PDA

View Full Version : Sự Suy Thoái Chủ Nghĩa Vô Thần:



Tran Thanh
02-05-2008, 04:52 PM
THIÊN CHÚA ĐÃ TRỞ LẠI ĐỜI SỐNG. Thế giới đang mục kích sự phát triển rầm rộ của sự hoán cải và gia tăng tôn giáo, và Kitô Giáo phát triển nhanh hơn bất cứ tôn giáo nào khác. Lời tuyên bố của Nietzche, "Thiên Chúa đã chết", giờ đây đang được chứng minh là sai lầm. Nietzche đã chết. Hàng ngũ những người không có đức tin đang thu hẹp thành một phần của dân số thế giới. Chủ nghĩa thế tục đã mất đi căn tính của nó theo đà tiến bộ và hiện đại hóa, và hậu quả là nó mất đi sự hấp dẫn chính yếu. Thiên Chúa thật sống động, và viễn ảnh tương lai của Người có vẻ thật xuất sắc. Đây là câu chuyện trở lại của thế kỷ hai mươi mốt.

Nếu Thiên Chúa trở lại, tại sao chúng ta không thấy? Lý do là vì nhiều người chúng ta sống sai khu vực. Brent Staples viết trong tờ New York Times, "Hãy bất ngờ ghé vào một nhà thờ trong ngày Chúa Nhật, và có lẽ bạn sẽ thấy khoảng một chục người phân tán mỏng trong một nơi tôn nghiêm được xây cất cho hàng trăm hay hay ngàn người." Phải, tôi đã từng thấy "các hàng ghế vắng tanh và giáo đoàn tóc bạc" mà Staples diễn tả. Nhưng, Staples sống ở Nữu Ước và tôi sống ở California. Chúng tôi sống giữa những người vô thần.

Dĩ nhiên, những hàng xóm của tôi không nghĩ là họ vô thần. Rất ít người trong họ thuộc về một tổ chức vô thần hay có ghi danh mua sách báo vô thần. Một số người trong họ rất có học thức và tự cho mình là người theo thuyết bất khả tri: họ chưa quyết định vì chưa thấy chứng cớ. Còn có những người tự cho mình là Kitô Hữu, hoặc vì họ được sinh ra như vậy hoặc thỉnh thoảng họ có đến nhà thờ. Đặc điểm của những người này là họ sống như thể Thiên Chúa không hiện diện. Thiên Chúa không tạo nên điều gì khác biệt trong đời sống của họ. Đây là "chủ thuyết vô thần thực tiễn". Tất cả chúng ta đều có biết những người giống như vậy. Một số chúng ta ít khi biết được những người không như vậy. Và nhiều khi chính chúng ta sống như vậy.

Nếu chúng ta sống sai khu vực, sự nguy hiểm là chúng ta không biết đến sự phát triển quan trọng nhất trong thời đại chúng ta: sự hồi sinh tôn giáo trên toàn cầu. Nó đang xảy ra trong mọi lục địa. Trong quê hương Ấn Độ của tôi, Ấn Giáo đang phục hồi. Hồi Giáo cũng thế. Khi tôi viết về chủ nghĩa Hồi Giáo cực đoan và khủng bố tôi thường tự hỏi, "Khi nào người Hồi Giáo hiểu được sự quan trọng của chủ thuyết thế tục? Khi nào chúng ta nhìn thấy phong trào Cải Cách Hồi Giáo?" Câu trả lời của tôi là người Hồi Giáo không bao giờ hiểu được sự quan trọng của chủ thuyết thế tục. Họ cũng không cần hiểu, bởi vì như chúng ta sẽ thấy, chủ thuyết thế tục ngày càng trở nên không quan trọng, không như một hiện tượng toàn cầu. Hơn thế nữa, Hồi Giáo đang ở giữa thời kỳ cải tổ. Chúng ta thấy người Hồi Giáo đạo đức đang hồi sinh không chỉ ở Trung Đông nhưng còn ở Nam Dương, Mã Lai, Bangladesh, Thổ Nhĩ Kỳ, và Đông Phi Châu. Có lúc Thổ Nhĩ Kỳ là một tấm gương của Hồi Giáo thế tục, nhưng không còn nữa. Không quốc gia Hồi Giáo nào đi theo con đường của Thổ Nhĩ Kỳ, và trong những năm gần đây ngay cả Thổ Nhĩ Kỳ cũng chấm dứt kiểu cách của mình.

Một số phân tích gia Tây Phương diễn tả những cuộc hồi sinh tôn giáo trên thế giới như sự lớn mạnh của "thuyết duy văn tự" (fundamentalism). Đây là ảo tưởng của chủ thuyết vị chủng (cho dân tộc mình là hơn cả), khi nhìn thế giới qua lăng kính của thành kiến. Hãy nhớ rằng thuyết duy văn tự là một danh từ xuất phát từ Kitô Giáo Tin Lành. Đó là một danh từ mới được đặt ra để ám chỉ một nhóm Tin Lành tích cực hoạt động vào đầu thế kỷ hai mươi để chống với thuyết tiến hóa của Darwin và họ cổ võ việc đọc Kinh Thánh theo nghĩa đen. Thuyết duy văn tự là một danh từ vô nghĩa nằm ngoài khung cảnh này.

Dĩ nhiên, cũng có các dân quân Ấn Giáo và Hồi Giáo cực đoan của nhánh "bin Laden", và quả thật họ là mối đe dọa cho thế giới. Nhưng sự gia tăng của dân quân tôn giáo và sự gia tăng tôn giáo thì rất khác biệt. Nhóm này có thể lợi dụng nhóm kia, nhưng không thể lẫn lộn hai điều này với nhau. Sự hồi sinh tôi muốn nói đến là sự phục hồi toàn cầu của tôn giáo truyền thống. Điều này có nghĩa Ấn Giáo truyền thống, Hồi Giáo truyền thống, và Kitô Giáo truyền thống. Chữ "truyền thống" có nghĩa tôn giáo từng được hiểu và được thực hành trong nhiều thế kỷ. Đây là loại tôn giáo đang phát triển.

Tôn giáo truyền thống là nguồn chính, nhưng nó không chỉ là hình thức tôn giáo ngày nay. Còn có tôn giáo phóng khoáng. Người ta khó có thể nói về người Hồi Giáo phóng khoáng, vì trong thế giới Hồi Giáo tuyệt nhiên không có chủ nghĩa tự do. Nhưng có người Do Thái Giáo phóng khoáng, mà đạo Do Thái đối với họ dường như chỉ là vấn đề ký ức lịch sử và thói quen văn hóa. Ở Tây Phương có rất nhiều Kitô Hữu phóng khoáng. Một số tín hữu ấy tự khoác cho mình một loại sứ vụ đảo ngược: thay vì là các nhà thừa sai của giáo hội cho thế giới, họ trở thành các nhà thừa sai của thế giới cho giáo hội. Họ dành nhiều sức lực để làm cho giáo hội trở nên dân chủ hơn, để bảo đảm quyền bình đẳng cho phụ nữ, để hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, và vân vân. Một nhánh nhỏ nhưng có ảnh hưởng của nhóm Kitô Giáo phóng khoáng đã tẩy chay mọi học thuyết cốt yếu của Kitô Giáo. H. Richard Niebuhr đã thật tài tình tóm lược tín điều của nhóm này: "Một Thiên Chúa không trừng phạt đưa con người không tội lỗi vào một vương quốc không có sự phán xét qua sự chăm sóc của một Kitô không thập giá."

Tôi đã gặp các Kitô Hữu phóng khoáng, họ là những người tốt và thành thật. Nhưng quan điểm Kitô Giáo của họ thì đang đi lùi, trong hai ý nghĩa. Người Kitô Giáo phóng khoáng được phân biệt bởi những điều luân lý và sự hiểu biết mà họ nhìn nhận đối với các kẻ thù của Kitô Giáo. "Cứ cho là không ai có lý trí còn tin vào phép lạ, nhưng…" "Đúng vậy, Thiên Chúa trong Cựu Ước dường như là một người đầy căm thù, nhưng…" "Phải thú nhận rằng tôn giáo có trách nhiệm về hầu hết các cuộc xung đột và đàn áp trong lịch sử, nhưng…."

Loại Kitô Giáo đúng-nhưng này ngày càng trở nên ít quan trọng. Các giáo hội phóng khoáng đang mất dần hàng loạt phần tử. Có lúc các giáo hội này tiếp nhận một trong sáu người Hoa Kỳ; bây giờ họ chỉ còn một trong ba mươi. Trong năm 1960 giáo hội Presbyter có 4.2 triệu phần tử; giờ đây chỉ còn 2.4 triệu. Giáo hội Episcopal từng có 3.4 triệu; giờ đây chỉ có 2.3 triệu. Giáo hội "United Church of Christ" từng có 2.2 triệu; giờ đây chỉ còn 1.3 triệu. Các Kitô Hữu truyền thống vẫn ở trong các giáo hội phóng khoáng thì ngày càng trở nên xa lạ. Một số quá chán ngán đến độ họ tự đặt mình dưới thẩm quyền của các giáo sĩ ít phóng khoáng hơn có cơ sở ở các quốc gia như Nigeria, Ghana, và Ivory Coast.

Không may, những đề tài chính yếu của một số giáo hội phóng khoáng này thì càng giống với chủ đề của các tổ chức như "American Civil Liberty Union", "National Organization for Women," và các phong trào tranh đấu cho quyền đồng tính luyến ái. Sao lại phải lắng nghe John Shelby Spong, giám mục Anh Giáo, lải nhải trong khi bạn có thể nghe cùng luận điệu ấy trong một quang cảnh ngoạn mục hơn của cuộc diễn hành đầy tự hào của người đồng tính luyến ái tại San Francisco? Các giáo hội truyền thống chứ không phải các giáo hội phóng khoáng thì đang lớn mạnh tại Hoa Kỳ. Tỉ như, trong năm 1960 các giáo hội chi nhánh của "Southern Baptist Convention" có 8.7 triệu thành viên. Giờ đây họ có 16.4 triệu.

Sự lớn mạnh của tôn giáo truyền thống và sự sút giảm của tôn giáo phóng khoáng đặt ra một vấn đề quan trọng về đường lối hiểu biết các khuynh hướng tôn giáo hiện nay. Đây là đường lối thế tục: họ nghĩ rằng khoa học, lý lẽ, tiến bộ, và sự hiện đại hóa sẽ đưa đến kết quả không thể tránh được là Tây Phương sẽ tiếp tục ngày càng tục hóa, sau đó cả thế giới sẽ theo sau. Những người tiêu biểu cho phong trào tục hóa tin tưởng rằng, như Peter Berger đã viết, "rồi thì các thầy đạo Iran, mục sư Pentacost, và thầy tu Tibet sẽ suy nghĩ và hành động như các giáo sư văn chương tại các đại học Hoa Kỳ."

Trong một phần của thế kỷ qua, lời tường thuật ấy dường như hợp lý. Người đời tin điều đó và hân hoan, trong khi tín đồ cũng tin điều đó và than vãn. Nhưng giờ đây chúng ta thấy luận đề đó có một khó khăn. Nếu phong trào tục hóa tiến triển liên tục thì các tín đồ phải ngày càng ít đạo đức, và các giáo hội truyền thống sẽ thu hẹp trong khi các giáo hội phóng khoáng sẽ gia tăng. Nhưng thực tế lại trái ngược.

Một số học giả ghi nhận điều này là sự "phản hồi" đối với phong trào tục hóa, nhưng điều này càng làm cho người ta thắc mắc: điều gì đã gây nên sự phản hồi? Luận điệu của phong trào tục hóa được dựa trên giả thuyết rằng khoa học và sự hiện đại hóa sẽ thỏa mãn những khao khát và nhu cầu như tôn giáo trước đây đã làm được. Nhưng một cuộc nổi dậy chống với sự tục hóa cho thấy có lẽ các nhu cầu quan trọng vẫn chưa được đáp ứng, và vì thế người ta đang tìm kiếm một sự hồi sinh tôn giáo—có lẽ trong một hình thức mới--để giải quyết các lưu tâm đặc biệt trong một xã hội trần tục.

Dĩ nhiên luận điệu của phong trào tục hóa không phải là hoàn toàn vô căn cứ. Trong Âu Châu, Úc Châu, và Gia Nã Đại, tôn giáo đã bị xóa bỏ khỏi dòng văn hóa chính. Nó bị hạ cấp đến độ chỉ còn là một hiện tượng du lịch; khi bạn đến Chartres hay Canterbury, hướng dẫn viên nói với bạn về lịch sử kiến trúc và nghệ thuật nhưng rất ít nói đến niềm tin của những người đã tạo ra các công trình ấy. Theo bản thăm dò có tên "European Values Survey", số người đi nhà thờ thường xuyên trong khoảng 10 đến 25 phần trăm dân số, tùy theo quốc gia. Chỉ có một phần năm người Âu Châu cho rằng tôn giáo thì quan trọng trong đời sống. Tổng thống Tiệp là Vaclav Havel đã rất đúng khi diễn tả Âu Châu là "nền văn hóa vô thần đầu tiên trong lịch sử con người."

Bức tranh tôn giáo ở Âu Châu không phải là không ngừng ảm đạm. Chín mươi phần trăm người Hy Lạp nhìn nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa, và chỉ 5 phần trăm người Hy Lạp là vô thần. Ái Nhĩ Lan vẫn có số người đến nhà thờ khoảng 45 phần trăm, gấp đôi toàn thể lục địa này, mặc dù đạo Công Giáo ở Ái Nhĩ Lan cũng suy yếu trong các thập niên gần đây. Cùng với Ái Nhĩ Lan, Ba Lan và Slovakia là hai quốc gia đạo đức nhất Âu Châu. Và một số bình luận gia nhận xét rằng ngay cả người Âu Châu không đạo đức vẫn tiếp tục coi mình là "có tinh thần". Các phân tích gia này lý luận rằng, tổng quát Âu Châu chưa từ bỏ tôn giáo nhưng chỉ "sắp xếp lại" tôn giáo.

Nhưng nếu Âu Châu nói chung hỗ trợ các luận điệu tục hóa thì Hoa Kỳ là một trường hợp nhiều khó khăn hơn. Hoa Kỳ không đi theo con đường của Âu Châu. Thật đúng là số người đến nhà thờ ở Hoa Kỳ sút giảm trong ba thập niên qua. Nhưng, khoảng 40 phần trăm người dân Hoa Kỳ nói rằng họ đến nhà thờ trong ngày Chúa Nhật. Trên 90 phần trăm người Hoa Kỳ tin vào Thiên Chúa, và 60 phần trăm nói rằng đức tin là điều quan trọng. Nghiên cứu dữ kiện về tôn giáo, Paul Bloom viết trong tờ "Atlantic Monthly" rằng "trên một nửa người Hoa Kỳ tin có phép lạ, ma quỷ, và thiên thần. Hầu hết người Hoa Kỳ tin rằng sau khi chết họ sẽ được thực sự gặp lại thân nhân và được gặp Thiên Chúa." Tất cả những điều này là một khó khăn trầm trọng cho luận điệu tục hóa, vì Hoa Kỳ đứng đầu sự hiện đại hóa. Luận điệu này tiên đoán rằng Hoa Kỳ sẽ là xã hội trần tục nhất trên thế giới. Thực tế, Hoa Kỳ là quốc gia đạo đức nhất trong thế giới Tây Phương.

Có lẽ khó khăn lớn nhất cho thuyết tục hóa là trong một thời đại ngày càng hiện đại hóa và toàn cầu hóa, thế giới nói chung thì ngày càng đạo đức, chứ không bớt. Trong một cuộc thăm dò mới đây, Pippa Norris và Ron Inglehart tóm lược các chứng cớ. Bất kể sự tiến bộ của phong trào tục hóa ở Tây Phương, họ viết, "Toàn thể thế giới giờ đây lại có thêm những người có quan điểm tôn giáo truyền thống hơn trước, và họ tạo thành một lực lượng ngày càng gia tăng của dân số thế giới." Kết quả, Tây Phương thì càng tục hóa nhưng "toàn thể thế giới ngày càng đạo đức."

Đáng chú ý hơn nữa là sự hồi sinh tôn giáo đang xảy ra ở những nơi có sự hiện đại hóa nhanh chóng. Trung Cộng và Ấn Độ ngày nay có tỉ lệ gia tăng nhanh nhất thế giới, và tôn giáo đang lớn mạnh ở cả hai nơi. Thổ Nhĩ Kỳ là một trong các quốc gia Hồi Giáo tân tiến nhất, và người Hồi Giáo vững vàng phát triển mạnh. Ở Trung và Nam Mỹ, các giai cấp đang lên hiện đi theo Kitô Giáo Pentecost.

Sự lan tràn của văn hóa Hoa Kỳ, cùng với các giá trị trần tục, dường như không ngăn cản và ngay cả làm trì trệ sự bộc phát tôn giáo. Lý do là vì nhiều văn hóa không phải Tây Phương đang tích cực chống với chủ thuyết tục hóa. Một khẩu hiệu phổ thông ở Á Châu ngày nay là "hiện đại hóa nhưng không Tây Phương hóa". Nhiều người muốn sự thịnh vượng của Hoa Kỳ và kỹ thuật của Hoa Kỳ, nhưng họ muốn dùng những điều này để duy trì và củng cố nếp sống truyền thống của họ. Họ muốn sống trong một thế giới nhiều sự hiện đại hóa.

Chúng ta thường nghe nói Hồi Giáo là tôn giáo phát triển nhanh nhất. Không đúng. Kitô Giáo là tôn giáo phát triển nhanh nhất trên thế giới ngày nay. Hồi Giáo đứng thứ nhì. Trong khi Hồi Giáo gia tăng phần lớn nhờ sự sinh sản--người Hồi Giáo thường có gia đình đông—Kitô Giáo lan tràn qua sự cải đạo nhanh chóng cũng như gia tăng tự nhiên. Hồi Giáo trở nên tôn giáo phát triển nhanh nhất ở Âu Châu, mà trước đây trên một ngàn năm nó từng là mái nhà của Kitô Giáo. Năm 1920, văn sĩ Công Giáo Hilaire Belloc viết "đức tin là Âu Châu và Âu Châu là đức tin." Belloc tin rằng tương lai của Kitô Giáo nằm ở Âu Châu.

Thật cay đắng, trong khi Âu Châu tách rời khỏi Kitô Giáo, tôn giáo này lại phát triển ảnh hưởng ở Trung và Nam Mỹ Châu, ở Phi Châu, và ở Á Châu. Vì lần đầu tiên trong lịch sử, Kitô Giáo trở nên một tôn giáo hoàn vũ. Nó thực sự là tôn giáo duy nhất ở khắp nơi. Phật Giáo và Hồi Giáo, cũng như Kitô Giáo, là các tôn giáo có khát vọng toàn cầu, nhưng những khát vọng này chưa được thực hiện. Phật Giáo chưa bao giờ được chính thức hóa ngay cả trong phần đất nơi phát sinh, là Ấn Độ, dù nó có quan hệ chặt chẽ với các nền văn hóa Đông và Nam Á Châu. Tuy có ít tín đồ ở Tây Phương, Phật Giáo vẫn là một tôn giáo có ảnh hưởng trong vùng. Hồi Giáo thì vững mạnh rộng lớn hơn, nhưng ngay cả như vậy Hồi Giáo chỉ có tính cách địa phương, ít có ảnh hưởng ở Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Trung và Nam Mỹ Châu, hay Úc Châu. Ngược lại, Kitô Giáo là một lực lượng trong mọi lục địa và trong mọi vùng chính yếu của thế giới, với ngoại lệ duy nhất là Trung Đông, tâm điểm của Hồi Giáo.

Khuôn mặt mới của Kitô Giáo không còn là da trắng hay hoe vàng nhưng là da vàng, da đen và da nâu. Philip Jenkins viết trong The Next Christendom, "Nếu chúng ta muốn hình dung ra một Kitô Hữu tiêu biểu đương thời, chúng ta phải nghĩ đến người phụ nữ sống trong ngôi làng ở Nigeria hay trong khu lụp xụp ở Brazil." Các trung tâm quan trọng của Kitô Giáo ngày nay không còn ở Geneva, Rôma, Ba Lê, hay Luân Đôn. Mà là Buenos Aires, Manila, Kinshasa, và Addis Ababa. Jenkins nhận xét, "Thời đại Kitô Giáo Tây Phương đã qua đi trong cuộc đời chúng ta, và những ngày của Kitô Giáo Nam Phương đang ló dạng."

Trong năm 1990, trên 80 phần trăm Kitô Hữu sống ở Âu Châu và Mỹ Châu. Ngày nay 60 phần trăm sống trong thế giới đang phát triển. Trên hai phần ba tín hữu Kitô hiện sống ở Á Châu, Phi Châu, và Nam Mỹ Châu. Sau đây là những con số Jenkins cho biết: Âu Châu ngày nay có 560 triệu Kitô Hữu và Hoa Kỳ có 260 triệu, tuy nhiên nhiều người chỉ mang danh là Kitô Hữu. Trong khi có 480 triệu Kitô Hữu ở Nam Mỹ, 313 triệu ở Á Châu, và 360 triệu ở Phi Châu. Phần lớn những người này là Kitô Hữu có sống đạo. Ở Ghana có nhiều người phái Presbyter đến nhà thờ hơn là ở Scotland.

Đã vậy, sự gia tăng Kitô Hữu này xảy ra sau khi chấm dứt sự xâm lăng và chủ nghĩa thực dân của Âu Châu. Những người đội nón thuộc địa từ lâu không còn nữa, nhưng đức tin đi theo với họ đến đây lần đầu tiên vẫn còn kéo dài và giờ đây đức tin ấy phát triển mà không cần họ. Nó giống như thời Kitô Giáo tiên khởi. Sau khi Constantine trở lại đạo và Theodosius công bố Kitô Giáo là quốc giáo cho đến khi chấm dứt thế kỷ thứ tư, Kitô Giáo được đế quốc La Mã chống đỡ. Tuy nhiên đức tin ấy lại lan tràn mau hơn sau khi đế quốc xụp đổ, và không lâu toàn thể Âu Châu là Kitô Hữu. Chúng ta đang chứng kiến một bước phát triển tương tự cho Kitô Giáo trên toàn thế giới.

Một thế kỷ trước, ít hơn 10 phần trăm Phi Châu là Kitô Hữu. Ngày nay nó gần 50 phần trăm. Đó là sự gia tăng từ 10 triệu người trong năm 1900 đến hơn 350 triệu ngày nay. Chỉ nước Uganda thôi có gần 20 triệu Kitô Hữu và được dự đoán sẽ có 50 triệu vào giữa thế kỷ này. Một số giáo phái Phi Châu phát triển quá mạnh đến độ nhà thờ của họ không còn chỗ. Trong khi các nhà thuyết giáo Tây Phương lúc nào cũng phải nài nỉ dân chúng đến nhà thờ ngày Chúa Nhật để lấp đầy các hàng ghế, một số nhà giảng thuyết Phi Châu lại phải yêu cầu tín đồ giới hạn sự tham dự để giúp cho người khác có cơ hội được nghe tin mừng.

Trung và Nam Mỹ đang chứng kiến sự gia tăng vượt bực của phái Pentacostal. Như David Martin cho thấy trong cuốn "Tongues of Fire", một phần của sự kiện này là vì sự chuyển đổi trong lòng Kitô Giáo: hàng triệu người Công Giáo Nam Mỹ đi sang các giáo phái Tin Lành. Thí dụ, ở Brazil, hiện giờ có khoảng 50 triệu người Tin Lành trong khi một vài thập niên trước đây không đủ để đếm. Tuy nhiên, sự chuyển đổi của người Công Giáo sang Tin Lành không chỉ thuần túy có tính cách chiều ngang, mà sự hoán cải của người Công Giáo ủy mị sang người Tin Lành tích cực, hăng hái có thể coi là một mối lợi cho Kitô Giáo. Ngay trong Công Giáo cũng có phong trào canh tân đoàn sủng đang lớn mạnh để phản ứng với sự thành công của các giáo phái Tin Lành. Sự canh tân đoàn sủng Công Giáo nhấn mạnh đến cùng chủ đề tỉ như Kitô Giáo "tái sinh", bao gồm sự tương giao cá biệt với Chúa Kitô. Và số giáo dân Công Giáo vẫn to lớn: Brazil có 50 triệu người Công Giáo trong 1950, nhưng giờ đây nó có đến 120 triệu.

Bất kể những bó buộc do nhà cầm quyền Trung Cộng áp đặt, người ta ước lượng hiện giờ có khoảng 100 triệu Kitô Hữu trong các giáo hội thầm lặng, Công Giáo cũng như Tin Lành. Với tỉ lệ phát triển hiện thời, David Aikman nhận xét trong cuốn Jesus in Bejing rằng trong một vài thập niên tới, Trung Cộng sẽ trở thành quốc gia Kitô Giáo lớn nhất thế giới. Ở Đại Hàn, số Kitô Hữu vượt cả số tín đồ Phật Giáo, có nhiều nhà thờ thật lớn với sức chứa trên 10,000 người. Giáo Hội Yoido Full Gospel cho biết có 750,000 thành viên. Giáo hội Công Giáo ở Phi Luật Tân cho biết có 60 triệu phần tử, và dự trù sẽ lên đến 120 triệu vào giữa thế kỷ này.

Điều đặc biệt của các Kitô Hữu này, Philip Jenkins cho biết, là họ đắm mình trong thế giới của Kinh Thánh đến độ một Kitô Hữu Tây Phương đạo đức không thể sánh được. Với người nghèo trên thế giới, hoàn cảnh xã hội của thời Kinh Thánh thì thật quen thuộc. Họ cũng sống trong một thế giới khổ cực, nghèo đói, có kẻ cho vay ăn lời và người phong cùi. Các đề tài tha hương và sự bách hại như còn âm vang trong lòng họ. Ma quỷ dường như rất thực đối với họ, và họ không có khó khăn gì với ý niệm hỏa ngục. Một số người còn trông đợi các phép lạ thời xa xưa sẽ xảy ra ngay trong cuộc đời họ. Tôi nhớ có một mục sư Phi Châu đến thăm nhà thờ mà tôi thường tham dự ở Northern Virginia. Ông nhấn mạnh rằng nhờ ơn Chúa ông đã chữa lành biết bao nhiêu người. Khi một linh mục phó xứ nhìn ông có vẻ nghi ngờ, ông chỉ tay vào cuốn Kinh Thánh và nói, "Này bạn, đó là sự khác biệt lớn lao giữa bạn và tôi. Bạn thấy cuốn sách kia không? Chúng tôi tin cuốn sách ấy."

Kitô Giáo của Thế Giới Thứ Ba này đang đến với chúng ta. Nam Hàn đã trở nên nguồn cung cấp các nhà truyền giáo đứng hàng thứ hai trên thế giới với 12,000 người đang rao giảng khắp nơi. Chỉ có Hoa Kỳ là gửi nhiều các nhà truyền giáo sang nước khác. Có thể chúng ta đang thấy khởi đầu của một sự đảo ngược. Đã có lần các nhà truyền giáo Kitô đến những lục địa xa xôi ở Phi Châu và Á Châu, là nơi các linh mục mặc áo chùng trắng rao giảng Kinh Thánh cho những người da nâu và da đen đang trố mắt nhìn và không hiểu. Trong tương lai, có thể chúng ta sẽ thấy các nhà truyền giáo da đen và da nâu rao giảng Kinh Thánh cho những người da trắng ở Tây Phương đang trố mắt nhìn và không hiểu.

Chúng ta có thể nghĩ rằng lời rao giảng này sẽ không được đón nhận. Nhưng tôi không chắc. Tờ Washington Post cho biết có 150 nhà thờ ở Đan Mạch và trên 250 ở Anh do người ngoại quốc điều hành như "một phần của khuynh hướng đang lan tràn là các nhà thuyết giáo từ các quốc gia đang phát triển đến với Âu Châu Tây Phương." Stendor Johansen, một thuyền trưởng người Đan Mạch, dường như phản ảnh tình cảm của nhiều người Âu Châu đang gia nhập các giáo phái mới. Ông nói, "Giáo hội Đan Mạch thì chán chường. Tôi cảm thấy có sinh lực khi từ bỏ." Nếu có nhiều người chia sẻ các tình cảm như thế này thì có lẽ sau cùng phong trào tục hóa sẽ bị đảo ngược ngay ở Âu Châu.

Peter Berger viết về điều mà ông gọi là "huyền thoại tục hóa." Ông muốn nói các luận điệu của phong trào tục hóa giờ đây đã mất tín nhiệm. Thật vậy, nó đã đi theo thần Zeus và Baal. Tác phẩm của Berger đề cập đến các lý do của vấn đề này. Thành thật mà nói, phong trào tục hóa có thể bị đảo ngược ngay ở Âu Châu.

Berger lý luận rằng sự hiện đại hóa làm cho người ta có nhiều hơn những gì cần thiết nhưng nó cũng tạo ra một khủng hoảng sâu đậm về mục đích trong đời sống hiện đại. Ảnh hưởng của sự hiện đại hóa càng lớn thì sự lo âu của xã hội càng mạnh cũng như sự phấn đấu cho "điều gì hơn nữa". Như Wolfhart Pannenberg có viết, "Văn hóa thế tục tự nó tạo ra một nhu cầu sâm đậm về ý nghĩa cuộc đời và bởi thế cũng có nhu cầu về tôn giáo." Tôn giáo này có thể không phải là tôn giáo cùng một hình thức mà nó tiêm nhiễm ở Nigeria hay Đại Hàn, nhưng nó là tôn giáo truyền thống rất giống vậy, không kém quan trọng khi được thu nhận vào hoàn cảnh mới. Rất có thể là một Kitô Giáo được canh tân có thể thăng tiến đời sống hiện đại bằng sự chấn chỉnh một số thiếu sót và kiềm chế một số quá đáng của hiện đại.

Tôi thấy điều này rất đúng ngay trong chính đời tôi. Tôi sinh ở Ấn, và tổ tiên của tôi trở lại Kitô Giáo bởi các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha. Vì đây là thời đại của Tòa Thẩm Tra Bồ Đào Nha, một số vũ lực và dùi cui đã được sử dụng. Khi tôi đến Hoa Kỳ với tư cách một sinh viên năm 1978, đạo nghĩa của tôi phần lớn là vì sinh trưởng và thói quen. Nhưng khi tôi lao vào đời sống hiện đại ở Hoa Kỳ, đức tin của tôi từ từ sâu đậm. G.K. Chesterton gọi đó là "cuộc khởi nghĩa tìm về chính thống". Cũng như Chesterton, tôi thấy mình nổi lên chống với chủ nghĩa thế tục cực đoan và tìm thấy trong Kitô Giáo một số câu trả lời cho những lưu tâm thực tiễn và trí thức. Bởi thế tôi biết ơn các vị thẩm tra lạnh lùng vì đã đưa tôi vào quỹ đạo của Kitô Giáo, dù rằng tôi không chắc tổ tiên tôi có cùng một nhiệt huyết như tôi hay không. Sự hăng hái của tôi là một Kitô Hữu ngược dòng văn hóa trong ý nghĩa là nó chống với các xu hướng mạnh mẽ trong văn hóa Tây Phương hiện đại. Tuy vậy nó hoàn toàn hiện đại vì nó đề cập đến các vấn đề và nhu cầu được phát sinh bởi cuộc sống trong văn hóa đó. Tôi không biết làm thế nào mà tôi có thể sống mà không có nó.

Dù vậy, nói cho cùng, câu chuyện của tôi không đáng quan tâm lắm, và dù Tây Phương có trở lại Kitô Giáo hay không thì cũng vậy. Có lẽ Kitô Hữu ngoài Tây Phương sẽ hoán cải những người Tây Phương không có đức tin, và có lẽ sẽ không phải như vậy. Cách nào đi nữa, họ là tương lai, họ biết điều đó, và bây giờ chúng ta cũng biết như vậy. Kitô Giáo có thể đến dưới một dạng thức khác hơn trong quá khứ của vài thế kỷ qua, nhưng Kitô Giáo sẽ chiến thắng, và chủ nghĩa thế tục sẽ thua. Tương lai thì không thể tiên đoán, nhưng có một chiều hướng dường như rất rõ. Thiên Chúa là tương lai, và chủ thuyết vô thần thì đang trên đà suy thoái.

Dinesh D'Souza

(trích trong cuốn What's So Great About Christianity – Pt Giuse TV Nhật chuyển dịch)

thichquangduc
02-15-2008, 01:50 AM
rất hay đó!k biết cái bọn satan,vô thần phật giáo hay chui như súc sinh vào room này có đọc được bài này k?

daocaodai :D
02-15-2008, 04:23 AM
rất hay đó!k biết cái bọn satan,vô thần phật giáo hay chui như súc sinh vào room này có đọc được bài này k?

Hay, có khẩu khí!
Bạn quả không hổ danh là con cái chúa :vo_tay:

thichquangduc
02-15-2008, 09:05 AM
Hay, có khẩu khí!
Bạn quả không hổ danh là con cái chúa :vo_tay:

còn ngươi không hổ danh là con cái của con khỉ và con voi trắng.Ngươi làm sao xứng đáng với Đạo cao Đài.vì Cao Đài mặc dù k phải là tôn giáo lớn,nhưng họ cũng rất hiền hòa.

daocaodai :D
02-15-2008, 03:07 PM
Hay, có khẩu khí!
Bạn quả không hổ danh là con cái chúa :vo_tay:

nblam25683
02-19-2008, 07:24 AM
rất hay đó!k biết cái bọn satan,vô thần phật giáo hay chui như súc sinh vào room này có đọc được bài này k?

Bọn satan,vô thần phật giáo hay chui như súc sinh vào room này đang đọc đây :yell: :yell: :yell:

nblam25683
02-19-2008, 07:28 AM
THIÊN CHÚA ĐÃ TRỞ LẠI ĐỜI SỐNG. Thế giới đang mục kích sự phát triển rầm rộ của sự hoán cải và gia tăng tôn giáo, và Kitô Giáo phát triển nhanh hơn bất cứ tôn giáo nào khác. Lời tuyên bố của Nietzche, "Thiên Chúa đã chết", giờ đây đang được chứng minh là sai lầm. Nietzche đã chết. Hàng ngũ những người không có đức tin đang thu hẹp thành một phần của dân số thế giới. Chủ nghĩa thế tục đã mất đi căn tính của nó theo đà tiến bộ và hiện đại hóa, và hậu quả là nó mất đi sự hấp dẫn chính yếu. Thiên Chúa thật sống động, và viễn ảnh tương lai của Người có vẻ thật xuất sắc. Đây là câu chuyện trở lại của thế kỷ hai mươi mốt.

--------
Cách nào đi nữa, họ là tương lai, họ biết điều đó, và bây giờ chúng ta cũng biết như vậy. Kitô Giáo có thể đến dưới một dạng thức khác hơn trong quá khứ của vài thế kỷ qua, nhưng Kitô Giáo sẽ chiến thắng, và chủ nghĩa thế tục sẽ thua. Tương lai thì không thể tiên đoán, nhưng có một chiều hướng dường như rất rõ. Thiên Chúa là tương lai, và chủ thuyết vô thần thì đang trên đà suy thoái.

Dinesh D'Souza

(trích trong cuốn What's So Great About Christianity – Pt Giuse TV Nhật chuyển dịch)

Dài quá chẳng đọc hết :confused:
Hàng ngũ những người không có đức tin đang thu hẹp thành một phần của dân số thế giới: Thu hẹp thế nào vậy :shy: :I_do_not_know: