PDA

View Full Version : Đạo luật Child Status Protection Status Act



chuột Nhi
07-10-2007, 07:03 AM
ĐẠO LUẬT CHILD STATUS PROTECTION STATUS ACT


Phần 1


Ðạo luật Child Status Protection Act (CSPA) được ban hành vào ngày 6 Tháng Tám năm 2002, nhưng đến nay Sở Di Trú Hoa Kỳ vẫn chưa lập quy định về việc thi hành đạo luật.

Sự chấp hành đạo luật được dựa vào những sự giải thích của sở di trú qua những giác thư của sở di trú và những phán quyết của Board of Immigration Appeals (tức là Tòa Kháng Cáo Di Trú).

Sau đây là sự trình bày của những thay đổi mới về đạo luật CSPA theo 3 sự giải thích của Sở Di Trú và Tòa Kháng Cáo Di Trú:

Vào Tháng Sáu năm 2006, sở di trú có đưa ra một giác thư có sự giải thích mới và có xu hướng mở rộng về điều luật cho phép con độc thân của thường trú nhân được quyền từ chối sự nâng cấp ưu tiên lên theo hồ sơ bảo lãnh của họ khi người bảo lãnh trở thành công dân Hoa Kỳ.

Theo luật di trú Hoa Kỳ, khi thường trú nhân bảo lãnh cho con độc thân trên 21 tuổi theo diện ưu tiên 2B và khi người bảo lãnh trở thành công dân Hoa Kỳ, hồ sơ bảo lãnh đó sẽ được tự động chuyển sang diện ưu tiên 1 tức là diện bảo lãnh con độc thân trên 21 tuổi của công dân Hoa Kỳ.

Ðạo luật CSPA có điều luật loại trừ sự tự động chuyển từ diện ưu tiên 2B sang diện ưu tiên 1. Ðiều luật này có lợi cho những người được bảo lãnh ở những quốc gia có ngày ưu tiên của diện ưu tiên 2B cao hơn ngày ưu tiên của diện ưu tiên 1. (Theo bản tin chiếu khán của Tháng Mười năm 2006, chỉ có Phi Luật Tân là ngày ưu tiên của diện ưu tiên 2B cao hơn ngày ưu tiên của diện ưu tiên 1).

Ðiều luật cho phép người con của người bảo lãnh được quyền yêu cầu bằng tài liệu giấy tờ từ chối sự tự động chuyển diện của luật di trú. Khi người được bảo lãnh yêu cầu từ chối sự tự chuyển đó thì hồ sơ bảo lãnh đó được coi như người bảo lãnh chưa trở thành công dân Hoa Kỳ.

Trước đây sở di trú có sự giải thích rằng, điều luật này chỉ áp dụng cho những hồ sơ nào được nộp theo diện ưu tiên 2B mà thôi. Những hồ sơ nào được nộp theo diện ưu tiên 2A và được chuyển sang diện ưu tiên 2B vì người con trở thành 21 tuổi trước khi người bảo lãnh trở thành công dân và sau đó được tự động chuyển diện sang diện ưu tiên 1 vì người bảo lãnh trở thành công dân Hoa Kỳ.

Nhưng hiện nay sở di trú đã thay đổi sự giải thích này và đồng ý cho những người được bảo lãnh được yêu cầu loại trừ sự tự động chuyển diện ưu tiên. Cho nên dù hồ sơ nộp theo diện ưu tiên 2A hoặc 2B đều được dùng điều luật miễn trừ trình bày trên.

Chuột Nhi

chuột Nhi
07-10-2007, 07:09 AM
ĐẠO LUẬT CHILD STATUS PROTECTION STATUS ACT


Phần 2


Ðạo luật Child Status Protection Act (CSPA) không thể nào bảo vệ tất cả “người thừa hưởng” đã quá 21 tuổi. Một số “người thừa hưởng” sẽ được coi là quá 21 tuổi khi công thức của CSPA được dùng để xác định tuổi của “người thừa hưởng.”

Tuy rằng, “người thừa hưởng” bị quá 21 tuổi, đạo luật CSPA vẫn cấp cho những quyền lợi khác cho một số “người thừa hưởng” hội đủ điều kiện.

Ðiều khoản số 3 của CSPA bao gồm một điều khoản mới nói rằng, khi tuổi của “người thừa hưởng” được xác định là quá 21 tuổi, hồ sơ bảo lãnh sẽ tự động chuyển qua diện bảo lãnh khác thích hợp hơn và “người thừa hưởng” sẽ vẫn giữ ngày ưu tiên cũ.

Vào ngày 16 Tháng Sáu năm 2006, Board of Immigration Appeals (tức là Tòa Kháng Cáo Di Trú) vừa xử một hồ sơ di trú để mà giải thích vấn đề nêu trên. Tòa Kháng Cáo Di Trú quyết định rằng, khi đương đơn được xác định là derivative beneficiary (tức là người lệ thuộc vào “người thừa hưởng” để dễ hiểu hơn là một trường hợp con của “người thừa hưởng”) của hồ sơ bảo lãnh gốc, diện bảo lãnh thích hợp của đương đơn sau khi quá 21 tuổi sẽ trở thành “người thừa hưởng” của “người thừa hưởng” gốc.

Ðể hiểu rõ hơn, tôi sẽ trình bày chi tiết hồ sơ của Tòa Kháng Cáo Di Trú vừa xử xong. Trong hồ sơ đó, đương sự là người lệ thuộc vào “người thừa hưởng” trong một hồ sơ bảo lãnh năm 1983 theo diện ưu tiên 4 (tức là anh chị em của công dân Hoa Kỳ).

- “Người thừa hưởng” là người em gái của “người bảo lãnh” và đương sự là con của “người thừa hưởng.” “Người bảo lãnh” làm hồ bảo lãnh cho người em gái khi đương sự mới có 9 tuổi. Hồ sơ bảo lãnh được chấp thuận cùng ngày đơn bảo lãnh được nộp. Mẹ của đương sự phải chờ một thời gian khá lâu chiếu khán mới được tới ngày đáo hạn.

- Khi chiếu khán được đáo hạn vào năm 1997, 14 năm sau, mẹ của đương sự (tức là “người thừa hưởng” gốc) làm đơn xin thẻ xanh và được thay đổi tình trạng di trú sang thành thường trú nhân. Vào năm 1997 đương sự đã được 22 tuổi. Cũng trong năm 1997, đương sự làm đơn xin thẻ xanh để thay đổi tình trạng di trú sang thành thường trú nhân và hồ sơ đợi đến sau năm 2004 mới được giải quyết. Lúc đó đương sự bị sở di trú đưa ra tòa di trú để trục xuất. Trong thời gian hồ sơ được tòa di trú xét xử, đương sự yêu cầu tòa di trú xử lại hồ sơ xin thẻ xanh.

- Hồ sơ xin thẻ xanh của đương sự bị tòa di trú bát bỏ. Ðương sự kháng cáo lên Tòa Kháng Cáo Di Trú. Tòa Kháng Cáo Di Trú áp dụng công thức theo CSPA và quyết định rằng, đương sự quá 21 tuổi. Tòa Kháng Cáo Di Trú phán cho đương sự được quyền xin thẻ xanh khi áp dụng điều khoản số 3 của CSPA. Tòa Kháng Cáo Di Trú giải thích rằng, vì mẹ của đương sự là “người thừa hưởng” gốc và bây giờ đã trở thành thường trú nhân, hồ sơ bảo lãnh do người chị của người mẹ được tự động chuyển sang diện ưu tiên 2B cho đương sự (tức là con độc thân trên 21 tuổi của thường trú nhân).

- Ngoài ra đương sự được tiếp tục giữ ngày ưu tiên của hồ sơ bảo lãnh gốc tức là năm 1983. Với diện ưu tiên 2B và ngày ưu tiên đã đáo hạn, Tòa Kháng Cáo Di Trú phán rằng đương sự hội đủ điều kiện để làm đơn xin thẻ xanh.

Tuy rằng, hồ sơ vừa nêu trên không được công bố và không được coi là tiền lệ, và sở di trú không chính thức chấp nhận sự giải thích trên của Tòa Kháng Cáo Di Trú. Nhưng cũng có thể dùng sự giải thích trên để áp dụng vào hồ của chúng ta và hy vọng sở di trú sẽ dựa vào hồ sơ vừa nêu trên và sẽ chỉnh lại phương sách của họ.

Chuột Nhi