huyền môn và hỏi sau mỏ vàng còn gi nữa không. Nhà huyền môn nói còn mỏ kim cương nữa. Lão tiều phu này đào mỏ một thời gian dài mới chợt nhớ là nhà huyền môn kia chẳng quan tâm gì đến vàng hay kim cương. Ông ta đến hỏi thì nhà huyền môn nói rằng còn có cái qúy hơn cả kim cương nữa mà nếu không tìm ra tự bên trong bản thể, ông ta chẳng có gì cả. Cho nên ông ta ngồi cạnh nhà huyền môn cả ngày một cách say sưa. Sau đó ông ta hỏi tại sao nhà huyền môn không chỉ cho ông ta về phúc lạc này ngay từ đầu. Nhà huyền môn nói, “Ông sẽ không nghe tin lời tôi. Trước hết ông phải có kim cương đã. Bây giờ ông có thể về rồi vì kho báu bên trong đã tìm ra.”

    Câu chuyện này là một thí dụ về kinh nghiệm với Osho sau nhiều năm nghe lời giảng của Ngài và tự khám phá, hiểu và hiểu lầm về những phương pháp này từ năm 1976. Dần dần những đề nghị của Ngài dẫn tôi trở về với chính mình một cách thâm sâu hơn; tin tưởng về những lời Ngài dạy cũng bén rễ sâu hơn, mạnh hơn, và phần thưởng về sự thực tập những phương pháp này cũng thâm sâu hơn và mạnh mẽ hơn.

    Đối với Wadud và tôi, được thiền trong cùng một phòng với nhiều người thành khẩn trong những khóa thiền này là một ân sủng. Tôi thường có cảm giác, “À!” khi gặp những người hòa đồng một cách hồn nhiên với những gì bên ngoài tâm trí, với những cái mà tâm trí không thể nhận ra được.

    Khóa học này rất thích hợp cho nhiều người trong một góc cạnh khác nữa là học viên thông cảm và kính trọng lẫn nhau. Họ biết rằng kinh nghiệm của mỗi người mỗi khác nên không thể so sánh được với người khác. Họ có thể chấp nhận là kinh nghiệm của họ hoàn toàn độc đáo so với người khác, cũng như kinh nghiệm thường ngày trong đời sống của họ vậy.

    Osho nó ngay từ đầu tập sách này là nếu một phương pháp thích hợp với chúng ta, sẽ có một thời kỳ chuyển tiếp trong đó chúng ta sẽ cảm thấy bị xáo trộn, hoặc cảm thấy những xáo trộn xảy ra chung quanh chúng ta. Phương pháp ấy có thể dẫn đến sự thinh lặng sau này. Đôi khi những khó khăn trong cuộc sống cũng xảy ra, hoặc trở thành nổi bật, bởi vì chúng ta đang tập phương pháp thiền nào đó. Chúng ta sẽ nhận ra là khi những việc đó xảy ra, nếu chúng ta nhìn sâu vào chúng, chúng ta sẽ hiểu rõ lý do sâu sa tại sao chúng đã xảy ra. Điều đó dẫn đến từ bi.

    Khi một người đã trải qua một vấn đề và đã giải quyết xong, người ấy sẽ có thể hiểu được sự khó khăn khi người khác phải trải qua những vấn đề tương tự ấy. Họ có thể nhìn thẳng vào mắt người ấy mà không phán xét, không phê bình, không chối bỏ, không nguyền rủa và thông cảm người ấy với sự hiểu biết và dịu dàng. Mà người đang gặp khó khăn cũng thấy được lòng từ bi và chấp nhận trong mắt của người khác. Điều đó khuyến khích và cho người ấy sức mạnh và dũng cảm để tiếp tục, cho đến khi người ấy có thể tự đứng vững một mình, với lòng từ bi và hiểu biết tương tự cho người đi sau khi người ấy cũng vấp phải những khó khăn tương tự trong cuộc đời của họ.
    Cho nên thiền với nhau và tham gia trong cùng một quá trình là một kinh nghiệm rất quý giá. Sau lớp thiền ấy nhiều người học thêm nhiều phương pháp mới và muốn đi sâu hơn. Và những điều xảy ra cho những người này là chiều sâu mà họ đạt được sau khi tập những phương pháp này là không thể diễn tả được.

    Osho giã từ thể xác của Ngài ngày 19, tháng Giêng, năm 1990, sau khi nói rằng Ngài sẽ tan biến vào trong các đệ tử của Ngài. Nếu bạn là một trong những người ấy, bạn sẽ nhận ra điều đó, và những lời của Osho sẽ trở nên vô giá đối với bạn. Và bước đầu là, có lẽ đọc bộ Mật tông Tâm Pháp này và thực hành những phương pháp đó, bạn sẽ nhận được ân sủng của Osho với một sinh lực không thể huỷ diệt được. Bạn có thể nương theo sinh lực này mà bắt đầu cuộc hành trình để tìm về bản thể của bạn.

    Ma Deva Waduda, B.S., M.A., Psychology.
    Ma Yoga Ranjana, Ph.D, Political Science.



    Bản dịch này được thực hiện với sự đóng góp vô giá của Thục Hiền ở Dallas, Texas. Thục Hiền đã đọc bản thảo, sửa lỗi chính tả và đã đề nghị thay đổi một số câu văn rất tối nghĩa trong tập sách này. Thành thật cám ơn Thục Hiền.

    Vạn Sơn


    Còn tiếp.

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  4. #4
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Thế Giới Của Mật Tông :)

    "Thế Giới Của Mật Tông"


    Trích từ tác phẩm"Mật Tông Tâm Pháp"
    Bàn về bộ kinh Vigyana Bhairava Tantra
    với 112 Phương Pháp Thiền Của Shiva
    Chuyển ngữ: Vạn Sơn 2007
    [email protected]


    Devi hỏi:
    Shiva ơi! Thực thể của anh là gì vậy?
    Vũ trụ đầy huyền diệu này là gì?
    Hạt giống của nó có những thành phần nào?
    Ai nằm tại trung tâm của nó?
    Sự sống đàng sau những thay đổi không ngừng này là gì?
    Làm cách nào để hiểu được một cách tận tường, bất kỳ nơi nào, bất kỳ lúc nào, dù tên gọi có khác nhau.
    Xin hãy an cai tâm của em.

    Một vài điều quan trọng cần phải biết. Trước hết, thế giới quan của Mật tông không thuộc về tâm trí, không phải triết học. Học thuyết chẳng có nghĩa gì đối với nó. Nó chỉ quan tâm đến phương pháp, đến kỹ thuật. Nó chẳng có nguyên tắc nào cả. Từ “Tantra” nghĩa là phương pháp, là kỹ thuật, là con đường. Cho nên nó chẳng dính dáng gì đến triết lý cả. Nó chẳng quan tâm đến những vấn đề của trí tuệ và những tư duy. Nó chẳng để ý đến những câu hỏi tại sao. Nó cho ta những phương pháp để tìm đến chân lý mà không giải thích chân lý là gì.

    Tantra (Mật tông) nghĩa là phương pháp. Cho nên bộ kinh này có tính cách khoa học. Khoa học chỉ bàn về những “cách nào” mà không quan tâm đến vấn đề tại sao. Đó là sự khác biệt cơ bản giữa triết học và khoa học. Triết học hỏi, “Tại sao có vũ trụ này?” Khoa học hỏi, “Vũ trụ này xảy ra như thế nào?” Một khi bạn đặt câu hỏi “như thế nào?”, phương pháp, kỹ thuật trở nên quan trọng; lý thuyết trở thành vô nghĩa; kinh nghiệm giữ vai trò then chốt.

    Tantra thuộc về khoa học, không phải triết học. Muốn hiểu được triết học chỉ cần trí thông minh. Nếu biết đọc, biết viết, và nếu hiểu được khái niệm, bạn có thể hiểu được triết học. Bạn chẳng cần phải thay đổi, chẳng cần chuyển hóa. Với trí thông minh trung bình bạn có thể hiểu được triết học – nhưng không hiểu được Tantra.

    Bạn cần phải thay đổi, đúng hơn là phải chuyển hóa. Nếu không bạn không thể hiểu được Tantra bởi vì nó không phải là một mệnh đề triết học, mà là một kinh nghiệm. Trừ khi bạn dễ tiếp nhận, sẵn sàng để kinh nghiệm, nó sẽ không xảy ra cho bạn.

    Triết học chỉ quanh quẩn với tâm trí. Chỉ cái đầu là cần thiết, không phải cả con người của bạn. Tantra đòi hỏi cả hồn lẫn xác của bạn. Đó là một thách đố rất lớn lao. Bạn phải dâng hiến tất cả cho nó. Bạn phải có một cách tiếp cận mới, một thái độ mới, một tâm trí để sẵn sàng đón nhận. Đó là lý do tại sao Devi đưa ra những câu hỏi có tính cách triết học. Tantra mở đầu với những câu hỏi của Devi. Mọi câu hỏi đều có thể trả lời bằng triết lý.
    Thật vậy, mỗi câu hỏi có thể giải quyết bằng hai cách: suy tư hay kinh nghiệm, lý luận hay hiện thực. Chẳng hạn, nếu được hỏi, “Tình yêu là gì?” bạn có thể trả lời bằng suy luận, bạn có thể bàn cãi, có thể đưa ra những giả thiết, hay dẫn chứng một học thuyết nào đó. Bạn có thể đưa ra một hệ thống triết lý, một chủ thuyết mà vẫn chẳng biết tình yêu là gì.

    Học thuyết chẳng cần kinh nghiệm. Mà thật ra, kinh nghiệm càng ít càng tốt vì bạn có thể mạnh dạn khi xây hệ thống. Một người mù có thể định nghĩa ánh sáng một cách dễ dàng. Nếu không biết gì cả, bạn rất táo bạo. Ngu dốt bao giờ cũng dũng cảm; càng biết càng do dự. Nếu hiểu biết nhiều, bạn sẽ không dám quả quyết. Biết càng nhiều bạn càng thấy mình dốt nát. Và những người thực sự khôn ngoan trở nên khiêm nhường. Họ trở nên bình thường như con trẻ, như thể những tên ngố rừng.

    Biết càng ít càng tốt. Triết lý, giáo điều, võ đoán thì quá dễ. Giải quyết một vấn đề bằng lý trí thì rất dễ. Nhưng giải quyết vấn đề một cách hiện thực, nghĩa là không phải chỉ suy nghĩ mà phải từng trải, phải kinh nghiệm, phải để cho nó chuyển hóa bạn hoàn toàn mới khó. Muốn biết yêu là gì, bạn phải sống trong tình yêu. Điều đó rất nguy hiểm vì bạn sẽ không còn như trước nữa. Kinh nghiệm sẽ thay đổi bạn. Tình yêu sẽ biến bạn thành một người khác. Cả linh hồn lẫn thể xác của bạn sẽ bị thay đổi. Bạn đã đoạn tuyệt với dĩ vãng. Một khoảng cách đã xảy ra vì người cũ đã biến mất, và một người mới đã xuất hiện. Cái đó gọi là tái sinh, nghĩa là sinh ra lần thứ hai.
    Devi hỏi, “Thực thể của anh là gì vậy?” Thay vì trả lời, ông ấy dạy bà một phương pháp. Và khi áp dụng phương pháp ấy, bà sẽ tự hiểu. Cho nên câu trả lời ấy vòng vo, không trực tiếp. Ông ấy không nói thẳng mình là ai. Ông ấy cho bạn một kỹ thuật. Nếu áp dụng công phu ấy, bạn sẽ biết.

    Đối với Tantra, hiểu biết do hành động mà có; chẳng có cách nào khác. Trừ khi bạn làm gì đó, trừ khi bạn thay đổi, trừ khi có một phối cảnh khác để nhìn vào, để nhìn với, trừ khi bạn đến một cảnh giới khác hẳn trí lực, bạn sẽ không tìm được câu trả lời. Có những câu trả lời đã làm sẵn, nhưng toàn là giả dối hết. Triết học đều là giả dối. Bạn hỏi một câu. Nó cho bạn câu trả lời. Có thể bạn thỏa mãn, có thể không. Nếu thỏa mãn, bạn sẽ đi theo nó, nhưng thể chất bạn không thay đổi. Nếu không thỏa mãn, bạn sẽ tìm một học thuyết khác mà theo. Nhưng chẳng có thay đổi nền tảng nào cả đối với bạn; bạn chẳng hề thay đổi.

    Cho nên dù bạn theo Ấn Giáo, Hồi giáo, hay Ki Tô Giáo cũng chẳng khác nhau. Con người thật đàng sau khuôn mặt của người theo Ấn Giáo, hay Hồi giáo, hay Ki Tô Giáo chẳng khác nhau. Chỉ có danh xưng, hay áo khoác là khác. Người đến giáo đường, hay đến chùa, đến miễu cũng là một. Những bộ mặt giả ấy, những mặt nạ ấy khác nhau. Đàng sau những mặt nạ ấy bạn sẽ thấy cùng một người. Cũng giận dữ, cũng háo thắng, cũng bạo hành, cũng tham lam, cũng đam mê như vậy. Chẳng có gì khác cả. Dục vọng của người Hồi có khác dục vọng của người Ấn không? Bạo lực vì danh Chúa có khác bạo lực của người Ấn không? Chẳng có gì khác cả. Chỉ có áo khoác là khác nhau; bên trong giống y hệt nhau.


    Còn tiếp.

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  5. #5
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Re: Mật Tông Tâm Pháp (Tập I) :)

    "Thế Giới Của Mật Tông"


    Trích từ tác phẩm"Mật Tông Tâm Pháp"
    Bàn về bộ kinh Vigyana Bhairava Tantra
    với 112 Phương Pháp Thiền Của Shiva
    Chuyển ngữ: Vạn Sơn 2007
    [email protected]

    Tantra không quan tâm đến áo quần của bạn; nó quan tâm về bạn. Câu hỏi của bạn tiết lộ vị trí của mình. Nó tố cáo một điều là vì không biết nên bạn mới hỏi. Một anh mù hỏi, “Ánh sáng là gì?” Thế là có việc làm cho các triết gia. Tantra chỉ biết có một điều là nếu một người hỏi, “Ánh sáng là gì?” nó chứng tỏ người ấy không có mắt. Tantra sẽ giải phẫu người đó, sẽ thay đổi người đó, sẽ dạy người đó cách nhìn được. Tantra sẽ không nói ánh sáng là gì. Nó chỉ cho bạn cách tìm lại thị giác, cách để nhìn. Khi có được thị giác, câu trả lời tự hiện ra. Tantra không mớm cho bạn câu trả lời, mà cho bạn một phương pháp để tự tìm câu trả lời.

    Câu trả lời ấy chẳng phải đoán mò. Nếu nói với người mù về ánh sáng, đó là đoán mò. Nếu nhìn được, đó là hiện thực. Đó là ý của tôi khi nói Tantra là hiện thực. Cho nên Shiva không trả lời những câu hỏi của Devi, nhưng đã trả lời tất cả. Đó là điểm đầu tiên.

    Điểm quan trọng thứ hai là: đây là cách truyền đạt khác hẳn. Bạn phải hiểu rõ trước khi chúng ta bàn về những lời kinh này. Tất cả những bộ kinh của Mật tông đều là những đối thoại giữa Shiva và Devi. Devi hỏi. Shiva trả lời. Mật tông đều bắt đầu như thế cả. Tại sao? Có gì quan trọng trong phương pháp này không? Nó không phải là một đối thoại giữa thầy và trò, mà là giữa hai tình nhân. Và đó là một điều rất có ý nghĩa đối với Tantra là những chân lý uyên áo nhất không thể tiết lộ nếu không có tình yêu giữa hai bên – giữa đạo sư và đệ tử. Đạo sư và đệ tử phải là những tình nhân khắn khít nhất. Được như thế thì những điều siêu việt, cao cả mới có thể được biểu hiện.
    Tantra là ngôn ngữ của tình yêu. Đệ tử phải có tình yêu đối với đạo sư. Nhưng bạn cũng có thể là tình nhân. Tantra nói rằng đệ tử phải cởi mở, phải sẵn sàng tiếp nhận như thể người vợ chờ chồng về. Trên đỉnh yêu đương ấy tất cả đều có thể xảy ra. Đệ tử không nhất thiết phải là người nữ, nhưng bạn phải có tính tiếp nhận như một người nữ. Devi hỏi. Đó là thái độ của một người nữ. Nhưng sao phải có thái độ của một người nữ?

    Nam và nữ không những khác nhau về thể chất, mà cả về tâm lý nữa. Giới tính không phải là sự khác biệt duy nhất của cơ thể; tâm lý của hai phái cũng khác nhau. Tâm trí nữ tính nghĩa là chấp nhận, chấp nhận hoàn toàn, là quy phục, dâng hiến. Một đệ tử cần phải có một tâm trí của người nữ; nếu không, người ấy không thể tiếp nhận. Có thể bạn hỏi nhưng vẫn khép kín. Thế thì câu trả lời không thấm vào bên trong bạn. Mọi cửa ngõ đều khép kín; bạn đã chết rồi. Bạn không cởi mở.

    Tiếp nhận nữ tính nghĩa là tiếp nhận một cách sâu sắc như thể tử cung để bạn có thể nhận được điều gì đó. Không phải chỉ có thế thôi mà còn nhiều hơn nữa. Một người nữ không phải chỉ đón nhận cái gì đó. Một khi bà nhận nó, nó trở thành một phần của thân thể bà. Một đứa trẻ thành hình. Khi một người nữ thụ thai, ngay lúc thụ thai, đứa trẻ trở thành một phần của thân thể bà. Nó không phải ngoại lai, không phải bên ngoài. Nó đã được kết hợp. Đứa trẻ không phải được gắn vào từ bên ngoài, mà như thể một phần, như thể người mẹ. Và không những đứa trẻ được thành hình: cơ thể người mẹ trở nên sáng tạo; đứa trẻ bắt đầu lớn dần.

    Đệ tử cần một sự tiếp nhận như thể tử cung. Bất kỳ những gì tiếp nhận được không trở thành những kiến thức cứng ngắc. Nó phải lớn dần bên trong bạn; nó phải trở thành máu, thành xương của bạn. Nó phải trở thành một phần của bạn. Nó phải tăng trưởng. Sự tăng trưởng ấy sẽ biến đổi bạn, sẽ chuyển hóa bạn; bạn trở nên dễ tiếp nhận. Đó là lý do Tantra dùng phương pháp này. Mỗi bộ kinh đều bắt đầu với những câu hỏi của Devi và những câu trả lời của Shiva. Devi là phối ngẫu của Shiva, là phần âm của Shiva.

    Một điều quan trọng nữa. Tâm lý học hiện đại, đặc biệt là tâm lý học miền sâu (1), nói rằng mỗi người đều có một phần nam và một phần nữ. Không ai hoàn toàn nam, hoặc hoàn toàn nữ. Tất cả đều lưỡng tính. Hai giới tính đều có mặt. Đó là một khám phá gần đây của Tây Phương, nhưng Tantra đã biết điều này từ ngàn xưa. Có thể bạn chưa thấy được hình bán nam, bán nữ của Shiva, gọi là ARDHANARISHWAR. Trong toàn thể lịch sử của nhân loại, ngoài Ấn Độ chẳng có khái niệm đó. Shiva được miêu tả bằng một nửa nam, một nửa nữ.

    Cho nên Devi không phải chỉ là vợ, mà là một nửa của Shiva. Và trừ khi một đệ tử trở thành một nửa của đạo sư, những giáo lý uyên áo, bí truyền không thể thổ lộ được. Khi bạn trở thành một với đạo sư, mọi nghi ngờ đều biến mất. Khi bạn trở thành một với đạo sư một cách trọn vẹn, một cách thâm sâu, bạn chẳng còn tranh luận, chẳng còn lôgic, chẳng còn lý lẽ nào cả. Bạn thẩm thấu, bạn trở thành dạ con. Lúc đó chân lý bắt đầu lớn dần trong bạn và thay đổi bạn.

    Đó là lý do tại sao Tantra được viết bằng ngôn ngữ của tình yêu. Có hai loại ngôn ngữ: ngôn ngữ của luận lý và ngôn ngữ của tình yêu, và chúng có những khác biệt rất nền tảng.

    Ngôn ngữ luận lý thì hung hăng, tranh chấp, mãnh liệt. Nếu dùng ngôn ngữ luận lý, tôi phải trở nên hung bạo. Tôi phải thuyết phục bạn, phải hàng phục bạn, phải làm bạn đuối lý. Lý luận của tôi phải đúng, của bạn thì sai. Ngôn ngữ luận lý rất vị kỷ: “Tôi đúng. Bạn sai. Tôi phải chứng minh là tôi đúng và bạn sai.” Tôi chẳng quan tâm đến bạn. Tôi chỉ quan tâm đến cái ngã của tôi. Cái tôi của tôi luôn luôn đúng.

    Ngôn ngữ của tình yêu khác hẳn. Tôi không quan tâm đến cái ngã của tôi, mà quan tâm đến bạn. Tôi chẳng phải chứng minh gì cả, chẳng phải thổi phồng cái ngã của tôi. Tôi muốn giúp bạn, muốn giúp bạn tăng trưởng, muốn giúp bạn chuyển hoá, muốn bạn được tái sinh.

    Một điều nữa là lôgic thuộc về trí lực. Khái niệm và nguyên tắc quan trọng hàng đầu; lý luận là chủ yếu. Đối với ngôn ngữ của tình yêu, những gì được nói ra chẳng đáng kể lắm; cách nói mới quan trọng. Lời nói chẳng có ý nghĩa nhiều; thông điệp mới quan trọng. Đó là tâm sự của tim với tim, không phải đàm luận của tâm trí với tâm trí. Nó không phải là một cuộc tranh luận, mà là một đồng cảm.

    Vì thế khung cảnh mới thật tình tứ. Devi ngồi trên lòng của Shiva mà hỏi. Đó là điệp khúc của tình yêu. Chẳng có xung đột, như thể Shiva tự nói với chính mình.

    Nhưng sao Tantra lại nhấn mạnh tình yêu? Sao phải dùng ngôn ngữ tình yêu? Bởi vì nếu bạn nằm trong tình yêu của đạo sư, toàn thể cấu trúc đều thay đổi. Lúc ấy bạn không nghe lời của ngài nữa, mà trở nên một với ngài. Lời không còn quan trọng nữa.

    Đó là lý do tại sao Tantra có một thiết bị, một cấu trúc cố định. Mọi bộ kinh đều mở đầu với Devi hỏi và Shiva trả lời. Chẳng cần lý luận. Chẳng phí đến một lời. Đó là những phát biểu đơn giản về những dữ kiện, những thông điệp ngắn gọn không phải để thuyết phục mà để cảm thông.

    Nếu nghĩ đến Shiva và những câu hỏi với một tâm trí khép kín, bạn sẽ không tìm được câu trả lời. Trước hết là sự khép kín của bạn phải được bẻ gẫy. Sự hung hăng của bạn, thiên kiến của bạn, định kiến của bạn phải được phá hủy. Trừ khi quá khứ của bạn được gột rửa hoàn toàn, bạn sẽ chẳng nhận được gì. Với Devi thì khác hẳn; bà ấy chẳng có quá khứ.

    Còn tiếp

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  6. #6
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Mật Tông Tâm Pháp (Tập I) :)

    "Thế Giới Của Mật Tông"


    Trích từ tác phẩm"Mật Tông Tâm Pháp"
    Bàn về bộ kinh Vigyana Bhairava Tantra
    với 112 Phương Pháp Thiền Của Shiva
    Chuyển ngữ: Vạn Sơn 2007
    [email protected]

    Phải biết rằng khi yêu nồng nàn, tâm trí của bạn bị gác qua một bên. Chẳng còn quá khứ nữa. Khoảnh khắc này là tất cả. Khi yêu, bạn chỉ biết có hiện tại, không còn quá khứ, chẳng có tương lai. Cho nên Devi rất rộng mở. Chẳng có gì phải đề phòng, chẳng có gì cần phải gột rửa, chẳng có gì phải phá hủy. Đất đã sẵn sàng để nhận hạt giống. Không những đã sẵn sàng, nó đang chờ đợi, mong mỏi, ao ước để đón nhận.

    Vì vậy những lời kinh mà chúng ta sẽ bàn đến sẽ rất cô đọng, ngắn gọn. Chúng là những khẩu quyết, nhưng mỗi khẩu quyết ngắn gọn ấy giá trị tương đương với kinh Veda, với Kinh Thánh, với kinh Koran. Mỗi câu có thể làm nền tảng cho một thánh thư vĩ đại. Thánh thư thì phải lý luận, phải thuyết phục, phải biện luận, phải dài dòng. Tantra chỉ có những lời của tình yêu, chẳng hề có tranh luận.

    Điều quan trọng thứ ba là cụm từ VIGYANA BHAIRAVA TANTRA nghĩa là phương pháp để thoát ra ngoài ý thức. VIGYANA nghĩa là ý thức. BHAIRAVA là trạng thái bên ngoài ý thức. TANTRA là phương pháp – phương pháp để siêu việt ý thức. Cho nên đây là một học thuyết tối thượng - học thuyết không có học thuyết.

    Chúng ta không ý thức, cho nên quan tâm của mọi tôn giáo là làm sao để thoát khỏi v‎ô ý thức, làm sao để ý thức. Chẳng hạn, Krishnamurti, Thiền, đều tìm cách để có ý thức hơn nữa, bởi vì chúng ta không ý thức. Vậy làm gì để tỉnh thức, cảnh giác? Từ vô thức, làm sao trở thành ‎ý thức được?

    Nhưng Tantra nói rằng đó là một tính lưỡng phân – ý thức và vô thức. Nếu từ vô thức bước sang ý thức, bạn chuyển từ đối cực này sang đối cực khác. Sao không bước ra ngoài cả hai? Trừ khi bước hẳn ra ngoài, bạn chẳng đến được cái tối thượng. Cho nên cần gì phải quan tâm đến ý thức hay vô thức. Hãy bước ra ngoài. Đừng để ý đến chúng nữa. Chẳng ý thức, cũng chẳng vô thức. Hãy vui sống. Quan điểm này cao hơn yoga, hơn cả Thiền, hơn mọi pháp môn.

    ‘Vigyana’ nghĩa là ý thức. ‘Bhairava’ là người đã bước ra ngoài. Đó là lý do Shiva được gọi là Bhairava; Devi là Bhairavi (2). Bhairava và Bhairavi là những người đã bước ra khỏi nhị nguyên.

    Đối với người bình thường, tình yêu đưa lại một thoáng nhìn. Đó là lý do tình yêu được Tantra dùng làm bàn đạp để dẫn đến kinh nghiệm tối thượng. Tình yêu là cái duy nhất mà chúng ta biết có thể bước ra khỏi nhị nguyên. Khi hai người yêu nhau một cách nồng cháy, họ cảm thấy họ tuy hai nhưng như thể một. Và trên đỉnh cao của tình yêu, họ trở nên một; nhị nguyên tính đã bị bỏ lại đàng sau.

    Đó là ý nghĩa của câu nói của Chúa Giê-Su, “Thiên Chúa là tình yêu.” Trong kinh nghiệm của chúng ta, tình yêu gần với Thượng Đế nhất. Nhưng tình yêu của Thiên Chúa không phải là tình yêu của một người cha theo sự hiểu biết của Ki Tô hữu. Không đúng! Câu “Thiên Chúa là tình yêu.” là một thông điệp của Mật tông. Câu ấy có nghĩa là tình yêu là kinh nghiệm duy nhất có thể dẫn đến Thượng Đế, đến cái tối thượng mà chúng ta biết được. Tại sao vậy? Bởi vì khi yêu, chúng ta cảm thấy được nhất thể. Tuy là hai, nhưng cái gì đó không thuộc về thể xác kết hợp với nhau và trở nên một.

    Đó là lý do tại sao dục là cái bẫy giam người đời. Cái muốn đạt được là nhất thể, nhưng nhất thể không phải dục. Nó cho họ cái cảm tưởng là họ đã trở nên một. Nhưng không. Họ chỉ nối liền với nhau mà thôi. Trong một khoảnh khắc ngắn ngủn, họ quên hẳn thân xác của mình và cảm thấy như thể đã tìm được nhất thể. Sự ham muốn ấy tự nó không xấu, nhưng còn nhiều hơn nữa. Sự ham muốn ấy là bằng chứng mỗi người đều có một thôi thúc sâu sắc để tìm đến nhất thể.

    Trong tình yêu, trên một bình diện cao hơn, khi tìm vào nội tâm, khi tan biến trong vòng tay của người yêu, chúng ta sẽ cảm thấy nhất thể. Lưỡng phân không còn nữa. Chỉ trong tình yêu không có tính lưỡng phân này, chúng ta mới có một thoáng nhìn về trạng thái Bhairava này – trạng thái nhất thể. Ta có thể nói trạng thái này là tình yêu tuyệt đối. Đó là đỉnh cao của tình yêu, là lý tưởng của tình yêu mà mọi người ao ước.

    Đỉnh cao của tình yêu là biểu tượng của đền thờ của Shiva trên đỉnh Kailash. Đó là đỉnh cao chót vót nhất, thiêng liêng nhất. Đỉnh cao ấy là đền thờ của Shiva. Nhưng chúng ta không thể ở mãi trên đỉnh cao của tình yêu ấy mà phải trở lại. Vì đỉnh cao ấy luôn luôn thúc giục, chúng ta phải mãi mãi lên đường hành hương để tìm về đỉnh cao ấy.


    Còn tiếp

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  7. #7
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Mật Tông Tâm Pháp (Tập I) :)

    "Thế Giới Của Mật Tông"


    Trích từ tác phẩm"Mật Tông Tâm Pháp"
    Bàn về bộ kinh Vigyana Bhairava Tantra
    với 112 Phương Pháp Thiền Của Shiva
    Chuyển ngữ: Vạn Sơn 2007
    [email protected]

    Cuộc hành hương ấy chỉ xảy ra cho một thiểu số những đôi uyên ương. Phần lớn nhân loại không có được cảm giác ấy vì họ chỉ biết có dục. Chúng ta sống trong những hang hóc, những thung lũng tối tăm. Đôi khi có người lên được đỉnh cao ấy rồi phải trở lại vì cảm thấy choáng váng. Vì quen sống trong hang hóc, khó mà chúng ta quen được với đỉnh cao ấy. Kể cả những người có tình yêu chân thật cũng cảm thấy khó mà ở mãi trong tình yêu. Đỉnh cao của tình yêu ấy là đền thờ của Shiva.

    Người sống trong tình yêu là sống trong đền thờ của Shiva. Người sống trên đỉnh cao ấy không cảm thấy tình yêu nữa vì đỉnh cao đã trở thành đồng bằng, cũng như Shiva không cảm thấy tình yêu nữa. Chúng ta cảm thấy tình yêu vì chúng ta không sống trong tình yêu. Vì có sự tương phản nên chúng ta cảm thấy có tình yêu. Shiva là tình yêu. Người sống trong đỉnh cao của tình yêu không còn yêu nữa vì đã trở thành tình yêu, vì đền thờ của Shiva để trở thành đền thờ của chính mình.

    Phương pháp để tìm về đền thờ ấy là Mật tông. Nó chỉ cho chúng ta cách bước ra khỏi lưỡng phân, vượt ra ngoài vô thức, vươn lên trên ý thức, bỏ lại đàng sau cả linh hồn lẫn thể xác, quên cả thế gian lẫn giác ngộ và giải thoát. Mật tông thuần túy chỉ là một phương pháp nên khó mà hiểu được nó. Cho nên trước hết chúng ta phải hiểu những câu hỏi của Devi.

    Shiva ơi! Thực thể của anh là gì vậy?


    Tại sao Devi hỏi như thế? Bạn cũng có thể hỏi câu đó, nhưng ý nghĩa khác hẳn. Devi yêu một cách say đắm. Khi yêu thật đậm sâu, lần đầu tiên bạn chạm trán với một thực thể bên trong. Hình dáng Shiva không còn nữa; Shiva không phải là thể xác. Khi yêu, bạn không yêu thể xác của người yêu nữa; nó đã biến mất, không còn ý nghĩa nữa. Hình dáng biến mất và nhường chỗ cho cái vô định hình xuất hiện. Bạn đang nhìn xuống một vực sâu thăm thẳm. Đó là lý do chúng ta rất sợ tình yêu. Chúng ta có thể đối diện với thể xác, có thể nhìn mặt, có thể ôm ấp hình hài, nhưng chúng ta rất sợ phải nhìn vào hố sâu thăm thẳm.

    Nếu bạn yêu ai, nếu yêu thực sự, nhất định bạn sẽ không để ý đến cơ thể của người yêu nữa. Trong khoảnh khắc của tột đỉnh yêu đương, hình dáng sẽ biến mất, và qua trung gian của người yêu, bạn sẽ kinh nghiệm được cái vô định hình. Vì thế chúng ta rất sợ. Sợ phải rơi vào hố sâu không đáy. Cho nên câu hỏi của Devi không phải là một sự tò mò vớ vẩn. Shiva ơi! Thực thể của anh là gì vậy?

    Có lẽ Devi đã yêu hình dáng. Sự việc luôn luôn bắt đầu như vậy. Bà ấy đã yêu Shiva như một người đàn ông. Và khi tình yêu đã trưởng thành, nó đã thăng hoa; người yêu đã biến mất. Người ấy không còn là hình dáng nữa, không còn dấu vết nữa. Shiva ơi! Thực thể của anh là gì vậy? Đó là câu Devi hỏi lúc lửa yêu đương đang hừng hực đỏ. Vì vậy, ý nghĩa của câu hỏi thay đổi tùy theo tâm trạng của người đặt câu hỏi.

    Có thể Devi đang bối rối vì Shiva đã biến mất. Trên đỉnh cao của tình yêu, người yêu không còn nữa. Tại sao? Lý do là vì mỗi người chúng ta tất cả đều là vô định hình. Bạn không phải thể xác. Bạn hành động qua thể xác, bạn sống qua thể xác, nhưng bạn không phải là thể xác. Nếu nhìn ai từ bên ngoài, người đó là thể xác. Nhưng tình yêu xảy ra bên trong. Khi yêu, ta không nhìn người yêu từ bên ngoài nữa. Tình yêu có thể nhìn vào một người như thể người ấy nhìn mình từ bên trong. Lúc ấy hình dáng đã biến mất.
    Ngay khi giác ngộ thiền sư Lâm Tế hỏi, “Thân ta đâu rồi? Nó biến đi đâu rồi?” Ngài liền gọi chúng đệ tử mà nói, “Hãy đi tìm thân của ta. Ta đã mất thân thể rồi.”

    Ngài đã gặp cái vô định hình. Bạn cũng là cái vô định hình, nhưng bạn không biết chính mình, mà qua trung gian của người khác. Bạn thấy mình qua cái gương. Đôi khi, trong lúc nhìn vào gương, bạn nhắm mắt lại và tự hỏi, “Nếu không có gương, làm sao tôi biết mặt mình ra sao?” Nếu không có gương, bạn sẽ không có mặt. Gương cho bạn những bộ mặt khác nhau. Hãy tưởng tượng bạn sinh ra giữa một hoang đảo, trong đó chẳng có gương, cũng chẳng có mắt người khác để thấy mình trong đó. Bạn nghĩ bạn có mặt hay không? Bạn có thể xác không? Không. Không có. Bạn biết về mình qua người khác. Mà người khác chỉ có thể thấy được cái bên ngoài. Cho nên chúng ta tự đồng hóa với mặt của mình.

    Thiền sư Huệ Hải thường nói với đệ tử, “Nếu trong lúc thiền các ông cảm thấy mất đầu, hãy gặp tôi ngay lập tức. Khi đã mất cái đầu, hãy tìm tôi ngay tức thì. Đó là thời điểm quan trọng nhất. Tôi sẽ chỉ cho các ông một bí mật.” Nếu còn đầu, không thể dạy được. Cái đầu là kỳ đà cản mũi.

    Devi hỏi Shiva, “Shiva ơi! Thực thể của anh là gì vậy?” Ông là ai vậy? Hình dáng đã biến mất. Đó là lý do của câu hỏi đó. Khi yêu, bạn chạm trán với cái bên trong của người ấy. Người trả lời cũng là bạn. Bạn đã trở nên một, và lần đầu tiên bạn đã đối diện với một hố sâu – một sự hiện diện không thể xác định được.

    Đó là lý do vì sao đã qua nhiều ngàn năm mà vẫn chưa có hình, chưa có tượng của Shiva, ngoại trừ cái SHIVALINGA làm biểu tượng. Shivalinga là bộ phận sinh dục nam. Nó chỉ là cái hình tượng trưng cái vô định hình. Khi bạn yêu người nào đó, người ấy như thể có mặt khắp nơi. Shivalinga chỉ là sự hiện diện sáng láng, như thể một hào quang chói lòa.

    Vì lý do đó Devi hỏi, “Thực thể của anh là gì vậy?”
    Vũ trụ đầy huyền diệu này là gì?


    Còn tiếp

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  8. #8
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Mật Tông Tâm Pháp (Tập I) :)

    "Thế Giới Của Mật Tông"


    Trích từ tác phẩm"Mật Tông Tâm Pháp"
    Bàn về bộ kinh Vigyana Bhairava Tantra
    với 112 Phương Pháp Thiền Của Shiva
    Chuyển ngữ: Vạn Sơn 2007
    [email protected]

    Cho nên theo sau mỗi câu trả lời là rất nhiều câu hỏi. Tâm trí nghi ngờ chính là thủ phạm. Devi nói,

    “Đừng quan tâm đến câu hỏi của em. Em đã hỏi rất nhiều: Thực thể của anh là gì? Vũ trụ đầy huyền diệu này là gì? Cái gì là hạt giống? Ai nằm tại trung tâm? Sự sống đàng sau mọi thay đổi là gì? Sao ta có thể hiểu được nó, bất kỳ nơi nào, lúc nào? Nhưng đừng bận tâm đến những câu hỏi ấy. Hãy an tâm của em. Em hỏi chỉ vì cái tâm trí hay thắc mắc, nhưng đừng để ý đến chúng. Em cũng biết không giải đáp nào thỏa mãn được em. Cái em cần là được an tâm.”

    Nhưng an tâm bằng cách nào? Trả lời mọi câu hỏi? Đã có câu trả lời nào thật sự thỏa mãn bạn chưa? Nghi ngờ là bản chất của tâm trí. Vấn đề không phải là tâm trí nghi ngờ. Tâm trí là sự nghi ngờ. Trừ khi tâm trí được chuyển hoá, tâm không bao giờ được an.

    Shiva sẽ trả lời, trả lời bằng những phương pháp cổ đại nhất, lâu đời nhất. Nhưng chúng vẫn còn mới nhất bởi vì không có gì mới có thể thêm vào được. Toàn bộ gồm có một trăm mười hai phương pháp. Mọi góc cạnh, mọi chi tiết cần thiết đều đã được nghiên cứu để gột rửa tâm trí, để siêu việt tâm trí. Đã hơn năm ngàn năm rồi mà vẫn chưa có một phương pháp mới nào được thêm vào cuốn Mật Tông Tâm Pháp này. Không thể có khả năng nào để tìm ra phương pháp nào mới hơn. Nó rất đầy đủ, toàn bộ, cổ đại nhất mà mới nhất, cũ như Trái Đất mà mới tinh như thể sương buổi sáng.

    Một trăm mười hai phương pháp thiền này là toàn thể khoa học để luyện tâm. Chúng ta sẽ bàn qua từng phương pháp một. Trước hết chúng ta sẽ dùng trí để hiểu. Nhưng hãy dùng trí tuệ của bạn như một phương tiện, đừng biến nó thành ông chủ của mình. Dùng nó như một phương tiện để tìm hiểu, nhưng đừng dùng nó để tạo ra rào chắn. Khi chúng ta bàn về những phương pháp này, hãy bỏ kiến thức cũ của bạn và những gì đã tích tụ từ lâu qua một bên. Hãy dẹp bỏ tất cả vì chúng chỉ là những bụi đường đã bám vào bạn.

    Hãy áp dụng những phương pháp này với một tinh thần mới mẻ, cảnh giác mà không tranh luận. Cũng đừng nhầm lẫn tâm trí hay tranh luận với sự tỉnh thức. Một khi đã có ý tranh luận, bạn đã mất sự cảnh giác, không tỉnh thức. Nếu thế thì bạn đã lộn sòng.

    Những phương pháp này chẳng thuộc về tôn giáo nào cả. Nó chẳng phải của người Ấn, cũng như thuyết Tương Đối không phải của người Do Thái chỉ vì nó đã được Einstein kiến lập. Radio cũng không phải của Ki Tô Giáo. Chẳng ai nói, “Sao bạn dùng điện vậy? Nó được khám phá bởi một Ki Tô hữu.” Khoa học chẳng thuộc về chủng tộc nào, tôn giáo nào. Mà Mật tông cũng là một khoa học. Cho nên nó chẳng phải của người Ấn, mặc dù nó đã được một người Ấn khám phá ra. Đó là lý do vì sao nó chẳng hề nhắc đến một nghi lễ nào. Chẳng cần chùa, miễu hay giáo đường. Chính bạn là một đền thờ. Bạn là một phòng thí nghiệm; toàn thể thí nghiệm xảy ra bên trong của bạn. Cũng chẳng cần tín ngưỡng, không cần đức tin.

    Mật tông không phải tôn giáo mà rất khoa học. Không cần tín ngưỡng. Chẳng cần phải tin kinh Koran, hay kinh Veda, hay tin Đức Phật, hay Mahavira. Không, không cần đức tin. Chỉ cần dũng cảm dám thí nghiệm là đủ. Can đảm để thử là đủ. Đó là cái đẹp của nó. Người Hồi có thể áp dụng để có thể hiểu ý nghĩa uyên áo của kinh Koran. Người Ấn có thể thực tập để hiểu rõ kinh Veda nói gì. Phật tử và Ki Tô hữu có thể tập mà không phải bỏ đạo của mình. Mật tông có thể kiện toàn bất kỳ đạo nào. Mật tông hữu ích cho mọi mầu sắc tôn giáo.

    Cho nên phải hiểu rằng Mật tông là một khoa học thuần túy. Có thể bạn là người Ấn, hoặc người Hồi. Ki Tô hữu, hay Phật tử cũng chẳng sao. Mật tông không có trở ngại gì với tôn giáo của bạn, vì nó quan niệm tôn giáo là một vấn đề xã hội. Cho nên theo đạo nào cũng tốt. Nhưng bạn có thể thay đổi chính mình, và thay đổi nào cũng cần phương pháp khoa học. Khi bệnh thì dù Hồi hay Ấn cũng bệnh như thường, bất kể đạo nào, đảng phái nào, chủng tộc nào. Bệnh thì phải chữa bằng phương pháp khoa học. Chẳng có bệnh phổi Ấn, hay bệnh tim Hồi.

    Bạn không sáng suốt, bạn hay tranh chấp, bạn còn say ngủ. Đó là một loại bệnh, bệnh tâm linh. Bệnh này phải được chữa bằng Mật tông. Còn bạn hay đạo của bạn chẳng liên quan gì cả. Vì tình cờ mà bạn được sinh ra tại nơi này, và người khác tại nơi khác. Đó là một sự ngẫu nhiên. Đạo của bạn cũng ngẫu nhiên. Cho nên đừng cố bám theo nó. Hãy dùng phương pháp khoa học mà chuyển hóa đời mình.

    Mật tông ít được người biết đến. Mà thậm chí nếu được biết, thường thì nó bị hiểu lầm. Điều này cũng có lý do. Khoa học cùng cao thâm và càng thuần khiết, càng ít có khả năng để đám đông biết đến nó. Chúng ta chỉ nghe nói đến thuyết tương đối. Khi nó mới được Einstein đề xướng, cả thế giới chỉ có mười hai người hiểu được. Einstein phải cố gắng mãi mới được một số người hiểu nó bởi vì nó quá khó hiểu, quá cao. Nhưng nó có thể được hiểu, với điều kiện là phải có căn bản cao về Toán và Vật Lý. Bạn có thể hiểu nó, nếu được huấn luyện. Nhưng Mật tông thì khó hơn nữa bởi vì chẳng có giáo huấn nào giúp được bạn cả. Chỉ có sự chuyển hóa là hữu ích.


    Còn tiếp

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  9. #9
    Join Date
    Mar 2005
    Posts
    27
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Default Re: Mật Tông Tâm Pháp (Tập I) :)

    Xin cám ơn Thiếu tá Minh Nguyệt post tài liệu này....
    Thanks.
    ML

  10. #10
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Mật Tông Tâm Pháp (Tập I) :)

    "Thế Giới Của Mật Tông"


    Trích từ tác phẩm"Mật Tông Tâm Pháp"
    Bàn về bộ kinh Vigyana Bhairava Tantra
    với 112 Phương Pháp Thiền Của Shiva
    Chuyển ngữ: Vạn Sơn 2007
    [email protected]

    Cho nên đám đông không thể hiểu được Mật tông. Thường thì nếu bạn không hiểu điều gì, bạn sẽ hiểu lầm nó bởi vì bạn cảm thấy là bạn hiểu. Thêm một điều nữa là nếu không hiểu, bạn sẽ khinh thường nó vì bạn cảm thấy hổ thẹn. Tôi không hiểu sao? Thằng này không hiểu sao? Vô lý. Không thể có chuyện đó. Nhất định nó phải có vấn đề gì đó. Bạn bắt đầu nói xấu nó, chê bai nó. Điều đó giúp bạn cảm thấy đỡ nhục hơn.

    Cho nên ít người hiểu được Mật tông. Nó đã bị hiểu lầm. Điều đó cũng dễ hiểu vì nó quá thâm sâu, quá cao siêu. Hơn nữa, vì hoạt động hẳn bên ngoài tính lưỡng phân, lập trường của Mật tông được coi là phi luân. Ba cụm từ “luân lý”, “vô luân”, và “phi luân” cần phải hiểu rõ. Chúng ta hiểu luân lý là gì, hiểu vô luân là gì, nhưng phi luân thì khó khăn hơn, bởi vì nó nằm ngoài cả hai.
    Mật tông phi luân. Hãy lấy một thí dụ. Thuốc phi luân; nó chẳng có luân lý cũng chẳng vô luân. Tội nhân hay thánh nhân uống vào đều hết bệnh. Nó chẳng phân biệt thánh hay phàm. Nó không hề nói, “Thằng này là một tên cướp, ta sẽ giết nó, và đây là một thánh nhân, ta sẽ giúp ông ấy.” Thuốc là một sản phẩm của khoa học. Bạn là kẻ gian hay đạo đức cũng chẳng liên quan gì.

    Mật tông cũng phi luân. Mật tông nói chẳng cần luân lý, bất kể luân lý nào. Ngược lại, bạn vô luân vì tâm trí của bạn không thanh tịnh. Vì vậy, Mật tông chẳng đưa ra điều kiện nào cả. Bạn chẳng cần phải trở nên đạo đức rồi mới thực hành Mật tông. Điều này vô lý hoàn toàn.

    Điều này chẳng khác gì một bệnh nhân đang lên cơn sốt mà bác sĩ bảo, “Trước hết hãy trị cơn sốt, hãy khỏi bệnh hoàn toàn thì tôi mới cho thuốc được.”

    Hoặc khi một tên trộm đến xin học thiền mà đạo sư nói, “Trước hết hãy bỏ nghề ăn trộm đã. Làm sao ông thiền được khi vẫn muốn ăn trộm?”
    Hoặc khi một hũ chìm nói, “Tôi là người nghiện ngập. Xin dạy tôi thiền.” Đạo sư nói, “Điều kiện tiên quyết là phải bỏ rượu. Nếu không, ông không thể thiền được.” Điều kiện ấy thật quái ác. Nghiện ngập hay trộm cướp, hay vô luân chỉ vì tâm không tịnh, bị xáo trộn. Đó là kết quả, là ảnh hưởng của cái tâm trí không lành mạnh. Nếu nói, “Hãy lành bệnh đã rồi hãy thiền,” ai cần thiền nữa? Thiền là thuốc cho linh hồn. Nó chữa được tâm bệnh.

    Mật tông phi luân. Nó không hề hỏi bạn là ai. Bạn là người là đủ. Bất kỳ bạn là ai, bất kỳ bạn làm gì, nó chấp nhận bạn vô điều kiện.

    Hãy chọn một phương pháp thích hợp với bạn, hãy bỏ hết năng lực của bạn vào đó. Chắc chắn sẽ có kết quả. Những phương pháp chính thống, đúng đắn đều như vậy cả. Nếu tôi đặt điều kiện, đó là bằng chứng phương pháp của tôi sẽ không hiệu nghiệm; tôi không thể nói, “Trước hết hãy làm cài này, và đừng làm cái kia thì mới có kết quả.” Mà đó là những điều kiện không tưởng bởi vì tên trộm có thể thay đối tượng ăn trộm, nhưng anh ta vẫn là một tên trộm.

    Một người tham có thể thay đối tượng của tham lam, nhưng anh ta không thể hết tham được. Bạn có thể ép anh ta, hay anh ta có thể ép buộc chính mình, nhưng tính tham của anh ta sẽ được thay thế bằng một cái tham khác. Nếu được hứa sẽ lên thiên đường, anh ta sẽ bỏ tính tham. Nhưng đó là cái tham lớn nhất. Thiên đường, giác ngộ, giải thoát sẽ trở thành những đối tượng của sự tham lam.

    Mật tông nói bạn không thể thay đổi ai cả, trừ khi bạn dạy anh ta một phương pháp để thay đổi. Chỉ nói bằng lời thì chẳng có thay đổi. Điều này bạn có thể thấy nhan nhản khắp nơi. Những gì Mật tông nói có thể thấy được trên toàn thế giới – bao nhiêu là mục sư, bao nhiêu là cha, bao nhiêu là sư. Chỗ nào cũng có họ, vậy mà đâu đâu cũng đầy xấu xa, tội lỗi và vô luân.
    Tại sao vậy? Nếu mở cửa nhà thương cho họ giảng hay thuyết pháp, kết quả chắc chắn cũng như vậy. Họ sẽ không chữa bệnh cho bệnh nhân mà nói, “Ông là người tội lỗi! Ông là người đầy tham sân si! Ông đã tạo ra điều này. Hãy chấm dứt ngay lập tức.” Nếu đem nhà thương cho các thầy giảng, họ sẽ làm gì ở đó? Tình trạng của thế giới hiện nay cũng y như vậy.

    Các thầy giảng luôn luôn nói, “Đừng nóng giận,” mà không dạy cách để hết giận. Và chúng ta nghe đã nhàm tai mà không một ai đặt câu hỏi, “Ngài nói gì thế? Tôi đang giận mà Ngài chỉ nói suông, ‘Đừng nóng giận.’ Sao tôi có thể làm được? Khi nói tôi nóng giận nghĩa là tôi đã trở thành cơn giận. Thế mà Ngài chỉ nói với tôi, ‘Đừng nóng giận.’ Nhiều lắm thì tôi chỉ có thể kiềm chế chính mình.”

    Nhưng kiềm chế sẽ trở thành nóng giận hơn. Điều này sẽ tạo ra mặc cảm tội lỗi, bởi vì nếu muốn thay đổi chính mình mà không thành công, tôi sẽ cảm thấy yếu đuối. Nó cho tôi mặc cảm tội lỗi, là tôi yếu đuối vì tôi không thể chinh phục được cơn giận của tôi. Không ai có thể thành công được. Bạn cần một khí giới nào đó, một phương pháp nào đó, bởi vì nóng giận là triệu chứng của một tâm hồn bệnh hoạn. Nếu tâm hồn ấy trở lên lành mạnh, triệu chứng bên ngoài sẽ biến mất. Nóng giận chỉ là phần nổi của cái bên trong. Nếu thay đổi bên trong, bên ngoài sẽ thay đổi theo.

    Cho nên Mật tông không quan tâm đến cái-gọi-là luân lý của bạn. Mà thật ra, nhấn mạnh luân lý quá nhiều chỉ làm người khác xấu hổ. Điều đó rất phi nhân. Nếu tôi nói với một người, “Đừng nóng giận, hãy từ bỏ dục, hãy chừa cái này, hãy bỏ cái kia,” thì tôi là người vô tình. Những gì tôi nói không thể thực hiện được. Và điều đó làm người ấy có mặc cảm bên trong. Người ấy sẽ có mặc cảm tự ti, sẽ cảm thấy mất phẩm giá với chính mình. Nếu cố gắng quá sức mình, nhất định anh ta sẽ thất bại.” Và khi thất bại, anh ta sẽ tự nghĩ mình là người tội lỗi.

    Các thầy giảng đã làm cả thế giới cảm thấy mình là người tội lỗi. Điều này tạo ra nhiều việc cho họ, bởi vì nếu không thuyết phục được bạn, họ sẽ thất nghiệp cả lũ. Bạn phải là người tội lỗi. Thế thì chùa, miếu, giáo đường mới đông nghẹt người. Họ chỉ thành công khi bạn cảm thấy tội lỗi. Tội lỗi của bạn là những viên gạch nền móng của những giáo hội vĩ đại nhất. Càng nhiều người tội lỗi, giáo hội càng lớn. Chúng được xây trên mặc cảm tội lỗi, mặc cảm tự ti của bạn. Bằng cách đó họ đã tạo ra một nhân loại đầy mặc cảm.
    Mật tông không quan tâm đến cái-gọi-là luân lý, những nghi lễ và những nhảm nhí khác của bạn. Điều đó không có nghĩa là bạn trở nên vô luân.

    Không! Vì không quan tâm đến luân lý của bạn, nó không thể bảo bạn phải trở nên vô luân. Nó cho bạn những phương pháp để tự chữa lành, và một khi tâm trí của bạn thay đổi, cách hành xử của bạn sẽ thay đổi theo. Một khi cấu trúc của bạn thay đổi, tòa nhà của bạn sẽ khác hẳn. Vì thái độ phi luân này, các thánh giả của bạn không thể tha thứ cho Mật tông; họ xúm nhau mà chống đối nó, bởi vì nếu Mật tông thành công, tất cả những nhảm nhí vì danh tôn giáo sẽ đổ nhào tất cả.

    Một thí dụ là Ki Tô Giáo đã cản trở tiến bộ của khoa học rất nhiều. Sao vậy? Vì nếu khoa học thành công với vật chất, chẳng chóng thì chầy nó sẽ có ảnh hưởng mạnh đến thế giới tâm lý và tâm linh. Ki Tô Giáo chống lại tiến bộ của khoa học, bởi vì nếu có thể thay đổi vật chất, bạn sẽ tìm ra những phương pháp để thay đổi tâm trí; tâm trí chẳng qua chỉ là vật chất tinh tế.

    Đó là quan điểm của Mật tông. Tâm trí chỉ là vật chất tinh tế; nó có thể được thay đổi. Một khi tâm trí bạn thay đổi, thế giới chung quanh bạn sẽ thay đổi theo, bởi vì bạn nhìn qua lăng kính của tâm trí. Bạn nhìn thế giới theo một tâm trí nào đó. Khi tâm trí thay đổi, bạn sẽ thấy một thế giới hoàn toàn khác. Và nếu chẳng có tâm trí (vô tâm, vô niệm), vốn là mục đích tối thượng của Mật tông, bạn sẽ nhìn thế giới một cách trực tiếp mà chẳng cần trung gian. Khi không có người điều đình, mọi vật sẽ hiện ra một cách chân thật, bởi vì chẳng có gì xen vào giữa chúng và bạn. Chẳng có gì bị bóp méo cả.

    Còn tiếp

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  11. #11
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Mật Tông Tâm Pháp (Tập I) :)

    "Thế Giới Của Mật Tông"


    Trích từ tác phẩm"Mật Tông Tâm Pháp"
    Bàn về bộ kinh Vigyana Bhairava Tantra
    với 112 Phương Pháp Thiền Của Shiva
    Chuyển ngữ: Vạn Sơn 2007
    [email protected]

    Cho nên Mật tông nói khi không có tâm trí, đó là trạng thái vô tâm, vô niệm, cũng được gọi là trạng thái Bhairava. Lần đầu tiên bạn nhìn thế giới một cách chân thật, như thị. Nếu có tâm trí, bạn sẽ thêu dệt thế giới chung quanh bạn; bạn sẽ áp đặt, sẽ phóng chiếu. Cho nên trước hết là thay đổi tâm trí, sau đó là từ hữu niệm dẫn đến vô niệm. Và một trăm mười hai phương pháp này có thể giúp mỗi người. Có thể phương pháp nào đó không thích hợp cho bạn. Đó là lý do Shiva dạy nhiều phương pháp khác nhau. Hãy chọn phương pháp thích hợp với bạn, vốn chẳng khó khăn gì.

    Chúng ta sẽ bàn qua từng phương pháp một, và hãy chọn phương pháp thích hợp để thay đổi bạn và tâm trí bạn. Hiểu bằng trí tuệ là một cần thiết cơ bản, nhưng đó không phải là mục đích cuối cùng. Hãy thí nghiệm những gì tôi nói ở đây.

    Khi chọn đúng phương pháp thích hợp, bạn sẽ thấy kết quả ngay tức thì. Vì vậy tôi sẽ giải thích những phương pháp đó mỗi ngày. Hãy đùa giỡn với nó. Hãy thí nghiệm. Bạn sẽ nhận ra phương pháp thích hợp khi bạn sẽ cảm thấy có thay đổi bên trong. Bạn sẽ biết đó là phương pháp thích hợp. Nhưng cần phải cố gắng lúc đầu. Ngày nào đó bạn sẽ kinh ngạc là phương pháp nào đó sẽ hấp dẫn bạn.

    Vậy khi tôi giải thích những phương pháp này, bạn hãy thử xem sao. Tôi nói bạn thử nghĩa là chẳng có gì là nghiêm trọng cả. Đùa giỡn thôi. Có thể bạn gặp cái bạn thích. Nếu nó thích hợp với bạn, hãy làm hết mình, hãy dốc toàn lực vào đó một cách hang say, với cả tấm lòng. Nhưng trước đó hãy đùa giỡn thôi.

    Kinh nghiệm của tôi là khi đùa giỡn, bạn cởi mở hơn. Khi quá nghiêm túc, tâm trí bạn không cởi mở; nó bị khép kín. Cho nên chỉ đùa thôi. Đừng quá nghiêm trang. Những phương pháp này rất đơn giản, bạn có thể đùa giỡn với chúng.
    Hãy thử mỗi phương pháp ba ngày. Nếu nó cho bạn cảm giác thích thú, thoải mái, nếu bạn cảm thấy thích hợp, lúc đó hãy trở nên nghiêm chỉnh hơn. Lúc đó hãy quên những phương pháp khác. Hãy áp dụng nó ít nhất ba tháng. Phép lạ có thể xảy ra. Đòi hỏi duy nhất là nó thích hợp với bạn; nếu không, chẳng có gì sẽ xảy ra; nếu không, bạn có thể tập trong nhiều kiếp cũng như không. Nếu phương pháp đó hợp với bạn, chỉ vài phút là đủ.

    Cho nên trăm mười hai phương pháp này có thể rất mầu nhiệm đối với bạn. Tất cả tùy thuộc ở bạn. Tôi sẽ giải thích từ nhiều góc cạnh khác nhau. Nếu bạn thích, hãy đùa với nó trong ba ngày. Nếu nó hợp với bạn, nếu có thay đổi tốt, hãy tiếp tục trong ba tháng. Đời sống là một phép lạ. Nếu chưa thấy được những bí ẩn của nó, nghĩa là bạn chưa tìm được chìa khóa để mở nó ra.
    Shiva đặt ra một trăm mười hai phương pháp. Chúng là mẹ của mọi phương pháp. Nếu không phương pháp nào hợp với bạn, chẳng có gì có thể giúp được bạn cả. Vậy hãy quên tất cả mà vui sống. Tâm linh không phải là con đường của bạn.

    Một trăm mười hai phương pháp đặt ra cho toàn thể nhân loại, cho mọi thời đã qua đi và chưa đến. Chưa bao giờ và sẽ không bao giờ có người nói, “Một trăm mười hai phương pháp vô dụng đối với tôi.” Không thể có chuyện đó.

    Mỗi loại tâm trí đã được cân nhắc kỹ lưỡng. Mỗi loại người đều có một phương pháp Mật tông thích ứng. Có những phương pháp cho những loại người sẽ xuất hiện trong tương lai. Có những loại cho những lớp người của quá khứ. Nhưng đừng lo. Sẽ có nhiều phương pháp thích hợp với bạn.


    Hết Chapter 01. Đón xem Chapter 02 kỳ tới.

    Còn tiếp

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  12. #12
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Yoga Và Mật Tông

    "Yoga Và Mật Tông"


    Trích từ tác phẩm"Mật Tông Tâm Pháp"
    Bàn về bộ kinh Vigyana Bhairava Tantra
    với 112 Phương Pháp Thiền Của Shiva
    Chuyển ngữ: Vạn Sơn 2007
    [email protected]ahoo.com


    Câu hỏi thứ nhất:

    Cái gì khác biệt giữa Yoga truyền thống và Mật Tông? Hai con đường đó không giống nhau sao?

    Mật Tông và Yoga nói chung khác hẳn nhau. Mặc dù cả hai dẫn đến cùng một đích, hai pháp môn đó không những khác mà còn trái ngược nhau nữa. Điều này cần phải được hiểu rõ.

    Yoga cũng là phương pháp, là kỹ thuật. Cũng như Mật Tông, Yoga không phải triết lý. Chủ trương của nó là hành động, phương pháp, kỹ xảo. Hành động cũng đưa đến kết quả cuối cùng, nhưng quá trình của nó khác hẳn. Yoga đòi hỏi nhiều nỗ lực; đó là con đường của một chiến binh. Con đường của Mật Tông không đòi hỏi phải chiến đấu. Với Mật Tông, bạn có thể đam mê, nhưng với sự tỉnh thức.

    Yoga là kiềm hãm với cảnh giác; Mật Tông là đam mê với cảnh giác. Mật Tông nói dù bạn là thế nào chăng nữa, chân lý tối thượng cũng chẳng trái ngược với bạn. Đó là một sự tăng trưởng; bạn có thể vươn tới cái tối thượng. Giữa bạn và chân lý không có đối kháng. Bạn là một phần của nó. Cho nên chẳng cần tranh đấu, xung đột, chống đối với tánh tự nhiên của mình. Bạn phải nương theo thiên nhiên, phải sử dụng những gì đang có để vươn lên.
    Với Yoga, bạn phải tranh đấu với chính mình để vươn lên. Đối với Yoga, bạn và cái bạn có thể trở thành trái ngược nhau hoàn toàn. Kiềm hãm, đấu tranh, hủy bỏ con người hiện tại của bạn để trở thành cái bạn có thể trở thành. Siêu việt là tận diệt đối với Yoga. Bạn phải chết đi để con người thực của bạn xuất hiện.

    Đối với Mật Tông, Yoga là một sự tự sát tối hậu. Bạn phải tiêu diệt con người tự nhiên của bạn – thân xác, bản năng, ham muốn, và những cái tự nhiên khác. Mật Tông nói hãy chấp nhận con người của bạn. Đó là một sự chấp nhận sâu sắc. Đừng tạo ra một khoảng cách giữa bạn và tánh tự nhiên của bạn, giữa luân hồi và Niết Bàn. Đừng tạo một khoảng cách nào cả. Mật Tông không có khoảng cách; cái chết cũng không cần thiết. Chẳng cần phải chết đi mới được tái sinh. Nhưng bạn có thể siêu việt chính mình. Đòi hỏi duy nhất là chấp nhận chính mình.

    Hãy lấy một thí dụ. Dục là sinh lực cơ bản. Đó là cái sức mạnh đã sinh ra bạn. Từng tế bào trong cơ thể bạn là những kết quả của dục. Cho nên tâm trí con người xoay quanh vấn đề dục. Yoga nói bạn phải chống lại sinh lực này. Sự đấu tranh của bạn sẽ tạo ra một trung tâm mới. Càng đấu tranh, bạn càng tỏ ra hợp nhất với trung tâm mới. Trung tâm ấy không phải là dục nữa. Chống lại dục với sự tỉnh thức sẽ tạo nên một trung tâm mới, một sự kết tinh mới. Nó sẽ không phải là dục nữa. Chống lại dục sẽ tạo ra một năng lượng mới. Một sinh lực mới với một trung tâm mới sẽ thành hình.

    Mật Tông nói bạn phải lợi dụng sức mạnh của dục. Đừng tranh thắng với nó mà biến đổi nó. Đừng coi nó là kẻ thù. Hãy hợp tác với nó, bởi vì nó là sinh lực của bạn. Sinh lực là một hiện tượng thiên nhiên. Biết dùng nó thì tốt. Không biết thì hại. Bạn có thể kiềm chế nó, hoặc lợi dụng nó. Nếu dùng đúng cách sẽ có lợi cho bạn, không thì sẽ có hại.

    Quan điểm của Yoga đối nghịch hẳn - đối nghịch đối với tâm trí bình thường. Tâm trí bình thường bị phá hủy bởi chính ham muốn của nó nên Yoga bảo ta đừng ham muốn nữa, và hãy trở nên vô dục. Hãy chống lại ham muốn để trở thành một người mới không còn ham muốn.

    Mật Tông thì nói hãy để ý đến ham muốn nhưng đừng chống đối. Hãy thỏa mãn ham muốn ấy với sự tỉnh thức tuyệt đối, và khi tỉnh thức tuyệt đối, bạn sẽ vượt qua nó. Bạn quan sát nó nhưng không phải là nó. Bạn quan sát nó nhưng vẫn dửng dưng.

    Yoga hấp dẫn nhiều người vì nó đối nghịch với tâm trí thông thường. Đó là lý do Yoga rất dễ hiểu đối với mọi người. Ai cũng biết kết quả xấu của dục, nhưng vẫn làm nô lệ cho nó, như thể con rối bị nó giật dây.

    Mật Tông không lôi cuốn như thế. Nó có vẻ khó khăn quá, bởi vì sao có thể hưởng thụ mà không bị nó khống chế được? Sao có thể đam mê dục một cách tỉnh thức được? Người thường sẽ sợ hãi. Không những sợ mà những gì bạn biết về duc đều có thể nguy hiểm cho bạn. Có thể là bạn tự lừa dối mình. Bạn biết rất rõ là tâm trí của bạn rất đểu giả. Bạn biết bạn có thể thỏa mãn mọi ham muốn và dục vọng trong lúc tự lừa dối chính mình là bạn đang tỉnh thức. Đó là lý do bạn thấy nguy hiểm.

    Nguy hiểm không phải vì Mật Tông mà vì bạn. Bạn cảm thấy Yoga hấp dẫn vì bạn, vì tâm trí bình thường của bạn, vì tâm trí vừa muốn hưởng thụ vừa muốn kiềm chế dục của bạn. Bởi vì tâm trí bình thường không quân bình về vấn đề dục nên Yoga rất hấp dẫn. Vấn đề sẽ khác hẳn nếu con người quan niệm một cách tự nhiên đối với dục. Chúng ta không bình thường và không tự nhiên. Chúng ta bất bình thường, không lành mạnh và thực sự điên cuồng, nhưng vì ai cũng thế nên chúng ta không cảm thấy.

    Sự rất bình thường đến nỗi người không điên khùng sẽ bị coi là bình thường. Theo đó thì Chúa và Phật đều bình thường cả. Họ không phải người thường như chúng ta. Bình thường của chúng ta rất bệnh hoạn. Vì lý do ấy Yoga rất hấp dẫn. Mật Tông chỉ hấp dẫn nếu bạn quan niệm dục một cách tự nhiên, nếu bạn không bị vấn đề luân lý trói buộc, nếu bạn coi dục như thể tay chân của mình. Mật Tông chỉ hữu ích cho những người đó.

    Còn tiếp

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  13. #13
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Mật Tông Tâm Pháp (Tập I) :)

    "Yoga Và Mật Tông"


    Trích từ tác phẩm"Mật Tông Tâm Pháp"
    Bàn về bộ kinh Vigyana Bhairava Tantra
    với 112 Phương Pháp Thiền Của Shiva
    Chuyển ngữ: Vạn Sơn 2007
    [email protected]


    Câu hỏi thứ nhất:

    Cái gì khác biệt giữa Yoga truyền thống và Mật Tông? Hai con đường đó không giống nhau sao?

    Nhưng kỷ nguyên của Mật Tông đã xuất hiện. Chẳng chóng thì chầy Mật Tông sẽ được đám đông chấp nhận, bởi vì thời gian đã chín mùi để coi dục một cách tự nhiên. Có thể sự chấp nhận đó sẽ bắt đầu từ phương Tây, bởi vì nơi đó đã được các tâm lý gia như Freud, Jung, Reich dọn đường. Họ không biết gì về Mật Tông cả, nhưng họ đã tạo điều kiện để Mật Tông phát triển.

    Tâm lý học của Tây Phương đã kết luận rằng bệnh tình của con người có gốc ở dục, rằng sự khùng điên của con người do dục mà có.

    Cho nên trừ khi quan niệm ấy về dục được thay đổi, nhân loại khó mà được tự nhiên, bình thường. Con người trở nên điên khùng cũng vì thái độ sai lầm về dục. Sống một cách tự nhiên thì chẳng cần thái độ nào cả. Bạn có cần thái độ nào đối với mắt của bạn không? Chúng ác độc hay thiêng liêng? Bạn chống hay thuận với mắt của mình? Bạn chẳng có thái độ nào cả. Đó là lý do tại sao mắt của bạn bình thường.

    Nếu có thái độ không tốt về mắt của mình, cái nhìn của bạn sẽ khó khăn. Nó sẽ trở nên lệch lạc như thể dục vậy. Bạn sẽ thèm được nhìn, sẽ ham muốn, và sẽ ao ước được nhìn. Nhưng khi nhìn được rồi, bạn sẽ mặc cảm tội lỗi. Mỗi khi nhìn, bạn sẽ có cảm tưởng là mình làm gì sai quấy, là mình đã phạm tội. Có thể bạn sẽ làm hư đôi mắt của bạn. Mà càng muốn hủy diệt chúng, chúng càng trở nên hấp dẫn, càng lôi cuốn hơn. Bạn sẽ có những hành động trái ngược. Càng muốn nhìn, bạn càng cảm thấy xấu hổ. Điều đó đã xảy ra với dục.

    Mật Tông nói hãy chấp nhận chính mình. Chấp nhận toàn bộ. Và bạn chỉ trưởng thành nếu chấp nhận hoàn toàn. Vậy hãy dùng cái sinh lực của mình. Dùng cách nào? Hãy chấp nhận. Hãy tìm hiểu những sinh lực đó là gì. Dục là gì; hiện tượng này là gì. Chúng ta chưa hề biết rõ nó. Chúng ta chỉ biết về dục do người khác dạy cho. Có thể chúng ta đã tham dự vào dục với một mặc cảm tội lỗi, với một thái độ đè nén, vội vàng. Chúng ta phải làm gì đó để trút cái gánh nặng. Dục như thế không phải tình yêu. Bạn không thích nhưng không chừa được. Càng muốn từ bỏ, nó càng trở nên hấp dẫn. Càng muốn xua đuổi, nó càng xông tới.

    Bạn không thể chối bỏ nó. Nhưng thái độ chối bỏ, phá hủy này đã phá hủy chính cái tâm trí, chính sự tỉnh thức và sự nhậy cảm để hiểu rõ nó. Vì vậy, bạn đi vào dục mà thiếu hẳn sự nhậy cảm. Thế thì sao mà hiểu nó được? Nếu không có sự nhạy cảm sâu sắc, bạn không thể hiểu gì cả. Bạn phải sống động khi đi vào dục như thể một thi sĩ đi giữa vườn hoa. Nếu không thích hoa, bạn đi giữa rừng hoa mà mắt như thể nhắm chặt lại. Bạn sẽ đi một cách vội vã để ra khỏi vườn. Thế thì bạn chẳng nhận ra gì cả.

    Cho nên Mật Tông nói hãy chấp nhận chính mình. Bạn là một bí ẩn với nhiều tầng sinh lực. Hãy chấp nhận chúng với sự nhạy cảm sâu sắc, với tỉnh thức, với tình yêu và hiểu biết. Hãy làm quen với chúng. Thế thì mỗi ham muốn đều trở thành phương tiện để vượt qua nó. Thế thì mỗi loại sinh lực đều trở nên hữu ích. Được thế thì thậm chí thế giới này cũng trở thành Niết Bàn, và thân xác này trở thành một đền thờ linh thiêng, một đất thánh.

    Yoga chối bỏ trong khi Mật Tông chấp nhận. Quan điểm của Yoga là lưỡng phân. Đó là ý nghĩa của từ “Yoga”. Nghĩa của nó là hợp hai cái lại với nhau. Phải có lưỡng phân, phải có hai cái. Mật Tông nói không có lưỡng phân. Nếu có lưỡng phân, chúng không thể kết hợp được. Và dù bạn cố gắng cách nào, chúng vẫn tách biệt nhau. Sự đối kháng vẫn còn nguyên. Lưỡng phân vẫn là lưỡng phân.

    Nếu phàm và tục khác nhau, chúng không thể kết hợp được. Nếu không phải hai, nếu chỉ có vẻ khác nhau, chúng có thể kết hợp được. Nếu hồn và xác thực sự khác nhau, chúng không thể kết hợp làm một. Nếu bạn và Thượng Đế là hai, chẳng có cách nào hợp lại được. Hai vẫn là hai.

    Mật Tông nói chẳng có lưỡng phân; đó chỉ là bề ngoài. Thế thì để ý đến bề ngoài làm chi. Làm cho cái bề ngoài ấy nổi bật để làm gì? Hãy xóa bỏ điều đó ngay bây giờ. Bạn chỉ hợp nhất khi chấp nhận, không phải tranh đấu. Hãy chấp nhận thế giới, hãy chấp nhận thân xác và những gì liên quan đến nó. Đừng tạo ra một trung tâm mới nào, bởi vì Mật Tông nói rằng trung tâm ấy chính là cái tôi. Đừng tạo ra cái tôi. Chỉ cần nhận ra bạn là ai. Nếu tranh đấu, bạn sẽ làm cái tôi mạnh hơn.

    Cho nên không đệ tử Yoga nào không vị kỷ. Họ liên tục nói phải bỏ cái tôi, nhưng cái tôi của họ mạnh hơn cả. Chính quá trình họ trải qua đã tạo nên cái tôi. Quá trình ấy chính là sự chiến đấu. Nó tạo ra cái tôi của bạn. Và chiến đấu càng nhiều, cái tôi càng mạnh. Mà nếu thành công, bạn sẽ có cái tôi thật lớn.



    Còn tiếp

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  14. #14
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Mật Tông Tâm Pháp (Tập I) :)

    "Yoga Và Mật Tông"


    Trích từ tác phẩm"Mật Tông Tâm Pháp"
    Bàn về bộ kinh Vigyana Bhairava Tantra
    với 112 Phương Pháp Thiền Của Shiva
    Chuyển ngữ: Vạn Sơn 2007
    [email protected]

    Mật Tông nói đừng tranh đấu. Đừng làm cho nó mạnh hơn. Nếu hiểu rõ Mật Tông, sẽ có nhiều vấn đề, bởi vì đối với chúng ta, không tranh đấu nghĩa là chiều theo xác thịt. Không tranh đấu nghĩa là yếu đuối. Chúng ta sẽ sợ hãi. Chúng ta đã đam mê trong nhiều kiếp mà có được gì đâu. Nhưng đam mê của chúng ta không phải đam mê của Mật Tông. Mật Tông nói đam mê với tỉnh thức.

    Bạn đang nổi giận. Mật Tông không bảo bạn đừng nổi giận. Hãy nổi giận hết mình, nhưng với tỉnh thức. Nổi giận cũng không xấu, nhưng Mật Tông không chấp nhận say ngủ tâm linh và vô thức tâm linh. Hãy nổi giận trong tỉnh thức. Và đó là chìa khóa của Mật Tông. Nếu cảnh giác, bạn sẽ không thể nổi giận được; nó sẽ trở thành từ bi. Cho nên Mật Tông nói giận dữ không phải là kẻ thù của bạn; nó là hạt giống của từ bi. Chính cơn giận ấy, chính sinh lực ấy sẽ biến thành từ bi.
    Nếu bạn chống lại, nó sẽ không thể biến thành từ bi được. Cho nên nếu thành công trong sự tranh đấu, trong sự kiềm chế, bạn sẽ tự làm què quặt chính mình. Không còn giận dữ nữa vì nó đã bị bạn đè nén, nhưng cũng chẳng có từ bi, bởi vì không có giận dữ để biến thành từ bi. Giả thử bạn thành công trong việc đè nén dục, tình yêu cũng chết theo, bởi vì không có sinh lực của dục để biến thành tình yêu. Bạn không còn dục nhưng tình yêu cũng khô héo. Thế thì bạn sai ngay từ nền tảng, bởi vì giải thoát không thể có nếu thiếu tình yêu, tự do không thể có nếu thiếu tình yêu.

    Mật Tông nói rằng những sinh lực ấy cần phải được chuyển hoá. Ta có thể nói như thế này: nếu chối bỏ thế gian bạn sẽ không tìm được Niết Bàn, bởi vì thế gian cần phải được biến thành Niết Bàn. Vậy chẳng nên chống đối với sinh lực vốn là nguồn gốc của tự do và giải thoát.

    Cho nên Mật Tông khuyên ta không nên chống lại những sinh lực đã được trời ban cho. Hãy chấp nhận chúng. Hãy cám ơn là bạn biết giận, biết thèm muốn và biết tham lam. Hãy cám ơn là những nguồn sinh lực tiềm ẩn này có thể được biến đổi. Và khi dục được biến đổi, nó trở thành tình yêu khi nọc độc đã mất đi, khi xấu xa đã trở thành cái đẹp.

    Hạt giống xấu xa, nhưng khi nở hoa, nó sẽ trở nên rất đẹp. Vậy đừng vất bỏ hạt giống, bởi vì bạn sẽ vất bỏ cả hoa của nó nữa. Bạn chưa thấy được hoa vì chúng chưa hiển lộ, chưa xuất hiện. Hãy chăm sóc hạt giống này để nó có thể trở thành hoa. Vậy hãy chấp nhận với sự hiểu biết và tỉnh thức. Được thế thì đam mê cũng tốt.

    Thêm một đều rất lạ lùng và đó là một trong những khám phá quan trọng nhất của Mật Tông là: chỉ cần thái độ thù nghịch của bạn cũng đủ biến cái gì đó thành kẻ thù của bạn – tham, sân, si, dục vọng… Vậy hãy coi chúng là những món quà của trời đất và đón nhận với lòng biết ơn. Chẳng hạn, Mật Tông có rất nhiều phương pháp để chuyển hoá tánh xấu của dục. Hãy đến với dục như thể bạn đang bước vào một thánh địa. Hãy đến với nó như thể bạn đang cầu nguyện, như thể đang thiền. Hãy cảm thấy sự linh thiêng của nó.

    Đó là lý do vì sao tại Khajuraho, tại Puri, tại Konark đều có những tượng nam nữ đang âu yếm nhau. Những cảnh tượng trên tường của những đền thờ đó có vẻ rất nghịch lý đối với Ki Tô Giáo, với Hồi giáo và Kỳ Na Giáo. Sao đền thờ lại có những hình đó? Trên tường của các đền tại Khajuraho có đủ loại hình về dục được khắc trên đá. Ki Tô Giáo không thể nghĩ đến việc khắc những tượng đó trên tường của giáo đường.

    Hoàn toàn không thể có.

    Nhiều người Ấn hiện nay cảm thấy mặc cảm bởi vì họ được giáo dục bởi Ki Tô Giáo. Bên ngoài họ là Ấn, nhưng trong ruột là Ki Tô hữu. Họ cảm thấy tội lỗi. Một lãnh tụ Ấn, tên Purshottamdas Tandon, đã đề nghị phá hủy những đền đó bởi vì chúng không phải là những di sản của họ. Điều đó cũng đúng vì đã qua nhiều thế kỷ rồi, Mật Tông không còn giữa địa vị quan trọng trong lòng người Ấn nữa. Địa vị quan trọng của nó đã bị thay thế bởi Yoga, và Yoga không cần Khajuraho nữa, cho nên chúng phải bị phá huỷ.

    Mật tông nói hãy đến với dục như thể đang bước vào một đất thánh. Đó là lý do những tượng ấy đã được khắc lên tường. Mật tông nói hãy đến với dục như thể bạn đang viếng một thánh địa. Vì vậy, khi đến một đền thờ, khi nghĩ đến dục, tâm trí của bạn sẽ được kết hợp, nối liền. Thế thì bạn sẽ cảm thấy phàm và tục không phải là hai yếu tố đối chọi nhau, mà là một. Chúng không đối nghịch nhau, người là hai đối cực của cùng một hiện tượng. Bạn sẽ thấy được nhất thể khắp nơi. Bạn sẽ không chỉ thấy sự đối kháng bên ngoài, mà sẽ thấy cả cái bên trong kết hợp tất cả lại làm một.

    Đối với Mật tông, tất cả đều thiêng liêng. Hãy nhớ rõ như thế. Đối với Mật tông, tất cả đều thiêng liêng. Không có gì là xấu xa cả. Vấn đề có thể được nhìn theo cách này: đối với một người hư hỏng, tất cả đều xấu xa; đối với một người đạo đức giả, có những cái tốt đẹp và những điều xấu xa.
    Đối với Mật tông, tất cả đều thiêng liêng.

    Một nhà truyền giáo nói với tôi, “Thượng Đế đã dựng lên trời đất.” Tôi hỏi lại, “Ai gây ra tội lỗi?” Ông ấy nói, “Ma quỷ.”
    Tôi hỏi ông ấy, “Ai dựng lên ma quỷ?” Ông ấy bối rối nhưng cố nói, “Dĩ nhiên là Thượng Đế dựng lên ma quỷ.”

    Còn tiếp

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  15. #15
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Mật Tông Tâm Pháp (Tập I) :)

    "Yoga Và Mật Tông"



    Trích từ tác phẩm"Mật Tông Tâm Pháp"
    Bàn về bộ kinh Vigyana Bhairava Tantra
    với 112 Phương Pháp Thiền Của Shiva
    Chuyển ngữ: Vạn Sơn 2007
    [email protected]

    Ma quỷ gây ra tội lỗi, mà Thượng Đế dựng lên ma quỷ. Vậy thủ phạm thực sự là ai, ma quỷ hay Thượng Đế? Khái niệm nhị nguyên ấy luôn luôn dẫn đến những vô lý như thế. Đối với Mật tông, Thượng Đế và ma quỷ chẳng phải hai. Thật ra, đối với Mật tông, không có gì có thể gọi là xấu xa, hay ma quỷ cả; tất cả đều linh thiêng, tất cả đều thánh thiện. Đó là một quan điểm đúng đắn nhất, sâu sắc nhất. Nếu thế giới này cái gì không linh thiêng, nó từ đâu mà ra vậy?

    Cho nên chỉ có hai cách. Trước hết, người vô thần sẽ nói chẳng có gì linh thiêng cả. Thái độ đó cũng chấp nhận được. Ông ta là người nhất nguyên vì không thấy cái gì thiêng liêng cả. Ngược lại với quan điểm đó là của Mật tông: tất cả đều linh thiêng. Đó cũng là quan điểm nhất nguyên. Giữa hai quan điểm này là của người đạo đức giả. Người ấy chẳng phải hữu thần, cũng không phải vô thần bởi vì người ấy nhìn đâu cũng có xung đột. Toàn thể lâu dài triết lý, thần học của người ấy chỉ cố vá chỗ này những lại lòi chỗ khác ra.

    Nếu chỉ một tế bào, chỉ một nguyên tử trong thế giới này không linh thiêng, toàn thể thế giới này cũng chẳng linh thiêng, bởi vì sao nó có thể tồn tại trong một thế giới linh thiêng được? Cách nào? Nó được chống đỡ bởi mọi thứ khác: nó phải được chống đỡ bởi tất cả mới có thể tồn tại được. Mà nếu một phần tử ô trược ấy được mọi phần tử thiêng liêng khác bảo bọc, giữa chúng cái gì khác biệt không? Cho nên toàn thể thế giới hoặc là thiêng liêng, hoặc là xấu xa một cách vô điều kiện; chẳng có trường hợp thứ ba.

    Mật tông nói tất cả đều thiêng liêng. Đó là lý do chúng ta không hiểu được nó. Nó là quan điểm phi nhị nguyên nhất, nếu ta coi đó là một quan điểm. Nó không có quan điểm, bởi vì mọi quan điểm đều có tính lưỡng phân. Nó chẳng gạt bỏ bất kỳ điều gì nên nó chẳng có quan điểm. Đó là nhất thể cảm thấy được qua kinh nghiệm sống.

    Đó là hai con đường, Yoga và Mật tông. Mật tông không hấp dẫn nhiều người vì tâm trí què quặt của họ. Nhưng với một người có tâm hồn lành mạnh, không có hỗn độn bên trong, Mật tông có một vẻ đẹp. Người đó có thể hiểu được Mật tông. Ngược lại, Yoga dễ thu hút nhiều tâm trí bệnh hoạn.

    Và đừng quên là tâm trí của bạn biến mọi thứ trở thành hấp dẫn hay không. Bạn chính là yếu tố quyết định.

    Đó là hai cách tiếp cận khác nhau. Tôi không nói rằng bạn không thể thành công với Yoga. Bạn có thể thành công với Yoga, nhưng không phải loại Yoga đang thịnh hành hiện nay. Đó không phải Yoga chính thống, mà Yoga nhìn theo tâm trí lệch lạc của bạn. Yoga có thể là một phương pháp rất hữu hiệu để đạt đến điều tối thượng, nhưng nó chỉ có kết quả với một tâm hồn lành mạnh, khi nó không lệch lạc, không méo mó. Loại Yoga ấy khác hẳn.

    Chẳng hạn, Mahavira cũng áp dụng Yoga, nhưng Ngài không hề kiềm chế dục.

    Ngài biết rất rõ nó, đã sống với nó, đã chán ngấy nó. Nhưng nó trở nên vô dụng đối với Ngài, và không ám ảnh Ngài nữa. Đức Phật cũng thế. Ngài đã nếm đủ mùi đời và đã biết rất rõ tất cả. Ngài chẳng kiềm chế bất kỳ cái gì.

    Một khi bạn biết rõ cái gì đó, bạn không bị nó trói buộc nữa. Nó tự biến mất như thể lá khô lìa khỏi cành. Bạn không lẩn tránh nó vì chẳng có sự tranh đấu nào cả. Hãy nhìn vào mặt của Đức Phật. Ngài rất tự tại; chẳng hề có dấu hiệu Ngài phải cố gắng, tranh đấu. Ngài rất thư giãn; mặt của Ngài là biểu tượng của sự an bình.

    Hãy nhìn các đạo sĩ Yoga. Sự khắc khổ hiện rõ trên mặt họ. Sâu bên dưới đầy những hỗn loạn, như thể họ đang ngồi trên núi lửa. Bạn có thể thấy trong mắt của họ, trên mặt của họ. Họ đang kiềm chế đủ loại bệnh tật bên dưới; con đường của họ còn lắm gian nan.

    Trong một thế giới lành mạnh mà mọi người sống đời mình một cách chân thực, không bắt chước ai cả mà sống theo ý riêng mình, thì cả hai đều tốt đẹp. Người ấy có thể có được một sự nhạy cảm sắc bén mà không bị ham muốn ràng buộc; người ấy có thể đạt đến một điểm mà ham muốn trở thành vô ích và không cần thiết. Bạn cũng có thể đạt được điều đó, và theo tôi, Yoga cũng có thể dẫn về cùng một đích, y như Mật tông vậy. Chúng ta cần có một tâm hồn lành mạnh. Trong một thế giới mà con người sống đời một cách tự nhiên, Mật tông và Yoga đều đưa đến sự siêu việt ham muốn.

    Cho nên cả Yoga lẫn Mật tông đều vô ích đối với một tâm hồn què quặt. Cả hai đều dẫn đến sự giả dối. Cần phải có một tâm hồn lành mạnh, đặc biệt lành mạnh đối với dục, để bắt đầu cuộc hành trình. Được thế thì pháp môn nào cũng được. Bạn có thể chọn Yoga, có thể chọn Mật tông.

    Nói chung là có hai loại người, nam và nữ. Tôi không nói về thể chất mà nói về tâm lý. Với những người có nhiều nam tính về mặt tâm lý – mạnh mẽ, hung hăng, hướng ngoại – thì hợp với Yoga hơn. Ngược lại, những người nhiều nữ tính, nhanh tiếp thu, thụ động, không hung hăng thì nên chọn Mật tông. Và để giúp bạn hiểu rõ thêm. Đối với Mật tông, Mẹ Kali, Tara và các nữ thần đều rất quan trọng. Ngược lại, Yoga chẳng hề có đến một nữ thần mà toàn là nam thần. Yoga là cái năng lực hướng ngoại; Mật tông là năng lực hướng ngoại. Mà nếu nói theo tâm lý học hiện đại thì Yoga hướng ngoại, còn Mật tông hướng ngoại. Cho nên tất cả tùy thuộc mỗi cá nhân. Nếu bạn có tính hướng nội, tranh đấu không hợp với bạn. Nếu có tính hướng ngoại, hãy chọn Yoga.

    Nhưng vì chúng ta lẫn lộn, hỗn độn, chẳng có gì giúp chúng ta được cả. Ngược lại, tất cả đều xáo trộn. Yoga làm xáo trộn bạn. Mật tông cũng làm xáo trộn bạn. Liều thuốc nào cũng tạo ra bệnh mới vì người chọn thuốc không lành mạnh, bệnh hoạn. Kết quả là bệnh còn nặng hơn nữa. Cho nên tôi không nói rằng kết quả không thể có với Yoga. Tôi phải nhấn mạnh Mật tông bởi vì chúng ta sẽ cố gắng hiểu rõ Mật tông là gì.

    Còn tiếp

    Còn tiếp

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  16. #16
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Re: Mật Tông Tâm Pháp (Tập I) :)

    "Yoga Và Mật Tông"



    Trích từ tác phẩm"Mật Tông Tâm Pháp"
    Bàn về bộ kinh Vigyana Bhairava Tantra
    với 112 Phương Pháp Thiền Của Shiva
    Chuyển ngữ: Vạn Sơn 2007
    [email protected]

    Quy phục tác động như thế nào? Nếu bạn quy phục, chuyện gì sẽ xảy ra? Chúng ta sẽ hiểu phương pháp hoạt động như thế nào. Chúng ta sẽ bàn kỹ để hiểu rõ một cách khoa học cách làm việc của mỗi phương pháp.

    Khi quy phục, bạn trở nên như thể một thung lũng; khi có cái tôi, bạn như thể một đỉnh núi. Cái tôi nghĩa là bạn cao hơn hẳn mọi người; bạn là một nhân vật quan trọng. Người khác có thể không đếm xỉa đến bạn, có thể không nhận ra bạn, nhưng bạn biết rất rõ là bạn hơn hẳn người khác. Bạn như thể một đỉnh cao, không ai có thể so sánh được với bạn.

    Khi quy phục, bạn như thể một thung lũng. Bạn trở thành chiều sâu, không phải đỉnh cao. Khi là một thung lũng, từ mọi nơi trong vũ trụ đều đổ về bạn, bởi vì bạn là một khoảng trống, một hố sâu không đáy. Cả khối tồn tại sẽ đổ về vực thẳm ấy. Bạn có thể nói Thượng Đế sẽ đổ ập đến bạn từ khắp nơi, ngấm vào bạn từ mỗi chân lông.

    Sự quy phục này, sự trở thành thung lũng này, hố thẳm này có thể cảm thấy được từ nhiều cách. Quy phục có loại lớn, có nhỏ. Ngay cả những trường hợp nhỏ bạn cũng có thể cảm thấy được. Quy phục một đạo sư là quy phục nhỏ, nhưng bạn có thể cảm thấy được bởi vì tình yêu của ngài hướng về bạn ngay lập tức. Nếu có thể quy phục một đạo sư, bỗng dưng bạn cảm thấy được năng lượng của ngài. Nếu bạn không cảm thấy gì cả, đó là bằng chứng ngay cả quy phục nhỏ cũng không có.

    Có những câu chuyện thật là vô nghĩa đối với chúng ta, bởi vì chúng ta không biết chúng đã xảy ra như thế nào. Ma Ha Ca Diếp đến với Đức Phật, và Ngài chỉ để tay lên đầu ông ấy là phép lạ xảy ra. Ma Ha Ca Diếp nhảy múa như điên cuồng. Ngài Ananda mới hỏi Đức Phật, “Ông ấy làm sao vậy? Con đã ở với Thế Tôn bốn mươi năm mà chưa hề thấy như vậy. Ông ấy điên chăng? Hay là ông ấy đang đóng kịch? Chuyện gì đã xảy ra cho ông ấy? Con cũng hôn chân Thế Tôn cả ngàn lần rồi mà có thấy gì khác lạ đâu.”

    Tất nhiên là đối với Ananda, hoặc Ma Ha Ca Diếp điên, hoặc là muốn bịp người khác. Ananda đã sống với Đức Phật bốn mươi năm, nhưng có một vấn đề. Ông ấy là anh họ của Đức Phật. Vấn đề là ở chỗ đó. Bốn mươi năm trước khi trở thành đệ tử của Đức Phật, Ananda nói, “Tôi là anh họ của ông. Và khi ông điểm đạo cho tôi, tôi sẽ trở thành đệ tử của ông. Cho nên tôi có ba yêu cầu ông phải chấp nhận. Một là tôi luôn luôn ở gần ông. Ông phải hứa là không sai tôi đi đây, đi đó. Hai là tôi sẽ ngủ chung một phòng với ông. Ông không thể đuổi tôi ra ngoài. Tôi sẽ theo ông như hình với bóng. Và thứ ba, nếu tôi đưa ai đến gặp ông, bất cứ lúc nào, dù là đêm khuya ông cũng phải tiếp người đó. Bây giờ tôi vẫn còn là anh họ của ông thì ông phải hứa, chứ khi đã là đệ tử ông rồi tôi không thể ra điều kiện nữa. Vậy hãy hứa với tôi ba điều đó.”

    Đức Phật đã chấp nhận, và điều đó trở thành một vấn đề. Bốn mươi năm Ananda sống bên cạnh Đức Phật, nhưng ông ấy không thể quy phục bởi vì đó không phải là tinh thần quy phục. Nhiều lần Ananda hỏi Đức Phật, “Khi nào tôi mới đắc đạo?” Ngài trả lời, “Chỉ khi tôi chết, ông mới đắc đạo được.” Mà đúng y như vậy.

    Chuyện gì đã bất thình lình xảy ra cho Ma Ha Ca Diếp? Đức Phật có thiên vị ông ấy không? Không. Ngài không thiên vị ai cả. Lòng từ bi của Ngài luôn luôn hướng về mọi người. Nhưng bạn phải là một thung lũng, một tử cung để đón nhận. Nếu bạn cao hơn Ngài, sao bạn có thể nhận tình yêu ấy được? Bạn sẽ không cảm thấy tình yêu ấy. Bạn phải khiêm nhường. Thậm chí trong một quy phục nhỏ năng lượng cũng bắt đầu tuôn đến với bạn. Bỗng nhiên bạn trở thành phương tiện của một sức mạnh rất lớn.

    Có hàng ngàn câu chuyện như thế. Chỉ một cử chỉ, một cái nhìn cũng đủ làm một người trở nên đắc đạo. Chúng có vẻ không hợp lý với chúng ta. Sao nó có thể xảy ra được? Có thể lắm chứ. Thậm chí một cái nhìn của một đạo sư vào mắt của bạn cũng có thể thay đổi hoàn toàn bản thể của bạn, nhưng điều đó chỉ xảy ra khi bạn hồn nhiên, như thể một thung lũng. Nếu cái nhìn của ngài hấp dẫn được bạn, bạn sẽ trở nên khác ngay lập tức.

    Cho nên đây là những quy phục nhỏ đã xảy ra trước khi bạn quy phục hoàn toàn. Và những quy phục nhỏ này sửa soạn để bạn quy phục hoàn toàn. Một khi nhận ra là nhờ những quy phục nhỏ mà bạn nhận được những gì khó hiểu, bất ngờ, khó mà tin được, không thể ngờ được, bạn đã sẵn sàng để cho quy phục hoàn toàn sẽ xảy ra. Và đó là việc làm của một đạo sư. Ngài giúp bạn những quy phục nhỏ để bạn có đủ dũng cảm đối với quy phục hoàn toàn và tối hậu.

    Còn tiếp

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  17. #17
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    ]"Yoga Và Mật Tông" :)

    "Yoga Và Mật Tông"



    Trích từ tác phẩm"Mật Tông Tâm Pháp"
    Bàn về bộ kinh Vigyana Bhairava Tantra
    với 112 Phương Pháp Thiền Của Shiva
    Chuyển ngữ: Vạn Sơn 2007
    [email protected]

    Câu hỏi thứ ba:

    Có cách nào để biết một phương pháp nào đó sẽ dẫn đến điều tối thượng chăng?

    Có nhiều cách. Một là bạn cảm thấy nét đặc thù mới bên trong của bạn. Bạn không còn là người cũ nữa. Nếu phương pháp hợp với bạn, ngay lập tức bạn trở thành một người khác. Nếu là chồng, bạn không còn là người chồng cũ nữa. Nếu là một thương gia, cách buôn bán của bạn sẽ khác hẳn. Bất kỳ bạn là ai, nếu phương pháp hợp với bạn, nó sẽ biến bạn thành một người khác. Đó là dấu hiệu đầu tiên. Cho nên khi bạn bắt đầu cảm thấy có gì khác về chính mình, đó là dấu hiệu tốt. Nếu không thấy gì khác lạ, phương pháp ấy không thích hợp với bạn. Vậy dấu hiệu đầu tiên là nếu nó hợp với bạn, nó sẽ biến bạn thành một người khác ngay lập tức. Bỗng nhiên bạn nhìn đời một cách khác hẳn. Mắt bạn không thay đổi, nhưng người ẩn đàng sau chúng là một người khác.

    Sau đó là những gì trước đây tạo ra căng thẳng, xung đột cho bạn bắt đầu hết hiệu lực. Bạn không cần phải thực tập phương pháp đó qua nhiều năm để có kết quả đó. Không. Nếu phương pháp đó hợp với bạn, bị sẽ thấy kết quả ngay lập tức. Bạn cảm thấy có một sự sống động mới; gánh nặng của bạn đã vơi đi rất nhiều. Bạn sẽ cảm thấy nhẹ nhõm, như thế bay bổng được. Bạn đã có cảm giác khi ngồi trên máy bay sắp cất cánh chưa? Tất cả đang ồn ào thì thót một cái, trọng lực trở nên vô nghĩa. Trái đất không còn kéo bạn xuống nữa khi bạn thoát khỏi hấp lực.

    Tương tự như thế, nếu phương pháp thiền hợp với bạn, bỗng nhiên bạn bay bổng. Bỗng nhiên bạn cảm thấy hấp lực hết ý nghĩa; bạn không bị kéo xuống nữa mà được kéo lên. Nói theo ngôn ngữ của tôn giáo, điều đó gọi là một “ân sủng”. Đó là hai lực khác nhau. Trọng lực và ân sủng. Trọng lực kéo bạn xuống, còn ân sủng lôi bạn lên.

    Đó là lý do nhiều người cảm thấy mất trọng lực, cảm thấy bay lơ lửng trong lúc thiền. Nhiều người nói với tôi, “Thật là lạ! Khi thiền, tôi nhắm mắt lại thì cảm thấy lơ lửng trên không – một phân tây, hai phân, có khi đến bốn phân tây. Khi mở mắt ra, tôi vẫn ngồi dưới đất, nhưng khi nhắm mắt thì lại cảm thấy lơ lửng. Tại sao vậy? Khi mở mắt thì không có gì khác lạ cả. Tôi chẳng hề lơ lửng.”

    Thể xác của bạn ở lại bên dưới, nhưng bạn được lôi lên. Bạn được kéo lên từ bên trên. Bạn được kéo lên nếu phương pháp đó hợp với bạn, bởi vì phương pháp sửa soạn để bạn được kéo lên. Đó là ý nghĩa của phương pháp. Nó sửa soạn để bạn thích ứng với cái lực sẽ kéo bạn lên. Cho nên nếu nó hợp với bạn, bạn sẽ biết ngay là bạn bị mất trọng lực.

    Thứ ba là bất kỳ bạn làm gì, dù quan trọng hay không, bạn sẽ làm khác hẳn. Cách bạn đi sẽ khác. Tất cả đều khác. Bạn sẽ cảm thấy sự khác biệt này mọi nơi. Đôi khi cảm giác lạ này làm nhiều người sợ. Có người muốn trở lại như cũ vì họ đã quen với thói quen cũ. Mặc dù thói quen ấy rất nhàm chán, nhưng bạn đã thành thục quá rồi.

    Giờ thì bạn cảm thấy một khoảng cách khắp nơi. Bạn cảm thấy hiệu lực của bạn đã mất. Bạn cảm thấy lợi ích của mình đã giảm. Bạn cảm thấy như thể người ngoài cuộc. Bạn phải trải qua thời gian này, và bạn sẽ quen dần. Bạn đã thay đổi, nhưng thế giới thì vẫn thế nên bạn cảm thấy không thích hợp. Cho nên bạn phải nhớ điều thứ ba này là nếu phương pháp ấy hợp với bạn, bạn sẽ trở nên xa lạ với thế giới. Đâu đâu bạn cũng thấy có gì không ăn khớp. Đi đâu bạn cũng cảm thấy như thể có động đất. Bạn đã đổi khác trong khi tất cả vẫn y như vậy. Bạn sẽ phải thích hợp trên một bình diện mới.

    Sự thay đổi ấy được cảm thấy như thể đứa trẻ đến tuổi dậy thì. Người trai tuổi mười bốn, mười năm nào cũng cảm thấy nó đã đổi khác. Một sức mạnh mới đã đến với nó – sức mạnh của dục. Nó vẫn ở đó nhưng chưa lộ ra. Lúc đó sức mạnh ấy mới hiện ra. Đó là lý do trai gái đến tuổi dậy thì cảm thấy rất ngượng ngùng. Lớn không lớn hẳn, mà trẻ thì không còn trẻ nữa. Chúng chẳng biết chúng thuộc nhóm nào. Bạn với người lớn thì không hợp, mà với trẻ thì quá già. Chúng chẳng thích hợp với ai cả.

    Điều đó cũng xảy ra cho bạn khi bạn thích hợp một phương pháp nào đó. Một nguồn năng lực mới mạnh hơn cả dục nữa đã đến với bạn. Bạn đang ở thời kỳ chuyển tiếp. Bạn không còn thích hợp với thế giới của người trần tục nữa. Bạn không phải phàm tục, cũng không thuộc thế giới của hiền thánh; Bạn cảm thấy ngượng ngùng vì ở giữa hai thế giới.

    Nếu bạn gặp được phương pháp thích hợp, ba hiện tượng này sẽ xảy ra cho bạn. Có lẽ bạn không nghĩ tôi sẽ nói những điều này. Có thể bạn sẽ nghĩ tôi nói bạn trở nên thinh lặng hơn, an bình hơn. Nhưng tôi nói khác hẳn. Bạn sẽ bị quấy rối hơn trước. Bạn sẽ cảm thấy dao động hơn khi gặp phương pháp thích hợp. Bạn chỉ trở nên an bình hơn, thinh lặng hơn sau này. Mà nếu im lặng đến mà không bị quấy rối, phương pháp ấy không phải của bạn. Bạn đang trở về đường cũ.

    Đó là lý do vì sao nhiều người cầu nguyện hơn thiền vì cầu nguyện cho họ sự an ủi. Nó điều chỉnh, nó giúp họ thích nghi với thế giới. Cầu nguyện cũng có cùng kết quả như việc làm của các nhà phân tâm. Nếu bạn bị bất ổn, họ có thể giúp bạn nhẹ gánh hơn, giúp bạn thích nghi với xã hội, với gia đình. Một năm được phân tâm vài ba lần không giúp bạn khá hơn, nhưng giúp bạn thích nghi hơn. Các tu sĩ cũng làm như vậy. Họ giúp bạn thích nghi hơn.

    Con bạn chết nên bạn khổ tâm. Bạn đến với một thầy tu. Ông ấy bảo bạn, “Xin chớ buồn. Con ông đã trở về với Thượng Đế. Ngài đã gọi nó về với Ngài.” Bạn cảm thấy hài lòng. Con bạn đã được Thượng Đế gọi về vì Ngài thương nó hơn mọi người.” Thầy tu khác có thể nói, “Xin đừng buồn vì linh hồn bất tử. Con ông đã về nơi cực lạc rồi.”

    Cách đây vài ngày có một bà đến đây. Chồng bà chết tháng trước. Bà ấy rất đau khổ. Bà ấy nói với tôi, “Xin khẳng định với tôi là ông ấy đã đầu thai trong một điều kiện tốt và tất cả đều tốt đẹp. Xin xác định là ông ấy không bị đọa vào địa ngục, hoặc không sinh làm súc vật. Hãy nói là ông ấy đang ở miền cực lạc với chư thiên. Nếu có thể khẳng định được như thế thì tôi rất yên tâm, không thì tôi đau khổ lắm.”

    Thầy tu sẽ nói, “Không sao đâu! Chồng bà đã trở thành một vị thánh trên tầng trời thứ bảy, và ông ấy rất hạnh phúc. Ông ấy đang chờ bà đấy.”

    Những lời nguyện như thế giúp bạn điều chỉnh với khuân mẫu cũ; chúng an ủi bạn rất nhiều. Nhưng thiền là một khoa học. Nó không giúp bạn điều chỉnh mà giúp bạn chuyển hoá. Đó là lý do tôi nói có ba dấu hiệu. Thinh lặng sẽ có, nhưng không phải để điều chỉnh. Thinh lặng là kết quả của sự thăng hoa bên trong, không phải vì bạn được điều chỉnh với xã hội, với gia đình, với thế gian, với việc làm. Không. Im lặng ấy là sự hòa điệu với cả vũ trụ.

    Sự hòa điệu sâu sắc ấy kết hợp bạn với toàn thể. Sự kết hợp ấy mang đến im lặng, nhưng đó là giai đoạn cuối. Ban đầu bạn sẽ bị rối loạn, bạn sẽ trở nên điên khùng.

    Nếu bạn hợp với một phương pháp, nó sẽ làm bạn nhận rõ con người của bạn. Sự hỗn loạn của bạn, tâm trí của bạn, sự điên khùng của bạn, tất cả đều lộ ra. Bạn là một mớ hỗn độn đen tối. Khi gặp phương pháp thích hợp, bỗng nhiên dường như tất cả sáng rực làm mớ hỗn độn ấy hiện rõ ra. Lần đầu tiên bạn nhận rõ con người của mình. Bạn muốn tắt đèn để đi ngủ lại vì quá sợ hãi. Lúc đó sự có mặt của đạo sư rất hữu ích. Ngài sẽ nói, “Đừng sợ! Đó chỉ là lúc đầu. Đừng lẩn tránh.”

    Ban đầu ánh sáng cho bạn biết về con người của bạn, và nếu bạn tiếp tục, nó sẽ dẫn bạn hướng về con người của bạn có thể trở thành.

    Hết Chương 3. Đón xem Chương 4 "Hơi Thở - Cầu Nối Với Vũ Trụ"
    kỳ tới

    Còn tiếp

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  18. #18
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Hơi Thở - Cầu Nối Với Vũ Trụ :)

    "Hơi Thở - Cầu Nối Với Vũ Trụ"



    Trích từ tác phẩm"Mật Tông Tâm Pháp"
    Bàn về bộ kinh Vigyana Bhairava Tantra
    với 112 Phương Pháp Thiền Của Shiva
    Chuyển ngữ: Vạn Sơn 2007
    [email protected]


    "Shiva trả lời:
    1.Devi yêu quí, chứng nghiệm có thể xảy ra ngay giữa hai hơi thở. Ngay sau lúc hít vào và trước khi thở ra – Thật là phúc lạc.

    2.Khi hít vào vừa hết và bắt đầu thở ra, rồi khi lúc thở ra đổi sang hít vào, giữa hai điểm này, hãy ấn chứng.

    3.Hoặc ngay giữa khoảng cách khi thở ra và hít vào, hãy quan sát cái trung tâm không năng lượng và có năng lượng này.

    4.Hoặc khi thở ra vừa hết, hoặc khi hít vào vừa ngưng, trong hai lúc tạm ngưng này, tiểu ngã biến mất. Điều này chỉ khó cho những gì không trong sạch."


    Chân lý luôn luôn tại đây. Nó đã xảy ra rồi. Nó không phải là cái gì phải đạt được trong tương lai. BẠN là chân lý ngay tại đây và ngay lúc này, cho nên chân lý không phải là cái gì phải tạo ra, phải thay đổi, hay phải tìm kiếm. Hiểu được như vậy thì những phương pháp này sẽ rất dễ hiểu và cũng dễ áp dụng nữa.

    Tâm trí là một bộ máy ham muốn. Nó luôn luôn đòi hỏi, tìm kiếm, xin xỏ. Đối tượng của nó thuộc về tương lai. Nó chẳng quan tâm đến hiện tại. Ngay trong khoảnh khắc này thì nó bất lực. Nó chỉ đắc dụng khi có tương lai. Hoặc nó quay về quá khứ, hoặc mơ tưởng về tương lai. Hiện tại hoàn toàn vô dụng đối với nó. Nhưng chân lý luôn luôn nằm trong hiện tại, mà tâm trí thì hoặc vướng trong quá khứ, hoặc kẹt trong tương lai. Giữa chân lý và tâm trí chẳng có hội ngộ.

    Những đối tượng của trần tục chẳng khó khăn gì đối với tâm trí. Vấn đề dù khó đến đâu cũng có thể giải quyết được. Nhưng khi tâm trí muốn tìm kiếm chân lý, chính nỗ lực đó trở thành khôi hài, bởi vì chân lý ở ngay tại đây và ngay bây giờ, mà tâm trí luân lý hướng về nơi nào khác và lúc khác. Chẳng có tương phùng. Cho nên việc đầu tiên phải hiểu rõ là bạn không thể tìm chân lý. Bạn có thể gặp, nhưng không thể tìm. Chính sự tìm kiếm là một trở ngại.

    Khoảnh khắc bạn bắt đầu tìm kiếm, bạn rời xa hiện tại, xa khỏi bạn, bởi vì BẠN luôn luôn thuộc về hiện tại. Người tìm kiếm luôn luôn nằm trong hiện tại, còn tìm kiếm thì thuộc về tương lai; bạn sẽ không thể gặp được người mà bạn muốn tìm. Lão Tử nói, “Tìm sẽ không gặp. Không tìm sẽ gặp.”

    Mục đích của những phương pháp này là hướng tâm trí từ tương lai, hoặc từ quá khứ về với hiện tại. Những gì bạn muốn tìm đều đã có đủ ở đó. Tâm trí phải thay đổi từ tìm kiếm đến không tìm kiếm. Điều này rất khó. Rất khó về mặt lý trí. Làm cách nào để đổi từ ham muốn sang không ham muốn? Bởi vì tâm trí sẽ biến không ham muốn thành đối tượng mới. Nó sẽ nói, “Không ham muốn. Không tìm kiếm nữa.” Nó sẽ nói, “Bây giờ không ham muốn là lý tưởng của tôi. Tôi muốn đạt được trạng thái không ham muốn.” Ham muốn đã đổi dạng. Nó theo cửa sau mà đi vào. Đó là lý do có những người tìm kiếm những đối tượng ở đời này. Lại có những người muốn những lý tưởng đời sau. Mọi đối tượng đều phàm tục, bởi vì ham muốn giữ họ lại trong thế gian.

    Cho nên bạn không thể tìm những đối tượng không phàm tục. Một khi bạn tìm kiếm, nó trở nên phàm tục. Nếu tìm Thượng Đế, Ngài trở thành một phần của thế giới. Nếu bạn tìm giải thoát, Niết Bàn, chúng trở nên trần tục; giải thoát của bạn không phải là cái gì nằm ngoài thế giới vì tìm kiếm là phàm tục, ham muốn là trần tục. Cho nên không thể ham muốn Niết Bàn; bạn không thể không không ham muốn. Nếu bạn cố hiểu bằng trí thức, nó trở nên nan giải.

    Vì vậy Shiva không hề nói gì mà chỉ đưa ra phương pháp. Chúng không thuộc về trí thức. Ông ấy không nói với Devi rằng, “Đây là chân lý. Đừng tìm thì sẽ gặp.” Ông ấy lập tức dạy phương pháp. Những phương pháp ấy không thuộc về trí thức. Nếu áp dụng, tâm trí sẽ đổi hướng. Sự đổi hướng ấy là một hậu quả, một phó sản, không phải đối tượng. Đó là một kết quả tự nhiên.

    Nếu làm theo những phương pháp này, tâm trí bạn sẽ không bị tương lai và quá khứ lôi kéo nữa. Bỗng nhiên bạn nhận ra mình đang ở trong hiện tại. Đó là lý do Đức Phật dạy các phương pháp. Lão Tử cũng có các phương pháp riêng. Nhưng các Ngài luôn luôn mở đầu các phương pháp của mình với những khái niệm trí thức. Chỉ mình Shiva là khác hẳn. Ông ấy dạy phương pháp mà không đòi hỏi trí thức, chẳng cần mở đầu, bởi vì ông ấy biết rõ sự quỷ quyệt của tâm trí. Nó có thể biến mọi thứ thành một vấn đề. Không tìm kiếm sẽ trở thành một vấn đề.

    Có người hỏi tôi cách để không ham muốn. Họ muốn không ham muốn. Đã có người nói với họ, hoặc đọc trong sách, hoặc nghe từ người khác, rằng nếu không ham muốn, họ sẽ giác ngộ, rằng nếu không ham muốn, họ được giải thoát, rằng nếu không ham muốn, họ sẽ không đau khổ. Họ đã bị tâm trí gạt gẫm. Họ vẫn ham muốn. Chỉ khác là đối tượng đã thay đổi. Họ đang ham tiền, danh vọng, tiếng tăm, quyền thế. Nay họ muốn không ham muốn. Chỉ có đối tượng là thay đổi. Họ vẫn là người cũ, và ham muốn của họ vẫn không thay đổi, nhưng nay sự ham muốn đã được hóa trang.

    Vì lý do đó Shiva lập tức dạy phương pháp mà chẳng cần mở đầu lôi thôi. Ông ấy đi thẳng vào phương pháp. Nếu chúng được áp dụng, tâm trí sẽ đổi chiều; nó trở về hiện tại. Và khi trở về hiện tại, nó sẽ hết hoạt động. Không thể có tâm trí trong hiện tại, không thể có được. Ngay bây giờ, ngay tại đây và ngay lúc này, bạn có thấy tâm trí không? Ý tưởng chấm dứt vì chúng không thể chuyển động. Hiện tại chẳng có chỗ để di chuyển; bạn không thể suy nghĩ được. Nếu trụ ngay trong khoảnh khắc này, sao bạn có thể suy nghĩ được. Tâm trí ngưng lại. Bạn đã nhập vào vô niệm.


    Còn tiếp

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  19. #19
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Hơi Thở - Cầu Nối Với Vũ Trụ

    "Hơi Thở - Cầu Nối Với Vũ Trụ"



    Trích từ tác phẩm"Mật Tông Tâm Pháp"
    Bàn về bộ kinh Vigyana Bhairava Tantra
    với 112 Phương Pháp Thiền Của Shiva
    Chuyển ngữ: Vạn Sơn 2007
    [email protected]

    Cho nên mục đích chính là ở ngay tại đây và ngay lúc này. Bạn có thể thí nghiệm, nhưng mọi cố gắng đều vô ích, bởi vì nếu cố để ở trong hiện tại, mục đích của nỗ lực ấy đã thuộc về tương lai. Khi hỏi cách nào để trụ trong hiện tại, bạn đang hỏi về tương lai. Khoảnh khắc này đã bị câu hỏi chiếm chỗ, “Làm sao để trụ trong hiện tại? làm sao để ở ngay tại đây và ngay lúc này?” Thời điểm ấy đã qua đi vì thắc mắc ấy trong lúc tâm trí mơ màng về những mộng mơ trong tương lai. Bạn mơ về một ngày nào đó bạn sẽ biết thế nào là vô tâm, vô niệm, vô dục, vô cầu; tất cả chỉ còn là phúc lạc. Cho nên bạn muốn biết cách để ở trong hiện tại.

    Shiva không hề nói gì cả mà chỉ dạy những phương pháp. Cứ làm đi thì bỗng dưng bạn sẽ thấy mình ở ngay tại đây và ngay lúc này. Bạn nhận ra chân lý khi ở ngay tại đây và ngay trong thời điểm này. Đó là tự do. Đó là Niết Bàn.
    Phương pháp đầu tiên nói về hơi thở. Vậy chúng ta cần phải hiểu rõ về thở trước khi đi vào phương pháp đó. Chúng ta thở không ngừng từ lúc sinh ra cho đến chết. Mọi biến động đều xảy ra giữa hai điểm này. Tất cả thay đổi. Giữa sống và chết không có gì tĩnh tại cả, ngoại trừ thở.

    Đứa trẻ lớn lên rồi già và chết. Cơ thể của nó sẽ trở nên xấu xa, bệnh tật theo luật tự nhiên. Nó sẽ nếm đủ mùi hạnh phúc và đau khổ. Nhưng chẳng cần biết chuyện gì xảy ra giữa hai điểm này. Có một điều chắc chắn là nó phải thở. Vui hay buồn, trẻ hay già, thành hay bại, bất kể bạn là ai, chỉ có một điều không thể lẩn tránh được là bạn phải thở.

    Thở liên tục, không thể ngừng được. Nếu không thở, chỉ trong một thời gian ngắn là bạn chết ngắc. Cho nên bắt buộc bạn phải thở. Nếu quên không thở cũng có vấn đề. Cho nên, thật ra, bạn cũng không thở, bởi vì nó chẳng cần sự tham dự của bạn. Khi bạn ngủ say, thở vẫn tiếp tục. Khi hôn mê, thở cũng không ngừng. Thở chẳng cần bạn; nó diễn tiến liên tục, dù bạn biết hay không.

    Thở là một yếu tố không hề thay đổi trong đời của bạn. Đó là yếu tố đầu tiên. Nó là một điều tối cần và rất cơ bản cho đời sống. Đó là yếu tố thứ hai. Bạn không thể sống mà không thở. Cho nên thở và sự sống có cùng một ý nghĩa. Thở là một chức năng của sự sống, và sự sống dựa vào hơi thở. Đó là lý do Ấn Độ gọi thở là PRAJNA – nghĩa là sinh lực, là sống động. Sự sống của bạn là hơi thở.

    Hơi thở của bạn cũng là giây nối giữa bạn và cơ thể. Nó giữ bạn trong cơ thể và liên kết bạn với cơ thể của bạn. Nó cũng là cầu nối giữa bạn và vũ trụ. Cơ thể chính là vũ trụ hiện đến với bạn và gần bạn nhất.

    Cơ thể của bạn là một phần của vũ trụ. Mỗi tế bào trong cơ thể là một phần của vũ trụ. Nó là khoảng cách ngắn nhất đối với vũ trụ. Hơi thở là cầu nối. Nếu nó bị đứt, bạn sẽ vĩnh viễn giã từ cơ thể. Nếu hơi thở bị gián đoạn, bạn không thuộc về vũ trụ nữa. Bạn đi vào thế giới vô hình, nơi không có thời gian và không gian. Cho nên hơi thở là cầu nối giữa bạn với không gian và thời gian. Đó là yếu tố thứ ba.

    Vì vậy, hơi thở là yếu tố quan trọng nhất. Vì quan trọng nhất nên chín phương pháp đầu tiên thuộc về hơi thở. Nếu thở đúng cách, bỗng dưng bạn trở về với hiện tại. Nếu biết được bí mật của hơi thở, bạn tìm được nguồn sống. Nếu lợi dụng được hơi thở, bạn có thể siêu việt trên không gian và thời gian. Nếu làm chủ được hơi thở, bạn có thể xông pha trong đời nhưng chẳng dính bụi trần.

    Hơi thở có hai điểm. Một là tại giao điểm của cơ thể và vũ trụ; điểm khác là nơi nó tiếp xúc với bạn và thế giới siêu việt. Chúng ta chỉ biết có một một phần. Chúng ta chỉ biết khi nó gặp gỡ vũ trụ và cơ thể. Nhưng nó luôn luôn di chuyển từ cơ thể vật l‎ý đến cơ thể tinh tế, rồi lại từ cơ thể tinh tế đến cơ thể vật l‎ý. Chúng ta không biết điểm thứ hai. Nếu nhận ra điểm đó, phần khác của cầu nối, cực điểm khác của chiếc cầu, chúng ta sẽ được chuyển hóa một cách bất ngờ, sẽ bước vào một cảnh giới khác.

    Nhưng một điều cần phải biết là phương pháp của Shiva thuộc về Mật tông, không phải Yoga. Yoga cũng dùng hơi thở, nhưng quan điểm của Yoga và Mật tông khác hẳn nhau. Yoga hệ thống hóa hơi thở. Nếu làm chủ được hơi thở, sức khoẻ của bạn sẽ rất tốt. Nếu biết được bí mật của hơi thở, bạn sẽ rất thọ; bạn sẽ sống lâu và rất khoẻ mạnh. Bạn sẽ khỏe hơn, đầy sinh lực, sống động và tươi tắn hơn.

    Nhưng đó không phải là quan tâm của Mật tông. Nó không hệ thống hóa hơi thở mà dùng hơi thở để hướng vào trong. Bạn không phải thở theo một nhịp điệu nào cả. Bạn cứ thở tự nhiên. Quan trọng là để ý một vài điểm nào đó khi thở.

    Có một số điểm, nhưng chúng ta không để ý đến. Không lúc nào chúng ta không thở. Mới sinh ra đã thở, và ngay lúc chết cũng thở, nhưng chúng ta không hề để ý đến những điểm đó. Thế mới lạ chứ. Chúng ta tìm kiếm khắp nơi, từ Mặt Trăng đến những tinh cầu xa thăm thẳm, nhưng cái phần gần nhất của sự sống lại chẳng biết gì. Có những điểm của hơi thở mà chúng ta chưa hề quan sát, và chúng là những cánh cửa dẫn đến một cảnh giới khác, đến một bản thể khác, một tâm thức khác. Nhưng chúng rất tinh tế.

    Quan sát Mặt Trăng chẳng khó gì cả. Thậm chí đặt chân đến Mặt Trăng cũng không khó lắm. Bạn chỉ cần có kỹ thuật, máy móc và nhiên liệu cần thiết. Hơi thở là cái gần bạn nhất, mà càng gần thì càng khó thấy hơn. Càng gần càng khó; càng hiển nhiên càng khó. Nó gần đến nỗi giữa bạn và hơi thở của bạn chẳng có khoảng cách nào cả. Cũng có thể nói rằng có một khoảng rất nhỏ mà bạn phải quan sát thật kỹ mới có thể nhận ra những điểm đó. Những điểm đó là cơ sở của những phương pháp này.

    Vì vậy tôi sẽ bàn về từng phương pháp một.

    Shiva trả lời:

    Devi yêu quí, chứng nghiệm có thể xảy ra ngay giữa hai hơi thở. Ngay sau lúc hít vào, và trước khi thở ra – Thật là phúc lạc.

    Còn tiếp

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

  20. #20
    Join Date
    Aug 2005
    Posts
    498
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Mật Tông Tâm Pháp (Tập I) :)

    "Hơi Thở - Cầu Nối Với Vũ Trụ"



    Trích từ tác phẩm"Mật Tông Tâm Pháp"
    Bàn về bộ kinh Vigyana Bhairava Tantra
    với 112 Phương Pháp Thiền Của Shiva
    Chuyển ngữ: Vạn Sơn 2007
    [email protected]

    Phương pháp thứ nhất:

    Devi yêu quí, chứng nghiệm có thể xảy ra ngay giữa hai hơi thở. Ngay sau lúc hít vào, và trước khi thở ra – Thật là phúc lạc.

    Sau khi hít vào, và trước khi thở ra – ĐÓ LÀ PHÚC LẠC. Nếu để ý hai điểm này, giác ngộ có thể xảy ra. Khi hít vào, hãy quan sát. Trong một khoảnh khắc rất nhỏ, trước khi thở ra, chẳng có hơi thở. Và khi bị hít vào, tới một điểm nào đó hơi thở ngừng hẳn. Rồi khi thở ra, lại có một khoảng rất nhỏ hơi thở ngưng lại, trước khi bắt đầu hít vào.

    Cứ mỗi lần hít vào và thở ra, có mặt khoảnh khắc bạn không thở. Kinh nghiệm có thể xảy ra ngay lúc đó, bởi vì khi không thở, bạn không nằm trong thế giới này. Hãy cố gắng để hiểu điều này: khi không thở, bạn chết; bạn vẫn hiện hữu nhưng chết. Nhưng khoảnh khắc ấy quá ngắn nên bạn chẳng để ý đến.
    Đối với Mật tông, thở ra là chết mà hít vào là sống lại. Hít vào là tái sinh; thở ra là chết. Thở ra đồng nghĩa với chết. Hít vào đồng nghĩa với sống. Cho nên mỗi lần thở bạn chết đi rồi lại tái sinh. Khoảng cách giữa hai điểm này rất ngắn nhưng rất tinh tế. Vì vậy quan sát và cảnh giác sẽ giúp bạn cảm thấy được khoảng cách đó. Shiva nói rằng nếu bạn có thể nhận ra khoảng cách đó, thật là PHÚC LẠC. Ngoài khoảng cách đó ra, chẳng cần gì nữa. Bạn tràn đầy ân sủng; bạn đã chứng ngộ; điều muốn tìm đã xảy ra.

    Bạn chẳng cần phải học cách thở. Hãy để tự nhiên. Phương pháp đó đơn giản quá phải không? Có vẻ đơn giản thật. Thế mà nó giúp ta chứng ngộ được sao? Biết được chân lý là biết cái chẳng sinh, chẳng diệt, biết được cái vĩnh cửu luôn luôn hiện diện. Bạn có thể biết thở ra và biết hít vào, nhưng bạn không hề nhận ra khoảng cách giữa hai hơi thở đó.

    Thử đi. Bất thình lình bạn sẽ nhận ra. Bạn sẽ nhận ra vì nó luôn luôn ở đó. Chẳng có gì thêm vào cho bạn, hay cơ cấu của bạn. Nó đã ở đó rồi. Tất cả đều có đủ, ngoại trừ tỉnh thức. Vậy phải làm gì? Trước hết, hãy để ý khi hít vào. Hãy quan sát nó. Hãy quên tất cả và quan sát khi hơi thở đi vào, quan sát đường đi của nó.

    Khi hơi thở bắt đầu vào mũi, hãy quan sát. Hãy theo hơi thở đi vào một cách tỉnh thức. Hãy theo dõi hơi thở. Đừng để mất. Đừng đón đầu, cũng đừng theo sau. Hãy đi sát nó. Đừng quên điều này: đừng đi trước, đừng theo sau nó; hãy ra vào nhịp nhàng với nó.

    Hơi thở và tâm thức phải trở thành một. Khi hít vào, bạn cũng đi vào. Chỉ có cách đó bạn mới có thể nhận ra khoảng cách giữa hai hơi thở. Nói thì dễ chứ không dễ đâu. Đi vào với hơi thở, rồi đi ra với hơi thở: ra-vào, ra-vào. Liên tục như vậy.

    Đức Phật đặc biệt dùng phương pháp này, cho nên nó đã trở thành phương pháp của Phật Giáo. Đó là thiền Minh Sát - Vipasana, cũng được gọi là Anapanasati Yoga. Và Đức Phật dựa vào phương pháp này mà đạt đạo. Chỉ một phương pháp này thôi.

    Mọi tôn giáo trên thế giới, mọi thánh nhân trong đời, đều đắc đạo theo một phương pháp nào đó, và những phương pháp ấy không vượt qua một trăm mười hai phương pháp này. Phương pháp đầu tiên này là của Phật Giáo. Nó được coi là phương pháp của Phật Giáo vì Đức Phật đã giác ngộ với phương pháp này.

    Đức Phật nói, “Hãy quan sát hơi thở khi nó đi vào, và khi nó đi ra.” Ngài không nói về khoảng cách vì không cần thiết. Đức Phật nghĩ rằng nếu bạn quan tâm về khoảng cách giữa hai hơi thở, có thể sự tỉnh thức của bạn bị ảnh hưởng. Cho nên Ngài chỉ nói, “Hãy quan sát. Khi hít vào, hãy đi theo nó, và khi thở ra, hãy theo sát nó. Một cách vắn tắt là: theo hơi thở mà đi vào, đi ra.” Ngài không nói về đoạn cuối của phương pháp này.

    Lý do là vì Đức Phật phải nói với những người bình dân, và nói về khoảng cách đó cũng đủ tạo ra ham muốn cho họ. Ham muốn muốn đạt được khoảng cách trở thành rào chắn cho tâm thức, bởi vì muốn cảm thấy khoảng cách đó, bạn có thể tự lừa dối mình. Khi hít vào, bạn sẽ đi trước hơi thở vì muốn cảm thấy khoảng cách đó, nhưng lúc đó nó chưa xảy ra. Vì Đức Phật không hề nói đến khoảng cách đó, phương pháp của Ngài chỉ có một nửa.

    Nhưng nửa sau tự động xảy ra. Nếu bạn tiếp tục thở với sự tỉnh thức, bỗng dưng một ngày nào đó bạn sẽ tự nhận ra khoảng cách đó mà không biết. Bởi vì khi sự tỉnh thức của bạn trở nên sắc bén, sâu sắc và tập trung, toàn thể thế giới bên ngoài sẽ bị khép lại; thế giới của bạn chỉ còn lại là thở ra và hít vào. Vận động trường của tâm thức chỉ thu lại với hơi thở. Bất thình lình bạn sẽ nhận ra khoảng cách nơi không có hơi thở.

    Khi theo sát hơi thở với sự tỉnh thức tuyệt đối, khi không thở, sao bạn không biết được? Bạn sẽ nhận ra sự vắng mặt của hơi thở; lúc đó bạn sẽ cảm thấy hơi thở chưa xảy ra. Hơi thở ngưng lại hoàn toàn. Trong khoảng cách đó THẬT LÀ PHÚC LẠC.

    Phương pháp này thích hợp cho nhiều triệu người. Trong nhiều ngàn năm cả châu Á dùng phương pháp này. Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật, Thái, Tích Lan, Việt Nam – cả Á châu, ngoại trừ Ấn Độ, đều dùng phương pháp này. Hàng nghìn người đã giác ngộ vì phương pháp này. Và đó cũng là phương pháp đầu tiên.

    Nhưng không may là vì được coi là của Phật Giáo, người Ấn đã tránh phương pháp này. Vì nghĩ là của Phật Giáo, họ đã quên hẳn nó. Không những thế, còn một lý do để họ tránh né. Vì phương pháp đầu tiên của Shiva này, nhiều Phật tử đã coi cuốn Mật Tông Tâm Pháp này là của Phật Giáo, thay vì của Ấn Độ Giáo.

    Nó không phải của Ấn Độ Giáo, cũng không phải của Phật Giáo. Phương pháp là phương pháp. Đức Phật dùng nó, nhưng nó đã có từ trước rồi. Ngài đắc thành chánh quả vì phương pháp này. Nhưng nó đã có từ lâu, và là một trong những phương pháp đơn giản nhất – đơn giản so với các phương pháp khác. Dĩ nhiên tôi không nói nó đơn giản đối với bạn vì còn nhiều phương pháp khác phức tạp hơn. Vì lý do đó nó được coi là phương pháp đầu tiên.

    Tiếp đó là phương pháp thứ hai. Nó là một trong chín phương pháp liên quan đến hơi thở.

    Khi hít vào vừa hết, và bắt đầu thở ra, rồi khi lúc thở ra đổi sang hít vào, giữa hai điểm này, hãy ấn chứng.

    Nó giống phương pháp đầu tiên nhưng hơi khác, bởi vì nó không nhấn mạnh vào khoảng cách mà vào sự chuyển tiếp. Thở ra và hít vào làm thành một vòng tròn. Nhưng đừng nghĩ chúng là một. Thở ra, hít vào không giống nhau. Thở ra là một nửa của vòng tròn; hít vào là nửa khác.

    Vậy phải hiểu rõ là thở ra, hít vào tạo thành một vòng tròn. Chúng không phải là một vì chúng chẳng hề gặp nhau. Hơn nữa, thở ra và hít vào không phải là hai hơi thở mà thuộc cùng một hơi thở. Cùng một hơi thở nhưng lúc thì đi ra, lúc đi vào, cho nên nó phải đổi chiều bên trong. Nó phải ngừng hẳn và đổi chiều. Phải có một điểm để thở ra trở thành hít vào.

    Sao phải nhấn mạnh ở chỗ chuyển tiếp? Bởi vì, Shiva nói, khi hít vào vừa hết, và bắt đầu thở ra, rồi khi lúc thở ra đổi sang hít vào, giữa hai điểm này, hãy ấn chứng. Quá đơn giản, nhưng ông ấy nói, nếu nhận ra chỗ chuyển tiếp, bạn sẽ nhận ra chính mình.

    Còn tiếp

    Thông huyền phong đảnh
    Bất thị nhân gian
    Tâm ngoại vô pháp
    Mãn mục thanh san...

    Thông huyền chót núi
    Chẳng phải nhân gian
    Ngoài tâm không pháp
    Đầy mắt núi xanh...

Page 1 of 3 123 LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •